Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhật Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

KẺ NỔI DẬY - Nhật Tiến

 

Trời nắng. Nắng đến độ căn nhà mái lá lụp xụp của ba Sinh biến thành một cái nồi rang nóng bỏng. Mái lá rộp lên. Mặt bàn mặt ghế muốn vênh lại. Dưới đất cũng chẳng hơn gì, dẫm chân lên chỗ nào cũng thấy nóng, ly nước hắt xuống chỉ trong một chốc là mất tăm chẳng còn để lại dấu vết. Nhưng hậu quả quan trọng nhất là cái nóng đã khiến ba Sinh tự ý mỗi ngày đi tắm một lần, vào khoảng xế trưa lúc mặt trời hiện ra thành một khối lửa chiếu đúng vào giữa khuôn cửa sổ mặt tiền, hướng tây của nhà gã. Chỉ lúc đó ba Sinh mới cảm thấy thực thụ cần thiết những dòng nước mát lạnh mà vợ gã thuê với giá cắt cổ sáu đồng một đôi. Trên bộ ngực còm cõi, lép xẹp của gã, từng giọt mồ hôi rỉ ra ở giữa những cái xương sườn, chảy ngoằn ngoèo xuống cái bụng gầy tóp rồi bò xuống hai cẳng chân nhỏ như hai cái ống sậy bám đầy gân xanh. Gã la lên hùng dũng:

– Trời này mà không tắm thì có mà chết ngộp! Còn nước không má Sáng?

Vợ gã, má thằng Sáng, vào giờ ấy bao giờ cũng chỉ luẩn quẩn ở mé đằng sau để tìm lấy một vài hơi đất ẩm mát. Có khi chị bì bõm hàng giờ trong buồng tắm. Với thân hình vạm vỡ và đầy sinh lực của chị, sức nóng như muốn làm nổ tung bộ ngực đầy đặn căng lên như hai cái bình sứ.

Hôm ấy ba Sinh chợp mắt, trở dậy vào lúc xế trưa. Dưới lưng gã, mồ hôi đọng thành vũng. Hèn chi hắn nằm mơ thấy mình tắm biển với một bầy con gái xinh như mộng, y hệt như cái tuồng cinema mà gã mới coi hôm trước. Rạp chớp bóng bình dân ở xóm gã. Năm đồng hai phim, xem suốt ngày. Gã đầy đủ thời giờ xem hai xuất để so cô này với cô kia, “giã” này với “giã” kia, tuồng này với tuồng nọ. Nhưng nói chung thì với gã, tuồng nào thì cũng hết chỗ chê cả. Bởi chưng ông chủ rạp rất khéo léo trong cái việc chọn phim đem chiếu. Nếu phim La Mã thì cũng thoát y hay cao bồi bắn súng, cưỡi ngựa, còn xoàng ra thì cũng tác giăng với bắp thịt cuồn cuộn mà mỗi lần xuất hiện trên màn ảnh là gã lại cười rú lên với lũ trẻ ồn ào ngồi chung quanh:

– Trời! Thằng khổng lồ! Đùi gã còn bự hơn cả người tụi bay đó thấy hôn!…

– Trời!…

– Trời!…

Và gã cứ tấm tắc như vậy cho đến lúc bước ra khỏi rạp, trời chập choạng tối, thành phố đã lên đèn.

Một ngày của gã là một ngày nhàn hạ. Gã ốm yếu nên chẳng giúp gì cho vợ ngoài việc phụ giúp với thằng Sáng, đứa con trai độc nhất thổi cơm và dọn dẹp cửa nhà. Năm nay gã ba mươi mốt, vợ gã hai mươi chín, còn thằng Sáng thì đã mười hai tuổi. Mười mấy năm ăn bám vợ, nghiễm nhiên đối với gã sự đó trở thành một lẽ tự nhiên. Vợ gã cũng chẳng phàn nàn điều gì cả. Đối với chị Sinh, hình ảnh một người chồng xanh như tầu lá, gầy như một cây sậy, yếu đuối như một con sên suốt ngày tha thẩn với cái chổi đập ruồi, hay ngủ còng queo trên mặt phản đã biến thành một vật quen thuộc trong nhà, nào khác gì cái bàn, cái ghế, hay cái chậu rửa bát cũ kỹ, sứt mẻ ở sau nhà. Đối với chị, gã chỉ làm phiền chị thỉnh thoảng vào lúc về đêm. Chẳng phải không hứng tình, nhưng sự yếu đuối của gã chỉ làm chị thêm khó chịu. Sự khó chịu nhiều khi đã khiến chị bò lên gác xép nằm ngủ một mình sau khi đã rút cái thang tre ọp ẹp. Có lẽ cũng vì vậy mà hai người hiếm hoi chỉ có mỗi một thằng Sáng đó chăng?

Sự hững hờ của chị Sinh đã khiến ba Sinh cách biệt với vợ như một kẻ đứng ở bên kia bức tường thành. Gã khó mà tìm hiểu được chị đang nghĩ gì, sửa soạn làm gì? Thậm chí nghề nghiệp của chị, gã cũng chỉ hiểu một cách lơ mơ là chị giữ chân mối lái, hay giao hàng gì đó. Tuy vậy sự cách biệt không làm gã giảm lòng yêu vợ mà trái lại càng có vẻ nồng nàn thắm thiết (nhất là sau khi gã lại được xem một tuồng trong đó nữ tài tử lại thủ một vai thật anh hùng).

Càng xa xôi, gã càng thấy vợ bí hiểm, huyền hoặc và mới mẻ như một kẻ mới quen biết nàng hôm qua. Chỉ có khác một điều là nàng đã là vợ gã, có con với gã. Thật là chắc ăn. Gã rất tự hào về sự ấy.

Khi tỉnh ngủ, gã thấy bên tai vọng lên tiếng nước dội ì ào. Trên mặt phản đối diện, thằng Sáng đã bỏ đi chơi tự lúc nào. Căn nhà vắng lặng, nồng nực và như muốn ngộp lên vì hơi nóng. Gã nhỏm dậy, rón rén đi vào sân trong. Chị Sinh đang tắm rửa sau tấm liếp xộc xệch. Một dòng nước ngầu bọt xà bông chảy vòng từ trong ra ngoài, ngấm vào chân gã cảm giác mát lạnh. Gã tiến lại gần và cố kiễng chân lên. Cặp mắt của gã với tới một khe hở lớn. Gã thấy mảng lưng nhễ nhại của má Sáng hồng lên dưới những tia nắng le lói lọt qua kẽ vách. Mặt gã đượm đầy vẻ tự mãn và bỗng nhiên gã cất tiếng cười hì hì. Chị Ba Sinh đang cúi xuống bỗng ngửng phắt dậy và hét:

– Ai đó?

Ba Sinh chợt đỏ bừng mặt lên và ấp úng:

– Tui… tui nè!…

Người đàn bà la lối:

– Trời đất ơi! Chơi cái trò gì mà rắn mắt quá vậy. Có bước ngay đi không tui la làng lên bây giờ.

Phản ứng bất ngờ của vợ khiến gã cụt hứng. Gã bẽn lẽn lùi lại phía cửa bếp, bực dọc ngồi xuống cái bậc cửa ọp ẹp và đưa mắt nhìn ra ngoài nắng. Ánh nắng buổi trưa gay gắt rọi lên mảnh sân đất vuông bằng cái chiếu ứ đọng từng vũng nước. Những vẩy bọt xà bông còn đọng lại trên mặt nước long lanh phản chiếu ánh sáng tạo thành những quả bóng ngũ sắc nom lộng lẫy như vẩy cầu vồng lúc trời mưa. Trên mặt tường nham nhở vôi và vữa, bóng của những đợt hơi nước bốc lên in thành sợi khói treo rung rinh. Mồ hôi của gã vã xuống, ướt sũng cái quần cộc cạp xoắn xuống quá rốn, ống quần vê tròn lên tận bẹn. Ba Sinh thè lưỡi liếm hai vành môi khô héo và cố nuốt vào cổ họng rúm nước bọt đang dẻo quánh lại. Ở trong phòng tắm, chị Sinh bỗng ngừng dội nước và nói vọng ra:

– Bước đi chưa, hả … ả?

Sinh nổi cơn cục cằn, cất giọng càu nhàu:

– Người ta ngồi đây chớ ai đã làm gì. Bày đặt lắm chuyện quá há!

Nàng gắt lên:

– Bộ hết công chuyện rồi sao ngồi đó.

– Hết rồi.

– Làm được những “kí” gì mà mà hết rồi?

– Thì cơm đó! Nhà đó! Quần áo đó! Đâu vô đó hết trơn.

– Chèn ơi, có ba cái quần người ta thay hồi hôm còn nguyên đó mà hô hết trơn cái giống gì.

– Ớ! Sao biểu quần trắng đem cho thợ giặt ủi? Cấp này sang trọng lắm mà.

Chị Sinh cười khẩy:

– Chớ sao không. Bộ muốn kiếm ra tiền mà ăn mặc lôi thôi như con mẹ dại được đó hả.

Sinh ngập ngừng rồi nói đại một điều mà gã đắn đo mấy ngày liền mà rồi gã vẫn chưa nói được ra:

– Chèn ơi! Khối người khố rách áo ôm mà người ta vẫn kiếm ra tiền!…

Cánh cửa liếp bỗng bật mở và cả một nửa người trắng như sữa của chị Sinh thò ra. Chị trợn mắt lên nhìn chồng với tất cả vẻ giận dữ và cong cớn:

– Sao! Anh nói sao? Anh muốn cái gì kia chớ. Đó! Anh ăn bận khố rách áo ôm vô rồi đi kiếm công chuyện mà mần đi.

Sinh chột dạ, ngồi xích vô cánh cửa rồi ấp úng:

– Chả sao hết đó. Mà có điều đây không biết thì đây hỏi.

– Hỏi cái gì?

– Hỏi coi má thằng Sáng buôn cái gì?

– Chẳng buôn bán gì hết á. Mà điều vẫn có tiền. Anh chịu chưa?

– Chẳng buôn bán gì mà có tiền thì chỉ có điều làm đĩ!

Chị Sinh hắt ngay chậu nước vào mình anh Sinh rồi gầm lên:

– Phải rồi! Tôi làm đĩ đó. Nhưng làm đĩ để nuôi anh, anh biết chưa. Nếu giỏi như người ta thì sao anh không đứng dậy đi mần nuôi vợ, nuôi con đi.

Sinh hậm hực:

– Được rồi! Tui nuôi. Tui đi mần. Công việc bây giờ thiếu gì.

Chị Sinh đáp lại bằng một chuỗi cười. Tiếng cười của chị như có cạnh sắc cắt từng khúc ruột của gã đàn ông ốm yếu. Gã bỏ chỗ ngồi, vùng vằng lên nằm vật trên phản gỗ. Sự nổi dậy của gã tuy bất ngờ và ngắn ngủi nhưng cũng đủ làm người gã nhược ra. Mình gã dán xuống phản. Mồ hôi lại chảy sâm sấp đằng sau lưng. Đã nhiều lần gã cảm thấy nhục nhã nhưng chưa bao giờ gã thấy nhục nhã bằng lần này. Gã tưởng tượng vợ gã không còn chia xẻ với gã một đôi chút nào về cuộc sống của mụ. Ngày xưa, hồi gã bắt đầu thất nghiệp, và chị Sinh thay thế gã cái quyền ăn trên, ngồi trốc ở trong gia đình, chị cũng không đối xử với gã tàn nhẫn như thế. Mỗi lần đi cất hàng về, bao giờ chị cũng hỏi thăm gã một câu, kể cho nghe một vài mẩu chuyện về việc làm ăn của chị, và nhất là chị không có diêm dúa quá lố như bây giờ. Công việc của chị mỗi ngày một dễ dàng, tiền bạc chị đem về vừa đủ cho ba Sinh có thuốc hút, tiền ciné, tiền mua những gói kẹo Tây ngồi nhấm nháp suốt mấy xuất liền trong rạp hát. Từ một người lớn, ba Sinh bỗng trở thành một đứa con nít không thua gì thằng Sáng hàng ngày rong ruổi với cỗ bài cào lê la khắp hang cùng ngõ hẻm.

Nhưng nếu sự việc chỉ cứ như vậy tiếp diễn thì Ba Sinh đã yên phận với vị trí của gã. Đàng này cứ mỗi ngày chị Sinh một đổi khác thêm, mái tóc của chị dăm ba ngày thay một kiểu chải, đôi long mày trau tria từng sợi lông tơ, những cái móng tay mài mài giũa giũa hàng giờ đến phát sốt ruột. Đến một hôm lão Sớm ở bên cạnh vách hắt vào gã một câu:

– Nè! Chỉ “le” quá cỡ, tôi “nghi”!

Sinh hỏi:

– Nghi cái gì?

Lão Sớm cười gục gặc:

– Chèn ơi! Sao mà đồ bỏ đến vậy được. Còn nghi cái gì nữa.

Ba Sinh càng ngẩn ngơ:

– Tui hỏi thiệt đó. Ông nói nghi cái gì kia?

Lão Sớm kéo ngay tai Sinh xuống, thì thào. Gã đàn ông la lên:

– Tầm bậy! Ông nói tầm bậy tui xách dao bầu tui rượt đa!

Lão Sớm cười ha hả:

– Rượt đi! Bay rượt tao tới đâu thì tao cũng nói vậy đó. Mày hổng tin mày đi theo nó, tao coi.

Thật là giản dị mà gã không nghĩ ra. Chưa bao giờ gã nghi ngờ gì về sự trong sạch của vợ gã cả. Mà kiểm soát lại điều đó có khó gì. Khi vợ gã đi, gã chỉ việc lót tót đi theo. Nếu quả đúng như lời lão Sớm thì sức mấy mà chị Sinh dấu diếm được gã. Về việc này, Sinh chưa kịp thi hành thì vợ gã đã nói toẹt vô mặt gã. Và cho tới lúc đó gã mới thấy rằng tìm hiểu việc làm của vợ thì dễ, nhưng sau đó sẽ làm gì nữa mới là một chuyện vô cùng nan giải. Từ mấy năm nay, ăn không ngồi rồi quen thân, gã sinh lười biếng và tiêu hao cả chí phấn đấu. Hơn nữa, những biến chuyển ở bên ngoài cuộc sống đi quá mau lẹ khiến gã cảm thấy như bất lực, không thể tham dự được cho dù chỉ một công việc gì nhẹ nhàng, nhỏ mọn. Trong thâm tâm, gã muốn mãi mãi sống như một đứa trẻ, như đã một năm nay gã từng làm thế. Ban ngày lo nấu nướng, giặt gịa. Chiều tối lảng vảng trước mấy rạp chớp bóng bình dân. Gặp phim hay đã coi rồi thì vô coi nữa để cười nói ngả nghiêng hay cãi nhau om xòm với một lũ trẻ lốc nhốc ở những hàng ghế chung quanh. Rồi gã sẽ làm sao đây, khi gã châm ngòi cho cuộc cách mạng trong gia đình gã nổ bùng. Đến bây giờ gã mới thấm thía, thấy rằng nếu không tự lập, tự cường thì chẳng thể làm cách mạng, cách mung gì hết ráo.

Còn đang loay hoay với những ý nghĩ lộn xộn ở trong đầu thì gã thấy thằng Sáng sầm sập ở đâu chạy về. Tóc nó rã rượi, mặt đỏ rừ vì nắng, khắp người thấm đẫm những mồ hôi làm bở ra từng bợt ghét và đất trổ loang lổ trên lớp da đen trùi trũi. Một tay nó thủ ra sau lưng quần, một tay nó cầm xấp bài cào nhỏ bằng hai đốt ngón tay. Nó thở hổn hển như một lực sĩ vừa dự xong một cuộc đua dài. Sinh trừng mắt lên hỏi:

– Mày đi đâu về mà điệu bộ như quân cướp ngày vậy hả?

Sáng vừa thở vừa cười:

– Cướp thiệt đó ba! Tại tụi nó tháu cáy tui, tui mới quơ hết trơn hết trọi. Đ.m. nó chia làm hai cánh vây tui lại mà tui cũng chạy vuột như thường.

Sinh nói:

– Tổ cha mầy! Mầy cứ đánh đu với tụi nó lắm, có ngày nó cho ăn dao con chó. Tao đã dặn mầy chỉ chơi ở quanh quẩn xóm gần đây? Sao mầy không nghe tao gì hết trơn hả!

Sáng không đáp len lén luồn qua chỗ Sinh đứng và đi vào nhà trong. Nó gặp má nó cũng vừa ở nhà tắm đi ra. Chị Sinh ẩm ướt sau làn áo phin mỏng. Mái tóc chị búi ngược lên để lộ cái cổ cao và trắng nõn. Bộ ngực của chị dính sát vào những khoảng áo ướt sũng, căng tròn như hai cái cóng sứ. Chị nhìn thằng Sáng với cặp mắt lạnh lùng. Dưới mắt chị, nó càng ngày càng như cây cỏ dại mọc vươn lên giữa một khoảng đất hoang tàn. Đầu tóc nó bù rối, lủa tủa chĩa ra ở hai bên mang tai. Khuôn mặt nó lúc nào cũng nhếch nháp dính đầy những vết bẩn. Chiếc sơ mi cộc của nó không bao giờ cài hết hàng nút, để phanh ra bộ ngực cháy đen vì ánh nắng. Còn hai cặp đùi của nó chị ví như hai khúc gỗ mốc thếch bám đầy rêu và mốc bẩn. Thằng bé thấy mẹ vội vàng xoắn cỗ bài và những tờ giấy bạc vào cạp quần. Cánh tay của nó đưa lên ngang mũi quẹt dài một cái. Những giọt mồ hôi nhoét ra kéo theo một vết đất dài. Một lát, nó lui cui ở “gác măng dê” lục lạo đồ trong khi mẹ nó lại bàn giở gương lược ra gỡ đầu.

Căn nhà lặng yên được một lát, bỗng thằng Sáng ngứa mồm kể lể:

– Tụi nó khôn hết chỗ chê. Bốn thằng chơi mà ba thằng ăn cánh với nhau rồi. Tui rút Đầm thì tụi nó lên Già, tôi lên Già thì tụi nó có Ách…

Sinh ngắt lời nó:

– Từ giờ tao cấm đó nghen. Hay ho gì cái cờ bạc bịp…

Sáng cãi;

– Nhưng nó bịp chớ tui đâu có bịp…

– Mầy không bịp nhưng cứ cờ bạc vào là hư thân mất nết đi rồi. Bộ mầy tưởng mầy có thể sống đời vào nghề cờ bạc đó sao. Tổ cha mầy, học hành thì không lo học, suốt ngày chạy lót tót như chó điên.

Sáng bị mắng ngang xương, nên cụt hứng, cứ cắm cổ vào lùa cơm mà không nói. Sự im lặng của nó làm ba Sinh phải nói nhiều. Mà càng nói thì cơn giận của gã càng tăng. Bỗng nhiên gã gọi thằng bé lại gần trong lúc nó còn đang húi lúi đơm canh vào bát. Gã thọc tay vào cạp quần nó moi ra những quân bài để rơi lả tả xuống mặt đất. Gã lại hét lên:

– Tổ cha mầy! Ông đốt hết nghe hôn. Từ bữa mai mà ông còn thấy mầy chới với đến cỗ bài thì ông giết. Còn tiền bạc nầy nữa. Tao cũng cấm mày giữ luôn.

Thằng Sáng vùng lên:

– Tui không đánh nữa thì thôi chớ gì. Tiền của tui sao lấy đi.

– Tiền của cha mầy tao cũng lấy. Cho mầy giữ để mầy quen chân tót ra “ngoải” hả. Mà tao nói cho hay, tiền này tao gài lên mái bếp chớ tao hổng thèm xài cái thứ bẩn thỉu, dơ dáy này đâu nghe! Tiền bất lương mà, ai thèm ngó ngàng tới.

Nói rồi gã vo viên nắm giấy bạc lẻ của thằng Sáng đứng dậy… Thằng Sáng trườn người theo níu lấy. Gã đàn ông ốm yếu mất đà chúi người đi. Thằng Sáng được thể nghiến răng bẻ mạnh năm ngón tay của bố đang nắm chặt lấy mấy đồng bạc. Bị đau bất ngờ, Ba Sinh không dằn được cơn tức, quay phắt lại đá thằng con trai một cái thật nên thân. Thằng bé lộn đi một vòng ngã sấp ngay dưới gậm ghế. Thế là nó gào lên và cất mồm chửi bới loạn xạ. Sự hỗn hào của nó làm gã đàn ông với ngay lấy thanh củi ở góc bếp xông ra. Gã phang vào người thằng Sáng bất kể chỗ nào trên thân thể của nó. Sáng đau đớn chồm ngay dậy lao tuốt ra ngoài cửa, co giò vừa chạy vừa văng tên tục của ba Sinh ra, chửi văng mạng.

Trong lúc ấy chị Sinh vẫn thản nhiên ngồi chải tóc và nhổ lông mày ở mặt bàn. Tắm rửa xong, người chị mát như một hòn thạch. Khuôn mặt bầu bĩnh, đầy đặn. Cặp mắt đen và to. Mũi thẳng. Vành môi tươi mỏng và đỏ hồng. Ít khi chị cười, nhưng mỗi lần xỉa răng, chị để lộ hai hàm răng trắng đều và bóng. Ở trong nhà, chỉ có một mình chị là xài bàn chải và thuốc. Thằng Sáng thì chả nói làm gì, còn đến Ba Sinh cũng chỉ có thói quen xúc miệng ba hồi bằng gáo nước giếng và nhổ toẹt lên vách đất. Gã thường nói:

- Tui xài không quen, “xức” thuốc vô miệng nó trôi xuống họng. Cay thấy bà!

Cái tính bẩn thỉu ma bùn ấy trước còn làm chị Sinh khó chịu, sau riết rồi chị cũng chẳng thèm quan tâm tới. Đối với gã, chị thấy gã không hơn gì một tấm bình phong cho phép chị ngang nhiên lao mình vào cuộc sống đầy rẫy phức tạp ở ngoài cuộc đời.

Thoạt tiên chị làm ăn buôn bán một cách lương thiện, cho dù chị bị mất mát đôi ba nụ cười, mấy khóe mắt đưa tình lả lơi với những kẻ có thể án ngữ công cuộc làm ăn của chị. Nhưng thời buổi này, đồng tiền chỉ dễ kiếm khi người ta vứt bỏ cái đạo đức, lương thiện vốn dĩ đã chẳng còn đủ ma lực để khiến cho người ta làm ngơ trước những mớ tiền ngốt mắt mang đến dửng dung. Cho nên, một ngày nào đó hồi ba tháng trước, người bạn hàng trẻ tuổi và thân thiết của chị Sinh bỗng một hôm thẩy ra trước mặt chị một cọc tiền toàn giấy năm trăm và thủng thẳng nói:

– Mầy kiếm trong bao lâu mới đặng chừng này?

Chị Sinh ngơ ngẩn:

– Tới già chưa chắc có!

– Vậy làm theo tao đi. Không đầy nửa buổi đâu cưng.

Chị Sinh hốt hoảng:

– Mầy… mầy… hả?

Cô bạn nheo mắt, mỉm cười. Một lát cô ta tiếp:

– Mất mát gì đâu cưng. Cho chồng con có tiền xài. Cho mình bớt phải so kè từng cắc mỗi lần mua sắm.

Vài ngày sau, chị Sinh sa ngã. Trong tay một anh lính viễn chinh. Trong căn nhà xinh xắn và cực kỳ sang trọng của cô bạn gái cũng cực kỳ thân thiết.

Sửa soạn xong, chị Sinh xách bóp đi ra cửa. Sinh nhất quyết bò dậy hối hả mặc áo đi theo. Ra đến đường cái, chị Sinh vẫy được một cái xe. Chị leo tót lên ngồi. Chiếc xe bon bon chạy. Ba Sinh lúng túng đứng nhìn theo. Một chiếc xe buýt trờ tới. Gã líu ríu trèo lên. Đến đầu phố, chiếc xe kềnh càng bị kẹt lại. Bốn bề xe cộ chi chít như mắc cửi. Gã không còn thấy tăm hơi mầu áo quen thuộc của vợ gã ở nơi nào nữa. Cuộc cách mạng của gã thất bại ngay từ phút khởi đầu. Nghe lão Sớm thì thật là dễ. Chỉ một vấn đề xe cộ nho nhỏ thôi đó nghen, gã đã thấy mình bất lực hoàn toàn.

Chiều hôm đó, gã không vô rạp chớp bóng nữa, mặc dầu hôm đó thay tuồng mới. Vở tuồng mà gã đã tính coi từ tuần trước nhan đề “Kim Đảo Ma Đầu Huyết Thần Chưởng” toàn bộ hai hồi tô màu nói tiếng Việt.

Lần đầu tiên trong hơn một năm trời thất nghiệp của gã, gã đi vào chợ nốc mấy xị rượu đế với tôm khô. Ngồi trong quán cóc, một mình gã ngậm ngùi gậm nhấm những nỗi đau khổ của mình. Đến lúc cơn say bốc lên, gã khật khưỡng cuốc bộ trở về. Như một kẻ được tiêm một liều thuốc hồi sinh, gã cương quyết sẽ thí mạng của mình với sự ngạo nghễ của vợ gã. Gã thề nguyền sẽ bắt mụ đàn bà cắt bỏ những móng tay dơ dáy, đốt bỏ những thứ quần áo lụa là hoa hoét, và những thứ phấn son lủng củng, bất lương mà chị Sinh chất đầy trong hộp gỗ.

Tối hôm đó, thằng Sáng giận bố đi biệt không thấy trở về. Còn chị Sinh thì cho tới lúc gã buồn ngủ ríu mắt, cũng chẳng thấy tăm hơi. Quanh co, đứng ngồi từ chập tối, lưng gã mỏi nhừ, tay chân gã bải hoải. Gã cũng không còn nâng nổi con dao bổ củi mà gã dự tính dùng làm vật phòng thân để đối phó với vợ gã. Đến gần nửa đêm, gã nằm ngáy tít thò lò trên phản gỗ, không đóng cửa, không buông màn, cũng không cả tắt ngọn đèn lù mù mà gã câu nhờ điện hàng xóm.

Sáng hôm sau, gã tỉnh dậy thật sớm. Gã thấy chị Sinh còn ngủ li bì ở mé divan bên kia. Trong giấc ngủ, nom chị hồn nhiên và tươi tắn như dạo nào hai người mới cưới nhau. Gã nghĩ đến con dao bổ củi và thốt nhiên rùng mình. Mấy xị rượu quả là thứ ma túy ghê gớm. Nếu hôm qua gã gặp chị trong cơn say túy lúy, gã nghĩ có lẽ gã đã phạm tội đâm chém vào lớp da thịt mịn màng và thơm tho đó rồi. Bây giờ, vào một buổi sáng tinh mơ, bầu không khí đầy vẻ yên tĩnh và mát mẻ, gã tự thấy có đầy đủ sáng suốt để bào chữa cho chị:

– Nếu nó làm đĩ thì nó đã chẳng nói ra. Nếu nó nói ra thì nó không làm đĩ.

Thốt nhiên, gã thấy mình là một kẻ sành sỏi về tâm lý đàn bà và gã yên tâm với cái lý luận giản dị đó. Gã vui sướng kiếm guốc lần ra nhà sau rửa mặt và xúc miệng toèn toẹt lên vách đất. Một lát gã trở vào lom khom chui vào mùng, chỗ chị Sinh đang ngủ. Hành động làm chồng của gã có vẻ bất lương, và gã cảm thấy rõ ràng mình đang phạm tội, cho dù phạm tội với chính ngay người đàn bà đã từng có con với gã. Bỗng gã tìm thấy một lá thư do chị Sinh giấu ở bên trong mảnh quần lót. Gã tò mò đem ra dưới đèn sáng lẩm nhẩm đọc. Lá thư do chị Sinh viết cho người bạn thân bây giờ đang ở Đà Nẵng mà chị chưa kịp gởi đi. Trong thư chị than thở với cô bạn về cái thai đang nằm trong bụng chị, một kết quả cụ thể sau nửa năm ăn nằm với một người ngoại quốc.

Ba Sinh đặt cái thư lên mặt bàn và lầm lũi đi xuống bếp. Gã nghĩ đến con dao bổ củi và những dự tính mà gã định thi hành từ tối hôm trước. Nhưng hơi rượu đã hả đi rồi, không còn chút ma lực nào khiến gã có đủ can đảm hành hạ thân thể người đàn bà mà trước đó vài phút gã còn tìm thấy những cảm giác êm ái và mát rượi. Bỗng gã nghĩ đến tấm thân đọa đày của gã mà gã chịu giam hãm một cách đui mù trong suốt thời gian ăn không, ngồi rồi. Gã nghĩ đến thằng Sáng và cuộc đời của nó sau này. Tất cả đều là hư hỏng và nhơ nhớp đến độ gã chẳng còn mong muốn hay hy vọng điều gì. Nhìn ra chung quanh, bỗng gã ghê sợ tất cả những đồ vật quen thuộc mà gã đã từng dùng hàng ngày. Nồi cơm, trạn bát, đống củi, hay những manh quần, manh áo vắt rải rác ở chung quanh, không vật nào bây giờ lại không mang một ý nghĩa mỉa mai và nhục nhã.

Gã đứng dậy tiến lại cái gầu kéo nước và tháo ra một đoạn thừng. Trong căn bếp tranh tối, tranh sáng của một ngày sắp rạng đông, gã âm thầm sửa soạn cho quyết định cuối cùng của gã.

Đến khi gã buộc chặt một cái nút cuối cùng thì có tiếng lạch cạch của thằng Sáng nậy cửa bước vào. Nó dặng hắng đánh tiếng rồi len lén lên gác xép như một con chó đi hoang khép nép trở về; một lát, nó cựa mình trên đống chiếu và nói mê lảm nhảm những tiếng tục tĩu mà người ta chỉ nghe thấy trong đám bạc. Ở phía nhà ngoài, hơi thở của chị Sinh vẫn đều hòa và thoải mái.

Gã ba Sinh lắng nghe rồi nhắm mắt và chui đầu vào vòng dây còn ẩm nước.
 

Nhật Tiến     

(Trích trong tập truyện “Giọt Lệ Đen”)
 

Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2023

ĐÔI GUỐC TRẮNG - Nhật Tiến

 

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông.  Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ-hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại.

Qua những gốc chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang-loáng như bạc.

Tôi đi xuống dưới ấy. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù sa từ mé sông đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá xanh và mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành một hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ với bàn chân thon. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả.

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mộng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất dấu ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống.

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Và có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm tấm đất phù sa đỏ.

Tự nhiên tôi hồi hộp. Ở đây không phải có một mình tôi. Có hai người. Tôi và một thiếu nữ đang tắm ở sau bụi cây sung; tôi nhìn về phía ấy, và tưởng tượng sau bụi cây phải là một tà áo trắng mắc vào cành, gió đưa phơ phất. Tôi không nghĩ đến một mảnh quần lụa vo tròn trên bờ cỏ, nhưng nghĩ đến một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng, một thân hình óng ả đang đắm mình dưới làn nước trong veo. Có tiếng chim hót gần đây. Tôi ước gì mình được là con chim.

Ngoài mặt sông, sóng vẫn nhấp nhô rồi giạt lên bờ cát. Trời xanh lơ lơ. Khúc sông lấp loáng ánh nắng, lượn mình quanh những lùm cỏ, bụi cây. Bờ bên kia là ruộng mía. Đằng sau tôi là lối cát đi trong vườn chuối. Lối cát in những vết guốc lốm đốm chạy vòng lên chân đê.

Ở đây không có mình tôi. Có hai người. Hai đứa. Tôi mỉm cười, trầm ngâm.

Nhưng rồi tôi cũng phải ngược lại lối cũ. Bịn rịn đấy, nhưng cũng đành. Nếu không tôi sẽ xấu hổ với những con chim đang hót ở bờ sông.

Tôi bỏ lại phía sau đôi guốc trắng. Đôi guốc trắng nằm trên lòng cát mịn, có lấm tấm đất phù sa đỏ. Giá mang về được một chiếc để sau này khi quen nhau, lấy nhau rồi hai đứa cùng giở ra xem. Yêu biết mấy.

Và rồi tôi lại đứng trên vệ đê nhìn xuống dưới ấy. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng qua những tầu lá. Có những con chim đang chuyền cành. Có một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng và có một đôi guốc trắng nằm ở bờ sông.

Đôi guốc mà chẳng bao giờ còn có người đi.

Vì sáng hôm sau… có tin một thiếu nữ trầm mình ở chỗ ấy.

Nhật Tiến       

(Văn Hóa Ngày Nay-Tập 2-Tháng 7-1958)

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2023

NGÀY NÀNG TRỞ LẠI - Nhật Tiến

 


Chiều hôm ấy, khi vừa đi làm  về thì Huy nhận được điện thoại của anh Hải. Giọng của anh vẫn rổn rảng như hồi nào, từ hơn hai năm trước, thời  kỳ mà Huy còn  chia một phòng trong  căn nhà ấm cúng của anh chị ấy:

– Huy đấy hả? Hải đây.

– A! anh Hải. Lâu lắm rồi mới  được nghe lại giọng của anh. Anh chị vẫn bình thường cả chứ ?

Hải cười hề hề:

– Thì vẫn vậy.  Còn cậu thì sao? Dễ đến sáu tháng nay mình không gặp nhau rồi đấy nhỉ? Cậu có gì  vui không hay là vẫn sô lô vò võ một mình.

– Gớm, nghe anh nói mà tôi cứ tưởng mình đang rũ dần rũ mòn. Cuộc sống sô lô nó cũng có những cái thuận lợi riêng của nó chứ. Nhưng mà này, chắc anh điện thoại cho tôi không phải chỉ vì tấm lòng ưu ái quan tâm đến chuyện độc thân tại chỗ của tôi đấy chứ.

– Cũng chưa thể nói là đúng hay  là sai một cách vội vã được. Cái đó cũng còn tùy.

Huy la lên:

– Gớm! Sao mà hồi này anh lại sinh tật úp úp mở mở, hồi trước đâu có thế.

– Thì chuyện đâu vẫn còn đó. Thôi  này, nghe tôi hỏi, cậu còn nhớ Quỳ không?

– Cô Quỳ cũng chia một căn phòng trong nhà anh chị ấy à?

– Còn ai  vô đấy nữa.  Hiện nay, cô  ấy vẫn còn  ở đây. Cuối tuần này, chúng tôi tổ chức mừng sinh  nhật Quỳ nên mới điện thoại mời cậu đây.

Huy ngớ người  ra như không tin ở  lỗ tai của mình. Phải  lặng đi một giây, chàng mới lên tiếng hỏi, giọng còn đầy vẻ ngạc nhiên:

– Anh nói cái gì? Tổ chức sinh  nhật cho cô Quỳ đấy à? Chuyện lọa ở đâu ra mà động trời như vậy.

Ở bên đầu dây, Hải  cười rất thích chí:

– Thì thế mới  mất công điện thoại cho cậu.  Nào, có nhận lời hay không thì nói quách đi cho rồi. Cấm hỏi han gì lôi thôi.

Huy láu táu:

– Được chứ. Chỉ nội một cái sự lọa  ấy cũng đủ để cho tôi hy sinh một buổi chiều cuối tuần rồi.

Sau khi  hỏi lại ngày  giờ buổi tổ  chức sinh nhật,  Huy cúp điện thoại xuống mà lòng chưa hết xốn xang. Có thể  nói, đối với  Huy, Quỳ là  một nhân vật  khá kỳ lạ.  Nàng không còn trẻ lắm, ước chừng ngoài ba mươi, không đẹp nhưng khuôn mặt khả ái với nước da trắng mịn màng và một mái tóc óng ả, buông xõa tới ngang lưng. Nàng rất ít nói, lại càng không hay cười, hầu như trong một thời gian gần một năm trời ở chia phòng tại nhà anh chị Hải, chưa một lần  nào Huy bắt gặp một nụ cười của nàng trên vành môi lúc nào  cũng ửng mầu hoa đào. Nàng có một tâm sự u uẩn, điều này hiện rõ  trong đôi mắt đen láy, khá to, ẩn dưới đôi lông mày tuy không được chăm sóc nhưng cũng rất cong, và dài, đôi  mắt đượm vẻ  thờ ơ như  phản chiếu một  tâm hồn lúc nào cũng chìm đắm  trong một thế giới riêng biệt,  không quan tâm đến bất cứ một sự việc gì đang xẩy ra ở chung quanh.

Hôm đầu tiên đến  thuê phòng ở nhà anh chị Quảng,  chị ấy đã giải thích:

– Nếu anh cần sự  yên ổn thì ở đây là lý  tưởng. Chúng tôi chỉ có hai vợ  chồng, không con  cái, ở một  phòng. Một phòng  nữa đã có người thuê từ hai năm nay. Rất kín đáo, rất ít lời, không bao giờ làm phiền ai….

Hải thật thà xen vào:

– Nói thế thì cũng không đúng hẳn. Cũng phải cho anh ấy biết kẻo sau này lại  trách là mình không nói trước. Người thuê căn phòng bên cạnh là một phụ nữ rất kín đáo, điều đó đúng, nhưng cô ta sống bằng  nghề may thuê. May tối ngày, sáng đêm, bẩy  ngày một tuần, bất  kể là ngày thường hay thứ  bẩy, chủ nhật.  Tuy nhiên, tiếng máy chạy cũng không ồn lắm đâu. Tôi đã dành một phần cái gara cho cô ấy sử dụng.

Điều này, đối với Huy cũng không  có gì phiền hà lắm. Một vài đêm đầu dọn  tới ở, giấc  ngủ của Huy  thường được ru  bằng tiếng máy chạy rù rì. Nhiều hôm thức giấc vào quá nửa đêm, Huy vẫn còn nghe thấy tiếng máy chạy. Có lần Huy tò mò hỏi Hải:

–  Cô Quỳ sống độc  thân, có gì phải lo mà sao  cô ấy làm việc dữ vậy. Suốt gần một  tháng ở đây, tôi chưa thấy lúc  nào cô ấy nghỉ ngơi hay giải trí.

Hải cười:

– Người ta xây dựng tương lai đấy. Quả là một người kiên trì số một.

Rồi Hải hé cho Huy biết sơ qua một chút về đời sống riêng tư của nàng. Quỳ  sang đây đã  hơn ba năm. Diện tỵ nạn  vì nàng đã vượt biển cùng với gia đình chỉ gồm có  một bà mẹ và một em gái. Bà mẹ không may đã  chết vì kiệt sức trên  biển. Cô em gái thì  đã lấy chồng và rời đi một tiểu bang  khác. Thế là nàng chỉ còn sống đơn phương có  một mình. Tuy  nhiên niềm hy  vọng của nàng  trước sau không bao giờ thay đổi. Bởi vì  nàng còn có người hôn phu còn kẹt lại ở Việt Nam. Hai người tuy chưa chính thức đính hôn, nhưng Quỳ vẫn tự cho là mình đã gắn bó và tất cả niềm vui cũng như năng lực của nàng, bây giờ là dành cho những dự định tương lai. Kiếm một số vốn rồi trở  về Việt Nam làm hôn lễ. Đó là  lý do nàng đã sống trong suốt  mấy năm trời  cuộc đời của  một chinh phụ  chờ chồng. Không ra  ngoài. Không bạn bè. Không giao tiếp với  ai. Mục tiêu duy nhất của nàng  ở cái xứ sở xa lạ này  là kiếm tiền bằng những giờ cặm cụi may vá. Thật là một mẫu người phụ nữ tuyệt hảo trong lãnh vực trung thành với tình yêu.

Vậy mà hôm nay Hải lại mời chàng  đến dự một buổi sinh  nhật của Quỳ, thì làm sao chàng không thể ngạc nhiên cho được. Hẳn là phải có một sự thay  đổi gì rất lớn lao mà Huy  tò mò muốn biết. Chàng sẵn sàng hy sinh một buổi tối cuối tuần để tìm hiểu xem chuyện gì đã xẩy ra cho con người thầm lặng và trung kiên như thế.

Buổi họp mặt không đông đảo như  Huy dự tưởng. Cả thẩy chỉ có sáu người. Anh chị Hải, Quỳ, Huy và  thêm một cặp vợ chồng già, những người đã đến thuê  căn phòng mà trước đây Huy đã  dọn đi. Chỉ cần điểm mặt sơ qua, Huy đã thấy  ngay được dụng ý của Hải. Anh chàng này chắc toan  tính làm chuyện môi giới gì  đây. Điều này làm Huy có ý nghĩ vui và khiến chàng chú ý đến Quỳ một cách đặc biệt hơn.

Hôm nay nom Quỳ hoàn toàn khác  hẳn với hình ảnh mà Huy vẫn mường tượng  trong đầu.  Trước hết  là ở việc trang  điểm, một điều mà trước đây chưa bao giờ Huy được  thấy nơi nàng. Với nước da trắng và mịn màng, chỉ cần thoa phớt lên một lớp phấn hồng, và đôi lông mày tô  hơi đậm hơn  lên một cách  kín đáo cũng  đủ khiến cho Quỳ lộng lẫy hẳn lên. Thêm vào đó, y phục của nàng cũng hoàn toàn đổi khác. Một chiếc áo sơ mi lụa mầu đen có điểm những nụ lấm tấm hoa vàng, mái  tóc chải kỹ  hơn, xõa  xuống  hai bờ vai  tròn trịa và buông lơi  vài lọn xuống  cổ áo phía  trước để lộ  ra một làn  da trắng nuốt nổi lấp lánh một sợi dây có gắn một mặt nạm đá quý mầu xanh biếc. Một mùi nước hoa  bay thoảng trong căn phòng chật hẹp, rất nhẹ  nhàng, phảng phất nhưng  cũng đủ khiến cho  Huy cảm thấy ngất ngây.  Lòng Huy chợt  rộn lên một  niềm xao xuyến  khó tả và chàng tự  trách thầm rằng  một đóa hoa  quý như thế  mà sao trong suốt hơn một năm trời sống ngay ở kế bên mà chàng nhìn không ra.

Quỳ đón  tiếp Huy bằng một  nụ cười. Hai mắt  của nàng linh động, lấp lánh. Nàng cất tiếng nhỏ nhẹ:

– Cám ơn  anh Huy đã  tới. Tôi  tưởng  anh không còn  nhớ đến mọi người ấy chứ.

Huy ấp úng, và thấy rõ mình không kiểm soát được mình:

– Sao…. Sao  mà tôi quên được.  Cô là một mẫu người siêng năng hiếm có.

Quỳ bật lên cười:

– Suốt ngày cắm cúi vào cái máy may bất kể mọi người chung quanh phải không?

– Vâng…  chính điều đó làm  tôi ngạc nhiên. Tôi  không bao giờ nghĩ rằng lại có một buổi như hôm nay.

Vừa nói, Huy vừa  đặt bó hoa hồng lên mặt bàn.  Chàng có cảm giác mình đang lấy lại sự thoải mái tự tin thường ngày:

– Thật đấy chứ! Ngay  cả lúc tôi vào tiệm mua bó  hoa này, mà vẫn ngỡ như mình nằm mơ!

Chị Hải cười ròn rã xen vào:

– Thôi xạo  vừa chứ ông  ơi. Chứ không  phải ông mới  chỉ bắt đầu thấy mình mơ từ lúc vừa bước chân vô phòng này à?

Huy mỉm  cười tự nhủ,  cái nhà bà  này lúc nào  cũng đầy vẻ  tinh quái:

– Ôi, chị  Hải ơi, chị  đừng có tố  cáo tôi như  thế cho tôi được phận nhờ chứ.

Trong một thoáng ngắn ngủi, Huy thấy ánh mắt của Quỳ chợt lóe lên và hai má của nàng hơi ửng hồng. Tự nhiên, chàng có cảm giác ngọt ngào như vừa được nhấp một chút hơi men. Buổi tiệc sinh nhật diễn ra trong bầu không khí hết sức cởi mở và thân tình. Sau  phần cắt bánh và mọi người  ngồi nhấm nháp với ly trà đượm ngát hương sen, chị Hải nói:

– Trà này cô Quỳ đem  từ Việt Nam qua đấy. Đúng là trà sen thứ thiệt.

Anh Hải giơ tay coi đồng hồ và nói:

– Mới hơn chín giờ, kể là còn sớm. Tôi đề nghị cậu Huy lái xe đưa cô Quỳ đi dạo mát một vòng.

Huy chưa kịp phản ứng thì Quỳ đã nói:

– Kể ra anh chị thật đã hết sức tận tình. Thì đi một vòng có sao. Cái đó chỉ còn tùy ở anh Huy thôi.

Huy vội nói:

– Thật không có điều gì hân hạnh cho tôi bằng.

Thế là chỉ trong vòng không đầy  hai mươi phút sau, Hải và Quỳ đã rời trung tâm thành phố  để đi  dọc theo con đường  chạy ven bờ biển. Một bên là những hàng cây  cao in bóng từng tàng lá rậm rạp xuống mặt đường để lại những lốm  đốm sáng lay động qua ánh trăng của một đêm chưa qua hạ tuần. Một bên là khoảng trống bao la, tầm mắt có  thể phóng tới  tận chân trời, ở đó biển như một tấm màn nhung xanh  thẫm thỉnh thoảng  lại nổi lên  một vài sánh  đèn lấp lánh của những con tầu nhỏ đang  buông neo hay di chuyển chậm rì.

Khung cảnh  hoàn toàn yên  tĩnh và  Huy  có cảm giác  như đang đi trong một giấc mơ huyền ảo. Chàng hết sức  gượng nhẹ đến cả từng hơi thở để không làm khua động Quỳ lúc đó đang ngả đầu trên thành ghế và  dõi cặp mắt  đăm đăm nhìn  ra phía ngoài  xa. Nét mặt của nàng rất bình thản, hầu như nàng đã rũ bỏ được mọi nỗi phiền muộn trong đời sống để tận hưởng những  giây phút hiếm hoi êm ả, thanh tịnh và vô tư như bây giờ.

Chiếc xe của Huy vẫn trôi  đi trong êm ái,  nhẹ nhàng. Con đường trước mặt tuy quanh co nhưng càng  lúc càng xa thành phố nên bóng cây thưa dần và đã đi sát vào mé biển. Trong không gian yên tĩnh, hai người  đã bắt đầu có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào vỗ lên ghềnh đá. Đến một khúc quanh mở rộng, có khoảng đất  trống đủ để  làm chỗ đậu  cho nhiều xe  cộ nghỉ ngơi, chợt Quỳ nói:

– Mình ngừng ở đây đi anh. Ở đây khung cảnh có  vẻ giống như bãi Dâu ở Vũng Tàu.

Huy lẳng lặng lái xe vào chỗ đậu và tắt máy. Bây giờ thì chàng có đủ thời  giờ để quay sang nhìn ngắm khuôn mặt của Quỳ một cách chăm chú hơn. Trong ánh sáng trăng mờ nhạt, đôi mắt của Quỳ đen và sâu  thăm thẳm. Quỳ có vẻ không né tránh  cái nhìn của chàng. Thái độ ung dung của nàng biểu lộ  một vẻ đầy tự tin như thể nàng ý thức rất  rõ mình đang  đi đến đâu,  muốn làm gì. Rồi nàng cất tiếng:

– Tôi biết là anh có điều băn khoăn từ chập tối. Hẳn là anh muốn biết tại sao  tôi lại có thể hoàn  toàn thay đổi lối sống  nếu so tôi bây giờ với thời kỳ anh còn ở chung căn nhà với anh chị Hải.

Huy mỉm cười:

– Nếu cô không lên án là tôi tò mò thì xin  thú thật, quả là tôi hết sức băn khoăn, thắc mắc về chuyện đó.

– Thế thì để tôi giải thích cho  anh nghe. Hẳn anh cũng rõ, trước đây tôi có một vị hôn phu còn sống ở Việt Nam.

– Vâng. Tôi có nghe anh Hải nhắc tới.

– Anh ấy là  lẽ sống của đời tôi  trong suốt những năm dài  kể từ khi tôi đặt chân lên đất Mỹ. Đối  với tôi, hồi đó, chỉ có một mục tiêu duy nhất.  Đó là làm việc thật  cật lực để gây dựng  một cái vốn và trở về làm đám cưới. Hồi đó tôi sống ở đây, mà hồn lúc nào cũng chìm đắm  trong giấc mơ trở về quê  hương. Không hẳn tôi chỉ có nhớ thương  một mình anh ấy, mà  nỗi nhớ của tôi bao  trùm lên mọi thứ. Tôi nhớ  căn nhà tôi đã ở. Nhớ con  đường tôi đã đi. Nhớ từ những  viên sỏi bên  vệ đường cho  đến những sợi  khói bay tản mạn trên  từng đống lá khô  đang bị đốt cháy.  Quê hương, đối với tôi, càng đi xa càng thấy nhớ quay quắt, từng giờ, từng phút trôi qua  trong một  ngày, từng  tiếng nói,  giọng cười  không chỉ của người thân  mà cả những hình  ảnh chợt đến, chợt  đi trong ý nghĩ của tôi. Đầu óc  của tôi, lúc nào cũng chỉ bám  chặt một ước muốn không rời: “Trở về. Trở về. Trở  về”. Nói như thế để anh thấy, tại sao tôi không màng gì tới bất cứ  một sinh hoạt nào ở bên đây, kể cả việc  giao thiệp, bạn bè,  hay những buổi giải  trí cuối tuần. Không phải tôi  muốn xa lánh mọi người ở  đây. Nhưng chính là tôi muốn rút ngắn thời gian mòn  mỏi nơi xứ người  bằng cách hối hả, cặm cụi làm việc để kiếm tiền.

Huy chen vào:

– Và cô đã thực hiện được điều ước muốn của mình.

Quỳ mỉm cười:

– Vâng! Tôi đã dành  dụm được đủ số tiền dự trù  và gần hai tháng trước tôi đã thực hiện được chuyến về Việt Nam.

– Tuyệt diệu!

– Cứ cho là như  thế đi. Bởi vì tôi đã làm  được một công việc mà tôi đã dự tính trong nhiều năm.

Huy hấp tấp hỏi:

– Kể cả chuyện cô định làm đám cưới chứ.

Quỳ nhìn Huy  không đáp, nàng chỉ khẽ lắc  đầu. Huy như người hụt hẫng:

– Vậy thì… vậy thì anh ấy đã không chờ cô.

Mắt Quỳ chợt sáng lên. Nét mặt của nàng đột ngột biến đổi như tâm hồn của nàng vừa kéo qua một đám mây buồn bã, u uẩn:

– Không phải vậy đâu. Anh ấy vẫn chờ tôi. Và cả hai chúng tôi đều có đầy đủ điều kiện để thực hiện một cuộc sống chung.

– Thế thì thực tình tôi không hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Quỳ bật lên cười:

– Chính tôi cũng đã nhiều ngày, nhiều  đêm tự đặt ra cho mình câu hỏi y như vậy, nhưng chưa bao giờ tôi tìm được câu trả lời cho nó thỏa đáng cả.

Huy hăm hở:

– Tôi nghĩ rằng  mấu chốt của vấn đề  nó nằm ở đâu đó  mà cô chưa nhận diện được nó đấy thôi. Tôi hy vọng là tôi có thể giúp cô nếu cô không cho là quá tọc mạch vào chuyện riêng tư.

Quỳ lắc đầu:

– Không… Không… tôi chẳng có điều  gì thấy cần phải giấu giếm ai cả. Chỉ  sợ cứ nói mãi về  cái tôi của mình… e mất thì giờ của anh.

Huy quay hẳn người qua phía Quỳ  để hai người trực diện với nhau. Bây giờ thì chàng  nhận thấy đôi mắt của Quỳ mở  to hơn trước, và chàng đọc được ở đó một nét  buồn phảng phất, nó khiến cho vẻ mặt của nàng bỗng xa vắng  đi. Tuy nhiên, chỉ một thoáng giây sau, nàng lấy lại được vẻ linh động qua một nụ cười hết sức hồn nhiên. Nàng đổi giọng vui vẻ:

– Này nhé,  khi trở về  quê nhà, chính anh ấy đã  đón tôi ở  phi trường bằng chiếc xe hơi mà anh ấy đã đi thuê, với cả tài xế lái nữa. Điều  này dễ hiểu, vì khung cảnh chèo kéo, giành giật hành khách ở ngoài vòng rào phi trường nó sô bồ, phức tạp lắm.

– Cảm nhận đầu tiên lúc cô trong thấy anh ấy là  như thế nào. Cô có thấy anh ấy thay đổi gì nhiều không, về mặt hình thức thôi.

Quỳ suy nghĩ rồi trả lời:

– Có lẽ không có gì quan trọng. Gần bốn năm trời trôi qua rồi, ai cũng phải có điều đổi khác chứ. Tôi không thấy mình quan tâm chút nào khi  gặp lại thấy  anh ấy có  già dặn đi  hơn một chút, phong trần, từng trải hơn một chút, mà có lẽ anh ấy cũng tìm thấy ở tôi những nét như vậy.

– Điều quan trọng là anh ấy vẫn yêu cô. Và anh ấy đã biểu lộ tình yêu đó một cách nồng nàn ngay từ phút đầu gặp lại cô chứ?

Quỳ mỉm cười:

– Chúng tôi đã ôm nhau ngay ở cửa phòng đợi của phi trường. Chúng tôi vô cùng xúc động ghì lấy vai của nhau. Tôi chỉ không cho anh ấy hôn tôi trước mặt mọi người thôi.

Ngừng lại một giây, chợt giọng của Quỳ trầm hẳn xuống:

– Tại giây phút đó, tôi chợt bị  rơi vào một cảm giác khác lạ khi tôi phát giác ra rằng, anh ấy đeo một chiếc đồng hồ có vẻ rất đắt tiền với một sợi dây bằng vàng ối. Điều này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi.

Huy hơi mỉm cười, vẻ riễu cợt:

– Chắc cô thắc mắc về sự anh ấy đã không giữ  lại cái đồng hồ kỷ niệm nào đó  mà cô đã trao tặng  anh khi hai người chia  tay phải không?

Quỳ lắc đầu lia lịa:

– Không… không… tôi  chẳng tặng anh ấy một  chiếc đồng hồ nào cả. Vấn đề là ở chỗ, trong suốt  thời gian cặm cụi làm việc ở Mỹ, tôi vẫn đinh ninh là anh ấy rất nghèo.

Huy kêu lên:

– Ô! Thế thì  bất ngờ là phải. Nhưng trong  suốt thời kỳ xa nhau, anh ấy không thư từ trò chuyện gì  với cô về công việc làm ăn của anh ấy hay sao.

– Tôi vì tế nhị nên không hỏi,  sợ anh ấy tủi thân. Và ngược lại, anh ấy cũng không hề đả động  gì đến chuyện đời sống riêng tư cả. Do đó,  thư từ trao  đổi với nhau  chỉ toàn chuyện  nhớ thương và cùng nhắc lại những kỷ niệm êm đềm cũ.

– Nhưng chuyện anh ấy có nghèo  đi, hay giầu có lên, thì đâu có phải là nguyên nhân để cô trở thành bất như ý.

– Dĩ nhiên! Anh ấy đâu có lỗi  gì. Tôi không bao giờ trách anh ấy về chuyện này cả. Nhưng thành thực mà nói, kể từ lúc phát hiện ra cái đồng hồ, tự nhiên tôi như bị khựng lại. Tôi thấy rõ bao nhiêu năm cặm cụi, chắt  chiu từng đồng ở bên này, với  ý nghĩ là để sẽ lo lắng cho anh ấy. Tôi luôn luôn tự hào về những sự vất vả triền miên nhưng có  mục tiêu rõ rệt. Nay  thì cái niềm tự hào  đó bỗng tan như mây khói.  Tôi cứ bị dằn vặt về ý  nghĩ chẳng lẽ mình ích kỷ đến độ cứ muốn cho anh ấy  nghèo rớt mùng tơi để cho mình được lo lắng hay sao.

Huy chen vào:

– Tôi hiểu được cái tâm trạng ấy của cô. Nhưng điều đó không phải là tất cả. Chỉ trừ phi tâm tình của anh ấy cũng lại thay đổi theo nhịp độ giầu có lên của mình.

Quỳ kêu lên:

– Không! Tuyệt đối không! Anh ấy vẫn nhã nhặn, hồn nhiên, và nồng nàn như  ngày nào. Chứ mà đổi tính kiêu căng,  phách lối thì còn nói làm gì. Tôi biết anh ấy không phải loại  người như vậy.

– Sau đó thì….

– Có lẽ  là tại tôi  hết. Như tôi  đã vừa nói  với anh là tôi bị khựng lại. Cái khựng lại rõ ràng, cụ thể nhất là tôi đã không còn muốn đưa cho anh ấy cái đồng hồ điện tử mà tôi mua tặng anh trước khi trở về. Tôi  có cảm giác như đem tặng anh ấy một cái đồng hồ trung bình, chỉ trị giá có vài chục đô la ở bên này trong khi anh ấy đã  có một cái  đồng hồ đắt  tiền như thế,  thì là chuyện khôi hài. Mặc dù cái đồng hồ của tôi  mua nó có tính chất của lòng yêu thương, gắn bó, dĩ nhiên.

Huy thở dài:

– Thế thì “vấn đề” nó đã khởi sự ngay từ cái lúc ấy rồi.

Quỳ gật đầu:

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Bởi vì  những ngày sau đó, tự nhiên giữa tôi và ảnh có một khoảng cách  mà tôi không thể hình dung rõ ràng ra được. Phải chi mà  anh ấy vẫn nghèo như xưa thì tôi đã hồn nhiên và vui sướng biết bao. Anh biết không? Ngay tối hôm đó, anh ấy đã dẫn tôi đi nhà hàng để  chào mừng ngày hai đứa đoàn tụ. Một bữa ăn khá  tốn tiền và đượm vẻ  mầu mè, trong khi tôi  cứ ước ao rằng giá hai đứa ngồi phệt xuống  vỉa hè cùng húp sì sụp bát cháo nóng hay bát bún  riêu thì hạnh phúc sẽ tuyệt vời  hơn. Mà ý nghĩ này tôi cũng không dám nói ra, có lẽ đấy cũng là lần đầu tiên tôi không thể nói ra  với anh ấy về những ý nghĩ  của mình. Trước kia thì đâu có thế, tôi tin anh ấy  tuyệt đối, và bao giờ tôi cũng có thể nói ra bất cứ điều gì.

– Cô vừa dùng hai chữ mầu mè để diễn tả bữa ăn đoàn tụ. Cô có thể tả thêm một vài chi tiết được không?

Quỳ ngả đầu  trên ghế. Hai mắt nàng hơi  nhắm lại. Nàng hồi tưởng đến những giây phút đã trải qua như một khúc phim quay chậm:

– Anh có thấy một tiệc đoàn tụ thay vì chỉ có hai đứa để cùng thủ thỉ tâm sự lại đi mời cả đám bạn  bè tới dự thì có phải là mầu mè không. Đành rằng tôi cũng là người  biết tôn trọng bạn bè của anh ấy, nhưng rõ ràng hôm đó không phải là lúc. Anh có đồng ý như vậy không?

Thấy Huy không lên tiếng trả lời, Quỳ nói tiếp:

– Trong bữa tiệc, dĩ nhiên tôi vẫn là cái đinh để mọi người trò chuyện và thăm  hỏi. Nhưng sau đó, bao giờ cũng liên hệ tới việc làm ăn, buôn bán và vị hôn  phu của  tôi lại nhiệt thành nhất trong chuyện đó. Đến  nỗi tôi đâm ra có mặc cảm  về sự chẳng biết gì về cái xứ  Mỹ xa lạ này mỗi khi được hỏi  về một chuyện nào đó và tôi giấu biến  cái chuyện tôi đã miệt mài chỉ với mỗi một cái máy may trong suốt bao nhiêu năm trời.

Rồi Quỳ kêu lên:

– Trời ơi! Tôi không thể tưởng tượng được ra rằng giữa tôi và anh ấy lại cách xa nhau đến thế,  chỉ trong khoảnh khắc không đầy hai ngày sau khi tôi đặt chân về Việt Nam. Cái khoảng cách này còn xa thêm nữa khi  nhìn thấy anh ấy móc  túi chi ra hàng xấp  giấy bạc khi trả nhà  hàng. Anh có biết là bao  nhiêu không? Gần hai triệu đồng tức là  xấp xỉ hai trăm đô  la, bằng lương suốt một  tuần lễ tôi cặm cụi ngồi may từ sáng đến nửa đêm. Sau bữa ăn đó, tôi cảm thấy mình  bắt đầu trở  nên thừa thãi  trong cuộc đời của anh ấy rồi.

Huy vẫn ngồi yên lặng, hết sức chú tâm ngồi nghe tâm sự của nàng.

Còn giọng của Quỳ thì mỗi lúc một trầm xuống, đều đều:

– Ngày hôm sau, nhân lúc  rảnh rỗi, tôi  mới mở va li để lấy ra những món quà tôi mua tặng thân  nhân, bạn bè. Anh có biết không,có nhiều món  dự định tặng anh ấy nhưng tôi đã không mở  ra. Tôi giấu biến đi và đem  trở lại ra ngoài này. Đó là những thứ vặt vãnh, không đáng tiền, nhưng rõ ràng  là tôi chắt chiu nó như một người vợ yêu thương và săn sóc chồng. Cũng phải thú thực với anh, có nhiều món tôi đã mua ở các tiệm rẻ tiền, hay các lần ở tiệm họ đại hạ giá. Khi mua những món đó, trong đầu tôi vẫn mang hình ảnh ở nhà mọi thứ đều hết sức thiếu  thốn của những năm gần cuối thập niên tám mươi. Vào  thời kỳ đó quả là cái gì  cũng quý hết. Nhưng nay thì mọi sự đổi khác hết rồi, chỉ có tôi là hết  sức lạc hậu đối với tình hình trong nước thôi.

Tiếng nói của Quỳ cứ mỗi lúc  như một thay đổi, như thể nàng đang trải qua một  cơn nghẹn ngào mà cường  độ cứ mỗi lúc một  lên cao hơn:

– Sau hôm đó, tôi vẫn cứ cố  đinh ninh trong lòng rằng cái chuyện quà cáp đó chẳng qua cũng chỉ là những  thứ linh tinh, vặt vãnh, không nên để nó dằn vặt mình. Và tôi đã xếp đặt một chuyến đi thơ mộng ở vùng quê  để có dịp cùng nhau ôn lại  kỷ niệm cũ. Lòng tôi phơi phới trở lại khi nhìn cánh đồng xanh tươi bát ngát trước mặt có những cánh cò trắng phau xoải cánh bay dưới ánh nắng lấp loáng của một  ngày đẹp trời. Biết  bao nhiêu kỷ niệm  êm đềm chợt sống dậy trong lòng  tôi trước khung cảnh êm đềm,  thanh khiết đó. Vậy mà anh biết không,  anh ấy đã phá vỡ dòng suy  tưởng của tôi bằng cách cứ kéo tôi về đời sống thực tại qua những câu hỏi mà những hôm trước đông người, anh ấy không có dịp  nêu ra. Chẳng hạn như khả  năng kiếm  tiền của  tôi ở  bên đó, vấn đề lương bổng hàng tháng, vấn đề chi tiêu hay dành dụm. Tôi thực tình vừa lúng túng, vừa  sượng sùng.  Làm sao  tôi có  thể làm  cho anh  ấy tin  được rằng may một bộ cầu vai tôi chỉ được trả có mười xu trong khi chỉ tiền thuê phòng để trú ngụ tôi  đã phải trả tới ba trăm đồng. Cho nên khi anh ấy đưa ra một con  số ước lượng về số tiền tôi có thể dành dụm được trong ngần ấy năm  trời thì tôi rụng rời. Tôi không còn hào hứng gì để kéo dài chuyến đi. Tôi đã lấy cớ nhức đầu đòi quay về. Và tôi thấy rất rõ vị trí của tôi đối với anh ấy lúc đó. Tôi không còn  là con người mà anh  ấy thực sự đang kỳ  vọng nữa. Cái cảm nhận này không phải là  tôi tưởng tượng ra, mà tôi đã đọc được rất rõ trong  ánh mắt đầy thất vọng của anh  khi tôi trả lời bằng một nụ cười hết sức gượng gạo: “Với số tiền đó, em có đi làm cả đời cũng  chưa có được lấy một phần”.  Điều băn khoăn, day dứt nhất của tôi, không phải là tôi  đã bắt anh ấy phải trực diện với sự thực, nhưng  chính là nỗi e sợ  rằng anh ấy không tin  lời tôi nói. Tôi  đã chống chỏi  lại cơn e  sợ đó bằng  cách cố gắng giải thích và giãi bầy tấm lòng thành  khẩn của mình. Nhưng anh ấy chỉ đáp ứng lại  bằng cái nhìn lạnh lùng và  những nụ cười chua chát, nửa miệng. Chính  ở chỗ đó mà tôi  cảm thấy sự đổ vỡ  giữa tôi và anh khó có thể hàn gắn lại được.

Ngừng lại một  lát như để nỗi lòng được  lắng sâu xuống sau những giây phút bị khua động, Quỳ lại nói tiếp bằng một giọng bùi ngùi:

– Có những lúc ngồi nghĩ lại, tôi  lại thấy mình có nhiều điều tự mâu thuẫn. Nếu tôi đã mang cảm  giác chim bị tên sợ cành cây cong mỗi khi nghe  có ai nhắc nhở đến chuyện  lương bổng của mình, thì chính tôi cũng lại phiền lòng khi gặp lại đám bạn bè cũ, trong đó có nhiều người rất  thân thiết nhưng họ lại giữ ý quá đáng về sự giao tiếp với tôi. Cứ như thể họ sợ vi phạm vào lòng tự trọng khi bầy tỏ  tình cảm một  cách nồng nhiệt,  đối với kẻ  đi xa trở về. Dẫu sao thì tôi cũng bị mang dấu ấn của một Việt kiều trở về thăm quê hương.

Chợt Quỳ bỗng thở một hơi dài:

– Nhưng nghĩ cho cùng, nếu tôi ở  địa vị của họ thì tôi cũng hành xử như vậy. Trong những ngày ở Sài Gòn, tôi đã gặp không thiếu gì những khuôn mặt vênh váo, nghênh ngang của  những con người mang tâm trạng áo gấm về làng. Chính họ cũng góp  phần không nhỏ vào công cuộc tạo dựng nên những khoảng  cách chua xót đã xẩy ra. Quê hương không  bao giờ hắt  hủi ai, nhưng  đời sống là  như thế đó. Mỗi con người dù  ở trong hay ở ngoài cũng đều  góp phần theo một cung cách nào đó  để trở nên nhìn nhau xa lạ  nhưng âm thầm không ai muốn  nói ra. Riêng về phần tôi, anh có thể tưởng tượng nổi không, khi  đi lại giữa  đường phố Sài  Gòn, tôi đã  mang một cảm giác bất an. Sự bất an không phải  vì mình lo sợ ai hà hiếp mình, bởi vì tình hình an ninh khá tốt đẹp, nhưng là nỗi bất an của một kẻ chỉ sợ mình hành xử vụng về sơ xẩy một điều gì trong cung cách giao dịch, ứng xử với đời sống  chung quanh, bắt nguồn từ sự mình không thấu hiểu những qui luật nẩy  sinh trong đời sống đó mà chỉ người trong cuộc mới nắm vững. Còn tôi, như chỉ đứng bên lề.

Huy góp ý:

– Ngày xưa, những người đi du học  năm bẩy năm khi trở về, đâu có ai mang cái cảm giác đó.

– Thế là anh đã bắt đầu hiểu vấn  đề rồi đó. Tôi thì tôi cho rằng quả là đã  có sự thay đổi về  tâm tình, ở cả hai  phía mới gây ra những nỗi cách biệt này. Riêng đối với tôi, tôi cũng tự cảm nhận thấy sự  thay đổi trong thế giới suy tưởng của mình. Chẳng hạn hằng đêm, trước khi nhắm mắt ngủ, tôi mơ ước được trở về, đi trên con đường  cũ, hít thở  bầu không khí  cũ, ngắm nhìn  những khung cảnh cũ. Nhưng lạ lùng thay, cũng vẫn con đường đó, vẫn những viên sỏi đó, vẫn  những mùi ngai ngái của từng lớp  lá khô bị đốt cháy bốc khói lên thoang thoảng  trong bóng chiều đang gần xế đó, vậy mà tôi  không bắt được cái cảm giác  thiết tha, trìu mến, day dứt như những cảm giác nó khiến tôi nhớ nhung trằn trọc hàng đêm. Như thể là tôi bị rơi vào  một niềm thất vọng không tên đang khởi sự nhen nhúm trong lòng tôi, thế có đau đớn cho tôi không chứ…

Hai người không ai bảo ai, đột  nhiên cùng im bặt. Họ như vừa đưa nhau đến một  khúc quanh hiểm nghèo của sự  phức tạp khó đo lường trong lãnh vực  suy tưởng. Không của riêng Quỳ,  mà hầu như đã có khá nhiều  người đã từng  trải qua. Điều  này, Huy đã  thấy được, và chàng lên tiếng  để giải thích về ý nghĩa của  sự thất vọng mà Quỳ vừa nói ra:

– Tôi  cũng đã  được nghe  nói về  tâm trạng  phức tạp này. Nhiều người đã  háo hức trở  về để tìm  lại những kỷ niệm, những quang cảnh, những con đường trên quê hương. Nhưng cảnh ấy, người ấy, kỷ niệm ấy  thì vẫn còn nguyên  đó, nhưng không phải  là những gì mà người ta mơ ước  gặp lại. Có bao giờ cô để  công phân tích xem là tại sao không?

Quỳ đáp:

– Có chứ sao không. Bởi vì điều này nó đã xẩy ra thiết thân với chính tôi, đã làm cho tôi tiêu tan cái hy vọng, cái ước mơ mà tôi gây dựng nó từng giờ, từng phút  ở nơi xứ người. Nhưng tôi chỉ có thể trả lời bằng một cách tóm gọn là khi tâm trạng con người thay đổi, thì dù  đứng trước cảnh cũ, người xưa,  con người cũng không bao giờ còn tìm lại được những cảm nhận cũ nữa mà thôi.

Huy trầm ngâm rồi gật đầu:

– Đó cũng là một cách giải thích. Nhưng theo tôi thì, ở đây, nơi xứ người, người ta đã đi tìm quê hương ở trong trí nhớ. Chính tại vùng trời suy tưởng đó, mà điều gì xẩy ra cũng tốt đẹp, cũng bình an, cũng êm đềm, cũng đầy những chi tiết gợi cảm. Một ly nước mía trong tâm tư bao giờ cũng mát rượi và ngọt ngào hơn là trong thực tế. Mọi  hình ảnh, kỷ niệm  khác cũng cùng chung  một số phận như thế.

Quỳ xoay người một lần nữa để đổi lại thế ngồi. Lần này, nàng đặt bàn tay lên vai áo của Huy và nói bằng một giọng xúc động:

– Rất cám ơn anh đã đưa ra một lời giải thích mà bao lâu nay tôi chỉ cảm nhận thấy mà không biết cách diễn tả nó  ra. Tôi đã trực diện với cái tâm  trạng này khi trở lại gặp bạn  bè thân hữu ngày xưa. Chúng  tôi đã đi  lại trên những  con đường đầy kỷ niệm cũ, trong một  khung cảnh của  những buổi chiều  nhạt nắng, đúng  cái khoảng không  gian và thời  gian mà tôi  đã im đậm  nét trong trí tưởng tượng của mình, vậy mà tôi thấy lòng mình sao trống rỗng lạ thường. Những cảm  giác đầy ắp yêu thương mỗi  lần ở bên đây nhắc nhở đến,  nay bỗng tan  biến đi đằng  nào. Anh Huy  ạ. Chỉ có một cách  giải  thích  được  là  tôi  đã  không  còn là chính tôi lúc trước. Phải vậy không?

Huy gật đầu:

– Tôi cho  là đúng như vậy. Và cũng không phải  chỉ riêng có một mình cô có  sự thay đổi đó. Trong  địa hạt suy tưởng của  mỗi con người, khi bước  chân ra khỏi vùng đất của  quê hương, dù là bằng cách nào, thì  mỗi người cũng đã đều ghi gói thêm những hình ảnh mới, những  kỷ niệm mới, những  băn khoăn, thao thức  mới. Tất cả những cái  gọi là mới  này đã choán  chỗ đầu óc  của ta trong đời sống thiết thân hằng ngày và đẩy  những hình ảnh của quê hương đã được thêu  dệt lên, đan kết  lại, in đậm nét  trong tâm tưởng của mỗi người.  Và như thế người  ta đã sống với  quê hương trong trí nhớ với tất cả những cảm giác được  tô vẽ lên chứ không  phải là quê hương bằng xương, bằng thịt với những vật thể sờ sờ có thể va chạm tới được. Đó  là nguyên do đổ vỡ một khi  người ta lên đường trở lại chốn cũ để  đi tìm lại  những cảm xúc chất chứa đầy ắp trong tâm hồn của mỗi người trong những ngày sống xa xứ. Tôi nhớ có một người  bạn trở về thăm quê  nhà, lúc lại ra đi,  ngồi trên máy bay  cất cánh, anh ta  thấy mình bay bổng  như vừa vượt thoát được lần thứ  hai, nhưng lần này là sự  vượt thoát khỏi những cơn nhung nhớ dằn vặt triền miên  trong suốt bao nhiêu năm lang thang trên xứ người…

Quỳ kêu lên:

– Nhưng anh ta cũng vẫn phải còn quê hương chứ!

– Còn chứ!  Nhưng bây giờ, quê hương đối với anh  ta, chỉ còn là quê hương trong trí nhớ.

Quỳ ngồi trầm ngâm rất lâu rồi cất tiếng:

– Trong  bao nhiêu  năm ở  đây, tôi  cũng đã  đắm chìm triền miên trong những cơn nhớ nhung, dằn  vặt không một phút nào nguôi. Vậy mà  bây giờ,  sao tôi  cảm thấy  hết sức  bình tĩnh  để toan tính chuyện  tương lai,  mặc dù  trong lòng  tôi bây  giờ hiện  ra một khoảng trống rất lớn, cái khoảng  trống tôi không cắt nghĩa được, chỉ biết  là nó đã  hiện diện và  chắc chẳng bao  giờ tôi có  thể khỏa lấp được.

Huy tiếp nối dòng tư tưởng của Quỳ:

– Có lẽ đấy cũng là tâm trạng của một số người  khi trở ra, bỗng lại tê liệt  mọi ý nghĩ mỗi khi  nghe nhắc đến hai chữ Việt Nam. Hình như  họ bị ruồng  rẫy bởi chính  họ. Căn bệnh này, dĩ nhiên không phải là  kéo dài bất tận, nhưng họ  vẫn cần một khoảng thời gian thật dài để tìm lại sự  quân bình. Nói cho cùng, dù hội nhập ở xứ này đến đâu, trước sau gì họ cũng là người Việt Nam.

Quỳ hỏi  ngang:

– Anh có nghĩ là họ sẽ quân bình được không.

– Cái đó cũng còn tùy người, tùy  hoàn cảnh, tùy môi trường mà họ đang sinh hoạt. Có người đi tìm sự quân bình  bằng cách lao vào đời sống của xã hội Mỹ. Nhưng Mỹ  là Mỹ, Việt là Việt, làm sao có thể lấy  cái này bù  đắp cho cái  kia. Rút cục  thì cũng lại  hụt hẫng,  bơ vơ,  thiếu nền  tảng, mất  điểm tựa,  một thứ vong thân thực sự nơi xứ người.

Quỳ bùi ngùi:

– Như thế thì buồn quá anh nhỉ.

Huy chợt quay sang phía Quỳ và bắt gặp ánh mắt của nàng cũng đang nhìn về phía  mình. Hai  người đối  diện với  nhau, lòng đầy cảm thông và cùng cảm  thấy hết sức gần gũi. Chợt Huy  khẽ giơ tay ra nắm lấy  bàn tay ấm  áp, mịn màng  của Quỳ. Chàng  cất giọng trầm ngâm:

– Rất đáng buồn ấy  chứ. Nhưng vấn đề chính là ở  chỗ phải có can đảm đứng dậy  để toan tính chuyện tương lai, chuyện trước mặt, ở ngay đây, trên xứ sở xa lạ này. Đó có phải là nguyên  do của sự thay đổi sâu xa mà cô định giải thích với tôi từ đầu đấy không.

Quỳ không trả  lời câu hỏi của chàng, và nàng cũng không rút bàn tay của mình  lại. Có một niềm vui  đang len khẽ vào tâm  hồn của nàng như một tia nắng ấm chợt  loe lên sau một mùa đông lạnh giá. Nàng khẽ ngước mắt nhìn ra phía đại dương bao la trước mặt. Trăng càng về đêm càng sáng hơn  lên, những gợn sóng lăn tăn, qua ánh trăng phản chiếu trở thành  những vẩy bạc lấp lánh. Nàng chợt khẽ mỉm cười khi  nhận thấy Huy vẫn cầm giữ bàn  tay của mình, và bây giờ thì chàng đang nắm xiết lại….

 

NHẬT TIẾN               

( trong QUÊ NHÀ, QUÊ NGƯỜI) 

 (Nguồn : https://nhavannhattien.wordpress.com)

 

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

BÔNG HỒNG NÀO CHO MẸ? - Nhật Tiến


Giang sơn của cụ Giáo Thìn bây giờ chỉ thu vào đúng hai khoảnh nhỏ: một dẻo đất hẹp chạy dọc theo bờ tường của cái garage và một vùng trí nhớ lãng đãng với một mớ kỷ niệm xô bồ, không thứ tự, dấu hiệu của sự tàn phai trước tuổi già.

Về cái dẻo đất hẹp thì phải nói rằng đó là kết quả của một công trình chăm sóc tuyệt hảo. Bề ngang đâu được thước hai, bề dọc cỡ độ bẩy thước, cụ Thìn đã đổ gần như tất cả thời giờ trong một ngày của mình vào đó để vun sới. Có ba cây ớt, một khoảnh ngò, một khoảnh hẹ, răm bẩy gốc tía tô, chừng mươi gốc húng và một nhúm hành ta. Đủ lệ bộ cho một đĩa rau thơm vào cái hôm mà cả nhà muốn ăn món bò nhúng giấm hay món gỏi cuốn chấm mắm nêm. Đó là những dịp duy nhất  mà cả nhà lên tiếng khen bà cụ do công trình tưới bón, chăm sóc của bà. Tuấn nói :

– Tụi  bay còn cứ chê “mom” trồng trọt lẩm cẩm làm gì nữa đi. Sao bảo mấy thứ đó chạy ào ra chợ là có, đâu có thấy đứa nào vác xác ra chợ đâu !

Thúy nhìn anh bĩu môi :

– Tụi này đã không đi thì sao anh không đi đi, ở đó mà nói.

Thu họa theo:

– Nói cho hay, anh mà không chuẩn bị cơm nước chợ búa trước, tới chừng lấy chị Hương xong rồi ở đó mà chờ cái cảnh cơm bưng nước rót.

Tuấn cãi lại :

– Tao chờ chứ sao không ? Tao lấy vợ Việt Nam chớ đâu có phải lấy vợ Mỹ !

Thu trợn mắt nhìn anh :

– À, thế ra cứ lấy vợ việt Nam là bắt vợ làm “mọi” cho mình đấy có phải không ? Xí ! Còn lâu !

– Thì mày hỏi mẹ coi. Tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh là những thứ hàng đầu của con gái, phải không mẹ ?

Bà cụ nhìn mấy đứa con không trả lời. Bà chẳng còn cái thói quen lên tiếng phát biểu ý kiến  riêng của mình từ ngày qua đây. Mọi thứ chung quanh đối với bà  đều trở nên choáng ngợp, vuột tầm tay, bứt rời mọi thứ kinh nghiệm sống mà bà đã thu lượm được trong suốt gần cả một đời người. Nghĩa là đứng trước điều gì ở đây bà cũng đều bỡ ngỡ, rụt rè, nói ra cái gì là sai lầm cái đó, rút cục lại bà chỉ như một thứ trẻ nít trong nhà đi đâu cũng phải có người dẫn đi, làm gì cũng phải hỏi ý kiến con cái mà có những điều cả lũ đã xúm lại giải thích nhưng bà vẫn ù ù cạc cạc, chẳng hiểu mô tê gì hết ráo.

Từ ngày thằng Tuấn  kiếm được việc làm, nó đổi cái ti-vi cũ để thay bằng một cái mới tinh. Tuấn dặn mẹ :

– Cái này có remote control. Mẹ muốn coi thì đừng có rờ mó gì vào những cái nút ở ti-vi cả. Họ đã set up đầy đủ hết rồi. Chỉ cần ngồi ở salon mà nhấn vào những cái nút ở trên cái này thôi.

Tuấn ấn vào tay bà  cụ cái remote control. Bà miễn cưỡng đón lấy nó bằng tất cả sự rụt rè, tưởng như bàn tay của mình mà đụng vào đâu lầm chỗ thì nó sẽ giở chứng hư ngay lập tức. Tuấn tiếp tục giảng giải :

– Cái này là nút on, cái này là nút off, cái này là volume tiếng to nhỏ, cái channel này là để đổi đài, cái mute này lúc đang xem mà có điện thoại, mình muốn cho âm thanh nó tạm im đi thì chỉ nhấn khẽ vào…

Đầu óc của bà Thìn cứ bấn loạn cả lên và cuối cùng bà dúi trả vào tay Tuấn:

– Thôi ! Rắc rối quá, tao chịu !

Rồi bà tần ngần :

– Mấy lại tao đâu có thiết gì ti-vi. Nó nói nhăng nói cuội, tao có hiểu ất giáp gì đâu !

Tuấn nằn nì :

– Thì mẹ nghe nhạc.

– Ôi ! Cái thứ nhạc cứ như đấm vào tai, càng nghe càng nhức đầu.

Rút cục, thú giải trí của bà chỉ còn là mấy cuộn băng cải lương mà bà đã nghe đi nghe lại nhiều lần trên cái máy cassette tuy cũ sì nhưng được cái nó đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ có điều không phải lúc nào bà muốn nghe thì nghe. Con Thúy còn đỡ, chớ con Thu mà thấy mẹ vặn cải lương khi có mặt nó thì bao giờ nó cũng nhằn :

– Thôi tắt đi bớt đi một chút cho đỡ nhức đầu. Nhạc lải nhải thế  mà mẹ nghe mãi được.

Có lúc Tuấn cảm thấy bất nhẫn, phải gắt lên :

– Thì mẹ có mỗi cái thú nghe cải lương mày phải để cho mẹ nghe chứ.

Thu cãi lại :

– Thiếu gì lúc  mẹ có thể nghe được. Chờ cả nhà đi học đã, rồi mẹ tha hồ nghe.

Dĩ nhiên rằng bà Thìn chẳng bao giờ muốn chính mình trở thành cái duyên cớ để anh em nó hục hặc với nhau, nên bà thò tay nhấn cái nút trên máy để cho cuộn băng ngưng lại. Bà nhìn các con bằng đôi mắt buồn thảm rồi mở cửa ra đứng ở phía sau. Qua một cái sân cỏ nhỏ là một dẫy bờ tường chắn ngang tầm mắt. Dẫy tường quét bằng mầu vôi hồng sậm, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Sáu, bà thấy nhức mắt. Bà lại nghĩ đến cái giang sơn nhỏ bé của mình. Khu vườn nhỏ, một thước hai bề ngang, bẩy thước bề dài có hẹ, có húng, có ngò, có tía tô. Mấy tuần lễ trước  gặp cụ Cả Phong ở ngoài chợ. Cụ có hứa sẽ bứng cho bà mấy rễ rau rớp cá khi nào bà tới chơi. Bà hoan hỉ báo tin cho lũ con ở nhà với lời đề nghị rụt rè :

– Bữa nào rảnh có đứa nào lái xe chở mẹ tới lấy rau rớp cá về trồng.

Thúy nhún vai, lè lưỡi :

– Eo ơi ! Rau rớp cá thì con chào thua. Chỉ nghĩ tới là đã muốn sỉu rồi !

Thu nói :

Me too ! Rau gì mà mùi tanh thấy ớn !

Lại đến lượt Tuấn phải can thiệp vào :

– Tuỳ goût mỗi người chứ. Rau rớp cá có biết bao nhiêu người thích ăn. Tụi bay không ăn nhưng mẹ ăn. Cứ lái xe đưa mẹ tới xin về để mẹ trồng.

Thúy nói :

– Tuần này em có hẹn ! Thứ Bẩy phải tới phụ đằng con Liên làm sinh nhật của nó. Chủ nhật thì bạn của anh có party, mời cả em đấy thôi.

Tuấn quay sang Thu :

– Vậy con Thu đưa mẹ đi. Weekend này mày làm gì ?

Thu hỏi ngay lại :

– Thế còn anh làm gì ?

Tuấn trừng mắt nhìn em thì mặt con nhỏ cũng vênh đáp lại. Thế là bà giáo Thìn lại vội vã xen vào hòa giải :

– Chẳng tuần này thì tuần sau. Đâu có vội.

Nhưng cái tuần sau đó đã trôi qua cả tháng nay rồi mà bà thì vẫn chưa có dịp ghé lại được đằng cụ Cả Phong. Câu chuyện rau rớp cá chỉ thoáng qua trong giây lát rồi mọi người đã quên đi, trừ bà Giáo.

Hồi còn ở quê nhà, bà là người nghiện ăn trầu, xỉa thuốc vào hạng nặng. Khi còn sinh thời, ông Giáo ưu ái trồng riêng ở vườn sau trong căn nhà khang trang ở Sài Gòn cho bà một giàn trầu không leo kín cả  một mái liếp. Có lẽ trong cái vùng trí nhớ lãng đãng của bà, hình ảnh sâu đậm nhất đối với bà  không chỉ là kỷ niệm của một thời còn nghiện trầu và được ăn trầu mà còn là sự gợi nhớ lại tất cả tấm lòng yêu thương mà ông Giáo đã dành cho bà. Khi ông Giáo mất đi, giàn trầu vẫn xanh tốt, nhiều hôm ra hái trầu bà đã đứng nép ở sau giàn cây mà khóc sụt sùi một mình. Đó là một trong những giây phút bà nhớ ông nhất. Đến lúc vô nhà, mắt của bà còn đỏ hoe.

Hồi đó Thu mới lên năm, cái Thúy lên tám và thằng Tuấn thì mười hai. Tất cả còn bé dại và bà đã dành tất cả quãng đời còn lại của mình để yêu thương và chăm sóc chúng nó. Khi lớn lên được một tí, cái Thu và cái Thúy tranh nhau học têm trầu cho mẹ. Nhìn những bàn tay xinh xinh bụ bẫm của hai đứa trịnh trọng xếp từng nếp trên lá trầu để hoàn tất những miếng trầu méo mó, xô lệch bà cảm thấy lòng hết sức thoải mái và yên vui.

Nhưng từ ngày qua tới đây, cả hai đứa đều đồng thanh đề nghị mẹ phải bỏ cái thói quen nhai trầu. Thu giải thích :

– Ăn trầu ở bên này không được đâu. Mồm miệng đỏ lòm, người ta cho mình là savage !

Thúy phụ thêm :

– Đấy, mẹ coi đàn bà cả nước Mỹ này đâu có ai nhai trầu. Mẹ mà ra phố nhai trầu, cả bàn dân thiên hạ sẽ xúm lại ngó mẹ cho mà coi !

Tuấn tuy cảm thông với mẹ hơn nhưng cũng phải đồng tình với các em :

– Thôi để chúng nó mua chewing-gum cho mẹ nhai đỡ buồn mồm. Cái Thu chiều nay đi học về tạt qua đâu đó mua cho mẹ loại chewing-gum có quế đó, mẹ dễ ăn.

Lần đầu tiên Thu không phản đối gì ông anh về đề nghị đó cả. Có lẽ vì nhiệm vụ tiêu diệt cái thói quen nhai trầu của bà giáo là một nhiệm vụ trọng đại mà tất cả mọi người trong nhà đều phải xúm lại, góp công sức vào để quật ngã nó. Cho nên Thu sốt sắng khuân về đủ loại kẹo cao su, thứ dẹp và dài có, thứ viên vuông vuông mầu trắng có và dĩ nhiên có cả loại Dentyl mùi quế mà Tuấn đã đề nghị nữa. Bà giáo thấy con mua tốn tiền đã dẫy nẩy lên :

– Làm gì mà mày khuân về lắm như thế. Bỏ thì bỏ chớ việc gì phải nhai kẹo cao su.

Rồi bà nói tiếp, giọng buồn buồn :

– Nhập gia cũng phải tùy tục chứ.

Quả nhiên bà Giáo bỏ đứt cái thói quen ăn trầu. Bà cũng chẳng cần dùng đến một chiếc kẹo nào do Thu mua về. Thói quen ấy của bà có thể đã bị tiêu diệt nhưng giàn trầu không xanh um trong trí nhớ của bà thì chẳng bao giờ bà có thể quên. Những hôm cả nhà đi vắng hết, bà ngồi thu lu trên bộ salon ở phòng khách nhìn ra khung cửa kính sáng lòa. Thân hình còm cõi của bà co gọn trên chiếc sofa rộng thênh thang trông lạc lõng và cô đơn như một con mèo già. Mái tóc của bà mới đó có vài năm đã bạc trắng ra. Bà giương cặp mắt hấp háy nhìn ra sân sau, lòng thì  nghĩ như mình đang ngồi trong căn phòng khách nhỏ bé ở Sài Gòn nhìn ra khoảnh vườn có giàn trầu không leo lên những tấm nan tre do chính bàn tay của ông Giáo đã dựng lên. Bà nghe như ở phía bên kia bờ tường có tiếng động cơ xích lô máy chạy qua con đường bên hông chợ. Bà cũng như nghe thấy cả tiếng ồn ào ồn ào từ cái máy nước công cộng, tiếng hàng quà rong rao lảnh lót, có cả tiếng con tầu từ Biên Hòa  chạy qua cổng xe lửa vang lên xậm xịch. Quê hương thật đã xa tít mù và chỉ còn tồn tại trong cái khoảng trí nhớ lãng đãng của bà.

Những ngày mới qua Mỹ, lúc bốn mẹ con ngồi ăn cơm với nhau, mỗi người thi nhau nhắc chuyện dĩ vãng. Kỷ niệm cũ với ông Giáo. Kỷ niệm cũ với Sài Gòn, trường học, đường phố, bà con, bạn bè. Lâu dần, rút cục chỉ còn có mỗi bà giáo là thích nghe và thích kể về chuyện quê nhà. Mà những dịp này thì cũng hiếm hoi dần đi. Bữa cơm trong nhà không còn là một cái gì gọi là sinh hoạt thường nhật. Buổi trưa, lũ trẻ ăn ở trong trường. Đến chiều, mỗi đứa về một giờ giấc. Thu về sớm nhất, háu ăn nhất, lao vào bếp nấu một tô súp rau ( loại súp bán sẵn trong những cái túi bằng nhựa) và một vài lát sandwiches. Bà giáo kêu ca :

– Ăn cái gì nhẹ thôi. Để đến tối cả nhà cùng ngồi ăn đông đủ.

Cùng ngồi ăn đông đủ ! Đó là niềm hạnh phúc và ước mơ nhỏ bé cuối cùng của bà trong căn nhà này. Nhưng trong thực tế, thật khó mà kiếm được dịp cả nhà ngồi chung với nhau, trừ một hai bữa trong những ngày cuối tuần. Khi Tuấn về đến nhà thì Thu và Thúy đã rút vô phòng riêng, đóng kín cửa lại. Bà giáo thì ngồi thiu thiu trên ghế chờ con về. Mâm cơm nguội lạnh đã bầy sẵn. Có dưa muối. Có thịt kho. Có canh cải hay nước rau rền. Tuấn ngồi vào bàn, nể mẹ sới được lưng bát cơm. Sau đó, chàng ăn tiếp một tô mì gói. Tuấn có thể ăn mì gói kinh niên mà không bao giờ ngán. Những hôm ăn một mình, Tuấn bưng nguyên cả tô mì ra ngồi ở salon, vừa ăn vừa coi ti-vi. Thành ra nồi cơm trắng phau, tuy sốt rẻo  như thế mà bao giờ cũng ế. Cơm ế, không đời nào bà giáo đem đổ đi. Bà đem cất tủ lạnh để sáng hôm sau hâm lại làm bữa trưa cho mình. Nhiều hôm bà đổ thêm nước vào để nấu thành cháo. Riết rồi bà cũng mặc nhiên trở thành một người kinh niên ăn cháo, âu nó cũng thích hợp với hai hàn răng cũng đã bắt đầu lung lay của bà.Trong cuộc đời của bà Giáo, bà sợ hãi  nhất là hai tiếng “đổ đi” ngay cả khi còn ở Sài Gòn vào thời kỳ bà đang giầu có, sung túc nhất. Các con của bà luôn luôn được nghe câu nói : “Phí của giời, mười đời không có”, bà làm như  lúc nào cũng có con mắt của Trời, Phật ngó vào khi bà lỡ đánh rơi  vài hạt cơm hay rúm gạo. Cho nên cái gì dư thừa, bao giờ bà cũng cất vô tủ lạnh, từ một chén ăn giở cho đến đĩa đầu tôm rang mặn hay những mẩu vụn vặt của một nồi cá kho. Có lần Thúy phải kêu lên:

– Mẹ suốt đời ăn đồ thiu. Coi chừng mắc bệnh, kính chả bõ phiền. Mà ở bên này đồ ăn thiếu gì !

Bà Giáo cãi lại :

– Mẹ mày ! Thiu đâu mà thiu !

Thu cũng bực bội chen vào :

– Không thiu thì cũng đun đi đun lại cả tuần. Mẹ không đổ đi thì con đổ cho mà coi.

Và Thu làm thật. Chờ lúc bà Giáo lúi húi ở vườn sau, Thu dọn sạch banh cái tủ lạnh. Ít lắm thì Thu cũng lôi  ra được nửa xoong cháo, một tô cơm nguội, một đĩa cải sào, một chén mắm ruốc kho và một lưng niêu nhỏ chứa cái gì “đen sì sì’ thịt không ra thịt, mỡ không ra mỡ lại lẫn lộn  cả mấy cọng râu tôm.

Nhưng rồi chỉ tuần lễ sau, mọi sự đâu lại vào đấy. Chán rồi, tất cả đều để mặc cho bà tự  do ăn uống theo ý mình, giống như Thu thì thích súp rau, Thúy thì thích bún thịt nướng, còn Tuấn thì  thích ôm  tô mì mì gói ra ngồi ở salon trước ti-vi. Ăn xong, đứa nào về phòng của đứa đó.

Trong căn nhà của xã hội Mỹ có những cánh cửa phòng khi đóng lại thì kín như bưng đã là cái hình ảnh khủng khiếp nhất đối với tâm trạng của bà Giáo. Khi bầy con của bà rút vô phòng rồi thì bà không biết chúng nó đang làm gì ở trong đó, hay nhỡ có chuyện gì không may xẩy ra đối với chúng nó ? Đứng ở ngoài hành lang thấp thoáng ánh đèn vàng vọt héo úa, bà với chúng nó tuy thật gần nhau về khoảng cách nhưng tâm tình thì thật đã xa cách nghìn trùng, đến nỗi bà nhiều khi có cảm giác như những cánh cửa phòng vô tri kia đã cắt lìa bà ra khỏi cuộc đời của chúng nó. Nào chúng nó có biết rằng rất nhiều hôm mủi lòng, bà đã tựa đầu vào vách gỗ để sùi sụt khóc mùi.

Hồi ngày xưa, bà có thể nắm vững tình hình sinh hoạt hằng ngày của từng đứa. Về quần áo, mỗi đứa có bộ nào, chiếc quần nào của Tuấn có vết mạng, cái áo nào của Thúy hay Thu sứt chỉ hay được đơm lại khuy, vết sước trên tay Thu khởi sự từ bao giờ và nó đã được chữa trị ra sao, hôm nào thì liền da, bong vẩy, thậm chí đến từng cái răng lược bị gẫy, cái quai dép bong keo hay chiếc khăn tay bị ố mầu mực tím, nhất nhất bà Giáo đều nắm vững như tất cả những thứ đó nằm trên đường chỉ tay của bà.

Bây giờ thì bà rất hiếm hoi có dịp được bước chân vô phòng của cả mấy đứa. Muốn kêu đứa nào, bà phải đứng ngoài gõ cửa. Nhiều hôm cái Thu hay Thúy chỉ hé  một chút xíu cánh cửa gỗ rồi thò đầu ra, trao đổi vài câu ngắn ngủi với bà rồi lại khép sập lại. Bà thấy rõ các con đã vượt  xa tầm tay của bà. Mỗi đứa đều có thế giới riêng của mình kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Một lần Tuấn bị đau nằm liệt trên giường ba ngày liền.

Ôi thôi, bà Giáo thấy mình linh hoạt hẳn lên. Bà lăng xăng nấu cháo nóng, thái củ hành, vắt nước cam, giặt khăn nước lạnh, pha sữa hộp, quơ đồ cũ của Tuấn mang giặt và đem phơi. Bà tự do ra vô căn phòng của Tuấn mà không cần gõ cửa. Bà lại có thể ngồi hàng giờ ở cuối chân giường của Tuấn, lâu lâu lại sờ đầu, sờ chân, kéo mép chăn, căng mép vạt trải giường và nghe ngóng từng hơi thở khó khăn nặng nề của Tuấn.

Nhưng sự bận rộn đầy yêu thương và hạnh phúc đó của bà cũng chỉ kéo dài được ba ngày. Sau hôm Tuấn khỏi bệnh và đã đi làm được ngày đầu, buổi tối bà Giáo tiến lại cánh cửa của phòng Tuấn với dáng điệu rụt rè. Rồi bà ngập ngừng gõ nhẹ lên phiến gỗ. Tuấn hỏi vọng ra:

– Ai đó ?

– Mẹ đây !

– Có việc gì không hả mẹ?

– Không ! Mẹ hỏi thăm xem hôm nay con khá hơn chưa?

Giọng Tuấn đáp to : “Khỏe như voi rồi, mẹ khỏi lo!”

Bà Giáo đứng tần ngần một lát rồi quay ra. Trong lòng bà dâng lên một niềm vui nghe con khỏi bệnh nhưng đồng thời cũng xen vào đó là cảm giác tiếc nuối, nôn nao như bà vừa bị đánh mất một cái gì thân thương khó tả.
Bà lại ra ngồi ở trên ghế salon, thu mình lại như một con mèo già ốm yếu, già nua. Phía bên kia cánh cửa kính là khoảng trời sâu hun hút  điểm mấy vì sao thưa. Bà nghe văng vẳng  hình như có âm thanh của những bản nhạc vọng lại từ rất xa phát ra từ những cánh cửa phòng đóng kín mít của các con bà.

Bà chợt thấy hối hận ngay với ý nghĩ điên rồ vừa chợt nẩy ra trong đầu :

“ Con Thu, con Thúy sao chẳng bao giờ thấy chúng nó ốm đau cả !”


NHẬT TIẾN                 
(California, Mùa Vu Lan – 1983) 

 

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

PHỎNG VẤN NHÀ VĂN NHẬT TIẾN VỀ ÔNG NGUYỄN HÙNG TRƯƠNG - Đinh Quang Anh Thái


ĐQAT: Ông có thể cho biết trong hoàn cảnh nào khiến ông Khai Trí cho xuất bản báo Thiếu Nhi mà ông làm chủ bút ? 

 

NT: Tôi nhận thấy gần như trong suốt cuộc đời, một trong những nỗi ưu tư hàng đầu của ông Khai Trí là sự quan tâm đến vấn đề giáo dục con trẻ. Chẳng thế mà ông vẫn thường nhắc đi nhắc lại câu nói sau đây mỗi khi có dịp và đặc biệt ông đã dùng làm câu mở đầu cho loại sách Tuổi Thơ do chính ông chủ trương : “ Tương lai nước Việt Nam sau này hay hay dở đều do sự giáo dục hiện tại của lứa tuổi thiếu nhi, mầm non của đất nước”. 

 

Vào thời điểm khởi đầu của thập niên 70, (khi ông quyết định cho ấn hành tuần báo Thiếu Nhi), tình hình giáo dục, đặc biệt là chất lượng giáo dục dành cho tuổi thơ có vẻ như đang trên đà suy sụp. Lý do một phần là vì ảnh hưởng của chiến tranh với nếp sống ngoài xã hội ngày càng sa đọa do sự có mặt của trên nửa triệu lính Mỹ cư ngụ tràn ngập trên các tỉnh và đô thị; một phần khác, lãnh vực sách báo dành cho tuổi thơ hầu như đã bị tràn ngập bởi rất nhiều loại thiếu lành mạnh đến nỗi ông Khai Trí đã từng phải kêu lên xót xa: “ Chúng ta đang chứng kiến cái thảm cảnh đám trẻ thơ ngây ngày đêm cứ say mê tìm đọc các loại sách nhảm nhí chú Thoòng, hay sách trinh thám và kiếm hiệp rẻ tiền, kể cả những loại sách khiêu dâm, ma quỷ quái đản đầy tính cách đầu độc trí óc non nớt của con em chúng ta”. 

 

Như thế, việc ông quyết định cho xuất bản một tạp chí lành mạnh dành cho lứa tuổi thiếu nhi là điều dễ hiểu, nó vừa phù hợp với ngành nghề sách báo của ông vừa thỏa mãn phần nào tâm tư và nguyện vọng mà ông từng ấp ủ. 

 

ĐQAT: Báo Thiếu Nhi hiện diện trong sinh hoạt văn hóa của miền Nam đúng vào giai đoạn của cuộc chiến lên đến mức cao độ, vậy tờ báo có giúp độc giả trẻ em thoát khỏi nỗi ám ảnh của chiến tranh hay không ? Và các em có tìm được sự an bình đối với tuổi thơ của mình không ? 

 

NT: Tờ Thiếu Nhi tuy được phát hành rộng rãi trên toàn quốc nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nên nó cũng chỉ tới được hầu hết giới trẻ em sinh sống tại các tỉnh hay đô thị, còn ở các vùng nông thôn, xa thành phố thì không. Do đó, ảnh hưởng của tờ Thiếu Nhi đối với độc giả cũng kể như bị giới hạn rất nhiều, mặc dù vào thời điểm mà tờ báo có điều kiện hoạt động mạnh mẽ nhất thì cũng có đông độc giả và tòa soạn cũng thành lập được Chi Nhánh Gia Đình Thiếu Nhi tại hầu hết các tỉnh và đô thị thuộc V.N.C.H. Chính nhờ cung cách tổ chức Gia Đình Thiếu Nhi như vậy, và qua các báo cáo sinh hoạt hoạt hàng tháng của mỗi chi nhánh , tòa soạn được biết các em đã tự quy tụ thành nhiều nhóm với sự trợ giúp của các thầy cô giáo địa phương để cùng nhau tham dự những sinh hoạt lành mạnh như tổ chức thư viện Thiếu Nhi, sinh hoạt tập thể ngoài trời, tổ chức các buổi cùng nhau đọc sách báo lành mạnh., góp phần tham dự vào những cuộc thi sáng tác văn chương hay đố vui do Gia Đình Trung Ương tổ chức v.v... Theo tôi nghĩ, có lẽ nhờ thế mà cũng có một số em đã có thể tìm thấy sự an bình trong tuổi thơ của mình và những nỗi ám ảnh về chiến tranh vốn đè nặng lên tâm hồn của các em do đó cũng giảm thiểu được rất nhiều. 

 

ĐQAT: Trong suốt thời gian làm bạn, làm việc với ông Khai Trí, ông nhận xét ra sao về những đóng góp của ông Khai Trí trên phương diện văn hóa và về đời thường của ông ấy ? 

 

NT: Một cách vắn tắt, có thể nói rằng miền Nam kể từ năm 1954 đến năm 1975 đã hình thành một nền nếp sinh hoạt văn hóa hết sức đa dạng và phong phú do công lao và sự đóng góp bền bỉ của nhiều khuôn mặt văn hóa nổi tiếng hay của nhiều ngòi bút tài năng. Tuy nhiên, để tạo điều kiện hỗ trợ cho sinh hoạt văn hóa nghệ thuật ấy được phát triển, ta không thể quên những nỗ lực không kém phần phong phú của các nhà xuất bản, các cơ sở phát hành văn hóa phẩm. Trên phương diện này, nhà sách Khai Trí phải được kể là một trong những cơ sở văn hóa hàng đầu của miền Nam. Nhiều thế hệ tuổi trẻ đã được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường sinh hoạt văn hóa với rất nhiều loại sách báo giá trị do chính nhà sách Khai Trí cung ứng. Ông Khai Trí vừa là một người say mê với nghề nghiệp với một cung cách hầu như không bao giờ biết mệt mỏi, ông lại cũng vừa là con người hết lòng với văn hóa, với tương lai của thế hệ trẻ. Nhờ nguồn tài chính thu được dồi dào qua sách báo, ông cũng đã trao tặng rất nhiều phần thưởng cho các học sinh xuất sắc và cung ứng nhiều học bổng giá trị cho những học sinh nghèo. Riêng trong giới viết lách, nhờ khả năng đánh giá nhậy bén và sự hỗ trợ tận tình của ông mà rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo đã có cơ hội ấn hành tác phẩm của mình, cho dù có khi chỉ là tác phẩm đầu tay hay tác phẩm thuộc loại kén độc giả, giầu giá trị nội dung nhưng yếu kém về mặt thương mại.  

 

ĐQAT: Theo nhận xét của ông, với những đóng góp và hy hiến của ông Khai Trí như vậy thì thông điệp mà ông Khai Trí để lại là gì ? 

 

NT: Nhìn lại chặng đường gian khổ mà ông Khai Trí đã từng trải qua kể từ sau năm 1975, như ở trong nước thì bị tịch thu gia sản, và chịu đựng bệnh tật triền miên , dòng dã trên 5 năm trong trại tù, khi ra hải ngoại thì lại phải đối diện với sự thực phũ phàng, nhiều công trình sách vở của ông đã bị gian thương cướp trắng bằng cách cho in lại vô tội vạ tủ sách Khai Trí của ông, vậy mà tôi nhận thấy ông vẫn cắn răng chịu đựng, chỉ họa hoằn mới buông lời than thở. Hình như ông không muốn đem chuyện buồn khổ riêng tư để làm mất vui người chung quanh. Hình như ông chấp nhận số phận không may, coi như một thứ đã được an bài và qua đó ông học hỏi thêm được tính kiên nhẫn, chịu đựng để xây đắp cho tình yêu tha nhân, yêu đời. Có lẽ vì thế mà vào mùa xuân năm 1981, ông đã viết những dòng như : “ Nhiều khi cảnh khổ đối với tôi là điều hay, có ích cho tôi. Biết đâu, nó lại giúp cho tôi trở nên tốt hơn và yêu đời hơn. Tôi cố thương yêu nhiều hơn nữa những người chung quanh tôi, mọi người trên trái đất này, yêu thương cả loài vật và cây cỏ” 

 

Dưới mắt tôi, đây là một thông điệp của một con người đầy lòng nhân ái, đáng để cho thế hệ đi sau suy ngẫm.

 

 

Nguồn :  https://nhavannhattien.wordpress.com