Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

NHỚ ƠN CÁC VUA HÙNG - Đỗ Tấn Thích


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba"
 
Trời Nam một buổi chiều tà
Vầng thơ viết vội để mà cảm ơn
 
Thuở xưa nước Việt, Hùng Vương
Quốc Tổ dựng nước hùng cường ngàn năm
 
Nhớ kỷ Hồng Bàng xa xăm
Văn Lang, Âu Lạc tiếng tăm lẫy lừng
 
Đánh đuổi phương Bắc đã từng
Truyền ngôi dạy bảo nhiều vùng nước ta
 
Dạy dân về cách làm nhà
Chăn nuôi thú vật, vịt, gà, chim muông
 
Dạy dân dựa sức suối nguồn
Làm nương, lúa nước, bánh vuông, bánh tròn
 
Truyện xưa, tích cũ vẫn còn
Lang Liêu làm bánh vuông, tròn dâng vua
 
An Tiêm – ông tổ nghề dưa
Lưu danh hậu thế xứng vừa cha ông
 
Bao năm dạy dân vun trồng
Răn con, khuyên cháu Lạc Hồng nước ta
 
Quốc Tổ ngàn năm vang xa
Tâm hương gợi nhớ để mà biết ơn.
 
                                     ĐỖ TẤN THÍCH 
 

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

NHƯ CHIM RỪNG SÁO NÚI - Nguyễn Công Minh


Mùa hè này chú Văn lại không về rồi, chú Văn không ghé lại. Cô bé bây giờ không còn "mít ướt" như xưa nữa đâu, Hà Miên bây giờ không còn đòi quà vặt. Không còn bắt chú phải ngồi chải chí bằng lược dày nữa đâu. Hà Miên lớn rồi cơ mà, Hà Miên đang học thi chú có biết? Vậy mà giận chú Văn ghê lúc nào chú cũng làm như Hà Miên mới vừa tướt lật, tướt mọc răng không bằng. Nhớ lần ăn cơm với chú, Hà Miên làm đổ có hai hột cơm mà cứ trêu hoài. "Ăn uống đổ tháo như con nít đầy tháng bị ọc sữa". Lần về này, chú mặc sức mà trâng tráo nhìn Hà Miên lớn. Hà Miên không thèm thắt "nơ" đỏ hai bên bím tóc, không thèm ăn cà rem nhễu nhão, mà Hà Miên cũng không thèm ngậm mấy hột ô mai của chú Văn cho đâu. Làm như vậy con nít lắm phải không chú?
 
Chú Văn về lần này Hà Miên sẽ bắt chú tập Hà Miên uống rượu, tập nhấm nháp café "phin" cơ, thứ mà ba và chú Văn thường uống đó. Hà Miên thấy chú Văn đạo mạo người lớn, chú Văn khinh khỉnh ngồi bên ly café nghi ngút khói. Chú Văn già cỗi, chú Văn chai lỳ sau những hơi thuốc. Phải rồi, Hà Miên phải học hút thuốc nữa. Chắc đắng lắm phải không chú? Và hôi nữa? Để coi nào. Ừ, phải rồi chú Văn là vua ngáp dài mà không che miệng đó. Sời ơi! Cái răng khểnh của chú sao mà dễ "xương" ghê. Cứ trông miệng chú làm muốn "ghét" ghê. Chả bà Đoan dạy vạn vật, bà Đoan khó cứ như ông Chằn, có lần bà ngáp không kịp che tay trông cứ như mồm sư tử trong sở thú. Chú Văn còn nhớ cái mồm sư tử không? Hôm kỳ chú Văn đưa Hà Miên đi vào xem sở thú đó.
 
Mà nè chú Văn có biết thằng Hy em cô Tỷ không? Thằng lỏi đó hôm qua đi hỏi cưới Hà Miên. Trời ơi! Thiệt là rùng rợn phải không chú Văn? Hà Miên đang leo ổi ngoài vườn, nghe chị ở ra cười, bảo: - Người ta hỏi cưới cô trong nhà, ngoài này còn mải mê lo hái ổi. Không sợ đằng trai họ cười cho thúi đầu à? Nghe chị ở nói Hà Miên suýt chút nữa buông tay mà té rớt. Đầu óc Hà Miên, quay cuồng, tối sầm lại. Thiệt là loạn phải không chú Văn? Bộ thằng lỏi đó hết vợ để cưới sao mà cứ nhằm Hà Miên? Hà Miên biết ba má vì xã giao mà tiếp họ chứ đời nào ba má nỡ nhận lễ hỏi. Mà ví dầu ba má có gả ép cho thằng nhóc Hy đó, thì Hà Miên cũng không thèm ưng đâu. Hà Miên mà có chồng thì chú Văn buồn lắm, Hà Miên biết hết mà! Có lần Hà Miên khen một ông bạn của chú đẹp trai, vậy mà chú Văn buồn giận đến lử lừ cả buổi cơm tối. Hà Miên mà có chồng rồi, chú Văn sẽ ngàn đời không trở lại ghé thăm. Chú sẽ không bước vào lại cửa cổng có nhiều hoa ti gôn đỏ. Chú Văn sẽ ngàn đời làm chim rừng sáo núi soải cánh về buôn ngàn miệt rú. Chim về núi không một lần trở lại đồng bằng. Sáo về buôn biết bao giờ về cành cũ?
 
Hà Miên lấy chồng rồi ai sẽ biên thư? Mươi mười lá thư dày cộm để đổi lấy của chú một tờ thư ngắn mỏng, viết tháu, viết dối. Thư chú Văn viết thật nhiều lỗi chính tả, thư chú Văn dán thiếu tem. Chú Văn làm Hà Miên cứ phải nộp tiền phạt hoài. Hà Miên biết mà! Lương chú lãnh ra ít lắm, chú lại phóng đãng ăn tiêu nữa. Cô nào mà lấy chú Văn sau này chắc là khổ lắm.
 
Mấy hôm nay Sài gòn lạnh căm căm về sáng. Không biết chú Văn giờ này ở đâu? Làm gì? Nơi đó mây rừng gió rú lạnh lắm? Chú Văn đã bận áo ấm vào chưa? Chiếc áo len màu tro Hà Miên đan tháng rồi đó. Nơi đó chú Văn bây giờ đang hút thuốc? Chú Văn còn tiền mua thuốc không? Bữa nay ngày mười rồi, trong bóp chú Văn còn bao nhiêu tiền để lây lất đến hai mươi tây đầu tháng? Nơi đó, chú Văn đang nằm ruỗi dài trùm chăn mà gợi nhớ? Chú Văn nhớ gì về thành phố đèn hoa áo dài, robe ngắn? Những chiếc áo dài nhiều mầu năm tà, ba vạt. Thành phố đầy dẫy những quán café về tối, những quán ồn ào một loại nhạc kích động, sáng trắng trong ánh màu black-light. Thành phố náo nức đua đòi, hăm hở níu kéo người chưa đến, thành phố nuối tiếc vô vàn cho kẻ bỏ đi xa.
 
Hà Miên nhớ ra rồi - có lần chú tự ví mình như một thứ mọi chưa được đặt tên trên miệt buôn. Sời ơi! Chú khôn ghê cơ, chú mà là mọi thì Hà Miên phải là một thứ sắc dân gì đó man di hơn, mọi rợ hơn, tỉ như mọi rừng Phi Châu. Như chú Văn có thật sự là mọi rừng đi nữa, thì Hà Miên nguyện sẽ đời đời làm sơn nữ. Cô sơn nữ sẽ ca múa cho mọi cô đơn nghe lúc buồn. Sơn nữ sẽ hái cây rừng cho mọi cô đơn ăn, dâng nước nguồn cho mọi cô đơn uống. Sơn nữ sẽ ngủ dưới lá rừng hoa dại. Sơn nữ sẽ thu gọn mình trong vòng tay mọi cô đơn.
 
Những giọt mưa khuya gõ nhịp trên mái ngói. Những cơn gió lùa rì rào qua kẽ lá chòm cây. Tiếng rỉ rả côn trùng não nuột vọng về. Thênh thang như giáo đường về tối, khoan nhặt du dương như một biến khúc cổ tây phương. Mưa thêm nặng hột, phủ chụp thành phố đêm. Cơn mưa nhẹ không sấm chớp. Hà Miên nghe nặng trịch đôi mắt, Hà Miên kéo cao chăn. 
 
Có tiếng chuông reo, Hà Miên tất tả ra mở cổng. Qua phút ngỡ ngàng, Hà Miên reo vui:
 
- A, chú Văn về...
 
Văn nhận ra Hà Miên trong bộ complet màu tối sẫm. Đứa con gái sau phút ngỡ ngàng, hấp tấp rộn ràng chạy ra mở khóa cổng, như sợ rằng sự chờ đợi sẽ làm chú Văn đổi ý. Rồi chú Văn sẽ lại ra đi như con chim lạ đậu lại thành phố, một cái ngẩng đầu, hai cái tỉa lông, chốc chốc lại cất cánh bay đi trong sương khuya gió sớm.
 
- Thịnh có về phép không?
 
- Thật lâu rồi, sáu tháng hơn. Chú Thịnh cũng lười biên thư như chú.
 
- Chú vừa được thư của nó.
 
- Chú về phép à?
 
- Ừ, chiều cuối tuần sao cô bé không đi phố?
 
- Bận học thi, bài vở còn nhiều quá.
 
- Dạo này còn mút cà rem nữa không?
 
- Chú thì cứ vậy luôn. Truyện xưa xửa như Kim tự tháp Ai Cập.
 
- Ghẹo cho cô bé nhớ đời.
 
- Ai thì Hà Miên nhớ, chứ chú thì không, chắc chắn trăm phần ngàn là không.
 
Chú Văn lừ lừ mắt nhìn Hà Miên nói. Chú Văn thừa khả năng đo lường chân giả trong từng lời nói Hà Miên. Chú Văn chằm chằm nhìn làm Hà Miên như bị nổi gai, như bị rởn tóc gáy. Cũng cái nhìn này, lần về phép trước, chú Văn nói bên tai Hà Miên "Mắt Hà Miên sâu như vực, trong không gợn như nước đầm Thủy Tú, vời vợi như mặt phá Tam Giang. Đôi mắt hiền thục như gió chiều về đầy phía sau cồn cát vàng chạy dài mút mắt. Mắt Hà Miên xanh như rặng dương vút, che chưa hết nóc giáo đường rong rêu cao. Đôi mắt chan chứa u hoài như ngư dân miền biển, nhìn về phía trời cao mà mơ ước chuyện mưa thuận gió hòa".
 
- Chú nhìn gì dữ vậy?
 
- Xem cô bé lớn.
 
- ...
 
- Và đẹp.
 
- Chú không có quà cho Hà Miên sao?
 
- Có, lần họp hành quân tuần trước, ở Tiểu Khu, chú có ghé qua phố chợ mua cho cô bé vài hộp mè xửng.
 
- Hà Miên không ăn mè xửng đâu.
 
- Chú không thể mua những thứ ngon hơn được.
 
- Không phải vậy, ăn mè xửng sún hết răng.
 
- Sún hết răng dễ thương.
 
Hà Miên dẫy nẩy, Hà Miên cười lớn, Hà Miên dỗi hờn:
 
- Ghét chú ghê.
 
- Nhiều ít?
 
- Hơi nhiều nhiều.
 
- Mai mốt chú đi rồi ghét. Bây giờ thời...
 
- Thời sao chú?
 
- Giặt dùm chú bộ đồ dơ đang bận.
 
- Giặt đồ chú phải tốn một hộp bột Viso, và mươi mười thước khối nước.
 
- ...
 
- Mà thôi. Miên không giặt đồ chú đâu.
 
- Sao vậy?
 
- Thấy nó kỳ cục sao đâu
 
- Đừng lỳ, ngoan chú thương nhiều, tối chú dắt đi ciné.
 
- Chú xin ba má giùm nghe. Chỉ có chú xin mới được thôi.
 
Buổi tối trời đen thẫm, sao trời kết hoa trên cao. Gió hây hây lạnh, không mưa. Hà Miên đi bên chú Văn. Con đường thẳng dài có nhiều cây lớn trồng dọc bên lộ. Con đường xe chạy vút nhanh có ít ngã tư. Một vài ông cảnh sát già uể oải đứng bên đường chờ mãn phiên gác. Chú Văn hút thuốc nhiều hơn nói. Hà Miên cố nhì nhằng chậm bước, con đường vẫn mất hút sau lưng. Con đường hôm nay ngắn, thời gian như trôi nhanh.
 
- Ba má có hỏi Hà Miên bảo là chú đưa đi coi hát nghe hôn.
 
- Chi vậy?
 
- Con gái không được đi đêm ngoài phố, nhất là với một người đàn ông. 
 
- Hà Miên đi với chú mà.
 
- Thì...
 
Chú Văn ỡm ờ, chú Văn bối rối, Hà Miên thích thú ra mặt. Hà Miên biết mà! Ít ra chú Văn cũng phải có lúc bối rối, Hà Miên biết có lúc rồi chú Văn cũng "người" như ai.
 
Con đường dẫn về nhà nhiều bóng tối, lối sỏi từ cổng vào nhà lại càng thêm nhiều bóng tối dưới giàn hoa ti gôn. Có tiếng gió rù rì trong lá. Hà Miên loay hoay mở khóa cửa, chú Văn đứng im. Im lặng toàn diện. Một lúc Hà Miên đưa chìa khóa cho chú Văn mở dùm. Chú Văn cầm lấy bàn tay Hà Miên. Hà Miên làm gì đây với đôi tay lạnh run trong lòng bàn tay ấy?
 
 
NGUYỄN CÔNG MINH     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 45, tuần lễ từ 6-4 đến 13-4-1972)
 

Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

MỘT CHỖ ĐỂ CHỜ NHAU - Khuê Việt Trường


Nàng nói, số điện thoại của em là 58.777. Nàng nhắc lại số điện thoại của em là 58.777. Và mỗi tối, em sẽ tình nguyện học bài bên cạnh chiếc điện thoại chờ anh gọi. Chờ anh gọi, anh nghe không? Tại sao anh không đi Sàigòn một chuyến, để thăm em. Phép thường niên của anh được mười ngày phải không? Sao anh không để dành cho em một hai ngày - bộ Nha Trang quyến rũ anh lắm sao mà anh không ngó ngàng gì đến em, số điện thoại của em là 58.777.
 
Tôi trịnh trọng lấy cuốn Agenda do một người bạn ưu ái gởi tặng còn mới toanh, ghi địa chỉ nhà nàng, ghi số điện thoại của nàng thật trịnh trọng bằng cây viết Bic mới mua, ngay trang đầu:
 
Cô Vũ Thị Chiều Uyên
Địa chỉ 44/48 Trần Hoàng Quân, Sàigòn 10 
Số điện thoại : 58.777 (có quyền gọi cả đêm) 
 
Ghi chú : ngoài giờ làm mới hy vọng gặp. Chiều Uyên ở đầu dây, đừng tới nhà, ba nàng dữ lắm.
 
Cứ mỗi sáng hay mỗi tối ở Đà Lạt, tôi thường đem cuốn Agenda ra ngắm nghía năm con số duyên dáng. Khi mang ba lô lên vai băng qua những rừng thông xanh lơ, đến bãi bắp, cầm khẩu súng kê lên vai, như bắn những hàng bia trước mặt, tôi nhớ nàng. Những buổi cơm trưa trên sân tập, nhìn những cụm hoa sim mầu tím đỏ mọc lan trên đồi, tôi đợi thư nàng, những giòng chữ nhỏ nhắn, đều đặn, thân thuộc được viết từ một cuốn sổ nào cách nơi tôi ở gần 400 cây số ngàn. Tôi đợi thư nàng, như đợi những hy vọng nhỏ, như đợi những chùm hoa nhỏ trên đường đi xinh xắn, làm cho lòng mình đằm thắm lại những sôi nổi nào đó. Và nàng thật ngoan, thư gởi thật đều đặn, luôn luôn đến và đúng lúc mong chờ.
 
Cứ mỗi chủ nhật, tám giờ sáng theo chuyến xe buýt của trường chở sinh viên ra khu Hòa Bình, tôi đều nghĩ đến một ngày, gặp nàng ở tiếp tân chiều thứ bảy hay ở phố ngày chúa nhật. Phố thì đông, thời trang được trình bày đủ mọi hình thức. Tôi ngợp người trong rừng thời trang rộn rịp đó, và đôi khi tôi tưởng chừng bắt gặp nàng đang ở trước mặt, hay sau lưng - có thể nàng đang bước vô một gian hàng bán kỷ vật, có thể nàng đang dừng lại ở trước những đóa hoa cúc trắng hồng, cẩm chướng và chọn lựa mê say. Nàng cũng mong đợi một ngày lên thành phố núi này, để bước chân qua cổng Lam Sơn, thử nhìn một chiều thứ bảy trong Quân Trường.
 
Nàng hỏi khi tôi gởi cho nàng những cánh hoa sim ép vội:
 
- Tại sao hoa sim mà không là hoa khác?
 
Tôi nhẹ nhàng:
 
- Em có nghe bài hát những đồi hoa sim chưa? Đôi lúc anh muốn ngủ quên trong những rừng hoa và mơ thấy em, không về.

Nàng mơ mộng:
 
- Nếu có em, em sẽ theo anh leo lên mấy ngọn đồi chiến thuật anh kể. Cỏ xanh lắm hở anh? Chắc là mình đi chân trần, khỏi cần mang dép. 
 
Nàng đâu biết tôi phải chảy mồ hôi khi vượt qua con dốc Miếu Tiên Sư, đến CT2 ở Đồi Bắc hay CT1 ở Hồ Than Thở, dù cho nhiệt độ của thành phố khiến cho mọi người phải mặc hai cái áo len một lúc. Cỏ đã trờ thành những chỗ ngụy trang tốt sau những giờ nghỉ. Khi nàng đến, tôi sẽ choàng đủ một vòng ôm, giữ chặt nàng lại. Và hai đứa sẽ tập lăn tròn từ trên cái đồi cao nhất của sân cù, đè bẹp hết những ngọn cỏ xanh. Tôi kể cho nàng nghe những ý tưởng đó. Nàng cười:
 
- Anh xạo. Em biết cái quy luật trong trường anh hết trơn. Anh muốn em kể cho anh nghe không?
 
Tôi thách thức nàng:
 
- Em kể đi.
 
Và nàng chẳng ngần ngại gì mà kể những bí mật của tụi tôi:
 
- Nè, đi phố gặp Niên trưởng không chào là chiều chủ nhật trở về trình diện dã chiến. Không được ẵm con nít, không được đi xe lam, không được đi xe đạp, không được nắm tay bạn gái ngoài đường...
 
Nàng làm tôi đỏ mặt. Nàng kể không sót một điều nào như là nàng đã từng trải qua sáu tuần cam go để quỳ xuống nhận lãnh chiếc Alpha trong tiếng rền vang của súng nổ chào mừng. Gặp nàng mà chỉ ngồi nhìn cười suông thì thật buồn, thật buồn như không có một nỗi buồn nào cao hơn núi, mênh mông như đại dương. Và nàng có chịu ngừng chỗ đó đâu, nàng huyên thuyên:
 
- Lính học trò như lính tụi anh mồm mép dễ sợ, hôm có ông nào mặc bộ đồ gì màu rêu tới thăm con nhỏ bạn em - nhìn ông ta nói mà đủ chọc lăn ra...
 
Nàng tiếp tục:
 
- Chắc ở Đà Lạt anh cũng ghê lắm há. Quen bạn gái chắc đến nỗi đụng nhau hoài. Lỡ gặp em, anh định giới thiệu với mấy cô bạn đó là em họ, hay chị họ?
 
Cô nhỏ sinh viên năm thứ nhất ban Xã Hội, Đại Học Vạn Hạnh Vũ thị Chiều Uyên. Nàng làm tôi phải mệt nhoài cùng nàng, nàng chẳng khác nào thời tiết của thành phố, bất ngờ mưa viếng, bất ngờ gió bão. Và tôi cũng không quên điều này, khoảng cách giữa nàng và tôi là hai ngọn đèo, là một khoảng thời gian 6 tiếng đồng hồ trên một chuyến xe đò. Một chuyến xe đò nào đó, tình cờ, sẽ đưa nàng đến nơi đây. Sẽ đưa nàng đến nơi đây! Và liệu hạnh phúc đủ không để nhận lấy trong một chiều nắng vui, trên con đường có nhiều thông reo hai bên thân mật.
 
Nàng kể chuyện cho tôi nghe, từ chuyện đi học bị những cây si lẽo đẽo theo sau ca bài con cá, đến chuyện chiếc xe Yamaha của nàng cứ tắt máy giữa ngã tư đường. Chuyện những lộc non bắt đầu xanh mướt trên đường Nguyễn Du, ly kem lạnh những giờ trốn học đi ăn, xe bus những sáng sớm chật cứng cả người, không một chỗ lọt chân. Sàigòn vẫn được coi như là nơi chốn nghìn trùng, nghìn trùng của hẹn hò và của một thời gian nào còn chưa bận bịu với những tập tục phiền phức của một đời sống lạ. Chiều Uyên nào biết, nàng thật thư thả, Sàigòn của nàng thật nhàn hạ. Riêng tôi nào có một khoảng không khí bình yên ở vòm trời rộng lớn, chưa một lần đi bằng chân trần dẫm trên những thềm cỏ xanh.
 
Nhà nàng vừa mới mua được con chó Berger, chắc mua ở chợ Minh Mạng. Nàng hỏi ý kiến tôi:
 
- Con chó đẹp ghê anh ạ. Nó đi theo em cả ngày. Em cho nó ăn nó mới chịu ăn, không thôi thì nằm một góc nhà, lì ở đó. Nó thích rúc vào chân em khi em ngồi học bài. Em thương nó ghê, nhưng em chưa biết đặt tên nó là gì? Hay là anh đặt dùm cho em một cái tên đi.
 
Chỉ có chuyện con chó mà nàng dài dòng như thế. Làm sao tôi có thể đặt tên cho cái chú chó khốn kiếp đó. Bên cạnh tôi còn có những chồng cours cao ngất ngư, học trối chết nếu không muốn ở lại khóa sau. Vả, từ xưa tới giờ tôi có nuôi chó nuôi mèo gì đâu! Suy nghĩ cả ba ngày, lựa những cái tên trong những cái tên tôi đã từng được nghe: Lulu, Tôtô, Minô, Lucky, Kyky... tôi thấy đều tầm thường, chả lẽ lại đặt là Thanh Lan, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Kim Loan?
 
Và đây là quyết định cuối cùng của tôi:
 
- Vậy em muốn đặt tên gì?
 
Nàng trả lời thật nhanh chóng:
 
- Em muốn đặt tên nó là Trường quá anh ơi!
 
Trời ơi! Tôi muốn nhảy nhổm lên. Nàng nghịch hết chỗ nói. Mặt mũi tôi cũng đâu tối tăm, tên tôi cũng đâu đến nỗi cộc cằn mà nàng nỡ hành hạ đến thế! Nhưng nàng muốn là Trời muốn, không cách gì tôi có thể ngăn cản ý muốn của nàng được. Kết quả sau đó là tôi nhận được những bản báo cáo thường xuyên của nàng:
 
- Hôm nay con Trường nó cảm anh à! Em đi học về nó không chạy ra cửa đón em nữa. Em phải cho nó uống sữa chớ nó ăn cơm không được.
 
(Ở trong này, tôi lỡ bị bịnh thì ráng mà đi pha sữa lấy mà uống chớ không được sung sướng như con chó của nàng đâu).
 
- Bữa nọ cả nhà đi Vũng Tàu, em có dắt con Trường theo. Ngộ ghê anh ơi, sao em chưa tập nó bơi bao giờ mà nó bơi giỏi ghê, bơi hơn cả em nữa.
 
Tôi điên đầu luôn. Vậy mà nàng cũng là sinh viên năm thứ nhất rồi. Tôi phải tím cách đi Sàigòn để nhìn nàng cho kỹ mới được, nếu còn phép sẽ rủ nàng đi bộ một vòng Thủ Đô, cho nàng biết rằng, quen tôi là một điều điên rồ và dại dột - mà ác hại thay, hình như những lá thư nàng gởi cho tôi đã là những cần thiết, không thể thiếu thốn, như những tiện nghi của đời sống đều đặn. Chiều Uyên, bây giờ đã là một nhắc nhở hoài hoài trong giấc ngủ, hoài hoài trong tiếng cười, hoài hoài trên bước đi? Nàng đã chiếm giữ một phần không nhỏ, không thể nào xóa nhòa được trong tôi.
 
- Em vẫn đợi anh từng ngày và từng ngày - Nàng nói.
 
- Liệu em có đợi nổi không? - Tôi hỏi.
 
- Cho đến khi nào anh quên em.
 
- Rồi một ngày em cũng sẽ quên anh. 
 
Nàng thật thiết tha:
 
- Không đâu. Không bao giờ đâu, anh ơi!
 
Tôi vẫn hy vọng nàng không quên tôi, cho đến khi tôi tìm được phương tiện để đi tìm nàng. Để những mắt nhìn mắt chứa chan hạnh phúc, để những phố rộn ràng nhịp tim cùng thở. Tôi vẫn mang trong lòng những ngất ngây của một loài chim trời chưa soải hết cánh trùng dương, những hoa thơm còn rực rỡ một khoảng trời, hương thơm ngát như ở khoảng tận cùng vẫn còn sự yên bình.
 
Tôi vẫn mang trong lòng, những nụ cười dòn tan, làm vỡ tung những khoảng trời lung linh nắng. Để dẹp lại phía sau lưng mình, một khoảng đời lao đao lỡ nhận, trái tim người cứ hoài khóc lóc không nguôi. Những giàn hoa giấy đỏ, rũ rượi trước những ngôi nhà có mái ngói rong rêu, như là một chút ấm cúng nào trong tôi, từng buổi ngơ ngác, từng buổi âm thầm. Tôi thế đó, theo con dốc buổi chiều bước xuống một phố vui, nhìn quanh quất bắt gặp mình như du khách nhàn hạ. Ghé qua chợ hoa, muốn mua cho nàng những đóa hoa xinh, rồi dỗ dành mình, ờ để mai mốt hẳn hay. Mai mốt đó, cỏ đã cháy vàng theo nắng bỏng.
 
Tự dưng, tôi không viết nổi cho nàng một lá thư. Hậu quả là tôi phải chạy lên phòng bưu tín ký nhận thư bảo đảm. Thư của nàng. Trời ơi, tôi nhủ thầm, sao em không chịu gởi cho anh một tờ bưu phiếu đó, như vậy anh sẽ cám ơn em hơn.
 
Nàng nói:
 
- Bây giờ em đã mỏi mòn trong sự chờ đợi. Sự hy vọng còn đọc thư anh, làm cho em cảm thấy cần phải tiếp tục viết, viết để xin lỗi anh về những điều em gây ra khiến cho anh ngưng, không còn viết thư cho em nữa...
 
Nàng nhỏ giọng:
 
- Sự hy vọng còn anh, em vẫn còn anh ở trong em; Hãy viết thư cho em vì em đang viết thư cho anh.
 
Và lá thư tôi nhận được, cuối cùng:
 
- Em đang bệnh. Em ở một phòng, nhìn thấy một khoảng cỏ xanh nơi một bệnh viện và anh ơi, em sợ quá những mũi thuốc và những cô y tá, phải chi có anh bên cạnh em.
 
Chiều Uyên yêu dấu, anh đã đến Sàigòn. Em có tin điều đó không? Lời loan báo này của tôi như chuông gióng giữa sa mạc khi tôi vừa bước chân xuống bến xe Pétrus-Ký lúc ba giờ chiều. Ngày thứ nhất của mười ngày phép bắt đầu, và tôi dành ngày đầu tiên này cho nàng. Và tôi dành cho nàng những ngạc nhiên. Liệu những ân cần có gìn giữ, còn đủ cho chúng ta nhận lấy, trong âm thầm những hạnh phúc ở tầm tay. Và tôi bước giữa những đường phố đông người, và tôi nhìn những hàng hàng người vội vã, đang vui đùa, đang nắm tay thật hồn nhiên qua ngàn ngõ ngách vội vàng.
 
Nàng nói: Số điện thoại của em là 58,777. Ba giờ năm mươi tôi có mặt ở Bưu Điện Trung Ương.
 
Nàng nói: anh có thể gọi em bất cứ lúc nào, trong giờ nghỉ. Nhưng hôm nay là thứ bảy, thứ bảy tôi biết nàng đã trở về nhà. Bây giờ nang đang làm gì đó hở? Có còn đợi chờ một tin lạ như tin tôi đã đến thành phố của nàng, với một tấm lòng cuồng nhiệt, và với một sự đợi chờ hội ngộ kỳ thú giữa tôi và nàng. Con đường Nguyễn Du nào đó có lá me bay? Công viên nào đó có sỏi trắng rũ rượi khóc dưới chân? Và bạn bè nào đó, tưng bừng bên nhau không e sợ cuộc đời đầy giông bão bao la.
 
- Cô, cho tôi hai jeton.
 
Với động tác máy móc, người nữ nhân viên trao cho tôi hai jeton xinh xắn, và nói giá tiền.
 
- Cám ơn ông.
 
Tiếng nói như một động tác quen thuộc đó, và như thoát ra lại mất hút vào khoảng không trước mặt. Những máy điện thoại xanh treo trong từng ngăn tường, và những ô số. Tôi nhìn những bàn tay đong đưa, những mắt cười long lanh và những âm thanh êm đềm gọi nhau.
 
- Alô, alô... anh còn đầu dây không?
 
- Anh còn đây.
 
- Đợi em năm phút thôi, nhé! 
 
Tiếng chiếc ống nghe được trả lại chỗ cũ. Tôi nhìn theo dáng người con gái vừa nhường cho tôi một chỗ thật cần thiết nơi này, bậc tam cấp nằm im với những bóng lá chiều nghiêng đổ xuống. Trước mặt xe cộ vẫn lao nhanh, lao nhanh. Và tôi bỏ đồng jeton đầu tiên vào khe hở.
 
Tiếng số quay đều, cho đến khi vừa vặn con số 58.777.
 
Tiếng kêu bên kia ngưng lại, tôi nghe tiếng nhấc máy lên.
 
- Alô, Chiều Uyên?
 
Im lặng, không ai trả lời tôi hết. Tôi gọi lại:
 
- Alô, có phải nhà cô Chiều Uyên đấy không? 
 
Có tiếng một người con gái:
 
- Xin lỗi, ai vừa gọi chị Uyên?
 
- Tôi, một người bạn học.
 
- À, chị vừa đi với anh Tường ra phố mua hoa.
 
Tôi như nghe quả tim mình đập nhanh.
 
- Mua hoa? Chừng nào Chiều Uyên về?
 
Tiếng trả lời vẫn đều đặn:
 
- Mua hoa cho buổi lễ đính hôn chiều nay của chỉ mà. Ông không được mời sao? Chiều nay, lúc... 
 
Tôi gác vội ống nghe lại chỗ cũ. Và tôi không muốn nói với tôi một lời gì hết, bây giờ. và tôi không muốn làm một điều gì hết, bây giờ.
 
Tôi cầm đồng jeton còn lại, ném tung về phía trước mặt. Về phía trước mặt. Tôi không còn muốn nhìn tôi chiều nay.
 
 
KHUÊ VIỆT TRƯỜNG
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Ngọc số 157, số cuối cùng, phát hành ngày 5-4-1975)
 

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

BÊN DÒNG SÔNG TIẾC NUỐI - Tôn Nữ Thu Dung

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
có tiếng hát nào bay
mơ hồ qua đỉnh nhớ
giữ từng sợi tóc mây
trong bàn tay bỡ ngỡ
Xưa về dưới hàng cây
nhớ em đầy hơi thở
yêu em mà không hay
 
có tiếng hát nào ngoan
bay trên thành phố cũ
em đi áo hoa vàng
ta ngỡ màu lá rũ
mây chiều nay lang thang
còn nơi nào ẩn trú
gió bay tình ngút ngàn
 
có tiếng hát nào vui
rộn ràng ngăn tim nhỏ
hát một lần rồi thôi
cười với nhau lần nữa
quay đi cùng bồi hồi
cần chi lần gặp gỡ
bây giờ em xa xôi
 
có tiếng hát nào không
ru em tình rất mới
ru ta giấc cuối cùng
trong cuộc đời bối rối
thả từng nụ tình hồng
xuống dòng sông tiếc nuối
chia tay ai buồn không?...
 
                           tôn nữ thu dung
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 95, tuần lễ từ 29-3 đến 5-4-1973)
 
 
 

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

NGÀY THƠ DẠI - Nhã Ca


Anh Dư ơi.
 
Ở đâu cũng có nắng vàng, có gió mát. Nhưng không nắng ở đâu, gió ở đâu, có thể thay thế được màu nắng vàng và những cơn gió lộng của thời thơ dại. 
 
Vào năm nào anh Dư nhỉ? Hình như dạo ấy, Thuyền mới lên bảy tuổi. Bạn của Thuyền lúc đó còn là con mèo tam thể tên là Mimi. Nhưng con Mimi làm Thuyền buồn chết được, lười biếng, ngủ cả ngày, lại ăn vụng, cả đời chẳng bao giờ biết tắm rửa, chỉ đưa mấy cái vuốt nhỏ xíu vuốt mặt đã tưởng rũ hết bụi bặm của một đời mèo. Có lẽ vì con Mimi mà sau này lớn lên, Thuyền ghét loài mèo kinh khủng. Chính anh Dư cũng không thích giống này mà. Khi anh tới, con mèo Mimi bị ra rìa ngay. Chúng ta thích chuột hơn. Những con chuột mà chị Thố cho là gớm ghiếc, mỗi lần trông thấy tái xanh mặt mũi, lại là đồ chơi chúng ta chuộng nhất, anh Dư nhỉ?
 
Không bao giờ Thuyền quên được hôm anh mới tới. Có lẽ anh vừa ở trong bếp lò ra chăng? Đen thui, bóng nhẩy, hai mắt là hai cục than hồng và đầu tóc, đứng xa, Thuyền cũng ngửi thấy mùi khét lẹt. Chị Thố bịt mũi, còn anh Minh, anh Sơn thì trố mắt nhìn, như trông thấy một con thú lạ kỳ lắm. Người đàn bà đem anh tới có bà con với má, mặt mày chẳng hiền lành tí nào. Thú thật, Thuyền có ác cảm ngay lúc mới nhìn thấy lần đầu. Bà ta để lại anh với những lời dặn dò không mấy tử tế. Sau đó, mấy anh em Thuyền được người lớn giải thích, anh là con lớn của dì Bích, con riêng của dì, đâu với người chồng trước, bây giờ dì phải đi xa với người chồng mới. Chỉ sự bỏ rơi của gia đình dì Bích, đã làm mấy chị em Thuyền xầm xì. Chị Thố hồi đó lên chín, cao giọng: Thằng đó dơ dáy, không chơi. Anh Sơn, mười một, bĩu môi: Thằng này tướng nhà quê, ngu lắm. Anh Minh nặng nề: Nó trông giống thằng ăn cắp ở chợ, coi chừng nó. Dĩ nhiên lời anh Minh được tin tưởng hơn, vì anh Minh mười ba tuổi, lúc đó là cậu cả trong nhà, bắt đầu oai vệ rồi. Riêng Thuyền, Thuyền tò mò lắm. Suốt ngày hôm đó, anh Dư lẩn quẩn dưới bếp không dám lên nhà trên. Thuyền lén xuống nhìn trộm anh hoài. Có lần Thuyền làm quen nhưng anh quay mặt đi. Thuyền đã cáu, nghĩ: chắc thằng cha này ăn cắp thật, sao đứng dưới bếp hoài.
 
Đứng dưới bếp không phải để ăn vụng còn gì nữa. Thuyền ném con Mimi về phía anh. Nhanh như cắt, anh đưa chân ra đá nó cái ứ. Có lẽ Thuyền cũng đau như con mèo bị đá, và Thuyền bế con mèo lên. Nhưng con mèo phản chủ, nó ức Thuyền vì cái ném vừa rồi, cào vào tay Thuyền sước da đau điếng. Thuyền kêu lên, thả vuột nó xuống. Anh dợm bước lại. Thuyền bỏ chạy sau khi ném cho anh một tiếng: Chó. Hằn học.
 
Suốt tuần lễ mới tới, anh chỉ lẩn quẩn dưới bếp để nghe những lời nhiếc mắng của bà Đá. Bà Đá! Khi lớn lên, Thuyền biết thương hại bà ta rồi, vì Thuyền biết chắc chắn bà ta bị quỉ dữ mang về địa ngục. Ít nhất cũng có cả trăm con quỉ rình rập hành hạ bà để lập công với diêm vương. Bà Đá là một người nhà quê hung tợn nhưng làm việc giỏi. Bà kéo hết mấy anh em về phe với bà. Với mấy anh em Thuyền bà phải hầu hạ đủ thứ. Còn anh Dư, bà đâu phải hầu hạ gì. Bà còn nhờ vả anh là đằng khác. Sai vặt đủ thứ, kể cả rửa bát, nhúm lửa. Ở nhà quê, phải chụm lửa rơm và củi khô. Miệng anh Dư đã trở thành cái ống thổi lửa của bà. Anh quì xuống sát đất, phùng má thổi, bụi bay mù mịt. Anh Dư còn phải đập con chuột núp sau đống củi, đào giun cho vịt ăn. Coi như anh Dư làm thay cho bà hết một nửa công việc để bà Đá rảnh rỗi, nghĩ đủ mưu kế hành hạ anh. Chuyện cũng dễ hiểu, Thuyền cảm thấy bà đối với anh Dư rất xa cách, hầu như không có chút liên hệ ruột thịt nào. Nhưng tất cả những điều đó, đối với Thuyền cũng không quan trọng lắm. Thuyền cho như thế là vì Thuyền không về phe kẻ dữ để hà hiếp anh Dư. Năm anh Dư tới, gia đình Thuyền còn ở nhà quê. Ba đưa gia đình về một làng hẻo lánh ở vùng biển. Tuy vậy, gia đình Thuyền vẫn sống cách biệt với làng xóm bên ngoài nhờ được ở trong một khu nhà xưa. Khu nhà nằm trên một ngọn đồi có tường thành bao bọc. Vườn có nhiều cây. Đến bây giờ Thuyền còn nhớ chết người được những cây nhãn mùa hè trái ngọt như đường phèn. Những cây thanh trà, bưởi, những cây chanh tán xòe rộng, thấp, đưa tay với được. Tới mùa, chanh đơm hoa trắng xóa. Nhớ nhất là hai cây sầu đông ở trước sân, những hoa, những quả là đồ chơi của tụi nhỏ. Khu nhà rộng mênh mông, cả gia đình Thuyền chỉ ở hết một góc nhỏ, còn là bỏ không. Những năm đó, tình thế chưa yên ổn để các công sở tổ chức lại. Tòa nhà gia đình Thuyền ở có từ thời Pháp thuộc, nay được sáp nhập vào ngành Công chánh. Ba Thuyền gần như bị đổi về đây để giữ nhà, ông đang tìm đủ mọi cách để được về thành phố. Cả gia đình Thuyền đều chán sống ở đây, không ai có thể hòa hợp với đời sống vùng đồng chua nước mặn này. và anh Dư xuất hiện trong gia đình không hợp cảnh tí nào. Anh là một đứa bé quê đặc. Thuyền còn lờ mờ trong trí nhớ những hình ảnh ở tỉnh thành. Anh Dư thì không. Đối với gia đình Thuyền, anh Dư chỉ là một đứa bé tầm thường, ngu độn nữa là đằng khác. Với Thuyền, lúc đầu, Thuyền cũng nghĩ vậy. Thuyền về hùa với các anh các chị để bắt nạt anh Dư.
 
Thuyền còn nhớ như in, khoảng mười ngày sau khi anh tới, anh Minh và anh Sơn đã bày nhiều trò chơi nghịch ngợm mà anh là nạn nhân. Anh làm bò cho họ cưỡi. Anh bị bôi nhọ nồi làm mọi da đen cho các anh trói đánh, xẻo thịt, nhéo tai. Anh phải giả chết để các anh kéo ra chôn sau độn cát, chừa cái đầu cho anh có mũi mà thở. Thuyền đã cùng chị Thố đi sau lưng các anh, cười, la hét, cổ võ. Ba má không thể biết được những trò chơi tai ác đó, và nếu có dịp nào nghi ngờ thì bà Đá cũng tìm cách xí xóa đi. Anh Dư, Thuyền đã tai ác quá phải không? Và anh hẳn đã có lúc nhìn Thuyền với ánh mắt khinh bỉ, thù hằn. Thuyền đã cười đến bể bụng khi thấy anh bị hành hạ, bị đánh đập, chôn sống, và chính Thuyền đã có lúc cầm nắm cát vãi lên mặt anh, khi anh bị chôn chừa đầu ra ngoài. Anh Sơn bắt anh Dư phải mở mắt để những hạt cát rơi vào, anh nhắm mắt lại. Anh Sơn banh mắt anh ra. Anh nhổ nước bọt vào mặt anh Sơn, oằn người chịu đựng. Ôi, cái con bé tai ác độc địa trong Thuyền may mắn đã có lần chết đi, vĩnh viễn. Để Thuyền nhắc lại nhé. Hôm đó các anh bày một trò chơi mới. Anh Minh, anh Sơn đóng vai tráng sĩ, bắt được tên tàu ô là anh Dư. Đánh đập chán, anh Minh, anh Sơn cột anh Dư vào một cành cây. Sau đó, cả bọn bỏ đi. Nhưng Thuyền, một lát sau, vào buổi trưa, Thuyền tò mò chạy ra xem. Anh Dư đã mệt lả, mặt đen xì, hai mắt như lạc đi vì nắng, vì đói. Giữa lúc đó, Thuyền nghe bước chân đến gần. Thuyền núp vào một bụi cây. Bà Đá đi ra. Thuyền nghĩ là bà đem cơm cho anh Dư, và chắc bà sẽ mở trói cho anh. Nhưng lạ lùng chưa, bà gọi: Ê, thằng mọi biển. Mày thấy tao không? Và bà cười sặc sụa, cười như điên dại: Cho mi chết, mi phải chết. Tao thù mi tận xương tủy mi biết không? Mi dám nói quỉ ám tao há? Ha ha, ừ, tao là quỉ. Và bà cúi xuống lượm đá chọi anh Dư. Thuyền mở lớn mắt nhìn cảnh hãi hùng đó. Phải, lúc đó Thuyền kinh khiếp quá. Bà Đá không có vẻ gì là người mà như một con quỉ sống. Tự nhiên Thuyền cảm thấy sợ hãi. Dám bà này sẽ giết anh Dư lắm. Tim Thuyền càng đập mạnh hơn khi thấy bà Đá tháo đầu dây buộc, vắt một đầu dây lên cành cây cao, kéo tuốt anh Dư lên, rồi lại thả dần anh xuống, xong lại kéo lên. Mỗi lần xuống gần tới đất, anh Dư đều đưa hai chân đạp vào mặt bà Đá. Bà bị trúng một hai cái và cơn điên của bà bùng lên dữ dội. Bỗng dưng trong tâm hồn non nớt của Thuyền đau nhói, xót xa. Và bất thình lình, Thuyền nhảy ra bá vào cổ bà Đá. Thuyền đánh đu, cắn mạnh vào tay bà. Thuyền nghiến răng, cố hết sức nhay mạnh. Bà Đá rú lên, buông tay. Sợi dây tuột xuống và anh Dư rơi đánh bịch. Thuyền đã bị bà Đá hất ra, nhưng cứ xông bừa tới. Bà Đá nhìn Thuyền, ánh mắt vừa giận, vừa lạ lùng, rồi cút mất.
 
Khi quay lại, Thuyền còn nhớ mãi khuôn mặt anh Dư lúc đó. Anh nhìn Thuyền. Chao ơi là mắt. Mắt nghi ngờ. Mắt đề phòng. Mắt sợ hãi. Thuyền muốn tiến tới gần anh, mở dây cho anh nhưng sao Thuyền sợ quá. Và vì sợ, Thuyền đã run lẩy bẩy. Cuối cùng Thuyền chảy nước mắt. Anh Dư có vẻ dịu đi. Lúc đó, anh đã hết ghét Thuyền rồi phải không? Anh để yên cho Thuyền mở dây trói, nhưng anh không nói với Thuyền một lời nào. Xong xuôi, anh ném cho Thuyền một cái nhìn không tình cảm, bỏ chạy mất.
 
Thú thật với anh Dư. Lúc đó, Thuyền thương anh kinh khủng. Thuyền tự hứa sẽ không bao giờ nghịch ác với anh, làm hại anh. Thuyền sẽ binh vực anh. Nhưng loay hoay mãi mấy ngày, Thuyền không có dịp để gặp anh, nói chuyện với anh được. Mãi sau, Thuyền rình anh, thấy anh chui ra khỏi khu vườn bằng một cái ngách nhỏ kín đáo trong một bụi cây rậm. Ở nhà ta cổng luôn luôn khóa. Anh Minh, anh Sơn có thể trèo cửa sau để ra bãi cát, rồi ra mấy cái đầm nước phía sau vịnh. Chị Thố cũng theo các anh được, còn Thuyền thì không. Chân Thuyền quá bé. Nhưng khi khám phá ra cái ngách của anh Dư thì thế giới bên ngoài không còn xa lạ với Thuyền nữa rồi. Thuyền đi theo anh, cách một khoảng xa, và thấy anh hẹn với một thằng nhỏ chăn trâu. Thuyền biết tên thằng bạn của anh. Thằng Nghiệp. Anh với nó có nhiều trò chơi vui quá. Bắt cá, đào khoai. Thuyền mê món khoai nướng của anh. Anh đào trộm khoai, vùi xuống cát và đốt lửa ở trên. Khoai chín thơm phức. Lúc đầu, anh không thèm để ý tới Thuyền. Anh biết Thuyền đi theo mà làm như không biết. Khi thằng Nghiệp phát giác báo động với anh, anh lặng thinh. Thuyền còn nhớ như in lời thằng Nghiệp: Đuổi con nhỏ này đi. Nó cũng độc ác như anh chị nó. Và thằng Nghiệp cầm que xua đuổi Thuyền. Thuyền òa khóc. Anh đứng dậy nắm tay Thuyền dắt lại chỗ nướng khoai. Có lẽ chưa bao giờ Thuyền ăn được củ khoai ngon tới như thế. Buổi tối hôm đó, Thuyền đã giấu một cái bánh ngọt đi tìm anh Dư để đưa. Vất vả lắm, Thuyền mới tìm ra anh. Anh đang rình gì sau đống củi. Thuyền chết khiếp được khi thấy anh bắt một lô chuột con còn đỏ hỏn. Suýt tý nữa thì Thuyền đã hét lên. Anh Dư làm dấu:
 
- Suỵt.
 
Thuyền vẫn bưng lấy mặt.
 
Anh Dư làm dấu Thuyền đi theo.
 
Anh đi ra góc vườn. Vườn tối thui. Anh Dư có một hộp quẹt. Anh quẹt một cây soi đường. Đi được một đoạn nhỏ lửa tắt, cả hai dừng lại. Thuyền vấp rễ cây, vấp mô đất, đá, nhưng Thuyền không dám đi gần anh, níu anh vì quá sợ những con chuột đỏ hỏn. Cuối cùng anh dừng lại. Thuyền mở mắt nhìn những hang hốc anh làm bằng gạch, bằng đá, bằng ngói. Lần đầu tiên Thuyền thấy anh cười với Thuyền. Nụ cười của anh làm xóa hết những nét dữ dằn trên mặt. Anh ra dấu cho Thuyền ngồi xuống.
 
- Anh làm gì đó anh Dư?
 
- Làm hang nhốt chuột.
 
- Nhốt chi vậy?
 
- Chơi.
 
- Anh nuôi chuột hả?
 
- Ừa.
 
Anh bỏ những con chuột đỏ hỏn vào miếng vải lót ở trong hang rồi quẹt diêm thắp một cái tim đèn nhúng trong dĩa dầu. Anh ngồi che về phía gió cho tim đèn khỏi tắt, rồi anh xoa hai tay, ngó lũ chuột lúc nhúc. Thuyền cũng lần mò tới gần, ngồi chồm hổm bên anh. Thuyền đã thấy bớt sợ hãi, và dưới ánh đèn đỏ mù mờ, cô chăm chú nhìn những chiếc mõm chuột nhỏ xíu, những thân hình non nớt, trong suốt, da căng một màu hồng đỏ, mắt nhắm kín. Mấy chú chuột con bò lổm ngổm, đụng vào nhau té lăn quay. Bỗng nhiên Thuyền cười thành tiếng.
 
- Thích không?
 
- Anh không gớm hả?
 
- Có gì mà gớm.
 
- Anh để thế này lỡ con Mimi bắt ăn tội chết.
 
Anh Dư tỏ vẻ khinh bỉ:
 
- Con đó lười thối thây. Với lại còn lâu nó mới biết có chuột ở đây.
 
Anh lấy một viên gạch lớn đậy miệng hang lại. Thuyền kêu:
 
- Nó chết ngạt.
 
- Nó có chỗ thở đây này.
 
Anh Dư chỉ trên nóc hang, có chừa lỗ thông hơi nhỏ. Thuyền lấy cái bánh ngọt ra dúi vào tay anh Dư. Anh dẫy nẩy, suýt nữa cái bánh rơi xuống đất.
 
- Chi?
 
- Bánh.
 
Anh Dư làm thinh. Thuyền nói mau:
 
- Anh ăn đi. Thuyền để dành cho anh đó.
 
Anh Dư lắc đầu. Thuyền buồn ghê. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ anh Dư muốn thân thiện với Thuyền. Thuyền nhét vào tay anh lần nữa.
 
- Ăn đi mà.
 
- Không.
 
- Không thì vất đi vậy. Anh vất đi.
 
Câu nói hờn dỗi của Thuyền làm anh ngần ngại. Rồi anh cười nữa.
 
- Thôi, cho chuột ăn nghen.
 
Thuyền không nói gì. Anh lật viên gạch ra, soi đèn vào hang. Anh bẻ từng miếng bánh bỏ vào. Lũ chuột vẫn bò lúc nhúc, bò lên cả bánh mà không biết. Anh nói:
 
- Để mai mốt nó mở mắt được nó ăn. 
 
Anh lại chồm hổm ngắm bầy chuột một cách thích thú. Thuyền hỏi:
 
- Anh mới nuôi hả?
 
- Nuôi lâu rồi.
 
Thấy Thuyền có vẻ không hiểu, anh giải thích:
 
- Mấy lần trước làm hang không kỹ, chuột mẹ tới tha đi hết trơn.
 
- Lần này nó cũng tha cho coi.
 
- Sức. Lần này làm hang kỹ lắm.
 
- Anh Minh anh Sơn có biết anh nuôi chuột không?
 
- Không.
 
- Biết mấy anh phá cho coi.
 
Anh Dư làm thinh, như không muốn nghe chuyện mấy người đó. Thuyền tiếp:
 
- Chị Thố sợ chuột.
 
Anh vẫn chăm chăm nhìn vào hang. Thuyền tức giận. Giận lắm chứ, khi anh chỉ chú ý tới mấy con chuột mà không nghe Thuyền nói. Tính ác trong lòng Thuyền nổi dậy. Được rồi, sáng mai đem con Mimi cho nó ăn thịt hết. Không cần, chỉ cho các anh biết phá chơi. Thuyền bặm môi:
 
- Mai mét anh Minh. Anh ấy tới phá cho coi.
 
- Hử?
 
Anh đứng dậy, nhanh như cắt. Để làm gì? Thuyền không hiểu Thuyền có ý định đó hay nói chơi cho hả giận vậy. Anh ngó Thuyền, ánh mắt tối sầm. Tối thui luôn. Anh Dư đá ngọn đèn tắt câm. Thuyền nghe tiếng chân anh bỏ đi. Hoảng hốt, Thuyền đưa tay chụp, nhưng Thuyền chỉ chụp khoảng không. Trong khi đó, gió như đưa tay ai tới chờn vờn trên cổ, trên tóc. Thuyền bật khóc lớn.
 
Một que diêm lóe lên. Anh Dư trở lại. Anh nắm lấy tay Thuyền lôi đi. Cây diêm le lói rồi tắt. Thuyền chìm nghỉm trong bóng đêm dày. Thuyền không biết đường lối, tay bị kéo đi, chân giẫm trên đá, trên rễ cây. Nhưng Thuyền không sợ nữa. Thuyền biết chắc anh Dư sẽ đưa Thuyền vào tận nhà. Nếu anh không đưa Thuyền đi, nếu anh giận Thuyền, bỏ luôn Thuyền ngoài vườn chắc Thuyền sẽ sợ tới chết đứng. Trong đêm biết bao nhiêu ma quỉ. Trong vườn lại có nhiều rắn, nhiều con sâu róm đầy lông đen thui. Đụng phải nó ngứa gãi chết được. Anh Dư có thù ghét gì Thuyền đâu nào. Thuyền không thể không nói ra những ý nghĩ đang ở trong đầu.
 
- Anh Dư. Thuyền không mét ai hết.
 
Anh không nói gì.
 
- Anh cho Thuyền chơi với anh nghe, nghe.
 
Vẫn im lặng. Thuyền độc thoại:
 
- Chơi nướng khoai. Chơi đánh giặc. Đi bắt còng. Nghe, nghe. Thuyền nghỉ chơi anh Minh, anh Sơn đi. Chị Thố cũng ác.
 
Thuyền nhớ chuyện chị Thố đổ lỗi cho anh Dư ăn vụng chuối. Anh Dư bị đòn. Thuyền tiết lộ:
 
- Hôm nọ chị Thố ăn chuối vứt vỏ sau vườn, đổ cho anh. Chị Thố nói anh cắt râu con Mimi để nó không bắt chuột được. 
 
Anh Dư. Chuyện cắt râu con mèo Mimi có thật phải không? Anh cắt râu con Mimi là vì lũ chuột. Sau này anh thú thật với Thuyền điều đó, và Thuyền đồng ý: Từ nay, loại con Mimi cho rồi, nó đã mất râu, trở thành một con vật vô dụng.
 
Anh bỏ Thuyền ở hàng hiên, nói: Đó, có đèn sáng rồi, vô nhà đi. Nhưng Thuyền còn níu lấy anh, xin thêm một chuyện.
 
- Sáng mai, cho Thuyền đi thăm chuột với nhé. Nhé. Thuyền sẽ để dành một quả chuối.
 
Sáng hôm sau, tưởng anh Dư không nhớ. Nhưng anh đã kéo Thuyền ra góc vườn. Hang hốc đã bị phá tung. Lũ chuột đã được chuột mẹ tha đi mất. Những mẩu bánh cũng không còn. Anh Dư ngẩn ngơ: Kỳ thiệt. Hang chắc vậy mà nó cũng tha đi được. Chán chuột chưa? Thuyền trả lời cho anh là chưa. Trò chơi bắt chuột còn lâu lắm cho tới khi trong nhà khám phá và cấm. Nhưng ăn thua gì anh Dư nhỉ? Còn cả trăm nghìn trò chơi vui hơn. Chỉ lo không đủ thì giờ thì có.
 
Anh Dư. Từ hôm đó, anh đã hết ghét bỏ Thuyền. Còn Thuyền, Thuyền dám nói Thuyền đeo anh còn hơn đeo mẹ nữa. Sao Thuyền dám nói thế nhỉ? Vì sao hả anh Dư? Vì anh, vì anh đó , vì anh và những ngày thơ dại tươi vui, triền miên không bao giờ dứt. Thật đó. Thuyền còn tiếp tục chuyện anh nữa.
 
 
NHÃ CA                
(Ngày đôi ta mới lớn, trích)   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 128, tuần lễ từ 19-4 đến 26-4-1974)