Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

NGÀY XUÂN ÊM ĐỀM - Võ Hồng

Chiều hôm ấy khi đi học về, An thấy trên ven mép sân vừa trồng một hàng cúc vạn thọ. Mừng quá, An không kịp bỏ mũ sách, nhảy tuốt ra nhà sau tìm chú Ba.  

- Chú Ba ơi! Chú Ba! Chú trồng vạn thọ hả chú? Gần tới Tết rồi hả chú Ba?

Câu trả lời của chú, An đoán trước được nhưng An vẫn thích hỏi. Còn ai vào đây trồng hoa nữa? Ba, bốn năm nay từ khi An có trí khôn, An thấy cứ gần Tết là chú Ba đi xin cây vạn thọ hoặc ở chùa Châu Lâm hoặc ở vườn thằng Kiết về trồng một hàng quanh mép sân. An không biết xem lịch vì lịch in bằng chữ nho, cuốn lịch cha nó treo ở khung cửa sổ bên cạnh cái bàn toán. An cũng không lưu ý tìm xem tháng này là tháng mấy. Đối với tâm hồn ngây thơ của nó, cảnh và vật nói nhiều hơn tháng ngày. Nghe con tu hú kêu nó nghĩ đến những chùm trái vú dẻ chín vàng ngọt lịm và nó nghĩ: "Tháng Ba. Mùa gặt tới". Nhìn bà hàng gánh đôi thúng xếp đầy những trái bắp nếp luộc hơi nóng lên nghi ngút, nó cảm nghe mùi ngọt thơm của hột bắp dẻo nghiền tan dưới răng và nó nói thầm: "Tháng Tám rồi. Sắp mưa lụt". Còn ngày Tết thì luôn luôn được báo hiệu bằng dãy cúc vạn thọ.

An nhìn trìu mến dãy hoa vừa trồng. Mỗi cây đứng trong một cái lỗ khoét to bằng cái bát sứ. Cây cao hơn mặt đất không quá hai tấc và đứng gục đầu xuống, lá buông ủ rũ. An có cảm tưởng chúng nhớ đàn nhớ bầy, nhớ cái vạt đất nhỏ nơi đó người ta gieo chúng, nơi đó chúng lớn lên cạnh những anh em của chúng cùng một hoa mẹ sinh ra. Có đôi cây yếu quá tưởng như chúng không thể sống qua đêm nay. Sự lo lắng thương hại của An khiến nó thấy cái thái độ lầm lì lạnh nhạt của chú Ba là đáng ghét. Người lớn trông họ vô tâm đến tàn ác. Mấy cây hoa đau đớn ủ rũ thế kia mà họ vẫn có thể thản nhiên bỏ đứng bơ vơ một mình không săn sóc đến. Đêm đến, khi leo lên bộ ván gõ nằm ngủ, An cứ loay hoay nghĩ về mấy cây hoa đáng thương. Và mới sáng tinh sương khi bừng mắt dậy, nó đã nhảy vội ra sân thăm từng cây hoa. Mừng quá! Dù có cây thân còn cong lại chưa đứng thẳng nổi nhưng cây nào đọt cũng xanh tươi, chỉ những lá gần gốc là héo sẫm lại mà thôi. Dăm ngày sau, cây bén rễ và tới một độ nào đó An không nhớ nữa, những cây hoa lớn vụt thật mau, đâm chồi thật nhiều. Những khoảng cách giữa các cây hoa trước kia trống trải mênh mông, giờ đã bị che mất bởi tàng lá.

Cùng với sự phát triển của dãy cúc vạn thọ, cái Tết như cũng lớn dần. Manh nha từ đầu tháng Mười một với những cơn mưa nhẹ, mưa gieo cải, cái Tết thấp thoáng mơ hồ với những rò cải, ngò, xà lách, tần ô nằm vuông vắn ở hầu hết mọi sân nhà. Cái Tết lớn lần lên với những bụi hoa, vạn thọ, cúc đại đóa, thược dược phát chồi sum suê và bắt đầu ra nụ. Càng đi sâu vào ngày tháng, cái Tết càng hiện rõ thêm, in dấu vết trên mọi cảnh mọi vật và mọi hoạt động của con người. Chữ Tết được nhắc đi nhắc lại một cách thân mến êm đềm trong mọi trường hợp sinh hoạt ở gia đình. Cha nói: "Mấy dây dưa leo chắc ra trái không kịp Tết. Bậy quá. Bị mưa làm thúi giống gieo kỳ trước". Mẹ nói: "Thằng Ba coi chừng mấy con gà thiến. Để qua nhà lão Dần chó cắn chết thì nghỉ ăn Tết đó nghe?" Ở lớp học bạn khoe với nhau: "Tết này tao được đi thăm cô tao ở Phước Lãnh... Bà ngoại vừa gởi cho mẹ tao một trái bí đao to để làm mứt Tết." Ở ngoài đường, chữ Tết len lỏi trong những câu chuyện: "Chợ Tết mà ế quá, tháng Chạp thiếu, hăm Chín lấy làm Ba mươi, chạy Tết cũng mệt... Tết năm nay ở Phú Mỹ có bài chòi..."

Thôn Quảng Đức đa số làm nghề gốm và buôn vôi thế mà sự sinh hoạt cũng hối hả theo cái đà của ngày Tết cứ sừng sững đến gần. Đồ gốm sản xuất ra, chở đò dọc đem bán ở các chợ xa: chợ Đèo, chợ Đồng dài, chợ Gò chai, chợ Gành, chợ Thứ... tiếng ốc tù-và của chủ đò thúc khách quá giang chuyển hàng cho gấp xuống đò vang lên trong đêm khuya. Càng gần Tết sự mua bán càng hối hả rộn rịp nên chợ nào cũng vãn chậm. Đò xuôi chở khách về cũng mãi khuya mới tới bến. Bến đò thành ra ồn ào rộn rịp suốt đêm. Những cây đèn chai làm bằng một đoạn tre trong tẩm dầu, cháy rực sáng cả bực sông, in ngược bóng xuống nước rung rinh, lóe đỏ cả một vùng.

Trên con đường đi xuyên qua xóm, những dáng người gánh gồng vội vã đi chập choạng theo ngọn đèn chai cầm lắc lư dưới tay. Đèn chai ở đây là một cái đèn dầu nhỏ được một nửa cái chai ụp lên để chắn gió. Tiếng chuyện trò lanh lảnh vang trong đêm, hối hả theo bước chân chuyển từ đầu xóm sang cuối xóm. Trong đêm tối mà mọi vật như xóa nhòa hết cả hình nét để tan vào bóng đen, mà mọi sinh vật đều như mỏi mệt, tiếng nói chuyện tỉnh táo rõ ràng dường giữ đủ cả sắc cạnh. Ở dưới bước chân, bóng người in đen được phóng đại ra, nằm trải xuống mặt đường, nằm vắt qua bờ rào, chập chờn di chuyển theo bước đi.

Một bữa An thấy chú Ba hí hoáy nắn một vật gì trông tựa cái lưỡi cày mà bằng đất sét. Chú lấy mũi dao liếc thật nhẵn mặt. Chỗ tay cầm cũng được gọt thật đều. An hỏi:

- Chú làm cái gì vậy?

- Tao làm cái bàn ủi.

- Làm bàn ủi để chi vậy chú?

- Để ủi quần áo chớ chi.

Giọng nói của chú lơ đãng. Trong giọng ấy còn có vẻ tự phụ vì chú nheo mắt ngắm nghía ra dáng bằng lòng lắm. Rồi chú nói chậm rãi tiếp theo, như nói với cái bàn ủi chứ không phải nói với An:

- Mốt tới phiên lò ông Hương Lạc đem gởi nung. Chín rồi lấy ra đem ngâm nước. Thế là giặt quần áo để sẵn đó. Đem đặt bàn ủi lên lò than nóng rồi cứ vậy mà ủi lên mặt quần áo. Quần áo dầu cũ mà trông như mới.

Cũ mà trông như mới! Thật là kỳ diệu, An nghĩ. Nó nhìn xuống cái áo cũ nó đang mặc, tưởng tượng rằng cái áo ấy sẽ mới và nó ngó sang cái bàn ủi một cách khâm phục. Cái bàn ủi ấy được mang đi nung, điều ấy quả có thật. Chính mắt An nhìn nó chuyển từ màu xám của đất phơi sang màu hồng nhạt của đất nung. Cũng lại chính tai An lắng nghe tiếng "boong boong" khi cầm nó lên để gần tai, cung ngón tay gõ nghe thử. Nhưng chắc chắn là An chưa hề thấy chú Ba dùng nó để ủi cái áo của chú cho từ cũ hóa "như mới". Có lẽ chú đã lén thí nghiệm nhưng bị thất bại nên sau đó chú không tuyên bố gì ráo.

Ngày hăm sáu tháng chạp phiên chợ Hôm, mẹ nói:

- Hôm nay An có đi chợ Tết không con?

An vội vàng như sợ ai kịp phản đối.

- Dạ có. Lát nữa thằng Tòng lại rủ con đi.

Tòng là bạn học lớp Tư của An. Vì sao mà quen thân nhau, An cũng không nhớ rõ vì nhà Tòng ở mãi tận Hội Tín đi học khác đường mà tính tình thì hai đứa không giống nhau. Cha Tòng làm thầy phù thủy. Có lần nó rủ An đến nhà chơi thấy gian nhà giữa đầy những tượng, những hình ông thần, ông tướng, những cờ những đèn, trống chiêng, thanh la, não bạt khiến An sợ khép nép không dám vào. Cha Tòng có một cái trán quá cao. Nhìn gần thấy chân tóc mọc nên An biết trán cao là vì tóc bị cạo. Sau này lớn lên được biết nhà Tòng vừa làm phù thủy vừa hát bội, - hai nghề này có họ hàng với nhau vì hò hét điều động âm binh cũng là một cách hát bội, - nên cha Tòng phải để trán cao mà đội cái mão. Lúc Tòng lớn, Tòng nghỉ học sớm và kế nghiệp cha. Cái trán của Tòng cũng được cạo lên thật cao và chân đi chữ bát. Lúc nói chuyện là hai tay vung vẩy như múa. Đó là kết quả của nghệ thuật tiêm nhiễm vào cuộc đời.

An thay quần áo xong thì Tòng đến. Tòng mặc quần trắng và áo cụt lụa màu hồ thủy. Những nếp gấp làm hai ống quần lép lại và gãy ra làm ba. Tòng đội một cái khăn lông màu vàng nghệ có chạy sọc xanh đỏ. Úp lên trên khăn lông là cái mũ kaki. Trông Tòng nửa giống như một chú nhỏ ở trong tranh vẽ, nửa giống như một tên lính Tàu thời cổ. Chắc Tòng chịu ảnh hưởng của những tấm tranh màu treo la liệt trên tường nhà nó.

Đường xuống chợ có nhiều chỗ lõm thấp xuống, đó là khi con đường đi sát cạnh những cái bàu nước. Mỗi bàu nước mang một tên bí mật: bàu ông Chì, bàu ông Lôi. Mỗi lần đi qua một cái bàu, An khép nép đi sát vào Tòng vừa liếc mắt xuống mặt nước đầy rong, ấu xanh um. Những gốc tre già xám đen, những thân cây sung cong vẹo in bóng xuống mặt nước làm cho các tên ông Chì, ông Lôi được trùm trong một không khí rùng rợn. Người đi và người về tránh nhau trên con đường hẹp. Lũ trẻ con đi chợ về trên tay thế nào cũng có những món đồ chơi, hoặc con gà cồ bằng đất, khi thổi ở lỗ khoét ngang hông thì cất tiếng gáy "côô... côô" hoặc con "chút chít" khi kéo ra đẩy vào thì phát ra tiếng kêu chút chít. Nhiều đứa hãnh diện cầm những ghim pháo tre, những bó pháo thăng thiên đi cạnh mẹ.

Đến gần chợ thì nghe tiếng mua bán xì xào vang lên. Thỉnh thoảng có tiếng pháo tre nổ "đùng" khiến trái tim của hai đứa như nhảy cỡn lên. Không ai bảo ai mà cả hai đều rảo bước.

Đến đây rồi, chợ Hôm! Những dãy lều mái bằng tranh rạ cột tre yếu ớt sắp chạy từng dãy. Có nhiều hàng bày bán ở giữa trời, như hàng trái cây, cá mắm. Hai cây đa to tỏa bóng mát cả một khu chợ. Lá đa dày san sát ở trên từng cao làm thành một vòm xanh lao xao cử động. Tiếng rì rào vừa phát tự dưới đất nơi người ta buôn bán trao đổi vừa phát tự trên cao do gió lay cành lá. An gặp chị Thắm bày bán đồ gốm ở gần gốc đa. Chị Thắm ở cạnh nhà An, hàng ngày vẫn sang giếng nhà An xách nước nhưng sao hôm nay trông chị lạ hẳn đi. Có lẽ vì chị mặc áo dài và đi guốc chăng? Hay vì đặt chị giữa cái khung cảnh lạ mà người chị trông cũng lạ đi. Những đồ gốm: ấm, chậu, hỏa lò, lon, vò, cây đèn, v.v... hàng ngày vì quá quen mắt An coi như không có giá trị gì nữa, coi như những đồ chơi vô nghĩa, thế mà người đến xem xét trả giá tấp nập. Chị Thắm đóng vai trò một cách rất nghiêm trang, từ chối rất quyết liệt, thách giá rất chắc chắn. Cái ấm cái chậu bỏ lăn lóc ở xung quanh hè nhà chị Thắm, thỉnh thoàng An lỡ đi vô ý đá phải ngã lăn, nay thấy người mua mặc cả giá từng đồng, móc túi đếm từng tờ bạc để trả và cuối cùng nâng niu xếp lên rổ bưng đi. Tòng nói:

- Tụi mình ra hàng pháo coi.

Hai đứa cầm tay nhau đi. Hàng pháo ồn ào nhất nên không mất công tìm. Nó ở cách biệt ra một góc chợ xa những hàng khác vì tiếng nổ không ai ưa, nhất là những người đi chợ hầu hết là đàn bà. Bác bán pháo là một người đàn ông vạm vỡ. Chỉ bán có pháo tre và pháo thăng thiên, bác đựng trong một cặp bồ lớn. Một số pháo bày làm mẫu được dàn trên một chiếc chiếu nhỏ. Người mua pháo bắt đốt thử. Bác tháo ở gắp tre lấy một chiếc pháo, bóc giấy (miếng giấy xanh đỏ dán đè lên ngòi) rồi đặt lên một tấm gạch cách xa bác một sải tay. Bác cầm cây hương cháy châm lên ngòi. Ngòi pháo xì khói, bác quay mặt sang một bên và một tiếng nổ "đùng" rền lên, chát tai. Xác pháo là một vòng nan tre bị cháy xém bay tung lên cao rồi rớt xuống.

Hàng hoa quả không hấp dẫn bằng ngày thường vì không có những miếng mít múi vàng óng ả, những trái mãng cầu nứt gai chảy mật, những quả ổi thơm, những trái xay, trái sim, trái đát. Hôm nay người ta chỉ bày bán những nải chuối xanh mà chuối xanh thì trẻ con không thích vì không ăn ngay được. Trẻ con không có tính kiên nhẫn đợi chờ. Ngày thường mẹ đi chợ về An lật rổ ra coi mà thấy bí thấy rau thấy cá là An ghét lắm. Kẹo, mít, bánh rán... mới là những món An hoan nghênh. An và Tòng đưa nhau sang hàng thịt cá. Thật đáng thương hại cho những bà hàng này quanh năm phải bán y một món không thay đổi. Áo quần thì đen đủi, món hàng thì tanh tưởi, thật không có một vẻ Tết vẻ xuân nào cả. Chẳng bù với hàng bánh mứt họ bày bán trong những cái quả sơn quang dầu đỏ thắm trông vui như những đám cưới. Các cô bán mứt đều xinh, tóc vấn trần chải dầu dừa láng mượt, áo dài vải trang đầm bó sát người.

Kề ngang hông chợ là dãy phố Hoa kiều. Đó là tiệm chú Năm Heo và tiệm ông Ngâu. Khách vào ra đa số là đàn ông đi mua rượu, tranh sơn thủy, chén bát, nho táo. Tiệm chú Năm Heo bán thuốc bắc. Những người đến cân thuốc xách đu đưa những gói thuốc bước ra khỏi tiệm, mặt trông buồn giữa cái khung cảnh nhộn nhịp của ngày xuân vui. Chọn ngày Tết để đau bệnh thật là không phải lúc.

Đi loanh quanh một lát hai đứa đã bắt đầu chán. Chợ ngày Tết khi chưa tới xem thì thấy háo hức là thế nhưng đi lại đôi vòng chúng đã khám phá hết mọi bí mật. Sự thỏa mãn có pha một ít chán chường như khi đọc một cuốn truyện cổ tích được người ta quảng cáo là hấp dẫn nhưng đọc xong một lượt thấy không còn thèm thuồng nữa. An nhìn trở lại khung cảnh chợ. Những dáng người đi lại chen lấn, cúi xuống lựa chọn mặc cả, những tiếng xì xào, ngay cả đến bóng rợp của cây đa cao An đều thấy quen thuộc hết.

Ngày hăm bảy tháng Chạp chú Ba đi hái lá me và trái me về giã nhỏ ngâm nước chùi đồng. Công việc thật nặng nhọc vì những bộ lư đèn ở ba bàn thờ tổ đều to lớn bề bộn. An cũng xen vào công việc cho vui nhưng chỉ chùi được những cái hộp thau mặt nhẵn. Nắp lư hương có hình con lân con phụng bị chú Ba hắt hủi nhất vì những kẹt khó chùi. Người đầy tớ phải lau dọn săn sóc thật khó có thể đồng quan điểm với người thợ đúc khéo tay và người chủ nhà yêu mỹ thuật. Việc quét nhà cuối năm cũng không kém nặng nhọc. Chú Ba bắc thang leo lên rầm cao, cầm cái chổi có cán dài để quét bụi và mạng nhện ở mái nhà. Chú bịt đầu bằng một cái áo đen cũ. Lúc bước xuống thang, mặt chú mốc thếch vì bụi trông lạ hẳn và như già đi.

Mẹ lo rim mứt. Hết chảo này đến chảo khác, mẹ ngồi trở mứt, mứt bí, mứt gừng, mứt chanh, mứt dừa... mà không hề la mỏi. Có đêm An mơ màng ngủ mà hễ chợt dậy là vẫn thấy mẹ ngồi cạnh chảo mứt cầm đũa đảo qua đảo lại. Tiếng nước đường sóng sánh. Hình như cả đêm mẹ không ngủ. An nghĩ: chỉ có mình là sung sướng nhất, chẳng phải làm gì hết. Thế mà lại được ăn nhiều nhất. Những miếng mứt vụn An ăn từ hồi còn dẻo. Khi mứt khô vớt ra nia phơi thì An vét chảo ăn đường. Chỗ nào có An là có cặp tay phá khuấy và cái miệng ăn không ngớt.

Ngày hăm chín gói bánh tét. Lại cũng chỉ mẹ và chú Ba là bận rộn. Những đòn bánh to bằng bắp vế thế mà cũng do mẹ thoăn thoắt sắp lá, đong nếp, đổ đậu xếp nhân thịt, gói, buộc lạt. Chú Ba ngồi cạnh phụ tay. Cha trông vậy mà cũng dở. Cứ đi lên đi xuống ngó chừng và nói vô ích làm mẹ mất công trả lời. Chẳng hạn:

- Đừng buộc chặt tay quá kẻo bánh không chín đều. Hôm đám giỗ ông nội bánh bị sống...

Cha bỏ lửng câu thì mẹ nói:

- Nhớ rồi.

Chẳng hạn:

- Còn dư nếp đủ gói một đòn nữa. Thế là một, hai, ba, bốn... đúng mười hai đòn cả thảy.

Mẹ nghe cha nói, miệng vừa cắn một đầu sợi lạt một tay cầm đầu kia xiết cho chặt vừa đưa mắt nhìn xuống số đòn bánh tét mà cha vừa đếm. Quả cha đếm không sai, nhưng số bánh không nhờ cha đếm mà tăng thêm. Cha chỉ làm được một việc mà An thích: đó là chôn một cột trụ giữa sân để chong cây đèn gương. Có lẽ cha cũng sẽ sai chú Ba đào lỗ chôn nếu chú Ba không bận tay. Cái đèn hình lục lăng, tối thắp lên sáng cả sân, đứng làm bạn với An khi nó phải trèo lên nằm ngủ trên chiếc ván gõ rộng ở nhà trên.

Những ngày mùa đông, gió mưa lạnh trời tối đen như mực mà một mình nằm ở nhà trên rộng mênh mông thật là cô đơn. Lắm lúc An có cảm giác rờn rợn rằng thân mình đã tan ra để lẫn mất vào bóng đêm. Khổ nhất cho An là khuya chợt thức buồn đi tiểu mà lò mò mãi trong bóng tối không biết cửa ở về phía nào để mở. Trẻ nhỏ nằm ngủ trên bộ ván rộng thì tha hồ mà quay. Đến chừng tỉnh giấc nhắm chừng mò ra cửa nhưng lại cứ đi xông ngược vào bàn thờ. Rờ chỗ nào cũng thấy những bàn những ghế. Sao mà lắm bàn lắm ghế vậy? Đêm nay nằm nhìn ra cửa sổ thấy ánh đèn sáng, An vui quá không muốn ngủ nữa. Ở dưới nhà ngang còn nghe tiếng lục cục của mẹ làm việc. Hồi chiều chú Ba làm thịt một lần hai con gà cồ thiến và ba con vịt. An lẽo đẽo theo đứng một bên để nhìn, An hỏi:

- Sao giết gà vịt một lần nhiều vậy chú?

- Chớ mày muốn để sáng mồng Một sát sinh hả? Làm thịt bữa nay để cúng hai bữa.

An nhìn dòng máu đỏ chảy từ cái vết cắt ở cổ chảy ròng ròng xuống cái bát, nhìn những cặp mắt mở to rồi mờ dần yếu dần cho tới lúc nhắm hẳn. Cái chết đến im lặng, nhẹ nhàng như một trò chơi dễ. An thấy thương hại cho con gà cồ oai vệ, cho con vịt hiền lành. An chép miệng:

- Tội nghiệp mấy con gà, con vịt hở chú? Chú giết nó không sợ nó báo oán sao?

Chú Ba quay phắt lại liền:

- Thằng này dóc tổ. Tao thấy xào nướng bưng lên là mày gắp liền tay. Mày ăn thì nó báo oán mày chớ mắc gì đến tao?

An thấy chú Ba nói cũng có lý nên định bụng thôi lần này không ăn thịt gà thịt vịt nữa. Nhưng ý định đó An quên ngay khi chú Ba rửa ráy xong bưng rổ gà vịt đi mất và nó thẩn thơ đi tìm xem chuyện khác.

Sáng mồng Một tiếng pháo nổ rầm rầm làm An choàng tỉnh dậy. Hỏi chú Ba thì là pháo ở tiệm khách Tụn. Nhìn vào bàn thờ thấy đèn sáp thắp sáng trưng và cha đã khoác áo chỉnh tề đứng khấn rì rầm. Trông cha uy nghiêm thật phù hợp với cái không khí nghiêm trang nơi đây. Để tăng thêm vẻ đường bệ, mọi cử chỉ của cha đều chậm chạp: rót rượu, châm nước, đốt hương, sửa nến. Cha đọc từng hàng chữ nho: "Đại Nam quốc, Phú Yên tỉnh, Tuy An phủ, An Sơn tổng..." chú Ba đem pháo tre ra đốt. Chú thích pháo nhưng nhát không dám cầm cây hương đốt mà phải cầm một thanh củi dài có đầu lửa đỏ. Mười tiếng nổ đùng liên tiếp, tiếng nào tiếng nấy bưng tai. Mẹ nói:

- Pháo năm nay hay.

An ngạc nhiên. Trông bộ mẹ lục đục suốt ngày như chỉ biết chú ý đến công việc làm thế mà không ngờ mẹ cũng lưu ý đến tiếng pháo vui chơi. Cha tươi cười vì câu nói của mẹ ngầm ý bảo: năm nay làm ăn có hy vọng khá vì pháo nổ chắc tiếng. Cả thôn Quảng Đức chỉ có chú khách Tụn đốt pháo dây còn thì các nhà khác chỉ đốt pháo tre, có nhà mươi tiếng, có nhà ba tiếng, năm tiếng.

Vừa bảnh mắt đã có mấy tay cầm cái xóc dĩa chia nhau từng chặng trải chiếu trên con đường xóm. Lũ trẻ con bâu quanh liền. Chú Ba bôn chôn ra mặt khi nghe tiếng bốn đồng tiền rủng rẻng của hàng xóc dĩa tổ chức ngay ở góc rào nhà. Chú ham đánh xóc dĩa và ích-xì hơn ăn mứt ăn bánh. Chú cứ đi ra đi vô như người mất hồn. Khổ cho chú hơn nữa là ở ngoài góc rào tiếng lũ nhỏ cứ reo lên :

- Bán chẵn này.

- Lạy trời ra cái lẻ nữa đi.

- Đặt bên chẵn một tiền rưỡi.

- Lẻ! Lẻ! Coi chừng nhà cái chạy làng.

Đường cái vang lên tiếng guốc. Nghe tiếng guốc có thể đoán biết được người mang. Tiếng guốc lỏng cỏng gõ vội vàng là tiếng chân của một đứa bé mới tập đi guốc lần đầu. Tiếng guốc chậm chạp thỉnh thoàng dừng lại là tiếng guốc của người mẹ, người chị đi kèm lũ trẻ. Tiếng gõ chắc chắn nện mạnh trên nền sỏi là tiếng guốc của người đàn ông. Con đường sỏi đá gập gềnh làm nhiều đứa nhỏ đi trượt guốc cứ phải tụt lại đằng sau đứng sửa. Lắm đứa đã chán với cái trò chơi đi guốc rồi nên cặp guốc lại cầm ở tay và đi chân đất như thường ngày. Lối đi này thoải mái dễ chịu hơn cả.

Đường cái rộn rịp nhưng nhà cửa thì vắng vì cửa ngõ cửa ra vào nhà ai cũng đóng im ỉm hoặc mở he hé. Xóm làng thành ra mang một vẻ uể oải giả dối. Vì ở đằng sau cánh cửa đóng là cả một sự hoạt động rộn rịp.

Gần trưa, cha An tiếp những ông khách lễ mễ trịnh trọng trong những cái áo dài đen và cái quần trắng. Những ông nhà nông mà thường ngày mặt mày không lúc nào khỏi đầy bụi bặm, râu ria tua tủa, áo vải to dày cộm thấm đầy mồ hôi, hôm nay mặc áo quần mới trông trẻ và đẹp ra. Nhưng An không thích nghe tiếng chân ghế kéo chạm vào mặt đất khi khách sắp ngồi và khi khách đứng dậy sửa soạn ra về. Những câu chuyện trao đổi giữa cha mẹ và các người khách cũng vậy. Toàn nói những thứ gì An không hiểu, thế mà họ cũng cười với nhau một cách thích thú thành thật. Những lúc này An tỉ tê theo gợi chuyện với chú Ba. Những điều An hỏi, chú Ba đều trả lời được hết:

- Sao đánh xóc dĩa, chị Lượm đặt tiền lại quay thành một vòng ở dưới chiếu hở chú? Sao không đặt một ụ như người ta?

- Hễ nó ngồi bên phía chiếu lẻ mà nó muốn đặt chẵn thì nó đặt tiền quay thành một vòng. Nếu nó để thành ụ, thành đống thì tức là nó đánh lẻ.

- Sao chị ấy không đặt sang bên chiếu chẵn cho nó tiện?

- Tại ngồi xa nó với tay không tới.

- Họ chúc Tết "bách niên dai lão" là sao hở chú?

Chú Ba vừa nhai miếng cốm vừa nói:

- "Dai" lão là sống dai.

An hết thắc mắc, vói tay vào dĩa lấy một miếng cốm ăn theo chú. Đây là phần bánh mứt mẹ sớt vào một dĩa lớn dành cho chú. Trong số những vò, hũ, chum... bỏ trống ở nhà bếp, chú chọn một cái vò để cất dĩa bánh mứt vào đó. Khi đi chơi về, hoặc vào trưa, hoặc lúc khuya, chú mở vò bưng dĩa ra lấy ăn. An chia phần với chú và ăn thấy ngon hơn là khi ăn chung với cha mẹ.

Ngày mồng Hai cha nói:

- An có muốn theo cha xuống núi Một thăm ông Cửu Nghiệp không?

An mừng quýnh trả lời vội vàng:

- Có.

Ông Cửu Nghiệp giàu nhất vùng và nhà ông xây hai từng. Suốt một phủ Tuy An chỉ có bà Cửu Phần và ông Cửu Nghiệp là ở nhà lầu mà thôi. Ông là chỗ bạn thân của cha nên mỗi khi đi ra tỉnh tiện đường ông đều ghé nhà. Cha tiếp ở nhà trên, ngay gian giữa. Hôm nay theo cha, An mặc áo dài đen cẩm nhung. Sự trịnh trọng này do một ngẫu nhiên may mắn mà có được. Số là xấp hàng cẩm nhung cha đưa may cắt thế nào mà rốt cuộc còn dư lỡ cỡ một đoạn. Tính toán đủ lối vẫn không có cách nào dùng được cả nên cuối cùng mẹ đề nghị: để may cho thằng An cái áo dài. Đó là cái áo dài đầu tiên của nó. Bước ra đường, An được lũ trẻ trầm trồ nhìn. Hơi ngượng một chút nhưng mà thầm thích thú. Con đường hôm nay không chỉ có những người đi rong chơi mà còn có nhiều người đi làm ruộng. Người ta đã cởi bỏ bộ quần áo mới như còn nuối tiếc nên vẫn cố giữ hoặc một cái quần hoặc một cái áo vải mới. Thân người nửa mới nửa cũ hóa ra màu cũ trông tàn tạ thêm. Cày cuốc ngự trên vai.

Đi qua khỏi xóm thì tới cánh đồng Hòa Mai. Ruộng đang mùa cày bừa trông thấp hẳn xuống. Vài đám mới cấy, bụi lúa cắm như chân hương vàng vọt. An thường quen mắt với đồng lúa mướt màu xanh, lá lúa gợn sóng hoặc cánh đồng lúa chín vàng hạt lúa nặng làm gục đầu thân lúa nên trông cánh đồng hôm nay có vẻ trần truồng. Con đường ruộng, từng chặng, nhầy nhụa những khối bùn do các cô thợ cấy ném lên khiến An phải đi rón rén cẩn thận. Đưa mắt nhìn quanh sang các xóm làng bao quanh cánh đồng, An thấy chỗ này chỗ kia có từng đoàn người đi, màu áo đen trên điểm nón trắng. Thỉnh thoảng nhô lên cái ô đen. Nó lẩm nhẩm lẫn lộn không biết đó là Hòa Tú hay Hòa Chiểu, phía kia là Hà Yến hay Trường Xuân. Cha chỉ một xóm trước mặt, nói:

- Núi Một kìa.

Đó là ngọn núi thấp nằm dài, mình mang đầy cây cối xanh um. Dưới chân núi các nông trại chia nằm rải rác từng nhóm. Theo tay cha chỉ, An chú ý nhìn vào khu vườn nhà ông Cửu Nghiệp xanh um màu tàu chuối tàu cau. Thân cau trắng mốc đứng vươn lên thành hàng song song. Nỗi vui được thấy cảnh lạ làm An quên nghĩ đến con đường còn lại phải đi. Thoáng mới đó mà đã giã từ con đường ruộng để bước lên con đường đá đánh vòng đai núi Một. Những bụi gai thấp, những chùm táo nhơn thưa, những thân chuối rậm rạp xanh mướt trông quen thuộc.

Bước vào vườn chuối, An thấy êm mát vì ánh sáng lọc qua lá chuối non đổ xuống xanh xanh. Thân chuối bụ bẫm đứng cao vút như muốn vượt theo thân cau. Ở vườn nhà, chuối thấp hơn và thân cau cũng gầy hơn. An nghĩ thầm: "Cái gì của ông Cửu Nghiệp cũng oai". Những cây mít mang trên mình đầy trái. Trái lớn quây quần dưới gốc còn rải rác trên thân cây là những trái hạng vừa nằm thưỡn dài trông như những cái vú chảy. Bưởi cam cũng không thiếu. An thèm thuồng cái địa vị của người con ông Cửu Nghiệp được sống giữa những món ăn ngon này. Sao ở nhà nó lại chỉ có toàn những lúa và nếp thế? Có lần nó thỏ thẻ so bì với mẹ:

- Nhà con Bông làm kẹo nên nó sướng hơn con. Kẹo bể là nó ăn. Véo chỗ kẹo dẻo nào cũng bỏ vào miệng được. Nhà mình thì chỉ toàn lúa nếp. Lúa ăn không ngon. Sao mẹ không làm nghề kẹo có sướng hơn không.

Mẹ cười mà không trả lời.

Tiếng chó sủa ồ ồ làm An giật mình. Tiếp theo, tiếng sang sảng vang trong nhà:

- Có đứa nào ra coi chó, bay.

Đúng là tiếng của ông Cửu Nghiệp, giọng chậm rải của người giàu không cần vội vàng. Người ở là một anh lực điền ra mở cổng. Ba con chó cao to như ba con bê nhảy xồ ra khiến An bấu vào áo cha. Cha vẫn đứng yên nhìn vào anh lực điền đang lấy tay gãi sau ót lí nhí thưa:

- Dạ thưa thầy xuống dưới này.

- Ờ! Có ông Cửu ở nhà không?

- Dạ có.

Cha ung dung bước vào khiến ba con chó đứng dạt ra. An bước theo, lây cái can đảm của cha. Ông Cửu Nghiệp ra đứng trước hiên vái chào. Ông đội khăn nhiễu đen, mặc áo xa-tanh màu lam dệt bông to, chân đi giày Gia Định. Cha cúi xuống chắp tay vái trả lại. Ông Cửu quay lại xoa đầu An và nói:

- Con đi xa có mỏi chân không? Để bác mừng tuổi cho con.

Ông móc túi lấy một cắc bạc trắng tinh đặt vào lòng bàn tay An. An lúng túng không biết nên làm sao. Chợt nhớ tới cha và ông Cửu chào nhau lúc nãy, nó chắp tay cúi xuống vái. Lát sau khi đã bình tĩnh lại nó thấy ngượng vì cái vái vô duyên. Đáng lẽ phải nói "Con cám ơn bác".

Cha và ông Cửu ngồi ở một cái bàn tròn trên xếp đầy những đồ dùng mà thoáng nhìn An đoán là rất quí, rất đắt tiền. Bộ bình trà có chạm rồng nổi mạ vàng. Ve rượu bằng thủy tinh trong suốt có một cái bầu rất thon và cái vòi nhỏ uốn cong dịu dàng. Ly rượu toàn viền vàng. Cái điếu thuốc lào khảm xà cừ với cần trúc uốn dài cong vút. Hộp trầu, khay kỷ, dĩa bánh mứt, tất cả đều choáng lộn hoặc màu xanh đỏ óng ánh xà cừ hoặc màu vàng quí phái hoặc màu trắng muốt nõn nà. An ngồi ở cái trường kỷ tay mân mê những chỗ chạm trổ hình rồng hình phụng. Quả hồng tàu ông Cửu cho, nó nắm mà không ăn. Nó cứ đưa mắt nhìn cái nhà rộng thênh thang với cái trần cao trong bày biện toàn những đôn, lọ, sạp, ghế. Nó nhìn lại ông Cửu thấy ông bé quá so với cái nhà. Để che nắng che mưa chắc chắn ông Cửu không cần một cái nhà to như vậy. Nó chợt thấy khâm phục con người nhỏ nhắn mà có thể tạo tác ra một công trình to lớn dường ấy. Ở đằng bàn tròn, ông Cửu và cha chuyện trò tương đắc. Khói thuốc tỏa ra bao vây chỗ hai người khiến trông họ như ngồi sau đám sương mờ mờ đục.

Khi cha đứng dậy cáo từ, ông Cửu nài ở lại nhưng cha lấy cớ ngày Tết có khách đợi ở nhà nên không chịu. An lãnh thêm hai trái cam ông Cửu cho, cúi đầu chào và theo bén gót cha. Ông Cửu đi tiễn đến mãi đầu đường mới trở lại. Khi còn lại hai cha con, An nói:

- Cha hẹn cho con coi lầu ông Cửu Nghiệp mà con không thấy lầu đâu cả.

- Thì nhà lầu đó.

- Nhà lầu gì vậy? Phải leo lên trên lầu mới gọi là lầu.

- À quên! Tao tưởng mày biết rồi. Nhưng mà... cũng vậy đó thôi, cũng như hai cái nhà chồng lên nhau.

Về đến nhà đôi chân An mỏi nhừ. Tuy vậy nằm nghỉ một lát rồi An lại nhập bọn với lũ trẻ và như thế là ngày mồng Hai nhẹ nhàng trôi qua. Mồng Ba cũng vậy. Ngày mồng Bốn cúng tiễn ông bà. Giấy tiền, giấy vàng bạc chất đầy nia to, chú Ba vừa đốt vừa nheo mắt tránh khói khiến cái miệng méo xệch. Chú lấy một xấp giấy vàng bạc phết hồ lên lưng từng tờ đem dán vào cái cối xay, cái cối giã, mấy cái chày, cái thúng, cái giếng, cái ngõ, cây mít... không biết có qui chế nào ghi rõ món nào phải dán không nhưng cứ xem vẻ mặt của chú khi cầm tờ giấy vàng bạc dính đầy hồ đứng lưỡng lự trước chuồng heo và cây ổi là An đâm nghi. Hình như chú phải kiếm cho ra món để dán kỳ hết xấp giấy vàng bạc. Được tờ giấy vàng bạc dán lên mình, mấy đồ vật tầm thường như có thêm linh hồn và đang dự vào một cuộc sống huyền bí. Trong lễ cúng tiễn, bao nhiêu pháo còn lại đều đốt hết. Bảy, tám đòn bánh tét cũng đem chất đầy ghế. An nhìn ánh lửa thiêu vàng mà bùi ngùi. Phải một năm sau mới gặp trở lại, một năm trọn vẹn vì cuộc hành trình mới vừa khởi đầu. An thấy buồn chán nản.

Tuy vậy, tháng ngày cứ nhẫn nại và lặng lẽ đi qua, như một lũ nhỏ cầm tay nhau đi vòng, đi mãi rồi thế nào cũng gặp lại chỗ cũ. An lớn lên dần và cái thôn Quảng Đức cũng già nua dần đi. Những ngày Tết nối tiếp nhau theo cái tốc độ chậm chạp của nó nhưng khi ngoái nhìn trở lại trong dĩ vãng, tính nhẩm số tuổi thì An lại thấy chúng đi mau. Mỗi lần Tết đến hoa cúc vạn thọ lại nở trước sân nhà, tiếng đồng tiền xóc dĩa lại rủng rẻng khắp ngõ xóm. Ngồi lần lại ký ức, An thấy yêu mến hết sức cái Tết năm đó An theo cha xuống thăm nhà ông Cửu Nghiệp. Ông Cửu Nghiệp là hình ảnh của sự sung túc, của cuộc đời an nhàn lý tưởng trong những ngày bé thơ của An. Sau đó chừng mười năm khi An lớn lên và phải đi học xa. An sống xa dần cái khung cảnh êm đềm ngày xưa và những người quen thuộc cũ. Một lần đột nhiên hỏi về ông Cửu Nghiệp, An nghe cha nói một cách bùi ngùi:

- Ông Cửu về ở trên Đồng Tranh từ năm kia. Nghe nói bây giờ túng lắm. Bà Cửu phải làm hàng xáo.

An tự xét:

- Ông Cửu giàu như vậy mà sao lại nghèo mau vậy?

- Vì mấy vụ kiện vẩn vơ, chuyện tranh giành ruộng hương hỏa tuyệt tự đáng lẽ có thể thu xếp ổn thỏa nhưng vì tức khí lại bị hương lý và lũ nha lại xui nguyên giục bị nên cứ theo kiện mà sạt nghiệp.

- Còn cái nhà lầu?

- Sở vườn đem thục để chạy kiện rồi đoạn mãi luôn. Cái nhà lầu bán cho chú khách Lê ở Hàng Dao. Ông Cửu phải về ở trên Đồng Tranh là quê của bà Cửu.

An buồn như nghe tin chẳng lành xảy đến cho người thân thích của mình.

Ngày chiến tranh bùng nổ, cái nhà lầu của ông Cửu Nghiệp bị phá hoại. Vôi gạch đổ xuống từng đống. Nền xi măng chú khách Lê cho người ta gặt nhờ để đạp lúa. Mỗi ngày gặt, được một giạ lúa cho thuê sân. An ngậm ngùi nhìn cái di tích của thời ấu thơ êm đềm nay không còn nữa, có còn chăng cũng chỉ ở trong cái ký ức bề bộn của chàng thôi. Lâu lâu khi có dịp, An ra đầu xóm đứng nhìn về chân núi Một. Chòm lá chuối lá cau xanh ngắt của vườn ông Cửu Nghiệp còn đó. Những thân cau vẫn một màu trắng mốc đứng vươn lên từng hàng song song. An tưởng tượng thấy ở nơi cái vườn sum sê hoa lá ấy những con chim sẻ vẫn say mê mổ thóc rụng, những con chích chòe vẫn nhí nhảnh chuyền trên cành lá lục lọi tìm sâu, những con chiền chiện vẫn mải miết tước lá cau lấy sợi về làm tổ. Ở dưới các con mương nhỏ mọc đầy khoai môn khoai sáp, lũ cá sặt cá rô vẫn tinh nghịch đớp mồi và lũ châu chấu cào cào vẫn xòe cánh mỏng màu lúa non mà bay sè sè trong nắng. Sự sinh hoạt của cảnh vật vẫn bình thản êm đềm, nhưng còn đâu nữa ông Cửu hào hoa và ngôi nhà lộng lẫy?

 
VÕ HỒNG      
 
(Trích từ tập truyện Lá Vẫn Xanh) 

 

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

DUYÊN ANH MỪNG TUỔI - Duyên Anh


 
 
 
 
 
 
 
 
Mừng em đôi gà nhỏ
Mừng thêm gạo thêm ngô
Thêm chiếc lồng tre nữa
Cho em đầy giấc mơ
 
Mùa xuân vườn tươi mát
Em thả gà rong chơi
Canh lũ diều hâu ác
Ghen ghét trẻ thơ cười 
 
Mùa hè đôi gà lớn
Con trống tập làm trai
Con mái tơ mơn mởn
Gại mỏ tỏ tình ngây
 
Bấy giờ chúng yêu nhau
Quên cả trời lẫn đất 
Và loài cáo hang sâu
Đang bày mưu rình bắt
 
Hãy từng đêm mở mắt
Nhân danh em tuổi hoa
Đóng vai người lính gác
Hạnh phúc của đôi gà
 
Mùa thu thơm gió mới
Con mái nằm ổ rơm
Em bình yên chờ đợi
Tiếng líp nhíp gà con
 
Trái mơ em đã nở
Đàn gà đẹp như tranh
Này con chồng con vợ
Này con út con anh
 
Em ạ anh quá già
Nửa cuộc đời trôi giạt
Không nuôi nổi đôi gà
Nói chi những chuyện khác
 
Em còn xanh mộng ước
Em còn thắm xuân hồng
Vươn tay em nắm được
Những gì anh uổng công
 
Anh sên già lùi bước
Mừng tuổi em đôi gà
Mừng em phơi hạnh phúc
Dưới nắng ấm quê nhà
 
                                (1-1974) 
 
(Trích từ giai phẩm Tuổi Ngọc Xuân Hồng, 1974)
 

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

ĐI DƯỚI BÓNG LÁ - Võ Hồng


Tôi ngồi chồm ra đằng trước, bảo người tài xế:
 
- Ông cho xe chạy chậm lại. Rất chậm.
 
- Đoạn đường này tốt mà - người tài xế nói - Không có nguy hiểm gì đâu.
 
- Tôi biết, nhưng tôi muốn được nhìn phong cảnh một chút.
 
- Cảnh này cũng thường thôi. Cũng ruộng, cũng tre, cũng núi.
 
Tôi muốn nói "nhưng đó là quê hương của tôi". Nhưng tôi không nói được. Chữ "quê hương" chỉ mới nghĩ đến đã làm xốn xang nơi hai khóe mắt tôi.
 
Quê hương của tôi đó thật. Ở phía bên kia quốc lộ, cách quốc lộ chừng một cây số. Tôi biết rõ con đường sẽ dẫn đến đó bằng cách nào. Nó xổ xuống một con dốc nhỏ, nó uốn lượn theo một đám ruộng, nó bò men theo những đám đất thổ. Bên tay mặt là hàng tre, hàng tre kéo dài, hàng tre bịt kín, làm ranh giới cho con đường, tỏa bóng mát âm u xuống con đường. Từng chặng, hàng tre bị đục thủng để một con lộ nhỏ chạy qua, chạy dẫn vào một khu vườn, chạy vào một ngôi nhà. Tôi sẽ đi tới cái quán Cây Keo, đi qua cái lẫm Thiện Đức, đi trờ tới cái bến sông có bãi cát vàng phẳng lì. Bên kia bờ sông là nhà tôi, nhà của ông bà tôi.
 
Tôi chỉ đi tới bằng trí tưởng tượng. Bởi vì chỉ cách một cây số mà ngôi nhà tôi nằm ở vùng mất an ninh.
 
Xe chạy chậm nên tiếng nổ nghe nặng. Mùi xăng nồng nàn. Tôi dõi mắt nhìn qua cửa xe. Dãy núi A Man chạy dài ở sau nhà tôi lưa thưa cây thấp. Những ngày chiến tranh rộn rịp, quân đội bắt chặt bỏ hết những lùm cây lớn. Đầu núi A Man ngày xưa có những tảng đá thật lớn màu nâu non và màu vàng nhạt đứng sừng sững, chồng chất lên nhau, ở cách xa hơn mười cây số vẫn ngó thấy rõ. Người xóm tôi gọi là Đá Tượng. Dưới chân Đá Tượng có một khu rừng rậm toàn những cây cao, bao trùm một khoảng rộng chừng hai sào. Hôm nay thì khu rừng rậm đó đã bị chặt sạch. Những hòn Đá Tượng cũng đã bị tiêu diệt mất tích. Tôi nhìn ngọn núi của mình mà tưởng núi của ai đâu. Chiến tranh đã hủy diệt đến cả những tảng đá trên chỏm cao.
 
Xe chầm chậm lướt qua cầu Ng... S... Dòng sông rộng làm cho khung cảnh khoáng đạt. Qua lùm cây xanh, mắt tôi nhìn thấy ẩn hiện bức tường trắng của ngôi nhà tôi. Kia kìa là cái bến sông. Những ngày nhỏ, ông tôi hay dắt tôi ra đứng đó, cho tôi dầm chân dưới nước rồi chỉ cho tôi xem cái cầu dài, vừa nói:
 
- Hồi xưa ba mày còn nhỏ, ông cũng dắt xuống đứng chỗ này và chỉ cho ba mày coi cây cầu.
 
- Ba con có được dầm chân xuống nước như thế này không?
 
- Không. Ông không cho đứng dưới nước.
 
- Thế sao bây giờ ông cho con đứng?
 
- Ờ... ờ...
 
Ông tôi không giải thích được và tôi cũng không nài nghe lời giải thích. Bây giờ đây ngồi nhớ lại, tôi nghĩ rằng có lẽ tại vì ông chiều ý tôi hơn là chiều ý ba tôi. Khi cầm dắt tay ba tôi thì ông hãy còn trẻ, khi cầm dắt tay tôi thì ông đã già hơn bảy mươi tuổi rồi. Tấm lòng của mọi người già đều chùng xuống, dễ dãi.
 
Tôi nói:
 
- Nếu ba thấy ông dắt con đứng dưới nước, chắc là ba la con.
 
- Ờ.
 
- Ông có sợ ba la không?
 
Giọng ông tôi chậm rãi: 
 
- Mắc mớ gì sợ?
 
Ông tôi có một lối đáp lững đững như vậy.
 
Ông dắt tôi đi chầm chậm giữa khu vườn um tùm những thân cây chuối, cây cau, cây cam, cây xoài... lá xanh lọc ánh sáng làm màu áo của tôi cũng xanh theo. Tôi hỏi:
 
- Ông trồng những cây chuối hay ba trồng?
 
- Ông trồng.
 
- Một mình ông mà trồng được nhiều cây vậy?
 
- Ông thuê tá điền tới trồng.
 
- Tá điền là cái gì?
 
- Đó là những người làm rẽ ruộng cho mình.
 
- Ruộng cũng giống như những cây chuối hở ông?
 
Ông tôi cười ngon lành:
 
- Nói bậy. Nói bậy. Ruộng là chỗ người ta cấy lúa. Có bùn, có đỉa.
 
Câu trả lời lởm chởm những cái khó hiểu. Cấy? Lúa? Bùn? Đỉa? Tôi không biết đó là những cái gì. Nhưng tôi không dám hỏi, sợ ông tôi lại cười.
 
Chúng tôi lại chầm chậm bước đi bên nhau. Những tàu lá chuối khô làm vướng bước chân, lôi kéo trì tay ông lại và ông cúi xuống nhặt tàu lá chuối, bẻ gấp làm đôi làm ba ném vào thân cây chuối. Thỉnh thoảng lại gặp cái gai tre nhọn hoắt nằm chỉa lên đe dọa khiến tôi không dám bước tới. Tức thì ông tôi lại cúi xuống, nhón cái gai tre ném vào bụi tre. Ông nói:
 
- Cứ bước tới đi chớ!
 
- Con sợ nó đâm vô chân.
 
- Có mang giày mà.
 
- Nó đâm lủng luôn đế giày.
 
- Ờ.
 
Chúng tôi đi dưới tàng một cây khế lớn. Những trái khế chín vàng rung rinh theo cơn gió nhẹ. Tôi nói:
 
- Ông hái cho con trái khế kia.
 
- Chi?
 
- Con ăn.
 
- Không được. Ăn đau bụng.
 
- Ở thành phố con cũng được ăn khế mà. Chị bếp mua khế dưới chợ về ăn.
 
- Về thành phố hãy ăn. Ở đây không được ăn.
 
- Sao vậy?
 
- Ăn rồi đau bụng, ba con la.
 
- Vậy là ông cũng sợ ba con la đó.
 
Ông tôi quay nhìn tôi:
 
- Mắc mớ gì mà sợ?
 
Năm 1968 ông tôi từ trần sau một cơn bệnh dài. Ông nằm dưới một ngôi mộ nơi chân núi A Man. Tôi lớn lên không còn được ông dắt tay đi thẩn thơ giữa khu vườn xanh um cây lá nữa.
 
Ông tôi vừa mất thì chiến tranh ùn ùn xảy tới, xóm tôi mất an ninh, mọi người ồ ạt chạy loạn. Bà tôi vào thành phố ở với chúng tôi. Bà tôi dịu dàng, mua cho tôi những miếng mít, những trái dưa, những cái bánh ngọt... nhưng tôi vẫn thương vẫn thích sự săn sóc vụng về của ông tôi hơn. Bà tôi nói năng mạch lạc, dẫn giải rạch ròi nhưng sao tôi vẫn âm thầm nhớ nhung lối trả lời lủng củng của ông tôi. Có cái gì rộng lượng bao dung trong những sơ sót của ông khiến tôi thích thú coi ông như một người bạn.
 
Về ở thành phố nhưng bà tôi chỉ ngóng về quê cũ. Hễ có dịp là bà nhắc đến nó:
 
- A! Sắn nước! Ở trong này mà sắn nước cũng lớn củ dữ quá há? Nhưng chắc không ngọt bằng sắn nước ở ngoài mình. Ờ, tháng Mười rồi. Không biết mấy đám rẫy ở Phường Lụa năm nay có ai trồng sắn nước không?
 
Tôi đã thấy những đám rẫy sắn đó. Chúng nằm ở triền núi, nằm thoai thoải bám vào da núi. Người ta đánh đất thành vồng, bón phân rồi gieo hột sắn nước. Khi lá sắn nứt xanh um, những miếng rẫy như được gạch những đường kẽ dọc màu xanh đều đặn. Một sườn núi như vậy được chia ra thành từng đám rẫy, phân cách nhau bởi một ranh giới bằng những bụi cây xanh, gạch đều đặn bằng những đường thẳng màu xanh. Nhiều sườn núi nối tiếp nhau trên một quãng dài ba bốn cây số thì quang cảnh không thể là không đẹp.
 
Ba tôi thường đợi dịp bà tôi nhắc nhở quá khứ như vậy để góp lời chuyện trò.
 
- Hồi nhỏ không biết sao đứa nào cũng ham ăn sắn nước - lời ba tôi - Cứ mỗi buổi chiều chuyến đò nào đi từ Phường Lụa sang Lò Gốm cũng chất đầy gánh sắn nước.
 
- Chớ sao? Gánh tuốt xuống chợ Xổm, dưới Hàng Dao, dưới nhà thờ Mằng Lăng, dưới Hội Tín mà bán.
 
- Gánh sắn nước đến bến đò, họ gánh thẳng đặt xuống nước, dội cho sạch đất. Củ sắn trở nên trắng trẻo, mơn mởn.
 
- Cũng nhờ cái bến đò...
 
Khi câu chuyện bắt đầu nhạt, ba tôi quay sang tôi:
 
- Trồng sắn nước phải qua hai giai đoạn. Đem củ trồng xuống, củ sinh ra một dây đậu có hột. Đem hột đậu đã khô trồng xuống, hột sinh ra củ sắn nước.
 
Lần đầu tiên tôi được biết một lối sinh sản kỳ diệu và bất thường như vậy. Phải bao nhiêu khó khăn mới thành một củ sắn nước dòn tan và ngọt mát dưới răng.
 
Ba tôi tiếp:
 
- Quê mình kêu là củ sắn nước, ngoài Bắc gọi là củ đậu.
 
Tôi so sánh hai chữ củ sắn nướccủ đậu. Tôi thấy thương cho cái tên củ sắn nước. Nó quê mùa, chuyền trên miệng những người lam lũ chất phác của quê tôi, từ thế hệ này chuyển giao qua thế hệ sau. Nó hiện diện một cách vững chắc, bất chấp qui luật ngữ pháp hay văn phạm. Nó mang cá tính của một miền nên nghe nó người ta hình dung đến một miền. Một miền với đầy đủ Quá khứ, Hiện tai và Tương lai.
 
Mỗi lần Tết đến, bà tôi hay mua những chậu cúc vạn thọ bày ở trước sân. Tôi hỏi:
 
- Sao bà không mua bông hoa khác đẹp hơn lại mua chi cúc vạn thọ?
 
- Uở, hễ Tết thì phải có bông vạn thọ chớ.
 
Bà tôi lại phải nhẫn nại giải thích:
 
- Người ta thường trồng vạn thọ vào dịp Tết vì nó dễ trồng, nở nhiều hoa và màu hoa đậm đà. Thêm một lẽ là vì tên nó là Vạn Thọ, có nghĩa là chúc sống lâu.
 
Sau này khi lên Trung học, trong một bài giảng văn tôi nghe có tên cây Tang cây Tử, chắc chẳng ai dám trồng trong sân nhà. Vừa để tang, vừa chết, cố nhiên là hiểu theo nghĩa đồng âm, thì quá chu đáo trong việc gợi ý bi thảm. Tôi nghĩ mông lung đến việc đặt tên những giống thảo mộc. Giá có đầu óc lý tài một chút các nhà vườn đã không đặt tên hoa mõm sói mà đặt là hoa Ngũ Phúc chẳng hạn, thay tên hoa loa kèn bằng hoa Tam Đa chẳng hạn, hoa rẽ quạt bằng hoa Song Hỉ chẳng hạn. Sự tiêu thụ sẽ ồ ạt biết bao vào dịp Tết.
 
Thỉnh thoảng những người cùng quê cùng chạy giặc ghé lại thăm bà tôi. Những lúc đó bà tôi lấy lại được giọng nói ung dung chậm rãi của những ngày huy hoàng cũ, khi lúa nếp ngoài đồng chảy thành suối vào kho nếp lẫm lúa. Bà tôi tiếp họ nơi phòng khách với cả ống nhổ và cái cối giã trầu bằng đồng. Những người khách đó uống trà và uống xong cứ đổ hắt phần nước trà còn lại xuống mặt gạch y như "hồi còn ở ngoài quê". Bao giờ cũng vậy, sau khi khách ra về, chị ở phải lo lau chùi những mảnh nước trà đóng khô màu nâu. Ba tôi dặn không ai trong nhà được tỏ ý khó chịu với cái cử chỉ đổ hắt nước trà đó. Ba tôi nói:
 
- Cứ để bà con thoải mái tự nhiên. Hãy cố gắng cắt y nguyên cái mảnh sinh hoạt ngoài quê đem lắp vào nơi này. Đừng tưởng bộ ghế xa lông, cái quạt trần và cái tù búp-phê làm họ thích thú. Mà họ thích được ngồi xếp chân trên bộ ván có ấm nước bằng đất sét nung ngồi gọn trong một cái giỏ bằng tre đan. Và thoảng qua cửa sổ là mùi thơm của hoa cau và tiếng chim se sẻ.
 
Bà tôi đau yếu trong những năm cao tuổi. Bà khẩn khoản nói với ba tôi:
 
- Để tao về ngoài đó.
 
- Đâu có được? Ngoài đó tản cư hết.
 
- Tao xuống ở dưới chùa Châu Lâm. Tao ở với bà cô trụ trì.
 
- Nhưng tuổi già đau yếu không có ai săn sóc.
 
- Có bà cô.
 
- Ăn uống, giặt giũ, thuốc men, hầu hạ... chẳng bà cô nào lo nổi đâu. 
 
Bà tôi ngồi ứa nước mắt vì đuối lý. Bà nói nhỏ với tôi:
 
- Ông chết chôn ngoài đó nên bà cũng muốn về ngoài đó mà chết. Để được chôn gần ông.
 
Tôi không biết nên trả lời sao. Đành chỉ vuốt ve mái tóc bạc của bà mà nói:
 
- Bà ở đây để ba con săn sóc thuốc men. Ở ngoài đó đâu có thầy thuốc? Thầy thuốc cũng chạy đi tản cư hết.
 
Bà tôi lấy khăn lau nước mắt:
 
- Cũng có chớ. Họ tản cư vô Chí Thạnh. Cũng còn tiệm thuốc Bắc nơi Chí Thạnh.
 
- Nhưng ai đi mời thầy thuốc và đi bổ thuốc cho bà? Ở đây có bác sĩ kề bên và tiệm thuốc Tây kề bên. Uống thuốc Bắc thì có ông thầy Nguyễn Học Sanh cũng ở kề bên.
 
Bà tôi im lặng.
 
Một hôm bà gọi ba tôi lại:
 
- Tao chịu ở trong này nhưng khi trăm tuổi rồi thì tụi bay phải chở về chôn gần bên mộ ông.
 
Ba tôi ngần ngừ:
 
- Nếu tình hình yên ổn thì điều đó không khó. Chỉ sợ chiến tranh kiểu này thì không biết chừng nào yên.
 
Tình thế không yên đúng như lời ba tôi tiên đoán. Xe cộ di chuyển trên đoạn quốc lộ đi ngang qua quận Tuy An bị phục kích thường xuyên. Kể cả xe Lam. Bà tôi từ trần vào giai đoạn sôi động nhất nên không ai thắc mắc về chuyện có nên đưa linh cữu của bà tôi về quê chôn cất hay không. Mọi người an lòng để bà tôi nằm ở nghĩa trang phố, dưới chân một ngọn núi không phải là ngọn núi A Man. Thoát ra sự ràng buộc của xác thân, chắc linh hồn của ông tôi và bà tôi có thể gặp gỡ nhau dễ dàng, thường xuyên, bất chấp những qui luật thiên nhiên và xã hội.
 
Như vậy là tôi bị dứt hết những ràng buộc với quê hương tôi, ngoại trừ ngôi nhà bị tàn phế, khu vườn bỏ hoang và những kỷ niệm. Ngồi trong chiếc xe lao đi vun vút, tôi cảm thấy mình nghèo nàn đến cùng cực, bơ vơ đến buốt nhức. Giữa lúc đó tôi mới nhận chân sâu xa rằng quê hương là cái gia tài của mỗi con người, mọi người được bình đẳng trong sự thụ hưởng cái gia tài ấy. 
 
Buổi chiều tôi trở lại thành phố kể lại cho ba tôi nghe cuộc viếng thăm bất ngờ. Ba tôi ngồi im lặng châm liên tiếp hai điếu thuốc lá. Khi tôi dứt lời, ba tôi nói:
 
- Ba biết tình trạng của ngôi nhà mình. Những cánh cửa bị tháo gỡ trước. Những cây đòn tay, những cây kèo và rui mè bị gỡ tiếp theo. Sau đó họ cạy những tấm ván lót rầm. Cuối cùng là cạy các khung cửa.
 
Ba tôi ngưng lại một lát.
 
- Hiện giờ cây táo nhơn mọc đầy sân, sân trước và sân sau. Nhiều cây vông đồng cũng thi đua nhau mọc.
 
- Còn những cây chuối cây cam dưới vườn?
 
- Quân đội đã khai quang.
 
- Những bụi tre?
 
- Thân tre thì chặt để rào ấp chiến lược. Gốc tre thì dân chúng lắc đem về đun bếp. Điều đáng phiền muộn là thiếu những bụi tre rễ tre đó, nước trên nguồn tràn xuống xoi mòn lở lần doi đất phù sa tạo nên ngôi vườn của mình. Nước cứ moi thành hang hốc ở dưới và đất sụp đổ lần hồi.
 
- Có cách nào để ngăn chặn sự tàn phá?
 
- Lại phải trồng lại những gốc tre, những bụi tre. Diện tích đất bị xoi lở, bị mất đi thì phải coi như mất vĩnh viễn. Chỉ có thể bảo vệ phần còn sót lại. Và cách khó khăn.
 
- Việc tu bổ lại ngôi nhà chắc không khó.
 
- Tưởng vậy. Ngày xưa ông con có tật làm cái gì cũng đồ sộ kiên cố. Nhà trên, nhà dưới, nhà ngang, nhà lúa, nhà bếp, nhà kho... muốn tu bổ lại bao nhiêu cơ sở đó, số tiền không phải là nhỏ. Xi măng bữa nay đã lên ba ngàn tám trăm đồng một bao rồi. Sẽ tới một ngày mà giá một viên ngói sẽ là số giấy bạc một đồng xếp bằng thể tích của nó.
 
Đêm ở ngoài trời đen như cái viễn tượng ba tôi vừa phác họa. Ba tôi đốt điếu thuốc lá thứ ba và giọng ông ngập ngừng:
 
- Chiến tranh kéo dài, ai cũng mong Hòa bình. Bỏ nhà cửa chạy tản cư, người ta càng mong Hòa bình hơn. Nhưng khi Hòa bình thật sự đến, người tản cư sẽ cụng đầu vào một trái núi khốn khó: đó là việc xây cất lại nhà cửa. Chẳng lẽ chỉ che một cái chòi tranh nhỏ. Còn lời dị nghị khen chê của kẻ đồng hương nữa. Cho nên nhất định là hiện giờ có người đang chui rúc ở thành phố, vừa nuốt cái khổ hiện tại vừa nếm trước cái vị đắng cay khi nghĩ đến một ngày mình trở về ngôi nhà cũ.
 
- Nhưng chẳng lẽ bỏ quê đi luôn?
 
- Cố nhiên. Chính vì vậy mới phải nếm đắng cay.
 
Đêm vẫn đen ở ngoài trời. Sao cuộc đời đến thế hệ ba tôi và thế hệ tôi lại rối rắm khó khăn như vậy. Muốn yêu một quê hương cũng không phải dễ. Sao không thong thả như con chim bay về cái ổ của nó?
 
Đêm đã khuya, ba tôi ra dấu hiệu chia tay đi nghỉ. Tôi về phòng tôi nhưng trí óc cứ lãng đãng ở bụi chuối bờ tre, cây cam cây khế. Bỗng tôi nhớ có đọc một quyển sách nào đó người ta khám phá ra rằng thảo mộc cũng biết xúc cảm, tuy với một trình độ thô sơ. Cái lá biết run rẩy khi có bàn tay sắp ngắt nó, cái hoa biết rung động khi có người mân mê săn sóc. Tôi tự hỏi biết đâu vào giờ này cây bưởi mọc ở vại nước hay cây khế chi chít trái rung rinh, hay bụi chuối hay thân cau còn sót lại sau mấy vụ khai quang đang ngần ngơ nghĩ đến tôi, nhắc thầm đến tôi, tôi, con bé đi biệt tăm đã năm sáu năm nay không hề trở lại, con bé mới ngày nào cầm tay ông nó thẩn thơ đi dưới bóng lá cây xanh.
 
 
VÕ HỒNG       
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1975)
 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

MÙA SƯƠNG TRÊN VAI - Mường Mán


Quì đứng nép vào cây cột dưới hàng hiên, chiếc áo mưa vừa cởi ra hai phút trước cuốn gọn trong tay. Quì mặc áo dài tím, ngoài choàng thêm cái áo len đen. Khuôn mặt Quì trắng, đôi mắt Quì to ngước trông vời bến xe đằng trước, không nói năng chi cả. Quỳnh đứng bên Quì, quần jean nâu áo pull màu cà rốt, áo mưa vắt trên vai. Quỳnh hút thuốc, cũng nhìn ra bến xe, cũng không nói năng chi. Hai người ở lứa tuổi thanh niên và, dường như vừa trải qua một trận hờn giận gì đó nên lúc này chẳng ai buồn mở môi hé miệng.
 
Bến xe nhộn nhịp xe ra vào lui tới, huyên náo tiếng rao quà vặt của những cô bé tay nách rổ trái cây hoặc mẹt bánh, mỗi lần có xe vào bến nhào tới tranh nhau mời mọc khách hàng. Hành khách ôm xách, kẻ vội vàng kẻ lững thững. Vẻ vội vàng lững thững toa rập với mớ âm thanh hỗn loạn tạo thành hoạt cảnh vui mắt vui tai và tràn đầy sinh lực ; trái hẳn với khung cảnh ủ trệ trầm buồn lặng nín của dãy phố cũ kỹ bụi bặm bên sau.
 
Mưa tầm tã. Những rãnh nước quanh bến xe trôi lềnh bềnh rác rến lon hộp. Chỗ Quì và Quỳnh đứng trú mưa là thềm của một quán tạp hóa. Dường như cảm thấy im lặng lâu quá cả hai sẽ buồn ngủ, Quỳnh lên tiếng xé rách im lặng:
 
- Quì ơi, sao em dối trá vậy? Thấy anh về vui muốn chết lại cứ bô bô anh ra đây làm chi? anh về Quảng Trị làm chi?
 
Quì im lặng. Quỳnh ném mẩu tàn thuốc xuống rãnh nước dưới chân.
 
- Mưa rầm rầm điệu này, mưa thêm vài ngày nữa chắc lụt mất. Nếu Trời lụt, Quì cứ để cho nước cuốn về Huế nghe! Lúc ấy ông chú thân yêu có níu cũng không được. Anh sẽ đợi ở Huế, đợi Quì trôi vào là ẵm liền. Đồng ý?
 
Quì vẫn nhìn ra xa, lắc đầu nhè nhẹ:
 
- Nếu trôi được Quì trôi ra tới biển đông luôn, không còn ghé Huế.
 
- Quì không ghé anh cũng cứ đợi.
 
- Đợi bao lâu?
 
- Đợi đến tết Công gô.
 
Quì bĩu môi:
 
- Dóc tổ, anh láo như con chồn tinh quái trong truyện cổ tích.
 
Quỳnh cười ha ha:
 
- Kiếp trước anh là thằng Cuội ngồi gốc cây đa.
 
Quì hỉnh mũi:
 
- Bóp ẩu chị Hằng nên bị đuổi khỏi mặt trăng.
 
- Hình như thế.
 
- Thế là cái chắc chớ hình như hình nhử chi nữa.
 
Quỳnh thở phì khói thuốc tợ ống khói tàu lửa:
 
- Quì hạ anh xuống thấp hơn mực nước biển rồi đó.
 
- Rán mà trồi lên.
 
- Trồi lên chắc không nổi.
 
- Huy động cả họ hàng nội ngoại ra mà kéo anh lên.
 
Quỳnh tát nhẹ vai Quì:
 
- Em hỗn như con Bú dù.
 
- Con Bú dù chỉ biết kêu khẹt khẹt, không biết nói ; Quì nói được tức Quì không phải là con Bú dù.
 
- Quì lý luận trôi chảy như một dòng sông.
 
- Sông nào?
 
- Sông Thạch Hãn.
 
Quì bật cười:
 
- Sông Thạch Hãn, Quì nghe bọn học trò nói mùa hè xắn cao quần lội qua được, qua bên kia sông đi vớ vẩn coi người ta chụp ếch nhái.
 
- Vui không?
 
- Vui chứ!
 
- Mùa hè sang năm chắc mình nên bới cơm bới nước đi coi người ta bắt ếch nhái suốt một ngày ròng, vui cho đã đời.
 
Quì quắc mắt một tia nhìn ướt. Tia nhìn âu yếm ôm gọn khuôn mặt tươi trẻ của người bạn trai. Quỳnh vẫn đưa mắt nhìn vời xa, điếu thuốc mới đốt bốc khói giữa hai ngón tay thầm lặng - những sợi khói hân hoan và, Quỳnh nom trẻ thơ trong dáng trầm ngâm thanh thản.
 
Quì buồn bã nhìn Quỳnh. Người thanh niên suốt cả buổi chiều nay không hề biết đến sự bối rối đang kết thành sợi dây thun thắt bóp tim nàng. Quì đang cố gượng vui ; Quì đang cố cười nói để tự cho phép mình sống một buổi cuối cùng thật sự êm đềm bên cạnh người mình thương mến. Lát nữa Quỳnh lên một chiếc xe taxi nào đó trở về với thành phố của anh ta, là hết. Thế giới riêng biệt của anh sẽ khép kín sau màn mưa trùng điệp. Quỳnh ở đầu mút con đường xa 60 cây số. Con đường nhựa nối hai thành phố, mỗi tuần Quỳnh nôn nao vượt qua tìm về với nhau, sống tròn một ngày đầy nghĩa rộng tình sâu: đi lang thang qua những con đường heo hút tỉnh lỵ này, ngồi trong những quán chật ních lính tráng ở đây, đưa nhau vào rạp xi nê hôn nhau, đưa nhau ra bờ sông cười dưới nắng, cãi nhau dưới gốc cây và giận dỗi trước khu bưu điện... Mỗi tuần Quì tới bưu điện 3 lần, hôn lên con tem 6 đồng, khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau". Những tờ thư kể lể nhớ nhung quá nhiều nên thỉnh thoảng Quì gửi một tờ giấy trắng - cho nó lạ một tí, như người ta ăn mặn suốt tháng, ăn chay hai ngày rằm và mồng một cho đỡ nhàm. Thời êm đềm đó qua rồi. Ngày mai tất cả đổi thay hết rồi.
 
Ngày mai. Thành trì đã thiết lập, Quì hết tự do bay nhảy. Con chim non sẽ bị nhốt vào lồng, con cá nhỏ bị nhốt trong chậu. Quỳnh không hề biết  điều đó. Quì có nên nói cho chàng nghe hay không?
 
Có nên tả lại sự giận dữ của mẹ khi hay tin từ lâu giữa Quì và chàng vẫn còn liên lạc, mối liên lạc lâu nay bà ngỡ cắt đứt rồi không? Có nên nói đến quyết định của mẹ, của anh em chú bác nàng không? Cái quyết định bất ngờ như từ trên trời rớt xuống, như tự mặt đất không dưng nẩy lên. Dẫu sao, cái quyết định ấy vẫn có thực, nó lù lù đó, không dễ gì tẩy xóa, chối bỏ.
 
Hôm qua mẹ từ Đà Nẵng về mang theo cái quyết định nóng bỏng ấy nói cho ông chú, các cô em họ của Quì nghe. Nghe xong Quì khó chịu lạ. Khó chịu vì không hề ngờ nhân vật chính đóng vai quan trọng trong quyết định của mẹ lại là ông Mai. Ông Mai bạn của anh Điềm anh Dĩnh. Ông Mai vẫn thường đến nhà chơi. Ông Mai thỉnh thoảng khám bệnh tim cho Quì. Ông Mai thường lái xe đưa cả bọn đi biển Mỹ Khê, Lăng Cô những hôm chủ nhật trong mấy tháng hè vừa qua, từ ngày Quì rời trường sư phạm Qui Nhơn trở lại Đà Nẵng sửa soạn bước vào đời tập tễnh làm cô giáo làng.
 
Quì không thể ngờ ông Mai lại mết Quì. Ông ta khéo che đậy tình cảm?
 
Có thể lắm - ở lứa tuổi ông ta, ổng thừa sức che giấu xúc động bồng bột thường phát tiết thành cử chỉ lời nói mà bọn thanh niên mới lớn thường mắc phải. Hoặc giả những lúc gặp Quì ông có để lộ ra một vài phần nhưng Quì không để ý, Quì coi ông ta như anh Điềm anh Dĩnh, những người lớn, thế thôi. Vả tâm trí Quì mải bận rộn với hình bóng Quỳnh thì để ý đến ông Mai - người - lớn ấy làm gì cơ chứ! Trong những lần về biển, cùng đi với anh Điềm anh Dĩnh và Quyên (cô em gái út của Quì) Quì chằng thấy ông ta tỏ ra cử chỉ nào săn sóc đặc biệt hoặc khác thường cả. Quì nô giỡn, cười đùa và hát hỏng hồn nhiên dưới đôi mắt bình thường của ông ta. Có một lần độc nhất, Quì tắm xong lên nằm úp bụng phơi nắng, ông Mai ngồi xuống bên cạnh lấy cát rải lên lưng Quì, Quì kêu nhột và dơ ; ông ta đỏ mặt cười rồi ngưng ngay trò chơi, đứng lên nhập bọn với anh Điềm anh Dĩnh (lúc ấy đang đấu láo với một cô bạn). Bây giờ nhớ lại lần đó, Quì nghĩ: "Có thể hôm ấy ông Mai thử phản ứng của Quì cũng nên. Nếu Quì để yên không kêu nhột, dơ ông ta sẽ tiến tới đâu nữa nhỉ? Quì lắc đầu không thể hiểu nổi.
 
Thoạt tiên nghe mẹ nhắc đến ông Mai và cái quyết định của cả gia đình, Quì thấy khó chịu: nỗi khó chịu nhẹ nhàng không thể làm trào nước mắt nhưng Quì chợt nhận ra thật chóng vánh vị thế lẻ loi cô độc của mình. Cái quyết định kia được một lực lượng hỗ trợ quá hùng hậu. Quì nghĩ đền Quỳnh với những nhịp tim đập mạnh, nếu ngồi nán lại chút nữa nghe mẹ nói chắc Quì đã ngất xỉu. Căn bệnh đã tốn không biết bao nhiêu thuốc uống và chích dường như chưa chịu rời Quì. Quyết định của mẹ có liên quan phần nào đến căn bệnh dai dẳng ấy
 
Nhớ lại những lần tới khám bệnh, Quì phải cởi áo để trần ngực cho ông Mai đặt ống nghe đo nhịp tim, Quì ngượng chín người. Ông Mai là người duy nhất nhìn thấy ngực Quì, người đầu tiên nghe nhịp tim Quì đập. Chẳng biết có phải ông Mai đã bị nhịp tim bệnh hoạn của Quì cám dỗ không? Chẳng biết có phải hai miếng ngực trắng non nhỏ nhắn khiêm tốn của Quì đã mê hoặc ông không? Không, ông ta là bác sĩ chuyên khoa về tim thì mỗi ngày nhìn ngắm ngực con bệnh và nghe tim con bệnh đập là chuyện quá thường tình. Vậy thì tại sao ông ta có ý định cưới Quì? Cưới một con bệnh mà hơn ai hết, ông biết rằng rất có thể ngày nào đó vợ mình sẽ chết bất đắc kỳ tử? Quì lắc đầu, lắc đầu qua trái lắc đầu qua phải, không hiểu.
 
Lý do mẹ đưa ra thật vững vàng trơn tru:
 
"Lấy thằng Mai, nó sẽ vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, nó đã trì chí theo dõi bệnh tim con lâu nay, nó hiểu cách chữa trị. Vả lại nó cũng sắp rời bệnh viện Duy Tân về Quảng Trị, ra Giêng tụi bây cưới nhau xong mỗi ngày nó đưa con đi dạy, đỡ nhọc".
 
A! Sao mẹ không nói trắng ra, Mai vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, vừa là thằng tài xế suốt đời trung thành của con? Quì khóc, Quì lắc đầu. Lắc đầu đã trở thành cử chỉ quen thuộc mỗi khi Quì muốn trốn tránh ý tưởng hắc ám nào, những ý tưởng tới từ nỗi buồn, từ một cơn giận nghẹt tim chẳng hạn...
 
Quì nhìn Quỳnh, nhìn gã thanh niên hồn nhiên trước sự bối rối tê đau của nàng. Gã vẫn không hề biết. Có nên nói cho Quỳnh biết không? Quì lắc đầu, Quì lắc đầu phân vân, Quì lắc đầu trước nỗi buồn của Quì, không dám lắc đầu trước quyết định của mẹ. Quì thương mẹ, Quì thương nỗi lo lắng của mẹ. Ngày mãn khóa mẹ bỏ hết công việc vào Qui Nhơn với Quì. Hôm chọn nhiệm sở mẹ ngồi bên Quì:
 
"Con phải về Quảng Trị, con phải chọn ty tiểu học Quảng Trị, ở đó có chú Tâm lo cho con về chỗ tốt, về Đà Nẵng không ai lo chỗ tốt cho con được cả."
 
Quì vâng dạ, Quì chọn Quảng Trị.
 
Quảng Trị: địa danh của một nơi chốn nghèo khó, buồn nản. Địa danh được nhắc nhở khá nhiều trong những bản tin chiến sự hàng ngày trên mặt báo, trên đài phát thanh. Miền đất hiền thục nhưng lỡ nằm ở vị thế cam go trên bản đồ chiến lược nên được biếu thêm một tước hiệu nữa: địa đầu giới tuyến. Quảng Trị, khu phố vuông vắn vây bọc những mái nhà thâm u cúi xuống những lòng đường bức bối, lính tráng đông hơn dân cư. Quảng Trị chỉ sống dậy từ 7 giờ sáng ; 8 giờ tối coi như Quảng Trị chết đi, những lòng đường dành cho lá bay, dành cho ma quỷ. Quảng Trị không như Huế, Đà Lạt, Nha Trang: những địa danh vừa đọc lên đã nghe quyến rũ lạ thường. Quảng Trị: cái tên mới đọc đã nghe xao xác, cực lòng.
 
Những trận gió Nam thổi từ Lào về, những heo may từ thâm sơn Thanh Nghệ Tĩnh vô làm Quảng Trị lên những cơn sốt bất thường, nóng cháy và lạnh run. Những cơn sốt đôi khi làm lệch lạc cả bước đi của tiết mùa.
 
Quì về Quảng Trị, Quì ở nhà chú Tâm. Mỗi ngày Quì vượt qua một con đường lầy lội bùn đỏ, vượt qua hai cánh đồng tới ngôi trường ở vùng ngoại ô buồn tẻ. Hôm đến trường lần đầu Quì đi với chú Tâm. Quì khóc ròng lúc đứng trên bục gỗ nhìn xuống đám học trò lem luốc, những thân thể còi cọc trước tuổi vì thiếu ăn thiếu mặc, những khuôn mặt cúi xuống trang vở buồn bã như mái tôn ủ dột che mưa nắng trên đầu chúng. Quì nhìn lũ học trò và, lắc đầu lắc đầu.
 
Mưa nhẹ hạt hơn. Có nên nói cho chàng biết không? Quì ôm sát chiếc áo mưa vào ngực tìm chút hơi ấm và chút can đảm nào đó có thể từ thinh không rơi xuống giúp Quì. Không, Quì vẫn câm lặng như con hến, như con ốc trong chiếc vỏ kỳ dị. Quì chợt thấy mình thật kỳ dị. Quì có cảm tưởng mọi con mắt của đám đông trên bến xe chiều nay đang đổ dồn về nàng, đổ dồn về đứa con gái khốn khổ với những khóe nhìn cay xót. Quì ho nhỏ, giọng Quì trầm:
 
- Anh ra xe đi, cái xe đằng kia sắp đầy rồi đó. Quì còn phải đi làm lại tóc.
 
Quỳnh nắm lấy bàn tay trắng muốt nổi gân xanh của Quì bóp nhè nhẹ:
 
- Gắng tìm đủ mọi cách bò về Huế ăn tết với anh.
 
Quì cúi mặt giấu đôi mắt bắt đầu tươm lệ nóng. Quì cắn mạnh môi dưới, Quì cắn nhẹ môi trên nhủ thầm: Quì ơi mày phải bình tĩnh uống cạn chén mật ngọt cho đến giọt cuối cùng ; chén mật ngọt sắp cạn rồi. Ngày mai mày uống mật đắng mật cay mật chua. Quì thả khóe nhìn ướt xuống bàn tay nắm của Quỳnh:
 
- Vâng, Quì cố gắng hết mình, anh ra xe, họ nổ máy rồi kìa.
 
Quỳnh bóp mạnh tay Quì rồi buông ra, khoác áo mưa vào, nhìn lâu vào mắt Quì âu yếm:
 
- Lại khóc, cô giáo rồi mà cứ ngỡ mình còn là học trò thò lò mũi xanh. 
 
Quỳnh bước ra khỏi hàng hiên, bước nhanh tới chiếc xe đậu cuối bến. Quỳnh ra khỏi hàng hiên, Quỳnh vừa vượt qua biên giới. Chén mật ngọt cạn rồi, cạn thật rồi. Quì rũ áo mưa mặc vào, trùm mũ che ngang mặt.
 
Quỳnh lên xe. Quỳnh đưa tay ra cửa xe vẫy. Quì đứng trông vời theo cho đến lúc xe khuất sau dãy nhà mái tôn, khuất sau hàng cây trụi lá trơ vơ dưới trời mù mưa tháng Chạp.
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp. Quì ôm mưa tháng Chạp trong lòng mà đi. Tháng Chạp mênh mông lồng giá rét vào tóc Quì, tháng Chạp tô son nhạt vào môi Quì, tháng Chạp đánh phấn lạnh vào má Quì. Mùa đông đang già theo cơn mưa muộn màng chiều nay, mùa xuân sẽ tới ; mùa xuân gần kề. Hôm qua lễ tất niên cử hành tại trường. Cô giáo vỗ tay hát giữa bầy trẻ ngơ ngác. Cô giáo cắn hạt dưa. Cô giáo ăn mứt gừng cùng lũ trẻ. Cô giáo bâng khuâng, nhớ những mùa xuân tuổi nhỏ mặc áo vàng quàng khăn lụa nhảy tung tăng chân sáo trên đường ngập xác pháo hường. Cô giáo nhìn qua cửa lớp, nhìn ra cánh đồng xa ngút mắt ngẫm nghĩ nơi đây tiêu sơ hoang dại quá chắc mùa xuân chẳng bao giờ về!
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp, lạnh một mình, buồn một mình, hồn nghèo trí mỏi, môi mím mắt ngây. Chàng đi rồi, Quỳnh đi rồi. Quỳnh mang mùa xuân của Quì về Huế rồi. Ngày mai, là hết. Ngày mai ông Mai sẽ đem xe rước Quì và mẹ về Đà Nẵng. Về Đà Nẵng để Quì đeo nhẫn đính hôn. Về Đà Nẵng để Quì tha hồ nhận lời chúc tụng của bà con bằng hữu. Những lời châm chọc của mấy cô em con ông chú giờ nghe còn nóng vành tai:
 
"Chị lấy cái ông Quỳnh ấy à? Trước mặt ông ta một chồng bản thảo, sau lưng ông ta một chồng bản thảo, bên phải bên trái ông ta hai chồng bản thảo nữa. Eo ôi truyện ngắn truyện dài. Chị còn chỗ nào để ngồi gần ông ta nữa?"
 
Quì ngậm nét cười cay đắng rồi Quì phun cay đắng ra thành ngôn ngữ ngậm ngùi:
 
"Vậy tao lấy ông Mai, bên phải ông ta một núi bông băng, bên trái ông ta nghìn chai thuốc đỏ, sau lựng trước mặt ông ta thuốc uống thuốc chích, tao còn chỗ nào nữa mà ngồi?"
 
Những tiếng cười vang rân, vang xa như tiếng ruồi xanh ngân nga trong lòng thạch động. Thạch động là cái óc của Quì, tâm hồn Quì sâu và lạnh lẽo tựa thạch động, trống rỗng một trăm phần trăm.
 
"Bà chị ơi, biết bao nhiêu người đang thèm địa vị của chị. Nếu không ưng xin chị dang ra cho tụi em nhào vô."
 
Những lời khôi hài thiếu muối thiếu vị tinh thiếu xì dầu, nhạt nhòa vô duyên Thanh nói, Liên nói, Phương nói. Tụi nó sao giàu ngôn ngữ đến thế? Quì nghèo nàn rồi. Tâm hồn em nghèo nàn từ khi anh bỏ đi. Câu thơ của ai vậy?
 
Quì bước đi tựa con tàu say gió. Những đường phố luốc lem bùn đỏ cũng là những đường sắt say rượu. Con tàu say, đường sắt say sẽ đưa nhau tới ga trạm nào? Quảng Trị đó, con phố âu sầu cưu mang những con đường âu sầu. Này vết chân đi qua lồng vào bùn đỏ ; bùn đỏ ôm níu lấy những dấu chân để một mai chờ nắng đốt thành bụi phiêu du cùng gió, bụi lãng quên. Quảng Trị đó, những quán hàng đìu hiu cửa mở, những thềm hiên tối nặng màu chàm. Có nên đi làm lại tóc theo lời mẹ dạy không? Quì đi, chân lang thang trí lang thang theo mưa lang thang. Quì tìm lối ra bờ sông, ngó sang bên kia thảm cỏ lướt thướt mưa mù, màu xanh lục ngon nhưng lạnh lùng quá. Quì chợt ao ước mình được hóa thành con nai vàng ngơ ngác, con nai vàng tỉnh táo gục mặt xuống thảm cỏ giá băng kia. Sông Thạch Hãn, trăm mui thuyền bồng vẻ nghèo khó, dòng sông trôi buồn như một khúc hành Tỳ bà.. Quì khẽ lắc đầu lắc đầu.
 
Quì băng qua đường tới nhà bưu điện.
 
Có nên đánh cái điện tín cho Quỳnh? Nên lắm. Phải báo cho chàng biết. Trước sau gì anh cũng phải biết. Anh biết để anh còn đủ thì giờ mà khổ mà đau mà nguyền rủa em, phải không anh?
 
Bưu điện đóng cửa im lìm. Ô hay, hôm nay chủ nhật. Quì kêu thầm trong trí, Quì bối rối đứng sững trước tòa nhà tẻ ngắt. Cái thùng thư cũ kỹ thân yêu nằm nép dưới khuôn cửa sổ. Cái thùng thư mỗi tuần Quì tới với nó 3 lần, hôn lên con rem 6 đồng khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau" Những cánh thư chắp cánh bay đi mang về những lời nồng lời ngọt. Hết rồi, kể từ ngày mai hết rồi. Xa nhau, gửi thư cho nhau Quỳnh kêu: "Quì ơi, mình ở xa nhau nên tình yêu phải đi và đến bằng lối hàm thụ". Thư mới nhất Quỳnh viết:
 
"Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm. Thương anh mỗi ngày nhớ uống thuốc cho chóng lành bệnh tim, chứa đủ hình ảnh anh trong tâm thất trái và tâm thất phải. Thương anh mỗi đêm nhớ gọi tên anh 100 lần cho anh nhảy mũi ngất ngư con tàu đi. Thương anh thì chớ nên khóc, mặc dù những lúc khóc đôi mắt em trông ngon như hai trái nhãn lồng lột vỏ. Thương anh thì ngủ cho thật đầy, 7 giờ tối đắp mền, 7 giờ sáng tung mền dậy. Thương anh thì đừng nói hành nói tỏi anh. Thương anh đừng dọa dẫm hăm he anh: chọc Quì giận Quì đi lấy chồng. Thương anh thì tết này gắng tìm đủ mọi cách tìm về trong vòng tay lớn của anh. Thương anh thì nhớ đá lông nheo thật kỹ những lúc anh chợt buồn bã giữa chừng cơn vui. Thương anh bao nhiêu thương cái tính xấu cái nết tốt của anh bấy nhiêu. Quì phải học thuộc đoạn trên làm kinh nhật tụng. Mỗi đêm quay mặt về Huế mà đọc mà cầu nguyện, gặp anh Quì phải đọc thuộc làu làu."
 
Thương anh thì thương cái tính xấu, nết tốt của anh. Tính xấu? Nết tốt? Quì không biết Quỳnh có tính xấu, nết tốt nào nữa. Anh phải cái tội đùa cợt nhiều quá, tham lam hôn hít quá, thế thôi. Quỳnh ơi Quỳnh ơi! Quì đứng như cây chuối trồng trước nhà bưu điện. Đi đâu? Về nhà có mẹ đang đợi? Vào tiệm làm lại mái tóc? Không. Mưa điên hớp hồn Quì, gió điên nhiếp dẫn hồn Quì. Quì bước đi theo tiếng hú nào đó thật âm vang thật bí mật của tháng Chạp, của đông già heo hút trên những đầu cây. Quì đi như là bay.
 
*
 
- Còn chuyến cuối, mau lên cô hai.
 
Người tài xế taxi đứng cạnh chiếc xe lùn màu đen đưa tay vẫy Quì. Quì kéo cao hai ống quần hấp tấp bước tới, cùng lúc một thanh niên từ sau lưng Quì cầm xắc chạy nhanh vào bến. Quì vướng chân vấp ngã trên vũng nước đọng. Người thanh niên vượt lên trước tới bên xe. Người tài xế phân bua:
 
- Còn có một chỗ thôi ông ơi. 
 
Người thanh niên đong đưa chiếc xắc nóng nảy:
 
- Tôi tới trước để tôi lên.
 
Quì áo quần lấm bết bùn đất nhổm dậy tới đứng ngẩn ngơ bên gã thanh niên. Người tài xế vung tay về phía Quì:
 
- Cô này tới trước, ông xem cô ta vấp ngã dơ cả quần áo kìa.
 
Đám hành khách ngồi trên xe nhao nhao:
 
- Kìa lên đi chứ, tối rồi, cãi nhau mãi sao? Cô nhỏ đó tới trước để cổ lên.
 
Người tài xế mở cửa, Quì ríu ríu nói cám ơn rồi vào chỗ ngồi. Người tài xế đóng mạnh cửa, vào cabin, ngoảnh lại nhìn gã thanh niên cười, nụ cười hàm ý xin lỗi. Gã thanh niên lỡ chuyến quay lui khoảng bến lõng bõng nước sau lưng, đong đưa chiếc xắc trên tay, lẩm bẩm chửi thề. Xe rồ máy.
 
Còn chuyến cuối, Quì đưa tay vuốt mặt, thở ra nhẹ nhõm. Quì cũng không nhớ nàng đã trở lại bến xe bằng lối nào nữa. Đôi môi lạnh cóng của Quì thoáng nụ cười nhẹ. Lòng xe chật kín om hơi ấm giúp Quì tỉnh táo phần nào. Mưa sắp dứt hạt, chỉ có từng đợt mỏng như tơ giăng ngang bầu trời. Quì khẽ nhắm mắt ngả đầu ước mong được ngủ một giấc dài và thật thoải mái. Quì nhắm mắt, càng nhắm kỹ càng tốt. Quì không muốn nhìn lui khu phố buồn bã này chút nào. Mẹ đang làm gì ở nhà? Chắc mọi người nghĩ Quì đang ngồi trong tiệm uốn tóc nào đó. Mẹ ơi con trở thành đứa con hư từ đây, từ chuyến xe cuối chiều hôm nay. Chuyến xe con đã ngỡ chẳng bao giờ con bước lên thế mà giờ con đang ngồi trong lòng nó để bắt đầu một chuyến đi. Chuyến đi có thể đưa đến hậu quả lầm than nhất cho đời con. Nhưng dẫu sao con cũng đã có quyền quyết định. Khổ con chịu, sướng con vui. Xin tạ lỗi mẹ. Xin lỗi ông Mai nhé. Thanh ơi Liên ơi Phương ơi tao nhường lại đó, đứa nào nhào vô thì cứ nhào, tao dang ra xa rồi. Tao không thể cứ uống mật đắng mà cứ bảo là mật ngọt được. Tao không thể chui vào cái vỏ hạnh phúc tiền chế được. Quỳnh ơi, em đang đuổi theo anh, đuổi theo mùa xuân ; trả mùa đông lê thê lại cho thành phố mưa bùn nắng bụi này. Anh đang ở chặng đường nào? Anh sắp tới Huế chưa? Anh có nghĩ rằng em đang đuổi theo anh gấp rút không? Đuổi theo, đuổi theo bắt cho kịp hạnh phúc. Đuổi theo, đuổi theo ngất ngư mệt lả rồi ngả vào lòng anh khóc một trận cho đã nư ; khóc hai trận cho trôi hết buồn lo điên dại ; khóc ba trận mừng hội ngộ hân hoan. Em sẽ khóc hoan hỷ, khóc ngọt bùi, trong thiên hạ có bao nhiêu kiểu khóc em sẽ khóc hết. Khóc xong em sẽ cười, trong thiên hạ có bao nhiêu nụ cười em gom lại thành rừng thành biển. Cười quên mình là đứa con bỏ đi hoang. Cười xóa mặc cảm đứa con hư. Cười vỗ ngực vinh danh người tình chung thủy. Em thèm khóc, em thèm cười. Em đang về với anh. Về vòng tay cúi đầu đọc bài kinh nhật tụng của anh: "Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm..." Vâng, thương anh thương anh, thương anh. Thương anh em sẽ tuân theo kỷ luật anh đặt, mệnh lệnh anh ra. Em đánh rơi chữ "hiếu" rồi, từ nay em xin đội chữ "tòng" lên đầu làm vương miện. Em về với anh là em quăng bỏ sau lưng hết tiếng xấu tiếng tốt, tiếng vo ve, tiếng thì thầm của đám đông thiên hạ. Em đang về. Em đang trở về. Căn nhà thuê trong hẻm lờ mờ ánh điện câu đêm nay sẽ rực rỡ ánh sáng. Đêm nay em bỏ cuộc đời nhỏ bé em vào đôi tay anh, anh muốn nhào muốn nặn, bóp méo uốn cong nặn tròn gì cũng được hết. Em sẽ mềm dẻo như cục đất sét, em sẽ ngon ngọt như cây mía mừng, em nồng nàn như vôi. Em không chua như chanh, em không chua như dấm đâu Quỳnh ơi!!!
 
Quì vụt mở mắt. Xe phanh rít lại bất ngờ nhồi lên cái mạnh. Tới Huế rồi sao? Tới Huế rồi à? Quì cuống quít hỏi và, không nghe ai trả lời cả. Đám hành khách nhốn nháo chúi về phía trước nom ra cửa kiếng. Cửa mở, mọi người ào xuống đường. Cái gì vừa xảy ra? Sao xe dừng lại ở đây?
 
Một chiếc xe Honda ngã sóng soài đầu mũi taxi. Người lái Honda là một người lính, anh ta nằm cách đó mấy thước. Mọi người chạy ùa tới nâng kẻ ngộ nạn dậy. Người lính chỉ xây xát nhẹ, cánh tay phải anh ta tóe máu bởi một đường rách ngắn. Người tài xế taxi tái xanh mày mặt, gã đưa tay chỉ con đường mòn bên phải (lối chiếc xe Hoda đã đi ra) than thở:
 
- Thật là tai bay vạ gió, khi không đâm ngang ra như vậy cha ai mà tránh kịp.
 
Một xe Quân cảnh chạy trờ tới. Người tài xế taxi phân bua với đám hành khách:
 
- Lỗi hay phải gì xe tôi cũng không thể về Huế tối nay được. Xin bà con cô bác thông cảm, tai nạn bất ngờ. Tôi xin hoàn tiền lại bà con đón xe khác về, hoặc trở lại Quảng Trị, may ra giờ này còn có xe nhà binh.
 
Đám hành khách tiu nghỉu, không ai nói năng gì cả ; cũng chẳng thấy ai đưa tay ra nhận lại tiền.
 
Quì đứng buồn bã thàng thốt như người vừa ra khỏi cơn mê ngắn. Quì ngơ ngẩn hỏi một bà già đứng bên cạnh:
 
- Đây là đâu bác?
 
Bà già ngưng nhai trầu:
 
- Mỹ Chánh, còn 40 cây số nữa mới tới Huế.
 
Đám hành khách một số xúm lại coi toán Quân cảnh làm biên bản, số khác đứng lơ ngơ trông lui tới đón xe.
 
Còn 40 cây số nữa. Quì ứa nước mắt trông hút con đường phía trước. Mưa dứt hạt từ lâu. Bầu trời mang mang sương xanh lạnh. Trước mặt, con đường vắng tanh không bóng người. Quì ngó về bên phải, những cánh đồng rộng mênh mông tiếp chân núi thẳm mù mây khói tím. Quì ngó sang trái, những quán hàng lụp xụp tranh tôn chen lẫn nhau. Quì trông lui, hoang vu hoang vu và hoang vu. Hiu quạnh trải bốn bề vây lấy đám người lỡ đường ; hiu quạnh vây lấy Quì.
 
Bà già ngạc nhiên thấy Quì khóc. Bà nhìn Quì bằng tia nhìn vừa ái ngại vừa trìu mến:
 
- Vô cái quán trong này ngồi nghỉ tí đã con. Giờ này không mong chi có xe về Huế, chuyến mình đi là chuyến cuối mà. Trở lại Quảng Trị họa may có xe nhà binh từ Phong Điền về. Bác đi hàng ngày bác biết quá. Thôi về Quảng Trị ngủ một đêm sớm mai đi cho chắc ăn.
 
Quì như không nghe thấy lời rủ rê thân mật của người đồng hành khả kính ấy. Quì đứng yên như không nhúc nhích. Còn 40 cây số trước mặt để đi tới và 20 cây số sau lưng dể trở về. Quì là người tình chung thủy nhưng là một đứa con hư. Trở về: Quì là kẻ phụ tình nhưng là một đứa con có hiếu. Đi tới hay trở lại? Mẹ ơi! Anh Quỳnh ơi! Tôi về đâu? Con về đâu? Em về đâu? Thiên đường, địa ngục trước mặt tôi hay sau lưng tôi? Mẹ ơi! Anh ơi!
 
Tay Quì xuôi, mắt Quì mở lớn. Quì đứng trông vời con đường phía trước. Quì khẽ quay đầu trông phía sau. Sương đổ xuống vai Quì và gió xoáy buốt hồn Quì. Quì lắc đầu lắc đầu. 
 
 
MƯỜNG MÁN      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1972)