- Tôi đến đây làm phiền anh, là vì tôi mất con ngựa trong đêm vừa rồi.
Ông Thất lại tiếp:
Ông Thất đáp ngay:
- Muốn chuộc lại con ngựa ấy.
Người chủ nhà đáp:
- Chậm quá. Ngựa đã bán rồi.
- Bán ở nơi nào? Tôi sẽ tìm đến.
Người chủ nhà nhíu mày, bảo:
- Ông có sẵn tiền nên mua ngựa khác mà dùng, chuộc làm gì thêm phiền phức.
- Nhưng đó là con ngựa quý, tôi đã nuôi lâu. Vật đã quen người không thể nhất đán xa lìa mà không tìm cách thâu hồi trở lại.
- Chắc là ông chưa ăn trưa?
- Thú thiệt là chưa. Quanh đây không tìm thấy quán xá nào.
- Còn ít cơm nguội và mắm để dành buổi chiều. Ông có thể ăn đỡ đói.
Chủ nhà lại xuống lúi húi dọn cơm. Ông Thất ngồi nhìn căn nhà
vắng vẻ, trống trải, nghĩ ngợi lan man về người đã lấy trộm ngựa của
mình. Nhưng quá đói lòng nên khi chủ nhà vừa bưng cơm lên, ông không đợi
mời tới tiếng thứ hai, cầm đũa ăn liền. Bữa cơm quá mức thanh đạm nhưng
chưa bao giờ ông Thất ăn ngon như vậy. Uống một bát nước chè tươi để
thêm no bụng, ông ngả lưng ra trên giường, gối đầu trên chiếc gối gỗ,
lim dim tìm giấc ngủ trưa.
Thiếp được một giấc, và thấy đã bớt nhọc mệt của chuyến đi tìm
vất vả từ sớm, ông bèn ngồi dậy. Chủ nhà ngồi im dưới đất, dựa lưng vào
cột, phì phèo một điếu thuốc lớn. Ông Thất xẵng giọng:
- Thế nào? Con ngựa tôi đâu?
Chủ nhà nhìn ông, trả lời:
- Đã nói bán rồi.
Ông Thất hùng hổ đứng lên, nói lớn:
- Tôi bảo cho tôi chuộc lại kia mà.
Chủ nhà vẫn cứ ngồi yên không đáp. Ông Thất giận dữ la lên:
- Hay thiệt! Ngươi đã ăn cắp ngựa quý của ta, đã chịu thú nhận
như vậy, rồi khi ta thấy cảnh ngươi nghèo đói muốn bỏ tiền ra chuộc lại,
ngươi vẫn làm thinh là nghĩa lý gì? Coi thường luật pháp như nhà ngươi
đây là quá lắm rồi.
Chủ nhà bỗng cười to lên, đáp lại:
- Ông đừng nổi nóng, vô ích. Đáng lẽ ông phải hiểu rằng ta không
thèm chối chuyện ăn cắp ngựa từ đầu, bởi ta không phải là hạng chuyên
nghề ăn cắp. Nếu cần nói cho ra lẽ, thì dấu chân ngựa của ông vào đây
chưa phải là lý do chắc để ông nhất quyết ta là ăn trộm. Ai cấm kẻ gian
cỡi con ngựa quý của ông ghé vào xin nước, xin cơm, như ta sẵn sàng để
thết đãi ông vừa rồi?
- Nhưng ta bảo thật: ta cần con ngựa, dù phải trả bằng giá nào.
- Vậy thì ông cứ tự tiện tìm ngựa, nào ai có cản ngăn đâu?
Ông Thất không nén được giận, nhảy đến toan nắm lấy cổ người kia kéo dậy thì gã gạt tay ông ra, chồm lên:
- Được lắm. Ngươi thắng nổi ta, thì cho ngươi lại con ngựa.
Hai người hăm hở xông tới, hươi quyền đánh nhau. Trong ngôi nhà
chật, họ phải áp tới loạn đả và cả hai người ban đầu còn tỏ đôi chút dè
dặt để dò sức nhau, dần dần chính sự va chạm mạnh mẽ ở trên cơ thể khiến
họ được đốt nóng lên, quyết ăn thua đủ.
Nhưng hai đối thủ thật là cân sức nên sự thắng bại khó quyết
định được. Họ im lặng tấn công nhau, dùng các ngón nghề thành thạo để mà
giành lấy ưu thế. Ông Thất tinh thông võ nghệ nhưng các đòn đánh không
lanh, không chắc như người chủ nhà, ngược lại các thế đánh của chủ nhà
đều bị ông Thất ngăn chận. Cuộc đấu kéo dài khá lâu, hai đối thủ đã mệt
nhoài và đến một lúc họ dừng tay lại để thở.
Người chủ nhà nói:
- Vậy thì ông chưa thể lấy lại con ngựa quý.
Ông Thất đáp lại:
- Được lắm. Ta sẽ tiếp tục.
Cả hai lại xông vào cuộc giao đấu. Bây giờ ông Thất quyết dùng
các ngón độc hiểm để hạ tên trộm gan lỳ, nhưng tất cả ngón bí truyền của
ông vẫn không thể nào quật ngã được hắn. Có lúc ông dùng song phi tới
tấp theo kiểu liên hoàn tưởng quật ngã nhào được gã, nhưng lúc ông toan
áp đến khóa chặt gã nằm dưới đất thì gã đã lanh hơn một con sóc trườn
mình nhổm dậy hươi cả song quyền vào bụng của ông. Càng tiếp tục cuộc
giao đấu, ông Thất nhận thấy gã ăn trộm ngựa là tay bản lĩnh cao cường
và gã không dùng một ngón đòn nào thật là ác độc để triệt hạ ông.
Họ đánh đến chiều thì mệt rã rời. Hai người chỉ còn thủ thế nhìn
nhau, chờ đợi đối thủ sơ hở để mà tấn công. Bên ngoài hoàng hôn xuống
mau giữa chốn rừng cây vắng vẻ, và tiếng bìm bịp, chào mào kêu vang
trong các bụi rậm, nhớn nhác đón chờ đêm tới. Trong nhà, hai người không
còn nhìn rõ nhau nữa. Đó là hai cái bóng đen vờn nhau, tiếng thở hào
hển mỗi lúc mỗi vang to hơn. Cuối cùng, gã chủ nhà bảo:
- Trời đã tối rồi, chúng ta hãy nghỉ tay đã. Tôi còn phải lo cơm nước cho hai chúng ta.
Ông Thất không mong đợi gì hơn cuộc hưu chiến. Ông buông tay,
đến ngã người trên chiếc giường, kéo áo lau lớp mồ hôi dầm dề trên mặt.
Người chủ nhà chậm chạp xuống bếp thổi lửa, đốt một bó đuốc dầu chai cắm
giữa gian nhà. Đoạn, hì hục nấu cơm tối. Ông Thất thiếp đi một giấc mê
mệt rồi nghe gọi dậy. Chủ nhà đã đặt mâm cơm dưới đất, cạnh ngọn đuốc
sáng và mời ông lại. Trên chiếc mâm gỗ cũ kỹ chỉ có chén nước mắm lớn,
một ít rau rừng luộc chín, cạnh một nồi cơm.
- Mời ông dùng tạm bữa cơm nghèo khó. Chắc ông đã quen với món cao lương, khó lòng dùng mãi các thứ đồ ăn thanh đạm thế này.
Ông Thất cố giữ vẻ mặt tự nhiên, đáp lại:
- Chủ nhà có lòng cho ăn là tốt lắm rồi.
Và ông ngồi lại, ăn khá ngon lành. Vừa im lặng nhai cơm nóng với
món rau rừng chấm mắm, ông tự hỏi thầm: "Quái, sao tên trộm sống nghèo
khổ thế này? Món tiền bán ngựa vừa rồi hắn đã làm gì?".
Hai người ngồi ăn, không ai nói chuyện với ai lời nào. Cơm nước
xong rồi, ông Thất lại giường ngồi nghỉ. Chủ nhà đã vấn cho ông một điếu
thuốc lá khá lớn đặt trên chiếc dĩa, để ở đầu giường. Đợi cho ông Thất
hút tàn gần nửa điếu thuốc, gã nói:
- Bây giờ đã tối, cơm nước đã xong, ông muốn chúng ta tiếp tục đấu nữa hay là chờ đợi ngày mai?
Ông Thất yên lặng suy nghĩ, rồi móc túi bạc đặt ở trên giường. Ông nói:
- Dù có đấu sức suốt cả đêm nay, ta chắc cũng không làm sao phân
được thắng bại với anh. Coi như là tài võ nghệ của ta không sao giúp ta
đoạt được lại con ngựa quý. Vậy ta bằng lòng đem tiền để chuộc, anh cứ
ra giá cho xong. Ngặt con ngựa ấy là vật kỷ niệm cha ta lưu lại, nếu
không ta cũng sẵn sàng cho đứt luôn anh, chẳng phải mất tiền chuộc lại
làm gì.
Gã chủ nhà đáp:
- Tôi không phải sống bằng nghề trộm đạo. Ông coi, một tên trộm
cướp không phải cực khổ thế này. Một con ngựa quý của ông cũng đủ cung
cấp rượu thịt cho tôi suốt mấy tháng trường, can chi lại ăn rau rừng với
mắm cho khổ tấm thân. Nhưng nghề đốn gỗ của tôi không lấy gì làm thong
thả.
Ông Thất bèn hỏi:
- Vậy ngựa tôi đâu?
Gã chủ nhà đáp:
- Được rồi, ông cứ ngủ lại. Ngày mai, ông sẽ có ngựa cỡi về.
Ông Thất do dự giây lát, rồi hỏi:
- Anh không phải là trộm cắp, sao lại có ngựa để giao cho ta?
Gã chủ nhà có vẻ buồn, trả lời:
- Chính tôi là kẻ ăn cắp, nhưng tôi không sống bằng cái nghề này.
- Ta thực chưa hiểu ý anh thế nào...
Gã chủ nhà đi tìm chiếu, trải dưới nền đất cạnh cây đuốc sáng và
nằm dài ra phì phèo điếu thuốc. Ông Thất cũng nằm trên giường nghiêng
nhìn phía gã, chờ đợi một câu trả lời.
Lâu lắm không thấy gã nói tiếng nào, ông bèn gợi hỏi:
- Sao anh không chịu lấy món tiền chuộc của ta?
Gã chủ nhà đáp:
- Lấy để làm gì? Tôi mến tài năng và đức độ ông nên phải nói hết sự thật để cho ông nghe.
Và gã bắt đầu kể chuyện...
Gã có người bạn là một thợ rừng bị cây ngã đè ở trong hốc núi.
Nhà nghèo, bệnh nặng, bạn gã không sao chạy nổi thuốc thang. Cảm thương
cảnh ngộ của bạn, gã tìm mọi cách giúp đỡ nhưng không biết phải xoay xở
thế nào. Biết tên Chánh Tổng trong vùng thích ngựa, gã nảy ý kiến ăn cắp
một con ngựa tốt để bán cho y. Một tối, tìm đến quán trọ bên đường, gã
bỗng gặp con ngựa ô của ông Thất Cừ. Nghĩ rằng người cỡi ngựa quý không
phải là hạng nghèo nàn - lấy mất của nó, thì nó tìm mua ngựa khác - gã đã
lẻn vào trong chuồng giữa lúc đêm khuya, mở dây, dắt ngựa ra đường, cỡi
phóng như bay. Sáng đến, đem bán cho tên Chánh Tổng lấy đúng năm trăm
quan tiền. Cả số tiền ấy, gã đã đem giúp người bạn nghèo khổ lâm nguy.
Người chủ nhà tiếp:
- Tối nay, tôi sẽ giở trò trộm đạo một lần thứ hai để mang ngựa về cho ông.
Ông Thất bèn nói:
- Rất tiếc là ta không còn đủ số năm trăm quan tiền. Túi bạc mà
ta mang theo chưa đến nửa phần giá ấy. Nếu có, ta sẽ giao hết cho anh
đem chuộc lại con ngựa kia cho khỏi ân hận trong lòng.
Người chủ nhà ngồi dậy, nhìn ông Thất Cừ với một vẻ mặt xúc động rồi tiến đến gần bên ông, chắp tay thưa rằng:
- Xin cám ơn ngài. Thực là ít có một người hào hiệp như ngài. Dù
có đủ số tiền ấy, ngài giao tôi cũng chẳng dám nhận lãnh. Một là viên
Chánh Tổng kia mua được ngựa quý, giá hời, lão đâu chịu cho chuộc lại?
Của tốt vào được trong kho nhà giàu, dễ gì đã được buông ra mà không đem
lại món lời gấp chục, gấp trăm. Hai là tôi không muốn người bạn tôi
phải chịu ơn ngài. Anh ta nghèo khổ nhưng rất trong sạch, lại quá khí
khái đâu muốn nhận tiền của kẻ lạ mặt. Bởi ngài chuộc ngựa là coi như
cho gia đình anh ta cả món tiền kia.
Ông Thất Cừ nói:
- Sao lại không thể coi đó là tiền mà ta cho mượn dài ngày?
- Mượn mà biết không trả được, có khác gì là xin xỏ hay cướp
giật đâu. Ông đừng bận tâm. Khuya nay, tôi sẽ lẻn vào bắt lại con ngựa
cho ông. Viên Chánh Tổng kia giàu quá, lấy bớt năm trăm quan tiền cũng
chẳng hề gì. Trong khi người ta lâm nạn, chờ chết, đến van xin nó cũng
chẳng có được đồng nào.
- Nhưng viên Chánh Tổng có biết rõ mặt anh không?
- Cũng ở trong vùng, biết nhau rõ lắm.
- Vậy anh lấy lại ngựa rồi, hẳn gã phải nghi ngờ anh, đâu có sống yên đây được.
- Từ tối, tôi có nghĩ đến điều này. Chắc tôi sẽ phải trốn đi nơi khác.
Ông Thất đỡ gã chủ nhà cùng ngồi xuống giường với mình, thân mật nói rằng:
- Một người tốt lòng với bạn như anh, bao giờ cũng tốt với những
bạn khác. Mong rằng tôi sẽ được anh coi như là bạn, kể từ đêm nay.
- Xin cảm tạ ngài.
- Đừng gọi bằng ngài. Chúng ta đã là anh em, cứ gọi nhau bằng thứ bậc ở trong gia đình. Tôi là thứ năm. Còn anh thứ mấy?
- Dạ, tôi thứ tám.
- Chú Tám, nếu chú liệu không thể sống ở đây được nữa hãy về quê anh mà cùng nương tựa với nhau, đừng ái ngại gì.
Ông Thất nói rõ quê quán, chức vụ của mình cho người bạn mới
hiểu rõ. Chủ nhà tỏ ra hết sức xúc động trước tấm lòng tốt của khách. Cả
hai chuyện trò khá lâu, cho đến gần khuya thì ông Thất giục:
- Chú hãy nằm nghỉ giây lát rồi chúng ta cùng lên đường.
- Không, anh để tôi đi một mình.
- Đâu được. Chú đã cho biết nhà viên Chánh Tổng hào sâu, thành
dày, gia đinh đông đảo, chú đi một mình có thể gặp sự khó khăn. Chúng ta
đã là anh em, lẽ nào lại để chú đi vào nơi nguy hiểm một mình.
Ông Tám cảm động trước những lời nói chí tình, đáp lại:
- Đã làm phiền anh, còn nhọc đến anh làm gì. Em phải chịu phần trách nhiệm đem con ngựa về.
Ông Thất nghiêm sắc mặt bảo:
- Chú nói như vậy, anh không bằng lòng. Anh có bổn phận với chú, đừng nên thắc mắc bận tâm gì hết.
Ông Tám đáp lời:
- Vậy thì mời anh lên đường, vì còn xa lắm. Nghỉ ngơi e lại trễ mất.
Cả hai cùng giắt vào mình một thanh đoản đao, uống thêm ngụm
nước chè nguội rồi tắt đèn, mở cửa, đi vào đêm tối. Ông Thất im lặng
theo sau người em kết nghĩa, nghĩ thấy mọi sự xảy ra là một run rủi kỳ
lạ, đã đưa đẩy ông, một người lương thiện có chút phẩm trật ở trong làng
nước thành một kẻ trộm, và ăn trộm chính con vật của mình!
Sang đầu canh ba thì cả hai người đi tới một vùng đất cao, cây
cối rậm rạp. Ông Thất nhìn được trong bóng đêm dày tòa nhà sừng sững
trước mặt, chung quanh có thành lũy cao. Ông Tám ghé vào tai ông, bảo
nhỏ:
- Đây là nhà viên Chánh Tổng, dinh cơ của lão nằm trên sườn đồi,
nhìn xuống phía trước là đồng ruộng lớn. Tất cả ruộng đất ở đây đều
thuộc về lão.
Ông Thất nghĩ thầm:"Làm Chánh Tổng như tên này có khác gì làm
vua đâu. Hẳn là mồ hôi, xương máu của dân bị nó vơ vét cuốn hút đã quá
nhiều đời nên mới có một sản nghiệp lớn lao như thế". Ông Tám bảo thêm:
- Anh nên cẩn thận. Bây giờ phải lội qua một hào sâu mới đến
chân thành. Leo được tường rồi, phải qua mấy dãy sân rộng mới đến khu
vực nhà ở. Chó săn của lão nhiều lắm mà gia đinh cũng đông đảo.
- Thế chú biết rõ chuồng ngựa của lão nằm ở đâu không?
- Dạ không. Mua bán vật gì chỉ đến gặp lão ở tiền đường kia, không phải tâm phúc đâu có vào trong ấy được.
- Chúng ta sẽ tìm, đừng ngại.
Hai người lặng lẽ cởi đồ, đội lên đầu, rồi cùng men xuống bờ
hào, nhẹ nhàng lội qua vùng nước lạnh buốt và sang được bờ bên kia. Mặc
quần áo xong, cả hai men theo bờ tường đi về phía sau. Theo sự suy luận
của ông Tám thì các cửa hậu bao giờ cũng kém kiên cố hơn là cửa tiền và
chỉ có bằng lối ấy mới lọt vào bên trong được. Tới nơi, cả hai hợp sức
dùng đao mới đẩy bật được cánh cửa. Hai người lách vào, bò rạp xuống đất
men theo bờ tường bên trong để tìm chuồng ngựa. Cứ được một quãng, ông
Tám lại ghé tai sát xuống đất nghe ngóng. Khi vừa đến sau một dãy nhà
dài, có lẽ là dãy kho thóc, ông Tám vội ngồi thụp xuống và kéo ông Thất
ngồi theo. Có tiếng người đi và tiếng chó hực, gầm gừ, đánh hơi người
lạ. Giây lâu, không thấy động tĩnh gì nữa, cả hai lại cùng nhổm dậy, lom
khom bước tới. Đêm tối làm cho họ bước khá chậm. Cuối cùng, ông Tám ghé
sát ông Thất, bảo nhỏ:
- Đến chuồng ngựa rồi.
- Thật hả? Sao biết?
- Có tiếng ngựa hí, tiếng chân đạp trên nền đất.
Ông Thất áp tai xuống đất nghe ngóng hồi lâu:
- Quả chú tài thật.
Hai người lần mò đi một quãng nữa, quanh co qua các dãy nhà. Mùi
rơm cỏ, mùi phân, bao nhiêu là mùi ẩm mốc bốc nặng trong đêm giúp cho
lỗ mũi hai ông thay thế được cặp mắt nhìn một cách khá rõ. Lát sau, họ
đến chuồng ngựa. Nhẹ nhàng, ông Tám lấy dao nạy cửa. Nhiều tiếng ngựa hí
vang lên trong đêm tối dày.
Ông Thất kéo ông Tám lại:
- Chú gác ngoài cửa, để tôi đi vào. Ngựa tôi quen chủ, tôi dễ tìm hơn.
Ông Tám vâng lời. Đứng im một lát cho bầy ngựa bớt náo động và
cặp mắt quen bóng tối đông đặc bên trong, ông Thất rón rén đi vào. Quả
con ngựa ô đánh hơi được người chủ cũ, nện móng đì độp và hí vang rền.
Ông Thất vỗ nhẹ trên lưng con vật:
- Ta đây. Ta đến đưa con về lại với ta.
Con ngựa vung đầu, đạp chân, ngoay ngoảy mình mẩy ra tuồng vui
vẻ gặp được chủ cũ. Tháo vội dây cột, ông dắt nó đi ra ngoài. Bỗng trước
mặt ông, một người xuất hiện. Ông hỏi:
- Chú Tám đó hả?
Một giọng ngái ngủ trả lời:
- Tám, chín gì nào. Bây to gan thật, dám ăn trộm ngựa cụ Chánh...
Ông Thất lợi dụng bóng tối, đánh ngay một quyền vào bụng dưới
gã. Người kia kêu ối một tiếng, ôm ruột, gập người cúi xuống. Ông Thất
đã nhanh như cắt, nhảy tới ôm vật gã xuống, đè lên, chiếc đùi chận lấy
cổ họng, sờ soạng tìm khăn nhét vào họng gã.
Người kia ú ớ:
- Xin đừng giết tôi... Tôi là đầy tớ trong nhà.
- Im đi, ai muốn giết mày làm gì... Tao chỉ cần lấy ngựa thôi.
Chiều nay thấy thằng Chánh Tổng mua được con ngựa đẹp quá, tao mượn cỡi
chơi ít lâu, khi nào có dịp ghé lại tao sẽ giao trả.
Ông nghĩ một chút lại tiếp:
- Nhưng cái đó còn tùy ở túi tiền mua rượu của tao. Hễ Thiên
Vương này dư tiền uống rượu thì tao chẳng tiếc gì ngựa mà không trao
trả...
Khi ông Thất nới đầu gối của mình để nhét khăn vào họng gã, gã run rẩy nói:
- Xin ông...
- Cái gì?
- Ông trói giúp tôi thật chặt và bỏ tôi vào góc chuồng...
- Sao mày lại muốn trói chặt?
- Ông có trói kỹ thì ông Chánh trừng phạt tôi nhẹ hơn. Không vậy, ông Chánh lại tưởng tôi thông đồng với bọn cướp.
- Tao không phải cướp!
- Dạ, tôi không có ý nói thế. Xin ông...
- Được rồi, nằm im, tao sẽ làm theo ý mày.
Sau khi trói chặt, ôm gã bỏ vào một xó, ông Thất tháo khăn nhét vào họng gã, dắt ngựa ra ngoài.
Rồi cả hai người vòng ra ngoài thành tìm đến cầu treo bắc qua
hào nước, hạ xuống. Dắt ngựa qua khỏi, ông Thất bảo ông Tám cùng leo lên
và trên con ngựa thiếu yên cương, hai người phi gấp về nhà.
Đến nhà, thì trời hừng sáng. Ông Tám nhảy vọt xuống ngựa, nói liền:
- Gia đình của thằng Chánh Tổng không thiếu gì đứa trước kia là
tay trộm đạo có tài. Nó sẽ dò theo dấu ngựa tìm đến nơi đây rất sớm. Để
em thổi gấp cơm ăn rồi anh lên đường.
Ông chạy xuống bếp lo cơm. Ông Thất theo xuống phụ lực, rồi hỏi:
- Vậy chú làm sao ở yên nơi này?
- Thưa anh, em sẽ liệu cách đối phó.
- Không được. Chú nên theo về quê anh cùng sống cho vui. Đến dịp ra kinh, anh sẽ tìm cách để tiến cử chú.
- Em xin cảm ơn lòng tốt của anh. Nhưng em còn người bạn cũ bị
cây rừng đè vẫn chưa bình phục, không thể xa được. Khi nào em liệu khó
sống nơi đây, em đến tìm anh.
Mối duyên gặp gỡ giữa hai người ấy khởi sự là vậy. Trước khi lên ngựa ra về, ông Thất cầm tay người em kết nghĩa, bảo rằng:
- Em rán giữ mình, đừng nghi ngờ sự chân thật của anh. Chúng ta đã là anh em, còn hơn cả ruột thịt đó.
Rồi ông tạm biệt, lên đường về quê.
Khi ông Tám dọn chiếc giường, ông thấy gói bạc ông Thất còn trên
đầu nằm. Ông thật bối rối không biết làm sao đuổi theo cho kịp để trao
lại cho ông Thất. Ông cũng không dám mở ra để xem, vì ông nghĩ rằng bạc
ấy chẳng phải của mình, lại là của người mà ông kính mến, làm mất dấu
vết không chỉ thương tổn đến ông mà còn xúc phạm đến anh mình nữa. Nhưng
một cuống lá khá dài thò ra từ gói bạc ấy. Kéo chiếc lá lên, ông đọc
thấy dòng chữ nhỏ, có lẽ viết bằng gai nhọn, như sau: "Muôn sự của
chung". Ông Tám cúi đầu, hiểu ý người anh kết nghĩa của mình.
Mấy năm về sau, đến khi người bạn thợ rừng qua đời, ông Tám mới
dời đến ở cạnh làng ông Thất là miệt Bầu Nai. Ông vỡ đất hoang làm
ruộng, không chịu ở nhờ ruộng đất của người anh mình, những lúc rảnh rỗi
dành nhiều thì giờ thăm viếng hầu hạ ông anh. Tuổi già càng làm cho đời
sống họ thiên nhiều về mặt tinh thần, do đó tình anh em họ lại càng đậm
đà nhiều hơn.
Một đêm, ông Thất Cừ nhận lời mời của người quen ở xã Long Hồ,
đến dự tiệc rượu. Giữa lúc chén uống đang nồng thì có một người trong
đám bỗng hỏi ông ta:
- Xin vô lễ với ông Thất, chẳng hay ông còn nhớ những chuyện cũ hay không?
Ông Thất đáp lời:
- Chuyện cũ có trăm ngàn thứ, có thứ đáng nhớ, có thứ nên quên. Chẳng hay ông muốn nói đến chuyện gì?
Người kia đáp lai:
- Chuyện này chắc hẳn là ông không thể quên được, trừ phi ông muốn quên đi.
Ngừng lại một chút, người kia nói tiếp:
- Ông còn nhớ Lý Văn Hổ hay không?
Ông Thất nhíu trán, suy nghĩ, cố lục lọi trong ký ức:
- Lý Văn Hổ à? Là ai? Ta không nhớ rõ được con người ấy.
Người kia lại nói:
- Phải rồi, ông đã muốn quên.
- Không, ta chẳng muốn quên. Ta không thể nhớ đó thôi.
Người kia im lặng, nốc từng ngụm rượu khá lớn. Mâm tiệc trở
thành khó chịu vì cái không khí mập mờ của sự khiêu khích bắt đầu. Ông
Thất chăm chú nhìn kỹ người kia qua đôi mắt đã chấp chóa hơi men, cố lục
lọi trong ký ức vẫn không nhìn thấy được gì hơn nữa. Thời gian đã phủ
một tấm màn lớn như lớp sương mù dày đặc ngăn che quay về dĩ vãng xa mờ.
- Quả tình ta không nhớ được tên ấy là ai.
Câu nói có vẻ ôn tồn của ông rơi giữa mâm rượu bỗng làm người
kia ngẩng mái đầu lên, quắc đôi mắt sáng, nhìn ông một cách hằn học:
- Thật tình là ông đã quên Mười Hổ phải không?
Ông Thất gật đầu:
- Đã quên. Ta có sợ gì phải chối nhớ lại cái tên không buộc cho ta bận lòng. Mười Hổ là ai, anh cứ nói ra.
Hơi rượu làm ông bốc nóng, ông tiếp:
- Mười Hổ hay trăm ngàn hổ, cũng vậy mà thôi.
Rồi cười ha hả:
- Cũng đều là hổ, chứ có khác gì!
Người kia đặt mạnh cốc rượu xuống chiếu, nói lớn:
- Ông đừng khinh mạn, xúc phạm cha ta!
Ông Thất ngạc nhiên:
- Ủa? Tên của thân sinh anh à? Làm sao mà ta biết được điều ấy?
Người kia vội rời chiếu rượu, đứng xuống chống nạnh, gườm nhìn ông Thất. Chủ nhà vội can:
- Thôi, thôi, đây là tiệc vui. Xin đừng gây nên những chuyện đáng tiếc.
Ông Thất để ý giọng nói của gã chủ nhà không có chút nhiệt tình
nào, chừng như đó chỉ là câu chiếu lệ mà thôi. Bất giác trong một thoáng
mau, ông Thất chợt nhớ là trong dĩ vãng họ có nhiều mối tị hiềm nhưng
được thời gian làm cho phai mờ, như những bãi sình đã được cát lấp và
trên cát ấy người ta tưởng rằng có thể trồng được những loài hoa đẹp.
Nhưng đó chỉ là loài hoa ảo tưởng.
Người kia nghe chủ nhà nói, gằn giọng đáp lại:
- Được rồi, ta sẽ ra khỏi nơi đây để mà hài tội tên già.
Giọng nói mạnh mẽ của gã đối với chủ nhà cũng có vẻ gì giả tạo.
Ông Thất nghĩ rằng có thể họ đã ăn ý cùng nhau trong một âm mưu hãm hại
ông chăng? Nhưng chất men nồng bốc cháy hừng hực trên đầu, mọi ý đề
phòng nhường bước cho lòng phẫn nộ, ông thấy căm giận cực độ vì lời xúc
phạm của kẻ gây chuyện, nên cũng bước ra khỏi chiếu, hét lên:
- Mày đừng vô lễ. Ta muốn biết mày cố tình gây chuyện là vì lẽ gì? Cha mày với ta nào có quen biết gì với nhau đâu?
Gã kia hằn học:
- Mày đã đánh chết cha ta, rồi ném xác dưới bờ hào, còn nhớ hay không?
Ông Thất chợt thấy bàng hoàng. Trong cuộc đời huấn luyện ngựa
cho vua, ông ta đã lỡ tay đánh chết một người. Đó là một tên ăn trộm
ngựa quý của vua đem về bán lại cho các nhà giàu ở những miền xa, hẻo
lánh. Hành vi trộm đạo của gã là một xúc phạm lớn lao đối với quyền uy
thiên tử và cũng là một thách thức sỗ sàng đối với những người có phần
trách nhiệm như ông Thất Cừ. Ông đã để tâm dò xét nhiều ngày và một đêm
kia, ông đã bắt gặp thủ phạm. Hai người đấu sức quyết liệt và cuối cùng
tên ăn trôm bị ông quật ngã. Trong lúc tuyệt vọng, gã đã tự vận để khỏi
bị những cực hình giày vò và để gia đình khỏi bị liên lụy. Không ai biết
gã là ai, quê quán nơi nào. Tên trộm đã chết, đã được vứt xác ngoài
thành, rồi được treo lên lơ lửng đôi hôm trước khi chôn lấp.
Bây giờ, thì con trai hắn xuất hiện nơi đây, mang mối căm thù
dồn chứa từ ba bốn mươi năm rồi. Chắc gã còn phải lớn lên, còn phải tầm
sư học đạo, còn đợi cho triều đại kia sụp đổ và đợi cơ hội đến gần ông
Thất. Căm thù đã lớn như cây cổ thụ và muốn đơm bông kết trái bây giờ.
Cũng có đôi lần ông Thất áy náy về sự nặng tay của mình, nhưng
lòng tự ái của một kẻ có quyền uy như ông đã sớm xua đuổi ra khỏi tâm
hồn một điều thắc mắc kiểu đó. Ông gào to lên:
- À, ra mày là con của tên ăn trộm ngày xưa. Mày muốn những gì?
Gã kia trợn mắt:
- Mày phải đền tội!
Ông Thất hét to:
- Tội gì? Tao không đánh chết thằng cha của mày. Nhưng dù có đánh chết được một tên đạo tặc như vậy, tao cũng hả dạ.
Vẻ mặt người kia tối sầm hẳn lại, có lẽ phẫn nộ của gã lên đến
cực điểm. Gã đứng câm lặng như tuồng giận dữ làm cho lời nói nghẹn ngào.
Giây lâu, gã mới cất tiếng phều phào:
- Nếu ngươi có lòng sám hối, biết quỳ lạy ta thì ta tha mạng. Bằng không, thì hãy đến bìa rừng này.
Quỳ lạy một người còn trẻ hơn ông, và là con của một kẻ đạo tặc,
làm sao có thể nghe những lời hỗn xược ấy mà không lồng lộn lên được?
Kẻ kia đã để ông uống rượu say, rồi nung chín muồi tự ái của ông cho ông
choáng váng mới hạ độc thủ đó chăng? Tự nhiên, ông Thất cũng cảm thấy
nỗi lo sợ. Tuổi già đã đánh mất niềm tự tin khi phải đối đầu chướng
ngại.
Ông quay nhìn các người quanh mâm rượu. Đó toàn là những người
quen, điểm vài khuôn mặt thân hữu và đôi mặt lạ. Ông chờ đợi họ một lời
cản ngăn và tốt hơn nữa một lời bênh vực. Nhưng họ thảy đều im lặng, một
sự im lặng đồng lõa chứ không phải là kết quả của lòng sợ hãi.
Ông Thất cảm thấy lạc loài, cô độc. Thế ra những người từng tỏ
ra trọng vọng ông, những người từ trước đến nay từng khâm phục ông, nay
lại chối bỏ đột ngột sự tín nhiệm ấy là vì lẽ nào? Cuộc đời có lẽ đã đổi
thay rồi và các giá trị mà ông khoác vào từ trước hẳn đã suy giảm rồi
chăng? Nhưng gã đối thủ của ông như hiểu được nỗi bàng hoàng đang làm
xáo động hồn ông, gã nói một cách khinh bỉ:
- Ngươi đừng tưởng rằng giữ ngựa cho lũ vua quan là đáng kính nể hơn những người ăn trộm ngựa.
Ông Thất quắc mắt:
- Nhà ngươi không được xúc phạm...
- Xúc phạm! Xúc phạm đến ai? Đến ngươi hay là đến lũ vua quan?
Thôi đi, chuyện đó xưa rồi. Nhưng còn mối thù của ta thì không bao giờ
cũ được. Hãy ra ngoài này, không thì ta kéo cổ ngươi đi ra tức khắc.
Ông Thất lảo đảo ra ngoài bìa rừng. Đêm trăng, cỏ ướt đẫm sương
lốm đốm điểm bạc. Ông nghe lạnh dưới đôi chân, lạnh khắp mặt mày. Lòng
căm hờn của kẻ kia đã dựng ông thành đối thủ của nó. Đáng lẽ thì ông
không chịu giao đấu, nhưng tự ái và danh dự đã tổn thương rồi, không thể
im lặng, không thể chối từ, và điều chắc chắn đối thủ của ông không cho
phép ông được quyền từ chối.
Họ đã im lặng đánh nhau dưới ánh trăng soi vằng vặc. Những ngón
quyền đánh trúng mặt làm cho ông Thất bừng tỉnh, và ông tìm lại phong độ
đã mất ít nhiều trong những năm qua.
Đối thủ của ông tuy còn trẻ hơn và mang căm hờn sôi sục nhưng tỏ
ra rất bình tĩnh, gã đánh những đòn quyết liệt nhưng có tính toán.
Chừng như gã biết là phải đối phó với một hạng người như thế nào rồi. Cả
hai vờn nhau, sử dụng quyền cước và tất cả ngón bí truyền đã học tập
được. Nhưng rồi ông Thất không chịu nổi một đối thủ lợi hại như vậy. Khi
ông bị đánh ngã quỵ xuống đất, vừa toan lồm cồm trỗi dậy thì bàn chân
gã đã đạp lên giữa mặt ông. Ông lại ngã ngửa người ra, chịu bàn chân ấy
ấn mạnh đầu ông xuống cỏ rất lâu tưởng chừng nghẹt thở. Đất cát dẻo
quánh hơi sương chà xát trên lớp da mặt nhăn nheo do bàn chân kia đem
tới đã phủ một màng ô nhục lên con người ông. Nằm yên trong sự thảm bại
đau đớn, ông chờ đợi một cái chết giáng xuống vội vàng.
Nhưng ông đã đợi khá lâu mà không nghe động tĩnh gì. Ông Thất hé
mắt và thấy đối thủ đứng im nhìn ông một cách lặng lẽ. Chắc hẳn bây giờ
gã mới tìm thấy kết quả của sự báo thù héo hắt, nhỏ nhoi không biết
chừng nào. Rồi gã từ từ rời bàn chân ra khỏi cái đầu bạc, nói giọng chán
nản:
- Bây giờ ta có giết mày cũng được, nhưng cái mạng mày có nghĩa
lý gì! Mày bảo trước kia đã không đánh chết cha ta, thì nay ta cũng
không đánh chết mày.
Rồi gã lặng lẽ quay lưng đi thẳng vào rừng. Hồi lâu ông Thất mới
ngồi dây nổi, bởi những đau đớn thể xác cùng với đau đớn tinh thần thật
quá nặng nề.
Khi ông loạng choạng đứng lên, ông thấy chung quanh vắng lạnh mênh mông như cõi nhà mồ rộng lớn.
Ông về đến nhà thì trời gần sáng. Không rửa sạch vết cát bùn lấm
đầy mặt mũi, ông gọi một đứa cháu gái sang tìm ông Tám ở mạn Bầu Nai.
Ông Tám đến ngay buổi sáng hôm ấy. Cầm lấy bàn tay gầy guộc của em, ông Thất nghẹn ngào kể lại sự việc, rồi tiếp:
- Thằng Mười Hổ đó trước kia đã phải tự vận vì sợ cực hình. Anh
đây không thể sống nổi, vì sợ một cực hình khác đau đớn hơn nhiều, đó là
nỗi nhục trong chuỗi ngày tàn. Hãy nghe đây lời anh dặn: Em đừng tính
chuyện phục thù, vô ích. Em đã già rồi, mà hắn còn trẻ, lại thêm tung
tích của nó không biết về đâu. Dù sao cũng là câu chuyện có vay có trả,
trên cuộc đời này.
Rồi ông uống chén độc dược, lìa đời. Và cuộc sống đã làm xong
một cuộc tính sổ, trong muôn ngàn chuyện đang được kết toán hằng ngày.
Ông Tám chôn cất anh xong, thu xếp việc nhà của anh cho được
mọi phần yên ổn, rồi lâm bệnh nặng. Ông không chịu dùng thuốc thang gì
hết, mặc dù người nhà đã cố ép nài, lặng lẽ đi theo người anh kết nghĩa
về cõi đời khác.
1971





