Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

TÌM NGỰA - Vũ Hạnh


Gần Tết Nhâm Ngọ, ông Thất Cừ ở kinh đô về, cỡi con ngựa ô tuyệt đẹp. Một tối, ông ghé nghỉ lại quán trọ bên đường, sáng dậy thì con ngựa ông biến mất. Dò theo các dấu chân ngựa, ông Thất tìm đến một ngôi nhà nhỏ ven rừng. Ngôi nhà xác xơ cô độc, khiến ông nghĩ tới sào huyệt bọn cướp. Lúc đó, trời đã đứng bóng, ông Thất bụng đã đói mèm. Ông tới sát vách, ghé tai nghiêng mắt nhìn vào bên trong. Gian nhà trống trải chỉ chiếc giường tre ọp ẹp, trên đó một người nằm ngủ say vùi, tiếng ngáy kêu ồn như tiếng cưa gỗ. Ông Thất gọi cửa. Hồi lâu, người kia mới bừng tỉnh giấc. Dụi mắt, vươn vai, anh ta lảo đảo bước ra, chống cửa mời ông Thất vào.

Ông Thất vội nói:

- Tôi đến đây làm phiền anh, là vì tôi mất con ngựa trong đêm vừa rồi.

Chủ nhà, một người gầy ốm, với đôi mắt sáng và chiếc miệng nhỏ nhìn xéo ông Thất mà không nói một tiếng nào.

Ông Thất lại tiếp:

- Kẻ đã sơ suất bị trộm lấy mất đồ vật phải chịu thiệt thòi. Đáng lẽ thì tôi không được quyền hỏi đến anh, nếu tôi không nhìn thấy dấu chân ngựa của tôi đi vào nhà này.
 
Người kia vẫn trầm ngâm một lúc lâu, rồi chậm chạp nói:
- Kể ra đôi mắt của ông khá tinh, nhìn ra dấu ngựa trên nửa ngày đường bụi cát không phải là chuyện dễ dàng. Vậy xin hỏi thiệt: bây giờ ông muốn thế nào?

Ông Thất đáp ngay:

- Muốn chuộc lại con ngựa ấy.

Người chủ nhà đáp:

- Chậm quá. Ngựa đã bán rồi.

- Bán ở nơi nào? Tôi sẽ tìm đến.

Người chủ nhà nhíu mày, bảo:

- Ông có sẵn tiền nên mua ngựa khác mà dùng, chuộc làm gì thêm phiền phức.

- Nhưng đó là con ngựa quý, tôi đã nuôi lâu. Vật đã quen người không thể nhất đán xa lìa mà không tìm cách thâu hồi trở lại.

- Chắc là ông chưa ăn trưa?

- Thú thiệt là chưa. Quanh đây không tìm thấy quán xá nào.

- Còn ít cơm nguội và mắm để dành buổi chiều. Ông có thể ăn đỡ đói.

Chủ nhà lại xuống lúi húi dọn cơm. Ông Thất ngồi nhìn căn nhà vắng vẻ, trống trải, nghĩ ngợi lan man về người đã lấy trộm ngựa của mình. Nhưng quá đói lòng nên khi chủ nhà vừa bưng cơm lên, ông không đợi mời tới tiếng thứ hai, cầm đũa ăn liền. Bữa cơm quá mức thanh đạm nhưng chưa bao giờ ông Thất ăn ngon như vậy. Uống một bát nước chè tươi để thêm no bụng, ông ngả lưng ra trên giường, gối đầu trên chiếc gối gỗ, lim dim tìm giấc ngủ trưa.

Thiếp được một giấc, và thấy đã bớt nhọc mệt của chuyến đi tìm vất vả từ sớm, ông bèn ngồi dậy. Chủ nhà ngồi im dưới đất, dựa lưng vào cột, phì phèo một điếu thuốc lớn. Ông Thất xẵng giọng:

- Thế nào? Con ngựa tôi đâu?

Chủ nhà nhìn ông, trả lời:

- Đã nói bán rồi.

Ông Thất hùng hổ đứng lên, nói lớn:

- Tôi bảo cho tôi chuộc lại kia mà.

Chủ nhà vẫn cứ ngồi yên không đáp. Ông Thất giận dữ la lên:

- Hay thiệt! Ngươi đã ăn cắp ngựa quý của ta, đã chịu thú nhận như vậy, rồi khi ta thấy cảnh ngươi nghèo đói muốn bỏ tiền ra chuộc lại, ngươi vẫn làm thinh là nghĩa lý gì? Coi thường luật pháp như nhà ngươi đây là quá lắm rồi.

Chủ nhà bỗng cười to lên, đáp lại:

- Ông đừng nổi nóng, vô ích. Đáng lẽ ông phải hiểu rằng ta không thèm chối chuyện ăn cắp ngựa từ đầu, bởi ta không phải là hạng chuyên nghề ăn cắp. Nếu cần nói cho ra lẽ, thì dấu chân ngựa của ông vào đây chưa phải là lý do chắc để ông nhất quyết ta là ăn trộm. Ai cấm kẻ gian cỡi con ngựa quý của ông ghé vào xin nước, xin cơm, như ta sẵn sàng để thết đãi ông vừa rồi?

- Nhưng ta bảo thật: ta cần con ngựa, dù phải trả bằng giá nào.

- Vậy thì ông cứ tự tiện tìm ngựa, nào ai có cản ngăn đâu?

Ông Thất không nén được giận, nhảy đến toan nắm lấy cổ người kia kéo dậy thì gã gạt tay ông ra, chồm lên:

- Được lắm. Ngươi thắng nổi ta, thì cho ngươi lại con ngựa.

Hai người hăm hở xông tới, hươi quyền đánh nhau. Trong ngôi nhà chật, họ phải áp tới loạn đả và cả hai người ban đầu còn tỏ đôi chút dè dặt để dò sức nhau, dần dần chính sự va chạm mạnh mẽ ở trên cơ thể khiến họ được đốt nóng lên, quyết ăn thua đủ.

Nhưng hai đối thủ thật là cân sức nên sự thắng bại khó quyết định được. Họ im lặng tấn công nhau, dùng các ngón nghề thành thạo để mà giành lấy ưu thế. Ông Thất tinh thông võ nghệ nhưng các đòn đánh không lanh, không chắc như người chủ nhà, ngược lại các thế đánh của chủ nhà đều bị ông Thất ngăn chận. Cuộc đấu kéo dài khá lâu, hai đối thủ đã mệt nhoài và đến một lúc họ dừng tay lại để thở.

Người chủ nhà nói:

- Vậy thì ông chưa thể lấy lại con ngựa quý.

Ông Thất đáp lại:

- Được lắm. Ta sẽ tiếp tục.

Cả hai lại xông vào cuộc giao đấu. Bây giờ ông Thất quyết dùng các ngón độc hiểm để hạ tên trộm gan lỳ, nhưng tất cả ngón bí truyền của ông vẫn không thể nào quật ngã được hắn. Có lúc ông dùng song phi tới tấp theo kiểu liên hoàn tưởng quật ngã nhào được gã, nhưng lúc ông toan áp đến khóa chặt gã nằm dưới đất thì gã đã lanh hơn một con sóc trườn mình nhổm dậy hươi cả song quyền vào bụng của ông. Càng tiếp tục cuộc giao đấu, ông Thất nhận thấy gã ăn trộm ngựa là tay bản lĩnh cao cường và gã không dùng một ngón đòn nào thật là ác độc để triệt hạ ông.

Họ đánh đến chiều thì mệt rã rời. Hai người chỉ còn thủ thế nhìn nhau, chờ đợi đối thủ sơ hở để mà tấn công. Bên ngoài hoàng hôn xuống mau giữa chốn rừng cây vắng vẻ, và tiếng bìm bịp, chào mào kêu vang trong các bụi rậm, nhớn nhác đón chờ đêm tới. Trong nhà, hai người không còn nhìn rõ nhau nữa. Đó là hai cái bóng đen vờn nhau, tiếng thở hào hển mỗi lúc mỗi vang to hơn. Cuối cùng, gã chủ nhà bảo:

- Trời đã tối rồi, chúng ta hãy nghỉ tay đã. Tôi còn phải lo cơm nước cho hai chúng ta.

Ông Thất không mong đợi gì hơn cuộc hưu chiến. Ông buông tay, đến ngã người trên chiếc giường, kéo áo lau lớp mồ hôi dầm dề trên mặt. Người chủ nhà chậm chạp xuống bếp thổi lửa, đốt một bó đuốc dầu chai cắm giữa gian nhà. Đoạn, hì hục nấu cơm tối. Ông Thất thiếp đi một giấc mê mệt rồi nghe gọi dậy. Chủ nhà đã đặt mâm cơm dưới đất, cạnh ngọn đuốc sáng và mời ông lại. Trên chiếc mâm gỗ cũ kỹ chỉ có chén nước mắm lớn, một ít rau rừng luộc chín, cạnh một nồi cơm.

- Mời ông dùng tạm bữa cơm nghèo khó. Chắc ông đã quen với món cao lương, khó lòng dùng mãi các thứ đồ ăn thanh đạm thế này.

Ông Thất cố giữ vẻ mặt tự nhiên, đáp lại:

- Chủ nhà có lòng cho ăn là tốt lắm rồi.

Và ông ngồi lại, ăn khá ngon lành. Vừa im lặng nhai cơm nóng với món rau rừng chấm mắm, ông tự hỏi thầm: "Quái, sao tên trộm sống nghèo khổ thế này? Món tiền bán ngựa vừa rồi hắn đã làm gì?".

Hai người ngồi ăn, không ai nói chuyện với ai lời nào. Cơm nước xong rồi, ông Thất lại giường ngồi nghỉ. Chủ nhà đã vấn cho ông một điếu thuốc lá khá lớn đặt trên chiếc dĩa, để ở đầu giường. Đợi cho ông Thất hút tàn gần nửa điếu thuốc, gã nói:

- Bây giờ đã tối, cơm nước đã xong, ông muốn chúng ta tiếp tục đấu nữa hay là chờ đợi ngày mai?

Ông Thất yên lặng suy nghĩ, rồi móc túi bạc đặt ở trên giường. Ông nói:

- Dù có đấu sức suốt cả đêm nay, ta chắc cũng không làm sao phân được thắng bại với anh. Coi như là tài võ nghệ của ta không sao giúp ta đoạt được lại con ngựa quý. Vậy ta bằng lòng đem tiền để chuộc, anh cứ ra giá cho xong. Ngặt con ngựa ấy là vật kỷ niệm cha ta lưu lại, nếu không ta cũng sẵn sàng cho đứt luôn anh, chẳng phải mất tiền chuộc lại làm gì.

Gã chủ nhà đáp:

- Tôi không phải sống bằng nghề trộm đạo. Ông coi, một tên trộm cướp không phải cực khổ thế này. Một con ngựa quý của ông cũng đủ cung cấp rượu thịt cho tôi suốt mấy tháng trường, can chi lại ăn rau rừng với mắm cho khổ tấm thân. Nhưng nghề đốn gỗ của tôi không lấy gì làm thong thả.

Ông Thất bèn hỏi:

- Vậy ngựa tôi đâu?

Gã chủ nhà đáp:

- Được rồi, ông cứ ngủ lại. Ngày mai, ông sẽ có ngựa cỡi về.

Ông Thất do dự giây lát, rồi hỏi:

- Anh không phải là trộm cắp, sao lại có ngựa để giao cho ta?

Gã chủ nhà có vẻ buồn, trả lời:

- Chính tôi là kẻ ăn cắp, nhưng tôi không sống bằng cái nghề này.

- Ta thực chưa hiểu ý anh thế nào...

Gã chủ nhà đi tìm chiếu, trải dưới nền đất cạnh cây đuốc sáng và nằm dài ra phì phèo điếu thuốc. Ông Thất cũng nằm trên giường nghiêng nhìn phía gã, chờ đợi một câu trả lời.

Lâu lắm không thấy gã nói tiếng nào, ông bèn gợi hỏi:

- Sao anh không chịu lấy món tiền chuộc của ta?

Gã chủ nhà đáp:

- Lấy để làm gì? Tôi mến tài năng và đức độ ông nên phải nói hết sự thật để cho ông nghe.

Và gã bắt đầu kể chuyện...

Gã có người bạn là một thợ rừng bị cây ngã đè ở trong hốc núi. Nhà nghèo, bệnh nặng, bạn gã không sao chạy nổi thuốc thang. Cảm thương cảnh ngộ của bạn, gã tìm mọi cách giúp đỡ nhưng không biết phải xoay xở thế nào. Biết tên Chánh Tổng trong vùng thích ngựa, gã nảy ý kiến ăn cắp một con ngựa tốt để bán cho y. Một tối, tìm đến quán trọ bên đường, gã bỗng gặp con ngựa ô của ông Thất Cừ. Nghĩ rằng người cỡi ngựa quý không phải là hạng nghèo nàn - lấy mất của nó, thì nó tìm mua ngựa khác - gã đã lẻn vào trong chuồng giữa lúc đêm khuya, mở dây, dắt ngựa ra đường, cỡi phóng như bay. Sáng đến, đem bán cho tên Chánh Tổng lấy đúng năm trăm quan tiền. Cả số tiền ấy, gã đã đem giúp người bạn nghèo khổ lâm nguy.

Người chủ nhà tiếp:

- Tối nay, tôi sẽ giở trò trộm đạo một lần thứ hai để mang ngựa về cho ông.

Ông Thất bèn nói:

- Rất tiếc là ta không còn đủ số năm trăm quan tiền. Túi bạc mà ta mang theo chưa đến nửa phần giá ấy. Nếu có, ta sẽ giao hết cho anh đem chuộc lại con ngựa kia cho khỏi ân hận trong lòng.

Người chủ nhà ngồi dậy, nhìn ông Thất Cừ với một vẻ mặt xúc động rồi tiến đến gần bên ông, chắp tay thưa rằng:

- Xin cám ơn ngài. Thực là ít có một người hào hiệp như ngài. Dù có đủ số tiền ấy, ngài giao tôi cũng chẳng dám nhận lãnh. Một là viên Chánh Tổng kia mua được ngựa quý, giá hời, lão đâu chịu cho chuộc lại? Của tốt vào được trong kho nhà giàu, dễ gì đã được buông ra mà không đem lại món lời gấp chục, gấp trăm. Hai là tôi không muốn người bạn tôi phải chịu ơn ngài. Anh ta nghèo khổ nhưng rất trong sạch, lại quá khí khái đâu muốn nhận tiền của kẻ lạ mặt. Bởi ngài chuộc ngựa là coi như cho gia đình anh ta cả món tiền kia.

Ông Thất Cừ nói:

- Sao lại không thể coi đó là tiền mà ta cho mượn dài ngày?

- Mượn mà biết không trả được, có khác gì là xin xỏ hay cướp giật đâu. Ông đừng bận tâm. Khuya nay, tôi sẽ lẻn vào bắt lại con ngựa cho ông. Viên Chánh Tổng kia giàu quá, lấy bớt năm trăm quan tiền cũng chẳng hề gì. Trong khi người ta lâm nạn, chờ chết, đến van xin nó cũng chẳng có được đồng nào.

- Nhưng viên Chánh Tổng có biết rõ mặt anh không?

- Cũng ở trong vùng, biết nhau rõ lắm.

- Vậy anh lấy lại ngựa rồi, hẳn gã phải nghi ngờ anh, đâu có sống yên đây được.

- Từ tối, tôi có nghĩ đến điều này. Chắc tôi sẽ phải trốn đi nơi khác.

Ông Thất đỡ gã chủ nhà cùng ngồi xuống giường với mình, thân mật nói rằng:

- Một người tốt lòng với bạn như anh, bao giờ cũng tốt với những bạn khác. Mong rằng tôi sẽ được anh coi như là bạn, kể từ đêm nay.

- Xin cảm tạ ngài.

- Đừng gọi bằng ngài. Chúng ta đã là anh em, cứ gọi nhau bằng thứ bậc ở trong gia đình. Tôi là thứ năm. Còn anh thứ mấy?

- Dạ, tôi thứ tám.

- Chú Tám, nếu chú liệu không thể sống ở đây được nữa hãy về quê anh mà cùng nương tựa với nhau, đừng ái ngại gì.

Ông Thất nói rõ quê quán, chức vụ của mình cho người bạn mới hiểu rõ. Chủ nhà tỏ ra hết sức xúc động trước tấm lòng tốt của khách. Cả hai chuyện trò khá lâu, cho đến gần khuya thì ông Thất giục:

- Chú hãy nằm nghỉ giây lát rồi chúng ta cùng lên đường.

- Không, anh để tôi đi một mình.

- Đâu được. Chú đã cho biết nhà viên Chánh Tổng hào sâu, thành dày, gia đinh đông đảo, chú đi một mình có thể gặp sự khó khăn. Chúng ta đã là anh em, lẽ nào lại để chú đi vào nơi nguy hiểm một mình.

Ông Tám cảm động trước những lời nói chí tình, đáp lại:

- Đã làm phiền anh, còn nhọc đến anh làm gì. Em phải chịu phần trách nhiệm đem con ngựa về.

Ông Thất nghiêm sắc mặt bảo:

- Chú nói như vậy, anh không bằng lòng. Anh có bổn phận với chú, đừng nên thắc mắc bận tâm gì hết.

Ông Tám đáp lời:

- Vậy thì mời anh lên đường, vì còn xa lắm. Nghỉ ngơi e lại trễ mất.

Cả hai cùng giắt vào mình một thanh đoản đao, uống thêm ngụm nước chè nguội rồi tắt đèn, mở cửa, đi vào đêm tối. Ông Thất im lặng theo sau người em kết nghĩa, nghĩ thấy mọi sự xảy ra là một run rủi kỳ lạ, đã đưa đẩy ông, một người lương thiện có chút phẩm trật ở trong làng nước thành một kẻ trộm, và ăn trộm chính con vật của mình!

Sang đầu canh ba thì cả hai người đi tới một vùng đất cao, cây cối rậm rạp. Ông Thất nhìn được trong bóng đêm dày tòa nhà sừng sững trước mặt, chung quanh có thành lũy cao. Ông Tám ghé vào tai ông, bảo nhỏ:

- Đây là nhà viên Chánh Tổng, dinh cơ của lão nằm trên sườn đồi, nhìn xuống phía trước là đồng ruộng lớn. Tất cả ruộng đất ở đây đều thuộc về lão.

Ông Thất nghĩ thầm:"Làm Chánh Tổng như tên này có khác gì làm vua đâu. Hẳn là mồ hôi, xương máu của dân bị nó vơ vét cuốn hút đã quá nhiều đời nên mới có một sản nghiệp lớn lao như thế". Ông Tám bảo thêm:

- Anh nên cẩn thận. Bây giờ phải lội qua một hào sâu mới đến chân thành. Leo được tường rồi, phải qua mấy dãy sân rộng mới đến khu vực nhà ở. Chó săn của lão nhiều lắm mà gia đinh cũng đông đảo.

- Thế chú biết rõ chuồng ngựa của lão nằm ở đâu không?

- Dạ không. Mua bán vật gì chỉ đến gặp lão ở tiền đường kia, không phải tâm phúc đâu có vào trong ấy được.

- Chúng ta sẽ tìm, đừng ngại.

Hai người lặng lẽ cởi đồ, đội lên đầu, rồi cùng men xuống bờ hào, nhẹ nhàng lội qua vùng nước lạnh buốt và sang được bờ bên kia. Mặc quần áo xong, cả hai men theo bờ tường đi về phía sau. Theo sự suy luận của ông Tám thì các cửa hậu bao giờ cũng kém kiên cố hơn là cửa tiền và chỉ có bằng lối ấy mới lọt vào bên trong được. Tới nơi, cả hai hợp sức dùng đao mới đẩy bật được cánh cửa. Hai người lách vào, bò rạp xuống đất men theo bờ tường bên trong để tìm chuồng ngựa. Cứ được một quãng, ông Tám lại ghé tai sát xuống đất nghe ngóng. Khi vừa đến sau một dãy nhà dài, có lẽ là dãy kho thóc, ông Tám vội ngồi thụp xuống và kéo ông Thất ngồi theo. Có tiếng người đi và tiếng chó hực, gầm gừ, đánh hơi người lạ. Giây lâu, không thấy động tĩnh gì nữa, cả hai lại cùng nhổm dậy, lom khom bước tới. Đêm tối làm cho họ bước khá chậm. Cuối cùng, ông Tám ghé sát ông Thất, bảo nhỏ:

- Đến chuồng ngựa rồi.

- Thật hả? Sao biết?

- Có tiếng ngựa hí, tiếng chân đạp trên nền đất.

Ông Thất áp tai xuống đất nghe ngóng hồi lâu:

- Quả chú tài thật.

Hai người lần mò đi một quãng nữa, quanh co qua các dãy nhà. Mùi rơm cỏ, mùi phân, bao nhiêu là mùi ẩm mốc bốc nặng trong đêm giúp cho lỗ mũi hai ông thay thế được cặp mắt nhìn một cách khá rõ. Lát sau, họ đến chuồng ngựa. Nhẹ nhàng, ông Tám lấy dao nạy cửa. Nhiều tiếng ngựa hí vang lên trong đêm tối dày.

Ông Thất kéo ông Tám lại:

- Chú gác ngoài cửa, để tôi đi vào. Ngựa tôi quen chủ, tôi dễ tìm hơn.

Ông Tám vâng lời. Đứng im một lát cho bầy ngựa bớt náo động và cặp mắt quen bóng tối đông đặc bên trong, ông Thất rón rén đi vào. Quả con ngựa ô đánh hơi được người chủ cũ, nện móng đì độp và hí vang rền. Ông Thất vỗ nhẹ trên lưng con vật:

- Ta đây. Ta đến đưa con về lại với ta.

Con ngựa vung đầu, đạp chân, ngoay ngoảy mình mẩy ra tuồng vui vẻ gặp được chủ cũ. Tháo vội dây cột, ông dắt nó đi ra ngoài. Bỗng trước mặt ông, một người xuất hiện. Ông hỏi:

- Chú Tám đó hả?

Một giọng ngái ngủ trả lời:

- Tám, chín gì nào. Bây to gan thật, dám ăn trộm ngựa cụ Chánh...

Ông Thất lợi dụng bóng tối, đánh ngay một quyền vào bụng dưới gã. Người kia kêu ối một tiếng, ôm ruột, gập người cúi xuống. Ông Thất đã nhanh như cắt, nhảy tới ôm vật gã xuống, đè lên, chiếc đùi chận lấy cổ họng, sờ soạng tìm khăn nhét vào họng gã.

Người kia ú ớ:

- Xin đừng giết tôi... Tôi là đầy tớ trong nhà.

- Im đi, ai muốn giết mày làm gì... Tao chỉ cần lấy ngựa thôi. Chiều nay thấy thằng Chánh Tổng mua được con ngựa đẹp quá, tao mượn cỡi chơi ít lâu, khi nào có dịp ghé lại tao sẽ giao trả.

Ông nghĩ một chút lại tiếp:

- Nhưng cái đó còn tùy ở túi tiền mua rượu của tao. Hễ Thiên Vương này dư tiền uống rượu thì tao chẳng tiếc gì ngựa mà không trao trả...

Khi ông Thất nới đầu gối của mình để nhét khăn vào họng gã, gã run rẩy nói:

- Xin ông...

- Cái gì?

- Ông trói giúp tôi thật chặt và bỏ tôi vào góc chuồng...

- Sao mày lại muốn trói chặt?

- Ông có trói kỹ thì ông Chánh trừng phạt tôi nhẹ hơn. Không vậy, ông Chánh lại tưởng tôi thông đồng với bọn cướp.

- Tao không phải cướp!

- Dạ, tôi không có ý nói thế. Xin ông...

- Được rồi, nằm im, tao sẽ làm theo ý mày.

Sau khi trói chặt, ôm gã bỏ vào một xó, ông Thất tháo khăn nhét vào họng gã, dắt ngựa ra ngoài.

Rồi cả hai người vòng ra ngoài thành tìm đến cầu treo bắc qua hào nước, hạ xuống. Dắt ngựa qua khỏi, ông Thất bảo ông Tám cùng leo lên và trên con ngựa thiếu yên cương, hai người phi gấp về nhà.

Đến nhà, thì trời hừng sáng. Ông Tám nhảy vọt xuống ngựa, nói liền:

- Gia đình của thằng Chánh Tổng không thiếu gì đứa trước kia là tay trộm đạo có tài. Nó sẽ dò theo dấu ngựa tìm đến nơi đây rất sớm. Để em thổi gấp cơm ăn rồi anh lên đường.

Ông chạy xuống bếp lo cơm. Ông Thất theo xuống phụ lực, rồi hỏi:

- Vậy chú làm sao ở yên nơi này?

- Thưa anh, em sẽ liệu cách đối phó.

- Không được. Chú nên theo về quê anh cùng sống cho vui. Đến dịp ra kinh, anh sẽ tìm cách để tiến cử chú.

- Em xin cảm ơn lòng tốt của anh. Nhưng em còn người bạn cũ bị cây rừng đè vẫn chưa bình phục, không thể xa được. Khi nào em liệu khó sống nơi đây, em đến tìm anh.

Mối duyên gặp gỡ giữa hai người ấy khởi sự là vậy. Trước khi lên ngựa ra về, ông Thất cầm tay người em kết nghĩa, bảo rằng:

- Em rán giữ mình, đừng nghi ngờ sự chân thật của anh. Chúng ta đã là anh em, còn hơn cả ruột thịt đó.

Rồi ông tạm biệt, lên đường về quê.

Khi ông Tám dọn chiếc giường, ông thấy gói bạc ông Thất còn trên đầu nằm. Ông thật bối rối không biết làm sao đuổi theo cho kịp để trao lại cho ông Thất. Ông cũng không dám mở ra để xem, vì ông nghĩ rằng bạc ấy chẳng phải của mình, lại là của người mà ông kính mến, làm mất dấu vết không chỉ thương tổn đến ông mà còn xúc phạm đến anh mình nữa. Nhưng một cuống lá khá dài thò ra từ gói bạc ấy. Kéo chiếc lá lên, ông đọc thấy dòng chữ nhỏ, có lẽ viết bằng gai nhọn, như sau: "Muôn sự của chung". Ông Tám cúi đầu, hiểu ý người anh kết nghĩa của mình.

Mấy năm về sau, đến khi người bạn thợ rừng qua đời, ông Tám mới dời đến ở cạnh làng ông Thất là miệt Bầu Nai. Ông vỡ đất hoang làm ruộng, không chịu ở nhờ ruộng đất của người anh mình, những lúc rảnh rỗi dành nhiều thì giờ thăm viếng hầu hạ ông anh. Tuổi già càng làm cho đời sống họ thiên nhiều về mặt tinh thần, do đó tình anh em họ lại càng đậm đà nhiều hơn.

Một đêm, ông Thất Cừ nhận lời mời của người quen ở xã Long Hồ, đến dự tiệc rượu. Giữa lúc chén uống đang nồng thì có một người trong đám bỗng hỏi ông ta:

- Xin vô lễ với ông Thất, chẳng hay ông còn nhớ những chuyện cũ hay không?

Ông Thất đáp lời:

- Chuyện cũ có trăm ngàn thứ, có thứ đáng nhớ, có thứ nên quên. Chẳng hay ông muốn nói đến chuyện gì?

Người kia đáp lai:

- Chuyện này chắc hẳn là ông không thể quên được, trừ phi ông muốn quên đi.

Ngừng lại một chút, người kia nói tiếp:

- Ông còn nhớ Lý Văn Hổ hay không?

Ông Thất nhíu trán, suy nghĩ, cố lục lọi trong ký ức:

- Lý Văn Hổ à? Là ai? Ta không nhớ rõ được con người ấy.

Người kia lại nói:

- Phải rồi, ông đã muốn quên.

- Không, ta chẳng muốn quên. Ta không thể nhớ đó thôi.

Người kia im lặng, nốc từng ngụm rượu khá lớn. Mâm tiệc trở thành khó chịu vì cái không khí mập mờ của sự khiêu khích bắt đầu. Ông Thất chăm chú nhìn kỹ người kia qua đôi mắt đã chấp chóa hơi men, cố lục lọi trong ký ức vẫn không nhìn thấy được gì hơn nữa. Thời gian đã phủ một tấm màn lớn như lớp sương mù dày đặc ngăn che quay về dĩ vãng xa mờ.

- Quả tình ta không nhớ được tên ấy là ai.

Câu nói có vẻ ôn tồn của ông rơi giữa mâm rượu bỗng làm người kia ngẩng mái đầu lên, quắc đôi mắt sáng, nhìn ông một cách hằn học:

- Thật tình là ông đã quên Mười Hổ phải không?

Ông Thất gật đầu:

- Đã quên. Ta có sợ gì phải chối nhớ lại cái tên không buộc cho ta bận lòng. Mười Hổ là ai, anh cứ nói ra.

Hơi rượu làm ông bốc nóng, ông tiếp:

- Mười Hổ hay trăm ngàn hổ, cũng vậy mà thôi.

Rồi cười ha hả:

- Cũng đều là hổ, chứ có khác gì!

Người kia đặt mạnh cốc rượu xuống chiếu, nói lớn:

- Ông đừng khinh mạn, xúc phạm cha ta!

Ông Thất ngạc nhiên:

- Ủa? Tên của thân sinh anh à? Làm sao mà ta biết được điều ấy?

Người kia vội rời chiếu rượu, đứng xuống chống nạnh, gườm nhìn ông Thất. Chủ nhà vội can:

- Thôi, thôi, đây là tiệc vui. Xin đừng gây nên những chuyện đáng tiếc.

Ông Thất để ý giọng nói của gã chủ nhà không có chút nhiệt tình nào, chừng như đó chỉ là câu chiếu lệ mà thôi. Bất giác trong một thoáng mau, ông Thất chợt nhớ là trong dĩ vãng họ có nhiều mối tị hiềm nhưng được thời gian làm cho phai mờ, như những bãi sình đã được cát lấp và trên cát ấy người ta tưởng rằng có thể trồng được những loài hoa đẹp. Nhưng đó chỉ là loài hoa ảo tưởng.

Người kia nghe chủ nhà nói, gằn giọng đáp lại:

- Được rồi, ta sẽ ra khỏi nơi đây để mà hài tội tên già.

Giọng nói mạnh mẽ của gã đối với chủ nhà cũng có vẻ gì giả tạo. Ông Thất nghĩ rằng có thể họ đã ăn ý cùng nhau trong một âm mưu hãm hại ông chăng? Nhưng chất men nồng bốc cháy hừng hực trên đầu, mọi ý đề phòng nhường bước cho lòng phẫn nộ, ông thấy căm giận cực độ vì lời xúc phạm của kẻ gây chuyện, nên cũng bước ra khỏi chiếu, hét lên:

- Mày đừng vô lễ. Ta muốn biết mày cố tình gây chuyện là vì lẽ gì? Cha mày với ta nào có quen biết gì với nhau đâu?

Gã kia hằn học:

- Mày đã đánh chết cha ta, rồi ném xác dưới bờ hào, còn nhớ hay không?

Ông Thất chợt thấy bàng hoàng. Trong cuộc đời huấn luyện ngựa cho vua, ông ta đã lỡ tay đánh chết một người. Đó là một tên ăn trộm ngựa quý của vua đem về bán lại cho các nhà giàu ở những miền xa, hẻo lánh. Hành vi trộm đạo của gã là một xúc phạm lớn lao đối với quyền uy thiên tử và cũng là một thách thức sỗ sàng đối với những người có phần trách nhiệm như ông Thất Cừ. Ông đã để tâm dò xét nhiều ngày và một đêm kia, ông đã bắt gặp thủ phạm. Hai người đấu sức quyết liệt và cuối cùng tên ăn trôm bị ông quật ngã. Trong lúc tuyệt vọng, gã đã tự vận để khỏi bị những cực hình giày vò và để gia đình khỏi bị liên lụy. Không ai biết gã là ai, quê quán nơi nào. Tên trộm đã chết, đã được vứt xác ngoài thành, rồi được treo lên lơ lửng đôi hôm trước khi chôn lấp.

Bây giờ, thì con trai hắn xuất hiện nơi đây, mang mối căm thù dồn chứa từ ba bốn mươi năm rồi. Chắc gã còn phải lớn lên, còn phải tầm sư học đạo, còn đợi cho triều đại kia sụp đổ và đợi cơ hội đến gần ông Thất. Căm thù đã lớn như cây cổ thụ và muốn đơm bông kết trái bây giờ.

Cũng có đôi lần ông Thất áy náy về sự nặng tay của mình, nhưng lòng tự ái của một kẻ có quyền uy như ông đã sớm xua đuổi ra khỏi tâm hồn một điều thắc mắc kiểu đó. Ông gào to lên:

- À, ra mày là con của tên ăn trộm ngày xưa. Mày muốn những gì?

Gã kia trợn mắt:

- Mày phải đền tội!

Ông Thất hét to:

- Tội gì? Tao không đánh chết thằng cha của mày. Nhưng dù có đánh chết được một tên đạo tặc như vậy, tao cũng hả dạ.

Vẻ mặt người kia tối sầm hẳn lại, có lẽ phẫn nộ của gã lên đến cực điểm. Gã đứng câm lặng như tuồng giận dữ làm cho lời nói nghẹn ngào. Giây lâu, gã mới cất tiếng phều phào:

- Nếu ngươi có lòng sám hối, biết quỳ lạy ta thì ta tha mạng. Bằng không, thì hãy đến bìa rừng này.

Quỳ lạy một người còn trẻ hơn ông, và là con của một kẻ đạo tặc, làm sao có thể nghe những lời hỗn xược ấy mà không lồng lộn lên được? Kẻ kia đã để ông uống rượu say, rồi nung chín muồi tự ái của ông cho ông choáng váng mới hạ độc thủ đó chăng? Tự nhiên, ông Thất cũng cảm thấy nỗi lo sợ. Tuổi già đã đánh mất niềm tự tin khi phải đối đầu chướng ngại.

Ông quay nhìn các người quanh mâm rượu. Đó toàn là những người quen, điểm vài khuôn mặt thân hữu và đôi mặt lạ. Ông chờ đợi họ một lời cản ngăn và tốt hơn nữa một lời bênh vực. Nhưng họ thảy đều im lặng, một sự im lặng đồng lõa chứ không phải là kết quả của lòng sợ hãi.

Ông Thất cảm thấy lạc loài, cô độc. Thế ra những người từng tỏ ra trọng vọng ông, những người từ trước đến nay từng khâm phục ông, nay lại chối bỏ đột ngột sự tín nhiệm ấy là vì lẽ nào? Cuộc đời có lẽ đã đổi thay rồi và các giá trị mà ông khoác vào từ trước hẳn đã suy giảm rồi chăng? Nhưng gã đối thủ của ông như hiểu được nỗi bàng hoàng đang làm xáo động hồn ông, gã nói một cách khinh bỉ:

- Ngươi đừng tưởng rằng giữ ngựa cho lũ vua quan là đáng kính nể hơn những người ăn trộm ngựa.

Ông Thất quắc mắt:

- Nhà ngươi không được xúc phạm...

- Xúc phạm! Xúc phạm đến ai? Đến ngươi hay là đến lũ vua quan? Thôi đi, chuyện đó xưa rồi. Nhưng còn mối thù của ta thì không bao giờ cũ được. Hãy ra ngoài này, không thì ta kéo cổ ngươi đi ra tức khắc.

Ông Thất lảo đảo ra ngoài bìa rừng. Đêm trăng, cỏ ướt đẫm sương lốm đốm điểm bạc. Ông nghe lạnh dưới đôi chân, lạnh khắp mặt mày. Lòng căm hờn của kẻ kia đã dựng ông thành đối thủ của nó. Đáng lẽ thì ông không chịu giao đấu, nhưng tự ái và danh dự đã tổn thương rồi, không thể im lặng, không thể chối từ, và điều chắc chắn đối thủ của ông không cho phép ông được quyền từ chối.

Họ đã im lặng đánh nhau dưới ánh trăng soi vằng vặc. Những ngón quyền đánh trúng mặt làm cho ông Thất bừng tỉnh, và ông tìm lại phong độ đã mất ít nhiều trong những năm qua.

Đối thủ của ông tuy còn trẻ hơn và mang căm hờn sôi sục nhưng tỏ ra rất bình tĩnh, gã đánh những đòn quyết liệt nhưng có tính toán. Chừng như gã biết là phải đối phó với một hạng người như thế nào rồi. Cả hai vờn nhau, sử dụng quyền cước và tất cả ngón bí truyền đã học tập được. Nhưng rồi ông Thất không chịu nổi một đối thủ lợi hại như vậy. Khi ông bị đánh ngã quỵ xuống đất, vừa toan lồm cồm trỗi dậy thì bàn chân gã đã đạp lên giữa mặt ông. Ông lại ngã ngửa người ra, chịu bàn chân ấy ấn mạnh đầu ông xuống cỏ rất lâu tưởng chừng nghẹt thở. Đất cát dẻo quánh hơi sương chà xát trên lớp da mặt nhăn nheo do bàn chân kia đem tới đã phủ một màng ô nhục lên con người ông. Nằm yên trong sự thảm bại đau đớn, ông chờ đợi một cái chết giáng xuống vội vàng.

Nhưng ông đã đợi khá lâu mà không nghe động tĩnh gì. Ông Thất hé mắt và thấy đối thủ đứng im nhìn ông một cách lặng lẽ. Chắc hẳn bây giờ gã mới tìm thấy kết quả của sự báo thù héo hắt, nhỏ nhoi không biết chừng nào. Rồi gã từ từ rời bàn chân ra khỏi cái đầu bạc, nói giọng chán nản:

- Bây giờ ta có giết mày cũng được, nhưng cái mạng mày có nghĩa lý gì! Mày bảo trước kia đã không đánh chết cha ta, thì nay ta cũng không đánh chết mày.

Rồi gã lặng lẽ quay lưng đi thẳng vào rừng. Hồi lâu ông Thất mới ngồi dây nổi, bởi những đau đớn thể xác cùng với đau đớn tinh thần thật quá nặng nề.

Khi ông loạng choạng đứng lên, ông thấy chung quanh vắng lạnh mênh mông như cõi nhà mồ rộng lớn.

Ông về đến nhà thì trời gần sáng. Không rửa sạch vết cát bùn lấm đầy mặt mũi, ông gọi một đứa cháu gái sang tìm ông Tám ở mạn Bầu Nai.

Ông Tám đến ngay buổi sáng hôm ấy. Cầm lấy bàn tay gầy guộc của em, ông Thất nghẹn ngào kể lại sự việc, rồi tiếp:

- Thằng Mười Hổ đó trước kia đã phải tự vận vì sợ cực hình. Anh đây không thể sống nổi, vì sợ một cực hình khác đau đớn hơn nhiều, đó là nỗi nhục trong chuỗi ngày tàn. Hãy nghe đây lời anh dặn: Em đừng tính chuyện phục thù, vô ích. Em đã già rồi, mà hắn còn trẻ, lại thêm tung tích của nó không biết về đâu. Dù sao cũng là câu chuyện có vay có trả, trên cuộc đời này.

Rồi ông uống chén độc dược, lìa đời. Và cuộc sống đã làm xong một cuộc tính sổ, trong muôn ngàn chuyện đang được kết toán hằng ngày.

Ông Tám chôn cất anh xong, thu xếp việc nhà của anh cho được mọi phần yên ổn, rồi lâm bệnh nặng. Ông không chịu dùng thuốc thang gì hết, mặc dù người nhà đã cố ép nài, lặng lẽ đi theo người anh kết nghĩa về cõi đời khác.

1971

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

NGÀY XƯA - Hoàng Phú

 
Nghe bài hát Ngày Xưa của Nhạc sĩ Hoàng Phú, xin mời bấm dưới đây:
 

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

BÃO NHỎ - Tôn Nữ Thu Nga


Biết nói những gì và phải bắt đầu bằng cách nào khi những hạt mưa li ti đọng đầy mắt bé. Khi nỗi buồn và sự giận hờn của bé như một màn sương giăng u ám trước mặt anh, bọc lấy quả tim anh vừa ngột ngạt vừa ngại ngùng.
 
Bé ạ, rằng hôm nay anh phải đi tuần ngoài biển, rằng hôm qua bão lớn, tàu về nấp trong vịnh thật nhiều thế là anh phải... rằng ngày mai anh trực. Bé, anh không đành nhìn đôi mắt bé hốt hoảng âu lo cho anh khi biết rằng sóng ngoài biển thật là cao mà chiếc tàu của anh thì... bé như một chiếc lá. Nên mỗi buổi chiều khi trời âm u, mây nặng trĩu những hạt nước như đôi má bé hồng hồng ngấm từng hạt lệ trong veo để anh hứng bằng đôi môi mình rồi thấy quá đỗi xót xa. Bé con yêu dấu. Sáng nay sau khi thức dậy, đã điểm tâm ngoài phố chợ, anh đi bộ lên đồi trở về doanh trại. Bé thấy đó, ngọn đồi thường hiu hắt và buồn. Con dốc cheo leo bọc quanh bờ biểm, đầy ổ gà và đá tảng làm đau bàn chân bé. Anh bước chậm rãi, hai tay bỏ trong túi quần, cúi nhìn con đường sỏi đá, nhớ bé, biết thế không hở bé con? Hôm nay anh chả thèm nghe tiếng sóng vỗ dưới chân đồi, không thèm nghe tiếng xao xác của lá cây mà chỉ nghe đâu đây giọng cười của bé dòn tan khi vui tươi, lạnh lùng khó chịu khi khiêu khích giận hờn. Chao ơi, thương bé ghê gớm. Chiếc khăn quàng bé làm đang êm ái bọc quanh cổ anh. Những tua len theo gió bay lất phất. Trời lạnh lắm, mùa đông trên đồi cao gió lộng này thì phải biết. Nhưng anh đã có vòng tay của bé, thật vậy, nên anh cảm thấy ấm lắm. Bé biết không? Anh bỗng nghĩ đến bé sáng nay, đã thức dậy và còn ngái ngủ như mèo con trong chăn nệm ấm hay bé đang thơ thẩn đến trường. Mặt vẫn còn buồn như hôm qua, hôm kia, khi anh ngập ngừng bảo bé rằng: "Mèo con ơi, ngày mai anh trực..." Thế mà cũng buồn. Anh không muốn đâu. Sách vở sẽ buồn lây rồi cuối năm bé khóc dưới bảng vàng. Ô, thế thì làm sao ba má cho phép anh mang trầu rượu đến?
 
Một ngày mới, giấy tờ, công việc mới, những con tàu to lớn mới về trong vịnh. Những người lính biển mới lên doanh trại... Nhưng mèo con ơi, nỗi nhớ cũ đã làm tê buốt quả tim anh rồi.
 
Buổi chiều thứ bảy. Chỉ có mình ngôi trường bé học vào chiều thứ bảy. Lớp bé lại phải học phiêu du tại nơi nào xa lắm. Có con đường cây cao im vắng đang thả xuống mặt nhựa những chiếc lá vàng. Có hai cái bóng đầm ấm dựa sát vào nhau. Rồi bé lại nghĩ đến con dốc lởm chởm đá tảng làm bé khó nhọc kinh khủng mỗi khi muốn vượt qua, đau đớn mấy ngón chân vì sợ trượt ngã. Mắt nâu ạ, hang động chi mà hiểm hóc quá, nhưng vì bé thương anh nên mới... tam tứ núi cũng trèo đấy. Chiều hôm nay trời vẫn còn u ám đến tội nghiệp. Chắc lại hờn đến sắp khóc đó thôi, như mèo con buồn mấy hôm nay vì người ta chả đến. Mèo con chợt trông thấy đôi se sẻ nhỏ ướt đuổi nhau nhảy nhót trên những cành phượng gầy làm lá vàng bay lả tả...
 
- Phiêu, mơ mộng gì đó?
 
Bé con giật mình ngồi ngay ngắn. Không dám nhìn nên không thấy đôi mắt thầy hóm hỉnh sau đôi kính. Thầy quay lên bảng, tay cầm viên phấn, giấu một nụ cười vừa tha thứ vừa phàn nàn. Bé con sợ hãi ngồi im nhìn dòng phấn trắng nhảy múa. Tim còn run nhè nhẹ...
 
Rồi chuông tan học rộn rã vang làm ba mươi mấy quả tim như muốn nhảy cỡn. Thầy vừa ra cửa. Phiêu đẩy mạnh Hà Minh khỏi ghế. Con nhỏ càu nhàu: "Làm chi mà hấp tấp rứa? Bộ dôn mi chờ à?" Mèo con chợt nhớ, trái tim mèo con bỗng se sắt. Tần ngần đứng lại thu hộ nhỏ Hà Minh mấy cây viết vào hộp mèo con đáp "không" nho nhỏ... Mèo con chả thèm để ý đến chữ "dôn" mà con bé ám chỉ Ngạn. Tụi nó ưa đùa nghịch thế đó từ khi biết có anh chàng mắt nâu đòi rước con bé về nhà... Mọi hôm mèo con thường đỏ mặt và hay cấu con nhỏ một cái điếng người. Hôm nay thì không, mèo con chỉ còn có nỗi buồn vì thiếu vắng mắt nâu. Mèo con lặng lẽ sánh vai Hà Minh đi ra. Trời đã sâm sẫm tối, mưa đã hơi bay bay trên hàng muồng xanh. Mèo con lo lắng nhìn bầu trời xám đục. Cổng trường đã vắng vẻ những bóng áo trắng. Mèo con vừa buồn vừa hãi sợ. Lạnh hai tay và gió thì cứ đùa những sợi tóc vào cổ áo. Mèo con ôm vở thật chặt, đi thật nhanh trên lề cỏ ướt... Mèo con bỗng trông thấy mắt nâu đứng mỉm cười sau thân cây lớn. Hết hồn. Hà Minh le lưỡi: "Chi như ma rứa" rồi vội vã leo lên xe nhà vừa trờ tới. Mèo con đứng lại, lặng im. Đôi má thụng xuống làm nũng nhưng đôi mắt mèo con đã ăm ắp nỗi vui mừng. Mắt nâu đến sát bên mèo con, cúi xuống và thở hơi thật ấm. "Bé con, lạnh không?" Mắt nâu lấy chiếc khăn quấn quanh cổ mèo con yêu dấu. Trời dần dần tối. Chiếc áo mưa rộng đủ cho bé con ẩn nấp. Ấm ghê lắm. Mèo con mỉm cười đầu ngả vào vai mắt nâu. Mèo con nghe mắt nâu thầm thì: "Ăn một chiếc kẹo cho ngọt môi nha bé. Mèo con nè, mai anh trực 24 trên 24 đấy, nhưng..." Chưa hết câu mắt nâu dừng lại nhìn sâu vào đôi mắt bé con chợt tối. Mắt nâu tinh nghịch cúi sát tai con nhỏ: "Buồn ư? Có gì đâu? Anh định nói là anh trực ở nhà bé con kia mà." Con bé bỗng bật cười theo khi nhìn những chiếc răng mắt nâu trắng bóng hở ra giữa đôi môi rồi nụ cười bỗng chạy khắp cùng má môi mắt mũi. Nhưng mèo con bỗng ngậm môi nguẩy đi phía khác, mười móng chân sóc nhỏ ấn trên tay Ngạn nhột nhột buồn buồn. "Hừ, em phải gọi anh là ác quỷ mới được Ngạn ạ". Mắt nâu lại cười, nụ cười dễ ghét làm nhăn nhó hai đuôi mắt. "Này, mắt anh lẳng quá làm em sợ." Mèo con thường bảo thế đó. Bây giờ thì đôi mắt ấy chập chờn trước mắt mèo con, đang úa như lá thu vì hờn giận. "Mèo con ơi, anh làm ông chằn thì ai yêu anh là bà chằn đấy, sợ không?" Rồi mắt nâu lại cười cười khó chịu. Mèo con mắc cỡ, đi thụt lùi trong cái áo mưa rộng ơi là rộng. Mèo con áp má vào cánh tay mắt nâu và mèo con thấy ghét mắt nâu ghê là... Cứ hay chọc người ta thôi. Mèo con cắn vào cánh tay mắt nâu nhè nhẹ và mèo con cảm thấy những ngón tay của mắt nâu đang nâng niu những ngón tay mình. Về đến nhà, con bé vui chi lạ. Để mắt nâu trụ trì trong phòng khách tán dóc với tụi nhỏ, mèo con đi thay áo, chải lại những sợi tóc gió bay rồi buộc lại bằng hai tua len đỏ. Mèo con vừa xếp gọn sách vở, vừa hát nho nhỏ. Mắt nâu đã tựa vào cửa phòng tự hồi nào mỉm cười trêu ghẹo: "Tối nay lạnh nên mèo kêu ghê quá, bé con ơi..."
 
Thế mà đã xa nhau một tuần rồi đấy, nỗi nhớ như muốn vỡ tung trái tim nhỏ bé của mèo con, mèo con không chịu nổi nữa đâu, trời mùa đông nay đã xanh cao, nắng vàng như mùa hạ nhưng vẫn làm mèo con buồn. Buồn đứt từng đoạn ruột. Buồn ngất ngư. Buồn nứt nẻ quả tim. Có ai biết cho mèo con đâu. Buổi tối, mèo con ngồi ôm mặt khóc bên bàn học, buổi sáng, mèo con lau nước mắt nơi cửa sổ. Đôi mắt mẹ nhìn mèo con ái ngại và dò hỏi làm mèo con càng tủi thân và nức nở nhiều hơn. Ừ, thế mà đã xa nhau đến một tuần. Đến một tuần nên mấy cây hoa của mèo con đã bắt đầu khô héo, đang đưa về phía mèo con những chiếc gáy xanh đáng thương còn mặt thì gục xuống. Tại người ta đó. Mèo con buồn, mèo con nhớ, mèo con càng giận hờn khổ sở. Ừ, thôi thì thôi, mèo con nhất định nghỉ chơi với người ta, mèo con không thèm, không thèm thương người ta nữa. Người ta chỉ là một con ác quỷ, người ta tàn ác ghê lắm, chả bao giờ cưng yêu mèo con nhỏ bé và tội nghiệp. Chả bao giờ biết trái tim xíu xiu của mèo con đã vỡ ra làm ba bốn mảnh buồn. Cơn giận đã đột ngột ùa đến giữa hai đứa mau và khốc liệt hơn cả trận bão Flossle. Mèo con càng nghĩ càng tủi thân buồn bã. Buổi trưa mèo con ngồi vào bàn ăn nhai uể oải, lầm lì với đôi mắt đỏ, mèo con ăn chút xíu để tự đày ải cho mình gầy ốm. Nắng chang chang mèo con thơ thẩn trong vườn mong cho mình gặp cơn đau thật trầm trọng... e khó sống. Sáng sớm tờ mờ mèo con đạp xe ra bờ biển, ngồi ngẩn ngơ nhìn mây còn mù xám ở chân trời để mặc cơn gió lạnh ngắt len lỏi qua áo mỏng làm quả tim rẩy run nhịp đập, ừ, thì để em đau ốm, em chết đi cho anh vui lòng. Rồi mèo con trở về nhà ; chân tay mặt mũi tái ngắt vì lạnh. Mèo con ngồi trên giường và mèo con thưởng thức dòng lệ nóng tràn lan trên má, mắt nâu ạ, anh sung sướng nhé, mèo con khổ sở anh đâu hay. Vì anh không thương mèo con nữa. Mèo con nghĩ thế và bỗng nghe đôi môi đẫm những giọt lệ mặn chao ôi là mặn.
 
Buổi sáng thứ bảy, mèo con ôm sách vở đến trường. Đôi má mèo con âm ấm sốt. Mèo con lạnh và run rẩy. Sách vở nặng trĩu và trái tim cũng nặng trĩu. Mèo con đến lớp, thẫn thờ cất tập vào ngăn. Im lìm ngồi chờ giờ học. Đôi mắt của mèo con buồn lắm. Bàng bạc trong ấy những mảnh trời xanh lơ nhìn qua ô lá thênh thang, một con đường nhựa vắng có cây cỏ thầm thì, bao la một đại dương thiếu vắng cánh buồm và ngân dài một khúc sầu ca ; thấp thoáng những ngón tay mềm trên từng giây trầm mặc. Những điệu ấy chẳng khi nào thoát khỏi những đôi mắt trong veo của tam quái cả. Hạ Liên chăm chú nhìn mèo con ba mươi giây và giật nẩy mình:
 
- Ôi, hôm nay công chúa ngọc thể bất an hả?
 
Hạ Liên sờ tay lên trán Phiêu:
 
- Sốt rồi, uống thuốc chưa? 
 
Phiêu gượng cười và gật đầu nhè nhẹ nhưng thực ra thì mèo con chả uống thuốc đâu. Mèo con thích được chết ngay cơ trời ạ.
 
Hà Minh thì thầm:
 
- Phiêu, răng mi buồn rứa?
 
Con nhỏ quay lại phía Thiên Quân:
 
- Nì Quân, mi có chọc ghẹo chi hắn không?
 
Quân trợn mắt:
 
- Ứ, ai mà thèm chọc ghẹo. Nó với chàng Ngạn giận nhau đó mi nờ. Ứ ừ, vậy mà cũng rộn! 
 
- Răng mi biết?
 
- Tao nghe con Dung em hắn nói hôm qua.
 
Hà Minh chen vào:
 
- Kể lại đầu đuôi coi nhỏ.
 
Mèo con tủi thân ứa hai giọt nước mắt trong veo trên mi, lúc lắc đầu không nói. Thiên Quân nhanh nhẩu kéo Hà Minh ra ngoài kể lại đầu đuôi. Ba con nhỏ thì thầm chi đó ngoài hành lang không biết. Mèo con càng nghĩ càng tức tối Ngạn. Ừ, anh chỉ là một con quỷ thôi, Ngạn ơi... Chuông vào học vang lên chói tai. Mèo con như cơn mơ cùng các bạn đứng lên chào thầy. Vừa ngồi xuống, ba cái đầu lập tức quay lại phía mèo con.
 
- Phiêu, rứa chớ sau hết mi nói răng mà anh chàng bỏ về rứa?
 
Đôi mắt Phiêu bỗng lóe lên những tia sáng lạnh lẽo làm Hạ Liên hơi ngán cho con nhỏ... lì lợm nhất bọn này. 
 
- Tao nói là: "Dĩ vãng là cái cóc gì? Hiện tại là cái cóc gì? Tương lai là cái cóc gì? Tình yêu cũng không là cái cóc chi hết. Tui không cần".
 
Mấy đôi mắt bỗng tròn và nghiêm nghị nhìn Phiêu.
 
- Chà, mi nói rứa lận à? Răng mà dữ quá, người ta giận là phải. Đã không thèm xin lỗi còn giận lại cơ à?
 
Đôi má của mèo con thụng xuống như hai cái bánh tráng nhúng nước. Mèo con mím môi:
 
- Không... không thèm...
 
- Phiêu.
 
Phiêu giật nẩy mình, tiếng thầy gọi làm ba cái đầu hốt hoảng trở lại vị trí cũ trên mấy cái cổ mỏi.
 
- Lên đọc bài, chuyện gì mà nói lắm thế?
 
Phiêu uể oải đứng dậy. Hạ Liên nghiêng đầu sau lưng Hà Minh hỏi nho nhỏ:
 
- Thuộc không?
 
Mèo con thiểu não lắc đầu trước ba đôi mắt e ngại. Mèo con lúng túng đứng trước bàn thầy, âu lo nhìn bàn tay thầy lật từng trang vở.
 
- Chị định nghĩa thế năng. Cho ví dụ.
 
Phiên ngập ngừng một giây, rồi bất chợt ngẩng nhìn thầy.
 
- Thưa thầy hôm nay con không thuộc.
 
Đôi mắt thầy cau lại sau đôi kính.
 
- Hừ, không thuộc bài mà giỏi nói chuyện, về chỗ.
 
Phiêu cầm vở, lủi thủi bước về. Đôi mắt các bạn nhìn chia sẻ một giây rồi cúi gầm trên trang vở. Thầy đã bắt đầu giận dữ gằn mạnh tên Hà Minh. Hà Minh tươi tỉnh đi lên. Nó gạo dữ lắm. Thiên Quân thì thầm. Phiêu không nghe tiếng thầy hỏi lẫn tiếng trả bài. Phiêu chỉ nghe tiếng sóng biển dập dồn trên bờ đá, tiếng lá lao xao bên đồi. Ngạn ơi. Hai con số không tròn trĩnh này em tặng cho anh đó.
 
Ngạn gặp Thiên Quân trước nhất, ở cổng trường. Con bé mừng rỡ cười toe toét khoe hai cái đồng xu sâu hoắm.
 
- Ui, anh Ngạn, lâu ghê gớm. Anh ở mô chui ra đây hả?
 
Ngạn chưa kịp trả lời đã tối tăm mặt mũi vì ba cái miệng réo hai bên tai.
 
- Anh Ngạn, ừ, tội lớn lắm nghe.
 
Ngạn choáng váng mặt mày, không nhìn thấy Phiêu đâu giữa một rừng áo trắng. Ngạn xoay một vòng 360 độ rồi đứng yên, mặt chảy dài thiểu não:
 
- Phiêu đâu, Phiêu đâu rồi các cô?
 
Ba cái mồm xí một tiếng dài thậm thượt. Chà tình nghĩa dữ, nó đau nặng lắm cơ ngài ạ. Tại ngài đó...
 
Ngạn ngơ ngẩn đứng im. Đôi mắt bỗng tối sầm những tia ủ dột. Chiếc xách nhỏ bỗng nặng nề. Anh đặt xuống lề đường, văng vẳng bên tai anh những tiếng nói lao nhao... Nè, con nhỏ bệnh đó, gầy ghê lắm, tại nó buồn xong, không học bài được, bị thầy cho dê-rô. Hôm nay nghỉ học. Hôm qua cả bọn đi ăn bún bò ở nhà Thiên Quân nó ăn có chút xíu...
 
Thế sao? Tội nghiệp em đến thế sao hở mèo con yêu dấu? Anh có giận em đâu... chỉ vì...
 
- Mà anh đi đâu cả mười mấy ngày thế Ngạn? Anh giận nó à?
 
Hạ Liên lay vai Ngạn hỏi, Ngạn khổ sở phân bua:
 
- Hôm đó anh hơi giận thôi ; anh ra thuê xe về trại. Anh đi tuần ngoài biển cả đêm, sáng mai về lại chưa kịp thay áo đã nhận được lệnh đi công tác khẩn, thành ra... Mấy cô xem đây, anh vừa ở phi trường, dơ như mọi, có kịp làm gì đâu, thấy gần tan học bèn dông một mạch ra đây. Anh hết giận Phiêu ngay tối đó chứ, tính hôm sau đến làm lành. Cũng tại anh chọc Phiêu giận điên lên nên... Tội nghiệp cô nhỏ quá. Thôi...
 
Chừng như nói chuyện đã nhiều, Ngạn thót lên chiếc xe thồ đang rà rà mời mọc bên cạnh. Anh vẫy tay với ba đứa rồi quay lại nói gì đó với ông tài xế. Xe lao vút đi, anh còn ngoái nhìn lại cổng trường. Chắc hình dung chiếc bóng nhỏ bé của Phiêu. Anh cười vu vơ và lắc đầu nhè nhẹ với ba nụ cười tươi... Hà Minh liến thoắng với Thiên Quân và Hạ Liên:
 
- Họ yêu đương chi cho khổ... như ta đây...
 
- Mi là con người bất bình thường mà.
 
Hà Minh cụt hứng ngẩn tò te trước câu nói của Thiên Quân và tiếng cười của Hạ Liên. Ba cái bóng chạy đuổi nhau về một phía, tiếng cười vang lên trong gió lá và buổi chiều.
 
Mèo con ạ. Rán uống thuốc cho khỏi bệnh nghe em. Mèo con nao nao nhìn đôi mắt của Ngạn ngậm buồn và long lanh trong bóng tối. Mèo con không nói gì được hết, mèo con ngả đầu vào vai Ngạn, mái tóc dã dượi lòa xòa.
 
- Hết giận anh chưa?
 
Mèo con dụi dụi mái tóc mình lên vai Ngạn. Mèo con không thèm khóc nữa. Ban nãy thấy mắt nhau những hạt lệ trong veo đã chảy và những đôi môi đã hứng rất ngậm ngùi. Đôi mắt đã tê tái nhìn nhau vì không nói được. Bàn tay đã sững sờ trong tay vì không cử động được. Đến khi đôi môi đã hé mở cho lời nói thầm thì, quả tim mềm lả mới dịu dàng những tin yêu ; rồi thì nếm dùm nhau những dòng lệ mặn. Ngoài hiên nhà mảnh trăng khuyết mỏng manh tội nghiệp không đủ soi sáng hai cái đầu êm ấm dựa sát vào nhau, bốn bàn tay thân ái nắm chặt lấy nhau.
 
- Mèo con.
 
- Gì ạ?
 
- Có yêu anh không?
 
- Ư... có một tí.
 
- Một tí thôi sao bé?
 
- Dạ, có một tí... nhiều thôi.
 
Nụ cười của mắt nâu nở tung, sáng rỡ trước mắt mèo con từng chiếc răng ngọc bạch.
 
- Mèo con ạ.
 
- Gì cơ?
 
- Bún bò nhà Thiên Quân có ngon không?
 
- Ngon.
 
- Hơn bún bò "công chánh" không?
 
- Không.
 
- Hơn bún bò nhà anh không?
 
- Không!
 
- Sao vậy bé?
 
- Tại... Tại không có anh.
 
Mắt nâu lại mỉm cười, ôm khuôn mặt mèo con đang thẹn thùng trong đôi tay.
 
- Mèo con ơi.
 
- Gì ạ?
 
- Con số Zéro có tròn không?
 
- Ư... tròn lắm. 
 
Mèo con chơm chớp mắt buồn bã rồi sững sờ nhìn vào đôi mắt Ngạn nâu nhạt, long lanh những thương yêu trìu mến, đôi mi rũ thấp xuống... và chìm xuống mãi, mèo con nghe tiếng Ngạn thì thầm:
 
- Mèo con ạ, môi anh còn tròn hơn cả số zéro nữa đấy em. 
 
 
TÔN NỮ THU NGA      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 92, tuần lễ từ 8-3 đến 15-3-1973)
 

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

ẢO TƯỞNG ĐẸP HƠN SỰ THỰC - Võ Hồng


Cồ Tía bước những bước dõng dạc, khoan thai. Đi đủ năm bước, nó quay ngang, chầm chậm nhìn một vòng quanh sân. Những sợi đuôi vổng lên cao, rung rinh. Cái mào đỏ rực cắt răng cưa chống lên cao, rung rinh. Cồ Tía phùng cổ cất lên một tràng tiếng gáy dõng dạc: "Cô ô... Cô ô... Cô ô... Cô ô...".
 
Rồi nhảy lên đứng ở đống gỗ chất nơi cuối sân.
 
Nghe tiếng gáy, một chú Vịt con đang rúc rỉa ở vại nước cạnh mẹ lật đật chạy về phía Cồ Tía. Chú nhỏ chạy lạch bạch, hai cái cánh ngắn cũn chấp chới lia lịa, cổ và mình dài ngoẵng mà chân thì lùn tịt, trông thật ngộ nghĩnh. Chú dừng lại, đứng nhìn Cồ Tía.
 
Cố Tía vươn vai gáy tiếp một tràng dài "Cô ô... Cô ô..." hùng dũng, cái mào đỏ lại rung rinh, cái mặt lại quay trái quay phải nhìn đó đây, vẻ hiu hiu tự mãn. Chú Vịt con cứ say mê nhìn, kiễng hai chân ngắn ngủn lên mà nhìn, trong khi mấy mụ gà mái, vì quen quá, cứ thản nhiên chúi mũi vào máng thức ăn hoặc bới đất tìm sâu. Chỉ khi nào Cồ Tía đi sát lại gần, rè rè đôi cánh thì mấy mụ mới bẽn lẽn xúc động. Nhìn chú Vịt con chiêm ngưỡng mình, Cồ Tía hứng chí, dồn sức vào tiếng "Cô ô... Cô ô...".
 
Ngày nào cũng vậy, mỗi lần Cồ Tía nhảy lên đống gỗ đứng gáy là chú Vịt con lạch bạch chạy tới đứng nhìn. Cồ Tía làn lần có cảm tình với chú nhỏ hơn cả đối với lũ gà con. Nghĩ đến lũ gà con mà giận. Mình là cha chúng nó mà mình gáy mặc kệ mình, chúng nó cứ nhào vô đá nhau một cách chăm chỉ say mê, hoặc một đứa tha con trùn chạy trước, cả bầy lúc thúc chạy theo sau như một đám rước. Trong khi đó thì chú Vịt con biết thưởng thức âm thanh và phong cách biểu diễn, biết kính trọng bậc tiền bối, biết bái phục danh nhân.
 
Để tỏ lòng ân cần, một hôm, sau mươi tiếng gáy dõng dạc, Cồ Tía nhảy từ đống gỗ xuống, bước về phía Vịt con. Định bụng vuốt ve nó và nói đôi lời thân ái, không dè Vịt con vừa thấy Cồ Tía bước lại gần liền vội vàng bỏ chạy. Cồ Tía kêu:
 
- Đứng lại cháu! Không sao đâu.
 
Vịt con không những không đứng lại mà còn gia tốc, chạy xiểng liểng. Cồ Tía gọi to hơn:
 
- Chú không làm gì cháu đâu. Đứng lại kẻo té.
 
Tiếng to càng làm Vịt con hốt hoảng chạy, chạy thục mạng, chạy bán sống bán chết, vừa chạy vừa té, té chúi sấp, té bật ngửa. Trời phú cho một thân thể không cân xứng thật hết đỗi bất tiện, để lội dưới ao mới phải chỗ. Cồ Tía đứng dừng lại, thương hại. Không ngờ cái uy của mình có thể gây khiếp đảm đến vậy.
 
Dẫu có sự sợ hãi khốn khổ dường đó, nhưng hôm sau, khi Cồ Tía đứng uy nghi nơi đống gỗ cất tiếng gáy thì Vịt con vẫn vội vàng chạy ra say sưa đứng nhìn. Lần này Cồ Tía sắp đặt sự làm quen nhẹ nhàng hơn. Cồ Tía chầm chậm đi về phía Vịt mẹ, lân la cạnh Vịt mẹ. Cồ Tía bới một con trùn rồi túc túc mời Vịt mẹ. Như mọi người đàn bà nạ dòng khôn ngoan, Vịt mẹ không từ chối. Cồ Tía nhặt những hột gạo, những cọng rau mời tiếp. Vịt mẹ chiếu cố không cần nài. Qua hôm sau, qua những hôm sau nữa, việc mời mọc lại tiếp tục, những chú Vịt con quen lần lần đi, sẵn sàng rỉa vào những món quà mà Cồ Tía đem đến, không còn sợ hãi. Cứ như vậy cho đến lúc Cồ Tía đối thoại được với Vịt con.
 
- Cháu lên mấy?
 
- Dạ, cháu được một tháng tuổi.
 
- Đã bơi được chưa?
 
- Dạ được. Cháu bơi trong thau nước.
 
- Cha cháu đâu?
 
- Dạ, cháu không có cha.
 
- Tội nghiệp. Vậy là mẹ góa con côi.
 
Những cuộc đàm thoại ngắn như vậy diễn ra ở sân chuồng Vịt, gần kề họ hàng nhà Vịt.
 
Một sáng. Cồ Tía đứng gáy và Vịt con kiễng chân chiêm ngưỡng như thường lệ. Cồ Tía nhảy xuống đống gỗ, bước lại gần Vịt con. Vịt con quen, không chạy nữa. Cồ Tía tươi cười:
 
- Chào cháu.
 
- Chào chú.
 
- Hôm nay cháu lại ra nghe chú gáy. Tốt lắm. Hơn lũ ngan, ngỗng, hơn cả lũ gà mái họ hàng của chú chỉ biết ăn. Tiếng gáy đó nó cao siêu lằm, kẻ thường không hiểu nổi đâu. Tổ tiên của chú có viết sách lưu lại rằng: "Thuở Tây Lĩnh tam canh trống thúc, gà gáy đầu ba tiếng: Thiên nhật tác thì - Quốc tộ tác xương - Nhân gian tác lạc". (1)
 
Vịt con ngơ ngẩn lắc đầu tỏ ý không hiểu. Cồ Tía cười:
 
- Ồ, cái đó cao siêu lắm. Thôi, ta hẵng nói cái tầm thường thôi. Nào hôm nay chú gáy có hay hơn mọi bữa không?
 
- Cháu không biết.
 
- Hôm nay chú gáy tiếng: "Cô ô" thứ hai với dấu giảm. Âm thanh thanh thoát hơn mọi lần. Đó là một nét sáng tạo thành công của chú. Chú rất thích. Cháu có thèm được gáy hay như chú không?
 
- Không.
 
Cồ Tía tròn xoe mắt ngạc nhiên. Cứ đinh ninh nó sẽ nói ngay "thèm lắm... thèm lắm". Cồ Tía lấy giọng ôn tồn:
 
- Sao vậy? Đừng sợ ai hết, cháu cứ nghĩ sao nói vậy. Cháu vẫn say mê nhìn chú đứng gáy kia mà, chú thấy rõ.
 
- Không phải.
 
- Kìa, mỗi lần chú đứng gáy là cháu lật đật chạy ra.
 
- Đúng vậy.
 
- Rồi cháu kiễng chân chong mắt nhìn chú.
 
- Có vậy.
 
- Vừa say mê lắng nghe tiếng gáy của chú.
 
Vịt con lắc đầu:
 
- Không có nghe.
 
Cồ Tía nhún hai vai:
 
- Đáng thương thay! Không biết thưởng thức âm thanh mà chỉ trầm trồ cái vẻ đẹp của chú! Nhưng thôi, cũng được đi. Mỗi người có một cách nhìn, một cách thưởng thức, một cách cảm nhận cái đẹp. Cháu thích cái dáng đẹp của chú lắm chứ gì?
 
Vịt con lại lắc đầu.
 
Nữa! Đúng là con vịt ngớ ngẩn. Mất trí, xuẩn ngốc. Mắc bệnh tâm thần như cả loài Vịt. Cồ Tía sốt ruột. Giọng bắt đầu hơi xẵng:
 
- Vậy thì cháu nhìn chú, thích chú ở điểm nào?
 
- Cháu không có nhìn chú.
 
Cồ Tía ngạc nhiên:
 
- Chớ nhìn cái gì?
 
- Cháu nhìn cái... cái... trời xanh xanh... cái... cái (tới đây nó lắc lắc cái đầu) cái... không có gì hết... cái... thật xa ở đằng sau chú.
 
- Vòm trời xanh, khung trời xanh đó chứ có gì.
 
Vịt con không trả lời được, vì không biết "vòm trời xanh, khung trời xanh" là cái gì? Đành chỉ ấp úng nói tiếp:
 
- Nó đẹp, cháu thích lắm. Nhưng mặt trời mọc lên phía đó, chói lòa, mà mắt cháu thì yếu. Có chú đứng che mặt trời thì cháu mới nhìn thấy được.
 
Cồ Tía cảm thấy tưng tức. Vậy là nó... là mình... Nhưng Vịt con cứ thong thả tiếp:
 
- Bởi vậy mà mỗi lần nghe chú gáy, biết chú đang đứng che mặt trời, cháu mới lật đật chạy ra... để nhìn cái "không có gì" xanh xanh xa xa - cái đó chú gọi tên là "khung trời" hả chú?
 
_________________________
(1) Thiên nhật tác thì: Thời giờ bắt đầu cho đúng.
Quốc tộ tác xương: Ngôi vua thịnh vượng cho lâu bền.
Nhân gian tác lạc: Cõi người bắt đầu yên vui (Lục súc tranh công).
 
 (Trích từ tập truyện Chúng Tôi Có Mặt)
 
 
 

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

VỚI NGÀY THÁNG BÌNH AN - Phạm thị Kim Phượng


Bạn anh Nghiêm mỗi lần ùn ùn kéo tới nhà là em vội vã rút vô phòng đóng kín cửa lại. Chỉ một lát sau, phòng anh Nghiêm đàn hát ầm ầm cả lên, may là phòng em cách phòng anh Nghiêm những hai phòng khác, nếu không chắc em có yên thân được đâu. Anh đập cửa gọi:
 
- Tiểu Khánh, Khánh mở cửa anh nhờ này chút.
 
Em ló đầu ra:
 
- Gì vậy anh Nghiêm?
 
- Chịu khó mua giùm anh gói thuốc hút đi.
 
- Thôi, em lười lắm. Anh nhờ thằng Hoàng đi.
 
Anh Nghiêm nhăn mặt nhưng vẫn dịu dàng:
 
- Làm ơn giùm anh mà, tụi nhỏ đi đâu hết trơn rồi.
 
- Chiều anh cho em lên nhà nhỏ Thu chơi nha.
 
Anh Nghiêm dúi tiền vô tay em:
 
- Ờ thôi đi mau lên Tiểu Khánh.
 
Lúc trở về em chui vô phòng anh đưa thuốc. Chạm phải mấy ông bạn quý đang ngồi lù lù trong phòng, em tỉnh queo nhìn quanh:
 
- Ủa, anh Nghiêm đâu rồi kìa?
 
Hiển nói theo:
 
- Ờ, anh Nghiêm đâu rồi há quí vị?
 
Nam thổi khói thuốc ra đầy phòng:
 
- Tiểu Khánh hỏi ai, ở đây có 3 người lận.
 
- Tui hỏi cả ba người. Ai biết thì trả lời.
 
Vinh ít nói nhất, nãy giờ chỉ cười cười bèn lên tiếng: 
 
- Tiểu Khánh dữ quá. Nghiêm đi thay dây đàn rồi. Còn Tiểu Khánh mua thuốc lá về cho tụi anh đó hả?
 
Em ngồi xuống ghế:
 
- Mấy anh chuộc đi Khánh mới đưa.
 
Nam dúi tàn thuốc vô đồ gạt:
 
- Thí dụ như có ai đang buồn mà Khánh có thể an ủi họ được, Khánh có làm không?
 
Khánh gật đầu. Hiển hỏi với vẻ thích thú:
 
- Tiểu Khánh làm sao?
 
- Khánh cười cho họ cười theo.
 
- Nhỡ không được?
 
Em cắn môi:
 
- Khánh rủ họ đi chơi cho vui!
 
- Nếu người đó là con trai?
 
Khánh chưa biết trả lời sao. Nam cười chế diễu. Vinh tiếp lời Nam:
 
- Thì Khánh nên đưa cho họ một gói thuốc lá!
 
Em dí ngón tay xuống mặt bàn:
 
- Anh khôn lắm. Bộ anh đang buồn đó hả?
 
- Ừ. Tụi anh đang buồn.
 
- Thất tình chăng?
 
Vinh hóm hỉnh:
 
- Tụi anh còn ngây thơ, chưa phải lòng ai hết Tiểu Khánh à!
 
Em bĩu môi chọc tức:
 
- Ngây thơ? Khánh không tìn. Hình như con trai hay thèm thuốc khi buồn vì thất tình mà thôi.
 
Vinh chìa tay:
 
- Đưa anh gói thuốc rồi tính sau.
 
Em ngần ngừ. Nam dụ khị:
 
- Con gái hay thích hồng nhung ghê lắm, Tiểu Khánh có yêu hoa không?
 
Em gật đầu nhè nhẹ. Hiển đề nghị:
 
- Lấy hoa hồng chuộc thuốc lá nhé?
 
Em dặn dò:
 
- Nhớ đó nha. Anh hứa rồi mà quên thì kỳ lắm đó.
 
Hiển gật đầu. Em đưa gói thuốc cho Vinh:
 
- Hút thuốc chỉ có hại, không lợi gì hết.
 
Ba ông bạn quý chỉ cười. Em nhăn mặt vì khói thuốc cay. Vinh cúi đầu trong tư thế chán nản. Tóc anh dài tém gọn như "demi garçon" của con gái. Em nhìn anh đàng xa dám lầm anh là cô nào lắm nha.
 
Em đứng dậy:
 
- Mấy anh ngồi chơi nha. Tiểu Khánh đi tìm anh Nghiêm một chút.
 
Lúc em đi ra, loáng thoáng nghe Vinh hỏi Hiển và Nam:
 
- Tụi mày thấy Tiểu Khánh ra sao?
 
- Nhỏ dễ thương, có nụ cười đẹp.
 
- Nhưng mà nhỏ còn nhi đồng lắm Vinh ạ!
 
Vinh cười:
 
- Vậy là được rồi!
 
Em chu môi huýt gió và ngẫm nghĩ: Vinh có vẻ hơi "hắc ám", em phải đề phòng mới được. Anh Nghiêm vác cây đàn đi ngược chiều đụng em ở cửa phòng.
 
- Khỉ. Làm hết hồn, bày đặt huýt gió. Vô duyên!
 
- Trời ơi, khỉ làm sao có duyên cho được anh Nghiêm.
 
Anh chống cây đàn xuống đất:
 
- Mua thuốc chưa?
 
- Rồi. Bạn anh đang hút trên phòng.
 
- Vậy hả. cám ơn Tiểu Khánh nghe!
 
Em xua tay:
 
- Em cho lại anh ơn đó. Lấy cám thôi, em sợ miệng ngọt hơn đường của anh quá.
 
Anh cú đầu em rồi bỏ lên phòng. Em cười vang, bỗng dưng vui quá sức. Đúng như anh Nghiêm hay mắng em là con điên.
 
Sáng hôm sau lúc em đang ngồi viết thơ cho nhỏ bạn ở bàn học thì Vinh đến. Em chạy ra mở cổng:
 
- Anh đi đâu có một mình vậy, hai ông kia đâu rồi?
 
- Không biết nữa. Anh đem hoa cho Tiểu Khánh đây. Có Nghiêm ở nhà không?
 
- Anh Nghiêm đi vắng rồi. Anh Vinh vô nhà chơi đã.
 
Lúc Vinh ngồi xuống ghế, em đi lại cái bình hoa có cổ cao bé xíu để cắm hai bông hồng nhung đỏ thắm vào. Em ngắm nghía:
 
- Đẹp không Vinh?
 
- Đẹp không bằng Khánh.
 
Em nghe trong lòng xôn xao:
 
- Khánh không phải hoa.
 
- Khánh là một bông hoa quí.
 
Em nhìn anh cười bâng quơ:
 
- Anh nịnh quá. Anh có nghe câu những người đàn ông ưa nịnh đầm là những người mau chê chán và khinh khi đàn bà nhất không?
 
- Anh nghe rồi! 
 
- Vậy chắc anh nịnh nhiều lắm rồi chứ gì, cô nào nói với anh câu ấy?
 
- Anh mới nịnh người đó lần đầu tiên và anh được nghe câu đó thôi...
 
Em thắc mắc:
 
- Ai vậy?
 
- Tiểu Khánh!
 
Em hơi nóng mặt vội "quay" anh:
 
- Vậy ra Khánh không đẹp bằng hoa. Anh khen lúc nãy chỉ là nịnh.
 
Vinh cười đau khổ:
 
- Tiểu Khánh lanh quá, anh chịu thua Khánh hết.
 
- Nói vậy chứ Khánh cám ơn anh nhiều. Hoa xinh lắm!
 
Vinh vuốt nhẹ mấy cánh hoa:
 
- Tiểu Khánh biết ý nghĩa của hoa hồng không?
 
Em lắc đầu. Vinh nhìn khiến em bối rối.
 
- Hoa hồng tượng trưng cho tình yêu. Màu đỏ thẫm này là tình yêu sâu đậm lắm rồi đó Khánh.
 
- Anh tặng hoa cho Khánh mất hết ý nghĩa.
 
Vinh ngạc nhiên:
 
- Sao vậy?
 
- Tiểu Khánh nhận hoa không có ý nghĩa đó.
 
Em cười thản nhiên:
 
- Khánh chỉ nghĩ rằng anh trả công cho Khánh mà thôi, bình thường và sòng phẳng như mọi cuộc đổi chác khác.
 
Vinh lặng lẽ đánh diêm mồi thuốc hút. Em ngồi bó gối nghĩ vu vơ. Một lát Vinh chào ra về. Em tiễn Vinh ra tận cổng. Lúc em tựa vai ở cổng, Vinh nói nhỏ:
 
- Gặp Khánh ngày nay là cuối cùng.
 
Em ngạc nhiên:
 
- Sao vậy?
 
- Mai anh, Nam, Hiển đi xa.
 
- Đi đâu?
 
Vinh nheo mắt:
 
- Thi hành nghĩa vụ quân sự!
 
Em cười buồn. Từ đó em không gặp Vinh nữa. Mấy đóa hồng Vinh cho thuở xưa, em đem ép khô, giờ mỗi lần giở ra, em nghe lòng nao nao. Kỷ niệm buồn như màu hoa hôm nay.
 
 
PHẠM THỊ KIM PHƯỢNG     
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Ngọc số 155, ra ngày 5-3-1975)
 
 

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

GIẤC MƠ CỦA BÉ PHƯỢNG - Bình Nguyên Lộc

Cha! Ba mang về nhà một chiếc bíp bự dữ, cỡ gỏ lên đầu anh Dũng một cái, đầu anh Dũng sẽ phải u một cục bằng trái cam.

Ba cứ trầm trồ chiếc bíp trong khi má trề môi mà rằng :

"Chỉ tổ ung khói cho cay mắt cả nhà".

Tuy nói thế chớ má phải nhìn nhận rằng chiếc bíp nầy đẹp.

Còn Dũng và Phượng thì chỉ lo rình để giành cái hộp.

Theo hiệp ước thì Dũng được hưởng những gì mà ba bỏ ra, chẳng hạn như hộp thuốc rời Prince Albert, hộp thuốc điếu 555, hộp đựng cà vạt, hộp xi gà v.v... còn Phượng thì trọn quyền về những món bị má bỏ lạc son, chẳng hạn như lọ nước hoa mà đã hết nước hoa rồi, chẳng hạn như hộp phấn, như hộp kẹo v.v...

Nhưng hôm nay con Phượng ăn gian, quyết xé hiệp ước đó, nhìn cái hộp đựng bíp bằng đôi mắt thèm thuồng nên Dũng phải sẵn sàng để tự vệ.

Ô, cái hộp mới đẹp làm sao chớ ! Phượng sờ tay vào đó, búng thử thì nghe biết rằng cái hộp ấy làm bằng giấy cứng. Vậy mà trông cứ giống như là bằng gỗ, một thứ gỗ màu ngà có vân màu cánh dán, xinh đẹp không thể tả.

Ba đứng lên đi thay áo. Tức thì chiến tranh diễn ra, Phượng yếu hơn anh nên dùng thứ khí giới ghê gớm là dẫy và khóc la, ba phải bỏ việc thay áo, má bỏ nấu nướng để lên họp "Liên hiệp quốc" bàn xử hai nước ương ngạnh nầy.

Phượng có lỗi rõ rệt, đáng lý thì phải đầu hàng ngay, nhưng ba muốn giải thích cho Phượng hiểu bổn phận hơn là bắt ép Phượng tuân lịnh, nên hỏi :

- Phượng, con quên lời giao kết rồi hả ?

Phượng tấm tức tấm tưởi đáp :

- Con nhớ chớ ba ! Mà con xin anh Dũng nhường con một lần.

- Có xin thật à ?

- Dạ, có thật.

- Con xin để làm gì ?

- Dạ, bí mật !

Ba, Má và cả anh Dũng nữa, đều cười ngất. Bé Phượng mới học lớp năm trường Phan Văn Trị, đã biết gì mà bí với lại mật.

Ba, má thấy hay hay nên khuyên anh Dũng.

- Thôi Dũng, con nên nhường cho em lần nầy.

Dũng cũng buồn cười cho Phượng, nên vui lòng làm cái cử chỉ đẹp đó.

Phượng cười với đôi mắt ráo hoảnh, rồi vừa ôm hộp vào lòng, vừa nói : "Cám ơn ba, cám ơn má, cám ơn anh Dũng".

Đêm ấy bé Phượng cất hộp dưới gối mà ngủ, và sáng ra thì ba, má quên mất việc ấy luôn cho đến tối hôm sau, cơm nước xong rồi, cả nhà tụ họp lại, ba lấy bíp ra hút thuốc, má mới sực nhớ đến cái hộp và hỏi :

- À Phượng à, con làm gì với cái hộp ?

Phượng lấm la lấm lét nhìn ba rồi làm thinh.

- Kìa, sao má hỏi, con không trả lời ?

- Dạ, con nuôi con chim Phượng trong đó.

Ba vẫn nghe được câu đáp rất khẽ mà Phượng đã hạ giọng thật thấp để chỉ riêng một mình má nghe thôi.

- Sao con lại nuôi con chim Phượng ? - Ba hỏi.

Phượng hoảng lắm. Nó rất sợ ma nên thường bị ba mắng là không ngoan, là hay tin nhảm chuyện hoang đường. Con chim Phượng đâu bao giờ có, chắc ba sẽ mắng nó nữa. Nhưng không thể không trả lời, nó mếu máo đáp :

- Dạ, vì con thương con chim Phượng : Phượng là tên của con.

Ba cười ồ rồi hỏi :

- Ai bảo con rằng tên của con có nghĩa là con chim Phượng ?

- Má bảo.

Ông Thành thấy vợ lầm, nhưng không đính chánh, không phải sợ vợ mất uy tín trước mặt con, mà sợ Phượng mất ảo tưởng của nó. Ông muốn giải thích : "Không, tên con là một thứ hoa. Con chim Phượng là tên của con trai, con gái phải tên Hoàng, tức là con chim Phượng mái". Nhưng ông giữ miệng kịp.

Phượng sung sướng quá : Ba không mắng nó.

Đêm sau, giữa bữa ăn tối, ba hỏi :

- Con chim Phượng được bao lớn rồi đó a Phượng ?

- Dạ, nó vừa mọc cánh.

- Cho nó ăn gì ?

- Dạ, nó là chim tiên nên không cần ăn gì hết.

Ba, má nhìn nhau mà cười.

Đêm sau nữa, trước bữa ăn, ba lại hỏi :

- Cánh Phượng có đẹp không con, Phượng ?

- Dạ, đẹp.

- Nhưng hộp nhỏ quá, nó đâu có xòe cánh ra được.

- Ừ, tội nghiệp nó quá, để Phượng cho nó bay ngoài vườn cho nó thong thả.

Đêm thứ tư, suốt bữa ăn, Phượng không hề mở miệng nói một lời. Má hỏi :

- Phượng ơi, sao bữa nay con buồn hiu vậy ?

Phượng nấc lên rồi khóc mùi. Lâu lắm nó mới nghẹn ngào đáp :

- Chim Phượng bay mất rồi má à.

Ba mỉm cười, còn má kinh sợ đến buông đũa. Ba hỏi :

- Nó bay đi lúc nào ?

- Dạ, lúc con thả nó ngoài vườn, kẻo nó tù túng ở trong hộp.

- Phượng có giận nó lắm không ?

- Dạ, ơ... hơ... có, mà con vừa hết giận giờ đây. Nó phải được thong thả chớ, phải không ba ?

- Ngoan lắm. Thế Phượng có lo nó đói lạnh không ?

- Dạ không. Nó về cảnh tiên chắc phải sung sướng.

Trên giường, lúc sắp sửa ngủ, má trách ba :

- Anh hay mắng em là chỉ dạy con tin nhảm. Sao nay anh lại nuôi nấng ảo mộng của con Phượng ?

- Em lầm. Chuyện con chim Phượng không phải là tin nhảm. Đó là giấc mơ trẻ thơ. Không một người lớn nào làm nên sự nghiệp gì đáng kể, nếu thuở bé họ không mơ những giấc mơ kỳ thú như Phượng, họ không nuôi nấng những ảo ảnh huyền hoặc nào.
 
 
(Đuốc Thiêng, 1962)
Dựa theo ý của một bài báo bên Pháp
 
(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)