Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

KIM OANH - Nguyễn Thanh Trịnh


Buổi tối khi tôi đến võ đường cô bé đang tập nhảy dây cho dãn gân cốt. Em quay sợi dây theo hình số 8 và nhảy càng lúc càng nhanh khiến người ngoài không còn nhìn rõ khuôn mặt. Đứng chung quanh em là các võ sinh đồng môn và một người đang to giọng đếm. Tiếng 100 vừa dứt cô bé dừng lại. Em trao sợi dây nhảy cho một người bạn rồi đến nơi treo quần áo lấy khăn lau mặt. Tôi gọi:
 
- Ê nhỏ.
 
Em đưa mắt tìm kiếm, khi nhìn thấy tôi ở cuối phòng em chạy vội lại.
 
- Em đã nói anh đừng đến đây mà. Hãy đợi tối mai đến võ đài xem em đánh có hơn không.
 
- Tôi muốn tối nay đãi em ăn một chầu thật no đế lấy sức mai đánh cho hăng. 
 
- Tối mai hãy đi ăn. Em muốn ăn mừng chiến thắng như vậy mới ngon.
 
- Nhỡ em bị đánh gục làm sao ăn được nữa.
 
- A! Anh về phe con nhỏ đó phải không, được rồi em chấp anh luôn. Em định đánh ăn điểm nó thôi bây giờ biết anh ở phe nó em sẽ đánh nó gục.
 
- Tôi chưa biết đối thủ của em là ai nhưng tôi cá là em sẽ thua vì em hăng tiết vịt quá.
 
Cô bé cười:
 
- Anh khỏi cần chọc tức em. Em đã quyết định đánh nó gục là nó phải gục mặc cho anh có năn nỉ xin tha.
 
Có tiếng gọi lơ lớ giọng ngoại quốc vang lên:
 
- Kim Oanh.
 
Cô bé nói:
 
- Thầy em gọi, anh đứng đây đợi em nghe.
 
Ở giữa phòng tập một người cao lớn mặc võ phục đỏ, da sậm đen, tóc bạc trắng. Đó là thầy của cô bé. Ông là một người Phi Luật Tân, tên là Bruno trước kia là một võ sĩ quyền anh hạng nặng nổi tiếng ở Đông Dương, bây giờ về già ông mở võ đường này để sinh sống. Ông cũng gần 60 tuổi, có vợ người Việt và mặc dầu sống ở Việt Nam đã hơn 30 năm ông nói tiếng Việt vẫn theo giọng đa âm của người Phi. Ông đang nói gì đó với cô bé và em đang tỏ vẻ hết sức chăm chú lắng nghe. Trong khi nói chuyện em đưa hai tay cho hai người bạn quấn băng trước khi mang găng để khi đấm khỏi sai khớp xương hay gãy tay.
 
Mang găng xong cô bé đến đứng thủ thế trước một bao cát dài treo lủng lẳng trên một đà ngang ngoài sân tập. Vị võ sư già móc túi lấy một đồng hồ quả quýt cầm tay. Ông bấm nút và hô "Tem" cô bé nhanh như chớp lao vào bao cất đấm đá liên hồi. Đây là lối đánh 10 giây để "nốc ao" đối thủ. Trong 10 giây này em phải đem hết những cú ruột ra đánh như một cái máy để đối thủ không kịp trả đòn và em cũng không kịp thở.
 
Kim Oanh đánh võ tự do nên ngoài môn quyền anh học của thầy Bruno em còn phải tập đấm đá theo lối võ ta dưới sự chỉ dẫn của cậu Bảy có biệt danh là Sói Vàng. Quyền của em đánh ra chưa được mạnh nhưng em đánh rất nhanh và chính xác. Tôi thích nhất cú tạt cườm tay của em, trông đẹp và độc. Đang đứng trước bao cát, em khẽ bước chân trái lên, lấy đầu chân phải làm trụ, em xoay người thật nhanh tạt mạnh cườm tay phải vào bao cát, mượn đà dội ra. Lấy đầu chân trái làm trụ em xoay người quật ngược cườm tay trái vào bao cát. Em xoay người như thế liên tiếp ba, bốn vòng rồi bắt đầu phang đòn ống quyển. Đòn này dùng đánh vào hông đối thủ, đòn dễ đỡ nhưng sẽ làm đối thủ mất thì giờ và dễ bị ăn đòn vào mặt.
 
Cú ruột thứ hai của Kim Oanh là cú "đá giò lái" cũng dùng một chân làm trụ, em xoay người đá ngược gót chân kia vào đầu đối thủ, trúng cú này chắc đối thủ khó mà đứng dậy nổi.
 
"Tem". Vị võ sư già nhìn đồng hồ bấm nút và cô bé ngừng lại. Mặt em ướt đẫm mồ hôi nhưng em cố giữ hơi thở như bình thường. Một người bạn đưa khăn cho em lau mặt. Vị võ sư vỗ vỗ đầu em nói good, good rồi ông chỉ lại cho em những cú quyền anh ruột của ông mà lúc nãy em biểu diễn chưa được đúng cách. Sau đó, ông đến chỉ dẫn cho một võ sĩ khác. Tối mai, lò của ông có ba người thượng đài. Một võ sĩ quyền anh hạng ruồi, một võ sĩ đầu quyền anh tự do và Kim Oanh đấu quyền tự do tranh giải thiếu nhi, giải này dành cho các nữ võ sĩ từ 15 đến 17 tuổi.
 
Kim Oanh đến chỗ tôi ngồi, tôi đứng dậy nhường ghế cho em. Em lắc đầu:
 
- Anh cứ ngồi đi. Võ sĩ cấm kỵ khi tập xong ngồi nghỉ vì sợ to tim.
 
Tôi nói:
 
- Em cũng nên để trái tim em nó to ra một chút. Con gái gì mà dữ hơn bà chằng ông nào dám lấy.
 
Nhanh như chớp, em xoay người tạt mạnh cườm tay đánh văng điếu thuốc tôi đang ngậm trên môi rồi bật cười khanh khách.
 
- Nhỏ, em làm tôi sợ hết hồn. Nhỡ em đánh rụng răng tôi thì sao?
 
- Đáng kiếp, cho anh hết nói bậy.
 
- Tôi nói vậy không phải sao. Em đấm đá kiểu đó ông nào dám yêu em.
 
- Ông nào lỡ dại yêu em, em sẽ cho ăn đòn no.
 
Tôi bật cười:
 
- Tôi đang đói bụng đây vậy mong em cho tôi "ăn đòn no" để đỡ tốn cơm.
 
Cô bé đỏ mặt nói: 
 
- Xì, đòn chùa hay sao mà đem cho anh ăn.
 
- Vậy thôi, chúng ta đi ăn mì vịt tiềm đi.
 
- Anh đợi em dợt đấu với cô bạn một trận rồi chúng ta cùng về. 
 
Chúng tôi dời khõi võ đường khoảng 10 giờ. Cô bé mặc áo thun vàng, quần nhung xanh, vai đeo xách tay có chữ PANAM. Tóc em thả bay lõa xõa trước mặt trông rất "yểu điệu thục nữ" và chỉ có trời mới biết em là một võ sĩ sẽ thượng đài vào tối mai. Chúng tôi đi bộ dọc theo bờ sông tìm một xe mì quen, mỗi lần đến đón em về tôi đều dẫn em đi ăn ở nơi này. Thấy chúng tôi đến, ông chủ người Tầu kéo ghế mời:
 
- Cậu hai cô hai ăn như mọi bữa há?
 
Tôi gật đầu:
 
- Nhớ một tô có đầu vịt và nhiều hành nghe.
 
- Ngộ nhớ tô đặc "piệt" của cậu hai mà.
 
Chúng tôi ngồi ở chiếc bàn kê trên bờ đá. Trời oi nồng. Mặt sông nước đen thui, phẳng lặng như mặt ao tù. Ở phía cầu tầu có một tầu hàng ngoại quốc đang cập bến mở nhạc oang oang nghe điếc tai. Làm xong hai tô mì ông chủ đem đến đặt trên bàn, tôi hỏi:
 
- Bà xã đâu mà ông bán một mình?
 
- Nó "pịnh" rồi. Ngộ xui quá lấy nhằm con vợ gì "pịnh" hoài làm ăn không khá nổi.
 
- Còn cô gái xinh xinh, cười có đồng tiền giống Miêu Khả Tú đâu rồi?
 
- Tối nay nó phải ở nhà nấu thuốc cho con vợ ngộ.
 
- Tiếc quá, có cô ấy ở đây tôi sẽ ăn một hơi 3 tô mì để mong được nhìn cô ấy cười.
 
Ông Tầu cười cười gãi đầu:
 
- Được dồi, tối mai ngộ sẽ nói nó ra đây "pán" hàng, cậu hai nhớ đến ăn. Giờ cậu hai cô hai uống gì để ngộ gọi cho.
 
- Hai 33.
 
Cô bé nói:
 
- Một chai thôi, cho tôi ly đá chanh xí muội. 
 
Khi ông Tầu đi khỏi, tôi nói:
 
- Em hãy uống một chai 33 để hăng máu mai đánh cho hay.
 
- Em sợ uống vào hăng máu em sẽ đánh anh ngay bây giờ.
 
- Giỡn nhỏ, sao em đòi đánh tôi?
 
Cô bé trợn mắt, quát:
 
- Ai bảo anh nhắc đến cô con gái ông Tầu làm chi. 
 
- Ồ, anh chỉ thương cho cô ta phải làm việc vất vả giúp đỡ gia đình. Nếu cô ấy ở Hồng Kông người ta sẽ mời cô ấy đóng phim ngay và tha hồ có tiền tiêu.
 
- Dẹp trái tim hay thương người của anh đi, coi chừng có ngày em dám đấm nó bể lắm.
 
- Thôi cho tôi xin cô nhỏ. Tim bể rồi tôi biết sống với ai.
 
Cô bé háy mắt:
 
- Đáng kiếp, cho anh khỏi thương lang bang.

 
Buổi quyền thuật được tổ chức dưới sự bảo trợ của Tổng hội Võ thuật Việt Nam nên vé đã bán hết từ lâu. Sân Tinh Võ tối nay đèn thắp sáng choang và đông nghẹt người xem. Tôi ngồi vào ở hàng ghế mời dành cho thân nhân các võ sĩ, một lúc sau ông thầy Bruno đi vào ngồi ở ghế bên cạnh. Ông mặc áo vét xám, thắt cà vạt nhiều mầu trông bệ vệ xứng đáng tư cách ông bầu của một võ đường lớn. Tôi nói chào thầy, ông cười đưa tay bắt tay tôi:
 
- Anh là anh Kim Oanh?
 
Tôi bối rối trả lời:
 
- Dạ phải.
 
Tối qua khi chúng tôi đi về cô bé có dẫn tôi đến giới thiệu với ông bầu của em. Ông hỏi tôi là gì của cô bé và em đã nhanh miệng trả lời, anh hai của con đó. Anh hai, cái tên nghe thật hàm hồ. Ra khỏi võ đường tôi đã phàn nàn với cô bé. Sao em không giới thiệu tôi là người yêu của em. Cô bé bĩu môi. Còn khuya, ai thèm thương yêu anh mà bắt người ta giới thiệu là người yêu. Giá em không biết võ chắc tôi đã cú lên đầu em một triệu cái cho bõ ghét.
 
Tôi hỏi:
 
- Cô bé đến chưa thầy?
 
Ông gật đầu:
 
- Nó đang ở phòng đợi dành cho các võ sĩ.
 
Mãi đến 8 giờ 30 buổi quyền thuật mới bắt đầu. Kim Oanh sẽ đấu ngay ở trận mở màn. Em nắm dây luồn lên võ đài nhanh như một con sóc. Tóc em cột thành hai bím gọn gàng đong đưa trông thật đẹp mắt. Ở góc đối diện đối thủ của em tóc búi cao đang chậm rãi bước lên. Tiếng máy phóng thanh oang oang bắt đầu giới thiệu.
 
Kính thưa quí vị khán giả, trận đấu mở màn buổi quyền thuật tối nay chúng tôi xin giới thiệu hai võ sĩ tranh giải thiếu nhi. Người đứng bên phải chúng tôi mặc quần áo đỏ là Tiểu Phụng, 16 tuổi, nữ võ sĩ của võ đường Linh Phụng. (Cô bé đứng dậy đi quanh võ đài cung tay cúi chào khán giả rồi trở về chỗ ngồi.) Người đứng bên trái chúng tôi mặc quần áo vàng là Kim Oanh, 15 tuổi, nữ võ sĩ của võ đường Bruno (Cô bé cũng đứng dậy đi quanh võ đài cung tay cúi chào khán giả. Khi em quay về hướng tôi, tôi gọi to Kim Oanh và giơ cao hai ngón tay tạo thành hình chữ V, em nháy mắt cười rồi trở về chỗ ngồi). Trận đấu này sẽ gồm 5 hiệp, mỗi hiệp kéo dài 20 phút và dưới sự điều khiển của trọng tài Nguyễn Khôi.
 
Lời giới thiệu vừa dứt, trọng tài mâc quần áo trắng nắm dây tung người vào võ đài. Ông giơ tay ra hiệu hai cô bé đến gần tháo găng để khám băng tay, sau đó hai em đeo găng trở lại về hai góc đối nghịch. Cả hai đều nắm dây chăng làm những động tác dãn gân cốt. Tiểu Phụng buông dây, xuống tấn mùa một bài xà quyền còn Kim Oanh đánh gió những đòn quyền anh căn bản.
 
Hiệp nhất bắt đầu. Chuông vừa reng cả hai em đã đứng ở giữa võ đài. Kim Oanh dứ tay phải đánh trước vào mặt đối thủ rồi em móc luôn tay trái vào cằm, Tiểu Phụng hơi ngả đầu về sau để tránh và trả đòn bằng cùi chỏ hất ngược lên. Kim Oanh xoay người tránh đòn đồng thời tạt ngay cườm tay phải vào màng tang đối thủ. Tiểu Phụng giơ tay đỡ, mượn đà dội Kim Oanh xoay người tạt luôn cườm tay trái vào màng tang bên trái của Tiểu Phụng rồi em lại xoay người tạt luôn cườm tay phải. Khán giả vỗ tay ào ào. Lần này Tiểu Phụng trúng đòn, cô bé loạng choạng lùi về sau, cũng may đòn của Kim Oanh còn nhẹ, nếu không em đã bị ngã. Kim Oanh xáp lại đánh tiếp, chuông reo hiệp nhất dứt em lui về ghế ngồi để các bạn săn sóc.
 
Ông Thầy Bruno quay sang nói với tôi:
 
- Con nhỏ mới đánh đài lần đầu mà dạn đòn lắm. Chắc sau nó sẽ khá.
 
- Con không ham cô bé theo nghiệp này.
 
- Tại sao?
 
- Dữ dằn quá.
 
Ông cười nói:
 
- Ngó vậy chứ nó hay khóc lắm. Mỗi lần cãi nhau với mấy cô bạn không xong là nó chạy vào tôi khóc nhờ phân xử. Nhưng nó cũng lì lắm, có lần tập đánh bị lọi tay tôi phải xoa bóp nắn lại khớp xương đau chết người mà nó vẫn không thèm la một tiếng. Con nhỏ đó thật nhiều mâu thuẫn.
 
Tiếng chuông vừa reng lên báo hiệu hiệp hai, Tiểu Phụng đã lao người đến tấn công trước. Em đánh võ ta nhiều hơn quyền anh. Đòn độc của em là đánh cùi chỏ vào hông đối thủ và có cú đá cạnh bàn chân chém xuống cổ đối thủ để dứt điểm. Kim Oanh bị cú đá tạt trúng má, em nổi điên đánh đòn "nốc ao". Xáp vào đối thủ em đánh liên tiếp như đánh vào bao cát bất kể đối thủ trả đòn. Lối đánh này gọi là "thí mạng cùi" một ăn hai thua. Tiểu Phụng nhát đòn nên lùi dần để tránh né. Đấy chính là dịp để Kim Oanh đánh đòn ruột của em, chân trái làm trụ, hơi ngả người về trước, em quất ngược gót chân phải vào đầu Tiểu Phụng bằng một cú "đá giò lái" tuyệt đẹp. Khán giả vỗ tay ào ào khen thưởng. Tiểu Phụng trúng đòn loạng choạng ngã, Kim Oanh phang luôn đòn ống quyển vào hông khiến đối thủ ngã nhoài trên sàn. Kim Oanh nhào tới đánh tiếp, trọng tài kéo em ra vừa lúc chuông hiệp nhì vang lên.
 
- Reng...
 
Kim Oanh xông vào đánh quyền anh dồn Tiểu Phụng vào dây đài để sử dụng cú đá ruột của em. Chân phải bật lên em giáng xuống trúng vai đối thủ, em xoay người đá móc chân trái lên cao đột nhiên chân em hạ xuống và em loạng choạng lùi ra. Tiểu Phụng được dịp ào đến trả đòn, Kim Oanh di chuyển chậm chạp bằng một chân phải nên bị trúng đòn hơi nhiều.
 
Ông thầy Bruno la lên: 
 
- Chết rồi, con nhỏ bị chuột rút.
 
Tôi lo lắng hỏi:
 
- Có sao không thầy?
 
- Điểm yếu của nó là hay bị chuột rút, có thể nó phải bỏ cuộc.
 
Trên đài Kim Oanh phải dựa lưng vào dây để giữ thế thủ. Hai tay em che kín mặt nhưng thỉnh thoảng vẫn bị trúng đòn vì thế thủ hay nhất là phải đánh trả đòn nhưng em không dám rời khỏi dây vì sợ Tiểu Phụng xáp lại đánh đòn "nốc ao" trong khi chân em không thể di chuyển tránh né dễ dàng. Cú đá của Tiểu Phụng tung lên, chém mạnh xuống càng cổ Kim Oanh, em giơ tay đỡ được nhưng cũng bị văng ra khỏi dây. Mất chỗ dựa em đứng loạng choạng, Tiểu Phụng liền nhào đến đánh đòn dứt điểm. Khán giả vỗ tay la hét rầm rộ. Kim Oanh ngã dài trên đài. Trọng tài bắt đầu đếm. Đến tiếng thứ 8 Kim Oanh cố gượng chống hai tay xuống sàn đứng lên, máu chảy ra ở môi dưới em. Tôi hốt hoảng lay tay thầy Bruno:
 
- Thầy quăng khăn chịu thua đi.
 
- Không được đâu. Tính con nhỏ đó ương lắm, tôi bắt nó chịu thua về nhà tức mình nó dám đấm vào bao cát đến gãy tay. Hãy để nó tự quyết định.
 
Kim Oanh vừa đứng dậy, Tiểu Phụng nhảy lên đạp mạnh vào vai em khiến cô bé lại ngã chúi xuống sàn. Cùng lúc chuông reng dứt hiệp ba. Một săn sóc viên chạy ra dìu Kim Oanh vào góc đài xoa bóp chân trái cho em. Tôi đứng lên định chạy đến nói Kim Oanh bỏ cuộc nhưng thầy Bruno đã giữ chặt vai tôi.
 
- Cậu ngồi yên. Đừng làm nó chạm tự ái, nó sẽ khóc.
 
- Nhưng nếu tiếp tục đấu cô bé có thể bị đánh chết.
 
- Tụi nhỏ không đánh độc ác đâu, tụi chúng chỉ cần hơn điểm là đủ. Để cho nó tập chịu đựng.
 
Chuông hiệp bốn vang lên, Kim Oanh uể oải nắm dây đài đứng dậy và tôi ngộp thở theo dõi từng bước đi khập khiễng của em ra giữa đài. Tiểu Phụng thừa thắng lao tới đánh dứt điểm. Như có phép lạ, Kim Oanh lanh lẹ tràn người qua một bên tránh đòn đồng thời em lên gối phải trúng ngay ngực đối thủ rồi xoay người đá móc gót chân trái vào đầu Tiểu Phụng. Khán giả vỗ tay vang lừng và tôi nắm tay thầy Bruno la lên:
 
- Cô bé hết bị chuột rút rồi. 
 
Ông cười nói:
 
- Con nhỏ giả đò hay thiệt. Đối thủ của nó bị lừa rồi.
 
Trên đài Tiểu Phụng vừa loạng choạng ngã, Kim Oanh nhào đến đỡ đứng dậy và đấm liên tiếp vào mặt đối thủ. Em dồn Tiểu Phụng đứng dựa vào dây đài rồi bắt đầu xoay người quất những cú bằng cườm tay vào đầu Tiểu Phụng. Không để cho đối thủ có dịp ngã nghỉ lấy sức, em phang liên tiếp những đòn ống quyển vào hai bên hông Tiểu Phụng và đánh dứt điểm bằng một cú đấm móc thật mạnh vào cằm. Chuông hiệp bốn dứt, Kim Oanh đi về chỗ ngồi và Tiểu Phụng ngã gục xuống sàn. Săn sóc viên phải ra nâng em đi.
 
Khi chuông hiệp năm vang lên, ông bầu của Tiểu Phụng quăng khăn trắng ra đài. Trọng tài nắm tay Kim Oanh giơ lên ra dấu thắng cuộc. Khán giả vỗ tay ào ào. Tôi cũng hét lên như điên vì mừng rỡ và chạy đến góc đài đón Kim Oanh đang leo xuống. Các bạn đồng môn vây quanh em reo hò và công kênh em trên vai đi vào phòng các võ sĩ.
 
Kim Oanh được đặt nằm trên giường nệm. Em nằm thẳng người mắt nhắm nghiền. Một cô bạn lấy dầu nóng thoa bóp những chỗ trúng đòn trên thân thể em và một người băng vết thương ở môi dưới em. Một lúc thầy Bruno vào. Ông nói các đệ tử ra ngoài rồi đến đặt tay trên trán cô bé:
 
- Em mệt không?
 
Cô bé lắc đầu mắt vẫn nhắm lại và từ hai khóe mắt em có hai dòng lệ chảy dài.
 
- Sao con khóc?
 
- Con đã đánh Tiểu Phụng bằng đòn thù không cho cô ấy ngã nghỉ lấy sức, trái với tinh thần thượng võ. Con đã không ngăn được lòng giận vì cô ấy đánh lúc con bị chuột rút.
 
- Ồ, con đâu có đánh trái luật. Trận đầu mà, rồi con sẽ quen đi.
 
- Con rất ân hận. Con xin thầy tha tội, từ nay con nhất định không bước lên đài nữa.
 
Ông lắc đầu bước ra khỏi phòng, đến cửa ông quay lại vẫy tôi ra nói nhỏ:
 
- Cậu hãy ở lại khuyên nó, nó còn hốt hoảng vì bị đòn nhiều.
 
Tôi đóng cửa lại, trở vào nắm chặt tay em và nói thầm bên tai:
 
- Nhỏ, em đau lắm không?
 
Cô bé mở mắt nhìn tôi, khẽ nhếch môi cười:
 
- Anh thấy em giữ đúng lời hứa chưa. Em đã nói đánh gục nó là nó phải gục. Nhưng em hứa từ nay không đánh võ đài nữa, anh bằng lòng không?
 
Tôi vui mừng nói:
 
- Rất bằng lòng. Tôi không thể nào chịu đựng nổi một lần nữa nếu thấy em bị đánh ngã.
 
Cô bé ngồi nhổm dậy đặt hai tay lên vai tôi:
 
- Bỏ tập võ em sẽ đi học lớp gia chánh tập nấu mì đủ kiểu cho anh ăn.
 
- Vậy thì nhất rồi còn gì hơn nữa.
 
Em nắm tay đấm nhẹ vào ngực tôi:
 
- Nhưng anh coi chừng, em vẫn còn dư sức đấm bể tim anh.
 
- Tôi không sợ em đánh, tôi chỉ sợ em bắt tôi nhịn đói thôi. Bây giờ em đi thay quần áo rồi tôi gọi taxi chở chúng ta đi ăn mì
 
Cô bé trợn mắt, quát:
 
- Anh lại muốn đến gặp cô con gái ông Tầu phải không?
 
- Đâu có. Lần này chúng ta đi ăn ở một tiệm thật sang trong Chợ Lớn. Chúng ta sẽ ăn mì bồ câu tiềm, mì gà tiềm, mì bò tiềm, mì heo tiềm, mì "tả pí lù" tiềm.
 
Cô bé ôm bụng cười:
 
- Được rồi, tối nay em sẽ uống với anh một chai 33.
 
- Thôi nhỏ. Em uống đá chanh xí muội đi, uống 33 vào lỡ "say men chiến thắng" em đánh luôn tôi thì sao?
 
 
NGUYỄN THANH TRỊNH       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 142, phát hành ngày 20-8-1974)
 

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

NHỎ BẠN - Tạ Nghi Lễ


 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
chiều anh lên nhà thăm nhỏ
sợ trời mưa trở lối đi
cũng đây hoa tình mới nở
gửi đời nhau nụ tường vi
 
nhỏ đứng giữa vừng nguyệt quế
tóc hồng thơm rủ ngang vai
hương bay qua lòng nhỏ bé
nhớ thương vừa tuổi trâm cài
 
nhìn nhau sao lòng e ngại
một đời anh chợt như hoa
nhỏ ơi hương lòng nhỏ hái
tình anh rụng giữa mù sa
 
thủa ngày anh chưa quen nhỏ
ngang nhà chỉ sợ ki ki
lòng yêu mà đâu dám tỏ
anh buồn bao cõi tà huy 
 
có chiều buồn thương nhỏ quá
anh về đứng dưới hàng me
thấy trăm tơ lòng chợt lạ
thương người e cũng sơn khê
 
rồi có đời nhau buổi ấy
anh lòng trải mộng trăm năm
đêm mơ cuộc tình mới dậy
hương đời đã ngát tình thân
 
chiều nay lên nhà thăm nhỏ
tạ ơn đời đã cho nhau
tim trong dây mùa sương cỏ
nghe tình dậy mãi ngàn sau.
 
                               TẠ NGHI LỄ 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 141, phát hành ngày 5-8-1974)
 

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2026

MỘT CHÚT ĐỔI THAY - T.T.K.H.


Vũ mím môi, mặt chằm vằm lừ mắt kên-sì-po anh chàng lạ mặt vừa chạy xe đụng phớt qua tay làm mấy cuốn vở chao đi rơi văng vãi trên đường. Xời ơi! Còn cười nữa chứ. Người đâu vô duyên thế không biết? Anh chàng này nước sông Đồng Nai, Hồng Hà, Cửu Long gom lại rửa ba ngày cũng không hết vô duyên.
 
- Bộ không học Công dân hở?
 
À, ngon! Đụng người ta không xin lỗi còn làm tàng. Vũ đùng đùng:
 
- Học hay không kệ tui, hỏi chi lãng xẹt rứa?
 
- Về học lại bài "luật đi đường".
 
Con cái nhà ai mà ngang tàng, phải là nhỏ Khanh ở nhà Vũ đã tha hồ gõ lóc cóc lên đầu. Nhìn mặt hắn tỉnh bơ, chống tay lên cằm như có vẻ ngắm nghía Vũ. Vũ rủa thầm, kính chi mà đen thui lui thậm thùi lùi. Nhìn đời bằng mầu đen. A! Anh chàng này tới số rồi... hay hắn không thấy đường? Hiệp sĩ mù nguyên tử nên vẫn phóng Honda vù vù. Mới sáng gặp anh chàng này coi bộ xui xẻo quá. Vũ vênh váo:
 
- Bộ đui hay sao không thấy đường.
 
Anh chàng chưng hửng, trợn mắt ngó Vũ. Cho đáng đời. Bộ tưởng bắt nạt Nguyễn Trần Phi Vũ này dễ lắm sao? Còn lâu ạ. Vũ giật mạnh mấy cuốn vở trên tay anh chàng đang khom lưng nhặt rồi ngoay ngoảy bỏ đi. Chợt nhớ còn cây bút Vũ quay lại. Hắn cười:
 
- Giận dỗi ai thì về nhà mà giận, tức chi giận đến nỗi quên bút rứa? 
 
Vũ muốn ngắt đầu hắn đá banh lăn lóc cho đỡ tức. Người chi mà bướng. Bướng dàn trời. Vũ trợn mắt:
 
- Trả đây.
 
- Không, giữ làm kỹ nghệ.
 
À! Cướp giựt giữa ban ngày. Xời ơi! Mặt mũi coi vậy mà bất lương can không nổi. Vũ sừng sộ:
 
- Coi chừng tui có ông anh đai đen.
 
Hắn vẫn nhăn răng ra cười, Đẹp đẽ chi cười hoài vậy không biết. Cái đầu cứng như đá, cái mặt bê tông cốt sắt, trân trân ra nhìn Vũ:
 
- Nếu sợ, tôi sợ Phi Vũ kìa.
 
Vũ giật mình. Chết cha! Lúc nãy sơ ý để hắn đọc tên mình ngoài bìa vở. Rắc rối đây... Như mấy thằng nhỏ mặt vắt ra sữa hay lê lết ở hàng nước đá trước cổng trường, không biết mò ở đâu ra cái tên Phi Vũ cứ réo gọi ầm ầm mỗi lần Vũ đi ngang làm Vũ ngượng kinh khủng. Vừa ngượng vừa tức. Làm như quen người ta từ kiếp nào rồi không bằng. Anh chàng này coi bộ cũng không vừa, hắn dám đem tên mình ra xào nấu kỹ càng lắm ạ. Vũ ức nhưng chẳng biết làm chi. Con cái nhà ai mà lì lợm. Van bà lôi, hà bá sao không móc mắt hắn đi, dìm hắn vào vạc dầu sôi 100 độ cho hắn dẫy đành đạch, cho hắn vàng như cá chiên. Để chi cái đầu đá xanh, để chi cái mặt bê tông cốt sắt đó chứ? Mai phải nói ba mua cái cặp mới mới được, để vầy... bất tiện quá.
 
Trễ học mất mười phút, Vũ hấp tấp cắm đầu chạy một mạch lên thang lầu, đụng anh chàng nào đó không biết cũng đang phi thân vù vù xuống, hắn cuống quýt xin lỗi, nhặt hộ Vũ mấy cuốn vở. Chẳng kịp ngó xem mặt hắn tròn hay méo, lục lăng hay bát giác, Vũ ba chân bốn cẳng chạy tiếp. Nhưng dù sao anh chàng này cũng dễ thương hơn hắn nhiều. Vũ vào lớp run lật bà lật bật. Nhằm ngay giờ ông Pháp văn già khó tính mới chết chứ. Ổng sẽ ngừng giảng bài, ngẩng đầu lên dịu dàng ngọt lọt đến xương rằng thì là: "Con gái biết mấy giờ rồi không? Dậy sớm nhỉ?" Và như thế Vũ sẽ ê mặt ghê lắm... Mối thù lại bừng bừng bốc lửa. Hừ! Cũng tại hắn hết. Ta quyết không đội trời chung với nhà ngươi, hiệp sĩ mù ạ. Bọn Huê Mai chụm đầu vào nhau xầm xì: "Mày biết tại sao con Vũ đi trễ không?" Có tiếng cười khúc khích: "Em đi chàng theo sau, em không dám đi mau, sợ chàng chê hấp tấp, số gian nan không giầu..." Sợ cái con khỉ đột, đang giận tím người đây này. Nhưng nói ra bọn nó sẽ chọc hơn nữa. Vũ tỉnh bơ nghinh mặt. Ừ! Tha hồ cho bọn bay bàn tán. Ta cóc sợ.
 
Thế rồi những ngày kế tiếp, buổi sáng đến trường, buổi trưa nắng đổ. Sau lưng Vũ có đôi mắt lãng đãng theo sau. Vũ cũng chợt nhận ra mình là lạ. Ít cười, ít nói hẳn đi, không còn lách cha lách chách như hồi trước. Anh Lý nhận ra điều này ghé tai Vũ nói nhỏ: "Muốn kiếm chồng làm ăn hay sao mà "thiền" vậy nhỏ?" Vũ hét toáng lên: "Ê! Nói ẩu nha. Có anh á!". "Ẩu hồi nào, ta nói có sách mách có chứng, đứa mô đi học về có cái đuôi thì biết". Vũ giật bắn người nhưng tỉnh bơ le lưỡi: "Đuôi thằn lằn hay cắc kè?" - "Không đuôi thằn lằn hay cắc kè chi cả mà là đuôi người, người kính nâu, hắn với ta kết tình huynh đệ từ ngày còn mặc quần thủng đít". Vũ níu áo anh lại: "Thật không? Đứa nào nói láo sẽ xanh xao vàng vọt phất phơ phất phưởng như hồn ma bóng quế nha". Anh Lý phi thân đến cướp ly đá chanh Vũ mới pha nhảy phóc lên ghế ngồi uống ngon lành: "Ranh con sao mi hỗn thế hở. Ăn chi mà như bà trời con, rứa có người thương mới lạ lùng" - "Ê, ai thương ai mới được chứ?" Vô tình anh Lý cho biết cái tên Hoàng Nghiệp của hắn: - "Là thằng Hoàng Nghiệp thương Phi Vũ, là em tan trường về anh theo Vũ về..." Vũ cấu mạnh anh Lý: "Nè, ăn nói cho đàng hoàng nghiêm chỉnh chút nghe". "Thì ta vẫn đàng hoàng nghiêm chỉnh đó chứ, thằng nhỏ cứ hỏi thăm về Nguyễn Trần Phi Vũ hoài hỉ" Xí đừng hòng dụ dỗ ta hiệp sĩ mù ạ, mãi mãi ta với nhà ngươi vẫn là đường nhựa cắt ngăn bởi đường rầy... Mối thù trong ta sẽ bền bỉ theo cái mặt bê tông cốt sắt của nhà ngươi.
 
Nhìn những giọt mưa đan thành bức màn trắng xóa rơi đều trên cây lá, Vũ ức mình kinh khủng. Buổi sáng lúc đi học thấy trời u ám Vũ đã định mang theo áo mưa nhưng không biết nghĩ sao lại quăng vào tủ. Mưa hơi to, phải có áo giờ này đã tha hồ dầm mình trong những giọt nước mát lạnh chứ đâu phải đứng chết dí ở đây. Cánh cửa xịch mở. Một cái đầu bù xù ló ra: "A! Phi Vũ". Vũ giật mình, luống cuống. Nhà hắn ở đây. Quê chết. Nhưng lỡ rồi Vũ mím môi đứng im. Hắn mời mọc: "Vào trong này không thôi ướt hết Vũ. Bộ Vũ giận tôi lắm hở?" Xời ơi! Xé xác nhà ngươi ra còn được chứ giận là còn khá em ạ. Vũ vẫn đứng im, tội chi trả lời cho hắn lên mặt cơ chứ. Hắn năn nỉ: "Cho tôi xin lỗi Vũ nha" Chúa ạ, đợi tới giờ này mới xin lỗi. Trời ạ, ngu chi mà ngu. Hắn kể lể: "Tôi có đứa em gái bằng Vũ nhưng nó chết rồi". - "A! Anh chàng xoay qua chính sách lấy tình thương xóa bỏ hận thù để chiêu hồi hồn ta, mong ta ban cho chút ít mang về sưởi ấm trái tim khổ đau lạnh lẽo đây chứ gì. Vũ quay lại nhìn hắn - Đôi mắt - đôi mắt như có cả rừng thu tha thiết nhìn Vũ. Vũ bối rối quay đi. Ơ kìa! Hãy trấn tĩnh lại Vũ, tội chi mà ngớ ngẩn cơ chứ. Hắn là hiệp sĩ mù. Kẻ thù không đội trời chung với mi kia mà. Vũ nghe mình gọi. Vũ! Vũ, con ma cứng đầu trong mi đâu mang ra đối phó với hắn đi, làm chi mà yếu xìu vậy chứ. Nhưng Vũ vẫn luống cuống làm chiếc cặp trên tay cứ muốn chao xuống đất. Và Vũ biết rồi cơn mưa sẽ dứt. Vũ sẽ ra về bằng bước chân khác lạ. Có phải?
 
Buổi chiều anh Lý kéo Vũ xuống bếp lục nồi. "Đói quá nhỏ ơi" - "Trưa ông đi đâu mà không về ăn cơm, thất tình lang thang à?" - "Bậy, tao đến nhà kính nâu của mi..." - "Ơ! Sao lại của tui, ăn nói chi lãng xẹt rứa". Anh Lý vừa nhai nhồm nhoàm (giá có nàng của anh ở đây nhỉ?) vừa nói: "Hôm nay ông trời đi vắng nên có người hiền như me chua" Vũ mở to mắt: "Ai rứa?" "Nguyễn Trần Phi Vũ". Vũ thản nhiên chu miệng hỏi: "Rồi sao?". "Có sao ta mới nói, mi cho hắn lên chín tầng mây xanh lơ" Vũ cười khúc khích: "Rớt xuống tan nát một đời trai..." "Ranh con ác". "Ác sống lâu, hiền mau chết, em thì muốn sống dài dài hành hạ anh". Anh Lý ỡm ờ: "Hắn nói..." Vũ chồm người níu áo anh hỏi tới tấp: "Nói chi, hắn nói chi anh?" Như một cố ý anh Lý chỉ nói thế rồi thôi. "Đứa mô muốn biết tìm hắn mà hỏi" Vũ bĩu môi: "Không thèm hỏi, cho hắn lên mặt à?" Nói cho hách xì xằng với anh Lý vậy chứ quả thật trong thâm tâm Vũ đã tiêu tan nỗi tức hôm nào. Chỉ còn chút bồi hồi của kỷ niệm dễ thương.
 
Ôi! Biết không đôi mắt rừng thu? Có đổi thay nào trong em vừa thành hình.
 
 
T.T.K.H.       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 141, phát hành ngày 5-8-1974)
 

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

CÔ EM RĂNG KHỂNH - Trần văn Nghĩa


 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
1
 
cô bé trông ngồ ngộ
nụ cười dễ thương ghê
chao ơi chiếc răng khểnh
làm nhớ suốt buổi về
kể từ ngày khôn lớn
kể từ ngày biết yêu
thật tình, ta muốn nói
yêu em yêu quá nhiều
thật tình ta muốn ngỏ
nhưng, lời chỉ bấy nhiêu
 
2
 
trông cô cười ngồ ngộ
thêm đời chút lạc quan
nhìn cô em răng khểnh
thấy đời bớt gian nan
còn có cô em đó
để tôi còn lang thang
 
3
 
cô em trông xinh quá
lòng này cũng muốn xiêu
chưa bao giờ như thế
mới gặp mà đã yêu
khi không đời đẹp lạ
(đẹp nhất phố Sài gon)
chao ơi chiếc răng khểnh
 
4
 
cô bé cười xinh xắn 
chết đời tôi, biết không?
chao ơi, chiếc răng khểnh
nhớ, sao nhớ vô cùng
bỗng dưng ta cảm thấy
chiều nay đẹp lạ lùng
 
5
 
gặp cô em tình cờ
giữa phố, trời đang mưa
buổi về ta còn nhớ
dan díu tình bé thơ
chao ơi, chiếc răng khểnh
nhớ, biết mấy cho vừa
 
                         TRẦN VĂN NGHĨA
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 142, phát hành ngày 25-8-1974)

 

 

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

CHIM SẺ VẨN VƠ - Lunady


Chú nhỏ học bên audio. Và chú nhỏ đi học bằng chiếc xe đạp tí hon trông dễ thương kinh khủng. Đầu tiên là thế này: dạo ấy Phương với Dung còn đi học riêng, một hôm, thứ sáu thì phải, Phương ngủ dậy hơi muộn, tưởng đã trễ học nên nhờ anh Nam chở đến trường, đến nơi hóa ra còn sớm. Phương đứng đợi Dung ngay cổng sau, vừa đứng vừa nhìn thiên hạ qua lại thì chú nhỏ lững thững đi tới, áo trắng, quần xăng gai xanh tươi và mắt nhìn sao giống mắt ai kia kinh khủng. Nguyên cũng cao, cũng ngang tàng như vậy đó, nhưng bây giờ có còn gì nữa đâu. Chiếc valise xanh dương sậm đựng quần áo, vài ba quyển sách vở theo Nguyên ngược xuôi từ Cần Thơ, Định Quán tới Saigon rồi bây giờ Nguyên cũng lặng lẽ bỏ Saigon mà đi, trôi dạt không biết nơi nào, và chú nhỏ vừa đi ngang qua Phương cũng có khuôn mặt tựa như khuôn mặt dấu yêu ngày ấy, với mắt nhìn mang thương nhớ đến ngàn đời. Phương nhìn sững chú nhỏ trong giây lâu, chú nhỏ ngạc nhiên nhìn trả lại, nhưng rồi cũng đi thẳng. Chốc sau Phương lại thấy chú nhỏ trở ra với bạn, nhìn Phương một cái, nói trời nói đất gì đó rồi kéo nhau đi vào. Dung tới, chuông reo, hai đứa vào học và Phương quên bẵng mất câu chuyện ban sáng. Nhưng đến lúc ra về, Phương lại thấy chú nhỏ loay hoay lấy chiếc xe và hôm nào cũng thế, dắt xe ra là chú nhỏ cắm đầu chạy làm như có chuyện gì vội vã lắm. Từ đó, như một thói quen nhỏ, hôm nào Phương cũng kéo Dung nán lại ở cổng đợi chú nhỏ đến, gửi xe, đi ngang và nhìn đôi chút, bọn Phương đã đi trễ, chú nhỏ còn đi trễ hơn. Một hôm, vừa gửi xe xong, Phương thấy chú nhỏ đi tới, đi bộ. Phương ngạc nhiên kéo tay Dung:
 
- Ơ Dung, hôm nay anh chàng đi bộ...
 
Dung không để ý, ừ ào cho qua chuyện:
 
- Chắc xe hư hay gì đó... 
 
Thấy chú nhỏ có vẻ mất tự nhiên, Phương kéo tay Dung đi vào. Dung ngoái cở lại nhìn và nói:
 
- Anh chàng mắc cỡ...
 
Từ hôm đó chú nhỏ đi sớm hẳn ra, và bọn Phương không phải đứng nấn ná ở cổng nữa vì lần nào đi vào cũng thấy chú nhỏ đã đứng trên balcon lầu 2 bên audio nhìn sang. Lầu 2 có 5 phòng: 6, 7, 8, 9, 10. Không biết chú nhỏ học phòng nào.
 
Lâu dần Phương biết anh chàng còn hay ngồi ở cái băng ngay cạnh cửa nhỏ nữa. Hôm đó Phương và Dung định lên cửa sau nên đi sát cái băng để rẽ sang cầu thang bên phải. Phương có nhìn bên audio, nhưng vị trí quen thuộc trống vắng nên Phương nghĩ thầm: chắc anh chàng đi trễ, tự dưng Phương thấy trong số những đôi chân của đám học trò ngồi ở băng đưa ra có màu vải xăng gai xanh quen thuộc, Phương ngẩng nhìn khổ chủ thì ra là chú nhỏ mọi hôm. Anh chàng đang nhìn Phương, chưa lần nào Phương đứng gần anh chàng như thế, và Phương hối hận sao hôm nay mình mặc đồ xấu quá. Anh chàng có cười nhưng không biết cười với bạn bè đang ngồi nói chuyện hay cười với con bé tốc kê đang đi ngang qua mặt. Dung vào toilette chải tóc. Lúc sắp ra, Phương hỏi:
 
- Có nên nhìn một cái không Dung?
 
Dung trả lời:
 
- Rất nên.
 
Phương nhìn đôi mắt cũ làm Phương thấy tâm hồn mình lao đao một chút.
 
Từ đó trong lớp, trên đường đi về mỗi ngày, những lúc rảnh rỗi Phương nghĩ đến chú nhỏ khá nhiều. Phương đặt cho chú nhỏ một cái tên: Michel, và Phương nghĩ đến những điều làm cho Phương cảm thấy chú nhỏ là một cái gì gần gũi và quen thuộc với mình. Chả hạn như trong túi quần chú nhỏ chắc thế nào cũng có một ít tiền, để gửi xe chẳng hạn ; nếu chú nhỏ hay hút thuốc như Nguyên, trong túi sẽ có một gói thuốc nhưng đã vơi quá nửa, và hộp quẹt giấy hay brique gì đó. Mỗi ngày đi học chú nhỏ mang theo một cuốn sách và một cuốn vở cũng như Phương vậy. Phương học cuốn Mauger, còn chú nhỏ học bên audio chắc chú nhỏ cầm theo cuốn France en direct hay gì gì đó. Trong cuốn vở, chắc chữ của chú nhỏ cũng quăn queo xấu xí như chữ con nít của Nguyên. Cây bút Bic chú nhỏ giắt ở mép túi quần, và khi chạy xe thì sách vở để trong cái giỏ xinh xinh phía trước.
 
Bỗng nhiên Phương ước ao ngồi ở cái yên sau của chiếc xe đạp dễ thương kia ghê gớm.
 
 
LUNADY        
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 112,  tuần lễ từ 26-7 đến 2-8-1973)
 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

NGOẠI, TOÀN VÀ NIỆM - Mường Mán


"Trong thành ngoài thành phượng đỏ rực cả rồi". Câu nói kèm nụ cười, đôi mắt sáng ngước, tay trái đong đưa chiếc xắc hành lý, tay phải vung vẩy chùm hoa đỏ chói, áo xanh màu da trời hai tà quấn bên chân, Niệm bước vào khung cửa rộng, dừng lại giữa phòng khách thoáng ngơ ngác, rồi bỗng ngượng nghịu khi thấy trong nhà hình như hơi đông người, không những chỉ có vợ chồng anh Lân mà còn dăm ba người bạn khác nữa. Chị Nhã là kẻ đầu tiên đứng lên đón Niệm: "Mới về hả? Sao không đánh điện tín để anh chị đi đón? Lù lù về như ma". Anh Lân nhìn chùm hoa trên tay Niệm: "Phượng nở khắp rồi sao? Cô về bảo mọi người mới hay đấy". Nhiều tiếng cưới vây lấy Niệm, làm thiếu nữ bối rối gật đầu chào quanh một lượt, đoạn tê tái bước nhanh vào nhà sau. Chị Nhã theo vào: "Ngụy ghê, về chưa chào ai cả đã nói chuyện hoa hòe, ai chẳng tức cười". Niệm nói: "Về tới phố thấy phượng đỏ tứ phía, không hiểu sao em mừng chi lạ. Năm nay thứ hoa ấy nở nhiều và đẹp gấp mười năm ngoái". Niệm cắm chùm hoa vào chiếc ly đặt trên bàn. Chị Nhã quở nhẹ: "Cái thứ bông đường bông sá ấy chưng làm gì? Bộ vừa về cô đã leo lên cây hái hoa chắc!" Niệm cười: "Em bảo bác xích lô dừng lại xin của bọn học trò đấy chứ".
 
Phượng, thứ bông đường bông sá, vì phượng nở khắp dọc những ngả đường, đâu đâu cũng thấy phượng dâng những mâm hoa đỏ ối, bật nổi giữa nền cây lá. Màu đỏ phượng ánh lên những vầng mây, thêu gấm đào cho không gian Huế ngã dịu vào vòng tay nồng nàn của hè. Xuống phi trường Phú Bài lên xe ca tới An Cựu, Niệm đã bàng hoàng biết bao khi gặp phượng. Nắng vàng bay múa trong màu hoa phả vào hồn người từng gợn sóng êm ả. Tưởng chừng gió không đến từ trời, từ sông hay non núi mà đến từ hoa, từ tầng tầng cánh huyết thắm dâng ngợp giác quan, rồi buông thả xuống nghìn cánh tươi như máu đỏ. Vừa tới Huế, phượng đã nắm lấy hồn Niệm nhấc bổng lên, ném trôi trên những bước lênh đênh. Ngồi xích lô đi chậm qua phố chính, Niệm ngắm phượng hai bên bờ sông, phượng theo Niệm vào thành, che lọng lớn đứng nghiêm trang bên những cửa phủ im bóng. Hoa trổ ngời khắp phố, khoác áo mới cho những hè đường. Phải chăng hoa đưa tin đến cho kẻ vừa về, rằng quê nhà vẫn bằng an, không biến cố như những năm trước, chưa đổ vỡ như những phố không may. Tin bí mật rao truyền qua mạch gió, Niệm vô tình nhận, nên nàng vẫn không hiểu sao khi về tới gặp phượng mình lại mừng quá thể. Mừng quấn quýt đến nỗi vừa bước lên thềm nhà đã vội báo tin hoa. Cái tin mọi người ở đây đều đã biết từ hơn tháng trước, khi sớm mai nào thức dậy, chợt nhìn thấy những cánh phượng thứ nhất về cười rung nụ đỏ đầu cành, trong vườn, trong công viên, dọc đường phố.
 
Có mùa hè là có phượng. Phượng không thuộc về hè mà hè thuộc về phượng. Sự trải chói của phượng trên bề mặt của không gian Huế xác định điều ấy. Hoa trùng điệp, lơ đãng mấy cũng không thể không thấy hoa. Thiên hạ ở đây quá quen nhịp đi và đến đều đặn, chẳng bao giờ lỗi hẹn của hoa, nên không mấy ai để ý. Chỉ có kẻ ở xa mới về mới thấy phượng gọi hồn cách thiết tha, mới nghe phượng nói và thấy phượng khóc, lệ ràn rụa đỏ ngập trong các sân trường, trên mái lầu, mặt thành rêu cũ. Huế buồn ngủ hết ba mùa, mùa hè Huế choàng thức nhờ phượng, bởi phượng và, không thể thiếu phượng. Lũ học trò gái trai đội nắng đến những lớp hè, trước giờ học chúng thường rủ nhau đạp xe long rong, vài đứa, thế nào, cũng có đứa cầm một chùm hoa ở tay hoặc dắt bên cặp sách. Có những cô thả bộ vẩn vơ, đưa lên miệng nhâm nhi từng cánh thắm. Có những cậu lang thang theo tình, gót giày mang xác phượng đến tận cổng nhà nàng... nằm vạ. Họ, dúm trẻ dễ thương đó, mỗi mùa mang tin hoa đi khắp phố nhà. Và biết đâu, có những cậu những cô đi xa vào mùa này lại không mang theo vài chùm hoa cho nặng thêm hành lý, nặng thêm chút tình hoài hương, vì những cõi khác có thể có phượng, nhưng phượng ở đâu cũng không thể xui lòng buồn lòng vui nồng nàn bằng phượng Huế, cái màu đỏ mênh mang úp chụp xuống người tê tái, đe dọa những ngày nhiễu nhương, đồng thời màu đỏ đó gửi tới người lời báo hỷ rực rỡ những mùa hoài vọng.
 
Năm ngoái, Niệm ra đi vào mùa thu, khi phượng chỉ còn là những cành nhánh bâng khuâng đâm vút lên trời, những mâm hoa rực đã trút vơi, bằn bặt tan vào đất theo chục cơn mưa trút, bầy nụ mầm nẩy muộn đành héo rụng, đợi đến mùa sau bừng lên một thời phượng khác. Mùa thu, Niệm khăn gói ra đi cho kịp niên học mới mở ra ở một nơi xa xôi khác, nơi có thời tiết và giòng sống chảy mạnh hơn Huế. Bận rộn với lũ học trò, nhà trọ, mưa nắng quẩn quanh trong phố thiên hạ chín tháng ròng quay quắt nhớ nhung và, giờ Niệm trở về. Kẻ mong ngóng Niệm trở về nhất không phải là chị Nhã anh Lân, mà là Toàn. Trong nhiều lá thư Toàn không ngớt giục Niệm về. Toàn viết, đùa mãi với cây nạng khác gì kẻ tuyệt vọng ôm khúc củi mục mong nó nở hoa. Anh khẩn thiết mong Niệm về, về để thấy việc anh sắp cưới Nguyệt là chuyện có thật. Niệm nói với chị Nhã: "Lâu nay anh Toàn ghé nhà không?". Chị Nhã đang bứt từng cong rau muống xanh bỏ vào thau nước lớn, ngẩng lên" "Mất biệt hơn hai tuần nay không thấy ghé. - Thế chị cũng không xuống ngoại chơi sao" - Chấm bài thi muốn mù cả mắt còn đâu thì giờ". Niệm thích thú với ý nghĩ Toàn không hề biết nàng về, thế nào chẳng ngạc nhiên khi Niệm bất thần hiện đến. Thời sự của Toàn lúc này thế nào? Niệm chẳng hề tin những điều anh viết trong thư, đúng hơn là nàng chẳng muốn tin Toàn sắp đội chữ tòng lên đầu Nguyệt. Niệm cúi xuống nhặt cọng rau muống bẻ gãy rời từng đoạn nhỏ: "Thế chị Nguyệt cũng biệt luôn sao? - Cả cặp, Nguyệt lẫn Toàn". Niệm thoáng băn khoăn: "Thư mới nhất gửi em anh Toàn bảo hai người sắp lấy nhau mà". Chị Nhã vờ phát cáu: "Sao mày thắc mắc mãi về bọn họ thế?
 
Ừ, sao vậy nhỉ? Có phải vì ngay từ đầu Niệm đã chẳng thích gì Nguyệt lắm không? Những năm còn học ở dây, Nguyệt cùng trường và hơn Niệm hai lớp. Nguyệt ở sát hông nhà, chỉ cần gọi vói qua một tiếng là có thể nghe tiếng Nguyệt đáp nếu nàng có ở nhà. Thời chưa quen nhau, Toàn thường leo lên cây nhãn cao nhất trong vườn trông vời qua sân nhà người ta, nhìn trộm dáng kiều ra vô thơ thẩn. Rồi hai người quen nhau. Hình như yêu nhau. Niệm làm bộ tảng lờ không ý kiến gì cả, Toàn cứ hỏi hoài, Niệm nổi nóng bảo Niệm chẳng thích Nguyệt lắm. Nguyệt đẹp, nết na đấy, nhưng ở người thiếu nữ ấy có cái gì Niệm không thể chịu được. Đôi mắt sắc quá chăng? Dáng đi cố tạo vẻ đài các sang cả chăng? Nét mặt đang cười nói tươi tỉnh đột nhiên ngớ ngớ ra trông thật đần chăng? Nguyệt càng tỏ vẻ không thích, Toàn càng làm ra vẻ si mết Nguyệt hơn. Có lẽ Toàn yêu Nguyệt thật. Cũng có thể không. Họ sắp lấy nhau? Thôi nhau? Niệm không hình dung được. Hai kẻ vắng mặt được nhắc nhở tưởng như đã ở cõi xa mờ nào khác. Buổi chiều sậm mầu dần, những mâm phượng đơm rực trên những ngọn cây, lửa cháy trong lò sửa soạn bữa cơm chiều, chị Nhã lui tới nhẹ nhàng tựa vệt khói giữa những bày biện quen thuộc. Nơi xa xôi, nhiều đêm Niệm đã nằm nhớ quay quắt khung cảnh đơn giản nhưng ấm cúng này.
 
Niệm mở cửa phòng riêng của mình với chút cảm động thoáng buồn rầu của kẻ vừa trở về, nghe nỗi háo hức đã chìm xuống, loãng mù vào khoảng bát ngát nắng nôi gió lá bên ngoài, của lòng tĩnh lặng bên trong. Niệm nói vọng qua cửa sổ: "Lâu nay có ai vào phòng em không?". Chị Nhã nói: "Thỉnh thoảng anh Toàn vẫn tới nằm đọc sách một lát rồi đi, bộ mất mát cái gì sao?" Niệm cười: "Không, tự nhiên em thấy sờ sợ, cứ ngỡ lâu ngày phòng bỏ không, ma quỷ vào đây ngự". Trên bàn học, chồng sách giáo khoa không ai đụng tới, bụi bám mờ cả chữ nghĩa. Cái bình hoa không hoa. Tấm ảnh mầu tươi chụp Niệm cười trước cổ tháp Linh Mụ lồng kính đặt trên chiếc tủ nhỏ. Nhìn mặt nệm phẳng trũng dấu người nằm, Niệm mường tượng thấy Toàn với cuốn sách mở ngang tầm mắt, chiếc nạng gác bên thành giường cách mệt mỏi. Cái dáng lẻ loi của anh bao giờ cũng tách biệt hẳn với mọi người. Với Niệm, Toàn không những là người anh mà còn là người bạn thiết. Niệm hiểu Toàn hơn ai hết. Bao mộng tưởng đầu đời đã rời bỏ anh, thực tại là lưỡi dao bén, gọt trụi lớp vỏ hồn nhiên bọc quanh trái tim xưa kia vang động nhịp sống hồng hào. Niệm đã sợ hãi biết bao khi nghe Toàn bảo, anh chẳng biết sử dụng trí tuệ, tay chân anh như thế nào trong những ngày còn lại. Toàn vốn ít nói. Tiếng nói cỏ vẻ thừa hơn trên môi anh từ ngày chiến trường giữ lại một khúc chân, quân y viện tặng anh cái nạng gỗ. Toàn câm lặng lắm lúc làm Niệm sởn cả gai ốc trong những buổi chiều hai anh em cùng ngồi bên gốc hoàng lan, giữa nhà ngoại, gốc cây họ đã cùng trồng cùng vun tưới năm mười một tuổi - Có lần Toàn đùa bao giờ Niệm lấy chồng nhớ mang cây hoàng lan theo trồng dưới cửa sổ phòng ngủ, sẽ không mơ thấy mộng dữ - Vào những chiều như thế, Niệm thường nhắc kể về thời bóng họ quấn quít bên chân nhau. Thời Niệm lẽo đẽo theo anh, tham dự hầu hết mọi trò chơi bạo mạnh của bọn trẻ trai đồng lứa. Nhảy bổ vào những cuộc vui săn chim bằng ná cao su, chia phe đánh giặc giả, chen chân vào các hí viện coi cọp ciné..., lắm lúc Niệm quên hẳn mình là con gái, Niệm từng làm thủ môn cho đội banh của Toàn đấu với đội xóm vườn Đào, xóm Ngã ba Thánh giá, và trở thành thủ môn giỏi bao giờ chẳng hay. Những buổi tắm sông Toàn đã phải nhốt Niệm vào phòng kín khóa cửa, mặc Niệm gào khóc nguyền rủa anh. Toàn nhất định không cho Niệm theo anh và bọn nhỏ leo lên kè đá bông nhông xuống giòng nước dữ. Toàn lì, Niệm còn muốn gan lì hơn anh trong mọi trò nghịch ngợm. Suốt ngày hai anh em quấn quít bên nhau, mối ràng buộc êm ái bén rễ ăn sâu trong vòng tay bao dung của ngoại. Mối ràng buộc nới rộng dần theo năm tháng, cho đến một hôm, Toàn nhìn thật lâu vào đôi mắt to của em gái, nhận rằng Niệm đã khôn lớn, Niệm thảng thốt thấy Toàn nhìn Niệm bằng khóe mắt dị kỳ. Khóe mắt của Toàn như chẳng phải của Toàn nữa, mà là cái nhìn của một người con trai lạ mặt nào ẩn giấu bí mật, bát ngát sau cái vóc dáng quen thuộc của anh. Cái nhìn ấy ám ảnh Niệm nhiều đêm, làm nàng thấy không thể đi đứng nói cười nô đùa hồn nhiên trước mặt anh như trước được nữa. Mãi cho tới bây giờ. Cây hoàng lan vẫn còn. Tuổi nhỏ đã mất. Tuổi lớn vụt đến cùng cây nạng theo Toàn bước lênh khênh. Tóc ngoại ngày mỗi bạc trắng hơn. Và Niệm lúc này, vừa từ nơi xa xôi về, ngồi nhìn dấu trũng Toàn để lại trên mặt nệm như dấu tích một lẻ loi cùng cực.
 
Dưới giàn đậu quyên râm bóng, ngoại ngồi bất động dõi mắt theo mấy con bướm lượn quanh những khóm hoa. Mọi tiếng động như rút hết lên mây, bị ngăn lại sau những mành lá. Chiều trùm xuống chỗ ngoại ngồi từng thước im lặng lớn. Chút nắng sót muộn vừa đủ nhuộm óng ánh những ngọn tóc bạc trắng phất phơ đầu mỗi hơi gió, và khẽ lả xuống cơ hồ có bàn tay bí mật nào dám hỗn hào nghịch tóc ngoại. Không hiểu nghĩ gì mà không dưng ngoại bỗng mỉm cười. Ngoại của Niệm và của Toàn đó, người tôn nữ già đang ở thật xa chốn điện đài hoang phế. Ngoại chẳng màng gì đến những mảnh vàng son tơi tả nữa. Bây giờ tàng lọng che ngoại là giàn đậu quyên, là mái nhà lợp ngói âm dương đứng lặng giữa vùng xanh cây trái. Hài xưa nay thay thế bắng guốc gỗ mức mộc mạc thô sơ. Quạt trầm thôi không dùng nữa, quạt nan tre bồi giấy mỏng cũng thừa để ngoại quạt nóng ấp nồng. Ngoại ngồi đó, giữa lũy tre bọc ấm làng Nam Phổ, mắt hiền hậu nhìn lũ bướm tung bay, chẳng cần biết thời gian đang trôi, chiều đang lên hay chiều xuống. Ngoại mỉm cười và giật mình nghe tiếng gọi quen thuộc của đứa cháu gái.
 
Nhận ra Niệm, ngoại đứng lên cười thành tiếng, trách móc nhẹ nhàng: "Cháu làm ngoại giật mình, về bao giờ thế, hở?" Niệm dựa xe đạp vào cây khế dành sà đến ôm vai ngoại: "Ngoại đang ngồi nhớ ông cháu phải không? - Láo nào. Bảy mươi rồi, mày làm như ngoại còn hai mươi". Niệm quả quyết: "Rõ ràng cháu thấy ngoại đang mơ màng mà". Mắt ngoại âu yếm rực sáng tia nhìn vui. Ngày xưa nhan sắc ngoại nổi tiếng một vùng, ngày nay nhan sắc ấy vẫn còn phảng phất trên khuôn mặt lồng khung trong tuổi già. Hai bà cháu bước dưới những tàng cây. Ngoại cầm tay Niệm nhìn từ đầu đến chân mỉm cười. Niệm ước thầm ngoại cho mình nửa nét duyên muộn màng trên nụ cười của ngoại. Ngoại nói: "Cháu lớn thật rồi, gả chồng là vừa vặn. Ngày xưa bằng tuổi mày ngoại đã bồng má thằng Toàn trên tay, ngày nay tụi mày chỉ giỏi ẵm búp bê nhựa". Niệm nhìn quanh căn nhà hiu quạnh: "Anh Toàn đâu ngoại?" Ngoại lần tay vào túi áo lấy miếng trầu gấp nhỏ, miếng cau tươi bỏ vào cái cối tí hon nghiền nát, chầm chậm từ từ. Niệm nghĩ ngoại lãng tai không nghe rõ lời nàng hỏi, Niệm nhắc lại, lớn hơn: "Anh Toàn đi đâu vắng, thưa ngoại". Ngoại đứng dừng lại: "Cháu vào ăn cơm với ngoại nhé". Niệm bắt đầu sốt ruột, ngạc nhiên thấy ngoại chợt trầm ngâm buồn buồn, không còn vui vẻ như lúc nàng mới đến. Niệm bỗng nhớ cái tánh ưa lẫy hờn của ngoại, của những người trọng tuổi. Ngoại đang giận anh Toàn chuyện gì chăng? Niệm nhủ thầm và ghé miệng gần tai ngoại hơn: "Anh Toàn đi chơi chưa về sao ngoại?" Ngoại bỏ miếng cau trầu giã nát vào miệng, chậm rãi: "Hắn đi rồi". Niệm lặng người trong khoảnh khắc, mơ hồ cảm thấy có nỗi bất trắc nào đó trong sự vắng mặt của Toàn, thốt nhiên tim nàng đập mạnh: "Anh Toàn đi đâu vậy ngoại?" Trước vẻ bối rối của Niệm, ngoại bình thản: "Lên Pleiku thăm má nó". Niệm chưng hửng, ngẩn ngơ vì sự biến mất đột ngột của Toàn ngoài dự tưởng nàng, cùng lúc cơn giận mơ hồ dâng lên nghẹn cổ: "Anh Toàn đã hứa đợi cháu về, sao giờ lại bỏ đi hở ngoại?" Ngoại lắc đầu: "Biết đâu, nó bảo vài bữa có mày về, mày sẽ đến ở với ngoại cho đỡ buồn". Niệm kín đáo thở dài.
 
Đứng cạnh ngoại lúc này, tựa con cá trở về biển cũ, Niệm tìm thấy lại mình trong vóc dáng lặng thầm những ngày tháng sống hồn nhiên như cây cỏ. Tưởng chừng cô bé con thuở nọ, chưa một lần dời bước khỏi vưởn nhà, phương xa còn mãi là những cõi khép kín bên ngoài bờ giậu. Hơi thở Niệm tan ngầm, bắt kịp cách dễ dàng nhịp thở của mọi thứ mọi vật đang có ở chung quanh. Hàng chậu kiểng đặt dưới chái bếp lâu ngày không cắt tỉa, cành lá xuề xòa. Chiếc áo mưa rách của Toàn treo rũ bên cái cối đá dưới gốc cây đào lộn hột dễ chừng hai ba năm không buồn đổi chỗ. Mảnh sân sau - chỗ ngoại và Niệm đang đứng - chẳng rộng cũng chẳng hẹp hơn. Giới hạn bởi bức tường cổ cả trăm năm, không ngõ giao thông với vườn nhà kế cận, mảnh sân sau là thế giới thu hẹp của những đêm sao, những trưa đong đưa võng hóng gió. Dưới hiên, chỗ đặt lu nước vẫn ẩm ướt những mặt đá nhẵn mòn. Niệm rời ngoại, đến múc từng gáo nước mát lạnh trong lu dội xuống hai bàn chân trắng hồng nổi trên màu guốc gụ, đăm đăm nhìn lên bức tường cũ kỹ. Nét dao khắc trên đó chưa phai mờ. Trong thoáng lòng ấm dịu, Niệm như nghe rõ tiếng cười của Toàn, và thấy rõ cái dáng cao cao của anh đứng cạnh bức tường, dí mũi dao nhọn vào lần vôi ám màu mưa nắng, hôm trước ngày Niệm ra đi. Hôm đó cũng có nắng vàng giống bữa nay, nhưng không có nến phượng thắp sáng nền trời. Toàn bỏ vội trái đu đủ gọt dở xuống cạnh lu nước, hoa cây dao bảo Niệm đứng yên để anh chạm vào tường dáng đứng gầy gò của người em gái. Trò chơi bất ngờ và trẻ con như thể hai anh em chưa khôn lớn. Nét dao chạy vòng theo hình chiếc bóng Niệm hắt lên tường, do ánh nắng buổi chiều đang xuống dần đầu những ngọn cây. Bức tường giờ xanh mốc thêm một lớp rêu phong, nét khắc mờ mở tỏ tỏ. Không dưng, Niệm muốn so lại bóng mình trong dáng đứng cũ. Nàng loay hoay cố tìm một vị trí thích hợp để ánh nắng có thể dọi mình dán chặt vào đúng cái khuôn do nét dao để lại, nhưng chẳng thể, lúc này nắng đã xuống quá thấp, bắt bóng nàng lệch hẳn lên phía đầu tường. Niệm đứng lặng nhìn bóng mình mà ngỡ như bóng ai khác, mơ hồ chiếc bóng cũ đã theo Toàn ra đi. Niệm buồn bã: "Anh Toàn muốn trốn cháu hay sao mà lại bỏ đi trước khi cháu về hở ngoại?" Thấy Niệm dơm dớm nước mắt, ngoại vỗ về: "Cái thằng vô tình hết sức, nhà vườn rộng thênh thang thế này nó bỏ ngoại một mình chẳng thèm ngó lại, chỉ có mày là thương ngoại thôi". Mở cửa vào nhà Niệm giúp ngoại sửa soạn bữa cơm chiều, nàng không ăn vì chẳng thấy đói. Niệm xới cơm vào chén ngoại: "Anh Toàn lên Pleiku thật sao?" Ngoại cười điềm đạm: "Chứ mày nghĩ nó đi đâu bây giờ?"
 
Đi đâu bây giờ? Ngoại có vẻ tin Toàn lên Pleiku thật. Nhưng Niệm chẳng tin chút nào. Từ ngày dì Khanh bước thêm bước nữa, Toàn cơ hồ coi như mẹ đã chết. Anh không hề buồn chuyện tái giá, nhưng dù sao, dì Khanh cũng đã thuộc hẳn về một đời sống khác, với những hệ lụy buồn vui nóng lạnh khác. Toàn không muốn đặt chân - dù bây giờ anh chỉ còn một chân, rất khiêm tốn - vào cái đời sống riêng đó. Dì Khanh đã kinh ngạc và khóc ngất ngày Toàn chống nạng từ quân y viện trở về, thản nhiên bắt tay ông Chánh, nói cảm ơn ông ta và hy vọng ông sẽ mang lại hạnh phúc cho mẹ trong quãng đời còn lại của bà.
 
Đêm đó hai người đàn ông đã cùng uống rượu và nói chuyện với nhau rất tương đắc, ít ra người ngoài trông vào cũng thấy thế. Toàn từ chối lời mời của ông Chánh, không lên Pleiku. Buổi sáng đưa mẹ ra phi trường, Toàn đã thản nhiên nói với dì Khanh: Bây giờ mẹ thuộc về ông Chánh, còn con, con sẽ thay thế mẹ ở bên bà ngoại. Ngày nào ngoại mất con sẽ báo tin rước mẹ về. Hôm dì Khanh đi, Toàn lang thang đâu đó đến tối mịt mới về nhà, Niệm và ngoại ngồi chờ bên mâm cơm, cả hai cùng khóc.
 
Và, bên mâm cơm bữa nay, Niệm ngồi nhìn ngoại lẻ loi giữa căn nhà vắng trống. Có phải thời sum vầy đã qua, bây giờ là thời một mình? Ngoại có bao giờ hoài niệm chuỗi ngày xanh ngát xưa? Áo ủ hương nồng từng nếp lụa ngà xôn xao mây gió, trâm cài tóc biếc theo chị theo em thả hài lướt trên những đường thơm. Gương soi nửa in mặt hoa, nửa in bóng ngự thuyền. Mộng ngời đêm lẻn trốn ra cửa đông thành trao bàn tay cho lần hẹn hò thứ nhất. Rồi khúc hát hạnh phúc lứa đôi, tiếp dài sang những khúc hát nổi trôi theo chồng con đèo bồng qua ngày chói chang, qua đêm tăm tối. Có mùa đông quây quần bên chiếu ngồi, mùa xuân đông bầy cháu con hành hương hái lộc, mùa hạ lênh đênh thuyền ngược giòng Hương, đời nhẹ bổng theo tiếng đàn nhịp phách. Có ông ngoại cầm hết hàng chục mẫu ruộng thẳng cánh cò bay, thành khói sương một đêm trên chiếu bạc, gả con gái lấy chồng ngoại phải bán hết tư trang, gọi là chút hồi môn kẻo thiên hạ chê nhà ta sa sút... Xa hết, khuất mau, để giữa nắm tóc trắng bảy mươi, ngoại ngồi trơ trọi một mình. Một mình ngoại tay nâng cái chén và những miếng cơm, như và từng hạt chia rời nuốt cho trôi, cho quên nỗi ngậm ngùi cô chiếc. Một mình Toàn đâu đó bên bóng rừng đồi núi hay đường dài, chiếc nạng gõ rền nhịp đều, điệp trùng trong âm thanh buồn bã không nguôi của hàng trăm ngàn chiếc nạng khác, dọc những ngã ba tư khuất khúc trong lòng chiến thời dài rộng mênh mông. Một mình Niệm trở về ngồi đây, giữa buổi chiều của năm hai mươi tuổi, cũng buồn bã như chiều của ngoại, của người bảy mươi. Ngoại, Toàn và Niệm, mỗi người như được sinh ra để đi đứng và sống một mình.
 
Niệm nghe nỗi náo nức gặp ngoại gặp Toàn phút trước, phút này khô quắt lại thành giọt đắng ngậm tê đầu lưỡi. Đùa mãi với cây nạng, khác gì kẻ tuyệt vọng ôm khúc củi mục mong nó nở hoa. Anh khẩn thiết mong Niệm về, về để thấy việc anh cưới Nguyệt là chuyện có thật. Sao Toàn chẳng đợi Niệm về? Anh không chịu đựng hơn nữa đời sống tịch mịch ở đây sao? Anh không thấy ngoại già và ngoại cần thiết sự có mặt của anh cho đỡ cô độc sao? Mối tình của Nguyệt và anh là chuyện hoang đường hay có thật? Người thiếu nữ đẹp, nết na ấy đã không cho anh tìm thấy chút bóng mát nguôi quên nào sao? Tình yêu Nguyệt dẫu có cho anh vẫn không lấp đầy những khoảng trống? Niệm biết, trong Toàn có những khoảng trống thăm thẳm mở ra như miệng vực, anh nhìn xuống và thấy mình quẫy lội dưới ấy.
 
Chẳng ai nói thêm lời nào nữa.
 
Niệm bỏ ngoại ngồi lại với mâm cơm buồn tẻ, bước ra vườn, huyễn hoặc với ý tưởng Toàn đang ẩn núp đâu đó sắp lên tiếng gọi mình, như thời nhỏ, mỗi lần chơi trò trốn tìm, Toàn vẫn thường trốn thật kỹ, đợi Niệm khóc chào thua mới chịu ló ra. Lần này, Toàn trốn thật rồi, trốn khuất sau lớp mù sương dày mịt, chẳng thể tìm thấy được nữa. Niệm cảm tưởng nàng đã mất Toàn vĩnh viễn. Mất như tuổi thơ họ đã mất không bao giờ còn sống lại được lần nữa, thời quấn quít bên nhau.
 
Trở về kịp mùa hè, ngỡ rằng kịp hẹn, không hay Toàn nuốt hẹn bỏ đi, Niệm đứng giữa biển câm lặng mênh mông Toàn để lại, lòng hoang mang trống trải như ngày xưa mỗi lần bắt hụt những trái banh bão lốc, khác một điều, bây giờ không còn nghe tiếng Toàn trách móc em gái vụng về, dọa chẳng cho giữ chân thủ môn nữa. Lời trách của Toàn lúc này rì rào trong tiếng gió, lồng lộng khôn nguôi. Có phải Toàn trách Niệm đã bỏ anh mà đi, đã cho anh thấy anh là kẻ sinh ra chỉ để đi đứng, và sống một mình? Dù sao Toàn ra đi cũng làm Niệm chợt cảm thấy mình có nhiều điều để tự trách. Những điều trước đó nàng không hề để ý, hoặc vì đã quá coi nhẹ sự cần thiết của mình bên anh. Với Toàn, Niệm có thể là cả thế gian bát ngát này. Niệm vắng mặt, cả thế gian cùng khuất lấp, cái còn lại chỉ là cơn choáng váng dài dặc anh phải chống trả liên miên, chống với hai tay đã mỏi với súng đạn ba lô, những ngày nằm rừng thời trước, với cây nạng và cái chân còn lại bây giờ. Nguyệt không thể thay thế Niệm, vì Nguyệt hoàn toàn vắng mặt trong thời mộng tưởng anh. Với Nguyệt, hiện tại nóng hổi khô khốc tật nguyền luôn luôn bày ra trước mặt, Toàn khó lòng làm ngơ trốn thoát. Trong khi với Niệm, Toàn được dầm mình vào dòng sông ấu thơ dịu ngọt. Dòng sông hiền lành có cội nguồn giấu ẩn trong anh trong Niệm, còn chảy tha thiết không ngừng. Tới cuối kiếp, Niệm vẫn nhớ khóe nhìn đăm đăm kỳ dị của Toàn thuở nào. Khóe nhìn nói một điều anh không thể nói. Và, có phải Toàn nghĩ rằng nghìn năm nàng không thể hiểu, nên anh đã nhất định giấu kín lời nói đó bằng sự biến mất, không đợi Niệm về?
 
Đâu đó giờ này Toàn đang gập ghềnh nạng gỗ cuối phố chợ hoặc đầu sông biển mịt mù. Trong căn nhà rộng thênh, ngoại lẻ loi với bóng tối quánh dần trên những chỗ ngồi không người trở lại. Trải kín trên mặt đất dài rộng mênh mang, giờ này đang có những cuộc gặp gỡ, chia tay, những đôi cặp tìm đến nhau và những người đi một mình. Giờ này hàng nghìn cánh phượng thắm bâng khuâng nhỏ máu xuống những con đường trong phố, nhuộm hồng những gót chân tình nhân. Giờ này Niệm bước lui tới dưới những tàn lá thẫm ngát bóng chiều tà, một lúc nào đó, thốt nhiên nàng dừng lại, sững sờ trước cây hoàng lan đã bị chặt cụt tận gốc.
 
 
MƯỜNG MÁN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 140, phát hành ngày 20-7-1974)
 

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

BUỔI CHIỀU CHIM BAY - Don Moser (Định Nguyên dịch)


Lúc bấy giờ là buổi chiều và gần đến giờ đàn chim bay đi. Cậu bé tên là Jeff khoảng độ mười một tuổi, bước lững thững dọc theo bãi cát bờ hồ Erie. Jeff đi sát mé nước vì chỗ đó nền cát cứng dễ đi.
 
Hai tay thọc vào túi quần Jean, cậu bé vừa đi vừa nhìn bóng mình đổ dài trên mặt cát trước mặt. Mặt trời đã xuống thấp và phía sau lưng cậu là những dấu giầy vải còn in hằn trên mặt cát ướt.
 
Một lát sau chú bé ngẩng nhìn, rồi dừng lại. Chú thấy lão Jack đang lò mò từ cồn cát phía xa leo dần xuống bãi. Lão già đặt bịch cái bao tải bằng cao su đựng chai lọ xuống cát và chăm chú ngó chung quanh. Khi thấy Jeff lão đưa tay che mặt cho khỏi chói nắng chăm chú nhìn cậu bé. Trên bãi vắng lão già và chú bé đứng nhìn nhau yên lặng.
 
Jeff rút tay khỏi túi quần xoa xoa lên đùi. Cậu cảm thấy sờ sợ. Nếu có Ken hay Jimmy ở đây chắc cậu chẳng sợ hãi thế nhưng khổ nỗi lúc bấy giờ trên bãi vắng tanh chẳng có một một bóng người ngoài những con hải âu bay lượn trên mặt hồ. Chú bé không tin những câu chuyện người ta kể về lão Jack. Người ta bảo lão thường bắt trẻ con bỏ vào bao tải mang về cái lều tồi tàn của lão trong đầm lầy để ăn thịt. Chú bé không tin chuyện đó có thật cũng như những chuyện khác về lão già mà bố của thằng Ken kể lại cho tụi nhóc nghe, nhưng không hiểu tại sao chú bé vẫn thấy sờ sợ lão.
 
Lão Jack vẫn che tay ngang trán nhìn chú bé, chú nghĩ thầm "Mình nhất định không về, nhất định phải đến cầu xem chim bay. Bây giờ mình giả vờ đứng đây lia đá để lão không chú ý. Nếu lão xuống phía này thì mình chạy hay đánh lại lão, còn nếu lão đi ngược về phía bãi trên mình sẽ chờ cho lão đi xa rồi tới cầu xem chim bay."
 
Jeff cúi nhặt một mảnh đá nhỏ và mỏng trên cát rồi lia mạnh ra bể. Mảnh đá lướt trên mặt nước phẳng, vọt cao lên rồi lại lướt đi cứ như thế cho đến khi hết đà. Mặt trời xuống thấp rọi chiếu ánh sáng lung linh như thỏi bạc cắt trên sóng làm cho chú bé không nhìn rõ mảnh đá lướt trên khoảng nước phản chiếu ánh mặt trời ấy mà chú chỉ thấy những tia nước tung lên rực rỡ. Jeff lại giả vờ tìm kiếm loanh quanh một mảnh đá khác và nhìn trộm lão già vô gia cư xem lão đang làm gì ở đàng kia. Chú thấy lão khoác chiếc bao tải đựng chai lên vai mò mẫm đi ngược về phía bãi trên.
 
"Lão không chú ý đến mình - chú bé nghĩ bụng - Bây giờ mình lên cầu vẫn còn kịp để xem chim bay".
 
Nghĩ vậy nhưng chú vẫn chần chừ quanh quẩn sát mé nước chờ cho lão già đi thật xa ở phía bãi trên rồi mới lững thững đi theo để khỏi phải chạm mặt lão. Lão Jack đi chầm chậm dọc theo bãi, quanh quẩn tìm kiếm trên cát những chai nước ngọt hay vật dụng thừa thãi mà du khách vất lại. Jeff thấy lão cúi xuống nhặt cái gì đó bỏ vào bao tải. Chú bé mong lão đi lẹ lên cho rồi vì nếu không chú sẽ chẳng thể đến cầu kịp để xem chim bay.
 
Một lát sau lão già đã đi khỏi đầu con đường mòn dẫn đến cầu. Con đường chạy luồn qua những cồn cát sát bờ hồ. Khi đến đầu đường mòn, chú bé bắt đầu chạy mau luồn lỏi theo những đụn cát cao vì không sợ lão già nữa. Lão hết thấy được chú rồi.
 
Jeff chạy hộc tốc theo con đường mòn đầy cát lún, nhảy tránh những khúc gỗ, cành cây mục bị nước cuốn tắp ngổn ngang cho đến khi cậu tới bãi cỏ viền quanh bờ đầm lầy.
 
Jeff theo cánh đồng cỏ đến bìa hàng liễu và đi vào. Chú bé phải vừa khom người luồn qua những cành liễu lòa xòa vừa lấy tay rẽ những cành nhỏ tìm lối đi, cho đến khi ra khỏi hàng liễu thì đến chân cầu gỗ (chiếc cầu bắc ngang rạch thông nước giữa hồ và đầm lầy).
 
Chú bé leo lên ngồi vắt vẻo trên thành cầu thả thõng hai chân trên mặt nước âm u.
 
"Mình đến đúng giờ - Chú nghĩ bụng - Đàn chim chưa bay đi". Chú nhìn lên cồn cát thấp phía bờ hồ, cồn cát sáng rực dưới mặt trời trông như một lưỡi búa bằng bạc. Chú lẩm bẩm:
 
"Khi nào mặt trời xuống sát mé nước chim mới bắt đầu bay" chú vuốt lại mái tóc bung xõa xuống che mắt và ngước nhìn những con én bay lượn trên mặt đầm, Jeff nhớ lại hôm đầu tiên mình tìm ra cây cầu này và được nhìn chim bay buổi chiều.
 
Hai tuần trước gia đình chú bé dời bỏ thành phố dọn về cư ngụ tại làng này, một làng nhỏ bên cạnh hồ và một buổi chiều cách nay mấy hôm Ken cùng Jimmy, hai người bạn mới, rủ chú đi chơi ngoài bãi. Má chú không bằng lòng vì bà nghe người ta kể về lão già sống trong đầm lầy, nhất là lão thường lang thang ngoài bãi mỗi buổi chiều.
 
Má nói:
 
"Lão bẩn thỉu kinh khủng! Má gặp lão ta ở nhà Morrow bán thịt. Lão vác cái bao tải chai đến bán. Chưa bao giờ má thấy ai ở bẩn như lão và má không muốn con đến gần lão ta."
 
Nhưng may mà ba chú lại cho phép chú đi, nhưng ba dặn chú phải cẩn thận.
 
Cả bọn kéo nhau xuống bãi thì gặp lão Jack. Bọn nhỏ chọc phá lão một hồi rồi bỏ đi dọc theo mé nước tìm những viên sỏi đẹp và vỏ trai vỏ hến. Ken đi trước nhặt được thứ gì đó quay lại gọi hai đứa bạn lên xem. Nó cầm giơ lên cho bạn xem một mảnh đá dài, mỏng bị sóng mài mòn thành hình giống như con dao, giống như dao găm của bọn Hải tặc.
 
Jeff xin Ken nhưng Ken không cho, nó bảo nó sẽ mài lại  rồi sơn bạc cho giống in dao găm của bọn Hải tặc. Khi cả bọn ra về, Ken giắt con dao vào dây thắt lưng rồi nắm tay lên cán đi khệnh khạng.
 
Chiều hôm sau Jeff ra bãi một mình hy vọng tìm thấy một mảnh đá khác giống như mảnh đá cùa bạn trong khi đó Ken và Jimmy đi xem xi nê. Chú bé tha thẩn đi về phía bãi trên, thật xa, xa hơn hôm qua nhiều. Vừa đi vừa chăm chú tìm kiếm trên mặt cát xem có thấy mảnh đá nào giống như lưỡi dao găm Hải tặc không nhưng chú chẳng tìm thấy gì hết trơn. 
 
Cuối cùng chú bé gặp con đường mòn chạy quanh co qua những cồn cát. Chú tự hỏi con đường ấy dẫn đi đâu, chú theo con đường cho đến khi gặp cây cầu. Chú ngồi nghỉ mệt trên thành cầu vừa lúc đàn chim bắt đầu bay. Trong buổi hoàng hôn rực rỡ hàng ngàn vạn con chim nhỏ từ đầm lầy bay lên và chú bé nhìn mê mẩn cho đến khi bóng tối xóa nhòa cảnh vật mới ra về. Chưa bao giờ chú bé thấy một cảnh tượng như vậy, đẹp hơn phim ciné về Châu Phi, hay hơn cả xem xiếc, tuyệt hơn mọi thứ...
 
Bỗng nhiên mặt nước bị khua động tản ra những vòng sóng tròn lay nghiêng ngả cành liễu rũ xuống mặt đầm. Chú bé thắc mắc không biết là cái gì, nhưng không lâu, trong hàng liễu rậm vang lên tiếng lóc cóc loảng xoảng. Jeff ngước nhìn qua đám cành lá và tê cứng người lại: Lão Jack đang lò mò chui ra khỏi qua hàng liễu đi lên cầu. Chiếc bao tải đựng chai của lão kêu lóc cóc khi lão đặt xuống sàn gỗ. Lão già nhìn thấy Jeff ở đầu cầu bên kia. Lão cất giọng ồm ồm:
 
"Chào chú nhỏ!".
 
Chú bé ngồi như cóng lại trên thành cầu, im lặng không trả lời lão già. Chú ngó lão trân trân. Mặt lão đỏ rần nổi lên những nếp nhăn nheo bám đầy bụi đất. Lão đội chiếc mũ dạ nhỏ nhàu nát không đủ che mái tóc bạc dài bờm sờm phủ kín cả hai tay và thòng xuống cổ. Lông mày lão rậm rì và cũng bạc một nửa che trên đôi mắt đỏ lờ đờ. Lão mặc chiếc quần rộng thùng thình, áo khoác ngoài mầu đen đầy những vết dầu mỡ và nhăn cộm lên ở một bên vai. Hai bàn tay lão xù xì nắm lấy thành cầu khi lão cúi người tới trước nhìn xuống mặt đầm nước.
 
Chú bé vẫn ngồi bất động trên thành sắt tự hỏi: 
 
"Mình có nên chạy hay không đây?"
 
Nếu chú chạy về phía đầu cầu bên này thì sẽ tiến vào đầm lầy, sẽ trốn lão già một cách dễ dàng nhưng chú bé sợ bị lạc hay nhỡ sảy chân bước vào vũng cát lún thì chết. Ken bảo rằng trong khu đầm lầy có nhiều vũng cát lún lắm. Nếu muốn trở lại bãi thì con đường duy nhất là phải vượt qua lão già đang đứng giữa cầu kia. Chú bé ngán lão già lắm nhưng chú cũng không muốn bỏ đi trước khi xem chim bay.
 
Chú thầm trấn tĩnh:
 
"Biết đâu lão không biết hay là không nhớ ra mình?"
 
Cũng tại vì bọn chú đã chọc phá lão già khi lão lang thang ngoài bãi tìm chai lọ bây giờ mới ra nông nỗi này. Hôm ấy bọn chú chạy phía trước lão già và tìm được mấy cái chai của du khách cắm trại ven hồ bỏ lại. Bọn nhóc chờ lão già đến thật gần mới ném những chiếc chai ấy ra hồ trước mắt lão. Jeff muốn cản hai đứa bạn lại nhưng không kịp. Ken chạy quanh lão già miệng la lớn:
 
"Ê! Ê! Lão lưu manh! Lão bẩn thỉu!"
 
Sau đó nó chạy ra xa nhặt một viên sỏi trên cát lắp vào súng cao su bắn lão già. Viên sỏi bay trúng vào vai lão làm lão tức giận. Lão ném chiếc bao tải xuống cát và đuổi theo tụi nhỏ. Lão vấp lên té xuống mấy lần trên cát lầy trong khi bọn nhóc chạy xa dần. Chúng quay nhìn lại chỉ còn thấy lão già bằng cái chấm đen mới ngừng lại.
 
Bỗng lão Jack bước lui lại đưa tay chỉ về phía bên kia bờ. Hai con vịt trời vụt bay lên, cánh chúng xoải ra, cổ nghển thẳng về phía trước, lượn một vòng trên mặt nước rực rỡ rồi bay về phía mặt trời. Chú bé và lão già cùng đưa tay che mắt nhìn theo cho đến khi chúng khuất dạng.
 
Lão Jack nói:
 
"Chim le le".
 
Chú bé nói dối: 
 
"Cháu cũng biết chim le le. Ai cũng biết hết á".
 
Lão già bỏ nón ra, vuốt lại mái tóc bạc bờm sờm sau đó nhìn Jeff. Chú bé cũng nhìn lão trân trân.
 
"Mày đến đây lần nào chưa nhỏ?"
 
"Có chứ! Cháu đến đây nhiều lần rồi, luôn cả khu đầm này nữa mà!"
 
Thật ra chú bé mới đi xem chim bay có ba lần. Lần vừa rồi chú rủ ba cùng đi nhưng lúc ấy ba đang đọc báo hơn nữa ba nói ba mệt lắm không muốn đi bộ xuống bãi. Ba bảo:
 
"Sao con không rủ thằng Ken? Nhưng này! Con phải coi chừng cái lão già lưu manh sống trong đầm lầy đấy! Ba không muốn con đến gần lão".
 
Chú bé không thích rủ Ken đi cùng vì chú nghĩ thằng bạn không thích chỗ này nhưng cuối cùng chú vẫn phải rủ nó đi.
 
Bỗng nhiên lão già hỏi:
 
"Ê nhỏ! Có phải bữa trước mày với mấy đứa kia phá tao phải không?"
 
Jeff ngồi như chết cứng người trên thành cầu. Chú nhìn hai bàn tay xù xì của lão già và chiếc bao tải lão để dưới chân.
 
"Đâu phải! Cháu có chọc phá ông bao giờ đâu? Cháu chưa gặp ông bao giờ mà!"
 
Lão già loạng choạng tiến vài bước gần lại với đôi mắt hấp hem đỏ lừ nhìn chăm chú bé. Jeff nắm chắc lấy thành cầu và cắn chặt môi dưới lại.
 
"Mày có quen cái thằng nhỏ đầu to to tên là Ken không?"
 
"Không! Cháu không biết nó là ai cả."
 
"Ờ! Thằng đó con nhà mất dạy. Có ngày tao mà túm được nó thì nó chết với tao."
 
Lão già chùi hai tay vào chiếc quần bẩn rồi lại đứng tựa vào thành cầu như cũ.
 
Chú bé nới lỏng bàn tay đang nắm chặt thành cầu và hít thở một hơi dài. Hôm chú bé dẫn Ken đến cầu xem chim bay, thằng bạn nhảy rầm rầm trên sàn gỗ và định đập vỡ mấy chỗ gần hư trên thành cầu làm chú bé nghĩ bụng biết thế chú đi một mình cho rồi. Đến khi đàn chim bắt đầu bay chú bé nhìn sang thằng bạn thấy nó đứng xoạc chân tay đang giương súng cao su sắp bắn. Chú bé la lên:
 
"Ê mày!"
 
Nhưng không còn kịp nữa, dây cao su đã bật một cái "bách" và một con chim rơi khỏi đàn rụng xuống mặt nước, con chim nhỏ mầu nâu trôi lập lờ qua chân cầu, đôi cánh còn dang rộng ra, đầu ngoẹo sang một bên và con mắt trắng đục như mở lớn nhìn đứa trẻ.
 
Ken đưa súng cao su cho chú bé:
 
"Súng đây bắn một con đi mày!"
 
"Tao không bắn! Đừng có bắn nữa nghe mày".
 
Chú bé nhìn con chim chết quay  chầm chậm trên mặt nước trôi lập lờ.
 
Thằng bạn không bắn nữa nhưng buổi chiều của chú bé đã mất vui vì thế chiều nay chú đi một mình.
 
Lão Jack đang mò mẫm tìm trong túi áo cũ. Lão rút ra một gói nhỏ bọc giấy dầu. Lão lấy ra một chiếc bánh sandwich nhồi thịt dầy cộm. Lão bẻ chiếc bánh làm hai đưa một nửa cho chú bé.
 
"Ăn một miếng chơi mày nhỏ!"
 
"Cám ơn ông! Cháu không đói."
 
Ông già nhún vai rồi đưa nửa cái bánh vào mồm nhai nhồm nhoàm sau đó lão liếm sạch những ngón tay. Lão móc một miếng thịt trong phần bánh còn lại ném xuống nước dưới cầu. Mặt nước phẳng lặng bỗng gợn sóng, nước vọt tóe lên và miếng thịt biến mất. Jeff há hốc mồm ngó trân mặt nước hãy còn khua động. Lão già nhìn chú bé nhe răng cười.
 
Chú hỏi nho nhỏ:
 
"Cái gì vậy?"
 
Lão nói: 
 
"Cá ngác! Chỗ này có mấy con to lắm. Mày nhìn xem này"
 
Lão móc thêm một miếng thịt ném xuống nước. Mặt nước lại nổi sóng và nước tóe lên. Miếng thịt cũng mất luôn.
 
"Mày phải đứng ngay chỗ này nhìn mới thấy nó được" 
 
Lão nói thêm.
 
Chú bé ngập ngừng rồi leo khỏi thành cầu và bước chầm chậm lại chỗ lão. Chú ngừng lại cách lão già vài bước thò đầu khỏi thành cầu nhìn xuống nước. Chú há hốc mồm ra ngạc nhiên.
 
Bóng hai con cá ngác to đen lượn lờ dưới làn nước đục, lão Jack ném thêm miếng thịt nữa. Chú bé thấy bóng một con lượn quanh miếng thịt nổi lều bều và bỗng nước tóe lên. Nó đớp miếng thịt lẹ như chớp. Lão già lại ném thịt xuống nữa.
 
Lần này con cá còn lại đớp miếng thịt. Chú bé nhoài người ra khỏi thành cầu nhìn hai cái bóng đen dài lượn lờ dưới làn nước âm u. Lão Jack bảo:
 
"Cẩn thận coi chừng ngã xuống nước đấy nhỏ!"
 
Lão đưa phần bánh còn lại về phía chú bé:
 
"Mày muốn cho cá ăn để coi chơi không?"
 
Chú bé lắc đầu rồi đi về chỗ cũ:
 
"Mấy con cá già ấy có gì lạ đâu"
 
Chú lại tựa vào thành cầu nhìn ra giữa đầm. Lúc ấy mặt trời đã xuống thấp gần chạm mặt sóng. Chú nghĩ bụng rằng sắp đến giờ chim bay rồi. Chú bé cũng mong thầm lão Jack đi đi không thôi lại làm hỏng cả một buổi chiều của chú như thằng Ken. Chú nghĩ rằng khi thấy cái gì đẹp ai cũng muốn kể cho người khác nghe, cũng muốn người khác xem với mình và nói chuyện ấy với nhau về sau này nhưng lần này khi mình kể cho người khác nghe thì lại chẳng được cái tích sự gì. Ba kêu mệt không chịu đi còn thằng Ken thì lại phá đám. Vậy tốt nhất từ nay về sau chẳng thèm nói với ai hết, mình xem một mình cho sướng.
 
Lão già đưa tay gãi sồn sột nói:
 
"Này nhỏ! Tí nữa mặt trời sát xuống mặt nước thì chim bay khỏi đầm. Nhiều vô số, chắc chắn mày chưa bao giờ thấy nhiều chim đến thế"
 
"Nhiều gì mà nhiều. Cháu ra đây xem nhiều lần rồi. Có chỗ còn nhiều hơn nhiều"
 
"Ờ! Có thể chỗ khác nhiều chim hơn. Tao đâu có đi đâu nhiều mà biết nhưng đầm này cũng là chỗ đẹp lắm chớ"
 
Chú bé lẩm bẩm một mình:
 
"Sao lão không đi đi cho rồi cho mình xem chim bay, ở lại phá đám hoài". Chú nhớ lại vài điều về lão già do ba chú và ba thằng Ken nói. Ba thằng Ken bảo lão Jack là lão già lưu manh vô dụng, đáng lẽ ông cò phải cho đuổi lão đi vì dân làng đâu có muốn cho con cái họ xuống bãi chơi trong khi thấy lão luôn luẩn quẩn ở ngoài đó.
 
Lão Jack móc trong túi ra một ống điếu cũ đen thủi đen thui múc đầy thuốc trong cái túi đựng thuốc bằng da cũ nhăn nheo. Lão quẹt cây diêm to tướng vào thành cầu và mồi lửa. Lão bập bập mấy hơi nhả khói mù mịt rồi bỗng nhiên lão quay cán ống điếu chỉ về phía giữa đầm:
 
"Chúng nó bay lên đó nhỏ! Đàn đầu tiên đấy!"
 
Jeff nhìn theo hướng lão chỉ, thấy những chấm nhỏ lớn dần lên thành hình những con chim đang bay. Chúng bay thấp trên mặt đầm, cánh xoải rộng rồi vượt qua lão già và chú bé đứng trên cầu.
 
Một đàn chim khác lượn lượn vòng vòng quanh tàn những cây bần lớn rồi một đàn khác bay lên và cứ tiếp tục như thế. Mặt trời hoàng hôn chiếu rọi ngang qua mặt đầm và cỏ, cây, mây, nước nhuộm ánh tà dương biến thành mầu vàng rực rỡ, long lanh. Rặng liễu thướt tha rung động sào sạc trong cơn gió bấc thổi đến từ phía hồ Erie, lá của một cây cổ thụ ven đầm lấp lánh như dát bạc trong ánh nắng cuối ngày. Những đàn chim nâu nhỏ từ đám bần, đước trong đầm bay lên lượn vòng, rồi đàn này hợp với đàn kia cứ rộng mãi ra làm không gian đầy tiếng ríu rít trong veo và tiếng đập cánh của chúng như muôn ngàn lá cây khua động trong cơn gió mạnh. Đàn chim bay ngang trên cầu như một giòng mây hợp lại bằng hàng vạn con chim.
 
Lão già đi đến cạnh chú bé tựa vào thành cầu. Chú bé quay nhìn rồi lại ngước nhìn đàn chim.
 
"Chim gì vậy nhỉ?"
 
Lão già nói:
 
"Tao thường gọi là chim Cánh-đỏ. Tên chúng chắc không phải vậy? Mà ăn nhằm gì".
 
"Cánh nó đâu có đỏ gì đâu! Mầu nâu mà!"
 
"À! Bầy này toàn là chim mẹ với chim con thôi. Chim bố cánh mới đỏ nhưng chúng đi mất rồi".
 
"Đi đâu?"
 
"Chúng bay về miền Nam để tránh mùa Đông. Mấy đàn này chẳng bao lâu nữa cũng đi cả".

Lão lại lấy cái ống điếu chỉ lên đàn chim đang bay:
 
"Nhìn lên nhỏ! Chúng đuổi theo mặt trời kìa!"
 
Jeff ngẩng đầu nhìn lên. Bây giờ không còn là từng đàn nữa mà là cả một giòng chim trông như một giòng sông lớn chảy trên đầm, lượn vòng qua cầu rồi bay về phía mặt trời mấp mé mặt nước.
 
Chú bé vẫn ngồi trên thành cầu, hai chân buông thõng trên mặt nước, mũi ngửi được mùi khói thuốc thơm nồng từ lòng ống điếu của lão già tỏa ra. Chú nhìn những con én liệng trên đầm, đôi lúc chúng lướt thấp sát mặt nước mịn màng hay bay luồn qua những cành lá rậm của cây bần lớn. Một đôi le le từ phía chân trời, đang đùn lên những tháp mây rực đỏ như những đám cháy bay lại, ngang qua những cồn cát, qua vùng cỏ cây đã nhuộm vàng nắng chiều. Phía ngoài hồ vài con hải âu đảo những vòng lớn trên nền trời rồi đáp xuống mặt sóng óng ánh.
 
Mặt trời đã chìm gần hết khỏi mặt nước và cảnh vật biến dần từ mầu vàng sang mầu xám nhạt. Ánh vàng chỉ còn long lanh trên mặt lá của cây cổ thụ cao vọi trong những giây khắc cuối cùng của ngày nhưng rồi màn đêm xám nhạt cũng dâng dần lên cho đến khi bao trùm hết các ngọn cây.
 
Ánh vàng không còn nữa, mặt trời đã chìm sâu dưới nước, những con chim cũng đã bay đi, không gian chợt trống rỗng và yên lặng.
 
Chú bé và lão già trên cầu không nói lời nào. Lão vẫn phì phà ống điếu. Chú bé đu đưa hai chân, cúi nhìn mặt nước phía dưới.
 
Chú bé nói:
 
"Không biết đàn chim bay đi đâu há?"
 
"Thì tìm chỗ nào đó ngủ qua đêm. Tao không biết chắc chúng bay đi đâu nhưng tao thích nhìn chúng bay đi mỗi buổi chiều. Nhìn kìa nhỏ! Mày thấy con dơi không?"
 
Jeff thấy một con dơi bay thật mau vòng qua ngọn cây bần.
 
"Nó bay mau quá! Cháu tưởng đâu có nhanh dữ vậy. Chưa bao giờ cháu nhìn thấy dơi cả".
 
Hai người đứng ở cầu thêm một lát nữa nhìn con dơi bay lượn săn mồi, sau đó lão Jack gõ ống điếu vào thành cầu bảo:
 
"Tối đến nơi rồi đấy nhỏ! Mày muốn đi trở lại bãi cùng tao không?"
 
Jeff nhìn lão già, ngập ngừng vài giây rồi nói:
 
"Thôi! Cháu không về nhà bằng lối bãi. Cháu băng qua đầm cho gần. Tối thì tối ăn nhằm gì".
 
"Cũng được! Mày muốn đi lối nào thì đi. Từ giã nghe nhỏ!"
 
Lão già vác cái bao tải lẻng xẻng lên vai, đi ngược về phía đầu cầu bên kia rồi mất dạng sau hàng liễu lam nham bóng tối. Chú bé ngồi lại một mình trên thành cầu, hai tay chống vào cằm, nhìn xuống mặt nước. Chú ngồi đó một lúc, sau đó leo xuống, đi lên cầu, băng qua hàng liễu. Chú vượt qua đồng cỏ, đi quanh co giữa những cồn cát theo con đường mòn hồi chiều. Khi chú ra đến bãi chú thấy một vật đen, nhấp nháng bị vùi một nửa xuống cát. Chú bé đứng lại đưa chân đá vào vật ấy rồi cúi xuống nhặt lên xem. Chú cầm nó trên tay, đứng yên ngắm một lúc lâu. Chú bé ngước lên nhìn và bắt đầu chạy dọc theo bãi cát. Đằng xa tắp trước mặt chú là một bóng người nhỏ tí còn nhìn thấy được trong lúc tranh tối tranh sáng.
 
Chú bé vẫn tiếp tục chạy, hai tay giữ chặt cái vỏ chai trước ngực.
 
 
ĐỊNH NGUYÊN dịch      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 111, tuần lễ từ 19-7 đến 26-7-1973)