Lão lại lấy cái ống điếu chỉ lên đàn chim đang bay:
tuổi hoa... râm
kỷ niệm đẹp của tuổi già là tấm vé cuối cùng đi... tuổi thơ!
Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026
BUỔI CHIỀU CHIM BAY - Don Moser (Định Nguyên dịch)
Lão lại lấy cái ống điếu chỉ lên đàn chim đang bay:
Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2026
HƯƠNG GÂY MÙI NHỚ - Bình Nguyên Lộc
Có những anh chàng đọc tiểu thuyết Tây ngay trong ấy, mỗi ngày
tới đọc độ mười trang. Loại tiểu thuyết được xén ở cả ba mặt, lật ra dễ
dàng quá.
Lẽ dĩ nhiên là trong đám ấy có độ một chục người mua và lối vài cậu... đạo sách.
Hiệu phải mướn rất đông nhơn viên, toàn là con gái, để kín đáo
làm nữ gián điệp theo dõi mấy cậu đạo hiếm hoi ấy, tuy bề ngoài họ vẫn
là những cô bán hàng.
Tồn không thuộc vào hạng khách nào kể trên cả. Chàng là người
tìm tòi... lục lạo để phát kiến sách lạ, và lâu lắm, chàng mới tìm ra một
quyển, có khi mất hằng tháng hiệu sách mới lấy được của chàng vài mươi
đồng.
Thế nên chàng có vẻ khả nghi nhứt, và có lẽ là kẻ bị coi chừng nhiều nhứt.
Hôm ấy chàng đứng một mình trong một xó tương đối tối hù, nơi bày sách ế độ vì khó tiêu; hoặc vì quá mắc tiền.
Chàng không rờ tới sách mà chỉ đọc nhãn sách in trên các gáy thôi. À, cái đó lại càng khả nghi hơn.
Có lẽ mấy cô đang tự nói thầm : "Thằng nầy làm bộ, không buồn
cầm sách lên, nhưng biết đâu đó là thủ đoạn khôn khéo nhứt để làm một cú
rất đáng đồng tiền".
Chàng đứng đó hơn hai tiếng đồng hồ. Xem chừng chàng chắc là
phải mệt ghê hồn, nên một cô nổi đóa bước vào trong, xấn rấn gần chàng.
Hiệu sách nầy buôn bán đúng theo truyền thống Âu Mỹ, nghĩa là để
khách tự do, không hỏi, vì hỏi tức là làm áp lực. Thế nên cô nọ chỉ
đuổi khéo anh chàng kỳ dị và khả nghi nầy bằng sự có mặt của cô ta thôi.
Chàng phải hiểu rằng cô ấy muốn nói một cách câm lặng : "Ông mua
hay không mua ? Chọn gì mà đến hai tiếng đồng hồ, báo hại người ta xem
chừng đến mỏi cả mắt. Ông nên đi là hơn".
Nhưng Tồn lại không nghe những lời ấy mà đáng lý chàng phải
nghe. Mặc dầu đó là lời nói không được thốt ra, chàng phải nghe bởi
chàng thông minh và tế nhị lắm.
Chàng không nghe vì chàng bận nghe thứ khác và trí óc đang bị thứ ấy quấy rầy.
Cô áo xanh đứng đó được ba phút mà chàng vẫn không nhúc nhích nên cô bắt đầu nổi nóng.
Thình lình cô nghe chàng hỏi :
- Xin lỗi cô, nước hoa cô đang dùng hiệu gì ?
A, thằng cha nầy mới đáng ghét chớ ! Giờ nó lại trổ ngón tán tỉnh nữa đây !
Đang nổi dóa cô ấy đâm khùng :
- Nè, ông đừng vô lễ, tôi nói cho ông biết...
Tồn bình thản nói :
- Không có gì mà cô làm to chuyện. Nếu cô biết phong tục Âu Mỹ
thì một câu hỏi như vậy là thường. Người đàn ông có thể thích vợ mình
dùng loại nước hoa nào đó và gặp được loại ấy dĩ nhiên họ truy tầm căn
cước để xúi vợ họ mua.
- À, thì ra là vậy. Tôi cứ ngỡ... Xin lỗi ông nhé.
- Khỏi, tôi chỉ cần biết tên thứ nước hoa của cô thôi.
- Ông mới đến đây lần đầu ? Hình như là không phải vậy. Tôi nhớ ra ông là một gương mặt rất quen mà ?
- Đúng thế. Nhưng thường thì cô đứng chung với các cô khác,
nhiều mùi lẫn lộn nhau, một là hương của cô chưa bao giờ nổi bật như hôm
nay, hai là tôi thoáng nghe cái hương ấy, nhưng không lẽ lại hô : "Nào,
các cô đứng dang ra coi, để tôi đánh hơi từng cô, tôi cần truy nã một
mùi hương trong mớ hương hỗn hợp của quí cô".
Nếu tôi làm thế tôi đã bị tát tay rồi.
Cô gái áo xanh, nước da bánh mật, cười dòn lên rồi nói :
- Cứ theo lời ông thì ông hỏi nghiêm trang, chớ không phải cố ý tán tỉnh tôi. Nhưng tôi còn hơi nghi ngờ.
Tốt hơn là ông đưa bà đến đây. Bà hỏi thì tôi nói ngay.
Tồn châu mày. Bà ở đâu mà đưa đến bây giờ ?
Đó là mùi hương của Thủy, mà Thủy đã đi lấy chồng mất từ năm năm nay rồi.
- Vâng, để tôi đưa vợ tôi đến.
Tồn không biết đáp làm sao cho trôi, nên hứa như vậy cho qua chuyện, và cô gái áo xanh an lòng, đi làm công việc khác.
Người nữ gián điệp rời khỏi nơi đây hơn năm phút đồng hồ rồi mà hương thừa của nàng còn thoang thoảng chưa phai.
Ngày đầu cô ấy vào làm ở đây, ngày ấy Tồn cũng có đến - ấy,
chàng là con mọt sách, không hôm nào là không có mặt những nơi bán loại
hàng hóa mà các tay triệu phú không bao giờ thèm mua - và cũng đã nghe
mùi hương đó.
Lần ấy chàng bỗng vụt sống lại cuộc đời của chàng năm năm về
trước một cách mãnh liệt, khi mà mùi hương nặc danh kia như bấm vào một
cái nút điện làm hoạt động cả bộ máy ký ức của chàng.
Lạ quá, một tấm ảnh, một bức thư của người cũ không có khả năng
khôi phục dĩ vãng cho bằng một mùi vị, bất cứ dĩ vãng nào, mà nhứt là dĩ
vãng về một mối tình.
Khắp thế giới đều nghe danh chiếc bánh Madeleines nhúng nước trà
của Marcel Proust, chiếc bánh mà mùi vị gợi nhớ lại tất cả những chi
tiết tỉ mỉ, những hình xưa, bóng chết, những chơn trời năm cũ, những
gương mặt thân yêu, cho đến những tiếng động không đâu, tiếng một chiếc
muỗng khua ly, tiếng một con ve sầu ngoài vườn, tất cả đều hiện hồn về.
Nhứt là anh chàng không còn giữ được món kỷ niệm nào về Thủy cả.
Bao nhiêu thư từ hình ảnh của nàng, chàng đã thiêu hủy hết, nói là để
tránh gây rắc rối, phiền phức cho một cô gái đã lấy chồng mà thật ra
chính vì hờn giận cho nên mùi hương ấy càng quí báu hơn lên vì đó là
nguồn gợi nhớ độc nhất.
Rất nhiều lần Tồn muốn tìm biết, nhưng cô mặc áo xanh tư niên ấy
cứ bận rộn mãi, với lại cô không bao giờ đứng một mình nơi chỗ vắng nên
Tồn đành thôi. không hỏi được. Vả lại chàng cũng không dám chắc rằng
chính cô gái nước da bánh mật lại thơm cái mùi hương đó. Ở đây cô nào
cũng xức nước hoa cả, mà Tồn lại dại dột cứ hồ nghi các cô hao hao giống
Thủy, trắng trẻo và mảnh mai, hơn là nhằm cô gái áo xanh, cô nầy hơi
cao lớn, môi dày quá, mày rậm quá, không giống Thủy chút nào.
Tồn đứng tần ngần nơi đó một hồi lâu nữa, mắt vẫn nhìn gáy sách
nhưng chỉ thấy buổi gặp gỡ cuối cùng giữa Thủy và chàng, họ hẹn nhau để
mà chào vĩnh biệt.
Khi Tồn ra nhà sách đi ngang qua cô áo xanh nước da bánh mật, chàng rất muốn đứng lại, nhưng không dám nên đi luôn ra cửa.
Các tay chế tạo nước hoa ngày nay họ khôn quỉ không tưởng tượng
được. Thay vì chỉ quanh đi quẩn lại với năm bảy mùi như hồi xưa, họ sáng
tác hàng vạn mùi khác nhau, mà phụ nữ họ cũng hóm lắm, mỗi cô chọn một
mùi hợp với cá tánh của mình, thành thử trong một bữa tiệc đông hằng bốn
mươi đàn bà, có thể không có hai mùi trùng hương với nhau. Họ mang thẻ
căn cước bằng hương riêng của họ, lắm cô lại khôn quỉ hơn các kỹ nghệ
gia nữa là pha trộn vài thứ nước hoa lại để tạo nên một mùi hỗn hợp, độc
đáo mà không làm sao mà tìm ra một người thứ nhì thơm y như vậy.
Kể từ hôm ấy, Tồn và cô gái áo xanh không còn nặc danh đối với
nhau nữa. Cô gái môi dày là hình bóng của Thủy, nếu chàng nhắm mắt lại,
còn Tồn là một gã si tình cô, theo ngộ nhận của cô.
Ừ, gã hứa rồi không bao giờ đưa vợ tới cả, nên cô ấy đinh ninh rằng gã chỉ kiếm cớ để tán cô ta thôi.
Cô ta rất buồn cười, và để cho gã leo cây chơi, cô ta không bao giờ thèm lại gần cả.
Nhưng Tồn đã có cách đến gần cô áo xanh. Hắn rình - Vâng, bây
giờ thì chính hắn rình cô gái, chớ không phải cô gái rình hắn nữa, hắn
rình để chờ cô ta đứng không rồi chụp lẹ quyển sách, chạy tới nhờ cô ta
gói.
Công việc gói sách, làm phiếu trả tiền kéo dài được mấy phút và
suốt thời gian ngắn ngủi ấy Tồn đứng cạnh cô gái đó, làm bộ như để kiểm
soát coi cô ta có ghi sai hay không. Những lúc ấy chàng luôn luôn nhắm
mắt lại để chiêm bao thấy Thủy.
Trò chơi nầy tốn tiền quá sức vì ngày nào Tồn cũng mua một quyển
sách, may là chàng chọn loại sách rẻ tiền nhứt, loại bỏ túi, giá 1 C,
chỉ có hai mươi đồng một quyển thôi.
Khổ nhứt là phải mua trùng. Tủ sách nhà chàng chứa đến bốn quyển Le Grand Meaulnes. Chẳng là, loại sách bỏ túi bày la liệt trên chiếc bàn ngoài hết, rất dễ chụp lấy, mà khi chụp vội vàng thì không còn chọn lựa kịp nữa.
Chàng đã phải sắm thêm hai tủ sách lớn mà cũng chứa không hết loại sách rẻ tiền đó, lắm quyển chàng chưa lật ra lần nào.
Cô hàng sách đoán biết cái gì, không đúng lắm, nhưng vẫn đúng
phần nào, là anh chàng nầy mua sách không phải để xem, mà chỉ để gần cô
ta thôi.
Nhưng cô nghĩ rằng đó là anh chàng nhút nhát hoặc thiếu kinh
nghiệm đã mua sách trên hai trăm lần rồi mà chưa dám nói gì cả. Hoặc nếu
ngại chỗ đông người, chưa biết đón đường cô ở đâu đó, ngoài phố.
Cô ta rất buồn cười, nhưng hơi thương xót hắn nên không nỡ kể chuyện cho đồng nghiệp cô ta nghe để cả hiệu cùng cười chơi.
Người con gái lạ lắm. Đoán rằng gã si tình nầy đã có gia đình -
mà chính miệng hắn thú nhận như vậy - cô gái đoan trang nầy không mong
mỏi gì cả, nhưng cô ta vẫn nghe êm ái lạ kỳ trong lòng mỗi lần nhận gói
quyển sách mà kẻ si cô, trao cho cô.
Hôm nào chàng đến trễ là cô ta hơi nhơ nhớ. Không, cô ta không
thèm yêu người có vợ đâu, cho dẫu chàng có đeo đuổi và tán cô ta suốt
hai năm đi nữa, nhưng cuộc tìm thấy mặt cô của hắn là mơn trớn dịu nhẹ
làm cho cô ta vui vui.
Là một cây rắn mắt, cô gái môi dày bèn nghĩ ra một trò đùa mà cô tưởng tượng trước rất ngộ nghĩnh.
"À, hắn bảo là hắn chỉ muốn biết tên thứ nước hoa mà ta dùng
thôi, chớ không phải tán gái, và ngầm cắt nghĩa sự lân la của hắn bằng
lý do đó.
"Vậy mình cứ đổi nước hoa chơi. Hắm nói láo thì hắn sẽ không bị
việt vị khi nghe mùi hương khác, mà hắn sẽ ngỡ ngàng, không biết ăn làm
sao, nói làm sao cho trôi cái vụ năng tới của hắn, cho dẫu là nói thầm
thôi.
"Để xem thử hắn đủ thông minh để bịa một lý do khác hay không,
khi mình hỏi vặn hắn. Chắc mình sẽ được cười trước sự bối rối của hắn"
Vậy cô gái không dùng hiệu Eszouka nữa, đó là loại nước hoa của
Nga cổ thời mà chế tại Anh Quốc bằng cách mua bằng - sáng - chế. Nước
hoa ấy rất hiếm có ở Saigon, thơm mùi da của dã thú, đàn ông rất mê : cô
bắt đầu dùng hiệu Chanel số 5, cũng là một hiệu đắt tiền, mùi hương rất
đài các, nhưng bán tràn đồng ở đây, ai có tiền là mua được.
Hôm ấy gã si tình vô danh cũng đến vào giờ thường lệ là mười giờ
sáng, và cũng rình cô gái áo xanh, chờ đợi phút rảnh tay của cô.
Cô gái bắt đầu mong đợi hồi chín giờ rưỡi, cô ta rất tinh nghịch
và ưa cười đùa, và khi thấy mặt anh chàng mua mãi loại sách bỏ túi, cô
ta cố làm việc nhanh chóng để được rảnh tay.
Hôm nay Tồn không phải rình lâu, và vì quá vội, chàng chụp lầm
một quyển đôi, dầy bằng hai quyển thường và dĩ nhiên giá cũng cao bằng
hai.
Chàng nhắm cái đích xanh và bước tới. Chàng nhắm mắt lại liền
sau khi cô gái đưa tay ra, và thình lình, chàng bỗng nghe lạc hướng.
Cô Thủy không còn ở trước mặt chàng nữa. Đó là một cô gái khác,
một mùi hương khác, mùi hương sang trọng nhưng quá tầm thường vì được
rất nhiều người dùng.
Tồn rụng rời vì Thủy lần nầy thật là chết hẳn rồi, không làm sao
mà tìm lại được nữa. Chàng phải mất đến năm năm mới nghe lại mùi
Eszouka, thì chưa dễ mười năm nữa, chàng sẽ bắt gặp lần thứ ba cái mùi
gợi nhớ đó.
Thủy đã chết và ngàn năm vĩnh biệt. Nàng đã đi vào dĩ vãng của
chàng thật sự, kể từ hôm nay, đi vào đó lần thứ nhì, cách lần thứ nhất
năm năm trời.
Tồn mở mắt ra và chỉ thấy mái tóc dài phủ lưng của cô gái áo
xanh, nàng bận biên phiếu trên một chiếc bàn con đặt phía trong, cách
bàn để sách bỏ túi một khoảng trống bảy tấc. Rầu lòng, chàng bỏ đi bước
trước lại quầy trả tiền, đứng đợi, mắt nhìn mãi cái dĩa đựng tiền bằng
thủy tinh để khỏi phải thấy người không phải là Thủy.
Hôm sau, cô gái áo xanh đợi tới mười giờ rưỡi mà gã si tình câm lặng, mãi không thấy đâu cả.
Cô hơi buồn buồn, và nhơn một lúc rảnh tay, cô ta phóng mắt ra đại lộ Lê Lợi.
Gã mê gái mà nhút nhát, đang đứng trên vỉa hè trước hiệu sách,
hai tay nhét túi quần, mặt nhìn gạch xi-măng màu mà hiệu sách lót vỉa hè
riêng nơi đó.
Thình lình cô gái áo xanh vụt hiểu. Quả thật hắn không phải là anh chàng băm lăm có ý muốn tán cô ta mà không dám.
Gã không vào hiệu nữa vì gã không tìm thấy mùi hương Eszouka mà
chắc chắn đã gợi hắn nhớ một người yêu cũ năm nào, chớ không phải muốn
mua cho vợ đâu như hắn đã nói láo.
Nếu muốn vợ hắn biết nước hoa ấy thì không có gì dễ bằng : hắn
cứ đưa vợ hắn tới là xong vì cô đã hứa nói sự thật với người đàn bà ấy.
Bằng như muốn tán cô thì cho dầu cô xức nước hoa nào, cô vẫn là cô thôi.
"Trời ơi, cô áo xanh kêu than thầm, đời nầy lại có kẻ trung kiên đến thế với một mối tình hay sao ?
Mình cứ nghe bạn hữu mình rủa nam phái rằng lũ nó quên nhơn tình
mau lẹ lắm, như trẻ con một tuổi quên mẹ chúng, khi các bà mẹ ấy chẳng
may chết đi".
Bỗng dưng người con gái áo xanh đâm ra cảm tình với con người
độc nhất vô nhị trên đời nầy mà còn biết yêu dai dẳng như người xưa, chớ
không thờ ơ, không chế giễu thầm chàng nữa.
Chàng đứng đó hằng giờ, không vào vì trong ấy ảo ảnh không còn,
mà cũng không đi, vì bấy giờ ảo ảnh mờ rồi, một ảnh thật nổi lên, gương
mặt cô gái có nước da bánh mật và đôi môi dầy.
Nếu làn da trắng mát chiếm lòng thì cái nước da bánh mật không
son phấn lại mặn mòi hơn bội phần. Và người phụ nữ có đôi môi dầy là
người biết yêu rất bồng bột.
Tồn nhớ ra thì nụ cười kín đáo của cô gái áo xanh dễ mê không
biết bao nhiêu mà chàng đã thờ ơ chỉ vì mùi hương năm cũ làm chàng tối
mắt thôi.
Tuy nhiên chàng vẫn đứng đó đến hơn một tuần lễ. Con người trung
kiên với một mối tình nầy, không thể quên mau quá như bao nhiêu người
khác.
Sáng thứ ba hôm đó chàng vào hiệu, và hỏi ngay cô gái nước da bánh mật.
- Thưa cô, cô có quyển "Hình bóng mới" hay không ?
Cô gái hiểu ngay, mỉm cười hóm hỉnh và hỏi lại :
- Thế ông không thích quyển "Hương cố nhân" à ?
- Cố nhân đã chết mà thời nay không có phép lại gậy phép, đũa mầu để giúp nàng sống lại.
- Thì ra ông cũng khá thực tế đó.
- Chỉ tới mức nào thôi cô à.
(Tuần báo Buổi sáng, 1964)
Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026
TRÁI TIM BẰNG GỖ THÔNG - Nguyễn Thanh Trịnh
Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026
NHỮNG NỖI KHỔ VỤN VẶT - Võ Hồng
- Nào, năm nay anh đi chấm ở “centre” nào? Tôi thì phải đi Đà Nẵng.
Người đối diện đầu tiên của ông là Thương, một giáo sư trẻ. Thương đang có một nỗi buồn riêng nào đó, - chắc là vì tình, vì khi tuổi chưa quá ba mươi thì chỉ có ái tình mới làm cho người ta buồn lâu, buồn một cách thành thật và nghiêm trang, - nên chỉ khẽ nhếch một nụ cười xã giao vừa đủ.
- Dạ, cháu đi Phan Thiết.
- Được đi Phan Thiết hả? Ố là là! Phan Thiết Tổ sư nước mắm! (Đố ai biết Tổ sư nước mắm nghĩa là gì?) Hôm nào về nhớ mang về một chai nước mắm nhỉ ăn chơi nhé? Ngon tuyệt.
- Dạ.
Người giáo sư trẻ muốn được yên nên vội “Dạ” một tiếng chấm câu. Không hứa hẹn là sẽ có chai nước mắm nhỉ với tiếng “Dạ” kiểu ấy.
Sau một cái bắt tay, ông Chính đi vội vã về phía đầu bên kia hành lang. Đôi chân quá ngắn múa thoăn thoắt dưới một cái bụng khá to. Tính ông lại thích diện com-lê - cả ngày giữa mùa hè - nên cái bụng càng được đề cao, no tròn, bề thế. Ở đầu hành lang, đang đứng vẩn vơ một cô giáo. Áo màu tím nhạt có thêu rải rác những vũ nữ xòe váy bằng chỉ trắng. Cô giáo đang nhìn lên đọt cây phượng cao trước sân trường, trên đó ánh nắng xao động giữa những chòm lá. Ông Chính cất tiếng nói to:
- A! Chị Vân Anh.
- Dạ, chào bác.
- Kỳ này tôi phải đi Đà Nẵng đây. Còn chị về “centre” Huế hả? Thích nhé? Một công hai việc…
“Ai bảo với ông ta rằng mình được về Huế?” - Vân Anh nghĩ. Mình phải đi Tuy Hòa cơ mà. Cực chết đi mà. Còn một công hai việc là ngụ ý gì mà có vẻ bất lương thế? Nhưng nể người đồng nghiệp có tuổi, cô Vân Anh nắm hai bàn tay vào nhau trong một tư thế lễ độ, nghiêng mình lí nhí:
- Dạ cháu đi Tuy Hòa.
Tức thì ông Chính đớp lời ngay và reo to lên như chính ông vừa bảo đúng là Vân Anh được về “centre” Tuy Hòa:
- Tuy Hòa! Thú lắm. Thành phố Tuy Hòa đang xây dựng, có sông Đà, có núi Nhạn, có trường Nguyễn Huệ. À, ở Tuy Hòa mùa này có nhiều dưa hấu ngon lắm nhé! Tuy Hòa… (đến chỗ này ông giơ ngón tay chỏ chỉ đúng vào giữa trán và nhíu mày một cái nhưng dường như để lấy điệu bộ chớ không thật phải suy nghĩ gì hết)… Tuy Hòa đi ra Màng Màng, Hòa Đa rồi Tuy An, Chí Thạnh mà. Ồ! Thích quá.
- Cháu chán lắm. Đi xe lửa ra Đại Lãnh cháu sợ lắm. Cháu chỉ muốn được đi Đalat.
Vân Anh định nói thêm “Lẽ tất nhiên nếu Bộ bỏ quên không bắt cháu đi chấm ở đâu cả thì cháu thích hơn”, nhưng chợt nhớ ra rằng người đối diện với mình không đáng được thưởng thức một câu ý nhị như vậy nên Vân Anh không nói nữa.
Giã từ cô giáo Vân Anh, ông Chính đi vào văn phòng ông Hiệu trưởng. Cái lưng ông hơi cong lại một chút khiến cái cổ cũng co rụt bớt vào cổ áo sơ mi. Ông giơ tay ra trước nên phải đưa thêm một tay trái ra theo, mong xóa bớt sự đường đột có phần khiếm lễ đó đối với cấp trên.
- Thưa Cụ, năm nay Cụ lại đi chủ khảo ở một Trung tâm?
Ông Hiệu trưởng đưa mắt chầm chậm nhìn lên ông. Đôi mắt nheo nheo vì vừa từ giã những hàng chữ quá nhỏ. Ông đã có tuổi nhưng không chịu đeo kính lão. Cái ca-vát màu đỏ sẫm nằm ngay ngắn giữa cổ sơ-mi là cứng như cùng ra sức với ông bám sát lấy những tháng ngày thanh niên gượng gạo còn sót lại. Ông rất ghét tiếng “Cụ” già nua nên không thèm giấu một cái cau mày. Người ta có thể biểu lộ sự tôn kính bằng nhiều cách và người trên không ai chối từ sự tôn kính. Nhưng tôn là “Cụ” không có nghĩa khen tặng mến phục gì cả. Sống lâu không phải là một công tích đáng để hãnh diện mà trái lại, hầu hết người ta đều coi đó là một sự ân hận đáng tiếc. Nhất là ông Hiệu trưởng sau mười lăm năm góa bụa vừa cưới một người vợ vừa trẻ vừa đẹp. Chính do những mặc cảm dồn dập đó mà, sẵn nét mặt sa sầm, ông Hiệu trưởng trầm giọng nói:
- Năm nay tôi được nghỉ.
- Ồ! Quí hóa quá… Cụ được Bộ cho nghỉ năm nay cũng phải. Năm nào cũng phải chủ khảo hết thì sống thế nào được.
Ông Hiệu trưởng cúi mặt xuống một trang giấy đánh máy có đóng dấu son. Biết đó là dấu hiệu cáo từ nhưng ông Chính phải cười xã giao một mình.
- Năm nay tôi phải đi Đà Nẵng.
- Thế à?
Ông Hiệu trưởng hỏi mà không ngẩng mặt lên và đầu bút chì đỏ ông cầm ở tay vẫy không ngừng chạy dài, rất mau, trên những dòng chữ đánh máy.
- Thôi xin phép cụ.
- Không dám, chào ông.
Cái bắt tay lạnh nhạt tiếp theo. Ra khỏi phòng ông Hiệu trưởng, ông Chính gặp bác cai trường. Đó là một anh chàng nhỏ nhắn có khuôn mặt láu lỉnh đặc biệt của những chú lính lệ ngày xưa.
Cặp mắt mở thao láo, mi chớp lia lịa nhất là những khi anh đứng trước mặt thượng cấp hoặc những ngày thi cử, ngày nhập học, sân trường, cổng trường đầy những phụ huynh học sinh. Một cái mũi nhỏ nằm trên cái miệng cũng nhỏ. Hình như lúc nào anh cũng bận rộn công vụ. Trên tay luôn luôn có một cái cặp bìa các-tông dày gáy vải và chân bước vội vã, thoăn thoắt từng bước nhỏ. Khi có Thanh tra ở Bộ về khám trường thì anh tăng gia sự mẫn cán trong bộ y phục ka-ki màu xanh dương, kiểu đồng phục Thanh niên. Nhìn anh, người ta tự nhiên phải nghĩ đến một con chim sâu, một cái chong chóng đang quay.
Trên đời anh chỉ biết kính trọng có ông Hiệu trưởng trường anh, các ông giám thị và mấy ông giáo đi ô-tô. Mọi người khác anh đều coi là “anh, chị” hết. Ông Chính không đi ô-tô nhưng lại năng nói chuyện, - nào ai biết là nói chuyện gì, - với ông Hiệu trưởng và ông Giám học nên anh tỏ ý nể. Thấy ông ở phòng Hiệu trưởng đi ra, anh vội vã lớn tiếng chào:
- Xin chào Cụ. Năm nay cụ có đi chấm…
Ông Chính tươi cười liền:
- À chào anh. Năm nay tôi đi Đà Nẵng.
Ông vỗ vai anh một cái thân mật.
- Anh ở lại mạnh khỏe nhé?
- Dạ, cám ơn Cụ. Chúc Cụ đi đường sức khỏe.
Theo cái đà ấy, chỉ hai hôm là cái tin ông Chính đi chấm thi ở Đà Nẵng ai cũng biết. Những giáo sư trẻ ngầm hỏi nhau.
- Ông ấy dở hơi nhỉ? Chấm thi thì thú cái đếch gì? Ba tháng Hè chả được nghỉ.
- Ừ. Trẻ và độc thân như chúng mình thì mới còn lý thú đôi chút chứ lớn như ông ta…
- Hồi mình chưa cưới vợ thì mỗi kỳ nghỉ Hè mình thích đi chấm thi lắm. Vì có đi như vậy mới mong gặp ngày chuyện lạ, chuyện vui ở dọc đường. Những bạn đồng nghiệp, nhất là nữ đồng nghiệp ở từ các tỉnh tụ họp về sống gần gũi mươi ngày nửa tháng rồi giã từ nhau, hẹn năm sau gặp lại. Vui chứ. Nhưng từ ngày mình cưới vợ rồi thì… Lạ thật, đố ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì.
Chẳng ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì thật. Có người đoán là ông chán ngấy cảnh ngày hai buổi họp mặt với vợ con. Có người bảo là từ nửa năm nay sao thấy bà Chính bỗng già đi một cách đáng chán. Có lẽ do đó mà ông muốn đi tỉnh xa để ăn chơi cho bõ dăm mười ngày chăng? Có người nghi là ông đang chạy một áp-phe nào đó ở Đà Nẵng. Tính ông tháo vát, lý tài không mấy ai là không biết. Óc lý tài ấy không thể quên việc một người bạn cũ vừa được Chính phủ cử làm một chức vụ hành chánh cao cấp ở đây. Việc ấy chính ông đã bô bô nói cho anh em nghe, một cách lơ đãng thôi nhưng mà với bao nhiêu là cố ý và dàn xếp. Tóm lại mọi ức đoán đều không tốt cho ông Chính. Bởi không ai tin rằng sự hăng hái của ông là do tinh thần trách nhiệm cao cả của một nhà giáo có lương tâm. Trong khi đó thì ông hò hẹn với người này sẽ lên đường ngày ấy tháng ấy, rỉ tai với người kia rằng sẽ cùng thuê một phòng ở khách sạn nọ nhà hàng kia. Ông chạy đi dò hỏi giờ xe lửa đến, xe lửa đi, giờ tàu bay hạ cánh và cất cánh. Vì tất cả là nhà giáo nên không ai bảo ai mà mọi người đều tự nhiên nhớ đến anh chàng Tartarin.
Đột nhiên, một ngày trước ngày lên tàu, ông Chính lăn ra bệnh. Bà Chính cầm giấy chứng nhận của bác sĩ đến phòng ông Hiệu trưởng và nhờ ông gởi ra ông Chánh chủ khảo Hội đồng Đà Nẵng. Bà phàn nàn thay chồng:
- Thưa cụ, nhà tôi thật tiếc quá. Đến ngày đi thì lại ốm. Nhà tôi đã bao nhiêu lần bảo mặc cứ đi, nhưng bác sĩ cản lại không cho đi. Nhà tôi bảo mỗi năm Chính phủ chỉ nhờ mình một lần…
Ông Hiệu trưởng đằng hắng một tiếng khiến bà ngừng nói, đợi chờ ông ban ý kiến. Nhưng sau cái đằng hắng là tiếng gọi “Bác Cai!”, ông gọi thật to, như quát. Và bà vợ người giáo sư mẫn cán xin phép ra về.
Ngày lên tàu, mấy giáo sư tán chuyện gẫu trên sân ga.
- Được đi Đalat sướng mê đi, sao mặt mày buồn thiu như đưa đám ma thế kia? Lên gặp Minh Châu tha hồ mà đi hồ Than Thở.
- Nói nhảm. Minh Châu đi chấm ở Nha Trang. Mình vừa nhận được điện tín xong.
- Còn “bồ” sao cũng không vui?
- Chủ nhà nó đòi nhà lại để nó ở. Hết hạn báo thị rồi mà moa chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Bây giờ lại phải đi nửa tháng.
- Chỉ có ông bô Chính thích đi Đà Nẵng thì lại ốm không đi được. Bô ấy ốm gì nhỉ? Mới vừa thấy béo na béo núc ra ấy mà.
- Chả biết ốm gì, nhưng mà để bố ốm cho bõ ghét. Cái mồm cứ mỏng lèo lèo. Lúc nào cũng tinh thần, xung phong, gương mẫu…
Người ta không hiểu ông Chính. Khi phán đoán về ai, người ta thường hoặc quá khắc nghiệt, hoặc quá dễ dãi. Cả hai thái độ đều có chung một nguyên nhân là lòng ích kỷ. Phán người ta nhưng lại vì mình mà phê phán nên ý kiến không đúng với sự thật. Sự thật ở đây chỉ có ông Chính biết mà thôi. Sự thật đó là ông chẳng bệnh tật gì hết mặc dù có giấy chứng của bác sĩ. Sau khi gởi giấy xin phép nghỉ, ông Chính gọi vợ dặn nhỏ:
- Thật ra, tôi chả đau ốm gì. Chỉ vì năm nay thằng Liêm nó thi mà sức học của nó còn kém quá. Tôi phải tìm cách ở lại để lo cho nó thi đỗ.
Bà Chính há hốc mồm nghe rồi lơ đãng để rơi một tiếng “ờ”.
- “Thật vô vị là cái mụ nầy”, ông Chính nhíu mày suy nghĩ. Tưởng vợ tán tụng tài trí và mưu cơ của mình, ai ngờ mụ chỉ đờ đẫn buông thõng một tiếng chán đời ấy. Ông xẵng giọng nói:
- Để mọi người không ai đoán được ý định của tôi, tôi đã đóng kịch hăng hái hàng tuần lễ trước. Thế mà bà có biết đâu.
- Vâng.
- Vâng là cái gì?
Ông quắc mắc nhìn vợ hỏi.
- Nói với bà chán như cơm nếp ấy. Thôi, bà đi xuống.
Bà Chính tuân theo lệnh chồng một cách thản nhiên bình tĩnh. Gần hai mươi năm chung sống, mỗi lần nghe chồng bàn tính công việc, bà chỉ biết dùng chữ “vâng” chữ “ờ” như để chấm câu cho chồng nghỉ hơi. Không phải vì bà khờ nhưng mà vì bà biết chồng mình khôn ngoan lanh lợi mình không thể nào bì kịp. Đưa ra ý kiến nào cũng bị chồng chê là non, là vụng, rốt cuộc bà trở thành e dè, gần như thụ động. Sự thụ động trong tâm hồn đã ảnh hưởng mạnh đến thể xác của bà. Bụng và ngực sệ xuống, dường như những sợi đàn hồi trong các mô liên kết không còn đủ ý chí để thắt gọn lên được nữa. Mắt hay nhìn xuống đất và những khi phải ngó lên thì hai tròng đen nhìn lác hẳn đi. Ngày mới lấy ông Chính thì mắt bà đâu có lác nặng như thế? Giọng nói cũng mỗi ngày một uể oải rụt rè, rụt rè cả ngay khi bà sai bảo đầy tớ.
Hai ngày trước hôm thi, các giám khảo lục tục đến bằng chuyến tàu suốt từ Saigon ra và từ Huế vào. Ông Chính cần mẫn lên ga đón. Đối với những người quen ở trong nghề như ông thì việc nhận ra các giám khảo không phải là điều khó. Họ đi từng nhóm ở toa hạng Nhì xuống. Một chiếc va-li nhỏ trên tay. Trừ vài thanh niên láu lỉnh còn thì họ đều có vẻ mặt ngơ ngác lãnh đạm của người tri thức. Ông Chính xông vào một người đứng tuổi nước da mai mái. Bàn tay chìa ra trước khi tiếng nói theo kịp.
- Chào bác. Năm nay bác về chấm ở đây.
- Vâng ạ, kìa chào bác.
Ông Như, một giáo sư ở trường Trung học Duy Tân, vừa đón tay, vừa mỉm cười trả lời. Tới một địa phương gặp một người quen, không mấy ai là không thích.
- Thế bác không phải đi đâu cả?
- A… Tôi phải đi Đà Nẵng nhưng lại bị ốm hôm lên tàu.
- Ồ! Tiếc quá nhỉ? Trông bác có hơi xanh đi đấy.
Ông Chính giật nẩy mình. Mình xanh thật hay là ông bạn biết rõ bệnh dối của mình mà nói mỉa? Cả hai sự thật đều đáng ngại cả. Ông quay sang các giám khảo đang đứng vây quanh, vẻ mỏi mệt chờ đợi.
- Còn đây là…
Ông Như đỡ lời:
- Xin giới thiệu với bác, các giám khảo ở Phan Thiết ra… Các bạn này ở Đalat xuống… Còn đây…
Ông Chính phá ra cười liền khiến hai con mắt híp lại:
- À, biết rồi. Bạn quen cả mà, anh Hỷ, anh Tùng, anh Thuận. Các bạn vừa ở Nha Trang ra. À, có cả chị Ngọc Lan. Sao? Ở trường Nữ Trung học chỉ có một mình chị ra thôi à?
Người nữ giáo sư tên là Ngọc Lan trả lời quá nhỏ không ai nghe được. Vả lại người ta đang bận bắt tay, những cái bắt tay không hăng hái vì lặp lại quá nhiều.
- Mấy bác đã có chỗ trọ sẵn cả rồi chứ?
Nhiều người trả lời một lượt. Đại khái thì kẻ có người không. Nhiều người định ra phố thuê phòng. Một số ít định ghé lại nghỉ tại trường.
- Phải đó, - lời ông Chính, - chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị. À, xuống ngay trường Cường Để mới nhé? Trường cũ nóng lắm không chịu được. Xích-lô!
Mấy bác xích-lô đứng vây quanh các thân chủ tranh nhau lên tiếng.
- Dạ… Dạ…
- Chở mấy thầy xuống trường Cường Để mới nhé? Biết trường mới không?
Các giám khảo đã an vị trên xe xích-lô, ông Chính xoa tay nói:
- Thế là các bác đã có nơi chốn an ổn hết rồi. Không có bác nào đến ở với tôi cho vui.
Lời mời mọc lộ tính chất hình thức đãi bôi không được ai trả lời. Ông Chính quay lại tìm cô giáo Ngọc Lan. Nhưng lặng lẽ, cô đã lên xích-lô đi đâu mất từ lúc nào.
Khi chuyến tàu suốt ở Huế vào, ông Chính cũng lặp lại sự cần mẫn vừa rồi. Lần này ông không còn ngượng miệng như lần đầu, ông bảo: “Chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị”. Vì thật ra sự sắp đặt là do bác cai trường theo một lệnh của ông Tổng giám thị. Vả lại, có gì đâu mà gọi là sắp đặt? Cứ hai cái bàn học kê sát nhau làm một giường nằm, trên tường chăng bốn đường dây kẽm để mắc màn, thế thôi. Giám khảo đến ở tại trường thì ít và phần lớn là những người vô tâm. Họ chỉ cần sự tinh khiết của khoảng rộng.
Ba ngày thi lần lượt trôi qua. Thằng Liêm làm bài chả ra gì mặc dù ông đã bảo nó cứ nhìn sang bài của hai đứa ngồi cạnh. Nhưng ông tháo vát lanh lẹ bao nhiêu thì thằng Liêm hiền lành đờ đẫn bấy nhiêu. Nó sợ thầy giám thị, cô giám thị, sợ ông giám thị hành lang, sợ chủ khảo, sợ cả mấy ông lính mang súng đi đi lại lại ngoài sân trường nên nó chả dám nhìn ai hết. Bài nháp nào đem về đưa cho ông coi ông cũng la rầm lên làm nó càng sợ hơn. Rốt cuộc ông phải gọi giật bà lên để phân bua:
- Đấy, bà xem, nó học dở như thế đó.
- Thì nó học dở từ hồi giờ.
Bà thủng thỉnh trả lời.
- Ai chả biết là nó dở.
Ông nói gần như thét lên.
- Đã biết thế còn bảo tôi làm gì nữa? Nó bé oắt như con mắm thế kia mà ông cứ bắt nó học.
- Thôi dẹp bà đi. Chả bàn bạc được cái gì với bà hết. Nói ngang như cua ấy.
- Chả ngang thì…
Ông Chính đứng phắt dậy, đưa tay quyết tìm một vật gì ném xuống đất để biểu lộ cơn giận. Nhưng trên bàn chỉ toàn những vật có thể vỡ được, chẳng hạn cái tách, lọ mực, bình hoa. Ông đành phải chọn lấy tập báo ném phịch xuống đất rồi la lên:
- Thôi, tôi không nói với bà nữa.
Và ông bỏ vào giường nằm.
Các hội đồng giám thị ở Tuy Hòa, Quảng Ngãi đã tập trung đầy đủ về Trung tâm Qui Nhơn. Ông bắt gặp được anh Độ, một trong những thư ký hội đồng. Ông nói nhỏ:
- Khi rọc phách nhớ coi dùm bài của thằng nhỏ con “moa” một tí nhé? Số ký danh của nó là 612. Phòng 18. Trung tâm Qui Nhơn. Nhớ ghi dùm số phách cho “moa” tí nhé?
Độ nhăn mặt:
- Chủ khảo gắt như mắm…
- Thôi mà - ông Chính vội vỗ vai Độ - giúp dùm cho “moa” một tí mà.
Độ định ừ à cho qua chuyện nhưng thấy ông Chính cứ quanh quẩn ở hành lang nên biết là không giúp không xong. Thà giúp một tiếng còn kín nhẹm hơn là để ông cứ thì thầm nhỏ to với mình khiến chủ khảo thêm nghi ngờ. Vả lại ông khéo xếp đặt quá khiến sự hiện diện của ông ở phòng chấm rất đỗi tự nhiên. Ông gọi anh Cai mang thêm ghế ngồi vào cho các thầy. Ông gọi anh Cai pha thêm nước trà. Ông gọi anh Cai xuống đuổi mấy người thí sinh lảng vảng ở trong cổng trường. Đối với chủ khảo thì ông gợi chuyện một cách rất nhã nhặn:
- Tôi chắc ông phải khó chịu với những khách sạn ở Qui Nhơn?
Ông chủ khảo ngơ ngẩn không biết kẻ đối thoại định nói gì. Nút cà-vạt của ông nằm lệch sang một bên cổ sơ mi. Lưng ông gù hẳn xuống. Sự mệt mỏi đọc dược trên đôi mắt lờ đờ, trên da mặt bóng mồ hôi, trên mái tóc rơi lè phè trước trán. Ông vừa bực mình vì các giám khảo đến phòng họp quá trễ giờ, thích tán chuyện với các cô giáo mà lại muốn công việc chấm thi phải xong trong năm ngày. Họp chấm ngày thứ Hai mà ngót một nửa số giám khảo đã ghi vé máy bay thứ Sáu về. Ông Chính phải lại xoay câu hỏi thăm:
- Thưa ông, ông trọ ở khách sạn nào?
- Dạ, tôi ở khách sạn Khánh Vân.
Vừa trả lời, ông chủ khảo vừa lơ đãng nhìn ra xa. Rồi ông chợt quay lại:
- Xin lỗi ông… - ông đưa tay ra bắt, - … Tôi đang bận quá.
Ông Chính không bị mếch lòng vì thái độ lạnh nhạt hấp tấp của ông chủ khảo. Người có trách nhiệm điều khiển bao giờ cũng đa nghi. Họ tưởng ai cũng rình rập để lợi dụng họ thành ra họ rất bủn xỉn nụ cười và lời xã giao. Ông Phó chủ khảo cởi mở hơn. Vì trách nhiệm có chủ khảo gánh, công việc có thư ký làm. Ông tươi cười đón lời hỏi thăm của ông Chính và nhún vai một cái:
- Khách sạn? Gọi hơi quá, vì chỉ có cái tên là có vẻ khách sạn mà thôi: Bồng Lai, Lan Đình, Đồng Khánh… Đó chỉ là những căn phòng hẹp ở sau những hiệu buôn tạp hóa người ta lợi dụng đem cho thuê…
Ông Chính tán đồng ý kiến ngay:
- Vâng, đúng thế ạ. Ông nhận xét rất đúng.
Gió ở biển phây phẩy thổi vào, mát nhẹ. Ông Phó chủ khảo thích chí nói tiếp:
- Người Bình Định sống trong hoàn cảnh chiến tranh mười năm nên họ biết lợi dụng từng tấc đất một. Không quảng canh được thì họ thâm canh. Biến nhà sau thành khách sạn, đó cũng là không bỏ phí một tấc đất, một cách thâm canh vậy.
Thú vị vì lời nhận xét, ông Chính cười ha hả và vội giơ tay bắt tay ông Phó chủ khảo trong một thế tán đồng thân mật. Vừa lúc ấy bóng anh Độ đi ra, và ông vội cáo từ đi lảng nhanh về phía anh.
Hai người gặp nhau ở cầu thang gác.
- Cụ nhớ ghi số phách quốc văn: Am 26.
- Am 26.
- Pháp văn: Bp 25.
- Bp 25. Còn mấy món kia?
- Tôi chỉ tìm được có hai món.
- Nhờ tìm hết dùm tí, bác (Ông đã thăng Độ lên chức Bác)
- Hai món chính, hệ số 6 rồi còn đòi gì nữa? Con cụ ở lớp đứng thứ mấy?
- Cháu kém lắm. Đứng thứ 48. Gần chót.
Độ vô tình nhún vai tỏ ý chán nản. Nhưng anh vội chữa lại cử chỉ vụng vừa rồi của mình bằng một nụ cười gượng gạo:
- Nhưng được hai món hệ số 6 rồi thì có hy vọng.
- Tội nghiệp mà. Không đỗ nổi đâu. “Bác” gắng giúp thêm tí nữa.
Chợt có tiếng giày ở phòng chủ khảo đi ra, Độ vội vàng bước xuống cầu thang. Bực mình, nhưng anh không thể vô tình với câu khen vuốt đuôi của ông Chính:
- Thôi, gắng giúp “moa” 1 tí nhé, rồi moa làm mai cho toa 2 cô Nhã. Cô Nhã chấm Lý Hóa đó, có mê không? Dạy Cường Để đó. Cả Trung tâm này chỉ có toa là xứng với en 3 thôi.
Được mấy số phách, ông Chính lân la lại các tiểu ban: tiểu ban Toán, tiểu ban Công dân Giáo dục, tiểu ban Pháp văn… Tìm cho biết được bài thi của con mình thuộc về tay ai chấm, thật không phải là dễ. Nhưng ông Chính là một người chịu khó. Đầu tiên ông gặp được xấp Pháp văn có bài con ông rơi vào tay anh Khoa, một bạn đồng nghiệp đã cùng dạy với ông mấy năm ở trường Trần Hưng Đạo. Ông rỉ tai:
- Am 26 là con tôi đó.
- A!…
Anh Khoa mỉm cười lật tìm số Am 26. Đọc qua một lượt, Khoa vỗ đùi đánh “đẹt” một cái, nói to lên:
- Ồ! Kém quá. Kém quá. Làm chả được gì hết. Chia verbe Rendre mà cũng sai.
Ông Chính cảm thấy ruột mình quắn lại khi đưa mắt theo dõi cặp mắt chăm chăm của Khoa nhìn xuống bài làm và tim mình chồm lên khi Khoa vỗ vào đùi. Ông nói nho nhỏ:
- Vu 4 cho cháu nó đủ moi-en 5
- Cho thế nào được?
Khoa quay lại nhìn ông, tròng mắt chao lên nhiều vòng sau lần kính trắng.
- Làm sai hết thế này mà.
- Vu nói nho nhỏ vậy. Thôi vu bớt đi 1, cho cháu nó 9 điểm.
- Không được. Bài đáng 5. Cho thêm 1 là 6.
- Chết! Vu giết moa. Thôi cho cháu 7 điểm rưỡi.
“Thật tai ác là thằng Khoa”, ông Chính nghĩ. Mình cứ tưởng chỗ quen thì dễ nài, hóa ra không hẳn thế. Chả bù với hai vị giám khảo chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục, ông Chính không quen biết lần nào cả nhưng khi kể lể gia cảnh (cần nói láo một chút) và chỉ vào mái tóc có dăm sợi bạc của mình là các vị nới rộng điểm giúp cho ngay. Thật là những người dễ dãi, hào phóng. Cô giáo Lý Hóa, - không phải là cô Nhã, tất nhiên, - trông thế mà cũng nghiệt ra phết. Chỉ “vâng… dạ… đồng ý chấm nới tay…” nhưng nhất định không cho biết là mấy điểm. Chẳng lẽ lại vào ngồi cạnh cô để nài. Bài luận Quốc văn thì biệt tăm không biết do ai chấm. Ông chỉ còn trông chờ ở số vận may. Thằng Liêm lý luận không hay nhưng chữ nó viết đẹp sáng sủa. Ông Chính trông sao cho bài làm của nó rơi vào tay một ông giám khảo nhớ nhà. Ông ta sẽ đọc lại cái nhập đề và cái kết luận. Ông ta sẽ tìm vài lỗi chánh tả để gạch cho đỏ bài nhưng bài không có lỗi chánh tả. Ông Chính thâm hiểu tâm lý của một số giám khảo nên đã dặn con cố viết cái nhập đề và cái kết luận cho thật hay và lưu ý đừng để phạm những lỗi chánh tả. Ông giám khảo nhất định sẽ cho điểm quanh quẩn ở 8, 9, 10. Bài Toán thì vô phúc bị đem ra cho tiểu ban cùng chấm để làm thang điểm. May trúng được hai phần bài. Nhằm bài toán đã làm ở trường rồi thế mà chép lại cũng còn sai lên sai xuống.
Cũng như mọi thí sinh, ngày vô phách cộng điểm, ông Chính thấy sao mà dài thế! Thằng Liêm thì cứ lêu nghêu đi dạo biển và đọc tiểu thuyết, làm như chính ông đi thi chứ không phải nó thi. Ông gọi giật nó, hỏi:
- Sao tao chả thấy mày lo lắng gì cả thế?
- Thì thầy bảo con lo cái gì nữa? Thi đã xong rồi thì chỉ còn đỗ được trượt thôi chứ còn lo gì nữa?
- Mầy nói như… cái con chó ấy. Thật là mẹ con mày một lũ.
Và ông vào thay áo xuống trường.
Phòng họp rộn rịp ồn ào. Chỗ này vô điểm, tiếng rao điểm luân phiên nghe nhịp nhàng như tiếng một cái máy lạ đang chạy. Chỗ kia rầm rì tiếng cộng điểm. Ông Chính lại mượn xem bảng kết quả của phòng 18 trung tâm Qui Nhơn. Những chữ “đậu” ghi rải rác trước những tên thí sinh. Ông lật nhanh đến tên Nguyễn Thanh Liêm số ký danh 612. Ông lặng im đưa mắt nhìn, lẩm nhẩm tính từng cột điểm. Đoạn để tập giấy xuống bàn, ông lặng lẽ bước ra hiên. Nét mặt đăm chiêu, ông nhìn ra bãi bể Gành Ráng. Đôi con mắt nheo lại và môi mím trong vẻ suy nghĩ. Anh Khoa ra uống nước, lại gần hỏi:
- Sao buồn thế bác? Cháu Liêm hỏng rồi à?
Ông lắc đầu không trả lời.
- Tôi cho đủ 7 điểm rưỡi bác yêu cầu mà.
- Vâng, tôi nhớ.
- Thế thì sao mà hỏng được?
- Không. Đâu có hỏng.
Nghe tiếng “hỏng”, vài giám khảo đứng gần đó quay lại hỏi:
- Sao? Con cụ hỏng rồi à?
- Chết chết! Hỏng thật sao?
Mấy giám khảo ngồi trong phòng cũng quay mặt ra. Có cả cô giáo chấm Lý Hóa và hai vị chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục dễ tính. Người nào cũng lộ vẻ ái ngại cho người đồng nghiệp tốt bụng của mình. Mọi người, nhất loạt, đều cảm thấy lương tâm rỉa mình khe khẽ vì ai cũng nghi rằng bài của con người bạn đã rơi vào nhằm tay mình. Rồi có người chép miệng:
- Tội nghiệp. Đứa nào cho điểm ác.
- Ông ta có thể xin chủ khảo…
- Cụ ấy người có tuổi, dáng đứng đắn chắc không thèm hạ mình xin xỏ lôi thôi.
Tiếng xì xào im bặt khi ngoài hành lang ông Chính chẩm rãi mà ưu tư nói:
- Thưa các bác, cháu không hỏng ạ.
- Chứ sao?
- Cháu được đỗ ạ.
- Đỗ mà sao cụ buồn thế kia?
- Dạ… Cháu được 142 điểm. Chỉ còn thiếu 14 điểm nữa là được Bình thứ. Tức thế. Phải các bác nới tay cho cháu một chút thì cháu đã đỗ Bình thứ rồi. Bậy quá. Tiếc quá.
| 1 | Tôi, phát âm tiếng Pháp |
| 2 | Anh, mày (phát âm tiếng Pháp) |
| 3 | Cô ấy, chị ấy |
| 4 | Vous: anh, ông |
| 5 | Moyenne: điểm trung bình |



