Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

BÀI LUẬN VĂN THỨ NHẤT - Kiều Giang


Bố tôi năm nay chỉ khoảng bốn mươi tuổi mà đầu đã bạc trắng. Đó không hiểu vì sự di truyền từ ông nội hay vì phải suy nghĩ luôn luôn để viết hết truyện này sang truyện khác. Có lần tôi tò mò hỏi thì mẹ tôi cười đáp:
 
- Bố bạc đầu sớm vì lo lắng cho các con đấy.
 
Bố bạc đầu sớm vì lo lắng cho các con đấy. Câu nói làm tôi rung động cả người. Những buổi trưa không ngủ, bố tôi ngồi viết "phơi-ơ-tông" cho các báo. Cái lưng khom xuống, hai bàn tay nhanh nhẹn trên các phím tròn của máy đánh chữ. Tiếng rào rào quen thuộc. Và khuôn mặt, hình như nó đang thuộc về khung cảnh nào khác. Bố tôi thường nói:
 
- Bàn viết của bố phải kê ở cửa sổ con ạ. Nếu bố viết bài mà không nhìn ra ngoài trời được thì khó mà có ý tưởng hay lắm.
 
Bố tôi chẳng bao giờ đánh chúng tôi, việc này chỉ do mẹ tôi giải quyết. Khi chúng tôi đòi gì miễn là đừng ngoài khả năng, bố tôi mua hết. Có ba đứa con mà cứ quay như chong chóng, hôm nay đi lựa chọn cái này, ngày mai đi mua cái kia. Nhiều khi tiền lương lãnh về trôi đi phân nửa. Họ hàng nói bố tôi hoang phí. Nhưng tôi không nghĩ thế, tôi hiểu bố tôi lắm. Ngày xưa, nghề văn chưa được thịnh, có một tháng nhà hụt tiền mà tôi chưa đóng tiền học. Mẹ tôi đi vắng, tôi lại xin tiền bố thì người đang cặm cụi viết bài. Người lặng lẽ xoa đầu tôi và ứa nước mắt. Có lẽ đó là những giọt nước mắt mà tôi nhớ suốt đời.
 
Bố tôi vẫn mơ một ngày nào đó được dẫn chúng tôi về Hà-Đông thăm nhà cũ. Ngôi nhà mà người đã sống suốt quãng đời thơ ấu. Ngôi nhà có cây ổi tàu dòn tan, có chim sẻ làm tổ trên mái. Bố tôi tả Hà-Đông với một luyến tiếc kỳ diệu, và Hà-Nội như một địa danh đã không còn. Hà-Nội với sương mù trên hồ Hoàn-Kiếm, với xe điện chạy từ Hà-Đông ra, với các phố hàng Ngang, hàng Đào, hàng Bạc, và với cả bố tôi với chiếc xe đạp chạy lăng quăng nữa.
 
Bố tôi rất mê đọc sách. Người đã đọc rất nhiều tác phẩm hay của Anh, Pháp mà còn cố học tiếng Tầu để đọc văn chương Tầu. Ngoài giờ viết gần như người chỉ nằm đọc sách. Vì viết và đọc nhiều nên bây giờ mỗi khi đọc, bố tôi phải mang kính trắng. Tôi cũng thích đọc nhưng vốn liếng sinh ngữ của tôi nghèo nàn quá, bố tôi phải giảng nghĩa hoặc kể lại. Vì biết thế nên quà của tôi là sách, truyện. Ba anh em, chắc tôi là đứa khó tính nhất, bố tôi vô cùng nhẫn nại khi dẫn tôi đi mua đồ dùng. Hàng nào tôi cũng lắc đầu, món gì tôi cũng không vừa mắt. Đến khi mua được, về nhà, bố tôi ngồi thở sườn sượt. Thế mà lần sau bố tôi lại dẫn tôi đi, lại chọn và lại về thở sườn sượt.
 
Trong ba con, bố tôi thương tôi hơn cả, có lẽ vì tôi là con gái và có sở thích giống người. Cách đây vài năm, khi mừng tuổi tôi, bố tôi trao cho tôi tấm carte có ép hoa Penseé và viết, có một câu tôi cảm động hoài: "Bố yêu thương con nhất đời".
 
Thưa bố kính mến của con, con xin ghi nhớ và con: con yêu thương bố nhất đời.
 
 
KIỀU GIANG     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 16, tuần lễ từ 9-9 đến 16-9-1971)
 
 
 

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

HOA CAU - Phạm Khánh Vũ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
Đường về nhà bé ngát hương cau
bé ủ mùi thơm anh biết đâu
có con bướm trắng bên hàng giậu
Đã biết hái hoa đẹp giắt đầu
 
anh về nhà bé chiều tháng mười
lá bên hồ rụng ngẩn ngơ thôi
lòng như chiều nay sao buồn quá
hoa trắng trên cành sao chẳng rơi
 
thấy bé bên giàn hoa tóc tiên
cùng màu nắng mới thẹn thò duyên
bé cười răng trắng như là ngọc
âu yếm mừng anh trước bậc thềm
 
anh lượm hoa cau ngát những hương
cài lên tóc bé dạt dào thương
chút tình yêu ẩm trong lòng mặt
không nói cho hồn thêm vấn vương 
 
từ đó anh đi không trở về
hoa cau còn rụng dưới hàng tre
bé còn áo trắng chờ anh đó
hay đã sang sông bỏ ước thề
 
                              PHẠM KHÁNH VŨ
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 65, tuần lễ từ 24-8 đến 31-8-1972)
 

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

BIỂN CÁT - Choàng Vũ Thái Nguyên


Cũng như mọi khi, hôm nay tôi dậy thật sớm, chống tay lên cằm nhìn mông lung ra biển. Chẳng nhớ tôi đã nghĩ gì mà vào nhà thay quần áo, lấy cả chiếc mũ trắng đội lên đầu. Cô Khanh còn ngủ, thôi đừng đánh thức cô dậy, tôi ra bàn, viết vội lên tờ lịch để bàn:
 
"Cô nhé, cháu đi chơi biển, cô đừng lo nhá, Thuyên"
 
Tôi bước nhanh xuống mấy bực thềm nhà, sáng nay biển đẹp lạ lùng, mặt nước phẳng êm, lớp sương mù mờ đục trải đều. Một thoáng đợt sóng đưa nước tràn vào bờ làm chân tôi tê cóng. Trên lớp cát mịn những con sò, con ốc nhỏ và những con dã tràng chân tua tủa dễ thương ghê. Tôi nhặt bỏ đầy vào chiếc nón. Mấy căn nhà nhỏ ở ven biển san sát nhau với mái ngói đỏ, tường vàng nhạt trông ngoan hiền chi lạ. Thành phố còn yên ngủ ngoài một vài chiếc cam nhông chở hàng đi sớm. Xóm chài đã buông lưới ra khơi. Se sẽ nhìn để thấy một chút thương mến, gió biển thổi tạt vào lạnh buốt xương thế mà tôi vẫn thích mặc thế này cho có vẻ... thể thao một tí. mẹ mà biết được thì chắc sẽ không cho ra đây chơi nữa. Lúc còn ở nhà mẹ vẫn mắng "hứ nắng chẳng ưa, mưa chẳng chịu thế mà đi đâu không thấy mang nón mũ gì cả", mẹ vẫn còn lo cho tôi như lúc 10 tuổi vậy, ra đây nghỉ hè mà mẹ lo cho đủ cả, áo len, mũ... và căn dặn hoài:
 
- Khéo bệnh đấy nhé con.
 
Tôi liến thoắng:
 
- Mẹ khỏi lo, cẩn thận con là nhất.
 
Tôi ghét đi chơi biển sáng mà cứ khuân theo nào áo, mũ len, nào khăng quàng cổ, nào bí-tất. Ngắm biển phải ngắm bằng tất cả các giác quan mới thích chứ. Bất chợt, tôi nghe ai hỏi:
 
- Cô bé ơi, đi chơi sớm thế, không khéo bệnh đấy.
 
Tôi nhìn vào căn nhà có thềm cao quay ra biển thì thấy có người đứng tập tạ nhìn tôi cười. Tôi hơi luống cuống tay nắm chặt lấy vành nón. Mấy hôm sau tôi không đi ngang đó nữa (?) chỉ ngồi ở mấy bực thềm sau nhà nhặt mấy viên cuội trắng ném ra bãi. Tôi thấy có cái gì là lạ trong hồn không định được, có lẽ chỉ là một thoáng bâng khuâng của buổi mai đẹp trời thôi. Một buổi trưa tôi ra biển tắm gặp mấy đứa bằng chừng tuổi tôi ngồi trên cát vẫy tôi lại chơi, thấy tôi còn ngần ngại, con bé khoác chiếc khăn hồng nói nhanh:
 
- Mấy tụi này cũng ra nghỉ hè đây.
 
Ngồi nói "chuyện nắng, chuyện mưa" một lúc tụi tôi đùa bằng thích, vẫn còn tính trẻ con ghê. Hè năm nay còn đùa vui thỏa thích chứ một, hai năm nữa phải loay hoay với những con toán nhức óc, eo ơi, nghĩ tới mà rùng mình. Lúc về, An hỏi tôi:
 
- Thuyên có biết chơi đánh vũ cầu không?
 
- Biết... in ít thôi.
 
Nó nói chiều đến nhà dắt tôi đi, tôi ngạc nhiên ghê sao nó biết, lúc sau tôi mới biết nhà An ở cách nhà tôi có mấy căn. Đến nhà An đánh vũ cầu hoài tôi mới biết anh Huy An là người hỏi tôi sáng hôm nọ. Anh nói chuyện với tụi tôi có vẻ thân mật, có lẽ là để tôi đừng ngượng ngập anh. Nhiều lần đang chơi, tôi tình cờ bắt gặp anh Huy nhìn tôi làm tôi hơi bối rối trong lúc An cười hóm hỉnh:
 
- Cái gì thế?
 
- Đâu có gì đâu nào.
 
Nhưng mà con bé không tin, cứ cười ra điều bí mật.
 
Tôi đang nằm trên ghế dài định ngủ thì nghe tiếng An gọi khe khẽ ngoài cổng, tôi chạy nhanh ra, nó làm vẻ quan trọng:
 
- Ra báo tin này, "khủng khiếp" lắm.
 
Tôi kéo nó ra giàn hoa giấy:
 
- Đi ra đây, cô Khanh ngủ. Tin gì ghê thế?
 
Con bé cầm quyển tập bìa nâu cứng giơ lên:
 
- Đây này, nhưng trước khi đưa phải "thông cổ" chứ!
 
- Ừ, sẵn sàng 2 tay, đưa nhanh xem nào.
 
- Một chầu kem, nhất định nhé, ối dào quan trọng nhắm cưa. 
 
Tôi giật quyển tập trên tay nó, nó nghiêng đầu cười:
 
- Trang cuối cùng đó.
 
Tôi lật nhanh, thấy có chép bài "Tám phố" của N.S và vòng bút xanh khoanh trong đoạn:
 
"Buổi chiều ngồi thư viện rất nghiêm,
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan..."
 
Và nhiều dòng chữ ở dưới, cuối cùng tôi thấy viết... "một cái tên dễ thương V.T.H.T", có một thoáng nghĩ ngợi trong tôi, thấy mặt nóng ghê. An lí lắc:
 
- Vê, tê, hát, tê là cái gì ấy nhỉ? Xin thưa, Vũ thị Hoài Thuyên ấy mờ.
 
Tôi mắc cỡ quá đấm vào vai nó thật đau:
 
- Chắc là anh ấy... viết cái gì đấy.
 
- Viết cái gì nữa, trưa này ông ấy về học nhờ An cất dùm mấy quyển tập tình cờ lật ra gặp đấy. Chà giấu giếm kỹ chưa? Hỏi cứ đâu có gì đâu.
 
Cơn gió lạ thổi tới làm tôi ngẩn ngơ. Những lần đến nhà An chơi, tôi chẳng để ý lắm. Anh nói chuyện có vẻ chiều chuộng tôi như An thôi. Chưa lần nào anh nói với tôi cái gì khác ngoài những chuyện gẫu. Những xao động tâm hồn đã tập cho tôi làm những bài thơ không vần, không luật, tôi bắt đầu chú ý đến anh, một khuôn mặt bình thường thoáng một chút dễ dãi, đôi khi trầm lặng, lời chiều chuộng kín đáo không như những câu nham nhở, đã thành điệp khúc hay những khuôn mặt quảng cáo cho hãng Babilac mà tôi gặp khi đi học.
 
Một tháng hè của tôi đi thật nhanh đến độ ngẩn ngơ khi xem tờ lịch. Ba bảo phải về, chơi hoài học dốt. Chiều hôm đó tụi An bày đặt đưa tiễn đến kéo tôi trải tấm khăn lớn trên cát ngay dưới gốc phi lao rồi sắp bánh ra. Tụi An cố nói cười thật nhiều rồi bày hát hỏng để tôi đừng buồn. Buổi chiều xuống thật thấp, những sợi tơ phiền muộn kéo dài lê thê, những câu từ giã làm tôi khóc. Tôi và An về cùng ngõ, đến ngang nhà nó cứ bắt tôi vào chơi với nó một lát rồi hãy về, nó bắt tôi phải hát một bài trước khi về rồi nó chạy vào nhà mang cây guitare ra cho anh Huy. Tôi nghe lời anh, hát bài Dư âm:
 
"Muốn nói cùng em, đôi lời trìu mến, tim anh băng giá đang ngại ngùng câu năm tháng mong chờ".
 
An nhìn tôi:
 
- Mong năm sau Thuyên sẽ thành cô tú một để còn ra đây chơi nữa nhé.
 
Tôi cười khẽ, sao không nói được cái gì cả, anh Huy nhìn tôi, hình như bãi cát biển và rặng phi lao nhuộm màu tím trầm đọng trong mắt anh, tiếng sóng vỗ mạnh như pha lê vỡ vụn làm tôi sợ. Bãi cát biển hôm nay mênh mông quá.
 
 
CHOÀNG VŨ THÁI NGUYÊN      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 13, tuần lễ từ 19-8 đến 26-8-1971)
 

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

MỘT THỜI - Phù Trầm


Con dốc đổ xuống thoai thoải. Những hàng cây thấp vàng úa hai ven lề um tùm. Tiếng chim kêu đâu đó trên những ngọn cây đầy bóng chiều, tiếng kêu buồn lạc lõng và chứa nhiều màu sắc ảm đạm của một hoàng hôn lả xuống đằm đằm sự vang vọng tĩnh lặng của quá khứ, của kỷ niệm. Bên trái tôi là khu vườn rộng lớn của bà Tiếng, màu xanh của lá đã ngả đen chìm khuất sâu hút bên trong, tiếng gió nhẹ thổi luồn qua khoảng trống cùng tiếng rì rào của những chiếc lá chạm nhau, sự êm dịu và ru ngủ của một tiếng động hiếm có nơi thành phố tôi sống, thành phố với những giấc ngủ trễ nải và những sớm mai ồn ào tiếng chân ngựa gõ lóc cóc vào mặt nhựa khô khan như muốn đánh thức tất cả tỉnh dậy, tiếp nối là tiếng người gọi réo nhau, tiếng kéo lạt sạt của những giỏ cần xé  đựng rau cải non, phiên chợ họp sáng chiều, gần đó. Tiếng xe hàng rồ máy ồm ồm, tiếng la hét của một người điên ngủ lăn lóc đâu đó nơi góc chợ mỗi sáng vẫn bộ đồ sơ mi xám tả tơi đứng nhảy múa, mệt lả, rồi cười khóc. Đời sống mấy năm của tôi nơi tỉnh như thế, đầy tiếng động ồn ào và muôn vàn những tiếng động nhỏ trộn lộn lại thành một thứ quen thuộc không thể dứt bỏ. Nơi đó, tôi sống, cha tôi, mẹ tôi, một lũ anh em quay cuồng trong một căn nhà không còn chỗ trống để đóng một cái tủ sách cỡ nhỏ. Sáng, khoảng không gian còn trong suốt, đó là khoảng thời gian tốt nhất trong ngày để tôi cảm thấy dễ chịu trong đầu cùng sự rung động nghĩ về Vy, nhớ đến gương mặt nàng, gương mặt thánh thiện với mái tóc dài buông xõa, đôi mắt buồn hướng lên cao như hướng về một bóng dáng nào, đôi môi nhỏ mọng căng như da mận chín, chiếc áo dài trắng cùng chiếc áo len xám khoác vào người nhỏ nhắn. Người yêu của tôi đó. Nàng dễ thương quá phải không?
 
Tôi dừng lại trước một cánh cổng. Cây sấu to lớn bên cạnh những hàng trúc đan chặt lấy nhau nom có vẻ gì cô độc. Mấy năm rồi, nó vẫn không thay đổi. vẫn đứng đó, không cao lớn thêm chút nào. Tuổi nhỏ ở đó, những ngày hè quanh quẩn nơi đó với một cô bạn nhỏ, chạy đi qua con dốc nhỏ có một cái miếu tại một ngã đường, chạy và sợ hãi với sự tưởng tượng trẻ con mang theo những lời kể lại của người lớn đầy đe dọa, nhặt những cánh sao trong một khu rừng, nhặt đầy hai nắm tay rồi lại cắm cổ chạy về, mặt tái xanh tái mét. Cô bạn nhỏ đứng chờ ở đầu dốc, cười thật tươi khi thấy tôi trở về, hai đứa nắm tay chạy trở lại nơi sinh hoạt của hai đứa là gốc sấu, những trò chơi cũ sì, những giận hờn bỏ về, để rồi hôm sau lãng quên qua nhà rủ gọi nhau đi hái những đóa hoa lục bình màu tím dọc theo bờ rạch sau khoảng vườn của bà Tiếng, cười nói, rượt bắt.
 
Tôi mở cổng. Qua một khoảng sân đất ẩm ướt, cơn mưa ban nãy còn đọng lại những vũng nhỏ lấp loáng, nhảy qua một con mương tự ý thích từ nhỏ, gặp ngoại đang đứng trước thềm, bóng tối từ mái hiên tạt xuống che mờ mặt bà, tôi thấy hình như đầu bà lắc lắc, cái vẫy tay, cùng với tiếng nói thốt ra đầy thương yêu từ đó:
 
- Con đi đâu lâu thế?
 
Tôi múc nước từ cái lu để cạnh đó rửa chân:
 
- Con đi vòng vòng chơi thôi. Khoảng vườn bên trên nhiều cỏ mọc quá ngoại nhỉ?
 
- Mới kêu ông Tám dẫy dùm rồi đó, ổng còn mắc bận việc ở nhà ông Ty nên chưa làm.
 
Ngoại vào nhà. Cây đèn dầu để trên bàn soi mù mờ xuống sàn cau khô để trên đó, những hạt cau chẻ đôi khô tóp nằm im lặng, bóng tối nằm lẩn khuất trên bàn thờ, những đốm nhang cháy lập lòe cùng bức ảnh của người cậu dựng trên đó không còn trông rõ. Tôi ngồi xuống bộ ván đặt cạnh cửa sổ, nhìn ra cái giếng xi măng trắng nhờ nhờ, nghe đêm sâu hút như một hang động trong những giấc chiêm bao bị lạc vào, đi mãi đi mãi mà vẫn không thoát ra được. Tỉnh dậy mồ hôi ướt nhẹp dưới lưng, trong lòng tay và lồng ngực tim đập liên hồi.
 
Tôi nhớ lại những giấc chiêm bao vẫn thường gặp, những hang động. Tôi ngó bóng của ngoại trên tường chuyển động với hai bàn tay ngoáy trầu. Ngoại lùa trầu vào miệng, nhai chậm rãi.
 
- Hôm về, nhớ nhắc tao gói cho má mày gói cau khô.
 
Tôi ngó về sàn cau khô trên bàn, những hạt cau nhòa lẫn.
 
- Cau ngoại đem bán ở đâu hả ngoại?
 
- Bán buôn gì, có mấy cây, tao để ăn với sang lại cho mấy người quen ở gần đây thôi, có chút xíu, làm gì...
 
- Nhớ hồi xưa...
 
Tôi nghe tiếng tôi như khác lạ. Tôi nhìn ngoại. Trong bóng tối, mắt ngoại như sáng lên rồi lạc mất. Tôi ngồi không dám cử động. Quá khứ quanh quất đâu đây, trên từng chiếc cột, trên từng viên gạch và bay đầy trong bóng tối. Quá khứ và kỷ niệm, vết dao khắc sâu xuống đá, vết sẹo trên cánh tay, ngàn đời còn đó, mãi mãi còn đó. Căn nhà, sân cát, cái giếng, đàn gà vịt, tiếng chày đập xuống những lát chuối xắt tròn, lũ heo kêu ồn ào trong cái chái nhỏ bên hông nhà bếp, tiếng cậu hát vọng cổ những đêm trăng sáng, tiếng gọi cửa nửa khuya, cậu về với một thùng cá ở trên tay, bó cần câu vất xuống... Đêm thanh bình trong tiếng nô đùa. Lũ nhỏ đuổi bắt, trốn sâu vào những lùm cây dầy đặc bóng tối. Trò chơi mở ra với tiếng la hét, tiếng chân chạy nện đất, tiếng cười ròn tan... Đêm sâu và gió mát phảng phất mùi đất nồng nàn, mùi hoa bưởi thoảng nhẹ và mùi lá mục mơn trớn trên mũi.
 
- Bây giờ mày còn muốn đi về với má mày nữa hết?
 
Người cậu đứng đó, trợn mắt, trên tay cầm một tàu lá chuối đã tướt hết lá chực như quất xuống đứa bé đã bị cột vào gốc mận trước sân đang vùng vẫy khóc lớn. Đứa bé xa nhà lần đầu tiên để về quê ngoại theo học lớp năm trường làng, sự dỗ dành của người mẹ, lời hứa hẹn của ngoại, đứa bé đã ưng chịu, trước đó, và bây giờ thì đang nhất quyết đòi trở về theo người mẹ đã bước ra khỏi cổng, và đang đi vội vã tránh tiếng khóc của đứa con cùng để kịp chuyến xe cuối cùng về tỉnh. Trước cái tàu chuối trên tay người cậu đe dọa, đứa bé nín khóc nhưng vẫn thút thít đưa mắt len lén nhìn ra con đường mà mẹ vừa đi khỏi. Sau đó, người cậu bỏ đi, bà ngoại trở ra mở dây trói, an ủi và dỗ dành. Ngoại mở tủ, đưa cho đứa bé những lát chuối khô như xoa dịu một mất mát, dẫn ra giếng rửa mặt mày cho đứa bé bởi mặt mày của nó đã lem luốc những giọt nước mắt. Ngày đầu tiên xa nhà như thế, từ đó đứa bé lớn lên, qua những lớp học ở trường làng, những phần thưởng cuối năm đứa bé sung sướng nhận lãnh, với gương mặt hãnh diện của ngoại cùng cái xoa đầu của người thầy dạy dỗ, đã là những cái gì làm cho nó thấy mình quan trọng hơn những đứa bạn cùng lớp, cùng tuổi. Nó nhìn những đứa bạn đang đứng sắp hàng giữa sân nheo mắt nhìn lên trên hàng ba trường, nơi đó nó đứng với những đứa khác, những đứa học trò xuất sắc chờ đợi lãnh phần thưởng cuối năm sau bài diễn văn cảm ơn do cô bạn cùng lớp với nó đứng trước cái micrô đọc lên, đứa bé hớn hở khi nghe xướng danh nó cùng một chút run rẩy trong hai bàn tay nhận lấy một gói giấy đỏ từ tay thầy trao gửi với lời nhắn nhủ khen thưởng. Đứa bé nói lời cảm ơn lí nhí trong miệng, hấp tấp trở lại chỗ đứng riêng của mình trước những khâm phục của lũ bạn cùng tiếng vỗ tay đôm đốp như chia vui. Tuổi thơ đẹp đẽ như thế đi qua, đứa bé về tỉnh học nốt những lớp học còn lại, người cậu cũng không còn ở nơi chốn cũ, cậu đi lính sau đó một năm. Chỉ còn bà ngoại ở lại, sống lủi thủi với một vườn cây rộng lớn và căn nhà quá rộng, nhiều bóng tối. Những ngày hè, về thăm ngoại, thấy tóc ngoại bạc hơn trước và đôi mắt thâm quầng hơn, buồn bã hơn. Ngoại xúc động nói về những ngày cũ trong giọng ngậm ngùi tưởng tiếc. Tiếng ngoại run rẩy và đôi mắt rưng rưng, những giọt nước mắt già nua chảy xuống, buổi chiều thoi thóp hơi thở cuối đời, ngoại ngồi nhặt những chiếc lá chết vàng rụng xuống trên mặt đất trong bóng tối nhá nhem. Và trong bóng tối nửa chừng đó, tôi nghe được tiếng thở dài buồn bã của ngoại buông ra lặng lẽ.
 
Tiếng thở dài của ngoại càng buồn bã hơn sau ngày cậu tôi mất đi. Ngoại tôi bán mảnh vườn phía sau nhà, mảnh vườn quá rộng, sức ngoại không thể chăm sóc, những cây sầu riêng, chôm chôm, cam, bưởi và nhất là những cây cau ốm khẳng khiu nhiều trái. Những quài cau hái xuống chất đầy trên hàng ba, những tiếng tách vỏ giòn từ chiếc dao bầu ấn xuống, bật ra, những hạt cau tròn trắng lăn xuống chiếc nia để cạnh bên, ngổn ngang, sau đó là chẻ đôi rồi phơi khô, rồi sấy trên một chiếc lò để vừa củi và lửa... Sau giai đoạn phơi sấy hạt cau cứng lại, ngoại đem ra chợ cân bán, trong những chuyến đi đó, tôi thường đi theo ngồi coi ngoại bán với những người xa lạ, những lời kèo nài, tiếng động hỗn tạp xung quanh, vậy mà tôi rất thích ngồi như thế với những cái bánh cam ngoại mua cho, vừa nhai ngon lành vừa ngắm xung quanh khu chợ, những dáng người ngồi đứng đi lại trông vui mắt, thỉnh thoảng tôi còn gặp những đứa bạn cùng lớp đi chợ với mẹ nó, tôi thường cười với chúng nó rất tươi...
 
Một thời như vậy mà mất, bằn bặt lời kêu gọi trở về. Quá khứ, cánh cửa đóng im ỉm đầy rêu phong màng nhện, vẫn không lay chuyển với cái động lay réo gào của tôi, những lần trở về đi trên những con đường cũ, kỷ niệm sống dậy, nhưng vĩnh viễn tôi không thể chạm tới.
 
- Nguyên còn ở đây không ngoại?
 
- Con gái bà Tiếng đó hả, à, nó học ở đâu dưới Saigon lận, lâu lâu mới về. Về lần nào nó cũng qua thăm ngoại hết, nó cũng có hỏi thăm con nữa, con nhỏ càng lớn càng trông ngộ ghê.
 
Nguyên, Nguyên, cô bạn bé nhỏ ngày xưa của tôi, bây giờ thế nào?
 
Gần mười năm rồi, chắc hẳn bây giờ Nguyên đã lớn, khác xưa nhiều lắm. Mười năm, Nguyên đã là thiếu nữ, cô bé ngày xưa, còn lại trong hai bím tóc và đôi mắt tròn mở lớn vui cười đón tôi ở đầu dốc từ rừng sao về, giọng nói thanh tao nũng nịu. Tôi hình dung ra gương mặt Nguyên bây giờ, gương mặt mơ hồ với nét quen thuộc có từ thuở ấu thời, bây giờ lớn, biết Nguyên có thay đổi?
 
Tôi nằm bên ngoại, mùi thơm cũ kỹ len nhanh vào khứu giác, mùi trầu, mồ hôi, mùi tóc của ngoại, lâu lắm rồi tôi mới bắt gặp lại nỗi xúc động nhẹ nhàng vỡ ra trong lòng tôi, tôi thấy mắt mình cay và muốn khóc. Có phải sự quen thuộc, hơi hướm cũ luôn luôn là nỗi xúc động làm người đã bị mất, quên lãng, khi tìm thấy trở lại chúng, tình cờ?
 
Vy,
 
Anh đã từng nói với Vy, về tuổi thơ anh. Một tuổi thơ đẹp, và tuổi luôn luôn anh ngẩn ngơ mỗi khi nhớ lại. Anh chỉ nói với Vy như thế, hình như anh chưa nói cho Vy nghe tuổi thơ anh như thế nào, quãng đời thần thánh đó anh đã sống ở đâu, phải không? Bây giờ anh đang ở tại nơi đó, sống lại, nhớ lại tất cả kỷ niệm, quá khứ, hồi tưởng lại với nỗi rung động xao xuyến êm đềm trong từng nhịp tim mạch máu. Có lúc anh tưởng mình như còn nhỏ dại khi nghe lại mùi hương cũ, thấy lại cảnh vật cũ, anh đã xúc động và anh đã bật khóc... Vy có tin rằng anh đã khóc thực không?
 
Vy, anh sẽ kể cho Vy nghe tuổi thơ của anh, chúng ta chỉ có một thời để sống hồn nhiên và nhớ lại một cách rất xúc động, phải không?
 
Vy, anh bắt dầu kể đây, như thế này...
 
 
PHÙ TRẦM       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 66, tuần lễ từ 31-8 đến 7-9-1972)
 

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

KỶ NIỆM - Phạm Anh Đào


Quãng thời gian đẹp nhất trong một đời người theo tôi phải là tuổi học trò. Trừ những người kém may mắn, phần đông chúng ta ai ai mà chẳng có một thời xách cặp đến trường? Nói đến tuổi học trò là tôi hình dung ra ngay những cậu học trò tinh quái, phá phách, nghịch ngợm, những cô học trò lém lỉnh, ăn quà vặt và thi đua nhau nói nhiều, nói nhanh như máy... Tôi yêu những hình ảnh linh động nhốn nháo rất học trò ấy. Những kỷ niệm học trò, ôi nhiều vô số kể, mà kỷ niệm học trò bao giờ cũng dễ yêu và đáng nhớ. Nào kỷ niệm ngày đầu tiên đi học mà một nhà văn đã tả bằng những lời giản dị đến tuyệt diệu. Tôi thương nhất câu cuối cùng : "Hôm nay tôi đi học". Nào kỷ niệm những ngay khai trường náo nức... Tôi nhớ nhất những ngày khai trường lớp cuối cùng bậc trung học, có lẽ vì nó gần nhất và cũng vì nó "học trò" hơn là ngày khai trường của học trò đại học.
 
Vài ngày trước ngày đi học đầu tiên của niên khóa mới, chúng tôi đã đến trường mượn sách. Như thường lệ, mỗi khi có nhiều học sinh đến "hỏi thăm" là ông tây mũi lõ già giữ sách trường tôi lúc nào cũng gay gắt như khỉ phải ớt, ông ta nhăn nhó gọi từng tên một, tên nào chẳng may quên giấy tờ hay làm sai thủ tục mượn sách là được ông ta ca "sáu câu vọng cổ" thân tặng ngay.
 
Khệ nệ ôm chồng sách về nhà tôi giở từng cuốn một ra xem, thỉnh thoảng có những lời phê bình (về một ông thầy chẳng hạn) của các vị "tiền bối" để lại cho đàn em, đọc rất ư là vui nhộn. Phần nhiều là những cảm tưởng về ông thầy dạy triết đại khái như "những ông philôzốp đều tốt nghiệp ở nhà thương Biên Hòa"... Có những vị "đứng đắn" hơn chúc đàn em học giỏi đầu năm, cuối năm đậu... cành mềm v.v... Tôi nâng niu từng quyển sách, lấy giấy hoa hòe bọc từng cuốn thật đẹp. Thích nhất là cái thú được viết những chữ đầu tiên lên những trang vở mới toanh thơm sặc mùi thức ăn vụng trong lớp! Tôi run run nắn nót biên tên mình và niên khóa vào những trang vở đầu tiên. Cảm động làm sao giây phút thiêng liêng ấy! Dễ thương làm sao những cuốn vở bọc giấy trắng và một lượt plastique (dĩ nhiên là cuối năm những bộ áo mới đầu niên học ấy dần dần đi về thùng rác!). Rồi thì những bút máy, bút chì, bic xanh, bic đỏ mới tinh tươm loạn cả lên (học trò đệ nhất con nít quá quí vị nhỉ!). Ngày khai trường đến, hôm ấy nhà tôi rộn rịp hẳn lên, chị em chúng tôi dậy thật sớm. Chả bù với mọi khi ba tôi phải gọi cả nhà rát cả cổ họng. Ăn sáng qua loa cho xong, các em tôi ra giành chỗ ngồi gần cửa xe (riêng tôi lúc ấy tạm là chị hai nên được ưu tiên). Đến trường 7 giờ 30 sáng, trời lạnh nhưng quang cảnh ở trường đã nhộn nhịp vui tươi hẳn lên. Những giàn hoa giấy tim tím được cắt xén cẩn thận, ngôi nhà ông gác dan cũng được sơn phết lại, hai hàng bậc đá từ cổng vào tới trường cũng được phết một lớp vôi trắng như những gốc anh đào đứng dàn chào hai bên lề. Ngôi trường như khoác một bộ áo mới, những cô học trò tíu tít như chim non, những bộ áo mới sột soạt. Cái gì cũng mới cả... Sau ba tháng hè, những đứa bạn cũ vừa gặp nhau đã mở "radio" om sòm, dĩ nhiên tôi cũng tích cực tham dự buổi phát thanh ấy, học trò con gái mà! Phía bên kia, học trò con trai cũng tụm năm tụm ba, thọc tay vào túi áo laine kể lể tâm sự, có vị cô đơn ngồi trên chiếc Honda lặng lẽ quan sát cái cảnh dập dìu chung quanh. Theo dấu tay ông gác dan từng lũ người kéo vào trường, vừa đi vừa ăn vừa nói không bao giờ ngừng. Vào trong sân rộng, lũ học trò tản mác ra mọi nơi. Bộ hai, bộ ba đi đi lại lại, cười cười nói nói như máy. Vài phút sau tiếng chuông quen thuộc reo vui, bọn học trò tùy theo lớp học đổ xô vào những cầu thang A, B, C, những vị giáo sư kính trắng ôm cặp đi ở cầu thang giữa dành cho giáo sư. Ai cũng vui vẻ hăng hái. Hai hàng học sinh nối đuôi nhau trước cửa lớp hồi hộp đợi những giáo sư mới, cũ của mình. Những lớp nào may mắn gặp những giáo sư có tiếng hiền, dễ dãi mừng rỡ hỏi thăm thầy tíu tít, những lớp khác đón giáo sư mới một cách e dè soi mói. Những lớp còn lại vô phước gặp những giáo sư nổi tiếng khó tánh, nghiêm khắc âm thầm vào lớp... Hôm ấy chúng tôi gặp lại vị giáo sư Anh văn khả kính, ông đứng trên bục gỗ, gỡ cặp kính lão nhìn xuống lũ học trò, nhận mặt những học trò cũ, hỏi thăm lính mới tò te. Ông chỉ tôi cười: "Con nhỏ này có cái lưỡi dài từ Sàigòn đến Đàlạt" làm cả lớp cười ồ. Quê quá! Chả là vì năm ngoái trong một lúc hứng chí phát thanh hơi bừa bãi tôi đã bị ông bắt gặp đang ba hoa chích chòe với Thu trong năm phút liền không ngừng nghỉ, nhưng cũng còn đỡ hơn Thu, "cô học trò có cái lưỡi dài từ Bến Hải tới Cà Mau" của ông ngồi cạnh tôi năm ấy. Sau giờ ấy là giờ sử địa, bà giáo sư mới ăn mặc hơi quá phóng túng tự giới thiệu với nụ cười thật tươi làm tôi có cảm tình với bà ngay (tôi thường có cảm tình với những người hay nhe cả 36 cái răng ra). Bà hỏi thăm chương trình sử địa năm ngoái, cho dàn bài chương trình năm nay, đố vài câu sử và cười cho đến hết giờ. Đại khái vị giáo sư nào cũng nói năm nay chúng tôi là những vị đàn anh đàn chị của trường, "nhớn" rồi thì phải biết cái bổn phận phải học hành của mình, vì lớp đệ nhất bỏ cái lệ khảo bài (mừng húm) nhưng thỉnh thoảng có những màn bút vấn bất thình lình (mừng hụt) thì rán mà chịu đó! Có vị giáo sư kể lại những kỷ niệm thời ông còn ngồi dưới bàn học nhìn lên bục gỗ và "vì vậy những mánh khóe quay phim, tài liệu phóng sự v.v... tôi biết hết cả rồi, các em đừng mong lòe được tôi". Những tiếng cười khúc khích của học trò con gái, những giọng cười ồ ề vịt đực của học trò con trai vang lên thật vui. Ngày khai trường qua đi thật mau. Lũ học trò lại ồ ạt kéo nhau ra về trong tiếng cười nói ồn ào lẫn với tiếng còi xe nối đuôi nhau ngoài cổng trường.
 
Bây giờ ngày khai trường ấy đã trở thành kỷ niệm. Kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ các thầy, các bạn, ngôi trường tôi đã theo học từ lớp "a, b, c" cho đến lớp cuối cùng như một đứa con đi xa nhớ nhà. Thương nhất là khi hình dung lại cái tour cao của nhà trường như một gác chuông nhà thờ với những viên gạch đỏ ngói đen đứng chơ vơ, bơ vơ như bị bỏ rơi giữa nền trời xanh cao nguyên trong những tháng nghỉ hè...
 
 
PHẠM ANH ĐÀO       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 12, tuần lễ từ 12 đến 19-8-1971)
 

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

KHỞI ĐẦU MỘT CHUYẾN ĐI - Võ Tấn Khanh


Tôi bằng lòng ghé lại Phan Rang với Dương Nga phần vì muốn biết ngoài cái nóng rang người, thị trấn nhỏ bé đó còn có gì khác lạ nữa không, một phần cũng vì muốn kéo dài thêm cái giây phút nôn nao kỳ thú trước mỗi bận về thăm gia đình. Năm nay là năm cuối cùng của tôi ở nội trú. Năm cuối cùng, có nghĩa là tôi sẽ không có dịp nào để sống lại một thời gian dài tại cái thành phố cao nguyên dễ thương đó nữa. Không khí như bắt đầu khô hẳn lại khi xe vào đến gần trung tâm thị trấn. Tôi ngồi thẳng người, rút tay ra khỏi lưng ghế dựa của Nga, quay tấm kính chắn xuống và bảo thành phố như thế này mà cũng đẻ được một đứa con gái như mi cũng là khá lắm rồi. Qua quay qua bặm môi béo vào mông tôi một cái thật đau khiến tôi phải hét thật to lên làm mấy người trên xe cùng quay ngoái lại nhìn tôi. Tôi xuýt xoa rồi làm bộ ngó lơ đãng ra ngoài. Tất cả khung cảnh nhà cửa cây cối đều khoác một màu vàng xậm cháy. Trời đã gần chiều mà mọi sinh hoạt hình như có vẻ rất... khiêm nhường. Nga vẫn hơi ức ức khi nghe tôi và các bạn chê cái thành phố của nó lắm. Mấy lần trước khi xe về đến đây, lúc nó xuống đây tôi vẫn nói chọc, mi rán kiếm cho đủ một ngàn giống hoa đem trồng rồi mời ta ghé lại, họa may. Tuy không giận lần nào con nhỏ cũng có vẻ buồn buồn. Chúng tôi xuống xe tại một ngã ba đường để đứng đợi xích lô. Nhận xét đầu tiên của tôi là tuy nhỏ, thành phố vẫn có những con đường rất sạch sẽ dễ thương. Hai bên lề được tráng xi măng, kẻ thành ô vuông nhỏ và các khoảng là những đường viền tròn trồng cây phượng thành hai hàng dài chạy thẳng tắp. Mùa này, cành cây trơ lá đang đợi trổ bông với những nhánh xương tua tủa ngọn lên trời. Tôi chợt nhớ cái màu đỏ rực của loại hoa đó, thứ hoa mà tôi nghĩ nó đã chiếm một chỗ khá rộng trong cái khoảng tâm hồn đang lớn của tôi. Đang lớn, có thật là tôi đang lớn hay chỉ cố tình làm cho ra vẻ người lớn như chị Thùy và em Trang tôi vẫn thường hay bảo? Có điều tôi thấy hình như càng ngày càng mất thêm đi những giây phú mơ mộng vô tư và lúc nào cũng có vẻ tiêng tiếc một thứ gì. Nga bỗng đập nhẹ bàn tay vào vai tôi, nói chọc:
 
- Ê, mà ai rủ rê mi ghé lại đây vậy?
 
Tôi cười:
 
- Một câu nữa thôi là ta đón xe về tức khắc.
 
- Thách đó.
 
Nó lườm tôi rồi quay mặt, đưa tay vẫy một chiếc xích lô đang trờ tới. Tôi nghe da mặt hơi ran rát và phàn nàn:
 
- Chưa chi đã thấy khó chịu rồi.
 
Nga nắm một cái xách lớn đặt lên lòng xe:
 
- Sao?
 
- Bắt đầu thưởng thức sự đón tiếp nồng hậu của xứ mi đây.
 
Nga ngồi lọt hẳn trong lòng xe, đưa tay đỡ nhẹ cánh tay tôi đang chống lên đầu gối của nó, nói:
 
- Mi cứ chê cho lắm đi. Ghét của nào rồi trời trao của ấy. 
 
Con phố ít người và xe cộ qua lại, đúng như điều tôi đã nghĩ. Ngồi trên xe nhìn thẳng, tôi thấy hai hàng phượng chạy thẳng hút về phía cuối trông giống như những bộ xương đang đứng co ro giữa trời. Tôi nhớ có đọc ở đâu đó một đoạn tả về mùa thu, cũng như vậy, hình như trong những bức thư Nghĩa viết về cho tôi, những bức thư viết đâu từ bên kia Thái Bình Dương. Bên kia thế giới, tôi vẫn thường nói đùa như vậy với chị Hồng khi chị cố thuyết phục tôi viết thư cho người em trai của chị đang du học bên đó. Và tôi đã nhận được thư hắn, đọc rồi xếp đó chưa trả lời kịp cái nào. Chị Hồng có vẻ sốt ruột về chuyện này lắm và theo đúng lời đã hứa, tuần sau lên lại trường, tôi sẽ viết thư cho Nghĩa. Nga lại đập nhẹ vào vai tôi:
 
- Hương, mi biết ở đây có cái gì đặc biệt không?
 
Tôi vẫn chưa dứt dòng ý nghĩ của mình, hỏi lại:
 
- Không. Sao?
 
Nga hất hàm rồi chỉ tay qua phía bên lề đường, nơi có kê những chiếc bục gỗ thấp dưới những gốc cây phượng to:
 
- Bánh xèo. Buổi tối đi dọc con đường này là những quán bánh xèo ngon nhất nước.
 
Tôi cười:
 
- Cứ chịu khó ca đi rồi tối nay về lục tiền cắc đãi ta ăn.
 
- Sẵn sàng. Cùng lắm là lại lên bắt tội ông cậu già lẩm cẩm của tao.
 
- Ông cậu nào?
 
- Thì cứ để đến tối hẳn biết. Mà, mi hỏi làm gì?
 
Tôi không trả lời hắn, nhìn thẳng ra trước, mỉm cười. Hình như trong những lần ngủ chung giường với nhau trên nội trú, Nga có nói cho tôi nghe về ông cậu của nó. Tôi nhớ mang máng là ông ấy có làm thơ. Dĩ nhiên là điều này không ăn nhập gì đến tôi bởi tôi vốn dốt đặc về bộ môn này và tôi cũng không thích thơ mấy. Nga có vẻ thích thú và bằng lòng khi có một người bà con như vậy. Nó bảo tôi, mi cứ chịu khó đọc thơ đi rồi tới một lúc nào đó sẽ thấy thi sĩ có lý. Họ là kẻ tiên tri rất tài và có những đời sống đẹp nhất thế gian. Tôi hỏi:
 
- Phải ông cậu làm thi sĩ đó không?
 
Nga quay qua tôi:
 
- Sao mi biết hay vậy?
 
Tôi làm bộ rành rõi:
 
- Thì cái gì ta chả biết!
 
Nga hích nhẹ cùi tay vào mạn sườn tôi, lườm mắt:
 
- Mi vẫn không bỏ được cái tật tổ dóc.
 
Tôi ngoẹo người lại, đưa tay gạt tay nó ra và mỉm cười:
 
- Này, ăn hiếp vừa thôi nghe. Đừng có làm cái kiểu chó vậy gần nhà gà cậy gần vườn.
 
Khuôn mặt Nga hồng thoáng dưới ánh nắng chiều cùng cái đuôi mắt đổ dài qua phía tôi. Chiếc xe quẹo qua một khúc đường ngắn hơn, nơi có một trường Nữ tiểu học. Vẫn những cây phượng trồng dày mịt trong sân với những cành xương tua tủa. Tôi bảo, như nói một mình:
 
- Cũng hay.
 
- Cái gì nữa?
 
- Ta bảo coi vậy chớ xứ này cũng có lắm cái hay.
 
Nga lại được dịp tán thêm:
 
- Chưa đâu em. Ta sẽ làm cho mi chết luôn ở đây với những cảnh tuyệt đẹp.
 
- Đằng nào thì nó cũng vẫn là Phan Rang.
 
- Đầu óc mi có vẻ bị nhiễm độc nhiều quá mức.
 
Nga nói khi ra hiệu cho chiếc xe ngừng lại và phóng gọn xuống, dùng hai tay kéo dải áo thun thấp hơn, xách những chiếc xách đặt xuống đường. Tôi đỡ bó hoa đưa cho Nga cầm, bước theo: 
 
- Cũng chịu khó mua hoa quá nhỉ?
 
Nga lăng xăng, kẹp bó hoa và xách đồ lên, lắc nhẹ đầu:
 
- Không thì ông ấy lại nhăn ai chịu cho nổi?
 
- "Ông ấy" nào?
 
Nga phùng má và trợn mắt nhìn lên:
 
- Ông cậu ta chớ ông ấy nào. Thiệt cái đầu óc đen tối của mi đáng đem đi mà tẩy rửa.
 
Tôi đong đưa cái xách nhỏ, cười cười với nó, bước lên bực thềm. Trời vẫn thật khô và hâm hấp nóng. Tôi nghe hơi thở bắt đầu khó chịu ngồi thụp xuống chiếc ghế salon trong phòng khách, ngã người dựa lưng ra phía sau, nhắm mắt lại. Một chuyến đi mệt nhoài. Tiếng Nga lăng xăng và tiếng la của bầy em nó loáng thoáng đâu từ phía nhà sau.
 
Tôi trở lại trường trong cảm giác chơi vơi và buồn vơ vẩn. Ngày thi đã gần kề nhưng đầu óc trì trệ hẳn, nếu không nói là rỗng không. Chuyến đi về trong bận nghỉ cuối cùng này, ngoài lời nhắn nhủ của ba mẹ là tôi đã lớn còn đem lại cho tôi một nhận xét nữa về mình: Tôi đã bắt đầu phải suy nghĩ để quyết định những gì liên quan tới tôi trong cuộc sống muôn mặt này. Lúc lên, tôi lại cũng ghé nhà Nga theo lời đã hứa với nó, nhưng một phần do chính bởi ý muốn của tôi. Nga thì vẫn không để ý gì đến những đổi thay lạ lùng bất chợt này và vẫn mừng rỡ một cách vô tình khi thấy tôi không còn cái thành kiến nào về nơi chốn nó đang ở. Thấy chưa, ta bảo mi chỉ ghé lại một lần thôi là thấy dầu sao cái thành phố này cũng không đến nỗi tệ. Nó gật đầu cười cười khi nhìn tôi từ trên xích lô bước xuống. Cũng trong lần thứ hai này, tôi và Nga đã được ông cậu của nó đưa đi chơi ở những vùng ngoại ô thành phố. Nhớ lại lần gặp đầu, tôi vẫn thấy tôi hết sức lạ lùng. Thực sự, tự ái tôi bị va chạm nặng nề khi thấy người con trai lần đầu có thái độ như vậy đối với tôi. Cái gật đầu và nụ cười của hắn vừa khó hiểu vừa mỉa mai lẫn thách thức. Tôi đã nhủ thầm bộ tôi thèm tới đây để xin xỏ ông chắc? Chính cô cháu quý của ông đã năn nỉ tôi hết lời. Thế nhưng những lần sau đó, nhìn ánh mắt và cách nói chuyện của chàng, mọi thành kiến trong tôi đều dần dần tan biến. Giọng nói, hình như luôn đượm một vẻ gì cay đắng lẫn xót xa. Chàng kể cho chúng tôi nghe những giai thoại về một vài địa danh, những câu chuyện đã đọc được, những bắt gặp hi hữu trong sinh hoạt hằng ngày. Tuyệt nhiên chàng không hề đá động gì đến tôi. Có lúc tôi muốn hỏi chàng về những bài thơ mà có lần Nga đã đọc cho tôi nghe trên nội trú, nhưng không hiểu sao tôi vẫn thích yên lặng để nghe chàng nói. Chàng khuyên Nga (hay gián tiếp nhắn nhủ tôi?) đừng bao giờ để đời sống dẫn dắt mà chính mình phải tự tìm cho ra một lối đi. Lúc đó tôi mới thấy chính tôi đã bắt gặp cái mẫu người mà tôi đã thường xuyên nghĩ đến (có muộn màng lắm không, với cái tuổi đã hai mươi của tôi?). Và tôi đã nghe có một chút gì khác lạ bắt đầu nhen nhúm trong suốt cõi tâm hồn.
 
Buổi chiều đầu tiên khi mới bước chân về lại căn phòng nội trú quen thuộc, tôi thấy mình tự nhiên xa ly hẳn với chính mình. Tôi đứng thẫn thờ đến cả mấy phút, trước khi đặt chiếc va ly lên chiếc giường nệm gối phẳng phiu. Vẻ lạ lùng của tôi có lẽ Nga cũng bắt gặp, và tuy ái ngại lẫn nghi ngờ, nó vẫn cố nói đùa:
 
- Sao, về dưới lên rồi quên đem theo trái tim hẳn? 
 
Tôi cười nhẹ, ngồi xuống mép giường. Nếu quan niệm rằng mỗi người là một phần đời của nhau trong tiền kiếp giờ phải đi tìm gặp nhau lại, thì với tôi, tôi đã tìm thấy được mình. Tôi muốn hỏi Nga về chàng nhưng nhìn cái vẻ liến thoắng vô tư của nó, tôi đành phải ngồi im. Tự nhiên tôi muốn khóc.
 
- Làm cái gì mà ngẩn người ra vậy? Ơ...
 
Nga ném cái mũ xuống cạnh chỗ tôi và khi tôi ngước mắt nhìn lên, nó tròn xoe mắt ngạc nhiên. Cùng lúc, tôi nghe như mắt mình ươn ướt. Nga tới ngồi xuống và vòng một tay qua vai tôi:
 
- Gì vậy Hương?
 
Tôi lắc đầu. Tôi có vô lý lắm không? Tôi tự hỏi mình như vậy rồi đứng dậy đi thay đồ, xong, nằm ngã người ra giường và bỏ hẳn bữa cơm chiều khi có chuông gọi. Tôi vẫn nghĩ liên miên và cuối cùng hình ảnh đó vẫn bay lượn chập chờn trước tầm mắt. Nga đem về cho tôi hai trái chuối và đặt bàn tay lên trán tôi, giọng săn sóc:
 
- Mi có sao không Hương?
 
- Sao đâu!
 
- Ta đi gọi dì Agnès nghe?
 
- Sao lại phải gọi dì Agnès?
 
Tôi hơi gắt và lại thấy mình vô lý. Tôi muốn dịu dàng lại, bảo với Nga: Ta vừa bắt gặp lại chính khuôn mặt của mình sau suốt những ngày tháng đầu đời kiếm tìm và săn đuổi. Thế nhưng làm sao nó hiểu hết được? Tôi lại lắc nhẹ đầu:
 
- Mi rót hộ ta cốc nước. Ta mệt quá.
 
- Mấy lần trước đi xe có vậy không?
 
Tôi không đáp và Nga nhìn tôi ái ngại. Tôi mong cho chóng hết đêm cho thời gian ngắn lại để đọc thư của chàng, lời nhắn riêng tôi khi chàng đưa chúng tôi ra lại bến xe. Cùng lúc đó, tôi cũng vừa nghĩ tới sự ngạc nhiên và thất vọng của chị Hồng khi tôi quyết định đem trả lại những lá thư và những tấm carte mà Nghĩa đã nhờ chị trao hộ cho tôi. Không được đâu chị Hồng. Mỗi người phải tự chọn cho mình một lối đi. Em phải đi con đường mà em vừa chợt tìm thấy được, mặc dù biết là nó gập ghềnh và đầy những bất trắc chông gai...
 
 
VÕ TẤN KHANH        
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 113, tuần lễ từ 2-8 đến 9-8-1973)
 

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2026

HÂN HOAN CÙNG THÁNG TÁM - Trần Anh


 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
mừng em ngày áo lụa
chảy mát giòng trăm năm
loài mây xanh cánh nhỏ
che đời mưa vô cùng
 
mừng em hàng nến đỏ
chung quanh vòng tay anh
mứt hoa và guốc gỗ
bánh ngọt môi bình minh
 
mừng em nghìn xác bướm
trang vở hồng phấn hương
cơn mơ dài vô lượng
chim về từ muôn phương
 
mừng em chùm ngũ sắc
trong đám mây cầu vồng
chọn một màu xinh nhất
thêu giùm anh chiếc khăn
 
mừng em những trái hồng
chua ê răng nhăn mặt
vỡ tan mùa nhớ mong
sách bài buồn trong cặp
 
mừng em và mừng anh
ngó nhau au cặp má
chữ nói chữ loanh quanh
giòng thư tình vẫn lạ
 
                          TRẦN ANH
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 142, phát hành ngày 20-8-1974)