Tôi bằng lòng ghé lại Phan Rang với Dương Nga phần vì muốn biết ngoài cái nóng rang người, thị trấn nhỏ bé đó còn có gì khác lạ nữa không, một phần cũng vì muốn kéo dài thêm cái giây phút nôn nao kỳ thú trước mỗi bận về thăm gia đình. Năm nay là năm cuối cùng của tôi ở nội trú. Năm cuối cùng, có nghĩa là tôi sẽ không có dịp nào để sống lại một thời gian dài tại cái thành phố cao nguyên dễ thương đó nữa. Không khí như bắt đầu khô hẳn lại khi xe vào đến gần trung tâm thị trấn. Tôi ngồi thẳng người, rút tay ra khỏi lưng ghế dựa của Nga, quay tấm kính chắn xuống và bảo thành phố như thế này mà cũng đẻ được một đứa con gái như mi cũng là khá lắm rồi. Qua quay qua bặm môi béo vào mông tôi một cái thật đau khiến tôi phải hét thật to lên làm mấy người trên xe cùng quay ngoái lại nhìn tôi. Tôi xuýt xoa rồi làm bộ ngó lơ đãng ra ngoài. Tất cả khung cảnh nhà cửa cây cối đều khoác một màu vàng xậm cháy. Trời đã gần chiều mà mọi sinh hoạt hình như có vẻ rất... khiêm nhường. Nga vẫn hơi ức ức khi nghe tôi và các bạn chê cái thành phố của nó lắm. Mấy lần trước khi xe về đến đây, lúc nó xuống đây tôi vẫn nói chọc, mi rán kiếm cho đủ một ngàn giống hoa đem trồng rồi mời ta ghé lại, họa may. Tuy không giận lần nào con nhỏ cũng có vẻ buồn buồn. Chúng tôi xuống xe tại một ngã ba đường để đứng đợi xích lô. Nhận xét đầu tiên của tôi là tuy nhỏ, thành phố vẫn có những con đường rất sạch sẽ dễ thương. Hai bên lề được tráng xi măng, kẻ thành ô vuông nhỏ và các khoảng là những đường viền tròn trồng cây phượng thành hai hàng dài chạy thẳng tắp. Mùa này, cành cây trơ lá đang đợi trổ bông với những nhánh xương tua tủa ngọn lên trời. Tôi chợt nhớ cái màu đỏ rực của loại hoa đó, thứ hoa mà tôi nghĩ nó đã chiếm một chỗ khá rộng trong cái khoảng tâm hồn đang lớn của tôi. Đang lớn, có thật là tôi đang lớn hay chỉ cố tình làm cho ra vẻ người lớn như chị Thùy và em Trang tôi vẫn thường hay bảo? Có điều tôi thấy hình như càng ngày càng mất thêm đi những giây phú mơ mộng vô tư và lúc nào cũng có vẻ tiêng tiếc một thứ gì. Nga bỗng đập nhẹ bàn tay vào vai tôi, nói chọc:
- Ê, mà ai rủ rê mi ghé lại đây vậy?
Tôi cười:
- Một câu nữa thôi là ta đón xe về tức khắc.
- Thách đó.
Nó lườm tôi rồi quay mặt, đưa tay vẫy một chiếc xích lô đang trờ tới. Tôi nghe da mặt hơi ran rát và phàn nàn:
- Chưa chi đã thấy khó chịu rồi.
Nga nắm một cái xách lớn đặt lên lòng xe:
- Sao?
- Bắt đầu thưởng thức sự đón tiếp nồng hậu của xứ mi đây.
Nga ngồi lọt hẳn trong lòng xe, đưa tay đỡ nhẹ cánh tay tôi đang chống lên đầu gối của nó, nói:
- Mi cứ chê cho lắm đi. Ghét của nào rồi trời trao của ấy.
Con phố ít người và xe cộ qua lại, đúng như điều tôi đã nghĩ. Ngồi trên xe nhìn thẳng, tôi thấy hai hàng phượng chạy thẳng hút về phía cuối trông giống như những bộ xương đang đứng co ro giữa trời. Tôi nhớ có đọc ở đâu đó một đoạn tả về mùa thu, cũng như vậy, hình như trong những bức thư Nghĩa viết về cho tôi, những bức thư viết đâu từ bên kia Thái Bình Dương. Bên kia thế giới, tôi vẫn thường nói đùa như vậy với chị Hồng khi chị cố thuyết phục tôi viết thư cho người em trai của chị đang du học bên đó. Và tôi đã nhận được thư hắn, đọc rồi xếp đó chưa trả lời kịp cái nào. Chị Hồng có vẻ sốt ruột về chuyện này lắm và theo đúng lời đã hứa, tuần sau lên lại trường, tôi sẽ viết thư cho Nghĩa. Nga lại đập nhẹ vào vai tôi:
- Hương, mi biết ở đây có cái gì đặc biệt không?
Tôi vẫn chưa dứt dòng ý nghĩ của mình, hỏi lại:
- Không. Sao?
Nga hất hàm rồi chỉ tay qua phía bên lề đường, nơi có kê những chiếc bục gỗ thấp dưới những gốc cây phượng to:
- Bánh xèo. Buổi tối đi dọc con đường này là những quán bánh xèo ngon nhất nước.
Tôi cười:
- Cứ chịu khó ca đi rồi tối nay về lục tiền cắc đãi ta ăn.
- Sẵn sàng. Cùng lắm là lại lên bắt tội ông cậu già lẩm cẩm của tao.
- Ông cậu nào?
- Thì cứ để đến tối hẳn biết. Mà, mi hỏi làm gì?
Tôi không trả lời hắn, nhìn thẳng ra trước, mỉm cười. Hình như trong những lần ngủ chung giường với nhau trên nội trú, Nga có nói cho tôi nghe về ông cậu của nó. Tôi nhớ mang máng là ông ấy có làm thơ. Dĩ nhiên là điều này không ăn nhập gì đến tôi bởi tôi vốn dốt đặc về bộ môn này và tôi cũng không thích thơ mấy. Nga có vẻ thích thú và bằng lòng khi có một người bà con như vậy. Nó bảo tôi, mi cứ chịu khó đọc thơ đi rồi tới một lúc nào đó sẽ thấy thi sĩ có lý. Họ là kẻ tiên tri rất tài và có những đời sống đẹp nhất thế gian. Tôi hỏi:
- Phải ông cậu làm thi sĩ đó không?
Nga quay qua tôi:
- Sao mi biết hay vậy?
Tôi làm bộ rành rõi:
- Thì cái gì ta chả biết!
Nga hích nhẹ cùi tay vào mạn sườn tôi, lườm mắt:
- Mi vẫn không bỏ được cái tật tổ dóc.
Tôi ngoẹo người lại, đưa tay gạt tay nó ra và mỉm cười:
- Này, ăn hiếp vừa thôi nghe. Đừng có làm cái kiểu chó vậy gần nhà gà cậy gần vườn.
Khuôn mặt Nga hồng thoáng dưới ánh nắng chiều cùng cái đuôi mắt đổ dài qua phía tôi. Chiếc xe quẹo qua một khúc đường ngắn hơn, nơi có một trường Nữ tiểu học. Vẫn những cây phượng trồng dày mịt trong sân với những cành xương tua tủa. Tôi bảo, như nói một mình:
- Cũng hay.
- Cái gì nữa?
- Ta bảo coi vậy chớ xứ này cũng có lắm cái hay.
Nga lại được dịp tán thêm:
- Chưa đâu em. Ta sẽ làm cho mi chết luôn ở đây với những cảnh tuyệt đẹp.
- Đằng nào thì nó cũng vẫn là Phan Rang.
- Đầu óc mi có vẻ bị nhiễm độc nhiều quá mức.
Nga nói khi ra hiệu cho chiếc xe ngừng lại và phóng gọn xuống, dùng hai tay kéo dải áo thun thấp hơn, xách những chiếc xách đặt xuống đường. Tôi đỡ bó hoa đưa cho Nga cầm, bước theo:
- Cũng chịu khó mua hoa quá nhỉ?
Nga lăng xăng, kẹp bó hoa và xách đồ lên, lắc nhẹ đầu:
- Không thì ông ấy lại nhăn ai chịu cho nổi?
- "Ông ấy" nào?
Nga phùng má và trợn mắt nhìn lên:
- Ông cậu ta chớ ông ấy nào. Thiệt cái đầu óc đen tối của mi đáng đem đi mà tẩy rửa.
Tôi đong đưa cái xách nhỏ, cười cười với nó, bước lên bực thềm. Trời vẫn thật khô và hâm hấp nóng. Tôi nghe hơi thở bắt đầu khó chịu ngồi thụp xuống chiếc ghế salon trong phòng khách, ngã người dựa lưng ra phía sau, nhắm mắt lại. Một chuyến đi mệt nhoài. Tiếng Nga lăng xăng và tiếng la của bầy em nó loáng thoáng đâu từ phía nhà sau.
Tôi trở lại trường trong cảm giác chơi vơi và buồn vơ vẩn. Ngày thi đã gần kề nhưng đầu óc trì trệ hẳn, nếu không nói là rỗng không. Chuyến đi về trong bận nghỉ cuối cùng này, ngoài lời nhắn nhủ của ba mẹ là tôi đã lớn còn đem lại cho tôi một nhận xét nữa về mình: Tôi đã bắt đầu phải suy nghĩ để quyết định những gì liên quan tới tôi trong cuộc sống muôn mặt này. Lúc lên, tôi lại cũng ghé nhà Nga theo lời đã hứa với nó, nhưng một phần do chính bởi ý muốn của tôi. Nga thì vẫn không để ý gì đến những đổi thay lạ lùng bất chợt này và vẫn mừng rỡ một cách vô tình khi thấy tôi không còn cái thành kiến nào về nơi chốn nó đang ở. Thấy chưa, ta bảo mi chỉ ghé lại một lần thôi là thấy dầu sao cái thành phố này cũng không đến nỗi tệ. Nó gật đầu cười cười khi nhìn tôi từ trên xích lô bước xuống. Cũng trong lần thứ hai này, tôi và Nga đã được ông cậu của nó đưa đi chơi ở những vùng ngoại ô thành phố. Nhớ lại lần gặp đầu, tôi vẫn thấy tôi hết sức lạ lùng. Thực sự, tự ái tôi bị va chạm nặng nề khi thấy người con trai lần đầu có thái độ như vậy đối với tôi. Cái gật đầu và nụ cười của hắn vừa khó hiểu vừa mỉa mai lẫn thách thức. Tôi đã nhủ thầm bộ tôi thèm tới đây để xin xỏ ông chắc? Chính cô cháu quý của ông đã năn nỉ tôi hết lời. Thế nhưng những lần sau đó, nhìn ánh mắt và cách nói chuyện của chàng, mọi thành kiến trong tôi đều dần dần tan biến. Giọng nói, hình như luôn đượm một vẻ gì cay đắng lẫn xót xa. Chàng kể cho chúng tôi nghe những giai thoại về một vài địa danh, những câu chuyện đã đọc được, những bắt gặp hi hữu trong sinh hoạt hằng ngày. Tuyệt nhiên chàng không hề đá động gì đến tôi. Có lúc tôi muốn hỏi chàng về những bài thơ mà có lần Nga đã đọc cho tôi nghe trên nội trú, nhưng không hiểu sao tôi vẫn thích yên lặng để nghe chàng nói. Chàng khuyên Nga (hay gián tiếp nhắn nhủ tôi?) đừng bao giờ để đời sống dẫn dắt mà chính mình phải tự tìm cho ra một lối đi. Lúc đó tôi mới thấy chính tôi đã bắt gặp cái mẫu người mà tôi đã thường xuyên nghĩ đến (có muộn màng lắm không, với cái tuổi đã hai mươi của tôi?). Và tôi đã nghe có một chút gì khác lạ bắt đầu nhen nhúm trong suốt cõi tâm hồn.
Buổi chiều đầu tiên khi mới bước chân về lại căn phòng nội trú quen thuộc, tôi thấy mình tự nhiên xa ly hẳn với chính mình. Tôi đứng thẫn thờ đến cả mấy phút, trước khi đặt chiếc va ly lên chiếc giường nệm gối phẳng phiu. Vẻ lạ lùng của tôi có lẽ Nga cũng bắt gặp, và tuy ái ngại lẫn nghi ngờ, nó vẫn cố nói đùa:
- Sao, về dưới lên rồi quên đem theo trái tim hẳn?
Tôi cười nhẹ, ngồi xuống mép giường. Nếu quan niệm rằng mỗi người là một phần đời của nhau trong tiền kiếp giờ phải đi tìm gặp nhau lại, thì với tôi, tôi đã tìm thấy được mình. Tôi muốn hỏi Nga về chàng nhưng nhìn cái vẻ liến thoắng vô tư của nó, tôi đành phải ngồi im. Tự nhiên tôi muốn khóc.
- Làm cái gì mà ngẩn người ra vậy? Ơ...
Nga ném cái mũ xuống cạnh chỗ tôi và khi tôi ngước mắt nhìn lên, nó tròn xoe mắt ngạc nhiên. Cùng lúc, tôi nghe như mắt mình ươn ướt. Nga tới ngồi xuống và vòng một tay qua vai tôi:
- Gì vậy Hương?
Tôi lắc đầu. Tôi có vô lý lắm không? Tôi tự hỏi mình như vậy rồi đứng dậy đi thay đồ, xong, nằm ngã người ra giường và bỏ hẳn bữa cơm chiều khi có chuông gọi. Tôi vẫn nghĩ liên miên và cuối cùng hình ảnh đó vẫn bay lượn chập chờn trước tầm mắt. Nga đem về cho tôi hai trái chuối và đặt bàn tay lên trán tôi, giọng săn sóc:
- Mi có sao không Hương?
- Sao đâu!
- Ta đi gọi dì Agnès nghe?
- Sao lại phải gọi dì Agnès?
Tôi hơi gắt và lại thấy mình vô lý. Tôi muốn dịu dàng lại, bảo với Nga: Ta vừa bắt gặp lại chính khuôn mặt của mình sau suốt những ngày tháng đầu đời kiếm tìm và săn đuổi. Thế nhưng làm sao nó hiểu hết được? Tôi lại lắc nhẹ đầu:
- Mi rót hộ ta cốc nước. Ta mệt quá.
- Mấy lần trước đi xe có vậy không?
Tôi không đáp và Nga nhìn tôi ái ngại. Tôi mong cho chóng hết đêm cho thời gian ngắn lại để đọc thư của chàng, lời nhắn riêng tôi khi chàng đưa chúng tôi ra lại bến xe. Cùng lúc đó, tôi cũng vừa nghĩ tới sự ngạc nhiên và thất vọng của chị Hồng khi tôi quyết định đem trả lại những lá thư và những tấm carte mà Nghĩa đã nhờ chị trao hộ cho tôi. Không được đâu chị Hồng. Mỗi người phải tự chọn cho mình một lối đi. Em phải đi con đường mà em vừa chợt tìm thấy được, mặc dù biết là nó gập ghềnh và đầy những bất trắc chông gai...
VÕ TẤN KHANH
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 113, tuần lễ từ 2-8 đến 9-8-1973)






