Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

NHỮNG DÒNG SÔNG NHỎ - Đan Hoàng


- Tại sao chị cứ hát hoài bài hát đó hở, chị An?
 
- Tại chị thích.
 
- Câu nào?
 
- Em có cần thiết phải biết không?
 
- Em nghĩ, nếu nói cho người khác biết những nỗi buồn thầm lặng của mình tức là san sẻ bớt gánh nặng trên vai. Chị có nghĩ như thế không?
 
Người con gái mỉm cười, vẻ hiu hắt:
 
- Chị không nghĩ gì cả, nhưng chị thích câu từng người tình bỏ ta đi như nhũng dòng sông nhỏ. 
 
- Chị có vẻ chua chát.
 
- Điều đó, có từ lâu rồi.
 
- Chị buồn làm em buồn lây.
 
- Đừng gặp chị nữa.
 
- Chị giận em sao, chị An?
 
- Không.
 
Người con trai chấm tay vào ly nước, vẽ vẽ lên mặt bàn nhiều nét hỗn độn, giọng nói buồn:
 
- Cố mà vui đi chị An.
 
- Vui không nổi.
 
- Dạo này chị bất thường quá.
 
- Xưa nay chị vẫn bất thường.
 
- Vì anh H?
 
- Không vì ai cả, vì chị thế thôi.
 
- Chị nhất định dứt khoát với anh ấy?
 
- Không phải chị nhất định mà là anh H nhất định. 
 
- Em không hiều chị nữa.
 
Người con gái lại cười khó hiểu:
 
- Tình yêu đã mất hết ý nghĩa rồi. Em có thể sống cùng với một người mà nhìn nhau ngượng ngùng, gượng gạo?
 
- Chị có nghĩ là chị có lỗi?
 
- Có. Nhưng khi H bảo chị có lỗi thì chị cảm thấy rằng chị không có lỗi. Kẻ có lỗi là H.
 
- Chị mâu thuẫn.
 
- Chị thấy chị đáng tội nghiệp.
 
- Anh H có nói với em điều đó.
 
Người con gái cười vẻ lạnh lùng, oán hận:
 
- Chính điều đó làm chị ân hận, chị đã chọn lầm người, chị có thể tội nghiệp chị chứ không ai có thể tội nghiệp chị được cả. Ai mượn H tội nghiệp chị. Thứ tội nghiệp giả dối và trốn chạy đó.
 
- Chị oán ghét anh H?
 
- Không. Chị khinh.
 
- Coi như là không còn gì nữa?
 
- Em nhầm, vết thương không bao giờ mất đi dấu tích.
 
Người con trai ngẩng đầu nhìn với vẻ lạ lùng:
 
- Chị vẫn còn yêu anh H?
 
- Chỉ còn sự khinh thường.
 
- Tại sao chị không thể quên, không thể sống, không thể xem như trong đời chị chưa bao giờ có sự hiện diện của anh H?
 
- Nếu được như thế đối với chị là cả một điều hạnh phúc.
 
- Tình yêu giúp cho chị quên.
 
- Em muốn nói đến Th?
 
- Không phải chị yêu Th. sao?
 
- Chị nghĩ là chị yêu.
 
Ly nước cạn gần đến đáy, người con trai bưng đổ hết ra mặt bàn, chấm ngón tay xoay một vòng nước rộng, chăm chú vào công việc của mình.
 
- Chị yêu anh H rồi chị không yêu anh H, không phải vì Th. hay sao?
 
- Em nghĩ như thế?
 
- Vâng.
 
Người con gái ngồi bất động như tượng đá, lạnh buốt:
 
- Nếu em là một đứa trẻ đang khóc, em sẽ nghiêng về người vỗ về em hay người khoanh tay lạnh lùng đứng ngó?
 
- Tất nhiên là người thứ nhất.
 
- Chị cũng vậy.
 
Đôi mày người con trai hơi nhíu lại rồi gật đầu:
 
- Em hiểu.
 
Giọng người con gái trầm trầm, lạnh lẽo:
 
- Nhưng thực ra, khi đứa trẻ đã nín khóc, nó vẫn nhớ người nó thương từ trước dù khi nó khóc không dỗ nó. Nó không quên.
 
- Ví dụ của chị thật là kỳ cục.
 
- Không có gì là không kỳ cục cả.
 
- Tại sao chị không giữ anh H? Nếu chị đừng lạnh nhạt anh ấy làm sao bỏ đi.
 
- Giữ để làm gì?
 
- Chị đã có Th. rồi phải không?
 
- Em kết tội chị à?
 
- Em không định như thế.
 
Người con gái phác một nét cười, mắt rướm lệ:
 
- Nếu chị có thể nhận chị sâu xuống bùn một chút nữa thì chị sẽ giữ được anh H. Nhưng chị chỉ làm được đến thế thôi. Chìm sâu chút nữa chị sẽ chết ngộp.
 
- Tư tưởng chị thật kỳ quái.
 
- H gián tiếp thúc đẩy chị nghiêng về Th. Tình yêu, một người giữ, một người xô, không thể đứng được.
 
- Bây giờ thì chị yêu Th. rồi.
 
- Không.
 
- Lúc nãy chị vừa nói chị yêu?
 
- Chị không nói chị yêu, chị chỉ nói chị nghĩ là chị yêu Th.
 
- Nghĩ cũng thế.
 
- Em nhầm.
 
- Nếu chị không yêu Th. sao chị lại dứt khoát với anh H?
 
Người con gái vuốt mái tóc xõa dài gọn về phía sau, thở dài:
 
- Trái tim luôn luôn phải đầy hay sao?
 
- Chị từ chối để rồi không có được điều gì cả.
 
- Nếu từ chối một điều để có được một điều khác thì đó là một sự phản bội.
 
- Em nghĩ rằng chị rất yêu Th. 
 
 - Có thể yêu nhưng không tin.
 
- Tại sao?
 
Người con gái chống tay lên cằm nhìn xa xôi, tựa hồ như hai con mắt không thấy gì trước mặt cả. Im lặng hồi lâu, giọng người con gái khẽ cất lên, đầy thê thảm:
 
- Khi chị nghĩ rằng, với H, một thời gian dài như thế, cả một tuổi trẻ như thế cho đi vẫn không giữ lại cho nhau chút thật thà nào, vẫn không tìm thấy nỗi hạnh phúc và niềm tin thì đừng mong ở một người nào khác.
 
- Nhưng chị vẫn yêu Th?
 
- Tình yêu đó không có ngày mai. Th rồi sẽ như H, sẽ bỏ chị mà đi.
 
- Tại sao chị lại nghĩ như thế?
 
- Những người con trai đều như nhau cả.
 
- Chị bi quan.
 
- Chị muốn lạc quan lắm.
 
- Nếu như thế, khi chị rời bỏ anh H để quay sang Th chị đã tự vứt bỏ sự xây dựng của chị. Chị thích bóng hạnh phúc hơn giữ nó trong tay.
 
- Nó sẽ không còn là hạnh phúc nữa khi chị giữ được. Chị không muốn giữ như thế.
 
Người con trai chấm tay vẽ lên bàn hai chữ A và Th cạnh nhau, giọng hắn đượm buồn:
 
- Chị sẽ ra sao nếu một ngày Th. cũng sẽ bỏ chị mà đi?
 
- Chị yêu một người khác.
 
- Cho đến hết cả đời chị như thế hay sao? 
 
Giọng người con gái khô và ngắn:
 
- Chị chưa sống hết cuộc đời mà.
 
- Chị nên chọn cho chị một cái bến vĩnh viễn.
 
- Chị chỉ chọn được người chị yêu.
 
- Sao chị không nghĩ là chị sẽ yêu Th và lấy Th làm bến suốt đời?
 
- Th không muốn. Những người tình đều bỏ chị mà đi cả.
 
- Th. yêu chị.
 
- Bây giờ thì yêu. Và yêu không có nghĩa là sẽ lấy nhau. Chị biết, một ngày nào đó Th. sẽ đi.
 
- Chị hằn học với tất cả mọi người.
 
- Không phải thế, chị chỉ chuẩn bị cho những gì sẽ đến. chị muốn chị sẽ bình thản đón nhận.
 
- Nhưng dẫu sao, rồi chị cũng phải có một chỗ dừng chân.
 
- Dừng chân không có nghĩa là đừng yêu nữa. Chị có thể lấy chồng nhưng chị vẫn yêu.
 
- Chị không nghĩ rằng chị sẽ lấy một trong những người chị yêu hay sao? Nói như thế là chị bằng lòng một cuộc hôn nhân không tình yêu với một người xa lạ nào đó, phải không chị An?
 
- Vì những người chị yêu đều không thể trở thành người chồng nên chị không nhất thiết buộc rằng người chồng phải là người yêu trước đó.
 
- Chị lãng mạn và cổ hủ.
 
- Hai cái đó vẫn đi đôi với nhau được.
 
Người con trai đứng dậy mỉm cười, ánh mắt hắn không vui như môi hắn, hắn nói:
 
- Chị có vẻ buồn bã quá, em mời chị đi Chiều Tím.
 
Người con gái lắc đầu, thở dài:
 
- Chị lười, chị không có thú vị đi chút nào hết.
 
- Chị nên đi cho nguôi ngoai.
 
Hai hàm răng người con gái cắn lấy môi, nét mặt tỏ vẻ suy nghĩ, lưỡng lự giây lát rồi gật đầu:
 
- Cũng được. 
 
Gió ngoài trời lành lạnh thổi khi hai người bước ra ngoài. Người con trai cao hơn người con gái gần một đầu. Hai vạt áo dài mầu vàng bay nhẹ trong đêm tối. Người con gái ngậm những sợi tóc mình ngang môi, lòng rỗng không. Quán nhạc cách nhà chỉ một ngã tư ngắn cùng đường. Hai chữ "Chiều Tím" lờ mờ nổi giữa ánh đèn, người con trai nhìn người con gái như thầm hỏi ý, người con gái gật đầu ngó về phía tay phải, chiếc bàn thứ ba. Tấm bảng kẻ chữ Roméo mầu xanh dịu dàng sáng bằng một bóng điện nhỏ nấp sau mặt kính kẻ chữ Quán Nhạc có vẻ dễ chịu với những lều riêng biệt. Những bóng đèn nhỏ đu đưa trên cành cây cao, hay hay.
 
Băng nhạc đang hát những bản thời trang, người con gái hơi cau mày rời bỏ chỗ ngồi của mình:
 
- Chị đi yêu cầu thay băng nhạc khác, tệ quá.
 
- Chị để em đi cho. Chị muốn nghe loại nào?
 
- Đừng là loại nhạc mới được rồi.
 
Người con trai mỉm cười:
 
- Khách hàng quen như chị đòi gì mà chẳng được.
 
Người con gái mỏi mệt trả lời:
 
- Cũng thế thôi, đi mãi đâm nhàm chán.
 
Người con trai bỏ đi về phía quầy, nơi có người nữ thu ngân đang ngồi, bộ mặt cô ta đỏ hồng vì mầu đèn chiếu vào. Còn lại một mình người con gái tẩn mẩn bóp nát lớp bột của những viên đậu phụng đặt trong đĩa. Ngày ngày trôi qua chậm chạp vô nghĩa, ăn, ngủ, đi chơi. Bạn bè theo quanh, cuộc đời không có một mục đích. Trái tim rộng rãi yêu hết tất cả mọi người. Những người tình lần lượt đến, lần lượt đi. Tuổi trẻ bị tiêu hủy không thương tiếc.
 
Người con gái bình thản ngồi, lòng trống rỗng. Suốt đời đuổi bắt, đi tìm, hy sinh và từ chối. Những người con trai đều thế cả, có khác gì nhau. Mất H để có Th, rồi sẽ mất Th. để có một người khác. Tình như cút bắt, như trang sức tô điểm cuộc đời. Con trai theo sau lưng lớp lớp, rốt cuộc không giữ được ai, không yêu được ai.
 
Người con trai trở về cùng lúc khi băng nhạc mới được thay, buông những nốt nhạc trầm trầm nối nhau đi. Bản Love Story. Người con gái chợt thấy lòng se thắt lại. Nhưng tôi vẫn còn có một trái tim trong lồng ngực, vẫn biết tê đau và rung động như mọi người kia mà.
 
- Chị buồn quá vậy chị An.
 
- Làm gì cho vui bây giờ.
 
- Chị cứ việc cười.
 
Người con gái nở một nụ cười buồn tênh:
 
- Đâu phải cười là vui.
 
- Chị thích băng nhạc này chứ?
 
- Chỉ buồn thêm.
 
- Chị lại nhớ rồi.
 
- Vì chị không thể quên.
 
- Chị nên nghĩ đến một tương lai vững chắc với Th.
 
- Một mình chị, không đủ.
 
Người con trai im lặng, người con gái ngó khuôn mặt người con trai rồi bỗng bật cười chua chát:
 
- Em lại sắp sửa thương hại chị.
 
Người con trai nhìn lên, dịu dàng:
 
- Em đang nghĩ vì sao chị không định thành hôn với Th. mà lại bỏ anh H! Với chị, cuộc hôn nhân giữa chị và anh H. đã gần xong.
 
Người con gái mím môi, mặt lạnh ngắt:
 
- Chị không muốn lấy nhau vì ràng buộc lời hứa, vì chút nghĩa nhỏ nhoi.
 
Người con trai há miệng toan nói nhưng người con gái đã tiếp, giọng dịu lại, nghẹn ngào:
 
- Tình yêu đã mất hết ý nghĩa rồi.
 
Người con gái ngồi sau quầy rời chỗ ngồi bước xuống. Ánh đèn đỏ thắm chiếu vào khuôn mặt vẻ dị kỳ, mái tóc đen đổ dài xuống lưng. Cô ta cao, mảnh, có vẻ sắc sảo với đôi mắt kẻ chì đen đậm và đôi môi bóng son. Chiếc áo dài hoa xanh đỏ thật lớn nổi từng vệt lớn khác nhau trong mầu đèn mờ nhạt. Cô ta đi thẳng suốt ra gần đến cửa, lướt qua các bàn rồi chầm chậm quay lại, cô ngừng trước chiếc lều Roméo mỉm cười:
 
- A, cô An, thế mà tôi không hay là cô đến chứ.
 
Người con gái mệt mỏi cười:
 
- Chào chị.
 
Người nữ thu ngân đứng yên bên góc lều, nói nhẹ:
 
- Cô An lâu quá mới đến lại, sao mấy hôm nay không thấy cô, tôi cứ hỏi thăm mấy ông bạn của cô hoài.
 
Người con gái hất hất mái tóc, môi phớt cười:
 
- Em hơi bận, nhưng cũng mới tuần lễ chứ lâu gì.
 
- Dạo trước ngày nào cô cũng đến. Hôm nay sao mấy ông bạn không đi cùng?
 
- Có lẽ họ đi chơi đâu đó.
 
- Cô có mấy người bạn thật dễ thương, cái ông gì đeo đôi kính cận đó, hiền ghê.
 
Người con gái đáp, lơ đãng:
 
- À, Duy Nghi hả? Hắn dễ thương thật. Chị cho em thêm một đĩa đậu phụng nữa đi.
 
- Chơi bạn bè như cô thật vui, cô thật sung sướng, cô An ạ.
 
- Hình như thế thôi.
 
- Hình như gì nữa.
 
Người phụ nữ thu ngân mỉm cười, chào và đi trở lại quầy, ngồi vào vị trí cũ. Ánh đèn đỏ tím lại chiếu vào khuôn mặt một mầu kỳ kỳ. Cô ta cúi đầu hí hoáy ghi chép trên tập phiếu tính tiền nho nhỏ, mái tóc dài đổ xuống lấp gần hết nửa khuôn mặt. Người con trai cười khẽ:
 
- Chị nhẵn mặt gần hết ở đây, chị An ạ.
 
Người con gái lười biếng tựa vào vách, lắc đầu:
 
- Đi một vài lần là đủ. Cô ta là chủ ở đây luôn đấy.
 
Băng nhạc lại chuyển sang một bản mới. Mal. Âm thanh xoáy vào tai, kêu gào, nhức buốt. Người con gái tỏ vẻ buồn ngủ, mắt khép lại, hơi thở chùng và chậm. Người con trai cúi đầu lắng nghe, mặt bàn đầy những vết ly ướt đổi chỗ luôn luôn. Ngọn đèn xanh tím treo trên cành cây mọc phủ mái lều lung linh quay như một quả ping-pong xinh xắn. Người con gái mở mắt, thở một hơi dài nhẹ nhàng, nói bằng giọng êm ái:
 
- Chị muốn bứt ngôi sao đang nhảy múa kia.
 
Người con trai nhìn theo tầm mắt người con gái, quả ping-pong sáng dịu dàng vẫn đu đưa nhè nhẹ.
 
- Để yên nơi đó, nó sẽ đẹp.
 
Người con gái cười trầm lặng, nét mặt u uẩn:
 
- Không bao giờ chị giữ được những gì chị muốn.
 
- Chị nhìn cuộc đời quá lý tưởng. 
 
Nhạc ngừng trong khoảnh khắc rồi tiếp tục bằng một nhịp ba bốn chậm và lê thê buồn. Roméo et Juliette. Người con gái nhăn mặt, tỏ vẻ xúc động. Môi cắn giữa hai hàm răng, hơi thở muốn đứng lại. Bài nhạc không tiếng hát, chỉ có những nốt nhạc nối nhau liên tiếp rơi như những giọt nước, thánh thót mà trầm trầm, nhẹ nhàng ma đau buốt. Người con gái rùng mình lộ vẻ khích động vô cùng. Đột ngột, người con gái đứng lên:
 
- Chị về thôi, chị không thể ngồi đây nữa, như có ai bứt tim chị ra khỏi lồng ngực.
 
Người con trai đứng lên theo:
 
- Em làm chị buồn thêm, giá cứ để băng nhạc vui như hồi nãy. Chị chờ em một chút.
 
Người con trai đến trước quầy nói nhỏ điều gì, người nữ thu ngân ngẩng đầu lên mỉm cười, cô ta thoáng thấy vạt áo vàng lấp loáng của người con gái đang tiến ra gần cửa. Cô ta mở tập phiếu, tìm tìm.
 
Người con gái đứng trước hai chữ Chiều Tím, tóc xõa dài ngước mắt nhìn trời. Những ngôi sao lấp lánh cười, người con gái bất giác nhớ đến một truyện ngắn của Alphonse Daudet. Với đám cưới của những vì sao với nhau, chàng chăn cừu và cô chủ nhỏ bé. Người con gái chớp mắt, một hạt lệ nóng rụng xuống vạt áo. Tình yêu là cái quái gì, tại sao người ta cứ suốt đời khổ lụy vì nó. Tôi mơ những chuyện thần tiên từ nhỏ, cho đến bây giờ tôi vẫn còn mơ. Và giấc mơ thì ngắn, thì chóng tan vỡ hơn một bong bóng xà phòng.
 
Người con trai bước ra, đến cạnh người con gái, giọng trầm trầm:
 
- Mình về, chị An ạ.
 
Hai chiếc bóng đổ dài về phía trước. Sau lưng tiếng hát từ quán nhạc còn mênh mang đuổi theo, người con gái bước chầm chậm, mất hồn. Gió khuya thổi lạnh. Rồi cuộc đời sẽ đi về đâu, ta sẽ sống và tiếp tục những ngày đều đặn như những vòng bánh xe lăn này hoài sao.
 
Nước mắt âm thầm ứa ra từ khóe, người con gái ngửa mặt cười với những giọt lệ thấm trên môi hát se sẽ: Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi, những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa...
 
Người con trai nói, vẻ trách móc: 
 
- Chị lại hát nữa rồi.
 
Người con gái chợt bật cười, tiếng cười có vẻ man dại lẫn thích thú: 
 
- Chị thích thế, chị muốn hát thật to.
 
Người con trai lắc đầu thở dài. Người con gái mắt long lanh nhìn thẳng phía trước, chúm môi huýt một điệu sáo miệng, âm thanh còn non nớt, cao và rè.
 
- Chị đừng huýt sáo nữa, chị An.
 
Người con gái có vẻ bướng bỉnh, nhưng nốt nhạc lên đến một độ quá cao, tiếng sáo tắt nghẹn. Người con gái cắn chặt lấy môi, một giọt nước mắt rơi xuống má, lăn tròn. Buồn như một tiếng thở dài của đêm tối.
 
 
ĐAN HOÀNG         
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 120, từ 1-11 đến 15-11-1973)
 
 

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2026

HỒNG HÀ - Nguyễn Thanh Trịnh


Có một số người thuở nhỏ rất thông minh nhưng càng lớn lên càng ngu, tôi là một người ở trong số những người hiếm hoi đó. Đáng buồn thay!
 
Thuở nhỏ tôi không phải là thần đồng (nếu là thần đồng chắc các bạn đã biết tiếng tôi hết rồi, khỏi cần giới thiệu lôi thôi) nhưng chắc chắn tôi-con-nít-ngày-xưa đã thông minh hơn tôi-người-lớn-bây-giờ rất nhiều. Tại sao có trường hợp lạ kỳ vậy há? Đêm đêm nằm vắt tay lên trán tôi vẫn thường bị mất ngủ vì không giải đáp nổi thắc mắc đó.
 
Bạn thấy chưa, khi nằm ngủ mà đầu óc vẫn còn phải thắc mắc này nọ, chỉ điều nhỏ nhặt đó thôi cũng đủ chứng tỏ tôi ngu hơn xưa rất nhiều. Ngày xưa tôi đâu có vậy, tôi đã ngủ khì ngay khi chưa đến giờ đi ngủ. Tôi thường gục đầu kéo một giấc đã đời ngay trên bàn học và buổi sáng hôm sau khi má tôi đánh thức dậy, tôi mới hay mình đang nằm trên giường.
 
Vì tánh dễ ngủ đó nên tôi bị học "đúp" năm lớp Nhất, đến năm 12 tuổi tôi mới thi vào lớp Đệ Thất trường công lập. Đấy là một cuộc thi khá gay go, "một chọi bẩy" vì nhà trường chỉ lấy 300 học sinh trúng tuyển trong số 2.100 học sinh dự thi.
 
Mặc dù chính tôi cầm giấy bút đi thi chứ không phải bố mẹ tôi vậy mà bố mẹ tôi có vẻ run hơn tôi nhiều. Buổi sáng trước khi tôi đến trường thi, biết tánh tôi hay ngủ gục, mẹ tôi căn dặn: "Con đừng ngủ trong phòng thi nghe, ngủ ở đó nóng lắm. Con rán thức làm xong bài rồi về mẹ quạt cho con ngủ". Bố tôi thực tế hơn (người ít tin vào lời nói vì cho rằng lời nói thường bay đi) nên ông dẫn tôi đi uống cà phê ở một quán cóc đầu ngõ. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được thưởng thức hương vị cà phê đen và cũng từ đấy tôi bắt đầu nghiện uống cà phê đen luôn.
 
Kết quả kỳ thi đã làm bố mẹ tôi đứng tim nhưng tôi thì hãnh diện lắm lắm. Tôi đỗ thứ ba (bạn thấy tôi giỏi không) trong số ba người đỗ dự khuyết. Tôi nghĩ người giỏi là người đỗ thủ khoa nhưng người thông minh phải là người đỗ chót vì người đó biết cách làm bài chỉ đủ điểm đỗ là ngừng. Biết cách làm bài khiến giám khảo không thể nào đánh rớt được thế mới tài. Đỗ cao làm gì cho mệt. Thầy giáo tôi đã dạy rằng: "Càng cao danh vọng càng dầy gian nan".
 
Bạn thấy chưa, ngay thuở nhỏ tôi đã hiểu được ý nghĩa thâm thúy của câu nói đó nên tôi đã biết chối từ danh vọng. Ấy thế mà lớn lên tôi lại thích gian nan mới ngu chứ. Làm việc gì tôi cũng hì hục cố đạt cho được hạng "nhất thống sơn hà" mới vừa lòng. Do đó tôi đã bị nhiều người ghen ghét nhất, nhiều người hãm hại nhất vì vậy mà tôi trở thành kẻ ngu nhất.
 
Nhưng mấy chuyện ngu đần lẻ tẻ đó đâu có nhằm nhòi gì nếu so sánh với chuyện ngu đần vĩ đại của tôi sau đây.
 
Cũng năm 12 tuổi đó tôi được biết Hồng Hà. Hồng Hà nếu chỉ là tên con sông phát nguyên ở miền núi Vân Nam dài 1.200km, có hai phụ lưu chính là sông Đà ở hữu ngạn và sông Lô ở tả ngạn, có phù sa đỏ ngầu, chảy ngang Hà Nội và đổ ra vịnh Bắc phần... Như vậy thì Hồng Hà muốn chảy đi đâu thây kệ Hồng Hà chẳng ăn nhậu gì đến tôi. Nhưng Hồng Hà còn là tên của một con bé nữa, đó mới là điều khốn khổ cho tôi.
 
Thi đỗ vào trường công lập, tôi được xếp vào học lớp Đệ Thất A3 và ngồi ngay sau lưng một con bé Bắc kỳ tên Hồng Hà. Hồng Hà rất giỏi toán nhưng vẽ thì dở ẹc. Con bé vẽ hai đường song song bao giờ cũng gặp nhau nếu chịu khó kéo dài ra một chút nữa. Còn vẽ vòng tròn dù có dùng compas, con bé vẽ vẫn giống như quả đất ở giữa thì tròn hai đầu hơi dẹp. Trái lại tôi vẽ rất giỏi nhưng toán thì dốt đặc cán mai. Tôi có thể xoay chuyển vở một vòng là đã vẽ xong một vòng tròn như trăng rằm và không cần dùng thước kẻ lôi thôi tôi vẫn vẽ được hai đường song song chẳng bao giờ gặp nhau dù cho bạn có mỏi tay kéo dài hai đường đó đến vô cực. Chính vì có những tài năng trái ngược đó mà chúng tôi bị bắt buộc phải thân với nhau, để cùng nhau cộng tác làm những bài toán giải đúng và đẹp.
 
Gia đình Hồng Hà ở cùng trại định cư của người Bắc với gia đình tôi. Mặc dù nhà chúng tôi cách xa nhau (người ở đầu trại kẻ ở cuối trại) nhưng hai gia đình vẫn quen biết nhau như thường vì bố tôi cùng quê với bố Hồng Hà và hai người thường gặp nhau để kể lể "chuyện đời xưa". Tuy vậy Hồng Hà và tôi chỉ biết nhau khi học chung một lớp và chỉ thân nhau khi Hồng Hà thường đến nhà nhờ tôi vẽ giúp các hình toán học, vạn vật, địa lý và các mẫu thêu vì tôi nổi danh là "Định họa" mà lị.
 
Một buổi tối trong khi đang cặm cụi vẽ hình những con tương cận với con ếch cho Hồng Hà thì con bé từ ngoài vườn chạy vào vỗ vai tôi:
 
- Định ra vườn Hà chỉ cho xem cái này đẹp lắm.
 
- Để Định vẽ cho xong cái miệng con cóc đang kêu đã, từ nãy giờ cứ vẽ hỏng hoài.
 
- Để đó chốc nữa vẽ tiếp. Định ra xem mau lên.
 
Không cho tôi phát biểu ý kiến, con bé giựt cây bút chì ra khỏi tay tôi rồi kéo tôi đi. Phía sau nhà tôi có một khu vườn trồng đủ các loại rau mà người Bắc ưa thích như: rau đay, mồng tơi, húng chó, tía tô, thì là, cải cúc... Đêm đó trăng rất sáng và tôi nhìn thấy rõ những cánh hoa rau thì là nở trắng lấm tấm như những hạt cát. Nhìn quanh vườn chẳng thấy có gì lạ, tôi quay lại hỏi con nhỏ:
 
- Hà nói cái gì đẹp đâu?
 
- Định không nhìn thấy à?
 
- Định chẳng thấy cái gì ăn được ngoài cây ớt chưa chín mà.
 
- Bộ cứ cái gì ăn được mới đẹp sao?
 
- Phải. Định thấy con gà luộc đẹp hơn con Liên hoa hậu lớp mình nhiều.
 
- Thôi "ông", nhìn kia kìa. Đẹp không? 
 
Tôi nhìn theo tay con bé chỉ ra góc vườn. nơi có cây hồng bạch đang trổ bông trắng xóa. Dưới ánh trăng cây hồng trông giống như một cụm mây bay vướng vào hàng rào kẽm gai. Cây hồng đó do một bà dì ở Lâm Đồng đem xuống cho tôi trồng, không phải để làm cảnh mà để làm thuốc chữa bệnh ho gà kinh niên của tôi. Mỗi khi lên cơn "hụ hụ", tôi phải chạy ra vườn hái vài bông hồng bạch đưa cho má tôi chưng với cam thảo và đường phèn, chỉ cần uống một bát thuốc như vậy là cơn "hụ hụ" trong tôi chấm dứt ngay.
 
Chắc bạn cũng đã rành bệnh ho gà là bệnh gì rồi phải không? Vậy tôi khỏi cần phải kê khai bệnh trạng ra đây. Tôi chỉ nói cho bạn biết là mắc bệnh đó bạn không đau đớn gì nhưng bạn sẽ làm cho người khác bực mình ghê lắm. Đêm đêm nằm ngủ bạn cứ lên cơn "hụ hụ" như tiếng gà gáy đánh thức người ta thì đố ai mà ngủ nổi. Chính mẹ tôi là người thương yêu tôi nhất nhà vậy mà bà cũng phải cho tôi nằm ngủ riêng một mình ở dưới bếp. Bạn biết không tôi ho "hụ hụ" to đến nỗi mấy con gà ở trong chuồng gần bếp đều bị mất ngủ và chết dần mòn khiến má tôi sợ hãi phải dọn chuồng gà đi nơi khác gấp.
 
Bạn đã hiểu sơ qua về bệnh ho gà rồi chắc bạn sẽ thông cảm với tôi, không phiền trách tôi khi biết tôi coi cây hồng bạch như vị "cứu tinh ho gà" và sẵn sàng bảo vệ nó đến "cơn ho gà cuối cùng". Cho nên khi nghe Hồng Hà nói:
 
- Cây hồng bạch đẹp quá, cho Hà cây hồng đó nghe.
 
Tôi hét lên:
 
- Cho cái chổi cùn. 
 
Con bé cười cười nhìn tôi một cách rất ngây thơ vô (số) tội.
 
- Định không thương Hà à?
 
- Thương Hà làm quái gì. hà có giúp Định hết ho gà không?
 
- Nhưng Hà giúp Định làm toán khỏi bị dê-rô.
 
- Định không sợ dê-rô. Định chỉ sợ ho "hụ hụ".
 
Con bé chớp chớp mắt:
 
- Hà sẽ nghỉ chơi với Định.
 
- Nghỉ thì nghỉ chứ ai cần, Định sẽ chơi với con Thu con bác Sơn bán cà phê ở đầu ngõ.
 
Con bé bặm môi, mắt rươm rướm nước mắt rồi bật hét lên như còi xe chữa lửa.
 
- Con Thu bị ghẻ ruồi. Nó sẽ lây bệnh sang Định, cho chết luôn.
 
Hồng Hà bỏ chạy vào nhà lấy vở đi về, tôi vẫn đứng yên ở vườn tâm thần mê mẩn vì đã khám phá ra một chuyện bí mật. Không phải chuyện "con Thu bị ghẻ ruồi" đâu, tôi đã nghĩ ra cách muốn vẽ miệng con cóc đang kêu cho thật linh động tôi chỉ cần vẽ theo cái miệng Hồng Hà lúc con bé hét lên là đúng ngay boong.
 
Bạn thấy chưa, ngay khi tôi còn bé tôi đã dư thông minh để biết coi thường ánh mắt, nụ cười, nước mắt con gái. Những thứ đó tuy vớ vẩn nhưng cũng đã khiến cho ông Adam bị "sút" văng khỏi Thiên Đàng và khiến cho biết bao nhiêu ông vua ở hạ giới bị "sút" văng khỏi ngai vàng. Bây giờ chẳng cần phải ánh mắt, nụ cười, chẳng cần người đẹp ban cho cái móng chân để làm kỷ niệm tôi cũng sẵn sàng bắt chước Tỉ Can móc tim mình dâng cho nàng ngay chứ đừng nói gì dâng cây hồng bạch vớ vẩn đó. Đấy bạn xem, tôi-người-lớn có ngu không chứ!
 
Trại định cư của chúng tôi ở bên bờ một con sông nhỏ. Mỗi chiều tôi thường ra sông tắm và đợi đến khi bữa ăn tối ở nhà đã dọn xong, tôi mới lò dò trở về nhà để khỏi bị mẹ tôi sai vặt. Một buổi chiều đang thả nổi mình trôi theo giòng nước tôi nghe có tiếng khóc ré lên, nhìn lên bờ thấy Hồng hà đang đánh cô em gái, tôi vội bơi vào bờ.
 
Cả tuần nay hai đứa tôi giận nhau. Không có con bé cộng tác làm toán chung tôi đã bị một con dê-rô trong vở bài tập nên "hầm hơi" lắm lắm và chỉ đợi dịp gây lộn với con bé. Sẵn dịp này tôi vội nhào đến can thiệp:
 
- Hà không được đánh em Hà. Thầy giáo đã dậy "chúng ta không được hà hiếp kẻ yếu đuối".
 
Con bé giở giọng người lớn nói:
 
- Tôi đánh em tôi, chứ tôi đánh em ông đâu mà ông nói. 
 
- Em của ai cũng vậy. Thầy giáo đã dậy "anh hùng thấy chuyện bất bình chẳng tha". Hà mà đánh em Hà nữa, tôi đánh Hà liền.
 
Con bé tát ngay vào mặt cô em cái bốp rồi đứng chống nạnh nhìn tôi thách đố.
 
- Đố ông đánh tôi đấy.
 
- Đánh ngay chứ sợ à. Nhưng Hà không được mách bố Định mới là "anh hùng".
 
Không đợi con bé trả lời có chịu làm "anh hùng" hay không, tôi cũng đấm ngay vào bụng con bé cái hự rồi bỏ chạy. Trong khi tôi lo đi trốn thì Hồng Hà đã chạy đường tắt về nhà mách bố mẹ tôi. Vì vậy tối đến vừa thấy tôi bước chân vào cửa (mặc dù tôi đã giả vờ lên cơn ho gà ho "hụ hụ") bố tôi vẫn túm áo tôi, kéo lên phản nằm rồi quất roi mây túi bụi.
 
Bạn thấy chưa, ngay khi còn bé tôi đã sáng suốt biết bênh vực những kẻ "thấp cổ bé miệng", và sẵn sàng đánh con gái bằng "quả đấm" đàng hoàng. Còn bây giờ gặp chuyện như trên chắc tôi sẵn sàng giúp cô chị bạt tai cô em mấy cái cho nàng đỡ mỏi tay. Tôi cũng chẳng còn can đảm đánh con gái bằng "đóa hồng". Tôi chỉ có can đảm đưa tấm thân "tuổi ngựa" của tôi cho nàng hành hạ mà thôi. Thế mới ngu chứ!
 
Bị ăn bữa "cháo lươn" mập mình, buổi sáng hôm sau gặp Hồng Hà ở trường tôi liền sỉ vả con bé:
 
- Hà là một con hèn.
 
- Ai bảo Định đánh Hà đau làm chi.
 
- "Anh hùng" phải rán chịu đau, không khóc than, không đi mách bố người ta.
 
- Định nói sai rồi, con gái không là "anh hùng", con gái chỉ là "liệt nữ".
 
Chắc tối qua con bé thức suốt đêm ngồi tra tự điển Hán Việt nên mới rành nghĩa hai chữ đó để "sửa lưng" tôi, tôi nổi sùng cãi bướng:
 
- "Liệt nữ" cũng vậy. Ngày xưa Hai bà Trưng bị quân Tầu đánh cũng đâu có khóc than và đi mách bố quân Tầu.
 
Con bé đuối lý, bĩu môi:
 
- Định chỉ tài bắt nạt con gái, có giỏi Định đánh thằng Hùng đi. Hà thách đó.
 
Thằng Hùng trưởng lớp tôi, nhà nó cũng ở trại định cư và ở gần nhà Hồng Hà. Nó to con và cao lớn hơn tôi nhiều vì đã 15 tuổi nhưng được bố mẹ khai sụt tuổi để thi vào trường công. Mặt nó đầy mụn trứng cá đỏ sần nên có biệt danh là "Hùng sùi". Nghe Hồng Hà thách đố, tôi nổi máu anh hùng chẳng còn biết Hùng sùi là ai nữa. Tôi nói:
 
- Định đánh thằng Hùng ngay. Hà cá cái gì?
 
- Định đánh thắng thằng Hùng, Hà chịu mất 5 đồng. Còn Định thua thì sao?
 
- Chịu mất hai hòn bi sứ.
 
- Hà đâu thèm chơi bi.
 
- Một ná cao su bắn chim giọng đồng.
 
- Không đáng một đồng.
 
- Vậy Định sẽ để Hà đấm ba cái vào lưng.
 
- Đấm Định thêm mỏi tay.
 
- Chớ Hà muốn gì?
 
- Cây hồng bạch của Định.
 
- Trấu xay. Nghèo mà ham. Cây hồng bạch đáng giá 100 đồng.
 
- Vậy Định cắt một cành hồng cho Hà đem về trồng.
 
- Còn lâu, một cành hồng đáng giá 10 đồng.
 
- Định không chịu thì thôi.
 
Con bé lững thững bỏ đi, tôi đứng lại phân vân suy nghĩ. Chắc bạn cũng biết 5 đồng cách đây 17 năm lớn lắm. Chỉ cần 5 cắc bạn có thể uống được một ly cối cà phê đen tha hồ bỏ đường. Năm đồng đối với một thằng bé ở trong trại định cư nghèo khổ như tôi lúc đó quả là một món tiền vĩ đại. Tôi chỉ có được số tiền ấy mỗi năm một lần vào dịp Tết khi cộng tiền lì xì của tôi với tiền lì xì tôi ăn cắp của mấy đứa em. Có 5 đồng tôi sẽ tha hồ mua đồ ăn (tôi không thích đồ chơi, tôi chỉ thích đồ ăn) như bánh rán, kẹo kéo, bánh bao, thịt bò khô, táo tầu, xoài dầm cam thảo, bánh đa phết mật... Ối giời! Có 5 đồng tôi sẽ mua tất cả các hàng quà rong quanh trường. Nghĩ vậy tôi chạy theo Hồng Hà nói chấp nhận cuộc đánh cá và hẹn con bé 5 giờ chiều ra bờ sông xem tôi đánh Hùng sùi vì Hùng sùi cũng thường ra sông tắm giờ đó.
 
Nhưng Hùng sùi không phải là thằng vô hình. Chỉ cần đợi đến khi xếp hàng vào lớp là tôi biết ngay nó thật sự có hiện diện ở cõi đời này còn chắc chắn hơn bánh rán, kẹo kéo, bánh bao nhiều. Nó đứng trên hành lang như một ông tướng giơ tay làm hiệu cho học sinh lớp tôi xếp hàng hai, bên nam, bên nữ, nhỏ trước lớn sau. Đứa nào lộn xộn nó cú lủng đầu ngay bất kể gái trai. Tôi còn đang mê mẩn tính nếu có 5 đồng mình sẽ mua những đồ ăn gì thì Hùng sùi cú vào đầu tôi cái cốc khiến mọi đồ ăn đều văng ra ngoài. Nó hét lên:
 
- Mày to đầu phải đứng ở dưới biết chưa?
 
Bây giờ tôi mới biết Hùng sùi mạnh và hét to hơn tôi nhiều. Điệu này chắc tôi sẽ chẳng được 5 đồng mà còn bị ăn đòn no và mất thêm một cành hồng. Nhưng may thay đầu óc thông minh của tôi đã hoạt động và hiến cho tôi một mưu kế thần sầu.
 
Ngay khi ra chơi tôi gặp riêng Hùng sùi để thương thuyết. Tôi kể cho nó nghe mọi chuyện và nói nếu nó chịu giả vờ đánh thua, tôi sẽ chia cho nó 2 đồng. Hùng sùi lắc đầu:
 
- Mày khôn bỏ mẹ. Mày đánh tao sướng tay lại được con Hồng Hà phục vậy mà còn được 3 đồng, đâu dễ dàng vậy. Tao phải được 3 đồng nếu không tao đánh mày gục luôn.
 
- Mày đánh tao gục, mày cũng đâu được đồng nào. Con Hà nó đâu có đưa tiền cho mày.
 
- Nhưng tao sẽ làm mày mất một cành hồng và tao sẽ đấm mày đến khi nào mỏi tay mới thôi.
 
Nghe nó dọa "đấm mỏi tay mới thôi" khiến tôi phát hoảng. Nó mà đấm tôi kỹ như vậy chắc tôi phải nghỉ học một tuần là ít. Tôi đành chấp nhận đòi hỏi của nó, thà tôi được 2 đồng còn hơn chẳng có xu nào. Tuy vậy Hùng sùi còn dặn:
 
- Mày đấm tao nhẹ nhẹ thôi nghe. Mày đấm mạnh là tao cáu sườn không "bảo đảm sinh mạng" mày đâu.
 
Dĩ nhiên trong trận "Long Hổ sát đấu" buổi chiều đó tôi đã toàn thắng Hùng sùi. Tôi chỉ đấm một cú nhẹ vào bụng nó vậy mà nó đã ôm ngực la: "Ối giời! Bị dập phổi rồi. Tao phải đi nhà thương gấp" rồi nó chạy biến đi mất. Hồng Hà móc túi đưa tôi 5 đồng, mặt con bé như cái bánh đa nhúng nước nhưng đôi mắt con bé nhìn tôi có vẻ khâm phục sức mạnh vô biên của tôi lắm lắm.
 
Bạn thấy chưa, ngay thuở nhỏ tôi đã biết liên kết với bạn bè "moi tiền" con gái tiêu chơi. Còn bây giờ không những tôi sẵn sàng moi tiền của thằng bạn thân nhất mà còn sẵn sàng moi tiền của bố mẹ tôi và của chính tôi để dâng cho bất cứ người đẹp nào, thế mới ngu chứ.
 
Suốt ba ngày sau không thấy Hồng Hà đến lớp học, tôi nghĩ chắc con bé tiếc 5 đồng nên không muốn nhìn mặt tôi. Mãi đến khi bố tôi cho biết Hồng Hà bị bệnh thương hàn và bảo tôi đến thăm, tôi mới chịu khó cuốc bộ đến nhà con bé ở cuối trại định cư.
 
Mẹ Hồng Hà dẫn tôi vào một căn phòng được che kín bằng những màn vải có hoa lớn mầu vàng. Con bé nằm im trên giường, mắt nhắm lại, mặt xanh lè, mồ hôi vã ra ướt đẫm cả tóc vậy mà con bé vẫn phải trùm chăn đến cằm. Khi mẹ Hồng Hà bận ra ngoài để coi siêu thuốc bắc, tôi đến ghé bên con bé gọi nhỏ:
 
- Hà. Hà, cho Định mượn vở tập toán nghe.
 
Con bé mở đôi mắt lờ đờ nhìn tôi hỏi:
 
- Ai đấy?
 
- Định họa đây.
 
- Vậy mà tưởng Hùng sùi.
 
- Bộ mặt Định nổi nhiều mụn trứng cá lắm hả?
 
Con bé cười không trả lời trông dễ ghét lạ. Nếu không sợ kỳ tới thầy giáo gọi tôi lên bảng trả bài tập toán, chắc tôi sẽ cầu trời cho con bé ốm chết luôn cho bõ ghét. Tôi hỏi:
 
- Vì tiếc 5 đồng nên Hà ốm phải không?
 
Con bé lắc đầu rồi đột nhiên ôm ngực ho "hụ hụ". Mặt con bé đỏ gay như người say rượu và lăn lộn trên giường giống hệt tôi mỗi khi lên cơn ho gà. Tự nhiên tôi thấy thương con bé lạ. Một lúc cơn ho dứt, con bé nhìn tôi nói:
 
- Định cho Hà một cành hồng bạch nhé.
 
Tôi định hét "Trấu xay" nhưng nghĩ đến cơn ho vừa qua của con bé tôi đổi ý nói:
 
- Được rồi tối nay Định sẽ đem đến cho Hà một cành hồng. Bây giờ Hà cho Định mượn vở tập toán của Hà đi.
 
Con bé mừng rỡ cố nhổm dậy giơ tay chỉ:
 
- Vở tập toán Hà để ở bàn kia kìa, Định lấy đi. Tối Định nhớ đem cho Hà một cành hồng bạch thật nhiều bông nghe. Hà sẽ nhờ mẹ trồng nó ở góc vườn và khi khỏi bệnh Hà sẽ chăm sóc nó kỹ càng hơn. Định nhớ đem đến sớm nghe, Hà đợi đó.
 
Buổi tối ăn cơm xong tôi cầm dao ra vườn chặt cho Hồng Hà một cành hồng nở đầy bông trắng. Sợ mẹ mắng về tội "chặt vị cứu tinh" nên tôi không dám cầm cành hoa đi ra cửa trước mà phải chui hàng rào phía sau vườn rồi chạy đến nhà Hồng Hà. Gần đến nhà con bé, tôi gặp Hùng sùi đứng chống nạnh ở giữa đường. Nó hỏi:
 
- Mày đi đâu đó Định họa?
 
- À trời nóng quá, tao đi lòng vòng cho mát.
 
- Xạo ke, mày đến nhà con Hà phải không?
 
- Ừ... nghe nó ốm tao định đến thăm.
 
- Mày cầm cành hồng cho nó hả?
 
- Sức mấy mà cho. Nghe nó bị ho gà nên tao đem đến bán. 
 
- Xạo ke, người ta bán hoa thôi chứ ai bán cả cành. Mày định cho con Hà để nó trồng trong vườn phải không?
 
- Bố tao nói đem tặng bố nó một cành hồng để trồng làm cây cảnh.
 
- Xạo kẻ, mày "mết" con Hà nên đem cành hồng tặng nó còn bày đặt nói nọ nói kia. Sáng nay đến trường tao sẽ nói cho tụi nó biết mày là thằng "gà mái ướt", "Gà mái ướt" mới đi "mết" con gái.
 
Bị gọi là "gà mái ướt" tôi cảm thấy nhục nhã ghê gớm. Tôi hét lên đính chính:
 
- Tao "mết" con Hà hồi nào, tao ghét nó như ghét ông thầy dậy toán. Tao định đem cành hồng đến lêu lêu cho nó thèm chứ còn khuya tao mới cho nó. Mày xem đây.
 
Tôi quăng cành hồng xuống đất rồi dẫm nát những đóa hồng trắng dưới đôi guốc mộc. Hùng sùi vỗ tay reo:
 
- Mày đúng là thằng "gà tồ". Tao xin lỗi mày nghe, giờ tao đãi mày đi ăn thạch chè.
 
Hùng sùi quàng tay quanh vai tôi kéo đi. Được gọi là "gà tồ" tôi nở mũi sung sướng mặc kệ cho Hồng Hà đợi chết luôn.
 
*
 
Mười bảy năm đã trôi qua, trôi qua. Bây giờ tôi đố bạn Hồng Hà hiện đang ở đâu đấy? Chắc bạn nói nàng đang ở trong nghĩa địa và "mồ xanh cỏ" rồi chứ gì.
 
Xời! Nếu được như bạn nói thì thật "phúc đức bẩy mươi đời" cho tôi. Chẳng cần phải ở nghĩa địa, Hồng Hà ở bất cứ chỗ nào trừ nhà tôi, tôi cũng sung sướng lắm lắm. Nhưng khổ nỗi hiện giờ nàng đang ở trong nhà tôi đấy bạn ạ. Điều đó chưa có gì kinh khủng lắm đâu nếu bạn còn biết rằng Hồng Hà hiện đang là "nhà tôi", thế mới thảm chứ. Tôi thật xứng đáng được bạn phân ưu phải không?
 
Có một số người thuở nhỏ rất thông minh nhưng càng lớn lên càng ngu, tôi là một người ở trong số những người hiếm hoi đó. Biết làm sao bây giờ?
 
 
NGUYỄN THANH TRỊNH       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 146, phát hành ngày 20-10-1974)
 
 

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

PHIÊN KHÚC - Khuê Việt Trường


Đôi mắt chàng thật tròn, đôi mắt nai. Đôi môi chàng thật ngọt. Mái tóc chàng thật cao. Và tâm hồn chàng thật bình dị. Ngoài kia, sóng mải mê tấu những nhạc khúc cho đời buồn tênh. Biển xanh ngập mắt những hẹn hò cho mùa hạ hạnh phúc. Hạnh phúc có mặt trên cùng khắp những chân bước của chàng, trải rộng trên cây cỏ, rộn rã trên cành phượng rực hoa. Hạnh phúc nằm trong mắt, khi mắt mở nhìn những tà áo trắng, tóc thề ngang vai tan học thả dài trên những con đường. Nhà chàng có trồng một cây hoa giấy đỏ, đến mùa, hoa tưng bừng rơi rụng, hoa nổi bật niềm vui. Nhà chàng là một cái mốc, cho mỗi sáng đi ngang, cho mỗi chiều cúi mặt. Nha Trang vẫn hoài mưa nắng, chân bước vẫn hoài khua vang trên hè những ngọt lịm nhớ mong. Nha Trang vẫn hoài cô đơn, trong bóng nghiêng chàng bước, nắng rọi hắt hiu không một bóng cây trên con đường Độc Lập nằm giữa lòng phố chính.
 
Chàng không biết hút thuốc. Nhưng một ngày kia chàng tập tành cầm trên tay điếu thuốc, những cụm khói trắng được nhả và tan loãng - người ta thường bảo, những điếu thuốc đầu thường biểu hiện cho những buồn rấu - chàng buồn? Những sợi thuốc lẩn tan như mây trời êm ả, như ngày tháng đi qua - và từ đó, Tịnh đã bắt gặp chàng với những điếu thuốc của một người lớn. Điếu thuốc của người lớn, đó là con chim Tịnh bỏ quên niềm vui thánh thiện để lao đầu vào giông tố, có bao giờ người tưởng người được bình yên khi người vẫn bận rộn với chính những đơn giản của mình.
 
Chàng khó hiểu quá, vô cùng khó hiểu. Chàng như một đảo lạ, mà Tịnh phải đứng tận bên này bờ để tìm hiểu. Chàng thật lạ lùng trong tình yêu. Tịnh không hiểu gì thêm về chàng ngoài tâm hồn chàng: đơn giản và đam mê.
 
Chính trong cái đam mê một thời chàng như con ngựa bất kham chạy nhanh trong gió, không ngừng. Chàng leo mãi. Chàng yêu cuồng nhiệt và chính chàng cũng dửng dưng vô cùng. Tịnh cũng thế, tự bao giờ chính Tịnh cũng đã tham dự vào phần đam mê của chàng. Tịnh yêu những đóa hoa lan yếu ớt chàng chăm sóc trong chính khu vườn nhỏ của chàng. Tịnh yêu niềm im lặng của chàng khi hẹn gặp. Ba tháng yêu nhau, chàng đã dạy Tịnh thật nhiều điều.
 
Chàng dạy Tịnh về tính nhẫn nại. Em sẽ mất tất cả nếu em không biết kiên nhẫn. Tịnh chu môi. Tình yêu là một cuộc đuổi bắt. Nhưng riêng anh, anh ghét tham dự những trò đuổi bắt, bởi vì, khi có sự tham dự thì sẽ thua hoặc thắng, anh không thích là kẻ thua hoặc thắng. Nhưng anh yêu em. Em cũng yêu anh vô cùng. Chàng hay đến sai giờ hẹn, chàng bắt Tịnh đợi chờ. Và lúc nào cũng vậy, lời chàng thật ngọt. Tha tội cho anh, anh sẵn sàng tạ tội. Tịnh không còn con nít nên Tịnh không bao giờ giận chàng. Mắt chàng tuyệt diệu, nhìn sâu. Ở đó, đời đã rộn ràng, tuổi đã xôn xao. Thấy hết những bình yên cho cơn mưa đầu mùa chưa ướt đất. Nghe hết những chim hót rộn ràng suốt một đời mở mắt yêu thương.
 
Chàng dạy Tịnh về sự tin cậy. Đối với người, với mình, không có ai là kẻ giả dối, chỉ có kẻ tin cậy. Tịnh ngoan cố. Anh tin người có ngày còn manh áo rách. Thà người phụ mình còn hơn mình phụ người. Tay chàng vuông vuông vẽ vời hạnh phúc. Thà em phụ anh chớ anh không bao giờ phụ em. Tịnh ngoe nguẩy. Hãy tập tin cậy người, anh vừa dạy em điều đó. Chàng hôn nhẹ lên tóc Tịnh, nụ hôn nhẹ đủ làm Tịnh xôn xao. Chàng không là gì cả nhưng chàng đã là tất cả.
 
Chàng còn dạy Tịnh rất nhiều điều. Chẳng hạn như về tính bình tĩnh, tính nhân ái. Ba tháng, thời gian không dài nhưng Tịnh đã đổi khác rất nhiều, từ khi chàng đã là mặt trời cho hướng dương hoa nhỏ xoay vần dõi trông.
 
Bây giờ là mùa Hạ. Mùa Hạ cuối cùng của chàng ở thành phố. Mùa Hạ cuối cùng của Tịnh còn mỗi ngày ôm cặp tới trường nghe tiếng chuông reo. Mùa Hạ của thời nữ sinh trung học tuyệt vời. Tịnh biết mình sẽ nhớ thật nhiều con đường sẽ xa, nhớ thật nhiều về buổi trưa bỏ học để cùng chàng tung tăng trên bờ cát ướt, chân hai đứa xoắn nhau thật dễ thương, và con sóng nhỏ leo lên xóa tan. Tóc Tịnh bay phả trong mặt chàng, chàng ngậm tóc Tịnh trong miệng. Gió lồng lộng những niềm vui, gió bát ngát những hạnh phúc. Ở bên chàng, Tịnh đã có tất cả. Dù chàng thật tầm thường, chẳng khác con sên nhỏ bốn mùa ngậm nước mải mê theo Tịnh đến cổng trường nhìn Tịnh mất hút nơi dãy hành lang trắng xóa, rồi tiếng chuông reo, những mái tóc, đôi mắt, nụ cười biến hẳn sau những ô cửa kính muộn phiền, những ô cửa kính cũng biết thì thầm của ngôi trường con gái. Chàng im lặng trong chính những dạt dào của sóng nổi trong lòng. Khói thuốc xoáy tròn, lan xa, khói thuốc làm cay xè đôi mắt đang mở rộng nhìn đời. Khói thuốc như sương, tròn khắp - Tịnh yêu vô cùng những vòng khói thuốc lãng đãng trong những lúc đời tuyệt vời nghĩa của nhớ mong.
 
Con thỏ trong vườn sáng mai cắn ngập cỏ và rớt đầy chất ngọt. Mùa Hạ chia xa. Mùa Hạ. Nước mắt không bao giờ Tịnh quên bây giờ là mùa Hạ - mùa Hạ cuối cùng rụng xuống dưới chân những lá vông ngậm ngùi. Con thỏ đã ăn hết cỏ cà rốt ngọt ngào và bỏ đi, không luyến tiếc. Tịnh ơi. Tịnh gọi thầm tên mình trong thảng thốt và ngỡ ngàng khi chàng đến đưa cho Tịnh coi tấm giấy gọi trình diện nhập ngũ. Chàng cười buồn:
 
- Là một sợi dây xích dài lòng thòng đó nhỏ.
 
Tấm giấy nhỏ, màu vàng, con dấu đỏ. Tấm giấy nhỏ, những hàng chữ dấu mực nhạt nhòa, và ngày tháng réo gọi, là cách xa. Tịnh cầm lấy, tay run, chỉ biết đó là những định nghĩa về chia lìa và cách biệt. Những cảm giác về nỗi cách xa, còn mơ hồ, rồi sẽ thật rõ, rõ vô cùng. Tấm giấy nhỏ sao mà có quá nhiều quyền lực. Tịnh cắn môi, nhìn chàng. Mái tóc dài lõa xõa phủ tai, mắt nhìn sâu trong không gian ngan ngát mùi Ngọc Lan. Anh thấy gì không anh? Buổi chiều của thành phố êm đềm, con đường nhựa nghiêng nghiêng nghe kể chuyện bốn mùa. Mùa xuân, mùa nồng của muôn đời mơ ước, tay ngoắt tay chới với không chừng. Hạ, đã đến, phượng tưng bừng đỏ thắm. Hạ, chừng trong mùi biển mặn còn có hơi thở của người tình quyến dụ thiết tha. Chàng đứng đó, sừng sững như tượng mê không hay lá vàng rụng quanh. Chàng đứng đó, mà Tịnh ngỡ chàng đã cách xa. Tiếng nói, không còn là tiếng nói mà là tiếng rung:
 
- Chừng nào anh trình diện? 
 
- Tháng tám, giờ mới là tháng sáu, còn hai tháng nữa.
 
Một bài toán trong đầu. Hai tháng, ba mươi ngày mỗi tháng, sáu mươi ngày. Đó là những chắt chiu, những vụn vặt còn lại quanh đây. Đón lấy, như những ân sũng đời trao tặng, để gìn giữ, kẻo không còn gì ngoài khoảng trời mông mênh.
 
- Nhỏ nghĩ gì thế?
 
Tịnh cười:
 
- Em đang nghĩ về những bánh xe!
 
Chàng trợn mắt: 
 
- Những bánh xe? Sao? 
 
- Những bánh xe của cuộc đời. Cái vòng lẩn quẩn - buồn cười ghê anh nhỉ?
 
- Ừ, buồn cười. Nhưng anh khát nước ghê, nhỏ phải cho anh uống cái gì đi chớ.
 
- Tuân lệnh.
 
Như chim xòe cánh, Tịnh mất hút vào nhà. Ly nước đá chanh thấm giọng. Tiếng nước đá va vào ly kêu lách cách vui tai. Chàng đẩy ly đến trước mặt Tịnh:
 
- Uống chung với anh, nhỏ.
 
Nghịch ngợm, dùng chiếc muỗng với những hạt chanh đọng dưới đáy, Tịnh bỏ vào miệng. Chàng nhăn mặt:
 
- Đắng chết!
 
Thì em đang tập nếm dần những điều đắng cay, chia với anh một chút đắng cay là niềm vui lớn lao của em đó. Nhỏ của anh bé bỏng, nước mắt chóng lăn trên viền mi, biết nhỏ có còn ở bên anh để học hỏi nơi anh những gì quá ngu ngơ.
 
Hai đứa chia nhau uống cạn hết ly đá chanh. Dòng nước mát lan tận trong cơ thể - như nỗi rộn ràng đang xôn xao cùng khắp. Nghe mơ hồ hàng liễu nhỏ đang run. Cầm chiếc hộp quẹt diêm của chàng Tịnh dí mạnh cây diêm vào, ngọn lửa bùng lên rồi tắt, cứ thế, những ngọn lửa hắt hiu vội tàn khi phần diêm sinh cháy hết. Chàng gọi Tịnh:
 
- Nhỏ tính học cái gì đây?
 
- Chánh trị kinh doanh. 
 
- Oai ghê hở nhỏ. Có làm chủ ngân hàng nhớ anh vay tiền với nghe.
 
Tịnh chu môi:
 
- Nhất định không!
 
- Tại sao?
 
- Tại anh cứ kêu người ta là nhỏ hoài.
 
Chàng giả vờ ngã lưng ra sau, không trả lời. Nhưng trong chàng, có hơi thở nào dồn dập, có héo tàn nào đang bắt đầu. Mai này, chiếc ghế này ai sẽ ngồi, ai sẽ nhìn nhỏ trong chiều chầm chậm trôi qua. Mai này, những thứ hai và thứ bảy không còn là ngày, mà là thời gian được trông đợi để đến ngày chủ nhật. Nhỏ ơi, nhỏ sẽ quên anh như đã từng nhớ anh. Đà Lạt đa tình sẽ cuốn hút mất lấy nhỏ của anh. Cái lạnh của Đà Lạt sẽ khiến nhỏ quên anh trong từng bước chân khua sỏi làm cô sinh viên bé nhỏ. Bởi hết rồi quanh đây, những đợi chờ dáng nhỏ trong nôn nao tuổi trẻ. Ơi tóc nhỏ bềnh bồng lồng lộng có ai nghịch ngợm nheo mắt trông mong. Ơi dáng nhỏ yếu đuối cúi đầu đi một mình ôm cặp đi dưới hàng lá vông xanh vô tận. Thành phố có con đường dễ nhớ, con đường anh đã gặp nhỏ, rồi từ đó, nhỏ là những tối cần thiết khó lãng quên nơi anh. Ơi nhỏ của môi hồng nũng nịu dỗi hờn, nhỏ của bàn tay nghịch ngợm khuấy tan ly kem lạnh, nhỏ của đôi tay tìm lấy nhau trong bóng tối của rạp ciné như không thể thiếu nhau. Ơi nhỏ như chim chưa đủ mạnh để nhảy nhót trên cành, đập cánh chuyền bay qua bầu trời mù mịt. Ơi nhỏ, sẽ là gì của nhau trong buổi rã rời không còn hẹn gặp với tay vẫy tay đưa. Một mai này anh sẽ là lính trẻ.
 
- Anh không nói gì với em hết sao?
 
- Anh đã nói hết.
 
- Nói gì?
 
Chàng chồm tới, đôi tay chàng xiết chặt tay Tịnh, như sợ sẽ mất:
 
- Cho anh nghe nhỏ.
 
Đôi môi Tịnh chu tròn, như chữ O, tròn hơn chữ O, cho anh hết đó, cả quả tim đang nhảy theo điệu luân vũ trong lồng ngực này.
 
- Lá thư đầu tiên khi vào quân trường, anh sẽ kể cho nhỏ biết về những cảm giác của anh.
 
- Và ca bài: "Đường trường xa con chó nó tha con mèo"
 
- Thôi nhỏ, chọc anh chi.
 
Mắt chàng thật tròn, đôi mắt nai. Mắt nai nhìn Tịnh - nhìn hoài. Mắt nai ngơ ngác tìm rừng thu dẫm lá. Mây của mùa đã trôi đi không còn sót lại, trời xanh. Tờ lịch rụng đều dù không hẹn những con số. Những con số của chia xa, những con số của mong mỏi. Chàng đã dạy cho Tịnh về sự đợi chờ - em sửa soạn bắt đầu để đợi chờ đó anh, đợi chờ những ngày chủ nhật. Ngoài kia, song cửa nhỏ, con đường vẫn nằm yên đợi chân bước của người.
 
 
KHUÊ VIỆT TRƯỜNG        
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 118, tuần lễ từ 13-9 đến 20-9-1973)
 

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

TÌNH THƠ - Hồ Việt Khuê


 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
mình cách nhau chỉ mấy dẫy bàn
em ngồi bàn nhất, anh bàn năm 
mà sao xa quá xa vời vợi
như là xa cả mấy bến sông
 
sớm tinh sương anh đã đến trường
huỳnh đàn vàng rụng gió thu vương
giả vờ ôn tập anh ngồi đợi
dáng mộng đêm qua đã chập chờn
 
anh vào lớp trễ hơn người ta
nhìn em cho rõ đỡ thấy xa
lúng túng anh làm rơi quản bút
em nhặt giùm cười rất mặn mà
 
em cười duyên má lúm đồng tiền
cho anh về ăn ngủ chẳng yên
anh tháp cho mình hai chân gỗ
ngắm nghía hai tiền trên má duyên
 
lá thư anh để trong hộc bàn
khi vào em để cặp lên trên
giờ chơi hôm ấy còn hai đứa
em nhìn anh ưng ửng má hồng
 
                                  HỒ VIỆT KHUÊ
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 147, phát hành ngày 5-11-1974)
 

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

DẤU THÁNH - Mường Mán


Máy bay đáp xuống phi trường Qui Nhơn, sau hai giờ nhồi đập, luồn lỏi dưới hàng lớp bụng mây trơn tuột. Hành khách nhiều người nôn oẹ ngay khi vừa vượt qua một phần ba đường bay. Mưa tạnh. Chiều ngự mênh mông phi trường trống. Bước xuống, ngạc nhiên thấy mình vẫn tỉnh táo, hình như trước đó anh đã ngủ một giấc ngon vùi, giấc ngủ nối hai thành phố và bất cần mây gió bên ngoài. Anh nhẩn nha nhớ lúc ngủ có mơ gì không. Chịu, không nhớ được. Gió lộng bốn bề, mặt đất lạo xạo sỏi vụn. Cái lạnh ở đây coi mòi hơn Huế một bậc và mấy nhịp. Cái lạnh dễ xui người ta cảm thấy lẻ loi khi đứng nhìn mông lên những chóp núi án ngay trước tầm mắt, mù sương nhạt khói. Anh ngẩn ngơ một phút giữa đám lao nhao cười nói của bọn người đồng hành, nhìn về hướng phố và bước ra khỏi "bầy nhặng" nhốn nháo đó. Chiếc xắc nhẹ hẫng, anh quàng lên vai đeo, dùng một tay níu giữ, tay còn lại thọc sâu vào túi quần ; với tóc bay, anh vừa đi vừa huýt gió như tên đãng tử đích thực. Đó là buổi chiều đầu tiên bước chân anh làm quen cát bụi thành phố em.
 
Con đường dẫn vào phố tương đối ngắn. Anh đi dưới những hàng hiên xa lạ, ném từng tia mắt vào tủ kính những quán hàng, chạp phô, ném lên bất cứ cái gì đụng phải. Sau một lúc do dự, anh đi quành vào công viên, bước lên mấy bậc cấp, đứng giữa căn nhà vuông lợp ngói, ngó mông bốn phía. Vẫn xe cộ, người, tiếng động, bầu khí ẩm ướt. Anh chợt nghĩ mình đã lầm khi bỏ Huế ra đi. Ở đây cũng cảnh vật, cũng cách bài trí phố xá chẳng khác gì Huế mấy tí, nhưng hình như nhạt tẻ hơn và rời rạc hẳn ra, mình chẳng ăn nhập vào nhịp quay trở nào cả. Dường như anh hơi buồn thì phải! Tiếp tục thả bộ dọc dài dưới những hàng hiên, chơi trò chắp vá những ý nghĩ không ra gì trong đầu, có lúc, anh suýt đâm sầm vào người nào đó trên đường, vội vàng xin lỗi, người nọ ngó anh bằng đôi mắt của Chúa Cứu Thế, làm anh suýt nổi giận. Phố lên đèn. Anh bước vào một khách sạn tương đối rẻ tiền, tra chìa khóa vào ổ mở cửa một căn phòng tối mò. Anh lần tay quanh tường tìm nút bật đèn, bật lách tách hai ba cái không thấy đỏ, anh bực bội định xuống tìm gã quản lý khách sạn xài xể một mách, nhưng lười biếng tính đoạn đường, xuống tới tầng dưới, phải đi quả dãy hành lang thẳng, một khúc cầu thang cong, đủ thấy mệt. Nằm trong tối cũng chẳng sao. Anh duỗi dài tay chân như tên chết đuối vừa được vớt ra khỏi nước. Khách sạn với những ồn động riêng của nó. Anh cố không để ý, nghe ngóng gì, tự nhủ mình có thể yên tâm nằm ngủ đến sáng, hoặc ngủ luôn, chẳng bao giờ trở dậy mà chẳng sợ ai tới quấy rầy. Lúc hai mắt đòi ngủ, cái bụng nổi lên gào thét. Đói. Anh chồm dậy. Qua hết khúc hành lang thẳng, quẹo xuống đoạn cầu thang cong, đụng đầu một đứa con gái đứng ở nấc thang thứ sáu. Ả đưa tay vuốt tóc, cười. Nụ cười sáng trắng, đầy răng. Anh chun mũi ngửi mùi nước hoa phả ra từ nắm xương gói trong chiếc áo bông xanh của ả, rồi khua hai tay, ra cái điều (ta đây) vội vã lắm.
 
- Đói và mệt.
 
Anh nói cộc lốc, chẳng cần biết ả nghe thấy không, cũng đếch biết ả cần mình không? Anh đi một mách tới nấc thang cuối, dừng lại trước chiếc bàn kê gần ngách cửa, nói với gã quản lý đầu hói ngồi trong chiếc ghế bành rộng:
 
- Ông ơi, trên kia không có đèn.
 
Gã dời mắt khỏi cuốn sổ, ngẩng lên:
 
- Thưa, phòng mấy ạ?
 
- Phòng 34, lầu 2.
 
Tự dưng, ý định xài xể gã biến đâu mất. Rõ ràng, anh đã nói với gã bằng cung cách hết sức lịch sự. Anh ra đường.
 
Giữa khoảng trống thụt lùi vào góc khuất bên hè đường, nhiều chiếc bàn vuông kê quanh cái xe phở ngút khói. Anh dồn vào bụng thứ nước nóng nổi lềnh bềnh những miếng bột mỏng sợi, thịt và mỡ, uống từng ngụm bia mát lạnh sảng khoái. Đó là tô phở và chai bia thứ nhất anh hưởng thụ ở thành phố em. 
 
Khi cúi xuống bật lửa mồi thuốc, nghe ai đó gọi tên mình giọng lạ hoắc, anh ngẩng lên, đúng lúc bàn tay người nọ vỗ lên vai, hắn đứng lù lù trước mặt. Anh không giấu được niềm vui, vụt đứng dậy, kêu lớn:
 
- A! Thông, mày ở đây hả? 
 
Hắn cười kéo ghế ngồi:
 
- Huế không chứa mày nữa hả?
 
- Mô có, tao tự ý bỏ đi mà.
 
Câu chuyện tiếp nối nồng nhiệt giữa men bia và khói thuốc. Khuôn mặt người bạn đẩy anh lùi xa về mấy năm trước. Anh hơi ngạc nhiên khi nghe hắn nói:
 
- Mày và tao xa nhau cũng gần ba năm.
 
Ba năm? Thời gian đó anh làm gì nhỉ? Ba năm, thằng bạn lưu linh qua bốn, năm thị trấn gì đó, giờ tạm dừng lại nghỉ mệt. Hắn cười hoan hỉ:
 
- Giờ tao khá rồi, có thể nuôi mày, sáng cà phê, trưa chiều cơm nước hẳn hòi, khỏi lo đói.
 
Anh hỏi hắn hiện làm thống chế gì, hắn gật gật cái đầu thưa tóc:
 
- Tí nữa về nhà rồi biết.
 
- Mày có cả nhà nữa à? - Anh ngạc nhiên kinh khủng.
 
- Tại sao không?
 
- Có lẽ thêm một mụ vợ và một bầy con nữa phải không?
 
- Tao vẫn độc thân.
 
Giọng hắn chợt tình cờ buồn bã. Hay chẳng buồn bã tí nào, cái buồn bã chỉ riêng anh tưởng thế cũng nên. Khuôn mặt hắn rắn, sạm dưới ánh sáng phù ảo của ngọn đèn đường từ ngoài hắt vào. Anh thấy ấm cúng khi nghe hắn nhắc vài ba kỷ niệm cũ, với giọng hết sức chân tình cảm động.
 
- Ba năm. Mày đã làm gì?
 
Hắn hỏi và trợn mắt nghe anh bảo chẳng làm gì hết. Lát sau, anh trở lại khách sạn, lấy hành lý, theo hắn về nhà.
 
Căn nhà hai phòng, mặt trước ngăn ra, kê hai dãy tủ kiếng đựng đầy sách, tiểu thuyết, giáo khoa, văn chương, tư tưởng, khoa học, bói số, kiếm hiệp... các thứ báo đặt từng chồng chìa ra ngoài khoảng hiên đìu hiu ngắn. Một tủ kiếng khác, nhỏ, thấp hơn mấy cái kia, đựng những bản nhạc thời thượng, bút mực, dụng cụ văn phòng, vé số kiến thiết. Vẻ sơ sài, nghèo nàn giấu giếm sau mấy xó ngách lấm bụi và màng nhện. Đó là thế giới của Thông. Mỗi ngày, hắn trịnh trọng ngồi sau chiếc quầy gỗ cam tâm, lơ mơ lạnh lùng nhìn ngày tháng trôi qua trên cuốn sổ chi thu, phiếu nhận hàng một cách cần mẫn, chí thú và can đảm. Anh ở lại với Thông một đêm. Sáng hôm sau, xách gói đi nơi khác. Bởi, ngó điệu dáng cần cù của Thông trụ trì sau quầy sách, anh đâm sốt ruột và, cảm nhận sâu xa mối bất ổn nào đó khi chạm mặt bà dì, ông dượng, cô em gái hắn. Thông giới thiệu anh với ông già ở gian kế bên. Anh há hốc mồm nghe hắn giới thiệu anh làm nghề dạy học. Ông già cẩn thận chiêm ngưỡng từ đầu đến chân anh, như thể ngầm đo lường coi anh có bao nhiêu ký lô mô phạm trong người, rồi khẽ gật đầu. Chỗ ở khá tiện lợi, căn nhà có cái gác gỗ, bên dưới dùng làm quán ăn. Anh đi về, ăn uống lúc nào cũng được.
 
Căn gác là nơi thờ phượng gia tiên ông chủ quán, ngay buổi đầu, ông cao giọng khuyến cáo:
 
- Tôi nể cậu Thông lắm mới để thầy ở trên, mong thầy giữ ngăn nắp, sạch sẽ cho.
 
Anh gật đầu, cố vẽ nụ cười phù thủy, xui ông ta yên lòng.
 
Gác khá rộng, có hành làng ngó ra khu vườn phía dưới, bên kia vườn, tiếng máy chạy nước đá nghe rõ mồn một. Đêm đầu tiên, anh không thể ngủ trước tiếng động náo hoạt đó, riết rồi quen, quen tới độ ghiền. Tiếng máy giữa khuya lắm lúc ngỡ in tiếng sóng biển. 
 
Mỗi sớm mai, phố phường còn ngợp trong màn sương bịt bùng, Thông và anh thả bộ đến cái quán cà phê không tên ở bến xe, cách chỗ ở chưa đầy hai trăm thước. Quán cà phê của lão Tàu già, và đứa con gái mười sáu tuổi ốm nhom, có tài cầm một lúc 5 tách cà phê bốc khói trong tay không biết nóng. Ngồi ở đó, tán gẫu đủ thứ chuyện với những người tài xế. Nghe họ kể chuyện đường xa, đèo dốc hiểm nghèo, tai nạn, buôn lậu... Tiếng nói chuyện ngấm trong khí lạnh, tiếng nổ, mùi khói xăng ngầy ngật ấm cúng. Trong không khí ấy, anh tìm thấy sự thoải mái đích thực. Những nét mặt cần lao (đôi khi dính đầy dầu mỡ) cười, nói, chửi thề, văng tục dễ dàng, không có giới hạn nào ngăn cách giữa bọn họ. Khoảng 7 giờ, anh đáp xe lam đến trường, Thông trở về trụ trì sau quầy sách của hắn. Ngôi trường anh theo học nằm trong vạt đất trống trồng toàn dương liễu khá thơ mộng. Mỗi ngày, anh ôm vở đến đó, ngồi nghe những ông thầy luống tuổi giảng luân lý đạo đức ; những đức tính cần thiết, ắt có và đủ, đào luyện cho lớp người làm nghề gõ đầu trẻ trong tương lai. Anh ngồi ở đó và, nhiều lúc chẳng nghe thấy gì hết những lời giảng trơn tru hơn mỡ, trôi tuột ra khỏi trí óc anh hết sức dễ dàng, lao xao mơ hồ, không lượng không phẩm không mùi vị. Dường như, anh nhận ra mình chẳng có cơ duyên gì với cái nghề này. Hay nói cách khác, anh ngầm đồng hóa và coi chỗ lui tới hàng ngày như chỗ để nghỉ chân. Trường cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ ra đường, khỏi lo nhân viên công lực mời vào trại nhập ngũ sớm. Nghề gõ đầu trẻ là nghề cao quí, anh không coi thường nó, nhưng anh nghĩ nó tĩnh quá. Không ai hiểu mình bằng chính mình. Anh tự biết anh là đứa có máu hiếu động. Đó là khoảng thời gian buồn bã nhàm chán nhất thuở anh mới tới cư ngụ ở thành phố em.
 
Bích yêu dấu. Nhớ không? Anh gặp và quen Bích vào những ngày cuối mùa thu. Trời lắm gió, thưa mưa, lửng lơ mây trắng. Anh quen biết Bích qua Diệu. Diệu, bạn của Thông, gọi Thông bằng chú mỗi lần vào quán sách, dáng người nhỏ nhắn, loắt choắt, môi cười tươi và giọng nói mỏng như giấy pelure vò nát. Với dáng dấp đó, anh kết luận: Diệu thật dễ mến.
 
Một buổi sáng nghỉ học. Anh ngồi với Thông sau quầy sách, buồn vui theo những bước hành hiệp giang hồ của đôi trai tài gái sắc Vô Kỵ Triệu Minh. Bích tới mang theo cơn mưa nhẹ, làm nhòa cả nhan sắc "nguyệt thẹn hoa nhường" của Triệu Minh. Anh bỏ rơi Vô Kỵ, bỏ rơi Triệu Minh, ngẩng nhìn và, không thể rời khuôn mặt sáng trăng vừa bắt gặp. Đôi mắt đen xếch, hai mớ tóc úp mở hững hờ, phút ấy anh mơ hồ tiên cảm tâm hồn mình sẽ bị đóng chặt trong hai dấu ngoặc đơn (Hai dấu ngoặc đơn, chính là hai mớ tóc úp mở hững hờ của Bích đó. Biết không?) Diệu liến thoắng cười nói. Bích chạm cái nhìn chiêm bái nóng nảy của anh, bèn giận dữ gom hết ngôn ngữ trên trái đất thành một câu lí nhí:
 
- Lấy cho Bích cuốn Hóa học, chú Thông.
 
Mưa chẳng nhẹ nhàng quấn quít bằng giọng nói hôm ấy của Bích đâu. Anh bảo đảm thế. Và, cũng hôm ấy, anh đoan quyết, chưa có gã trai nào chóng si tình, ngơ ngẩn bằng anh, khi Bích kéo tay Diệu bước mau ra khỏi hiên quán.
 
Thông nhìn anh, đùa:
 
- Nửa hồn mày dại khờ rồi à?
 
Rõ ràng, hắn đã bắt quả tang vẻ ngơ ngẩn đìu hiu của anh, anh đành cười lấp liếm:
 
- Nếu biết sáng nay có nàng tới mua cuốn Hóa học, đêm qua tao đã viết sẵn vài lời ngợi ca vào cuốn Hóa học ấy, sáng nay đưa bán là vừa vặn.
 
Thông cười ngất:
 
- Nói dóc.
 
Dóc thật. Hồi đó anh dóc dàn trời mây.
 
Em đã tới và, chỉ có thể cho buổi đầu. Mấy ngày sau đó, anh như cậu bé mười bảy tuổi, mơ mộng hết sức. Hình ảnh Bích bay múa trong những giấc ngủ của anh, tựa cánh bướm chở vào trời một mùa xuân lạ. Từ đó, quãng đường tới trường anh trở nên xa diệu vợi, không sông cách núi ngăn, anh cũng thấy khó mà ôm vở đến đó đều đặn ngày hai buổi. Ngược lại, quãng đường tới trường Bích, theo lối dẫn ra biển, trở nên thật gần. Anh bắt đầu đi đếm gạch lát hai bên lề con đường ấy, hỏi thăm viên gạch nào, còn lưu dấu người ta thường đi qua? Không viên gạch nào chịu lên tiếng trả lời anh cả. Anh học tính nhẫn nại của loài ong, siêng năng ngày 4 bận đi về. Thỉnh thoảng gặp Bích và Diệu, anh vờ đưa mắt lên ngọn cây mỉm cười với nắng, nhưng thật ra hồn anh lúc đó muốn mọc cánh bay theo.
 
Một hôm anh bỗng can đảm lạ thường, không thèm nhìn đỉnh cây cười nắng nữa, gặp Diệu và Bích, anh mau mắn chào hỏi và, với sự nhanh nhẹn như sóc của bất cứ gã trai nào lúc gặp người mơ, anh "nhào" tới gợi chuyện. Không biết bữa đó khả năng văn chương thi phú của anh cho đứa nào mượn hết. Anh nhớ, hình như anh đã nói với Diệu:
 
- Diệu làm "trái độn" giữa anh và Bích, Diệu nhé.
 
Diệu nhìn anh cười. Danh từ trái độn anh học lóm ở mấy cái tin tức thời sự trên nhật báo. Hồi ấy, người ta xôn xao, bởi có dư luận cho rằng miền Trung sẽ bị cắt làm trái độn giữa hai miền Nam Bắc. Trái độn, theo anh nó như cây cầu bắc nối giữa anh và Bích qua Diệu. Diệu hiểu ngay, Bích ngơ ngác tí ti rồi ném sang anh tia nhìn sắc nhọn tựa mũi tên, anh không né tránh nên "bị thương" nhè nhẹ. Suốt dọc đường xanh bóng cây, chỉ có anh và Diệu nói chuyện, Bích giữ im lặng, cười góp. Anh mơ hồ nhận ra chút nồng nàn không màu nào đó ẩn quyện trong sự im lặng của Bích.
 
Những ngày tiếp theo, chúng ta gặp nhau đều đặn hơn. Anh thường cúp cua những giờ học buổi sáng đi đón Bích. Trường Nữ trung học gần kề mé biển. Hai hàng cây dương liễu reo gió. Cát trắng. Áo trắng in bóng xuống lòng anh trong. Mùa thu sắp dứt, từng đợt nắng mỏng đọng loãng dưới mặt trời ấm. Anh tha thẩn một mình, đợi giờ Bích tan học, hoặc vào các quán giải khát rủ bọn trẻ đánh bóng bàn. Lúc này Bích đã chịu "khai khẩu", chúng ta thường đi dạo một vòng trên biển, trước khi Bích phải về kịp giờ cơm ở nhà. Lắm lúc cả hai cùng im lặng suốt thời gian đi bên nhau. Bích tinh nghịch bốc cát dồn đầy cặp sách, đầy túi áo anh. Anh đùa:
 
- Đem cát về dồn đống lại, mai sau làm nhà.
 
Bích nguýt:
 
- Nhà để chi?
 
Anh đùa:
 
- Một túp lều cát...
 
Bích vội vã cướp lời:
 
- Và một anh chàng khùng.
 
Đại khái thế, chúng ta nói toàn chuyện vớ vẩn, nhưng nói chuyện chỉ là cái cớ, những cái háy và nguýt của Bích mới tuyệt vời. Đôi khi Bích kể luôn miệng về đủ thứ chuyện. Những chuyện vặt vãnh rtong đời sống và những điều trong ước mơ. Vừa nghe Bích nói, anh vừa ngước nhìn bầu trời cao, nắng lao xao trên hàng đọt lá xanh, thấy mình là kẻ hạnh phúc nhất xứ. Dù sao, Qui Nhơn cũng đã mở ra cho anh thấy vài màu sắc êm đềm. Bích hiền và dịu dàng là thứ sắc màu kết tụ trong anh niềm hân hoan hương mật. Đời sống, với anh, từ đó, không còn chỉ là sự nối tiếp nhàm chán của ngày và đêm, nó còn túa ra hàng trăm tay quyến rũ. Cây đời anh trổ toàn lá vui. Chim đầy hồn ríu rít. Ngày ấy, tình kết thành trái. Trái lo sợ cắn giữa hai bờ môi son sẻ, vỡ nên lời:
 
- Ở nhà đã biết, con Bích em thấy bọn mình đi với nhau, nó mách bố, bố nói phải lo học.
 
Cắn vỡ trái lo sợ xong, Bích đăm chiêu im lặng. Anh bối rối nhìn vẻ mặt lo âu đến tội nghiệp của em, cười trấn an:
 
- Ăn thua gì, kệ xác Bích em.
 
Nỗi sợ ghê gớm gấp ngàn lần anh tưởng. Bích bỗng đổi giọng cứng bất ngờ:
 
- Bố nghiêm lắm, không ăn thua à? Hay thôi đi.
 
Ơ hay! Anh nghĩ Bích quá vô lý, sợ cái không đáng sợ chút nào. Anh nóng nảy một cách đáng đánh đòn:
 
- Thôi thì, anh về đây.
 
Thế là tình ta đầy ắp thêm một cuộc giận. Bích quay lưng, bước nhanh gần như chạy vào cổng trường, mặc dù đang giữa giờ ra chơi. Anh liều lĩnh đuổi theo Bích, bọn học trò đứng lao xao dưới hàng dương xanh lá, tụm ba tụm bảy quanh sân trường xanh cỏ, cùng loạt mở lớn mắt ngơ ngác ngó theo chúng ta. Bích trốn biệt vào lớp học. Sự liều lĩnh gan lì của anh tới đó đành dừng lại, trở thành con số không. Anh đứng trên bậc cấp, ngượng muốn chết khi lũ nhỏ bạn em "a thần phù" sấn lại, vây quanh tò mò xoi mói. Anh vội vàng quay lưng, nhắm phía cổng trường chạy bay ra ngoài, cảm thấy những trận cười cỡi gió đuổi theo lạnh cả gáy. Trưa hôm ấy, về nhà, nuốt cơm không vô, vì cơn ngượng còn nghẹn cứng trong cổ, ngượng và tức muốn ứa nước mắt, anh soi gương, thấy mình mang khuôn mặt của kẻ buồn rầu nhất thế giới. Anh bỏ không thèm ra biển đón Bích ba bốn hôm. Cuối cùng, không chịu được nỗi áy náy ray rứt trong lòng, anh lại ra bãi tìm bọn trẻ rủ đánh bóng bàn, làm mặt lạnh như thể chẳng cần đợi ai hết. Dường như Bích biết điều đó (qua Diệu? Qua lũ nhỏ bạn tinh nghịch?) nên những giờ nghỉ cuối buổi học chẳng thấy Bích ra bãi nữa. Anh thấy hoảng thật sự cấp tốc đi tìm Diệu nhờ hòa giải.
 
Gặp lại nhau. Cơn giận rút lui nhường cho nước mắt. Anh lúng túng không biết dỗ dành cách nào. Những giọt nước mắt long lanh dưới nắng, phản chiếu màu xanh bao la của biển trước mặt chúng ta. Biển kính cẩn nghiêng mình trước những giọt lệ nồng nàn của Bích. Và Bích, dịu dàng ngồi xuống bờ cát ẩm mục, bên anh. Ngoài khơi xa, nắng chói lòa trên đỉnh Hòn Xanh, thấp thoáng vài cánh buồm lẳng lơ cợt gió. Anh đã nói gì nhỉ? Anh nói chuyện trên trời dưới đất và, thầm mong biển khuyên Bích đừng khóc nữa.
 
Có gì đâu mà khóc? Bích em biết, bố biết, cả nhân loại biết hai đứa thương nhau, mình cũng không ngán.
 
Bích lắc đầu nhè nhẹ. Có điều gì đó chưa thể nói ra. Anh cảm tưởng điều ấy ẩn giấu trong dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích. Cái dáng ngồi buồn bã đã in đậm vào suốt chiều dài tâm hồn anh, mãi mãi, tới bây giờ chưa phai. Dấu cát hằn chỗ ngồi rồi sóng sẽ xóa, nhưng bờ vai nghiêng, bàn tay chống, cụm tóc dạt bay... mãi còn là những nét vẽ chân phương nổi bật trên sổ ngày tháng thuở ta chưa biết thế nào là sự chia lìa. Bích nín lặng, tưởng chừng bờ bãi phút chốc thành hoang thiêng. Chúng ta cùng buồn in hai viên cuội nhỏ trước mênh mông biển lớn. Anh quì gối trên cát, nhìn thật rõ chân trời phía xa, nhưng không thấy môi Bích thốt lời nào. Anh thèm nghe Bích nói, Bích cười. Im lặng một chặp, anh lo Bích biến thành tượng trong cái dáng ngồi trông ngước xa xăm kia. Anh chợt tinh nghịch và ác độc như cậu bé lên mười, dùng đầu điếu thuốc hực đỏ dí vào cổ tay trái Bích, đang chống trên cát, yếu đuối tựa ngó sen non dưới tầm mắt anh. Bích mím môi chịu đựng được một lúc rồi bật cười, mắt bao dung khóe nhìn trách móc nhẹ. Anh thảng thốt không hiểu sao mình lại điên rồ chơi trò trẻ con đó, rồi lặng người hối tiếc. Dúm lửa hực đỏ đầu điếu thuốc đã ghi khắc vào da thịt em niềm đau đớn. Đó chính là niềm đau đớn đầu tiên, anh cho em.
 
Tối hôm ấy, gặp nhau giữa công viên. Bích đưa cổ tay trái cho anh dưới ánh sáng ngọn đèn đường. Vết bỏng mưng thành một bọng nước bầm đỏ. Bích tròn xoe mắt nghe anh nói khoác:
 
- Bích biết anh đã ghi cái gì trên tay Bích đó không?
 
Bích khẽ lắc đầu. Anh cười bí mật:
 
- Một dấu thánh.
 
Bích tỏ vẻ không hiểu dấu thánh là gì, ngay cả anh cũng không biết giải thích ra sao nữa. Và, thật tình cờ, câu giải thích của anh trở nên câu thề nguyền:
 
- Bao giờ cái dấu thánh này chưa phai thì anh và Bích chưa xa nhau. 
 
Bích gật đầu đồng ý.
 
Từ đó, Bích mang dấu thánh trên tay, như là một bằng chứng yêu anh. Bằng chứng thiêng liêng thơ dại chỉ riêng hai đứa biết.
 
Để Bích em khỏi thấy, khỏi mách bố, chúng ta đồng ý với nhau mỗi tuần chỉ gặp gỡ một lần vào chiều thứ sáu. Từ đó, thứ sáu trở thành ngày mong đợi nhất trong tuần.
 
- Thứ sáu, buổi chiều, từ trước đến nay Bích vẫn nghỉ, giờ xách cặp "đi học" thế nào bố cũng nghi.
 
 Bích nói, đôi mắt bối rối chớp nhanh. Anh e sợ nỗi lo sợ tức khắc ập tới, kéo theo cơn giận lẫy khác thêm rắc rối. Anh nói lẹ:
 
- Dễ quá, Bích chỉ cần ghi thêm vào thời khóa biểu bốn giờ sinh ngữ vào chiều thứ sáu, trình ổng xem là xong, trường dạy thêm giờ là chuyện thường.
 
Bích tươi cười gật đầu. Cả hai cùng thấy hạnh phúc, tưởng chừng muốn ôm nhau nhảy ầm xuống biển.
 
Về biển không xong, chúng ta tính chuyện dắt nhau lên núi. Chuyến xe lam băng qua nhiều khu vườn xanh mượt, bỏ lại đằng sau phường phố phức tạp, đôi mắt dòm ngó của Bích em. Chúng ta đến chỗ cư ngụ của người chết. Nghĩa trang Phật giáo nằm thoải dưới chân đồi nhiều đá lắm cây. Xa tít phía trái, nắng chếch rõ dáng Đức Mẹ đứng dang tay trên mộ Hàn Mặc Tử. Từng lớp bọt trắng òa vỡ dưới chân Ghềnh Ráng, không biết có làm nguôi lòng thơ nuối của người thi sĩ quá cố ấy không? Anh muốn có đêm trăng dẫn em lên đó, thử nghe im vắng đưa ta tới cõi nào. Nhưng đường vào mộ bấy giờ có những người lính Mỹ trấn giữ. Bước qua cổng nghĩa trang là lớp lớp cỏ may đưa tay chào đón. Hàng ngàn ụ đất, hàng trăm nấm mồ. Mỗi nấm mồ cho một người chết và, hoang vắng dành riêng cho chúng ta. Pho tượng Phật đứng trên bệ cao, không biết đã từ bao lâu, nước sơn cũ mèm dưới sức sương gió gội, đổi màu vàng xỉn. Đôi mắt ngưng thần vẫn cúi xuống. Nhìn pho tượng Phật cô độc giữa nghĩa trang, Bích kể:
 
- Hồi nhỏ Bích suýt đi tu. Vì giận bu nên bà ngoại dẫn Bích lên một chùa miệt núi, dạo còn ở ngoài Bắc cơ. Hai bà cháu ăn chay niệm Phật được nửa tháng, bu tìm lên khóc lóc đem về. Nếu Bích đi tu, sức mấy bây giờ anh gặp.
 
Lang thang trên những lối cỏ, để mặc tình gió mang niềm vui lên cao. Chúng ta say mê nói về tương lai, những toan tính cho đời sống mai sau ngay trên phần đất của người chết. Hết thảy mọi cặp tình nhân trên trần gian điên dại này, đều dìu nhau tới những chốn thần tiên mơ mộng, chỉ riêng đôi ta, mượn nơi nghĩa địa làm miền rong chơi. Đôi mắt Bích em đã vô tình biến thành mắt của mụ phù thủy săn đuổi và, chúng ta chạy trốn, né tránh hàng loạt mũi tên thành kiến bắn ra từ bu, bố, từ cái gọi là nề nếp gia đình, từ sự kỳ thị dòng giống man rợ, vô nghĩa lý. Bích chỉ biết thương yêu và cúi đầu tuân phục. Chúng ta thường trở về lúc cơn mưa cuối mùa ào tới xua đuổi. Một chuyến xe lam khác lại có hai chỗ ngồi. Anh vừa nghe mưa vừa gỡ vô số kim cỏ may vướng mắc trên hai tà áo Bích (bởi kim cỏ may có thể tố cáo với người nhà cuộc đi chơi của chúng ta).
 
Chừng nửa tháng sau, tình yêu lại lái qua thêm một chặng đường buồn. Bích bối rối bảo anh:
 
- Bu vừa từ Sàigòn về, bu biết chuyện. Một cô giáo ở trường Bích, bạn bu, đi thăm mộ bắt gặp bọn mình, bả mách lại với bu, bu quyết liệt lắm.
 
Đôi mắt Bích đỏ hoe, loáng ướt, chiếc cặp trên tay như muốn rơi tuột xuống đất. Bích nhìn anh bằng khóe nhìn của con chiên ngày tận thế:
 
- Bích đã khai hết rồi.
 
Anh hình dung khuôn mặt xấu xí của cô giáo vô duyên nào đó và vung trái đấm bâng quơ vào không khí. Cơn tức nghèn nghẹn trong cổ họng. Bố biết, bu biết ; Bích em mách rồi cô giáo mắc dịch mách thật rối chuyện. Hôm ấy, Bích nói nhiều, toàn chuyện lo âu buồn tủi. Tiếng nói lắm khi lạc giọng bởi nước mắt. Anh thấy, với tình yêu Bích hình như anh trở nên bé bỏng lạ kỳ. 
 
18 tuổi. Trước mặt sau lưng Bích có gì? Bu người Bắc. Bố người Trung Hoa. Quê nội và quê ngoại Bích chưa bao giờ nhìn thấy.
 
Trí Bích mơ hồ hình ảnh Hà Nội thắp sáng từ những chuyện kể của bu: Quê ngoại thần thoại lung linh sau lớp lớp sương mù hoài niệm. Có lá bay bâng khuâng đường Cổ Ngư liễu yêu ma rủ tóc thương hồ Hoàn Kiếm. Những sáng mùa thu nắng lụa dậy thì vàng mơ đỉnh núi Ba Vì... 36 phố phường ao ước ngày trở lại rong chơi. Hình ảnh cô bé Bích hẳn ngu ngơ lắm giữa đêm 30 tết theo bu qua cầu Thê Húc hái lộc. Quê ngoại gần nhưng thật ra đã xa, như một tinh cầu nào khác. Bích tưởng tượng được cắn ngập răng những cam quýt bưởi bòng của các ngôi vườn rải dọc Việt Bắc mến yêu. Bích thèm rất nhiều thứ của Hà Nội, nôn nóng muốn về coi lại mảnh sân lát gạch tàu xưa, thời con gái bu thường chạy nhảy chơi đùa, coi lại những nơi chốn đã gợi hứng cho Nhất Linh, Khái Hưng... dệt nên những chuyện tình diễm tuyệt.
 
Và, trí Bích mơ hồ ấp yêu hình ảnh quê nội Trung Hoa vàng son qua ký ức bố: Quê nội bí mật trải dài vạn dặm rừng, tuyết, cổ lũy man thiên. Miền đất đã phát sinh ra những ông Lưu Bị, Quan Vân Trường dũng cảm, phi ngựa múa gươm dọc dài hơn ngàn trang Tam Quốc Chí... Học lịch sử Bích biết thêm: có một thời, những đoàn quân xuất phát từ quê nội, tiền hô hậu ủng sang xâm lược dày xéo quê ngoại một cách gớm ghiếc man rợ. Máu quê ngoại chảy róc rách qua cùm gông nô lệ của quê nội cả ngàn năm, để rồi kiên cường vùng lên dựng những trang sử bi hùng oanh liệt.
 
Bích chưa được thấy quê ngoại, quê nội, nhưng Bích yêu cả hai vì Bích yêu bu yêu bố, yêu những kỷ niệm gợi dậy từ chuyện kể của hai người. Những chuyện ảo mù, thần tiên như cổ tích.
 
Bích không hề biết ngôn ngữ quê nội, dù chỉ một chữ một câu. Bích nói giọng Hà Nội, pha lẫn in ít âm hưởng Bình Định, nghe vừa ngọt lòng vừa buồn rười rượi. 
 
Anh tới từ nơi khác, không từ đất Bắc, không từ Trung Hoa, nên Bích không có quyền yêu anh và ngược lại. Bu lý luận thế, bố giữ im lặng và, Bích khóc.
 
Những ngày tiếp theo của tháng mười một quá đỗi buồn tẻ. Giữa hai thời tiết âm ui, trắng không ra trắng, xanh không ra xanh của trời đất, không dưng anh bỗng nhớ Huế lạ lùng. Mỗi đêm, con trăng thượng tuần vắt vẻo đầu vườn dẫn anh ra khỏi nhà, đi vớ vẩn ngoài phố, đến giờ giới nghiêm trở về gõ cửa, để nghe giọng càu nhàu ngái ngủ của mụ chủ. Anh trở lại trường đón Bích, đi với nhau một quãng đường ngắn, hoặc ngồi trong cái quán cà phê nhỏ thụt lùi bên mé trái con đường dẫn ra biển. Ngồi ở đó, ăn những chiếc bánh đậu xanh bùi bùi, uống những tách cà phê đậm đắng ngước lên nhìn màu trời ốm yếu xanh xao như tâm hồn Bích.
 
Một hôm, anh tới trường, gặp ông giám thị ở chân thang. Ông ta vui vẻ hỏi năm sinh của anh, đoạn nhẹ nhàng bảo:
 
- Vừa có thông cáo chính thức, những giáo sinh trong lứa tuổi anh không thể tiếp tục học nữa, phải nhập ngũ theo tinh thần luật động viên số...
 
Anh nói cảm ơn, chào ông giám thị. Vào phòng đọc cái thông cáo rồi nhận hồ sơ đi ra. Đứng giữa sân ngó lần cuối cái cột cờ, ngó dãy hành lang cao với sợi dây căng ngang phơi áo quần của bọn nữ sinh nội trú, lay bay phất phới cơ hồ cờ xí liên hiệp quốc, trí phẳng như mỏm đá và mắt lãnh đạm. Sự hăng hái bao giờ cũng vuột mất khi anh đang trên đà lao tới, hoặc có ý định tháo lui. Cái sắc luật động viên sẽ du anh vào thế sống mới, nhưng nào anh có thấy buồn bã gì đâu, dĩ nhiên, vui sao được. Anh ra biển đón Bích, báo tin cho em hay. Bích không tin, lắc đầu mỉm cười:
 
- Anh dọa Bích hả?
 
Khi anh đưa xấp hồ sơ, Bích mở lớn mắt ngạc nhiên, rồi nhét tập hồ sơ vào cặp. Cả hai cùng im lặng. Nắng mông mênh, ngọn cao chim bói, tới lúc ấy anh mới thấy buồn thấm thía. Anh tưởng Bích sẽ bật khóc, nhưng không, em chỉ cúi nhìn dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên cổ tay trái một phút, hai phút, ba phút rồi Bích ngước lên, nhìn mông ra khơi xa, thở dài:
 
- Bao giờ anh đi?
 
*
 
Anh rời Qui Nhơn, bỏ lại đôi mắt ngơ ngác của Bích, mặt biển lóa nắng, nghĩa trang đầy cỏ hoa, những con đường và số tháng ngày rơi hụt lại đằng sau mất hút. Ngày anh đi, Bích cúp cua hai giờ học đầu để ra phi trường, lần thứ nhất và cũng là lần cuối, Bích bỏ học không chút lo âu, thắc mắc. Cùng đi với Bích còn dó Diệu và Nghi. Thông không tiễn anh, vì anh không muốn và hắn cũng không muốn. Từng đợt mưa mỏng tạt ngang phi trường, buồn hết sức. Anh đứng bất động, nghe mùi vị trái xíu muội ngọt chua ngấm tan đầu lưỡi. Đưa xíu muội cho anh ngậm, Bích có nghĩ rằng tình yêu của chúng ta cũng chua lẫn ngọt như thế không? Bích cố giấu nước mắt, không khóc, đôi cánh mũi khẽ phập phồng, cố nén ẩn ức trong buồng ngực. Chưa bao giờ anh thấy em can đảm và yếu đuối bằng lúc đó.
 
Đến bây giờ anh còn nhớ rõ cảm giác sung sướng hạnh phúc, khi nhận được điện tín của Bích báo tin sẽ vào Sài Gòn. Cái điện tín nhận được hôm thứ tư. Chủ nhật mới được ra phép, thành thử những ngày thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, không thể nào ngủ được. Dầu thế nào thì cái chủ nhật mong đợi kia cũng tới. Anh, da sạm đen, tóc cụt ngủn, áo quần trận, hai chân mang hai chiếc bốt-đờ-xô mệt mề. Hai miếng vải xanh thêu tên và danh số may ngay hàng thẳng lối trên hai miệng túi. Bích, gầy như que diêm gói trong lớp vải màu hồng nhạt. Bích có vẻ lạc lỏng, bên anh, giữa phố đông người. Bích nói:
 
- Thật đáng tiếc, đi chơi với anh mà không mặc được áo dài, giờ về nhà thay lại sợ bu biết. Suốt tuần nay, ngày nào Bích cũng đứng ở cửa, thấy ông lính nào qua cũng nom, trăm ngàn ông lính đã đi qua, không có ông nào giống anh.
 
Anh nhìn bộ đồ cụt của em, cười:
 
- Như vậy cũng đẹp chán.
 
Chúng ta rẽ qua đường phố khác, tránh xa khu phố Bích ở. Bích hỏi:
 
- Bây giờ đi đâu anh?
 
Anh nói, giọng y hệt tên kịch sĩ trong các vở tuồng cổ điển, pha lẫn chút bông đùa:
 
- Anh sẽ đưa Bích đến một nơi xa hẳn loài người, ở đó có chim ca, suối hát và mặt trăng...
 
Bích tiếp lời:
 
- Và mặt trời và sao và mây và gió đủ hết, anh mơ mộng dữ.
 
Hai đứa cùng cười xòa. Anh đưa Bích vào một quán kem. Như tất cả các cặp tình nhân khác trên mặt đất này, sau thời gian xa cách, gặp nhau, chúng ta thao thao nói tưởng chừng như bất tuyệt về nỗi nhớ mong, gợi dậy những kỷ niệm cũ, nhắc lại tên một số bạn bè và thấy lòng ấm ngọt lạ lùng. Giọng Bích chợt khựng lại giữa chừng cơn vui:
 
- Bây giờ tính sao, anh?
 
Anh nhìn sâu vào mắt Bích, bắt gặp nỗi vô vọng nhú mầm qua những tia nhìn ướt:
 
- Còn thấy nhau lúc nào hay lúc đó, anh chẳng biết sao nữa.
 
Bích khẽ gật đầu như con cừu ngoan. Anh thầm lặng nhìn cổ tay trái Bích, nhìn cái dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên đó. Những tiếng sóng ngày xưa cũ bỗng vọng dội rách rưới trong hồn. Dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích và biển ngàn rực rỡ nắng thời nào cũng dựng dậy bằng những đường nét hoài niệm cay xót. Quấn quít. Mênh mông. Quay quắt. Bốn mắt chúng ta cùng cúi xuống dấu thánh mà tưởng chừng trông suốt qua nhau. Trời đất, rừng rú, phố thị, biển cả, con người, phút chốc nhạt mù hết, chỉ còn chút ân sủng bí nhiệm le lói trên một dấu thánh muộn phiền, nhỏ nhoi nhưng quí giá. Bằng chứng của một mối tình trong veo hơn nước lọc. Dấu thánh em đeo mang lang thang qua hết thời con gái, rồi tinh sương nào thức dậy sẽ không thấy nó, như chuỗi ngày mơ đêm mộng cũ đã biệt tích trong mênh mông đời ta? Hoặc một chiều cuối kiếp dấu thánh sẽ theo em khép mắt, lãng quên" Không, anh không muốn tin điều gì cả.
 
- Dấu thánh vẫn còn. 
 
Bích cười buồn:
 
- Anh không thấy nó phai dần à? Có lẽ vì vết bỏng nhẹ quá. Sao hôm đó anh không đốt lâu hơn?
 
Sao hôm đó anh không nhân gấp đôi, gấp nghìn lần niềm đau đớn khắc ghi vào da thịt em, để hy vọng di tích ấy mãi còn? Anh rùng mình nghe lạnh. Giọng Bích âu yếm trách móc nhẹ nhàng, xui anh rũ.
 
Anh đưa mắt lơ đãng ngó ra đường: xe cộ, người, di động dưới màu nắng loãng. Lát nữa Bích sẽ đi ra, cuốn hút theo dòng đám đông lưu chuyển không ngừng đó. Chỉ cần sơ ý một chút, chúng ta có thể lạc mất nhau. Nói gì đến ngàn triệu năm sau, chúng ta là hai hạt bụi bay trong thinh không tìm kiếm. Chiều hôm đó, anh trở lại trại, lòng buồn vô hạn, như tên Do Thái trở về đất cũ, thấy nhà mình đã bị kẻ khác chiếm giữ.
 
Bích về Qui Nhơn. Mỗi tuần anh vẫn đều đặn nhận được một lá thư của em. Cho đến một ngày đầu tháng sau, anh nhận được cánh thư vỏn vẹn mấy hàng chữ bút chì trên miếng giấy xé ra từ tập vở học trò. Bích viết: "Cái dấu thánh đã biến mất, không còn trên cổ tay Bích nữa anh à. Có phải đó là điềm gở không?".
 
Sau cái thư đó, anh chẳng bao giờ nhận được thư nào của Bích nữa. Chúng ta lạc mất nhau trên mặt đất trùng trùng tai ương, bụi phủ này.
 
 
MƯỜNG MÁN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 118, tuần lễ từ 13-9 đến 20-9-1973)