Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

TRÁI TIM BẰNG GỖ THÔNG - Nguyễn Thanh Trịnh

 
Lúc mới đặt chân đến Phan Rí lần đầu thú thật tôi đã muốn khóc. Tôi cứ tưởng thành phố này phải to lớn lắm vì nó có tên trên bản đồ Việt Nam đàng hoàng không ngờ nó còn nhỏ hơn lòng bàn tay.
 
Chiếc xe đò tôi đi có từ hồi Pháp thuộc loang lổ vết sơn xanh đỏ chạy một mình không nổi lại còn được chất đầy những rổ cá lớn, cá bé trên mui và trong lòng xe, những rổ cá này nghe đâu bị kẹt đường nên phải chở về nguyên quán. Phải mất 3 giờ đồng hồ chiếc xe mới lết được từ Phan Thiết đến Phan Rí trên đoạn đường chỉ dài hơn 60 cây số. Vừa vào đến bến xe nằm ngay ở trung tâm con phố tôi vội xách va ly bước xuống vì không chịu nổi mùi cá tanh nồng bốc lên khi xe đậu.
 
Đã 6 giờ chiều mà trời còn nắng gắt thêm những ngọn gió thổi cát bụi bay mù khiến tôi nóng muốn điên người. Lấy khăn tay ra lau mồ hôi xong tôi lững thững đi bộ dọc theo con đường trước mặt, nhìn lên tấm bảng một hiệu buôn thấy đề Đại lộ Trần Hưng Đạo mà buồn cười. Con đường chỉ rộng hơn một con hẻm ở Sàigòn vậy mà cũng xưng là Đại lộ. Địa chỉ tôi muốn đến: Công ty nước mắm Hoa Hồng số 3 Đại lộ Bạch Đằng. Cũng đại lộ, không biết con đường đó lớn hơn con đường này được mấy phân. Đang lóng ngóng tìm người hỏi thăm đường tôi gặp một nữ sinh mặc quần áo trắng bước tới. Kinh nghiệm cho tôi biết vào nhà hỏi bà già ra đường hỏi học trò nên tôi móc túi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ cho cô bé.
 
- Em cho tôi hỏi thăm địa chỉ này ở đâu?
 
Cô bé mở to đôi mắt đen láy quan sát tôi từ đầu đến chân xem tôi có phải là người lạ không rồi mới cúi đọc tờ giấy. Trước khi đến đây tôi nghe người ta đồn rằng con gái xứ này hai mắt đều "bét" vì bị cát bụi thổi vào nhưng nhìn kỹ cô bé này tôi chẳng thấy mắt em "bét" tí nào mà trái lại còn trong sáng hơn mắt mèo nhiều, tôi không hiểu thiên hạ đồn sai hay cô bé cũng là người xứ lạ đến đây như tôi?
 
- Ông mới đến đây lần đầu?
 
- Phải, nếu đến đây lần thứ hai thì tôi khỏi làm phiền em.
 
- Em cũng ở cùng đường đó vậy ông cứ đi theo em là đến nơi.
 
Em trả lại tôi tờ giấy rồi ôm cặp đi trước, tôi vội xách va ly đi nhanh cho ngang hàng với em. Cô bé dừng lại lắc đầu:
 
- Đừng. Ông hãy đi sau em vài bước, ông đi bên em thiên hạ sẽ đồn thế này thế nọ ngay. 
 
- Ở đây thiên hạ thích bàn chuyện của người khác lắm sao?
 
- Vâng, chỗ nhỏ bé mà. Ông cảm phiền.
 
Tôi đành đứng lại đợi cô bé đi trước vài bước rồi lẽo đẽo xách va ly theo sau. Tức mình tôi rủa thầm, xỉ vả thiên hạ, chắc quí vị no cơm ấm cật dư thì giờ nên thích bàn chuyện người khác còn đói như tôi thì bàn mãi chuyện bao tử của chính mình mà vẫn chưa xong. Đến một con hẻm lầy cát hai bên là bờ tường cao thấy không có bóng dáng "thiên hạ" tôi vội bước lên đi bên cạnh cô bé nói chuyện.
 
- Đi một mình lủi thủi ở sau tôi thấy tủi thân quá.
 
- Tại sao vậy?
 
- Tôi có cảm tưởng người ở đây đã bạc đãi mình.
 
Cô bé cười:
 
- Vậy ông đến đây làm gì?
 
Tôi kể cho em nghe tôi là một quân nhân giải ngũ loại hai, có một người bạn ở Sàigòn giới thiệu tôi ra đây làm thư ký cho công ty nước mắm Hoa Hồng để sống qua ngày và tôi hy vọng người ta sẽ không từ chối.
 
- Em sợ ông không chịu nổi đâu.
 
- Làm thư ký có gì nặng nhọc mà không chịu nổi.
 
- Không, em muốn nói mùi nước mắm kia.
 
- Đó là mùi quốc hồn quốc túy người Việt nào sống ở ngoại quốc cũng nhớ nó, sao em lại nói chịu không nổi?
 
- Rồi ông sẽ biết.
 
Đi thêm một lúc cô bé dẫn tôi đến bờ sông. Con sông rộng ở gần cửa biển đậu đầy những ghe chài sơn mầu sắc rực rỡ. Trên bờ người qua lại tấp nập và những nong mực được phơi đầy hai bên đường choán cả lối đi. Cô bé chỉ tôi một ngôi nhà lớn quét vôi vàng cách chỗ chúng tôi đứng một cột đèn.
 
- Đó là công ty Hoa Hồng. Em chúc ông may mắn.
 
Thật cảm động nghe câu nói đó, từ ngày thất nghiệp đến nay chưa ai chúc cho tôi một lời may mắn nào. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô bé.
 
- Cám ơn em, tôi tin người ta không nỡ từ chối một thương phế binh đói rách như tôi. Nhà em ở đâu có dịp tôi sẽ đến thăm.
 
Cô bé chỉ tay về một khu nhà lố nhố ở phía xa.
 
- Nhà em ở gần chợ cá kia kìa, chắc ông không tìm thấy đâu. Nếu ông được làm việc ở công ty em sẽ còn gặp ông vì thỉnh thoảng em vẫn đến đó nhận giấy giao hàng. Thôi em xin chào ông.
 
Nhìn cô bé đi khuất vào đám người trên bờ tôi mới lững thững xách va ly đến công ty. Phía trước nhà có một tấm bảng lớn hai bên vẽ hai bông hồng to tướng, tôi đi thẳng vào cửa và xin gặp ông giám đốc. Người lao công dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ, tôi gặp một người tóc bạc đang ngồi đọc nhật báo. Tôi cúi đầu chào ông và đưa lá thư giới thiệu việc làm do người cháu ruột của ông ta viết. Đọc thư xong ông hỏi tôi những giấy tờ cần thiết, tôi mở va ly lấy ra đưa ông xem. Ông nói được rồi cậu sẽ ở luôn đây và bắt đầu làm việc từ ngày mai. Được làm tôi mừng rỡ nói cảm ơn ông. Ông nói không có gì tôi sẽ xem cậu như cháu tôi rồi ông gọi người lao công vào căn dặn thu xếp nơi ăn chốn ở cho tôi.
 
Công ty chiếm một khu đất khá rộng, người lao công dẫn tôi đi quanh một vòng cho biết và chỉ cho tôi chỗ ngủ là một cái chái nhỏ lợp tôn ở gần nhà ông. Về cơm nước ông nói nếu cậu muốn ăn ở ngoài ngày mai tôi sẽ dẫn đến một nơi nấu cơm tháng. Tôi nói nếu tiện nhờ bác nấu cho tôi ăn luôn khỏi phải đi xa. Ông nói nhà tôi ăn uống bết lắm sợ cậu nuốt không nổi. Tôi cười nói có rau có cháo để ăn là may rồi, tôi đang thất nghiệp mà bác. Ông cười nói vậy thì được.
 
Công việc tôi làm ở công ty tương đối nhàn hạ. Hàng ngày tôi đánh máy những hóa đơn giao hàng, nhận hàng, những giấy tờ chứng nhận phân chất nước mắm và các loại giấy xin chuyên chở nước mắm đến các tỉnh khác. Phía sau công ty là nhà lều nước mắm của riêng ông giám đốc. Trong những thùng gỗ lớn người ta đổ cá vào đấy ướp muối rồi đợi ngày cho cá rã ra nhỏ giọt thành nước mắm. Mỗi lần vào lều kiểm soát các phu vợi nước mắm vào những thùng nhỏ để chở đi bán tôi phải bôi dầu cù là vào mũi và châm thuốc hút liên miên. Hôm đầu nhìn người ta lấy xác mắm ra chất trong những giỏ lớn để bán cho các chủ đồn điền làm phân bón tôi đã phải chạy ra ngoài nôn oẹ vì không chịu nổi mùi hôi kinh khủng từ xác mắm bốc ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bé nói sợ tôi không chịu nổi mùi nước mắm. Nếu không vì cái bao tử mỗi ngày đều đói chắc tôi đã xách va ly đi ngay sau lần nôn oẹ đó.
 
Tôi lẩm cẩm nghĩ tại sao các ông "hàm hộ" ở đây chẳng ông nào chịu lấy dấu hiệu nước mắm của mình là cá nục, cá thu, cá cơm, cá óc nóc... mà lại đi chọn những hình con thỏ, con gà, con én, hoa sen, hoa hồng...? Nếu những đôi tình nhân ở xa đều biết hoa hồng là dấu hiệu của một công ty nước mắm lớn ở đây chắc họ sẽ không ham tặng người yêu một đóa hồng vì chẳng lẽ họ còn muốn tình yêu của họ sẽ mặn mòi và sực nức hương thơm như nước mắm?
 
Dù không thích mùi hương của nó nhưng tôi cũng phải cảm ơn nước mắm đã giúp tôi có công ăn việc làm sống qua những ngày đói khát. Mỗi sáng để khỏi đi ăn điểm tâm tốn tiền tôi thường xuống lều múc một ly nhỏ nước mắm uống ực một hơi rồi chạy lên nhà uống luôn hai ly cối nước trà cho đã khát như vậy là no suốt buổi. Cũng may nước mắm có nhiều chất bổ nên càng ngày tôi càng lên cân.
 
Một buổi sáng khi tôi vừa uống xong ly nước mắm điểm tâm miệng đang mặn đắng thì cô bé tôi gặp hôm đầu tiên đến xứ này đi vào. Em chào tôi, tôi chẳng kịp chào lại mà vội rót hai ly cối nước và uống luôn một hơi. Em hỏi: 
 
- Ông làm gì mà khát dữ vậy?
 
- Tôi mới ăn điểm tâm bằng nước mắm. 
 
Cô bé trợn tròn mắt không hiểu, tôi phải giải thích cặn kẽ cho em rõ. Nghe xong cô bé cười.
 
- Ông thật có duyên với nước mắm. Em chỉ uống một muỗng nhỏ thôi cũng đủ sặc chết người. 
 
Tôi hỏi em sao cả tuần nay không đến chơi, tôi có ý đợi em mãi. Cô bé nói em cũng muốn đến thăm nhưng không có dịp, sáng nay em nghỉ học và ba em sai em đi phân chất nước mắm nên em mới có cơ hội đến đây. Em trao tôi một chai nước mắm nhỏ, tôi cầm lấy đem vào phòng giảo nghiệm. Ở đây các nhà lếu trước khi đem bán nước mắm đều phải đem đi giảo nghiệm để xem nước mắm của mình có bao nhiêu chất cá, chất cá càng nhiều nước mắm bán giá càng cao. Phòng giảo nghiệm chưa có người làm việc, tôi trở ra kéo ghế mời em ngồi đợi. Em hỏi:
 
- Ông đã đi đâu chơi chưa?
 
- Ở đây có chỗ nào mà đi chơi. Mỗi tối tôi chỉ biết ra bờ sông ngắm thiên hạ qua lại hay đến quán Lều Gỗ ngồi uống nước rồi về ngủ.
 
- Vậy thì còn thiếu sót nhiều. Ở đây có nhiều chỗ đáng đi chơi lắm như đi rẫy ăn táo, đi xóm Rùng ăn mận, đi tắm biển ở bãi Trùng Dương hay Ghềnh Son, đi thăm chùa ông Hai Đại, đi xem thắng cảnh đập Đồng Mới v.v...
 
- Vậy hôm nào rảnh tôi mượn xe Honda chở em đi chơi nghe.
 
- Đâu được, thiên hạ nói chết.
 
Lại thiên hạ. Tôi bèn nguyền rủa thiên hạ, xin quí vị để cho tôi sống với chứ. Tôi phân giải với cô bé:
 
- Thây kệ họ. Chúng ta hãy sống cho chính chúng ta, họ đâu có sống giùm chúng ta mà chúng ta lo.
 
Có lẽ cô bé cũng đồng ý với tôi nên vào những chủ nhật kế tiếp em đã đến dẫn tôi đi thăm những nơi chốn em nói. Từ khi chúng tôi thân với nhau những tối rảnh rỗi em thường đến nơi tôi ở nấu chè chuối bột báng nước dừa hay em đem cá hấp ở nhà đến quấn bánh tráng rau sống chấm với nước mắm "nhĩ" loại thượng hảo hạng tôi lấy ở lều. Cô bé ăn như mèo nên tôi được dịp ăn no cành hông bù những ngày đói khát.
 
Một tối em đến chơi, tôi vui miệng nói lại với em những điều mà cậu học sinh con trai bác lao công cho tôi biết là có rất nhiều nam sinh ở trường em đã si em bỏ cả học hành. Cô bé cười nói:
 
- Ai mà si em, em cho chết luôn.
 
Tôi khoái chí cười:
 
- Đúng, đúng. Nhưng còn tôi?
 
- Ông hả, em cũng cho chết luôn.
 
Tôi chưng hửng nói:
 
- Bộ nhất định em không khóc thương?
 
- Khóc hả, có cười bể bụng thì có.
 
- Chúa ơi, chắc tim em bằng sắt?
 
- Sắt hả, ai mà ưa thứ mau rỉ sét đó.
 
- Bằng đá chăng?
 
- Nước chảy đá mòn, đá yếu xìu.
 
- Bằng gỗ làm thùng nước mắm?
 
- Vâng bằng gỗ nhưng không phải gỗ làm thùng nước mắm đâu mà là gỗ thông sản xuất từ rừng thông Đà Lạt.
 
- Vậy chắc em sinh ở Đà Lạt?
 
Cô bé gật đầu kể cho tôi biết gia đình em trước kia ở Đà Lạt sau đó dời xuống đây lập nghiêp đã được mười năm và bây giờ ở chốn này em là một cây thông nhớ rừng. Cô bé cười nói tiếp:
 
- Em mới nhận được một lá thư tình. 
 
Tôi ngạc nhiên nói:
 
- Tôi có viết thư cho em hồi nào đâu mà em nhận được? 
 
- Ai nói ông viết bao giờ đâu, thư này của một người khác.
 
- Em đã có một người tình khác?
 
- Không phải đâu, thư này của thầy em gửi cho em, để em đưa cho ông đọc.
 
Cô bé móc túi đưa tôi một phong bì mầu xanh để ngỏ, bên trong có một tờ giấy mầu hồng viết đầy chữ Anh. Tôi hỏi:
 
- Thầy của em người Mỹ à?
 
- Không, ông ấy dậy Anh văn. 
 
Anh văn tôi mới học đến lesson 10 trong quyển English For Today Book one nên chẳng hiểu ông giáo sư viết gì, tôi trao lại lá thư cho cô bé.
 
- Em dịch giùm tôi đi. Lần sau em nhớ nói ông ấy viết bằng chữ Việt tôi mới có thể đọc được. 
 
- Đại ý ông ấy viết, ông ấy yêu thương em và muốn gặp em chiều chủ nhật này tại nhà trọ của ông ấy.
 
Tôi nổi sùng nói:
 
- Sao em không đưa lá thư mắc dịch này cho ông hiệu trưởng đọc.
 
- Thôi em sợ làm rùm beng cả trường đều biết em dị chết.
 
- Em có viết thư trả lời ông ấy không? Em có định đến thăm ông ấy không?
 
- Còn lâu. Nhưng em sợ ông ấy cứ viết thư hay gọi em lên đọc bài hoài tụi bạn biết được chúng chọc em chết. Vậy em nhờ ông đóng vai anh em đến nói ông ấy đừng có viết thư cho em nữa.
 
- Xong rồi, chiều chủ nhật này tôi sẽ thay em đóng vai người tình đến thăm ông ấy.
 
- Khỏi đợi đến chiều chủ nhật, chiều mai khoảng 6 giờ ông đợi em ở quán Lều Gỗ rồi em sẽ chỉ cho ông thấy thầy em vì ông ấy ăn cơm tháng ở gần đó.
 
Buổi chiều mới 5 giờ tôi đã có mặt ở Lều Gỗ, một quán nước vĩ đại nhất xứ Phan Rí này. Quán gồm hai phần: một sân rộng đặt bàn ghế bán nước uống và một căn nhà có những tủ kính (trước bày bán đồ điện sau ế dẹp luôn) bày những sách truyện cho thuê. Tôi vẫn thường đến đây để uống một ly đá chanh cho đỡ khát vì đã lỡ uống nước mắm quá nhiều sau đó thuê vài quyển truyện chưởng về nhà tối đọc đỡ buồn. Tôi thuộc loại khách hàng đặc biệt được chủ quán (đeo kính cận trông rất trí thức) thông cảm cho ký sổ vàng cuối tháng trả tiền nên chiều nay dù trong túi không có đồng nào tôi vẫn mạnh dạn bước vào quán gọi một chai 33, nửa gói Capstan. Tôi uống bia dở ẹc, chỉ một chai mặt cũng đỏ bừng như gà đá nhưng vì sắp đụng độ với ông giáo nên tôi muốn mặt mình phải sừng sừng một tí cho ông ấy ớn.
 
Buổi tối quán thường đông nghẹt khách nhưng giờ này thì vắng như chùa bà đanh. Học sinh còn đi học và những ông "ba-đờ-ghe" còn bận bán cá chưa có thì giờ rảnh đến ngồi thưởng thức nhạc "tiền chiến hậu chiến" do chính tay chủ quán chọn lọc. Tôi chúa ghét nghe nhạc ở các quán nước, ồn ào điếc tai nên rất thích ngồi ở đây vào buổi xế chiều. Trên chiếc sân xi măng rộng (Trước là sân trượt Patin sau ế dẹp luôn) đọng đầy những vũng nước do ông chủ tưới những chậu kiểng. Chưa đến tuổi tam thập nhi lập mà ông ta đã thích cái thú "vạch lá tìm sâu" kể cũng lo hưởng nhàn hơi sớm. Nắng càng lúc càng bạc đầu ở cuối sân, tôi ngồi im chờ đợi buổi chiều len lén vào hồn xem nó ra làm sao nhưng chẳng thấy buổi chiều đâu cả mà chỉ có cô bé len lén đi vào.
 
- Ông ngồi đợi lâu chưa?
 
- Chưa, chỉ mới dài cổ thôi.
 
- Em hẹn ông 6 giờ mà.
 
- Quân đội dậy tôi muốn phục kích địch phải đến sớm quan sát cho chắc ăn.
 
- Nhưng chỗ ngồi này làm sao ông quan sát được?
 
Cô bé kéo tôi qua ngồi ở một chiếc bàn khác gần hàng rào được kết bằng những ống tre chẻ đôi. Ngồi đây nhìn qua kẽ hở hai thân tre có thể thấy rõ bên ngoài. Nhìn mãi mỏi cả mắt chẳng thấy ông giáo đâu tôi nói cô bé quan sát thay tôi khi nào thấy ông ta đến thì báo động. Tôi vừa hút điếu thuốc xong thì cô bé nói:
 
- Ông ấy kìa.
 
Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở thấy có hai người đang từ xa đi đến, tôi hỏi cô bé:
 
- Thầy của em là người đeo kính cận, mặt mũi sáng sủa đi bên kia đường phải không?
 
- Không phải đâu, đó là học sinh. Thầy của em đang đi gần gốc me kia kìa.
 
Tôi chăm chú quan sát gã đàn ông theo lời cô bé chỉ. Y mặc áo thun màu xanh thẫm có in hình đầu một con dê to tổ bố (dấu hiệu của tuổi Dương Cưu), y dê mà dám nhận mình dê kể cũng khá chì. Quần y may bằng vải bố trắng ống rộng và chân đi giày mọi mầu vàng. Tóc y để dài thòng, phía trước cắt ngang chân mày và miệng phì phà điếu thuốc ngậm ở khóe môi trái. Người y cao, ốm như con mắm, mặt y chang dân "ba đờ ghe" mới đánh cá ngoài khơi về vậy mà y lại là giáo sư thì đúng là nền giáo dục Việt Nam đang trên đà xuống dốc. Tướng y thật thích hợp để đóng vai "Xì-ke đại huynh" và chắc không tài tử nào đóng hay hơn y trong vai đó.
 
Tôi nói với cô bé:
 
- Em ngồi đây để tôi ra nói chuyện phải trái với ông ấy.
 
Uống hết ly bia cho hào khí bừng bừng và cầm theo một điếu thuốc tôi bước ra ngoài quán vừa lúc ông giáo đi đến, chắc y cũng định vào quán thuê truyện chưởng về đọc. Tôi nói:
 
- Xin lỗi ông bạn cho châm nhờ điếu thuốc.
 
Y trao điếu thuốc cho tôi mồi rồi tôi trả lại y.
 
- Ông bạn là giáo sư trường công lập ở đây?
 
Y gật gật cái đầu bù xù như tổ quạ.
 
- Phải, tôi là giáo sư tốt nghiệp Đại học sư phạm Sàigòn. 
 
- Ông tốt nghiệp ở đâu thây kệ ông, tôi chỉ yêu cầu ông đừng viết thư cho em Phạm thị Đồng Ý nữa.
 
- Ông là gì mà cấm tôi viết thư cho em ấy?
 
- Tôi là anh hai nó.
 
- Sao trông ông không giống em ấy tí nào hết vậy.
 
- Giống hay không thây kệ tôi. Bộ ông giống tía ông lắm sao?
 
- Ông đừng giận, tôi có lời khen ngợi em ông học rất giỏi và tôi rất mến em ấy.
 
- Nó học giỏi hay dốt cũng thây kệ nó, tôi không cần ông mến nó. Trường ông thiếu gì cô giáo xinh đẹp sao ông không mến một cô mà đi mến nữ sinh làm gì cho tai tiếng.
 
- Tôi không ưa cô giáo, tôi chỉ ưa nữ sinh thì đã sao.
 
- Ông không ưa cô giáo thây kệ ông, ông chỉ ưa nữ sinh thây kệ ông nhưng tôi cấm ông không được ưa em gái tôi.
 
- Tại sao ông có vẻ không ưa tôi nhiều quá vậy?
 
Thật ra tôi cũng không ghét gì ông giáo này, y rất xứng đáng là bạn tri kỷ của tôi vì cả hai đã cùng chung một sở thích là cô bé nhưng tại y có lợi thế là địa vị cao hơn tôi nên tôi nổi sùng nói:
 
- Tôi không ưa ông vì ông tốt nghiệp Đại học sư phạm chỉ giản dị thế thôi.
 
- "Lương sư hưng quốc", nghề giáo là một nghề cao quí mà.
 
- Nghề đó không cao quí tí nào nếu ông tiếp tục tán em gái tôi, còn ông tán bất cứ ai nghề đó vẫn cao quí như thường.
 
- Được rồi để tôi về suy nghĩ lại.
 
- Không suy nghĩ tới suy nghĩ lui gì nữa cả, nếu ông còn viết thư hay thường xuyên gọi em gái tôi lên đọc bài là có ngày ông ăn đòn.
 
- Ông hăm dọa giáo chức phải không? Ông tên gì? Tôi sẽ nạp đơn kiện ông ở hội đồng xã.
 
Nghe kiện cáo tôi cũng hơi "rét" nhưng kinh nghiệm cho biết một người có "rét" hơn mình mới hăm dọa kiện cáo lôi thôi nên tôi thừa thắng xông lên.
 
- Ông có nộp đơn kiện ở tối cao pháp viện tôi cũng không sợ. Tôi là lính giải ngũ tên Phạm Bất Bình, số quân 68/156890 ông nhớ kỹ chưa?
 
- Tôi không cần nhớ tên ông nữa. Tôi đã nhớ mặt ông rồi nên nếu ông đánh tôi là tôi nhận ra ngay ông đánh tôi.
 
Ông giáo hầm hầm bỏ đi chẳng thèm chào tôi một lời cho đúng với nguyên tắc sư phạm. Tự nhiên tôi thương y chi lạ. Trong lúc nói chuyện nhìn kỹ đôi mắt y tôi mới biết y đã cố ý làm cho mọi người hiểu lầm y qua cách ăn mặc, cách nói chuyện để che giấu nỗi cô đơn mà y đang chịu đựng. Nếu không kẹt cô bé chắc tôi đã mời y vào quán uống vài chai 33 để kết bạn tâm giao. Ở xứ này có một người bạn như y cũng thú lắm chứ nhưng chắc là không thú bằng được quen với cô bé đây. Tôi trở vào quán kể lại cho cô bé nghe trận đụng độ vừa qua. Em cười nói ông đóng kịch tài ghê, sao ông không đi theo các ban kịch ở Sàigòn? 
 
Vì có cuộc hội họp bất ngờ với các hãng nước mắm ở Phan Thiết tôi phải đi theo ông giám đốc làm biên bản mất 3 ngày. Buổi tối về đến nhà bác lao công trao cho tôi hai lá thư. Một lá thư của Tổng hội thương phế binh cho biết tôi đã được nhận làm thư ký cho một hãng buôn ở Sàigòn, nếu muốn làm tôi phải về Sàigòn nhận việc gấp. Tôi phân vân không biết quyết định thế nào. Ở Phan Rí được 4 tháng, tôi đã mến người dân ở đây. Họ tuy lắm chuyện nhưng rất tốt và chân thật. Nắng ở đây có làm da tôi đen sậm nhưng không khí vùng biển trong lành đã giúp tôi khỏe mạnh hơn xưa. Tôi cũng đã bắt đầu ghiền mùi nước mắm, một mùi hương khó quên như hương tóc người tình đã chia xa nhưng tôi vẫn nhớ rõ ràng vào những đêm mưa. Ở Sàigòn dĩ nhiên vui vẻ hơn, bạn bè đông hơn và có nhiều cơ hội tiến thân hơn nhưng tôi chưa muốn xa cô bé. Tình yêu tôi đã bắt hụt nhiều lần vì với quá cao, lần này nó đang nằm trong tầm tay tôi không lẽ tôi lại bỏ mất dịp may.
 
Lá thư thứ hai của cô bé mới gởi đến sang nay. Em cho biết trường em đã nghỉ hè, gia đình em mới mở một đại lý bán nước mắm ở Đà Lạt, em sẽ theo má lên trên đó buôn bán và xin chuyển trường lên học ở Bùi thị Xuân. Em đã đến tìm tôi hai lần nhưng không gặp và sáng mai em phải đi sớm một mình vì má em đã đi trước. Em viết: Thôi ông khỏi đưa tiễn làm gì cho mất công. Thiên hạ biết cười chết. Em muốn chúng ta chia tay âm thầm. Nếu gặp ông ở bến xe em sẽ không viết thư cho ông nữa và khi nào có dịp về thăm ba, em cũng không thèm ghé thăm ông...
 
Tờ mờ sáng hôm sau tôi có mặt ở bến xe. Trời hơi lạnh vì đêm qua mưa suốt đêm. Tôi co ro đứng núp trong bóng tối một hiên nhà mong nhìn thấy cô bé một lần nữa trước khi chia tay. Khoảng 5g30 tôi thấy em vai mang xách tay đi ra từ một con hẻm nhỏ. Em đến ghi tên ở quấy lấy vé rồi bước lên xe ngổi ở một ghế gần cửa. Thây kệ thiên hạ cười, thây kệ những điều em dặn trong thư tôi chạy vội đến gặp em. Cô bé ngạc nhiên nhìn tôi.
 
- Ông không nghe lời em há. Được rồi em sẽ làm đúng theo những gì em đã viết trong thư.
 
Tôi nhìn thẳng mắt em chẳng biết nói gì, tôi luôn luôn chẳng biết nói gì vào những dịp chia tay. Đến khi xe rồ máy chạy tôi không ngăn được đưa tay nắm chặt bàn tay nhỏ bé của em bỏ ra ngoài cửa xe. Cô bé nói như sắp khóc:
 
- Ông là một con mọt.
 
Chúa ơi, một người bảnh bao như tôi lại có hình dáng như con mọt sao. Cô bé có cận thị chăng?
 
- Ông là một con mọt kinh khủng đã ăn rỗng trái tim bằng gỗ thông của em.
 
 
NGUYỄN THANH TRỊNH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 140, phát hành ngày 20-7-1974)
 
 
 
 
 

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

NHỮNG NỖI KHỔ VỤN VẶT - Võ Hồng

Sự vui vẻ khá ồn ào của ông Chính khi nhận được công lệnh cử đi chấm thi khiến nhiều bạn đồng nghiệp của ông hơi khó chịu. Gặp ai ông cũng vội vàng bắt tay và bô bô hỏi thăm:

- Nào, năm nay anh đi chấm ở “centre” nào? Tôi thì phải đi Đà Nẵng.

Người đối diện đầu tiên của ông là Thương, một giáo sư trẻ. Thương đang có một nỗi buồn riêng nào đó, - chắc là vì tình, vì khi tuổi chưa quá ba mươi thì chỉ có ái tình mới làm cho người ta buồn lâu, buồn một cách thành thật và nghiêm trang, - nên chỉ khẽ nhếch một nụ cười xã giao vừa đủ.

- Dạ, cháu đi Phan Thiết.

- Được đi Phan Thiết hả? Ố là là! Phan Thiết Tổ sư nước mắm! (Đố ai biết Tổ sư nước mắm nghĩa là gì?) Hôm nào về nhớ mang về một chai nước mắm nhỉ ăn chơi nhé? Ngon tuyệt.

- Dạ.

Người giáo sư trẻ muốn được yên nên vội “Dạ” một tiếng chấm câu. Không hứa hẹn là sẽ có chai nước mắm nhỉ với tiếng “Dạ” kiểu ấy.

Sau một cái bắt tay, ông Chính đi vội vã về phía đầu bên kia hành lang. Đôi chân quá ngắn múa thoăn thoắt dưới một cái bụng khá to. Tính ông lại thích diện com-lê - cả ngày giữa mùa hè - nên cái bụng càng được đề cao, no tròn, bề thế. Ở đầu hành lang, đang đứng vẩn vơ một cô giáo. Áo màu tím nhạt có thêu rải rác những vũ nữ xòe váy bằng chỉ trắng. Cô giáo đang nhìn lên đọt cây phượng cao trước sân trường, trên đó ánh nắng xao động giữa những chòm lá. Ông Chính cất tiếng nói to:

- A! Chị Vân Anh.

- Dạ, chào bác.

- Kỳ này tôi phải đi Đà Nẵng đây. Còn chị về “centre” Huế hả? Thích nhé? Một công hai việc…

“Ai bảo với ông ta rằng mình được về Huế?” - Vân Anh nghĩ. Mình phải đi Tuy Hòa cơ mà. Cực chết đi mà. Còn một công hai việc là ngụ ý gì mà có vẻ bất lương thế? Nhưng nể người đồng nghiệp có tuổi, cô Vân Anh nắm hai bàn tay vào nhau trong một tư thế lễ độ, nghiêng mình lí nhí:

- Dạ cháu đi Tuy Hòa.

Tức thì ông Chính đớp lời ngay và reo to lên như chính ông vừa bảo đúng là Vân Anh được về “centre” Tuy Hòa:

- Tuy Hòa! Thú lắm. Thành phố Tuy Hòa đang xây dựng, có sông Đà, có núi Nhạn, có trường Nguyễn Huệ. À, ở Tuy Hòa mùa này có nhiều dưa hấu ngon lắm nhé! Tuy Hòa… (đến chỗ này ông giơ ngón tay chỏ chỉ đúng vào giữa trán và nhíu mày một cái nhưng dường như để lấy điệu bộ chớ không thật phải suy nghĩ gì hết)… Tuy Hòa đi ra Màng Màng, Hòa Đa rồi Tuy An, Chí Thạnh mà. Ồ! Thích quá.

- Cháu chán lắm. Đi xe lửa ra Đại Lãnh cháu sợ lắm. Cháu chỉ muốn được đi Đalat.

Vân Anh định nói thêm “Lẽ tất nhiên nếu Bộ bỏ quên không bắt cháu đi chấm ở đâu cả thì cháu thích hơn”, nhưng chợt nhớ ra rằng người đối diện với mình không đáng được thưởng thức một câu ý nhị như vậy nên Vân Anh không nói nữa.

Giã từ cô giáo Vân Anh, ông Chính đi vào văn phòng ông Hiệu trưởng. Cái lưng ông hơi cong lại một chút khiến cái cổ cũng co rụt bớt vào cổ áo sơ mi. Ông giơ tay ra trước nên phải đưa thêm một tay trái ra theo, mong xóa bớt sự đường đột có phần khiếm lễ đó đối với cấp trên.

- Thưa Cụ, năm nay Cụ lại đi chủ khảo ở một Trung tâm?

Ông Hiệu trưởng đưa mắt chầm chậm nhìn lên ông. Đôi mắt nheo nheo vì vừa từ giã những hàng chữ quá nhỏ. Ông đã có tuổi nhưng không chịu đeo kính lão. Cái ca-vát màu đỏ sẫm nằm ngay ngắn giữa cổ sơ-mi là cứng như cùng ra sức với ông bám sát lấy những tháng ngày thanh niên gượng gạo còn sót lại. Ông rất ghét tiếng “Cụ” già nua nên không thèm giấu một cái cau mày. Người ta có thể biểu lộ sự tôn kính bằng nhiều cách và người trên không ai chối từ sự tôn kính. Nhưng tôn là “Cụ” không có nghĩa khen tặng mến phục gì cả. Sống lâu không phải là một công tích đáng để hãnh diện mà trái lại, hầu hết người ta đều coi đó là một sự ân hận đáng tiếc. Nhất là ông Hiệu trưởng sau mười lăm năm góa bụa vừa cưới một người vợ vừa trẻ vừa đẹp. Chính do những mặc cảm dồn dập đó mà, sẵn nét mặt sa sầm, ông Hiệu trưởng trầm giọng nói:

- Năm nay tôi được nghỉ.

- Ồ! Quí hóa quá… Cụ được Bộ cho nghỉ năm nay cũng phải. Năm nào cũng phải chủ khảo hết thì sống thế nào được.

Ông Hiệu trưởng cúi mặt xuống một trang giấy đánh máy có đóng dấu son. Biết đó là dấu hiệu cáo từ nhưng ông Chính phải cười xã giao một mình.

- Năm nay tôi phải đi Đà Nẵng.

- Thế à?

Ông Hiệu trưởng hỏi mà không ngẩng mặt lên và đầu bút chì đỏ ông cầm ở tay vẫy không ngừng chạy dài, rất mau, trên những dòng chữ đánh máy.

- Thôi xin phép cụ.

- Không dám, chào ông.

Cái bắt tay lạnh nhạt tiếp theo. Ra khỏi phòng ông Hiệu trưởng, ông Chính gặp bác cai trường. Đó là một anh chàng nhỏ nhắn có khuôn mặt láu lỉnh đặc biệt của những chú lính lệ ngày xưa.

Cặp mắt mở thao láo, mi chớp lia lịa nhất là những khi anh đứng trước mặt thượng cấp hoặc những ngày thi cử, ngày nhập học, sân trường, cổng trường đầy những phụ huynh học sinh. Một cái mũi nhỏ nằm trên cái miệng cũng nhỏ. Hình như lúc nào anh cũng bận rộn công vụ. Trên tay luôn luôn có một cái cặp bìa các-tông dày gáy vải và chân bước vội vã, thoăn thoắt từng bước nhỏ. Khi có Thanh tra ở Bộ về khám trường thì anh tăng gia sự mẫn cán trong bộ y phục ka-ki màu xanh dương, kiểu đồng phục Thanh niên. Nhìn anh, người ta tự nhiên phải nghĩ đến một con chim sâu, một cái chong chóng đang quay.

Trên đời anh chỉ biết kính trọng có ông Hiệu trưởng trường anh, các ông giám thị và mấy ông giáo đi ô-tô. Mọi người khác anh đều coi là “anh, chị” hết. Ông Chính không đi ô-tô nhưng lại năng nói chuyện, - nào ai biết là nói chuyện gì, - với ông Hiệu trưởng và ông Giám học nên anh tỏ ý nể. Thấy ông ở phòng Hiệu trưởng đi ra, anh vội vã lớn tiếng chào:

- Xin chào Cụ. Năm nay cụ có đi chấm…

Ông Chính tươi cười liền:

- À chào anh. Năm nay tôi đi Đà Nẵng.

Ông vỗ vai anh một cái thân mật.

- Anh ở lại mạnh khỏe nhé?

- Dạ, cám ơn Cụ. Chúc Cụ đi đường sức khỏe.

Theo cái đà ấy, chỉ hai hôm là cái tin ông Chính đi chấm thi ở Đà Nẵng ai cũng biết. Những giáo sư trẻ ngầm hỏi nhau.

- Ông ấy dở hơi nhỉ? Chấm thi thì thú cái đếch gì? Ba tháng Hè chả được nghỉ.

- Ừ. Trẻ và độc thân như chúng mình thì mới còn lý thú đôi chút chứ lớn như ông ta…

- Hồi mình chưa cưới vợ thì mỗi kỳ nghỉ Hè mình thích đi chấm thi lắm. Vì có đi như vậy mới mong gặp ngày chuyện lạ, chuyện vui ở dọc đường. Những bạn đồng nghiệp, nhất là nữ đồng nghiệp ở từ các tỉnh tụ họp về sống gần gũi mươi ngày nửa tháng rồi giã từ nhau, hẹn năm sau gặp lại. Vui chứ. Nhưng từ ngày mình cưới vợ rồi thì… Lạ thật, đố ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì.

Chẳng ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì thật. Có người đoán là ông chán ngấy cảnh ngày hai buổi họp mặt với vợ con. Có người bảo là từ nửa năm nay sao thấy bà Chính bỗng già đi một cách đáng chán. Có lẽ do đó mà ông muốn đi tỉnh xa để ăn chơi cho bõ dăm mười ngày chăng? Có người nghi là ông đang chạy một áp-phe nào đó ở Đà Nẵng. Tính ông tháo vát, lý tài không mấy ai là không biết. Óc lý tài ấy không thể quên việc một người bạn cũ vừa được Chính phủ cử làm một chức vụ hành chánh cao cấp ở đây. Việc ấy chính ông đã bô bô nói cho anh em nghe, một cách lơ đãng thôi nhưng mà với bao nhiêu là cố ý và dàn xếp. Tóm lại mọi ức đoán đều không tốt cho ông Chính. Bởi không ai tin rằng sự hăng hái của ông là do tinh thần trách nhiệm cao cả của một nhà giáo có lương tâm. Trong khi đó thì ông hò hẹn với người này sẽ lên đường ngày ấy tháng ấy, rỉ tai với người kia rằng sẽ cùng thuê một phòng ở khách sạn nọ nhà hàng kia. Ông chạy đi dò hỏi giờ xe lửa đến, xe lửa đi, giờ tàu bay hạ cánh và cất cánh. Vì tất cả là nhà giáo nên không ai bảo ai mà mọi người đều tự nhiên nhớ đến anh chàng Tartarin.

Đột nhiên, một ngày trước ngày lên tàu, ông Chính lăn ra bệnh. Bà Chính cầm giấy chứng nhận của bác sĩ đến phòng ông Hiệu trưởng và nhờ ông gởi ra ông Chánh chủ khảo Hội đồng Đà Nẵng. Bà phàn nàn thay chồng:

- Thưa cụ, nhà tôi thật tiếc quá. Đến ngày đi thì lại ốm. Nhà tôi đã bao nhiêu lần bảo mặc cứ đi, nhưng bác sĩ cản lại không cho đi. Nhà tôi bảo mỗi năm Chính phủ chỉ nhờ mình một lần…

Ông Hiệu trưởng đằng hắng một tiếng khiến bà ngừng nói, đợi chờ ông ban ý kiến. Nhưng sau cái đằng hắng là tiếng gọi “Bác Cai!”, ông gọi thật to, như quát. Và bà vợ người giáo sư mẫn cán xin phép ra về.

Ngày lên tàu, mấy giáo sư tán chuyện gẫu trên sân ga.

- Được đi Đalat sướng mê đi, sao mặt mày buồn thiu như đưa đám ma thế kia? Lên gặp Minh Châu tha hồ mà đi hồ Than Thở.

- Nói nhảm. Minh Châu đi chấm ở Nha Trang. Mình vừa nhận được điện tín xong.

- Còn “bồ” sao cũng không vui?

- Chủ nhà nó đòi nhà lại để nó ở. Hết hạn báo thị rồi mà moa chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Bây giờ lại phải đi nửa tháng.

- Chỉ có ông bô Chính thích đi Đà Nẵng thì lại ốm không đi được. Bô ấy ốm gì nhỉ? Mới vừa thấy béo na béo núc ra ấy mà.

- Chả biết ốm gì, nhưng mà để bố ốm cho bõ ghét. Cái mồm cứ mỏng lèo lèo. Lúc nào cũng tinh thần, xung phong, gương mẫu…

Người ta không hiểu ông Chính. Khi phán đoán về ai, người ta thường hoặc quá khắc nghiệt, hoặc quá dễ dãi. Cả hai thái độ đều có chung một nguyên nhân là lòng ích kỷ. Phán người ta nhưng lại vì mình mà phê phán nên ý kiến không đúng với sự thật. Sự thật ở đây chỉ có ông Chính biết mà thôi. Sự thật đó là ông chẳng bệnh tật gì hết mặc dù có giấy chứng của bác sĩ. Sau khi gởi giấy xin phép nghỉ, ông Chính gọi vợ dặn nhỏ:

- Thật ra, tôi chả đau ốm gì. Chỉ vì năm nay thằng Liêm nó thi mà sức học của nó còn kém quá. Tôi phải tìm cách ở lại để lo cho nó thi đỗ.

Bà Chính há hốc mồm nghe rồi lơ đãng để rơi một tiếng “ờ”.

- “Thật vô vị là cái mụ nầy”, ông Chính nhíu mày suy nghĩ. Tưởng vợ tán tụng tài trí và mưu cơ của mình, ai ngờ mụ chỉ đờ đẫn buông thõng một tiếng chán đời ấy. Ông xẵng giọng nói:

- Để mọi người không ai đoán được ý định của tôi, tôi đã đóng kịch hăng hái hàng tuần lễ trước. Thế mà bà có biết đâu.

- Vâng.

- Vâng là cái gì?

Ông quắc mắc nhìn vợ hỏi.

- Nói với bà chán như cơm nếp ấy. Thôi, bà đi xuống.

Bà Chính tuân theo lệnh chồng một cách thản nhiên bình tĩnh. Gần hai mươi năm chung sống, mỗi lần nghe chồng bàn tính công việc, bà chỉ biết dùng chữ “vâng” chữ “ờ” như để chấm câu cho chồng nghỉ hơi. Không phải vì bà khờ nhưng mà vì bà biết chồng mình khôn ngoan lanh lợi mình không thể nào bì kịp. Đưa ra ý kiến nào cũng bị chồng chê là non, là vụng, rốt cuộc bà trở thành e dè, gần như thụ động. Sự thụ động trong tâm hồn đã ảnh hưởng mạnh đến thể xác của bà. Bụng và ngực sệ xuống, dường như những sợi đàn hồi trong các mô liên kết không còn đủ ý chí để thắt gọn lên được nữa. Mắt hay nhìn xuống đất và những khi phải ngó lên thì hai tròng đen nhìn lác hẳn đi. Ngày mới lấy ông Chính thì mắt bà đâu có lác nặng như thế? Giọng nói cũng mỗi ngày một uể oải rụt rè, rụt rè cả ngay khi bà sai bảo đầy tớ.

Hai ngày trước hôm thi, các giám khảo lục tục đến bằng chuyến tàu suốt từ Saigon ra và từ Huế vào. Ông Chính cần mẫn lên ga đón. Đối với những người quen ở trong nghề như ông thì việc nhận ra các giám khảo không phải là điều khó. Họ đi từng nhóm ở toa hạng Nhì xuống. Một chiếc va-li nhỏ trên tay. Trừ vài thanh niên láu lỉnh còn thì họ đều có vẻ mặt ngơ ngác lãnh đạm của người tri thức. Ông Chính xông vào một người đứng tuổi nước da mai mái. Bàn tay chìa ra trước khi tiếng nói theo kịp.

- Chào bác. Năm nay bác về chấm ở đây.

- Vâng ạ, kìa chào bác.

Ông Như, một giáo sư ở trường Trung học Duy Tân, vừa đón tay, vừa mỉm cười trả lời. Tới một địa phương gặp một người quen, không mấy ai là không thích.

- Thế bác không phải đi đâu cả?

- A… Tôi phải đi Đà Nẵng nhưng lại bị ốm hôm lên tàu.

- Ồ! Tiếc quá nhỉ? Trông bác có hơi xanh đi đấy.

Ông Chính giật nẩy mình. Mình xanh thật hay là ông bạn biết rõ bệnh dối của mình mà nói mỉa? Cả hai sự thật đều đáng ngại cả. Ông quay sang các giám khảo đang đứng vây quanh, vẻ mỏi mệt chờ đợi.

- Còn đây là…

Ông Như đỡ lời:

- Xin giới thiệu với bác, các giám khảo ở Phan Thiết ra… Các bạn này ở Đalat xuống… Còn đây…

Ông Chính phá ra cười liền khiến hai con mắt híp lại:

- À, biết rồi. Bạn quen cả mà, anh Hỷ, anh Tùng, anh Thuận. Các bạn vừa ở Nha Trang ra. À, có cả chị Ngọc Lan. Sao? Ở trường Nữ Trung học chỉ có một mình chị ra thôi à?

Người nữ giáo sư tên là Ngọc Lan trả lời quá nhỏ không ai nghe được. Vả lại người ta đang bận bắt tay, những cái bắt tay không hăng hái vì lặp lại quá nhiều.

- Mấy bác đã có chỗ trọ sẵn cả rồi chứ?

Nhiều người trả lời một lượt. Đại khái thì kẻ có người không. Nhiều người định ra phố thuê phòng. Một số ít định ghé lại nghỉ tại trường.

- Phải đó, - lời ông Chính, - chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị. À, xuống ngay trường Cường Để mới nhé? Trường cũ nóng lắm không chịu được. Xích-lô!

Mấy bác xích-lô đứng vây quanh các thân chủ tranh nhau lên tiếng.

- Dạ… Dạ…

- Chở mấy thầy xuống trường Cường Để mới nhé? Biết trường mới không?

Các giám khảo đã an vị trên xe xích-lô, ông Chính xoa tay nói:

- Thế là các bác đã có nơi chốn an ổn hết rồi. Không có bác nào đến ở với tôi cho vui.

Lời mời mọc lộ tính chất hình thức đãi bôi không được ai trả lời. Ông Chính quay lại tìm cô giáo Ngọc Lan. Nhưng lặng lẽ, cô đã lên xích-lô đi đâu mất từ lúc nào.

Khi chuyến tàu suốt ở Huế vào, ông Chính cũng lặp lại sự cần mẫn vừa rồi. Lần này ông không còn ngượng miệng như lần đầu, ông bảo: “Chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị”. Vì thật ra sự sắp đặt là do bác cai trường theo một lệnh của ông Tổng giám thị. Vả lại, có gì đâu mà gọi là sắp đặt? Cứ hai cái bàn học kê sát nhau làm một giường nằm, trên tường chăng bốn đường dây kẽm để mắc màn, thế thôi. Giám khảo đến ở tại trường thì ít và phần lớn là những người vô tâm. Họ chỉ cần sự tinh khiết của khoảng rộng.

Ba ngày thi lần lượt trôi qua. Thằng Liêm làm bài chả ra gì mặc dù ông đã bảo nó cứ nhìn sang bài của hai đứa ngồi cạnh. Nhưng ông tháo vát lanh lẹ bao nhiêu thì thằng Liêm hiền lành đờ đẫn bấy nhiêu. Nó sợ thầy giám thị, cô giám thị, sợ ông giám thị hành lang, sợ chủ khảo, sợ cả mấy ông lính mang súng đi đi lại lại ngoài sân trường nên nó chả dám nhìn ai hết. Bài nháp nào đem về đưa cho ông coi ông cũng la rầm lên làm nó càng sợ hơn. Rốt cuộc ông phải gọi giật bà lên để phân bua:

- Đấy, bà xem, nó học dở như thế đó.

- Thì nó học dở từ hồi giờ.

Bà thủng thỉnh trả lời.

- Ai chả biết là nó dở.

Ông nói gần như thét lên.

- Đã biết thế còn bảo tôi làm gì nữa? Nó bé oắt như con mắm thế kia mà ông cứ bắt nó học.

- Thôi dẹp bà đi. Chả bàn bạc được cái gì với bà hết. Nói ngang như cua ấy.

- Chả ngang thì…

Ông Chính đứng phắt dậy, đưa tay quyết tìm một vật gì ném xuống đất để biểu lộ cơn giận. Nhưng trên bàn chỉ toàn những vật có thể vỡ được, chẳng hạn cái tách, lọ mực, bình hoa. Ông đành phải chọn lấy tập báo ném phịch xuống đất rồi la lên:

- Thôi, tôi không nói với bà nữa.

Và ông bỏ vào giường nằm.

Các hội đồng giám thị ở Tuy Hòa, Quảng Ngãi đã tập trung đầy đủ về Trung tâm Qui Nhơn. Ông bắt gặp được anh Độ, một trong những thư ký hội đồng. Ông nói nhỏ:

- Khi rọc phách nhớ coi dùm bài của thằng nhỏ con “moa” một tí nhé? Số ký danh của nó là 612. Phòng 18. Trung tâm Qui Nhơn. Nhớ ghi dùm số phách cho “moa” tí nhé?

Độ nhăn mặt:

- Chủ khảo gắt như mắm…

- Thôi mà - ông Chính vội vỗ vai Độ - giúp dùm cho “moa” một tí mà.

Độ định ừ à cho qua chuyện nhưng thấy ông Chính cứ quanh quẩn ở hành lang nên biết là không giúp không xong. Thà giúp một tiếng còn kín nhẹm hơn là để ông cứ thì thầm nhỏ to với mình khiến chủ khảo thêm nghi ngờ. Vả lại ông khéo xếp đặt quá khiến sự hiện diện của ông ở phòng chấm rất đỗi tự nhiên. Ông gọi anh Cai mang thêm ghế ngồi vào cho các thầy. Ông gọi anh Cai pha thêm nước trà. Ông gọi anh Cai xuống đuổi mấy người thí sinh lảng vảng ở trong cổng trường. Đối với chủ khảo thì ông gợi chuyện một cách rất nhã nhặn:

- Tôi chắc ông phải khó chịu với những khách sạn ở Qui Nhơn?

Ông chủ khảo ngơ ngẩn không biết kẻ đối thoại định nói gì. Nút cà-vạt của ông nằm lệch sang một bên cổ sơ mi. Lưng ông gù hẳn xuống. Sự mệt mỏi đọc dược trên đôi mắt lờ đờ, trên da mặt bóng mồ hôi, trên mái tóc rơi lè phè trước trán. Ông vừa bực mình vì các giám khảo đến phòng họp quá trễ giờ, thích tán chuyện với các cô giáo mà lại muốn công việc chấm thi phải xong trong năm ngày. Họp chấm ngày thứ Hai mà ngót một nửa số giám khảo đã ghi vé máy bay thứ Sáu về. Ông Chính phải lại xoay câu hỏi thăm:

- Thưa ông, ông trọ ở khách sạn nào?

- Dạ, tôi ở khách sạn Khánh Vân.

Vừa trả lời, ông chủ khảo vừa lơ đãng nhìn ra xa. Rồi ông chợt quay lại:

- Xin lỗi ông… - ông đưa tay ra bắt, - … Tôi đang bận quá.

Ông Chính không bị mếch lòng vì thái độ lạnh nhạt hấp tấp của ông chủ khảo. Người có trách nhiệm điều khiển bao giờ cũng đa nghi. Họ tưởng ai cũng rình rập để lợi dụng họ thành ra họ rất bủn xỉn nụ cười và lời xã giao. Ông Phó chủ khảo cởi mở hơn. Vì trách nhiệm có chủ khảo gánh, công việc có thư ký làm. Ông tươi cười đón lời hỏi thăm của ông Chính và nhún vai một cái:

- Khách sạn? Gọi hơi quá, vì chỉ có cái tên là có vẻ khách sạn mà thôi: Bồng Lai, Lan Đình, Đồng Khánh… Đó chỉ là những căn phòng hẹp ở sau những hiệu buôn tạp hóa người ta lợi dụng đem cho thuê…

Ông Chính tán đồng ý kiến ngay:

- Vâng, đúng thế ạ. Ông nhận xét rất đúng.

Gió ở biển phây phẩy thổi vào, mát nhẹ. Ông Phó chủ khảo thích chí nói tiếp:

- Người Bình Định sống trong hoàn cảnh chiến tranh mười năm nên họ biết lợi dụng từng tấc đất một. Không quảng canh được thì họ thâm canh. Biến nhà sau thành khách sạn, đó cũng là không bỏ phí một tấc đất, một cách thâm canh vậy.

Thú vị vì lời nhận xét, ông Chính cười ha hả và vội giơ tay bắt tay ông Phó chủ khảo trong một thế tán đồng thân mật. Vừa lúc ấy bóng anh Độ đi ra, và ông vội cáo từ đi lảng nhanh về phía anh.

Hai người gặp nhau ở cầu thang gác.

- Cụ nhớ ghi số phách quốc văn: Am 26.

- Am 26.

- Pháp văn: Bp 25.

- Bp 25. Còn mấy món kia?

- Tôi chỉ tìm được có hai món.

- Nhờ tìm hết dùm tí, bác (Ông đã thăng Độ lên chức Bác)

- Hai món chính, hệ số 6 rồi còn đòi gì nữa? Con cụ ở lớp đứng thứ mấy?

- Cháu kém lắm. Đứng thứ 48. Gần chót.

Độ vô tình nhún vai tỏ ý chán nản. Nhưng anh vội chữa lại cử chỉ vụng vừa rồi của mình bằng một nụ cười gượng gạo:

- Nhưng được hai món hệ số 6 rồi thì có hy vọng.

- Tội nghiệp mà. Không đỗ nổi đâu. “Bác” gắng giúp thêm tí nữa.

Chợt có tiếng giày ở phòng chủ khảo đi ra, Độ vội vàng bước xuống cầu thang. Bực mình, nhưng anh không thể vô tình với câu khen vuốt đuôi của ông Chính:

- Thôi, gắng giúp “moa” 1 tí nhé, rồi moa làm mai cho toa 2 cô Nhã. Cô Nhã chấm Lý Hóa đó, có mê không? Dạy Cường Để đó. Cả Trung tâm này chỉ có toa là xứng với en 3 thôi.

Được mấy số phách, ông Chính lân la lại các tiểu ban: tiểu ban Toán, tiểu ban Công dân Giáo dục, tiểu ban Pháp văn… Tìm cho biết được bài thi của con mình thuộc về tay ai chấm, thật không phải là dễ. Nhưng ông Chính là một người chịu khó. Đầu tiên ông gặp được xấp Pháp văn có bài con ông rơi vào tay anh Khoa, một bạn đồng nghiệp đã cùng dạy với ông mấy năm ở trường Trần Hưng Đạo. Ông rỉ tai:

- Am 26 là con tôi đó.

- A!…

Anh Khoa mỉm cười lật tìm số Am 26. Đọc qua một lượt, Khoa vỗ đùi đánh “đẹt” một cái, nói to lên:

- Ồ! Kém quá. Kém quá. Làm chả được gì hết. Chia verbe Rendre mà cũng sai.

Ông Chính cảm thấy ruột mình quắn lại khi đưa mắt theo dõi cặp mắt chăm chăm của Khoa nhìn xuống bài làm và tim mình chồm lên khi Khoa vỗ vào đùi. Ông nói nho nhỏ:

- Vu 4 cho cháu nó đủ moi-en 5

- Cho thế nào được?

Khoa quay lại nhìn ông, tròng mắt chao lên nhiều vòng sau lần kính trắng.

- Làm sai hết thế này mà.

- Vu nói nho nhỏ vậy. Thôi vu bớt đi 1, cho cháu nó 9 điểm.

- Không được. Bài đáng 5. Cho thêm 1 là 6.

- Chết! Vu giết moa. Thôi cho cháu 7 điểm rưỡi.

“Thật tai ác là thằng Khoa”, ông Chính nghĩ. Mình cứ tưởng chỗ quen thì dễ nài, hóa ra không hẳn thế. Chả bù với hai vị giám khảo chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục, ông Chính không quen biết lần nào cả nhưng khi kể lể gia cảnh (cần nói láo một chút) và chỉ vào mái tóc có dăm sợi bạc của mình là các vị nới rộng điểm giúp cho ngay. Thật là những người dễ dãi, hào phóng. Cô giáo Lý Hóa, - không phải là cô Nhã, tất nhiên, - trông thế mà cũng nghiệt ra phết. Chỉ “vâng… dạ… đồng ý chấm nới tay…” nhưng nhất định không cho biết là mấy điểm. Chẳng lẽ lại vào ngồi cạnh cô để nài. Bài luận Quốc văn thì biệt tăm không biết do ai chấm. Ông chỉ còn trông chờ ở số vận may. Thằng Liêm lý luận không hay nhưng chữ nó viết đẹp sáng sủa. Ông Chính trông sao cho bài làm của nó rơi vào tay một ông giám khảo nhớ nhà. Ông ta sẽ đọc lại cái nhập đề và cái kết luận. Ông ta sẽ tìm vài lỗi chánh tả để gạch cho đỏ bài nhưng bài không có lỗi chánh tả. Ông Chính thâm hiểu tâm lý của một số giám khảo nên đã dặn con cố viết cái nhập đề và cái kết luận cho thật hay và lưu ý đừng để phạm những lỗi chánh tả. Ông giám khảo nhất định sẽ cho điểm quanh quẩn ở 8, 9, 10. Bài Toán thì vô phúc bị đem ra cho tiểu ban cùng chấm để làm thang điểm. May trúng được hai phần bài. Nhằm bài toán đã làm ở trường rồi thế mà chép lại cũng còn sai lên sai xuống.

Cũng như mọi thí sinh, ngày vô phách cộng điểm, ông Chính thấy sao mà dài thế! Thằng Liêm thì cứ lêu nghêu đi dạo biển và đọc tiểu thuyết, làm như chính ông đi thi chứ không phải nó thi. Ông gọi giật nó, hỏi:

- Sao tao chả thấy mày lo lắng gì cả thế?

- Thì thầy bảo con lo cái gì nữa? Thi đã xong rồi thì chỉ còn đỗ được trượt thôi chứ còn lo gì nữa?

- Mầy nói như… cái con chó ấy. Thật là mẹ con mày một lũ.

Và ông vào thay áo xuống trường.

Phòng họp rộn rịp ồn ào. Chỗ này vô điểm, tiếng rao điểm luân phiên nghe nhịp nhàng như tiếng một cái máy lạ đang chạy. Chỗ kia rầm rì tiếng cộng điểm. Ông Chính lại mượn xem bảng kết quả của phòng 18 trung tâm Qui Nhơn. Những chữ “đậu” ghi rải rác trước những tên thí sinh. Ông lật nhanh đến tên Nguyễn Thanh Liêm số ký danh 612. Ông lặng im đưa mắt nhìn, lẩm nhẩm tính từng cột điểm. Đoạn để tập giấy xuống bàn, ông lặng lẽ bước ra hiên. Nét mặt đăm chiêu, ông nhìn ra bãi bể Gành Ráng. Đôi con mắt nheo lại và môi mím trong vẻ suy nghĩ. Anh Khoa ra uống nước, lại gần hỏi:

- Sao buồn thế bác? Cháu Liêm hỏng rồi à?

Ông lắc đầu không trả lời.

- Tôi cho đủ 7 điểm rưỡi bác yêu cầu mà.

- Vâng, tôi nhớ.

- Thế thì sao mà hỏng được?

- Không. Đâu có hỏng.

Nghe tiếng “hỏng”, vài giám khảo đứng gần đó quay lại hỏi:

- Sao? Con cụ hỏng rồi à?

- Chết chết! Hỏng thật sao?

Mấy giám khảo ngồi trong phòng cũng quay mặt ra. Có cả cô giáo chấm Lý Hóa và hai vị chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục dễ tính. Người nào cũng lộ vẻ ái ngại cho người đồng nghiệp tốt bụng của mình. Mọi người, nhất loạt, đều cảm thấy lương tâm rỉa mình khe khẽ vì ai cũng nghi rằng bài của con người bạn đã rơi vào nhằm tay mình. Rồi có người chép miệng:

- Tội nghiệp. Đứa nào cho điểm ác.

- Ông ta có thể xin chủ khảo…

- Cụ ấy người có tuổi, dáng đứng đắn chắc không thèm hạ mình xin xỏ lôi thôi.

Tiếng xì xào im bặt khi ngoài hành lang ông Chính chẩm rãi mà ưu tư nói:

- Thưa các bác, cháu không hỏng ạ.

- Chứ sao?

- Cháu được đỗ ạ.

- Đỗ mà sao cụ buồn thế kia?

- Dạ… Cháu được 142 điểm. Chỉ còn thiếu 14 điểm nữa là được Bình thứ. Tức thế. Phải các bác nới tay cho cháu một chút thì cháu đã đỗ Bình thứ rồi. Bậy quá. Tiếc quá.

 
 (Trích từ tập truyện ngắn Bên Kia Đường)
 --------------------------------
1Tôi, phát âm tiếng Pháp
2Anh, mày (phát âm tiếng Pháp)
3Cô ấy, chị ấy
4Vous: anh, ông
5Moyenne: điểm trung bình

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

UYÊN ƯƠNG - Đỗ Hữu thị Dung


Có điều là Phúc chẳng giống những người con trai mà em đã gặp. Phúc không đẹp, không ba hoa làm điệu nhưng ở Phúc có một nét thật đặc biệt, và có lẽ, em thương nhất đôi mắt của Phúc. Mắt Phúc đẹp và buồn, nhất là lúc Phúc nhìn em, tự nhiên em muốn khóc, tại Phúc buồn, buồn đến khiến cho em khóc được...
 
Buổi chiều em đạp xe chạy lông bông ngoài đường ; những ngày tháng thi xong thật thong thả chả bù với những lúc sửa soạn để thi bận ơi là bận... Em mỉm cười bằng lòng với vị thứ kỳ lục cá nguyệt này. Xe vẫn chạy đều, gió thổi mạnh quá, con đường Duy Tân thật dịu dàng dễ thương. Người ta ca tụng quê em là miền thùy dương cát trắng, miền có gió mát, có trăng thanh, có biển vàng thơ mộng. Phúc vẫn bảo em giống biển, thật giản dị, em cười đến ngẩn ngơ và Phúc thương em chỉ vì em giống biển... "Tại tóc Hạnh dài, mỗi lần đi gió thổi khiến tóc Hạnh đánh vào mặt Phúc đau... đau như sóng vỗ vậy đó" lần đó em cười đến... tức bụng. Phúc nói hay ghê, cứ như mấy ông quảng cáo thuốc vậy đó...
 
Tự nhiên em nhớ đến Phúc. Giờ này có lẽ Phúc bận học thi. Rán nhé Phúc, đậu tú kép nhớ dẫn Hạnh đi ăn kem, uống nước dừa như lời Phúc nói nhé. Cũng buổi chiều như hôm nay, lần đầu nơi rạp xi-nê HĐ Phúc đến ngồi bên em, thật bất ngờ.
 
- Cô bé siêng đọc sách nhỉ!
 
Em ngẩng lên. Hắn đến bao giờ thế? Em ngượng ngùng cúi xuống dán mắt vào trang sách. 
 
- Có lẽ cô bé thích đọc sách lắm.
 
Em ngước lên nhìn hắn rồi cúi xuống im lặng. Hắn mỉm cười:
 
- Cô bé khó tính nhỉ!
 
Rõ vô duyên, dị chưa. Em xếp sách bỏ vào cặp im lặng. Hắn kiên nhẫn:
 
- Người ta vẫn bảo "im lặng là vàng" cô bé im lặng mãi, thế vàng cất đâu cho hết nhỉ!
 
Em bật cười, hắn cười theo, "người đâu mà thật lắm chuyện" em nghĩ như vậy, hắn tiếp:
 
- Cô bé hẳn thích đọc sách và xi-nê.
 
Em lắc đầu, khép nhẹ mấy ngón tay. Hình như hắn cười nhẹ khi thấy cử chỉ lúng túng của em.
 
- Cô bé dối tôi đấy nhé, nhưng tôi có thể quen cô bé được chứ?
 
Em nhìn lên bắt gặp ánh mắt của hắn thật hiền lành dễ mến. Em gật đầu thật nhanh, như sợ để hắn thấy.
 
- May quá, thế chúng ta có thể là bạn nhau rồi cô bé nhé. Tôi tên là Phúc, học trường Võ Tánh. Rồi tới cô bé nhé, nói đi!
 
Em mỉm cười, hắn trẻ con ghê, cứ nhìn cử chỉ hắn cũng đủ dễ... ghét. Đúng lý em không nói, nhưng chẳng lẽ xí gạt hắn sao, em ấp úng:
 
- Dạ... ơ tên Hạnh, Liễu Hạnh!
 
Phúc ngạc nhiên lẫn vui mừng, trong đó hẳn Phúc đã nghĩ đến cách ghép tên và em hình như em cũng đã nhận ra điều đó ngay từ lúc Phúc mới giới thiệu... Cho đến suốt cuốn phim chúng em vẫn không nói điều gì, có lẽ Phúc đang theo dõi cốt truyện còn em vừa lo sợ vừa ngại ngùng. Em không thích đi xi-nê với bất cứ một ai dù là bố mẹ hay tụi bạn cùng lớp, em vẫn thích "solo". Bây giờ có Phúc, một người bạn khác phái mới quen em đâm ra ngờ nghệch. Lúc về Phúc nhét vào tay em mảnh giấy, nói khẽ:
 
- Phúc về ước mong gặp lại cô bé, cô bé học trường Diên Khánh dễ mến này nhé. 
 
Em gật đầu nhẹ nghe như nóng bừng hai bên má. Gấp địa chỉ Phúc nhét vào cặp, em mỉm cười. Buổi chiều đi xi-nê bên Phúc thật vui, mặc dầu sau đó chúng em im lặng suốt buổi. Chào Phúc nhé, em về em sẽ nhớ mãi đến Phúc, người bạn đầu tiên em mới quen.
 
Buổi sáng, còn thật sớm, sớm từ lúc mấy giọt sương còn đọng trên cây cỏ, sớm từ lúc hai bên đường cửa nhà còn đóng im ỉm. Gió thật lạnh, em khép kỹ vạt áo len run khe khẽ, mấy hạt sương rơi trên tóc em ướt nhột nhạt. Tóc em thật dài, Phúc vẫn khen là tóc em đẹp thật đẹp, hình như em cũng nhật thấy điều này.
 
Em đến nhà Phúc trời vẫn còn sớm, mẹ Phúc mỉm cười bẹo má em xuýt xoa:
 
- Hạnh đến sớm nhỉ, Phúc vẫn có ý trông con đấy!
 
Em gật đầu chào, xin phép lên gặp Phúc. Trên gác, qua cửa sổ, Phúc đang ngồi học nơi bàn.
 
- Phúc!
 
- Kìa Hạnh, may quá Phúc trông Hạnh ghê.
 
Em ngồi xuống, cởi áo len, trả lời:
 
- Để Phúc học chớ, gần thi rồi Hạnh tới hoài phá làm sao Phúc học được.
 
- Hạnh khôn ghê, bắt Phúc học mãi.
 
- Hạnh thích xem Phúc học, Hạnh đến sớm để xem Phúc học đấy.
 
- Hạnh!
 
- Phúc, học đi Hạnh ngồi nhìn đây.
 
Phúc ngoan ngoãn ngồi vào bàn, giở sách đọc nho nhỏ, trông Phúc như con mèo. Em cười, Phúc ngẩng lên cười theo.
 
- Phúc xấu nhé, vờ học để lén nhìn Hạnh cười.
 
- Hạnh cũng vậy, không được cười cơ.
 
- Vâng, Phúc học đi.
 
Phúc lại chăm chú nhìn vào sách nhưng em biết Phúc chả học gì cả, lúc em nhìn, Phúc lén cười, tự nhiên em cười theo. Phúc gấp sách lại.
 
- Chịu, Phúc chẳng học được gì cả. Tại Hạnh đó!
 
- Dị chưa, sao tại Hạnh, tại Phúc cười trước chứ bộ.
 
- Tại Hạnh cười trước, Phúc mới cười theo đó chớ.
 
- Tại Phúc.
 
- Tại Hạnh.
 
Thật lạ, lúc Phúc học cứ lén nhìn nhau cười hoài. Phúc cười, em cười, có chút gì trùng hợp giữa em và Phúc, khó thật.
 
- Hạnh chưa ăn sáng chứ, chờ Phúc tí nhé.
 
- Vâng, nhanh lên nhé Phúc.
 
Lúc Phúc đi em đến bàn giở vở ra xem, chữ Phúc đẹp quá! Em cúi xuống, hai chữ "Hạnh Phúc" quấn quít lấy nhau ở trang bên khiến hồn em hơi xúc động. Em lật tiếp mấy quyển khác vẫn có hình thức tương tự, một tờ giấy rớt ra, em nhặt lên, dày đặc toàn chữ ký, Phúc ký tên em, tên Phúc, tên ghép cả hai. Em nhìn ra cửa sổ, trời sáng hẳn tự bao giờ, tự nhiên thật buồn!? Ừ "Hạnh Phúc" thật.
 
- Hạnh ơi! Nhìn gì đấy, ăn bánh mì với Phúc nhé.
 
Em rời cửa sổ đến bên Phúc, Phúc đẩy ổ bánh mì về phía em, giục:
 
- Ăn đi Hạnh, "bánh mì nóng dòn đây".
 
- Ơ! Phúc quảng cáo hở?
 
Phúc gật đầu hóm hỉnh:
 
- Đi quảng cáo thuốc còn khỏe hơn đi học. 
 
Em nguýt Phúc, bỏ bánh mì vào miệng... có chút gì khác lạ.
 
- Chúa ơi! Hạnh ăn chay!
 
Khi miếng bánh mì qua cổ học em thì chuyện đã lỡ, Phúc nhìn em cười xòa:
 
- Bé xạo nhé.
 
Tức thật Phúc chả tin, em đứng lên ra nơi cửa sổ hờn dỗi, Phúc đến bên em nhỏ nhẹ:
 
- Hạnh ăn chay thật hở, Phúc cứ ngỡ...
 
Em uất ức:
 
- Phúc chả tin Hạnh.
 
- Phúc xin lỗi Hạnh.
 
- Ừ! 
 
Phúc ký đầu em, trợn mắt:
 
- Hạnh khôn ghê tự nhiên giận Phúc rồi bắt Phúc xin lỗi, kỳ chưa!
 
Em chu môi:
 
- Tự nhiên à, Phúc nói hay ghê. Nhưng đố Phúc tại sao Hạnh ăn chay đó.
 
- Phúc chịu.
 
- Hạnh ăn chay cầu cho Phúc đậu đó.
 
Phúc nhảy lên ngạc nhiên, nắm tay em nhìn thật lâu. Em im lặng. Phúc im lặng nhưng em đọc được trong ánh mắt Phúc ẩn chứa niềm yêu thương trìu mến. Phúc bóp tay em thật đau.
 
- Hạnh, Phúc cám ơn Hạnh nhiều lắm, giá Phúc đậu thật Hạnh nhỉ. 
 
- Phúc sẽ đậu, Hạnh cầu nguyện Chúa giúp cho Phúc. Phúc cũng vậy nhé, khấn Phật cầu cho Phúc đậu. Cả hai chúng ta đều khác đạo nhưng mỗi bên đều có một đấng thiêng liêng để giúp chúng ta cả Phúc ạ.
 
- Vâng, Phúc cũng tin như vậy.
 
Tự nhiên Phúc buồn em cũng buồn. Phúc có thừa khả năng để vượt qua kỳ thi này nhưng hình như em vẫn lo lo sao ấy. Ồ! Không sao, Chúa sẽ phù hộ cho Phúc, cho em. Thời giờ rảnh rỗi sau này em thường đi lễ, mẹ vẫn ngạc nhiên. Em đã bỏ hằng suốt buổi vào nhà nguyện quỳ dưới chân Đức Mẹ xin ban phước lành cho Phúc đã liên quan như thế nào.
 
- Sao tự nhiên Hạnh im lặng thế?
 
Em bàng hoàng nhìn Phúc, lắc đầu:
 
- Phúc, lại ăn bánh hết đi chứ.
 
- Phúc muốn ăn chay trọn ngày nay.
 
- Phúc xạo, ban nãy Phúc ăn thịt.
 
- Hạnh cũng vậy.
 
- Không, Hạnh vô tình.
 
- Phúc cũng vô tình.
 
- Chuyện, Hạnh chả thèm nói với Phúc nữa đâu.
 
Em đứng lên xách cặp:
 
- Hạnh về nhé Phúc.
 
- Bao giờ cho Phúc gặp lại?
 
- Hai tháng nữa Phúc thi, Hạnh chả lại nữa để Phúc học chứ.
 
Em dắt xe ra cổng, Phúc tiễn em:
 
- Hạnh, Phúc muốn gặp lại Hạnh trước ngày thi.
 
- Chi vậy?
 
- Gặp Hạnh nói chuyện, giúp Phúc ôn bài và để lúc Phúc thi được may mắn.
 
Phúc cười, em cũng cười.
 
- Hạnh còn giận Phúc hết?
 
- Còn! Hạnh muốn giận Phúc cho đến lúc Phúc thi xong!
 
Lúc em đạp xe ngang trường Võ Tánh Phúc đưa tay vẫy vẫy, tụi bạn đứng với Phúc thật đông. Bố bảo học trò trường Võ Tánh thật nghịch ngợm, em cười muốn nói "Bố ơi! Thế mà Phúc của con thật hiền thật ngoan vậy đó."
 
Lúc Phúc về em đứng nơi balcon vẫy Phúc. Phúc dang tay làm dấu "Chờ Phúc tí nhé". Em gật đầu, lấy sách ra xem...
 
Phúc nhìn em trìu mến, em nói:
 
- Mai Phúc đi thi, Hạnh dẫn Phúc bao ăn chè nhé?
 
- Ăn chè "đỏ" cơ.
 
- Chịu, nhưng sau khi thi xong Phúc cũng "trả nợ" Hạnh lại.
 
- Vâng, trả gấp hai.
 
Phúc đưa em ra xe chạy vòng vòng. Trời thật dễ thương, mai Phúc đi thi hẳn có điềm lành, bởi vì em thấy có đám mây "tường vân", đám mây chỉ sự may mắn của Phúc.
 
 
ĐỖ HỮU THỊ DUNG   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 138, tuần lễ từ 28-6 đến 5-7-1974)
 

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

THÁNG CUỐI - Thanh Hằng


Em vác cả chiếc chăn bông nhỏ ra quấn vào người, ngồi thon lỏn vào chiếc ghế lớn, cố gạo cho hết bài cuối cùng của môn sử địa, cái môn khó nuốt nhất trong những môn học của chương trình, mà cố gạo bao nhiêu càng không thuộc bấy nhiêu. Tháng tám em thi sao tâm trí em mãi bay xa vời sách vở, đeo đẳng mãi những buồn phiền ghê lắm, vớ vẩn ghê lắm. Cố tình quên càng thêm nhiều buồn bã, lẫn lo lắng vu vơ.
 
Em gấp cours Địa, cố nhắm mắt cô đọng những ý nghĩ lại nhưng sao mãi nhớ những chuyện xa lắc, xa lơ nào kéo về đong đầy ký ức.
 
Trên lầu, Tưởng, Ngọc, Bình, Bảo rồi anh Tuấn lục tục kéo xuống. Đi ngang qua chỗ em ngồi, Tưởng trêu chọc: Sao! Cô bé gạo hết bài chưa. Em mỉm cười (dù em chưa học được gì cả): Dĩ nhiên là học hết. Rồi giả vờ ngạc nhiên, em cao giọng: Cuối năm anh định gia nhập binh chủng nào đó? Tưởng không vừa: Còn cuối năm cô bé định tiểu đăng khoa hở? Em đỏ mặt. Cả bọn cười ầm rồi kéo nhau ra cửa. Tiếng anh Tuấn vọng vào: Ở nhà nhớ khóa cửa nha Ti. Em dạ nhỏ mà nước mắt chẩy dài buồn bã. Căn nhà vắng tanh, còn vương lại những làn khói thuốc mờ mịt. Ngoài trời, mấy hôm nay ảnh hưởng cơn bão rớt nên có vẻ lạnh lẽo, nặng nề. Ôi! Sao nhiều chuyện buồn đến với em ghê đi Hoài ạ. Lẽ ra giờ này em đã phải yên tĩnh - em nói là yên tĩnh của tâm hồn cơ đấy - để lo học bài, làm bài cho mùa thi sắp đến của mình. Em còn bao ngày, em còn bao ngày nữa, tính hộ em xem. À thôi, anh thì hay ăn gian ghê lắm. Em biết, mỗi lần giao hẹn điều gì hễ đưa tay móc ngoéo là thế nào anh cũng nắm chặt cả bàn tay thôi, để em tính cho nghe. Tháng tám em thi, bây giờ tháng bẩy, mà càng gần ngày thi em lại càng buồn ngủ. Ngồi đâu cũng ngủ, nằm đâu cũng ngủ. Mẹ bảo vậy là con gái hư lắm nhá. Mà em nói cho nghe. Chứ thức mà cứ mải nghĩ đến anh, tất cả đều nhớ hết. Giời ạ! Thế có phải là con gái ngoan không. Thà ngủ cho xong. Ô hay! Bộ cười ngạo em hở. Chả nói cho anh nghe nữa đâu anh yêu dấu ạ. Thấy không, em thật thà như lá cỏ, gì cũng nói anh nghe, xấu cũng nói anh nghe, tốt cũng nói anh nghe, làm sao cắt bỏ được sợi dây của con diều mà Ti lỡ buộc đời mình vào đó gởi mây gởi gió theo anh. Hồi nãy Tưởng nói cô bé định tiểu đăng khoa hở? Gì chứ chuyện đó chắc chắn không có rồi anh nhỉ. Em vẫn sợ cái kiếp vợ chồng đầy buồn vui, đầy lo lắng, dù đôi lúc em tự nhiên vẫn ước mơ mình sẽ có những sợi dây hồng cột chặt đời nhau. Thế đó. Mâu thuẫn ghê hở anh. Anh ạ! Cách đây mấy tuần, anh về, em thấy, và rất nhiều lần, bên khung cửa sổ về phía bên trái, em thấy anh lặng lẽ nhìn vào, mà em đã cố tình lờ đi. Em đã chối bỏ cái quyền gặp nhau vào ngày chủ nhật mỗi tuần bao nhiêu lần rồi. Sáu lần. Anh biết không. Em đếm kỹ lắm đó. Em thoáng thấy bóng anh về, như loài chim từ xa nhả từng cọng rơm nhỏ kết lại đời người, đời em mà em không dám gọi.
 
Hoài thương yêu! Chả lẽ em lại nói em cần anh như cần hơi thở, chả lẽ em lại nói em nhớ mong anh như nhớ từng bữa ăn từng giấc ngủ. Mà em dốt ghê đi anh ạ, chả lẽ, có nghĩa là anh có quyền kiêu hãnh rồi đó, mà không phải để "bắt nạt tui nghe bạn".
 
Phải chi hôm nọ ghé nhà là em đã cho anh xem thời khóa biểu của những ngày học thi của em. 
 
Này nhé! Sáng từ 5 giờ đến 7 giờ học bài. (vậy mà sáng nào 6 giờ 30 em mới dậy) Từ 7 giờ đến 11 giờ 30 làm toán, rồi học bài, rồi làm toán. Thấy em chia thời khóa biểu, mấy con bé bạn phục lăn, em xấu hổ ghê cơ. Đáng lẽ phải chia như thế này. Sáng từ 6 giờ đến 8 giờ học bài, từ 8 giờ đến 12 giờ nghĩ vơ nghĩ vẩn. Nhiều khi em mong thời gian qua nhanh cho qua ngày đoạn tháng mà nhìn chồng vở cao chưa thanh toán xong là em lại rùng mình. Tháng này, em bớt đi ít mỡ anh ạ, xuống gần 2 ký lô đó nhá. Mấy nhỏ bạn bảo em gầy như lá mùa thu (nguyên văn) chắc gạo bài thi lắm. Bây giờ chắc hết mục bát phố, hẹn hò. Em đỏ mặt ngượng ngùng. Thì mình có hò hẹn, đưa đón lần nào hở anh? Những lần gặp nhau đều vội vàng mà cũng đủ cho con tim em rộn rã như thể là sắp vỡ tung lồng ngực, mà em đã bâng khuâng hết cả khoảng thời gian sau đó. Bây giờ như thế đó, em chỉ lo cho ngày thi mà chưa bao giờ lo học thi. Đáng bị đòn ghê đi anh ạ. Bây giờ 19 giờ 15, trời tối, em vẫn ở vị trí cũ, nghĩa là vẫn ôm chiếc chăn trong cái ghế, nghĩa là vẫn ôm vở mà đầu óc vẫn nghĩ vơ nghĩ vẩn tận đâu đâu. Mẹ chưa gọi vào ăn cơm. A! Cấm cười nghe bồ, đứa nào cười hở mười cái răng ráng chịu, "tui" vậy đó, đến bữa ăn là cứ chờ má dọn. Ba cũng vẫn chưa đi làm về. Anh Tuấn chắc còn khuya mới về. Sau đó là một màn ngâm nga của bố. Một ngày đối với anh Tuấn thật nhiều tiết mục kể cả mục đi chơi khuya về bị ông cụ mắng.
 
Còn em, hồi xưa còn lang thang ngoài phố, dĩ nhiên là đơn thương độc mã nghe bạn. Tháng 7, ở nhà gạo bài, ra đụng sách vở, vào đụng sách vở, à, nhớ anh có phải là một tiết mục hay ho, thú vị hay không?
 
Anh ạ! Có lúc em nghĩ nỗi mong mỏi làm xanh xao ngày tháng, buồn vui cứ qua đi, có khi chỉ bắt đầu từ một khởi điểm nhỏ nhoi tình cờ, mãi tích lũy tiềm tàng bao la vô hạn. Hết một ngày, rồi một ngày, có lúc em cũng mong có ngọn gió vô tình nào thổi loài chim lang bạt về. Nhưng rồi tháng tám em thi, cũng rất vô tình gợi cho em âu lo ngày tháng, để em biết mình không có quyền gặp nhau, nhất định.
 
Anh yêu dấu! Mùa thi này em sẽ cố gắng đậu cao, thật cao cho tới hết hạn để đậu luôn. D'accord! Chứ không như bà thầy bói ngày nào nói em thi trượt, để em gục đầu khóc cho mọng đỏ mắt môi đâu. Này Hoài, em nói nhỏ cho nghe. Tháng tám em thi xong, nhớ đến, em chờ, đứng ngoài cửa sổ màu xanh, bên trái, nhất định bên trái và gọi tên thật của em nghe. Hạ Thảo nghe anh. Còn nhớ không đó. Ti Ti trẻ con quá anh ạ. Nhớ về, em kể cho nghe chuyện này hay lắm. Cái con bé Thúy... Đấy, em sắp lộ bí mật rồi. Và này, Hoài yêu dấu, đừng trách móc, hãy để em yên tĩnh thanh thản trong mùa thi đầu của đời em.
 
 
THANH HẰNG       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 59, tuần lễ từ 13-7 đến 20-7-1972)
 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

MỎNG MANH - Hoài Đông


 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
từ dạo đó yêu người ta bỗng lạ
đêm xa người nghe nhung nhớ môi hôn
trong con tim chảy tràn lan máu nhớ
cười vu vơ không che được nỗi buồn 
 
ôm đôi vai bằng cánh tay gầy guộc
nghe mạch đời thao thức giữa mông lung
tình mỏng manh mong gì trói buộc
gọi tên người trong hơi thở rưng rưng
 
vạn nỗi buồn góp thành mùa lá đỏ
đốt ấm nồng vòng mắt hoang mang
ngày mịt mờ vàng khô như cỏ úa
tình chưa đầy mà sầu đã thênh thang
 
từng bước dẫm lên đời nhau rất nhẹ
hôn tóc người ta bỗng khóc không hay 
có gì đâu sao hồn rung khe khẽ
trên tay người ngày tháng cũng mây bay
 
                                                    HOÀI ĐÔNG 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 110, tuần lễ từ 12-7 đến 19-7-1973)
 
 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

NUÔI GHẺ - Bình Nguyên Lộc

Tới trước cửa trường tiểu học Trương Minh Ký 1, Trung nói:

- Thôi em đi một mình nhé.

Nói rồi chàng toan bước vào trong trường. Nhưng Hạnh nhõng nhẽo:

- Hông, anh đưa em thêm một đỗi nữa hè. Đã tới giờ dạy ở đâu !

Trung xem lại đồng hồ đeo tay thì chỉ còn có 3 phút nữa là trống đánh. Nhưng vì mới yêu nhau nên chàng không dám để Hạnh mích lòng.

Hai người đi làm cùng một đường với nhau, nên quen nhau ít lâu nay. Hạnh là nữ y tá tập sự ở Bệnh viện Đô Thành. Cả hai đều là học trò mới ra trường nên đều còn hăm hở với hoài bão mà họ định thực hiện: Trung có tham vọng đào tạo một lớp thanh niên xứng đáng với thời buổi, còn Hạnh thì mộng giúp đỡ người bình dân để họ hiểu biết vệ sinh hơn. Vì chí hướng gần nhau nên họ mến nhau rồi yêu nhau.

Họ vượt qua khỏi rạp chiếu bóng Đại Nam thì một đứa bé trạc độ lên mười ở đâu trong hàng rào cây sống của tiệm nhảy Văn Cảnh 2 cà nhắc bước ra nói, giọng như hát:

- Lạy cô cho con đồng bạc mua cơm ăn.

Hạnh không để ý tới đứa bé, tiếp tục nói cười với bạn, tuy nhiên tay nàng vẫn thờ ơ mở xắc lấy tiền ra để bố thí.

Nghe một mùi bắt buồn nôn, Trung nhìn kỹ lại thì thấy đứa bé mặc quần xà lỏn: Từ miệng ống quần ngắn ấy thòng xuống một cặp giò ốm như hai sợi rễ thòng non của cây da trước miễu nào.

Ruồi và lằng xanh bay vù vù quanh cẳng trái của con bé. Bắp chuối của nó như bị một lưỡi dao bén xắn xuống làm sứt mất mô thịt ở đó. Lớp thịt còn sót lại, vòng ngoài đỏ như thịt heo trên các thớt chợ. Vòng kế đỏ trắng đục như sữa đặc. Phần nhưn ở giữa thì mang màu xám tro và lấm tấm những đốm nhỏ li ti màu thạch lục.

Ba bốn con lằng xanh châu đầu vào lớp nhưn đó và mê say hút số tế bào chết ấy. Trung nhăn mặt nhưng con bé vẫn thản nhiên đứng đợi rồi tươi nét mặt ra lúc nhận tiền. Nó không buồn đuổi ruồi, đứng yên mà chờ người khác đi qua.

Hạnh kéo bạn mà nói:

- Đi chớ, anh sợ trễ giờ mà sao lại chần chờ mãi ở đây.

- Con bé ! - Trung nói, nhưng chàng chưa làm được một câu đầy đủ vì nhiều ý nghĩ lộn xộn trong đầu chàng, chàng chưa kịp sắp lại cho có mạch lạc.

- Ừ, con bé. Bữa nào em cũng phải cho nó một đồng bạc hết, không thôi nó đi theo nói lải nhải, khó chịu và ghê tởm quá !

Trung làm thinh, bước chân theo bạn, giây lâu mới tỏ ỷ nghĩ ra được:

- Chương trình xã hội của em lớn lao quá đối với địa vị nữ y tá của em. Sao em không làm công việc nho nhỏ như vầy.

- Công việc gì đó anh ?

- Em săn sóc cho con bé.

Hạnh ngạc nhiên một lát, dường như sực tỉnh ra, rồi đáp:

- Ờ phải, em không nghĩ tới điều nầy bao giờ, thật bậy quá.

Ngày hôm sau, nghi lễ hành khất vẫn diễn ra y hệt như mỗi ngày. Hạnh trao tiền cho con bé rồi hỏi nó:

- Sao em không đi tới nhà thương ?

Con bé cười một cách đần độn và lâu lắm mới đáp:

- Con không biết.

- Không biết cái gì ? Không biết nhà thương ở đâu à ?

- Con không biết tại làm sao con không tới nhà thương.

- Em mắc mụt ghẻ hòm nầy từ bao lâu rồi ?

- Không biết...

- Em đi nhà thương với cô nghe !

Con bé chành bành cái miệng ra cười rồi lắc đầu.

Những ngày sau đó Hạnh tiếp tục cho tiền nhưng lần nào cũng có phụ cấp: khi thì kẹo, khi thì quýt.

Con bé xem chừng cảm mến nàng lắm và nhứt là tín nhiệm nơi nàng. Hạnh gây cảm tình trong 5 hôm liền là con bé chịu đi theo nàng.

Muốn cho cuộc lành bịnh của con bé là tác phẩm riêng của mình, Hạnh không cho nó lấy thẻ đi tới bác sĩ khám, mà săn sóc nó riêng biệt như người nhà.

Ngày đầu tiên nàng nạo sơ lớp mủ ngoài rồi rửa ghẻ bằng nước tím lợt; đoạn băng bó lại.

Ngày kế, Hạnh chưng hửng mà thấy con bé đón nàng, cái giò trần như khi trước. Ruồi lằng cũng bu quanh mụt ghẻ hòm để ăn tiệc tế bào.

- Băng đâu rồi ?

- Con đã tháo quăng đi rồi.

- Sao lại quăng đi ?

Con bé cười mà không đáp. Hôm ấy nó vẫn đi theo ân nhân của nó.

Hạnh hỏi:

- Đêm rồi, em nghe có dễ chịu hay không ?

- Dễ chịu lắm. Chừng nào hết hả cô ?

- Độ hai tuần thì khỏi, miễn là em phải để y băng. Em mà tháo băng quăng nữa, ba tháng sau chưa chắc lành ghẻ.

Hôm đó Hạnh nạo mủ, rửa bằng nước tím, nhưng lần nầy nàng rắc bột thuốc thủy lên.

Con bé can đảm lắm. Lúc nạo mủ nó chỉ hít hà thôi và lúc rắc thuốc, thứ thuốc làm rát rần lên ấy, nó chỉ nhăn mặt một lát.

Ngày thứ ba Hạnh vừa thấy con bé thì cơn giận của nàng đã nổi lên đùng đùng:

- Trời ơi, sao em lại tháo băng nữa ?

Con bé cũng chỉ cười trừ, Hạnh nguôi cơn giận được giây lát sau vì nàng xem xét lại thì thấy mụt ghẻ tuy vậy, có đỡ bớt phần nào. Mùi hôi thúi đã giảm, không phải vì bị mùi thuốc thủy lấn át đâu. Nước vàng hiện ra như nước ở những lạch con rịn chảy về suối, chỉ rõ sự lui bước của cuộc đọng mủ trắng.

Ngày thứ tư, Hạnh nhẫn nại mà kêu trời thầm chớ không còn nỡ  giận được nữa vì con bé lì lợm quá lắm. Nàng nghĩ có lẽ cuộn băng làm cho nó bực bội. Những đứa trẻ đầu đường xó chợ như vậy, ít khi phải vướng bận quần áo, khăn mền, nên đã quen quá với sự trần truồng thong thả da thịt đi rồi.

Không sao, nó làm như vậy thì chậm khỏi, chớ rốt cuộc rồi cũng khỏi, ruồi lằng cũng vắng bóng, mặt con bé cũng đã tươi tỉnh hẳn ra vì đã chắc chắn nó dễ chịu trong người nó.

Hôm ấy con bé do dự không đi.

- Ê, đừng có làm biếng. Em không đi nhà thương cho thật khỏi, vài ngày đây ghẻ cũng sẽ cương lên như cũ mà coi.

Nói rồi Hạnh nắm tay nó mà kéo đi. Con bé để ân nhân lôi nó, nhưng mặt nó rầu lắm. Hôm ấy tới nhà thương, nó không nhìn đến muốn rớt con mắt những cô nữ y tá mà nó khen là đẹp như bà tiên, và không hỏi lăng xăng cô Hạnh về đủ thứ việc như mọi khi.

Không phải là nó đã thạo nhà thương rồi đâu. Còn rất lắm thứ mà nó không biết dùng để làm gì, chẳng hạn như hai ống cao su mà bác sĩ đeo nơi cổ để thòng xuống trước ngực như đàn bà đeo dây chuyền. Và chẳng hạn như tại làm sao mà bác sĩ lại lấy ống bơm, bơm hơi vào cánh tay con bịnh như người ta bơm bánh xe máy ?

Những thứ ấy nó chưa kịp hỏi, mà hôm nay mắt nó lại chỉ nhìn vào một chỗ mà cỏ vẻ nghĩ tới đâu bên ngoài.

Qua hôm thứ năm; con bé quyết không đi. Hạnh nói thế nào nó cũng cứ lắc đầu. Sợ trễ giờ làm việc, nàng đành bỏ nó đó, định bụng sẽ tìm phương khác để dụ nó theo.

Tối hôm ấy, Hạnh tới nhà bạn. Đó là cuộc viếng thăm thường mỗi tuần giữa hai người. Khi chàng đến nàng, khi nàng đến chàng.

Nhưng câu chuyện không bắt đầu bằng những lời vui ngộ như mỗi lần. Vừa vào tới nhà Trung, là Hạnh đã băn khoăn than phiền:

- Có tức chết hay không anh Trung...

- Bị xếp quở phải không ?

- Không, con bé ăn mày.

- À, con bé ra làm sao ? Hổm nay không đưa em đi, không gặp nó nên anh quên mất.

- Hôm sau ngày anh gợi ý, em dẫn nó vô nhà thương, săn sóc cho nó tới ngày hôm qua đây. Nó đã đỡ nhiều lắm, nhưng lại không chịu theo em nữa.

- Thì cái thứ ngu dốt nó vẫn vậy. Thấy bớt đau, nó ngỡ cứ để vậy tự nhiên sẽ hết bịnh lần lần.

- Nhưng tức lắm là nó không chịu nói vì sao nó không chịu theo em.

- Bền chí, em nên bền chí mà dỗ nó. Thứ đó thì không bao giờ nói ra cái gì cả. Đừng thèm hỏi thì tốt hơn.

- Anh có giỏi thì dỗ nó. Em đã mất bình tĩnh khi sáng. Không chắc em sẽ bình tĩnh ngày mai nầy.

- Ai cũng nói đàn bà kiên nhẫn hơn đàn ông. Bây giờ mới rõ không phải luôn luôn họ nói đúng.

- Tại anh ở ngoài cuộc. Anh có phải đứng năn nỉ nó hàng mười lăm phút, anh có bị nó lấy sự im lặng mà đáp lại anh, anh mới biết bực mình.

Trung ra dáng không tin. Chàng cũng là tay luyện trẻ chuyên môn, đã gặp không biết bao nhiêu trẻ lì lợm rồi, thế mà chàng đều uốn nắn được cả.

- Thôi - chàng nói - bây giờ em đàn cho anh nghe vài bản cho quên bực trí. Ngày mai anh đưa nó tới nhà thương em xem.

Ngày hôm sau, họ đi thật sớm, phòng hờ phải tốn nhiều thì giờ với con bé ăn mày. Khi đôi bạn tới trước cửa quán Văn Cảnh, con hé đứng nép trong hàng rào mà lấm lét nhìn họ.

Hạnh trỏ nó mà nói:

- Bữa nay nó đến không thèm ra đây nữa, anh thấy hay không ?

Trung cười hì hì, bỏ Hạnh, bước tới trước mặt con bé, tay móc tiền, miệng nói:

- Bữa nay em sạch sẽ quá, thấy dễ thương quá. Thầy cho tiền đây, cho thiệt nhiều, tới ba đồng lận, em càng sạch, càng được người ta cho nhiều hơn, phải không Hạnh ?

Đoạn Sau, Trung day lại nói với bạn, đã nối gót theo chàng vừa tới nơi.

Con bé nhận tiền, nhìn Hạnh mà cười rồi cãi:

- Ở dơ họ cho nhiều hơn chớ !

- Sao lạ vậy ? Ai nói với em như vậy ?

- Má con nói !

Đoạn nó phân bua với Hạnh:

- Con cũng muốn đi theo cô, ngặt má không cho.

- Em cũng có má nữa hay sao ? Nhưng má em sao lại biết em đi với cô, Hạnh hỏi.

- Từ hôm con đi nhà thương tới nay, tiền xin được cứ sụt lần lần. Mọi lần một buổi sớm mai, họ cho ít lắm cũng ba chục bạc. Bây giờ có bữa kiếm không được năm đồng, má con hỏi tại làm sao mà được ít tiền vậy, con không biết đâu mà nói. Má con nghi con lấy tiền để ăn bánh nên má con đánh con dữ lắm. Con thề thốt thế nào má con cũng không tin.

- Má em ở đâu? - Hạnh hỏi.

- Má con cũng ăn xin dưới chợ Ông Lãnh.

Trung sực nhớ ra điều gì, nói:

- À, phải rồi, giờ nầy là giờ người ta qua lại tấp nập, mà mình dẫn nó đi nhà thương. Lát nữa trở về còn có ma nào để nó xin tiền.

- Không - con bé cãi - Lát nữa cũng có người qua lại nhưng người ta không cho.

- Hay là tại em bắt nó đợi lâu quá, mất hết thì giờ có mặt nó ở đây - Trung hỏi Hạnh như vậy.

- Không, em có bắt nó đợi lâu đâu. Nó theo em như người nhà và được săn sóc trước khi bác sĩ đến. Nó đã nói là má nó cấm đi với em, để em hỏi nó xem.

Rồi xoa đầu con bé, Hạnh nói:

- Thôi em không muốn đi thì tùy ý em. Nhưng em chưa nói cho cô biết tại sao má em lại biết rõ rằng em đã đi với cô.

- À, tại cô chận hỏi em cái nầy, cái kia mà em nói chưa hết. Vài hôm sau khi đi nhà thương, em nằm ngủ với má em, trước chùa Kim Chung: Má em khịt mũi giây lâu rồi nói một mình: "Cái mùi nghe khó chịu quá !" Lát sau má em ngồi dậy mà hỏi: "Mùi hôi thúi của mụt ghẻ mầy tao nghe quen rồi nên không thấy khó chịu. Bữa này sao mùi ghẻ không còn nữa mà mùi gì lạ xông lên đó ?" Đoạn má con hửi mền, hửi gối và đánh hơi lần lần, bắt được cái ổ mùi hôi đó tại chơn con. Con cũng biết mùi ấy ở đó mà ra, nhưng không dám khai thật. Đó là mùi thuốc thủy.

- Tại sao lại không khai ?

- Con cũng không biết tại sao nữa. Mấy lần con tháo băng ra cũng vì sợ má con. Mà tại sao lại sợ, con cũng không biết.

- Rồi má em nói sao ?

- Má em đánh quẹt lên rọi cái chơn của em rồi kêu trời: "Trời ơi, mụt ghẻ của mầy sao lại gần lành như vầy nè ? Mà hình như có ai xức thuốc gì cho mầy đó phải không ?"

Con sợ quá, nín bặt. Má con véo con một cái đau điếng người rồi hét: "Ai xức thuốc cho mầy, phải khai thật ra, không thì chết với tao !" Không thể nín được nữa, con kể hết đầu đuôi vụ gặp cô cho má con nghe. Nghe xong má con nói: "Thôi tao biết rồi. Cái cô đó là 1 quỷ vương, dụ dỗ con nít đi xức thuốc cho nó chết đặng cướp hồn chúng nó. Tao cấm mầy đi theo cô đó nữa nghe không. Mầy mà cãi lời tao thì mầy sẽ biết tay tao !"

Cho nên hôm qua con mới không chịu đi với cô.

Hạnh và Trung cười ngất, rồi Hạnh hỏi:

- Em có tin cô là quỷ vương không ?

- Không, nhưng con sợ má con lắm.

- Nhưng nếu bữa nay em đi, má em làm sao mà biết được - Trung hỏi.

- Biết chớ ! Hôm qua không đi, em xin được tiền kha khá hơn mấy bữa trước. Bữa nay đi, về tay không sợ phải đòn.

- Em thương cô đây hay không ?

- Em thương lắm.

- Thì liều bị đòn một bữa, đi lần chót với cô, cho cô khỏi buồn. Bữa nay thì đi xích lô cho nó lẹ.

Con bé ngần ngừ giây lát. Trung thấy nó có chiều thuận, sợ nó đổi ý, nên nắm tay nó mà kéo ra ngoài, miệng thì kêu xích lô.

Khi xe chạy xa rồi, chàng mới trở về trường Trương-Minh-Ký.

Sáng hôm kế đó, đôi bạn lại hăm hở đi thật sớm từ xóm nhà thờ Tin Lành để ra Saigon.

Trung khoe khoang:

- Em thấy hay không ? Trẻ con thì phải quyết định cho chúng nó. Không thời chúng nó do dự mãi.

Hạnh không đáp, nhưng nàng có cảm giác rằng hôm nay, nói dai dẳng bao nhiêu, cương quyết đến đâu cũng không khiêng cược con bé đi nữa. Họ đã tới trước hàng rào tiệm nhảy Văn Cảnh. Đôi bạn dừng lại, nhìn con bé mà cười: Hạnh vừa đưa tay ngoắt nó thì một bộ xương người phủ áo quần từ trong hàng rào nhảy ra hỏi; giọng dữ tợn: "Bộ cô muốn dụ dỗ con tôi đi nữa hả ?"

Chị đàn bà ấy dơ bẩn chỉ kém con chị một tí thôi. Nhưng mặt thi hung tợn hơn nhiều lắm. Hạnh lùi lại một bước vì ghê tởm, hỏi lại:

- Chị là mẹ của nó đó à ?

- Ừ, tôi là mẹ ruột của nó. Tôi không muốn ai dụ dỗ con tôi hết. Tôi cấm cô...

- Chị cấm tôi ? Tôi cấm chị để cho nó bịnh hoạn mới phải chớ.

Chị ta sừng sộ bước tới hỏi gằn:

- Cô nói sao ? Tôi ăn thua đủ với cô đây !

Vừa hét lên đoạn sau của câu trên, chị ta vừa xăn tay áo, nghiến răng trèo trẹo. Hạnh sợ hãi, núp sau Trung và nói:

- Anh Trung, kêu cảnh sát mau lên. Cho con ác mẫu nầy ở tù về tội ngược đãi con cho nó biết chừng.

Nhưng Trung cũng thối lui, chân bước mau, tay ôm bạn mà kéo đi.

Hạnh tức giận vùng thoát ra mà nói:

- Anh hèn lắm, anh cũng sợ nó nữa à ?

Trung nghiêm sắc mặt lại mà đáp:

- Không, nhưng ta lầm. Ta đã lầm nhiều lắm em à !

- Lầm cái gi ? - Giọng tức giận của Hạnh chưa dịu trong câu hỏi gằn đó.

- Ta lầm. Hai mẹ con nó đã sống nhờ mụt ghẻ ấy nên chúng nó nuôi ghẻ cẩn thận để kiếm ăn.

Ai mà làm cho mụt ghẻ con bé lành là mẹ nó "ăn thua đủ" thực sự đó. Chúng nó có sợ cảnh sát cảnh siết gì đâu !

(Trích từ tập truyện ngắn Mưa Thu Nhớ Tằm) 

--------------------------------
1Câu chuyện viết ra hồi trường chưa đổi tên.
2V.C. cũ.