Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

LÃNG TỬ BOBBY - Võ Hồng


Khi nghe tôi ngỏ ý muốn tìm nuôi một con chó, Cần vồn vã nói:
 
- Để em tìm cho chị một con.
 
"Xin một con chó?" - Tôi tự hỏi, trong cái xã hội đô thị hôm nay mà còn có chuyện đi xin một con chó? Làm y như ở nông thôn cách đây mươi năm. Ở nông thôn "xin" là một việc bình thường, việc phổ thông, một hình thái sinh hoạt thân hữu. Người ta xin nhau một nắm lá nêm, một cặp thỏ con, một bụi thược dược. Ở đô thị thì tất cả đều phải mua sòng phẳng, dứt khoát. Nhất là một con chó. Lại là một con chó đẹp. Tôi nói:
 
- Nhưng tôi thích một con béc-giê.
 
- Dạ béc-giê chớ sao.
 
- Béc-giê mà đâu có vấn đề xin, người ta nuôi béc-giê để bán, nuôi từng bầy, làm thành một kỹ nghệ.
 
- Đành vậy, nhưng đây là chỗ quen mà.
 
- Dẫu là chỗ quen nhưng anh cần nhớ rằng một con bec-giê giá tới bốn, năm ngàn đồng (1). Với loại chó quý thì giá tới vài mươi ngàn đồng một con là thường. Đó là tôi nói chó con thôi đó. 
 
- Chị cứ tin em đi. Em nói dối với chị làm chi.
 
Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng Cần nói dối. Nhưng vẫn có điều nghi hoặc.
 
- Con chó lớn chưa?
 
- Cao như vầy nè.
 
Cần giơ tay ra dấu. Từ mặt đất lên tới bàn tay của Cần, tôi ước lượng chừng bốn tấc.
 
- Như vậy là chó đã lớn.
 
- Còn con mà.
 
- Màu gì?
 
- Đen.
 
- Đen thui?
 
- Không. Có chỗ đen chỗ trắng.
 
- Chó béc-giê đâu có thứ vá như vậy?
 
- Nhưng rõ ràng là béc-giê mà. Chị cứ tin em đi.
 
Tôi im lặng. Cần nói một mình:
 
- Anh Nhiếp, kỹ sư ở Ty Canh nông hiện đang nuôi nó. Người ta cho ảnh đấy. Nó vui lắm, ưa nhảy giỡn. Mỗi lần em tới là nó nhảy giỡn không biết mệt.
 
"Ưa nhảy giỡn" không phải là tiêu chuẩn để định giá trị một con chó tốt. Cần càng muốn đề cao ưu điểm của nó bao nhiêu thì càng sa lầy một cách tệ hại vào những chi tiết nhảm nhí bấy nhiêu.
 
- Anh Nhiếp thương nó lắm. Chị Nhiếp cũng thương nó nữa.
 
- Con chó người ta đã xin để nuôi rồi thì có lý đâu người ta lại đem cho.
 
- Vậy mà ảnh nói ai xin thì ảnh cho.
 
- Mới nói ảnh thương nó lắm...
 
- Vậy mà ảnh nói hễ ai xin thì ảnh cho.
 
- Thật là mâu thuẫn khó hiểu. Nhưng... hơi  đâu mà lý luận rắc rối - tôi cắt đứt mọi thắc mắc. 
 
- Ừ, nếu xin được một con thì tốt. Bằng không thì tìm mua giùm một con.
 
- Dạ, chị để em.
 
Ba ngày sau Cần dắt con chó tới. Quả đúng là nó đã cao tới bốn tấc và như vậy thì không thể gọi là chó con được. Lông nó đen mun với vài miếng vá trắng nhỏ ở bốn chân, ở dưới bụng. Riêng chót đuôi thì trắng tuyền. Tai nó nhỏ lại cụp xuống nên trông càng nhỏ thêm, y như hai cái vảy. Mặt mũi đen ngòm.
 
- Anh Nhiếp cho mà cứ tiếc. Ảnh nói bởi chị là chỗ quen, chớ không thì... ảnh thương nó lắm.
 
- Thì để ảnh nuôi. Sao lại...
 
Cần vội vã:
 
- Thôi thôi. Ảnh đã vui vẻ cho rồi mà.
 
Thành thật mà nói thì tôi không thích con chó nên tôi rất muốn hoàn nó lại cho chủ nó. Nhất là khi phải nghe Cần lải nhải những "ảnh thương... ảnh tiếc...".
 
Nhưng trả về không phải là không rắc rối nên tôi đành buông xuôi.
 
- Thôi được. Cám ơn anh nhiều.
 
Rõ ràng là càng nhìn kỹ con chó tôi càng tìm thấy những điểm mà tôi không thích. Bắt đầu là đôi mắt. Một khuôn mặt người dẫu đẹp bao nhiêu mà lắp vào hai con mắt xấu thì giá trị giảm đi có đến phân nửa. Ngược lại, một đôi mắt đẹp đủ sức xóa mờ đi bớt những khuyết điểm ở tai, ở mũi, ở môi. Cả đến con vật cũng vậy. Mới nhìn một con gà con nép dưới cánh mẹ thò đầu ra ngoài là ta đã bị chinh phục ngay bởi đôi mắt đen láy của nó. Con chó của tôi thì - thê thảm chưa - có đôi mắt lờ đờ giữa một khuôn mặt đen ngòm. Tất cả những cái gì gọi là linh động, là cá biệt, là hấp dẫn đều chìm đắm trong cái diện tích đen tối mênh mông đó.
 
Tuy vậy nhưng khi đặt tên cho nó, tôi cũng bàn với chị tôi xem nên lựa một cái tên nào cho đẹp. Người ta thì mượn tên danh nhân, chó thì mượn tên danh khuyển. Những tên Mi-nô, Lu-lu đã lỗi thời rồi, chị tôi nhắc đến tên một con chó thời danh và đề nghị:
 
- Mình đặt tên cho nó là Bobby đi.
 
Chị tôi kể những thành tích của con chó ngoại quốc đó và tôi chấp nhận liền. Thật ra thì nếu có đặt tên là Cún, là Mực, là Bô-tô, là Hecto, là Richard... gì đi nữa thì tôi cũng sẵn sàng bằng lòng. Bởi tôi không mong đợi gì bao nhiêu ở cốt cách của một con chó như vậy.
 
Công việc đầu tiên của con Bobby khi đến ở nhà tôi là đi chầm chậm quanh nhà, vừa ghé mũi ngửi vào chỗ này chỗ khác. Chị tôi và tôi lặng lẽ theo dõi. Khó biết nó có ngạc nhiên hay thích thú gì không, bởi vì màu đen nơi khuôn mặt nó nhận chìm hết mọi băn khoăn, háo hức, mừng giận. Thật may mắn hết sức khi những tảng đá còn có được màu xám. Còn có một chút biểu lộ gì đó, nào đó trên một nền màu nhạt. Cho dù là đá câm nín, lạnh lùng.
 
Con Bobby đi lãng đãng như vậy, ngửi vẩn vơ vào cả những tờ giấy vụn, những chiếc lá khô. Rồi chợt đứng ghếch chân đái một trận dồi dào vào cửa cổng. Thật là một lối chấm câu kỳ bí bất ngờ.
 
Đến bữa, Bobby chiếu cố tận tình bát cơm ụ dành cho nó. Không một chút khách sáo. Sau bữa cơm, nó nằm khoanh ở mái hiên đánh một giấc dài. Không có dấu hiệu gì tỏ ra rằng nó đang nhớ ngôi nhà, chủ cũ, nơi nó vừa rời bỏ.
 
Buổi chiều là màn rượt gà vịt trong sân. Lũ gà vịt chạy táo tác, miệng la inh ỏi. Thấy sự thành công dễ dàng, nó lập lại nhiều lần trò chơi này khiến con nhỏ giúp việc - con Thời - phải can thiệp:
 
- Bobby! Đừng rượt nữa. Đánh chết. 
 
Nó đứng dừng lại, nhìn con Thời đang bước tới. Rồi bỗng nó ngoắt đuôi lia lịa vừa nhảy chồm lên mừng. Thái độ thật khó hiểu. Không biết nên phê bình là nó ngu hay khen là nó có tài chiến tranh tâm lý. Sau hai ngày, tôi được nghe tiếng sủa đầu tiên của nó. Cũng chỉ là sủa láo vậy thôi, sủa vào một tàu dừa khô đang không bỗng rơi ào từ đọt cao rớt bịch xuống đất. Duy có điều là tiếng sủa không xấu như tướng mạo của nó, mà đó là tiếng sủa ồ ồ, vang rền dõng dạc. Phải là loại chó sang trọng, có tổ tiên dính líu xa gần chi với họ béc-giê thì mới có được cái giọng uy dũng đó. Chỉ đáng tiếc là Bobby rất hà tiện tiếng sủa và chỉ sủa vào những mục tiêu không cần thiết. Nó lại có tật hay sủa hùa theo những con chó khác ở ngoài đường hay ở các nhà lân cận. Thật là một sự ồn ào vô ích trong khi có kẻ lạ vào nhà thì nó cứ đứng im lìm. Tệ hơn nữa, khi kẻ lạ dõng dạc bước đến gần nó thì nó lại vẫy đuôi mừng. Trời, học kiểu giữ nhà ở đâu mà lạ vậy? Thâm nhiễm thứ triết lý nào mà hành động ngược đời vậy? Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng rằng năm tháng sẽ thay đổi dần cái quan niệm Thiện ác của nó và tôi không thèm để ý đến nó nữa. Con Thời cứ cần mẫn lo cơm nước cho nó và đổi lại, thỉnh thoảng tôi được nghe vài tiếng sủa vô ích giữa ban trưa.
 
Một năm... rồi hai năm trôi qua. Bobby lớn hết tầm của nó, những khuyết điểm về thể xác cũng lớn theo thân hình khiến nó còn xấu xí hơn xưa nữa. Đôi con mắt lờ đờ tạo thành một khuôn mặt khờ dại... Đã thế, một hôm con Thời còn chợt phát giác rằng Bobby miệng méo. Một con chó méo miệng thì quả là một sự lạ, mới nghe tôi không tin, nhưng nhìn kỹ thì quả là cái miệng của nó không ngậm kín lại được, hàm dưới xô lệch sang một bên. Trông nó có vẻ như cười người, khinh đời, ngạo mạn, xấc xược. Quá nhiều khuyết điểm đỏ dồn tập trung vào nó khiến không ai có chút cảm tình nào với nó hết. Thảng hoặc có lúc chị tôi hay tôi biểu lộ một tình thương thì cũng chỉ là một sự hồi tâm có lý luận. Như vậy đó, con Bobby cứ hiện diện giữa gia đình tôi như một cái bóng, - màu đen, - một loại bánh xe thứ năm.
 
Bản tính phóng nhiệm, nó dùng thì giờ luôn luôn nhàn rỗi để đi la cà khắp nơi, ghé nhà này và nhà khác, đi dong chơi suốt con đường Hồng Bàng, rẽ qua Nguyễn Trung Trực, Ngô Đức Kế, Trịnh Phong, Lê Đại Hành. Bước vân du thật không biết giới hạn ở nơi nào bởi ngày cũng như đêm chẳng mấy khi thấy mặt nó. Chỉ có vào đúng bữa ăn là nó nhớ mò về nhà, lẩn quất nơi bếp để đợi phần cơm. Thì ra, dẫu nghệ sĩ đến bực nào, cái dạ dày cũng vẫn cứ còn đó để làm cái máy hãm thực tế và ô nhục. Và hữu hiệu.
 
Lâu lâu Bobby đi về bằng ba chân, cái chân thứ tư què cong lên khập khiễnh. Đó là kết quả của những lần xung trận.
 
- Hẳn là đi giành phần ăn của ai đó - tôi nói.
 
Anh tôi nối lời với giọng cả quyết, như có ý muốn đính chính:
 
- Có đi giành gái với mấy con chó đực khác thì cơ sự mới tồi tệ như vậy.
 
- Một con đực, nếu không cận thị thì sẽ không dại gì mà đi tranh giành với một đối thủ xấu xí như Bobby. Cứ để cho con cái nó tự ý loại bỏ.
 
- Không chắc. Vả chăng, Bobby xấu trai là theo nhãn quan của mình. Còn chó cái có những tiêu chuẩn xấu đẹp riêng của nó.
 
- Lý luận là như vậy. Còn phải nhìn thực tế nữa.
 
- Tao thấy thực tế rồi mà. Hôm đạp xe đi học qua chợ Xóm Mới tao thấy con Bobby đứng tình tự với một cô bạn của nó. Trông cũng xinh.
 
Xin cảm tạ Thượng Đế nhân từ! Đích thực là Thượng Đế không hề ưu đãi một dân tộc Aryen nào hết, không hề bạc đãi một sinh vật da màu nào hết. Thượng Đế không hề quên ban phát Hạnh Phúc cho một giống loài nhỏ hèn mọn nào hết.
 
Từ khi biết rằng trái tm của Bobby cũng được rung động vì tình yêu, tôi sung sướng giùm cho nó mỗi khi chợt nghĩ đến những cuộc viễn chinh lắm bữa quên về của nó. Cuộc sống có đam mê, tình yêu có san sẻ, như vậy còn đòi hỏi chi hơn? Đã thế mà lại tuyệt vô trách nhiệm, khỏi có bổn phận ràng buộc, cơm ăn nước uống đã có kẻ lo sẵn cho. Hãy cứ thử mà làm người đi, xem có dễ mà được hưởng thụ theo kiểu đó không.
 
Rồi bỗng có một dạo Bobby bớt đi ngao du mà hay lẩn quẩn ở nhà. Tìm hiểu nguyên nhân thì tôi được báo cáo rằng ở bên nhà ông Phi-luật-tân sát cạnh nhà tôi có một con chó cái. Con chó này mập mạp, nhanh nhẹn, tiếng sủa dõng dạc và giữ nhà thuộc hạng giỏi. Một kiều nữ xinh đẹp và đảm đang có hạng như vậy chắc chả thèm đi yêu một chàng lãng tử mặt mũi đen thui xấu xí như Bobby đâu, tôi nghĩ. Cũng như loài người, Bobby sẽ chỉ suốt đời yêu đơn phương yêu tuyệt vọng bởi chưng không biết lượng sức mình sức người.
 
Cho đến một hôm bỗng nhiên tôi nghe tiếng chó con cẳng cẳng ngoài vườn sau. Mảnh vườn nhỏ này ăn thông với mảnh vườn nhà ông Phi-luật-tân, tôi đi ra coi thử thì thấy con Ghina, tên con chó cái Phi-luật-tân, - nằm ềnh giữa một bầy con lúc nhúc năm đứa. Những con chó con biểu diễn đủ mọi trò sinh hoạt: bú mẹ, nhảy giỡn, nằm ngủ... Nhiều khi trí óc mệt mỏi vì những bài học quá dài, vì những bài toán quá phức tạp tôi hay ra vườn sau để nhìn lũ chó con ngây thơ vô tội đang sống hồn nhiên. Khi lặng lẽ đứng nhìn lũ chó con, tôi bỗng để ý rằng có một kẻ cũng hay lảng vảng đứng nhìn gần đó: Bobby. Rồi có hồi tôi thấy Bobby đứng giữa, bầy chó con bao vây chung quanh, mà con Ghina thì không có phản ứng gì hết. Đáng lẽ phải lớn tiếng xua đuổi thằng ngoại cuộc, thằng ngoại xâm có thể gây nguy hiểm cho lũ con nó chớ. Còn con Bobby cũng lạ. Có ai đời thân trai bảy thước mà lại la cà đứng chơi với lũ nhỏ mới đẻ, con nhà hàng xóm miệng còn hơi sữa.
 
Một hôm tôi đang đứng nhìn lũ chó như thường lệ thì bị bà vợ ông Phi-luật-tân - một người đàn bà Việt Nam nhan sắc mặn mà - bắt gặp. Hơi ngượng, tôi phải giải thích nguyên do vì sao tôi ưa nhìn lũ chó nô đùa và vì chẳng biết nói chi thêm, tôi nói luôn cái nhận xét như trên. Tức thì bà vợ ông Phi-luật-tân mỉm cười:
 
- Con của nó chớ con của ai mà cô bảo là con nhà hàng xóm.
 
Tôi phản đối mạnh mẽ:
 
- Không có lý. Tôi thấy con Ghina giao du thân mật với con chó xù của ông Hiệu trưởng trường Nha Trang nghĩa-thục.
 
- Tôi biết. Và không phải chỉ bấy nhiêu đó. Nó còn đi lại với con béc-giê lai của bà dược sĩ Chánh. Cố nhiên là có cả con Bobby của cô.
 
- Bà nói đùa...
 
- Thật đấy mà. Cô xem kìa...
 
Bà Phi-luật-tân chỉ một con chó con mặt mũi và mình mẩy đen ngòm y như Bobby:
 
- Chẳng phải con nó thì là con của ai?
 
- Nhìn qua thì thấy giống. Nhưng không thể vì thế mà kết luận mau như vậy.
 
Bà Phi-luật-tân chắc lưỡi:
 
- Khổ quá. Đến thế này mà cô còn nghi ngờ chưa tin. Thì chính tôi... chính tôi thấy tận mắt cơ mà.
 
Thế là tôi chịu thua. Nghĩ cho kỹ thì bà Phi-luật-tân dẫu có thắng tôi nhưng vẫn thua Bobby. Cả Ghina cũng thua luôn. Chỉ có Bobby là kẻ thắng trận.
 
Trong năm con chó con, chỉ có một là đen thui giống hệt Bobby. Hai con khác vàng giống mẹ. Một con trắng, một con loang lổ. Khi biết rằng Bobby là một trong những người cha tốt số, tôi để ý đến liên hệ tình cảm giữa nó và năm con chó con. Tôi thấy rằng Bobby chỉ âu yếm con chó đen thui mà dửng dưng với mọi con khác. Nhiều lần tôi thấy nó đứng ngửi say mê vào đầu vào hông vào mông con chó đen và nhiều lần nó nằm xuống để con chó đen leo lên lưng lên đầu. Mỗi khi con đen leo trèo nghịch ngợm ngã lăn kềnh ra thì Bobby dùng mõm đẩy cho nó đứng dậy, dùng mũi để ngửi (chắc có nghĩa là hôn) dùng lưỡi để liếm lên mặt lên bụng. Mấy con chó khác thấy vậy cũng bắt chước a tới, trèo lên chân, cà vào mông, nhảy vào đùi... đều bị Bobby nhẹ nhàng gạt ra hết. Lúc nào cảm thấy lũ nhỏ làm quá thì chàng đứng dậy bỏ đi ra chỗ khác. Tất cả mọi cử động đều nhẹ nhàng, dịu dàng.
 
Mực con biết Bobby cưng mình hơn mấy đứa khác nên cho dù Bobby có đứng dậy bỏ đi Mực con cứ lẩn quẩn chạy theo. Và hai cha con lại đứng dừng lại, im lặng chơi đùa với nhau, âu yếm nhìn và vuốt ve nhau. 
 
Để xác nhận cụ thể sự phân biệt tình cảm của Bobby với mấy chú chó con, một hôm tôi lấy cái que dài gạt hất lũ chó con. Bobby đứng nhìn thản nhiên. Tôi lấy que gạt hất con Mực con. Bobby gừ lên. Tôi gạt mạnh hơn. Bobby gừ to hơn và dài hơn. Vậy là rõ ràng Bobby đã công nhận Mực con là con chính thức của nó. và bao nhiêu tình âu yếm đều dành cho đứa con thừa tự đó.
 
Từ ngày có con, Bobby cứ quanh quẩn ở khu vườn sau, chơi với con, hoặc có lúc thì đừng ở hiên nhà âu yếm nhìn con. Hết bỏ lang thang đi bụi đời nữa. Bình thường, ở những con vật chỉ có tình mẹ con, bởi con sinh ra chỉ biết có mẹ chăm lo săn sóc. Còn cha là ai đó thì đố có thể biết được. Đó là những kẻ lang thang - những con đực - vui đâu chúc đó, sẵn đâu ghé đó, tình tự một lần rồi khăn gói gió đưa. Thậm chí đến con người trong những xã hội sơ khai cũng không thoát ra khỏi cái luật giang hồ đó. Di tích là chế độ mẫu hệ. Vậy thì việc con Bobby, một tên xấu xí và đần độn chợt thắp sáng trong hồn ngọn đèn của tình phụ từ là một điều làm tôi xúc động. Tình cảm là một cái gì đã trở nên khó tìm ở nơi xã hội loài người. Con người hôm nay đặt lý trí lên trên tình cảm, càng ngày càng bóp chết tình cảm để chỗ cho lý trí phát triển, ngự trị, độc tôn. Bao nhiêu ích kỷ, tàn bạo, bất nhân đều do cái quan niệm nhân sinh đó mà ra cả. Bởi vậy cho nên một cách tự nhiên tôi không còn khinh bỉ sự ngu si của Bobby, mà ngược lại tôi dần dần có tình cảm với nó.
 
Nhưng rồi có một lúc nào, tôi chợt để ý thấy rằng cả mấy ngày nay Bobby không hiện diện để mơn trớn bé Mực nữa. Hỏi chị tôi và anh tôi, hỏi người làm thì ai cũng trả lời như nhau rằng ba bốn bữa nay không thấy Bobby về ăn cơm.
 
Sau một tuần chờ đợi mà vẫn bặt tăm, các giả thuyết được nêu ra:
 
- Chắc mấy tiệm bán thịt chó đã phục kích nó rồi. Ở đầu phố Đống Đa, ở cuối phố Bạch Đằng, ở giữa phố Mê Linh và xa hơn... mọc đầy những tiệm bán thịt chó.
 
- Đúng vậy. Sự giết chóc được diễn thành một trò vui nhộn khi trên tấm bảng hiệu được ghi là "sống trên đời"... "Nai đồng quê"... "Cờ Tây",,, "Mộc tổn"... khi con người giết nhau một cách hăng say, bỏ ra nhiều ngân khoản để nghiên cứu cách giết nhau sao cho thật hữu hiệu, thật lý tưởng... thì việc giết chó chỉ là một trò vui nhộn nhỏ tí. 
 
- Có những người lái xe jeep cố tình cán cho chết những con chó đi băng qua đường. Cán xong vừa bỏ chạy vừa ngó lui coi chừng. Rồi quày xe lại nếu là đường vắng, không có ai bâu quanh xác con chó. Anh ta sẽ xuống xe, xách chiến lợi phẩm đó bỏ lên xe.
 
- Ngoài hông chợ có một tổ chức cứ đêm đêm phục sẵn bao bố để chụp bắt chó chạy rông. Chắc con Bobby là nạn nhân.
 
Mọi giả thuyết đều đi đến kết luận là con Bobby đã tuyệt mạng trên bước đường giang hồ của nó, đúng y cái nghiệp mà nó đã chọn. Bobby ngã xuống âm thầm, bé Mực thành bé mồ côi, Ghina trở nên góa phụ. Xương Bobby, thực khách nhai nuốt không được đành nhả ra, chạy vào thùng rác, hồn Bobby làng vảng đâu đó dật dờ... tất cả đều nhẹ nhàng, đều gọn gàng, không hề gây một tiếng động nào hết, một xáo trộn nào hết trong cái dòng đời hỗn loạn, xô bồ.
 
_________
(1) Thời giá chặng 1973-1974 
 

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

CAO NHƯ DÁNG NÚI - Ái Bắc


Trong nhà, người ghét nhắc lại chuyện ngày xưa nhất có lẽ là Ba em. Bởi vì với một lũ con mà từ đứa lớn đến đứa bé đều có chút máu tếu nghịch trong người thì mỗi lần nghe Mẹ kể lại những kỷ niệm với Ba xưa kia, cả lũ thường bình phẩm tinh nghịch rồi rúc rích cười mãi khiến Ba tuy không giận lũ con lí lắc nhưng không khỏi vô cùng ngượng với Mẹ em. Theo lời Mẹ kể thì ngày xưa Mẹ không hề thương Ba mà vẫn phải nhận lời làm vợ vì vâng theo ý muốn của ông bà Ngoại vậy thôi. Hôn nhân ngày trước thường trải qua nhiều lễ nghi và Ba Mẹ không hề được nói chuyện với nhau trước ngày cưới dù Ba vẫn thường lên nhà Ngoại trong những dịp chạm ngõ, đi tết, đi hỏi v.v... Mẹ chỉ kể đến đấy là đám con nhao nhao lên hỏi các chi tiết như lúc đó Ba còn đi học hay đã đi làm, Ba mặc âu phục... Những lần ấy nếu có Ba em ở đó Ba sẽ giả vờ quát lên: "Ồn quá, để Ba đọc báo" hoặc Ba phải nhượng bộ cầm tờ báo bước ra hiên với nụ cười dễ dãi và hơi ngượng.
 
Phải nhận rằng hầu hết các cuộc hôn nhân thời trước không cần có sự đồng ý của "2 nhân vật chính" mà vẫn đi đến chỗ êm đẹp, thuận hòa. Trường hợp Ba Mẹ em cũng thế. Ba nóng tính nhưng hiền, biết lo cho gia đình, Mẹ em thì một lòng kính Ba, và cho đến nay Ba Mẹ em đã chung sống trên 30 năm mà không hề có một lần cãi vã to tiếng nào. Hễ thấy Ba sắp nổi nóng thì Mẹ nhịn, còn đôi lần Ba có lỗi, Mẹ sắp cằn nhằn thì Ba nhận lỗi ngay. Cứ như thế "những cơn giận đơn phương" dễ dàng tan biến. Bà Nội em đảm đang và Mẹ em cũng giỏi dắn trong bổn phận đàn bà, vì thế Ba em là người đàn ông chỉ biết "các công việc ở nhà trên", đã có người khác săn sóc, lo toan những việc nhỏ nhặt, tinh tế trong nhà. Đời Ba cũng trải qua 3 lần tù tội: Dưới thời Pháp thuộc, thời Việt Minh và gần nhất dưới thời Ngô Đình Diệm. Cả 3 lần Ba không đến nỗi khổ sở lắm, chỉ tội cho Mẹ em phải lo lắng chạy vạy nuôi con, thăm chồng. Những thất bại Ba em gặp trong đời đều do cái tính dễ tin người của Ba (bản chất Ba em là thật thà và thiệt thòi nhất là nghĩ mọi người cũng đều thành thật như mình. Thêm vào đó, Ba xoay sở có phần chậm chạp, nóng tính nên dễ hỏng việc.) Và chắc chắn cái năng khiếu về văn chương và âm nhạc của các con Ba là do ảnh hưởng bên Mẹ thôi. Ba em vẽ khá nhưng có lần trong một cuộc thi nào đó có môn thi vẽ hoặc đơn ca tùy thí sinh chọn, không hiểu sao Ba em đã chọn phần ca và nghiêm trang đứng lên hát bài "Quốc Ca Việt Nam" (Ba chỉ biết hát duy nhất bài hát đó) thật to và thật oai khiến... cả giám khảo lẫn tất cả thí sinh trong phòng cùng đứng nghiêm chào cờ hết. Dĩ nhiên chuyện nầy nếu Ba không kể thì lũ con đâu có biết nhưng Ba cũng không tỏ vẻ ân hận khi thỉnh thoảng bị lũ con nghịch ngợm nhắc lại chuyện cũ để cười cho vui cửa vui nhà. Âm nhạc, Ba chỉ thích nghe lối hò xứ Huế. Chả là ngày xưa Ba đã có những năm lênh đênh trên các chuyến đò xuôi sông Hương và mỗi lần nhắc lại Mẹ còn nửa đùa nửa thật thêm rằng Ba "cảm" một o nào đó có giọng hò tuyệt hay. Bây giờ thì Ba yên bình sống tiếp cuộc đời công chức đã trên 10 năm của mình. Ba làm gần nhà rồi thuyên chuyển vào Cam Ranh, Sàigòn. Đi đâu cũng chỉ mình Ba đi, Mẹ em chỉ thích ở lại với các con để còn gần họ hàng, vườn nhà. Mà Ba thì cũng không thích xa nhà, cũng cố tìm cách xin về cái tỉnh nhỏ thân thiết nầy đối với Ba. Và ước vọng của Ba em là được khỏe mạnh làm việc nuôi các con đến đứa bé nhất học đến nơi đến chốn. Vừa vặn đến lúc về hưu, về nhà sống bằng số lương hưu trí và huê lợi ruộng vườn, dành phần đời còn lại săn sóc vườn hoa, đọc sách và tìm hiểu sâu xa giáo lý nhà Phật.
 
Ngày còn bé có thể nói em chỉ biết gần Mẹ chứ ít quan tâm đến Ba. Với em, trong bài học thuộc lòng "Công ơn Cha Mẹ" thì cái câu "Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra" êm ái và đáng nhớ hơn câu đầu thừa mất một chữ sơn nói về công cha. nếu có ai hỏi giữa Ba Mẹ em thương ai hơn thì em không ngần ngại trả lời là thương Mẹ hơn Ba. Hình ảnh Ba lúc đó với em quá to lớn, nghiêm trang và khá dễ sợ, dù rằng đôi khi em vẫn chơi đùa cạnh Ba, được Ba gọi đến cho tiền và cho kẹo bánh. Dù sao, lúc trước còn non nớt em làm sao thương Ba bằng Mẹ được khi hầu hết thì giờ của Ba là ở sở làm, về nhà thì trừ giờ ăn Ba bận đọc sách báo, nghỉ ngơi... Thỉnh thoảng Ba cũng trò chuyện vui vẻ với Mẹ, với các con nhưng sao bằng Mẹ em lúc nào cũng gần gũi bên các con, săn sóc yêu thương, nói những lời nhỏ nhẹ êm đềm. Lũ con ba đứa nào cũng thích tán dóc khi sau những buổi học, họp mặt trong bữa cơm. Thế nhưng buổi ăn sáng và tối, ba lại bắt cả bọn im lặng để Ba nghe đài B.B.C. Những lúc ấy em thấy Ba sao mà nghiêm khắc thế và cả bọn đành ăn chầm chậm đợi Ba ăn xong đi lên nhà trên là ào ào phát thanh miệng. Lớn lên, dần dần em mới hiểu thấm thía công nuôi dưỡng của Ba cùng tình thương bao la của Người đối với gia đình trước sau như một. Từ những khó khăn thời kháng chiến, Ba đã không ngớt lo lắng để vừa lo tròn bổn phận đối với Tổ quốc vừa lo cho gia đình được no đủ. Bước qua quãng đời sung sướng hơn là sau thời kỳ tiếp thu. Lúc đó chiến tranh Nam Bắc chỉ mới mang cái giai đoạn chuẩn bị êm ả nơi mịt mù trùng điệp của Trường Sơn xa thẳm, cuộc sống gia đình công chức tương đối dư dả. Em nhớ lại mỗi chiều đi làm về thế nào Ba cũng nhớ mua kẹo bánh cho các con. Thỉnh thoảng có đại nhạc hội nơi rạp hát độc nhất trong tỉnh, Ba chịu khó đi mua vé đưa cả nhà đi xem. Mua báo, Ba cũng nhớ mua thêm cho các con những tờ báo thích hợp với trẻ con. Em còn nhớ hoài kỷ niệm ngày còn bé, chiều thứ bảy cùng các anh chị kéo ra tận ngõ ngoài đón chiếc xe đạp màu xanh của Ba từ đường lớn rẽ vào, để giành giật tờ phụ trang Ngôn Luận trên tay Ba. Nhưng rồi như theo một tỉ lệ nghịch, mức độ chiến tranh càng lên cao thì đời sống của người công chức nói riêng càng sa sút. Vấn đề cơm áo cho gia đình, việc học cho các con hoài hoài là những mối ưu tư ám ảnh bắt Ba phải lo lắng. Lại nữa, tỉnh em là tỉnh nhỏ, các anh chị của em khi lên Đại Học là phải vào Sàigòn hoặc ra Huế, sự chi tiêu trong nhà càng tốn kém hơn. Với chức chủ sự trong một công sở lớn ở Sàigòn, nhưng số lương chính thức của Ba em quá ít ỏi so với vật giá hiện thời nên Ba phải nhận làm giờ phụ trội, làm sổ sách cho các tiệm buôn mới đủ tiền chi tiêu trong nhà. Làm việc chính thức ở sở, giờ phụ trội vào ngày chủ nhật, về nhà bận rộn với những con số, Mẹ em nhiều lần xót xa khi nghĩ về nỗi nhọc nhằn đó của Ba và đám con thì ngậm ngùi nghĩ đến tình trạng xã hội thời chiến, sự cần cù thanh liêm của một người công chức được đền đáp bằng mức sống túng hụt cho gia đình. Em không muốn oán trách ai mà chỉ nhớ đến điều thiết thực là chăm học để Ba Mẹ hài lòng và tạm quên những nỗi nhọc nhằn, xót xa. Hy vọng một mai đất nước thanh bình, người công chức không cần làm thêm cho tư nhân, làm giờ phụ trội mà vẫn có được một đời sống no đủ.
 
Tình thương dành cho Ba nơi em càng sâu đậm hơn khi nhận biết những săn sóc thương yêu đặc biệt Ba dành cho em và khi càng lớn dần, hình ảnh về Người đối với em tuy vẫn oai nghiêm nhưng không còn "dễ sợ" mà tràn đầy khả kính và dạt dào mến thương. Sống trong một gia đình đông con mà tính em lúc nhỏ dễ tủi thân, dễ hờn dỗi thì đúng là một điều không mấy đáng yêu (bây giờ thì hết rồi, em đã giỏi chịu đựng những bất như ý gặp hằng ngày để thấy đời sống dễ chịu hơn). Hồi đó mỗi lần giận hờn là một lần em tuyệt thực, Mẹ và các anh chị sau vài lần dỗ dành không được cũng bỏ mặc khiến em đói meo. Lúc ấy Ba không nói gì nhưng sau đó thế nào Ba cũng gọi em đến, cho lãnh tiền bồi thường (dù em tuyệt thực chẳng phải lỗi ở Ba) để mua bánh mì bù lại. Rồi Ba em ở Sàigòn đã gần 4 năm, Ba luôn luôn viết thư về thăm gia đình mà lần nào thư cũng đề tên em, em đọc và phổ biến tin tức cho cả nhà và lãnh luôn nhiệm vụ trả lời thư cho Ba. Đôi khi các anh chị hoặc em của em cũng thích giành đọc thư Ba nhưng phải chán vì không quen với nét chữ khó coi của Ba (cả nhà vẫn hay bảo Ba không phải là bác sĩ mà viết chữ khó đọc chả kém bác sĩ tí nào). Thật thế, em quen đọc thư Ba mà nhiều lần vẫn "bí" như thường, gặp trường hợp ấy em đọc lướt qua để hiểu ý nghĩa cả câu hoặc cả đoạn thư rồi mới suy ra cái chữ hóc búa kia (cứ làm như thư viết bằng ngoại ngữ không bằng!). Lâu dần em đọc thạo chữ viết của Ba hơn và được các anh chị gọi là "chuyên viên đọc thư Ba". Mỗi lần đọc thư Ba mà gặp chỗ đoán không ra, Mẹ em và các anh chị phải mời "chuyên viên" đến ngay.
 
Bây giờ và mãi mãi về sau có ai hỏi em thương Ba hay thương Mẹ hơn thì em sẽ không ngần ngại trả lời rằng em thương cả 2 người bằng nhau. Em đã hiểu thấu diễm phúc của một người có được cái bóng dáng hùng vĩ của Thái sơn che chở bảo bọc bên cạnh giòng suối ngọt ngào của Mẹ giúp đời mình thêm phong phú yêu thương. Em đã viết bài nầy mà không cần đến trí tưởng tượng vì chỉ việc ghi theo sự thực về người Cha kính mến của em. Ba kính yêu của con, từ trước con chưa có dịp nào viết về Ba (dưới tiểu học cũng như trên trung học, thường con chỉ gặp những đề luận tả người Mẹ mà thôi). Đây là lần đầu tiên con có dịp viết về hình ảnh cao quý như ngọn núi Thái của con và tình thương của con dành cho ngọn núi cao ngất đã nghiêng cái bóng dáng to tát bảo bọc cho đời mình được bình yên lúc còn sống, trong vòng tay thân ái của gia đình. Và con xin gọi những giòng nầy là món quà của "chuyên viên đọc thư Ba" dành kính tặng Ba, bóng núi hùng vĩ nhất một đời con đó.
 
 
ÁI BẮC      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 16, tuần lễ từ 9-9 đến 16-9-1971)
 

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

MA TÚY - B.S. Đỗ Hồng Ngọc


Buổi chiều, tại phòng mạch, tôi tiếp một thân chủ đến khám bệnh một cách bất thường: cô Y tá không kịp làm hồ sơ, không kịp lấy nhiệt độ, đã vội vàng đưa khẩn cấp người bệnh vào. Tôi hiểu ngay lý do: một "cas" nặng.
 
Người bịnh còn rất trẻ, một thanh niên khoảng 17 - 18 tuổi là cùng, mặt trắng xanh, môi không có tí máu, mồ hôi nhễ nhại. Anh ngồi gục trên ghế, trước mặt tôi, tóc tai rũ rượi, thở không ra hơi và áo ướt đẫm. Những giọt mồ hôi vẫn tiếp tục nhỏ ròng ròng từ màng tang xuống cổ. Mắt anh nhắm nghiền, lúc chợt mở ra thì toàn là tròng trắng xác. Anh thều thào: tôi ói, tôi mệt quá, cứu tôi... rồi im luôn. Hốt hoảng, tôi lay anh dậy, hỏi địa chỉ để mời người nhà anh đến đưa anh đi bệnh viện gấp vì tình trạng anh cần được săn sóc ở bệnh viện. Trong lúc đó tôi khám anh. Mạch yếu, mau. Da lạnh buốt. Mồ hôi vẫn tuôn từng giọt, từng giọt. Phổi tim không thấy gì đặc biệt. Lạ! Đột nhiên anh ngáp. Một cái ngáp ngắn, nhanh vừa đủ lóe trong trí tôi một tia sáng: anh là một nạn nhân của bịnh ghiền! Thú thực, cho đến phút đó, tôi xấu hổ vì chưa tìm ra bịnh gì rõ ràng cả. Tôi rọi đèn vào mắt, xem cử động của con ngươi. Hai con ngươi nở rộng, lười biếng thu vào dưới ánh đèn pin. Biết rõ bịnh anh rồi, tôi viết giấy giới thiệu cho người nhà, cũng vừa mới đến, mang anh vào bệnh viện. Buổi chiều hôm đó, tôi không làm gì ra hồn cả. Đầu óc lơ mơ nghĩ đến người thanh niên đầy tương lai đó đang gục ngã, nhợt nhạt, vật vã vì thiếu thuốc! Gia đình anh không ai biết anh mắc bịnh ghiền. Mọi người chỉ tưởng anh bị trúng gió. Tôi cũng không tiện nói ra vì bịnh ghiền là một tội phạm đối với xã hội, cảnh sát có thể làm phiền anh, gia đình sẽ xấu hổ, xua đuổi anh và anh sẽ sống trong mặc cảm... Tôi cũng được biết anh đang học lớp mười một, chuẩn bị thi tú tài.
 
Những ngày sau đó tôi có dịp tiếp một thân chủ khác: một người không biết rõ tên mình, đờ đẫn, do người nhà đưa đến, khai là bị xỉu ở cầu thang. Thấy trên tay có những dấu chích bầm, không đúng vị trí bình thường, và trạng thái tinh thần đó tôi biết ngay bịnh tình anh. Một người khác bị áp xe một cách cũng khác thường thú nhận là đã giã nhỏ thuốc viên binoctal pha nước chích gân!
 
Đối với y sĩ, người mắc bịnh ghiền không phải là một phạm nhân. Anh ta chỉ là một người bịnh như tất cả những người bịnh khác, có khác chăng là ngoài cái bịnh thể xác còn thêm cái bịnh tâm thần trầm trọng hơn. Nghĩ xa một chút, họ có thể là một nạn nhân! Và như thế đáng thương hơn là đáng trách. Nếu có ý chí, thêm sự trợ giúp của y học, họ có thể thoát được tình trang ghiền tai hại đó để tìm lại tương lai. Khi viết lại những dòng này, những điều hiểu biết đơn sơ về thứ bịnh ghiền, thứ toxicomanies trong đó chữ "toxico" nghĩa là chất độc và "manie" là nghiện, là ghiền, chỉ một trạng thái tâm lý lệ thuộc đặc biệt, nếu em chưa sờ mó gì đến món độc đó thì không bao giờ sờ đến, nếu mới lỡ nhúng tay thì vẫn còn kịp rụt tay về, và nếu đã lỡ ghiền nặng thì cũng không thối chí ngã lòng mà cố gắng chữa dứt đi.
 
Những ngày gần đây báo chí đã lên tiếng báo động về tình trạng ghiền ma túy ở khắp các tỉnh, đặc biệt là ở Sàigòn, trong giới trẻ, sinh viên học sinh, đến nỗi đã có chiến dịch y tế nhằm phát hiện các trường hợp bị bịnh này ở các trường trung học trên toàn quốc. Người ta cũng thấy các quảng cáo ồn ào những thứ thuốc chữa bịnh ghiền cũng như các trung tâm, các bệnh viện chuyên chữa bịnh này. Nhưng thế nào là một người mắc bịnh ghiền? Ma túy gồm những thứ thuốc gì, tai hại ra sao? 
 
Một cách đơn giản tôi có thể nói với em rằng người ghiền ma túy là một người có một ước muốn, một nhu cầu khẩn thiết đối với một hay nhiều thứ ma túy không có không được, phải có với bất cứ giá nào. Đó là một tình trạng lệ thuộc tinh thần và thể xác vào một hay nhiều thứ ma túy, sự lệ thuộc này có đặc điểm là càng ngày càng gia tăng, nghĩa là càng ngày càng phải tăng thêm số lượng thuốc và tăng lên mãi để đạt được sử thỏa mãn như cũ (vì quen thuốc).
 
Ma túy có nhiều thứ, nhưng những thứ thường thấy là các loại nha phiến (thuốc phiện, bạch phiến và các chuyển hóa chất), cần sa, LSD, các loại thuốc ngủ hay an thần (barbituriques, hypnotiques, tranquilisants), loại kích thích amphétamines, cocaine.
 
Người bị ghiền nha phiến rất dễ nhận ra: cứ thấy một người gầy ốm, xanh xao, áo quần luộm thuộm dơ dáy, trên tay chân có những vết sẹo, vết kim chích, có cái nhìn xa vắng, bất động, sợ ánh sáng, con ngươi teo nhỏ (myosis) thường giấu sau cặp kính đen là có thể nghi ngờ rồi đó! (Tuy nhiên coi chừng lầm với các thi sĩ nghe! Các thi sĩ cũng thường có cái nhìn xa vắng, cũng thích cô đơn, có xu hướng... ở dơ, và cũng thường gầy ốm xanh xao lắm đó!) Thực ra dấu chứng dễ nhận nhất để biết một người bị ghiền là lúc họ thiếu thuốc. Lúc đó họ bứt rứt, bỏ ăn, khó ngủ và chừng nửa ngày sau họ choáng váng xây xẩm, chóng mặt, có khi ngã quỵ, toát mồ hôi,  chảy nước mắt, ngáp... Càng lâu họ càng bứt rứt hơn, nôn mửa, có khi tiêu chảy. Con ngươi nở lớn, các bắp thịt co giựt đau đớn, thần kinh bị rối loạn và có thể trở thành một người điên. Lúc đó họ có thể làm bất cứ điều gì để có được thuốc, họ trở thành nguy hiểm đối với xã hội. Có người bị gia đình nhốt trong nhà đã trổ nóc nhà mang theo đồ đạc đi cầm, đi bán lấy tiền mua thuốc. Tôi có một người quen, ông ta có đứa con trai bị ghiền á phiện, hối hận, tự nguyện xin ông giam trong phòng kín để cai, đến ngày thứ ba, không chịu đựng nổi nữa, nhân lúc ông mang cơm vào anh ta tung dậy, xô té người cha để thoát ra đường. Về sau anh kể rằng nếu hôm đó cha anh ngăn chặn anh dám giết chết ông ta lắm!
 
Trong trường hợp không bị thiếu thuốc, người ghiền thuốc phiện vẫn có thể bị bịnh vì đã chích thuốc bừa bãi, thiếu vệ sinh: áp xe, phong đòn gánh (tétanos), sưng gan, viêm cơ tim... và những trường hợp thường thấy nhất là tinh thần bạc nhược, thân thể gầy còm, mất khả năng sinh lý. trường hợp dùng một lượng thuốc quá cao có thể đưa đến tình trạng hôn mê, tím da, trụy tim mạch mà chết nếu không kịp chữa trị. Có những trường hợp người mẹ ghiền thuốc bị sanh non và đứa con mới sanh ra đã có những triệu chứng của cơn ghiền vì thiếu thuốc!
 
Ghiền cần sa có những triệu chứng khác hơn: mắt đỏ (nhặm mắt), mí mắt sụp, cười man dại, lẫn lộn về thời gian và không gian. Cũng có thể bị sưng cuống phổi, rối loạn bộ tiêu hóa, đôi khi lên cơn khùng thường gây ra bịnh tảo điên (schizophrénie).
 
Loại LSD gây ra các ảo giác. Người ghiền có thể tự hủy mình hoặc giết người không kể những tai hại về phương diện di truyền cho con cháu vì có ảnh hưởng đến các nhiễm thể.
 
Loại thuốc ngủ nhóm barbituriques như binoctan, méprobamate làm người ghiền có phản ứng chậm, đi đứng không vững (dễ gây tai nạn lưu thông), nói lắp bắp, dã dượi, lẫn lộn... Thiếu thuốc gây tình trạng mất ngủ, co giựt, mê sảng.
 
Loại Amphétamines (Maxiton, Benzedrine, Ortédrine, Phénédrine...) kích thích vỏ não làm ta có cảm giác sáng suốt trong giây lát (nhiều em thường dùng như loại thuốc "giúp trí nhớ" để học thi) nhưng sau đó đưa đến tình trạng lẫn lộn, chóng mặt, hồi hộp, nhức đầu, suy nhược, bỏ ăn, có thể đi đến chỗ điên cuồng, tự tử (đã được viết rõ trong Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò).
 
Bây giờ em đã biết một cách đại khái những tai hại của từng loại ma túy đối với người ghiền, những tai hại không những nguy hiểm cho sinh mạng của họ, cho nhân cách, cho tương lai họ mà còn di hại cho thế hệ sau nữa. Nhưng vì đâu mà người ta trở thành ghiền ma túy? Câu trả lời thuộc thẩm quyền của các nhà xã hội học, các tâm lý gia, các nhà giáo dục và... nhà nước! Một thống kê mới đây ở Pháp cho biết những người ghiền ngày nay rất trẻ, quá trẻ, đa số ở tuổi 16-18 và ghiền nặng, ghiền nhiều thứ ma túy cùng một lúc (polytoxicomanie) ở đủ mọi thành phần xã hội (khác với ngày xưa thường ở người đứng tuổi, giàu có hoặc ở trong giới nghệ sĩ và chỉ ghiền... một thứ thôi cũng đủ chết rồi!), phần nhiều là giới trẻ đô thị, độc thân, tạm cư hay đi hoang, thất chí, vô nghề nghiệp... Hai yếu tố chính là hầu hết đều sống trong một gia đình có cảnh bất hòa giữa cha mẹ, anh em: xung khắc cha mẹ, anh em, cha mẹ ly dị, ly thân, con cái bị ghét bỏ, không được giáo dục chu đáo, người cha nhu nhược thiếu uy quyền trong gia đình, con khinh cha v.v... Yếu tố thứ hai là bè bạn: không nơi nương tựa ở gia đình họ tụ tập thành từng nhóm cùng trang lứa để nương tựa lẫn nhau, họ gần gũi, thân thiết nhau, rồi đua đòi bắt chước hay tò mò muốn "biết như mọi người"...
 
Tại nước ta ngoài hai yếu tố kể trên còn có những nguyên nhân xa gần khác bi đát hơn, khiến cha mẹ đầu tắt mặt tối lo cho con có cái ăn cái mặc, con cái bị bỏ quên niềm tin ở người lớn, các giá trị đạo đức bị đảo lộn v.v...
 
Trong bối cảnh đó, vấn đề ma túy trở nên gai góc, khó khăn, đòi hỏi một giải quyết toàn diện. Trong phạm vi bài này tôi chỉ muốn nhấn mạnh là công cuộc bài trừ ma túy trong giới học trò, phụ huynh đóng một vai trò quan trọng chớ không phải y sĩ và cảnh sát. Gia đình hòa thuận, êm ấm - con cái được để ý, chăm sóc - người cha thực sự có uy quyền - cũng như kiểm soát sự giao dịch, kết bạn của con em đúng mức có thể là những liều thuốc tốt.
 
Riêng với em, có lẽ tôi phải nói rằng chỉ có những tâm hồn thiếu già dặn, yếu đuối, bịnh tật mới tìm đến ma túy. Nếu đã lỡ, tôi hy vọng em thừa nghị lực dể dứt bỏ. Khó, nhưng không phải không làm được. Giai đoạn đầu em cần sự trợ giúp của y sĩ - thường tại một y viện, bệnh viện đầy đủ phương tiện - trong vòng hai tuần lễ, sau đó em còn phải cố gắng nhiều hơn trong một thời gian lâu dài, 5 - 7 tháng mới thoát nổi chứng bệnh kỳ quặc này. Ý chí của đương sự mới cứu thoát đương sự thôi.
 
Người bệnh tôi kể với em ở phần đầu bài này giờ đã lên đại học. Anh đã trở lại nếp sống bình thường từ sau lần nằm bệnh viện đó. Nghĩ đến chuyện cũ, anh cười: thực là một giấc mơ, một giấc mơ khủng khiếp, toát mồ hôi lạnh.
 
 
ĐỖ HỒNG NGỌC    
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 135, tuần lễ từ 7-6 đến 14-6-1974)
 

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

HẠ VÀNG - Mai Thanh


Nguyên biết không, dạo này trời hay mưa dễ sợ. Mưa hắt hiu, buồn bã. Mưa quấn quít, thương yêu. Chiều nay, khi em vừa tan học, trời mưa bay lất phất. Em đứng co ro trong chiếc áo che mưa rộng thùng thình trước cổng trường. Nhỏ bạn đùa, chờ "người ta" hở Quyên? Em cười, đâu có, ta chờ bố mà mi. Thật không? Đáng nghi quá... Hôm qua ta thấy hai người dung dăng dưới phố... Xạo nhá, hôm qua người ta đến nhà Phương Đông mà. Úi giời, tưởng đến nhà ai chứ nhà Phương Đông rồi ghé thăm chàng mấy hồi. Em đến thăm anh một chiều mưa, tha hồ mơ mộng Quyên nhỉ? Em cúi mặt, thẹn thùa. bạn nhỏ ơi, sao mà đùa kỳ thế. Hẹn hò chi... Em còn bé quá mà, phải không Nguyên? Em còn bé lắm, biết chi để mà hẹn với hò. Nhỏ bạn cười rồi rồ xe, chạy. Em thọc hai tay vào túi áo mưa.
 
Con đường trước cổng trường tối nay buồn hiu hắt. Buồn như nỗi đau trùng trùng tưởng đã dứt trong em, bây giờ ùa về đầy trong tim nhỏ, ngun ngút trong mắt sâu. Em buồn quá Nguyên ạ. Buồn và nhớ. Tỷ như một lần nào Nguyên bảo với em: "Chiều hôm qua lang thang trên đường phố nhớ buồn và thấy..." Thôi đi ông bạn ơi, bạn có buồn có nhớ thật... nhưng chả phải em đâu. Ôi, Nguyên ạ. Giá Nguyên có nhớ một người nào khác thì chắc em sẽ chả cười đùa được đâu. Đau đớn biết dường nào Nguyên nhỉ?
 
Nguyên ạ, em chờ đến giờ gần tan học lớp sau bố mới đến. Xe bố hư anh ạ. Thế mà có người lại sợ đến sắp khóc đấy nhỉ. Eo ơi, em chả khóc đâu Nguyên ơi. Em chỉ hơi run tí thôi, tưởng bố quên con gái chứ bộ. Xe đi ngang qua những con đường vắng lặng. Thành phố buổi tối trời mưa buồn quá Nguyên nhỉ? Những hàng cây sũng nước nghiêng ngả trong bóng đêm. Những loài chim đêm về ngủ muộn trên cột đèn cao. Ôi, phố buồn. Lòng em cũng buồn tái tê như phố. Nguyên ơi. Buồn ơi.
 
Em đã nhủ lòng trăm vạn lần, đừng bao giờ nhớ Nguyên để rồi buồn. Nhưng rồi em vẫn nhớ, vẫn thương. Nhớ Nguyên đầy lòng, đầy mắt. Thương Nguyên đầy những ngăn tim nhỏ. Nguyên có biết thế không, hở Nguyên. Hôm nọ, ngày đầu niên học, gặp nhau bạn bè hỏi em: Người sinh viên quốc ngoại có về không hở Nguyên? Ơ, ai vậy nhỉ? Ai mà Quyên không biết. Tụi bạn cười toe toét. Không biết hay là không quen. Ôi chao, tụi bạn em khó thương vậy đó, chuyên môn lái xe cam nhông vào đời tư kẻ khác, dễ ghét quá phải không Nguyên. Ấy vậy mà lớp em nổi tiếng khắp trường vì con gái 11A dễ thương, mâu thuẫn quá chừng.
 
Chiều qua, em đến nhà Đông chơi. Hai đứa nói chuyện về một mùa sắp trở về trong thành phố. Mùa của rong chơi và lìa xa. Lúc em ra về đèn đường đã lên và mưa bụi phất phơ. Đông cười bảo em: "Quên nói mi chuyện này. Nguyên đã thi đậu rồi, hắn nhắn mi viết thư đó." Em cắn nhẹ môi. Thôi Đông ơi để cho ta học chứ. Còn mỗi năm nay để có thể rong chơi, mơ mộng. Sang năm thi rồi, chúi đầu mà học thì giờ đâu để mộng với mơ. Đông cười, ta chả xúi mi bậy bạ đâu. Nhưng cũng tội Nguyên một chút chứ Quyên. Em cúi mặt, ngậm ngùi. Đông ơi, làm sao Đông hiểu. Em thương Nguyên biết chừng nào. Làm sao Đông biết, em thương Nguyên nên phải xa Nguyên. Hở Đông?
 
Cô bạn nhỏ của em, có những chuyện mà ta không thể kể lể cho nhau nghe. Chỉ một mình ta ôm trọn nỗi buồn nỗi vui. Hiểu thế không bạn thân. Hiểu thế không hở Nguyên.
 
Nguyên thân mến của em,
 
Bây giờ là buổi tối. Buổi tối mùa hạ. Em lười biếng nằm nghe nhạc. "Em ra đi mùa thu. Mủa thu không trở lại..." Bài hát làm em nhớ Nguyên quá đỗi. Ta xa nhau từ bao giờ hở Nguyên? Một mùa thu lá úa, hay mùa xuân nồng phấn hương. A, em nhớ rồi cơ Nguyên. Ta quen nhau vào những ngày cuối đông rét mướt và xa nhau từ một mùa hạ mù khơi trong ký ức. Và, bây giờ, Nguyên yêu mến, trong ngôi trường nhỏ của Nguyên, của em mùa hạ đang phả gió nhớ nhung. Nguyên thấy chăng những chùm hoa đỏ rực ở sân trường. Nguyên thấy không, nỗi sầu nghèn nghẹn trong tim em. Mùa hạ này là hạnh phúc của em. Niên học sau, niên học cuối, em sẽ như Nguyên thật sự rời bỏ tất cả để ra đi. Trước mặt là những con đường thênh thang trải rộng. Sau lưng là những kỷ niệm quấn quít, thương yêu của một thời làm học trò mắt sáng môi hồng. Ơi, em buồn quá Nguyên ơi. Buồn chết người. Còn Nguyên, Nguyên có buồn không trong mùa hạ cuối của Nguyên?
 
 
MAI THANH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 134, tuần lễ từ 31-5 đến 7-6-1974)
 

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2026

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

MỘT HẠT MƯA SƯƠNG - Mang Viên Long


Xa Saigon tôi nhớ nhất là những cơn mưa. Tôi chưa thấy mưa ở đâu buồn bã, mịt mù, hung tợn như thế. Mưa đổ ập xuống bất chợt, mưa tuôn ào ào, mưa mù trời đất. Gió lộng và sấm sét. Tưởng mưa không bao giờ dứt. Nhưng mưa mau tạnh. Rồi trời mau sáng. Giữa cái tạnh không và mưa thác lũ không sao đoán nổi. Không ngờ trước được. Phải chăng vì thế mà tôi nhớ mưa Saigon? Tôi thương mưa miền Trung! Mưa Tuy Hòa cũng mù mịt, cũng ào ạt, nhưng không hung tợn bằng mưa Saigon, anh Hậu đã nói như thế. Anh nói cái mưa ở Trung bắt đầu từ mưa, từ gió, từ những cơn mưa phùn dịu dàng, chuyển tiếp. Rồi nó chìm dần vào Đông, vào lạnh, vào mưa. Triền miên cả một hai tháng. Không đột ngột dữ dằn như Saigon. Có thể em không có nhiều thì giờ để nghĩ về mưa, nhìn mưa, nhưng em thường bị mưa làm ướt áo.
 
Từ balcon, tôi và anh Hậu đứng nhìn thành phố đang bị bao trùm bởi một màn mưa dày ; những mái nhà trắng xóa, hàng cây cong rũ, và đường xá lướt thướt xe cộ. Mưa làm Saigon khép kín và chật chội. Tôi hỏi anh về mưa và cảm thấy mưa ướt lạnh hồn mình.
 
Anh nói:
 
- Anh đã bị mưa quyến rũ từ thuở nhỏ. Những hạt mưa cách nay mười mấy năm, vào một buổi trưa mùa Đông, đã như còn rơi mãi trong hồn anh. Đó là buổi trưa anh theo chân người chị, đưa mẹ anh tới huyệt, đưa người thân yêu sau cùng ra đi. Chiếc quan tài ướt át xuống lòng huyệt đầy nước mưa.
 
Anh nhìn tôi, đôi mắt anh đầy mưa, và u ám:
 
- Còn Hoài, có lẽ chưa bao giờ được thấy mưa?
 
Tôi cười (để đôi mắt anh bớt buồn, trong sáng):
 
- Có thấy chứ sao không? Em nhìn thấy mưa từ hồi mới sinh ra, nhưng bây giờ mới có dịp nhìn rõ mưa...
 
Anh nhìn xuống khu nghĩa trang chợ Đũi, tôi đoán anh đang nhớ mưa cách nay mười mấy năm:
 
- Thấy thế nào?
 
Tôi đáp, mơ hồ:
 
- Buồn. Mưa làm em thấy cô độc.
 
Giọng anh bỗng vui:
 
- Hoài mà cô đơn? Con nhà giàu, đẹp gái, học giỏi, vân vân.
 
Tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi cố tình chờ anh quay lại nhìn tôi. Tôi nghĩ anh sẽ hiểu tôi hơn khi nhìn lên mắt tôi. Hình như anh cố tránh hay không biết. Tôi nói "Anh không hiểu Hoài gì hết". Và cảm thấy bức rức, bởi vì qua câu nói đó, tôi chưa nói được gì hết. Anh vẫn nhìn, thản nhiên, lên những cây điệp âm u, trong khu nghĩa trang.
 
Tôi lập lại, bàn tay tôi véo mạnh lên má anh:
 
- Anh không hiểu em gì hết.
 
Anh quay lại:
 
- Sao lại không hiểu, cô bé.
 
Tôi cự nự:
 
- Anh hiểu được gì?
 
Anh thân ái nắm bàn tay tôi. Như nhắn nhủ với một người em:
 
- Có lẽ anh hiểu em nhiều hơn em nghĩ. Khi chưa gặp em, còn ở ngoài đơn vị, anh đã nghe anh Tuấn nói về em khá nhiều. Được đọc cả thư em, có phải em cũng biết làm thơ?
 
Tôi cười, thật hân hoan:
 
- Có lẽ em cũng hiểu anh nhiều hơn là anh tưởng nữa. Thư nào anh Tuấn viết về cũng có kể chuyện về anh...
 
Anh như hốt hoảng:
 
- Chết, anh Tuấn kể chuyện gì vậy?
 
Tôi bí mật:
 
- Nhiều lắm.
 
Anh cười, thật dịu dàng:
 
- Gì mà nhiều?
 
Tôi chỉ ngón tay lên mặt anh:
 
- Này nhé, mấy cành hoa ép, mấy bài thơ và...
 
- Và gì nữa?
 
- Và gì thì anh biết chứ.
 
- Anh không biết.
 
- Em nhắc cho nhá?
 
- Ừ, nhắc đi coi.
 
- Ngày nào cũng tập bài "Bao giờ biết tương tư", và chờ ngày về Saigon ăn chả giò phơi sương, bánh canh Gia Quỳnh...
 
- Nhưng ngày về Saigon lâu quá, chả giò và bánh canh đã hết rồi, nếu anh Tuấn không nhớ về đây, thì có lẽ anh nhận giấy phép rồi không biết đi đâu.
 
- Saigon có bao giờ hết chả giò phơi sương, và Gia Quỳnh cũng vẫn mãi mãi còn bánh canh kia mà. 
 
- Nhưng anh hết tiền rồi. Có ai dẫn anh đi ăn đâu?
 
- Nghe tội nghiệp quá, ông chuẩn úy. Nhưng anh có đồng ý đi theo em không?
 
- Trời, sao lại không. Nói vậy là em không hiểu anh gì hết.
 
- À, mà còn điều kiện nữa chứ. Đâu có dễ vậy.
 
- Cho điều kiện thử coi. 
 
- Mỗi tuần anh phải gởi về cho em một cành hoa ép nhé? chịu chưa?
 
- Ồ, được quá. Hoa ở trong rừng nhiều lắm, anh sẽ gởi về em mỗi tuần vài ba cành hoa như vậy. Đó là cách giúp anh có việc làm. Có lẽ, anh sẽ phải hái hết những cành hoa lạ ở trên rừng, và ham tìm hoa hơn tìm địch.
 
- Chắc nhé?
 
- Chắc chớ.
 
- Thề đi.
 
- Cái vụ này cũng bắt người ta thề nữa à? Được, rắc rối quá, cô bé, anh xin thề...
 
- Đâu được. Anh phải thề: " Anh hứa hái hoa, trọn đời, cho em...".
 
- ...
 
Bây giờ, tôi đã xa Saigon. Chiều hôm qua, ngồi trong thư viện, cơn mưa bất chợt mù mịt bên ngoài làm tôi nhớ Saigon da diết. Tôi không đọc được một trang sách nào, vì đầu óc tôi mưa đã vần vũ. Mưa đã kéo tôi trở lại với mớ kỷ niệm héo úa như những cánh hoa của Hậu. Từ ngày rời xa Saigon, không khí Đà Lạt càng khiến tôi nhớ Hậu. Mùa lạnh, những cánh hoa đang ép dang dở trong ba lô của anh, anh Tuấn mang về, luôn nhắc tôi nhớ buổi chiều anh hứa sẽ hái hoa gởi cho tôi, trọn đời. Anh cũng đã gởi hoa cho tôi. Trọn đời. Nhưng là một cuộc đời hai mươi lăm tuổi. Đời như những cơn mưa trong tuổi thơ anh. "Có lẽ, anh sẽ phải hái hết những cánh hoa lạ trên rừng, và ham tìm hoa hơn tìm địch", hoa trên rừng có bao giờ lại hết, dầu chúng ta có sống chờ nhau tới bạc đầu, phải không anh?
 
Buổi sáng sớm Đà Lạt có mưa sương thật đẹp. Nhưng quá buồn. Có lẽ tôi đã biết yêu quý mưa như Hậu đã bị ám ảnh bởi những cơn mưa mùa Đông? Ngồi phía trong khung cửa kính, tôi ngây ngất vì những hạt mưa nhẹ tênh ngoài vườn. Sương mù mờ. Tôi lại lấy giấy bút ra, tiếp tục chép những câu thơ, cho bài thơ làm dở dang ở thư viện:
 
Người bước đi gót chân đời nhẹ hẫng
Đường trăm năm qua bao kiếp mịt mùng
.    .    .    .    .    .    .    .    .
Người bước đi đất trời lồng lộng
Thấy lòng mình một hạt mưa sương (1)
 
Người đã ra đi, trời đất mịt mù xa lạ, tôi còn biết gởi những bài thơ ngậm ngùi này cho ai?
 
 
MANG VIÊN LONG      
(KBC 4311, tháng 5-73)    
 
____________
(1) Thơ Ngọc Cẩm
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 104, tuần lễ từ 31-5 đến 7-6-1973)