Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

BUỔI CHIỀU CHIM BAY - Don Moser (Định Nguyên dịch)


Lúc bấy giờ là buổi chiều và gần đến giờ đàn chim bay đi. Cậu bé tên là Jeff khoảng độ mười một tuổi, bước lững thững dọc theo bãi cát bờ hồ Erie. Jeff đi sát mé nước vì chỗ đó nền cát cứng dễ đi.
 
Hai tay thọc vào túi quần Jean, cậu bé vừa đi vừa nhìn bóng mình đổ dài trên mặt cát trước mặt. Mặt trời đã xuống thấp và phía sau lưng cậu là những dấu giầy vải còn in hằn trên mặt cát ướt.
 
Một lát sau chú bé ngẩng nhìn, rồi dừng lại. Chú thấy lão Jack đang lò mò từ cồn cát phía xa leo dần xuống bãi. Lão già đặt bịch cái bao tải bằng cao su đựng chai lọ xuống cát và chăm chú ngó chung quanh. Khi thấy Jeff lão đưa tay che mặt cho khỏi chói nắng chăm chú nhìn cậu bé. Trên bãi vắng lão già và chú bé đứng nhìn nhau yên lặng.
 
Jeff rút tay khỏi túi quần xoa xoa lên đùi. Cậu cảm thấy sờ sợ. Nếu có Ken hay Jimmy ở đây chắc cậu chẳng sợ hãi thế nhưng khổ nỗi lúc bấy giờ trên bãi vắng tanh chẳng có một một bóng người ngoài những con hải âu bay lượn trên mặt hồ. Chú bé không tin những câu chuyện người ta kể về lão Jack. Người ta bảo lão thường bắt trẻ con bỏ vào bao tải mang về cái lều tồi tàn của lão trong đầm lầy để ăn thịt. Chú bé không tin chuyện đó có thật cũng như những chuyện khác về lão già mà bố của thằng Ken kể lại cho tụi nhóc nghe, nhưng không hiểu tại sao chú bé vẫn thấy sờ sợ lão.
 
Lão Jack vẫn che tay ngang trán nhìn chú bé, chú nghĩ thầm "Mình nhất định không về, nhất định phải đến cầu xem chim bay. Bây giờ mình giả vờ đứng đây lia đá để lão không chú ý. Nếu lão xuống phía này thì mình chạy hay đánh lại lão, còn nếu lão đi ngược về phía bãi trên mình sẽ chờ cho lão đi xa rồi tới cầu xem chim bay."
 
Jeff cúi nhặt một mảnh đá nhỏ và mỏng trên cát rồi lia mạnh ra bể. Mảnh đá lướt trên mặt nước phẳng, vọt cao lên rồi lại lướt đi cứ như thế cho đến khi hết đà. Mặt trời xuống thấp rọi chiếu ánh sáng lung linh như thỏi bạc cắt trên sóng làm cho chú bé không nhìn rõ mảnh đá lướt trên khoảng nước phản chiếu ánh mặt trời ấy mà chú chỉ thấy những tia nước tung lên rực rỡ. Jeff lại giả vờ tìm kiếm loanh quanh một mảnh đá khác và nhìn trộm lão già vô gia cư xem lão đang làm gì ở đàng kia. Chú thấy lão khoác chiếc bao tải đựng chai lên vai mò mẫm đi ngược về phía bãi trên.
 
"Lão không chú ý đến mình - chú bé nghĩ bụng - Bây giờ mình lên cầu vẫn còn kịp để xem chim bay".
 
Nghĩ vậy nhưng chú vẫn chần chừ quanh quẩn sát mé nước chờ cho lão già đi thật xa ở phía bãi trên rồi mới lững thững đi theo để khỏi phải chạm mặt lão. Lão Jack đi chầm chậm dọc theo bãi, quanh quẩn tìm kiếm trên cát những chai nước ngọt hay vật dụng thừa thãi mà du khách vất lại. Jeff thấy lão cúi xuống nhặt cái gì đó bỏ vào bao tải. Chú bé mong lão đi lẹ lên cho rồi vì nếu không chú sẽ chẳng thể đến cầu kịp để xem chim bay.
 
Một lát sau lão già đã đi khỏi đầu con đường mòn dẫn đến cầu. Con đường chạy luồn qua những cồn cát sát bờ hồ. Khi đến đầu đường mòn, chú bé bắt đầu chạy mau luồn lỏi theo những đụn cát cao vì không sợ lão già nữa. Lão hết thấy được chú rồi.
 
Jeff chạy hộc tốc theo con đường mòn đầy cát lún, nhảy tránh những khúc gỗ, cành cây mục bị nước cuốn tắp ngổn ngang cho đến khi cậu tới bãi cỏ viền quanh bờ đầm lầy.
 
Jeff theo cánh đồng cỏ đến bìa hàng liễu và đi vào. Chú bé phải vừa khom người luồn qua những cành liễu lòa xòa vừa lấy tay rẽ những cành nhỏ tìm lối đi, cho đến khi ra khỏi hàng liễu thì đến chân cầu gỗ (chiếc cầu bắc ngang rạch thông nước giữa hồ và đầm lầy).
 
Chú bé leo lên ngồi vắt vẻo trên thành cầu thả thõng hai chân trên mặt nước âm u.
 
"Mình đến đúng giờ - Chú nghĩ bụng - Đàn chim chưa bay đi". Chú nhìn lên cồn cát thấp phía bờ hồ, cồn cát sáng rực dưới mặt trời trông như một lưỡi búa bằng bạc. Chú lẩm bẩm:
 
"Khi nào mặt trời xuống sát mé nước chim mới bắt đầu bay" chú vuốt lại mái tóc bung xõa xuống che mắt và ngước nhìn những con én bay lượn trên mặt đầm, Jeff nhớ lại hôm đầu tiên mình tìm ra cây cầu này và được nhìn chim bay buổi chiều.
 
Hai tuần trước gia đình chú bé dời bỏ thành phố dọn về cư ngụ tại làng này, một làng nhỏ bên cạnh hồ và một buổi chiều cách nay mấy hôm Ken cùng Jimmy, hai người bạn mới, rủ chú đi chơi ngoài bãi. Má chú không bằng lòng vì bà nghe người ta kể về lão già sống trong đầm lầy, nhất là lão thường lang thang ngoài bãi mỗi buổi chiều.
 
Má nói:
 
"Lão bẩn thỉu kinh khủng! Má gặp lão ta ở nhà Morrow bán thịt. Lão vác cái bao tải chai đến bán. Chưa bao giờ má thấy ai ở bẩn như lão và má không muốn con đến gần lão ta."
 
Nhưng may mà ba chú lại cho phép chú đi, nhưng ba dặn chú phải cẩn thận.
 
Cả bọn kéo nhau xuống bãi thì gặp lão Jack. Bọn nhỏ chọc phá lão một hồi rồi bỏ đi dọc theo mé nước tìm những viên sỏi đẹp và vỏ trai vỏ hến. Ken đi trước nhặt được thứ gì đó quay lại gọi hai đứa bạn lên xem. Nó cầm giơ lên cho bạn xem một mảnh đá dài, mỏng bị sóng mài mòn thành hình giống như con dao, giống như dao găm của bọn Hải tặc.
 
Jeff xin Ken nhưng Ken không cho, nó bảo nó sẽ mài lại  rồi sơn bạc cho giống in dao găm của bọn Hải tặc. Khi cả bọn ra về, Ken giắt con dao vào dây thắt lưng rồi nắm tay lên cán đi khệnh khạng.
 
Chiều hôm sau Jeff ra bãi một mình hy vọng tìm thấy một mảnh đá khác giống như mảnh đá cùa bạn trong khi đó Ken và Jimmy đi xem xi nê. Chú bé tha thẩn đi về phía bãi trên, thật xa, xa hơn hôm qua nhiều. Vừa đi vừa chăm chú tìm kiếm trên mặt cát xem có thấy mảnh đá nào giống như lưỡi dao găm Hải tặc không nhưng chú chẳng tìm thấy gì hết trơn. 
 
Cuối cùng chú bé gặp con đường mòn chạy quanh co qua những cồn cát. Chú tự hỏi con đường ấy dẫn đi đâu, chú theo con đường cho đến khi gặp cây cầu. Chú ngồi nghỉ mệt trên thành cầu vừa lúc đàn chim bắt đầu bay. Trong buổi hoàng hôn rực rỡ hàng ngàn vạn con chim nhỏ từ đầm lầy bay lên và chú bé nhìn mê mẩn cho đến khi bóng tối xóa nhòa cảnh vật mới ra về. Chưa bao giờ chú bé thấy một cảnh tượng như vậy, đẹp hơn phim ciné về Châu Phi, hay hơn cả xem xiếc, tuyệt hơn mọi thứ...
 
Bỗng nhiên mặt nước bị khua động tản ra những vòng sóng tròn lay nghiêng ngả cành liễu rũ xuống mặt đầm. Chú bé thắc mắc không biết là cái gì, nhưng không lâu, trong hàng liễu rậm vang lên tiếng lóc cóc loảng xoảng. Jeff ngước nhìn qua đám cành lá và tê cứng người lại: Lão Jack đang lò mò chui ra khỏi qua hàng liễu đi lên cầu. Chiếc bao tải đựng chai của lão kêu lóc cóc khi lão đặt xuống sàn gỗ. Lão già nhìn thấy Jeff ở đầu cầu bên kia. Lão cất giọng ồm ồm:
 
"Chào chú nhỏ!".
 
Chú bé ngồi như cóng lại trên thành cầu, im lặng không trả lời lão già. Chú ngó lão trân trân. Mặt lão đỏ rần nổi lên những nếp nhăn nheo bám đầy bụi đất. Lão đội chiếc mũ dạ nhỏ nhàu nát không đủ che mái tóc bạc dài bờm sờm phủ kín cả hai tay và thòng xuống cổ. Lông mày lão rậm rì và cũng bạc một nửa che trên đôi mắt đỏ lờ đờ. Lão mặc chiếc quần rộng thùng thình, áo khoác ngoài mầu đen đầy những vết dầu mỡ và nhăn cộm lên ở một bên vai. Hai bàn tay lão xù xì nắm lấy thành cầu khi lão cúi người tới trước nhìn xuống mặt đầm nước.
 
Chú bé vẫn ngồi bất động trên thành sắt tự hỏi: 
 
"Mình có nên chạy hay không đây?"
 
Nếu chú chạy về phía đầu cầu bên này thì sẽ tiến vào đầm lầy, sẽ trốn lão già một cách dễ dàng nhưng chú bé sợ bị lạc hay nhỡ sảy chân bước vào vũng cát lún thì chết. Ken bảo rằng trong khu đầm lầy có nhiều vũng cát lún lắm. Nếu muốn trở lại bãi thì con đường duy nhất là phải vượt qua lão già đang đứng giữa cầu kia. Chú bé ngán lão già lắm nhưng chú cũng không muốn bỏ đi trước khi xem chim bay.
 
Chú thầm trấn tĩnh:
 
"Biết đâu lão không biết hay là không nhớ ra mình?"
 
Cũng tại vì bọn chú đã chọc phá lão già khi lão lang thang ngoài bãi tìm chai lọ bây giờ mới ra nông nỗi này. Hôm ấy bọn chú chạy phía trước lão già và tìm được mấy cái chai của du khách cắm trại ven hồ bỏ lại. Bọn nhóc chờ lão già đến thật gần mới ném những chiếc chai ấy ra hồ trước mắt lão. Jeff muốn cản hai đứa bạn lại nhưng không kịp. Ken chạy quanh lão già miệng la lớn:
 
"Ê! Ê! Lão lưu manh! Lão bẩn thỉu!"
 
Sau đó nó chạy ra xa nhặt một viên sỏi trên cát lắp vào súng cao su bắn lão già. Viên sỏi bay trúng vào vai lão làm lão tức giận. Lão ném chiếc bao tải xuống cát và đuổi theo tụi nhỏ. Lão vấp lên té xuống mấy lần trên cát lầy trong khi bọn nhóc chạy xa dần. Chúng quay nhìn lại chỉ còn thấy lão già bằng cái chấm đen mới ngừng lại.
 
Bỗng lão Jack bước lui lại đưa tay chỉ về phía bên kia bờ. Hai con vịt trời vụt bay lên, cánh chúng xoải ra, cổ nghển thẳng về phía trước, lượn một vòng trên mặt nước rực rỡ rồi bay về phía mặt trời. Chú bé và lão già cùng đưa tay che mắt nhìn theo cho đến khi chúng khuất dạng.
 
Lão Jack nói:
 
"Chim le le".
 
Chú bé nói dối: 
 
"Cháu cũng biết chim le le. Ai cũng biết hết á".
 
Lão già bỏ nón ra, vuốt lại mái tóc bạc bờm sờm sau đó nhìn Jeff. Chú bé cũng nhìn lão trân trân.
 
"Mày đến đây lần nào chưa nhỏ?"
 
"Có chứ! Cháu đến đây nhiều lần rồi, luôn cả khu đầm này nữa mà!"
 
Thật ra chú bé mới đi xem chim bay có ba lần. Lần vừa rồi chú rủ ba cùng đi nhưng lúc ấy ba đang đọc báo hơn nữa ba nói ba mệt lắm không muốn đi bộ xuống bãi. Ba bảo:
 
"Sao con không rủ thằng Ken? Nhưng này! Con phải coi chừng cái lão già lưu manh sống trong đầm lầy đấy! Ba không muốn con đến gần lão".
 
Chú bé không thích rủ Ken đi cùng vì chú nghĩ thằng bạn không thích chỗ này nhưng cuối cùng chú vẫn phải rủ nó đi.
 
Bỗng nhiên lão già hỏi:
 
"Ê nhỏ! Có phải bữa trước mày với mấy đứa kia phá tao phải không?"
 
Jeff ngồi như chết cứng người trên thành cầu. Chú nhìn hai bàn tay xù xì của lão già và chiếc bao tải lão để dưới chân.
 
"Đâu phải! Cháu có chọc phá ông bao giờ đâu? Cháu chưa gặp ông bao giờ mà!"
 
Lão già loạng choạng tiến vài bước gần lại với đôi mắt hấp hem đỏ lừ nhìn chăm chú bé. Jeff nắm chắc lấy thành cầu và cắn chặt môi dưới lại.
 
"Mày có quen cái thằng nhỏ đầu to to tên là Ken không?"
 
"Không! Cháu không biết nó là ai cả."
 
"Ờ! Thằng đó con nhà mất dạy. Có ngày tao mà túm được nó thì nó chết với tao."
 
Lão già chùi hai tay vào chiếc quần bẩn rồi lại đứng tựa vào thành cầu như cũ.
 
Chú bé nới lỏng bàn tay đang nắm chặt thành cầu và hít thở một hơi dài. Hôm chú bé dẫn Ken đến cầu xem chim bay, thằng bạn nhảy rầm rầm trên sàn gỗ và định đập vỡ mấy chỗ gần hư trên thành cầu làm chú bé nghĩ bụng biết thế chú đi một mình cho rồi. Đến khi đàn chim bắt đầu bay chú bé nhìn sang thằng bạn thấy nó đứng xoạc chân tay đang giương súng cao su sắp bắn. Chú bé la lên:
 
"Ê mày!"
 
Nhưng không còn kịp nữa, dây cao su đã bật một cái "bách" và một con chim rơi khỏi đàn rụng xuống mặt nước, con chim nhỏ mầu nâu trôi lập lờ qua chân cầu, đôi cánh còn dang rộng ra, đầu ngoẹo sang một bên và con mắt trắng đục như mở lớn nhìn đứa trẻ.
 
Ken đưa súng cao su cho chú bé:
 
"Súng đây bắn một con đi mày!"
 
"Tao không bắn! Đừng có bắn nữa nghe mày".
 
Chú bé nhìn con chim chết quay  chầm chậm trên mặt nước trôi lập lờ.
 
Thằng bạn không bắn nữa nhưng buổi chiều của chú bé đã mất vui vì thế chiều nay chú đi một mình.
 
Lão Jack đang mò mẫm tìm trong túi áo cũ. Lão rút ra một gói nhỏ bọc giấy dầu. Lão lấy ra một chiếc bánh sandwich nhồi thịt dầy cộm. Lão bẻ chiếc bánh làm hai đưa một nửa cho chú bé.
 
"Ăn một miếng chơi mày nhỏ!"
 
"Cám ơn ông! Cháu không đói."
 
Ông già nhún vai rồi đưa nửa cái bánh vào mồm nhai nhồm nhoàm sau đó lão liếm sạch những ngón tay. Lão móc một miếng thịt trong phần bánh còn lại ném xuống nước dưới cầu. Mặt nước phẳng lặng bỗng gợn sóng, nước vọt tóe lên và miếng thịt biến mất. Jeff há hốc mồm ngó trân mặt nước hãy còn khua động. Lão già nhìn chú bé nhe răng cười.
 
Chú hỏi nho nhỏ:
 
"Cái gì vậy?"
 
Lão nói: 
 
"Cá ngác! Chỗ này có mấy con to lắm. Mày nhìn xem này"
 
Lão móc thêm một miếng thịt ném xuống nước. Mặt nước lại nổi sóng và nước tóe lên. Miếng thịt cũng mất luôn.
 
"Mày phải đứng ngay chỗ này nhìn mới thấy nó được" 
 
Lão nói thêm.
 
Chú bé ngập ngừng rồi leo khỏi thành cầu và bước chầm chậm lại chỗ lão. Chú ngừng lại cách lão già vài bước thò đầu khỏi thành cầu nhìn xuống nước. Chú há hốc mồm ra ngạc nhiên.
 
Bóng hai con cá ngác to đen lượn lờ dưới làn nước đục, lão Jack ném thêm miếng thịt nữa. Chú bé thấy bóng một con lượn quanh miếng thịt nổi lều bều và bỗng nước tóe lên. Nó đớp miếng thịt lẹ như chớp. Lão già lại ném thịt xuống nữa.
 
Lần này con cá còn lại đớp miếng thịt. Chú bé nhoài người ra khỏi thành cầu nhìn hai cái bóng đen dài lượn lờ dưới làn nước âm u. Lão Jack bảo:
 
"Cẩn thận coi chừng ngã xuống nước đấy nhỏ!"
 
Lão đưa phần bánh còn lại về phía chú bé:
 
"Mày muốn cho cá ăn để coi chơi không?"
 
Chú bé lắc đầu rồi đi về chỗ cũ:
 
"Mấy con cá già ấy có gì lạ đâu"
 
Chú lại tựa vào thành cầu nhìn ra giữa đầm. Lúc ấy mặt trời đã xuống thấp gần chạm mặt sóng. Chú nghĩ bụng rằng sắp đến giờ chim bay rồi. Chú bé cũng mong thầm lão Jack đi đi không thôi lại làm hỏng cả một buổi chiều của chú như thằng Ken. Chú nghĩ rằng khi thấy cái gì đẹp ai cũng muốn kể cho người khác nghe, cũng muốn người khác xem với mình và nói chuyện ấy với nhau về sau này nhưng lần này khi mình kể cho người khác nghe thì lại chẳng được cái tích sự gì. Ba kêu mệt không chịu đi còn thằng Ken thì lại phá đám. Vậy tốt nhất từ nay về sau chẳng thèm nói với ai hết, mình xem một mình cho sướng.
 
Lão già đưa tay gãi sồn sột nói:
 
"Này nhỏ! Tí nữa mặt trời sát xuống mặt nước thì chim bay khỏi đầm. Nhiều vô số, chắc chắn mày chưa bao giờ thấy nhiều chim đến thế"
 
"Nhiều gì mà nhiều. Cháu ra đây xem nhiều lần rồi. Có chỗ còn nhiều hơn nhiều"
 
"Ờ! Có thể chỗ khác nhiều chim hơn. Tao đâu có đi đâu nhiều mà biết nhưng đầm này cũng là chỗ đẹp lắm chớ"
 
Chú bé lẩm bẩm một mình:
 
"Sao lão không đi đi cho rồi cho mình xem chim bay, ở lại phá đám hoài". Chú nhớ lại vài điều về lão già do ba chú và ba thằng Ken nói. Ba thằng Ken bảo lão Jack là lão già lưu manh vô dụng, đáng lẽ ông cò phải cho đuổi lão đi vì dân làng đâu có muốn cho con cái họ xuống bãi chơi trong khi thấy lão luôn luẩn quẩn ở ngoài đó.
 
Lão Jack móc trong túi ra một ống điếu cũ đen thủi đen thui múc đầy thuốc trong cái túi đựng thuốc bằng da cũ nhăn nheo. Lão quẹt cây diêm to tướng vào thành cầu và mồi lửa. Lão bập bập mấy hơi nhả khói mù mịt rồi bỗng nhiên lão quay cán ống điếu chỉ về phía giữa đầm:
 
"Chúng nó bay lên đó nhỏ! Đàn đầu tiên đấy!"
 
Jeff nhìn theo hướng lão chỉ, thấy những chấm nhỏ lớn dần lên thành hình những con chim đang bay. Chúng bay thấp trên mặt đầm, cánh xoải rộng rồi vượt qua lão già và chú bé đứng trên cầu.
 
Một đàn chim khác lượn lượn vòng vòng quanh tàn những cây bần lớn rồi một đàn khác bay lên và cứ tiếp tục như thế. Mặt trời hoàng hôn chiếu rọi ngang qua mặt đầm và cỏ, cây, mây, nước nhuộm ánh tà dương biến thành mầu vàng rực rỡ, long lanh. Rặng liễu thướt tha rung động sào sạc trong cơn gió bấc thổi đến từ phía hồ Erie, lá của một cây cổ thụ ven đầm lấp lánh như dát bạc trong ánh nắng cuối ngày. Những đàn chim nâu nhỏ từ đám bần, đước trong đầm bay lên lượn vòng, rồi đàn này hợp với đàn kia cứ rộng mãi ra làm không gian đầy tiếng ríu rít trong veo và tiếng đập cánh của chúng như muôn ngàn lá cây khua động trong cơn gió mạnh. Đàn chim bay ngang trên cầu như một giòng mây hợp lại bằng hàng vạn con chim.
 
Lão già đi đến cạnh chú bé tựa vào thành cầu. Chú bé quay nhìn rồi lại ngước nhìn đàn chim.
 
"Chim gì vậy nhỉ?"
 
Lão già nói:
 
"Tao thường gọi là chim Cánh-đỏ. Tên chúng chắc không phải vậy? Mà ăn nhằm gì".
 
"Cánh nó đâu có đỏ gì đâu! Mầu nâu mà!"
 
"À! Bầy này toàn là chim mẹ với chim con thôi. Chim bố cánh mới đỏ nhưng chúng đi mất rồi".
 
"Đi đâu?"
 
"Chúng bay về miền Nam để tránh mùa Đông. Mấy đàn này chẳng bao lâu nữa cũng đi cả".

Lão lại lấy cái ống điếu chỉ lên đàn chim đang bay:
 
"Nhìn lên nhỏ! Chúng đuổi theo mặt trời kìa!"
 
Jeff ngẩng đầu nhìn lên. Bây giờ không còn là từng đàn nữa mà là cả một giòng chim trông như một giòng sông lớn chảy trên đầm, lượn vòng qua cầu rồi bay về phía mặt trời mấp mé mặt nước.
 
Chú bé vẫn ngồi trên thành cầu, hai chân buông thõng trên mặt nước, mũi ngửi được mùi khói thuốc thơm nồng từ lòng ống điếu của lão già tỏa ra. Chú nhìn những con én liệng trên đầm, đôi lúc chúng lướt thấp sát mặt nước mịn màng hay bay luồn qua những cành lá rậm của cây bần lớn. Một đôi le le từ phía chân trời, đang đùn lên những tháp mây rực đỏ như những đám cháy bay lại, ngang qua những cồn cát, qua vùng cỏ cây đã nhuộm vàng nắng chiều. Phía ngoài hồ vài con hải âu đảo những vòng lớn trên nền trời rồi đáp xuống mặt sóng óng ánh.
 
Mặt trời đã chìm gần hết khỏi mặt nước và cảnh vật biến dần từ mầu vàng sang mầu xám nhạt. Ánh vàng chỉ còn long lanh trên mặt lá của cây cổ thụ cao vọi trong những giây khắc cuối cùng của ngày nhưng rồi màn đêm xám nhạt cũng dâng dần lên cho đến khi bao trùm hết các ngọn cây.
 
Ánh vàng không còn nữa, mặt trời đã chìm sâu dưới nước, những con chim cũng đã bay đi, không gian chợt trống rỗng và yên lặng.
 
Chú bé và lão già trên cầu không nói lời nào. Lão vẫn phì phà ống điếu. Chú bé đu đưa hai chân, cúi nhìn mặt nước phía dưới.
 
Chú bé nói:
 
"Không biết đàn chim bay đi đâu há?"
 
"Thì tìm chỗ nào đó ngủ qua đêm. Tao không biết chắc chúng bay đi đâu nhưng tao thích nhìn chúng bay đi mỗi buổi chiều. Nhìn kìa nhỏ! Mày thấy con dơi không?"
 
Jeff thấy một con dơi bay thật mau vòng qua ngọn cây bần.
 
"Nó bay mau quá! Cháu tưởng đâu có nhanh dữ vậy. Chưa bao giờ cháu nhìn thấy dơi cả".
 
Hai người đứng ở cầu thêm một lát nữa nhìn con dơi bay lượn săn mồi, sau đó lão Jack gõ ống điếu vào thành cầu bảo:
 
"Tối đến nơi rồi đấy nhỏ! Mày muốn đi trở lại bãi cùng tao không?"
 
Jeff nhìn lão già, ngập ngừng vài giây rồi nói:
 
"Thôi! Cháu không về nhà bằng lối bãi. Cháu băng qua đầm cho gần. Tối thì tối ăn nhằm gì".
 
"Cũng được! Mày muốn đi lối nào thì đi. Từ giã nghe nhỏ!"
 
Lão già vác cái bao tải lẻng xẻng lên vai, đi ngược về phía đầu cầu bên kia rồi mất dạng sau hàng liễu lam nham bóng tối. Chú bé ngồi lại một mình trên thành cầu, hai tay chống vào cằm, nhìn xuống mặt nước. Chú ngồi đó một lúc, sau đó leo xuống, đi lên cầu, băng qua hàng liễu. Chú vượt qua đồng cỏ, đi quanh co giữa những cồn cát theo con đường mòn hồi chiều. Khi chú ra đến bãi chú thấy một vật đen, nhấp nháng bị vùi một nửa xuống cát. Chú bé đứng lại đưa chân đá vào vật ấy rồi cúi xuống nhặt lên xem. Chú cầm nó trên tay, đứng yên ngắm một lúc lâu. Chú bé ngước lên nhìn và bắt đầu chạy dọc theo bãi cát. Đằng xa tắp trước mặt chú là một bóng người nhỏ tí còn nhìn thấy được trong lúc tranh tối tranh sáng.
 
Chú bé vẫn tiếp tục chạy, hai tay giữ chặt cái vỏ chai trước ngực.
 
 
ĐỊNH NGUYÊN dịch      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 111, tuần lễ từ 19-7 đến 26-7-1973)
 

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2026

HƯƠNG GÂY MÙI NHỚ - Bình Nguyên Lộc


Đó là hàng sách to nhứt Saigon. Không giờ phút nào mà cửa hàng không đông đến hằng trăm khách... À, không phải là khách tiêu thụ đâu, mà là khách xem chơi và đọc cọp.

Có những anh chàng đọc tiểu thuyết Tây ngay trong ấy, mỗi ngày tới đọc độ mười trang. Loại tiểu thuyết được xén ở cả ba mặt, lật ra dễ dàng quá.

Lẽ dĩ nhiên là trong đám ấy có độ một chục người mua và lối vài cậu... đạo sách.

Hiệu phải mướn rất đông nhơn viên, toàn là con gái, để kín đáo làm nữ gián điệp theo dõi mấy cậu đạo hiếm hoi ấy, tuy bề ngoài họ vẫn là những cô bán hàng.

Tồn không thuộc vào hạng khách nào kể trên cả. Chàng là người tìm tòi... lục lạo để phát kiến sách lạ, và lâu lắm, chàng mới tìm ra một quyển, có khi mất hằng tháng hiệu sách mới lấy được của chàng vài mươi đồng.

Thế nên chàng có vẻ khả nghi nhứt, và có lẽ là kẻ bị coi chừng nhiều nhứt.

Hôm ấy chàng đứng một mình trong một xó tương đối tối hù, nơi bày sách ế độ vì khó tiêu; hoặc vì quá mắc tiền.

Chàng không rờ tới sách mà chỉ đọc nhãn sách in trên các gáy thôi. À, cái đó lại càng khả nghi hơn.

Có lẽ mấy cô đang tự nói thầm : "Thằng nầy làm bộ, không buồn cầm sách lên, nhưng biết đâu đó là thủ đoạn khôn khéo nhứt để làm một cú rất đáng đồng tiền".

Chàng đứng đó hơn hai tiếng đồng hồ. Xem chừng chàng chắc là phải mệt ghê hồn, nên một cô nổi đóa bước vào trong, xấn rấn gần chàng.

Hiệu sách nầy buôn bán đúng theo truyền thống Âu Mỹ, nghĩa là để khách tự do, không hỏi, vì hỏi tức là làm áp lực. Thế nên cô nọ chỉ đuổi khéo anh chàng kỳ dị và khả nghi nầy bằng sự có mặt của cô ta thôi.

Chàng phải hiểu rằng cô ấy muốn nói một cách câm lặng : "Ông mua hay không mua ? Chọn gì mà đến hai tiếng đồng hồ, báo hại người ta xem chừng đến mỏi cả mắt. Ông nên đi là hơn".

Nhưng Tồn lại không nghe những lời ấy mà đáng lý chàng phải nghe. Mặc dầu đó là lời nói không được thốt ra, chàng phải nghe bởi chàng thông minh và tế nhị lắm.

Chàng không nghe vì chàng bận nghe thứ khác và trí óc đang bị thứ ấy quấy rầy.

Cô áo xanh đứng đó được ba phút mà chàng vẫn không nhúc nhích nên cô bắt đầu nổi nóng.

Thình lình cô nghe chàng hỏi :

- Xin lỗi cô, nước hoa cô đang dùng hiệu gì ?

A, thằng cha nầy mới đáng ghét chớ ! Giờ nó lại trổ ngón tán tỉnh nữa đây !

Đang nổi dóa cô ấy đâm khùng :

- Nè, ông đừng vô lễ, tôi nói cho ông biết...

Tồn bình thản nói :

- Không có gì mà cô làm to chuyện. Nếu cô biết phong tục Âu Mỹ thì một câu hỏi như vậy là thường. Người đàn ông có thể thích vợ mình dùng loại nước hoa nào đó và gặp được loại ấy dĩ nhiên họ truy tầm căn cước để xúi vợ họ mua.

- À, thì ra là vậy. Tôi cứ ngỡ... Xin lỗi ông nhé.

- Khỏi, tôi chỉ cần biết tên thứ nước hoa của cô thôi.

- Ông mới đến đây lần đầu ? Hình như là không phải vậy. Tôi nhớ ra ông là một gương mặt rất quen mà ?

- Đúng thế. Nhưng thường thì cô đứng chung với các cô khác, nhiều mùi lẫn lộn nhau, một là hương của cô chưa bao giờ nổi bật như hôm nay, hai là tôi thoáng nghe cái hương ấy, nhưng không lẽ lại hô : "Nào, các cô đứng dang ra coi, để tôi đánh hơi từng cô, tôi cần truy nã một mùi hương trong mớ hương hỗn hợp của quí cô".

Nếu tôi làm thế tôi đã bị tát tay rồi.

Cô gái áo xanh, nước da bánh mật, cười dòn lên rồi nói :

- Cứ theo lời ông thì ông hỏi nghiêm trang, chớ không phải cố ý tán tỉnh tôi. Nhưng tôi còn hơi nghi ngờ.

Tốt hơn là ông đưa bà đến đây. Bà hỏi thì tôi nói ngay.

Tồn châu mày. Bà ở đâu mà đưa đến bây giờ ?

Đó là mùi hương của Thủy, mà Thủy đã đi lấy chồng mất từ năm năm nay rồi.

- Vâng, để tôi đưa vợ tôi đến.

Tồn không biết đáp làm sao cho trôi, nên hứa như vậy cho qua chuyện, và cô gái áo xanh an lòng, đi làm công việc khác.

Người nữ gián điệp rời khỏi nơi đây hơn năm phút đồng hồ rồi mà hương thừa của nàng còn thoang thoảng chưa phai.

Ngày đầu cô ấy vào làm ở đây, ngày ấy Tồn cũng có đến - ấy, chàng là con mọt sách, không hôm nào là không có mặt những nơi bán loại hàng hóa mà các tay triệu phú không bao giờ thèm mua - và cũng đã nghe mùi hương đó.

Lần ấy chàng bỗng vụt sống lại cuộc đời của chàng năm năm về trước một cách mãnh liệt, khi mà mùi hương nặc danh kia như bấm vào một cái nút điện làm hoạt động cả bộ máy ký ức của chàng.

Lạ quá, một tấm ảnh, một bức thư của người cũ không có khả năng khôi phục dĩ vãng cho bằng một mùi vị, bất cứ dĩ vãng nào, mà nhứt là dĩ vãng về một mối tình.

Khắp thế giới đều nghe danh chiếc bánh Madeleines nhúng nước trà của Marcel Proust, chiếc bánh mà mùi vị gợi nhớ lại tất cả những chi tiết tỉ mỉ, những hình xưa, bóng chết, những chơn trời năm cũ, những gương mặt thân yêu, cho đến những tiếng động không đâu, tiếng một chiếc muỗng khua ly, tiếng một con ve sầu ngoài vườn, tất cả đều hiện hồn về.

Nhứt là anh chàng không còn giữ được món kỷ niệm nào về Thủy cả. Bao nhiêu thư từ hình ảnh của nàng, chàng đã thiêu hủy hết, nói là để tránh gây rắc rối, phiền phức cho một cô gái đã lấy chồng mà thật ra chính vì hờn giận cho nên mùi hương ấy càng quí báu hơn lên vì đó là nguồn gợi nhớ độc nhất.

Rất nhiều lần Tồn muốn tìm biết, nhưng cô mặc áo xanh tư niên ấy cứ bận rộn mãi, với lại cô không bao giờ đứng một mình nơi chỗ vắng nên Tồn đành thôi. không hỏi được. Vả lại chàng cũng không dám chắc rằng chính cô gái nước da bánh mật lại thơm cái mùi hương đó. Ở đây cô nào cũng xức nước hoa cả, mà Tồn lại dại dột cứ hồ nghi các cô hao hao giống Thủy, trắng trẻo và mảnh mai, hơn là nhằm cô gái áo xanh, cô nầy hơi cao lớn, môi dày quá, mày rậm quá, không giống Thủy chút nào.

Tồn đứng tần ngần nơi đó một hồi lâu nữa, mắt vẫn nhìn gáy sách nhưng chỉ thấy buổi gặp gỡ cuối cùng giữa Thủy và chàng, họ hẹn nhau để mà chào vĩnh biệt.

Khi Tồn ra nhà sách đi ngang qua cô áo xanh nước da bánh mật, chàng rất muốn đứng lại, nhưng không dám nên đi luôn ra cửa.

Các tay chế tạo nước hoa ngày nay họ khôn quỉ không tưởng tượng được. Thay vì chỉ quanh đi quẩn lại với năm bảy mùi như hồi xưa, họ sáng tác hàng vạn mùi khác nhau, mà phụ nữ họ cũng hóm lắm, mỗi cô chọn một mùi hợp với cá tánh của mình, thành thử trong một bữa tiệc đông hằng bốn mươi đàn bà, có thể không có hai mùi trùng hương với nhau. Họ mang thẻ căn cước bằng hương riêng của họ, lắm cô lại khôn quỉ hơn các kỹ nghệ gia nữa là pha trộn vài thứ nước hoa lại để tạo nên một mùi hỗn hợp, độc đáo mà không làm sao mà tìm ra một người thứ nhì thơm y như vậy.

Kể từ hôm ấy, Tồn và cô gái áo xanh không còn nặc danh đối với nhau nữa. Cô gái môi dày là hình bóng của Thủy, nếu chàng nhắm mắt lại, còn Tồn là một gã si tình cô, theo ngộ nhận của cô.

Ừ, gã hứa rồi không bao giờ đưa vợ tới cả, nên cô ấy đinh ninh rằng gã chỉ kiếm cớ để tán cô ta thôi.

Cô ta rất buồn cười, và để cho gã leo cây chơi, cô ta không bao giờ thèm lại gần cả.

Nhưng Tồn đã có cách đến gần cô áo xanh. Hắn rình - Vâng, bây giờ thì chính hắn rình cô gái, chớ không phải cô gái rình hắn nữa, hắn rình để chờ cô ta đứng không rồi chụp lẹ quyển sách, chạy tới nhờ cô ta gói.

Công việc gói sách, làm phiếu trả tiền kéo dài được mấy phút và suốt thời gian ngắn ngủi ấy Tồn đứng cạnh cô gái đó, làm bộ như để kiểm soát coi cô ta có ghi sai hay không. Những lúc ấy chàng luôn luôn nhắm mắt lại để chiêm bao thấy Thủy.

Trò chơi nầy tốn tiền quá sức vì ngày nào Tồn cũng mua một quyển sách, may là chàng chọn loại sách rẻ tiền nhứt, loại bỏ túi, giá 1 C, chỉ có hai mươi đồng một quyển thôi.

Khổ nhứt là phải mua trùng. Tủ sách nhà chàng chứa đến bốn quyển Le Grand Meaulnes. Chẳng là, loại sách bỏ túi bày la liệt trên chiếc bàn ngoài hết, rất dễ chụp lấy, mà khi chụp vội vàng thì không còn chọn lựa kịp nữa.

Chàng đã phải sắm thêm hai tủ sách lớn mà cũng chứa không hết loại sách rẻ tiền đó, lắm quyển chàng chưa lật ra lần nào.

Cô hàng sách đoán biết cái gì, không đúng lắm, nhưng vẫn đúng phần nào, là anh chàng nầy mua sách không phải để xem, mà chỉ để gần cô ta thôi.

Nhưng cô nghĩ rằng đó là anh chàng nhút nhát hoặc thiếu kinh nghiệm đã mua sách trên hai trăm lần rồi mà chưa dám nói gì cả. Hoặc nếu ngại chỗ đông người, chưa biết đón đường cô ở đâu đó, ngoài phố.

Cô ta rất buồn cười, nhưng hơi thương xót hắn nên không nỡ kể chuyện cho đồng nghiệp cô ta nghe để cả hiệu cùng cười chơi.

Người con gái lạ lắm. Đoán rằng gã si tình nầy đã có gia đình - mà chính miệng hắn thú nhận như vậy - cô gái đoan trang nầy không mong mỏi gì cả, nhưng cô ta vẫn nghe êm ái lạ kỳ trong lòng mỗi lần nhận gói quyển sách mà kẻ si cô, trao cho cô.

Hôm nào chàng đến trễ là cô ta hơi nhơ nhớ. Không, cô ta không thèm yêu người có vợ đâu, cho dẫu chàng có đeo đuổi và tán cô ta suốt hai năm đi nữa, nhưng cuộc tìm thấy mặt cô của hắn là mơn trớn dịu nhẹ làm cho cô ta vui vui.

Là một cây rắn mắt, cô gái môi dày bèn nghĩ ra một trò đùa mà cô tưởng tượng trước rất ngộ nghĩnh.

"À, hắn bảo là hắn chỉ muốn biết tên thứ nước hoa mà ta dùng thôi, chớ không phải tán gái, và ngầm cắt nghĩa sự lân la của hắn bằng lý do đó.

"Vậy mình cứ đổi nước hoa chơi. Hắm nói láo thì hắn sẽ không bị việt vị khi nghe mùi hương khác, mà hắn sẽ ngỡ ngàng, không biết ăn làm sao, nói làm sao cho trôi cái vụ năng tới của hắn, cho dẫu là nói thầm thôi.

"Để xem thử hắn đủ thông minh để bịa một lý do khác hay không, khi mình hỏi vặn hắn. Chắc mình sẽ được cười trước sự bối rối của hắn"

Vậy cô gái không dùng hiệu Eszouka nữa, đó là loại nước hoa của Nga cổ thời mà chế tại Anh Quốc bằng cách mua bằng - sáng - chế. Nước hoa ấy rất hiếm có ở Saigon, thơm mùi da của dã thú, đàn ông rất mê : cô bắt đầu dùng hiệu Chanel số 5, cũng là một hiệu đắt tiền, mùi hương rất đài các, nhưng bán tràn đồng ở đây, ai có tiền là mua được.

Hôm ấy gã si tình vô danh cũng đến vào giờ thường lệ là mười giờ sáng, và cũng rình cô gái áo xanh, chờ đợi phút rảnh tay của cô.

Cô gái bắt đầu mong đợi hồi chín giờ rưỡi, cô ta rất tinh nghịch và ưa cười đùa, và khi thấy mặt anh chàng mua mãi loại sách bỏ túi, cô ta cố làm việc nhanh chóng để được rảnh tay.

Hôm nay Tồn không phải rình lâu, và vì quá vội, chàng chụp lầm một quyển đôi, dầy bằng hai quyển thường và dĩ nhiên giá cũng cao bằng hai.

Chàng nhắm cái đích xanh và bước tới. Chàng nhắm mắt lại liền sau khi cô gái đưa tay ra, và thình lình, chàng bỗng nghe lạc hướng.

Cô Thủy không còn ở trước mặt chàng nữa. Đó là một cô gái khác, một mùi hương khác, mùi hương sang trọng nhưng quá tầm thường vì được rất nhiều người dùng.

Tồn rụng rời vì Thủy lần nầy thật là chết hẳn rồi, không làm sao mà tìm lại được nữa. Chàng phải mất đến năm năm mới nghe lại mùi Eszouka, thì chưa dễ mười năm nữa, chàng sẽ bắt gặp lần thứ ba cái mùi gợi nhớ đó.

Thủy đã chết và ngàn năm vĩnh biệt. Nàng đã đi vào dĩ vãng của chàng thật sự, kể từ hôm nay, đi vào đó lần thứ nhì, cách lần thứ nhất năm năm trời.

Tồn mở mắt ra và chỉ thấy mái tóc dài phủ lưng của cô gái áo xanh, nàng bận biên phiếu trên một chiếc bàn con đặt phía trong, cách bàn để sách bỏ túi một khoảng trống bảy tấc. Rầu lòng, chàng bỏ đi bước trước lại quầy trả tiền, đứng đợi, mắt nhìn mãi cái dĩa đựng tiền bằng thủy tinh để khỏi phải thấy người không phải là Thủy.

Hôm sau, cô gái áo xanh đợi tới mười giờ rưỡi mà gã si tình câm lặng, mãi không thấy đâu cả.

Cô hơi buồn buồn, và nhơn một lúc rảnh tay, cô ta phóng mắt ra đại lộ Lê Lợi.

Gã mê gái mà nhút nhát, đang đứng trên vỉa hè trước hiệu sách, hai tay nhét túi quần, mặt nhìn gạch xi-măng màu mà hiệu sách lót vỉa hè riêng nơi đó.

Thình lình cô gái áo xanh vụt hiểu. Quả thật hắn không phải là anh chàng băm lăm có ý muốn tán cô ta mà không dám.

Gã không vào hiệu nữa vì gã không tìm thấy mùi hương Eszouka mà chắc chắn đã gợi hắn nhớ một người yêu cũ năm nào, chớ không phải muốn mua cho vợ đâu như hắn đã nói láo.

Nếu muốn vợ hắn biết nước hoa ấy thì không có gì dễ bằng : hắn cứ đưa vợ hắn tới là xong vì cô đã hứa nói sự thật với người đàn bà ấy.

Bằng như muốn tán cô thì cho dầu cô xức nước hoa nào, cô vẫn là cô thôi.

"Trời ơi, cô áo xanh kêu than thầm, đời nầy lại có kẻ trung kiên đến thế với một mối tình hay sao ?

Mình cứ nghe bạn hữu mình rủa nam phái rằng lũ nó quên nhơn tình mau lẹ lắm, như trẻ con một tuổi quên mẹ chúng, khi các bà mẹ ấy chẳng may chết đi".

Bỗng dưng người con gái áo xanh đâm ra cảm tình với con người độc nhất vô nhị trên đời nầy mà còn biết yêu dai dẳng như người xưa, chớ không thờ ơ, không chế giễu thầm chàng nữa.

Chàng đứng đó hằng giờ, không vào vì trong ấy ảo ảnh không còn, mà cũng không đi, vì bấy giờ ảo ảnh mờ rồi, một ảnh thật nổi lên, gương mặt cô gái có nước da bánh mật và đôi môi dầy.

Nếu làn da trắng mát chiếm lòng thì cái nước da bánh mật không son phấn lại mặn mòi hơn bội phần. Và người phụ nữ có đôi môi dầy là người biết yêu rất bồng bột.

Tồn nhớ ra thì nụ cười kín đáo của cô gái áo xanh dễ mê không biết bao nhiêu mà chàng đã thờ ơ chỉ vì mùi hương năm cũ làm chàng tối mắt thôi.

Tuy nhiên chàng vẫn đứng đó đến hơn một tuần lễ. Con người trung kiên với một mối tình nầy, không thể quên mau quá như bao nhiêu người khác.

Sáng thứ ba hôm đó chàng vào hiệu, và hỏi ngay cô gái nước da bánh mật.

- Thưa cô, cô có quyển "Hình bóng mới" hay không ?

Cô gái hiểu ngay, mỉm cười hóm hỉnh và hỏi lại :

- Thế ông không thích quyển "Hương cố nhân" à ?

- Cố nhân đã chết mà thời nay không có phép lại gậy phép, đũa mầu để giúp nàng sống lại.

- Thì ra ông cũng khá thực tế đó.

- Chỉ tới mức nào thôi cô à.

(Tuần báo Buổi sáng, 1964)

(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng) 
 

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

TRÁI TIM BẰNG GỖ THÔNG - Nguyễn Thanh Trịnh

 
Lúc mới đặt chân đến Phan Rí lần đầu thú thật tôi đã muốn khóc. Tôi cứ tưởng thành phố này phải to lớn lắm vì nó có tên trên bản đồ Việt Nam đàng hoàng không ngờ nó còn nhỏ hơn lòng bàn tay.
 
Chiếc xe đò tôi đi có từ hồi Pháp thuộc loang lổ vết sơn xanh đỏ chạy một mình không nổi lại còn được chất đầy những rổ cá lớn, cá bé trên mui và trong lòng xe, những rổ cá này nghe đâu bị kẹt đường nên phải chở về nguyên quán. Phải mất 3 giờ đồng hồ chiếc xe mới lết được từ Phan Thiết đến Phan Rí trên đoạn đường chỉ dài hơn 60 cây số. Vừa vào đến bến xe nằm ngay ở trung tâm con phố tôi vội xách va ly bước xuống vì không chịu nổi mùi cá tanh nồng bốc lên khi xe đậu.
 
Đã 6 giờ chiều mà trời còn nắng gắt thêm những ngọn gió thổi cát bụi bay mù khiến tôi nóng muốn điên người. Lấy khăn tay ra lau mồ hôi xong tôi lững thững đi bộ dọc theo con đường trước mặt, nhìn lên tấm bảng một hiệu buôn thấy đề Đại lộ Trần Hưng Đạo mà buồn cười. Con đường chỉ rộng hơn một con hẻm ở Sàigòn vậy mà cũng xưng là Đại lộ. Địa chỉ tôi muốn đến: Công ty nước mắm Hoa Hồng số 3 Đại lộ Bạch Đằng. Cũng đại lộ, không biết con đường đó lớn hơn con đường này được mấy phân. Đang lóng ngóng tìm người hỏi thăm đường tôi gặp một nữ sinh mặc quần áo trắng bước tới. Kinh nghiệm cho tôi biết vào nhà hỏi bà già ra đường hỏi học trò nên tôi móc túi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ cho cô bé.
 
- Em cho tôi hỏi thăm địa chỉ này ở đâu?
 
Cô bé mở to đôi mắt đen láy quan sát tôi từ đầu đến chân xem tôi có phải là người lạ không rồi mới cúi đọc tờ giấy. Trước khi đến đây tôi nghe người ta đồn rằng con gái xứ này hai mắt đều "bét" vì bị cát bụi thổi vào nhưng nhìn kỹ cô bé này tôi chẳng thấy mắt em "bét" tí nào mà trái lại còn trong sáng hơn mắt mèo nhiều, tôi không hiểu thiên hạ đồn sai hay cô bé cũng là người xứ lạ đến đây như tôi?
 
- Ông mới đến đây lần đầu?
 
- Phải, nếu đến đây lần thứ hai thì tôi khỏi làm phiền em.
 
- Em cũng ở cùng đường đó vậy ông cứ đi theo em là đến nơi.
 
Em trả lại tôi tờ giấy rồi ôm cặp đi trước, tôi vội xách va ly đi nhanh cho ngang hàng với em. Cô bé dừng lại lắc đầu:
 
- Đừng. Ông hãy đi sau em vài bước, ông đi bên em thiên hạ sẽ đồn thế này thế nọ ngay. 
 
- Ở đây thiên hạ thích bàn chuyện của người khác lắm sao?
 
- Vâng, chỗ nhỏ bé mà. Ông cảm phiền.
 
Tôi đành đứng lại đợi cô bé đi trước vài bước rồi lẽo đẽo xách va ly theo sau. Tức mình tôi rủa thầm, xỉ vả thiên hạ, chắc quí vị no cơm ấm cật dư thì giờ nên thích bàn chuyện người khác còn đói như tôi thì bàn mãi chuyện bao tử của chính mình mà vẫn chưa xong. Đến một con hẻm lầy cát hai bên là bờ tường cao thấy không có bóng dáng "thiên hạ" tôi vội bước lên đi bên cạnh cô bé nói chuyện.
 
- Đi một mình lủi thủi ở sau tôi thấy tủi thân quá.
 
- Tại sao vậy?
 
- Tôi có cảm tưởng người ở đây đã bạc đãi mình.
 
Cô bé cười:
 
- Vậy ông đến đây làm gì?
 
Tôi kể cho em nghe tôi là một quân nhân giải ngũ loại hai, có một người bạn ở Sàigòn giới thiệu tôi ra đây làm thư ký cho công ty nước mắm Hoa Hồng để sống qua ngày và tôi hy vọng người ta sẽ không từ chối.
 
- Em sợ ông không chịu nổi đâu.
 
- Làm thư ký có gì nặng nhọc mà không chịu nổi.
 
- Không, em muốn nói mùi nước mắm kia.
 
- Đó là mùi quốc hồn quốc túy người Việt nào sống ở ngoại quốc cũng nhớ nó, sao em lại nói chịu không nổi?
 
- Rồi ông sẽ biết.
 
Đi thêm một lúc cô bé dẫn tôi đến bờ sông. Con sông rộng ở gần cửa biển đậu đầy những ghe chài sơn mầu sắc rực rỡ. Trên bờ người qua lại tấp nập và những nong mực được phơi đầy hai bên đường choán cả lối đi. Cô bé chỉ tôi một ngôi nhà lớn quét vôi vàng cách chỗ chúng tôi đứng một cột đèn.
 
- Đó là công ty Hoa Hồng. Em chúc ông may mắn.
 
Thật cảm động nghe câu nói đó, từ ngày thất nghiệp đến nay chưa ai chúc cho tôi một lời may mắn nào. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô bé.
 
- Cám ơn em, tôi tin người ta không nỡ từ chối một thương phế binh đói rách như tôi. Nhà em ở đâu có dịp tôi sẽ đến thăm.
 
Cô bé chỉ tay về một khu nhà lố nhố ở phía xa.
 
- Nhà em ở gần chợ cá kia kìa, chắc ông không tìm thấy đâu. Nếu ông được làm việc ở công ty em sẽ còn gặp ông vì thỉnh thoảng em vẫn đến đó nhận giấy giao hàng. Thôi em xin chào ông.
 
Nhìn cô bé đi khuất vào đám người trên bờ tôi mới lững thững xách va ly đến công ty. Phía trước nhà có một tấm bảng lớn hai bên vẽ hai bông hồng to tướng, tôi đi thẳng vào cửa và xin gặp ông giám đốc. Người lao công dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ, tôi gặp một người tóc bạc đang ngồi đọc nhật báo. Tôi cúi đầu chào ông và đưa lá thư giới thiệu việc làm do người cháu ruột của ông ta viết. Đọc thư xong ông hỏi tôi những giấy tờ cần thiết, tôi mở va ly lấy ra đưa ông xem. Ông nói được rồi cậu sẽ ở luôn đây và bắt đầu làm việc từ ngày mai. Được làm tôi mừng rỡ nói cảm ơn ông. Ông nói không có gì tôi sẽ xem cậu như cháu tôi rồi ông gọi người lao công vào căn dặn thu xếp nơi ăn chốn ở cho tôi.
 
Công ty chiếm một khu đất khá rộng, người lao công dẫn tôi đi quanh một vòng cho biết và chỉ cho tôi chỗ ngủ là một cái chái nhỏ lợp tôn ở gần nhà ông. Về cơm nước ông nói nếu cậu muốn ăn ở ngoài ngày mai tôi sẽ dẫn đến một nơi nấu cơm tháng. Tôi nói nếu tiện nhờ bác nấu cho tôi ăn luôn khỏi phải đi xa. Ông nói nhà tôi ăn uống bết lắm sợ cậu nuốt không nổi. Tôi cười nói có rau có cháo để ăn là may rồi, tôi đang thất nghiệp mà bác. Ông cười nói vậy thì được.
 
Công việc tôi làm ở công ty tương đối nhàn hạ. Hàng ngày tôi đánh máy những hóa đơn giao hàng, nhận hàng, những giấy tờ chứng nhận phân chất nước mắm và các loại giấy xin chuyên chở nước mắm đến các tỉnh khác. Phía sau công ty là nhà lều nước mắm của riêng ông giám đốc. Trong những thùng gỗ lớn người ta đổ cá vào đấy ướp muối rồi đợi ngày cho cá rã ra nhỏ giọt thành nước mắm. Mỗi lần vào lều kiểm soát các phu vợi nước mắm vào những thùng nhỏ để chở đi bán tôi phải bôi dầu cù là vào mũi và châm thuốc hút liên miên. Hôm đầu nhìn người ta lấy xác mắm ra chất trong những giỏ lớn để bán cho các chủ đồn điền làm phân bón tôi đã phải chạy ra ngoài nôn oẹ vì không chịu nổi mùi hôi kinh khủng từ xác mắm bốc ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bé nói sợ tôi không chịu nổi mùi nước mắm. Nếu không vì cái bao tử mỗi ngày đều đói chắc tôi đã xách va ly đi ngay sau lần nôn oẹ đó.
 
Tôi lẩm cẩm nghĩ tại sao các ông "hàm hộ" ở đây chẳng ông nào chịu lấy dấu hiệu nước mắm của mình là cá nục, cá thu, cá cơm, cá óc nóc... mà lại đi chọn những hình con thỏ, con gà, con én, hoa sen, hoa hồng...? Nếu những đôi tình nhân ở xa đều biết hoa hồng là dấu hiệu của một công ty nước mắm lớn ở đây chắc họ sẽ không ham tặng người yêu một đóa hồng vì chẳng lẽ họ còn muốn tình yêu của họ sẽ mặn mòi và sực nức hương thơm như nước mắm?
 
Dù không thích mùi hương của nó nhưng tôi cũng phải cảm ơn nước mắm đã giúp tôi có công ăn việc làm sống qua những ngày đói khát. Mỗi sáng để khỏi đi ăn điểm tâm tốn tiền tôi thường xuống lều múc một ly nhỏ nước mắm uống ực một hơi rồi chạy lên nhà uống luôn hai ly cối nước trà cho đã khát như vậy là no suốt buổi. Cũng may nước mắm có nhiều chất bổ nên càng ngày tôi càng lên cân.
 
Một buổi sáng khi tôi vừa uống xong ly nước mắm điểm tâm miệng đang mặn đắng thì cô bé tôi gặp hôm đầu tiên đến xứ này đi vào. Em chào tôi, tôi chẳng kịp chào lại mà vội rót hai ly cối nước và uống luôn một hơi. Em hỏi: 
 
- Ông làm gì mà khát dữ vậy?
 
- Tôi mới ăn điểm tâm bằng nước mắm. 
 
Cô bé trợn tròn mắt không hiểu, tôi phải giải thích cặn kẽ cho em rõ. Nghe xong cô bé cười.
 
- Ông thật có duyên với nước mắm. Em chỉ uống một muỗng nhỏ thôi cũng đủ sặc chết người. 
 
Tôi hỏi em sao cả tuần nay không đến chơi, tôi có ý đợi em mãi. Cô bé nói em cũng muốn đến thăm nhưng không có dịp, sáng nay em nghỉ học và ba em sai em đi phân chất nước mắm nên em mới có cơ hội đến đây. Em trao tôi một chai nước mắm nhỏ, tôi cầm lấy đem vào phòng giảo nghiệm. Ở đây các nhà lếu trước khi đem bán nước mắm đều phải đem đi giảo nghiệm để xem nước mắm của mình có bao nhiêu chất cá, chất cá càng nhiều nước mắm bán giá càng cao. Phòng giảo nghiệm chưa có người làm việc, tôi trở ra kéo ghế mời em ngồi đợi. Em hỏi:
 
- Ông đã đi đâu chơi chưa?
 
- Ở đây có chỗ nào mà đi chơi. Mỗi tối tôi chỉ biết ra bờ sông ngắm thiên hạ qua lại hay đến quán Lều Gỗ ngồi uống nước rồi về ngủ.
 
- Vậy thì còn thiếu sót nhiều. Ở đây có nhiều chỗ đáng đi chơi lắm như đi rẫy ăn táo, đi xóm Rùng ăn mận, đi tắm biển ở bãi Trùng Dương hay Ghềnh Son, đi thăm chùa ông Hai Đại, đi xem thắng cảnh đập Đồng Mới v.v...
 
- Vậy hôm nào rảnh tôi mượn xe Honda chở em đi chơi nghe.
 
- Đâu được, thiên hạ nói chết.
 
Lại thiên hạ. Tôi bèn nguyền rủa thiên hạ, xin quí vị để cho tôi sống với chứ. Tôi phân giải với cô bé:
 
- Thây kệ họ. Chúng ta hãy sống cho chính chúng ta, họ đâu có sống giùm chúng ta mà chúng ta lo.
 
Có lẽ cô bé cũng đồng ý với tôi nên vào những chủ nhật kế tiếp em đã đến dẫn tôi đi thăm những nơi chốn em nói. Từ khi chúng tôi thân với nhau những tối rảnh rỗi em thường đến nơi tôi ở nấu chè chuối bột báng nước dừa hay em đem cá hấp ở nhà đến quấn bánh tráng rau sống chấm với nước mắm "nhĩ" loại thượng hảo hạng tôi lấy ở lều. Cô bé ăn như mèo nên tôi được dịp ăn no cành hông bù những ngày đói khát.
 
Một tối em đến chơi, tôi vui miệng nói lại với em những điều mà cậu học sinh con trai bác lao công cho tôi biết là có rất nhiều nam sinh ở trường em đã si em bỏ cả học hành. Cô bé cười nói:
 
- Ai mà si em, em cho chết luôn.
 
Tôi khoái chí cười:
 
- Đúng, đúng. Nhưng còn tôi?
 
- Ông hả, em cũng cho chết luôn.
 
Tôi chưng hửng nói:
 
- Bộ nhất định em không khóc thương?
 
- Khóc hả, có cười bể bụng thì có.
 
- Chúa ơi, chắc tim em bằng sắt?
 
- Sắt hả, ai mà ưa thứ mau rỉ sét đó.
 
- Bằng đá chăng?
 
- Nước chảy đá mòn, đá yếu xìu.
 
- Bằng gỗ làm thùng nước mắm?
 
- Vâng bằng gỗ nhưng không phải gỗ làm thùng nước mắm đâu mà là gỗ thông sản xuất từ rừng thông Đà Lạt.
 
- Vậy chắc em sinh ở Đà Lạt?
 
Cô bé gật đầu kể cho tôi biết gia đình em trước kia ở Đà Lạt sau đó dời xuống đây lập nghiêp đã được mười năm và bây giờ ở chốn này em là một cây thông nhớ rừng. Cô bé cười nói tiếp:
 
- Em mới nhận được một lá thư tình. 
 
Tôi ngạc nhiên nói:
 
- Tôi có viết thư cho em hồi nào đâu mà em nhận được? 
 
- Ai nói ông viết bao giờ đâu, thư này của một người khác.
 
- Em đã có một người tình khác?
 
- Không phải đâu, thư này của thầy em gửi cho em, để em đưa cho ông đọc.
 
Cô bé móc túi đưa tôi một phong bì mầu xanh để ngỏ, bên trong có một tờ giấy mầu hồng viết đầy chữ Anh. Tôi hỏi:
 
- Thầy của em người Mỹ à?
 
- Không, ông ấy dậy Anh văn. 
 
Anh văn tôi mới học đến lesson 10 trong quyển English For Today Book one nên chẳng hiểu ông giáo sư viết gì, tôi trao lại lá thư cho cô bé.
 
- Em dịch giùm tôi đi. Lần sau em nhớ nói ông ấy viết bằng chữ Việt tôi mới có thể đọc được. 
 
- Đại ý ông ấy viết, ông ấy yêu thương em và muốn gặp em chiều chủ nhật này tại nhà trọ của ông ấy.
 
Tôi nổi sùng nói:
 
- Sao em không đưa lá thư mắc dịch này cho ông hiệu trưởng đọc.
 
- Thôi em sợ làm rùm beng cả trường đều biết em dị chết.
 
- Em có viết thư trả lời ông ấy không? Em có định đến thăm ông ấy không?
 
- Còn lâu. Nhưng em sợ ông ấy cứ viết thư hay gọi em lên đọc bài hoài tụi bạn biết được chúng chọc em chết. Vậy em nhờ ông đóng vai anh em đến nói ông ấy đừng có viết thư cho em nữa.
 
- Xong rồi, chiều chủ nhật này tôi sẽ thay em đóng vai người tình đến thăm ông ấy.
 
- Khỏi đợi đến chiều chủ nhật, chiều mai khoảng 6 giờ ông đợi em ở quán Lều Gỗ rồi em sẽ chỉ cho ông thấy thầy em vì ông ấy ăn cơm tháng ở gần đó.
 
Buổi chiều mới 5 giờ tôi đã có mặt ở Lều Gỗ, một quán nước vĩ đại nhất xứ Phan Rí này. Quán gồm hai phần: một sân rộng đặt bàn ghế bán nước uống và một căn nhà có những tủ kính (trước bày bán đồ điện sau ế dẹp luôn) bày những sách truyện cho thuê. Tôi vẫn thường đến đây để uống một ly đá chanh cho đỡ khát vì đã lỡ uống nước mắm quá nhiều sau đó thuê vài quyển truyện chưởng về nhà tối đọc đỡ buồn. Tôi thuộc loại khách hàng đặc biệt được chủ quán (đeo kính cận trông rất trí thức) thông cảm cho ký sổ vàng cuối tháng trả tiền nên chiều nay dù trong túi không có đồng nào tôi vẫn mạnh dạn bước vào quán gọi một chai 33, nửa gói Capstan. Tôi uống bia dở ẹc, chỉ một chai mặt cũng đỏ bừng như gà đá nhưng vì sắp đụng độ với ông giáo nên tôi muốn mặt mình phải sừng sừng một tí cho ông ấy ớn.
 
Buổi tối quán thường đông nghẹt khách nhưng giờ này thì vắng như chùa bà đanh. Học sinh còn đi học và những ông "ba-đờ-ghe" còn bận bán cá chưa có thì giờ rảnh đến ngồi thưởng thức nhạc "tiền chiến hậu chiến" do chính tay chủ quán chọn lọc. Tôi chúa ghét nghe nhạc ở các quán nước, ồn ào điếc tai nên rất thích ngồi ở đây vào buổi xế chiều. Trên chiếc sân xi măng rộng (Trước là sân trượt Patin sau ế dẹp luôn) đọng đầy những vũng nước do ông chủ tưới những chậu kiểng. Chưa đến tuổi tam thập nhi lập mà ông ta đã thích cái thú "vạch lá tìm sâu" kể cũng lo hưởng nhàn hơi sớm. Nắng càng lúc càng bạc đầu ở cuối sân, tôi ngồi im chờ đợi buổi chiều len lén vào hồn xem nó ra làm sao nhưng chẳng thấy buổi chiều đâu cả mà chỉ có cô bé len lén đi vào.
 
- Ông ngồi đợi lâu chưa?
 
- Chưa, chỉ mới dài cổ thôi.
 
- Em hẹn ông 6 giờ mà.
 
- Quân đội dậy tôi muốn phục kích địch phải đến sớm quan sát cho chắc ăn.
 
- Nhưng chỗ ngồi này làm sao ông quan sát được?
 
Cô bé kéo tôi qua ngồi ở một chiếc bàn khác gần hàng rào được kết bằng những ống tre chẻ đôi. Ngồi đây nhìn qua kẽ hở hai thân tre có thể thấy rõ bên ngoài. Nhìn mãi mỏi cả mắt chẳng thấy ông giáo đâu tôi nói cô bé quan sát thay tôi khi nào thấy ông ta đến thì báo động. Tôi vừa hút điếu thuốc xong thì cô bé nói:
 
- Ông ấy kìa.
 
Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở thấy có hai người đang từ xa đi đến, tôi hỏi cô bé:
 
- Thầy của em là người đeo kính cận, mặt mũi sáng sủa đi bên kia đường phải không?
 
- Không phải đâu, đó là học sinh. Thầy của em đang đi gần gốc me kia kìa.
 
Tôi chăm chú quan sát gã đàn ông theo lời cô bé chỉ. Y mặc áo thun màu xanh thẫm có in hình đầu một con dê to tổ bố (dấu hiệu của tuổi Dương Cưu), y dê mà dám nhận mình dê kể cũng khá chì. Quần y may bằng vải bố trắng ống rộng và chân đi giày mọi mầu vàng. Tóc y để dài thòng, phía trước cắt ngang chân mày và miệng phì phà điếu thuốc ngậm ở khóe môi trái. Người y cao, ốm như con mắm, mặt y chang dân "ba đờ ghe" mới đánh cá ngoài khơi về vậy mà y lại là giáo sư thì đúng là nền giáo dục Việt Nam đang trên đà xuống dốc. Tướng y thật thích hợp để đóng vai "Xì-ke đại huynh" và chắc không tài tử nào đóng hay hơn y trong vai đó.
 
Tôi nói với cô bé:
 
- Em ngồi đây để tôi ra nói chuyện phải trái với ông ấy.
 
Uống hết ly bia cho hào khí bừng bừng và cầm theo một điếu thuốc tôi bước ra ngoài quán vừa lúc ông giáo đi đến, chắc y cũng định vào quán thuê truyện chưởng về đọc. Tôi nói:
 
- Xin lỗi ông bạn cho châm nhờ điếu thuốc.
 
Y trao điếu thuốc cho tôi mồi rồi tôi trả lại y.
 
- Ông bạn là giáo sư trường công lập ở đây?
 
Y gật gật cái đầu bù xù như tổ quạ.
 
- Phải, tôi là giáo sư tốt nghiệp Đại học sư phạm Sàigòn. 
 
- Ông tốt nghiệp ở đâu thây kệ ông, tôi chỉ yêu cầu ông đừng viết thư cho em Phạm thị Đồng Ý nữa.
 
- Ông là gì mà cấm tôi viết thư cho em ấy?
 
- Tôi là anh hai nó.
 
- Sao trông ông không giống em ấy tí nào hết vậy.
 
- Giống hay không thây kệ tôi. Bộ ông giống tía ông lắm sao?
 
- Ông đừng giận, tôi có lời khen ngợi em ông học rất giỏi và tôi rất mến em ấy.
 
- Nó học giỏi hay dốt cũng thây kệ nó, tôi không cần ông mến nó. Trường ông thiếu gì cô giáo xinh đẹp sao ông không mến một cô mà đi mến nữ sinh làm gì cho tai tiếng.
 
- Tôi không ưa cô giáo, tôi chỉ ưa nữ sinh thì đã sao.
 
- Ông không ưa cô giáo thây kệ ông, ông chỉ ưa nữ sinh thây kệ ông nhưng tôi cấm ông không được ưa em gái tôi.
 
- Tại sao ông có vẻ không ưa tôi nhiều quá vậy?
 
Thật ra tôi cũng không ghét gì ông giáo này, y rất xứng đáng là bạn tri kỷ của tôi vì cả hai đã cùng chung một sở thích là cô bé nhưng tại y có lợi thế là địa vị cao hơn tôi nên tôi nổi sùng nói:
 
- Tôi không ưa ông vì ông tốt nghiệp Đại học sư phạm chỉ giản dị thế thôi.
 
- "Lương sư hưng quốc", nghề giáo là một nghề cao quí mà.
 
- Nghề đó không cao quí tí nào nếu ông tiếp tục tán em gái tôi, còn ông tán bất cứ ai nghề đó vẫn cao quí như thường.
 
- Được rồi để tôi về suy nghĩ lại.
 
- Không suy nghĩ tới suy nghĩ lui gì nữa cả, nếu ông còn viết thư hay thường xuyên gọi em gái tôi lên đọc bài là có ngày ông ăn đòn.
 
- Ông hăm dọa giáo chức phải không? Ông tên gì? Tôi sẽ nạp đơn kiện ông ở hội đồng xã.
 
Nghe kiện cáo tôi cũng hơi "rét" nhưng kinh nghiệm cho biết một người có "rét" hơn mình mới hăm dọa kiện cáo lôi thôi nên tôi thừa thắng xông lên.
 
- Ông có nộp đơn kiện ở tối cao pháp viện tôi cũng không sợ. Tôi là lính giải ngũ tên Phạm Bất Bình, số quân 68/156890 ông nhớ kỹ chưa?
 
- Tôi không cần nhớ tên ông nữa. Tôi đã nhớ mặt ông rồi nên nếu ông đánh tôi là tôi nhận ra ngay ông đánh tôi.
 
Ông giáo hầm hầm bỏ đi chẳng thèm chào tôi một lời cho đúng với nguyên tắc sư phạm. Tự nhiên tôi thương y chi lạ. Trong lúc nói chuyện nhìn kỹ đôi mắt y tôi mới biết y đã cố ý làm cho mọi người hiểu lầm y qua cách ăn mặc, cách nói chuyện để che giấu nỗi cô đơn mà y đang chịu đựng. Nếu không kẹt cô bé chắc tôi đã mời y vào quán uống vài chai 33 để kết bạn tâm giao. Ở xứ này có một người bạn như y cũng thú lắm chứ nhưng chắc là không thú bằng được quen với cô bé đây. Tôi trở vào quán kể lại cho cô bé nghe trận đụng độ vừa qua. Em cười nói ông đóng kịch tài ghê, sao ông không đi theo các ban kịch ở Sàigòn? 
 
Vì có cuộc hội họp bất ngờ với các hãng nước mắm ở Phan Thiết tôi phải đi theo ông giám đốc làm biên bản mất 3 ngày. Buổi tối về đến nhà bác lao công trao cho tôi hai lá thư. Một lá thư của Tổng hội thương phế binh cho biết tôi đã được nhận làm thư ký cho một hãng buôn ở Sàigòn, nếu muốn làm tôi phải về Sàigòn nhận việc gấp. Tôi phân vân không biết quyết định thế nào. Ở Phan Rí được 4 tháng, tôi đã mến người dân ở đây. Họ tuy lắm chuyện nhưng rất tốt và chân thật. Nắng ở đây có làm da tôi đen sậm nhưng không khí vùng biển trong lành đã giúp tôi khỏe mạnh hơn xưa. Tôi cũng đã bắt đầu ghiền mùi nước mắm, một mùi hương khó quên như hương tóc người tình đã chia xa nhưng tôi vẫn nhớ rõ ràng vào những đêm mưa. Ở Sàigòn dĩ nhiên vui vẻ hơn, bạn bè đông hơn và có nhiều cơ hội tiến thân hơn nhưng tôi chưa muốn xa cô bé. Tình yêu tôi đã bắt hụt nhiều lần vì với quá cao, lần này nó đang nằm trong tầm tay tôi không lẽ tôi lại bỏ mất dịp may.
 
Lá thư thứ hai của cô bé mới gởi đến sang nay. Em cho biết trường em đã nghỉ hè, gia đình em mới mở một đại lý bán nước mắm ở Đà Lạt, em sẽ theo má lên trên đó buôn bán và xin chuyển trường lên học ở Bùi thị Xuân. Em đã đến tìm tôi hai lần nhưng không gặp và sáng mai em phải đi sớm một mình vì má em đã đi trước. Em viết: Thôi ông khỏi đưa tiễn làm gì cho mất công. Thiên hạ biết cười chết. Em muốn chúng ta chia tay âm thầm. Nếu gặp ông ở bến xe em sẽ không viết thư cho ông nữa và khi nào có dịp về thăm ba, em cũng không thèm ghé thăm ông...
 
Tờ mờ sáng hôm sau tôi có mặt ở bến xe. Trời hơi lạnh vì đêm qua mưa suốt đêm. Tôi co ro đứng núp trong bóng tối một hiên nhà mong nhìn thấy cô bé một lần nữa trước khi chia tay. Khoảng 5g30 tôi thấy em vai mang xách tay đi ra từ một con hẻm nhỏ. Em đến ghi tên ở quấy lấy vé rồi bước lên xe ngổi ở một ghế gần cửa. Thây kệ thiên hạ cười, thây kệ những điều em dặn trong thư tôi chạy vội đến gặp em. Cô bé ngạc nhiên nhìn tôi.
 
- Ông không nghe lời em há. Được rồi em sẽ làm đúng theo những gì em đã viết trong thư.
 
Tôi nhìn thẳng mắt em chẳng biết nói gì, tôi luôn luôn chẳng biết nói gì vào những dịp chia tay. Đến khi xe rồ máy chạy tôi không ngăn được đưa tay nắm chặt bàn tay nhỏ bé của em bỏ ra ngoài cửa xe. Cô bé nói như sắp khóc:
 
- Ông là một con mọt.
 
Chúa ơi, một người bảnh bao như tôi lại có hình dáng như con mọt sao. Cô bé có cận thị chăng?
 
- Ông là một con mọt kinh khủng đã ăn rỗng trái tim bằng gỗ thông của em.
 
 
NGUYỄN THANH TRỊNH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 140, phát hành ngày 20-7-1974)
 
 
 
 
 

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

NHỮNG NỖI KHỔ VỤN VẶT - Võ Hồng

Sự vui vẻ khá ồn ào của ông Chính khi nhận được công lệnh cử đi chấm thi khiến nhiều bạn đồng nghiệp của ông hơi khó chịu. Gặp ai ông cũng vội vàng bắt tay và bô bô hỏi thăm:

- Nào, năm nay anh đi chấm ở “centre” nào? Tôi thì phải đi Đà Nẵng.

Người đối diện đầu tiên của ông là Thương, một giáo sư trẻ. Thương đang có một nỗi buồn riêng nào đó, - chắc là vì tình, vì khi tuổi chưa quá ba mươi thì chỉ có ái tình mới làm cho người ta buồn lâu, buồn một cách thành thật và nghiêm trang, - nên chỉ khẽ nhếch một nụ cười xã giao vừa đủ.

- Dạ, cháu đi Phan Thiết.

- Được đi Phan Thiết hả? Ố là là! Phan Thiết Tổ sư nước mắm! (Đố ai biết Tổ sư nước mắm nghĩa là gì?) Hôm nào về nhớ mang về một chai nước mắm nhỉ ăn chơi nhé? Ngon tuyệt.

- Dạ.

Người giáo sư trẻ muốn được yên nên vội “Dạ” một tiếng chấm câu. Không hứa hẹn là sẽ có chai nước mắm nhỉ với tiếng “Dạ” kiểu ấy.

Sau một cái bắt tay, ông Chính đi vội vã về phía đầu bên kia hành lang. Đôi chân quá ngắn múa thoăn thoắt dưới một cái bụng khá to. Tính ông lại thích diện com-lê - cả ngày giữa mùa hè - nên cái bụng càng được đề cao, no tròn, bề thế. Ở đầu hành lang, đang đứng vẩn vơ một cô giáo. Áo màu tím nhạt có thêu rải rác những vũ nữ xòe váy bằng chỉ trắng. Cô giáo đang nhìn lên đọt cây phượng cao trước sân trường, trên đó ánh nắng xao động giữa những chòm lá. Ông Chính cất tiếng nói to:

- A! Chị Vân Anh.

- Dạ, chào bác.

- Kỳ này tôi phải đi Đà Nẵng đây. Còn chị về “centre” Huế hả? Thích nhé? Một công hai việc…

“Ai bảo với ông ta rằng mình được về Huế?” - Vân Anh nghĩ. Mình phải đi Tuy Hòa cơ mà. Cực chết đi mà. Còn một công hai việc là ngụ ý gì mà có vẻ bất lương thế? Nhưng nể người đồng nghiệp có tuổi, cô Vân Anh nắm hai bàn tay vào nhau trong một tư thế lễ độ, nghiêng mình lí nhí:

- Dạ cháu đi Tuy Hòa.

Tức thì ông Chính đớp lời ngay và reo to lên như chính ông vừa bảo đúng là Vân Anh được về “centre” Tuy Hòa:

- Tuy Hòa! Thú lắm. Thành phố Tuy Hòa đang xây dựng, có sông Đà, có núi Nhạn, có trường Nguyễn Huệ. À, ở Tuy Hòa mùa này có nhiều dưa hấu ngon lắm nhé! Tuy Hòa… (đến chỗ này ông giơ ngón tay chỏ chỉ đúng vào giữa trán và nhíu mày một cái nhưng dường như để lấy điệu bộ chớ không thật phải suy nghĩ gì hết)… Tuy Hòa đi ra Màng Màng, Hòa Đa rồi Tuy An, Chí Thạnh mà. Ồ! Thích quá.

- Cháu chán lắm. Đi xe lửa ra Đại Lãnh cháu sợ lắm. Cháu chỉ muốn được đi Đalat.

Vân Anh định nói thêm “Lẽ tất nhiên nếu Bộ bỏ quên không bắt cháu đi chấm ở đâu cả thì cháu thích hơn”, nhưng chợt nhớ ra rằng người đối diện với mình không đáng được thưởng thức một câu ý nhị như vậy nên Vân Anh không nói nữa.

Giã từ cô giáo Vân Anh, ông Chính đi vào văn phòng ông Hiệu trưởng. Cái lưng ông hơi cong lại một chút khiến cái cổ cũng co rụt bớt vào cổ áo sơ mi. Ông giơ tay ra trước nên phải đưa thêm một tay trái ra theo, mong xóa bớt sự đường đột có phần khiếm lễ đó đối với cấp trên.

- Thưa Cụ, năm nay Cụ lại đi chủ khảo ở một Trung tâm?

Ông Hiệu trưởng đưa mắt chầm chậm nhìn lên ông. Đôi mắt nheo nheo vì vừa từ giã những hàng chữ quá nhỏ. Ông đã có tuổi nhưng không chịu đeo kính lão. Cái ca-vát màu đỏ sẫm nằm ngay ngắn giữa cổ sơ-mi là cứng như cùng ra sức với ông bám sát lấy những tháng ngày thanh niên gượng gạo còn sót lại. Ông rất ghét tiếng “Cụ” già nua nên không thèm giấu một cái cau mày. Người ta có thể biểu lộ sự tôn kính bằng nhiều cách và người trên không ai chối từ sự tôn kính. Nhưng tôn là “Cụ” không có nghĩa khen tặng mến phục gì cả. Sống lâu không phải là một công tích đáng để hãnh diện mà trái lại, hầu hết người ta đều coi đó là một sự ân hận đáng tiếc. Nhất là ông Hiệu trưởng sau mười lăm năm góa bụa vừa cưới một người vợ vừa trẻ vừa đẹp. Chính do những mặc cảm dồn dập đó mà, sẵn nét mặt sa sầm, ông Hiệu trưởng trầm giọng nói:

- Năm nay tôi được nghỉ.

- Ồ! Quí hóa quá… Cụ được Bộ cho nghỉ năm nay cũng phải. Năm nào cũng phải chủ khảo hết thì sống thế nào được.

Ông Hiệu trưởng cúi mặt xuống một trang giấy đánh máy có đóng dấu son. Biết đó là dấu hiệu cáo từ nhưng ông Chính phải cười xã giao một mình.

- Năm nay tôi phải đi Đà Nẵng.

- Thế à?

Ông Hiệu trưởng hỏi mà không ngẩng mặt lên và đầu bút chì đỏ ông cầm ở tay vẫy không ngừng chạy dài, rất mau, trên những dòng chữ đánh máy.

- Thôi xin phép cụ.

- Không dám, chào ông.

Cái bắt tay lạnh nhạt tiếp theo. Ra khỏi phòng ông Hiệu trưởng, ông Chính gặp bác cai trường. Đó là một anh chàng nhỏ nhắn có khuôn mặt láu lỉnh đặc biệt của những chú lính lệ ngày xưa.

Cặp mắt mở thao láo, mi chớp lia lịa nhất là những khi anh đứng trước mặt thượng cấp hoặc những ngày thi cử, ngày nhập học, sân trường, cổng trường đầy những phụ huynh học sinh. Một cái mũi nhỏ nằm trên cái miệng cũng nhỏ. Hình như lúc nào anh cũng bận rộn công vụ. Trên tay luôn luôn có một cái cặp bìa các-tông dày gáy vải và chân bước vội vã, thoăn thoắt từng bước nhỏ. Khi có Thanh tra ở Bộ về khám trường thì anh tăng gia sự mẫn cán trong bộ y phục ka-ki màu xanh dương, kiểu đồng phục Thanh niên. Nhìn anh, người ta tự nhiên phải nghĩ đến một con chim sâu, một cái chong chóng đang quay.

Trên đời anh chỉ biết kính trọng có ông Hiệu trưởng trường anh, các ông giám thị và mấy ông giáo đi ô-tô. Mọi người khác anh đều coi là “anh, chị” hết. Ông Chính không đi ô-tô nhưng lại năng nói chuyện, - nào ai biết là nói chuyện gì, - với ông Hiệu trưởng và ông Giám học nên anh tỏ ý nể. Thấy ông ở phòng Hiệu trưởng đi ra, anh vội vã lớn tiếng chào:

- Xin chào Cụ. Năm nay cụ có đi chấm…

Ông Chính tươi cười liền:

- À chào anh. Năm nay tôi đi Đà Nẵng.

Ông vỗ vai anh một cái thân mật.

- Anh ở lại mạnh khỏe nhé?

- Dạ, cám ơn Cụ. Chúc Cụ đi đường sức khỏe.

Theo cái đà ấy, chỉ hai hôm là cái tin ông Chính đi chấm thi ở Đà Nẵng ai cũng biết. Những giáo sư trẻ ngầm hỏi nhau.

- Ông ấy dở hơi nhỉ? Chấm thi thì thú cái đếch gì? Ba tháng Hè chả được nghỉ.

- Ừ. Trẻ và độc thân như chúng mình thì mới còn lý thú đôi chút chứ lớn như ông ta…

- Hồi mình chưa cưới vợ thì mỗi kỳ nghỉ Hè mình thích đi chấm thi lắm. Vì có đi như vậy mới mong gặp ngày chuyện lạ, chuyện vui ở dọc đường. Những bạn đồng nghiệp, nhất là nữ đồng nghiệp ở từ các tỉnh tụ họp về sống gần gũi mươi ngày nửa tháng rồi giã từ nhau, hẹn năm sau gặp lại. Vui chứ. Nhưng từ ngày mình cưới vợ rồi thì… Lạ thật, đố ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì.

Chẳng ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì thật. Có người đoán là ông chán ngấy cảnh ngày hai buổi họp mặt với vợ con. Có người bảo là từ nửa năm nay sao thấy bà Chính bỗng già đi một cách đáng chán. Có lẽ do đó mà ông muốn đi tỉnh xa để ăn chơi cho bõ dăm mười ngày chăng? Có người nghi là ông đang chạy một áp-phe nào đó ở Đà Nẵng. Tính ông tháo vát, lý tài không mấy ai là không biết. Óc lý tài ấy không thể quên việc một người bạn cũ vừa được Chính phủ cử làm một chức vụ hành chánh cao cấp ở đây. Việc ấy chính ông đã bô bô nói cho anh em nghe, một cách lơ đãng thôi nhưng mà với bao nhiêu là cố ý và dàn xếp. Tóm lại mọi ức đoán đều không tốt cho ông Chính. Bởi không ai tin rằng sự hăng hái của ông là do tinh thần trách nhiệm cao cả của một nhà giáo có lương tâm. Trong khi đó thì ông hò hẹn với người này sẽ lên đường ngày ấy tháng ấy, rỉ tai với người kia rằng sẽ cùng thuê một phòng ở khách sạn nọ nhà hàng kia. Ông chạy đi dò hỏi giờ xe lửa đến, xe lửa đi, giờ tàu bay hạ cánh và cất cánh. Vì tất cả là nhà giáo nên không ai bảo ai mà mọi người đều tự nhiên nhớ đến anh chàng Tartarin.

Đột nhiên, một ngày trước ngày lên tàu, ông Chính lăn ra bệnh. Bà Chính cầm giấy chứng nhận của bác sĩ đến phòng ông Hiệu trưởng và nhờ ông gởi ra ông Chánh chủ khảo Hội đồng Đà Nẵng. Bà phàn nàn thay chồng:

- Thưa cụ, nhà tôi thật tiếc quá. Đến ngày đi thì lại ốm. Nhà tôi đã bao nhiêu lần bảo mặc cứ đi, nhưng bác sĩ cản lại không cho đi. Nhà tôi bảo mỗi năm Chính phủ chỉ nhờ mình một lần…

Ông Hiệu trưởng đằng hắng một tiếng khiến bà ngừng nói, đợi chờ ông ban ý kiến. Nhưng sau cái đằng hắng là tiếng gọi “Bác Cai!”, ông gọi thật to, như quát. Và bà vợ người giáo sư mẫn cán xin phép ra về.

Ngày lên tàu, mấy giáo sư tán chuyện gẫu trên sân ga.

- Được đi Đalat sướng mê đi, sao mặt mày buồn thiu như đưa đám ma thế kia? Lên gặp Minh Châu tha hồ mà đi hồ Than Thở.

- Nói nhảm. Minh Châu đi chấm ở Nha Trang. Mình vừa nhận được điện tín xong.

- Còn “bồ” sao cũng không vui?

- Chủ nhà nó đòi nhà lại để nó ở. Hết hạn báo thị rồi mà moa chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Bây giờ lại phải đi nửa tháng.

- Chỉ có ông bô Chính thích đi Đà Nẵng thì lại ốm không đi được. Bô ấy ốm gì nhỉ? Mới vừa thấy béo na béo núc ra ấy mà.

- Chả biết ốm gì, nhưng mà để bố ốm cho bõ ghét. Cái mồm cứ mỏng lèo lèo. Lúc nào cũng tinh thần, xung phong, gương mẫu…

Người ta không hiểu ông Chính. Khi phán đoán về ai, người ta thường hoặc quá khắc nghiệt, hoặc quá dễ dãi. Cả hai thái độ đều có chung một nguyên nhân là lòng ích kỷ. Phán người ta nhưng lại vì mình mà phê phán nên ý kiến không đúng với sự thật. Sự thật ở đây chỉ có ông Chính biết mà thôi. Sự thật đó là ông chẳng bệnh tật gì hết mặc dù có giấy chứng của bác sĩ. Sau khi gởi giấy xin phép nghỉ, ông Chính gọi vợ dặn nhỏ:

- Thật ra, tôi chả đau ốm gì. Chỉ vì năm nay thằng Liêm nó thi mà sức học của nó còn kém quá. Tôi phải tìm cách ở lại để lo cho nó thi đỗ.

Bà Chính há hốc mồm nghe rồi lơ đãng để rơi một tiếng “ờ”.

- “Thật vô vị là cái mụ nầy”, ông Chính nhíu mày suy nghĩ. Tưởng vợ tán tụng tài trí và mưu cơ của mình, ai ngờ mụ chỉ đờ đẫn buông thõng một tiếng chán đời ấy. Ông xẵng giọng nói:

- Để mọi người không ai đoán được ý định của tôi, tôi đã đóng kịch hăng hái hàng tuần lễ trước. Thế mà bà có biết đâu.

- Vâng.

- Vâng là cái gì?

Ông quắc mắc nhìn vợ hỏi.

- Nói với bà chán như cơm nếp ấy. Thôi, bà đi xuống.

Bà Chính tuân theo lệnh chồng một cách thản nhiên bình tĩnh. Gần hai mươi năm chung sống, mỗi lần nghe chồng bàn tính công việc, bà chỉ biết dùng chữ “vâng” chữ “ờ” như để chấm câu cho chồng nghỉ hơi. Không phải vì bà khờ nhưng mà vì bà biết chồng mình khôn ngoan lanh lợi mình không thể nào bì kịp. Đưa ra ý kiến nào cũng bị chồng chê là non, là vụng, rốt cuộc bà trở thành e dè, gần như thụ động. Sự thụ động trong tâm hồn đã ảnh hưởng mạnh đến thể xác của bà. Bụng và ngực sệ xuống, dường như những sợi đàn hồi trong các mô liên kết không còn đủ ý chí để thắt gọn lên được nữa. Mắt hay nhìn xuống đất và những khi phải ngó lên thì hai tròng đen nhìn lác hẳn đi. Ngày mới lấy ông Chính thì mắt bà đâu có lác nặng như thế? Giọng nói cũng mỗi ngày một uể oải rụt rè, rụt rè cả ngay khi bà sai bảo đầy tớ.

Hai ngày trước hôm thi, các giám khảo lục tục đến bằng chuyến tàu suốt từ Saigon ra và từ Huế vào. Ông Chính cần mẫn lên ga đón. Đối với những người quen ở trong nghề như ông thì việc nhận ra các giám khảo không phải là điều khó. Họ đi từng nhóm ở toa hạng Nhì xuống. Một chiếc va-li nhỏ trên tay. Trừ vài thanh niên láu lỉnh còn thì họ đều có vẻ mặt ngơ ngác lãnh đạm của người tri thức. Ông Chính xông vào một người đứng tuổi nước da mai mái. Bàn tay chìa ra trước khi tiếng nói theo kịp.

- Chào bác. Năm nay bác về chấm ở đây.

- Vâng ạ, kìa chào bác.

Ông Như, một giáo sư ở trường Trung học Duy Tân, vừa đón tay, vừa mỉm cười trả lời. Tới một địa phương gặp một người quen, không mấy ai là không thích.

- Thế bác không phải đi đâu cả?

- A… Tôi phải đi Đà Nẵng nhưng lại bị ốm hôm lên tàu.

- Ồ! Tiếc quá nhỉ? Trông bác có hơi xanh đi đấy.

Ông Chính giật nẩy mình. Mình xanh thật hay là ông bạn biết rõ bệnh dối của mình mà nói mỉa? Cả hai sự thật đều đáng ngại cả. Ông quay sang các giám khảo đang đứng vây quanh, vẻ mỏi mệt chờ đợi.

- Còn đây là…

Ông Như đỡ lời:

- Xin giới thiệu với bác, các giám khảo ở Phan Thiết ra… Các bạn này ở Đalat xuống… Còn đây…

Ông Chính phá ra cười liền khiến hai con mắt híp lại:

- À, biết rồi. Bạn quen cả mà, anh Hỷ, anh Tùng, anh Thuận. Các bạn vừa ở Nha Trang ra. À, có cả chị Ngọc Lan. Sao? Ở trường Nữ Trung học chỉ có một mình chị ra thôi à?

Người nữ giáo sư tên là Ngọc Lan trả lời quá nhỏ không ai nghe được. Vả lại người ta đang bận bắt tay, những cái bắt tay không hăng hái vì lặp lại quá nhiều.

- Mấy bác đã có chỗ trọ sẵn cả rồi chứ?

Nhiều người trả lời một lượt. Đại khái thì kẻ có người không. Nhiều người định ra phố thuê phòng. Một số ít định ghé lại nghỉ tại trường.

- Phải đó, - lời ông Chính, - chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị. À, xuống ngay trường Cường Để mới nhé? Trường cũ nóng lắm không chịu được. Xích-lô!

Mấy bác xích-lô đứng vây quanh các thân chủ tranh nhau lên tiếng.

- Dạ… Dạ…

- Chở mấy thầy xuống trường Cường Để mới nhé? Biết trường mới không?

Các giám khảo đã an vị trên xe xích-lô, ông Chính xoa tay nói:

- Thế là các bác đã có nơi chốn an ổn hết rồi. Không có bác nào đến ở với tôi cho vui.

Lời mời mọc lộ tính chất hình thức đãi bôi không được ai trả lời. Ông Chính quay lại tìm cô giáo Ngọc Lan. Nhưng lặng lẽ, cô đã lên xích-lô đi đâu mất từ lúc nào.

Khi chuyến tàu suốt ở Huế vào, ông Chính cũng lặp lại sự cần mẫn vừa rồi. Lần này ông không còn ngượng miệng như lần đầu, ông bảo: “Chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị”. Vì thật ra sự sắp đặt là do bác cai trường theo một lệnh của ông Tổng giám thị. Vả lại, có gì đâu mà gọi là sắp đặt? Cứ hai cái bàn học kê sát nhau làm một giường nằm, trên tường chăng bốn đường dây kẽm để mắc màn, thế thôi. Giám khảo đến ở tại trường thì ít và phần lớn là những người vô tâm. Họ chỉ cần sự tinh khiết của khoảng rộng.

Ba ngày thi lần lượt trôi qua. Thằng Liêm làm bài chả ra gì mặc dù ông đã bảo nó cứ nhìn sang bài của hai đứa ngồi cạnh. Nhưng ông tháo vát lanh lẹ bao nhiêu thì thằng Liêm hiền lành đờ đẫn bấy nhiêu. Nó sợ thầy giám thị, cô giám thị, sợ ông giám thị hành lang, sợ chủ khảo, sợ cả mấy ông lính mang súng đi đi lại lại ngoài sân trường nên nó chả dám nhìn ai hết. Bài nháp nào đem về đưa cho ông coi ông cũng la rầm lên làm nó càng sợ hơn. Rốt cuộc ông phải gọi giật bà lên để phân bua:

- Đấy, bà xem, nó học dở như thế đó.

- Thì nó học dở từ hồi giờ.

Bà thủng thỉnh trả lời.

- Ai chả biết là nó dở.

Ông nói gần như thét lên.

- Đã biết thế còn bảo tôi làm gì nữa? Nó bé oắt như con mắm thế kia mà ông cứ bắt nó học.

- Thôi dẹp bà đi. Chả bàn bạc được cái gì với bà hết. Nói ngang như cua ấy.

- Chả ngang thì…

Ông Chính đứng phắt dậy, đưa tay quyết tìm một vật gì ném xuống đất để biểu lộ cơn giận. Nhưng trên bàn chỉ toàn những vật có thể vỡ được, chẳng hạn cái tách, lọ mực, bình hoa. Ông đành phải chọn lấy tập báo ném phịch xuống đất rồi la lên:

- Thôi, tôi không nói với bà nữa.

Và ông bỏ vào giường nằm.

Các hội đồng giám thị ở Tuy Hòa, Quảng Ngãi đã tập trung đầy đủ về Trung tâm Qui Nhơn. Ông bắt gặp được anh Độ, một trong những thư ký hội đồng. Ông nói nhỏ:

- Khi rọc phách nhớ coi dùm bài của thằng nhỏ con “moa” một tí nhé? Số ký danh của nó là 612. Phòng 18. Trung tâm Qui Nhơn. Nhớ ghi dùm số phách cho “moa” tí nhé?

Độ nhăn mặt:

- Chủ khảo gắt như mắm…

- Thôi mà - ông Chính vội vỗ vai Độ - giúp dùm cho “moa” một tí mà.

Độ định ừ à cho qua chuyện nhưng thấy ông Chính cứ quanh quẩn ở hành lang nên biết là không giúp không xong. Thà giúp một tiếng còn kín nhẹm hơn là để ông cứ thì thầm nhỏ to với mình khiến chủ khảo thêm nghi ngờ. Vả lại ông khéo xếp đặt quá khiến sự hiện diện của ông ở phòng chấm rất đỗi tự nhiên. Ông gọi anh Cai mang thêm ghế ngồi vào cho các thầy. Ông gọi anh Cai pha thêm nước trà. Ông gọi anh Cai xuống đuổi mấy người thí sinh lảng vảng ở trong cổng trường. Đối với chủ khảo thì ông gợi chuyện một cách rất nhã nhặn:

- Tôi chắc ông phải khó chịu với những khách sạn ở Qui Nhơn?

Ông chủ khảo ngơ ngẩn không biết kẻ đối thoại định nói gì. Nút cà-vạt của ông nằm lệch sang một bên cổ sơ mi. Lưng ông gù hẳn xuống. Sự mệt mỏi đọc dược trên đôi mắt lờ đờ, trên da mặt bóng mồ hôi, trên mái tóc rơi lè phè trước trán. Ông vừa bực mình vì các giám khảo đến phòng họp quá trễ giờ, thích tán chuyện với các cô giáo mà lại muốn công việc chấm thi phải xong trong năm ngày. Họp chấm ngày thứ Hai mà ngót một nửa số giám khảo đã ghi vé máy bay thứ Sáu về. Ông Chính phải lại xoay câu hỏi thăm:

- Thưa ông, ông trọ ở khách sạn nào?

- Dạ, tôi ở khách sạn Khánh Vân.

Vừa trả lời, ông chủ khảo vừa lơ đãng nhìn ra xa. Rồi ông chợt quay lại:

- Xin lỗi ông… - ông đưa tay ra bắt, - … Tôi đang bận quá.

Ông Chính không bị mếch lòng vì thái độ lạnh nhạt hấp tấp của ông chủ khảo. Người có trách nhiệm điều khiển bao giờ cũng đa nghi. Họ tưởng ai cũng rình rập để lợi dụng họ thành ra họ rất bủn xỉn nụ cười và lời xã giao. Ông Phó chủ khảo cởi mở hơn. Vì trách nhiệm có chủ khảo gánh, công việc có thư ký làm. Ông tươi cười đón lời hỏi thăm của ông Chính và nhún vai một cái:

- Khách sạn? Gọi hơi quá, vì chỉ có cái tên là có vẻ khách sạn mà thôi: Bồng Lai, Lan Đình, Đồng Khánh… Đó chỉ là những căn phòng hẹp ở sau những hiệu buôn tạp hóa người ta lợi dụng đem cho thuê…

Ông Chính tán đồng ý kiến ngay:

- Vâng, đúng thế ạ. Ông nhận xét rất đúng.

Gió ở biển phây phẩy thổi vào, mát nhẹ. Ông Phó chủ khảo thích chí nói tiếp:

- Người Bình Định sống trong hoàn cảnh chiến tranh mười năm nên họ biết lợi dụng từng tấc đất một. Không quảng canh được thì họ thâm canh. Biến nhà sau thành khách sạn, đó cũng là không bỏ phí một tấc đất, một cách thâm canh vậy.

Thú vị vì lời nhận xét, ông Chính cười ha hả và vội giơ tay bắt tay ông Phó chủ khảo trong một thế tán đồng thân mật. Vừa lúc ấy bóng anh Độ đi ra, và ông vội cáo từ đi lảng nhanh về phía anh.

Hai người gặp nhau ở cầu thang gác.

- Cụ nhớ ghi số phách quốc văn: Am 26.

- Am 26.

- Pháp văn: Bp 25.

- Bp 25. Còn mấy món kia?

- Tôi chỉ tìm được có hai món.

- Nhờ tìm hết dùm tí, bác (Ông đã thăng Độ lên chức Bác)

- Hai món chính, hệ số 6 rồi còn đòi gì nữa? Con cụ ở lớp đứng thứ mấy?

- Cháu kém lắm. Đứng thứ 48. Gần chót.

Độ vô tình nhún vai tỏ ý chán nản. Nhưng anh vội chữa lại cử chỉ vụng vừa rồi của mình bằng một nụ cười gượng gạo:

- Nhưng được hai món hệ số 6 rồi thì có hy vọng.

- Tội nghiệp mà. Không đỗ nổi đâu. “Bác” gắng giúp thêm tí nữa.

Chợt có tiếng giày ở phòng chủ khảo đi ra, Độ vội vàng bước xuống cầu thang. Bực mình, nhưng anh không thể vô tình với câu khen vuốt đuôi của ông Chính:

- Thôi, gắng giúp “moa” 1 tí nhé, rồi moa làm mai cho toa 2 cô Nhã. Cô Nhã chấm Lý Hóa đó, có mê không? Dạy Cường Để đó. Cả Trung tâm này chỉ có toa là xứng với en 3 thôi.

Được mấy số phách, ông Chính lân la lại các tiểu ban: tiểu ban Toán, tiểu ban Công dân Giáo dục, tiểu ban Pháp văn… Tìm cho biết được bài thi của con mình thuộc về tay ai chấm, thật không phải là dễ. Nhưng ông Chính là một người chịu khó. Đầu tiên ông gặp được xấp Pháp văn có bài con ông rơi vào tay anh Khoa, một bạn đồng nghiệp đã cùng dạy với ông mấy năm ở trường Trần Hưng Đạo. Ông rỉ tai:

- Am 26 là con tôi đó.

- A!…

Anh Khoa mỉm cười lật tìm số Am 26. Đọc qua một lượt, Khoa vỗ đùi đánh “đẹt” một cái, nói to lên:

- Ồ! Kém quá. Kém quá. Làm chả được gì hết. Chia verbe Rendre mà cũng sai.

Ông Chính cảm thấy ruột mình quắn lại khi đưa mắt theo dõi cặp mắt chăm chăm của Khoa nhìn xuống bài làm và tim mình chồm lên khi Khoa vỗ vào đùi. Ông nói nho nhỏ:

- Vu 4 cho cháu nó đủ moi-en 5

- Cho thế nào được?

Khoa quay lại nhìn ông, tròng mắt chao lên nhiều vòng sau lần kính trắng.

- Làm sai hết thế này mà.

- Vu nói nho nhỏ vậy. Thôi vu bớt đi 1, cho cháu nó 9 điểm.

- Không được. Bài đáng 5. Cho thêm 1 là 6.

- Chết! Vu giết moa. Thôi cho cháu 7 điểm rưỡi.

“Thật tai ác là thằng Khoa”, ông Chính nghĩ. Mình cứ tưởng chỗ quen thì dễ nài, hóa ra không hẳn thế. Chả bù với hai vị giám khảo chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục, ông Chính không quen biết lần nào cả nhưng khi kể lể gia cảnh (cần nói láo một chút) và chỉ vào mái tóc có dăm sợi bạc của mình là các vị nới rộng điểm giúp cho ngay. Thật là những người dễ dãi, hào phóng. Cô giáo Lý Hóa, - không phải là cô Nhã, tất nhiên, - trông thế mà cũng nghiệt ra phết. Chỉ “vâng… dạ… đồng ý chấm nới tay…” nhưng nhất định không cho biết là mấy điểm. Chẳng lẽ lại vào ngồi cạnh cô để nài. Bài luận Quốc văn thì biệt tăm không biết do ai chấm. Ông chỉ còn trông chờ ở số vận may. Thằng Liêm lý luận không hay nhưng chữ nó viết đẹp sáng sủa. Ông Chính trông sao cho bài làm của nó rơi vào tay một ông giám khảo nhớ nhà. Ông ta sẽ đọc lại cái nhập đề và cái kết luận. Ông ta sẽ tìm vài lỗi chánh tả để gạch cho đỏ bài nhưng bài không có lỗi chánh tả. Ông Chính thâm hiểu tâm lý của một số giám khảo nên đã dặn con cố viết cái nhập đề và cái kết luận cho thật hay và lưu ý đừng để phạm những lỗi chánh tả. Ông giám khảo nhất định sẽ cho điểm quanh quẩn ở 8, 9, 10. Bài Toán thì vô phúc bị đem ra cho tiểu ban cùng chấm để làm thang điểm. May trúng được hai phần bài. Nhằm bài toán đã làm ở trường rồi thế mà chép lại cũng còn sai lên sai xuống.

Cũng như mọi thí sinh, ngày vô phách cộng điểm, ông Chính thấy sao mà dài thế! Thằng Liêm thì cứ lêu nghêu đi dạo biển và đọc tiểu thuyết, làm như chính ông đi thi chứ không phải nó thi. Ông gọi giật nó, hỏi:

- Sao tao chả thấy mày lo lắng gì cả thế?

- Thì thầy bảo con lo cái gì nữa? Thi đã xong rồi thì chỉ còn đỗ được trượt thôi chứ còn lo gì nữa?

- Mầy nói như… cái con chó ấy. Thật là mẹ con mày một lũ.

Và ông vào thay áo xuống trường.

Phòng họp rộn rịp ồn ào. Chỗ này vô điểm, tiếng rao điểm luân phiên nghe nhịp nhàng như tiếng một cái máy lạ đang chạy. Chỗ kia rầm rì tiếng cộng điểm. Ông Chính lại mượn xem bảng kết quả của phòng 18 trung tâm Qui Nhơn. Những chữ “đậu” ghi rải rác trước những tên thí sinh. Ông lật nhanh đến tên Nguyễn Thanh Liêm số ký danh 612. Ông lặng im đưa mắt nhìn, lẩm nhẩm tính từng cột điểm. Đoạn để tập giấy xuống bàn, ông lặng lẽ bước ra hiên. Nét mặt đăm chiêu, ông nhìn ra bãi bể Gành Ráng. Đôi con mắt nheo lại và môi mím trong vẻ suy nghĩ. Anh Khoa ra uống nước, lại gần hỏi:

- Sao buồn thế bác? Cháu Liêm hỏng rồi à?

Ông lắc đầu không trả lời.

- Tôi cho đủ 7 điểm rưỡi bác yêu cầu mà.

- Vâng, tôi nhớ.

- Thế thì sao mà hỏng được?

- Không. Đâu có hỏng.

Nghe tiếng “hỏng”, vài giám khảo đứng gần đó quay lại hỏi:

- Sao? Con cụ hỏng rồi à?

- Chết chết! Hỏng thật sao?

Mấy giám khảo ngồi trong phòng cũng quay mặt ra. Có cả cô giáo chấm Lý Hóa và hai vị chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục dễ tính. Người nào cũng lộ vẻ ái ngại cho người đồng nghiệp tốt bụng của mình. Mọi người, nhất loạt, đều cảm thấy lương tâm rỉa mình khe khẽ vì ai cũng nghi rằng bài của con người bạn đã rơi vào nhằm tay mình. Rồi có người chép miệng:

- Tội nghiệp. Đứa nào cho điểm ác.

- Ông ta có thể xin chủ khảo…

- Cụ ấy người có tuổi, dáng đứng đắn chắc không thèm hạ mình xin xỏ lôi thôi.

Tiếng xì xào im bặt khi ngoài hành lang ông Chính chẩm rãi mà ưu tư nói:

- Thưa các bác, cháu không hỏng ạ.

- Chứ sao?

- Cháu được đỗ ạ.

- Đỗ mà sao cụ buồn thế kia?

- Dạ… Cháu được 142 điểm. Chỉ còn thiếu 14 điểm nữa là được Bình thứ. Tức thế. Phải các bác nới tay cho cháu một chút thì cháu đã đỗ Bình thứ rồi. Bậy quá. Tiếc quá.

 
 (Trích từ tập truyện ngắn Bên Kia Đường)
 --------------------------------
1Tôi, phát âm tiếng Pháp
2Anh, mày (phát âm tiếng Pháp)
3Cô ấy, chị ấy
4Vous: anh, ông
5Moyenne: điểm trung bình