Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

MỘT CHỖ ĐỂ CHỜ NHAU - Khuê Việt Trường


Nàng nói, số điện thoại của em là 58.777. Nàng nhắc lại số điện thoại của em là 58.777. Và mỗi tối, em sẽ tình nguyện học bài bên cạnh chiếc điện thoại chờ anh gọi. Chờ anh gọi, anh nghe không? Tại sao anh không đi Sàigòn một chuyến, để thăm em. Phép thường niên của anh được mười ngày phải không? Sao anh không để dành cho em một hai ngày - bộ Nha Trang quyến rũ anh lắm sao mà anh không ngó ngàng gì đến em, số điện thoại của em là 58.777.
 
Tôi trịnh trọng lấy cuốn Agenda do một người bạn ưu ái gởi tặng còn mới toanh, ghi địa chỉ nhà nàng, ghi số điện thoại của nàng thật trịnh trọng bằng cây viết Bic mới mua, ngay trang đầu:
 
Cô Vũ Thị Chiều Uyên
Địa chỉ 44/48 Trần Hoàng Quân, Sàigòn 10 
Số điện thoại : 58.777 (có quyền gọi cả đêm) 
 
Ghi chú : ngoài giờ làm mới hy vọng gặp. Chiều Uyên ở đầu dây, đừng tới nhà, ba nàng dữ lắm.
 
Cứ mỗi sáng hay mỗi tối ở Đà Lạt, tôi thường đem cuốn Agenda ra ngắm nghía năm con số duyên dáng. Khi mang ba lô lên vai băng qua những rừng thông xanh lơ, đến bãi bắp, cầm khẩu súng kê lên vai, như bắn những hàng bia trước mặt, tôi nhớ nàng. Những buổi cơm trưa trên sân tập, nhìn những cụm hoa sim mầu tím đỏ mọc lan trên đồi, tôi đợi thư nàng, những giòng chữ nhỏ nhắn, đều đặn, thân thuộc được viết từ một cuốn sổ nào cách nơi tôi ở gần 400 cây số ngàn. Tôi đợi thư nàng, như đợi những hy vọng nhỏ, như đợi những chùm hoa nhỏ trên đường đi xinh xắn, làm cho lòng mình đằm thắm lại những sôi nổi nào đó. Và nàng thật ngoan, thư gởi thật đều đặn, luôn luôn đến và đúng lúc mong chờ.
 
Cứ mỗi chủ nhật, tám giờ sáng theo chuyến xe buýt của trường chở sinh viên ra khu Hòa Bình, tôi đều nghĩ đến một ngày, gặp nàng ở tiếp tân chiều thứ bảy hay ở phố ngày chúa nhật. Phố thì đông, thời trang được trình bày đủ mọi hình thức. Tôi ngợp người trong rừng thời trang rộn rịp đó, và đôi khi tôi tưởng chừng bắt gặp nàng đang ở trước mặt, hay sau lưng - có thể nàng đang bước vô một gian hàng bán kỷ vật, có thể nàng đang dừng lại ở trước những đóa hoa cúc trắng hồng, cẩm chướng và chọn lựa mê say. Nàng cũng mong đợi một ngày lên thành phố núi này, để bước chân qua cổng Lam Sơn, thử nhìn một chiều thứ bảy trong Quân Trường.
 
Nàng hỏi khi tôi gởi cho nàng những cánh hoa sim ép vội:
 
- Tại sao hoa sim mà không là hoa khác?
 
Tôi nhẹ nhàng:
 
- Em có nghe bài hát những đồi hoa sim chưa? Đôi lúc anh muốn ngủ quên trong những rừng hoa và mơ thấy em, không về.

Nàng mơ mộng:
 
- Nếu có em, em sẽ theo anh leo lên mấy ngọn đồi chiến thuật anh kể. Cỏ xanh lắm hở anh? Chắc là mình đi chân trần, khỏi cần mang dép. 
 
Nàng đâu biết tôi phải chảy mồ hôi khi vượt qua con dốc Miếu Tiên Sư, đến CT2 ở Đồi Bắc hay CT1 ở Hồ Than Thở, dù cho nhiệt độ của thành phố khiến cho mọi người phải mặc hai cái áo len một lúc. Cỏ đã trờ thành những chỗ ngụy trang tốt sau những giờ nghỉ. Khi nàng đến, tôi sẽ choàng đủ một vòng ôm, giữ chặt nàng lại. Và hai đứa sẽ tập lăn tròn từ trên cái đồi cao nhất của sân cù, đè bẹp hết những ngọn cỏ xanh. Tôi kể cho nàng nghe những ý tưởng đó. Nàng cười:
 
- Anh xạo. Em biết cái quy luật trong trường anh hết trơn. Anh muốn em kể cho anh nghe không?
 
Tôi thách thức nàng:
 
- Em kể đi.
 
Và nàng chẳng ngần ngại gì mà kể những bí mật của tụi tôi:
 
- Nè, đi phố gặp Niên trưởng không chào là chiều chủ nhật trở về trình diện dã chiến. Không được ẵm con nít, không được đi xe lam, không được đi xe đạp, không được nắm tay bạn gái ngoài đường...
 
Nàng làm tôi đỏ mặt. Nàng kể không sót một điều nào như là nàng đã từng trải qua sáu tuần cam go để quỳ xuống nhận lãnh chiếc Alpha trong tiếng rền vang của súng nổ chào mừng. Gặp nàng mà chỉ ngồi nhìn cười suông thì thật buồn, thật buồn như không có một nỗi buồn nào cao hơn núi, mênh mông như đại dương. Và nàng có chịu ngừng chỗ đó đâu, nàng huyên thuyên:
 
- Lính học trò như lính tụi anh mồm mép dễ sợ, hôm có ông nào mặc bộ đồ gì màu rêu tới thăm con nhỏ bạn em - nhìn ông ta nói mà đủ chọc lăn ra...
 
Nàng tiếp tục:
 
- Chắc ở Đà Lạt anh cũng ghê lắm há. Quen bạn gái chắc đến nỗi đụng nhau hoài. Lỡ gặp em, anh định giới thiệu với mấy cô bạn đó là em họ, hay chị họ?
 
Cô nhỏ sinh viên năm thứ nhất ban Xã Hội, Đại Học Vạn Hạnh Vũ thị Chiều Uyên. Nàng làm tôi phải mệt nhoài cùng nàng, nàng chẳng khác nào thời tiết của thành phố, bất ngờ mưa viếng, bất ngờ gió bão. Và tôi cũng không quên điều này, khoảng cách giữa nàng và tôi là hai ngọn đèo, là một khoảng thời gian 6 tiếng đồng hồ trên một chuyến xe đò. Một chuyến xe đò nào đó, tình cờ, sẽ đưa nàng đến nơi đây. Sẽ đưa nàng đến nơi đây! Và liệu hạnh phúc đủ không để nhận lấy trong một chiều nắng vui, trên con đường có nhiều thông reo hai bên thân mật.
 
Nàng kể chuyện cho tôi nghe, từ chuyện đi học bị những cây si lẽo đẽo theo sau ca bài con cá, đến chuyện chiếc xe Yamaha của nàng cứ tắt máy giữa ngã tư đường. Chuyện những lộc non bắt đầu xanh mướt trên đường Nguyễn Du, ly kem lạnh những giờ trốn học đi ăn, xe bus những sáng sớm chật cứng cả người, không một chỗ lọt chân. Sàigòn vẫn được coi như là nơi chốn nghìn trùng, nghìn trùng của hẹn hò và của một thời gian nào còn chưa bận bịu với những tập tục phiền phức của một đời sống lạ. Chiều Uyên nào biết, nàng thật thư thả, Sàigòn của nàng thật nhàn hạ. Riêng tôi nào có một khoảng không khí bình yên ở vòm trời rộng lớn, chưa một lần đi bằng chân trần dẫm trên những thềm cỏ xanh.
 
Nhà nàng vừa mới mua được con chó Berger, chắc mua ở chợ Minh Mạng. Nàng hỏi ý kiến tôi:
 
- Con chó đẹp ghê anh ạ. Nó đi theo em cả ngày. Em cho nó ăn nó mới chịu ăn, không thôi thì nằm một góc nhà, lì ở đó. Nó thích rúc vào chân em khi em ngồi học bài. Em thương nó ghê, nhưng em chưa biết đặt tên nó là gì? Hay là anh đặt dùm cho em một cái tên đi.
 
Chỉ có chuyện con chó mà nàng dài dòng như thế. Làm sao tôi có thể đặt tên cho cái chú chó khốn kiếp đó. Bên cạnh tôi còn có những chồng cours cao ngất ngư, học trối chết nếu không muốn ở lại khóa sau. Vả, từ xưa tới giờ tôi có nuôi chó nuôi mèo gì đâu! Suy nghĩ cả ba ngày, lựa những cái tên trong những cái tên tôi đã từng được nghe: Lulu, Tôtô, Minô, Lucky, Kyky... tôi thấy đều tầm thường, chả lẽ lại đặt là Thanh Lan, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Kim Loan?
 
Và đây là quyết định cuối cùng của tôi:
 
- Vậy em muốn đặt tên gì?
 
Nàng trả lời thật nhanh chóng:
 
- Em muốn đặt tên nó là Trường quá anh ơi!
 
Trời ơi! Tôi muốn nhảy nhổm lên. Nàng nghịch hết chỗ nói. Mặt mũi tôi cũng đâu tối tăm, tên tôi cũng đâu đến nỗi cộc cằn mà nàng nỡ hành hạ đến thế! Nhưng nàng muốn là Trời muốn, không cách gì tôi có thể ngăn cản ý muốn của nàng được. Kết quả sau đó là tôi nhận được những bản báo cáo thường xuyên của nàng:
 
- Hôm nay con Trường nó cảm anh à! Em đi học về nó không chạy ra cửa đón em nữa. Em phải cho nó uống sữa chớ nó ăn cơm không được.
 
(Ở trong này, tôi lỡ bị bịnh thì ráng mà đi pha sữa lấy mà uống chớ không được sung sướng như con chó của nàng đâu).
 
- Bữa nọ cả nhà đi Vũng Tàu, em có dắt con Trường theo. Ngộ ghê anh ơi, sao em chưa tập nó bơi bao giờ mà nó bơi giỏi ghê, bơi hơn cả em nữa.
 
Tôi điên đầu luôn. Vậy mà nàng cũng là sinh viên năm thứ nhất rồi. Tôi phải tím cách đi Sàigòn để nhìn nàng cho kỹ mới được, nếu còn phép sẽ rủ nàng đi bộ một vòng Thủ Đô, cho nàng biết rằng, quen tôi là một điều điên rồ và dại dột - mà ác hại thay, hình như những lá thư nàng gởi cho tôi đã là những cần thiết, không thể thiếu thốn, như những tiện nghi của đời sống đều đặn. Chiều Uyên, bây giờ đã là một nhắc nhở hoài hoài trong giấc ngủ, hoài hoài trong tiếng cười, hoài hoài trên bước đi? Nàng đã chiếm giữ một phần không nhỏ, không thể nào xóa nhòa được trong tôi.
 
- Em vẫn đợi anh từng ngày và từng ngày - Nàng nói.
 
- Liệu em có đợi nổi không? - Tôi hỏi.
 
- Cho đến khi nào anh quên em.
 
- Rồi một ngày em cũng sẽ quên anh. 
 
Nàng thật thiết tha:
 
- Không đâu. Không bao giờ đâu, anh ơi!
 
Tôi vẫn hy vọng nàng không quên tôi, cho đến khi tôi tìm được phương tiện để đi tìm nàng. Để những mắt nhìn mắt chứa chan hạnh phúc, để những phố rộn ràng nhịp tim cùng thở. Tôi vẫn mang trong lòng những ngất ngây của một loài chim trời chưa soải hết cánh trùng dương, những hoa thơm còn rực rỡ một khoảng trời, hương thơm ngát như ở khoảng tận cùng vẫn còn sự yên bình.
 
Tôi vẫn mang trong lòng, những nụ cười dòn tan, làm vỡ tung những khoảng trời lung linh nắng. Để dẹp lại phía sau lưng mình, một khoảng đời lao đao lỡ nhận, trái tim người cứ hoài khóc lóc không nguôi. Những giàn hoa giấy đỏ, rũ rượi trước những ngôi nhà có mái ngói rong rêu, như là một chút ấm cúng nào trong tôi, từng buổi ngơ ngác, từng buổi âm thầm. Tôi thế đó, theo con dốc buổi chiều bước xuống một phố vui, nhìn quanh quất bắt gặp mình như du khách nhàn hạ. Ghé qua chợ hoa, muốn mua cho nàng những đóa hoa xinh, rồi dỗ dành mình, ờ để mai mốt hẳn hay. Mai mốt đó, cỏ đã cháy vàng theo nắng bỏng.
 
Tự dưng, tôi không viết nổi cho nàng một lá thư. Hậu quả là tôi phải chạy lên phòng bưu tín ký nhận thư bảo đảm. Thư của nàng. Trời ơi, tôi nhủ thầm, sao em không chịu gởi cho anh một tờ bưu phiếu đó, như vậy anh sẽ cám ơn em hơn.
 
Nàng nói:
 
- Bây giờ em đã mỏi mòn trong sự chờ đợi. Sự hy vọng còn đọc thư anh, làm cho em cảm thấy cần phải tiếp tục viết, viết để xin lỗi anh về những điều em gây ra khiến cho anh ngưng, không còn viết thư cho em nữa...
 
Nàng nhỏ giọng:
 
- Sự hy vọng còn anh, em vẫn còn anh ở trong em; Hãy viết thư cho em vì em đang viết thư cho anh.
 
Và lá thư tôi nhận được, cuối cùng:
 
- Em đang bệnh. Em ở một phòng, nhìn thấy một khoảng cỏ xanh nơi một bệnh viện và anh ơi, em sợ quá những mũi thuốc và những cô y tá, phải chi có anh bên cạnh em.
 
Chiều Uyên yêu dấu, anh đã đến Sàigòn. Em có tin điều đó không? Lời loan báo này của tôi như chuông gióng giữa sa mạc khi tôi vừa bước chân xuống bến xe Pétrus-Ký lúc ba giờ chiều. Ngày thứ nhất của mười ngày phép bắt đầu, và tôi dành ngày đầu tiên này cho nàng. Và tôi dành cho nàng những ngạc nhiên. Liệu những ân cần có gìn giữ, còn đủ cho chúng ta nhận lấy, trong âm thầm những hạnh phúc ở tầm tay. Và tôi bước giữa những đường phố đông người, và tôi nhìn những hàng hàng người vội vã, đang vui đùa, đang nắm tay thật hồn nhiên qua ngàn ngõ ngách vội vàng.
 
Nàng nói: Số điện thoại của em là 58,777. Ba giờ năm mươi tôi có mặt ở Bưu Điện Trung Ương.
 
Nàng nói: anh có thể gọi em bất cứ lúc nào, trong giờ nghỉ. Nhưng hôm nay là thứ bảy, thứ bảy tôi biết nàng đã trở về nhà. Bây giờ nang đang làm gì đó hở? Có còn đợi chờ một tin lạ như tin tôi đã đến thành phố của nàng, với một tấm lòng cuồng nhiệt, và với một sự đợi chờ hội ngộ kỳ thú giữa tôi và nàng. Con đường Nguyễn Du nào đó có lá me bay? Công viên nào đó có sỏi trắng rũ rượi khóc dưới chân? Và bạn bè nào đó, tưng bừng bên nhau không e sợ cuộc đời đầy giông bão bao la.
 
- Cô, cho tôi hai jeton.
 
Với động tác máy móc, người nữ nhân viên trao cho tôi hai jeton xinh xắn, và nói giá tiền.
 
- Cám ơn ông.
 
Tiếng nói như một động tác quen thuộc đó, và như thoát ra lại mất hút vào khoảng không trước mặt. Những máy điện thoại xanh treo trong từng ngăn tường, và những ô số. Tôi nhìn những bàn tay đong đưa, những mắt cười long lanh và những âm thanh êm đềm gọi nhau.
 
- Alô, alô... anh còn đầu dây không?
 
- Anh còn đây.
 
- Đợi em năm phút thôi, nhé! 
 
Tiếng chiếc ống nghe được trả lại chỗ cũ. Tôi nhìn theo dáng người con gái vừa nhường cho tôi một chỗ thật cần thiết nơi này, bậc tam cấp nằm im với những bóng lá chiều nghiêng đổ xuống. Trước mặt xe cộ vẫn lao nhanh, lao nhanh. Và tôi bỏ đồng jeton đầu tiên vào khe hở.
 
Tiếng số quay đều, cho đến khi vừa vặn con số 58.777.
 
Tiếng kêu bên kia ngưng lại, tôi nghe tiếng nhấc máy lên.
 
- Alô, Chiều Uyên?
 
Im lặng, không ai trả lời tôi hết. Tôi gọi lại:
 
- Alô, có phải nhà cô Chiều Uyên đấy không? 
 
Có tiếng một người con gái:
 
- Xin lỗi, ai vừa gọi chị Uyên?
 
- Tôi, một người bạn học.
 
- À, chị vừa đi với anh Tường ra phố mua hoa.
 
Tôi như nghe quả tim mình đập nhanh.
 
- Mua hoa? Chừng nào Chiều Uyên về?
 
Tiếng trả lời vẫn đều đặn:
 
- Mua hoa cho buổi lễ đính hôn chiều nay của chỉ mà. Ông không được mời sao? Chiều nay, lúc... 
 
Tôi gác vội ống nghe lại chỗ cũ. Và tôi không muốn nói với tôi một lời gì hết, bây giờ. và tôi không muốn làm một điều gì hết, bây giờ.
 
Tôi cầm đồng jeton còn lại, ném tung về phía trước mặt. Về phía trước mặt. Tôi không còn muốn nhìn tôi chiều nay.
 
 
KHUÊ VIỆT TRƯỜNG
 
(Trích từ tạp chí Tuổi Ngọc số 157, số cuối cùng, phát hành ngày 5-4-1975)
 

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

BÊN DÒNG SÔNG TIẾC NUỐI - Tôn Nữ Thu Dung

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
có tiếng hát nào bay
mơ hồ qua đỉnh nhớ
giữ từng sợi tóc mây
trong bàn tay bỡ ngỡ
Xưa về dưới hàng cây
nhớ em đầy hơi thở
yêu em mà không hay
 
có tiếng hát nào ngoan
bay trên thành phố cũ
em đi áo hoa vàng
ta ngỡ màu lá rũ
mây chiều nay lang thang
còn nơi nào ẩn trú
gió bay tình ngút ngàn
 
có tiếng hát nào vui
rộn ràng ngăn tim nhỏ
hát một lần rồi thôi
cười với nhau lần nữa
quay đi cùng bồi hồi
cần chi lần gặp gỡ
bây giờ em xa xôi
 
có tiếng hát nào không
ru em tình rất mới
ru ta giấc cuối cùng
trong cuộc đời bối rối
thả từng nụ tình hồng
xuống dòng sông tiếc nuối
chia tay ai buồn không?...
 
                           tôn nữ thu dung
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 95, tuần lễ từ 29-3 đến 5-4-1973)
 
 
 

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

NGÀY THƠ DẠI - Nhã Ca


Anh Dư ơi.
 
Ở đâu cũng có nắng vàng, có gió mát. Nhưng không nắng ở đâu, gió ở đâu, có thể thay thế được màu nắng vàng và những cơn gió lộng của thời thơ dại. 
 
Vào năm nào anh Dư nhỉ? Hình như dạo ấy, Thuyền mới lên bảy tuổi. Bạn của Thuyền lúc đó còn là con mèo tam thể tên là Mimi. Nhưng con Mimi làm Thuyền buồn chết được, lười biếng, ngủ cả ngày, lại ăn vụng, cả đời chẳng bao giờ biết tắm rửa, chỉ đưa mấy cái vuốt nhỏ xíu vuốt mặt đã tưởng rũ hết bụi bặm của một đời mèo. Có lẽ vì con Mimi mà sau này lớn lên, Thuyền ghét loài mèo kinh khủng. Chính anh Dư cũng không thích giống này mà. Khi anh tới, con mèo Mimi bị ra rìa ngay. Chúng ta thích chuột hơn. Những con chuột mà chị Thố cho là gớm ghiếc, mỗi lần trông thấy tái xanh mặt mũi, lại là đồ chơi chúng ta chuộng nhất, anh Dư nhỉ?
 
Không bao giờ Thuyền quên được hôm anh mới tới. Có lẽ anh vừa ở trong bếp lò ra chăng? Đen thui, bóng nhẩy, hai mắt là hai cục than hồng và đầu tóc, đứng xa, Thuyền cũng ngửi thấy mùi khét lẹt. Chị Thố bịt mũi, còn anh Minh, anh Sơn thì trố mắt nhìn, như trông thấy một con thú lạ kỳ lắm. Người đàn bà đem anh tới có bà con với má, mặt mày chẳng hiền lành tí nào. Thú thật, Thuyền có ác cảm ngay lúc mới nhìn thấy lần đầu. Bà ta để lại anh với những lời dặn dò không mấy tử tế. Sau đó, mấy anh em Thuyền được người lớn giải thích, anh là con lớn của dì Bích, con riêng của dì, đâu với người chồng trước, bây giờ dì phải đi xa với người chồng mới. Chỉ sự bỏ rơi của gia đình dì Bích, đã làm mấy chị em Thuyền xầm xì. Chị Thố hồi đó lên chín, cao giọng: Thằng đó dơ dáy, không chơi. Anh Sơn, mười một, bĩu môi: Thằng này tướng nhà quê, ngu lắm. Anh Minh nặng nề: Nó trông giống thằng ăn cắp ở chợ, coi chừng nó. Dĩ nhiên lời anh Minh được tin tưởng hơn, vì anh Minh mười ba tuổi, lúc đó là cậu cả trong nhà, bắt đầu oai vệ rồi. Riêng Thuyền, Thuyền tò mò lắm. Suốt ngày hôm đó, anh Dư lẩn quẩn dưới bếp không dám lên nhà trên. Thuyền lén xuống nhìn trộm anh hoài. Có lần Thuyền làm quen nhưng anh quay mặt đi. Thuyền đã cáu, nghĩ: chắc thằng cha này ăn cắp thật, sao đứng dưới bếp hoài.
 
Đứng dưới bếp không phải để ăn vụng còn gì nữa. Thuyền ném con Mimi về phía anh. Nhanh như cắt, anh đưa chân ra đá nó cái ứ. Có lẽ Thuyền cũng đau như con mèo bị đá, và Thuyền bế con mèo lên. Nhưng con mèo phản chủ, nó ức Thuyền vì cái ném vừa rồi, cào vào tay Thuyền sước da đau điếng. Thuyền kêu lên, thả vuột nó xuống. Anh dợm bước lại. Thuyền bỏ chạy sau khi ném cho anh một tiếng: Chó. Hằn học.
 
Suốt tuần lễ mới tới, anh chỉ lẩn quẩn dưới bếp để nghe những lời nhiếc mắng của bà Đá. Bà Đá! Khi lớn lên, Thuyền biết thương hại bà ta rồi, vì Thuyền biết chắc chắn bà ta bị quỉ dữ mang về địa ngục. Ít nhất cũng có cả trăm con quỉ rình rập hành hạ bà để lập công với diêm vương. Bà Đá là một người nhà quê hung tợn nhưng làm việc giỏi. Bà kéo hết mấy anh em về phe với bà. Với mấy anh em Thuyền bà phải hầu hạ đủ thứ. Còn anh Dư, bà đâu phải hầu hạ gì. Bà còn nhờ vả anh là đằng khác. Sai vặt đủ thứ, kể cả rửa bát, nhúm lửa. Ở nhà quê, phải chụm lửa rơm và củi khô. Miệng anh Dư đã trở thành cái ống thổi lửa của bà. Anh quì xuống sát đất, phùng má thổi, bụi bay mù mịt. Anh Dư còn phải đập con chuột núp sau đống củi, đào giun cho vịt ăn. Coi như anh Dư làm thay cho bà hết một nửa công việc để bà Đá rảnh rỗi, nghĩ đủ mưu kế hành hạ anh. Chuyện cũng dễ hiểu, Thuyền cảm thấy bà đối với anh Dư rất xa cách, hầu như không có chút liên hệ ruột thịt nào. Nhưng tất cả những điều đó, đối với Thuyền cũng không quan trọng lắm. Thuyền cho như thế là vì Thuyền không về phe kẻ dữ để hà hiếp anh Dư. Năm anh Dư tới, gia đình Thuyền còn ở nhà quê. Ba đưa gia đình về một làng hẻo lánh ở vùng biển. Tuy vậy, gia đình Thuyền vẫn sống cách biệt với làng xóm bên ngoài nhờ được ở trong một khu nhà xưa. Khu nhà nằm trên một ngọn đồi có tường thành bao bọc. Vườn có nhiều cây. Đến bây giờ Thuyền còn nhớ chết người được những cây nhãn mùa hè trái ngọt như đường phèn. Những cây thanh trà, bưởi, những cây chanh tán xòe rộng, thấp, đưa tay với được. Tới mùa, chanh đơm hoa trắng xóa. Nhớ nhất là hai cây sầu đông ở trước sân, những hoa, những quả là đồ chơi của tụi nhỏ. Khu nhà rộng mênh mông, cả gia đình Thuyền chỉ ở hết một góc nhỏ, còn là bỏ không. Những năm đó, tình thế chưa yên ổn để các công sở tổ chức lại. Tòa nhà gia đình Thuyền ở có từ thời Pháp thuộc, nay được sáp nhập vào ngành Công chánh. Ba Thuyền gần như bị đổi về đây để giữ nhà, ông đang tìm đủ mọi cách để được về thành phố. Cả gia đình Thuyền đều chán sống ở đây, không ai có thể hòa hợp với đời sống vùng đồng chua nước mặn này. và anh Dư xuất hiện trong gia đình không hợp cảnh tí nào. Anh là một đứa bé quê đặc. Thuyền còn lờ mờ trong trí nhớ những hình ảnh ở tỉnh thành. Anh Dư thì không. Đối với gia đình Thuyền, anh Dư chỉ là một đứa bé tầm thường, ngu độn nữa là đằng khác. Với Thuyền, lúc đầu, Thuyền cũng nghĩ vậy. Thuyền về hùa với các anh các chị để bắt nạt anh Dư.
 
Thuyền còn nhớ như in, khoảng mười ngày sau khi anh tới, anh Minh và anh Sơn đã bày nhiều trò chơi nghịch ngợm mà anh là nạn nhân. Anh làm bò cho họ cưỡi. Anh bị bôi nhọ nồi làm mọi da đen cho các anh trói đánh, xẻo thịt, nhéo tai. Anh phải giả chết để các anh kéo ra chôn sau độn cát, chừa cái đầu cho anh có mũi mà thở. Thuyền đã cùng chị Thố đi sau lưng các anh, cười, la hét, cổ võ. Ba má không thể biết được những trò chơi tai ác đó, và nếu có dịp nào nghi ngờ thì bà Đá cũng tìm cách xí xóa đi. Anh Dư, Thuyền đã tai ác quá phải không? Và anh hẳn đã có lúc nhìn Thuyền với ánh mắt khinh bỉ, thù hằn. Thuyền đã cười đến bể bụng khi thấy anh bị hành hạ, bị đánh đập, chôn sống, và chính Thuyền đã có lúc cầm nắm cát vãi lên mặt anh, khi anh bị chôn chừa đầu ra ngoài. Anh Sơn bắt anh Dư phải mở mắt để những hạt cát rơi vào, anh nhắm mắt lại. Anh Sơn banh mắt anh ra. Anh nhổ nước bọt vào mặt anh Sơn, oằn người chịu đựng. Ôi, cái con bé tai ác độc địa trong Thuyền may mắn đã có lần chết đi, vĩnh viễn. Để Thuyền nhắc lại nhé. Hôm đó các anh bày một trò chơi mới. Anh Minh, anh Sơn đóng vai tráng sĩ, bắt được tên tàu ô là anh Dư. Đánh đập chán, anh Minh, anh Sơn cột anh Dư vào một cành cây. Sau đó, cả bọn bỏ đi. Nhưng Thuyền, một lát sau, vào buổi trưa, Thuyền tò mò chạy ra xem. Anh Dư đã mệt lả, mặt đen xì, hai mắt như lạc đi vì nắng, vì đói. Giữa lúc đó, Thuyền nghe bước chân đến gần. Thuyền núp vào một bụi cây. Bà Đá đi ra. Thuyền nghĩ là bà đem cơm cho anh Dư, và chắc bà sẽ mở trói cho anh. Nhưng lạ lùng chưa, bà gọi: Ê, thằng mọi biển. Mày thấy tao không? Và bà cười sặc sụa, cười như điên dại: Cho mi chết, mi phải chết. Tao thù mi tận xương tủy mi biết không? Mi dám nói quỉ ám tao há? Ha ha, ừ, tao là quỉ. Và bà cúi xuống lượm đá chọi anh Dư. Thuyền mở lớn mắt nhìn cảnh hãi hùng đó. Phải, lúc đó Thuyền kinh khiếp quá. Bà Đá không có vẻ gì là người mà như một con quỉ sống. Tự nhiên Thuyền cảm thấy sợ hãi. Dám bà này sẽ giết anh Dư lắm. Tim Thuyền càng đập mạnh hơn khi thấy bà Đá tháo đầu dây buộc, vắt một đầu dây lên cành cây cao, kéo tuốt anh Dư lên, rồi lại thả dần anh xuống, xong lại kéo lên. Mỗi lần xuống gần tới đất, anh Dư đều đưa hai chân đạp vào mặt bà Đá. Bà bị trúng một hai cái và cơn điên của bà bùng lên dữ dội. Bỗng dưng trong tâm hồn non nớt của Thuyền đau nhói, xót xa. Và bất thình lình, Thuyền nhảy ra bá vào cổ bà Đá. Thuyền đánh đu, cắn mạnh vào tay bà. Thuyền nghiến răng, cố hết sức nhay mạnh. Bà Đá rú lên, buông tay. Sợi dây tuột xuống và anh Dư rơi đánh bịch. Thuyền đã bị bà Đá hất ra, nhưng cứ xông bừa tới. Bà Đá nhìn Thuyền, ánh mắt vừa giận, vừa lạ lùng, rồi cút mất.
 
Khi quay lại, Thuyền còn nhớ mãi khuôn mặt anh Dư lúc đó. Anh nhìn Thuyền. Chao ơi là mắt. Mắt nghi ngờ. Mắt đề phòng. Mắt sợ hãi. Thuyền muốn tiến tới gần anh, mở dây cho anh nhưng sao Thuyền sợ quá. Và vì sợ, Thuyền đã run lẩy bẩy. Cuối cùng Thuyền chảy nước mắt. Anh Dư có vẻ dịu đi. Lúc đó, anh đã hết ghét Thuyền rồi phải không? Anh để yên cho Thuyền mở dây trói, nhưng anh không nói với Thuyền một lời nào. Xong xuôi, anh ném cho Thuyền một cái nhìn không tình cảm, bỏ chạy mất.
 
Thú thật với anh Dư. Lúc đó, Thuyền thương anh kinh khủng. Thuyền tự hứa sẽ không bao giờ nghịch ác với anh, làm hại anh. Thuyền sẽ binh vực anh. Nhưng loay hoay mãi mấy ngày, Thuyền không có dịp để gặp anh, nói chuyện với anh được. Mãi sau, Thuyền rình anh, thấy anh chui ra khỏi khu vườn bằng một cái ngách nhỏ kín đáo trong một bụi cây rậm. Ở nhà ta cổng luôn luôn khóa. Anh Minh, anh Sơn có thể trèo cửa sau để ra bãi cát, rồi ra mấy cái đầm nước phía sau vịnh. Chị Thố cũng theo các anh được, còn Thuyền thì không. Chân Thuyền quá bé. Nhưng khi khám phá ra cái ngách của anh Dư thì thế giới bên ngoài không còn xa lạ với Thuyền nữa rồi. Thuyền đi theo anh, cách một khoảng xa, và thấy anh hẹn với một thằng nhỏ chăn trâu. Thuyền biết tên thằng bạn của anh. Thằng Nghiệp. Anh với nó có nhiều trò chơi vui quá. Bắt cá, đào khoai. Thuyền mê món khoai nướng của anh. Anh đào trộm khoai, vùi xuống cát và đốt lửa ở trên. Khoai chín thơm phức. Lúc đầu, anh không thèm để ý tới Thuyền. Anh biết Thuyền đi theo mà làm như không biết. Khi thằng Nghiệp phát giác báo động với anh, anh lặng thinh. Thuyền còn nhớ như in lời thằng Nghiệp: Đuổi con nhỏ này đi. Nó cũng độc ác như anh chị nó. Và thằng Nghiệp cầm que xua đuổi Thuyền. Thuyền òa khóc. Anh đứng dậy nắm tay Thuyền dắt lại chỗ nướng khoai. Có lẽ chưa bao giờ Thuyền ăn được củ khoai ngon tới như thế. Buổi tối hôm đó, Thuyền đã giấu một cái bánh ngọt đi tìm anh Dư để đưa. Vất vả lắm, Thuyền mới tìm ra anh. Anh đang rình gì sau đống củi. Thuyền chết khiếp được khi thấy anh bắt một lô chuột con còn đỏ hỏn. Suýt tý nữa thì Thuyền đã hét lên. Anh Dư làm dấu:
 
- Suỵt.
 
Thuyền vẫn bưng lấy mặt.
 
Anh Dư làm dấu Thuyền đi theo.
 
Anh đi ra góc vườn. Vườn tối thui. Anh Dư có một hộp quẹt. Anh quẹt một cây soi đường. Đi được một đoạn nhỏ lửa tắt, cả hai dừng lại. Thuyền vấp rễ cây, vấp mô đất, đá, nhưng Thuyền không dám đi gần anh, níu anh vì quá sợ những con chuột đỏ hỏn. Cuối cùng anh dừng lại. Thuyền mở mắt nhìn những hang hốc anh làm bằng gạch, bằng đá, bằng ngói. Lần đầu tiên Thuyền thấy anh cười với Thuyền. Nụ cười của anh làm xóa hết những nét dữ dằn trên mặt. Anh ra dấu cho Thuyền ngồi xuống.
 
- Anh làm gì đó anh Dư?
 
- Làm hang nhốt chuột.
 
- Nhốt chi vậy?
 
- Chơi.
 
- Anh nuôi chuột hả?
 
- Ừa.
 
Anh bỏ những con chuột đỏ hỏn vào miếng vải lót ở trong hang rồi quẹt diêm thắp một cái tim đèn nhúng trong dĩa dầu. Anh ngồi che về phía gió cho tim đèn khỏi tắt, rồi anh xoa hai tay, ngó lũ chuột lúc nhúc. Thuyền cũng lần mò tới gần, ngồi chồm hổm bên anh. Thuyền đã thấy bớt sợ hãi, và dưới ánh đèn đỏ mù mờ, cô chăm chú nhìn những chiếc mõm chuột nhỏ xíu, những thân hình non nớt, trong suốt, da căng một màu hồng đỏ, mắt nhắm kín. Mấy chú chuột con bò lổm ngổm, đụng vào nhau té lăn quay. Bỗng nhiên Thuyền cười thành tiếng.
 
- Thích không?
 
- Anh không gớm hả?
 
- Có gì mà gớm.
 
- Anh để thế này lỡ con Mimi bắt ăn tội chết.
 
Anh Dư tỏ vẻ khinh bỉ:
 
- Con đó lười thối thây. Với lại còn lâu nó mới biết có chuột ở đây.
 
Anh lấy một viên gạch lớn đậy miệng hang lại. Thuyền kêu:
 
- Nó chết ngạt.
 
- Nó có chỗ thở đây này.
 
Anh Dư chỉ trên nóc hang, có chừa lỗ thông hơi nhỏ. Thuyền lấy cái bánh ngọt ra dúi vào tay anh Dư. Anh dẫy nẩy, suýt nữa cái bánh rơi xuống đất.
 
- Chi?
 
- Bánh.
 
Anh Dư làm thinh. Thuyền nói mau:
 
- Anh ăn đi. Thuyền để dành cho anh đó.
 
Anh Dư lắc đầu. Thuyền buồn ghê. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ anh Dư muốn thân thiện với Thuyền. Thuyền nhét vào tay anh lần nữa.
 
- Ăn đi mà.
 
- Không.
 
- Không thì vất đi vậy. Anh vất đi.
 
Câu nói hờn dỗi của Thuyền làm anh ngần ngại. Rồi anh cười nữa.
 
- Thôi, cho chuột ăn nghen.
 
Thuyền không nói gì. Anh lật viên gạch ra, soi đèn vào hang. Anh bẻ từng miếng bánh bỏ vào. Lũ chuột vẫn bò lúc nhúc, bò lên cả bánh mà không biết. Anh nói:
 
- Để mai mốt nó mở mắt được nó ăn. 
 
Anh lại chồm hổm ngắm bầy chuột một cách thích thú. Thuyền hỏi:
 
- Anh mới nuôi hả?
 
- Nuôi lâu rồi.
 
Thấy Thuyền có vẻ không hiểu, anh giải thích:
 
- Mấy lần trước làm hang không kỹ, chuột mẹ tới tha đi hết trơn.
 
- Lần này nó cũng tha cho coi.
 
- Sức. Lần này làm hang kỹ lắm.
 
- Anh Minh anh Sơn có biết anh nuôi chuột không?
 
- Không.
 
- Biết mấy anh phá cho coi.
 
Anh Dư làm thinh, như không muốn nghe chuyện mấy người đó. Thuyền tiếp:
 
- Chị Thố sợ chuột.
 
Anh vẫn chăm chăm nhìn vào hang. Thuyền tức giận. Giận lắm chứ, khi anh chỉ chú ý tới mấy con chuột mà không nghe Thuyền nói. Tính ác trong lòng Thuyền nổi dậy. Được rồi, sáng mai đem con Mimi cho nó ăn thịt hết. Không cần, chỉ cho các anh biết phá chơi. Thuyền bặm môi:
 
- Mai mét anh Minh. Anh ấy tới phá cho coi.
 
- Hử?
 
Anh đứng dậy, nhanh như cắt. Để làm gì? Thuyền không hiểu Thuyền có ý định đó hay nói chơi cho hả giận vậy. Anh ngó Thuyền, ánh mắt tối sầm. Tối thui luôn. Anh Dư đá ngọn đèn tắt câm. Thuyền nghe tiếng chân anh bỏ đi. Hoảng hốt, Thuyền đưa tay chụp, nhưng Thuyền chỉ chụp khoảng không. Trong khi đó, gió như đưa tay ai tới chờn vờn trên cổ, trên tóc. Thuyền bật khóc lớn.
 
Một que diêm lóe lên. Anh Dư trở lại. Anh nắm lấy tay Thuyền lôi đi. Cây diêm le lói rồi tắt. Thuyền chìm nghỉm trong bóng đêm dày. Thuyền không biết đường lối, tay bị kéo đi, chân giẫm trên đá, trên rễ cây. Nhưng Thuyền không sợ nữa. Thuyền biết chắc anh Dư sẽ đưa Thuyền vào tận nhà. Nếu anh không đưa Thuyền đi, nếu anh giận Thuyền, bỏ luôn Thuyền ngoài vườn chắc Thuyền sẽ sợ tới chết đứng. Trong đêm biết bao nhiêu ma quỉ. Trong vườn lại có nhiều rắn, nhiều con sâu róm đầy lông đen thui. Đụng phải nó ngứa gãi chết được. Anh Dư có thù ghét gì Thuyền đâu nào. Thuyền không thể không nói ra những ý nghĩ đang ở trong đầu.
 
- Anh Dư. Thuyền không mét ai hết.
 
Anh không nói gì.
 
- Anh cho Thuyền chơi với anh nghe, nghe.
 
Vẫn im lặng. Thuyền độc thoại:
 
- Chơi nướng khoai. Chơi đánh giặc. Đi bắt còng. Nghe, nghe. Thuyền nghỉ chơi anh Minh, anh Sơn đi. Chị Thố cũng ác.
 
Thuyền nhớ chuyện chị Thố đổ lỗi cho anh Dư ăn vụng chuối. Anh Dư bị đòn. Thuyền tiết lộ:
 
- Hôm nọ chị Thố ăn chuối vứt vỏ sau vườn, đổ cho anh. Chị Thố nói anh cắt râu con Mimi để nó không bắt chuột được. 
 
Anh Dư. Chuyện cắt râu con mèo Mimi có thật phải không? Anh cắt râu con Mimi là vì lũ chuột. Sau này anh thú thật với Thuyền điều đó, và Thuyền đồng ý: Từ nay, loại con Mimi cho rồi, nó đã mất râu, trở thành một con vật vô dụng.
 
Anh bỏ Thuyền ở hàng hiên, nói: Đó, có đèn sáng rồi, vô nhà đi. Nhưng Thuyền còn níu lấy anh, xin thêm một chuyện.
 
- Sáng mai, cho Thuyền đi thăm chuột với nhé. Nhé. Thuyền sẽ để dành một quả chuối.
 
Sáng hôm sau, tưởng anh Dư không nhớ. Nhưng anh đã kéo Thuyền ra góc vườn. Hang hốc đã bị phá tung. Lũ chuột đã được chuột mẹ tha đi mất. Những mẩu bánh cũng không còn. Anh Dư ngẩn ngơ: Kỳ thiệt. Hang chắc vậy mà nó cũng tha đi được. Chán chuột chưa? Thuyền trả lời cho anh là chưa. Trò chơi bắt chuột còn lâu lắm cho tới khi trong nhà khám phá và cấm. Nhưng ăn thua gì anh Dư nhỉ? Còn cả trăm nghìn trò chơi vui hơn. Chỉ lo không đủ thì giờ thì có.
 
Anh Dư. Từ hôm đó, anh đã hết ghét bỏ Thuyền. Còn Thuyền, Thuyền dám nói Thuyền đeo anh còn hơn đeo mẹ nữa. Sao Thuyền dám nói thế nhỉ? Vì sao hả anh Dư? Vì anh, vì anh đó , vì anh và những ngày thơ dại tươi vui, triền miên không bao giờ dứt. Thật đó. Thuyền còn tiếp tục chuyện anh nữa.
 
 
NHÃ CA                
(Ngày đôi ta mới lớn, trích)   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 128, tuần lễ từ 19-4 đến 26-4-1974) 
 

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

BÊN ĐẬP ĐỒNG CHÁY - Võ Hồng


Đã đến nước cùng rồi, đã đến nước chót rồi, không còn trì hoãn được nữa. Bà con lối xóm đi hết. Vơ vét gạo củi, đùm túm áo quần đi hết. Lùa bò, dắt trâu đi hết. Quẩy lúa gánh đường đi hết. Trên xóm Dương không còn tiếng người nói. Dưới Đồng Dài không có tiếng gà gáy trưa.

    Bà Xự ngồi yên trên ngạch cửa, hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má.

    Bỏ nhà cửa mà đi. Bỏ ruộng nương, bỏ vườn tược, bỏ khúc sông và cái bến nhỏ này mà đi. Không, tôi không muốn đi dâu hết. Năm mươi tuổi trên đầu rồi, tôi muốn ngồi yên một chỗ, nằm yên một chỗ mà chết cũng được. Chết là gì? Nhắm hai con mắt lại, nhẹ nhàng buông xuôi hai tay. Khỏi đi cấy, khỏi cần quạt giê lúa. Khỏi gánh nước đổ vào chum, khỏi quơ củi nhay vào bếp. Khỏi làm khỏi ăn khỏi lo khỏi tính. Thôi, cứ để cho tôi chết. Bà con cứ đi đi. Tôi lớn lên ở trên mảnh đất này, bắt đầu ngắt lá táo lá keo bỏ vào mẻ sành mảnh chén làm trò chơi nấu cơm với chị em bạn. Rồi cúi lưng xuống tập quơ cỏ lúa, cầm cái cuốc tập dẫy cỏ bắp. Đội cái thúng đi mót lúa, ôm cái rổ đi mò ốc gạo. Không, không. Tôi muốn chết ở trên mảnh đất này... Sao? Chị nói không được hả, Chết mà cũng không được hả? Sống mới khó chớ chết mà cũng khó à? Chỉ cần nhắm mắt buông xuôi hai tay mà cũng không được? Hồi xưa mẹ tôi chết dễ lắm. Trăn trối với cha tôi rằng: "Thôi anh ở lại nuôi con. Con Lụa nó dại, tánh lùng bùng. Đừng đánh rầy nó tội nghiệp. Anh kiếm dì ghẻ cho nó, nhớ lựa người hiền lành". Rồi mẹ tôi không nói nữa. Mẹ tôi lên nằm trên sườn núi cạnh ông nội bà nội, ông cố bà cố. Cạnh ông Chánh Bát, ông Hương Hai. Cạnh thằng Mẫn con bà Tơ, cạnh con Thìn, con Thu bà Ni. Ai cũng lên nằm trên đó hết. Sao đến đời tôi lại khó khăn vậy? Đi tản cư. Đi đâu bây giờ? Đây là quê tôi, quê chồng tôi cũng là đây. Chỉ có nơi đây là quen thuộc. Bến đò Cây Dừa. Xóm Đường. Chợ Chiếu. Hòa Tú. Núi Một. Đập Đá Hàn... Chị nói đi đâu? Vô quận hả? Vô Phú Tân? À, tôi nhớ rồi, bây giờ quận dời về Phú Tân rồi. Chợ Gành đó mà. Hồi còn con gái, bọn mình hay gánh đường bán chợ Gành. Nhưng bây giờ thì gánh cả gia sản vô ở luôn chợ Gành. Mình đâu có nhà bà con trong đó? Thôi, cám ơn chị. Chị đi trước đi. Để rai rải tôi coi thử đã.

    Bà Xự đưa tay lau dòng nước mắt ngưa ngứa nơi khoé mũi. Chiều xuống nhẹ nhàng. Bóng tối dồn về cây mít đứng sừng sững ở trước sân. Hàng tre im lặng. Chòm nhà bà Kinh, bà Nhuận lẫn vào bóng tối. Ngày thường, vào giờ này có ngọn đèn màu đỏ điểm giữa khung cửa đen sẫm. Bây giờ thì tất cả đều là màu tối loang lổ. Người ta đi hết. Hôm kia bà Kinh gánh trong hai đầu thúng hai đứa cháu nội. Quần áo cũ và mền bạc màu chèn chặt hai đứa bé. Xấp bánh tráng đặt lên đùi mỗi đứa. Ruột nghé gạo quàng vào một đầu gánh. Đầu kia lủng lẳng cái nồi. Bà kĩu kịt gánh cháu đi theo đoàn chạy giặc. Cha lũ nhỏ, thằng Sách đi cày bị trúng mìn. Một khúc ruột lòi ra nơi lỗ bụng bị thủng. Y tá quận băng bó. Không có thuốc tiêm. Nó la hét nhiều lần rồi ngất đi. Máu rỉ qua lần bông băng. Đợi có chuyến công-voa chở ra nhà thương Quy Nhơn. Nhưng nghe nói mới đến Tuy Phước thì chết. Chôn cất thế nào ở ngoài đó, nằm ở nghĩa địa nào, ở đầu núi nào bà Kinh không hề biết, không hề thấy. Nghe chôn ở Hưng Thạnh. Chỉ biết là từ đó bà hay kể lể rằng thằng Sách thường hiện về trong giấc chiêm bao lặng lẽ nhìn mẹ rồi quay lưng thất thểu bước đi. Cái bụng quấn băng dầy cộm như bụng người lính quấn cái mền. Thằng Sách chết thì đôi bò bán đi. Đám ruộng nằm ở vùng bản lề do hai bên kiểm soát nên con vợ thằng Sách không dám tiếp tục ra đó cấy hái. Nó lần mò đi Tuy Hòa kiếm công chuyện làm ăn. Đi ở mướn cho hiệu cao lâu. Cả ngày ngồi ở sân sau rửa chén dĩa. Dĩa chén chất từng chồng, rửa hết lớp này thì đã có lớp khác bưng dồn ra. Ngồi trẹo xương sống. Mỡ và bọt xà bông ăn ngón chân và gan bàn chân nứt nẻ. Đêm nào cũng thức rửa đến mười hai giờ, sau đó lại phải nấu nước pha phèn chua để dầm đôi chân. Cái lưng nhức tưởng chừng như có thể gẫy làm đôi. Mỗi tháng ăn uống xong được lương bốn trăm đồng để gởi về nuôi mẹ chồng, nuôi con. Nhưng rồi nó không cầm cự được lâu. Ở nhà quê dù chân lấm tay bùn nhưng làm và nghỉ có giờ giấc. Cuộc sống rập khuôn theo sức phát triển của cây lúa cây bắp, mà cây cối thì không biết vội vã như máy móc, không làm người ta lúng túng như máy móc. Chậm rãi, trầm lặng, cây cối không kích thích bắt người ta rộn ràng. Hôm con Sách xách va-li về quê thăm, nó mập và trắng ra. Nhà cao lâu thừa thãi đồ ăn dư, ăn tha hồ, những miếng thịt béo ngậy mỡ, những bát canh còn dư cả phân nửa, những đoạn bánh mì người ta mới bóc phần vỏ bên ngoài. Ăn không hết thì đổ vào chậu nước nuôi heo. Con Sách xót xa nhìn những miếng thịt mỡ dày óng ả, những muỗng "xốt" màu vàng, những đùi gà gặm nham nhở, những khúc ruột bánh mì trắng xốp bị lùa rơi tỏng vào thùng nước cơm. Con Sách nhớ tới thằng Tuồng, thằng Triện. Giá có lũ nhỏ ở đây mà sớt cho chúng ăn. Ở nhà, ba bà cháu chỉ cầu có đủ cơm ăn. Thường bữa cơm chỉ có rau muống, rau sam, tương, một đĩa cá liệt kho trắng chởn, lởm chởm xương kỳ nhọn hoắt. Nhiều hôm chúng ngồi chống đũa nhai cơm lạt.

    Nhưng nhọc nhằn quá, con Sách cầm cự không được lâu. Sau chừng ba tháng thì nó đã bỏ cuộc. Nghe nhắn về nói nó đã theo một bà chủ tiệm vàng đi Đà Lạt. Bẵng đi ba bốn tháng không thấy tin tức, bà cháu lây lất với số tiền dành dụm còn lại. Với mấy giạ lúa mót được từ hôm mùa tháng Ba, với số rau cỏ gầy còm mọc ở bờ ruộng, bờ ao. Sự sống xoay quanh cái mâm gỗ đen xỉn bị gặm sứt nhiều mảng. Sự sống thoi thóp đó vẫn không được để yên. Bà cháu đã đùm túm nhau đi tản cư.

    Bây giờ đến lượt mình... Mình đi đâu? Ở nhờ nhà ai? Lấy gì mà ăn? Ở đây còn có thể quơ quào bốn phía nhà kiếm lấy củ mì củ môn, trái dưa trái mít. Nhưng mà không được nữa rồi. Bom thả liên miên. Dãy nhà ngói của ông Tổng Viên bị bom lửa cháy rụi, tiêu sạch. May phước cả gia đình đã dọn đi rồi. Lửa cháy lan đốt thêm nửa xóm. Dưới xóm Đình lớp thì bom, lớp thì súng, lớp bị chết cháy, lớp bị chết đạn. Ở xóm Ngựa, nhà cháy và người chết, trâu bò bị chết thui trong chuồng. Đạn đại bác lâu lâu được dọt ra vài chục trái bất kể đầu hôm hay giữa khuya. Trúng ai nấy chịu. Ông Hương Ngọng ở hàng Dao bị đạn đại bác sập hầm gẫy chân. Thằng cha Bộ ở xóm Mia ẵm con chạy chưa tới hầm thì đại bác nổ tan xác hai cha con. Quân đội ra lệnh đồng bào tản cư nhưng đi tản cư đâu có dễ. Nhà cửa bề bộn đó, cái bàn, bộ ván, bồ lúa con heo, khiêng sao gánh sao cho hết? Biết mang theo cái gì, bỏ lại cái gì, Mỗi vật nhỏ cũng có giá trị của nó. Mua sắm rải rác suốt một đời người, những vật dụng đó gần gũi cạnh mình đến nỗi chúng như có linh hồn.

    Có tiếng chân sột soạt ngoài hiên. Tiếng nói nhỏ:

    - Chị Năm! Có chị Năm ở nhà không?

    - Ờ! Chị Thủ Hai đó hả?

    - Sao? Chị dọn dẹp xong chưa? Nhớ đem theo ít đồ đạc thôi. Bỏ bớt lại. Nặng quá gánh không nổi.

    - Chị ngồi lại đây một chút.

    Hai người đàn bà ngồi bệt dưới nền dất, cạnh nhau.

    - Chị nghĩ thử bây giờ mình đi đâu.

    - Thì cứ theo vô quận đã.

    - Trong đó nước khó gánh, nhà cửa chật chội. Mà mình lấy gì ăn?

    - Kệ nó, tới đâu hay tới đó. Tàu bay thả bom quá, chịu không kham. Thằng Chiến nó chần chừ rồi cũng phải lùa bò đi.

    Tiếng xì mũi của bà Xự.

    - Tai trời ách nước, ai muốn chi vậy. Thôi chị lo dọn dẹp đi. Thắp đèn lên.

    - Sợ đại bác nó ngó thấy.

    Bà Thủ Hai không nín cười được:

    - Chị nói như điên. Đại bác ở tuốt trong quận bắn ra. Bắn ào ào cầm chừng mà thôi, chớ đâu có nhắm ngọn đèn của chị mà bắn. Thôi, để tôi chạy về nhà. Nhớ mờ sáng thì đi. Tôi ghé qua kêu chị luôn.

    Trong xóm không còn sót mấy người. Lần này rủ nhau đi coi như chuyến chót. Thôi kệ tới đâu hay tới đó.

    Bà Xự uể oải đứng dậy thắp đèn. Hai cái bao lát đặt trong hai chiếc thúng để giữa nhà đã chứa đầy những vật bà chọn đem theo. Áo quần. Gạo. Nồi. Bộ lư đèn bằng đồng cỡ nhỏ. Dao rựa, dây dừa, chén bát, võng. Bà cầm đèn đi soi nơi bàn thờ. Nước mắt tuôn ra khi nghĩ rằng nơi bàn thờ này linh hồn chồng bà sẽ vất vưởng cô đơn. Người đàn ông đó đã sống với bà hơn hai mươi năm. Từ một anh nông dân thanh niên khỏe mạnh, người ấy đã lớn, đã già bên cạnh bà. Tính hiền lành mà hay đổ quạu. Hà tiện hà tặn. Qua mùa cày bừa thì làm thêm nghề thợ mộc, thợ đóng cối xay. Không ai thuê mướn thì họ đan lờ, thả câu cắm. Đang làm ăn ngon lành thì ngã ra chết. Thật vô lý, khoẻ như trâu, bắp thịt nổi cuồn cuộn như vậy mà cảm thương hàn mới bốn ngày đã nhập lý, lưỡi đen, măn giường măn chiếu rồi chết. Còn ai lo hương khói? Từ chiều mai bàn thờ này sẽ lạnh tanh. Bà rút một cây hương châm vào ngọn đèn rồi cắm vào bát hương.

    Bức tranh thờ viết chữ Thọ có vẽ hình bông hoa lồng trong nét bút. Hai hàng câu đối chạy hai bên. Bức tranh đã phủ nhiều bụi. Bà cầm đèn đi xuống nhà dưới. Cây cột bằng tre già láng bóng. Bao nhiêu bàn tay mồ hôi đã rờ lên nó. Có nhiều vết dao băm lên thân tre. Đó là vết dao của thằng Xang chơi nghịch băm lên khi nó lên sáu tuổi. Bà chỉ sinh được mình nó. Khi cha nó chết, nó thay cha cầm cày. Tánh tình ít nói. Bà bảo nó:

    - Mày có thương con Bằng, con bà Câu Qua thì nói. Tao nhờ mai mối đi hỏi cho.

    Nó lùng bùng:

    - Ai thương ai nhớ gì mà đi hỏi.

    - Chớ mày thương ai?

    - Không thương ai hết.

    - Bộ mày muốn đi tu hả? Con trai lớn thì phải kiếm vợ. Nhà không ai, mày cưới vợ để đỡ đần chân tay.

    - Mẹ muốn thì mẹ đi cưới lấy.

    Bà la lên:

    - Thằng này nói dại. Tao cưới vợ cho tao làm gì?

    Tuy la lối nhưng bà cảm thấy an tâm. Mười tám tuổi mà không biết mê gái, không biết soi gương vuốt tóc thì nó sẽ là đứa con có hiếu. Mười đứa con bất hiếu thì hết chín là đồ mê gái. Có mê gái mới bỏ mẹ bỏ cha. Bà yên tâm gởi tuổi già vào một thằng con chỉ biết cặm cụi nhà sau đuôi bò, chỉ biết tính toán buổi cày công cấy, chỉ biết vác cuốc dọn bờ hay cầm liềm đi cắt cỏ.

    Tiếng thằng Xang chầm chậm:

    - Sắp sửa đi quân dịch mà còn nói chuyện cưới vợ.

    - Thì mày cưới vợ rồi đi. Để vợ mày ở nhà với tao.

    Xang xì một tiếng:

    - Có đứa con gái nào chịu dại vậy.

    Đến tuổi, thằng Xang đi quân dịch. Đôi bò bán rẻ cho ông Xã Xu. Thôi đợi ngày mãn dịch nó về thì sắm lại đôi khác. Bây giờ không có nó ở nhà thì ai chăn? Bà đi quơ cỏ mướn, cấy thuê kiếm ăn qua quýt đợi ngày con về. Bốn tháng, sáu tháng. Mỗi tháng trông đợi dài bằng năm. Cây xoan trước cổng nở hoa vào lúc nó ra đi bây giờ lại nở hoa. Phải một kỳ nở hoa nữa thì nó về. Con tu hú báo hiệu mùa múi giẻ chín. Phải một mùa tu hú kêu nữa thì nó về. Cây ổi xá lị nó xin giống ở đồng Tròn về trồng năm kia, năm nay đã ra được hai trái. Sang năm nó về thì ổi sẽ chín đầy cành. Tha hồ nó mừng. Để đi hỏi con Bằng cho nó. Muốn hay không muốn thây kệ. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Giao cho vợ chồng nó ở căn nhà ngang. Bắt vợ nó nuôi thêm vài con heo. Bằm rau và chuối cho heo ăn. Rong ở dưới bàu ông Chỉ xanh dờn.

    Giữa lúc bà tính nhẩm ngày về của con, vừa dự toán công việc làm ăn thì có tin thằng Xang bị phục kích chết ở Phù Cát. Chết! Chết! Cái chết đợi con người ở mút đường đi. Có người đi đường dài, người đi đường ngắn. Thời bây giờ lũ nhỏ đi đường ngắn. Đám ma rốt cuộc chỉ có người già khóc lóc đi đưa. Tre khóc măng. Đến chừng tre ngã thì hết nghe tiếng khóc. Con gái làng đến tuổi không còn con trai đi cưới. Chúng tản mát chạy về thành phố kiếm công ăn việc làm và kiếm chồng.

    Những thế hệ nối tiếp nhau nằm an nghỉ trên đầu núi. Tội nghiệp, thằng Xang thằng Sách thiếu mặt. Thằng Sách nằm ở doi núi Hưng Thạnh chẳng biết mặt nhìn ra ghềnh Ráng hay nhìn về An Khê. Thằng Xang của bà thì không khéo mồ mả đã san bằng mặt đất bởi nước lũ mưa ngàn. Những đêm sáng trăng chắc có con cọp ngồi rình mồi bên cạnh hòn đá giằn đầu mộ.

    Ba đứa đó hồi nhỏ chăn bò một gò, tắm bò một bến. Ngồi kết từng cái lá mít chẳm làm mão ông tướng, ông vua rồi tét lá chuối làm râu. Tụi nó mang râu đội mão cầm giáo hát bội, nhảy múa hò hét suốt ngày dưới chòm táo nhơn cạnh nhà ông Hương Trưởng. Tụi nó đánh đáo, đánh mạng, đánh lú dưới bóng cây gạo. Tháng Bảy tháng Tám bông gạo nở đỏ mùi hăng thúi cả vùng. Ba đứa lớn lên, đứng cạnh nhau trên một sân gặt. Những cánh tay giơ cao bó lúa to, đập thình thịch xuống chồ tre, hột lúa tung rào rào, rơi lộp bộp trên nón. Ba đứa thường gặp mặt nhau trên một đám đất, cuốc gốc mía phầm phập, cuốc cỏ bắp sào sạo. Ba đứa thương nhau như ba anh em, kể từ ngày chung nhau bài hát "Tôi có nuôi một con chó. Trông nó to như con bò. Mai nó kêu quấu quấu quấu. Mốt nó kêu quầu quầu quầu", hát trật giọng sai nhịp, cho đến khi lớn, riêng tư mỗi đứa nghĩ về một người con gái. Bây giờ thì ba đứa đó đều ngã xuống hết, mỗi đứa một cách, mỗi đứa một nơi, nhẹ nhàng, gọn gàng như ba thân chuối bị phạt ngang bởi lưỡi rựa bén. Những đứa con trai! Trong thôn không còn những đứa con trai. Gồng gánh đùm túm chỉ có đàn bà và và con nít.

    Tiếng một con ễnh ương gào to lên làm bà Xự giật mình. Bà bưng đèn đi thẫn thờ từ nhà bếp lên nhà trên. Mùi khói nhang nhắc nhở những ngày ấm cúng. Bây giờ thì lạnh lẽo. Ngày mai còn lạnh lẽo hơn nữa. Mỏi mệt ở nơi sống lưng. Mỏi mệt ở hai dầu gối. Bao nhiêu công lao, bao nhiêu nhọc nhằn mới làm nên cái nhà này. Từng gánh đất ruộng gánh đổ chồng chất hàng mấy tháng trời mới làm được cái nền nhà này. Vợ chồng ra công gánh, chiều mát và đêm trăng. Có tiếng con chim sơn ca hát rung rinh ở đỉnh đầu. Có ngọn gió nồm thổi ngã ngọn cỏ. Rồi sau đó chan chát tiếng chàng tiếng đục, cắt cưa bào khoét, cây cột cây kèo, cây xà cây trình. Rồi rui rồi mè, rồi mầm tri rồi rơm nhào với đất bùn, rồi từng tấm tranh chụp lên, rồi sắp nóc. Chồng bà hiện diện ở khắp nơi trên mái, ở dưới nền, mồ hôi chảy thành dòng ở giữa ngực. Bó lạt tre cặp ở lưng quần, chân giẫm nhèn nhẹt vào đất rơm, tay nổi gân siết từng nuột dây, nuột nứa. Bà thì quần xắn đến tận đùi hết gánh đất đến trộn rơm, hết nấu nước pha trà đến quằn vai vác tre khiêng gỗ. Ngày êm ả tiếp theo ngày ngọc nhằn, nằm trong nhà nghe mưa rơi rào rào trên mái, nghe gió rít từng luồng vật vã ở bờ tre.

    Nghĩ đến đây, bà oà khóc thành tiếng.

    Con chim bìm bịp cất giọng trở canh. Tiếng chim vang từ bụi rậm ở bờ ao, lanh lảnh rền xa trong bầu không khí vắng yên mát lạnh. Bà Thủ Hai luồn tay đẩy cánh cổng tre bước vào sân, vào nhà. Sự yên lặng rờn rợn. Bà đi lại gần lay bà Xự.

    - Dậy! Chị. Mờ sáng rồi.

    Mơ hay tỉnh đây! Mình hiện giờ ở đâu? Ở trong quận hay còn ở nhà? Hay đã chết rồi? Ông Xự ơi!

    - Dậy gánh đồ đi chị.

    Gánh đồ đi. Thế nghĩa là nỗi khổ cực đang tiếp tục. Nó bị ngắt quãng bời một giấc ngủ chập chờn, đầy mộng mị, bây giờ nó lại tiếp tục.

    - Mẹ con con Bao và ông Trùm Đẹt đi cùng một chân với mình. Họ ngồi chờ ở ngoài đường.

    - Mời họ vô nhà.

    - Thôi, ăn uống gì mà vô. Đi rửa mặt đi. Chà, gồng gánh gì mà nặng dữ. Cửa ngõ nhà sau đã gài đóng kỹ chưa?

    - Dạ, gài tấn kỹ rồi chị.

    Gáo nước khua lổn cổn vào thành chum. Tiếng nước sóng sánh quen thuộc, lạch tạch rơi xuống đất. Bàn tay vốc nước lã lên mặt. Mỏi mê ở cổ. Cay nơi con mắt.

    Bà Thủ Hai quảy dùm gánh ra sân.

    - Cái nón đâu? Coi còn thiếu món gì không? Đóng cửa gài then lại cho chắc chắn.

    Tiếng cánh cửa gỗ đóng "két", nặng và dài. Chùm lục lạc cột ở khuy cửa khua rủng rẻng. Toàn là những tiếng quen thuộc, những tiếng quen nghe từ hai mươi năm, hai mươi năm nay. Những bụi ớt. Giàn mồng tơi. Đụn rơm. Cây mít còn ôm ấp những mảnh bóng tối. Cây ổi xá lị của thằng Xang. Bà quay mặt đi không dám nhìn nữa. Cái gánh đè lên vai. Thôi tụi bay ở lại. Má đi chắc không về. Tụi bay sẽ héo, sẽ khô không còn ai tưới nước cho tụi bay nữa. Tha hồ những con chim sẻ, những con chim quành quạch đục rỉa tụi bay. Má đi chắc không về nữa.

    Những người ngồi đợi trước cửa làm bà hơi yên lòng. Con mẹ Bao dẫn hai đứa con. Mỗi đứa quàng một ruột nghé. Thằng cu Lớn đội cái mũ lính bằng vải mềm màu phân ngựa. Thằng cu Nhỏ đầu quấn khăn trắng như để tang. Nó bị miếng bom xẹt trúng cách đây một tuần. May không chết. Hai đứa ngáp dài rồi trôm con mắt nhìn bà trân trân. Ông Trùm Đẹt đen và gầy và cong như gốc tre già bị ám khói. Cái miệng móm riết lại, má trũng sâu như hai lỗ đáo. Bộ râu dài lơ thơ, màu đục bẩn. Da thịt khô cằn không nuôi nổi bộ râu.

    - Ông Trùm Sáu cũng đợi bữa nay mới đi?

    Đó là lời chào của bà. Giọng khàn khàn đụt hơi của ông Trùm Đẹt:

    - Tôi đau gần chết chị ơi. Bữa nay mới khoe khỏe một chút. Gắng gượng mà đi.

    - Con mẹ Bao, mày đi Quy Nhơn hay đi đâu?

    - Dạ, cứ lần vô trong quận rồi coi đã.

    Họ gồng gánh lục tục ra đi, kẻ trước người sau trên con đường hẹp. Sương ướt đầm ngọn cỏ quệt vào chân những luồng lạnh. Những ngày đi ra đồng sớm, cỏ cũng quẹt sương vào chân lạnh như vậy. Đi co ro vòng tay trước bụng hay thủ hai tay vô bụng thật dễ chịu. Cỏ mọc lấn ra đường. Vắng người đi lại mới chừng hai tháng mà cỏ đã mọc lấn ra tự do. Không có những mõm háu ăn của lũ bò đi qua thì cỏ và bụi cây tha hồ mọc. Bà Thủ Hai mở lời:

    - Nghe vợ chồng ông xã Chí đã lọt ra Quy Nhơn rồi. Đi theo đoàn xe hành quân.

    - Con ổng làm phó đại diện thì chính phủ phải để ưu tiên - Lời chị Bao.

    - Bà Quảng mẹ ông thư ký quận cũng đi theo công voa.

    - Tôi sợ lắm bà ơi. Thà đi bộ. Lỡ trúng nhằm mìn.

    Ông Trùm Đẹt lầm lũi bước không buồn nói năng. Người đàn ông thường bạo dạn nhưng lại mau thất vọng hơn đàn bà. Ông không vợ, không con. Nhà nghèo không có phương tiện cưới vợ. Quanh năm cứ đôi dép cao su lốp xe và cái rựa làm vật tùy thân để đi làm thuê làm mướn cho người ta. Lúc bình thường vẫn phải vay gạo hàng xóm để nấu. Ra đi tản cư mà chỉ có một cái khăn gói quàng trên vai. Đựng cái gì trong đó? Không thể có nhiều gạo, giấy bạc và áo quần.

    - Vô trong quận kiếm nhà con Thâm ở nhờ, - bà Thủ Hai đủng đỉnh nói. - Nghe nói nó làm ăn khá. Buôn bán có tiền.

    - Không chắc có còn chỗ. Cả xóm mình ai cũng nói vô ở nhờ nhà con Thâm.

    - Không được thì mình kiếm nhà khác. Đồng bào tản cư mà, ai nỡ hẹp bụng.

    - Thây kệ, tới đâu hay tới đó. Mình đã đánh nước liều rồi mà. Mình đâu có muốn đi. Nhà cửa chắc gì còn dư để mình xin ở nhờ. Dân chạy giặc cả một quận, hỏi ở sao cho hết nơi xóm Phú Tân nhỏ bằng bụm tay. Nằm ngủ bờ ngủ bụi rồi cũng bệnh chết.

    Con đường đi trùng xuống, bao quanh bầu ông Chì. Lá ấu và rong đuôi chồn làm mặt nước có màu xanh tối. Những con cò đứng rụt cổ ngủ trên cành tre. Êm ái thanh bình là giấc ngủ. Phải chi lúc nãy chị Thủ Hai đừng đến kêu mình dậy. Lại tiếng con bìm bịp. Một tiếng gọi ồm ồm, hối thúc, giục giã. Một tiếng nhẹ nhàng như tiếng muỗng bột đổ vào khuôn bánh xèo nóng mỡ. Hồi còn con gái mình đi chợ Giả về nghe tiếng "xèo" của con bìm bịp, mình hay nói đùa với con Thiện "Thiện ơi, bước lẹ lên đi mày. Ở nhà đúc bánh xèo chờ rồi đó". Thoáng chốc mà mình đã già rồi.

    - Nè chị Năm, hay là vô Phú Tân rồi mình kiếm xe đò đi Tuy Hòa luôn.

    - Tôi cũng chẳng có bà con nào ở Tuy Hòa.

    - Vô Tuy Hòa còn kiếm cách buôn bán chút đỉnh. Bán bánh mì, bán chè cháo...

    - Già đầu còn đi bán bánh mì.

    - Kệ nó chớ.

    - Tùy ý chị. Tôi thì tản cư ở ít bữa. Liệu yên yên thì mò về.

    Mặt trời lên khỏi rặng núi A Man. Màu nắng vàng yếu ớt và rung rinh. Chắc là tại đêm qua thiếu ngủ. Không có bóng con trâu trên cánh đồng. Hai chiếc máy bay rà sát trên đầu, tiếp sau là tiếng nổ xé tai. Mọi người nhào vào trong bụi. Thằng cu Nhỏ khóc thét lên. Không phải bom nổ mà là tiếng nổ của máy bay. Mọi người lồm cồm bò dậy, phủi quần áo. Lại tiếp tục đi. Lũ nhỏ mỏi chân cứ lạch bạch đi tụt đằng sau. Con đường hun hút xuyên sâu vào giữa hai bờ tre.

    - Gắng chút nữa đi con. Gắng đi tới đập Đồng Cháy rồi má cho nghỉ một lát.

    Tiếng nước chảy lào xào thoáng nghe từ xa dội lại. Đập Đồng Cháy. Bà Xự cảm nghe như một cái nhói trong tim. Còn hai khúc quanh nữa thì tới. Đi qua khỏi quán bà Diễn, đi qua khỏi đám bông của ông Cửu Chín. Bước qua một con lạch. Tiếng nước đổ rào rào. Đi vòng theo một đoạn đê. Lá tre khô nhũn nát dưới bàn chân. Xuống cái dốc hẹp. Đến đây rồi.

    Lũ nhỏ mừng quá chạy lẹ đến gốc cây vông, tháo ném ruột nghé gạo xuống đất. Mọi đòn gánh đều hạ xuống. Ông Trùm Đẹt tụt khăn lau mồ hôi trán rồi cầm nón lên quạt. Chị Bao nắn đùi cho hai đứa con. Bà Thủ Hai lần mở khăn gói trầu. Riêng bà Xự thì thẫn thờ đi lại gần mép nước.

    Những cừ gỗ cao to, đóng lún sâu xuống cát, ôm choàng vào nhau, xoạc chân để chống giữ sức nước. Khoảng giữa đập, nước đổ ào ào, bọt tung trắng ngần. Bọt nước trắng vỡ ra, bị nước cuốn đi, chạy vội vã về những miền xa lạ. Lau sậy hai bên bờ vật vã theo chiều gió cuốn, rung rinh những tua hoa óng ánh tựa kim tuyến. Tiếng nước ào ào tuôn đổ, át hết mọi tiếng động xung quanh. Nước tuôn từng mảng lớn, dày, uốn cong lại, nước ánh như dầu. Nước đổ say mê, mải miết không dừng. Nước réo tưng bừng, sôi sục, vẫy vùng. Tất cả tâm hồn bà Xự như bị cuốn hút theo tiếng nước đổ và đang tưng bừng sống dậy. Không phải là sức sống tàn tạ của tuổi năm mươi mà là sức sống ào ạt của tuổi hai mươi đam mê mãnh liệt.

    Đập Đồng Cháy. Nơi đây bà đã gặp Năm Xự, đã để cho Năm Xự cầm tay lần đầu. Hồi hai người còn đang ở tuổi xuân rụt rè. Thật là một buổi xế chiều êm đẹp. Lụa - tên hồi còn con gái của bà - đang cắt cỏ ở bờ soi mía kia. Gió giữa đồng trống thổi mạnh làm vật vã những thân mía đang tơ. Giỏ cô đã cắt đầy mà trời còn sớm. Lụa bẻ lá rải thành một cái nệm mỏng trên cỏ rồi ngả lưng nằm ngửa mặt nhìn trời. Da trời xanh, cao vút, lảng vảng vài gợn mây mỏng. Mùi nhựa cây, mùi hoa dại pha với mùi đất ẩm tạo thành một mùi thơm nồng, ngây ngất. Tiếng nước đập đổ ồn ào, đều đặn như một điệu ru. Lụa lơ mơ nghĩ vẩn vơ. Mùa gặt sắp hết. Đêm qua đập lúa cả đêm. Thằng Thất hát ghẹo con Hòa. Thằng Được nói chuyện tiếu lâm tục tĩu quá. Thằng mất dạy. Con Cam thương thầm thằng Xự. Mỗi lần bà Bông cáp đôi nó với Năm Xự là nó nhắm tít con mắt lại cười. Năm Xự thì mắc cỡ. Năm Xự hiền, bộ mặt xinh trai. Mùa gặt sắp hết rồi. Không còn những tối đập lúa rộn ràng, những đêm khuya gánh lúa công đi về, đi từng hàng trên bờ ruộng hẹp. Năm Xự có đôi lông mày đen rậm... Mùa gặt...

    Có những lúc nào đó Lụa bỗng quên hết, quên hết, quên hết, tâm hồn lâng lâng nghe mơ hồ tiếng nước đổ ào ào rồi nhỏ đi thành tiếng rì rầm rồi im bẵng mất. Rồi ào ào trở lại.

    Chợt nàng giật mình. Có ai đứng cạnh. Năm Xự.

    - Uở.

    Năm Xự lúng túng:

    - Tôi giắt bò đi tắm. Qua đây...

    Bằng những câu nói gì tiếp theo mà hai người có thể ngồi cạnh nhau để nói cho hết cả buổi chiều, mãi cho đến lúc hoàng hôn gài từng miếng tối vào lùm cỏ rối, vào từng bụi chim chim, bụi quít, bụi găng... Lụa không còn nhớ nữa, chỉ biết là khi sắp chia tay, Năm Xự bạo dạn nắm tay nàng mà nàng không phản đối. Trong sự im lặng ngượng ngùng, nàng hồi hộp nghe tiếng tim mình đập và tiếng nước đổ ào ào như che chở, như rộng lượng bảo vệ. Hai người thương nhau từ đó và nơi hẹn hò thường là chỗ gặp gỡ ban đầu, nơi bờ soi này, bên đập nước đó. Luôn luôn có tiếng nước đập ồn ào hiện diện.

    Bà Xự chợt nhìn xuống lòng nước, soi thấy bóng mình. Hình ảnh cô Lụa tan biến vun vút.

    Hết rồi! Hết rồi! Không! Tôi không đi đâu hết. Tôi đã mất hết cả rồi. Tuổi xuân xanh. Chồng tôi. Con tôi. Chỉ còn đập nước này mà tiếng ào ào tuôn đổ không hề thay đổi. Nó đã nhìn thấy tôi tóc đen mướt và má tròn phúng phính. Nó đã thấy tôi trẻ đẹp và được thương yêu. Chỉ có nó. Nó nhắc nhở đến chồng tôi. Đến hạnh phúc của tôi. Mọi người khác đều nói: "Chiến tranh. Chạy giặc. Súng nổ. Bệnh. Đói. Chết..." Tôi không còn đủ sức để chống chọi. Cho tôi an nghỉ. Tôi sẽ không về ở trên xóm, tôi sẽ về ở cái chòi tranh giữ bắp nhỏ trên doi đất này, nơi đó tôi đã gặp chồng tôi, ngày xưa. Tôi sẽ sống lây lất với củ lang củ mì, với rau má rau dền, với hến với ốc. Thôi bà con đi đi. Chúc bà con mạnh giỏi. Cho tôi ở lại. Không, xin cho tôi ở lại. Tội nghiệp thân tôi. Tôi đã...

    Bà Xự vụt bỏ chạy. Dáng bà chênh vênh chạy loạng choạng trên bờ đê cao. Chân sụp xuống mương. Té nằm xoài xuống. Lồm cồm ngồi dậy. Chạy... Té... Gượng dậy. Chạy... chạy... Không... không...

    Đoàn tản cư về đến quận thì chỉ còn có năm người. Chiều xuống vội vàng khiến họ hối hả vừa đi vừa chạy. Phải đến nơi trước giờ thiết quân luật. Từng đoạn đường dài sâu hun hút phải lặng lẽ chạy qua. Không dám nhìn sang hai bên. Có miệng súng nào đang há tròn chờ sẵn đó chăng? Có cặp mắt thau sáng quắc nào đó của con beo con cọp từ động lớn về rình đó chăng? Bom đạn nổ tan rừng, cọp mò về đồng. Đồng sâu núi thấp ngày trước còn rộn rã chân người, bây giờ vắng hoe nên trở thành giang san của beo của cọp. Mọi người rùng mình. Quang cảnh lúc nãy còn ám ảnh họ: đôi thúng đôi bao còn để đó mà mụ Xự đâu mất. Kêu. Không có tiếng trả lời. Hú. Chỉ nghe tiếng núi vọng lại yếu ớt bên cạnh tiếng đập nước đổ ào ào. Sục sạo tìm kiếm, đập bờ đập bụi. Vẫn im lìm.

    - Coi chừng có mìn gài.

    - Chết coi chừng có mìn gài.

    Mọi người đồng nói như vậy và sự hăng hái bỏ rơi họ. Họ đi lò dò, dáo dác nhìn trước nhìn sau. Lại kêu, hú. Núi đồi lại vang nhè nhẹ tiếng hú mơ hồ. Mặt trời đã lên tận đỉnh đầu. Con đường đi về quận còn dài. Máy bay rà trên đầu, tiếng động cơ ào ạt vụt qua, gầm nổ bưng tai làm kinh hoàng những bầy chim. Chúng bay vụt từng đàn, bay tản mát cánh đập loạn xạ.

    - Chị Năm ơi. Chị Năm Xự ơi!

    - Ớ bà Năm.

    Mắt đổ hào quang và mồ hôi chảy thành dòng. Thằng cu Lớn, thằng cu Nhỏ ngã chúi trên những bờ ruộng mấp mô. Sau một hồi tìm kiếm vô vọng, họ trở về mé đập. Không ai nỡ quyết định bỏ bà Xự ở lại nhưng mọi người đều lặng lẽ quảy gánh lên vai. Phải gấp đi về quận trước buổi chiều. Không ai nỡ nói lên ức đoán của mình nhưng ai nấy đều không cưỡng nổi ức đoán. Sụp xuống một búng nước rồi chăng? Bờ mương con lâu ngày không ai dọn cỏ, cỏ mọc um tùm chẳng còn biết chỗ nào là đất, chỗ nào là nước. Bị ma giấu rồi chăng? Người chết nhiều quá những năm gần đây, lắm xác chết không có người chôn cất. Thỉnh thoảng chó tha một bàn tay, một mảng da có tóc bê bết cát bùn. Hay cọp? Hay beo?

    Đoàn tản cư chỉ còn có năm người, hấp tấp, hồi hộp, im lặng. Sau lưng họ, con đập Đồng Cháy vẫn đổ tuôn từng khối nước lớn, tiếng dội ầm ầm ào ào, bọt tung trắng ngần, vỡ ra, quay cuồng len lỏi chảy giữa những tảng đá to màu xám. 

 

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026