Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

KẺ ĐỒNG HÀNH NĂM MỚI - Phạm Ngọc Lư


Nếu tôi tới bến sớm hơn mười phút thì đã kịp đi chuyến xe cùng với Trang và Ái. Hay đúng hơn, nếu mẹ tôi rút gọn lại những lời dặn dò dông dài, những cử chỉ dùng dằng bịn rịn, chuyến đi đã suôn sẻ rồi. Nên, thay vì là kẻ đồng hành, tôi đành gượng cười đưa tay vẫy vẫy chào Trang và Ái chúc "thượng lộ bình an". Trang quay đầu ra cửa xe cười khì:
 
- Hên quá, không ngờ phút chót lại có mầy chạy đến sắm vai đưa tiễn.
 
Ái ném cho tôi một gói hạt dưa:
 
- Gặm lai rai để giết thì giờ nghe bạn.
 
Xe rồ máy từ từ lăn bánh. Hai ba người lính phóng nhanh tới bu theo đuôi xe như sợ tôi nhanh chân giành mất chỗ đứng bám víu lắc lư như đánh đu ấy. Tôi quay lưng lại bước đi lơ ngơ, cảm giác lẻ bạn khác chi một niềm phụ rẫy, lỡ làng. Bến xe càng lúc càng ồn ào hơn cả chợ cá. Tiếng máy giục giã, tiếng mời níu khách lắc lia, mấy cái xe quảng cáo đang rêu rao bán thuốc cao đơn hoàn tán hòa âm với cửa hàng lô tô hô số thật dòn miệng, hiệp vần... Chốc chốc, vài tiếng pháo nổ đùng lên nghịch ngợm kèm theo tiếng ré tiếng chửi. Những tấm áo Tết kiểu mới dù lem bẩn vẫn còn được nâng niu chưng diện, lất phất trong đám khách đi và đến, lượn qua lại dưới cái nắng đầu năm đã có phần hanh nóng. Trời nắng tốt màu, như hớn hở, như lăng xăng với hoạt cảnh náo động phồn tạp của bến xe. Tôi chóng mặt.
 
Ba trăm bạc. Một cái vé. Một chỗ ngồi. Một chuyến xuất hành đầu năm. Một nơi sẽ đến, những ngày tháng êm ả hắt hiu dần dà sống. Một cái Tết khác. Một tuổi nào đó... Tôi ngồi nhìn con niêm nhỏ nhoi xinh xắn trên góc tấm vé màu xanh ố, nghĩ vẩn vơ. Dăm ba hành khách lên phía sau, đem theo câu chuyện riêng về ngày Tết vừa qua. Một kẻ đang trầm trồ ngưỡng mộ cây mai cao năm thước chưng trước phòng khách của khách sạn Thái Bình Dương, hơn cả cây mai của ông tỉnh trưởng. Kẻ khác cười châm biếm: cao thì cao thật, gốc cành cũng thật, chỉ có hoa là giả, rặt hoa nhựa, khó mà phân biệt. Một tiếng kêu ngạc nhiên: Ối, hèn gì có tẩm bảng gài trên cành: "nhìn bằng mắt chớ bắt bằng tay", xạo tổ mẹ. Cứ thế câu chuyện lan man, vòng vo, thu hút thêm nhiều giọng nói khác chen vô tán thưởng hay chống chế. Hành khách đùm đề khăn gói kéo lên chiếm dần hết các hàng ghế, chỉ còn một chỗ trống bên cạnh tôi. Đồng thời ban nhạc hành khất kéo đến, đi quanh xe đàn hát nỉ non, lải nhải muốn nhột bụng. Một gã đeo cái hình đen giả mù (?), chìa mũ ra trước mặt tôi lập lại điệp khúc quen thuộc:
 
"Em xin chúc cô Ba đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên
Bạc tiền như nước
Xin cô làm phước..."
 
Trong khi tôi còn ngượng ngập trước lời chúc "quý hóa" của gã, một bàn tay nhanh nhẩu thay tôi bỏ vào cái mũ một tờ giấy bạc. Đó là người thanh niên mới bước lên xe, chưa tìm ra chỗ ngồi. Cái ghế bên cạnh tôi đã có một đứa nhỏ chiếm giữ. Anh ta móc cái vé ra liếc nhìn rồi nhét vào túi lại, nét mặt điềm nhiên không chút bận tâm. Hình như con người đó đang diễn xuất vẻ thư thái bình thản, toa rập với cái cung cách ung dung nhàn tản đáng ghét của anh tài xế đang ngồi tiêu khiển với chai bia mặc cho hành khách kêu ca than phiền xe chưa chịu chạy. Thỉnh thoảng, người thanh niên khẽ mỉm cười thầm, làm như thích thú với cảnh chậm trễ nầy lắm. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ anh ta chính là nguyên cớ gây ra sự trễ nải.
 
Xe chật ứ hơi người, căng tức muốn nổ. Lũ con nít bị ngộp khóc ré từng cơn. Tài xế lững thững mở cửa leo lên ghế, chậm rãi lau sạch cái gương chiếu hậu rồi ngắm nghía bóng mình trong gương rất điệu. Hồi lâu ông ta mới chịu nổ máy, dậm thử ga rồi tiếp tục soi gương. Thằng lơ chạy vào chạy ra cãi vã chuyện dư vé thiếu chỗ, dùng dằng mãi chưa xong. Đứa nhỏ bên cạnh tôi bị mời đứng dậy trả về chỗ ngồi trên đùi má nó nhường chỗ cho người thanh niên. Anh ta nhìn xuống cái mặt ghế không lớn hơn tấm khăn tay mỉm cười lắc đầu. Nụ cười tỏ ra an phận cam chịu hoàn toàn do đó cái lắc đầu ngượng ngập như một lối làm bộ giả đò. Bây giờ tôi mới để ý thấy anh ta cao to một cách quá đáng, gần như phí phạm, thừa thãi.
 
Xe chạy. Một chặp sau, người thanh niên mới tần ngần ngồi xuống chỗ của mình sau khi đã mỉm cười cầu thân với tôi và nói e dè:
 
- Xin phép cô.
 
- Tự nhiên.
 
Tôi ép sát người vào thành cửa để giúp anh ta có thể đặt lọt tấm thân dềnh dàng xuống mặt ghế. Vẫn chưa ổn thỏa, đôi chân dài luộm thuộm của anh đang loay hoay tìm cách xếp lại sao cho gọn gàng. Nét mặt người thanh niên vụt cau lại, có vẻ bực bội chuyện chân cẳng lòng thòng hơn là vì xe chật. Nhưng rồi anh ta vẫn cười dễ dãi:
 
- Có phiền cô lắm không?
 
- Không sao.
 
- Cô về Tuy Hòa?
 
- Vâng.
 
- Cô đi một mình?
 
Tôi suýt phì cười vì câu hỏi ngớ ngẩn nầy nhưng vẫn làm nghiêm đáp:
 
- Có anh tôi nữa, ngồi sau lưng.
 
- Hai anh em chắc có chuyện bất hòa?
 
- ?
 
- Nãy giờ không thấy nói gì với nhau cả.
 
- Nói chi! 
 
Tôi quay mặt ra ngoài che giấu nụ cười. Nắng lớn, nắng xanh rờn đồng lúa đang độ dậy thì trải dài hai bên quốc lộ. Lúa đang bén hơi xuân. Những xóm nhà lác đác ven đường còn ấm áp mùi Tết. Xe đi sâu vào thung lũng xanh mướt, chạy đua với hai cánh núi hình vòng cung đang lùi lũi tiến ra chặn đường. Người thanh niên chồm qua phía tôi ném cái tàn thuốc ra ngoài, đôi mắt còn ngó theo chăm chăm xem nó rớt xuống đâu, hình như anh ta lo sợ nó sẽ gây ra một đám cháy tai hại không chừng. Xe bắt đầu trèo đèo chậm chạp, chốc chốc cứ rú lên thở dốc. Người thanh niên lại gợi chuyện loanh quanh. Tôi chỉ thưa gởi lấy lệ. Anh ta cười chữa thẹn:
 
- Có người chuyện vãn cũng dễ quên đường dài chứ cô.
 
- Tôi nói chuyện vô duyên lắm.
 
- Tôi cũng vậy.
 
Tôi lấy gói hạt dưa con Ái cho hồi nãy mời anh ta:
 
- Lai rai giết thì giờ.
 
- Tôi cắn hạt dưa vụng lắm, đừng cười nghe. 
 
Vụng thật, anh ta phải dùng cả tay để bóc. Tôi chợt nhớ tới mấy đứa em nhỏ ở nhà, tụi chúng không khéo hơn người nầy là mấy. Không hiểu sao, tôi vồn vã chỉ dẫn cho anh ta cách dùng răng và chót lưỡi để tách vỏ và khều cái hạt dưa ra một cách dễ dàng. Người thanh niên chăm chú theo dõi, nhanh nhẩu thực tập, nét mặt hớn hở như thằng bé vừa học được bí quyết tài tình. Chặp sau, anh ta quen thuộc sành sỏi một cách lạ lùng. Tôi khen:
 
- Thông minh lắm.
 
- Nhưng chưa "điệu" bằng cô.
 
Bây giờ người thanh niên cắn hạt dưa lia lịa như muốn thi thố tài năng với "thầy". Rõ ràng anh ta giả bộ vụng về để xạo tôi chơi. Tự ái, tôi lườm mắt giựt cái gói hạt dưa lại:
 
- Ông tham quá, cứ nhá lia mồm. No chưa?
 
- Về tới Tuy Hòa tôi sẽ đền cô gấp trăm chừng nầy.
 
- Thấm gì, ông biết mỗi ngày tôi gặm cả ký lô!
 
- Hèn gì đôi môi đỏ thắm rất duyên dáng.
 
- Ông ngạo tôi hở?
 
- Thành thật.
 
Người thanh niên còn diễn tả sự "thành thật" của mình bằng ánh mắt mê man nhìn sững tôi, trông chết người!
 
- Cô có nghĩ rằng mình gặp nhau thế nầy là do sự sắp đặt của Định Mệnh?
 
- Tôi không hiểu Định Mệnh là gì?
 
- Là số mạng.
 
- Số mạng là gì?
 
- Là... là... cô hiểu rồi còn giả vờ.
 
Tôi cười lớn, vui lây với anh ta:
 
- Tựa như ông cắn hạt dưa rào rào còn giả vờ?
 
Xe lượn vòng theo chân núi bên những ô ruộng muối sát mé đầm nước mặn. Đầm xanh màu rêu non. Đầm lồng bóng núi, bóng mây trầm ngâm, bóng dừa mơ màng phủ dài bán đảo bên kia. Không hơi gió, không gợn sóng. Cảnh tĩnh của tranh sơn thủy, bát ngát lời thơ, mênh mang điệu nhạc... Người thanh niên vẫn chăm chú ngắm cảnh nước non, như muốn cùng tôi chia xẻ niềm ngưỡng vọng: quê hương mình quá đẹp!
 
- Tôi đã đi từ Huế vào Saigon bằng quốc lộ 1, chỉ có đoạn đường nầy phong cảnh ngoạn mục nhất. 
 
Tôi hỏi:
 
- Gần tới Sông Cầu chưa?
 
- Sắp. Đây là đầm Lệ Uyên.
 
- Trời, cái tên khá đẹp.
 
- Chưa đẹp bằng tên cô.
 
Tôi ngạc nhiên:
 
- Ủa, ông biết?
 
Người thanh niên cười kiêu hãnh:
 
- Hồi nãy ở phòng bán vé, tôi đọc trong danh sách hành khách có cái tên quá đẹp, tôi nghĩ rằng phải là tên cô. Tục ngữ có câu "Nhìn mặt đặt tên" vốn không ngoa.
 
- Ông ranh quá tôi sợ.
 
Xe chạy chầm chậm giữa hai hàng dừa im bóng mát vào thị trấn Sông Cầu.
 
Tới bến, người thanh niên mua một chùm bánh gói bằng lá dừa.
 
- Thổ sản miền nầy, cô ăn lấy thảo.
 
Tự tay anh ta bóc vỏ năn nỉ mời tôi ăn cho bằng được. Chưa kịp nuốt miếng bánh nhỏ bằng lóng tay miệng tôi nghẹn lại:
 
- Phải bánh Phu thê?
 
- Đúng.
 
- Ông phỉnh tôi mà.
 
- Cô cũng dị đoan?
 
Tôi im lặng "ngậm mà nghe" miếng bánh trong miệng như ngậm trái cấm. Người thanh niên cứ cười thầm đắc ý, khoan khoái một cách trẻ con. Xe qua khỏi một bờ vịnh, vòng lên ngọn đèo thấp trông xuống vùng biển nằm khuất giữa bức thành núi đá màu hỏa hoàng. Người thanh niên lại mải mê ngắm cảnh, mắt không chớp, quên cả điếu thuốc đang ngún mau trên tay.
 
- Cô đi chơi Gành Đỏ lần nào chưa?
 
- Gành Đỏ ở đâu?
 
Theo ngón tay chỉ của anh ta, tôi chỉ kịp nhìn thoáng qua dãy kè đá nhấp nhô in hình ráng chiều phơn phớt, bao quanh bởi một lớp khói sóng mờ mờ và một duềnh cát vàng óng ; xe đã rẽ sang hướng khác, đi vào vùng đồi thấp trùng điệp màu lá dại xanh ối, nhìn ngợp mắt.
 
Người thanh niên lại ném tàn thuốc và như mấy lần trước, anh ta vẫn cẩn thận ngó xem nó rơi xuống chỗ nào. Tôi cười nhỏ:
 
- Xem bộ ông còn tiếc mẩu thuốc thừa.
 
- Dạo mới lên Đà Lạt tôi đã vô ý gây ra một đám cháy lớn chỉ vì cái tàn thuốc ném bậy. Lá thông khô hai bên đường bắt lửa ngon lành. Khiếp tới bây giờ.
 
- Ông đi đây đó nhiều nhỉ.
 
- Cô không thấy tôi có một đôi chân dài thòng. Chân ngựa!
 
- Trông ông có vẻ lãng tử.
 
- Tôi yêu hai tiếng đó.
 
- Có bao giờ ông thấy mỏi mệt?
 
Người thanh niên nhìn tôi đăm đăm như dò xét, như hoan hỉ:
 
- Sáng nay!
 
Tôi hơi bối rối giả vờ hiểu theo nghĩa đen:
 
- Vì chuyến xe nầy chật chội, không thoải mái chút nào.
 
- Không đâu, mơ hồ tôi thấy chân mình bị một sợi dây vô hình trói buộc.
 
- Lạ nhỉ.
 
Ngừng một lát, đắn đo, trấn tĩnh, người thanh niên bỗng bạo dạn đưa một bàn tay ra, (dường như định nắm lấy tay tôi) vịn chặt thành ghế, giọng nói hơi run:
 
- Cô có nghĩ rằng chuyến xe nầy sẽ đi mãi, mãi mãi, đi suốt...
 
Tôi cười tự nhiên:
 
- Ông muốn xe rớt xuống hố để níu nhau về cõi thiên thu?
 
- Vậy cũng thích, tôi vẫn được ở bên cô.
 
- Không, xe phải về bến, tôi còn về nhà.
 
- Và mình chia tay?
 
- Đương nhiên!
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
Tôi mím môi lưỡng lự một lát rồi nói nhanh:
 
- Không!
 
- Cô không tin Số mệnh tình cờ...
 
- Không!
 
Người thanh niên nhíu mày khổ sở, khuôn mặt dài ra tội nghiệp. Hồi lâu anh ta mỉm cười gượng gạo rồi bắt chước giọng người hành khất ở bến xe ca vãn:
 
"Chúc cô đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên..."
 
Tôi bật cười:
 
- Cảm ơn ông. Biết tôi phải "làm phước" gì cho ông đây?
 
- Chỉ xin cô tin rằng có Định Mệnh sắp đặt chuyến đi nầy.
 
- Ông đòi hỏi quá sức tôi.
 
Tôi ngạc nhiên nghe giọng mình bực dọc và lạnh lùng quá sức. Người thanh niên uể oải lắc đầu:
 
- Bây giờ tôi xuống đây, trở ra Sông Cầu.
 
- ?
 
- Đáng lẽ tôi xuống bến Sông Cầu hồi nãy nhưng nấn ná đi chung với cô thêm một quãng đường gọi là đưa tiễn. Thế nầy thì không phải lẽ nhưng tôi ngại cảnh chia tay cô ở bến xe Tuy Hòa. Lúc đó, tôi sợ mình không đủ can đảm quay về.
 
Tôi hốt hoảng tưởng như người thanh niên sẽ nông nổi lao đầu ra ngoài cửa xe ngay bây giờ. nét mặt anh ta căng thẳng đầy vẻ liều lĩnh.
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
- Ông cứ hỏi mãi cái câu hỏi không chút tế nhị, làm sao tôi trả lời được.
 
- Phải, tôi ngây thơ quá. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
Xe dừng lại, người thanh niên tần ngần chào tôi rồi bước xuống. Anh gởi lại cho tôi một ánh mắt nồng nàn tin tưởng, ấm áp hẹn hò. Tôi cúi đầu nhắm kín mắt, lòng nao nao. Dường như xe đang tiếp tục lăn bánh bon bon trên mặt đường êm ái? Gió rít trên tóc tôi, gọi mời níu kéo. Khuôn mặt người thanh niên chập chờn trong trí, xa hút với dặm trường rồi loáng hiện về trước mặt. Bất giác tôi đưa tay sờ mặt ghế bên cạnh: chùm bánh Phu thê còn thoảng hơi ấm. Những chiếc bánh cũng biết thẫn thờ trong bàn tay mân mê.
 
Trang và Ái đón tôi ở bến xe, hai đứa mừng rơn như thể lâu ngày mới gặp nhau lại. Trang đưa tay vuốt lông mày tôi, hỏi nựng:
 
- Có khóc trên xe không "cô bé". Sao âu sầu dường nầy?
 
Tôi đưa chùm bánh Phu thê cho Ái:
 
- Quà đây nè. Bù vào cái bọc hạt dưa mầy biếu.
 
Ái la lớn:
 
- Trời, năm mới đã đớp thứ bánh nầy là điềm sắp có chồng. Biết đâu vài tháng nữa sẽ ăn đám cưới mầy.
 
- Biết đâu. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
- Đầu năm mầy đã mơ mộng, nói y như văn chương. 
 
Tôi muốn tỏ thật với hai đứa bạn đó là câu nói của người thanh niên đồng hành tình cờ gặp gỡ, của một nhà lãng tử vô danh. Bây giờ tôi mới hối tiếc đã quên hỏi tên anh ta. Vâng, phải có cái tên để xác định tác giả câu nói đó, để tôi đặt tên cho chuyến đi nầy, cho một kỷ niệm vui vui trong năm mới.
 
Cô có tin rằng mình sẽ gặp lại? Tôi trả lời với chính mình:
 
- Tôi sẽ đi tìm Ông Định Mệnh để hỏi thử xem. Hy vọng ông ta rất dễ thương, ngoan ngoãn gật đầu. Nhà lãng tử vô danh hãy bình tĩnh chờ nhé.
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
  

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

ĐỂ RỒI QUÊN NHAU - Trọng Thi


Bé đã đến đây mỗi sáng, mỗi chiều. Đã vui cùng nắng sớm. Đã buồn với mưa chiều. Đều đặn như một công thức đáng yêu.
 
Anh và bé đã quen nhau từ bao giờ nhỉ? Anh không còn nhớ rõ nữa. Chỉ biết mỗi lần bé đến lòng anh vẫn rộn rã, vẫn xao xuyến. Và tâm hồn anh mát dịu hẳn lại, êm ái cơ hồ một ly cam tươi được uống giữa trưa hè nắng gắt. Nếu bé có âu yếm trách anh tại sao không nhớ đến ngày mình quen nhau, anh chỉ biết cười cầu tài một vài nụ để bé hất mặt nguýt anh một cách yêu dấu thôi. Anh vốn không có trí nhớ dai dẳng trong chuyện tình cảm. Nhưng anh lại thích thú cái mớ trí nhớ của anh lạ lùng. Bởi anh còn có nó là tư hữu, là vốn liếng trung thành nhất thôi. Ngoài ra anh còn gì nữa đâu. Vả lại nhớ những điều nhùng nhằng vụn vặt trong quá vãng để những kỷ niệm đó đôi khi làm anh khó chịu, buồn bực và mất mát thì giờ yêu bé. Chuyện gì đã qua cho qua luôn níu kéo làm gì hở bé. Phỏng níu kéo chỉ là việc làm vô vị lợi của dã tràng xe cát thôi.
 
Anh và bé nên vui cùng hiện tại mình quen nhau, thân nhau thắm thiết là đủ. Quá đủ mất rồi. Hạnh phúc là cái gì có thật và đơn giản lắm cơ mà.
 
Bắt anh nhớ lại thì anh chỉ nhớ rất mù mờ, rất mang máng. Một mai sớm nào đó đã xa mù tít tắp trong trí tưởng hình như là thế này. Bé và vài cô bạn đến đây ríu rít lanh chanh như một bầy chim sẻ đùa vui trên cành đón nắng mai hồng. Những mắt môi vừa se thắm, dù lỡ ra có nhợt một tý cũng chả sao. Mai mốt thế nào môi cũng thắm hơn, mắt sẽ tươi hơn, để trang điểm cho đời, để đời nhìn vào đó mà si đắm, mà ước mơ. Đời sở dĩ tươi vui, sở dĩ ồn ào nhộn nhịp cũng vì môi thắm, mắt tươi của đàn bà như bé cả đó.
 
Hôm đó, có lẽ, bọn bé muốn chọc phá anh hơn là muốn mua mấy món đồ lỉnh kỉnh đã, bao giờ cũng, đầy ắp trong cặp vở. Nhìn lướt qua mắt của bọn bé anh đã đọc thấy rõ điều đó: ngộ ghê ta, anh chàng này cũng đẹp trai, cũng đeo mục kỉnh ra dáng gì lắm mà ăn mặc lôi thôi lếch thếch như thế này để bán hàng. Anh chàng nom có vẻ hơi hề một tý giữa khung cảnh này (có phải điều anh đọc được trong mắt bọn bé là thế không?). Những cái nhìn soi mói đó làm anh tự ái, làm anh nhột cùng khắp ngoài da và làm máu bật dậy trong tim bấy lâu yên ổn, nên anh đã đứng thẳng hất mặt thật cao để nhìn bọn bé mặc dù mặt anh đã đỏ lắm rồi.
 
Rõ ràng nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò. Mấy bé tinh nghịch đáo để, diễu cợt vô cùng. Thấy anh đứng nghinh bé vội mở cuộc tấn công đầu châm chọc:
 
- Này anh bán hàng ơi, nhiệm vụ của anh là bán hàng chứ đâu phải đứng ngắm khách hàng. Coi chừng bọn này bắt trả tiền ngắm đó.
 
Cả bọn bấm nhau cười khúc khích. Ban đầu cười nhỏ. Rồi thấy anh bấn loạn xúc xích, tan rối hàng ngũ, các bé cười vừa vừa. Cười to. Cười vỡ chợ. Cười như pháo kích loạn đả. Anh như ông phỗng đá nhưng cũng còn trí khôn để bào chữa:
 
- Tại khách hàng của anh xinh quá và vui quá cỡ thợ mộc nên anh phải ngây ngất chứ bộ.
 
Vẫn tiếng của bé ngọt ngào như đường và chua như múi chanh mọng ướt. Sau này anh ví giọng nói đó như một ly chanh đường giữa trời nằng. Và bé bĩu môi bảo anh khéo nịnh đầm.
 
- Bọn này không thích tán nhảm đâu anh bán hàng ơi. Lo bán hàng cho bọn này đi.
 
Anh được thể, giọng hơi có vẻ Sơn đông mãi võ:
 
- Anh xin vâng lời mấy bé ạ. Các bé mua gì nào. Này sách, này vở, này cam, xoài, ổi xá lỵ và mua luôn cả anh không?
 
Cả ba bốn đôi môi đồng bĩu dài ra cả thước nom thật buồn cười:
 
- Mua anh làm gì?
 
Có lẽ anh làm hề cũng khá duyên dáng nên mấy bé không đến nỗi ghét anh thậm tệ. Bằng chứng là còn có vài cái nhìn, vài nụ cười rơi rớt lại khi bé ra đi. Anh muốn lượm mấy nụ cười, mấy cái nhìn đó quá nhưng anh vụng về khiến nó tan vỡ mất cả.
 
Bé có đồng ý lấy ngày hôm đó là cái mốc để đánh dấu ngày mình quen nhau hay phải lấy ngày khác đậm đà hơn, ít bỡn cợt hơn?
 
Nào để anh lục lọi trong trí nhớ một tí nữa thử xem. Đúng rồi. Chắc phải thế này. 
 
Đã bảo anh để ý đến vẻ chanh chua, nhí nhảnh của bé nên ánh mắt anh thường theo dõi bóng dáng mảnh mai của bé bất cứ lúc nào có bé xuất hiện. Anh mến bé là mến thầm thế thôi chứ đã có dịp nào để được trò chuyện cùng bé đâu. Bé thì vô tình như một viên sỏi quý chẳng cần níu lấy bàn chân của khách bộ hành băng qua đường gì cả dù bàn chân đó rất muốn rủ rê mời mọc bé đi trọn quãng đường. Cũng có vài lần bé trở lại quán hàng của anh nhưng bé vẫn dẫn theo một lũ bạn thì anh kể như vô phương làm ăn. Anh đành thúc thủ. Đành sống cầm hơi. Để cho đôi mắt âm thầm diễn tả vài cái liếc nhìn kín đáo, vài cú đá lông nheo trữ tình. Ôi đôi mắt anh tội nghiệp quá, khốn nạn quá làm cách gì bé cũng chẳng để ý cả. Nhiều khi anh muốn vứt cha cặp kiếng cận vào một xó rồi tự tay móc mù đôi mắt đi vì đôi mắt anh chả quyến rũ, chả làm bé chú ý nổi.
 
Hết đôi mắt anh phải nhờ đến đôi môi. Nhưng môi anh quá lâu ngày ngậm thuốc lá nên cũng chẳng được việc. Mái tóc anh cũng thế. Bàn tay anh cố làm một vài kiểu cách lịch sự anh học lóm được trong xi nê cũng trở nên vô tích sự luôn. Đến phiên cái miệng thì cái miệng lại gặp hên. Chắc là thế (nên sau này anh quý lỗ miệng anh lắm. Anh săn sóc tỉ mỉ. Ngày hai bữa anh đánh kem Hynos như lời mấy quảng cáo viên vậy).
 
Hôm đó thi Lục cá nguyệt (Anh biết thế vì hầu như tất cả học sinh trước bé đã mua giấy viết, dụng cụ trước hai ba ngày) bé trúng tủ thì phải. Anh thấy bé vui cười ra khỏi lớp sớm lắm. Anh đã đợi sẵn rồi, quý hồ thấp thoáng dáng dấp của bé anh theo dõi liền. Anh y như cục nam châm trước một thỏi sắt vậy. Bé vừa đến cổng trường đã có mấy thằng đầu tóc rất cổ quái chận bé lại nói gì đó. Ở xa, anh cứ đinh ninh mấy thằng đó quen bé. Tự nhiên anh ghét bọn đó lạ. Anh muốn quỷ Satan, quỷ Lucifer hiện lên giết quách cả bọn cho xong. Và anh ôm đồm ghét luôn cả một phong trào Hyppies đang bành trướng một cách mạnh mẽ. Không phải anh có ý hướng làm lành mạnh, làm bóng loáng cái xã hội này đâu bé. Anh ghét bởi anh thấy bọn nó đang tán bé, và tưởng bé đang thỏ thẻ những lời vui, đẹp nhất từ đôi môi bé mọng và mắt liếc sáng ngời kia.
 
Nhưng anh đã rất mãn nguyện khi thấy bé vùng vằng tránh lối phong tỏa của mấy thằng nhóc tóc dài đó. Và tuy ở xa anh cũng thấy được vẻ giận dữ và bối rối của bé. Bé còn nói gì với bọn nó nữa. Anh chỉ mong bé nhiếc những lời thật đau đớn cho bọn nó thôi. Cho thật chua ngoa, thật mỉa mai cho đau như xát vôi nhé bé.
 
Bọn nhóc đó rõ là một lũ vô tích sự và không biết điều nữa. Chúng xoắn xít lấy bé. Bao vây bé lại. Bé phải di tản chiến thuật. Bọn chúng biết dùng chiến thuật cài răng lược để ngăn cản bé. Bọn nó còn bạo dạn hơn giơ tay níu lấy cặp sách, lấy cánh tay bé. Ôi những bàn tay thô kệch, những bàn tay trần tục lại dám giơ lên để vuốt tóc bé. Đám mây trời tinh khiết đã bị luồng mây chó giỡn mặt. Tóc bé chắc phải gội mất cả gánh bồ kết mới tinh khiết lại được.
 
Bây giờ anh đã nghe rõ được lời tán tỉnh bất lịch sự, quê kệch nhất của bọn nó và tiếng giận dữ của bé. Mất dạy. Con trai gì mà. Quê. Và bé như muốn khóc.
 
Thú thật là anh khoái lắm khi bé rủa chúng như vậy. Anh còn muốn chỉ cho bé cách rủa chúng thậm tệ và hàng tôm hàng cá hơn nữa kia. Đồng thời máu nóng anh cũng dồn lên mặt và lên hai nắm đấm khiến anh muốn đấm vỡ một cái gì cho dẹp nát cho tan cơn giận. Anh ngẫm nghĩ một lúc, mặc dù thấy mình nhỏ con và đôi mắt kiếng là một bận rộn lớn khiến không thể ăn thua đủ với bọn kia, những ba bốn tên du đãng (anh kết án chúng như vậy) thế mà anh vẫn xê dịch từ từ về phía bé.
 
Bé thấy anh như kẻ chết đuối vớ được phao trao luôn cả đôi mắt cầu cứu. Ánh mắt của bé làm anh anh dũng tiến lên, tiến lên về phía bọn nhóc tóc dài. Thay vì xông xáo như một hiệp sĩ xông pha giữa ba quân để cứu nguy nàng công chúa tuyệt vời thì anh nhỏ nhẹ:
 
- Này các bạn, mong các bạn bỏ qua. Em gái tôi đấy.
 
Phải một pha dàn xếp khéo léo nhờ miệng lưỡi mấy thằng tóc dài mới thôi. Có lẽ thấy anh ăn mặc lếch thếch bẩn thỉu, không muốn dây với hủi nên chúng phú lỉnh ném lại những cái nhìn tiếc rẻ.
 
Bé nhìn anh tỏ ý muốn cám ơn mà hình như còn ngại nên anh ra vẻ kẻ cả:
 
- Về thôi cô bé. Nhớ lần sau đừng lân la trò chuyện với bọn đó nữa.
 
- Dạ đâu có quen bọn nó đâu. Khi không chúng chọc ghẹo chứ bộ.
 
- Thì anh dặn chừng vậy mà. Lần sau anh không thèm can thiệp cho đâu.
 
Vẻ hốt hoảng của bé dần dần đã tan bay đâu mất và bé nói:
 
- Anh xạo lắm.
 
Anh ngạc nhiên vô cùng. Anh mà xạo. Thương bé thấy mồ chứ bộ. Mắt anh mở lớn một dấu hỏi thì bé cười cười:
 
- Ai đâu là em gái của anh. Anh nhận ẩu không à.
 
Anh bật cười:
 
- Bộ cô bé làm em của anh không được sao?
 
Bé bĩu môi dài ngoằng:
 
- Xí, ham lắm.
 
- Được nhé. Lần sau ai chọc, ai ghẹo chả thèm can nữa đâu.
 
Bé cười huề xí xóa. Anh hài lòng lắm nhưng cũng mơ hồ thấy một vẻ gì (?) thích thú trong mắt bé bắt đầu chợt hiện.
 
Lần này thì bắt buộc bé phải đồng ý cùng anh là mình đã bắt đầu quen nhau phải không nào?
 
Và từ đó anh thấy cuộc đời hết tẻ nhạt, đã không còn hắt hủi anh nữa (thủa chưa quen bé, đang mơ tình bé anh vẫn nghĩ thế). Ánh rạng hồng đã đâu đây lóe sáng như bình minh của ngày làm chìm hẳn đêm tối.
 
Anh đã có lúc vừa giúp chị bán hàng trông quán vừa nói chuyện mê man với bé. Hoặc đã có những chiều thứ bảy, những sáng chủ nhật vui vầy cùng bé. Những lúc đó anh muốn quên tất cả những phiền toái đang làm khổ anh tháng ngày. Anh muốn cám ơn bé đã cho anh mối tình êm đẹp lúc này. Cám ơn thượng đế đã, ít ra, ngài rất công bằng bù đắp cho anh những ngày tháng thảm buồn này bằng sự trong sáng bé mang đến.
 
Bé luôn giận hờn vu vơ khiến anh phải dỗ dành xin lỗi đến tím mật. Môi bé đã thắm càng thắm xinh vì sự chọc ghẹo của bạn bè và anh riễu cợt chọc tức. Mắt bé cũng ngời sáng thêm trong đoạn đời con gái vừa lớn trong những thương mến tràn bờ.
 
Những ngày thân ái đó bé thường thắc mắc về lý lịch của anh. Về trường hợp một gã con trai nom có vẻ sạch nước cản hay ít ra cũng có một sự học không kém mấy (nguyên văn lời bé) khả dĩ thi thố được với đời mà tại sao lại lôi thôi lếch thếch bán hàng như thế này.
 
- Anh làm gì? Hay còn đi học? Anh học đến đâu? Sao ít thấy anh dẫn bé đi chơi xa? Hình như anh rất sợ mấy bác cảnh sát...
 
Anh tái mặt bảo bé đừng tò mò. Có những việc bé đừng nên tìm hiểu thêm chi cho mệt trí, cho rộn ràng. Cuộc đời là những khúc mắc điệp trùng đừng nên tìm kiếm cho nó dây vào mình. Hãy ấp ủ những gì xôn xao trong tim và ngang tầm hiểu thơ ngây của bé thôi. Và hãy xem anh như một trường hợp đặc biệt hơi hiếm để thương mến anh là đủ. Vậy mà bé vẫn bướng bỉnh nhất định yêu sách cho bằng được. Anh vốn mềm yếu trước đôi mắt tha thiết, trước vẻ mặt xụi lơ của bé nên nhún vai cười:
 
- Thì anh là một chú bán hàng. Ngày hai buổi nói cười tở mở để mua lòng mấy cô bé khách hàng như bé mong bán được nhiều.
 
- Không, việc bán hàng là phụ. Bé muốn hỏi bây giờ anh làm gì chẳng hạn còn đi học, đi lính, đi làm hay gì nữa...
 
Anh khôi hài:
 
- À, ngoài việc thường ngày đó anh còn kiếm thêm nghề ngỗng nữa.
 
Bé ngạc nhiên, mắt bé mở căng đến độ muốn toét lòi hai con ngươi ra ngoài:
 
- Nghề ngỗng? Nghề ngỗng là gì?
 
- Có nghĩa là ngổng cổ ra đợi: đợi tiền gia đình cấp hàng tháng, đợi thời gian mau qua, đợi hòa bình chóng đến. Hoặc đợi một mai sớm đẹp trời nào đó (...) ra đi.
 
- Anh nói gì bé không hiểu?
 
Cuối cùng anh cũng phải giải thích cho bé nghe một cách đại khái rằng là trường hợp của anh không đàng hoàng cho lắm, nên về ẩn cư đây bán hàng qua ngày giúp bà chị dâu. Rằng là anh không có nhiều tiền nên trong bóp anh cũng rất ít giấy tờ phòng thân. Anh chỉ nói mơ hồ thế. Và bé nhìn anh rất lạ.
 
Hồi đó anh sa lầy trong cơn mê tình tứ, anh chả phân tích thái độ của bé. Chỉ biết là trong tất cả các mối tình của anh có được bao giờ anh cũng thành thật đôi khi hóa dại và lụy vào thân. Mặc kệ, tại bản tính trời phú cho anh như thế cơ mà. Làm sao xóa bỏ cá tính khi biết nó chẳng có hại cho ai cả.
 
Cũng vì lý do đó mà anh ít đưa bé đi chơi xa trong thành phố này. Mối tình của anh và bé bởi thế có nhiều thiếu sót như món ăn thiếu đi vài ba đồ gia vị. Và cái điều phụ như thế đó biết đâu làm cho ta ghiền nhau, nhớ nhau mãi.
 
Thời gian anh và bé quen nhau kéo dài đến cuối niên học. Cuộc tình đã không có những xúc động lớn, không kết đầy máu và nước mắt như trong tiểu-thuyết-tình-cảm-ái-tình-lẩm-cẩm. Cuộc tình vẫn thường tình. Vẫn lửng lơ con cá vàng nhưng đó là những bông hoa dại đan kết cho tâm hồn anh vòng hoa rất đáng giá. 
 
Dĩ nhiên anh và bé cũng có khi giận hờn nhau, lục đục với nhau. Và bao giờ anh cũng là kẻ đầu tiên nhượng bộ. Tội nghiệp cho cuộc tình mà anh không đồng cân lượng với bé.
 
Anh còn nhớ một lần lý sự cùng nhau chuyện thi cử, bé bảo:
 
- Bé gần thi rồi đó. Anh có cầu nguyện cho bé thi đậu không?
 
- Anh chả cầu nguyện thế đâu. Anh còn mong ước trái lại nữa.
 
- Anh muốn bé rớt? Anh không thương bé, muốn bé chuốc lấy khổ đau sau một năm thức khuya dậy sớm?
 
- Ừ đó, anh không muốn bé đậu chút nào hết.
 
Bé vùng gắt:
 
- Tại sao?
 
Anh lý luận:
 
- Con gái học không nên đậu. Đi học chữ nên để làm cảnh, làm nhức tim thiên hạ thôi. Có hai trường hợp khiến anh không muốn bé đậu: bé đậu rồi mai mốt đây bé lớn mất. Và con gái học cao rất khó lấy chồng. Bé biết bao nhiêu cô học cao đang dở khóc dở cười không?
 
Bé đánh anh thùm thụp:
 
- Anh ích kỷ và gàn lắm.
 
Anh cười và bé đã giận anh hơn một tuần.
 
Đã bảo bé khó tính và bướng bỉnh lắm nên nhiều lần anh muốn biết nhà bé, bé đều từ chối. Bé viện đủ lý do:
 
- Chó nhà bé rất dữ. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé xa lắm. Ba má bé rất khó.
 
Các lý do bé đưa ra anh đều cười bảo không sao. (Thực ra anh muốn biết nhà bé cũng không khó lắm, chỉ lò dò theo bé một bữa là biết ngay.) Nhưng lý do đã khiến anh sợ hơn chó dữ, sợ hơn nhà khó kiếm, hơn sự quê mùa đó là bé bảo ba má bé khó. Từ rất xưa anh vẫn rất sợ phải đụng mặt mấy ông bà già của các cô gái mà anh quen (điều này đã khiến anh vài lần bị kết án oan: sở khanh) anh chỉ lắm chuyện khi hai đứa tâm tình lảm nhảm chứ nếu phải ké né dạ dạ thưa thưa với ông bà già của các cô gái mà anh quen anh lại bết bát kinh khủng. Anh thấy mình ngố ra, và tay chân thừa thãi tất cả. Tay không biết để đâu cho yên. Mắt môi rung rung hấp ha hấp háy. Tóm lại anh chỉ muốn độn thổ cho xong. Vả lại cái bề ngoài lôi thôi của anh: tóc tai rậm rì, quần áo dơ bẩn, râu ria không cạo và nhất là trên môi bao giờ cũng có điếu thuốc đính kèm thì không bao giờ chiếm được cảm tình của các bậc làm cha làm mẹ.
 
Rõ ràng ghét của nào trời trao của nấy. Cuộc tình của anh và bé vẫn êm như một tờ giấy pelure, vẫn yêu kiều như chiếc lá vàng lả lơi của mùa thu kề cận thì một buổi sáng cơ sự xảy đến. Sóng gió đã xô đẩy thuyền tình anh lật úp giữa ba đào sóng gió.
 
Má của bé đã đến. Má của bé thật lịch sự. Cái lịch sự đó lại rất đáng sợ. Bà nhẹ nhàng hỏi tên anh. Hỏi về mối tình của anh. Và nghề nghiệp nữa. Anh thật thà như đếm nên khai hết. Rõ ràng rành mạch.
 
Bà cũng nhìn anh cái nhìn rất lạ, rồi nói:
 
- Tôi mong cậu từ nay đừng rủ rê con tôi nữa. Nó còn nhỏ. Để cho nó học hành. Đời nó phải khá.
 
- Chúng cháu chỉ quen nhau trong veo như tình bạn.
 
- Tôi bảo là cậu nên chấm dứt đi. Cậu hứa với tôi nhé.
 
Anh đã đau khổ gật đầu bằng lòng.
 
Mãi sau này anh vẫn không minh định đó là sự dại dột hay khôn ngoan nữa. Tính anh vẫn thế. Phân chia rõ ràng. Dĩ vãng. Hiện tại. Tương lai. Ít khi anh nối kết. Cho chúng xa lạ rời rạc để thứ này không chịu trách nhiệm, hay quyến rũ thứ kia.
 
Ba bé đến tìm anh một vài lần xin lỗi, bảo có đứa bạn chơi xấu về mách nhưng hình như sau này đã có cái cách ngăn nên anh và bé không còn hào hứng trong cuộc tình nữa.
 
Và đúng ngày bé đi thi. Anh cũng ra đi.
 
Cho đến bây giờ anh cũng chẳng biết năm đó bé có đậu không. Hay mọi công lao cố gắng của bé đã rớt mất theo ý của anh.
 
Bởi vì anh và bé đã chẳng còn liên lạc, chẳng còn dính dáng gì với nhau từ lâu nay.
 
 
TRỌNG THI      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
 
 
 

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

XUẤT HÀNH NĂM MỚI - Võ Hồng

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia. Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Đông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Đến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những sự viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

- Ba phải chở thằng Hào đó, - tiếng con Hằng, con lớn của chàng bảo.

- Ừ, để ba chở.

Thủy, con bé nhất phụng phịu:

- Không, ba chở con. Để chị Hằng chở anh Hào.

- Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

- Nhưng anh Hào gầy...

Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vừa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

- Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

- Kệ nó.

Tiếng Hằng cãi:

- Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

- Ừ, thôi cũng được.

Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày chàng vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

- Ba chải giùm tóc cho con đi.

Chàng chỉ xuống chân:

- Sao lại mang xăng đan thế kia? Mang giày vào.

Hào cau mặt:

- Nhưng đâu mất một chiếc tất.

- Hỏi con Bốn xem. Bốn ơi, tất của em để đâu?

Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va li. Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

- Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

- Đâu có. Đêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

"Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con bé này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vào mua. Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

- Đồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Đó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

- Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm hưỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

- Con đi sát vào bờ lề một chút.

- Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

- Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Đừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

- Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

- Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

Hào đề nghị:

- Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

- Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con.

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải gọi nhau, chạy tìm nhau, va cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự do. Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự do. Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra -nhất là những bộ mặt đàn bà - làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mê. Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Để họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩn vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

- Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Đầm là vì vậy.

- Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia ba? - Thủy hỏi.

- Đó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

Hào vội vàng hỏi tranh:

- Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

- Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

- Lễ là cái gì?

- Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Đường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Đi quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chứ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

Lúc xe đi gần tới nghĩa địa, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

Tiếng Hằng hỏi:

- Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

- Ừ.

Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Đặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

- Ba ơi! Đây mộ của má đây rồi.

Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như thế mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như thế. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh thường mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

Đó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm hương vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân hương mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn hương vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

- Bây giờ má ở đâu ba,

- Má ở trên trời.

Đó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

- Má có ăn Tết không ba?

Hào "xí" ngay:

- Mày cứ nói bậy. Đã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bĩu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

- Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

Chàng cầm lấy tay Hào nói:

- Thủy nó bảo vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

- Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

- Con lớn con biết thế chứ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

- Ý ba muốn con thưa cái gì?

- Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thua. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

- Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

- Có thể như thế. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lúc má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

- Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

- Phải đó.

Hào nói;

- Để con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

- Ừ.

Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

- Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to.

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương to. Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó hương trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó hương, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó hương đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xắc nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì theo một thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không giấu được sự âu yếm nhau.

Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngả. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của người bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

- Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trời thì làm sao má nghe được?

- Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

- Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, - người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng - Ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Đó là một bức thư gởi thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

"Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

- Nguyễn Thới là ai vậy ba?

- Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

- Thế anh ta viết để làm chi vậy?

- Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thư. Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

- Anh Ca viết hở ba?

- Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

- Thế ba có xem không?

- Không có, vì anh Ca không viết trả lời mà cũng không dán.

Hằng nói:

- Cái ý kiến đó cũng hay, hở ba? Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

Chàng mỉm cười:

- Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như thế, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

- Còn thằng Hào? - Chàng cất tiếng hỏi.

- Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào. - Tiếng con Bốn trả lời.

- Còn Thủy?

Bốn cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

- Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

- Hay nó sang bên con Sa?

- Không có đâu - chàng gạt liền - Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

- Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

Hằng ra đứng ở cửa kêu:

- Thủy ơi.

Không có tiếng trả lời.

Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

- Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ngả nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

Má ơi,

Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

Võ thị Tri Thủy

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ - Hồ Đắc Duy


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
Núi Ba Tầng thiết đàn làm lễ
Cáo đất trời xin để lên ngôi
Quang Trung hiệu triệu mấy lời
Lập tức hạ lệnh đi ngay lên đường

Đến Nghệ An lấy quân tinh nhuệ
Mười ngàn người chưa kể dân binh
Vài trăm voi chiến theo mình
Chia quân tả, hữu năm doanh rõ ràng

Vua Quang Trung đường đường trước trận
Áo hoàng bào lẫm liệt oai phong
Gươm thiêng nạm ngọc đeo cùng
Trên đầu voi chiến hào hùng ruổi rong

Sau năm ngày bụi hồng lấm áo
Tới ngang đèo dựng giáo nghỉ chân
Vua cho mở tiệc khao quân
Định ngày mùng bảy đầu xuân sẽ vào

Thăng Long thành ngày đầu năm mới
Từng nụ đào chớm thẹn gió đông
Búp non lấm tâm cành hồng
Mai vàng núp bóng thẹn thùng nắng mai

Vua Quang Trung đến ngay Giáng Khẩu
Hành quân qua đánh đạo Sơn Nam
Hà Hồi ở cách trung tâm
Thăng Long nhắm hướng phía Nam nửa ngày

Quân Tây sơn bao vây kín mít
Mà giặc Thanh chẳng biết chút gì
Đầu hôm cho đến nửa khuya
Ẩn vào đồn giặc đợi thì tấn công

Sáng mùng năm Quang Trung vừa đến
Đồn Ngọc Hồi giặc chẳng dám ra
Cửa thành đóng kín chằn qua
Trên thành lố nhố hằng hà chông tre

Vua sai lấy ván che rơm ướt
Cho trăm voi lên trước tấn công
Vượt qua hoả pháo gai chông
Dập dồn súng trận xung phong đánh vào

Xáp lá cà vượt hào chiến luỹ
Quân Mãn Thanh khiếp vía chạy dài
Cúp đầu chúng chẳng vểnh tai
Xác quân giặc chết chất đầy thảm thay

Hứa Thế Hanh chết ngay tại trận
Trương Sĩ Long cũng chẳng hơn gì
Quân Thanh đại bại ê chề
Theo đê Yên Phụ chạy về Đông Quan

Giặc Mãn Thanh đầu hàng tan tác
Một cánh quân chạy lạc vào đầm
Chết vì ngựa đá voi dầm
Chết vì đói khát cạn dần binh lương

Đô đốc Long chặn đường lũ giặc
Dùng kỵ binh đánh gắt Đống Đa
Thâu đồn Khương Thượng về ta
Giặc Thanh khốn đốn phải ra đầu hàng

Sầm Nghi Đống cùng đường nhỏ lệ
Thắt cổ mình ở luỹ Nam Đông
Lính thì tên trúng trận vong
Chết hơn quá nửa, nửa làm tù binh

Nghe được tin ở thành Khương Thượng
Đã đầu hàng, binh tướng bị giam
Khiến Tôn Sĩ Nghị kinh hoàng
Kéo quân chạy trốn qua đường cầu phao

Cánh Vân Nam vừa vào cửa ải
Nhận được tin thất bại bàng hoàng
Tổng đốc Lưỡng Quảng vội vàng
Thu quân tháo chạy theo đường Nam Quan

Lê Chiêu Thống theo chân tổng đốc
Cùng tàn quân xâm lược Mãn Thanh
Chạy về đến được Yên Kinh
Lưu vong đến thác giận mình ngu si

Từ Trang Tông đến Lê Chiêu Thống
Mười tám đời tổng cộng hai trăm (1533-1789)
Sáu lăm năm (265) cũng đủ làm
Triều Lê hưng thịnh nước Nam một thời

Ngày mùng bảy tháng giêng Kỷ Dậu (1789)
Giữa kinh thành còn dấu chiến tranh
Gò đồi đầy xác quân Thanh
Đường in vó ngựa, trên thành cờ bay

Tiết Khai Hạ, vua bày trước trận
Lễ ăn mừng chiến thắng quân Thanh
Áo bào khói súng bám quanh
Trên mình bạch mã long lanh giáp vàng...
 
                                                 HỒ ĐẮC DUY
                                 (Trích thơ Quang Trung Hoàng Đế)
 
Nguồn : thivien.net 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

VỀ MỘT MÙA XUÂN DỰ TƯỞNG - Hoài Diễm Từ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
tạm thời đưa em về bên đó
thắp ngày vui rũ sạch áo hoàng hôn
ta sẽ lấy nhau như những tin đồn
tiệc thời gian mượn mùa xuân làm chứng
 
gió bớt lạnh bởi có tình hâm nóng
trời có buồn mây trắng sẽ làm quen
ta sẩy chân vào chốn ưu phiền
hãy bình tĩnh ướp đời nhau bát ngát
 
hãy thong thả mở phơi tình tươi mát
đợi bướm về ăn cưới những cành hoa
anh sẽ đưa em đi hỏi từng nhà
tìm tuổi thơ lầm than trong trí nhớ
 
ta dắt dìu nhau trở về quê cũ
thả thuyền con cùng khai hội dòng sông
em đừng quên hát mừng tuổi ruộng đồng
vì mái tóc chở đầy hương lúa mới
 
tạm thời gửi mùa xuân về bên đó
nắng chia vui lộc biếc nở đầy cành
trong trái tim giáp mặt những đường ranh
những ngã rẽ đưa người chung một lối
 
không còn ai trong tình buồn đứng đợi
em thẹn thùng tô một chút son tươi
tựa vai anh trang điểm lại môi cười
lòng ấm cúng như mặt trời mới mọc
 
em xõa tóc đắp hồn nhau thơm ngát
anh bỏ phố rêu bỏ núi bỏ rừng
cầm tay em soi bóng xuống dòng sông
nghe vũ trụ nói tình yêu thành thật.
 
                                          HOÀI DIỄM TỪ 
 
(Trích từ giai phẩm Xuân Hồng 1973)
 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

NGÀY XUÂN ÊM ĐỀM - Võ Hồng

Chiều hôm ấy khi đi học về, An thấy trên ven mép sân vừa trồng một hàng cúc vạn thọ. Mừng quá, An không kịp bỏ mũ sách, nhảy tuốt ra nhà sau tìm chú Ba.  

- Chú Ba ơi! Chú Ba! Chú trồng vạn thọ hả chú? Gần tới Tết rồi hả chú Ba?

Câu trả lời của chú, An đoán trước được nhưng An vẫn thích hỏi. Còn ai vào đây trồng hoa nữa? Ba, bốn năm nay từ khi An có trí khôn, An thấy cứ gần Tết là chú Ba đi xin cây vạn thọ hoặc ở chùa Châu Lâm hoặc ở vườn thằng Kiết về trồng một hàng quanh mép sân. An không biết xem lịch vì lịch in bằng chữ nho, cuốn lịch cha nó treo ở khung cửa sổ bên cạnh cái bàn toán. An cũng không lưu ý tìm xem tháng này là tháng mấy. Đối với tâm hồn ngây thơ của nó, cảnh và vật nói nhiều hơn tháng ngày. Nghe con tu hú kêu nó nghĩ đến những chùm trái vú dẻ chín vàng ngọt lịm và nó nghĩ: "Tháng Ba. Mùa gặt tới". Nhìn bà hàng gánh đôi thúng xếp đầy những trái bắp nếp luộc hơi nóng lên nghi ngút, nó cảm nghe mùi ngọt thơm của hột bắp dẻo nghiền tan dưới răng và nó nói thầm: "Tháng Tám rồi. Sắp mưa lụt". Còn ngày Tết thì luôn luôn được báo hiệu bằng dãy cúc vạn thọ.

An nhìn trìu mến dãy hoa vừa trồng. Mỗi cây đứng trong một cái lỗ khoét to bằng cái bát sứ. Cây cao hơn mặt đất không quá hai tấc và đứng gục đầu xuống, lá buông ủ rũ. An có cảm tưởng chúng nhớ đàn nhớ bầy, nhớ cái vạt đất nhỏ nơi đó người ta gieo chúng, nơi đó chúng lớn lên cạnh những anh em của chúng cùng một hoa mẹ sinh ra. Có đôi cây yếu quá tưởng như chúng không thể sống qua đêm nay. Sự lo lắng thương hại của An khiến nó thấy cái thái độ lầm lì lạnh nhạt của chú Ba là đáng ghét. Người lớn trông họ vô tâm đến tàn ác. Mấy cây hoa đau đớn ủ rũ thế kia mà họ vẫn có thể thản nhiên bỏ đứng bơ vơ một mình không săn sóc đến. Đêm đến, khi leo lên bộ ván gõ nằm ngủ, An cứ loay hoay nghĩ về mấy cây hoa đáng thương. Và mới sáng tinh sương khi bừng mắt dậy, nó đã nhảy vội ra sân thăm từng cây hoa. Mừng quá! Dù có cây thân còn cong lại chưa đứng thẳng nổi nhưng cây nào đọt cũng xanh tươi, chỉ những lá gần gốc là héo sẫm lại mà thôi. Dăm ngày sau, cây bén rễ và tới một độ nào đó An không nhớ nữa, những cây hoa lớn vụt thật mau, đâm chồi thật nhiều. Những khoảng cách giữa các cây hoa trước kia trống trải mênh mông, giờ đã bị che mất bởi tàng lá.

Cùng với sự phát triển của dãy cúc vạn thọ, cái Tết như cũng lớn dần. Manh nha từ đầu tháng Mười một với những cơn mưa nhẹ, mưa gieo cải, cái Tết thấp thoáng mơ hồ với những rò cải, ngò, xà lách, tần ô nằm vuông vắn ở hầu hết mọi sân nhà. Cái Tết lớn lần lên với những bụi hoa, vạn thọ, cúc đại đóa, thược dược phát chồi sum suê và bắt đầu ra nụ. Càng đi sâu vào ngày tháng, cái Tết càng hiện rõ thêm, in dấu vết trên mọi cảnh mọi vật và mọi hoạt động của con người. Chữ Tết được nhắc đi nhắc lại một cách thân mến êm đềm trong mọi trường hợp sinh hoạt ở gia đình. Cha nói: "Mấy dây dưa leo chắc ra trái không kịp Tết. Bậy quá. Bị mưa làm thúi giống gieo kỳ trước". Mẹ nói: "Thằng Ba coi chừng mấy con gà thiến. Để qua nhà lão Dần chó cắn chết thì nghỉ ăn Tết đó nghe?" Ở lớp học bạn khoe với nhau: "Tết này tao được đi thăm cô tao ở Phước Lãnh... Bà ngoại vừa gởi cho mẹ tao một trái bí đao to để làm mứt Tết." Ở ngoài đường, chữ Tết len lỏi trong những câu chuyện: "Chợ Tết mà ế quá, tháng Chạp thiếu, hăm Chín lấy làm Ba mươi, chạy Tết cũng mệt... Tết năm nay ở Phú Mỹ có bài chòi..."

Thôn Quảng Đức đa số làm nghề gốm và buôn vôi thế mà sự sinh hoạt cũng hối hả theo cái đà của ngày Tết cứ sừng sững đến gần. Đồ gốm sản xuất ra, chở đò dọc đem bán ở các chợ xa: chợ Đèo, chợ Đồng dài, chợ Gò chai, chợ Gành, chợ Thứ... tiếng ốc tù-và của chủ đò thúc khách quá giang chuyển hàng cho gấp xuống đò vang lên trong đêm khuya. Càng gần Tết sự mua bán càng hối hả rộn rịp nên chợ nào cũng vãn chậm. Đò xuôi chở khách về cũng mãi khuya mới tới bến. Bến đò thành ra ồn ào rộn rịp suốt đêm. Những cây đèn chai làm bằng một đoạn tre trong tẩm dầu, cháy rực sáng cả bực sông, in ngược bóng xuống nước rung rinh, lóe đỏ cả một vùng.

Trên con đường đi xuyên qua xóm, những dáng người gánh gồng vội vã đi chập choạng theo ngọn đèn chai cầm lắc lư dưới tay. Đèn chai ở đây là một cái đèn dầu nhỏ được một nửa cái chai ụp lên để chắn gió. Tiếng chuyện trò lanh lảnh vang trong đêm, hối hả theo bước chân chuyển từ đầu xóm sang cuối xóm. Trong đêm tối mà mọi vật như xóa nhòa hết cả hình nét để tan vào bóng đen, mà mọi sinh vật đều như mỏi mệt, tiếng nói chuyện tỉnh táo rõ ràng dường giữ đủ cả sắc cạnh. Ở dưới bước chân, bóng người in đen được phóng đại ra, nằm trải xuống mặt đường, nằm vắt qua bờ rào, chập chờn di chuyển theo bước đi.

Một bữa An thấy chú Ba hí hoáy nắn một vật gì trông tựa cái lưỡi cày mà bằng đất sét. Chú lấy mũi dao liếc thật nhẵn mặt. Chỗ tay cầm cũng được gọt thật đều. An hỏi:

- Chú làm cái gì vậy?

- Tao làm cái bàn ủi.

- Làm bàn ủi để chi vậy chú?

- Để ủi quần áo chớ chi.

Giọng nói của chú lơ đãng. Trong giọng ấy còn có vẻ tự phụ vì chú nheo mắt ngắm nghía ra dáng bằng lòng lắm. Rồi chú nói chậm rãi tiếp theo, như nói với cái bàn ủi chứ không phải nói với An:

- Mốt tới phiên lò ông Hương Lạc đem gởi nung. Chín rồi lấy ra đem ngâm nước. Thế là giặt quần áo để sẵn đó. Đem đặt bàn ủi lên lò than nóng rồi cứ vậy mà ủi lên mặt quần áo. Quần áo dầu cũ mà trông như mới.

Cũ mà trông như mới! Thật là kỳ diệu, An nghĩ. Nó nhìn xuống cái áo cũ nó đang mặc, tưởng tượng rằng cái áo ấy sẽ mới và nó ngó sang cái bàn ủi một cách khâm phục. Cái bàn ủi ấy được mang đi nung, điều ấy quả có thật. Chính mắt An nhìn nó chuyển từ màu xám của đất phơi sang màu hồng nhạt của đất nung. Cũng lại chính tai An lắng nghe tiếng "boong boong" khi cầm nó lên để gần tai, cung ngón tay gõ nghe thử. Nhưng chắc chắn là An chưa hề thấy chú Ba dùng nó để ủi cái áo của chú cho từ cũ hóa "như mới". Có lẽ chú đã lén thí nghiệm nhưng bị thất bại nên sau đó chú không tuyên bố gì ráo.

Ngày hăm sáu tháng chạp phiên chợ Hôm, mẹ nói:

- Hôm nay An có đi chợ Tết không con?

An vội vàng như sợ ai kịp phản đối.

- Dạ có. Lát nữa thằng Tòng lại rủ con đi.

Tòng là bạn học lớp Tư của An. Vì sao mà quen thân nhau, An cũng không nhớ rõ vì nhà Tòng ở mãi tận Hội Tín đi học khác đường mà tính tình thì hai đứa không giống nhau. Cha Tòng làm thầy phù thủy. Có lần nó rủ An đến nhà chơi thấy gian nhà giữa đầy những tượng, những hình ông thần, ông tướng, những cờ những đèn, trống chiêng, thanh la, não bạt khiến An sợ khép nép không dám vào. Cha Tòng có một cái trán quá cao. Nhìn gần thấy chân tóc mọc nên An biết trán cao là vì tóc bị cạo. Sau này lớn lên được biết nhà Tòng vừa làm phù thủy vừa hát bội, - hai nghề này có họ hàng với nhau vì hò hét điều động âm binh cũng là một cách hát bội, - nên cha Tòng phải để trán cao mà đội cái mão. Lúc Tòng lớn, Tòng nghỉ học sớm và kế nghiệp cha. Cái trán của Tòng cũng được cạo lên thật cao và chân đi chữ bát. Lúc nói chuyện là hai tay vung vẩy như múa. Đó là kết quả của nghệ thuật tiêm nhiễm vào cuộc đời.

An thay quần áo xong thì Tòng đến. Tòng mặc quần trắng và áo cụt lụa màu hồ thủy. Những nếp gấp làm hai ống quần lép lại và gãy ra làm ba. Tòng đội một cái khăn lông màu vàng nghệ có chạy sọc xanh đỏ. Úp lên trên khăn lông là cái mũ kaki. Trông Tòng nửa giống như một chú nhỏ ở trong tranh vẽ, nửa giống như một tên lính Tàu thời cổ. Chắc Tòng chịu ảnh hưởng của những tấm tranh màu treo la liệt trên tường nhà nó.

Đường xuống chợ có nhiều chỗ lõm thấp xuống, đó là khi con đường đi sát cạnh những cái bàu nước. Mỗi bàu nước mang một tên bí mật: bàu ông Chì, bàu ông Lôi. Mỗi lần đi qua một cái bàu, An khép nép đi sát vào Tòng vừa liếc mắt xuống mặt nước đầy rong, ấu xanh um. Những gốc tre già xám đen, những thân cây sung cong vẹo in bóng xuống mặt nước làm cho các tên ông Chì, ông Lôi được trùm trong một không khí rùng rợn. Người đi và người về tránh nhau trên con đường hẹp. Lũ trẻ con đi chợ về trên tay thế nào cũng có những món đồ chơi, hoặc con gà cồ bằng đất, khi thổi ở lỗ khoét ngang hông thì cất tiếng gáy "côô... côô" hoặc con "chút chít" khi kéo ra đẩy vào thì phát ra tiếng kêu chút chít. Nhiều đứa hãnh diện cầm những ghim pháo tre, những bó pháo thăng thiên đi cạnh mẹ.

Đến gần chợ thì nghe tiếng mua bán xì xào vang lên. Thỉnh thoảng có tiếng pháo tre nổ "đùng" khiến trái tim của hai đứa như nhảy cỡn lên. Không ai bảo ai mà cả hai đều rảo bước.

Đến đây rồi, chợ Hôm! Những dãy lều mái bằng tranh rạ cột tre yếu ớt sắp chạy từng dãy. Có nhiều hàng bày bán ở giữa trời, như hàng trái cây, cá mắm. Hai cây đa to tỏa bóng mát cả một khu chợ. Lá đa dày san sát ở trên từng cao làm thành một vòm xanh lao xao cử động. Tiếng rì rào vừa phát tự dưới đất nơi người ta buôn bán trao đổi vừa phát tự trên cao do gió lay cành lá. An gặp chị Thắm bày bán đồ gốm ở gần gốc đa. Chị Thắm ở cạnh nhà An, hàng ngày vẫn sang giếng nhà An xách nước nhưng sao hôm nay trông chị lạ hẳn đi. Có lẽ vì chị mặc áo dài và đi guốc chăng? Hay vì đặt chị giữa cái khung cảnh lạ mà người chị trông cũng lạ đi. Những đồ gốm: ấm, chậu, hỏa lò, lon, vò, cây đèn, v.v... hàng ngày vì quá quen mắt An coi như không có giá trị gì nữa, coi như những đồ chơi vô nghĩa, thế mà người đến xem xét trả giá tấp nập. Chị Thắm đóng vai trò một cách rất nghiêm trang, từ chối rất quyết liệt, thách giá rất chắc chắn. Cái ấm cái chậu bỏ lăn lóc ở xung quanh hè nhà chị Thắm, thỉnh thoàng An lỡ đi vô ý đá phải ngã lăn, nay thấy người mua mặc cả giá từng đồng, móc túi đếm từng tờ bạc để trả và cuối cùng nâng niu xếp lên rổ bưng đi. Tòng nói:

- Tụi mình ra hàng pháo coi.

Hai đứa cầm tay nhau đi. Hàng pháo ồn ào nhất nên không mất công tìm. Nó ở cách biệt ra một góc chợ xa những hàng khác vì tiếng nổ không ai ưa, nhất là những người đi chợ hầu hết là đàn bà. Bác bán pháo là một người đàn ông vạm vỡ. Chỉ bán có pháo tre và pháo thăng thiên, bác đựng trong một cặp bồ lớn. Một số pháo bày làm mẫu được dàn trên một chiếc chiếu nhỏ. Người mua pháo bắt đốt thử. Bác tháo ở gắp tre lấy một chiếc pháo, bóc giấy (miếng giấy xanh đỏ dán đè lên ngòi) rồi đặt lên một tấm gạch cách xa bác một sải tay. Bác cầm cây hương cháy châm lên ngòi. Ngòi pháo xì khói, bác quay mặt sang một bên và một tiếng nổ "đùng" rền lên, chát tai. Xác pháo là một vòng nan tre bị cháy xém bay tung lên cao rồi rớt xuống.

Hàng hoa quả không hấp dẫn bằng ngày thường vì không có những miếng mít múi vàng óng ả, những trái mãng cầu nứt gai chảy mật, những quả ổi thơm, những trái xay, trái sim, trái đát. Hôm nay người ta chỉ bày bán những nải chuối xanh mà chuối xanh thì trẻ con không thích vì không ăn ngay được. Trẻ con không có tính kiên nhẫn đợi chờ. Ngày thường mẹ đi chợ về An lật rổ ra coi mà thấy bí thấy rau thấy cá là An ghét lắm. Kẹo, mít, bánh rán... mới là những món An hoan nghênh. An và Tòng đưa nhau sang hàng thịt cá. Thật đáng thương hại cho những bà hàng này quanh năm phải bán y một món không thay đổi. Áo quần thì đen đủi, món hàng thì tanh tưởi, thật không có một vẻ Tết vẻ xuân nào cả. Chẳng bù với hàng bánh mứt họ bày bán trong những cái quả sơn quang dầu đỏ thắm trông vui như những đám cưới. Các cô bán mứt đều xinh, tóc vấn trần chải dầu dừa láng mượt, áo dài vải trang đầm bó sát người.

Kề ngang hông chợ là dãy phố Hoa kiều. Đó là tiệm chú Năm Heo và tiệm ông Ngâu. Khách vào ra đa số là đàn ông đi mua rượu, tranh sơn thủy, chén bát, nho táo. Tiệm chú Năm Heo bán thuốc bắc. Những người đến cân thuốc xách đu đưa những gói thuốc bước ra khỏi tiệm, mặt trông buồn giữa cái khung cảnh nhộn nhịp của ngày xuân vui. Chọn ngày Tết để đau bệnh thật là không phải lúc.

Đi loanh quanh một lát hai đứa đã bắt đầu chán. Chợ ngày Tết khi chưa tới xem thì thấy háo hức là thế nhưng đi lại đôi vòng chúng đã khám phá hết mọi bí mật. Sự thỏa mãn có pha một ít chán chường như khi đọc một cuốn truyện cổ tích được người ta quảng cáo là hấp dẫn nhưng đọc xong một lượt thấy không còn thèm thuồng nữa. An nhìn trở lại khung cảnh chợ. Những dáng người đi lại chen lấn, cúi xuống lựa chọn mặc cả, những tiếng xì xào, ngay cả đến bóng rợp của cây đa cao An đều thấy quen thuộc hết.

Ngày hăm bảy tháng Chạp chú Ba đi hái lá me và trái me về giã nhỏ ngâm nước chùi đồng. Công việc thật nặng nhọc vì những bộ lư đèn ở ba bàn thờ tổ đều to lớn bề bộn. An cũng xen vào công việc cho vui nhưng chỉ chùi được những cái hộp thau mặt nhẵn. Nắp lư hương có hình con lân con phụng bị chú Ba hắt hủi nhất vì những kẹt khó chùi. Người đầy tớ phải lau dọn săn sóc thật khó có thể đồng quan điểm với người thợ đúc khéo tay và người chủ nhà yêu mỹ thuật. Việc quét nhà cuối năm cũng không kém nặng nhọc. Chú Ba bắc thang leo lên rầm cao, cầm cái chổi có cán dài để quét bụi và mạng nhện ở mái nhà. Chú bịt đầu bằng một cái áo đen cũ. Lúc bước xuống thang, mặt chú mốc thếch vì bụi trông lạ hẳn và như già đi.

Mẹ lo rim mứt. Hết chảo này đến chảo khác, mẹ ngồi trở mứt, mứt bí, mứt gừng, mứt chanh, mứt dừa... mà không hề la mỏi. Có đêm An mơ màng ngủ mà hễ chợt dậy là vẫn thấy mẹ ngồi cạnh chảo mứt cầm đũa đảo qua đảo lại. Tiếng nước đường sóng sánh. Hình như cả đêm mẹ không ngủ. An nghĩ: chỉ có mình là sung sướng nhất, chẳng phải làm gì hết. Thế mà lại được ăn nhiều nhất. Những miếng mứt vụn An ăn từ hồi còn dẻo. Khi mứt khô vớt ra nia phơi thì An vét chảo ăn đường. Chỗ nào có An là có cặp tay phá khuấy và cái miệng ăn không ngớt.

Ngày hăm chín gói bánh tét. Lại cũng chỉ mẹ và chú Ba là bận rộn. Những đòn bánh to bằng bắp vế thế mà cũng do mẹ thoăn thoắt sắp lá, đong nếp, đổ đậu xếp nhân thịt, gói, buộc lạt. Chú Ba ngồi cạnh phụ tay. Cha trông vậy mà cũng dở. Cứ đi lên đi xuống ngó chừng và nói vô ích làm mẹ mất công trả lời. Chẳng hạn:

- Đừng buộc chặt tay quá kẻo bánh không chín đều. Hôm đám giỗ ông nội bánh bị sống...

Cha bỏ lửng câu thì mẹ nói:

- Nhớ rồi.

Chẳng hạn:

- Còn dư nếp đủ gói một đòn nữa. Thế là một, hai, ba, bốn... đúng mười hai đòn cả thảy.

Mẹ nghe cha nói, miệng vừa cắn một đầu sợi lạt một tay cầm đầu kia xiết cho chặt vừa đưa mắt nhìn xuống số đòn bánh tét mà cha vừa đếm. Quả cha đếm không sai, nhưng số bánh không nhờ cha đếm mà tăng thêm. Cha chỉ làm được một việc mà An thích: đó là chôn một cột trụ giữa sân để chong cây đèn gương. Có lẽ cha cũng sẽ sai chú Ba đào lỗ chôn nếu chú Ba không bận tay. Cái đèn hình lục lăng, tối thắp lên sáng cả sân, đứng làm bạn với An khi nó phải trèo lên nằm ngủ trên chiếc ván gõ rộng ở nhà trên.

Những ngày mùa đông, gió mưa lạnh trời tối đen như mực mà một mình nằm ở nhà trên rộng mênh mông thật là cô đơn. Lắm lúc An có cảm giác rờn rợn rằng thân mình đã tan ra để lẫn mất vào bóng đêm. Khổ nhất cho An là khuya chợt thức buồn đi tiểu mà lò mò mãi trong bóng tối không biết cửa ở về phía nào để mở. Trẻ nhỏ nằm ngủ trên bộ ván rộng thì tha hồ mà quay. Đến chừng tỉnh giấc nhắm chừng mò ra cửa nhưng lại cứ đi xông ngược vào bàn thờ. Rờ chỗ nào cũng thấy những bàn những ghế. Sao mà lắm bàn lắm ghế vậy? Đêm nay nằm nhìn ra cửa sổ thấy ánh đèn sáng, An vui quá không muốn ngủ nữa. Ở dưới nhà ngang còn nghe tiếng lục cục của mẹ làm việc. Hồi chiều chú Ba làm thịt một lần hai con gà cồ thiến và ba con vịt. An lẽo đẽo theo đứng một bên để nhìn, An hỏi:

- Sao giết gà vịt một lần nhiều vậy chú?

- Chớ mày muốn để sáng mồng Một sát sinh hả? Làm thịt bữa nay để cúng hai bữa.

An nhìn dòng máu đỏ chảy từ cái vết cắt ở cổ chảy ròng ròng xuống cái bát, nhìn những cặp mắt mở to rồi mờ dần yếu dần cho tới lúc nhắm hẳn. Cái chết đến im lặng, nhẹ nhàng như một trò chơi dễ. An thấy thương hại cho con gà cồ oai vệ, cho con vịt hiền lành. An chép miệng:

- Tội nghiệp mấy con gà, con vịt hở chú? Chú giết nó không sợ nó báo oán sao?

Chú Ba quay phắt lại liền:

- Thằng này dóc tổ. Tao thấy xào nướng bưng lên là mày gắp liền tay. Mày ăn thì nó báo oán mày chớ mắc gì đến tao?

An thấy chú Ba nói cũng có lý nên định bụng thôi lần này không ăn thịt gà thịt vịt nữa. Nhưng ý định đó An quên ngay khi chú Ba rửa ráy xong bưng rổ gà vịt đi mất và nó thẩn thơ đi tìm xem chuyện khác.

Sáng mồng Một tiếng pháo nổ rầm rầm làm An choàng tỉnh dậy. Hỏi chú Ba thì là pháo ở tiệm khách Tụn. Nhìn vào bàn thờ thấy đèn sáp thắp sáng trưng và cha đã khoác áo chỉnh tề đứng khấn rì rầm. Trông cha uy nghiêm thật phù hợp với cái không khí nghiêm trang nơi đây. Để tăng thêm vẻ đường bệ, mọi cử chỉ của cha đều chậm chạp: rót rượu, châm nước, đốt hương, sửa nến. Cha đọc từng hàng chữ nho: "Đại Nam quốc, Phú Yên tỉnh, Tuy An phủ, An Sơn tổng..." chú Ba đem pháo tre ra đốt. Chú thích pháo nhưng nhát không dám cầm cây hương đốt mà phải cầm một thanh củi dài có đầu lửa đỏ. Mười tiếng nổ đùng liên tiếp, tiếng nào tiếng nấy bưng tai. Mẹ nói:

- Pháo năm nay hay.

An ngạc nhiên. Trông bộ mẹ lục đục suốt ngày như chỉ biết chú ý đến công việc làm thế mà không ngờ mẹ cũng lưu ý đến tiếng pháo vui chơi. Cha tươi cười vì câu nói của mẹ ngầm ý bảo: năm nay làm ăn có hy vọng khá vì pháo nổ chắc tiếng. Cả thôn Quảng Đức chỉ có chú khách Tụn đốt pháo dây còn thì các nhà khác chỉ đốt pháo tre, có nhà mươi tiếng, có nhà ba tiếng, năm tiếng.

Vừa bảnh mắt đã có mấy tay cầm cái xóc dĩa chia nhau từng chặng trải chiếu trên con đường xóm. Lũ trẻ con bâu quanh liền. Chú Ba bôn chôn ra mặt khi nghe tiếng bốn đồng tiền rủng rẻng của hàng xóc dĩa tổ chức ngay ở góc rào nhà. Chú ham đánh xóc dĩa và ích-xì hơn ăn mứt ăn bánh. Chú cứ đi ra đi vô như người mất hồn. Khổ cho chú hơn nữa là ở ngoài góc rào tiếng lũ nhỏ cứ reo lên :

- Bán chẵn này.

- Lạy trời ra cái lẻ nữa đi.

- Đặt bên chẵn một tiền rưỡi.

- Lẻ! Lẻ! Coi chừng nhà cái chạy làng.

Đường cái vang lên tiếng guốc. Nghe tiếng guốc có thể đoán biết được người mang. Tiếng guốc lỏng cỏng gõ vội vàng là tiếng chân của một đứa bé mới tập đi guốc lần đầu. Tiếng guốc chậm chạp thỉnh thoàng dừng lại là tiếng guốc của người mẹ, người chị đi kèm lũ trẻ. Tiếng gõ chắc chắn nện mạnh trên nền sỏi là tiếng guốc của người đàn ông. Con đường sỏi đá gập gềnh làm nhiều đứa nhỏ đi trượt guốc cứ phải tụt lại đằng sau đứng sửa. Lắm đứa đã chán với cái trò chơi đi guốc rồi nên cặp guốc lại cầm ở tay và đi chân đất như thường ngày. Lối đi này thoải mái dễ chịu hơn cả.

Đường cái rộn rịp nhưng nhà cửa thì vắng vì cửa ngõ cửa ra vào nhà ai cũng đóng im ỉm hoặc mở he hé. Xóm làng thành ra mang một vẻ uể oải giả dối. Vì ở đằng sau cánh cửa đóng là cả một sự hoạt động rộn rịp.

Gần trưa, cha An tiếp những ông khách lễ mễ trịnh trọng trong những cái áo dài đen và cái quần trắng. Những ông nhà nông mà thường ngày mặt mày không lúc nào khỏi đầy bụi bặm, râu ria tua tủa, áo vải to dày cộm thấm đầy mồ hôi, hôm nay mặc áo quần mới trông trẻ và đẹp ra. Nhưng An không thích nghe tiếng chân ghế kéo chạm vào mặt đất khi khách sắp ngồi và khi khách đứng dậy sửa soạn ra về. Những câu chuyện trao đổi giữa cha mẹ và các người khách cũng vậy. Toàn nói những thứ gì An không hiểu, thế mà họ cũng cười với nhau một cách thích thú thành thật. Những lúc này An tỉ tê theo gợi chuyện với chú Ba. Những điều An hỏi, chú Ba đều trả lời được hết:

- Sao đánh xóc dĩa, chị Lượm đặt tiền lại quay thành một vòng ở dưới chiếu hở chú? Sao không đặt một ụ như người ta?

- Hễ nó ngồi bên phía chiếu lẻ mà nó muốn đặt chẵn thì nó đặt tiền quay thành một vòng. Nếu nó để thành ụ, thành đống thì tức là nó đánh lẻ.

- Sao chị ấy không đặt sang bên chiếu chẵn cho nó tiện?

- Tại ngồi xa nó với tay không tới.

- Họ chúc Tết "bách niên dai lão" là sao hở chú?

Chú Ba vừa nhai miếng cốm vừa nói:

- "Dai" lão là sống dai.

An hết thắc mắc, vói tay vào dĩa lấy một miếng cốm ăn theo chú. Đây là phần bánh mứt mẹ sớt vào một dĩa lớn dành cho chú. Trong số những vò, hũ, chum... bỏ trống ở nhà bếp, chú chọn một cái vò để cất dĩa bánh mứt vào đó. Khi đi chơi về, hoặc vào trưa, hoặc lúc khuya, chú mở vò bưng dĩa ra lấy ăn. An chia phần với chú và ăn thấy ngon hơn là khi ăn chung với cha mẹ.

Ngày mồng Hai cha nói:

- An có muốn theo cha xuống núi Một thăm ông Cửu Nghiệp không?

An mừng quýnh trả lời vội vàng:

- Có.

Ông Cửu Nghiệp giàu nhất vùng và nhà ông xây hai từng. Suốt một phủ Tuy An chỉ có bà Cửu Phần và ông Cửu Nghiệp là ở nhà lầu mà thôi. Ông là chỗ bạn thân của cha nên mỗi khi đi ra tỉnh tiện đường ông đều ghé nhà. Cha tiếp ở nhà trên, ngay gian giữa. Hôm nay theo cha, An mặc áo dài đen cẩm nhung. Sự trịnh trọng này do một ngẫu nhiên may mắn mà có được. Số là xấp hàng cẩm nhung cha đưa may cắt thế nào mà rốt cuộc còn dư lỡ cỡ một đoạn. Tính toán đủ lối vẫn không có cách nào dùng được cả nên cuối cùng mẹ đề nghị: để may cho thằng An cái áo dài. Đó là cái áo dài đầu tiên của nó. Bước ra đường, An được lũ trẻ trầm trồ nhìn. Hơi ngượng một chút nhưng mà thầm thích thú. Con đường hôm nay không chỉ có những người đi rong chơi mà còn có nhiều người đi làm ruộng. Người ta đã cởi bỏ bộ quần áo mới như còn nuối tiếc nên vẫn cố giữ hoặc một cái quần hoặc một cái áo vải mới. Thân người nửa mới nửa cũ hóa ra màu cũ trông tàn tạ thêm. Cày cuốc ngự trên vai.

Đi qua khỏi xóm thì tới cánh đồng Hòa Mai. Ruộng đang mùa cày bừa trông thấp hẳn xuống. Vài đám mới cấy, bụi lúa cắm như chân hương vàng vọt. An thường quen mắt với đồng lúa mướt màu xanh, lá lúa gợn sóng hoặc cánh đồng lúa chín vàng hạt lúa nặng làm gục đầu thân lúa nên trông cánh đồng hôm nay có vẻ trần truồng. Con đường ruộng, từng chặng, nhầy nhụa những khối bùn do các cô thợ cấy ném lên khiến An phải đi rón rén cẩn thận. Đưa mắt nhìn quanh sang các xóm làng bao quanh cánh đồng, An thấy chỗ này chỗ kia có từng đoàn người đi, màu áo đen trên điểm nón trắng. Thỉnh thoảng nhô lên cái ô đen. Nó lẩm nhẩm lẫn lộn không biết đó là Hòa Tú hay Hòa Chiểu, phía kia là Hà Yến hay Trường Xuân. Cha chỉ một xóm trước mặt, nói:

- Núi Một kìa.

Đó là ngọn núi thấp nằm dài, mình mang đầy cây cối xanh um. Dưới chân núi các nông trại chia nằm rải rác từng nhóm. Theo tay cha chỉ, An chú ý nhìn vào khu vườn nhà ông Cửu Nghiệp xanh um màu tàu chuối tàu cau. Thân cau trắng mốc đứng vươn lên thành hàng song song. Nỗi vui được thấy cảnh lạ làm An quên nghĩ đến con đường còn lại phải đi. Thoáng mới đó mà đã giã từ con đường ruộng để bước lên con đường đá đánh vòng đai núi Một. Những bụi gai thấp, những chùm táo nhơn thưa, những thân chuối rậm rạp xanh mướt trông quen thuộc.

Bước vào vườn chuối, An thấy êm mát vì ánh sáng lọc qua lá chuối non đổ xuống xanh xanh. Thân chuối bụ bẫm đứng cao vút như muốn vượt theo thân cau. Ở vườn nhà, chuối thấp hơn và thân cau cũng gầy hơn. An nghĩ thầm: "Cái gì của ông Cửu Nghiệp cũng oai". Những cây mít mang trên mình đầy trái. Trái lớn quây quần dưới gốc còn rải rác trên thân cây là những trái hạng vừa nằm thưỡn dài trông như những cái vú chảy. Bưởi cam cũng không thiếu. An thèm thuồng cái địa vị của người con ông Cửu Nghiệp được sống giữa những món ăn ngon này. Sao ở nhà nó lại chỉ có toàn những lúa và nếp thế? Có lần nó thỏ thẻ so bì với mẹ:

- Nhà con Bông làm kẹo nên nó sướng hơn con. Kẹo bể là nó ăn. Véo chỗ kẹo dẻo nào cũng bỏ vào miệng được. Nhà mình thì chỉ toàn lúa nếp. Lúa ăn không ngon. Sao mẹ không làm nghề kẹo có sướng hơn không.

Mẹ cười mà không trả lời.

Tiếng chó sủa ồ ồ làm An giật mình. Tiếp theo, tiếng sang sảng vang trong nhà:

- Có đứa nào ra coi chó, bay.

Đúng là tiếng của ông Cửu Nghiệp, giọng chậm rải của người giàu không cần vội vàng. Người ở là một anh lực điền ra mở cổng. Ba con chó cao to như ba con bê nhảy xồ ra khiến An bấu vào áo cha. Cha vẫn đứng yên nhìn vào anh lực điền đang lấy tay gãi sau ót lí nhí thưa:

- Dạ thưa thầy xuống dưới này.

- Ờ! Có ông Cửu ở nhà không?

- Dạ có.

Cha ung dung bước vào khiến ba con chó đứng dạt ra. An bước theo, lây cái can đảm của cha. Ông Cửu Nghiệp ra đứng trước hiên vái chào. Ông đội khăn nhiễu đen, mặc áo xa-tanh màu lam dệt bông to, chân đi giày Gia Định. Cha cúi xuống chắp tay vái trả lại. Ông Cửu quay lại xoa đầu An và nói:

- Con đi xa có mỏi chân không? Để bác mừng tuổi cho con.

Ông móc túi lấy một cắc bạc trắng tinh đặt vào lòng bàn tay An. An lúng túng không biết nên làm sao. Chợt nhớ tới cha và ông Cửu chào nhau lúc nãy, nó chắp tay cúi xuống vái. Lát sau khi đã bình tĩnh lại nó thấy ngượng vì cái vái vô duyên. Đáng lẽ phải nói "Con cám ơn bác".

Cha và ông Cửu ngồi ở một cái bàn tròn trên xếp đầy những đồ dùng mà thoáng nhìn An đoán là rất quí, rất đắt tiền. Bộ bình trà có chạm rồng nổi mạ vàng. Ve rượu bằng thủy tinh trong suốt có một cái bầu rất thon và cái vòi nhỏ uốn cong dịu dàng. Ly rượu toàn viền vàng. Cái điếu thuốc lào khảm xà cừ với cần trúc uốn dài cong vút. Hộp trầu, khay kỷ, dĩa bánh mứt, tất cả đều choáng lộn hoặc màu xanh đỏ óng ánh xà cừ hoặc màu vàng quí phái hoặc màu trắng muốt nõn nà. An ngồi ở cái trường kỷ tay mân mê những chỗ chạm trổ hình rồng hình phụng. Quả hồng tàu ông Cửu cho, nó nắm mà không ăn. Nó cứ đưa mắt nhìn cái nhà rộng thênh thang với cái trần cao trong bày biện toàn những đôn, lọ, sạp, ghế. Nó nhìn lại ông Cửu thấy ông bé quá so với cái nhà. Để che nắng che mưa chắc chắn ông Cửu không cần một cái nhà to như vậy. Nó chợt thấy khâm phục con người nhỏ nhắn mà có thể tạo tác ra một công trình to lớn dường ấy. Ở đằng bàn tròn, ông Cửu và cha chuyện trò tương đắc. Khói thuốc tỏa ra bao vây chỗ hai người khiến trông họ như ngồi sau đám sương mờ mờ đục.

Khi cha đứng dậy cáo từ, ông Cửu nài ở lại nhưng cha lấy cớ ngày Tết có khách đợi ở nhà nên không chịu. An lãnh thêm hai trái cam ông Cửu cho, cúi đầu chào và theo bén gót cha. Ông Cửu đi tiễn đến mãi đầu đường mới trở lại. Khi còn lại hai cha con, An nói:

- Cha hẹn cho con coi lầu ông Cửu Nghiệp mà con không thấy lầu đâu cả.

- Thì nhà lầu đó.

- Nhà lầu gì vậy? Phải leo lên trên lầu mới gọi là lầu.

- À quên! Tao tưởng mày biết rồi. Nhưng mà... cũng vậy đó thôi, cũng như hai cái nhà chồng lên nhau.

Về đến nhà đôi chân An mỏi nhừ. Tuy vậy nằm nghỉ một lát rồi An lại nhập bọn với lũ trẻ và như thế là ngày mồng Hai nhẹ nhàng trôi qua. Mồng Ba cũng vậy. Ngày mồng Bốn cúng tiễn ông bà. Giấy tiền, giấy vàng bạc chất đầy nia to, chú Ba vừa đốt vừa nheo mắt tránh khói khiến cái miệng méo xệch. Chú lấy một xấp giấy vàng bạc phết hồ lên lưng từng tờ đem dán vào cái cối xay, cái cối giã, mấy cái chày, cái thúng, cái giếng, cái ngõ, cây mít... không biết có qui chế nào ghi rõ món nào phải dán không nhưng cứ xem vẻ mặt của chú khi cầm tờ giấy vàng bạc dính đầy hồ đứng lưỡng lự trước chuồng heo và cây ổi là An đâm nghi. Hình như chú phải kiếm cho ra món để dán kỳ hết xấp giấy vàng bạc. Được tờ giấy vàng bạc dán lên mình, mấy đồ vật tầm thường như có thêm linh hồn và đang dự vào một cuộc sống huyền bí. Trong lễ cúng tiễn, bao nhiêu pháo còn lại đều đốt hết. Bảy, tám đòn bánh tét cũng đem chất đầy ghế. An nhìn ánh lửa thiêu vàng mà bùi ngùi. Phải một năm sau mới gặp trở lại, một năm trọn vẹn vì cuộc hành trình mới vừa khởi đầu. An thấy buồn chán nản.

Tuy vậy, tháng ngày cứ nhẫn nại và lặng lẽ đi qua, như một lũ nhỏ cầm tay nhau đi vòng, đi mãi rồi thế nào cũng gặp lại chỗ cũ. An lớn lên dần và cái thôn Quảng Đức cũng già nua dần đi. Những ngày Tết nối tiếp nhau theo cái tốc độ chậm chạp của nó nhưng khi ngoái nhìn trở lại trong dĩ vãng, tính nhẩm số tuổi thì An lại thấy chúng đi mau. Mỗi lần Tết đến hoa cúc vạn thọ lại nở trước sân nhà, tiếng đồng tiền xóc dĩa lại rủng rẻng khắp ngõ xóm. Ngồi lần lại ký ức, An thấy yêu mến hết sức cái Tết năm đó An theo cha xuống thăm nhà ông Cửu Nghiệp. Ông Cửu Nghiệp là hình ảnh của sự sung túc, của cuộc đời an nhàn lý tưởng trong những ngày bé thơ của An. Sau đó chừng mười năm khi An lớn lên và phải đi học xa. An sống xa dần cái khung cảnh êm đềm ngày xưa và những người quen thuộc cũ. Một lần đột nhiên hỏi về ông Cửu Nghiệp, An nghe cha nói một cách bùi ngùi:

- Ông Cửu về ở trên Đồng Tranh từ năm kia. Nghe nói bây giờ túng lắm. Bà Cửu phải làm hàng xáo.

An tự xét:

- Ông Cửu giàu như vậy mà sao lại nghèo mau vậy?

- Vì mấy vụ kiện vẩn vơ, chuyện tranh giành ruộng hương hỏa tuyệt tự đáng lẽ có thể thu xếp ổn thỏa nhưng vì tức khí lại bị hương lý và lũ nha lại xui nguyên giục bị nên cứ theo kiện mà sạt nghiệp.

- Còn cái nhà lầu?

- Sở vườn đem thục để chạy kiện rồi đoạn mãi luôn. Cái nhà lầu bán cho chú khách Lê ở Hàng Dao. Ông Cửu phải về ở trên Đồng Tranh là quê của bà Cửu.

An buồn như nghe tin chẳng lành xảy đến cho người thân thích của mình.

Ngày chiến tranh bùng nổ, cái nhà lầu của ông Cửu Nghiệp bị phá hoại. Vôi gạch đổ xuống từng đống. Nền xi măng chú khách Lê cho người ta gặt nhờ để đạp lúa. Mỗi ngày gặt, được một giạ lúa cho thuê sân. An ngậm ngùi nhìn cái di tích của thời ấu thơ êm đềm nay không còn nữa, có còn chăng cũng chỉ ở trong cái ký ức bề bộn của chàng thôi. Lâu lâu khi có dịp, An ra đầu xóm đứng nhìn về chân núi Một. Chòm lá chuối lá cau xanh ngắt của vườn ông Cửu Nghiệp còn đó. Những thân cau vẫn một màu trắng mốc đứng vươn lên từng hàng song song. An tưởng tượng thấy ở nơi cái vườn sum sê hoa lá ấy những con chim sẻ vẫn say mê mổ thóc rụng, những con chích chòe vẫn nhí nhảnh chuyền trên cành lá lục lọi tìm sâu, những con chiền chiện vẫn mải miết tước lá cau lấy sợi về làm tổ. Ở dưới các con mương nhỏ mọc đầy khoai môn khoai sáp, lũ cá sặt cá rô vẫn tinh nghịch đớp mồi và lũ châu chấu cào cào vẫn xòe cánh mỏng màu lúa non mà bay sè sè trong nắng. Sự sinh hoạt của cảnh vật vẫn bình thản êm đềm, nhưng còn đâu nữa ông Cửu hào hoa và ngôi nhà lộng lẫy?

 
VÕ HỒNG      
 
(Trích từ tập truyện Lá Vẫn Xanh)