Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

NHỮNG NỖI KHỔ VỤN VẶT - Võ Hồng

Sự vui vẻ khá ồn ào của ông Chính khi nhận được công lệnh cử đi chấm thi khiến nhiều bạn đồng nghiệp của ông hơi khó chịu. Gặp ai ông cũng vội vàng bắt tay và bô bô hỏi thăm:

- Nào, năm nay anh đi chấm ở “centre” nào? Tôi thì phải đi Đà Nẵng.

Người đối diện đầu tiên của ông là Thương, một giáo sư trẻ. Thương đang có một nỗi buồn riêng nào đó, - chắc là vì tình, vì khi tuổi chưa quá ba mươi thì chỉ có ái tình mới làm cho người ta buồn lâu, buồn một cách thành thật và nghiêm trang, - nên chỉ khẽ nhếch một nụ cười xã giao vừa đủ.

- Dạ, cháu đi Phan Thiết.

- Được đi Phan Thiết hả? Ố là là! Phan Thiết Tổ sư nước mắm! (Đố ai biết Tổ sư nước mắm nghĩa là gì?) Hôm nào về nhớ mang về một chai nước mắm nhỉ ăn chơi nhé? Ngon tuyệt.

- Dạ.

Người giáo sư trẻ muốn được yên nên vội “Dạ” một tiếng chấm câu. Không hứa hẹn là sẽ có chai nước mắm nhỉ với tiếng “Dạ” kiểu ấy.

Sau một cái bắt tay, ông Chính đi vội vã về phía đầu bên kia hành lang. Đôi chân quá ngắn múa thoăn thoắt dưới một cái bụng khá to. Tính ông lại thích diện com-lê - cả ngày giữa mùa hè - nên cái bụng càng được đề cao, no tròn, bề thế. Ở đầu hành lang, đang đứng vẩn vơ một cô giáo. Áo màu tím nhạt có thêu rải rác những vũ nữ xòe váy bằng chỉ trắng. Cô giáo đang nhìn lên đọt cây phượng cao trước sân trường, trên đó ánh nắng xao động giữa những chòm lá. Ông Chính cất tiếng nói to:

- A! Chị Vân Anh.

- Dạ, chào bác.

- Kỳ này tôi phải đi Đà Nẵng đây. Còn chị về “centre” Huế hả? Thích nhé? Một công hai việc…

“Ai bảo với ông ta rằng mình được về Huế?” - Vân Anh nghĩ. Mình phải đi Tuy Hòa cơ mà. Cực chết đi mà. Còn một công hai việc là ngụ ý gì mà có vẻ bất lương thế? Nhưng nể người đồng nghiệp có tuổi, cô Vân Anh nắm hai bàn tay vào nhau trong một tư thế lễ độ, nghiêng mình lí nhí:

- Dạ cháu đi Tuy Hòa.

Tức thì ông Chính đớp lời ngay và reo to lên như chính ông vừa bảo đúng là Vân Anh được về “centre” Tuy Hòa:

- Tuy Hòa! Thú lắm. Thành phố Tuy Hòa đang xây dựng, có sông Đà, có núi Nhạn, có trường Nguyễn Huệ. À, ở Tuy Hòa mùa này có nhiều dưa hấu ngon lắm nhé! Tuy Hòa… (đến chỗ này ông giơ ngón tay chỏ chỉ đúng vào giữa trán và nhíu mày một cái nhưng dường như để lấy điệu bộ chớ không thật phải suy nghĩ gì hết)… Tuy Hòa đi ra Màng Màng, Hòa Đa rồi Tuy An, Chí Thạnh mà. Ồ! Thích quá.

- Cháu chán lắm. Đi xe lửa ra Đại Lãnh cháu sợ lắm. Cháu chỉ muốn được đi Đalat.

Vân Anh định nói thêm “Lẽ tất nhiên nếu Bộ bỏ quên không bắt cháu đi chấm ở đâu cả thì cháu thích hơn”, nhưng chợt nhớ ra rằng người đối diện với mình không đáng được thưởng thức một câu ý nhị như vậy nên Vân Anh không nói nữa.

Giã từ cô giáo Vân Anh, ông Chính đi vào văn phòng ông Hiệu trưởng. Cái lưng ông hơi cong lại một chút khiến cái cổ cũng co rụt bớt vào cổ áo sơ mi. Ông giơ tay ra trước nên phải đưa thêm một tay trái ra theo, mong xóa bớt sự đường đột có phần khiếm lễ đó đối với cấp trên.

- Thưa Cụ, năm nay Cụ lại đi chủ khảo ở một Trung tâm?

Ông Hiệu trưởng đưa mắt chầm chậm nhìn lên ông. Đôi mắt nheo nheo vì vừa từ giã những hàng chữ quá nhỏ. Ông đã có tuổi nhưng không chịu đeo kính lão. Cái ca-vát màu đỏ sẫm nằm ngay ngắn giữa cổ sơ-mi là cứng như cùng ra sức với ông bám sát lấy những tháng ngày thanh niên gượng gạo còn sót lại. Ông rất ghét tiếng “Cụ” già nua nên không thèm giấu một cái cau mày. Người ta có thể biểu lộ sự tôn kính bằng nhiều cách và người trên không ai chối từ sự tôn kính. Nhưng tôn là “Cụ” không có nghĩa khen tặng mến phục gì cả. Sống lâu không phải là một công tích đáng để hãnh diện mà trái lại, hầu hết người ta đều coi đó là một sự ân hận đáng tiếc. Nhất là ông Hiệu trưởng sau mười lăm năm góa bụa vừa cưới một người vợ vừa trẻ vừa đẹp. Chính do những mặc cảm dồn dập đó mà, sẵn nét mặt sa sầm, ông Hiệu trưởng trầm giọng nói:

- Năm nay tôi được nghỉ.

- Ồ! Quí hóa quá… Cụ được Bộ cho nghỉ năm nay cũng phải. Năm nào cũng phải chủ khảo hết thì sống thế nào được.

Ông Hiệu trưởng cúi mặt xuống một trang giấy đánh máy có đóng dấu son. Biết đó là dấu hiệu cáo từ nhưng ông Chính phải cười xã giao một mình.

- Năm nay tôi phải đi Đà Nẵng.

- Thế à?

Ông Hiệu trưởng hỏi mà không ngẩng mặt lên và đầu bút chì đỏ ông cầm ở tay vẫy không ngừng chạy dài, rất mau, trên những dòng chữ đánh máy.

- Thôi xin phép cụ.

- Không dám, chào ông.

Cái bắt tay lạnh nhạt tiếp theo. Ra khỏi phòng ông Hiệu trưởng, ông Chính gặp bác cai trường. Đó là một anh chàng nhỏ nhắn có khuôn mặt láu lỉnh đặc biệt của những chú lính lệ ngày xưa.

Cặp mắt mở thao láo, mi chớp lia lịa nhất là những khi anh đứng trước mặt thượng cấp hoặc những ngày thi cử, ngày nhập học, sân trường, cổng trường đầy những phụ huynh học sinh. Một cái mũi nhỏ nằm trên cái miệng cũng nhỏ. Hình như lúc nào anh cũng bận rộn công vụ. Trên tay luôn luôn có một cái cặp bìa các-tông dày gáy vải và chân bước vội vã, thoăn thoắt từng bước nhỏ. Khi có Thanh tra ở Bộ về khám trường thì anh tăng gia sự mẫn cán trong bộ y phục ka-ki màu xanh dương, kiểu đồng phục Thanh niên. Nhìn anh, người ta tự nhiên phải nghĩ đến một con chim sâu, một cái chong chóng đang quay.

Trên đời anh chỉ biết kính trọng có ông Hiệu trưởng trường anh, các ông giám thị và mấy ông giáo đi ô-tô. Mọi người khác anh đều coi là “anh, chị” hết. Ông Chính không đi ô-tô nhưng lại năng nói chuyện, - nào ai biết là nói chuyện gì, - với ông Hiệu trưởng và ông Giám học nên anh tỏ ý nể. Thấy ông ở phòng Hiệu trưởng đi ra, anh vội vã lớn tiếng chào:

- Xin chào Cụ. Năm nay cụ có đi chấm…

Ông Chính tươi cười liền:

- À chào anh. Năm nay tôi đi Đà Nẵng.

Ông vỗ vai anh một cái thân mật.

- Anh ở lại mạnh khỏe nhé?

- Dạ, cám ơn Cụ. Chúc Cụ đi đường sức khỏe.

Theo cái đà ấy, chỉ hai hôm là cái tin ông Chính đi chấm thi ở Đà Nẵng ai cũng biết. Những giáo sư trẻ ngầm hỏi nhau.

- Ông ấy dở hơi nhỉ? Chấm thi thì thú cái đếch gì? Ba tháng Hè chả được nghỉ.

- Ừ. Trẻ và độc thân như chúng mình thì mới còn lý thú đôi chút chứ lớn như ông ta…

- Hồi mình chưa cưới vợ thì mỗi kỳ nghỉ Hè mình thích đi chấm thi lắm. Vì có đi như vậy mới mong gặp ngày chuyện lạ, chuyện vui ở dọc đường. Những bạn đồng nghiệp, nhất là nữ đồng nghiệp ở từ các tỉnh tụ họp về sống gần gũi mươi ngày nửa tháng rồi giã từ nhau, hẹn năm sau gặp lại. Vui chứ. Nhưng từ ngày mình cưới vợ rồi thì… Lạ thật, đố ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì.

Chẳng ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì thật. Có người đoán là ông chán ngấy cảnh ngày hai buổi họp mặt với vợ con. Có người bảo là từ nửa năm nay sao thấy bà Chính bỗng già đi một cách đáng chán. Có lẽ do đó mà ông muốn đi tỉnh xa để ăn chơi cho bõ dăm mười ngày chăng? Có người nghi là ông đang chạy một áp-phe nào đó ở Đà Nẵng. Tính ông tháo vát, lý tài không mấy ai là không biết. Óc lý tài ấy không thể quên việc một người bạn cũ vừa được Chính phủ cử làm một chức vụ hành chánh cao cấp ở đây. Việc ấy chính ông đã bô bô nói cho anh em nghe, một cách lơ đãng thôi nhưng mà với bao nhiêu là cố ý và dàn xếp. Tóm lại mọi ức đoán đều không tốt cho ông Chính. Bởi không ai tin rằng sự hăng hái của ông là do tinh thần trách nhiệm cao cả của một nhà giáo có lương tâm. Trong khi đó thì ông hò hẹn với người này sẽ lên đường ngày ấy tháng ấy, rỉ tai với người kia rằng sẽ cùng thuê một phòng ở khách sạn nọ nhà hàng kia. Ông chạy đi dò hỏi giờ xe lửa đến, xe lửa đi, giờ tàu bay hạ cánh và cất cánh. Vì tất cả là nhà giáo nên không ai bảo ai mà mọi người đều tự nhiên nhớ đến anh chàng Tartarin.

Đột nhiên, một ngày trước ngày lên tàu, ông Chính lăn ra bệnh. Bà Chính cầm giấy chứng nhận của bác sĩ đến phòng ông Hiệu trưởng và nhờ ông gởi ra ông Chánh chủ khảo Hội đồng Đà Nẵng. Bà phàn nàn thay chồng:

- Thưa cụ, nhà tôi thật tiếc quá. Đến ngày đi thì lại ốm. Nhà tôi đã bao nhiêu lần bảo mặc cứ đi, nhưng bác sĩ cản lại không cho đi. Nhà tôi bảo mỗi năm Chính phủ chỉ nhờ mình một lần…

Ông Hiệu trưởng đằng hắng một tiếng khiến bà ngừng nói, đợi chờ ông ban ý kiến. Nhưng sau cái đằng hắng là tiếng gọi “Bác Cai!”, ông gọi thật to, như quát. Và bà vợ người giáo sư mẫn cán xin phép ra về.

Ngày lên tàu, mấy giáo sư tán chuyện gẫu trên sân ga.

- Được đi Đalat sướng mê đi, sao mặt mày buồn thiu như đưa đám ma thế kia? Lên gặp Minh Châu tha hồ mà đi hồ Than Thở.

- Nói nhảm. Minh Châu đi chấm ở Nha Trang. Mình vừa nhận được điện tín xong.

- Còn “bồ” sao cũng không vui?

- Chủ nhà nó đòi nhà lại để nó ở. Hết hạn báo thị rồi mà moa chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Bây giờ lại phải đi nửa tháng.

- Chỉ có ông bô Chính thích đi Đà Nẵng thì lại ốm không đi được. Bô ấy ốm gì nhỉ? Mới vừa thấy béo na béo núc ra ấy mà.

- Chả biết ốm gì, nhưng mà để bố ốm cho bõ ghét. Cái mồm cứ mỏng lèo lèo. Lúc nào cũng tinh thần, xung phong, gương mẫu…

Người ta không hiểu ông Chính. Khi phán đoán về ai, người ta thường hoặc quá khắc nghiệt, hoặc quá dễ dãi. Cả hai thái độ đều có chung một nguyên nhân là lòng ích kỷ. Phán người ta nhưng lại vì mình mà phê phán nên ý kiến không đúng với sự thật. Sự thật ở đây chỉ có ông Chính biết mà thôi. Sự thật đó là ông chẳng bệnh tật gì hết mặc dù có giấy chứng của bác sĩ. Sau khi gởi giấy xin phép nghỉ, ông Chính gọi vợ dặn nhỏ:

- Thật ra, tôi chả đau ốm gì. Chỉ vì năm nay thằng Liêm nó thi mà sức học của nó còn kém quá. Tôi phải tìm cách ở lại để lo cho nó thi đỗ.

Bà Chính há hốc mồm nghe rồi lơ đãng để rơi một tiếng “ờ”.

- “Thật vô vị là cái mụ nầy”, ông Chính nhíu mày suy nghĩ. Tưởng vợ tán tụng tài trí và mưu cơ của mình, ai ngờ mụ chỉ đờ đẫn buông thõng một tiếng chán đời ấy. Ông xẵng giọng nói:

- Để mọi người không ai đoán được ý định của tôi, tôi đã đóng kịch hăng hái hàng tuần lễ trước. Thế mà bà có biết đâu.

- Vâng.

- Vâng là cái gì?

Ông quắc mắc nhìn vợ hỏi.

- Nói với bà chán như cơm nếp ấy. Thôi, bà đi xuống.

Bà Chính tuân theo lệnh chồng một cách thản nhiên bình tĩnh. Gần hai mươi năm chung sống, mỗi lần nghe chồng bàn tính công việc, bà chỉ biết dùng chữ “vâng” chữ “ờ” như để chấm câu cho chồng nghỉ hơi. Không phải vì bà khờ nhưng mà vì bà biết chồng mình khôn ngoan lanh lợi mình không thể nào bì kịp. Đưa ra ý kiến nào cũng bị chồng chê là non, là vụng, rốt cuộc bà trở thành e dè, gần như thụ động. Sự thụ động trong tâm hồn đã ảnh hưởng mạnh đến thể xác của bà. Bụng và ngực sệ xuống, dường như những sợi đàn hồi trong các mô liên kết không còn đủ ý chí để thắt gọn lên được nữa. Mắt hay nhìn xuống đất và những khi phải ngó lên thì hai tròng đen nhìn lác hẳn đi. Ngày mới lấy ông Chính thì mắt bà đâu có lác nặng như thế? Giọng nói cũng mỗi ngày một uể oải rụt rè, rụt rè cả ngay khi bà sai bảo đầy tớ.

Hai ngày trước hôm thi, các giám khảo lục tục đến bằng chuyến tàu suốt từ Saigon ra và từ Huế vào. Ông Chính cần mẫn lên ga đón. Đối với những người quen ở trong nghề như ông thì việc nhận ra các giám khảo không phải là điều khó. Họ đi từng nhóm ở toa hạng Nhì xuống. Một chiếc va-li nhỏ trên tay. Trừ vài thanh niên láu lỉnh còn thì họ đều có vẻ mặt ngơ ngác lãnh đạm của người tri thức. Ông Chính xông vào một người đứng tuổi nước da mai mái. Bàn tay chìa ra trước khi tiếng nói theo kịp.

- Chào bác. Năm nay bác về chấm ở đây.

- Vâng ạ, kìa chào bác.

Ông Như, một giáo sư ở trường Trung học Duy Tân, vừa đón tay, vừa mỉm cười trả lời. Tới một địa phương gặp một người quen, không mấy ai là không thích.

- Thế bác không phải đi đâu cả?

- A… Tôi phải đi Đà Nẵng nhưng lại bị ốm hôm lên tàu.

- Ồ! Tiếc quá nhỉ? Trông bác có hơi xanh đi đấy.

Ông Chính giật nẩy mình. Mình xanh thật hay là ông bạn biết rõ bệnh dối của mình mà nói mỉa? Cả hai sự thật đều đáng ngại cả. Ông quay sang các giám khảo đang đứng vây quanh, vẻ mỏi mệt chờ đợi.

- Còn đây là…

Ông Như đỡ lời:

- Xin giới thiệu với bác, các giám khảo ở Phan Thiết ra… Các bạn này ở Đalat xuống… Còn đây…

Ông Chính phá ra cười liền khiến hai con mắt híp lại:

- À, biết rồi. Bạn quen cả mà, anh Hỷ, anh Tùng, anh Thuận. Các bạn vừa ở Nha Trang ra. À, có cả chị Ngọc Lan. Sao? Ở trường Nữ Trung học chỉ có một mình chị ra thôi à?

Người nữ giáo sư tên là Ngọc Lan trả lời quá nhỏ không ai nghe được. Vả lại người ta đang bận bắt tay, những cái bắt tay không hăng hái vì lặp lại quá nhiều.

- Mấy bác đã có chỗ trọ sẵn cả rồi chứ?

Nhiều người trả lời một lượt. Đại khái thì kẻ có người không. Nhiều người định ra phố thuê phòng. Một số ít định ghé lại nghỉ tại trường.

- Phải đó, - lời ông Chính, - chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị. À, xuống ngay trường Cường Để mới nhé? Trường cũ nóng lắm không chịu được. Xích-lô!

Mấy bác xích-lô đứng vây quanh các thân chủ tranh nhau lên tiếng.

- Dạ… Dạ…

- Chở mấy thầy xuống trường Cường Để mới nhé? Biết trường mới không?

Các giám khảo đã an vị trên xe xích-lô, ông Chính xoa tay nói:

- Thế là các bác đã có nơi chốn an ổn hết rồi. Không có bác nào đến ở với tôi cho vui.

Lời mời mọc lộ tính chất hình thức đãi bôi không được ai trả lời. Ông Chính quay lại tìm cô giáo Ngọc Lan. Nhưng lặng lẽ, cô đã lên xích-lô đi đâu mất từ lúc nào.

Khi chuyến tàu suốt ở Huế vào, ông Chính cũng lặp lại sự cần mẫn vừa rồi. Lần này ông không còn ngượng miệng như lần đầu, ông bảo: “Chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị”. Vì thật ra sự sắp đặt là do bác cai trường theo một lệnh của ông Tổng giám thị. Vả lại, có gì đâu mà gọi là sắp đặt? Cứ hai cái bàn học kê sát nhau làm một giường nằm, trên tường chăng bốn đường dây kẽm để mắc màn, thế thôi. Giám khảo đến ở tại trường thì ít và phần lớn là những người vô tâm. Họ chỉ cần sự tinh khiết của khoảng rộng.

Ba ngày thi lần lượt trôi qua. Thằng Liêm làm bài chả ra gì mặc dù ông đã bảo nó cứ nhìn sang bài của hai đứa ngồi cạnh. Nhưng ông tháo vát lanh lẹ bao nhiêu thì thằng Liêm hiền lành đờ đẫn bấy nhiêu. Nó sợ thầy giám thị, cô giám thị, sợ ông giám thị hành lang, sợ chủ khảo, sợ cả mấy ông lính mang súng đi đi lại lại ngoài sân trường nên nó chả dám nhìn ai hết. Bài nháp nào đem về đưa cho ông coi ông cũng la rầm lên làm nó càng sợ hơn. Rốt cuộc ông phải gọi giật bà lên để phân bua:

- Đấy, bà xem, nó học dở như thế đó.

- Thì nó học dở từ hồi giờ.

Bà thủng thỉnh trả lời.

- Ai chả biết là nó dở.

Ông nói gần như thét lên.

- Đã biết thế còn bảo tôi làm gì nữa? Nó bé oắt như con mắm thế kia mà ông cứ bắt nó học.

- Thôi dẹp bà đi. Chả bàn bạc được cái gì với bà hết. Nói ngang như cua ấy.

- Chả ngang thì…

Ông Chính đứng phắt dậy, đưa tay quyết tìm một vật gì ném xuống đất để biểu lộ cơn giận. Nhưng trên bàn chỉ toàn những vật có thể vỡ được, chẳng hạn cái tách, lọ mực, bình hoa. Ông đành phải chọn lấy tập báo ném phịch xuống đất rồi la lên:

- Thôi, tôi không nói với bà nữa.

Và ông bỏ vào giường nằm.

Các hội đồng giám thị ở Tuy Hòa, Quảng Ngãi đã tập trung đầy đủ về Trung tâm Qui Nhơn. Ông bắt gặp được anh Độ, một trong những thư ký hội đồng. Ông nói nhỏ:

- Khi rọc phách nhớ coi dùm bài của thằng nhỏ con “moa” một tí nhé? Số ký danh của nó là 612. Phòng 18. Trung tâm Qui Nhơn. Nhớ ghi dùm số phách cho “moa” tí nhé?

Độ nhăn mặt:

- Chủ khảo gắt như mắm…

- Thôi mà - ông Chính vội vỗ vai Độ - giúp dùm cho “moa” một tí mà.

Độ định ừ à cho qua chuyện nhưng thấy ông Chính cứ quanh quẩn ở hành lang nên biết là không giúp không xong. Thà giúp một tiếng còn kín nhẹm hơn là để ông cứ thì thầm nhỏ to với mình khiến chủ khảo thêm nghi ngờ. Vả lại ông khéo xếp đặt quá khiến sự hiện diện của ông ở phòng chấm rất đỗi tự nhiên. Ông gọi anh Cai mang thêm ghế ngồi vào cho các thầy. Ông gọi anh Cai pha thêm nước trà. Ông gọi anh Cai xuống đuổi mấy người thí sinh lảng vảng ở trong cổng trường. Đối với chủ khảo thì ông gợi chuyện một cách rất nhã nhặn:

- Tôi chắc ông phải khó chịu với những khách sạn ở Qui Nhơn?

Ông chủ khảo ngơ ngẩn không biết kẻ đối thoại định nói gì. Nút cà-vạt của ông nằm lệch sang một bên cổ sơ mi. Lưng ông gù hẳn xuống. Sự mệt mỏi đọc dược trên đôi mắt lờ đờ, trên da mặt bóng mồ hôi, trên mái tóc rơi lè phè trước trán. Ông vừa bực mình vì các giám khảo đến phòng họp quá trễ giờ, thích tán chuyện với các cô giáo mà lại muốn công việc chấm thi phải xong trong năm ngày. Họp chấm ngày thứ Hai mà ngót một nửa số giám khảo đã ghi vé máy bay thứ Sáu về. Ông Chính phải lại xoay câu hỏi thăm:

- Thưa ông, ông trọ ở khách sạn nào?

- Dạ, tôi ở khách sạn Khánh Vân.

Vừa trả lời, ông chủ khảo vừa lơ đãng nhìn ra xa. Rồi ông chợt quay lại:

- Xin lỗi ông… - ông đưa tay ra bắt, - … Tôi đang bận quá.

Ông Chính không bị mếch lòng vì thái độ lạnh nhạt hấp tấp của ông chủ khảo. Người có trách nhiệm điều khiển bao giờ cũng đa nghi. Họ tưởng ai cũng rình rập để lợi dụng họ thành ra họ rất bủn xỉn nụ cười và lời xã giao. Ông Phó chủ khảo cởi mở hơn. Vì trách nhiệm có chủ khảo gánh, công việc có thư ký làm. Ông tươi cười đón lời hỏi thăm của ông Chính và nhún vai một cái:

- Khách sạn? Gọi hơi quá, vì chỉ có cái tên là có vẻ khách sạn mà thôi: Bồng Lai, Lan Đình, Đồng Khánh… Đó chỉ là những căn phòng hẹp ở sau những hiệu buôn tạp hóa người ta lợi dụng đem cho thuê…

Ông Chính tán đồng ý kiến ngay:

- Vâng, đúng thế ạ. Ông nhận xét rất đúng.

Gió ở biển phây phẩy thổi vào, mát nhẹ. Ông Phó chủ khảo thích chí nói tiếp:

- Người Bình Định sống trong hoàn cảnh chiến tranh mười năm nên họ biết lợi dụng từng tấc đất một. Không quảng canh được thì họ thâm canh. Biến nhà sau thành khách sạn, đó cũng là không bỏ phí một tấc đất, một cách thâm canh vậy.

Thú vị vì lời nhận xét, ông Chính cười ha hả và vội giơ tay bắt tay ông Phó chủ khảo trong một thế tán đồng thân mật. Vừa lúc ấy bóng anh Độ đi ra, và ông vội cáo từ đi lảng nhanh về phía anh.

Hai người gặp nhau ở cầu thang gác.

- Cụ nhớ ghi số phách quốc văn: Am 26.

- Am 26.

- Pháp văn: Bp 25.

- Bp 25. Còn mấy món kia?

- Tôi chỉ tìm được có hai món.

- Nhờ tìm hết dùm tí, bác (Ông đã thăng Độ lên chức Bác)

- Hai món chính, hệ số 6 rồi còn đòi gì nữa? Con cụ ở lớp đứng thứ mấy?

- Cháu kém lắm. Đứng thứ 48. Gần chót.

Độ vô tình nhún vai tỏ ý chán nản. Nhưng anh vội chữa lại cử chỉ vụng vừa rồi của mình bằng một nụ cười gượng gạo:

- Nhưng được hai món hệ số 6 rồi thì có hy vọng.

- Tội nghiệp mà. Không đỗ nổi đâu. “Bác” gắng giúp thêm tí nữa.

Chợt có tiếng giày ở phòng chủ khảo đi ra, Độ vội vàng bước xuống cầu thang. Bực mình, nhưng anh không thể vô tình với câu khen vuốt đuôi của ông Chính:

- Thôi, gắng giúp “moa” 1 tí nhé, rồi moa làm mai cho toa 2 cô Nhã. Cô Nhã chấm Lý Hóa đó, có mê không? Dạy Cường Để đó. Cả Trung tâm này chỉ có toa là xứng với en 3 thôi.

Được mấy số phách, ông Chính lân la lại các tiểu ban: tiểu ban Toán, tiểu ban Công dân Giáo dục, tiểu ban Pháp văn… Tìm cho biết được bài thi của con mình thuộc về tay ai chấm, thật không phải là dễ. Nhưng ông Chính là một người chịu khó. Đầu tiên ông gặp được xấp Pháp văn có bài con ông rơi vào tay anh Khoa, một bạn đồng nghiệp đã cùng dạy với ông mấy năm ở trường Trần Hưng Đạo. Ông rỉ tai:

- Am 26 là con tôi đó.

- A!…

Anh Khoa mỉm cười lật tìm số Am 26. Đọc qua một lượt, Khoa vỗ đùi đánh “đẹt” một cái, nói to lên:

- Ồ! Kém quá. Kém quá. Làm chả được gì hết. Chia verbe Rendre mà cũng sai.

Ông Chính cảm thấy ruột mình quắn lại khi đưa mắt theo dõi cặp mắt chăm chăm của Khoa nhìn xuống bài làm và tim mình chồm lên khi Khoa vỗ vào đùi. Ông nói nho nhỏ:

- Vu 4 cho cháu nó đủ moi-en 5

- Cho thế nào được?

Khoa quay lại nhìn ông, tròng mắt chao lên nhiều vòng sau lần kính trắng.

- Làm sai hết thế này mà.

- Vu nói nho nhỏ vậy. Thôi vu bớt đi 1, cho cháu nó 9 điểm.

- Không được. Bài đáng 5. Cho thêm 1 là 6.

- Chết! Vu giết moa. Thôi cho cháu 7 điểm rưỡi.

“Thật tai ác là thằng Khoa”, ông Chính nghĩ. Mình cứ tưởng chỗ quen thì dễ nài, hóa ra không hẳn thế. Chả bù với hai vị giám khảo chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục, ông Chính không quen biết lần nào cả nhưng khi kể lể gia cảnh (cần nói láo một chút) và chỉ vào mái tóc có dăm sợi bạc của mình là các vị nới rộng điểm giúp cho ngay. Thật là những người dễ dãi, hào phóng. Cô giáo Lý Hóa, - không phải là cô Nhã, tất nhiên, - trông thế mà cũng nghiệt ra phết. Chỉ “vâng… dạ… đồng ý chấm nới tay…” nhưng nhất định không cho biết là mấy điểm. Chẳng lẽ lại vào ngồi cạnh cô để nài. Bài luận Quốc văn thì biệt tăm không biết do ai chấm. Ông chỉ còn trông chờ ở số vận may. Thằng Liêm lý luận không hay nhưng chữ nó viết đẹp sáng sủa. Ông Chính trông sao cho bài làm của nó rơi vào tay một ông giám khảo nhớ nhà. Ông ta sẽ đọc lại cái nhập đề và cái kết luận. Ông ta sẽ tìm vài lỗi chánh tả để gạch cho đỏ bài nhưng bài không có lỗi chánh tả. Ông Chính thâm hiểu tâm lý của một số giám khảo nên đã dặn con cố viết cái nhập đề và cái kết luận cho thật hay và lưu ý đừng để phạm những lỗi chánh tả. Ông giám khảo nhất định sẽ cho điểm quanh quẩn ở 8, 9, 10. Bài Toán thì vô phúc bị đem ra cho tiểu ban cùng chấm để làm thang điểm. May trúng được hai phần bài. Nhằm bài toán đã làm ở trường rồi thế mà chép lại cũng còn sai lên sai xuống.

Cũng như mọi thí sinh, ngày vô phách cộng điểm, ông Chính thấy sao mà dài thế! Thằng Liêm thì cứ lêu nghêu đi dạo biển và đọc tiểu thuyết, làm như chính ông đi thi chứ không phải nó thi. Ông gọi giật nó, hỏi:

- Sao tao chả thấy mày lo lắng gì cả thế?

- Thì thầy bảo con lo cái gì nữa? Thi đã xong rồi thì chỉ còn đỗ được trượt thôi chứ còn lo gì nữa?

- Mầy nói như… cái con chó ấy. Thật là mẹ con mày một lũ.

Và ông vào thay áo xuống trường.

Phòng họp rộn rịp ồn ào. Chỗ này vô điểm, tiếng rao điểm luân phiên nghe nhịp nhàng như tiếng một cái máy lạ đang chạy. Chỗ kia rầm rì tiếng cộng điểm. Ông Chính lại mượn xem bảng kết quả của phòng 18 trung tâm Qui Nhơn. Những chữ “đậu” ghi rải rác trước những tên thí sinh. Ông lật nhanh đến tên Nguyễn Thanh Liêm số ký danh 612. Ông lặng im đưa mắt nhìn, lẩm nhẩm tính từng cột điểm. Đoạn để tập giấy xuống bàn, ông lặng lẽ bước ra hiên. Nét mặt đăm chiêu, ông nhìn ra bãi bể Gành Ráng. Đôi con mắt nheo lại và môi mím trong vẻ suy nghĩ. Anh Khoa ra uống nước, lại gần hỏi:

- Sao buồn thế bác? Cháu Liêm hỏng rồi à?

Ông lắc đầu không trả lời.

- Tôi cho đủ 7 điểm rưỡi bác yêu cầu mà.

- Vâng, tôi nhớ.

- Thế thì sao mà hỏng được?

- Không. Đâu có hỏng.

Nghe tiếng “hỏng”, vài giám khảo đứng gần đó quay lại hỏi:

- Sao? Con cụ hỏng rồi à?

- Chết chết! Hỏng thật sao?

Mấy giám khảo ngồi trong phòng cũng quay mặt ra. Có cả cô giáo chấm Lý Hóa và hai vị chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục dễ tính. Người nào cũng lộ vẻ ái ngại cho người đồng nghiệp tốt bụng của mình. Mọi người, nhất loạt, đều cảm thấy lương tâm rỉa mình khe khẽ vì ai cũng nghi rằng bài của con người bạn đã rơi vào nhằm tay mình. Rồi có người chép miệng:

- Tội nghiệp. Đứa nào cho điểm ác.

- Ông ta có thể xin chủ khảo…

- Cụ ấy người có tuổi, dáng đứng đắn chắc không thèm hạ mình xin xỏ lôi thôi.

Tiếng xì xào im bặt khi ngoài hành lang ông Chính chẩm rãi mà ưu tư nói:

- Thưa các bác, cháu không hỏng ạ.

- Chứ sao?

- Cháu được đỗ ạ.

- Đỗ mà sao cụ buồn thế kia?

- Dạ… Cháu được 142 điểm. Chỉ còn thiếu 14 điểm nữa là được Bình thứ. Tức thế. Phải các bác nới tay cho cháu một chút thì cháu đã đỗ Bình thứ rồi. Bậy quá. Tiếc quá.

--------------------------------
1Tôi, phát âm tiếng Pháp
2Anh, mày (phát âm tiếng Pháp)
3Cô ấy, chị ấy
4Vous: anh, ông
5Moyenne: điểm trung bình

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2026

UYÊN ƯƠNG - Đỗ Hữu thị Dung


Có điều là Phúc chẳng giống những người con trai mà em đã gặp. Phúc không đẹp, không ba hoa làm điệu nhưng ở Phúc có một nét thật đặc biệt, và có lẽ, em thương nhất đôi mắt của Phúc. Mắt Phúc đẹp và buồn, nhất là lúc Phúc nhìn em, tự nhiên em muốn khóc, tại Phúc buồn, buồn đến khiến cho em khóc được...
 
Buổi chiều em đạp xe chạy lông bông ngoài đường ; những ngày tháng thi xong thật thong thả chả bù với những lúc sửa soạn để thi bận ơi là bận... Em mỉm cười bằng lòng với vị thứ kỳ lục cá nguyệt này. Xe vẫn chạy đều, gió thổi mạnh quá, con đường Duy Tân thật dịu dàng dễ thương. Người ta ca tụng quê em là miền thùy dương cát trắng, miền có gió mát, có trăng thanh, có biển vàng thơ mộng. Phúc vẫn bảo em giống biển, thật giản dị, em cười đến ngẩn ngơ và Phúc thương em chỉ vì em giống biển... "Tại tóc Hạnh dài, mỗi lần đi gió thổi khiến tóc Hạnh đánh vào mặt Phúc đau... đau như sóng vỗ vậy đó" lần đó em cười đến... tức bụng. Phúc nói hay ghê, cứ như mấy ông quảng cáo thuốc vậy đó...
 
Tự nhiên em nhớ đến Phúc. Giờ này có lẽ Phúc bận học thi. Rán nhé Phúc, đậu tú kép nhớ dẫn Hạnh đi ăn kem, uống nước dừa như lời Phúc nói nhé. Cũng buổi chiều như hôm nay, lần đầu nơi rạp xi-nê HĐ Phúc đến ngồi bên em, thật bất ngờ.
 
- Cô bé siêng đọc sách nhỉ!
 
Em ngẩng lên. Hắn đến bao giờ thế? Em ngượng ngùng cúi xuống dán mắt vào trang sách. 
 
- Có lẽ cô bé thích đọc sách lắm.
 
Em ngước lên nhìn hắn rồi cúi xuống im lặng. Hắn mỉm cười:
 
- Cô bé khó tính nhỉ!
 
Rõ vô duyên, dị chưa. Em xếp sách bỏ vào cặp im lặng. Hắn kiên nhẫn:
 
- Người ta vẫn bảo "im lặng là vàng" cô bé im lặng mãi, thế vàng cất đâu cho hết nhỉ!
 
Em bật cười, hắn cười theo, "người đâu mà thật lắm chuyện" em nghĩ như vậy, hắn tiếp:
 
- Cô bé hẳn thích đọc sách và xi-nê.
 
Em lắc đầu, khép nhẹ mấy ngón tay. Hình như hắn cười nhẹ khi thấy cử chỉ lúng túng của em.
 
- Cô bé dối tôi đấy nhé, nhưng tôi có thể quen cô bé được chứ?
 
Em nhìn lên bắt gặp ánh mắt của hắn thật hiền lành dễ mến. Em gật đầu thật nhanh, như sợ để hắn thấy.
 
- May quá, thế chúng ta có thể là bạn nhau rồi cô bé nhé. Tôi tên là Phúc, học trường Võ Tánh. Rồi tới cô bé nhé, nói đi!
 
Em mỉm cười, hắn trẻ con ghê, cứ nhìn cử chỉ hắn cũng đủ dễ... ghét. Đúng lý em không nói, nhưng chẳng lẽ xí gạt hắn sao, em ấp úng:
 
- Dạ... ơ tên Hạnh, Liễu Hạnh!
 
Phúc ngạc nhiên lẫn vui mừng, trong đó hẳn Phúc đã nghĩ đến cách ghép tên và em hình như em cũng đã nhận ra điều đó ngay từ lúc Phúc mới giới thiệu... Cho đến suốt cuốn phim chúng em vẫn không nói điều gì, có lẽ Phúc đang theo dõi cốt truyện còn em vừa lo sợ vừa ngại ngùng. Em không thích đi xi-nê với bất cứ một ai dù là bố mẹ hay tụi bạn cùng lớp, em vẫn thích "solo". Bây giờ có Phúc, một người bạn khác phái mới quen em đâm ra ngờ nghệch. Lúc về Phúc nhét vào tay em mảnh giấy, nói khẽ:
 
- Phúc về ước mong gặp lại cô bé, cô bé học trường Diên Khánh dễ mến này nhé. 
 
Em gật đầu nhẹ nghe như nóng bừng hai bên má. Gấp địa chỉ Phúc nhét vào cặp, em mỉm cười. Buổi chiều đi xi-nê bên Phúc thật vui, mặc dầu sau đó chúng em im lặng suốt buổi. Chào Phúc nhé, em về em sẽ nhớ mãi đến Phúc, người bạn đầu tiên em mới quen.
 
Buổi sáng, còn thật sớm, sớm từ lúc mấy giọt sương còn đọng trên cây cỏ, sớm từ lúc hai bên đường cửa nhà còn đóng im ỉm. Gió thật lạnh, em khép kỹ vạt áo len run khe khẽ, mấy hạt sương rơi trên tóc em ướt nhột nhạt. Tóc em thật dài, Phúc vẫn khen là tóc em đẹp thật đẹp, hình như em cũng nhật thấy điều này.
 
Em đến nhà Phúc trời vẫn còn sớm, mẹ Phúc mỉm cười bẹo má em xuýt xoa:
 
- Hạnh đến sớm nhỉ, Phúc vẫn có ý trông con đấy!
 
Em gật đầu chào, xin phép lên gặp Phúc. Trên gác, qua cửa sổ, Phúc đang ngồi học nơi bàn.
 
- Phúc!
 
- Kìa Hạnh, may quá Phúc trông Hạnh ghê.
 
Em ngồi xuống, cởi áo len, trả lời:
 
- Để Phúc học chớ, gần thi rồi Hạnh tới hoài phá làm sao Phúc học được.
 
- Hạnh khôn ghê, bắt Phúc học mãi.
 
- Hạnh thích xem Phúc học, Hạnh đến sớm để xem Phúc học đấy.
 
- Hạnh!
 
- Phúc, học đi Hạnh ngồi nhìn đây.
 
Phúc ngoan ngoãn ngồi vào bàn, giở sách đọc nho nhỏ, trông Phúc như con mèo. Em cười, Phúc ngẩng lên cười theo.
 
- Phúc xấu nhé, vờ học để lén nhìn Hạnh cười.
 
- Hạnh cũng vậy, không được cười cơ.
 
- Vâng, Phúc học đi.
 
Phúc lại chăm chú nhìn vào sách nhưng em biết Phúc chả học gì cả, lúc em nhìn, Phúc lén cười, tự nhiên em cười theo. Phúc gấp sách lại.
 
- Chịu, Phúc chẳng học được gì cả. Tại Hạnh đó!
 
- Dị chưa, sao tại Hạnh, tại Phúc cười trước chứ bộ.
 
- Tại Hạnh cười trước, Phúc mới cười theo đó chớ.
 
- Tại Phúc.
 
- Tại Hạnh.
 
Thật lạ, lúc Phúc học cứ lén nhìn nhau cười hoài. Phúc cười, em cười, có chút gì trùng hợp giữa em và Phúc, khó thật.
 
- Hạnh chưa ăn sáng chứ, chờ Phúc tí nhé.
 
- Vâng, nhanh lên nhé Phúc.
 
Lúc Phúc đi em đến bàn giở vở ra xem, chữ Phúc đẹp quá! Em cúi xuống, hai chữ "Hạnh Phúc" quấn quít lấy nhau ở trang bên khiến hồn em hơi xúc động. Em lật tiếp mấy quyển khác vẫn có hình thức tương tự, một tờ giấy rớt ra, em nhặt lên, dày đặc toàn chữ ký, Phúc ký tên em, tên Phúc, tên ghép cả hai. Em nhìn ra cửa sổ, trời sáng hẳn tự bao giờ, tự nhiên thật buồn!? Ừ "Hạnh Phúc" thật.
 
- Hạnh ơi! Nhìn gì đấy, ăn bánh mì với Phúc nhé.
 
Em rời cửa sổ đến bên Phúc, Phúc đẩy ổ bánh mì về phía em, giục:
 
- Ăn đi Hạnh, "bánh mì nóng dòn đây".
 
- Ơ! Phúc quảng cáo hở?
 
Phúc gật đầu hóm hỉnh:
 
- Đi quảng cáo thuốc còn khỏe hơn đi học. 
 
Em nguýt Phúc, bỏ bánh mì vào miệng... có chút gì khác lạ.
 
- Chúa ơi! Hạnh ăn chay!
 
Khi miếng bánh mì qua cổ học em thì chuyện đã lỡ, Phúc nhìn em cười xòa:
 
- Bé xạo nhé.
 
Tức thật Phúc chả tin, em đứng lên ra nơi cửa sổ hờn dỗi, Phúc đến bên em nhỏ nhẹ:
 
- Hạnh ăn chay thật hở, Phúc cứ ngỡ...
 
Em uất ức:
 
- Phúc chả tin Hạnh.
 
- Phúc xin lỗi Hạnh.
 
- Ừ! 
 
Phúc ký đầu em, trợn mắt:
 
- Hạnh khôn ghê tự nhiên giận Phúc rồi bắt Phúc xin lỗi, kỳ chưa!
 
Em chu môi:
 
- Tự nhiên à, Phúc nói hay ghê. Nhưng đố Phúc tại sao Hạnh ăn chay đó.
 
- Phúc chịu.
 
- Hạnh ăn chay cầu cho Phúc đậu đó.
 
Phúc nhảy lên ngạc nhiên, nắm tay em nhìn thật lâu. Em im lặng. Phúc im lặng nhưng em đọc được trong ánh mắt Phúc ẩn chứa niềm yêu thương trìu mến. Phúc bóp tay em thật đau.
 
- Hạnh, Phúc cám ơn Hạnh nhiều lắm, giá Phúc đậu thật Hạnh nhỉ. 
 
- Phúc sẽ đậu, Hạnh cầu nguyện Chúa giúp cho Phúc. Phúc cũng vậy nhé, khấn Phật cầu cho Phúc đậu. Cả hai chúng ta đều khác đạo nhưng mỗi bên đều có một đấng thiêng liêng để giúp chúng ta cả Phúc ạ.
 
- Vâng, Phúc cũng tin như vậy.
 
Tự nhiên Phúc buồn em cũng buồn. Phúc có thừa khả năng để vượt qua kỳ thi này nhưng hình như em vẫn lo lo sao ấy. Ồ! Không sao, Chúa sẽ phù hộ cho Phúc, cho em. Thời giờ rảnh rỗi sau này em thường đi lễ, mẹ vẫn ngạc nhiên. Em đã bỏ hằng suốt buổi vào nhà nguyện quỳ dưới chân Đức Mẹ xin ban phước lành cho Phúc đã liên quan như thế nào.
 
- Sao tự nhiên Hạnh im lặng thế?
 
Em bàng hoàng nhìn Phúc, lắc đầu:
 
- Phúc, lại ăn bánh hết đi chứ.
 
- Phúc muốn ăn chay trọn ngày nay.
 
- Phúc xạo, ban nãy Phúc ăn thịt.
 
- Hạnh cũng vậy.
 
- Không, Hạnh vô tình.
 
- Phúc cũng vô tình.
 
- Chuyện, Hạnh chả thèm nói với Phúc nữa đâu.
 
Em đứng lên xách cặp:
 
- Hạnh về nhé Phúc.
 
- Bao giờ cho Phúc gặp lại?
 
- Hai tháng nữa Phúc thi, Hạnh chả lại nữa để Phúc học chứ.
 
Em dắt xe ra cổng, Phúc tiễn em:
 
- Hạnh, Phúc muốn gặp lại Hạnh trước ngày thi.
 
- Chi vậy?
 
- Gặp Hạnh nói chuyện, giúp Phúc ôn bài và để lúc Phúc thi được may mắn.
 
Phúc cười, em cũng cười.
 
- Hạnh còn giận Phúc hết?
 
- Còn! Hạnh muốn giận Phúc cho đến lúc Phúc thi xong!
 
Lúc em đạp xe ngang trường Võ Tánh Phúc đưa tay vẫy vẫy, tụi bạn đứng với Phúc thật đông. Bố bảo học trò trường Võ Tánh thật nghịch ngợm, em cười muốn nói "Bố ơi! Thế mà Phúc của con thật hiền thật ngoan vậy đó."
 
Lúc Phúc về em đứng nơi balcon vẫy Phúc. Phúc dang tay làm dấu "Chờ Phúc tí nhé". Em gật đầu, lấy sách ra xem...
 
Phúc nhìn em trìu mến, em nói:
 
- Mai Phúc đi thi, Hạnh dẫn Phúc bao ăn chè nhé?
 
- Ăn chè "đỏ" cơ.
 
- Chịu, nhưng sau khi thi xong Phúc cũng "trả nợ" Hạnh lại.
 
- Vâng, trả gấp hai.
 
Phúc đưa em ra xe chạy vòng vòng. Trời thật dễ thương, mai Phúc đi thi hẳn có điềm lành, bởi vì em thấy có đám mây "tường vân", đám mây chỉ sự may mắn của Phúc.
 
 
ĐỖ HỮU THỊ DUNG   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 138, tuần lễ từ 28-6 đến 5-7-1974)
 

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

THÁNG CUỐI - Thanh Hằng


Em vác cả chiếc chăn bông nhỏ ra quấn vào người, ngồi thon lỏn vào chiếc ghế lớn, cố gạo cho hết bài cuối cùng của môn sử địa, cái môn khó nuốt nhất trong những môn học của chương trình, mà cố gạo bao nhiêu càng không thuộc bấy nhiêu. Tháng tám em thi sao tâm trí em mãi bay xa vời sách vở, đeo đẳng mãi những buồn phiền ghê lắm, vớ vẩn ghê lắm. Cố tình quên càng thêm nhiều buồn bã, lẫn lo lắng vu vơ.
 
Em gấp cours Địa, cố nhắm mắt cô đọng những ý nghĩ lại nhưng sao mãi nhớ những chuyện xa lắc, xa lơ nào kéo về đong đầy ký ức.
 
Trên lầu, Tưởng, Ngọc, Bình, Bảo rồi anh Tuấn lục tục kéo xuống. Đi ngang qua chỗ em ngồi, Tưởng trêu chọc: Sao! Cô bé gạo hết bài chưa. Em mỉm cười (dù em chưa học được gì cả): Dĩ nhiên là học hết. Rồi giả vờ ngạc nhiên, em cao giọng: Cuối năm anh định gia nhập binh chủng nào đó? Tưởng không vừa: Còn cuối năm cô bé định tiểu đăng khoa hở? Em đỏ mặt. Cả bọn cười ầm rồi kéo nhau ra cửa. Tiếng anh Tuấn vọng vào: Ở nhà nhớ khóa cửa nha Ti. Em dạ nhỏ mà nước mắt chẩy dài buồn bã. Căn nhà vắng tanh, còn vương lại những làn khói thuốc mờ mịt. Ngoài trời, mấy hôm nay ảnh hưởng cơn bão rớt nên có vẻ lạnh lẽo, nặng nề. Ôi! Sao nhiều chuyện buồn đến với em ghê đi Hoài ạ. Lẽ ra giờ này em đã phải yên tĩnh - em nói là yên tĩnh của tâm hồn cơ đấy - để lo học bài, làm bài cho mùa thi sắp đến của mình. Em còn bao ngày, em còn bao ngày nữa, tính hộ em xem. À thôi, anh thì hay ăn gian ghê lắm. Em biết, mỗi lần giao hẹn điều gì hễ đưa tay móc ngoéo là thế nào anh cũng nắm chặt cả bàn tay thôi, để em tính cho nghe. Tháng tám em thi, bây giờ tháng bẩy, mà càng gần ngày thi em lại càng buồn ngủ. Ngồi đâu cũng ngủ, nằm đâu cũng ngủ. Mẹ bảo vậy là con gái hư lắm nhá. Mà em nói cho nghe. Chứ thức mà cứ mải nghĩ đến anh, tất cả đều nhớ hết. Giời ạ! Thế có phải là con gái ngoan không. Thà ngủ cho xong. Ô hay! Bộ cười ngạo em hở. Chả nói cho anh nghe nữa đâu anh yêu dấu ạ. Thấy không, em thật thà như lá cỏ, gì cũng nói anh nghe, xấu cũng nói anh nghe, tốt cũng nói anh nghe, làm sao cắt bỏ được sợi dây của con diều mà Ti lỡ buộc đời mình vào đó gởi mây gởi gió theo anh. Hồi nãy Tưởng nói cô bé định tiểu đăng khoa hở? Gì chứ chuyện đó chắc chắn không có rồi anh nhỉ. Em vẫn sợ cái kiếp vợ chồng đầy buồn vui, đầy lo lắng, dù đôi lúc em tự nhiên vẫn ước mơ mình sẽ có những sợi dây hồng cột chặt đời nhau. Thế đó. Mâu thuẫn ghê hở anh. Anh ạ! Cách đây mấy tuần, anh về, em thấy, và rất nhiều lần, bên khung cửa sổ về phía bên trái, em thấy anh lặng lẽ nhìn vào, mà em đã cố tình lờ đi. Em đã chối bỏ cái quyền gặp nhau vào ngày chủ nhật mỗi tuần bao nhiêu lần rồi. Sáu lần. Anh biết không. Em đếm kỹ lắm đó. Em thoáng thấy bóng anh về, như loài chim từ xa nhả từng cọng rơm nhỏ kết lại đời người, đời em mà em không dám gọi.
 
Hoài thương yêu! Chả lẽ em lại nói em cần anh như cần hơi thở, chả lẽ em lại nói em nhớ mong anh như nhớ từng bữa ăn từng giấc ngủ. Mà em dốt ghê đi anh ạ, chả lẽ, có nghĩa là anh có quyền kiêu hãnh rồi đó, mà không phải để "bắt nạt tui nghe bạn".
 
Phải chi hôm nọ ghé nhà là em đã cho anh xem thời khóa biểu của những ngày học thi của em. 
 
Này nhé! Sáng từ 5 giờ đến 7 giờ học bài. (vậy mà sáng nào 6 giờ 30 em mới dậy) Từ 7 giờ đến 11 giờ 30 làm toán, rồi học bài, rồi làm toán. Thấy em chia thời khóa biểu, mấy con bé bạn phục lăn, em xấu hổ ghê cơ. Đáng lẽ phải chia như thế này. Sáng từ 6 giờ đến 8 giờ học bài, từ 8 giờ đến 12 giờ nghĩ vơ nghĩ vẩn. Nhiều khi em mong thời gian qua nhanh cho qua ngày đoạn tháng mà nhìn chồng vở cao chưa thanh toán xong là em lại rùng mình. Tháng này, em bớt đi ít mỡ anh ạ, xuống gần 2 ký lô đó nhá. Mấy nhỏ bạn bảo em gầy như lá mùa thu (nguyên văn) chắc gạo bài thi lắm. Bây giờ chắc hết mục bát phố, hẹn hò. Em đỏ mặt ngượng ngùng. Thì mình có hò hẹn, đưa đón lần nào hở anh? Những lần gặp nhau đều vội vàng mà cũng đủ cho con tim em rộn rã như thể là sắp vỡ tung lồng ngực, mà em đã bâng khuâng hết cả khoảng thời gian sau đó. Bây giờ như thế đó, em chỉ lo cho ngày thi mà chưa bao giờ lo học thi. Đáng bị đòn ghê đi anh ạ. Bây giờ 19 giờ 15, trời tối, em vẫn ở vị trí cũ, nghĩa là vẫn ôm chiếc chăn trong cái ghế, nghĩa là vẫn ôm vở mà đầu óc vẫn nghĩ vơ nghĩ vẩn tận đâu đâu. Mẹ chưa gọi vào ăn cơm. A! Cấm cười nghe bồ, đứa nào cười hở mười cái răng ráng chịu, "tui" vậy đó, đến bữa ăn là cứ chờ má dọn. Ba cũng vẫn chưa đi làm về. Anh Tuấn chắc còn khuya mới về. Sau đó là một màn ngâm nga của bố. Một ngày đối với anh Tuấn thật nhiều tiết mục kể cả mục đi chơi khuya về bị ông cụ mắng.
 
Còn em, hồi xưa còn lang thang ngoài phố, dĩ nhiên là đơn thương độc mã nghe bạn. Tháng 7, ở nhà gạo bài, ra đụng sách vở, vào đụng sách vở, à, nhớ anh có phải là một tiết mục hay ho, thú vị hay không?
 
Anh ạ! Có lúc em nghĩ nỗi mong mỏi làm xanh xao ngày tháng, buồn vui cứ qua đi, có khi chỉ bắt đầu từ một khởi điểm nhỏ nhoi tình cờ, mãi tích lũy tiềm tàng bao la vô hạn. Hết một ngày, rồi một ngày, có lúc em cũng mong có ngọn gió vô tình nào thổi loài chim lang bạt về. Nhưng rồi tháng tám em thi, cũng rất vô tình gợi cho em âu lo ngày tháng, để em biết mình không có quyền gặp nhau, nhất định.
 
Anh yêu dấu! Mùa thi này em sẽ cố gắng đậu cao, thật cao cho tới hết hạn để đậu luôn. D'accord! Chứ không như bà thầy bói ngày nào nói em thi trượt, để em gục đầu khóc cho mọng đỏ mắt môi đâu. Này Hoài, em nói nhỏ cho nghe. Tháng tám em thi xong, nhớ đến, em chờ, đứng ngoài cửa sổ màu xanh, bên trái, nhất định bên trái và gọi tên thật của em nghe. Hạ Thảo nghe anh. Còn nhớ không đó. Ti Ti trẻ con quá anh ạ. Nhớ về, em kể cho nghe chuyện này hay lắm. Cái con bé Thúy... Đấy, em sắp lộ bí mật rồi. Và này, Hoài yêu dấu, đừng trách móc, hãy để em yên tĩnh thanh thản trong mùa thi đầu của đời em.
 
 
THANH HẰNG       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 59, tuần lễ từ 13-7 đến 20-7-1972)
 

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

MỎNG MANH - Hoài Đông


 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
từ dạo đó yêu người ta bỗng lạ
đêm xa người nghe nhung nhớ môi hôn
trong con tim chảy tràn lan máu nhớ
cười vu vơ không che được nỗi buồn 
 
ôm đôi vai bằng cánh tay gầy guộc
nghe mạch đời thao thức giữa mông lung
tình mỏng manh mong gì trói buộc
gọi tên người trong hơi thở rưng rưng
 
vạn nỗi buồn góp thành mùa lá đỏ
đốt ấm nồng vòng mắt hoang mang
ngày mịt mờ vàng khô như cỏ úa
tình chưa đầy mà sầu đã thênh thang
 
từng bước dẫm lên đời nhau rất nhẹ
hôn tóc người ta bỗng khóc không hay 
có gì đâu sao hồn rung khe khẽ
trên tay người ngày tháng cũng mây bay
 
                                                    HOÀI ĐÔNG 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 110, tuần lễ từ 12-7 đến 19-7-1973)
 
 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

NUÔI GHẺ - Bình Nguyên Lộc

Tới trước cửa trường tiểu học Trương Minh Ký 1, Trung nói:

- Thôi em đi một mình nhé.

Nói rồi chàng toan bước vào trong trường. Nhưng Hạnh nhõng nhẽo:

- Hông, anh đưa em thêm một đỗi nữa hè. Đã tới giờ dạy ở đâu !

Trung xem lại đồng hồ đeo tay thì chỉ còn có 3 phút nữa là trống đánh. Nhưng vì mới yêu nhau nên chàng không dám để Hạnh mích lòng.

Hai người đi làm cùng một đường với nhau, nên quen nhau ít lâu nay. Hạnh là nữ y tá tập sự ở Bệnh viện Đô Thành. Cả hai đều là học trò mới ra trường nên đều còn hăm hở với hoài bão mà họ định thực hiện: Trung có tham vọng đào tạo một lớp thanh niên xứng đáng với thời buổi, còn Hạnh thì mộng giúp đỡ người bình dân để họ hiểu biết vệ sinh hơn. Vì chí hướng gần nhau nên họ mến nhau rồi yêu nhau.

Họ vượt qua khỏi rạp chiếu bóng Đại Nam thì một đứa bé trạc độ lên mười ở đâu trong hàng rào cây sống của tiệm nhảy Văn Cảnh 2 cà nhắc bước ra nói, giọng như hát:

- Lạy cô cho con đồng bạc mua cơm ăn.

Hạnh không để ý tới đứa bé, tiếp tục nói cười với bạn, tuy nhiên tay nàng vẫn thờ ơ mở xắc lấy tiền ra để bố thí.

Nghe một mùi bắt buồn nôn, Trung nhìn kỹ lại thì thấy đứa bé mặc quần xà lỏn: Từ miệng ống quần ngắn ấy thòng xuống một cặp giò ốm như hai sợi rễ thòng non của cây da trước miễu nào.

Ruồi và lằng xanh bay vù vù quanh cẳng trái của con bé. Bắp chuối của nó như bị một lưỡi dao bén xắn xuống làm sứt mất mô thịt ở đó. Lớp thịt còn sót lại, vòng ngoài đỏ như thịt heo trên các thớt chợ. Vòng kế đỏ trắng đục như sữa đặc. Phần nhưn ở giữa thì mang màu xám tro và lấm tấm những đốm nhỏ li ti màu thạch lục.

Ba bốn con lằng xanh châu đầu vào lớp nhưn đó và mê say hút số tế bào chết ấy. Trung nhăn mặt nhưng con bé vẫn thản nhiên đứng đợi rồi tươi nét mặt ra lúc nhận tiền. Nó không buồn đuổi ruồi, đứng yên mà chờ người khác đi qua.

Hạnh kéo bạn mà nói:

- Đi chớ, anh sợ trễ giờ mà sao lại chần chờ mãi ở đây.

- Con bé ! - Trung nói, nhưng chàng chưa làm được một câu đầy đủ vì nhiều ý nghĩ lộn xộn trong đầu chàng, chàng chưa kịp sắp lại cho có mạch lạc.

- Ừ, con bé. Bữa nào em cũng phải cho nó một đồng bạc hết, không thôi nó đi theo nói lải nhải, khó chịu và ghê tởm quá !

Trung làm thinh, bước chân theo bạn, giây lâu mới tỏ ỷ nghĩ ra được:

- Chương trình xã hội của em lớn lao quá đối với địa vị nữ y tá của em. Sao em không làm công việc nho nhỏ như vầy.

- Công việc gì đó anh ?

- Em săn sóc cho con bé.

Hạnh ngạc nhiên một lát, dường như sực tỉnh ra, rồi đáp:

- Ờ phải, em không nghĩ tới điều nầy bao giờ, thật bậy quá.

Ngày hôm sau, nghi lễ hành khất vẫn diễn ra y hệt như mỗi ngày. Hạnh trao tiền cho con bé rồi hỏi nó:

- Sao em không đi tới nhà thương ?

Con bé cười một cách đần độn và lâu lắm mới đáp:

- Con không biết.

- Không biết cái gì ? Không biết nhà thương ở đâu à ?

- Con không biết tại làm sao con không tới nhà thương.

- Em mắc mụt ghẻ hòm nầy từ bao lâu rồi ?

- Không biết...

- Em đi nhà thương với cô nghe !

Con bé chành bành cái miệng ra cười rồi lắc đầu.

Những ngày sau đó Hạnh tiếp tục cho tiền nhưng lần nào cũng có phụ cấp: khi thì kẹo, khi thì quýt.

Con bé xem chừng cảm mến nàng lắm và nhứt là tín nhiệm nơi nàng. Hạnh gây cảm tình trong 5 hôm liền là con bé chịu đi theo nàng.

Muốn cho cuộc lành bịnh của con bé là tác phẩm riêng của mình, Hạnh không cho nó lấy thẻ đi tới bác sĩ khám, mà săn sóc nó riêng biệt như người nhà.

Ngày đầu tiên nàng nạo sơ lớp mủ ngoài rồi rửa ghẻ bằng nước tím lợt; đoạn băng bó lại.

Ngày kế, Hạnh chưng hửng mà thấy con bé đón nàng, cái giò trần như khi trước. Ruồi lằng cũng bu quanh mụt ghẻ hòm để ăn tiệc tế bào.

- Băng đâu rồi ?

- Con đã tháo quăng đi rồi.

- Sao lại quăng đi ?

Con bé cười mà không đáp. Hôm ấy nó vẫn đi theo ân nhân của nó.

Hạnh hỏi:

- Đêm rồi, em nghe có dễ chịu hay không ?

- Dễ chịu lắm. Chừng nào hết hả cô ?

- Độ hai tuần thì khỏi, miễn là em phải để y băng. Em mà tháo băng quăng nữa, ba tháng sau chưa chắc lành ghẻ.

Hôm đó Hạnh nạo mủ, rửa bằng nước tím, nhưng lần nầy nàng rắc bột thuốc thủy lên.

Con bé can đảm lắm. Lúc nạo mủ nó chỉ hít hà thôi và lúc rắc thuốc, thứ thuốc làm rát rần lên ấy, nó chỉ nhăn mặt một lát.

Ngày thứ ba Hạnh vừa thấy con bé thì cơn giận của nàng đã nổi lên đùng đùng:

- Trời ơi, sao em lại tháo băng nữa ?

Con bé cũng chỉ cười trừ, Hạnh nguôi cơn giận được giây lát sau vì nàng xem xét lại thì thấy mụt ghẻ tuy vậy, có đỡ bớt phần nào. Mùi hôi thúi đã giảm, không phải vì bị mùi thuốc thủy lấn át đâu. Nước vàng hiện ra như nước ở những lạch con rịn chảy về suối, chỉ rõ sự lui bước của cuộc đọng mủ trắng.

Ngày thứ tư, Hạnh nhẫn nại mà kêu trời thầm chớ không còn nỡ  giận được nữa vì con bé lì lợm quá lắm. Nàng nghĩ có lẽ cuộn băng làm cho nó bực bội. Những đứa trẻ đầu đường xó chợ như vậy, ít khi phải vướng bận quần áo, khăn mền, nên đã quen quá với sự trần truồng thong thả da thịt đi rồi.

Không sao, nó làm như vậy thì chậm khỏi, chớ rốt cuộc rồi cũng khỏi, ruồi lằng cũng vắng bóng, mặt con bé cũng đã tươi tỉnh hẳn ra vì đã chắc chắn nó dễ chịu trong người nó.

Hôm ấy con bé do dự không đi.

- Ê, đừng có làm biếng. Em không đi nhà thương cho thật khỏi, vài ngày đây ghẻ cũng sẽ cương lên như cũ mà coi.

Nói rồi Hạnh nắm tay nó mà kéo đi. Con bé để ân nhân lôi nó, nhưng mặt nó rầu lắm. Hôm ấy tới nhà thương, nó không nhìn đến muốn rớt con mắt những cô nữ y tá mà nó khen là đẹp như bà tiên, và không hỏi lăng xăng cô Hạnh về đủ thứ việc như mọi khi.

Không phải là nó đã thạo nhà thương rồi đâu. Còn rất lắm thứ mà nó không biết dùng để làm gì, chẳng hạn như hai ống cao su mà bác sĩ đeo nơi cổ để thòng xuống trước ngực như đàn bà đeo dây chuyền. Và chẳng hạn như tại làm sao mà bác sĩ lại lấy ống bơm, bơm hơi vào cánh tay con bịnh như người ta bơm bánh xe máy ?

Những thứ ấy nó chưa kịp hỏi, mà hôm nay mắt nó lại chỉ nhìn vào một chỗ mà cỏ vẻ nghĩ tới đâu bên ngoài.

Qua hôm thứ năm; con bé quyết không đi. Hạnh nói thế nào nó cũng cứ lắc đầu. Sợ trễ giờ làm việc, nàng đành bỏ nó đó, định bụng sẽ tìm phương khác để dụ nó theo.

Tối hôm ấy, Hạnh tới nhà bạn. Đó là cuộc viếng thăm thường mỗi tuần giữa hai người. Khi chàng đến nàng, khi nàng đến chàng.

Nhưng câu chuyện không bắt đầu bằng những lời vui ngộ như mỗi lần. Vừa vào tới nhà Trung, là Hạnh đã băn khoăn than phiền:

- Có tức chết hay không anh Trung...

- Bị xếp quở phải không ?

- Không, con bé ăn mày.

- À, con bé ra làm sao ? Hổm nay không đưa em đi, không gặp nó nên anh quên mất.

- Hôm sau ngày anh gợi ý, em dẫn nó vô nhà thương, săn sóc cho nó tới ngày hôm qua đây. Nó đã đỡ nhiều lắm, nhưng lại không chịu theo em nữa.

- Thì cái thứ ngu dốt nó vẫn vậy. Thấy bớt đau, nó ngỡ cứ để vậy tự nhiên sẽ hết bịnh lần lần.

- Nhưng tức lắm là nó không chịu nói vì sao nó không chịu theo em.

- Bền chí, em nên bền chí mà dỗ nó. Thứ đó thì không bao giờ nói ra cái gì cả. Đừng thèm hỏi thì tốt hơn.

- Anh có giỏi thì dỗ nó. Em đã mất bình tĩnh khi sáng. Không chắc em sẽ bình tĩnh ngày mai nầy.

- Ai cũng nói đàn bà kiên nhẫn hơn đàn ông. Bây giờ mới rõ không phải luôn luôn họ nói đúng.

- Tại anh ở ngoài cuộc. Anh có phải đứng năn nỉ nó hàng mười lăm phút, anh có bị nó lấy sự im lặng mà đáp lại anh, anh mới biết bực mình.

Trung ra dáng không tin. Chàng cũng là tay luyện trẻ chuyên môn, đã gặp không biết bao nhiêu trẻ lì lợm rồi, thế mà chàng đều uốn nắn được cả.

- Thôi - chàng nói - bây giờ em đàn cho anh nghe vài bản cho quên bực trí. Ngày mai anh đưa nó tới nhà thương em xem.

Ngày hôm sau, họ đi thật sớm, phòng hờ phải tốn nhiều thì giờ với con bé ăn mày. Khi đôi bạn tới trước cửa quán Văn Cảnh, con hé đứng nép trong hàng rào mà lấm lét nhìn họ.

Hạnh trỏ nó mà nói:

- Bữa nay nó đến không thèm ra đây nữa, anh thấy hay không ?

Trung cười hì hì, bỏ Hạnh, bước tới trước mặt con bé, tay móc tiền, miệng nói:

- Bữa nay em sạch sẽ quá, thấy dễ thương quá. Thầy cho tiền đây, cho thiệt nhiều, tới ba đồng lận, em càng sạch, càng được người ta cho nhiều hơn, phải không Hạnh ?

Đoạn Sau, Trung day lại nói với bạn, đã nối gót theo chàng vừa tới nơi.

Con bé nhận tiền, nhìn Hạnh mà cười rồi cãi:

- Ở dơ họ cho nhiều hơn chớ !

- Sao lạ vậy ? Ai nói với em như vậy ?

- Má con nói !

Đoạn nó phân bua với Hạnh:

- Con cũng muốn đi theo cô, ngặt má không cho.

- Em cũng có má nữa hay sao ? Nhưng má em sao lại biết em đi với cô, Hạnh hỏi.

- Từ hôm con đi nhà thương tới nay, tiền xin được cứ sụt lần lần. Mọi lần một buổi sớm mai, họ cho ít lắm cũng ba chục bạc. Bây giờ có bữa kiếm không được năm đồng, má con hỏi tại làm sao mà được ít tiền vậy, con không biết đâu mà nói. Má con nghi con lấy tiền để ăn bánh nên má con đánh con dữ lắm. Con thề thốt thế nào má con cũng không tin.

- Má em ở đâu? - Hạnh hỏi.

- Má con cũng ăn xin dưới chợ Ông Lãnh.

Trung sực nhớ ra điều gì, nói:

- À, phải rồi, giờ nầy là giờ người ta qua lại tấp nập, mà mình dẫn nó đi nhà thương. Lát nữa trở về còn có ma nào để nó xin tiền.

- Không - con bé cãi - Lát nữa cũng có người qua lại nhưng người ta không cho.

- Hay là tại em bắt nó đợi lâu quá, mất hết thì giờ có mặt nó ở đây - Trung hỏi Hạnh như vậy.

- Không, em có bắt nó đợi lâu đâu. Nó theo em như người nhà và được săn sóc trước khi bác sĩ đến. Nó đã nói là má nó cấm đi với em, để em hỏi nó xem.

Rồi xoa đầu con bé, Hạnh nói:

- Thôi em không muốn đi thì tùy ý em. Nhưng em chưa nói cho cô biết tại sao má em lại biết rõ rằng em đã đi với cô.

- À, tại cô chận hỏi em cái nầy, cái kia mà em nói chưa hết. Vài hôm sau khi đi nhà thương, em nằm ngủ với má em, trước chùa Kim Chung: Má em khịt mũi giây lâu rồi nói một mình: "Cái mùi nghe khó chịu quá !" Lát sau má em ngồi dậy mà hỏi: "Mùi hôi thúi của mụt ghẻ mầy tao nghe quen rồi nên không thấy khó chịu. Bữa này sao mùi ghẻ không còn nữa mà mùi gì lạ xông lên đó ?" Đoạn má con hửi mền, hửi gối và đánh hơi lần lần, bắt được cái ổ mùi hôi đó tại chơn con. Con cũng biết mùi ấy ở đó mà ra, nhưng không dám khai thật. Đó là mùi thuốc thủy.

- Tại sao lại không khai ?

- Con cũng không biết tại sao nữa. Mấy lần con tháo băng ra cũng vì sợ má con. Mà tại sao lại sợ, con cũng không biết.

- Rồi má em nói sao ?

- Má em đánh quẹt lên rọi cái chơn của em rồi kêu trời: "Trời ơi, mụt ghẻ của mầy sao lại gần lành như vầy nè ? Mà hình như có ai xức thuốc gì cho mầy đó phải không ?"

Con sợ quá, nín bặt. Má con véo con một cái đau điếng người rồi hét: "Ai xức thuốc cho mầy, phải khai thật ra, không thì chết với tao !" Không thể nín được nữa, con kể hết đầu đuôi vụ gặp cô cho má con nghe. Nghe xong má con nói: "Thôi tao biết rồi. Cái cô đó là 1 quỷ vương, dụ dỗ con nít đi xức thuốc cho nó chết đặng cướp hồn chúng nó. Tao cấm mầy đi theo cô đó nữa nghe không. Mầy mà cãi lời tao thì mầy sẽ biết tay tao !"

Cho nên hôm qua con mới không chịu đi với cô.

Hạnh và Trung cười ngất, rồi Hạnh hỏi:

- Em có tin cô là quỷ vương không ?

- Không, nhưng con sợ má con lắm.

- Nhưng nếu bữa nay em đi, má em làm sao mà biết được - Trung hỏi.

- Biết chớ ! Hôm qua không đi, em xin được tiền kha khá hơn mấy bữa trước. Bữa nay đi, về tay không sợ phải đòn.

- Em thương cô đây hay không ?

- Em thương lắm.

- Thì liều bị đòn một bữa, đi lần chót với cô, cho cô khỏi buồn. Bữa nay thì đi xích lô cho nó lẹ.

Con bé ngần ngừ giây lát. Trung thấy nó có chiều thuận, sợ nó đổi ý, nên nắm tay nó mà kéo ra ngoài, miệng thì kêu xích lô.

Khi xe chạy xa rồi, chàng mới trở về trường Trương-Minh-Ký.

Sáng hôm kế đó, đôi bạn lại hăm hở đi thật sớm từ xóm nhà thờ Tin Lành để ra Saigon.

Trung khoe khoang:

- Em thấy hay không ? Trẻ con thì phải quyết định cho chúng nó. Không thời chúng nó do dự mãi.

Hạnh không đáp, nhưng nàng có cảm giác rằng hôm nay, nói dai dẳng bao nhiêu, cương quyết đến đâu cũng không khiêng cược con bé đi nữa. Họ đã tới trước hàng rào tiệm nhảy Văn Cảnh. Đôi bạn dừng lại, nhìn con bé mà cười: Hạnh vừa đưa tay ngoắt nó thì một bộ xương người phủ áo quần từ trong hàng rào nhảy ra hỏi; giọng dữ tợn: "Bộ cô muốn dụ dỗ con tôi đi nữa hả ?"

Chị đàn bà ấy dơ bẩn chỉ kém con chị một tí thôi. Nhưng mặt thi hung tợn hơn nhiều lắm. Hạnh lùi lại một bước vì ghê tởm, hỏi lại:

- Chị là mẹ của nó đó à ?

- Ừ, tôi là mẹ ruột của nó. Tôi không muốn ai dụ dỗ con tôi hết. Tôi cấm cô...

- Chị cấm tôi ? Tôi cấm chị để cho nó bịnh hoạn mới phải chớ.

Chị ta sừng sộ bước tới hỏi gằn:

- Cô nói sao ? Tôi ăn thua đủ với cô đây !

Vừa hét lên đoạn sau của câu trên, chị ta vừa xăn tay áo, nghiến răng trèo trẹo. Hạnh sợ hãi, núp sau Trung và nói:

- Anh Trung, kêu cảnh sát mau lên. Cho con ác mẫu nầy ở tù về tội ngược đãi con cho nó biết chừng.

Nhưng Trung cũng thối lui, chân bước mau, tay ôm bạn mà kéo đi.

Hạnh tức giận vùng thoát ra mà nói:

- Anh hèn lắm, anh cũng sợ nó nữa à ?

Trung nghiêm sắc mặt lại mà đáp:

- Không, nhưng ta lầm. Ta đã lầm nhiều lắm em à !

- Lầm cái gi ? - Giọng tức giận của Hạnh chưa dịu trong câu hỏi gằn đó.

- Ta lầm. Hai mẹ con nó đã sống nhờ mụt ghẻ ấy nên chúng nó nuôi ghẻ cẩn thận để kiếm ăn.

Ai mà làm cho mụt ghẻ con bé lành là mẹ nó "ăn thua đủ" thực sự đó. Chúng nó có sợ cảnh sát cảnh siết gì đâu !

(Trích từ tập truyện ngắn Mưa Thu Nhớ Tằm) 

--------------------------------
1Câu chuyện viết ra hồi trường chưa đổi tên.
2V.C. cũ.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

THỎ ƠI - Tika


Anh chàng dễ thương quá chừng. Đó là ý nghĩ của tôi về hắn. Anh chàng cận thị áo xanh hôm đầu tiên hai đứa đụng đầu nhau ở HVM. Đúng như thế đó, (tôi muốn nói rằng hai cái đầu đã đụng nhau thật). Ồ không phải, cái trán của tôi cụng vào mũi anh chàng. Buồn cười dễ sợ, kính lệch đi và mắt thì trợn lên (sao mà to và dễ ghét làm sao). Không hiểu vì cớ gì tôi lại vô ý vô tứ đến thế. Tôi nhớ ra rồi, ngày hôm đó vì bận cãi nhau với mấy con nhỏ bạn tôi mà tôi đã đến trường thật thễ. Anh chàng ngớ ngẩn đứng ngó tôi trân trân (may quá, hôm đó tôi mi-nhon lắm cơ). Đến khi tôi nhìn tập vở đổ tung dưới chân, hắn ta mới cúi xuống nhặt hộ.
 
- Xin lỗi cô (ôi cái giọng cũng dễ thương nữa).
 
- Ồ, lỗi của tôi chứ. Chuông vào học chưa anh?
 
- Khá lâu cô ạ.
 
- Chết, trễ quá. Cám ơn và xin lỗi anh lắm.
 
Tôi bỏ chạy nhanh về phía cầu thang trong khi anh chàng nói với theo.
 
- Mong được gặp cô khi khác.
 
Thế là từ hôm đó tôi bắt gặp tôi cũng diện gớm. Đi học tôi soi gương kỹ hơn, cẩn thận và ý tứ hơn một chút. Anh chàng học cùng giờ với tôi thế mà tôi nào có hay! Ơ mà cũng lạ ghê nhỉ. Rõ ràng hôm đó anh chàng từ trong trường đi ra cơ mà. Sau này quen nhau anh chàng mới giải thích:
 
- Có gì đâu, anh có cái thói đãng trí không chịu nổi. Hôm đó leo lên hết ba cái thang lầu anh mới nhớ ra tập vở còn bỏ quên trong xe, thế là lại leo xuống và đụng đầu với em.
 
Ối giời ơi, người chi dễ sợ đi học mà bỏ quên tập thì không biết nói làm sao nữa. 
 
Anh chàng cũng có tên gọi đàng hoàng nhưng có bao giờ tôi mở miệng nói cái tên bố mẹ đặt cho, mà bằng một tên gọi mới thật dễ thương và thật xứng với chàng: Thỏ của tôi. 
 
Ôi anh chàng giẫy lên như con gái. Khi lần đầu tôi gọi: Thỏ ơi.
 
- Anh thế này, đường hoàng một đấng râu ria mà em gọi anh như vậy thì chết anh rồi. 
 
- Ai biểu anh bô như thỏ làm chi.
 
Anh chàng có chiếc xe hơi cà tàng nhưng mà tôi ưng làm sao chỗ ngồi cạnh tay lái (dành cho mình em thôi Thỏ nhé).
 
Thỏ của tôi cũng ghê lắm. Ngồi trong xe mà mắt thì đá lông nheo tứ tung. Tôi tức ghê nơi. Có khi tôi chồm sang giựt phăng cái kính.
 
- Ê, nhìn em rõ chứ, em cất kính nhé.
 
- Bỏ bố anh rồi, làm sao anh lái xe đây cưng.
 
- Nhường em lái cho.
 
- Thôi mà, trả kính cho anh, bé.
 
Ôi, anh biết tẩy em rồi phải không. Thỏ? làm sao mà anh gọi "bé" dễ thương quá vậy. Tôi đưa kính cho anh chàng và điều này làm tôi xúc động ghê gớm: Thỏ nắm cả tay tôi lẫn kính. Tôi quay lại và bắt gặp đôi mắt to của Thỏ. Ơi thỏ ơi, mắt anh có cái gì trong đó không mà sao tim em rung thế.
 
Tôi cảm động và xí hổ quá chừng:
 
- Ê, bỏ tay em ra.
 
- Không, em hư và lì quá anh phải phạt em mới được.
 
- Ơ, có anh thì có. Em giấu kính là vừa.
 
Anh chàng cười bằng mắt và tôi thì muốn ngã lăn ra xỉu.
 
Thỏ. Thỏ ơi, anh thương em bằng em thương anh không?
 
Ngày sinh nhật tôi chàng chở tôi đi chơi vòng vòng từ rạp ciné đến quán cà phê, cả những con đường nhiều cây nữa. Và cuối cùng chàng nói nhỏ vào tai tôi: Quà cho em chính là trái tim anh đó bé.
 
Thỏ ơi, Thỏ ơi, hãy cúi xuống, em muốn hôn anh một cái ở trán.
 
 
TIKA        
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 136, tuần lễ từ 14-6 đến 21-6-1974)
 

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

NHỐT GIÓ - Bình Nguyên Lộc

 

Cả bàn ăn đều kinh ngạc. Tạo thả rơi đôi đũa xuống bàn như ngày xưa Lưu Huyền Ðức nghe Tào Tháo khen mình anh hùng. Vợ chàng nghẹn ngào vì miếng đồ ăn đang nuốt giữa một xúc động quá mạnh. Mẹ chàng bình tĩnh hơn, ngậm miếng cơm đang nhai, mỉm cười một cách nhẫn nại. Những nét nhăn trên mặt bà chỉ thấy hơi nhăn thêm một chút. Ðó là tất cả phản động của một bà cụ đã bao năm đau khổ vì bao đảo lộn của cái xã hội rất xa lạ đối với bà. Thằng Hòa, con Loan, con Mỹ, tuy không hiểu gì cùng hoảng sợ, thôi không cãi nhau nữa. Chúng bỏ trở vào dĩa những món ăn vừa gắp lên, bộ lấm lét như có tội. Cả thảy đều nhìn trừng trừng thằng Kiệt, nó đang khó chịu, và, như giận lẫy, nó tỏ một vẻ khiêu khích còn đáng giận thêm.


Ruồi mặc sức mà bay vù vù, mà đậu lên các món ăn, trong sự im lặng nặng nề ấy. Hơi nước mặc sức mà đọng chung quanh mấy ly nước đá không ngón tay nào rớ tới ly để xóa những mụt nước trắng mờ đang đơm lổm chổm trên vách pha-lê. Cùng với tim của người quanh bàn, thời gian như ngừng hẳn lại.

Ðoạn chót của bữa cơm chiều hôm ấy không kéo dằng dai như mọi ngày, và ngoài tiếng chén đũa khua, không còn nghe lời nào khác.

Thằng Kiệt nghe mình có lỗi, buông đũa trước hết. Vợ Tạo nhìn theo đứa con trai đầu lòng bước ra khỏi bàn ăn mà quên món tráng miệng nó thích, vẻ mặt nàng thương hại và như sợ sệt đứa con kỳ dị.

Bà cụ thỉnh thoảng thở dài.

Tạo thì gương mặt vắng lặng một cách tuyệt vọng, trong khi mấy đứa nhỏ hết len lén nhìn bà nội, đến nhìn ba, nhìn má.

Cây tăm ngậm nơi môi chàng điên cuồng chuyển động. Nó hươi đủ chiều, xoay đủ hướng, có khi nó nằm yên để người ta đoán thấy chàng đương cắn răng dữ tợn.

Khi con nhỏ ở lấy tấm vải phủ bàn đi, chàng đứng dậy buông một câu khiến mẹ, vợ và con chàng đang uống nước ở bàn bên cạnh dừng tách nước nơi môi dưới:

- Thằng này hư, phải trị nó mới được. Bắt đầu mai này nó không có xe máy như tôi đã hứa mua!

Thằng Kiệt đã đi qua buồng bên kia. Thằng Hòa thất vọng trông thấy, vì hôm nay nó mong đợi cái xe máy đó mà tập cỡi, khỏi mướn xe tiệm. Thôi nó hết mong ké nữa rồi.

Vợ Tạo mặt lộ vẻ mừng và bớt lo lắng. Nàng chờ đợi một sự nổ bùng của nỗi tức giận của chồng, chờ đợi hình phạt gì nàng chưa biết, và chính sự chưa biết ấy khiến nàng tiên đoán nó sẽ ghê gớm lắm. À ra chỉ có thế. Thằng Kiệt không được thưởng xe máy theo lời hứa. Nàng nghe nhẹ hẳn người.

Hớp từng hớp nước, nàng vừa lắng nghe mùi vị của trà, vừa suy nghĩ. Ai đời một đứa bé mười bốn tuổi đầu, còn là học trò trường trung học mà đã có những ý muốn làm nàng khiếp đảm. Nàng đã có dịp nhận thấy chồng nàng có nhiều tư tưởng táo bạo hơn nàng, nhưng chỉ hơn một tí thôi, nàng ráng theo kịp. Nói đúng ra nàng không ráng hiểu chồng nàng cho mấy, những tư tưởng chồng dầu cao hơn lạ hơn, nàng cũng không bị ngạc nhiên lắm. Nàng có cảm giác như chồng là kẻ đi đường, trước nàng chỉ vài chục thước. Còn cái thằng con trai kỳ dị này thì y như một đứa bé leo thang, đứng trên nấc chót, cao vòi vọi, nàng thấy mà phát ngộp.

Nàng nhớ thằng Kiệt thuở còn nhỏ, chưa đi học, thích nghịch và cứng đầu cứng cổ lắm. Bà nội thường tát yêu nó và nói nựng: "Cái thẳng giặc con này, nữa nó lớn, nó phá nhà!" Nàng chỉ mỉm cười, lòng tự ái được vuốt ve. Nhưng bây giờ đây, sự nguy hiểm rõ rệt hơn, gần hơn, nàng thấy lo sợ và sợ hãi đứa con mà nàng không hiểu.

Sau bữa cơm chiều hôm đó, gia đình không quây quần quanh bàn ăn dọn sạch để nói chuyện như mọi khi. Tạo cũng không ra trước căn phố hóng mát như thỉnh thoảng chàng hay làm. Phía trước náo nhiệt lắm, mà chàng thì cần tĩnh trí để suy nghĩ.

Chàng mở cửa sau ra ngoài. Nơi đó là một đám đất trống. Năm ngoái có mấy gia đình ở đâu tản cư về ngoại ô này, cất núp sau dãy phố chàng ở mấy cái nhà lá mà chàng không bao giờ đếm thử cho biết số. Chàng ngạc nhiên thấy chuối đã mọc cao quanh mấy nhà lá đó. Mấy tháng trước đây, xóm nhà đó trơ trọi, khô khan lắm, bây giờ nó có vẻ ấm cúng thân mật như ở nhà quê. Có bóng người đi trên đường mòn giữa mấy nhà, có khói lam ôm ấp mái đưng chưa kịp thâm đen, có tiếng chó sủa, có tiếng trẻ nô đùa sau bụi đinh lăng. Gió chiều lay động những tàu chuối tơ, khiến Tạo nghe vui vui trong lòng, tưởng như mình về quê, đang đứng trước một cảnh trong làng.

Tuy vậy, chàng cũng không quên sự khó chịu nhen nhúm trong lòng chàng từ lúc nãy khi nhìn thấy sự thay đổi bất ngờ của cảnh vật. Mấy tháng nay chàng yên trí là xóm nhà lá đó xơ rơ lắm. Nay sự sầm uất đã bắt chợt sự yên trí của chàng một cách đột ngột quá. Thật tình chàng cũng sung sướng thấy họ được mát mẻ, vui vầy hơn. Nhưng chàng vẫn khó chịu vì sự yên trí bị quấy rầy. Chàng thở dài: "Thì ra cái gì cũng thay đồi hết!" Chính lòng chàng đã và đương thay đổi và chàng đau khổ về sự thay đổi bên trong ấy nó đã hành hạ chàng mười mấy năm nay.

Tạo là một kiến trúc sư nghèo. Mặc dầu vậy, trong những giờ rảnh chàng cũng vẽ cho chàng một kiểu nhà. Biết đâu ngày kia chàng sẽ có nhiều tiền.

Chàng làm công việc ấy với tất cả linh hồn và tấm lòng chàng. Chàng say sưa vuốt ve những hình ảnh của khung cảnh tưởng tượng, của một mặt tiền sáng rỡ, nhẹ nhàng. Ðó sẽ là giai tác của chàng. Chàng sẽ bắt vật liệu ca hát những điệu thơ thới vui tươi.

Chàng vui sống bao năm với những màu sắc những đường nét hiện lên trong trí chàng. Rồi chàng ghi những cái ấy lên giấy, kết hợp chúng nó lại thành một cái gì có thiệt, tuy chỉ mới là hình vẽ.

Nhưng một kiểu nhà vừa vẽ xong thì chàng thấy hết thích ngay, tìm tòi một hình dáng khác, những màu sắc khác, thích hợp với lòng chàng lúc bấy giờ. Óc thẩm mỹ chàng biến chuyển vùn vụt, chàng nghe muốn chóng mặt. Tạo nghe nơi trí và lòng chàng bao thời đại nghệ thuật đi qua trên đó. Lòng chàng đau khổ vì không định cư một nơi nào hết mặc dầu chàng rất muốn yên thân với một hình thức, một màu sắc nào đó.

- Mẹ, sập hoài!

Tạo giựt mình, dòm xuống cỏ. Trên khoảng đất hẹp giữa xóm nhà lá và dãy phố chàng ở, một đứa bé chừng năm tuổi đương ngồi chơi gì trên cỏ. Ðứa bé ở trần, đưa lưng đen thui lại phía chàng. Nó mặc một cái quần dài đen. Chàng bước sấn lại thì thấy nó đương lay hoay với những cành cây nhỏ và ngắn. Nó cặm trên cát bốn cành cây đầu trên có nạng, rồi gác ngang lên nạng những cành khác. Thì ra nó chơi cất nhà. Khi nó vừa phủ lên cái giàn đó một tấm lá chuối để làm nóc nhà thì gió ở đâu thổi đến. Nóc nhà của nó bay lên, bốn cây cột đều ngã. Thằng nhỏ gương mặt dễ thương này tức giận chưởi thề nữa, nhưng không nản chí, bắt đầu xây dựng lại. Gió lại thổi lên phá hoại công trình của nó. Lần này nó nắm chặt hai tay, bậm môi như muốn đánh ai. Ðoạn nghĩ ra điều gì, nó cởi tuột quần ra, mò dưới cỏ tìm gặp hai sợi dây chuối, nó cột túm hai ống quần lại. Nó phành lưng quần đưa trước gió như người lớn phành bao bố hứng gạo và nói: "Nhốt mày lại coi mày còn phá nữa hết". Gió chun vào thổi phồng quần lên. Hai ống quần bọc no nứt gió, bay nằm ngang trên không trung như hai khúc dồi. Nó vừa muốn túm lưng quần lại đề gói gió trong ấy, thì chợt nhận ra rằng ở đâu cũng có gió hết, gió chạy trên người nó đề trôi ra phía sau, gió thổi cát bay, gió lay tàu chuối.

Tạo thích quá, nhìn mê cử chỉ dại dột, ngây thơ mà hay hay của đứa bé. Ðứa bé đang lính quính vì gió nhiều quá không biết đâu mà hốt cho hết. Một tay nó thả lưng quần, cào gió lại, chơn nó đá như muốn đuổi gió đi.

Chỗ đó là một đám đất bị nhà vây chung quanh. Gió cao rơi vào, không lối ra, chạy quanh quẩn, không có hướng nhứt định.

Một cơn gió đổi chiều làm cho cái quần nó ốm xếp ve và bành bạch bay day qua hướng khác.

Thằng bé thấy mình thất bại vội bỏ quần xuống đất, giăng tay ra rước gió. Nó hít gió, nó nuốt gió, mặt nó sung sướng trông thấy. Ðoạn nó cầm quần lên phành lưng đưa trước chiều gió mới. Lần này nó không có ý nhốt gió nữa mà lại hớn hở nhìn hai ống quần no như hai khúc dồi. Nó giỡn với gió chớ không ghét gió nữa.

Tạo mỉm cười nói lầm thầm: "Thằng nhỏ biết điều quá".

- Leo ơi! - Ðó là tiếng đàn bà kêu sau bụi chuối. Thằng bé dạ một tiếng rồi xách quần dùng dằng chạy vào xóm nhà.

Cảnh thằng bé nhốt gió in vào trí Tạo một ấn tượng mạnh. Chàng nhìn theo cái lưng đen, lăn căn chạy vào nhà, ngơ ngẩn như nguồn cảm hứng đang mất đi.

- Thằng nhỏ biết điều quá!

Chàng tự nhắc lại câu đó, và băn khoăn về những lời thằng Kiệt hồi nãy, giữa bữa ăn.

- Mình có biết điều như thằng bé này không? Những ý nghĩ của con, mình có theo dõi lòng nó được mà ngăn cấm mãi chăng?

Tạo thở dài. Có một khi kia trong đời chàng, Tạo là một đứa con hư, một thằng giặc nhỏ. Cha mẹ chàng đã sợ, đã giận những ý tưởng táo bạo của chàng. Và chàng đã có dịp tức mình sao cha mẹ cứ không hiểu mình. Lần lần chàng có ý thức về sự xung đột giữa cha mẹ và chàng. Chàng thuộc về phái cấp tiến nhứt của đám người theo Tây học thì xung đột với ngàn năm tư tưởng Ðông Phương là sự thường.

Nhưng chàng đã ngỡ cái bước tiến của chàng là cái bước cuối cùng. Thế hệ của chàng và những thế hệ sau không còn đụng chạm nhau nữa. Và cuộc đời sẽ dễ chịu lắm khi lớp người già trước chàng chết hết.

Nay thằng con chàng tái diễn lại sự xô xát ngày xưa. Ðó là hình ảnh rất trung thành của cảnh gay cấn hồi trước.

Chàng đâm ra hoài nghi. Phải chăng lòng và trí người luôn luôn thay đổi và cái văn hóa Tây phương mà chàng hấp thụ được và tưởng là bất di, bất dịch cũng đương biến chuyển mà chàng không dè.

Có thể như vậy lắm. Là vì chàng đã luyện con theo óc của chàng, chàng không cổ hủ, mà sự xung đột lại bắt đầu.

Chàng có thề cấm thằng Kiệt bỏ rơi chàng lại sau chăng? Không! Chàng biết lịch sử nhân loại. Không có một thí dụ nào chứng tỏ rừng người ta có thể ngăn cản tư tưởng được hết. Nó như làn sóng vỡ bờ, lôi cuốn tất cả mọi chướng ngại vật. Và như làn sóng, nó sẽ chết đi nơi bờ bến nào đó, trong khi những làn sóng khác tiếp nhau mà rượt nó. Nó sẽ chết như vậy, và chỉ như vậy thôi.

Tạo bùi ngùi thương cha mẹ đã hoài công thắc mắc vì tư tưởng chàng. Cha mẹ chàng, mặc dầu với gia huấn nghiêm khắc, không bao giờ ngăn được chàng có một nhân sinh quan khác hẳn người được.

Tạo thở dài: "Già rồi, ta đã già quá rồi! Cái lớp thằng Kiệt sẽ có những ý nghĩ khác!"

Bỗng chàng hốt hoảng như kẻ bộ hành đi trễ, nhìn người mau chơn đã mất hút đàng xa, xa đến mút tầm con mắt.

Nhưng thật tình, từ giờ phút đó, chàng không ghen tỵ nữa với kẻ đi mau, và chỉ bâng khuâng thấy mình bị bỏ rơi lại, bơ vơ trên đoạn đường dài.

Tạo trở vào nhà khi đèn điện bừng sáng.

- Mình soạn tiền lại, mai tôi mua xe máy cho thằng Kiệt.

Vợ Tạo trố mắt nhìn, soi mói. Ðề trả lời điệu bộ thăm dò của vợ, chàng nói: "Nhốt gió vô ích!"

Vợ Tạo càng nhìn chồng trừng trừng, không hiểu gì mà lại có nhốt gió.

Thằng Hòa thì hoan nghênh bằng đôi mắt sáng rực. Nó vội chạy qua buồng bên để cho anh nó hay tin lành.

 

BÌNH NGUYÊN LỘC       
 
(Trích từ tập truyện ngắn Nhốt Gió)