Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

XUẤT HÀNH NĂM MỚI - Võ Hồng

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia. Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Đông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Đến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những sự viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

- Ba phải chở thằng Hào đó, - tiếng con Hằng, con lớn của chàng bảo.

- Ừ, để ba chở.

Thủy, con bé nhất phụng phịu:

- Không, ba chở con. Để chị Hằng chở anh Hào.

- Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

- Nhưng anh Hào gầy...

Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vừa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

- Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

- Kệ nó.

Tiếng Hằng cãi:

- Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

- Ừ, thôi cũng được.

Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày chàng vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

- Ba chải giùm tóc cho con đi.

Chàng chỉ xuống chân:

- Sao lại mang xăng đan thế kia? Mang giày vào.

Hào cau mặt:

- Nhưng đâu mất một chiếc tất.

- Hỏi con Bốn xem. Bốn ơi, tất của em để đâu?

Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va li. Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

- Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

- Đâu có. Đêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

"Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con bé này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vào mua. Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

- Đồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Đó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

- Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm hưỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

- Con đi sát vào bờ lề một chút.

- Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

- Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Đừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

- Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

- Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

Hào đề nghị:

- Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

- Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con.

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải gọi nhau, chạy tìm nhau, va cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự do. Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự do. Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra -nhất là những bộ mặt đàn bà - làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mê. Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Để họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩn vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

- Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Đầm là vì vậy.

- Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia ba? - Thủy hỏi.

- Đó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

Hào vội vàng hỏi tranh:

- Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

- Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

- Lễ là cái gì?

- Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Đường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Đi quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chứ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

Lúc xe đi gần tới nghĩa địa, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

Tiếng Hằng hỏi:

- Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

- Ừ.

Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Đặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

- Ba ơi! Đây mộ của má đây rồi.

Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như thế mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như thế. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh thường mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

Đó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm hương vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân hương mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn hương vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

- Bây giờ má ở đâu ba,

- Má ở trên trời.

Đó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

- Má có ăn Tết không ba?

Hào "xí" ngay:

- Mày cứ nói bậy. Đã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bĩu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

- Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

Chàng cầm lấy tay Hào nói:

- Thủy nó bảo vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

- Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

- Con lớn con biết thế chứ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

- Ý ba muốn con thưa cái gì?

- Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thua. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

- Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

- Có thể như thế. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lúc má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

- Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

- Phải đó.

Hào nói;

- Để con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

- Ừ.

Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

- Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to.

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương to. Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó hương trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó hương, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó hương đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xắc nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì theo một thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không giấu được sự âu yếm nhau.

Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngả. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của người bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

- Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trời thì làm sao má nghe được?

- Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

- Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, - người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng - Ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Đó là một bức thư gởi thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

"Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

- Nguyễn Thới là ai vậy ba?

- Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

- Thế anh ta viết để làm chi vậy?

- Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thư. Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

- Anh Ca viết hở ba?

- Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

- Thế ba có xem không?

- Không có, vì anh Ca không viết trả lời mà cũng không dán.

Hằng nói:

- Cái ý kiến đó cũng hay, hở ba? Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

Chàng mỉm cười:

- Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như thế, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

- Còn thằng Hào? - Chàng cất tiếng hỏi.

- Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào. - Tiếng con Bốn trả lời.

- Còn Thủy?

Bốn cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

- Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

- Hay nó sang bên con Sa?

- Không có đâu - chàng gạt liền - Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

- Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

Hằng ra đứng ở cửa kêu:

- Thủy ơi.

Không có tiếng trả lời.

Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

- Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ngả nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

Má ơi,

Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

Võ thị Tri Thủy

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ - Hồ Đắc Duy


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
Núi Ba Tầng thiết đàn làm lễ
Cáo đất trời xin để lên ngôi
Quang Trung hiệu triệu mấy lời
Lập tức hạ lệnh đi ngay lên đường

Đến Nghệ An lấy quân tinh nhuệ
Mười ngàn người chưa kể dân binh
Vài trăm voi chiến theo mình
Chia quân tả, hữu năm doanh rõ ràng

Vua Quang Trung đường đường trước trận
Áo hoàng bào lẫm liệt oai phong
Gươm thiêng nạm ngọc đeo cùng
Trên đầu voi chiến hào hùng ruổi rong

Sau năm ngày bụi hồng lấm áo
Tới ngang đèo dựng giáo nghỉ chân
Vua cho mở tiệc khao quân
Định ngày mùng bảy đầu xuân sẽ vào

Thăng Long thành ngày đầu năm mới
Từng nụ đào chớm thẹn gió đông
Búp non lấm tâm cành hồng
Mai vàng núp bóng thẹn thùng nắng mai

Vua Quang Trung đến ngay Giáng Khẩu
Hành quân qua đánh đạo Sơn Nam
Hà Hồi ở cách trung tâm
Thăng Long nhắm hướng phía Nam nửa ngày

Quân Tây sơn bao vây kín mít
Mà giặc Thanh chẳng biết chút gì
Đầu hôm cho đến nửa khuya
Ẩn vào đồn giặc đợi thì tấn công

Sáng mùng năm Quang Trung vừa đến
Đồn Ngọc Hồi giặc chẳng dám ra
Cửa thành đóng kín chằn qua
Trên thành lố nhố hằng hà chông tre

Vua sai lấy ván che rơm ướt
Cho trăm voi lên trước tấn công
Vượt qua hoả pháo gai chông
Dập dồn súng trận xung phong đánh vào

Xáp lá cà vượt hào chiến luỹ
Quân Mãn Thanh khiếp vía chạy dài
Cúp đầu chúng chẳng vểnh tai
Xác quân giặc chết chất đầy thảm thay

Hứa Thế Hanh chết ngay tại trận
Trương Sĩ Long cũng chẳng hơn gì
Quân Thanh đại bại ê chề
Theo đê Yên Phụ chạy về Đông Quan

Giặc Mãn Thanh đầu hàng tan tác
Một cánh quân chạy lạc vào đầm
Chết vì ngựa đá voi dầm
Chết vì đói khát cạn dần binh lương

Đô đốc Long chặn đường lũ giặc
Dùng kỵ binh đánh gắt Đống Đa
Thâu đồn Khương Thượng về ta
Giặc Thanh khốn đốn phải ra đầu hàng

Sầm Nghi Đống cùng đường nhỏ lệ
Thắt cổ mình ở luỹ Nam Đông
Lính thì tên trúng trận vong
Chết hơn quá nửa, nửa làm tù binh

Nghe được tin ở thành Khương Thượng
Đã đầu hàng, binh tướng bị giam
Khiến Tôn Sĩ Nghị kinh hoàng
Kéo quân chạy trốn qua đường cầu phao

Cánh Vân Nam vừa vào cửa ải
Nhận được tin thất bại bàng hoàng
Tổng đốc Lưỡng Quảng vội vàng
Thu quân tháo chạy theo đường Nam Quan

Lê Chiêu Thống theo chân tổng đốc
Cùng tàn quân xâm lược Mãn Thanh
Chạy về đến được Yên Kinh
Lưu vong đến thác giận mình ngu si

Từ Trang Tông đến Lê Chiêu Thống
Mười tám đời tổng cộng hai trăm (1533-1789)
Sáu lăm năm (265) cũng đủ làm
Triều Lê hưng thịnh nước Nam một thời

Ngày mùng bảy tháng giêng Kỷ Dậu (1789)
Giữa kinh thành còn dấu chiến tranh
Gò đồi đầy xác quân Thanh
Đường in vó ngựa, trên thành cờ bay

Tiết Khai Hạ, vua bày trước trận
Lễ ăn mừng chiến thắng quân Thanh
Áo bào khói súng bám quanh
Trên mình bạch mã long lanh giáp vàng...
 
                                                 HỒ ĐẮC DUY
                                 (Trích thơ Quang Trung Hoàng Đế)
 
Nguồn : thivien.net 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

VỀ MỘT MÙA XUÂN DỰ TƯỞNG - Hoài Diễm Từ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
tạm thời đưa em về bên đó
thắp ngày vui rũ sạch áo hoàng hôn
ta sẽ lấy nhau như những tin đồn
tiệc thời gian mượn mùa xuân làm chứng
 
gió bớt lạnh bởi có tình hâm nóng
trời có buồn mây trắng sẽ làm quen
ta sẩy chân vào chốn ưu phiền
hãy bình tĩnh ướp đời nhau bát ngát
 
hãy thong thả mở phơi tình tươi mát
đợi bướm về ăn cưới những cành hoa
anh sẽ đưa em đi hỏi từng nhà
tìm tuổi thơ lầm than trong trí nhớ
 
ta dắt dìu nhau trở về quê cũ
thả thuyền con cùng khai hội dòng sông
em đừng quên hát mừng tuổi ruộng đồng
vì mái tóc chở đầy hương lúa mới
 
tạm thời gửi mùa xuân về bên đó
nắng chia vui lộc biếc nở đầy cành
trong trái tim giáp mặt những đường ranh
những ngã rẽ đưa người chung một lối
 
không còn ai trong tình buồn đứng đợi
em thẹn thùng tô một chút son tươi
tựa vai anh trang điểm lại môi cười
lòng ấm cúng như mặt trời mới mọc
 
em xõa tóc đắp hồn nhau thơm ngát
anh bỏ phố rêu bỏ núi bỏ rừng
cầm tay em soi bóng xuống dòng sông
nghe vũ trụ nói tình yêu thành thật.
 
                                          HOÀI DIỄM TỪ 
 
(Trích từ giai phẩm Xuân Hồng 1973)
 

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

NGÀY XUÂN ÊM ĐỀM - Võ Hồng

Chiều hôm ấy khi đi học về, An thấy trên ven mép sân vừa trồng một hàng cúc vạn thọ. Mừng quá, An không kịp bỏ mũ sách, nhảy tuốt ra nhà sau tìm chú Ba.  

- Chú Ba ơi! Chú Ba! Chú trồng vạn thọ hả chú? Gần tới Tết rồi hả chú Ba?

Câu trả lời của chú, An đoán trước được nhưng An vẫn thích hỏi. Còn ai vào đây trồng hoa nữa? Ba, bốn năm nay từ khi An có trí khôn, An thấy cứ gần Tết là chú Ba đi xin cây vạn thọ hoặc ở chùa Châu Lâm hoặc ở vườn thằng Kiết về trồng một hàng quanh mép sân. An không biết xem lịch vì lịch in bằng chữ nho, cuốn lịch cha nó treo ở khung cửa sổ bên cạnh cái bàn toán. An cũng không lưu ý tìm xem tháng này là tháng mấy. Đối với tâm hồn ngây thơ của nó, cảnh và vật nói nhiều hơn tháng ngày. Nghe con tu hú kêu nó nghĩ đến những chùm trái vú dẻ chín vàng ngọt lịm và nó nghĩ: "Tháng Ba. Mùa gặt tới". Nhìn bà hàng gánh đôi thúng xếp đầy những trái bắp nếp luộc hơi nóng lên nghi ngút, nó cảm nghe mùi ngọt thơm của hột bắp dẻo nghiền tan dưới răng và nó nói thầm: "Tháng Tám rồi. Sắp mưa lụt". Còn ngày Tết thì luôn luôn được báo hiệu bằng dãy cúc vạn thọ.

An nhìn trìu mến dãy hoa vừa trồng. Mỗi cây đứng trong một cái lỗ khoét to bằng cái bát sứ. Cây cao hơn mặt đất không quá hai tấc và đứng gục đầu xuống, lá buông ủ rũ. An có cảm tưởng chúng nhớ đàn nhớ bầy, nhớ cái vạt đất nhỏ nơi đó người ta gieo chúng, nơi đó chúng lớn lên cạnh những anh em của chúng cùng một hoa mẹ sinh ra. Có đôi cây yếu quá tưởng như chúng không thể sống qua đêm nay. Sự lo lắng thương hại của An khiến nó thấy cái thái độ lầm lì lạnh nhạt của chú Ba là đáng ghét. Người lớn trông họ vô tâm đến tàn ác. Mấy cây hoa đau đớn ủ rũ thế kia mà họ vẫn có thể thản nhiên bỏ đứng bơ vơ một mình không săn sóc đến. Đêm đến, khi leo lên bộ ván gõ nằm ngủ, An cứ loay hoay nghĩ về mấy cây hoa đáng thương. Và mới sáng tinh sương khi bừng mắt dậy, nó đã nhảy vội ra sân thăm từng cây hoa. Mừng quá! Dù có cây thân còn cong lại chưa đứng thẳng nổi nhưng cây nào đọt cũng xanh tươi, chỉ những lá gần gốc là héo sẫm lại mà thôi. Dăm ngày sau, cây bén rễ và tới một độ nào đó An không nhớ nữa, những cây hoa lớn vụt thật mau, đâm chồi thật nhiều. Những khoảng cách giữa các cây hoa trước kia trống trải mênh mông, giờ đã bị che mất bởi tàng lá.

Cùng với sự phát triển của dãy cúc vạn thọ, cái Tết như cũng lớn dần. Manh nha từ đầu tháng Mười một với những cơn mưa nhẹ, mưa gieo cải, cái Tết thấp thoáng mơ hồ với những rò cải, ngò, xà lách, tần ô nằm vuông vắn ở hầu hết mọi sân nhà. Cái Tết lớn lần lên với những bụi hoa, vạn thọ, cúc đại đóa, thược dược phát chồi sum suê và bắt đầu ra nụ. Càng đi sâu vào ngày tháng, cái Tết càng hiện rõ thêm, in dấu vết trên mọi cảnh mọi vật và mọi hoạt động của con người. Chữ Tết được nhắc đi nhắc lại một cách thân mến êm đềm trong mọi trường hợp sinh hoạt ở gia đình. Cha nói: "Mấy dây dưa leo chắc ra trái không kịp Tết. Bậy quá. Bị mưa làm thúi giống gieo kỳ trước". Mẹ nói: "Thằng Ba coi chừng mấy con gà thiến. Để qua nhà lão Dần chó cắn chết thì nghỉ ăn Tết đó nghe?" Ở lớp học bạn khoe với nhau: "Tết này tao được đi thăm cô tao ở Phước Lãnh... Bà ngoại vừa gởi cho mẹ tao một trái bí đao to để làm mứt Tết." Ở ngoài đường, chữ Tết len lỏi trong những câu chuyện: "Chợ Tết mà ế quá, tháng Chạp thiếu, hăm Chín lấy làm Ba mươi, chạy Tết cũng mệt... Tết năm nay ở Phú Mỹ có bài chòi..."

Thôn Quảng Đức đa số làm nghề gốm và buôn vôi thế mà sự sinh hoạt cũng hối hả theo cái đà của ngày Tết cứ sừng sững đến gần. Đồ gốm sản xuất ra, chở đò dọc đem bán ở các chợ xa: chợ Đèo, chợ Đồng dài, chợ Gò chai, chợ Gành, chợ Thứ... tiếng ốc tù-và của chủ đò thúc khách quá giang chuyển hàng cho gấp xuống đò vang lên trong đêm khuya. Càng gần Tết sự mua bán càng hối hả rộn rịp nên chợ nào cũng vãn chậm. Đò xuôi chở khách về cũng mãi khuya mới tới bến. Bến đò thành ra ồn ào rộn rịp suốt đêm. Những cây đèn chai làm bằng một đoạn tre trong tẩm dầu, cháy rực sáng cả bực sông, in ngược bóng xuống nước rung rinh, lóe đỏ cả một vùng.

Trên con đường đi xuyên qua xóm, những dáng người gánh gồng vội vã đi chập choạng theo ngọn đèn chai cầm lắc lư dưới tay. Đèn chai ở đây là một cái đèn dầu nhỏ được một nửa cái chai ụp lên để chắn gió. Tiếng chuyện trò lanh lảnh vang trong đêm, hối hả theo bước chân chuyển từ đầu xóm sang cuối xóm. Trong đêm tối mà mọi vật như xóa nhòa hết cả hình nét để tan vào bóng đen, mà mọi sinh vật đều như mỏi mệt, tiếng nói chuyện tỉnh táo rõ ràng dường giữ đủ cả sắc cạnh. Ở dưới bước chân, bóng người in đen được phóng đại ra, nằm trải xuống mặt đường, nằm vắt qua bờ rào, chập chờn di chuyển theo bước đi.

Một bữa An thấy chú Ba hí hoáy nắn một vật gì trông tựa cái lưỡi cày mà bằng đất sét. Chú lấy mũi dao liếc thật nhẵn mặt. Chỗ tay cầm cũng được gọt thật đều. An hỏi:

- Chú làm cái gì vậy?

- Tao làm cái bàn ủi.

- Làm bàn ủi để chi vậy chú?

- Để ủi quần áo chớ chi.

Giọng nói của chú lơ đãng. Trong giọng ấy còn có vẻ tự phụ vì chú nheo mắt ngắm nghía ra dáng bằng lòng lắm. Rồi chú nói chậm rãi tiếp theo, như nói với cái bàn ủi chứ không phải nói với An:

- Mốt tới phiên lò ông Hương Lạc đem gởi nung. Chín rồi lấy ra đem ngâm nước. Thế là giặt quần áo để sẵn đó. Đem đặt bàn ủi lên lò than nóng rồi cứ vậy mà ủi lên mặt quần áo. Quần áo dầu cũ mà trông như mới.

Cũ mà trông như mới! Thật là kỳ diệu, An nghĩ. Nó nhìn xuống cái áo cũ nó đang mặc, tưởng tượng rằng cái áo ấy sẽ mới và nó ngó sang cái bàn ủi một cách khâm phục. Cái bàn ủi ấy được mang đi nung, điều ấy quả có thật. Chính mắt An nhìn nó chuyển từ màu xám của đất phơi sang màu hồng nhạt của đất nung. Cũng lại chính tai An lắng nghe tiếng "boong boong" khi cầm nó lên để gần tai, cung ngón tay gõ nghe thử. Nhưng chắc chắn là An chưa hề thấy chú Ba dùng nó để ủi cái áo của chú cho từ cũ hóa "như mới". Có lẽ chú đã lén thí nghiệm nhưng bị thất bại nên sau đó chú không tuyên bố gì ráo.

Ngày hăm sáu tháng chạp phiên chợ Hôm, mẹ nói:

- Hôm nay An có đi chợ Tết không con?

An vội vàng như sợ ai kịp phản đối.

- Dạ có. Lát nữa thằng Tòng lại rủ con đi.

Tòng là bạn học lớp Tư của An. Vì sao mà quen thân nhau, An cũng không nhớ rõ vì nhà Tòng ở mãi tận Hội Tín đi học khác đường mà tính tình thì hai đứa không giống nhau. Cha Tòng làm thầy phù thủy. Có lần nó rủ An đến nhà chơi thấy gian nhà giữa đầy những tượng, những hình ông thần, ông tướng, những cờ những đèn, trống chiêng, thanh la, não bạt khiến An sợ khép nép không dám vào. Cha Tòng có một cái trán quá cao. Nhìn gần thấy chân tóc mọc nên An biết trán cao là vì tóc bị cạo. Sau này lớn lên được biết nhà Tòng vừa làm phù thủy vừa hát bội, - hai nghề này có họ hàng với nhau vì hò hét điều động âm binh cũng là một cách hát bội, - nên cha Tòng phải để trán cao mà đội cái mão. Lúc Tòng lớn, Tòng nghỉ học sớm và kế nghiệp cha. Cái trán của Tòng cũng được cạo lên thật cao và chân đi chữ bát. Lúc nói chuyện là hai tay vung vẩy như múa. Đó là kết quả của nghệ thuật tiêm nhiễm vào cuộc đời.

An thay quần áo xong thì Tòng đến. Tòng mặc quần trắng và áo cụt lụa màu hồ thủy. Những nếp gấp làm hai ống quần lép lại và gãy ra làm ba. Tòng đội một cái khăn lông màu vàng nghệ có chạy sọc xanh đỏ. Úp lên trên khăn lông là cái mũ kaki. Trông Tòng nửa giống như một chú nhỏ ở trong tranh vẽ, nửa giống như một tên lính Tàu thời cổ. Chắc Tòng chịu ảnh hưởng của những tấm tranh màu treo la liệt trên tường nhà nó.

Đường xuống chợ có nhiều chỗ lõm thấp xuống, đó là khi con đường đi sát cạnh những cái bàu nước. Mỗi bàu nước mang một tên bí mật: bàu ông Chì, bàu ông Lôi. Mỗi lần đi qua một cái bàu, An khép nép đi sát vào Tòng vừa liếc mắt xuống mặt nước đầy rong, ấu xanh um. Những gốc tre già xám đen, những thân cây sung cong vẹo in bóng xuống mặt nước làm cho các tên ông Chì, ông Lôi được trùm trong một không khí rùng rợn. Người đi và người về tránh nhau trên con đường hẹp. Lũ trẻ con đi chợ về trên tay thế nào cũng có những món đồ chơi, hoặc con gà cồ bằng đất, khi thổi ở lỗ khoét ngang hông thì cất tiếng gáy "côô... côô" hoặc con "chút chít" khi kéo ra đẩy vào thì phát ra tiếng kêu chút chít. Nhiều đứa hãnh diện cầm những ghim pháo tre, những bó pháo thăng thiên đi cạnh mẹ.

Đến gần chợ thì nghe tiếng mua bán xì xào vang lên. Thỉnh thoảng có tiếng pháo tre nổ "đùng" khiến trái tim của hai đứa như nhảy cỡn lên. Không ai bảo ai mà cả hai đều rảo bước.

Đến đây rồi, chợ Hôm! Những dãy lều mái bằng tranh rạ cột tre yếu ớt sắp chạy từng dãy. Có nhiều hàng bày bán ở giữa trời, như hàng trái cây, cá mắm. Hai cây đa to tỏa bóng mát cả một khu chợ. Lá đa dày san sát ở trên từng cao làm thành một vòm xanh lao xao cử động. Tiếng rì rào vừa phát tự dưới đất nơi người ta buôn bán trao đổi vừa phát tự trên cao do gió lay cành lá. An gặp chị Thắm bày bán đồ gốm ở gần gốc đa. Chị Thắm ở cạnh nhà An, hàng ngày vẫn sang giếng nhà An xách nước nhưng sao hôm nay trông chị lạ hẳn đi. Có lẽ vì chị mặc áo dài và đi guốc chăng? Hay vì đặt chị giữa cái khung cảnh lạ mà người chị trông cũng lạ đi. Những đồ gốm: ấm, chậu, hỏa lò, lon, vò, cây đèn, v.v... hàng ngày vì quá quen mắt An coi như không có giá trị gì nữa, coi như những đồ chơi vô nghĩa, thế mà người đến xem xét trả giá tấp nập. Chị Thắm đóng vai trò một cách rất nghiêm trang, từ chối rất quyết liệt, thách giá rất chắc chắn. Cái ấm cái chậu bỏ lăn lóc ở xung quanh hè nhà chị Thắm, thỉnh thoàng An lỡ đi vô ý đá phải ngã lăn, nay thấy người mua mặc cả giá từng đồng, móc túi đếm từng tờ bạc để trả và cuối cùng nâng niu xếp lên rổ bưng đi. Tòng nói:

- Tụi mình ra hàng pháo coi.

Hai đứa cầm tay nhau đi. Hàng pháo ồn ào nhất nên không mất công tìm. Nó ở cách biệt ra một góc chợ xa những hàng khác vì tiếng nổ không ai ưa, nhất là những người đi chợ hầu hết là đàn bà. Bác bán pháo là một người đàn ông vạm vỡ. Chỉ bán có pháo tre và pháo thăng thiên, bác đựng trong một cặp bồ lớn. Một số pháo bày làm mẫu được dàn trên một chiếc chiếu nhỏ. Người mua pháo bắt đốt thử. Bác tháo ở gắp tre lấy một chiếc pháo, bóc giấy (miếng giấy xanh đỏ dán đè lên ngòi) rồi đặt lên một tấm gạch cách xa bác một sải tay. Bác cầm cây hương cháy châm lên ngòi. Ngòi pháo xì khói, bác quay mặt sang một bên và một tiếng nổ "đùng" rền lên, chát tai. Xác pháo là một vòng nan tre bị cháy xém bay tung lên cao rồi rớt xuống.

Hàng hoa quả không hấp dẫn bằng ngày thường vì không có những miếng mít múi vàng óng ả, những trái mãng cầu nứt gai chảy mật, những quả ổi thơm, những trái xay, trái sim, trái đát. Hôm nay người ta chỉ bày bán những nải chuối xanh mà chuối xanh thì trẻ con không thích vì không ăn ngay được. Trẻ con không có tính kiên nhẫn đợi chờ. Ngày thường mẹ đi chợ về An lật rổ ra coi mà thấy bí thấy rau thấy cá là An ghét lắm. Kẹo, mít, bánh rán... mới là những món An hoan nghênh. An và Tòng đưa nhau sang hàng thịt cá. Thật đáng thương hại cho những bà hàng này quanh năm phải bán y một món không thay đổi. Áo quần thì đen đủi, món hàng thì tanh tưởi, thật không có một vẻ Tết vẻ xuân nào cả. Chẳng bù với hàng bánh mứt họ bày bán trong những cái quả sơn quang dầu đỏ thắm trông vui như những đám cưới. Các cô bán mứt đều xinh, tóc vấn trần chải dầu dừa láng mượt, áo dài vải trang đầm bó sát người.

Kề ngang hông chợ là dãy phố Hoa kiều. Đó là tiệm chú Năm Heo và tiệm ông Ngâu. Khách vào ra đa số là đàn ông đi mua rượu, tranh sơn thủy, chén bát, nho táo. Tiệm chú Năm Heo bán thuốc bắc. Những người đến cân thuốc xách đu đưa những gói thuốc bước ra khỏi tiệm, mặt trông buồn giữa cái khung cảnh nhộn nhịp của ngày xuân vui. Chọn ngày Tết để đau bệnh thật là không phải lúc.

Đi loanh quanh một lát hai đứa đã bắt đầu chán. Chợ ngày Tết khi chưa tới xem thì thấy háo hức là thế nhưng đi lại đôi vòng chúng đã khám phá hết mọi bí mật. Sự thỏa mãn có pha một ít chán chường như khi đọc một cuốn truyện cổ tích được người ta quảng cáo là hấp dẫn nhưng đọc xong một lượt thấy không còn thèm thuồng nữa. An nhìn trở lại khung cảnh chợ. Những dáng người đi lại chen lấn, cúi xuống lựa chọn mặc cả, những tiếng xì xào, ngay cả đến bóng rợp của cây đa cao An đều thấy quen thuộc hết.

Ngày hăm bảy tháng Chạp chú Ba đi hái lá me và trái me về giã nhỏ ngâm nước chùi đồng. Công việc thật nặng nhọc vì những bộ lư đèn ở ba bàn thờ tổ đều to lớn bề bộn. An cũng xen vào công việc cho vui nhưng chỉ chùi được những cái hộp thau mặt nhẵn. Nắp lư hương có hình con lân con phụng bị chú Ba hắt hủi nhất vì những kẹt khó chùi. Người đầy tớ phải lau dọn săn sóc thật khó có thể đồng quan điểm với người thợ đúc khéo tay và người chủ nhà yêu mỹ thuật. Việc quét nhà cuối năm cũng không kém nặng nhọc. Chú Ba bắc thang leo lên rầm cao, cầm cái chổi có cán dài để quét bụi và mạng nhện ở mái nhà. Chú bịt đầu bằng một cái áo đen cũ. Lúc bước xuống thang, mặt chú mốc thếch vì bụi trông lạ hẳn và như già đi.

Mẹ lo rim mứt. Hết chảo này đến chảo khác, mẹ ngồi trở mứt, mứt bí, mứt gừng, mứt chanh, mứt dừa... mà không hề la mỏi. Có đêm An mơ màng ngủ mà hễ chợt dậy là vẫn thấy mẹ ngồi cạnh chảo mứt cầm đũa đảo qua đảo lại. Tiếng nước đường sóng sánh. Hình như cả đêm mẹ không ngủ. An nghĩ: chỉ có mình là sung sướng nhất, chẳng phải làm gì hết. Thế mà lại được ăn nhiều nhất. Những miếng mứt vụn An ăn từ hồi còn dẻo. Khi mứt khô vớt ra nia phơi thì An vét chảo ăn đường. Chỗ nào có An là có cặp tay phá khuấy và cái miệng ăn không ngớt.

Ngày hăm chín gói bánh tét. Lại cũng chỉ mẹ và chú Ba là bận rộn. Những đòn bánh to bằng bắp vế thế mà cũng do mẹ thoăn thoắt sắp lá, đong nếp, đổ đậu xếp nhân thịt, gói, buộc lạt. Chú Ba ngồi cạnh phụ tay. Cha trông vậy mà cũng dở. Cứ đi lên đi xuống ngó chừng và nói vô ích làm mẹ mất công trả lời. Chẳng hạn:

- Đừng buộc chặt tay quá kẻo bánh không chín đều. Hôm đám giỗ ông nội bánh bị sống...

Cha bỏ lửng câu thì mẹ nói:

- Nhớ rồi.

Chẳng hạn:

- Còn dư nếp đủ gói một đòn nữa. Thế là một, hai, ba, bốn... đúng mười hai đòn cả thảy.

Mẹ nghe cha nói, miệng vừa cắn một đầu sợi lạt một tay cầm đầu kia xiết cho chặt vừa đưa mắt nhìn xuống số đòn bánh tét mà cha vừa đếm. Quả cha đếm không sai, nhưng số bánh không nhờ cha đếm mà tăng thêm. Cha chỉ làm được một việc mà An thích: đó là chôn một cột trụ giữa sân để chong cây đèn gương. Có lẽ cha cũng sẽ sai chú Ba đào lỗ chôn nếu chú Ba không bận tay. Cái đèn hình lục lăng, tối thắp lên sáng cả sân, đứng làm bạn với An khi nó phải trèo lên nằm ngủ trên chiếc ván gõ rộng ở nhà trên.

Những ngày mùa đông, gió mưa lạnh trời tối đen như mực mà một mình nằm ở nhà trên rộng mênh mông thật là cô đơn. Lắm lúc An có cảm giác rờn rợn rằng thân mình đã tan ra để lẫn mất vào bóng đêm. Khổ nhất cho An là khuya chợt thức buồn đi tiểu mà lò mò mãi trong bóng tối không biết cửa ở về phía nào để mở. Trẻ nhỏ nằm ngủ trên bộ ván rộng thì tha hồ mà quay. Đến chừng tỉnh giấc nhắm chừng mò ra cửa nhưng lại cứ đi xông ngược vào bàn thờ. Rờ chỗ nào cũng thấy những bàn những ghế. Sao mà lắm bàn lắm ghế vậy? Đêm nay nằm nhìn ra cửa sổ thấy ánh đèn sáng, An vui quá không muốn ngủ nữa. Ở dưới nhà ngang còn nghe tiếng lục cục của mẹ làm việc. Hồi chiều chú Ba làm thịt một lần hai con gà cồ thiến và ba con vịt. An lẽo đẽo theo đứng một bên để nhìn, An hỏi:

- Sao giết gà vịt một lần nhiều vậy chú?

- Chớ mày muốn để sáng mồng Một sát sinh hả? Làm thịt bữa nay để cúng hai bữa.

An nhìn dòng máu đỏ chảy từ cái vết cắt ở cổ chảy ròng ròng xuống cái bát, nhìn những cặp mắt mở to rồi mờ dần yếu dần cho tới lúc nhắm hẳn. Cái chết đến im lặng, nhẹ nhàng như một trò chơi dễ. An thấy thương hại cho con gà cồ oai vệ, cho con vịt hiền lành. An chép miệng:

- Tội nghiệp mấy con gà, con vịt hở chú? Chú giết nó không sợ nó báo oán sao?

Chú Ba quay phắt lại liền:

- Thằng này dóc tổ. Tao thấy xào nướng bưng lên là mày gắp liền tay. Mày ăn thì nó báo oán mày chớ mắc gì đến tao?

An thấy chú Ba nói cũng có lý nên định bụng thôi lần này không ăn thịt gà thịt vịt nữa. Nhưng ý định đó An quên ngay khi chú Ba rửa ráy xong bưng rổ gà vịt đi mất và nó thẩn thơ đi tìm xem chuyện khác.

Sáng mồng Một tiếng pháo nổ rầm rầm làm An choàng tỉnh dậy. Hỏi chú Ba thì là pháo ở tiệm khách Tụn. Nhìn vào bàn thờ thấy đèn sáp thắp sáng trưng và cha đã khoác áo chỉnh tề đứng khấn rì rầm. Trông cha uy nghiêm thật phù hợp với cái không khí nghiêm trang nơi đây. Để tăng thêm vẻ đường bệ, mọi cử chỉ của cha đều chậm chạp: rót rượu, châm nước, đốt hương, sửa nến. Cha đọc từng hàng chữ nho: "Đại Nam quốc, Phú Yên tỉnh, Tuy An phủ, An Sơn tổng..." chú Ba đem pháo tre ra đốt. Chú thích pháo nhưng nhát không dám cầm cây hương đốt mà phải cầm một thanh củi dài có đầu lửa đỏ. Mười tiếng nổ đùng liên tiếp, tiếng nào tiếng nấy bưng tai. Mẹ nói:

- Pháo năm nay hay.

An ngạc nhiên. Trông bộ mẹ lục đục suốt ngày như chỉ biết chú ý đến công việc làm thế mà không ngờ mẹ cũng lưu ý đến tiếng pháo vui chơi. Cha tươi cười vì câu nói của mẹ ngầm ý bảo: năm nay làm ăn có hy vọng khá vì pháo nổ chắc tiếng. Cả thôn Quảng Đức chỉ có chú khách Tụn đốt pháo dây còn thì các nhà khác chỉ đốt pháo tre, có nhà mươi tiếng, có nhà ba tiếng, năm tiếng.

Vừa bảnh mắt đã có mấy tay cầm cái xóc dĩa chia nhau từng chặng trải chiếu trên con đường xóm. Lũ trẻ con bâu quanh liền. Chú Ba bôn chôn ra mặt khi nghe tiếng bốn đồng tiền rủng rẻng của hàng xóc dĩa tổ chức ngay ở góc rào nhà. Chú ham đánh xóc dĩa và ích-xì hơn ăn mứt ăn bánh. Chú cứ đi ra đi vô như người mất hồn. Khổ cho chú hơn nữa là ở ngoài góc rào tiếng lũ nhỏ cứ reo lên :

- Bán chẵn này.

- Lạy trời ra cái lẻ nữa đi.

- Đặt bên chẵn một tiền rưỡi.

- Lẻ! Lẻ! Coi chừng nhà cái chạy làng.

Đường cái vang lên tiếng guốc. Nghe tiếng guốc có thể đoán biết được người mang. Tiếng guốc lỏng cỏng gõ vội vàng là tiếng chân của một đứa bé mới tập đi guốc lần đầu. Tiếng guốc chậm chạp thỉnh thoàng dừng lại là tiếng guốc của người mẹ, người chị đi kèm lũ trẻ. Tiếng gõ chắc chắn nện mạnh trên nền sỏi là tiếng guốc của người đàn ông. Con đường sỏi đá gập gềnh làm nhiều đứa nhỏ đi trượt guốc cứ phải tụt lại đằng sau đứng sửa. Lắm đứa đã chán với cái trò chơi đi guốc rồi nên cặp guốc lại cầm ở tay và đi chân đất như thường ngày. Lối đi này thoải mái dễ chịu hơn cả.

Đường cái rộn rịp nhưng nhà cửa thì vắng vì cửa ngõ cửa ra vào nhà ai cũng đóng im ỉm hoặc mở he hé. Xóm làng thành ra mang một vẻ uể oải giả dối. Vì ở đằng sau cánh cửa đóng là cả một sự hoạt động rộn rịp.

Gần trưa, cha An tiếp những ông khách lễ mễ trịnh trọng trong những cái áo dài đen và cái quần trắng. Những ông nhà nông mà thường ngày mặt mày không lúc nào khỏi đầy bụi bặm, râu ria tua tủa, áo vải to dày cộm thấm đầy mồ hôi, hôm nay mặc áo quần mới trông trẻ và đẹp ra. Nhưng An không thích nghe tiếng chân ghế kéo chạm vào mặt đất khi khách sắp ngồi và khi khách đứng dậy sửa soạn ra về. Những câu chuyện trao đổi giữa cha mẹ và các người khách cũng vậy. Toàn nói những thứ gì An không hiểu, thế mà họ cũng cười với nhau một cách thích thú thành thật. Những lúc này An tỉ tê theo gợi chuyện với chú Ba. Những điều An hỏi, chú Ba đều trả lời được hết:

- Sao đánh xóc dĩa, chị Lượm đặt tiền lại quay thành một vòng ở dưới chiếu hở chú? Sao không đặt một ụ như người ta?

- Hễ nó ngồi bên phía chiếu lẻ mà nó muốn đặt chẵn thì nó đặt tiền quay thành một vòng. Nếu nó để thành ụ, thành đống thì tức là nó đánh lẻ.

- Sao chị ấy không đặt sang bên chiếu chẵn cho nó tiện?

- Tại ngồi xa nó với tay không tới.

- Họ chúc Tết "bách niên dai lão" là sao hở chú?

Chú Ba vừa nhai miếng cốm vừa nói:

- "Dai" lão là sống dai.

An hết thắc mắc, vói tay vào dĩa lấy một miếng cốm ăn theo chú. Đây là phần bánh mứt mẹ sớt vào một dĩa lớn dành cho chú. Trong số những vò, hũ, chum... bỏ trống ở nhà bếp, chú chọn một cái vò để cất dĩa bánh mứt vào đó. Khi đi chơi về, hoặc vào trưa, hoặc lúc khuya, chú mở vò bưng dĩa ra lấy ăn. An chia phần với chú và ăn thấy ngon hơn là khi ăn chung với cha mẹ.

Ngày mồng Hai cha nói:

- An có muốn theo cha xuống núi Một thăm ông Cửu Nghiệp không?

An mừng quýnh trả lời vội vàng:

- Có.

Ông Cửu Nghiệp giàu nhất vùng và nhà ông xây hai từng. Suốt một phủ Tuy An chỉ có bà Cửu Phần và ông Cửu Nghiệp là ở nhà lầu mà thôi. Ông là chỗ bạn thân của cha nên mỗi khi đi ra tỉnh tiện đường ông đều ghé nhà. Cha tiếp ở nhà trên, ngay gian giữa. Hôm nay theo cha, An mặc áo dài đen cẩm nhung. Sự trịnh trọng này do một ngẫu nhiên may mắn mà có được. Số là xấp hàng cẩm nhung cha đưa may cắt thế nào mà rốt cuộc còn dư lỡ cỡ một đoạn. Tính toán đủ lối vẫn không có cách nào dùng được cả nên cuối cùng mẹ đề nghị: để may cho thằng An cái áo dài. Đó là cái áo dài đầu tiên của nó. Bước ra đường, An được lũ trẻ trầm trồ nhìn. Hơi ngượng một chút nhưng mà thầm thích thú. Con đường hôm nay không chỉ có những người đi rong chơi mà còn có nhiều người đi làm ruộng. Người ta đã cởi bỏ bộ quần áo mới như còn nuối tiếc nên vẫn cố giữ hoặc một cái quần hoặc một cái áo vải mới. Thân người nửa mới nửa cũ hóa ra màu cũ trông tàn tạ thêm. Cày cuốc ngự trên vai.

Đi qua khỏi xóm thì tới cánh đồng Hòa Mai. Ruộng đang mùa cày bừa trông thấp hẳn xuống. Vài đám mới cấy, bụi lúa cắm như chân hương vàng vọt. An thường quen mắt với đồng lúa mướt màu xanh, lá lúa gợn sóng hoặc cánh đồng lúa chín vàng hạt lúa nặng làm gục đầu thân lúa nên trông cánh đồng hôm nay có vẻ trần truồng. Con đường ruộng, từng chặng, nhầy nhụa những khối bùn do các cô thợ cấy ném lên khiến An phải đi rón rén cẩn thận. Đưa mắt nhìn quanh sang các xóm làng bao quanh cánh đồng, An thấy chỗ này chỗ kia có từng đoàn người đi, màu áo đen trên điểm nón trắng. Thỉnh thoảng nhô lên cái ô đen. Nó lẩm nhẩm lẫn lộn không biết đó là Hòa Tú hay Hòa Chiểu, phía kia là Hà Yến hay Trường Xuân. Cha chỉ một xóm trước mặt, nói:

- Núi Một kìa.

Đó là ngọn núi thấp nằm dài, mình mang đầy cây cối xanh um. Dưới chân núi các nông trại chia nằm rải rác từng nhóm. Theo tay cha chỉ, An chú ý nhìn vào khu vườn nhà ông Cửu Nghiệp xanh um màu tàu chuối tàu cau. Thân cau trắng mốc đứng vươn lên thành hàng song song. Nỗi vui được thấy cảnh lạ làm An quên nghĩ đến con đường còn lại phải đi. Thoáng mới đó mà đã giã từ con đường ruộng để bước lên con đường đá đánh vòng đai núi Một. Những bụi gai thấp, những chùm táo nhơn thưa, những thân chuối rậm rạp xanh mướt trông quen thuộc.

Bước vào vườn chuối, An thấy êm mát vì ánh sáng lọc qua lá chuối non đổ xuống xanh xanh. Thân chuối bụ bẫm đứng cao vút như muốn vượt theo thân cau. Ở vườn nhà, chuối thấp hơn và thân cau cũng gầy hơn. An nghĩ thầm: "Cái gì của ông Cửu Nghiệp cũng oai". Những cây mít mang trên mình đầy trái. Trái lớn quây quần dưới gốc còn rải rác trên thân cây là những trái hạng vừa nằm thưỡn dài trông như những cái vú chảy. Bưởi cam cũng không thiếu. An thèm thuồng cái địa vị của người con ông Cửu Nghiệp được sống giữa những món ăn ngon này. Sao ở nhà nó lại chỉ có toàn những lúa và nếp thế? Có lần nó thỏ thẻ so bì với mẹ:

- Nhà con Bông làm kẹo nên nó sướng hơn con. Kẹo bể là nó ăn. Véo chỗ kẹo dẻo nào cũng bỏ vào miệng được. Nhà mình thì chỉ toàn lúa nếp. Lúa ăn không ngon. Sao mẹ không làm nghề kẹo có sướng hơn không.

Mẹ cười mà không trả lời.

Tiếng chó sủa ồ ồ làm An giật mình. Tiếp theo, tiếng sang sảng vang trong nhà:

- Có đứa nào ra coi chó, bay.

Đúng là tiếng của ông Cửu Nghiệp, giọng chậm rải của người giàu không cần vội vàng. Người ở là một anh lực điền ra mở cổng. Ba con chó cao to như ba con bê nhảy xồ ra khiến An bấu vào áo cha. Cha vẫn đứng yên nhìn vào anh lực điền đang lấy tay gãi sau ót lí nhí thưa:

- Dạ thưa thầy xuống dưới này.

- Ờ! Có ông Cửu ở nhà không?

- Dạ có.

Cha ung dung bước vào khiến ba con chó đứng dạt ra. An bước theo, lây cái can đảm của cha. Ông Cửu Nghiệp ra đứng trước hiên vái chào. Ông đội khăn nhiễu đen, mặc áo xa-tanh màu lam dệt bông to, chân đi giày Gia Định. Cha cúi xuống chắp tay vái trả lại. Ông Cửu quay lại xoa đầu An và nói:

- Con đi xa có mỏi chân không? Để bác mừng tuổi cho con.

Ông móc túi lấy một cắc bạc trắng tinh đặt vào lòng bàn tay An. An lúng túng không biết nên làm sao. Chợt nhớ tới cha và ông Cửu chào nhau lúc nãy, nó chắp tay cúi xuống vái. Lát sau khi đã bình tĩnh lại nó thấy ngượng vì cái vái vô duyên. Đáng lẽ phải nói "Con cám ơn bác".

Cha và ông Cửu ngồi ở một cái bàn tròn trên xếp đầy những đồ dùng mà thoáng nhìn An đoán là rất quí, rất đắt tiền. Bộ bình trà có chạm rồng nổi mạ vàng. Ve rượu bằng thủy tinh trong suốt có một cái bầu rất thon và cái vòi nhỏ uốn cong dịu dàng. Ly rượu toàn viền vàng. Cái điếu thuốc lào khảm xà cừ với cần trúc uốn dài cong vút. Hộp trầu, khay kỷ, dĩa bánh mứt, tất cả đều choáng lộn hoặc màu xanh đỏ óng ánh xà cừ hoặc màu vàng quí phái hoặc màu trắng muốt nõn nà. An ngồi ở cái trường kỷ tay mân mê những chỗ chạm trổ hình rồng hình phụng. Quả hồng tàu ông Cửu cho, nó nắm mà không ăn. Nó cứ đưa mắt nhìn cái nhà rộng thênh thang với cái trần cao trong bày biện toàn những đôn, lọ, sạp, ghế. Nó nhìn lại ông Cửu thấy ông bé quá so với cái nhà. Để che nắng che mưa chắc chắn ông Cửu không cần một cái nhà to như vậy. Nó chợt thấy khâm phục con người nhỏ nhắn mà có thể tạo tác ra một công trình to lớn dường ấy. Ở đằng bàn tròn, ông Cửu và cha chuyện trò tương đắc. Khói thuốc tỏa ra bao vây chỗ hai người khiến trông họ như ngồi sau đám sương mờ mờ đục.

Khi cha đứng dậy cáo từ, ông Cửu nài ở lại nhưng cha lấy cớ ngày Tết có khách đợi ở nhà nên không chịu. An lãnh thêm hai trái cam ông Cửu cho, cúi đầu chào và theo bén gót cha. Ông Cửu đi tiễn đến mãi đầu đường mới trở lại. Khi còn lại hai cha con, An nói:

- Cha hẹn cho con coi lầu ông Cửu Nghiệp mà con không thấy lầu đâu cả.

- Thì nhà lầu đó.

- Nhà lầu gì vậy? Phải leo lên trên lầu mới gọi là lầu.

- À quên! Tao tưởng mày biết rồi. Nhưng mà... cũng vậy đó thôi, cũng như hai cái nhà chồng lên nhau.

Về đến nhà đôi chân An mỏi nhừ. Tuy vậy nằm nghỉ một lát rồi An lại nhập bọn với lũ trẻ và như thế là ngày mồng Hai nhẹ nhàng trôi qua. Mồng Ba cũng vậy. Ngày mồng Bốn cúng tiễn ông bà. Giấy tiền, giấy vàng bạc chất đầy nia to, chú Ba vừa đốt vừa nheo mắt tránh khói khiến cái miệng méo xệch. Chú lấy một xấp giấy vàng bạc phết hồ lên lưng từng tờ đem dán vào cái cối xay, cái cối giã, mấy cái chày, cái thúng, cái giếng, cái ngõ, cây mít... không biết có qui chế nào ghi rõ món nào phải dán không nhưng cứ xem vẻ mặt của chú khi cầm tờ giấy vàng bạc dính đầy hồ đứng lưỡng lự trước chuồng heo và cây ổi là An đâm nghi. Hình như chú phải kiếm cho ra món để dán kỳ hết xấp giấy vàng bạc. Được tờ giấy vàng bạc dán lên mình, mấy đồ vật tầm thường như có thêm linh hồn và đang dự vào một cuộc sống huyền bí. Trong lễ cúng tiễn, bao nhiêu pháo còn lại đều đốt hết. Bảy, tám đòn bánh tét cũng đem chất đầy ghế. An nhìn ánh lửa thiêu vàng mà bùi ngùi. Phải một năm sau mới gặp trở lại, một năm trọn vẹn vì cuộc hành trình mới vừa khởi đầu. An thấy buồn chán nản.

Tuy vậy, tháng ngày cứ nhẫn nại và lặng lẽ đi qua, như một lũ nhỏ cầm tay nhau đi vòng, đi mãi rồi thế nào cũng gặp lại chỗ cũ. An lớn lên dần và cái thôn Quảng Đức cũng già nua dần đi. Những ngày Tết nối tiếp nhau theo cái tốc độ chậm chạp của nó nhưng khi ngoái nhìn trở lại trong dĩ vãng, tính nhẩm số tuổi thì An lại thấy chúng đi mau. Mỗi lần Tết đến hoa cúc vạn thọ lại nở trước sân nhà, tiếng đồng tiền xóc dĩa lại rủng rẻng khắp ngõ xóm. Ngồi lần lại ký ức, An thấy yêu mến hết sức cái Tết năm đó An theo cha xuống thăm nhà ông Cửu Nghiệp. Ông Cửu Nghiệp là hình ảnh của sự sung túc, của cuộc đời an nhàn lý tưởng trong những ngày bé thơ của An. Sau đó chừng mười năm khi An lớn lên và phải đi học xa. An sống xa dần cái khung cảnh êm đềm ngày xưa và những người quen thuộc cũ. Một lần đột nhiên hỏi về ông Cửu Nghiệp, An nghe cha nói một cách bùi ngùi:

- Ông Cửu về ở trên Đồng Tranh từ năm kia. Nghe nói bây giờ túng lắm. Bà Cửu phải làm hàng xáo.

An tự xét:

- Ông Cửu giàu như vậy mà sao lại nghèo mau vậy?

- Vì mấy vụ kiện vẩn vơ, chuyện tranh giành ruộng hương hỏa tuyệt tự đáng lẽ có thể thu xếp ổn thỏa nhưng vì tức khí lại bị hương lý và lũ nha lại xui nguyên giục bị nên cứ theo kiện mà sạt nghiệp.

- Còn cái nhà lầu?

- Sở vườn đem thục để chạy kiện rồi đoạn mãi luôn. Cái nhà lầu bán cho chú khách Lê ở Hàng Dao. Ông Cửu phải về ở trên Đồng Tranh là quê của bà Cửu.

An buồn như nghe tin chẳng lành xảy đến cho người thân thích của mình.

Ngày chiến tranh bùng nổ, cái nhà lầu của ông Cửu Nghiệp bị phá hoại. Vôi gạch đổ xuống từng đống. Nền xi măng chú khách Lê cho người ta gặt nhờ để đạp lúa. Mỗi ngày gặt, được một giạ lúa cho thuê sân. An ngậm ngùi nhìn cái di tích của thời ấu thơ êm đềm nay không còn nữa, có còn chăng cũng chỉ ở trong cái ký ức bề bộn của chàng thôi. Lâu lâu khi có dịp, An ra đầu xóm đứng nhìn về chân núi Một. Chòm lá chuối lá cau xanh ngắt của vườn ông Cửu Nghiệp còn đó. Những thân cau vẫn một màu trắng mốc đứng vươn lên từng hàng song song. An tưởng tượng thấy ở nơi cái vườn sum sê hoa lá ấy những con chim sẻ vẫn say mê mổ thóc rụng, những con chích chòe vẫn nhí nhảnh chuyền trên cành lá lục lọi tìm sâu, những con chiền chiện vẫn mải miết tước lá cau lấy sợi về làm tổ. Ở dưới các con mương nhỏ mọc đầy khoai môn khoai sáp, lũ cá sặt cá rô vẫn tinh nghịch đớp mồi và lũ châu chấu cào cào vẫn xòe cánh mỏng màu lúa non mà bay sè sè trong nắng. Sự sinh hoạt của cảnh vật vẫn bình thản êm đềm, nhưng còn đâu nữa ông Cửu hào hoa và ngôi nhà lộng lẫy?

 
VÕ HỒNG      
 
(Trích từ tập truyện Lá Vẫn Xanh) 

 

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

DUYÊN ANH MỪNG TUỔI - Duyên Anh


 
 
 
 
 
 
 
 
Mừng em đôi gà nhỏ
Mừng thêm gạo thêm ngô
Thêm chiếc lồng tre nữa
Cho em đầy giấc mơ
 
Mùa xuân vườn tươi mát
Em thả gà rong chơi
Canh lũ diều hâu ác
Ghen ghét trẻ thơ cười 
 
Mùa hè đôi gà lớn
Con trống tập làm trai
Con mái tơ mơn mởn
Gại mỏ tỏ tình ngây
 
Bấy giờ chúng yêu nhau
Quên cả trời lẫn đất 
Và loài cáo hang sâu
Đang bày mưu rình bắt
 
Hãy từng đêm mở mắt
Nhân danh em tuổi hoa
Đóng vai người lính gác
Hạnh phúc của đôi gà
 
Mùa thu thơm gió mới
Con mái nằm ổ rơm
Em bình yên chờ đợi
Tiếng líp nhíp gà con
 
Trái mơ em đã nở
Đàn gà đẹp như tranh
Này con chồng con vợ
Này con út con anh
 
Em ạ anh quá già
Nửa cuộc đời trôi giạt
Không nuôi nổi đôi gà
Nói chi những chuyện khác
 
Em còn xanh mộng ước
Em còn thắm xuân hồng
Vươn tay em nắm được
Những gì anh uổng công
 
Anh sên già lùi bước
Mừng tuổi em đôi gà
Mừng em phơi hạnh phúc
Dưới nắng ấm quê nhà
 
                                (1-1974) 
 
(Trích từ giai phẩm Tuổi Ngọc Xuân Hồng, 1974)
 

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

ĐI DƯỚI BÓNG LÁ - Võ Hồng


Tôi ngồi chồm ra đằng trước, bảo người tài xế:
 
- Ông cho xe chạy chậm lại. Rất chậm.
 
- Đoạn đường này tốt mà - người tài xế nói - Không có nguy hiểm gì đâu.
 
- Tôi biết, nhưng tôi muốn được nhìn phong cảnh một chút.
 
- Cảnh này cũng thường thôi. Cũng ruộng, cũng tre, cũng núi.
 
Tôi muốn nói "nhưng đó là quê hương của tôi". Nhưng tôi không nói được. Chữ "quê hương" chỉ mới nghĩ đến đã làm xốn xang nơi hai khóe mắt tôi.
 
Quê hương của tôi đó thật. Ở phía bên kia quốc lộ, cách quốc lộ chừng một cây số. Tôi biết rõ con đường sẽ dẫn đến đó bằng cách nào. Nó xổ xuống một con dốc nhỏ, nó uốn lượn theo một đám ruộng, nó bò men theo những đám đất thổ. Bên tay mặt là hàng tre, hàng tre kéo dài, hàng tre bịt kín, làm ranh giới cho con đường, tỏa bóng mát âm u xuống con đường. Từng chặng, hàng tre bị đục thủng để một con lộ nhỏ chạy qua, chạy dẫn vào một khu vườn, chạy vào một ngôi nhà. Tôi sẽ đi tới cái quán Cây Keo, đi qua cái lẫm Thiện Đức, đi trờ tới cái bến sông có bãi cát vàng phẳng lì. Bên kia bờ sông là nhà tôi, nhà của ông bà tôi.
 
Tôi chỉ đi tới bằng trí tưởng tượng. Bởi vì chỉ cách một cây số mà ngôi nhà tôi nằm ở vùng mất an ninh.
 
Xe chạy chậm nên tiếng nổ nghe nặng. Mùi xăng nồng nàn. Tôi dõi mắt nhìn qua cửa xe. Dãy núi A Man chạy dài ở sau nhà tôi lưa thưa cây thấp. Những ngày chiến tranh rộn rịp, quân đội bắt chặt bỏ hết những lùm cây lớn. Đầu núi A Man ngày xưa có những tảng đá thật lớn màu nâu non và màu vàng nhạt đứng sừng sững, chồng chất lên nhau, ở cách xa hơn mười cây số vẫn ngó thấy rõ. Người xóm tôi gọi là Đá Tượng. Dưới chân Đá Tượng có một khu rừng rậm toàn những cây cao, bao trùm một khoảng rộng chừng hai sào. Hôm nay thì khu rừng rậm đó đã bị chặt sạch. Những hòn Đá Tượng cũng đã bị tiêu diệt mất tích. Tôi nhìn ngọn núi của mình mà tưởng núi của ai đâu. Chiến tranh đã hủy diệt đến cả những tảng đá trên chỏm cao.
 
Xe chầm chậm lướt qua cầu Ng... S... Dòng sông rộng làm cho khung cảnh khoáng đạt. Qua lùm cây xanh, mắt tôi nhìn thấy ẩn hiện bức tường trắng của ngôi nhà tôi. Kia kìa là cái bến sông. Những ngày nhỏ, ông tôi hay dắt tôi ra đứng đó, cho tôi dầm chân dưới nước rồi chỉ cho tôi xem cái cầu dài, vừa nói:
 
- Hồi xưa ba mày còn nhỏ, ông cũng dắt xuống đứng chỗ này và chỉ cho ba mày coi cây cầu.
 
- Ba con có được dầm chân xuống nước như thế này không?
 
- Không. Ông không cho đứng dưới nước.
 
- Thế sao bây giờ ông cho con đứng?
 
- Ờ... ờ...
 
Ông tôi không giải thích được và tôi cũng không nài nghe lời giải thích. Bây giờ đây ngồi nhớ lại, tôi nghĩ rằng có lẽ tại vì ông chiều ý tôi hơn là chiều ý ba tôi. Khi cầm dắt tay ba tôi thì ông hãy còn trẻ, khi cầm dắt tay tôi thì ông đã già hơn bảy mươi tuổi rồi. Tấm lòng của mọi người già đều chùng xuống, dễ dãi.
 
Tôi nói:
 
- Nếu ba thấy ông dắt con đứng dưới nước, chắc là ba la con.
 
- Ờ.
 
- Ông có sợ ba la không?
 
Giọng ông tôi chậm rãi: 
 
- Mắc mớ gì sợ?
 
Ông tôi có một lối đáp lững đững như vậy.
 
Ông dắt tôi đi chầm chậm giữa khu vườn um tùm những thân cây chuối, cây cau, cây cam, cây xoài... lá xanh lọc ánh sáng làm màu áo của tôi cũng xanh theo. Tôi hỏi:
 
- Ông trồng những cây chuối hay ba trồng?
 
- Ông trồng.
 
- Một mình ông mà trồng được nhiều cây vậy?
 
- Ông thuê tá điền tới trồng.
 
- Tá điền là cái gì?
 
- Đó là những người làm rẽ ruộng cho mình.
 
- Ruộng cũng giống như những cây chuối hở ông?
 
Ông tôi cười ngon lành:
 
- Nói bậy. Nói bậy. Ruộng là chỗ người ta cấy lúa. Có bùn, có đỉa.
 
Câu trả lời lởm chởm những cái khó hiểu. Cấy? Lúa? Bùn? Đỉa? Tôi không biết đó là những cái gì. Nhưng tôi không dám hỏi, sợ ông tôi lại cười.
 
Chúng tôi lại chầm chậm bước đi bên nhau. Những tàu lá chuối khô làm vướng bước chân, lôi kéo trì tay ông lại và ông cúi xuống nhặt tàu lá chuối, bẻ gấp làm đôi làm ba ném vào thân cây chuối. Thỉnh thoảng lại gặp cái gai tre nhọn hoắt nằm chỉa lên đe dọa khiến tôi không dám bước tới. Tức thì ông tôi lại cúi xuống, nhón cái gai tre ném vào bụi tre. Ông nói:
 
- Cứ bước tới đi chớ!
 
- Con sợ nó đâm vô chân.
 
- Có mang giày mà.
 
- Nó đâm lủng luôn đế giày.
 
- Ờ.
 
Chúng tôi đi dưới tàng một cây khế lớn. Những trái khế chín vàng rung rinh theo cơn gió nhẹ. Tôi nói:
 
- Ông hái cho con trái khế kia.
 
- Chi?
 
- Con ăn.
 
- Không được. Ăn đau bụng.
 
- Ở thành phố con cũng được ăn khế mà. Chị bếp mua khế dưới chợ về ăn.
 
- Về thành phố hãy ăn. Ở đây không được ăn.
 
- Sao vậy?
 
- Ăn rồi đau bụng, ba con la.
 
- Vậy là ông cũng sợ ba con la đó.
 
Ông tôi quay nhìn tôi:
 
- Mắc mớ gì mà sợ?
 
Năm 1968 ông tôi từ trần sau một cơn bệnh dài. Ông nằm dưới một ngôi mộ nơi chân núi A Man. Tôi lớn lên không còn được ông dắt tay đi thẩn thơ giữa khu vườn xanh um cây lá nữa.
 
Ông tôi vừa mất thì chiến tranh ùn ùn xảy tới, xóm tôi mất an ninh, mọi người ồ ạt chạy loạn. Bà tôi vào thành phố ở với chúng tôi. Bà tôi dịu dàng, mua cho tôi những miếng mít, những trái dưa, những cái bánh ngọt... nhưng tôi vẫn thương vẫn thích sự săn sóc vụng về của ông tôi hơn. Bà tôi nói năng mạch lạc, dẫn giải rạch ròi nhưng sao tôi vẫn âm thầm nhớ nhung lối trả lời lủng củng của ông tôi. Có cái gì rộng lượng bao dung trong những sơ sót của ông khiến tôi thích thú coi ông như một người bạn.
 
Về ở thành phố nhưng bà tôi chỉ ngóng về quê cũ. Hễ có dịp là bà nhắc đến nó:
 
- A! Sắn nước! Ở trong này mà sắn nước cũng lớn củ dữ quá há? Nhưng chắc không ngọt bằng sắn nước ở ngoài mình. Ờ, tháng Mười rồi. Không biết mấy đám rẫy ở Phường Lụa năm nay có ai trồng sắn nước không?
 
Tôi đã thấy những đám rẫy sắn đó. Chúng nằm ở triền núi, nằm thoai thoải bám vào da núi. Người ta đánh đất thành vồng, bón phân rồi gieo hột sắn nước. Khi lá sắn nứt xanh um, những miếng rẫy như được gạch những đường kẽ dọc màu xanh đều đặn. Một sườn núi như vậy được chia ra thành từng đám rẫy, phân cách nhau bởi một ranh giới bằng những bụi cây xanh, gạch đều đặn bằng những đường thẳng màu xanh. Nhiều sườn núi nối tiếp nhau trên một quãng dài ba bốn cây số thì quang cảnh không thể là không đẹp.
 
Ba tôi thường đợi dịp bà tôi nhắc nhở quá khứ như vậy để góp lời chuyện trò.
 
- Hồi nhỏ không biết sao đứa nào cũng ham ăn sắn nước - lời ba tôi - Cứ mỗi buổi chiều chuyến đò nào đi từ Phường Lụa sang Lò Gốm cũng chất đầy gánh sắn nước.
 
- Chớ sao? Gánh tuốt xuống chợ Xổm, dưới Hàng Dao, dưới nhà thờ Mằng Lăng, dưới Hội Tín mà bán.
 
- Gánh sắn nước đến bến đò, họ gánh thẳng đặt xuống nước, dội cho sạch đất. Củ sắn trở nên trắng trẻo, mơn mởn.
 
- Cũng nhờ cái bến đò...
 
Khi câu chuyện bắt đầu nhạt, ba tôi quay sang tôi:
 
- Trồng sắn nước phải qua hai giai đoạn. Đem củ trồng xuống, củ sinh ra một dây đậu có hột. Đem hột đậu đã khô trồng xuống, hột sinh ra củ sắn nước.
 
Lần đầu tiên tôi được biết một lối sinh sản kỳ diệu và bất thường như vậy. Phải bao nhiêu khó khăn mới thành một củ sắn nước dòn tan và ngọt mát dưới răng.
 
Ba tôi tiếp:
 
- Quê mình kêu là củ sắn nước, ngoài Bắc gọi là củ đậu.
 
Tôi so sánh hai chữ củ sắn nướccủ đậu. Tôi thấy thương cho cái tên củ sắn nước. Nó quê mùa, chuyền trên miệng những người lam lũ chất phác của quê tôi, từ thế hệ này chuyển giao qua thế hệ sau. Nó hiện diện một cách vững chắc, bất chấp qui luật ngữ pháp hay văn phạm. Nó mang cá tính của một miền nên nghe nó người ta hình dung đến một miền. Một miền với đầy đủ Quá khứ, Hiện tai và Tương lai.
 
Mỗi lần Tết đến, bà tôi hay mua những chậu cúc vạn thọ bày ở trước sân. Tôi hỏi:
 
- Sao bà không mua bông hoa khác đẹp hơn lại mua chi cúc vạn thọ?
 
- Uở, hễ Tết thì phải có bông vạn thọ chớ.
 
Bà tôi lại phải nhẫn nại giải thích:
 
- Người ta thường trồng vạn thọ vào dịp Tết vì nó dễ trồng, nở nhiều hoa và màu hoa đậm đà. Thêm một lẽ là vì tên nó là Vạn Thọ, có nghĩa là chúc sống lâu.
 
Sau này khi lên Trung học, trong một bài giảng văn tôi nghe có tên cây Tang cây Tử, chắc chẳng ai dám trồng trong sân nhà. Vừa để tang, vừa chết, cố nhiên là hiểu theo nghĩa đồng âm, thì quá chu đáo trong việc gợi ý bi thảm. Tôi nghĩ mông lung đến việc đặt tên những giống thảo mộc. Giá có đầu óc lý tài một chút các nhà vườn đã không đặt tên hoa mõm sói mà đặt là hoa Ngũ Phúc chẳng hạn, thay tên hoa loa kèn bằng hoa Tam Đa chẳng hạn, hoa rẽ quạt bằng hoa Song Hỉ chẳng hạn. Sự tiêu thụ sẽ ồ ạt biết bao vào dịp Tết.
 
Thỉnh thoảng những người cùng quê cùng chạy giặc ghé lại thăm bà tôi. Những lúc đó bà tôi lấy lại được giọng nói ung dung chậm rãi của những ngày huy hoàng cũ, khi lúa nếp ngoài đồng chảy thành suối vào kho nếp lẫm lúa. Bà tôi tiếp họ nơi phòng khách với cả ống nhổ và cái cối giã trầu bằng đồng. Những người khách đó uống trà và uống xong cứ đổ hắt phần nước trà còn lại xuống mặt gạch y như "hồi còn ở ngoài quê". Bao giờ cũng vậy, sau khi khách ra về, chị ở phải lo lau chùi những mảnh nước trà đóng khô màu nâu. Ba tôi dặn không ai trong nhà được tỏ ý khó chịu với cái cử chỉ đổ hắt nước trà đó. Ba tôi nói:
 
- Cứ để bà con thoải mái tự nhiên. Hãy cố gắng cắt y nguyên cái mảnh sinh hoạt ngoài quê đem lắp vào nơi này. Đừng tưởng bộ ghế xa lông, cái quạt trần và cái tù búp-phê làm họ thích thú. Mà họ thích được ngồi xếp chân trên bộ ván có ấm nước bằng đất sét nung ngồi gọn trong một cái giỏ bằng tre đan. Và thoảng qua cửa sổ là mùi thơm của hoa cau và tiếng chim se sẻ.
 
Bà tôi đau yếu trong những năm cao tuổi. Bà khẩn khoản nói với ba tôi:
 
- Để tao về ngoài đó.
 
- Đâu có được? Ngoài đó tản cư hết.
 
- Tao xuống ở dưới chùa Châu Lâm. Tao ở với bà cô trụ trì.
 
- Nhưng tuổi già đau yếu không có ai săn sóc.
 
- Có bà cô.
 
- Ăn uống, giặt giũ, thuốc men, hầu hạ... chẳng bà cô nào lo nổi đâu. 
 
Bà tôi ngồi ứa nước mắt vì đuối lý. Bà nói nhỏ với tôi:
 
- Ông chết chôn ngoài đó nên bà cũng muốn về ngoài đó mà chết. Để được chôn gần ông.
 
Tôi không biết nên trả lời sao. Đành chỉ vuốt ve mái tóc bạc của bà mà nói:
 
- Bà ở đây để ba con săn sóc thuốc men. Ở ngoài đó đâu có thầy thuốc? Thầy thuốc cũng chạy đi tản cư hết.
 
Bà tôi lấy khăn lau nước mắt:
 
- Cũng có chớ. Họ tản cư vô Chí Thạnh. Cũng còn tiệm thuốc Bắc nơi Chí Thạnh.
 
- Nhưng ai đi mời thầy thuốc và đi bổ thuốc cho bà? Ở đây có bác sĩ kề bên và tiệm thuốc Tây kề bên. Uống thuốc Bắc thì có ông thầy Nguyễn Học Sanh cũng ở kề bên.
 
Bà tôi im lặng.
 
Một hôm bà gọi ba tôi lại:
 
- Tao chịu ở trong này nhưng khi trăm tuổi rồi thì tụi bay phải chở về chôn gần bên mộ ông.
 
Ba tôi ngần ngừ:
 
- Nếu tình hình yên ổn thì điều đó không khó. Chỉ sợ chiến tranh kiểu này thì không biết chừng nào yên.
 
Tình thế không yên đúng như lời ba tôi tiên đoán. Xe cộ di chuyển trên đoạn quốc lộ đi ngang qua quận Tuy An bị phục kích thường xuyên. Kể cả xe Lam. Bà tôi từ trần vào giai đoạn sôi động nhất nên không ai thắc mắc về chuyện có nên đưa linh cữu của bà tôi về quê chôn cất hay không. Mọi người an lòng để bà tôi nằm ở nghĩa trang phố, dưới chân một ngọn núi không phải là ngọn núi A Man. Thoát ra sự ràng buộc của xác thân, chắc linh hồn của ông tôi và bà tôi có thể gặp gỡ nhau dễ dàng, thường xuyên, bất chấp những qui luật thiên nhiên và xã hội.
 
Như vậy là tôi bị dứt hết những ràng buộc với quê hương tôi, ngoại trừ ngôi nhà bị tàn phế, khu vườn bỏ hoang và những kỷ niệm. Ngồi trong chiếc xe lao đi vun vút, tôi cảm thấy mình nghèo nàn đến cùng cực, bơ vơ đến buốt nhức. Giữa lúc đó tôi mới nhận chân sâu xa rằng quê hương là cái gia tài của mỗi con người, mọi người được bình đẳng trong sự thụ hưởng cái gia tài ấy. 
 
Buổi chiều tôi trở lại thành phố kể lại cho ba tôi nghe cuộc viếng thăm bất ngờ. Ba tôi ngồi im lặng châm liên tiếp hai điếu thuốc lá. Khi tôi dứt lời, ba tôi nói:
 
- Ba biết tình trạng của ngôi nhà mình. Những cánh cửa bị tháo gỡ trước. Những cây đòn tay, những cây kèo và rui mè bị gỡ tiếp theo. Sau đó họ cạy những tấm ván lót rầm. Cuối cùng là cạy các khung cửa.
 
Ba tôi ngưng lại một lát.
 
- Hiện giờ cây táo nhơn mọc đầy sân, sân trước và sân sau. Nhiều cây vông đồng cũng thi đua nhau mọc.
 
- Còn những cây chuối cây cam dưới vườn?
 
- Quân đội đã khai quang.
 
- Những bụi tre?
 
- Thân tre thì chặt để rào ấp chiến lược. Gốc tre thì dân chúng lắc đem về đun bếp. Điều đáng phiền muộn là thiếu những bụi tre rễ tre đó, nước trên nguồn tràn xuống xoi mòn lở lần doi đất phù sa tạo nên ngôi vườn của mình. Nước cứ moi thành hang hốc ở dưới và đất sụp đổ lần hồi.
 
- Có cách nào để ngăn chặn sự tàn phá?
 
- Lại phải trồng lại những gốc tre, những bụi tre. Diện tích đất bị xoi lở, bị mất đi thì phải coi như mất vĩnh viễn. Chỉ có thể bảo vệ phần còn sót lại. Và cách khó khăn.
 
- Việc tu bổ lại ngôi nhà chắc không khó.
 
- Tưởng vậy. Ngày xưa ông con có tật làm cái gì cũng đồ sộ kiên cố. Nhà trên, nhà dưới, nhà ngang, nhà lúa, nhà bếp, nhà kho... muốn tu bổ lại bao nhiêu cơ sở đó, số tiền không phải là nhỏ. Xi măng bữa nay đã lên ba ngàn tám trăm đồng một bao rồi. Sẽ tới một ngày mà giá một viên ngói sẽ là số giấy bạc một đồng xếp bằng thể tích của nó.
 
Đêm ở ngoài trời đen như cái viễn tượng ba tôi vừa phác họa. Ba tôi đốt điếu thuốc lá thứ ba và giọng ông ngập ngừng:
 
- Chiến tranh kéo dài, ai cũng mong Hòa bình. Bỏ nhà cửa chạy tản cư, người ta càng mong Hòa bình hơn. Nhưng khi Hòa bình thật sự đến, người tản cư sẽ cụng đầu vào một trái núi khốn khó: đó là việc xây cất lại nhà cửa. Chẳng lẽ chỉ che một cái chòi tranh nhỏ. Còn lời dị nghị khen chê của kẻ đồng hương nữa. Cho nên nhất định là hiện giờ có người đang chui rúc ở thành phố, vừa nuốt cái khổ hiện tại vừa nếm trước cái vị đắng cay khi nghĩ đến một ngày mình trở về ngôi nhà cũ.
 
- Nhưng chẳng lẽ bỏ quê đi luôn?
 
- Cố nhiên. Chính vì vậy mới phải nếm đắng cay.
 
Đêm vẫn đen ở ngoài trời. Sao cuộc đời đến thế hệ ba tôi và thế hệ tôi lại rối rắm khó khăn như vậy. Muốn yêu một quê hương cũng không phải dễ. Sao không thong thả như con chim bay về cái ổ của nó?
 
Đêm đã khuya, ba tôi ra dấu hiệu chia tay đi nghỉ. Tôi về phòng tôi nhưng trí óc cứ lãng đãng ở bụi chuối bờ tre, cây cam cây khế. Bỗng tôi nhớ có đọc một quyển sách nào đó người ta khám phá ra rằng thảo mộc cũng biết xúc cảm, tuy với một trình độ thô sơ. Cái lá biết run rẩy khi có bàn tay sắp ngắt nó, cái hoa biết rung động khi có người mân mê săn sóc. Tôi tự hỏi biết đâu vào giờ này cây bưởi mọc ở vại nước hay cây khế chi chít trái rung rinh, hay bụi chuối hay thân cau còn sót lại sau mấy vụ khai quang đang ngần ngơ nghĩ đến tôi, nhắc thầm đến tôi, tôi, con bé đi biệt tăm đã năm sáu năm nay không hề trở lại, con bé mới ngày nào cầm tay ông nó thẩn thơ đi dưới bóng lá cây xanh.
 
 
VÕ HỒNG       
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1975)