Thứ Tư, 4 tháng 2, 2026

DUYÊN ANH MỪNG TUỔI - Duyên Anh


 
 
 
 
 
 
 
 
Mừng em đôi gà nhỏ
Mừng thêm gạo thêm ngô
Thêm chiếc lồng tre nữa
Cho em đầy giấc mơ
 
Mùa xuân vườn tươi mát
Em thả gà rong chơi
Canh lũ diều hâu ác
Ghen ghét trẻ thơ cười 
 
Mùa hè đôi gà lớn
Con trống tập làm trai
Con mái tơ mơn mởn
Gại mỏ tỏ tình ngây
 
Bấy giờ chúng yêu nhau
Quên cả trời lẫn đất 
Và loài cáo hang sâu
Đang bày mưu rình bắt
 
Hãy từng đêm mở mắt
Nhân danh em tuổi hoa
Đóng vai người lính gác
Hạnh phúc của đôi gà
 
Mùa thu thơm gió mới
Con mái nằm ổ rơm
Em bình yên chờ đợi
Tiếng líp nhíp gà con
 
Trái mơ em đã nở
Đàn gà đẹp như tranh
Này con chồng con vợ
Này con út con anh
 
Em ạ anh quá già
Nửa cuộc đời trôi giạt
Không nuôi nổi đôi gà
Nói chi những chuyện khác
 
Em còn xanh mộng ước
Em còn thắm xuân hồng
Vươn tay em nắm được
Những gì anh uổng công
 
Anh sên già lùi bước
Mừng tuổi em đôi gà
Mừng em phơi hạnh phúc
Dưới nắng ấm quê nhà
 
                                (1-1974) 
 
(Trích từ giai phẩm Tuổi Ngọc Xuân Hồng, 1974)
 

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

ĐI DƯỚI BÓNG LÁ - Võ Hồng


Tôi ngồi chồm ra đằng trước, bảo người tài xế:
 
- Ông cho xe chạy chậm lại. Rất chậm.
 
- Đoạn đường này tốt mà - người tài xế nói - Không có nguy hiểm gì đâu.
 
- Tôi biết, nhưng tôi muốn được nhìn phong cảnh một chút.
 
- Cảnh này cũng thường thôi. Cũng ruộng, cũng tre, cũng núi.
 
Tôi muốn nói "nhưng đó là quê hương của tôi". Nhưng tôi không nói được. Chữ "quê hương" chỉ mới nghĩ đến đã làm xốn xang nơi hai khóe mắt tôi.
 
Quê hương của tôi đó thật. Ở phía bên kia quốc lộ, cách quốc lộ chừng một cây số. Tôi biết rõ con đường sẽ dẫn đến đó bằng cách nào. Nó xổ xuống một con dốc nhỏ, nó uốn lượn theo một đám ruộng, nó bò men theo những đám đất thổ. Bên tay mặt là hàng tre, hàng tre kéo dài, hàng tre bịt kín, làm ranh giới cho con đường, tỏa bóng mát âm u xuống con đường. Từng chặng, hàng tre bị đục thủng để một con lộ nhỏ chạy qua, chạy dẫn vào một khu vườn, chạy vào một ngôi nhà. Tôi sẽ đi tới cái quán Cây Keo, đi qua cái lẫm Thiện Đức, đi trờ tới cái bến sông có bãi cát vàng phẳng lì. Bên kia bờ sông là nhà tôi, nhà của ông bà tôi.
 
Tôi chỉ đi tới bằng trí tưởng tượng. Bởi vì chỉ cách một cây số mà ngôi nhà tôi nằm ở vùng mất an ninh.
 
Xe chạy chậm nên tiếng nổ nghe nặng. Mùi xăng nồng nàn. Tôi dõi mắt nhìn qua cửa xe. Dãy núi A Man chạy dài ở sau nhà tôi lưa thưa cây thấp. Những ngày chiến tranh rộn rịp, quân đội bắt chặt bỏ hết những lùm cây lớn. Đầu núi A Man ngày xưa có những tảng đá thật lớn màu nâu non và màu vàng nhạt đứng sừng sững, chồng chất lên nhau, ở cách xa hơn mười cây số vẫn ngó thấy rõ. Người xóm tôi gọi là Đá Tượng. Dưới chân Đá Tượng có một khu rừng rậm toàn những cây cao, bao trùm một khoảng rộng chừng hai sào. Hôm nay thì khu rừng rậm đó đã bị chặt sạch. Những hòn Đá Tượng cũng đã bị tiêu diệt mất tích. Tôi nhìn ngọn núi của mình mà tưởng núi của ai đâu. Chiến tranh đã hủy diệt đến cả những tảng đá trên chỏm cao.
 
Xe chầm chậm lướt qua cầu Ng... S... Dòng sông rộng làm cho khung cảnh khoáng đạt. Qua lùm cây xanh, mắt tôi nhìn thấy ẩn hiện bức tường trắng của ngôi nhà tôi. Kia kìa là cái bến sông. Những ngày nhỏ, ông tôi hay dắt tôi ra đứng đó, cho tôi dầm chân dưới nước rồi chỉ cho tôi xem cái cầu dài, vừa nói:
 
- Hồi xưa ba mày còn nhỏ, ông cũng dắt xuống đứng chỗ này và chỉ cho ba mày coi cây cầu.
 
- Ba con có được dầm chân xuống nước như thế này không?
 
- Không. Ông không cho đứng dưới nước.
 
- Thế sao bây giờ ông cho con đứng?
 
- Ờ... ờ...
 
Ông tôi không giải thích được và tôi cũng không nài nghe lời giải thích. Bây giờ đây ngồi nhớ lại, tôi nghĩ rằng có lẽ tại vì ông chiều ý tôi hơn là chiều ý ba tôi. Khi cầm dắt tay ba tôi thì ông hãy còn trẻ, khi cầm dắt tay tôi thì ông đã già hơn bảy mươi tuổi rồi. Tấm lòng của mọi người già đều chùng xuống, dễ dãi.
 
Tôi nói:
 
- Nếu ba thấy ông dắt con đứng dưới nước, chắc là ba la con.
 
- Ờ.
 
- Ông có sợ ba la không?
 
Giọng ông tôi chậm rãi: 
 
- Mắc mớ gì sợ?
 
Ông tôi có một lối đáp lững đững như vậy.
 
Ông dắt tôi đi chầm chậm giữa khu vườn um tùm những thân cây chuối, cây cau, cây cam, cây xoài... lá xanh lọc ánh sáng làm màu áo của tôi cũng xanh theo. Tôi hỏi:
 
- Ông trồng những cây chuối hay ba trồng?
 
- Ông trồng.
 
- Một mình ông mà trồng được nhiều cây vậy?
 
- Ông thuê tá điền tới trồng.
 
- Tá điền là cái gì?
 
- Đó là những người làm rẽ ruộng cho mình.
 
- Ruộng cũng giống như những cây chuối hở ông?
 
Ông tôi cười ngon lành:
 
- Nói bậy. Nói bậy. Ruộng là chỗ người ta cấy lúa. Có bùn, có đỉa.
 
Câu trả lời lởm chởm những cái khó hiểu. Cấy? Lúa? Bùn? Đỉa? Tôi không biết đó là những cái gì. Nhưng tôi không dám hỏi, sợ ông tôi lại cười.
 
Chúng tôi lại chầm chậm bước đi bên nhau. Những tàu lá chuối khô làm vướng bước chân, lôi kéo trì tay ông lại và ông cúi xuống nhặt tàu lá chuối, bẻ gấp làm đôi làm ba ném vào thân cây chuối. Thỉnh thoảng lại gặp cái gai tre nhọn hoắt nằm chỉa lên đe dọa khiến tôi không dám bước tới. Tức thì ông tôi lại cúi xuống, nhón cái gai tre ném vào bụi tre. Ông nói:
 
- Cứ bước tới đi chớ!
 
- Con sợ nó đâm vô chân.
 
- Có mang giày mà.
 
- Nó đâm lủng luôn đế giày.
 
- Ờ.
 
Chúng tôi đi dưới tàng một cây khế lớn. Những trái khế chín vàng rung rinh theo cơn gió nhẹ. Tôi nói:
 
- Ông hái cho con trái khế kia.
 
- Chi?
 
- Con ăn.
 
- Không được. Ăn đau bụng.
 
- Ở thành phố con cũng được ăn khế mà. Chị bếp mua khế dưới chợ về ăn.
 
- Về thành phố hãy ăn. Ở đây không được ăn.
 
- Sao vậy?
 
- Ăn rồi đau bụng, ba con la.
 
- Vậy là ông cũng sợ ba con la đó.
 
Ông tôi quay nhìn tôi:
 
- Mắc mớ gì mà sợ?
 
Năm 1968 ông tôi từ trần sau một cơn bệnh dài. Ông nằm dưới một ngôi mộ nơi chân núi A Man. Tôi lớn lên không còn được ông dắt tay đi thẩn thơ giữa khu vườn xanh um cây lá nữa.
 
Ông tôi vừa mất thì chiến tranh ùn ùn xảy tới, xóm tôi mất an ninh, mọi người ồ ạt chạy loạn. Bà tôi vào thành phố ở với chúng tôi. Bà tôi dịu dàng, mua cho tôi những miếng mít, những trái dưa, những cái bánh ngọt... nhưng tôi vẫn thương vẫn thích sự săn sóc vụng về của ông tôi hơn. Bà tôi nói năng mạch lạc, dẫn giải rạch ròi nhưng sao tôi vẫn âm thầm nhớ nhung lối trả lời lủng củng của ông tôi. Có cái gì rộng lượng bao dung trong những sơ sót của ông khiến tôi thích thú coi ông như một người bạn.
 
Về ở thành phố nhưng bà tôi chỉ ngóng về quê cũ. Hễ có dịp là bà nhắc đến nó:
 
- A! Sắn nước! Ở trong này mà sắn nước cũng lớn củ dữ quá há? Nhưng chắc không ngọt bằng sắn nước ở ngoài mình. Ờ, tháng Mười rồi. Không biết mấy đám rẫy ở Phường Lụa năm nay có ai trồng sắn nước không?
 
Tôi đã thấy những đám rẫy sắn đó. Chúng nằm ở triền núi, nằm thoai thoải bám vào da núi. Người ta đánh đất thành vồng, bón phân rồi gieo hột sắn nước. Khi lá sắn nứt xanh um, những miếng rẫy như được gạch những đường kẽ dọc màu xanh đều đặn. Một sườn núi như vậy được chia ra thành từng đám rẫy, phân cách nhau bởi một ranh giới bằng những bụi cây xanh, gạch đều đặn bằng những đường thẳng màu xanh. Nhiều sườn núi nối tiếp nhau trên một quãng dài ba bốn cây số thì quang cảnh không thể là không đẹp.
 
Ba tôi thường đợi dịp bà tôi nhắc nhở quá khứ như vậy để góp lời chuyện trò.
 
- Hồi nhỏ không biết sao đứa nào cũng ham ăn sắn nước - lời ba tôi - Cứ mỗi buổi chiều chuyến đò nào đi từ Phường Lụa sang Lò Gốm cũng chất đầy gánh sắn nước.
 
- Chớ sao? Gánh tuốt xuống chợ Xổm, dưới Hàng Dao, dưới nhà thờ Mằng Lăng, dưới Hội Tín mà bán.
 
- Gánh sắn nước đến bến đò, họ gánh thẳng đặt xuống nước, dội cho sạch đất. Củ sắn trở nên trắng trẻo, mơn mởn.
 
- Cũng nhờ cái bến đò...
 
Khi câu chuyện bắt đầu nhạt, ba tôi quay sang tôi:
 
- Trồng sắn nước phải qua hai giai đoạn. Đem củ trồng xuống, củ sinh ra một dây đậu có hột. Đem hột đậu đã khô trồng xuống, hột sinh ra củ sắn nước.
 
Lần đầu tiên tôi được biết một lối sinh sản kỳ diệu và bất thường như vậy. Phải bao nhiêu khó khăn mới thành một củ sắn nước dòn tan và ngọt mát dưới răng.
 
Ba tôi tiếp:
 
- Quê mình kêu là củ sắn nước, ngoài Bắc gọi là củ đậu.
 
Tôi so sánh hai chữ củ sắn nướccủ đậu. Tôi thấy thương cho cái tên củ sắn nước. Nó quê mùa, chuyền trên miệng những người lam lũ chất phác của quê tôi, từ thế hệ này chuyển giao qua thế hệ sau. Nó hiện diện một cách vững chắc, bất chấp qui luật ngữ pháp hay văn phạm. Nó mang cá tính của một miền nên nghe nó người ta hình dung đến một miền. Một miền với đầy đủ Quá khứ, Hiện tai và Tương lai.
 
Mỗi lần Tết đến, bà tôi hay mua những chậu cúc vạn thọ bày ở trước sân. Tôi hỏi:
 
- Sao bà không mua bông hoa khác đẹp hơn lại mua chi cúc vạn thọ?
 
- Uở, hễ Tết thì phải có bông vạn thọ chớ.
 
Bà tôi lại phải nhẫn nại giải thích:
 
- Người ta thường trồng vạn thọ vào dịp Tết vì nó dễ trồng, nở nhiều hoa và màu hoa đậm đà. Thêm một lẽ là vì tên nó là Vạn Thọ, có nghĩa là chúc sống lâu.
 
Sau này khi lên Trung học, trong một bài giảng văn tôi nghe có tên cây Tang cây Tử, chắc chẳng ai dám trồng trong sân nhà. Vừa để tang, vừa chết, cố nhiên là hiểu theo nghĩa đồng âm, thì quá chu đáo trong việc gợi ý bi thảm. Tôi nghĩ mông lung đến việc đặt tên những giống thảo mộc. Giá có đầu óc lý tài một chút các nhà vườn đã không đặt tên hoa mõm sói mà đặt là hoa Ngũ Phúc chẳng hạn, thay tên hoa loa kèn bằng hoa Tam Đa chẳng hạn, hoa rẽ quạt bằng hoa Song Hỉ chẳng hạn. Sự tiêu thụ sẽ ồ ạt biết bao vào dịp Tết.
 
Thỉnh thoảng những người cùng quê cùng chạy giặc ghé lại thăm bà tôi. Những lúc đó bà tôi lấy lại được giọng nói ung dung chậm rãi của những ngày huy hoàng cũ, khi lúa nếp ngoài đồng chảy thành suối vào kho nếp lẫm lúa. Bà tôi tiếp họ nơi phòng khách với cả ống nhổ và cái cối giã trầu bằng đồng. Những người khách đó uống trà và uống xong cứ đổ hắt phần nước trà còn lại xuống mặt gạch y như "hồi còn ở ngoài quê". Bao giờ cũng vậy, sau khi khách ra về, chị ở phải lo lau chùi những mảnh nước trà đóng khô màu nâu. Ba tôi dặn không ai trong nhà được tỏ ý khó chịu với cái cử chỉ đổ hắt nước trà đó. Ba tôi nói:
 
- Cứ để bà con thoải mái tự nhiên. Hãy cố gắng cắt y nguyên cái mảnh sinh hoạt ngoài quê đem lắp vào nơi này. Đừng tưởng bộ ghế xa lông, cái quạt trần và cái tù búp-phê làm họ thích thú. Mà họ thích được ngồi xếp chân trên bộ ván có ấm nước bằng đất sét nung ngồi gọn trong một cái giỏ bằng tre đan. Và thoảng qua cửa sổ là mùi thơm của hoa cau và tiếng chim se sẻ.
 
Bà tôi đau yếu trong những năm cao tuổi. Bà khẩn khoản nói với ba tôi:
 
- Để tao về ngoài đó.
 
- Đâu có được? Ngoài đó tản cư hết.
 
- Tao xuống ở dưới chùa Châu Lâm. Tao ở với bà cô trụ trì.
 
- Nhưng tuổi già đau yếu không có ai săn sóc.
 
- Có bà cô.
 
- Ăn uống, giặt giũ, thuốc men, hầu hạ... chẳng bà cô nào lo nổi đâu. 
 
Bà tôi ngồi ứa nước mắt vì đuối lý. Bà nói nhỏ với tôi:
 
- Ông chết chôn ngoài đó nên bà cũng muốn về ngoài đó mà chết. Để được chôn gần ông.
 
Tôi không biết nên trả lời sao. Đành chỉ vuốt ve mái tóc bạc của bà mà nói:
 
- Bà ở đây để ba con săn sóc thuốc men. Ở ngoài đó đâu có thầy thuốc? Thầy thuốc cũng chạy đi tản cư hết.
 
Bà tôi lấy khăn lau nước mắt:
 
- Cũng có chớ. Họ tản cư vô Chí Thạnh. Cũng còn tiệm thuốc Bắc nơi Chí Thạnh.
 
- Nhưng ai đi mời thầy thuốc và đi bổ thuốc cho bà? Ở đây có bác sĩ kề bên và tiệm thuốc Tây kề bên. Uống thuốc Bắc thì có ông thầy Nguyễn Học Sanh cũng ở kề bên.
 
Bà tôi im lặng.
 
Một hôm bà gọi ba tôi lại:
 
- Tao chịu ở trong này nhưng khi trăm tuổi rồi thì tụi bay phải chở về chôn gần bên mộ ông.
 
Ba tôi ngần ngừ:
 
- Nếu tình hình yên ổn thì điều đó không khó. Chỉ sợ chiến tranh kiểu này thì không biết chừng nào yên.
 
Tình thế không yên đúng như lời ba tôi tiên đoán. Xe cộ di chuyển trên đoạn quốc lộ đi ngang qua quận Tuy An bị phục kích thường xuyên. Kể cả xe Lam. Bà tôi từ trần vào giai đoạn sôi động nhất nên không ai thắc mắc về chuyện có nên đưa linh cữu của bà tôi về quê chôn cất hay không. Mọi người an lòng để bà tôi nằm ở nghĩa trang phố, dưới chân một ngọn núi không phải là ngọn núi A Man. Thoát ra sự ràng buộc của xác thân, chắc linh hồn của ông tôi và bà tôi có thể gặp gỡ nhau dễ dàng, thường xuyên, bất chấp những qui luật thiên nhiên và xã hội.
 
Như vậy là tôi bị dứt hết những ràng buộc với quê hương tôi, ngoại trừ ngôi nhà bị tàn phế, khu vườn bỏ hoang và những kỷ niệm. Ngồi trong chiếc xe lao đi vun vút, tôi cảm thấy mình nghèo nàn đến cùng cực, bơ vơ đến buốt nhức. Giữa lúc đó tôi mới nhận chân sâu xa rằng quê hương là cái gia tài của mỗi con người, mọi người được bình đẳng trong sự thụ hưởng cái gia tài ấy. 
 
Buổi chiều tôi trở lại thành phố kể lại cho ba tôi nghe cuộc viếng thăm bất ngờ. Ba tôi ngồi im lặng châm liên tiếp hai điếu thuốc lá. Khi tôi dứt lời, ba tôi nói:
 
- Ba biết tình trạng của ngôi nhà mình. Những cánh cửa bị tháo gỡ trước. Những cây đòn tay, những cây kèo và rui mè bị gỡ tiếp theo. Sau đó họ cạy những tấm ván lót rầm. Cuối cùng là cạy các khung cửa.
 
Ba tôi ngưng lại một lát.
 
- Hiện giờ cây táo nhơn mọc đầy sân, sân trước và sân sau. Nhiều cây vông đồng cũng thi đua nhau mọc.
 
- Còn những cây chuối cây cam dưới vườn?
 
- Quân đội đã khai quang.
 
- Những bụi tre?
 
- Thân tre thì chặt để rào ấp chiến lược. Gốc tre thì dân chúng lắc đem về đun bếp. Điều đáng phiền muộn là thiếu những bụi tre rễ tre đó, nước trên nguồn tràn xuống xoi mòn lở lần doi đất phù sa tạo nên ngôi vườn của mình. Nước cứ moi thành hang hốc ở dưới và đất sụp đổ lần hồi.
 
- Có cách nào để ngăn chặn sự tàn phá?
 
- Lại phải trồng lại những gốc tre, những bụi tre. Diện tích đất bị xoi lở, bị mất đi thì phải coi như mất vĩnh viễn. Chỉ có thể bảo vệ phần còn sót lại. Và cách khó khăn.
 
- Việc tu bổ lại ngôi nhà chắc không khó.
 
- Tưởng vậy. Ngày xưa ông con có tật làm cái gì cũng đồ sộ kiên cố. Nhà trên, nhà dưới, nhà ngang, nhà lúa, nhà bếp, nhà kho... muốn tu bổ lại bao nhiêu cơ sở đó, số tiền không phải là nhỏ. Xi măng bữa nay đã lên ba ngàn tám trăm đồng một bao rồi. Sẽ tới một ngày mà giá một viên ngói sẽ là số giấy bạc một đồng xếp bằng thể tích của nó.
 
Đêm ở ngoài trời đen như cái viễn tượng ba tôi vừa phác họa. Ba tôi đốt điếu thuốc lá thứ ba và giọng ông ngập ngừng:
 
- Chiến tranh kéo dài, ai cũng mong Hòa bình. Bỏ nhà cửa chạy tản cư, người ta càng mong Hòa bình hơn. Nhưng khi Hòa bình thật sự đến, người tản cư sẽ cụng đầu vào một trái núi khốn khó: đó là việc xây cất lại nhà cửa. Chẳng lẽ chỉ che một cái chòi tranh nhỏ. Còn lời dị nghị khen chê của kẻ đồng hương nữa. Cho nên nhất định là hiện giờ có người đang chui rúc ở thành phố, vừa nuốt cái khổ hiện tại vừa nếm trước cái vị đắng cay khi nghĩ đến một ngày mình trở về ngôi nhà cũ.
 
- Nhưng chẳng lẽ bỏ quê đi luôn?
 
- Cố nhiên. Chính vì vậy mới phải nếm đắng cay.
 
Đêm vẫn đen ở ngoài trời. Sao cuộc đời đến thế hệ ba tôi và thế hệ tôi lại rối rắm khó khăn như vậy. Muốn yêu một quê hương cũng không phải dễ. Sao không thong thả như con chim bay về cái ổ của nó?
 
Đêm đã khuya, ba tôi ra dấu hiệu chia tay đi nghỉ. Tôi về phòng tôi nhưng trí óc cứ lãng đãng ở bụi chuối bờ tre, cây cam cây khế. Bỗng tôi nhớ có đọc một quyển sách nào đó người ta khám phá ra rằng thảo mộc cũng biết xúc cảm, tuy với một trình độ thô sơ. Cái lá biết run rẩy khi có bàn tay sắp ngắt nó, cái hoa biết rung động khi có người mân mê săn sóc. Tôi tự hỏi biết đâu vào giờ này cây bưởi mọc ở vại nước hay cây khế chi chít trái rung rinh, hay bụi chuối hay thân cau còn sót lại sau mấy vụ khai quang đang ngần ngơ nghĩ đến tôi, nhắc thầm đến tôi, tôi, con bé đi biệt tăm đã năm sáu năm nay không hề trở lại, con bé mới ngày nào cầm tay ông nó thẩn thơ đi dưới bóng lá cây xanh.
 
 
VÕ HỒNG       
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1975)
 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

MÙA SƯƠNG TRÊN VAI - Mường Mán


Quì đứng nép vào cây cột dưới hàng hiên, chiếc áo mưa vừa cởi ra hai phút trước cuốn gọn trong tay. Quì mặc áo dài tím, ngoài choàng thêm cái áo len đen. Khuôn mặt Quì trắng, đôi mắt Quì to ngước trông vời bến xe đằng trước, không nói năng chi cả. Quỳnh đứng bên Quì, quần jean nâu áo pull màu cà rốt, áo mưa vắt trên vai. Quỳnh hút thuốc, cũng nhìn ra bến xe, cũng không nói năng chi. Hai người ở lứa tuổi thanh niên và, dường như vừa trải qua một trận hờn giận gì đó nên lúc này chẳng ai buồn mở môi hé miệng.
 
Bến xe nhộn nhịp xe ra vào lui tới, huyên náo tiếng rao quà vặt của những cô bé tay nách rổ trái cây hoặc mẹt bánh, mỗi lần có xe vào bến nhào tới tranh nhau mời mọc khách hàng. Hành khách ôm xách, kẻ vội vàng kẻ lững thững. Vẻ vội vàng lững thững toa rập với mớ âm thanh hỗn loạn tạo thành hoạt cảnh vui mắt vui tai và tràn đầy sinh lực ; trái hẳn với khung cảnh ủ trệ trầm buồn lặng nín của dãy phố cũ kỹ bụi bặm bên sau.
 
Mưa tầm tã. Những rãnh nước quanh bến xe trôi lềnh bềnh rác rến lon hộp. Chỗ Quì và Quỳnh đứng trú mưa là thềm của một quán tạp hóa. Dường như cảm thấy im lặng lâu quá cả hai sẽ buồn ngủ, Quỳnh lên tiếng xé rách im lặng:
 
- Quì ơi, sao em dối trá vậy? Thấy anh về vui muốn chết lại cứ bô bô anh ra đây làm chi? anh về Quảng Trị làm chi?
 
Quì im lặng. Quỳnh ném mẩu tàn thuốc xuống rãnh nước dưới chân.
 
- Mưa rầm rầm điệu này, mưa thêm vài ngày nữa chắc lụt mất. Nếu Trời lụt, Quì cứ để cho nước cuốn về Huế nghe! Lúc ấy ông chú thân yêu có níu cũng không được. Anh sẽ đợi ở Huế, đợi Quì trôi vào là ẵm liền. Đồng ý?
 
Quì vẫn nhìn ra xa, lắc đầu nhè nhẹ:
 
- Nếu trôi được Quì trôi ra tới biển đông luôn, không còn ghé Huế.
 
- Quì không ghé anh cũng cứ đợi.
 
- Đợi bao lâu?
 
- Đợi đến tết Công gô.
 
Quì bĩu môi:
 
- Dóc tổ, anh láo như con chồn tinh quái trong truyện cổ tích.
 
Quỳnh cười ha ha:
 
- Kiếp trước anh là thằng Cuội ngồi gốc cây đa.
 
Quì hỉnh mũi:
 
- Bóp ẩu chị Hằng nên bị đuổi khỏi mặt trăng.
 
- Hình như thế.
 
- Thế là cái chắc chớ hình như hình nhử chi nữa.
 
Quỳnh thở phì khói thuốc tợ ống khói tàu lửa:
 
- Quì hạ anh xuống thấp hơn mực nước biển rồi đó.
 
- Rán mà trồi lên.
 
- Trồi lên chắc không nổi.
 
- Huy động cả họ hàng nội ngoại ra mà kéo anh lên.
 
Quỳnh tát nhẹ vai Quì:
 
- Em hỗn như con Bú dù.
 
- Con Bú dù chỉ biết kêu khẹt khẹt, không biết nói ; Quì nói được tức Quì không phải là con Bú dù.
 
- Quì lý luận trôi chảy như một dòng sông.
 
- Sông nào?
 
- Sông Thạch Hãn.
 
Quì bật cười:
 
- Sông Thạch Hãn, Quì nghe bọn học trò nói mùa hè xắn cao quần lội qua được, qua bên kia sông đi vớ vẩn coi người ta chụp ếch nhái.
 
- Vui không?
 
- Vui chứ!
 
- Mùa hè sang năm chắc mình nên bới cơm bới nước đi coi người ta bắt ếch nhái suốt một ngày ròng, vui cho đã đời.
 
Quì quắc mắt một tia nhìn ướt. Tia nhìn âu yếm ôm gọn khuôn mặt tươi trẻ của người bạn trai. Quỳnh vẫn đưa mắt nhìn vời xa, điếu thuốc mới đốt bốc khói giữa hai ngón tay thầm lặng - những sợi khói hân hoan và, Quỳnh nom trẻ thơ trong dáng trầm ngâm thanh thản.
 
Quì buồn bã nhìn Quỳnh. Người thanh niên suốt cả buổi chiều nay không hề biết đến sự bối rối đang kết thành sợi dây thun thắt bóp tim nàng. Quì đang cố gượng vui ; Quì đang cố cười nói để tự cho phép mình sống một buổi cuối cùng thật sự êm đềm bên cạnh người mình thương mến. Lát nữa Quỳnh lên một chiếc xe taxi nào đó trở về với thành phố của anh ta, là hết. Thế giới riêng biệt của anh sẽ khép kín sau màn mưa trùng điệp. Quỳnh ở đầu mút con đường xa 60 cây số. Con đường nhựa nối hai thành phố, mỗi tuần Quỳnh nôn nao vượt qua tìm về với nhau, sống tròn một ngày đầy nghĩa rộng tình sâu: đi lang thang qua những con đường heo hút tỉnh lỵ này, ngồi trong những quán chật ních lính tráng ở đây, đưa nhau vào rạp xi nê hôn nhau, đưa nhau ra bờ sông cười dưới nắng, cãi nhau dưới gốc cây và giận dỗi trước khu bưu điện... Mỗi tuần Quì tới bưu điện 3 lần, hôn lên con tem 6 đồng, khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau". Những tờ thư kể lể nhớ nhung quá nhiều nên thỉnh thoảng Quì gửi một tờ giấy trắng - cho nó lạ một tí, như người ta ăn mặn suốt tháng, ăn chay hai ngày rằm và mồng một cho đỡ nhàm. Thời êm đềm đó qua rồi. Ngày mai tất cả đổi thay hết rồi.
 
Ngày mai. Thành trì đã thiết lập, Quì hết tự do bay nhảy. Con chim non sẽ bị nhốt vào lồng, con cá nhỏ bị nhốt trong chậu. Quỳnh không hề biết  điều đó. Quì có nên nói cho chàng nghe hay không?
 
Có nên tả lại sự giận dữ của mẹ khi hay tin từ lâu giữa Quì và chàng vẫn còn liên lạc, mối liên lạc lâu nay bà ngỡ cắt đứt rồi không? Có nên nói đến quyết định của mẹ, của anh em chú bác nàng không? Cái quyết định bất ngờ như từ trên trời rớt xuống, như tự mặt đất không dưng nẩy lên. Dẫu sao, cái quyết định ấy vẫn có thực, nó lù lù đó, không dễ gì tẩy xóa, chối bỏ.
 
Hôm qua mẹ từ Đà Nẵng về mang theo cái quyết định nóng bỏng ấy nói cho ông chú, các cô em họ của Quì nghe. Nghe xong Quì khó chịu lạ. Khó chịu vì không hề ngờ nhân vật chính đóng vai quan trọng trong quyết định của mẹ lại là ông Mai. Ông Mai bạn của anh Điềm anh Dĩnh. Ông Mai vẫn thường đến nhà chơi. Ông Mai thỉnh thoảng khám bệnh tim cho Quì. Ông Mai thường lái xe đưa cả bọn đi biển Mỹ Khê, Lăng Cô những hôm chủ nhật trong mấy tháng hè vừa qua, từ ngày Quì rời trường sư phạm Qui Nhơn trở lại Đà Nẵng sửa soạn bước vào đời tập tễnh làm cô giáo làng.
 
Quì không thể ngờ ông Mai lại mết Quì. Ông ta khéo che đậy tình cảm?
 
Có thể lắm - ở lứa tuổi ông ta, ổng thừa sức che giấu xúc động bồng bột thường phát tiết thành cử chỉ lời nói mà bọn thanh niên mới lớn thường mắc phải. Hoặc giả những lúc gặp Quì ông có để lộ ra một vài phần nhưng Quì không để ý, Quì coi ông ta như anh Điềm anh Dĩnh, những người lớn, thế thôi. Vả tâm trí Quì mải bận rộn với hình bóng Quỳnh thì để ý đến ông Mai - người - lớn ấy làm gì cơ chứ! Trong những lần về biển, cùng đi với anh Điềm anh Dĩnh và Quyên (cô em gái út của Quì) Quì chằng thấy ông ta tỏ ra cử chỉ nào săn sóc đặc biệt hoặc khác thường cả. Quì nô giỡn, cười đùa và hát hỏng hồn nhiên dưới đôi mắt bình thường của ông ta. Có một lần độc nhất, Quì tắm xong lên nằm úp bụng phơi nắng, ông Mai ngồi xuống bên cạnh lấy cát rải lên lưng Quì, Quì kêu nhột và dơ ; ông ta đỏ mặt cười rồi ngưng ngay trò chơi, đứng lên nhập bọn với anh Điềm anh Dĩnh (lúc ấy đang đấu láo với một cô bạn). Bây giờ nhớ lại lần đó, Quì nghĩ: "Có thể hôm ấy ông Mai thử phản ứng của Quì cũng nên. Nếu Quì để yên không kêu nhột, dơ ông ta sẽ tiến tới đâu nữa nhỉ? Quì lắc đầu không thể hiểu nổi.
 
Thoạt tiên nghe mẹ nhắc đến ông Mai và cái quyết định của cả gia đình, Quì thấy khó chịu: nỗi khó chịu nhẹ nhàng không thể làm trào nước mắt nhưng Quì chợt nhận ra thật chóng vánh vị thế lẻ loi cô độc của mình. Cái quyết định kia được một lực lượng hỗ trợ quá hùng hậu. Quì nghĩ đền Quỳnh với những nhịp tim đập mạnh, nếu ngồi nán lại chút nữa nghe mẹ nói chắc Quì đã ngất xỉu. Căn bệnh đã tốn không biết bao nhiêu thuốc uống và chích dường như chưa chịu rời Quì. Quyết định của mẹ có liên quan phần nào đến căn bệnh dai dẳng ấy
 
Nhớ lại những lần tới khám bệnh, Quì phải cởi áo để trần ngực cho ông Mai đặt ống nghe đo nhịp tim, Quì ngượng chín người. Ông Mai là người duy nhất nhìn thấy ngực Quì, người đầu tiên nghe nhịp tim Quì đập. Chẳng biết có phải ông Mai đã bị nhịp tim bệnh hoạn của Quì cám dỗ không? Chẳng biết có phải hai miếng ngực trắng non nhỏ nhắn khiêm tốn của Quì đã mê hoặc ông không? Không, ông ta là bác sĩ chuyên khoa về tim thì mỗi ngày nhìn ngắm ngực con bệnh và nghe tim con bệnh đập là chuyện quá thường tình. Vậy thì tại sao ông ta có ý định cưới Quì? Cưới một con bệnh mà hơn ai hết, ông biết rằng rất có thể ngày nào đó vợ mình sẽ chết bất đắc kỳ tử? Quì lắc đầu, lắc đầu qua trái lắc đầu qua phải, không hiểu.
 
Lý do mẹ đưa ra thật vững vàng trơn tru:
 
"Lấy thằng Mai, nó sẽ vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, nó đã trì chí theo dõi bệnh tim con lâu nay, nó hiểu cách chữa trị. Vả lại nó cũng sắp rời bệnh viện Duy Tân về Quảng Trị, ra Giêng tụi bây cưới nhau xong mỗi ngày nó đưa con đi dạy, đỡ nhọc".
 
A! Sao mẹ không nói trắng ra, Mai vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, vừa là thằng tài xế suốt đời trung thành của con? Quì khóc, Quì lắc đầu. Lắc đầu đã trở thành cử chỉ quen thuộc mỗi khi Quì muốn trốn tránh ý tưởng hắc ám nào, những ý tưởng tới từ nỗi buồn, từ một cơn giận nghẹt tim chẳng hạn...
 
Quì nhìn Quỳnh, nhìn gã thanh niên hồn nhiên trước sự bối rối tê đau của nàng. Gã vẫn không hề biết. Có nên nói cho Quỳnh biết không? Quì lắc đầu, Quì lắc đầu phân vân, Quì lắc đầu trước nỗi buồn của Quì, không dám lắc đầu trước quyết định của mẹ. Quì thương mẹ, Quì thương nỗi lo lắng của mẹ. Ngày mãn khóa mẹ bỏ hết công việc vào Qui Nhơn với Quì. Hôm chọn nhiệm sở mẹ ngồi bên Quì:
 
"Con phải về Quảng Trị, con phải chọn ty tiểu học Quảng Trị, ở đó có chú Tâm lo cho con về chỗ tốt, về Đà Nẵng không ai lo chỗ tốt cho con được cả."
 
Quì vâng dạ, Quì chọn Quảng Trị.
 
Quảng Trị: địa danh của một nơi chốn nghèo khó, buồn nản. Địa danh được nhắc nhở khá nhiều trong những bản tin chiến sự hàng ngày trên mặt báo, trên đài phát thanh. Miền đất hiền thục nhưng lỡ nằm ở vị thế cam go trên bản đồ chiến lược nên được biếu thêm một tước hiệu nữa: địa đầu giới tuyến. Quảng Trị, khu phố vuông vắn vây bọc những mái nhà thâm u cúi xuống những lòng đường bức bối, lính tráng đông hơn dân cư. Quảng Trị chỉ sống dậy từ 7 giờ sáng ; 8 giờ tối coi như Quảng Trị chết đi, những lòng đường dành cho lá bay, dành cho ma quỷ. Quảng Trị không như Huế, Đà Lạt, Nha Trang: những địa danh vừa đọc lên đã nghe quyến rũ lạ thường. Quảng Trị: cái tên mới đọc đã nghe xao xác, cực lòng.
 
Những trận gió Nam thổi từ Lào về, những heo may từ thâm sơn Thanh Nghệ Tĩnh vô làm Quảng Trị lên những cơn sốt bất thường, nóng cháy và lạnh run. Những cơn sốt đôi khi làm lệch lạc cả bước đi của tiết mùa.
 
Quì về Quảng Trị, Quì ở nhà chú Tâm. Mỗi ngày Quì vượt qua một con đường lầy lội bùn đỏ, vượt qua hai cánh đồng tới ngôi trường ở vùng ngoại ô buồn tẻ. Hôm đến trường lần đầu Quì đi với chú Tâm. Quì khóc ròng lúc đứng trên bục gỗ nhìn xuống đám học trò lem luốc, những thân thể còi cọc trước tuổi vì thiếu ăn thiếu mặc, những khuôn mặt cúi xuống trang vở buồn bã như mái tôn ủ dột che mưa nắng trên đầu chúng. Quì nhìn lũ học trò và, lắc đầu lắc đầu.
 
Mưa nhẹ hạt hơn. Có nên nói cho chàng biết không? Quì ôm sát chiếc áo mưa vào ngực tìm chút hơi ấm và chút can đảm nào đó có thể từ thinh không rơi xuống giúp Quì. Không, Quì vẫn câm lặng như con hến, như con ốc trong chiếc vỏ kỳ dị. Quì chợt thấy mình thật kỳ dị. Quì có cảm tưởng mọi con mắt của đám đông trên bến xe chiều nay đang đổ dồn về nàng, đổ dồn về đứa con gái khốn khổ với những khóe nhìn cay xót. Quì ho nhỏ, giọng Quì trầm:
 
- Anh ra xe đi, cái xe đằng kia sắp đầy rồi đó. Quì còn phải đi làm lại tóc.
 
Quỳnh nắm lấy bàn tay trắng muốt nổi gân xanh của Quì bóp nhè nhẹ:
 
- Gắng tìm đủ mọi cách bò về Huế ăn tết với anh.
 
Quì cúi mặt giấu đôi mắt bắt đầu tươm lệ nóng. Quì cắn mạnh môi dưới, Quì cắn nhẹ môi trên nhủ thầm: Quì ơi mày phải bình tĩnh uống cạn chén mật ngọt cho đến giọt cuối cùng ; chén mật ngọt sắp cạn rồi. Ngày mai mày uống mật đắng mật cay mật chua. Quì thả khóe nhìn ướt xuống bàn tay nắm của Quỳnh:
 
- Vâng, Quì cố gắng hết mình, anh ra xe, họ nổ máy rồi kìa.
 
Quỳnh bóp mạnh tay Quì rồi buông ra, khoác áo mưa vào, nhìn lâu vào mắt Quì âu yếm:
 
- Lại khóc, cô giáo rồi mà cứ ngỡ mình còn là học trò thò lò mũi xanh. 
 
Quỳnh bước ra khỏi hàng hiên, bước nhanh tới chiếc xe đậu cuối bến. Quỳnh ra khỏi hàng hiên, Quỳnh vừa vượt qua biên giới. Chén mật ngọt cạn rồi, cạn thật rồi. Quì rũ áo mưa mặc vào, trùm mũ che ngang mặt.
 
Quỳnh lên xe. Quỳnh đưa tay ra cửa xe vẫy. Quì đứng trông vời theo cho đến lúc xe khuất sau dãy nhà mái tôn, khuất sau hàng cây trụi lá trơ vơ dưới trời mù mưa tháng Chạp.
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp. Quì ôm mưa tháng Chạp trong lòng mà đi. Tháng Chạp mênh mông lồng giá rét vào tóc Quì, tháng Chạp tô son nhạt vào môi Quì, tháng Chạp đánh phấn lạnh vào má Quì. Mùa đông đang già theo cơn mưa muộn màng chiều nay, mùa xuân sẽ tới ; mùa xuân gần kề. Hôm qua lễ tất niên cử hành tại trường. Cô giáo vỗ tay hát giữa bầy trẻ ngơ ngác. Cô giáo cắn hạt dưa. Cô giáo ăn mứt gừng cùng lũ trẻ. Cô giáo bâng khuâng, nhớ những mùa xuân tuổi nhỏ mặc áo vàng quàng khăn lụa nhảy tung tăng chân sáo trên đường ngập xác pháo hường. Cô giáo nhìn qua cửa lớp, nhìn ra cánh đồng xa ngút mắt ngẫm nghĩ nơi đây tiêu sơ hoang dại quá chắc mùa xuân chẳng bao giờ về!
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp, lạnh một mình, buồn một mình, hồn nghèo trí mỏi, môi mím mắt ngây. Chàng đi rồi, Quỳnh đi rồi. Quỳnh mang mùa xuân của Quì về Huế rồi. Ngày mai, là hết. Ngày mai ông Mai sẽ đem xe rước Quì và mẹ về Đà Nẵng. Về Đà Nẵng để Quì đeo nhẫn đính hôn. Về Đà Nẵng để Quì tha hồ nhận lời chúc tụng của bà con bằng hữu. Những lời châm chọc của mấy cô em con ông chú giờ nghe còn nóng vành tai:
 
"Chị lấy cái ông Quỳnh ấy à? Trước mặt ông ta một chồng bản thảo, sau lưng ông ta một chồng bản thảo, bên phải bên trái ông ta hai chồng bản thảo nữa. Eo ôi truyện ngắn truyện dài. Chị còn chỗ nào để ngồi gần ông ta nữa?"
 
Quì ngậm nét cười cay đắng rồi Quì phun cay đắng ra thành ngôn ngữ ngậm ngùi:
 
"Vậy tao lấy ông Mai, bên phải ông ta một núi bông băng, bên trái ông ta nghìn chai thuốc đỏ, sau lựng trước mặt ông ta thuốc uống thuốc chích, tao còn chỗ nào nữa mà ngồi?"
 
Những tiếng cười vang rân, vang xa như tiếng ruồi xanh ngân nga trong lòng thạch động. Thạch động là cái óc của Quì, tâm hồn Quì sâu và lạnh lẽo tựa thạch động, trống rỗng một trăm phần trăm.
 
"Bà chị ơi, biết bao nhiêu người đang thèm địa vị của chị. Nếu không ưng xin chị dang ra cho tụi em nhào vô."
 
Những lời khôi hài thiếu muối thiếu vị tinh thiếu xì dầu, nhạt nhòa vô duyên Thanh nói, Liên nói, Phương nói. Tụi nó sao giàu ngôn ngữ đến thế? Quì nghèo nàn rồi. Tâm hồn em nghèo nàn từ khi anh bỏ đi. Câu thơ của ai vậy?
 
Quì bước đi tựa con tàu say gió. Những đường phố luốc lem bùn đỏ cũng là những đường sắt say rượu. Con tàu say, đường sắt say sẽ đưa nhau tới ga trạm nào? Quảng Trị đó, con phố âu sầu cưu mang những con đường âu sầu. Này vết chân đi qua lồng vào bùn đỏ ; bùn đỏ ôm níu lấy những dấu chân để một mai chờ nắng đốt thành bụi phiêu du cùng gió, bụi lãng quên. Quảng Trị đó, những quán hàng đìu hiu cửa mở, những thềm hiên tối nặng màu chàm. Có nên đi làm lại tóc theo lời mẹ dạy không? Quì đi, chân lang thang trí lang thang theo mưa lang thang. Quì tìm lối ra bờ sông, ngó sang bên kia thảm cỏ lướt thướt mưa mù, màu xanh lục ngon nhưng lạnh lùng quá. Quì chợt ao ước mình được hóa thành con nai vàng ngơ ngác, con nai vàng tỉnh táo gục mặt xuống thảm cỏ giá băng kia. Sông Thạch Hãn, trăm mui thuyền bồng vẻ nghèo khó, dòng sông trôi buồn như một khúc hành Tỳ bà.. Quì khẽ lắc đầu lắc đầu.
 
Quì băng qua đường tới nhà bưu điện.
 
Có nên đánh cái điện tín cho Quỳnh? Nên lắm. Phải báo cho chàng biết. Trước sau gì anh cũng phải biết. Anh biết để anh còn đủ thì giờ mà khổ mà đau mà nguyền rủa em, phải không anh?
 
Bưu điện đóng cửa im lìm. Ô hay, hôm nay chủ nhật. Quì kêu thầm trong trí, Quì bối rối đứng sững trước tòa nhà tẻ ngắt. Cái thùng thư cũ kỹ thân yêu nằm nép dưới khuôn cửa sổ. Cái thùng thư mỗi tuần Quì tới với nó 3 lần, hôn lên con rem 6 đồng khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau" Những cánh thư chắp cánh bay đi mang về những lời nồng lời ngọt. Hết rồi, kể từ ngày mai hết rồi. Xa nhau, gửi thư cho nhau Quỳnh kêu: "Quì ơi, mình ở xa nhau nên tình yêu phải đi và đến bằng lối hàm thụ". Thư mới nhất Quỳnh viết:
 
"Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm. Thương anh mỗi ngày nhớ uống thuốc cho chóng lành bệnh tim, chứa đủ hình ảnh anh trong tâm thất trái và tâm thất phải. Thương anh mỗi đêm nhớ gọi tên anh 100 lần cho anh nhảy mũi ngất ngư con tàu đi. Thương anh thì chớ nên khóc, mặc dù những lúc khóc đôi mắt em trông ngon như hai trái nhãn lồng lột vỏ. Thương anh thì ngủ cho thật đầy, 7 giờ tối đắp mền, 7 giờ sáng tung mền dậy. Thương anh thì đừng nói hành nói tỏi anh. Thương anh đừng dọa dẫm hăm he anh: chọc Quì giận Quì đi lấy chồng. Thương anh thì tết này gắng tìm đủ mọi cách tìm về trong vòng tay lớn của anh. Thương anh thì nhớ đá lông nheo thật kỹ những lúc anh chợt buồn bã giữa chừng cơn vui. Thương anh bao nhiêu thương cái tính xấu cái nết tốt của anh bấy nhiêu. Quì phải học thuộc đoạn trên làm kinh nhật tụng. Mỗi đêm quay mặt về Huế mà đọc mà cầu nguyện, gặp anh Quì phải đọc thuộc làu làu."
 
Thương anh thì thương cái tính xấu, nết tốt của anh. Tính xấu? Nết tốt? Quì không biết Quỳnh có tính xấu, nết tốt nào nữa. Anh phải cái tội đùa cợt nhiều quá, tham lam hôn hít quá, thế thôi. Quỳnh ơi Quỳnh ơi! Quì đứng như cây chuối trồng trước nhà bưu điện. Đi đâu? Về nhà có mẹ đang đợi? Vào tiệm làm lại mái tóc? Không. Mưa điên hớp hồn Quì, gió điên nhiếp dẫn hồn Quì. Quì bước đi theo tiếng hú nào đó thật âm vang thật bí mật của tháng Chạp, của đông già heo hút trên những đầu cây. Quì đi như là bay.
 
*
 
- Còn chuyến cuối, mau lên cô hai.
 
Người tài xế taxi đứng cạnh chiếc xe lùn màu đen đưa tay vẫy Quì. Quì kéo cao hai ống quần hấp tấp bước tới, cùng lúc một thanh niên từ sau lưng Quì cầm xắc chạy nhanh vào bến. Quì vướng chân vấp ngã trên vũng nước đọng. Người thanh niên vượt lên trước tới bên xe. Người tài xế phân bua:
 
- Còn có một chỗ thôi ông ơi. 
 
Người thanh niên đong đưa chiếc xắc nóng nảy:
 
- Tôi tới trước để tôi lên.
 
Quì áo quần lấm bết bùn đất nhổm dậy tới đứng ngẩn ngơ bên gã thanh niên. Người tài xế vung tay về phía Quì:
 
- Cô này tới trước, ông xem cô ta vấp ngã dơ cả quần áo kìa.
 
Đám hành khách ngồi trên xe nhao nhao:
 
- Kìa lên đi chứ, tối rồi, cãi nhau mãi sao? Cô nhỏ đó tới trước để cổ lên.
 
Người tài xế mở cửa, Quì ríu ríu nói cám ơn rồi vào chỗ ngồi. Người tài xế đóng mạnh cửa, vào cabin, ngoảnh lại nhìn gã thanh niên cười, nụ cười hàm ý xin lỗi. Gã thanh niên lỡ chuyến quay lui khoảng bến lõng bõng nước sau lưng, đong đưa chiếc xắc trên tay, lẩm bẩm chửi thề. Xe rồ máy.
 
Còn chuyến cuối, Quì đưa tay vuốt mặt, thở ra nhẹ nhõm. Quì cũng không nhớ nàng đã trở lại bến xe bằng lối nào nữa. Đôi môi lạnh cóng của Quì thoáng nụ cười nhẹ. Lòng xe chật kín om hơi ấm giúp Quì tỉnh táo phần nào. Mưa sắp dứt hạt, chỉ có từng đợt mỏng như tơ giăng ngang bầu trời. Quì khẽ nhắm mắt ngả đầu ước mong được ngủ một giấc dài và thật thoải mái. Quì nhắm mắt, càng nhắm kỹ càng tốt. Quì không muốn nhìn lui khu phố buồn bã này chút nào. Mẹ đang làm gì ở nhà? Chắc mọi người nghĩ Quì đang ngồi trong tiệm uốn tóc nào đó. Mẹ ơi con trở thành đứa con hư từ đây, từ chuyến xe cuối chiều hôm nay. Chuyến xe con đã ngỡ chẳng bao giờ con bước lên thế mà giờ con đang ngồi trong lòng nó để bắt đầu một chuyến đi. Chuyến đi có thể đưa đến hậu quả lầm than nhất cho đời con. Nhưng dẫu sao con cũng đã có quyền quyết định. Khổ con chịu, sướng con vui. Xin tạ lỗi mẹ. Xin lỗi ông Mai nhé. Thanh ơi Liên ơi Phương ơi tao nhường lại đó, đứa nào nhào vô thì cứ nhào, tao dang ra xa rồi. Tao không thể cứ uống mật đắng mà cứ bảo là mật ngọt được. Tao không thể chui vào cái vỏ hạnh phúc tiền chế được. Quỳnh ơi, em đang đuổi theo anh, đuổi theo mùa xuân ; trả mùa đông lê thê lại cho thành phố mưa bùn nắng bụi này. Anh đang ở chặng đường nào? Anh sắp tới Huế chưa? Anh có nghĩ rằng em đang đuổi theo anh gấp rút không? Đuổi theo, đuổi theo bắt cho kịp hạnh phúc. Đuổi theo, đuổi theo ngất ngư mệt lả rồi ngả vào lòng anh khóc một trận cho đã nư ; khóc hai trận cho trôi hết buồn lo điên dại ; khóc ba trận mừng hội ngộ hân hoan. Em sẽ khóc hoan hỷ, khóc ngọt bùi, trong thiên hạ có bao nhiêu kiểu khóc em sẽ khóc hết. Khóc xong em sẽ cười, trong thiên hạ có bao nhiêu nụ cười em gom lại thành rừng thành biển. Cười quên mình là đứa con bỏ đi hoang. Cười xóa mặc cảm đứa con hư. Cười vỗ ngực vinh danh người tình chung thủy. Em thèm khóc, em thèm cười. Em đang về với anh. Về vòng tay cúi đầu đọc bài kinh nhật tụng của anh: "Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm..." Vâng, thương anh thương anh, thương anh. Thương anh em sẽ tuân theo kỷ luật anh đặt, mệnh lệnh anh ra. Em đánh rơi chữ "hiếu" rồi, từ nay em xin đội chữ "tòng" lên đầu làm vương miện. Em về với anh là em quăng bỏ sau lưng hết tiếng xấu tiếng tốt, tiếng vo ve, tiếng thì thầm của đám đông thiên hạ. Em đang về. Em đang trở về. Căn nhà thuê trong hẻm lờ mờ ánh điện câu đêm nay sẽ rực rỡ ánh sáng. Đêm nay em bỏ cuộc đời nhỏ bé em vào đôi tay anh, anh muốn nhào muốn nặn, bóp méo uốn cong nặn tròn gì cũng được hết. Em sẽ mềm dẻo như cục đất sét, em sẽ ngon ngọt như cây mía mừng, em nồng nàn như vôi. Em không chua như chanh, em không chua như dấm đâu Quỳnh ơi!!!
 
Quì vụt mở mắt. Xe phanh rít lại bất ngờ nhồi lên cái mạnh. Tới Huế rồi sao? Tới Huế rồi à? Quì cuống quít hỏi và, không nghe ai trả lời cả. Đám hành khách nhốn nháo chúi về phía trước nom ra cửa kiếng. Cửa mở, mọi người ào xuống đường. Cái gì vừa xảy ra? Sao xe dừng lại ở đây?
 
Một chiếc xe Honda ngã sóng soài đầu mũi taxi. Người lái Honda là một người lính, anh ta nằm cách đó mấy thước. Mọi người chạy ùa tới nâng kẻ ngộ nạn dậy. Người lính chỉ xây xát nhẹ, cánh tay phải anh ta tóe máu bởi một đường rách ngắn. Người tài xế taxi tái xanh mày mặt, gã đưa tay chỉ con đường mòn bên phải (lối chiếc xe Hoda đã đi ra) than thở:
 
- Thật là tai bay vạ gió, khi không đâm ngang ra như vậy cha ai mà tránh kịp.
 
Một xe Quân cảnh chạy trờ tới. Người tài xế taxi phân bua với đám hành khách:
 
- Lỗi hay phải gì xe tôi cũng không thể về Huế tối nay được. Xin bà con cô bác thông cảm, tai nạn bất ngờ. Tôi xin hoàn tiền lại bà con đón xe khác về, hoặc trở lại Quảng Trị, may ra giờ này còn có xe nhà binh.
 
Đám hành khách tiu nghỉu, không ai nói năng gì cả ; cũng chẳng thấy ai đưa tay ra nhận lại tiền.
 
Quì đứng buồn bã thàng thốt như người vừa ra khỏi cơn mê ngắn. Quì ngơ ngẩn hỏi một bà già đứng bên cạnh:
 
- Đây là đâu bác?
 
Bà già ngưng nhai trầu:
 
- Mỹ Chánh, còn 40 cây số nữa mới tới Huế.
 
Đám hành khách một số xúm lại coi toán Quân cảnh làm biên bản, số khác đứng lơ ngơ trông lui tới đón xe.
 
Còn 40 cây số nữa. Quì ứa nước mắt trông hút con đường phía trước. Mưa dứt hạt từ lâu. Bầu trời mang mang sương xanh lạnh. Trước mặt, con đường vắng tanh không bóng người. Quì ngó về bên phải, những cánh đồng rộng mênh mông tiếp chân núi thẳm mù mây khói tím. Quì ngó sang trái, những quán hàng lụp xụp tranh tôn chen lẫn nhau. Quì trông lui, hoang vu hoang vu và hoang vu. Hiu quạnh trải bốn bề vây lấy đám người lỡ đường ; hiu quạnh vây lấy Quì.
 
Bà già ngạc nhiên thấy Quì khóc. Bà nhìn Quì bằng tia nhìn vừa ái ngại vừa trìu mến:
 
- Vô cái quán trong này ngồi nghỉ tí đã con. Giờ này không mong chi có xe về Huế, chuyến mình đi là chuyến cuối mà. Trở lại Quảng Trị họa may có xe nhà binh từ Phong Điền về. Bác đi hàng ngày bác biết quá. Thôi về Quảng Trị ngủ một đêm sớm mai đi cho chắc ăn.
 
Quì như không nghe thấy lời rủ rê thân mật của người đồng hành khả kính ấy. Quì đứng yên như không nhúc nhích. Còn 40 cây số trước mặt để đi tới và 20 cây số sau lưng dể trở về. Quì là người tình chung thủy nhưng là một đứa con hư. Trở về: Quì là kẻ phụ tình nhưng là một đứa con có hiếu. Đi tới hay trở lại? Mẹ ơi! Anh Quỳnh ơi! Tôi về đâu? Con về đâu? Em về đâu? Thiên đường, địa ngục trước mặt tôi hay sau lưng tôi? Mẹ ơi! Anh ơi!
 
Tay Quì xuôi, mắt Quì mở lớn. Quì đứng trông vời con đường phía trước. Quì khẽ quay đầu trông phía sau. Sương đổ xuống vai Quì và gió xoáy buốt hồn Quì. Quì lắc đầu lắc đầu. 
 
 
MƯỜNG MÁN      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1972)
 

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

VỀ MỘT MÙA - Ngụy Ngữ


"Nơi tôi ở bây giờ đang rực rỡ màu vàng của hoa muồng và hoa hướng dương. Hoa muồng từng cây lớn đơm thành tàn rậm rạp quanh vùng sân rộng, hoa hướng dương từng thân bé thưa rời trồng đứng trước hiên thềm. Hoa vàng, lá xanh. Những buổi sáng đi làm, qua khỏi cổng, nhẩn nha tản bộ vào dưới bóng cây im rợp, một người bạn thân thường chỉ xuống số hoa rụng suốt đêm chồng lên nhau cả lớp dày nổi rõ trên nền hắc ín trải sân, bảo tôi: nhìn để mai mốt có xa mà nhớ kia, thành phố này đó.
 
Người bạn đã già, hai mắt kiếng cận thị nặng gần 10 độ...".
 
Đó là những dòng chữ mở đầu một bài ngắn - có lẽ vậy, rất ngắn - tôi viết và đã biếng nhác bỏ rời, quên bẵng luôn, đâu từ khoảng đầu tháng chín - lúc hoa muồng mới nở - cho mãi tới giờ, chiều nay, khi tình cở giở lại đọc thấy, nhìn ra: cây muồng lớn và thấp nhất trước cửa không còn cánh hoa nào cả. Đã sang tháng chạp rồi. Rõ thời gian, chẳng ngờ gì được hết. Và tháng chạp, không còn hoa muồng, bây giờ đang ngay đoạn giữa mùa một loại hoa vàng khác: hoa quỳnh dại ; cùng lúc lại cũng là chớm mùa của một loại hoa đỏ: hoa vông vang.
 
Như hoa muồng, hoa quỳnh dại vàng thật vàng, và, cũng thế, hoa vông vang đỏ thật đỏ. Hình dung nếu tôi phải dạy một đám học trò nhỏ, có dịp nào giảng về hai màu vàng và đỏ ở đúng sắc độ của nó chắc không cách nào hay hơn là tôi đem ví ngay cho hai thứ hoa này. Lẽ dĩ nhiên đám học trò nhỏ đều phải con dân của phố tôi đang ở, nơi suốt mùa thu đông rợp hoa tươi chói để sửa soạn cho mùa xuân tới với những hoa có màu dịu hơn: trắng của cà phê, tím nhạt của keo, nâu non của hoa pháo...
 
Miền núi cao. Với sương mù đến sớm tan muộn, và luôn quánh bạc bít đất ngợp trời, xứ này là một xứ trong mây, đất đai của chuyện kể. Với hoa, đủ màu đủ sắc lan man tiếp nhau nở suốt bốn mùa mỗi năm, đây là một xứ phố hoa, phố vui mừng.
 
Trong phố hoa, giữa xứ mây sương, cổ áo thường xuyên kéo cao lên một chút với hơi lạnh thân quen vào nắng hanh sáng, đêm trăng sao. Vâng, kéo cổ áo lên một chút thôi là đủ, hoặc có thể cài nút tay áo sơ mi lại, nhét hai bàn tay vào túi quần, mặc thêm cái áo len ngắn mỏng, không cần phải khăn quàng và các thứ áo ấm dày. Cũng không cần nhìn vào trang nhất các nhật báo bày bán đầu ngã tư. Chỉ chừng đó là đủ. Và đi lang thang khe khẽ huýt sáo miệng theo những khúc hát từ bao nhiêu quán cà phê dọc đường thì thầm vẳng ra, cười chào vài người bạn.
 
Nhân giả ái sơn. Không trí không dũng không tín không nghĩa gì hết.
 
Ở đây, một trong số khúc hát thì thầm tôi quen miệng hát qua bao nhiêu ngày : Rằng xưa có gã từ quan, lên non tìm động hoa vàng...
 
Muồng có hai loại: lá nhỏ và lá lớn. Rất giản dị. Hoa vàng thật vàng và tên nó nôm thật nôm. Lá lớn, gọi muồng lá lớn ; lá nhỏ, gọi muồng lá nhỏ. Một anh bạn dạy học xuất thân từ trường nông lâm mục bảo tôi vậy, nhưng có một anh bạn khác, không dạy học, không học chương trình nông lâm mục mà lại là dân địa phương trăm phần trăm lại bảo: ngoài tên muồng hơi không đẹp nó còn một tên càng hơi không đẹp hơn nữa tức là bia. Cây bia, rõ quái đản. Và cả hai tên, với những vị ưa mơ mộng, vẫn chưa vừa. Cần rắc rối một chút mới được, bèn thêm hai tên nữa: Hoàng điệp, Hoàng hoa.
 
Hoa, cũng như con gái, càng đẹp càng tốt - dù cho hương màu có chứa đầy độc dược hoặc cành đầy gai nhọn chẳng sao - và tất cả đều giấu sẵn một điều chung ở ngay trong bản chất khi xuất hiện dưới ánh mặt trời, đó là cái đồng lõa hay đúng hơn là khuyến khích, thúc hối kẻ khác gọi lầm tên mình. Và gọi lầm hay thích sao gọi vậy, gọi tùy hứng cũng giống nhau.
 
Hoa vàng, nôm na quá bèn Hán hóa một chút tức khắc có Hoàng hoa ngay. Rồi tiếp theo: đường có nhiều hoa vàng là hoàng hoa lộ, suối chảy dọc thung lũng hoa vàng quanh bờ là hoàng hoa khê, vườn cây có nhiều hoa vàng là hoàng hoa viên. Còn Hoàng điệp, cái tên này tôi đã nghe được lần đầu tiên ở miệng một nữ tu trẻ tuổi thuộc giòng thánh Vinh Sơn với nụ cười đẹp và mấy ngón tay trắng nõn vấy đất đưa trỏ vời: hàng hoàng điệp đó tôi trồng ngày mới tới đây... Nghe lần đầu nên lấy làm ngạc nhiên ngơ ngác: nó là muồng chứ đâu phải là hoàng điệp. Rất nhanh, tôi được nghe một bài giảng ngắn đầy chất mơ màng: hoàng là vàng, ông không thấy nó vàng rực đó sao ; còn điệp, ai cũng gọi thế, bởi nó giống hoa điệp quá, trông nó tôi nhớ quê tôi ngoài Bắc, ngày tôi còn nhỏ...
 
Hoa muồng được trồng quanh các sân nhà, sân công sở, rải rác ven đường, dọc suối, mênh mang thưa rời trên những thảm trà thảm cỏ ở các lưng đồi, dồn lại thành rừng rậm kín ở các thung lũng chưa khai phá. Hoa quỳnh dại cũng thế. Ven đường, dọc suối, cuối góc phố, giữa những thung lũng, quanh các vườn cây. Chỉ thua cái không được người ta mang trồng trong sân. Tuy cả hai cùng thuộc giống hoang dại nhưng quỳnh dại có vẻ hoang dại hơn có lẽ nhờ điểm đó, điểm thứ nhất ; song song với mấy điểm khác biệt khác: thân thảo, sớm nở tối tàn, không cho bóng mát, chiếm nhiều đất, sinh sản nhanh. Còn tên lầm, chẳng thua gì muồng, khá nhiều. Ngay cả quỳnh dại cũng đã là một tên lầm rồi. Quỳnh dại, quỳnh vàng, hoàng quỳnh, quỳnh hoang, hướng dương dại - bởi rất giống thứ hướng dương thật, cùng màu, cùng kiến trúc, chỉ khác chút đỉnh ở lá, hoa hơi nhỏ hơn và cây mọc đông đảo chứ không riêng rời từng gốc - Lầm hết. Anh bạn xuất thân trường nông lâm mục bảo vậy. Tên nó là Quì kia.
 
Quì, biết tên thật nhưng thích và trót đã quen miệng nên vẫn gọi tên lầm là Quỳnh dại, chẳng sao. Và Quỳnh dại, hôm nào mới đây, với một cô bạn dân Huế tha phương, con gái giòng Tôn nữ, trong một mẩu chuyện bâng quơ gì đó tôi tình cờ nhắc đến tên hoa này, tức khắc đôi mắt bất-loạn-mi của cô ta nhướng lớn: ơ, tên mô lạ rứa. Theo tinh thần cắt nghĩa của tu nữ, tôi cắt nghĩa, biện bạch ; cô ta lắc đầu: mô, răng giống được, hoa ni màu vàng còn hoa quỳnh màu trắng thê. Thế là câu chuyện bâng quơ hướng luôn vào chủ đề hoa. Cô ta nói, tôi cãi. Tôi nói, cô ta cãi. Cãi, lắc đầu, gật đầu và đến một lúc nào đó cô ta bật ngặt nghẽo cười bởi khám phá ra được rằng không những tôi chỉ lầm mấy tên hoa điệp hoa quì mà còn hằng hà sa số tên hoa khác nữa, như hoàng lan tôi gọi là ướp đọi, ngọc lan, mộc lan - những thứ gì gì lan đó... - trong lúc cô bạn gọi ngoài tên hoàng lan còn tên oanh, trảo, bại hoại ; như hoa nguyệt quế tôi gọi là ngâu đực, hoa bông trắng, trong lúc cô bạn gọi ngoài tên nguyệt quế còn tên hoa-ở-chùa-nửa-chừng... Hằng hà sa số thứ và mỗi thứ là một chuỗi tên lạ hoắc, đối với tôi.
 
Lẽ dĩ nhiên trong bao nhiêu cái tên lạ hoắc cho bao nhiêu thứ hoa đó chắc chắn phải có rất nhiều cái tên gọi lầm, phải không?
 
Muồng vàng, quỳnh dại, keo tím..., các thứ hoa hoang dã. Phố hoa và cả miền hoa, đâu phải chỉ ngần đó. Còn trùng trùng điệp điệp những thứ khác nữa. Nào là hoa sân vườn, hoa trồng trước thềm, hoa lủng lẳng bên hiên, hoa tràn lan trên mái, hoa đỏ ngõ trước, hoa rợp cổng vào. Trong sương mù và nắng hanh lạnh, với bạn bè gái trai, qua mấy năm dài tôi đã sống giữa hoa. Có hoa tôi đứng lại thích thú nhìn, có hoa tôi đưa tay hái trộm mang về cắm lên bàn viết, có hoa tôi nhìn tới là phát cáu, có hoa tôi trông được là mừng, có hoa tôi buồn bã: nở cho hết rồi về, vân vân, và, cũng có hoa như lời đứa con gái con của anh bạn già cận thị bập bẹ hát: thì hái bỏ đi... để làm chi, thêm phiền.
 
Ngay khi bắt đầu cầm viết viết mấy giòng đầu bài bị bỏ dở từ khoảng tháng chín tôi đã có ý định viết một bài ngắn về hoa, hoặc điểm danh sơ qua, hoặc tường trình tổng quát thời sự của hoa một mùa nơi mình đang ở. Hình như thế thì phải. Nhưng đã biếng nhác buông tay. Rồi mãi ba tháng sau, khi cầm viết viết tiếp, ý định cũ lại hiện trở lại. Và lại thêm lần nữa, đã đành không buông tay bỏ dở như lần trước nhưng có đốt cho hết thuốc lá rồi ý định vẫn không tài nào được thực hiện hoàn hảo cả. Bởi, rất giản dị, chẳng lẽ điểm danh lại điểm danh bằng những tên lầm, và không lý gì tường trình thời sự một mùa lại chỉ nói tới màu vàng hoa quỳnh dại đang độ, màu đỏ tươi hoa vông vang mới chớm hé mà thôi. Dù cho có sơ qua và tổng quát tới mức nào đi nữa vậy cũng không được, không ổn.
 
Thế đấy, tôi một kẻ đã bao năm dài quanh quẩn giữa hoa.
 
Biết về hoa, vâng, tôi có biết. Như biết rằng không phải hoa nào cũng có chung một giai đoạn sau rốt là kết trái đơm hạt cho đời sau mà có hoa chỉ nở để nở. Nở hoa một đời mình là thôi, vừa đủ tròn phận sự. Nụ xanh thoát lên đầu cành lá, màu dần hiện ra, và ngày hàm tiếu, ngày tỏa rộng cánh, phơi nhụy, qua dăm ngày sau cánh rụng, rục tàn, chấm dứt. Nhiệm vụ truyền sinh không phải được đặt ở nó mà đặt ở các bộ phận khác của cây. Có cây mỗi năm hoa chỉ nở một mùa và mỗi mùa chỉ một đóa. Có cây hoa ra đúng giờ giấc từng ngày. Có cây đến những vài năm mới có hoa một bận và hoa có thể dai dẳng hàng tháng cũng có thể chỉ tươi vui được một sớm một chiều là xong. Có cây không phải sống bằng dưỡng chất do đất cung cấp mà phải sống bằng hơi sương hướng gió, rễ bám cứng trên đá tảng, hạt bay vương vãi giữa thinh không. Có cây rụng lá chết đi với mùa này và lặng lẽ chỗi dậy ra lá đâm hoa cho mùa khác. Vâng, tôi biết. Như biết rằng thăm thẳm đâu trong khuất vời của sự sống vô tận, hoa theo nhịp thời tiết triền miên tràn dâng ra, tựa một giòng sông với những triều nước, bến cảng với những chuyến xe nườm nượp đến đi, những con đường đô thị đông vui với những đời trai gái. Như biết hoa là nhan sắc của mặt đất, là áo đẹp của mỗi mùa, niềm vui của trần thế, biểu trưng phong thổ và tâm tình của từng miền dân cư..., nhưng, cùng lúc, ngày trên mặt đất, ở nơi nào đó lại có những hoa mang tin ngày buồn, hoa lạc ngõ, hoa độc dược, hoa gian trá, hoa đau thương...
 
Biết thế và chỉ nói thế là không đủ. Phải nói thêm. Lại tất nhiên không phải nói sâu thêm, rộng thêm về những điều vừa nói, với những cái tên gọi lầm, những tên mơ màng gọi theo tu nữ và tôn nữ, mà phải đích xác hơn, sách vở hơn: tên khoa học, tên địa phương, đặc tính của mỗi thứ một, cách lai giống, phương pháp chăm bón, việc tưới nước bỏ phân, hay hơn nữa, là công dụng, giá thị trường, tương lai hoa trong sinh hoạt kinh tế hậu chiến. Buồn thay đó lại là điều tôi hoàn toàn không biết.
 
Thì ra, giữa phố hoa này, qua bao nhiêu năm quanh quẩn tôi vẫn chỉ là một kẻ lang thang chi đạo, lơ đãng chi vi đức. Như cánh chuồn chuồn.
 
Chấm dứt bài viết, những giòng cuối này tôi dành cho em. Em, đứa con gái tóc dài có cái tên là tên một thứ hoa hoang dại được gọi lầm tên ở thành phố này nơi em đã đến, đã ra đi, nơi tôi còn lần khân nán lại mãi tới bây giờ. Điểm danh, không được. Và tường trình, cũng thế. Nhưng cũng thế với bao nhiêu người khác, còn riêng em, nơi xa xôi đó, khi đọc những giòng này hãy cho rằng được đi. Đây là một bài tường trình thời sự hoa của một mùa đất cũ. Những dáng người đang với tôi lẩn khuất giữa hoa em không thể nhận mặt được bởi thuở đó em chưa hề quen: không sao. Còn những tên hoa, vẫn nhớ chứ? Hãy nhớ lấy. Nhớ lấy những hoa của thời yên vui đó, hoa của đất cũ, của tuổi thơ xưa và quên đi những chùm hoa đau buồn mà ngày nào tôi đã trao em từ phiên chợ đông người về bên thềm loang lổ đầu cái động hoa vàng mù mịt tiếng kêu vang đó. Nhé.
 
 
NGỤY NGỮ      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1973)
 

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

HOA HỒNG NHỎ - Áo Trắng


Cô bé tay cầm cành hồng vừa hé nụ ngồi xuống gốc cây me có tàn lá to che mát cả một khoảng trống. Gió thổi làm cho lá me bay bay, vài chiếc lá be bé vướng trên tóc cô như những phiến confettis. Buổi chiều ở đây thật êm ả, cảnh vật yên tĩnh tạo cho cô bé những mơ mộng, cô có thể ngồi im hàng giờ để nhìn nắng vàng trải trên thảm cỏ hay chống cằm lắng nghe tiếng thì thầm của lá cây hoặc đưa mắt nhìn mây trắng bay lờ lững trên nền trời xanh thẳm. Tất cả mọi cảnh ở đây được cô bé xem như thiên đường bé nhỏ mà chủ là một cô bé xinh xắn. Chiều nay, cảnh vật yên lặng làm cho cô bé nghe nỗi buồn len nhẹ vào hồn và bỗng dưng cô bé cất tiếng hát ngọt ngào, êm đềm. Chiều buồn len lén tâm tư, mơ hồ nghe lá thu mưa. Dạt dào tựa những âm xưa. Thiết tha ngân lên lời xưa... Tiếng hát theo gió bay đi và tan dần trong không gian u tịch. Cô bé vừa hát vừa đưa cành hồng lên ngửi. Trong khoảnh khắc, cô bé dâng lên một sự sợ hãi, tiếng hát im bặt vì một tiếng huýt sáo cất lên phụ họa theo giọng hát. Cô bé cảm thấy buồn và thất vọng vô cùng vì cõi thiên đường của cô đã có thêm bước chân của người thứ hai dẫm lên, tự dưng cô đâm ra căm hờn người đã quấy phá cõi thiên đường bé nhỏ kinh khủng, nước mắt dâng lên, vì những giây phút êm đềm đã không còn nữa.
 
- Cô bé ơi! Tôi...
 
Cô bé ngẩng đầu lên, nước mắt còn đọng trên má. Người thanh niên nhìn cô bối rối, lưng dựa vào thân cây.
 
- Thưa cô, tôi xin lỗi, tôi...
 
Cô bé đứng lên, nói với giọng ướt sũng:
 
- Ông đừng nói gì nữa hết, ông hãy ở lại đây, chỗ này thuộc về ông đó.
 
- Cô bé, cô cứ ở đây.
 
- Ở đây làm gì? Tôi sẽ không bao giờ trở lại đây nữa vì bây giờ nó không còn là của riêng tôi nữa.
 
- Ở đây nói chuyện chơi - Người thanh niên mỉm cười nói.
 
- Nói chuyện gì? Ông ở đây nói với cỏ cây đi.
 
Cô bé bước đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên đứng với vẻ mặt ngơ ngẩn. Bỗng cô bé dừng chân lại vì có tiếng gọi, tiếng gọi to dần và người thanh niên đã đến.
 
- Có phải cái hoa này của cô bé không?
 
Cô bé quay lại, người thanh niên giơ cành hoa ra trước mặt cô bé.
 
- Ông cho xin lại cành hoa này.
 
- Đâu có dễ vậy cô bé. 
 
- Ông cho xin lại, ngày mai tôi cho ông cành hoa khác đẹp hơn.
 
- Rồi hẳn hay. Cô bé ngồi xuống đây nói chuyện chơi một chút rồi tôi cho lại cành hoa này.
 
- Thôi hổng được đâu.
 
- Sao hổng được? - Người thanh niên bắt chước giọng cô bé, làm cô bé xấu hổ, đỏ hồng đôi má. Cô bé cúi xuống bứt vài cánh hoa mọc lẫn trong cỏ, đưa lên mủi ngửi rồi hỏi che lấp cái ngượng:
 
- Hoa này là hoa gì vậy ông?
 
- Hoa này tên là hoa làm quen đó ạ - Người thanh niên mỉm cười nói.
 
Một lần nữa, đôi má người con gái đỏ hồng lên, cô bé cười khoe chiếc răng khểnh.
 
- Hoa gì tên lạ thế! Chưa bao giờ tôi nghe tên đó và...
 
- Và cũng nhờ thế tôi mới biết cô bé có chiếc răng khểnh xinh ghê ghê là.
 
Cô bé nguýt người thanh niên một cái thật dài rồi đưa mắt nhìn đàn chim đang ríu rít hót trên cành cây gần đó.
 
- Đố cô bé biết nó đang nói gì với nhau đấy?
 
- Nó nói ông trả lại tôi cành hoa.
 
- Sai rồi cô bé ơi!
 
- Vậy chứ nó nói gì? - Cô bé đanh đá.
 
- Nó nói cô bé cho nó biết tên.
 
- Tôi không có tên.
 
Người thanh niên nhìn cô bé ngạc nhiên:
 
- Lạ quá nhỉ? Ai cũng có tên không xấu cũng đẹp chẳng lẽ cô bé tên "vô danh".
 
- Đúng vậy.
 
- Nếu thế thì tôi sẽ đặt cho cô bé một cái tên nhé! Cái tên rất dễ thương, bằng lòng không?
 
Cô bé tròn mắt nhìn người thanh niên, khuôn mặt ngơ ngác như một con búp-bê Nhật.
 
- Ông đặt tên cho tôi? - Cô bé hỏi lại.
 
- Đúng đấy, tên này chỉ có tôi và cô bé biết thôi. Chắc cô bé thích hoa hồng lắm phải không?
 
- Phải, tôi rất thích hoa hồng, nhất là hoa hồng hé nụ như vậy và những hoa hồng nho nhỏ xinh xinh
 
- Vậy thì tôi đặt cho cô bé cái tên là Hoa Hồng Nhỏ, được không?
 
- Ô! - Cô bé reo lên - Cái tên hay thật. Vậy là kể từ bây giờ tôi có tên là Hoa Hồng Nhỏ rồi ông nhỉ?
 
- Chưa chắc đâu cô bé!
 
- Tại sao vậy ông? - Cô bé ngạc nhiên hỏi.
 
- Cô bé sẽ có tên đó với một điều kiện.
 
- Có điều kiện nữa sao?
 
- Có chứ, điều kiện là cô bé phải hát lại từ đầu đến cuối bản Hoài Cảm cho tôi nghe, rồi tôi trả lại cho cô bé cành hoa này và cả tên nữa.
 
- Ông nói thật chứ? Ông trả cho tôi cành hồng?
 
- Thật, mà sao cô bé thích cành hồng này quá vậy? Mất cành này còn cành khác ở nhà cô thiếu gì!
 
- Thiếu chứ đâu có dư, ở nhà tôi không có cành này tôi mới xin được của người ta nên tôi quí lắm, ông biết hông năn nỉ lắm mới được.
 
- Vậy thì cô bé hát đi rồi tôi trả.
 
- Hát hả? Cái đó... cái đó... - Cô bé ngập ngừng.
 
- Sao?
 
- Hổng được đâu.
 
- Sao không được, cô bé hát hay ghê.
 
- Thôi ông cho nợ.
 
- Tôi không thích làm chủ nợ, nếu không hát được cô bé có thể về.
 
- Ông à, ông cho tôi xin lại đi.
 
- Không được - Người thanh niên lắc đầu nói.
 
Cô bé đứng lên phụng phịu:
 
- Thôi, tôi cho ông cành hoa và trả ông cái tên lại đó, tôi... tôi đi về vì sắp tối rồi.
 
Nói xong cô bé đi thật nhanh.
 
- Hoa Hồng Nhỏ.
 
Người thanh niên bật kêu lên. Cô bé không quay lại, tóc cô bay bay trong gió. Người thanh niên cúi nhìn cành hoa hồng đang cầm trong tay, cành hoa thật đẹp và thật dễ thương, dễ thương như cô bé "Hoa Hồng Nhỏ". Nắng đã yếu dần, người thanh niên quay nhìn chỗ cô bé đã ngồi rồi bước đi, miệng huýt sáo nho nhỏ. 
 
 
ÁO TRẮNG NCT     
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc, 1973)
 

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

MAI XUÂN VỀ - Ngy Xuân Sơn


 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
mai đông mai đơm nụ nhỏ
trời đông trời lạnh gió ru
ta đông, ta chờ ngày đến
trở về phố cũ tình xưa
 
mai chưa xanh từng cánh lá
nên ta cũng nặng ưu phiền
xa quê tháng ngày vất vả
trở về, vui như thần tiên
 
ngày qua ngôi vườn xanh cỏ
có con chim lạ bay về
hót rộn trong từng hơi gió
đông tàn, đông tàn nhớ quê
 
năm xưa quê nhà gió lạnh
tháng năm bên bếp đợi chờ
mẹ yêu và đàn em dại
chờ xuân, biết bao là thơ
 
hôm nay qua ngôi vườn cỏ
sắc hương cũng dậy thanh bình
xuân về trong căn nhà nhỏ
mai tình cờ nở thật xinh
 
mai xuân, mai vàng trước ngõ
trời xuân, chim nhỏ dậy mừng
ta xuân, ta về quê cũ
vô cùng mắt lệ rưng rưng
 
mai xuân, thăm em tình cũ
lòng đầy như hoa sớm mai.
 
                         NGY XUÂN SƠN
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc, 1975)