Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

ẢO TƯỞNG ĐẸP HƠN SỰ THỰC - Võ Hồng


Cồ Tía bước những bước dõng dạc, khoan thai. Đi đủ năm bước, nó quay ngang, chầm chậm nhìn một vòng quanh sân. Những sợi đuôi vổng lên cao, rung rinh. Cái mào đỏ rực cắt răng cưa chống lên cao, rung rinh. Cồ Tía phùng cổ cất lên một tràng tiếng gáy dõng dạc: "Cô ô... Cô ô... Cô ô... Cô ô...".
 
Rồi nhảy lên đứng ở đống gỗ chất nơi cuối sân.
 
Nghe tiếng gáy, một chú Vịt con đang rúc rỉa ở vại nước cạnh mẹ lật đật chạy về phía Cồ Tía. Chú nhỏ chạy lạch bạch, hai cái cánh ngắn cũn chấp chới lia lịa, cổ và mình dài ngoẵng mà chân thì lùn tịt, trông thật ngộ nghĩnh. Chú dừng lại, đứng nhìn Cồ Tía.
 
Cố Tía vươn vai gáy tiếp một tràng dài "Cô ô... Cô ô..." hùng dũng, cái mào đỏ lại rung rinh, cái mặt lại quay trái quay phải nhìn đó đây, vẻ hiu hiu tự mãn. Chú Vịt con cứ say mê nhìn, kiễng hai chân ngắn ngủn lên mà nhìn, trong khi mấy mụ gà mái, vì quen quá, cứ thản nhiên chúi mũi vào máng thức ăn hoặc bới đất tìm sâu. Chỉ khi nào Cồ Tía đi sát lại gần, rè rè đôi cánh thì mấy mụ mới bẽn lẽn xúc động. Nhìn chú Vịt con chiêm ngưỡng mình, Cồ Tía hứng chí, dồn sức vào tiếng "Cô ô... Cô ô...".
 
Ngày nào cũng vậy, mỗi lần Cồ Tía nhảy lên đống gỗ đứng gáy là chú Vịt con lạch bạch chạy tới đứng nhìn. Cồ Tía làn lần có cảm tình với chú nhỏ hơn cả đối với lũ gà con. Nghĩ đến lũ gà con mà giận. Mình là cha chúng nó mà mình gáy mặc kệ mình, chúng nó cứ nhào vô đá nhau một cách chăm chỉ say mê, hoặc một đứa tha con trùn chạy trước, cả bầy lúc thúc chạy theo sau như một đám rước. Trong khi đó thì chú Vịt con biết thưởng thức âm thanh và phong cách biểu diễn, biết kính trọng bậc tiền bối, biết bái phục danh nhân.
 
Để tỏ lòng ân cần, một hôm, sau mươi tiếng gáy dõng dạc, Cồ Tía nhảy từ đống gỗ xuống, bước về phía Vịt con. Định bụng vuốt ve nó và nói đôi lời thân ái, không dè Vịt con vừa thấy Cồ Tía bước lại gần liền vội vàng bỏ chạy. Cồ Tía kêu:
 
- Đứng lại cháu! Không sao đâu.
 
Vịt con không những không đứng lại mà còn gia tốc, chạy xiểng liểng. Cồ Tía gọi to hơn:
 
- Chú không làm gì cháu đâu. Đứng lại kẻo té.
 
Tiếng to càng làm Vịt con hốt hoảng chạy, chạy thục mạng, chạy bán sống bán chết, vừa chạy vừa té, té chúi sấp, té bật ngửa. Trời phú cho một thân thể không cân xứng thật hết đỗi bất tiện, để lội dưới ao mới phải chỗ. Cồ Tía đứng dừng lại, thương hại. Không ngờ cái uy của mình có thể gây khiếp đảm đến vậy.
 
Dẫu có sự sợ hãi khốn khổ dường đó, nhưng hôm sau, khi Cồ Tía đứng uy nghi nơi đống gỗ cất tiếng gáy thì Vịt con vẫn vội vàng chạy ra say sưa đứng nhìn. Lần này Cồ Tía sắp đặt sự làm quen nhẹ nhàng hơn. Cồ Tía chầm chậm đi về phía Vịt mẹ, lân la cạnh Vịt mẹ. Cồ Tía bới một con trùn rồi túc túc mời Vịt mẹ. Như mọi người đàn bà nạ dòng khôn ngoan, Vịt mẹ không từ chối. Cồ Tía nhặt những hột gạo, những cọng rau mời tiếp. Vịt mẹ chiếu cố không cần nài. Qua hôm sau, qua những hôm sau nữa, việc mời mọc lại tiếp tục, những chú Vịt con quen lần lần đi, sẵn sàng rỉa vào những món quà mà Cồ Tía đem đến, không còn sợ hãi. Cứ như vậy cho đến lúc Cồ Tía đối thoại được với Vịt con.
 
- Cháu lên mấy?
 
- Dạ, cháu được một tháng tuổi.
 
- Đã bơi được chưa?
 
- Dạ được. Cháu bơi trong thau nước.
 
- Cha cháu đâu?
 
- Dạ, cháu không có cha.
 
- Tội nghiệp. Vậy là mẹ góa con côi.
 
Những cuộc đàm thoại ngắn như vậy diễn ra ở sân chuồng Vịt, gần kề họ hàng nhà Vịt.
 
Một sáng. Cồ Tía đứng gáy và Vịt con kiễng chân chiêm ngưỡng như thường lệ. Cồ Tía nhảy xuống đống gỗ, bước lại gần Vịt con. Vịt con quen, không chạy nữa. Cồ Tía tươi cười:
 
- Chào cháu.
 
- Chào chú.
 
- Hôm nay cháu lại ra nghe chú gáy. Tốt lắm. Hơn lũ ngan, ngỗng, hơn cả lũ gà mái họ hàng của chú chỉ biết ăn. Tiếng gáy đó nó cao siêu lằm, kẻ thường không hiểu nổi đâu. Tổ tiên của chú có viết sách lưu lại rằng: "Thuở Tây Lĩnh tam canh trống thúc, gà gáy đầu ba tiếng: Thiên nhật tác thì - Quốc tộ tác xương - Nhân gian tác lạc". (1)
 
Vịt con ngơ ngẩn lắc đầu tỏ ý không hiểu. Cồ Tía cười:
 
- Ồ, cái đó cao siêu lắm. Thôi, ta hẵng nói cái tầm thường thôi. Nào hôm nay chú gáy có hay hơn mọi bữa không?
 
- Cháu không biết.
 
- Hôm nay chú gáy tiếng: "Cô ô" thứ hai với dấu giảm. Âm thanh thanh thoát hơn mọi lần. Đó là một nét sáng tạo thành công của chú. Chú rất thích. Cháu có thèm được gáy hay như chú không?
 
- Không.
 
Cồ Tía tròn xoe mắt ngạc nhiên. Cứ đinh ninh nó sẽ nói ngay "thèm lắm... thèm lắm". Cồ Tía lấy giọng ôn tồn:
 
- Sao vậy? Đừng sợ ai hết, cháu cứ nghĩ sao nói vậy. Cháu vẫn say mê nhìn chú đứng gáy kia mà, chú thấy rõ.
 
- Không phải.
 
- Kìa, mỗi lần chú đứng gáy là cháu lật đật chạy ra.
 
- Đúng vậy.
 
- Rồi cháu kiễng chân chong mắt nhìn chú.
 
- Có vậy.
 
- Vừa say mê lắng nghe tiếng gáy của chú.
 
Vịt con lắc đầu:
 
- Không có nghe.
 
Cồ Tía nhún hai vai:
 
- Đáng thương thay! Không biết thưởng thức âm thanh mà chỉ trầm trồ cái vẻ đẹp của chú! Nhưng thôi, cũng được đi. Mỗi người có một cách nhìn, một cách thưởng thức, một cách cảm nhận cái đẹp. Cháu thích cái dáng đẹp của chú lắm chứ gì?
 
Vịt con lại lắc đầu.
 
Nữa! Đúng là con vịt ngớ ngẩn. Mất trí, xuẩn ngốc. Mắc bệnh tâm thần như cả loài Vịt. Cồ Tía sốt ruột. Giọng bắt đầu hơi xẵng:
 
- Vậy thì cháu nhìn chú, thích chú ở điểm nào?
 
- Cháu không có nhìn chú.
 
Cồ Tía ngạc nhiên:
 
- Chớ nhìn cái gì?
 
- Cháu nhìn cái... cái... trời xanh xanh... cái... cái (tới đây nó lắc lắc cái đầu) cái... không có gì hết... cái... thật xa ở đằng sau chú.
 
- Vòm trời xanh, khung trời xanh đó chứ có gì.
 
Vịt con không trả lời được, vì không biết "vòm trời xanh, khung trời xanh" là cái gì? Đành chỉ ấp úng nói tiếp:
 
- Nó đẹp, cháu thích lắm. Nhưng mặt trời mọc lên phía đó, chói lòa, mà mắt cháu thì yếu. Có chú đứng che mặt trời thì cháu mới nhìn thấy được.
 
Cồ Tía cảm thấy tưng tức. Vậy là nó... là mình... Nhưng Vịt con cứ thong thả tiếp:
 
- Bởi vậy mà mỗi lần nghe chú gáy, biết chú đang đứng che mặt trời, cháu mới lật đật chạy ra... để nhìn cái "không có gì" xanh xanh xa xa - cái đó chú gọi tên là "khung trời" hả chú?
 
_________________________
(1) Thiên nhật tác thì: Thời giờ bắt đầu cho đúng.
Quốc tộ tác xương: Ngôi vua thịnh vượng cho lâu bền.
Nhân gian tác lạc: Cõi người bắt đầu yên vui (Lục súc tranh công).
 
 (Trích từ tập truyện Chúng Tôi Có Mặt)
 
 
 

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2026

VỚI NGÀY THÁNG BÌNH AN - Phạm thị Kim Phượng


Bạn anh Nghiêm mỗi lần ùn ùn kéo tới nhà là em vội vã rút vô phòng đóng kín cửa lại. Chỉ một lát sau, phòng anh Nghiêm đàn hát ầm ầm cả lên, may là phòng em cách phòng anh Nghiêm những hai phòng khác, nếu không chắc em có yên thân được đâu. Anh đập cửa gọi:
 
- Tiểu Khánh, Khánh mở cửa anh nhờ này chút.
 
Em ló đầu ra:
 
- Gì vậy anh Nghiêm?
 
- Chịu khó mua giùm anh gói thuốc hút đi.
 
- Thôi, em lười lắm. Anh nhờ thằng Hoàng đi.
 
Anh Nghiêm nhăn mặt nhưng vẫn dịu dàng:
 
- Làm ơn giùm anh mà, tụi nhỏ đi đâu hết trơn rồi.
 
- Chiều anh cho em lên nhà nhỏ Thu chơi nha.
 
Anh Nghiêm dúi tiền vô tay em:
 
- Ờ thôi đi mau lên Tiểu Khánh.
 
Lúc trở về em chui vô phòng anh đưa thuốc. Chạm phải mấy ông bạn quý đang ngồi lù lù trong phòng, em tỉnh queo nhìn quanh:
 
- Ủa, anh Nghiêm đâu rồi kìa?
 
Hiển nói theo:
 
- Ờ, anh Nghiêm đâu rồi há quí vị?
 
Nam thổi khói thuốc ra đầy phòng:
 
- Tiểu Khánh hỏi ai, ở đây có 3 người lận.
 
- Tui hỏi cả ba người. Ai biết thì trả lời.
 
Vinh ít nói nhất, nãy giờ chỉ cười cười bèn lên tiếng: 
 
- Tiểu Khánh dữ quá. Nghiêm đi thay dây đàn rồi. Còn Tiểu Khánh mua thuốc lá về cho tụi anh đó hả?
 
Em ngồi xuống ghế:
 
- Mấy anh chuộc đi Khánh mới đưa.
 
Nam dúi tàn thuốc vô đồ gạt:
 
- Thí dụ như có ai đang buồn mà Khánh có thể an ủi họ được, Khánh có làm không?
 
Khánh gật đầu. Hiển hỏi với vẻ thích thú:
 
- Tiểu Khánh làm sao?
 
- Khánh cười cho họ cười theo.
 
- Nhỡ không được?
 
Em cắn môi:
 
- Khánh rủ họ đi chơi cho vui!
 
- Nếu người đó là con trai?
 
Khánh chưa biết trả lời sao. Nam cười chế diễu. Vinh tiếp lời Nam:
 
- Thì Khánh nên đưa cho họ một gói thuốc lá!
 
Em dí ngón tay xuống mặt bàn:
 
- Anh khôn lắm. Bộ anh đang buồn đó hả?
 
- Ừ. Tụi anh đang buồn.
 
- Thất tình chăng?
 
Vinh hóm hỉnh:
 
- Tụi anh còn ngây thơ, chưa phải lòng ai hết Tiểu Khánh à!
 
Em bĩu môi chọc tức:
 
- Ngây thơ? Khánh không tìn. Hình như con trai hay thèm thuốc khi buồn vì thất tình mà thôi.
 
Vinh chìa tay:
 
- Đưa anh gói thuốc rồi tính sau.
 
Em ngần ngừ. Nam dụ khị:
 
- Con gái hay thích hồng nhung ghê lắm, Tiểu Khánh có yêu hoa không?
 
Em gật đầu nhè nhẹ. Hiển đề nghị:
 
- Lấy hoa hồng chuộc thuốc lá nhé?
 
Em dặn dò:
 
- Nhớ đó nha. Anh hứa rồi mà quên thì kỳ lắm đó.
 
Hiển gật đầu. Em đưa gói thuốc cho Vinh:
 
- Hút thuốc chỉ có hại, không lợi gì hết.
 
Ba ông bạn quý chỉ cười. Em nhăn mặt vì khói thuốc cay. Vinh cúi đầu trong tư thế chán nản. Tóc anh dài tém gọn như "demi garçon" của con gái. Em nhìn anh đàng xa dám lầm anh là cô nào lắm nha.
 
Em đứng dậy:
 
- Mấy anh ngồi chơi nha. Tiểu Khánh đi tìm anh Nghiêm một chút.
 
Lúc em đi ra, loáng thoáng nghe Vinh hỏi Hiển và Nam:
 
- Tụi mày thấy Tiểu Khánh ra sao?
 
- Nhỏ dễ thương, có nụ cười đẹp.
 
- Nhưng mà nhỏ còn nhi đồng lắm Vinh ạ!
 
Vinh cười:
 
- Vậy là được rồi!
 
Em chu môi huýt gió và ngẫm nghĩ: Vinh có vẻ hơi "hắc ám", em phải đề phòng mới được. Anh Nghiêm vác cây đàn đi ngược chiều đụng em ở cửa phòng.
 
- Khỉ. Làm hết hồn, bày đặt huýt gió. Vô duyên!
 
- Trời ơi, khỉ làm sao có duyên cho được anh Nghiêm.
 
Anh chống cây đàn xuống đất:
 
- Mua thuốc chưa?
 
- Rồi. Bạn anh đang hút trên phòng.
 
- Vậy hả. cám ơn Tiểu Khánh nghe!
 
Em xua tay:
 
- Em cho lại anh ơn đó. Lấy cám thôi, em sợ miệng ngọt hơn đường của anh quá.
 
Anh cú đầu em rồi bỏ lên phòng. Em cười vang, bỗng dưng vui quá sức. Đúng như anh Nghiêm hay mắng em là con điên.
 
Sáng hôm sau lúc em đang ngồi viết thơ cho nhỏ bạn ở bàn học thì Vinh đến. Em chạy ra mở cổng:
 
- Anh đi đâu có một mình vậy, hai ông kia đâu rồi?
 
- Không biết nữa. Anh đem hoa cho Tiểu Khánh đây. Có Nghiêm ở nhà không?
 
- Anh Nghiêm đi vắng rồi. Anh Vinh vô nhà chơi đã.
 
Lúc Vinh ngồi xuống ghế, em đi lại cái bình hoa có cổ cao bé xíu để cắm hai bông hồng nhung đỏ thắm vào. Em ngắm nghía:
 
- Đẹp không Vinh?
 
- Đẹp không bằng Khánh.
 
Em nghe trong lòng xôn xao:
 
- Khánh không phải hoa.
 
- Khánh là một bông hoa quí.
 
Em nhìn anh cười bâng quơ:
 
- Anh nịnh quá. Anh có nghe câu những người đàn ông ưa nịnh đầm là những người mau chê chán và khinh khi đàn bà nhất không?
 
- Anh nghe rồi! 
 
- Vậy chắc anh nịnh nhiều lắm rồi chứ gì, cô nào nói với anh câu ấy?
 
- Anh mới nịnh người đó lần đầu tiên và anh được nghe câu đó thôi...
 
Em thắc mắc:
 
- Ai vậy?
 
- Tiểu Khánh!
 
Em hơi nóng mặt vội "quay" anh:
 
- Vậy ra Khánh không đẹp bằng hoa. Anh khen lúc nãy chỉ là nịnh.
 
Vinh cười đau khổ:
 
- Tiểu Khánh lanh quá, anh chịu thua Khánh hết.
 
- Nói vậy chứ Khánh cám ơn anh nhiều. Hoa xinh lắm!
 
Vinh vuốt nhẹ mấy cánh hoa:
 
- Tiểu Khánh biết ý nghĩa của hoa hồng không?
 
Em lắc đầu. Vinh nhìn khiến em bối rối.
 
- Hoa hồng tượng trưng cho tình yêu. Màu đỏ thẫm này là tình yêu sâu đậm lắm rồi đó Khánh.
 
- Anh tặng hoa cho Khánh mất hết ý nghĩa.
 
Vinh ngạc nhiên:
 
- Sao vậy?
 
- Tiểu Khánh nhận hoa không có ý nghĩa đó.
 
Em cười thản nhiên:
 
- Khánh chỉ nghĩ rằng anh trả công cho Khánh mà thôi, bình thường và sòng phẳng như mọi cuộc đổi chác khác.
 
Vinh lặng lẽ đánh diêm mồi thuốc hút. Em ngồi bó gối nghĩ vu vơ. Một lát Vinh chào ra về. Em tiễn Vinh ra tận cổng. Lúc em tựa vai ở cổng, Vinh nói nhỏ:
 
- Gặp Khánh ngày nay là cuối cùng.
 
Em ngạc nhiên:
 
- Sao vậy?
 
- Mai anh, Nam, Hiển đi xa.
 
- Đi đâu?
 
Vinh nheo mắt:
 
- Thi hành nghĩa vụ quân sự!
 
Em cười buồn. Từ đó em không gặp Vinh nữa. Mấy đóa hồng Vinh cho thuở xưa, em đem ép khô, giờ mỗi lần giở ra, em nghe lòng nao nao. Kỷ niệm buồn như màu hoa hôm nay.
 
 
PHẠM THỊ KIM PHƯỢNG     
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Ngọc số 155, ra ngày 5-3-1975)
 
 

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

GIẤC MƠ CỦA BÉ PHƯỢNG - Bình Nguyên Lộc

Cha! Ba mang về nhà một chiếc bíp bự dữ, cỡ gỏ lên đầu anh Dũng một cái, đầu anh Dũng sẽ phải u một cục bằng trái cam.

Ba cứ trầm trồ chiếc bíp trong khi má trề môi mà rằng :

"Chỉ tổ ung khói cho cay mắt cả nhà".

Tuy nói thế chớ má phải nhìn nhận rằng chiếc bíp nầy đẹp.

Còn Dũng và Phượng thì chỉ lo rình để giành cái hộp.

Theo hiệp ước thì Dũng được hưởng những gì mà ba bỏ ra, chẳng hạn như hộp thuốc rời Prince Albert, hộp thuốc điếu 555, hộp đựng cà vạt, hộp xi gà v.v... còn Phượng thì trọn quyền về những món bị má bỏ lạc son, chẳng hạn như lọ nước hoa mà đã hết nước hoa rồi, chẳng hạn như hộp phấn, như hộp kẹo v.v...

Nhưng hôm nay con Phượng ăn gian, quyết xé hiệp ước đó, nhìn cái hộp đựng bíp bằng đôi mắt thèm thuồng nên Dũng phải sẵn sàng để tự vệ.

Ô, cái hộp mới đẹp làm sao chớ ! Phượng sờ tay vào đó, búng thử thì nghe biết rằng cái hộp ấy làm bằng giấy cứng. Vậy mà trông cứ giống như là bằng gỗ, một thứ gỗ màu ngà có vân màu cánh dán, xinh đẹp không thể tả.

Ba đứng lên đi thay áo. Tức thì chiến tranh diễn ra, Phượng yếu hơn anh nên dùng thứ khí giới ghê gớm là dẫy và khóc la, ba phải bỏ việc thay áo, má bỏ nấu nướng để lên họp "Liên hiệp quốc" bàn xử hai nước ương ngạnh nầy.

Phượng có lỗi rõ rệt, đáng lý thì phải đầu hàng ngay, nhưng ba muốn giải thích cho Phượng hiểu bổn phận hơn là bắt ép Phượng tuân lịnh, nên hỏi :

- Phượng, con quên lời giao kết rồi hả ?

Phượng tấm tức tấm tưởi đáp :

- Con nhớ chớ ba ! Mà con xin anh Dũng nhường con một lần.

- Có xin thật à ?

- Dạ, có thật.

- Con xin để làm gì ?

- Dạ, bí mật !

Ba, Má và cả anh Dũng nữa, đều cười ngất. Bé Phượng mới học lớp năm trường Phan Văn Trị, đã biết gì mà bí với lại mật.

Ba, má thấy hay hay nên khuyên anh Dũng.

- Thôi Dũng, con nên nhường cho em lần nầy.

Dũng cũng buồn cười cho Phượng, nên vui lòng làm cái cử chỉ đẹp đó.

Phượng cười với đôi mắt ráo hoảnh, rồi vừa ôm hộp vào lòng, vừa nói : "Cám ơn ba, cám ơn má, cám ơn anh Dũng".

Đêm ấy bé Phượng cất hộp dưới gối mà ngủ, và sáng ra thì ba, má quên mất việc ấy luôn cho đến tối hôm sau, cơm nước xong rồi, cả nhà tụ họp lại, ba lấy bíp ra hút thuốc, má mới sực nhớ đến cái hộp và hỏi :

- À Phượng à, con làm gì với cái hộp ?

Phượng lấm la lấm lét nhìn ba rồi làm thinh.

- Kìa, sao má hỏi, con không trả lời ?

- Dạ, con nuôi con chim Phượng trong đó.

Ba vẫn nghe được câu đáp rất khẽ mà Phượng đã hạ giọng thật thấp để chỉ riêng một mình má nghe thôi.

- Sao con lại nuôi con chim Phượng ? - Ba hỏi.

Phượng hoảng lắm. Nó rất sợ ma nên thường bị ba mắng là không ngoan, là hay tin nhảm chuyện hoang đường. Con chim Phượng đâu bao giờ có, chắc ba sẽ mắng nó nữa. Nhưng không thể không trả lời, nó mếu máo đáp :

- Dạ, vì con thương con chim Phượng : Phượng là tên của con.

Ba cười ồ rồi hỏi :

- Ai bảo con rằng tên của con có nghĩa là con chim Phượng ?

- Má bảo.

Ông Thành thấy vợ lầm, nhưng không đính chánh, không phải sợ vợ mất uy tín trước mặt con, mà sợ Phượng mất ảo tưởng của nó. Ông muốn giải thích : "Không, tên con là một thứ hoa. Con chim Phượng là tên của con trai, con gái phải tên Hoàng, tức là con chim Phượng mái". Nhưng ông giữ miệng kịp.

Phượng sung sướng quá : Ba không mắng nó.

Đêm sau, giữa bữa ăn tối, ba hỏi :

- Con chim Phượng được bao lớn rồi đó a Phượng ?

- Dạ, nó vừa mọc cánh.

- Cho nó ăn gì ?

- Dạ, nó là chim tiên nên không cần ăn gì hết.

Ba, má nhìn nhau mà cười.

Đêm sau nữa, trước bữa ăn, ba lại hỏi :

- Cánh Phượng có đẹp không con, Phượng ?

- Dạ, đẹp.

- Nhưng hộp nhỏ quá, nó đâu có xòe cánh ra được.

- Ừ, tội nghiệp nó quá, để Phượng cho nó bay ngoài vườn cho nó thong thả.

Đêm thứ tư, suốt bữa ăn, Phượng không hề mở miệng nói một lời. Má hỏi :

- Phượng ơi, sao bữa nay con buồn hiu vậy ?

Phượng nấc lên rồi khóc mùi. Lâu lắm nó mới nghẹn ngào đáp :

- Chim Phượng bay mất rồi má à.

Ba mỉm cười, còn má kinh sợ đến buông đũa. Ba hỏi :

- Nó bay đi lúc nào ?

- Dạ, lúc con thả nó ngoài vườn, kẻo nó tù túng ở trong hộp.

- Phượng có giận nó lắm không ?

- Dạ, ơ... hơ... có, mà con vừa hết giận giờ đây. Nó phải được thong thả chớ, phải không ba ?

- Ngoan lắm. Thế Phượng có lo nó đói lạnh không ?

- Dạ không. Nó về cảnh tiên chắc phải sung sướng.

Trên giường, lúc sắp sửa ngủ, má trách ba :

- Anh hay mắng em là chỉ dạy con tin nhảm. Sao nay anh lại nuôi nấng ảo mộng của con Phượng ?

- Em lầm. Chuyện con chim Phượng không phải là tin nhảm. Đó là giấc mơ trẻ thơ. Không một người lớn nào làm nên sự nghiệp gì đáng kể, nếu thuở bé họ không mơ những giấc mơ kỳ thú như Phượng, họ không nuôi nấng những ảo ảnh huyền hoặc nào.
 
 
(Đuốc Thiêng, 1962)
Dựa theo ý của một bài báo bên Pháp
 
(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)     
 

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

NHỮNG MÀU XANH QUANH TA - Trịnh Nguyễn


Sáng chủ nhật hôm ấy Thuyên đến nhà thăm tôi. Tôi mở cổng chào đón Thuyên. Vừa vào sân cát Thuyên đã trầm trồ:
 
- Nhà chị nhiều bóng mát quá.
 
- Có cần cho mỗi chúng ta không? - Tôi hỏi.
 
- Chị thấy không sao?
 
- Thuyên cần?
 
Tôi nhìn Thuyên cười cười. Thuyên  không trả lời nhìn quanh bước đi. Chúng tôi đi dưới những hàng cây ăn trái vào nhà. Phòng khách chỉ gồm mấy cái ghế bành thấp đan bằng sợi cao su, trên tường vỏn vẹn một bức tranh màu, một bình hoa nhỏ độc nhất cánh hoa hồng nhung làm bằng vải (khí hậu ở đây không thích hợp cho các loài hoa, tôi không thể tìm dễ dàng những loài hoa mình thích để cắm bình. Tuy nhiên tôi vẫn luôn tìm cách giữ hoa bên mình dù bằng vải hay giấy cũng như luôn luôn nuôi một mối tình dù thành hình hay chưa).
 
- Chị có nghĩ là Thuyên sẽ đến thăm chị không, chị Trâm?
 
- Có chứ. Nhưng không ngờ sớm đến thế.
 
- Tại chị mà.
 
- Sao cơ?
 
- Chị làm Thuyên có cảm tưởng chúng ta đã quen nhau khi chưa gặp nhau. 
 
Tôi cười, ngầm nhận điều Thuyên nói.
 
Vì bị kẹt xe nên tôi đến trễ trong bữa tiệc tổ chức tại nhà một người bạn vào thứ bảy tuần trước. Tất cả đã ngồi vào dãy bàn dài và bữa tiệc sắp sửa. Vĩnh dành một ghế trống cho tôi cạnh Thuyên. Vĩnh đẩy chiếc ghế và vỗ vai người bạn nói:
 
- Ê Thuyên, nhớ chăm sóc Trâm hộ moa nghe.
 
Rồi Vĩnh bỏ đi. Tôi chới với giữa đám đông, giữa Thuyên còn lạ hoắc.
 
- Nhà chị ở gần đây? - Giọng Thuyên trầm, nhò.
 
- Nhà xa mà tôi lại quên câu "ăn cỗ đi trước". Thuyên khá hơn tôi "khoảng" ấy rồi.
 
Tôi chợt giật mình. Tại sao mình có thể gọi tên một người lạ mặt một cách thân tình như vậy. Nhưng mắt Thuyên cười không một nếp nhăn, hàng ria mép còn xanh trải dài theo nụ cười. Tôi không thể gọi Thuyên là ông, là anh dù đó chỉ là lần nói chuyện sơ giao. Nhưng chính lời gọi đột ngột đã mang Thuyên đến gần tôi (Sau này tôi biết Thuyên là bạn của em gái Vĩnh).
 
Ngôi nhà tôi ở giữa một vườn cây trái. Tôi ở giữa những mít, xoài, mãng cầu, táo, ổi. Bây giờ là giữa mùa táo. Những trái táo xnah mướt, chua chua, ngọt ngọt, dòn dòn đã hấp dẫn những đứa bạn hảo chua thường xuyên đến "thăm tôi". Tôi đề nghị Thuyên ra dạo vườn cho mát mẻ. Tôi cố tránh xa những cành táo đầy gai nhọn trong khi Thuyên sấn lại gần bứt bứt, nhai nhai.
 
- Táo ngon ác, chị Trâm.
 
- Coi chừng gai, Thuyên. Gai táo đâm nhức nhối lắm.
 
- Táo vườn nào cũng vậy hay chỉ ở vườn nhà chị?
 
- Ở đâu cũng thế.
 
- Thuyên không ngán. Chị sẽ thoa dầu cho Thuyên.
 
- Tôi cho chết luôn thì có.
 
- Ác thế?
 
- Ừ.
 
Một con lạch chạy ngang trên khoảng đường chúng tôi đi qua. Nước trong in hình một khoảng da trời xanh. Tôi nhìn xuống nước thấy bóng mình lung linh.
 
- Thuyên, Thuyên, lại chỉ cho xem cái này.
 
- Gì đâu?
 
- Dưới nước. 
 
Khi Thuyên đến gần, tôi vụt chạy nhanh lên chiếc cầu khỉ bắc ngang. Thuyên chạy theo, hét:
 
- Coi chừng ngã, chị Trâm.
 
- Không ngã một mình đâu. Tôi sẽ lôi theo Thuyên. 
 
- Chúng ta sẽ xuống địa ngục mất.
 
- Sao không nghĩ là được lên thiên đàng?
 
- Lên sao nổi. Tội lỗi đầy mình mà.
 
Qua khỏi chiếc cầu tôi quay lại, dáng Thuyên nghiêng nghiêng trên cầu vì đôi giầy có gót hơi cao. Tôi liên tưởng đến dáng đi của người say. Đợi Thuyên đến gần, tôi hỏi:
 
- Thuyên say bao giờ chưa?
 
- Say?
 
- Ừ say.
 
- Mà say sao cơ?
 
- Uống rượu quá "độ" say ấy mà.
 
- Đã. Nhưng đâu phải chỉ có rượu mới làm người ta say. Còn nhiều thứ nữa kia.
 
- Chẳng hạn?
 
- Như... - Thuyên lắc đầu - khó nói quá. Chị đã say chưa? - Thuyên nhìn chăm vào mắt tôi, hỏi.
 
Tôi không hiểu Thuyên hỏi tôi đã say vì rượu hay vì "nhiều thứ nữa kia" như Thuyên nói. Có lần trong bữa tiệc thân mật giữa vài người thân, bị ép uống quá "độ" nên tôi có cảm tưởng mình say. Đầu tôi nhẹ hẫng. Hồn tôi lâng lâng. Tôi cười cười, nói nói. Hai con mắt nặng trĩu hình ảnh người đối diện. Tuy nhiên, bây giờ không phải lúc để tôi nói với Thuyên điều ấy. Tôi lắc lắc đầu.
 
- Thuyên sắp say nữa, chị Trâm ơi. 
 
- Đừng uống rượu nhiều, Thuyên. Không tốt đâu.
 
- Thuyên nói ngoài rượu còn nhiều thứ khác làm người ta say nữa mà. 
 
Thứ khác, thứ khác. Đau đầu. Tôi chẳng buồn suy nghĩ. Đầu óc tôi đã làm việc nhiều, đã suy nghĩ nhiều toàn những việc lẩm cẩm. Bây giờ "hắn" tê liệt. Tôi cũng chẳng muốn tìm biết câu trả lời của Thuyên.
 
- Nên thử say một lần để biết tại sao con trai uống rượu, chị Trâm. 
 
Tôi gật đầu, nghĩ Thuyên có lý. Ít ra mình cũng nên tìm biết điều đó để "cảm thông" họ.
 
- Chị Trâm thích màu xanh không?
 
- Màu xanh nào cũng dễ bắt mắt người khác.
 
- Chúng ta - Thuyên nhìn tôi - đang ở giữa những màu xanh.
 
Tôi tiếp:
 
- Màu xanh của da trời, của lá cỏ, của ổi non, của táo sống, của...
 
- Của mắt chị - Thuyên cướp lời tôi.
 
Tôi nhắm mắt một khắc, nghĩ hai con mắt mình sắp nổi những sợi gân máu li ti, những bợn đục vàng làm mất đi vẻ trong sáng. Triệu chứng của một căn bệnh bắt đầu bộc phát. Tôi lắc đầu xua đuổi ý nghĩ thoáng chút buồn chợt hiện.
 
Thuyên bước chậm bên tôi, thật gần.
 
- Chị Trâm, chị thấy có gì trong mắt Thuyên?
 
Tôi nhìn sâu vào mắt Thuyên, hai con ngươi màu đen sáng quắc dưới hàng chân mày rậm.
 
- Tôi thấy bóng tôi trong mắt Thuyên.
 
- Thuyên thấy bóng Thuyên trong mắt chị.
 
Tôi cúi xuống lầm thầm trong đầu và chúng ta chỉ bắt gặp nhau bằng những cái bóng. Những hạt cát to màu vàng lọt vào kẽ hở những ngón chân đau đau. Giọng Thuyên lúc nào cũng trầm ấm:
 
- Chị Trâm. Nói gì đi. Sao im thế, chị Trâm?
 
Tôi ngẩng mặt mở lớn mắt nhìn Thuyên ngạc nhiên, hỏi chỉ đủ mình nghe sao Thuyên gọi tôi mãi vậy. Và nghe buồn buồn.
 
.    .    .    .    .    .
 
Dù thế nào thì chúng tôi cũng phải vượt qua chiếc cầu khỉ để vào nhà. Ở khoảng giữa cầu Thuyên giữ chặt bàn tay tôi. Sợ chị ngã, Thuyên nói. Tôi để yên tay trong tay Thuyên. Nhìn thấy hai cái bóng chập choạng lung linh trên mặt nước tôi muốn chóng mặt. Sợ chị ngã. Tôi sẽ không lôi theo Thuyên, nếu ngã. Tôi đủ sức ngã một mình. Và tôi cảm thấy chóng mặt. Tôi thấy chóng mặt.
 
 
TRỊNH NGUYỄN      
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Ngọc số 154, phát hành ngày 20-2-1975) 
 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

KẺ ĐỒNG HÀNH NĂM MỚI - Phạm Ngọc Lư


Nếu tôi tới bến sớm hơn mười phút thì đã kịp đi chuyến xe cùng với Trang và Ái. Hay đúng hơn, nếu mẹ tôi rút gọn lại những lời dặn dò dông dài, những cử chỉ dùng dằng bịn rịn, chuyến đi đã suôn sẻ rồi. Nên, thay vì là kẻ đồng hành, tôi đành gượng cười đưa tay vẫy vẫy chào Trang và Ái chúc "thượng lộ bình an". Trang quay đầu ra cửa xe cười khì:
 
- Hên quá, không ngờ phút chót lại có mầy chạy đến sắm vai đưa tiễn.
 
Ái ném cho tôi một gói hạt dưa:
 
- Gặm lai rai để giết thì giờ nghe bạn.
 
Xe rồ máy từ từ lăn bánh. Hai ba người lính phóng nhanh tới bu theo đuôi xe như sợ tôi nhanh chân giành mất chỗ đứng bám víu lắc lư như đánh đu ấy. Tôi quay lưng lại bước đi lơ ngơ, cảm giác lẻ bạn khác chi một niềm phụ rẫy, lỡ làng. Bến xe càng lúc càng ồn ào hơn cả chợ cá. Tiếng máy giục giã, tiếng mời níu khách lắc lia, mấy cái xe quảng cáo đang rêu rao bán thuốc cao đơn hoàn tán hòa âm với cửa hàng lô tô hô số thật dòn miệng, hiệp vần... Chốc chốc, vài tiếng pháo nổ đùng lên nghịch ngợm kèm theo tiếng ré tiếng chửi. Những tấm áo Tết kiểu mới dù lem bẩn vẫn còn được nâng niu chưng diện, lất phất trong đám khách đi và đến, lượn qua lại dưới cái nắng đầu năm đã có phần hanh nóng. Trời nắng tốt màu, như hớn hở, như lăng xăng với hoạt cảnh náo động phồn tạp của bến xe. Tôi chóng mặt.
 
Ba trăm bạc. Một cái vé. Một chỗ ngồi. Một chuyến xuất hành đầu năm. Một nơi sẽ đến, những ngày tháng êm ả hắt hiu dần dà sống. Một cái Tết khác. Một tuổi nào đó... Tôi ngồi nhìn con niêm nhỏ nhoi xinh xắn trên góc tấm vé màu xanh ố, nghĩ vẩn vơ. Dăm ba hành khách lên phía sau, đem theo câu chuyện riêng về ngày Tết vừa qua. Một kẻ đang trầm trồ ngưỡng mộ cây mai cao năm thước chưng trước phòng khách của khách sạn Thái Bình Dương, hơn cả cây mai của ông tỉnh trưởng. Kẻ khác cười châm biếm: cao thì cao thật, gốc cành cũng thật, chỉ có hoa là giả, rặt hoa nhựa, khó mà phân biệt. Một tiếng kêu ngạc nhiên: Ối, hèn gì có tẩm bảng gài trên cành: "nhìn bằng mắt chớ bắt bằng tay", xạo tổ mẹ. Cứ thế câu chuyện lan man, vòng vo, thu hút thêm nhiều giọng nói khác chen vô tán thưởng hay chống chế. Hành khách đùm đề khăn gói kéo lên chiếm dần hết các hàng ghế, chỉ còn một chỗ trống bên cạnh tôi. Đồng thời ban nhạc hành khất kéo đến, đi quanh xe đàn hát nỉ non, lải nhải muốn nhột bụng. Một gã đeo cái hình đen giả mù (?), chìa mũ ra trước mặt tôi lập lại điệp khúc quen thuộc:
 
"Em xin chúc cô Ba đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên
Bạc tiền như nước
Xin cô làm phước..."
 
Trong khi tôi còn ngượng ngập trước lời chúc "quý hóa" của gã, một bàn tay nhanh nhẩu thay tôi bỏ vào cái mũ một tờ giấy bạc. Đó là người thanh niên mới bước lên xe, chưa tìm ra chỗ ngồi. Cái ghế bên cạnh tôi đã có một đứa nhỏ chiếm giữ. Anh ta móc cái vé ra liếc nhìn rồi nhét vào túi lại, nét mặt điềm nhiên không chút bận tâm. Hình như con người đó đang diễn xuất vẻ thư thái bình thản, toa rập với cái cung cách ung dung nhàn tản đáng ghét của anh tài xế đang ngồi tiêu khiển với chai bia mặc cho hành khách kêu ca than phiền xe chưa chịu chạy. Thỉnh thoảng, người thanh niên khẽ mỉm cười thầm, làm như thích thú với cảnh chậm trễ nầy lắm. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ anh ta chính là nguyên cớ gây ra sự trễ nải.
 
Xe chật ứ hơi người, căng tức muốn nổ. Lũ con nít bị ngộp khóc ré từng cơn. Tài xế lững thững mở cửa leo lên ghế, chậm rãi lau sạch cái gương chiếu hậu rồi ngắm nghía bóng mình trong gương rất điệu. Hồi lâu ông ta mới chịu nổ máy, dậm thử ga rồi tiếp tục soi gương. Thằng lơ chạy vào chạy ra cãi vã chuyện dư vé thiếu chỗ, dùng dằng mãi chưa xong. Đứa nhỏ bên cạnh tôi bị mời đứng dậy trả về chỗ ngồi trên đùi má nó nhường chỗ cho người thanh niên. Anh ta nhìn xuống cái mặt ghế không lớn hơn tấm khăn tay mỉm cười lắc đầu. Nụ cười tỏ ra an phận cam chịu hoàn toàn do đó cái lắc đầu ngượng ngập như một lối làm bộ giả đò. Bây giờ tôi mới để ý thấy anh ta cao to một cách quá đáng, gần như phí phạm, thừa thãi.
 
Xe chạy. Một chặp sau, người thanh niên mới tần ngần ngồi xuống chỗ của mình sau khi đã mỉm cười cầu thân với tôi và nói e dè:
 
- Xin phép cô.
 
- Tự nhiên.
 
Tôi ép sát người vào thành cửa để giúp anh ta có thể đặt lọt tấm thân dềnh dàng xuống mặt ghế. Vẫn chưa ổn thỏa, đôi chân dài luộm thuộm của anh đang loay hoay tìm cách xếp lại sao cho gọn gàng. Nét mặt người thanh niên vụt cau lại, có vẻ bực bội chuyện chân cẳng lòng thòng hơn là vì xe chật. Nhưng rồi anh ta vẫn cười dễ dãi:
 
- Có phiền cô lắm không?
 
- Không sao.
 
- Cô về Tuy Hòa?
 
- Vâng.
 
- Cô đi một mình?
 
Tôi suýt phì cười vì câu hỏi ngớ ngẩn nầy nhưng vẫn làm nghiêm đáp:
 
- Có anh tôi nữa, ngồi sau lưng.
 
- Hai anh em chắc có chuyện bất hòa?
 
- ?
 
- Nãy giờ không thấy nói gì với nhau cả.
 
- Nói chi! 
 
Tôi quay mặt ra ngoài che giấu nụ cười. Nắng lớn, nắng xanh rờn đồng lúa đang độ dậy thì trải dài hai bên quốc lộ. Lúa đang bén hơi xuân. Những xóm nhà lác đác ven đường còn ấm áp mùi Tết. Xe đi sâu vào thung lũng xanh mướt, chạy đua với hai cánh núi hình vòng cung đang lùi lũi tiến ra chặn đường. Người thanh niên chồm qua phía tôi ném cái tàn thuốc ra ngoài, đôi mắt còn ngó theo chăm chăm xem nó rớt xuống đâu, hình như anh ta lo sợ nó sẽ gây ra một đám cháy tai hại không chừng. Xe bắt đầu trèo đèo chậm chạp, chốc chốc cứ rú lên thở dốc. Người thanh niên lại gợi chuyện loanh quanh. Tôi chỉ thưa gởi lấy lệ. Anh ta cười chữa thẹn:
 
- Có người chuyện vãn cũng dễ quên đường dài chứ cô.
 
- Tôi nói chuyện vô duyên lắm.
 
- Tôi cũng vậy.
 
Tôi lấy gói hạt dưa con Ái cho hồi nãy mời anh ta:
 
- Lai rai giết thì giờ.
 
- Tôi cắn hạt dưa vụng lắm, đừng cười nghe. 
 
Vụng thật, anh ta phải dùng cả tay để bóc. Tôi chợt nhớ tới mấy đứa em nhỏ ở nhà, tụi chúng không khéo hơn người nầy là mấy. Không hiểu sao, tôi vồn vã chỉ dẫn cho anh ta cách dùng răng và chót lưỡi để tách vỏ và khều cái hạt dưa ra một cách dễ dàng. Người thanh niên chăm chú theo dõi, nhanh nhẩu thực tập, nét mặt hớn hở như thằng bé vừa học được bí quyết tài tình. Chặp sau, anh ta quen thuộc sành sỏi một cách lạ lùng. Tôi khen:
 
- Thông minh lắm.
 
- Nhưng chưa "điệu" bằng cô.
 
Bây giờ người thanh niên cắn hạt dưa lia lịa như muốn thi thố tài năng với "thầy". Rõ ràng anh ta giả bộ vụng về để xạo tôi chơi. Tự ái, tôi lườm mắt giựt cái gói hạt dưa lại:
 
- Ông tham quá, cứ nhá lia mồm. No chưa?
 
- Về tới Tuy Hòa tôi sẽ đền cô gấp trăm chừng nầy.
 
- Thấm gì, ông biết mỗi ngày tôi gặm cả ký lô!
 
- Hèn gì đôi môi đỏ thắm rất duyên dáng.
 
- Ông ngạo tôi hở?
 
- Thành thật.
 
Người thanh niên còn diễn tả sự "thành thật" của mình bằng ánh mắt mê man nhìn sững tôi, trông chết người!
 
- Cô có nghĩ rằng mình gặp nhau thế nầy là do sự sắp đặt của Định Mệnh?
 
- Tôi không hiểu Định Mệnh là gì?
 
- Là số mạng.
 
- Số mạng là gì?
 
- Là... là... cô hiểu rồi còn giả vờ.
 
Tôi cười lớn, vui lây với anh ta:
 
- Tựa như ông cắn hạt dưa rào rào còn giả vờ?
 
Xe lượn vòng theo chân núi bên những ô ruộng muối sát mé đầm nước mặn. Đầm xanh màu rêu non. Đầm lồng bóng núi, bóng mây trầm ngâm, bóng dừa mơ màng phủ dài bán đảo bên kia. Không hơi gió, không gợn sóng. Cảnh tĩnh của tranh sơn thủy, bát ngát lời thơ, mênh mang điệu nhạc... Người thanh niên vẫn chăm chú ngắm cảnh nước non, như muốn cùng tôi chia xẻ niềm ngưỡng vọng: quê hương mình quá đẹp!
 
- Tôi đã đi từ Huế vào Saigon bằng quốc lộ 1, chỉ có đoạn đường nầy phong cảnh ngoạn mục nhất. 
 
Tôi hỏi:
 
- Gần tới Sông Cầu chưa?
 
- Sắp. Đây là đầm Lệ Uyên.
 
- Trời, cái tên khá đẹp.
 
- Chưa đẹp bằng tên cô.
 
Tôi ngạc nhiên:
 
- Ủa, ông biết?
 
Người thanh niên cười kiêu hãnh:
 
- Hồi nãy ở phòng bán vé, tôi đọc trong danh sách hành khách có cái tên quá đẹp, tôi nghĩ rằng phải là tên cô. Tục ngữ có câu "Nhìn mặt đặt tên" vốn không ngoa.
 
- Ông ranh quá tôi sợ.
 
Xe chạy chầm chậm giữa hai hàng dừa im bóng mát vào thị trấn Sông Cầu.
 
Tới bến, người thanh niên mua một chùm bánh gói bằng lá dừa.
 
- Thổ sản miền nầy, cô ăn lấy thảo.
 
Tự tay anh ta bóc vỏ năn nỉ mời tôi ăn cho bằng được. Chưa kịp nuốt miếng bánh nhỏ bằng lóng tay miệng tôi nghẹn lại:
 
- Phải bánh Phu thê?
 
- Đúng.
 
- Ông phỉnh tôi mà.
 
- Cô cũng dị đoan?
 
Tôi im lặng "ngậm mà nghe" miếng bánh trong miệng như ngậm trái cấm. Người thanh niên cứ cười thầm đắc ý, khoan khoái một cách trẻ con. Xe qua khỏi một bờ vịnh, vòng lên ngọn đèo thấp trông xuống vùng biển nằm khuất giữa bức thành núi đá màu hỏa hoàng. Người thanh niên lại mải mê ngắm cảnh, mắt không chớp, quên cả điếu thuốc đang ngún mau trên tay.
 
- Cô đi chơi Gành Đỏ lần nào chưa?
 
- Gành Đỏ ở đâu?
 
Theo ngón tay chỉ của anh ta, tôi chỉ kịp nhìn thoáng qua dãy kè đá nhấp nhô in hình ráng chiều phơn phớt, bao quanh bởi một lớp khói sóng mờ mờ và một duềnh cát vàng óng ; xe đã rẽ sang hướng khác, đi vào vùng đồi thấp trùng điệp màu lá dại xanh ối, nhìn ngợp mắt.
 
Người thanh niên lại ném tàn thuốc và như mấy lần trước, anh ta vẫn cẩn thận ngó xem nó rơi xuống chỗ nào. Tôi cười nhỏ:
 
- Xem bộ ông còn tiếc mẩu thuốc thừa.
 
- Dạo mới lên Đà Lạt tôi đã vô ý gây ra một đám cháy lớn chỉ vì cái tàn thuốc ném bậy. Lá thông khô hai bên đường bắt lửa ngon lành. Khiếp tới bây giờ.
 
- Ông đi đây đó nhiều nhỉ.
 
- Cô không thấy tôi có một đôi chân dài thòng. Chân ngựa!
 
- Trông ông có vẻ lãng tử.
 
- Tôi yêu hai tiếng đó.
 
- Có bao giờ ông thấy mỏi mệt?
 
Người thanh niên nhìn tôi đăm đăm như dò xét, như hoan hỉ:
 
- Sáng nay!
 
Tôi hơi bối rối giả vờ hiểu theo nghĩa đen:
 
- Vì chuyến xe nầy chật chội, không thoải mái chút nào.
 
- Không đâu, mơ hồ tôi thấy chân mình bị một sợi dây vô hình trói buộc.
 
- Lạ nhỉ.
 
Ngừng một lát, đắn đo, trấn tĩnh, người thanh niên bỗng bạo dạn đưa một bàn tay ra, (dường như định nắm lấy tay tôi) vịn chặt thành ghế, giọng nói hơi run:
 
- Cô có nghĩ rằng chuyến xe nầy sẽ đi mãi, mãi mãi, đi suốt...
 
Tôi cười tự nhiên:
 
- Ông muốn xe rớt xuống hố để níu nhau về cõi thiên thu?
 
- Vậy cũng thích, tôi vẫn được ở bên cô.
 
- Không, xe phải về bến, tôi còn về nhà.
 
- Và mình chia tay?
 
- Đương nhiên!
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
Tôi mím môi lưỡng lự một lát rồi nói nhanh:
 
- Không!
 
- Cô không tin Số mệnh tình cờ...
 
- Không!
 
Người thanh niên nhíu mày khổ sở, khuôn mặt dài ra tội nghiệp. Hồi lâu anh ta mỉm cười gượng gạo rồi bắt chước giọng người hành khất ở bến xe ca vãn:
 
"Chúc cô đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên..."
 
Tôi bật cười:
 
- Cảm ơn ông. Biết tôi phải "làm phước" gì cho ông đây?
 
- Chỉ xin cô tin rằng có Định Mệnh sắp đặt chuyến đi nầy.
 
- Ông đòi hỏi quá sức tôi.
 
Tôi ngạc nhiên nghe giọng mình bực dọc và lạnh lùng quá sức. Người thanh niên uể oải lắc đầu:
 
- Bây giờ tôi xuống đây, trở ra Sông Cầu.
 
- ?
 
- Đáng lẽ tôi xuống bến Sông Cầu hồi nãy nhưng nấn ná đi chung với cô thêm một quãng đường gọi là đưa tiễn. Thế nầy thì không phải lẽ nhưng tôi ngại cảnh chia tay cô ở bến xe Tuy Hòa. Lúc đó, tôi sợ mình không đủ can đảm quay về.
 
Tôi hốt hoảng tưởng như người thanh niên sẽ nông nổi lao đầu ra ngoài cửa xe ngay bây giờ. nét mặt anh ta căng thẳng đầy vẻ liều lĩnh.
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
- Ông cứ hỏi mãi cái câu hỏi không chút tế nhị, làm sao tôi trả lời được.
 
- Phải, tôi ngây thơ quá. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
Xe dừng lại, người thanh niên tần ngần chào tôi rồi bước xuống. Anh gởi lại cho tôi một ánh mắt nồng nàn tin tưởng, ấm áp hẹn hò. Tôi cúi đầu nhắm kín mắt, lòng nao nao. Dường như xe đang tiếp tục lăn bánh bon bon trên mặt đường êm ái? Gió rít trên tóc tôi, gọi mời níu kéo. Khuôn mặt người thanh niên chập chờn trong trí, xa hút với dặm trường rồi loáng hiện về trước mặt. Bất giác tôi đưa tay sờ mặt ghế bên cạnh: chùm bánh Phu thê còn thoảng hơi ấm. Những chiếc bánh cũng biết thẫn thờ trong bàn tay mân mê.
 
Trang và Ái đón tôi ở bến xe, hai đứa mừng rơn như thể lâu ngày mới gặp nhau lại. Trang đưa tay vuốt lông mày tôi, hỏi nựng:
 
- Có khóc trên xe không "cô bé". Sao âu sầu dường nầy?
 
Tôi đưa chùm bánh Phu thê cho Ái:
 
- Quà đây nè. Bù vào cái bọc hạt dưa mầy biếu.
 
Ái la lớn:
 
- Trời, năm mới đã đớp thứ bánh nầy là điềm sắp có chồng. Biết đâu vài tháng nữa sẽ ăn đám cưới mầy.
 
- Biết đâu. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
- Đầu năm mầy đã mơ mộng, nói y như văn chương. 
 
Tôi muốn tỏ thật với hai đứa bạn đó là câu nói của người thanh niên đồng hành tình cờ gặp gỡ, của một nhà lãng tử vô danh. Bây giờ tôi mới hối tiếc đã quên hỏi tên anh ta. Vâng, phải có cái tên để xác định tác giả câu nói đó, để tôi đặt tên cho chuyến đi nầy, cho một kỷ niệm vui vui trong năm mới.
 
Cô có tin rằng mình sẽ gặp lại? Tôi trả lời với chính mình:
 
- Tôi sẽ đi tìm Ông Định Mệnh để hỏi thử xem. Hy vọng ông ta rất dễ thương, ngoan ngoãn gật đầu. Nhà lãng tử vô danh hãy bình tĩnh chờ nhé.
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
  

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

ĐỂ RỒI QUÊN NHAU - Trọng Thi


Bé đã đến đây mỗi sáng, mỗi chiều. Đã vui cùng nắng sớm. Đã buồn với mưa chiều. Đều đặn như một công thức đáng yêu.
 
Anh và bé đã quen nhau từ bao giờ nhỉ? Anh không còn nhớ rõ nữa. Chỉ biết mỗi lần bé đến lòng anh vẫn rộn rã, vẫn xao xuyến. Và tâm hồn anh mát dịu hẳn lại, êm ái cơ hồ một ly cam tươi được uống giữa trưa hè nắng gắt. Nếu bé có âu yếm trách anh tại sao không nhớ đến ngày mình quen nhau, anh chỉ biết cười cầu tài một vài nụ để bé hất mặt nguýt anh một cách yêu dấu thôi. Anh vốn không có trí nhớ dai dẳng trong chuyện tình cảm. Nhưng anh lại thích thú cái mớ trí nhớ của anh lạ lùng. Bởi anh còn có nó là tư hữu, là vốn liếng trung thành nhất thôi. Ngoài ra anh còn gì nữa đâu. Vả lại nhớ những điều nhùng nhằng vụn vặt trong quá vãng để những kỷ niệm đó đôi khi làm anh khó chịu, buồn bực và mất mát thì giờ yêu bé. Chuyện gì đã qua cho qua luôn níu kéo làm gì hở bé. Phỏng níu kéo chỉ là việc làm vô vị lợi của dã tràng xe cát thôi.
 
Anh và bé nên vui cùng hiện tại mình quen nhau, thân nhau thắm thiết là đủ. Quá đủ mất rồi. Hạnh phúc là cái gì có thật và đơn giản lắm cơ mà.
 
Bắt anh nhớ lại thì anh chỉ nhớ rất mù mờ, rất mang máng. Một mai sớm nào đó đã xa mù tít tắp trong trí tưởng hình như là thế này. Bé và vài cô bạn đến đây ríu rít lanh chanh như một bầy chim sẻ đùa vui trên cành đón nắng mai hồng. Những mắt môi vừa se thắm, dù lỡ ra có nhợt một tý cũng chả sao. Mai mốt thế nào môi cũng thắm hơn, mắt sẽ tươi hơn, để trang điểm cho đời, để đời nhìn vào đó mà si đắm, mà ước mơ. Đời sở dĩ tươi vui, sở dĩ ồn ào nhộn nhịp cũng vì môi thắm, mắt tươi của đàn bà như bé cả đó.
 
Hôm đó, có lẽ, bọn bé muốn chọc phá anh hơn là muốn mua mấy món đồ lỉnh kỉnh đã, bao giờ cũng, đầy ắp trong cặp vở. Nhìn lướt qua mắt của bọn bé anh đã đọc thấy rõ điều đó: ngộ ghê ta, anh chàng này cũng đẹp trai, cũng đeo mục kỉnh ra dáng gì lắm mà ăn mặc lôi thôi lếch thếch như thế này để bán hàng. Anh chàng nom có vẻ hơi hề một tý giữa khung cảnh này (có phải điều anh đọc được trong mắt bọn bé là thế không?). Những cái nhìn soi mói đó làm anh tự ái, làm anh nhột cùng khắp ngoài da và làm máu bật dậy trong tim bấy lâu yên ổn, nên anh đã đứng thẳng hất mặt thật cao để nhìn bọn bé mặc dù mặt anh đã đỏ lắm rồi.
 
Rõ ràng nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò. Mấy bé tinh nghịch đáo để, diễu cợt vô cùng. Thấy anh đứng nghinh bé vội mở cuộc tấn công đầu châm chọc:
 
- Này anh bán hàng ơi, nhiệm vụ của anh là bán hàng chứ đâu phải đứng ngắm khách hàng. Coi chừng bọn này bắt trả tiền ngắm đó.
 
Cả bọn bấm nhau cười khúc khích. Ban đầu cười nhỏ. Rồi thấy anh bấn loạn xúc xích, tan rối hàng ngũ, các bé cười vừa vừa. Cười to. Cười vỡ chợ. Cười như pháo kích loạn đả. Anh như ông phỗng đá nhưng cũng còn trí khôn để bào chữa:
 
- Tại khách hàng của anh xinh quá và vui quá cỡ thợ mộc nên anh phải ngây ngất chứ bộ.
 
Vẫn tiếng của bé ngọt ngào như đường và chua như múi chanh mọng ướt. Sau này anh ví giọng nói đó như một ly chanh đường giữa trời nằng. Và bé bĩu môi bảo anh khéo nịnh đầm.
 
- Bọn này không thích tán nhảm đâu anh bán hàng ơi. Lo bán hàng cho bọn này đi.
 
Anh được thể, giọng hơi có vẻ Sơn đông mãi võ:
 
- Anh xin vâng lời mấy bé ạ. Các bé mua gì nào. Này sách, này vở, này cam, xoài, ổi xá lỵ và mua luôn cả anh không?
 
Cả ba bốn đôi môi đồng bĩu dài ra cả thước nom thật buồn cười:
 
- Mua anh làm gì?
 
Có lẽ anh làm hề cũng khá duyên dáng nên mấy bé không đến nỗi ghét anh thậm tệ. Bằng chứng là còn có vài cái nhìn, vài nụ cười rơi rớt lại khi bé ra đi. Anh muốn lượm mấy nụ cười, mấy cái nhìn đó quá nhưng anh vụng về khiến nó tan vỡ mất cả.
 
Bé có đồng ý lấy ngày hôm đó là cái mốc để đánh dấu ngày mình quen nhau hay phải lấy ngày khác đậm đà hơn, ít bỡn cợt hơn?
 
Nào để anh lục lọi trong trí nhớ một tí nữa thử xem. Đúng rồi. Chắc phải thế này. 
 
Đã bảo anh để ý đến vẻ chanh chua, nhí nhảnh của bé nên ánh mắt anh thường theo dõi bóng dáng mảnh mai của bé bất cứ lúc nào có bé xuất hiện. Anh mến bé là mến thầm thế thôi chứ đã có dịp nào để được trò chuyện cùng bé đâu. Bé thì vô tình như một viên sỏi quý chẳng cần níu lấy bàn chân của khách bộ hành băng qua đường gì cả dù bàn chân đó rất muốn rủ rê mời mọc bé đi trọn quãng đường. Cũng có vài lần bé trở lại quán hàng của anh nhưng bé vẫn dẫn theo một lũ bạn thì anh kể như vô phương làm ăn. Anh đành thúc thủ. Đành sống cầm hơi. Để cho đôi mắt âm thầm diễn tả vài cái liếc nhìn kín đáo, vài cú đá lông nheo trữ tình. Ôi đôi mắt anh tội nghiệp quá, khốn nạn quá làm cách gì bé cũng chẳng để ý cả. Nhiều khi anh muốn vứt cha cặp kiếng cận vào một xó rồi tự tay móc mù đôi mắt đi vì đôi mắt anh chả quyến rũ, chả làm bé chú ý nổi.
 
Hết đôi mắt anh phải nhờ đến đôi môi. Nhưng môi anh quá lâu ngày ngậm thuốc lá nên cũng chẳng được việc. Mái tóc anh cũng thế. Bàn tay anh cố làm một vài kiểu cách lịch sự anh học lóm được trong xi nê cũng trở nên vô tích sự luôn. Đến phiên cái miệng thì cái miệng lại gặp hên. Chắc là thế (nên sau này anh quý lỗ miệng anh lắm. Anh săn sóc tỉ mỉ. Ngày hai bữa anh đánh kem Hynos như lời mấy quảng cáo viên vậy).
 
Hôm đó thi Lục cá nguyệt (Anh biết thế vì hầu như tất cả học sinh trước bé đã mua giấy viết, dụng cụ trước hai ba ngày) bé trúng tủ thì phải. Anh thấy bé vui cười ra khỏi lớp sớm lắm. Anh đã đợi sẵn rồi, quý hồ thấp thoáng dáng dấp của bé anh theo dõi liền. Anh y như cục nam châm trước một thỏi sắt vậy. Bé vừa đến cổng trường đã có mấy thằng đầu tóc rất cổ quái chận bé lại nói gì đó. Ở xa, anh cứ đinh ninh mấy thằng đó quen bé. Tự nhiên anh ghét bọn đó lạ. Anh muốn quỷ Satan, quỷ Lucifer hiện lên giết quách cả bọn cho xong. Và anh ôm đồm ghét luôn cả một phong trào Hyppies đang bành trướng một cách mạnh mẽ. Không phải anh có ý hướng làm lành mạnh, làm bóng loáng cái xã hội này đâu bé. Anh ghét bởi anh thấy bọn nó đang tán bé, và tưởng bé đang thỏ thẻ những lời vui, đẹp nhất từ đôi môi bé mọng và mắt liếc sáng ngời kia.
 
Nhưng anh đã rất mãn nguyện khi thấy bé vùng vằng tránh lối phong tỏa của mấy thằng nhóc tóc dài đó. Và tuy ở xa anh cũng thấy được vẻ giận dữ và bối rối của bé. Bé còn nói gì với bọn nó nữa. Anh chỉ mong bé nhiếc những lời thật đau đớn cho bọn nó thôi. Cho thật chua ngoa, thật mỉa mai cho đau như xát vôi nhé bé.
 
Bọn nhóc đó rõ là một lũ vô tích sự và không biết điều nữa. Chúng xoắn xít lấy bé. Bao vây bé lại. Bé phải di tản chiến thuật. Bọn chúng biết dùng chiến thuật cài răng lược để ngăn cản bé. Bọn nó còn bạo dạn hơn giơ tay níu lấy cặp sách, lấy cánh tay bé. Ôi những bàn tay thô kệch, những bàn tay trần tục lại dám giơ lên để vuốt tóc bé. Đám mây trời tinh khiết đã bị luồng mây chó giỡn mặt. Tóc bé chắc phải gội mất cả gánh bồ kết mới tinh khiết lại được.
 
Bây giờ anh đã nghe rõ được lời tán tỉnh bất lịch sự, quê kệch nhất của bọn nó và tiếng giận dữ của bé. Mất dạy. Con trai gì mà. Quê. Và bé như muốn khóc.
 
Thú thật là anh khoái lắm khi bé rủa chúng như vậy. Anh còn muốn chỉ cho bé cách rủa chúng thậm tệ và hàng tôm hàng cá hơn nữa kia. Đồng thời máu nóng anh cũng dồn lên mặt và lên hai nắm đấm khiến anh muốn đấm vỡ một cái gì cho dẹp nát cho tan cơn giận. Anh ngẫm nghĩ một lúc, mặc dù thấy mình nhỏ con và đôi mắt kiếng là một bận rộn lớn khiến không thể ăn thua đủ với bọn kia, những ba bốn tên du đãng (anh kết án chúng như vậy) thế mà anh vẫn xê dịch từ từ về phía bé.
 
Bé thấy anh như kẻ chết đuối vớ được phao trao luôn cả đôi mắt cầu cứu. Ánh mắt của bé làm anh anh dũng tiến lên, tiến lên về phía bọn nhóc tóc dài. Thay vì xông xáo như một hiệp sĩ xông pha giữa ba quân để cứu nguy nàng công chúa tuyệt vời thì anh nhỏ nhẹ:
 
- Này các bạn, mong các bạn bỏ qua. Em gái tôi đấy.
 
Phải một pha dàn xếp khéo léo nhờ miệng lưỡi mấy thằng tóc dài mới thôi. Có lẽ thấy anh ăn mặc lếch thếch bẩn thỉu, không muốn dây với hủi nên chúng phú lỉnh ném lại những cái nhìn tiếc rẻ.
 
Bé nhìn anh tỏ ý muốn cám ơn mà hình như còn ngại nên anh ra vẻ kẻ cả:
 
- Về thôi cô bé. Nhớ lần sau đừng lân la trò chuyện với bọn đó nữa.
 
- Dạ đâu có quen bọn nó đâu. Khi không chúng chọc ghẹo chứ bộ.
 
- Thì anh dặn chừng vậy mà. Lần sau anh không thèm can thiệp cho đâu.
 
Vẻ hốt hoảng của bé dần dần đã tan bay đâu mất và bé nói:
 
- Anh xạo lắm.
 
Anh ngạc nhiên vô cùng. Anh mà xạo. Thương bé thấy mồ chứ bộ. Mắt anh mở lớn một dấu hỏi thì bé cười cười:
 
- Ai đâu là em gái của anh. Anh nhận ẩu không à.
 
Anh bật cười:
 
- Bộ cô bé làm em của anh không được sao?
 
Bé bĩu môi dài ngoằng:
 
- Xí, ham lắm.
 
- Được nhé. Lần sau ai chọc, ai ghẹo chả thèm can nữa đâu.
 
Bé cười huề xí xóa. Anh hài lòng lắm nhưng cũng mơ hồ thấy một vẻ gì (?) thích thú trong mắt bé bắt đầu chợt hiện.
 
Lần này thì bắt buộc bé phải đồng ý cùng anh là mình đã bắt đầu quen nhau phải không nào?
 
Và từ đó anh thấy cuộc đời hết tẻ nhạt, đã không còn hắt hủi anh nữa (thủa chưa quen bé, đang mơ tình bé anh vẫn nghĩ thế). Ánh rạng hồng đã đâu đây lóe sáng như bình minh của ngày làm chìm hẳn đêm tối.
 
Anh đã có lúc vừa giúp chị bán hàng trông quán vừa nói chuyện mê man với bé. Hoặc đã có những chiều thứ bảy, những sáng chủ nhật vui vầy cùng bé. Những lúc đó anh muốn quên tất cả những phiền toái đang làm khổ anh tháng ngày. Anh muốn cám ơn bé đã cho anh mối tình êm đẹp lúc này. Cám ơn thượng đế đã, ít ra, ngài rất công bằng bù đắp cho anh những ngày tháng thảm buồn này bằng sự trong sáng bé mang đến.
 
Bé luôn giận hờn vu vơ khiến anh phải dỗ dành xin lỗi đến tím mật. Môi bé đã thắm càng thắm xinh vì sự chọc ghẹo của bạn bè và anh riễu cợt chọc tức. Mắt bé cũng ngời sáng thêm trong đoạn đời con gái vừa lớn trong những thương mến tràn bờ.
 
Những ngày thân ái đó bé thường thắc mắc về lý lịch của anh. Về trường hợp một gã con trai nom có vẻ sạch nước cản hay ít ra cũng có một sự học không kém mấy (nguyên văn lời bé) khả dĩ thi thố được với đời mà tại sao lại lôi thôi lếch thếch bán hàng như thế này.
 
- Anh làm gì? Hay còn đi học? Anh học đến đâu? Sao ít thấy anh dẫn bé đi chơi xa? Hình như anh rất sợ mấy bác cảnh sát...
 
Anh tái mặt bảo bé đừng tò mò. Có những việc bé đừng nên tìm hiểu thêm chi cho mệt trí, cho rộn ràng. Cuộc đời là những khúc mắc điệp trùng đừng nên tìm kiếm cho nó dây vào mình. Hãy ấp ủ những gì xôn xao trong tim và ngang tầm hiểu thơ ngây của bé thôi. Và hãy xem anh như một trường hợp đặc biệt hơi hiếm để thương mến anh là đủ. Vậy mà bé vẫn bướng bỉnh nhất định yêu sách cho bằng được. Anh vốn mềm yếu trước đôi mắt tha thiết, trước vẻ mặt xụi lơ của bé nên nhún vai cười:
 
- Thì anh là một chú bán hàng. Ngày hai buổi nói cười tở mở để mua lòng mấy cô bé khách hàng như bé mong bán được nhiều.
 
- Không, việc bán hàng là phụ. Bé muốn hỏi bây giờ anh làm gì chẳng hạn còn đi học, đi lính, đi làm hay gì nữa...
 
Anh khôi hài:
 
- À, ngoài việc thường ngày đó anh còn kiếm thêm nghề ngỗng nữa.
 
Bé ngạc nhiên, mắt bé mở căng đến độ muốn toét lòi hai con ngươi ra ngoài:
 
- Nghề ngỗng? Nghề ngỗng là gì?
 
- Có nghĩa là ngổng cổ ra đợi: đợi tiền gia đình cấp hàng tháng, đợi thời gian mau qua, đợi hòa bình chóng đến. Hoặc đợi một mai sớm đẹp trời nào đó (...) ra đi.
 
- Anh nói gì bé không hiểu?
 
Cuối cùng anh cũng phải giải thích cho bé nghe một cách đại khái rằng là trường hợp của anh không đàng hoàng cho lắm, nên về ẩn cư đây bán hàng qua ngày giúp bà chị dâu. Rằng là anh không có nhiều tiền nên trong bóp anh cũng rất ít giấy tờ phòng thân. Anh chỉ nói mơ hồ thế. Và bé nhìn anh rất lạ.
 
Hồi đó anh sa lầy trong cơn mê tình tứ, anh chả phân tích thái độ của bé. Chỉ biết là trong tất cả các mối tình của anh có được bao giờ anh cũng thành thật đôi khi hóa dại và lụy vào thân. Mặc kệ, tại bản tính trời phú cho anh như thế cơ mà. Làm sao xóa bỏ cá tính khi biết nó chẳng có hại cho ai cả.
 
Cũng vì lý do đó mà anh ít đưa bé đi chơi xa trong thành phố này. Mối tình của anh và bé bởi thế có nhiều thiếu sót như món ăn thiếu đi vài ba đồ gia vị. Và cái điều phụ như thế đó biết đâu làm cho ta ghiền nhau, nhớ nhau mãi.
 
Thời gian anh và bé quen nhau kéo dài đến cuối niên học. Cuộc tình đã không có những xúc động lớn, không kết đầy máu và nước mắt như trong tiểu-thuyết-tình-cảm-ái-tình-lẩm-cẩm. Cuộc tình vẫn thường tình. Vẫn lửng lơ con cá vàng nhưng đó là những bông hoa dại đan kết cho tâm hồn anh vòng hoa rất đáng giá. 
 
Dĩ nhiên anh và bé cũng có khi giận hờn nhau, lục đục với nhau. Và bao giờ anh cũng là kẻ đầu tiên nhượng bộ. Tội nghiệp cho cuộc tình mà anh không đồng cân lượng với bé.
 
Anh còn nhớ một lần lý sự cùng nhau chuyện thi cử, bé bảo:
 
- Bé gần thi rồi đó. Anh có cầu nguyện cho bé thi đậu không?
 
- Anh chả cầu nguyện thế đâu. Anh còn mong ước trái lại nữa.
 
- Anh muốn bé rớt? Anh không thương bé, muốn bé chuốc lấy khổ đau sau một năm thức khuya dậy sớm?
 
- Ừ đó, anh không muốn bé đậu chút nào hết.
 
Bé vùng gắt:
 
- Tại sao?
 
Anh lý luận:
 
- Con gái học không nên đậu. Đi học chữ nên để làm cảnh, làm nhức tim thiên hạ thôi. Có hai trường hợp khiến anh không muốn bé đậu: bé đậu rồi mai mốt đây bé lớn mất. Và con gái học cao rất khó lấy chồng. Bé biết bao nhiêu cô học cao đang dở khóc dở cười không?
 
Bé đánh anh thùm thụp:
 
- Anh ích kỷ và gàn lắm.
 
Anh cười và bé đã giận anh hơn một tuần.
 
Đã bảo bé khó tính và bướng bỉnh lắm nên nhiều lần anh muốn biết nhà bé, bé đều từ chối. Bé viện đủ lý do:
 
- Chó nhà bé rất dữ. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé xa lắm. Ba má bé rất khó.
 
Các lý do bé đưa ra anh đều cười bảo không sao. (Thực ra anh muốn biết nhà bé cũng không khó lắm, chỉ lò dò theo bé một bữa là biết ngay.) Nhưng lý do đã khiến anh sợ hơn chó dữ, sợ hơn nhà khó kiếm, hơn sự quê mùa đó là bé bảo ba má bé khó. Từ rất xưa anh vẫn rất sợ phải đụng mặt mấy ông bà già của các cô gái mà anh quen (điều này đã khiến anh vài lần bị kết án oan: sở khanh) anh chỉ lắm chuyện khi hai đứa tâm tình lảm nhảm chứ nếu phải ké né dạ dạ thưa thưa với ông bà già của các cô gái mà anh quen anh lại bết bát kinh khủng. Anh thấy mình ngố ra, và tay chân thừa thãi tất cả. Tay không biết để đâu cho yên. Mắt môi rung rung hấp ha hấp háy. Tóm lại anh chỉ muốn độn thổ cho xong. Vả lại cái bề ngoài lôi thôi của anh: tóc tai rậm rì, quần áo dơ bẩn, râu ria không cạo và nhất là trên môi bao giờ cũng có điếu thuốc đính kèm thì không bao giờ chiếm được cảm tình của các bậc làm cha làm mẹ.
 
Rõ ràng ghét của nào trời trao của nấy. Cuộc tình của anh và bé vẫn êm như một tờ giấy pelure, vẫn yêu kiều như chiếc lá vàng lả lơi của mùa thu kề cận thì một buổi sáng cơ sự xảy đến. Sóng gió đã xô đẩy thuyền tình anh lật úp giữa ba đào sóng gió.
 
Má của bé đã đến. Má của bé thật lịch sự. Cái lịch sự đó lại rất đáng sợ. Bà nhẹ nhàng hỏi tên anh. Hỏi về mối tình của anh. Và nghề nghiệp nữa. Anh thật thà như đếm nên khai hết. Rõ ràng rành mạch.
 
Bà cũng nhìn anh cái nhìn rất lạ, rồi nói:
 
- Tôi mong cậu từ nay đừng rủ rê con tôi nữa. Nó còn nhỏ. Để cho nó học hành. Đời nó phải khá.
 
- Chúng cháu chỉ quen nhau trong veo như tình bạn.
 
- Tôi bảo là cậu nên chấm dứt đi. Cậu hứa với tôi nhé.
 
Anh đã đau khổ gật đầu bằng lòng.
 
Mãi sau này anh vẫn không minh định đó là sự dại dột hay khôn ngoan nữa. Tính anh vẫn thế. Phân chia rõ ràng. Dĩ vãng. Hiện tại. Tương lai. Ít khi anh nối kết. Cho chúng xa lạ rời rạc để thứ này không chịu trách nhiệm, hay quyến rũ thứ kia.
 
Ba bé đến tìm anh một vài lần xin lỗi, bảo có đứa bạn chơi xấu về mách nhưng hình như sau này đã có cái cách ngăn nên anh và bé không còn hào hứng trong cuộc tình nữa.
 
Và đúng ngày bé đi thi. Anh cũng ra đi.
 
Cho đến bây giờ anh cũng chẳng biết năm đó bé có đậu không. Hay mọi công lao cố gắng của bé đã rớt mất theo ý của anh.
 
Bởi vì anh và bé đã chẳng còn liên lạc, chẳng còn dính dáng gì với nhau từ lâu nay.
 
 
TRỌNG THI      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)