Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

RỒI BỖNG DƯNG ĐÁ KHÓC - Ngọc Minh


Phớt một mầu tím thạch, phớt một mầu túy ngà, những mảng mây cơ hồ chưa muốn thức cũng như tôi bao giờ cũng tiếc rẻ khi phải bỏ biển lên bờ vừa khi mặt trời lên, kẻo người người tuôn xuống, biển sẽ không còn là của riêng ta. Thân thẳng, tay ấp giữa ngực và bụng, sóng vỗ đập vào tai và hai bên sườn nghe óc a óc ách. Hôm bắt gặp tôi nằm trên mặt nước trong tư thế nầy, Y đứng trong bờ hét vọng ra: "Ê! Bộ bồ muốn biểu diễn nguyên lý Archimède hả?" Tưởng tượng hắn như con chồn giả vờ khen con quạ hát hay để ngoạm lấy miếng bánh rớt. Vì nếu ngu ngốc há miệng ra đối đáp với hắn thì có lẽ rồi tôi cũng bị mất thăng bằng vì tức cười. Bèn le lưỡi trêu cho hắn tức rồi xếp mắt.
 
Lúc mới tập cho tôi, anh Diên đã căn dặn: "Nằm trên biển rộng, mặt đối với trời bao la, cũng phải trải rộng óc não, đừng để vướng víu một chút gì, người phải nhẹ tênh không lo nghĩ, và nhất là tâm phải tịnh, xao động một tí là chết chìm chẳng ai thương ra cứu đâu nghe". Rồi anh Diên đẩy tôi ra như đẩy một khúc chuối, bè tre, như một thanh củi rều. Hồi nhỏ anh tập xe đạp cho, đi được một tí là khoái chí cười để bị té hoài. Bây giờ sẹo không để lên chân mà là những ngụm nước biển chui vào. Cái bọn nước biển trong xanh ngọt mắt thế mà nếm vô mặn lè đắng chát.
 
Hốt nhiên, tôi lo lắng nhận ra mình trôi đã khá xa bờ biển vắng. Mặt trời không nương tay chiếu lên thi thể tôi những tia cực kỳ gay gắt. Nước mắt không chịu ứa vì tôi đã gan lỳ dỗ dành: "Coi kìa, một mình, đó không phải là lối nhỏ mà mình muốn lách qua hay sao?"
 
Tưởng ông ta sẽ bực dọc nạt nộ: "Biết mi lớn lối như thế này ta sẽ bỏ mi ngoài khơi cho mi chết luôn" Khi vào đến bờ tôi còn phải nhăn nhó: "Cháu có nhờ bác lôi cháu vào đâu. Cháu dư sức bơi vào mà. Đâu có gì là xa" Nhưng ông ta chỉ vỗ đầu tôi: "Một là muốn tự tử, hai là em mơ màng quá đỗi. Xếp em vô hạng thứ hai đúng hơn. Tôi biết. Vì con trai tôi là bạn của em." Rồi ông ta bỏ đi.
 
Những bài toán sau đó càng khiến tôi cau có thêm từ nỗi bực dọc trên bể. Một cái gì đó không rõ làm óc hơi rối, không bình tĩnh như mọi sáng. Bàn sau, Bạch Huy đá giầy tôi bốc bốc: "Con khỉ! Lúc lắc đầu hoài, nhểu nước lung tung trên vở tao". Nhìn sang phía con trai, cố tìm ra nét tương đồng giữa ông già khi sáng và một ông tướng nào đó. Có lẽ ông ta gạt chơi. Vì lớp đâu có nhiều, 27 tên (thập tứ nữ anh hào và thập tam thái bảo, tụi nó vẫn tự hào xưng như vậy) thân thiết và rành rẽ lý lịch nhau thuộc đến cả tên ba má lận kia.
 
Những tiếng chuông cắt ngang giờ toán thường thì nghe dễ ghét nhưng hôm nay rất mực dễ thương. Cái phòng của 12B3 như là rung rinh cái cửa sổ vì 27 cái miệng cùng hét lên khi vị giám thị Hồng Cao Đoàn (tự 63,6) cho biết nghỉ hai giờ giữa. Cả bọn kéo rốc đi, huyên náo những dãy hành lang qua.
 
Rồi phòng trống kín, tay chắp dưới ót, nhìn những ô xanh bể nhòa nhập trên trần, ngoài ô cửa xanh lá, những chùm còng vàng thòng đầu vào, bầu trời thì lơ thơ, quanh ta là những khoảng xanh ngọt mắt. Nhưng hình như đã nhạt mờ rồi, chút xanh trong lòng ta hồn nhiên một thuở. Cái gọi là kỷ niệm, nhắc, không bao giờ hết, nhớ, chẳng khi nào đủ, và thường, ôi tim nào chứa cho vừa. Từ cái thuở Thất, Lục jupe trắng, mà thắt cho một con bính cho thật dài, tha hồ chơi giành cột, đập banh, tượng đồng biết đi ở khoảng sân gần giếng trúc. Thầy Phạm Thiên Sinh vẫn thường gọi cưng cái lớp Lục Tư của mình là "Bọn Búp Bê của tôi". Mr. Sher "bụng tốt" thì hay đùa với cái tiếng Việt lơ lớ của ông "Tôi thích dạy các cô con gái nhỏ chứ tôi không thích dạy các con heo nhỏ". Bấm nhau cười, cả lớp chui xuống nhặt những bao me, đậu phọng da cá lổn nhổn đầy lớp. Hôm sau thầy thưởng mỗi đứa một cái bánh ngọt. Đệ Tứ, Đệ Tam, vẫn chưa được gọi là lớn. Những chiều mưa đổ ầm ì, cô Quán cho bọn nhà lá tản cư lên những bàn đầu tránh cho nước dột để nghe cô kể chuyện kinh dị của E. A. Poe. Nhớ cô Thoa và những chữ Hán lăng quăng với cái lối đọc rất Tàu của cô. Hè bắt đầu chọn ban và xa cô, hai ba lớp kéo đến ngồi đầy khoảng sân rộng hát ca đến khuya lơ lắc, trăng lên lạnh ướt.
 
Và bây giờ, sắp chính thức rời trường, tôi có thể nói (mà không còn ngại sẽ bị ngộ nhận là ngụy biện để bào chữa) rằng trước khi biến cố đó xảy ra, chỉ có trong tôi một lòng rất thành, cũng như một tình rất chân. Biến cố đó như bàn tay khổng lồ ấn chiếc cổ nhỏ của tôi để mắt không còn mơ mà phải trừng trừng ráo hoảnh đối diện với một sự thật táo bạo. Dạo đó, một mình thu thân xòe mười ngón gầy chống đỡ những cọng gai xương rồng nhức nhối kéo theo những cơn kích ngất, tôi thấm thía hơn bao giờ hết lời dặn dò của anh Diên: "Tâm hồn người không như tâm hồn mình. Nên chân thành thường đồng nghĩa với ngu ngốc, rồi sẽ thấy rõ rằng, không ai thương ta bằng ta. Mọi người tìm đến nhau chỉ vì họ tự thương họ mà thôi". Bove chẳng nói rằng "Mối tình đầu và cuối của chúng ta là yêu mình" đó sao. Anh Tịnh thì nhận xét khác: "Cái vẻ tách bạch, phách tấu một mình của mi chỉ là cái vỏ tội nghiệp. Chẳng qua mi ưa lẫy đó thôi. Mỗi lần gặp bạn bè, mi cười nói huyên thuyên như con nhỏ chưa từng biết thế nào là khóc. Tôi chỉ sống đời riêng. Con người đâu phải lúc nào cũng tạo nên địa ngục cho nhau."
 
Này những tên ngộ nghĩnh dễ thương của ta. Lê Nga trẻ thơ ngổ ngáo. Trần Được mắt xanh núng nính má phị. Thanh Bình gầy như liễu, cái dáng thơ thật thơ mà tâm hồn cứng cỏi. Phương Mai mảnh như hạc, một thời nuôi dưỡng hồn ta. Mỹ Lệ, tên bạn có tính khí ngang tàng rất con trai như cái dáng lẫm liệt của hắn nhưng tình rất chân... Và Nhân, Tài, Triều, Tam, Anh, Sáng, Giang, Minh... Điều bi thảm nhất, chắc không phải là những tiếng khóc, tràng cười chúng ta gây cho nhau, mà có phải là mầm bội bạc quên lãng phôi pha ấp sẵn trong lòng mỗi người tuổi trẻ.
 
Tuổi trẻ có những lúc nhẫn tâm một cách ngây thơ vô tội không trách được. (Nhẫn tâm chớ không bao giờ là ác tâm của tuổi già mưu tính). Chỉ cần vài bày tỏ cảm thông của vị giáo sư triết dịu dàng như bố cũng đủ cho tôi vui và gắng quên mọi cố chấp để tiếp tục đến trường trong những tháng còn lại. Như thế, có phải tôi đã mang nghĩa nặng với một số giáo sư tận tình giúp đỡ và binh vực cùng toàn thể bạn bẻ bên mười hai. Và có phải, tôi cũng phải cảm tạ luôn những vị giáo sư tận tình trừng trị đồng thời gán cho tội trạng tôi cái tên thật hay ho "đã chủ trương một tờ báo có tính cách vi phạm học đường".
 
Trong khoảng thời gian lêu bêu thần trí, long đong tâm não đó, tôi vẫn nghĩ giá như cò Y hẳn mọi sự sẽ dễ thở hơn nhờ những câu tiếu lâm cũng như tiếng hát luôn nằm trên cửa miệng của hắn. Hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng mà tôi còn giữ về Y là một buổi trưa nắng lửa. Từ trường ra xe long dong về ngang cầu Nai có ai gọi tên. Nhìn quanh quất không ai, ngẩng lên mặt trời chói mắt, ngẩng xuống lại chói mắt vì hai đóm mặt trời đen của Y. Tôi hét lên: "Trời ơi làm sao chui xuống cầu tắm được hay quá vậy ta". Hắn huýt sáo một đoạn Hạ trắng, ơi một lần nữa (ơi, lần cuối mà không hay) tên tôi rồi lặn hút xuống sâu.
 
Mộ Y có mọc thứ cỏ tím than, lá hơi thon khúc giữa như hình quạt ba tiêu, bên nhám bên trơn, có thể ấp bên nhám dính chặt lấy áo vải. Cô bé O. nói thế nào em cũng kiếm hoa hồng trồng lên mộ anh Y. Tôi hứa với O. thi xong sẽ ra mũi Né kiếm cho được Huyết Kim Hài cho Y. Bao giờ cả bọn kéo rốc lên đồi cũng nghe hắn nghêu ngao:
 
"Anh sẽ lên trên ngọn Ngọc Lĩnh
Hái cho em một cánh hoa rừng
Thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh
Và vây quanh bằng trái tim anh..."
 
"Ngọc Lĩnh của Y ở đâu? Xa, xa lắm, Y đang trên đường đi tới. Đến đỉnh Y sẽ làm gì? Tụt xuống dốc bên kia và vòng qua bên này, leo lại! Dễ dàng như chơi cầu tuột rứa thì có chi thú vị mô nà? Dự định thôi, chứ Y lười lĩnh lắm. Sẽ cắm trại khá lâu ở lưng chừng sườn. Bộ Y sợ thất vọng như anh chàng viết lá chúc thư trên ngọn đỉnh trời của Mai Thảo hả? Y đâu có thèm sống và suy nghĩ như những nhân vật giả tạo của tiểu thuyết. Y là Y, rất Y. Câu hỏi chót nghe, tại sao lại là Ngọc Lĩnh, sao không đến Tà Dôn, Tà Cú cho gần? Sao không lên Tần Lĩnh cho oai, tôi nhớ rồi, Ngọc Lĩnh ngọn núi ở giữa rặng Trường Sơn gần Hạ Lào đó mà, đến làm chi nơi đèo heo hút gió? Hỏi ngu chưa? Đó là điều Ngọc không cần Y trả lời".
 
Thật ra tôi không quen thân Y lắm. Hắn quen đâu đó với một trong những người bạn của tôi. Những lượt cắm trại xa, picnic gần thường nghe bạn bè kháo nhau, để gọi Y theo hắn hát cho nghe. Điều tôi ngạc nhiên và tức cười nhất là Y tỏ ra rành rọt về tôi một cách... không đúng chút nào hết. Tôi cười ngất: "Tội quá ông ơi! Toàn là huyền thoại với huyền thoại không hà". Dần dà rồi Y cũng hiểu ra tôi, một con nhỏ vụng về nhất thế giới, suốt đời cứ loay hoay với những phiền lụy tự mình chuốc vào. Ngó bộ tôi và Y hợp nhau trong những trò nghịch ngợm trẻ con. Bờ bể lạ có những tảng đá ốm như cột dựng. Hai đứa nấp hai bên. Một hai ba, tôi ló đầu bên phải, hắn ló đầu bên trái. Thỉnh thoảng lừa nhau để tình cờ gặp, hai đứa phá lên cười như nắc nẻ. Những người bạn đang sửa soạn thức ăn trên đồi hét xuống: "Hay không? Lên phụ một tay một chân mà ăn kẻo bọn tao dọn hết. Đùa như con nít chưa. Già rồi mà không hay sao?"
 
Buổi xế ở đồi Keo Mùa Đông, Y hì hục đào được một cái hố dài. Căn đàn dưới chân, chui vào nằm lấy nhạc che kín người rồi gọi bạn bè đến khóc và tiễn đưa tao xem, chúng mày, để coi chết vui thú như thế nào. Cả bọn như bắt được trò chơi mới, hăng hái diễn tả như thật. Đến khi tôi phát giác chè đã phất mùi thơm, tụi nó mới tuôn đi lấy ca muỗng. Soong chè phân phát gần xong, vẫn chưa thấy Y ngóc dậy, tôi nhảy lon ton tới hỏi: "Bộ định ăn vạ nằm đó hoài sao ông bạn?"
 
Nét mặt Y lúc đó khiến tôi ngạc nhiên bối rối, hắn không thèm nhìn ai, nhìn thẳng lấy trời, mắt long lanh ngấn nước, khuôn mặt sáng rỡ như tắm dưới nguồn ánh sáng hạnh phúc lạ lùng nào. Hắn vẫn không thèm nhìn tôi, không thèm động đậy: "Các bạn khi nãy làm tôi xúc động quá. Bỗng lãng mạn nghĩ rằng chết được ngay lúc đó thật là tuyệt".
 
Rồi hắn ngồi phắt dậy, trở lại cái giọng điệu tinh nghịch như bao giờ: "Làm ơn múc cho miếng chè đi. Xem như cháo lú để ta đầu thai kiếp khác". Lúc hắn nói nhỏ: "Nghĩ mà tội, nghĩ mà thương Minh Ngọc sống chết chẳng biết lúc nào" Tôi giận ra mặt: "Tôi cay đắng ghét những ai thương hại tôi, nhất là những ai đề cập đến chuyện bịnh hoạn đó." Hắn tỉnh bơ gõ muỗng vào ca sắt hát làm nhảm:
 
Nàng nằm đớn dau, tháng năm dài buồn hiu
Nàng cầu cứu tôi giữa cơn bệnh đầy vơi
Nghĩ đến mắt kia lúc lìa trần
Vỡ nát trái tim muôn phần
Giờ còn có nhau, giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau, sớt chia chẳng được đâu
 
Thường thì mọi trò chơi tôi đều lấn lướt giành phần thắng và hình như hắn cũng rất khéo léo giả vờ thua. Giành nhau từng chút đến chuyện chết cũng giành. Như thế, xem như trò chơi cuối cùng này Y đã thắng tôi. Ai mà ngờ được, Y lại là người đi trước.
 
Hôm đưa Y đến khung huyệt thật, tôi không đủ can đảm đi. Nhất là sau khi nói chuyện với chị A. nghe kể Y chết mà mắt không thèm nhắm, mở trừng trừng, tròng đứng như nhìn về đâu, một cõi xa xăm. Bình thường mắt hắn đã to, hiền. Trừ lúc giận ai thì mắt trợn lên, trông dữ khiếp. Chẳng thế mà hắn có biệt danh Petit Soleil vì đôi mắt đó. Tụi bạn còn nhát, thấy Y thường trợn mắt với M. Ngọc nhiều nhất. Quả thế, nhưng hình như có lúc giận thật, có lúc hắn giận giả vờ. Cũng như những lượt trêu phá Y của tôi cũng có lúc đùa, lúc thật.
 
Hơn nửa năm nay, sau cái chết lạ lùng của Y, tinh thần tôi bỗng xuống thấp và đâm ra sợ hãi mọi sự. Những đêm khuya khoắt. Cửa khằn. Nhạc không chỗ thoát nên vương vất tản mạn vướng tường, tôi vẫn giật mình đánh thót khi nghe tiếng gọi thống thiết: "ALINE!". Tiếng ai ngỡ như tiếng bạn cũ. Y giải thích: "Cái tên đó có vẻ liếng lắc và buồn bã, thì chẳng phải là M. Ngọc bất chợt buồn vui đó sao. Cũng đôi khi Y phải thêm vào hai chữ St ở đầu tên những lúc bồ hóa sắt thép như cái ông già Staline râu cong đó".
 
Rồi thế đó, tôi bỗng thường tách xa đám đông vì cái mặc cảm kỳ quái rằng thân thiết với ai rồi cũng đưa đến phiền lụy cho người đó. Một con chim én thì không làm nên nổi mùa xuân nhưng chỉ cần một chim ụt cũng đủ tạo nên mùa đông. Con chim ụt tai ương đó có phải là tôi, mang bất hạnh đến cho mọi người liên hệ dù không muốn, vì đó đã như một định mệnh phải mang... Giờ Đạo Đức học, Amy đã hỏi thầy Tùng về những trường hợp mà kẻ gây đau đớn cho người khác vẫn hồn nhiên, ngây thơ sống với một lương tâm trong lành và không hề hay biết hành động, lời nói mình đã như những phiến nhọn cứa nhầu người khác. Có nên nghi ngờ rằng họ không có cái gọi là ý thức đạo đức hay không? Tôi đã đứng lên, giọng run, bênh vực và xin một chút khoan hồng cho họ, những có phải, cũng là, ta tự giảm tội ta...
 
Tháng này năm ngoái, sao mà nhàn hạ ghê, cái thời gian dài ngoằng để chuẩn bị thi Tú một, cả lớp, thày lẫn trò, đạp xe hàng hàng cây số, tựa một đàn chim thiên di, kiếm những mạn sông mát, nhũng vòm keo rợp bóng, góc chợ quê không người... Năm nay thi trở tay không kịp. Có ngày phải học ở trường chín giờ, nghỉ lễ cũng phải ôm cặp đi, trông như học trò đi cấm túc. Thế mới kịp chương trình. Những giờ Triết học bù, ba lớp dồn cả ở phòng, đôi mắt cứ thả trên những ngọn cau chùa Vạn Thiên nhìn từ cửa lớp. Căn bệnh thường trở vào mùa hạ, trên nỗi lo lắng thi cử, thế có ác không, trái tim kỳ khôi? Nên trưa thường ở lại trường, một mình, nhai bánh mì má lo khi sáng và nhăm sách tím của Vĩnh Để, vì nếu về nhà, mệt ngất là chẳng ai cho lên trường học tiếp buổi chiều. Ba la hoài, nghỉ quách đi con gái, rớt cũng chẳng sao, sức khỏe là trọng. Con gái ở nhà cũng thở ra thở vào, cũng đi ra đi vô, lại còn mắt đỏ, mũi đỏ: "Chẳng lẽ cuộc đời học sinh trung học con lại chấm dứt một cách tức tưởi "ai oán não nùng như ri". Ba nghe rên không thấu, ừ thôi mi đi đâu thì đi, ăn chi mà bướng, nhất định "tử thủ" với lớp học bạn bè đến phút cuối mới thôi.
 
Và những buổi trưa một mình thế này, nghe bọn Bee Gees trong Lonely Days, nhớ ghê gớm bọn amie, amies của ta. Phù vân quá những lượt lãn khóa phi lý nhiệt nồng mà dễ thương của tuổi trẻ, những buổi nhạc thính phòng chiêng trống rập rềnh ta tách đám đông thẩn thơ lên dãy lầu xây dang dở sũng ướt bởi trăng lạnh, người bạn nào trong vũng tối đã yêu Liquer? (hay Ly Cơ: quả tim bệnh hoạn nứt nẻ phân ly như những người bạn ngộ nghĩnh thương yêu). Có phải là lẩm cẩm không khi ta giữ cẩn thận những gì nhận được từ bạn hữu, những con ốc, vỏ sò, chùm trạng nguyên, những mảnh giấy lẩm ca lẩm cẩm chọc nhau chuyền đi trong giờ học, cả những mành giấy Ami bỏ vào hồi nào, ta không hay, chẳng hạn: "Bạn đừng mang giầy đỏ nữa, trông chóe quá". Có phải ta trẻ con không khi ta vội giấu giày mới không dám mang để khi giận lẫy Ami, lại lôi ra, đi lại đi qua, trêu tức. Mà ôi trời, một tháng 30 ngày, ta "xục xịch" với bạn ta có đến 29 ngày rưỡi... Có phải người ta chỉ biết thương yêu khi sắp hay đã mất nhau. Thì có phải: "Chia lìa là phương cách tốt nhất để ướp mãi trong ta những tình cảm tuyệt vời chưa và không thể bày tỏ cho nhau nghe những giờ còn đùa nghịch, lẫy hờn rất đỗi trẻ thơ."
 
Bất đồ tôi run lẩy bẩy khi tìm ra nguyên ủy nỗi bực dọc của tôi khi sáng. Bắt đầu là người đàn ông lạ lùng mà bây giờ tôi mới nhớ ra có cái cằm ương ngạnh của Y. Tại sao không có thể nhớ ra, giữa chúng ta còn có một người đã chết. Điều kinh hoàng hơn nữa, đối với riêng tôi, là hiện tại, tôi không tài nào phác họa ra một Y trong trí nhớ.
 
"Cuộc đời, niềm bí ẩn tàn khốc ấy là gì? Người ta gặp nhau để biệt ly như những chiếc lá mà gió cuốn bay; cặp mắt cố ghi giữ uổng công hình ảnh của khuôn mặt, thân thể hay cử chỉ của người yêu dấu, trong một vài năm nữa, ta không còn nhớ được đôi mắt chàng xanh hay đen. Nó phải được làm bằng đồng, nó phải được làm bằng thép, cái tâm hồn con người! Nó không được làm bằng hư không..." Ơi, Zorba của Nikos mà Y rất mến chuộng.
 
Nếu Y biết hơn nửa năm nay tôi đã không viết thêm cho bất cứ ai những câu thơ kỳ khôi mà Y thường phổ nhạc cũng như những bài văn mà Y nhăn nhó bất bình khi thấy đăng tải. Nếu Y biết trong cái thời gian khá dài đó (so với tuổi trẻ của tôi) tôi đã cố gắng sống vô tri như đá, thì chắc Y sẽ không còn giận dữ và buồn bã nhìn tôi cũng như không còn hất tung tiếng hát trầm khàn quái đản của Y để ngày ngày sóng gió vọng gào lập lại "J'avais dessiné, Sur le sable, son doux visage... J'ai crié... crié... Aline J'ai pleuré, pleuré... Oh! J'avais trop de peins..."
 
Bỗng dưng nghe lạnh lẽo khí âm. Hình như những bức tường thở nhẹ. Hình như nước lăn đâu đó trên má tôi. Y? Tôi đã quên nét mặt của Y thật rồi. Cũng như mọi vật ở Phan, mọi người biết rồi cũng sẽ đẩy bóng nhạt của tôi vào một hốc mờ của quá khứ. Những ngày cuối của niên cuối lụn dần, lụn dần. Sao tôi sợ quá, khi quanh tôi là một bầu không khí cố gượng mà vui, trông mới tội tình làm sao. Thông lệ ngày Liên Nhất đâu như là mai mốt, chẳng biết tôi còn đủ can đảm tham dự không!
 
Cuốn sách xinh dịu dàng của Hồ Văn Hóa mở ra những hình biến đổi. Phép nghịch đảo biến đường thẳng thành vòng tròn, biến vòng tròn thành đường thẳng. Nước vẫn lăn mải miết trên đá lạnh. Đã có những phép lạ biến đổi đá sỏi mềm như si sáp. Còn phép biến đổi đảo này không, hóa si sáp trở lại đá khô. Lối đi một chiều bắt buộc. Trứng học trò tiểu học nở thành nhộng học sinh trung học rồi khoác lên người những chiếc cánh đủ màu để thành bướm sinh viên. (Hay cánh rụng, tản mạn về những phương không tài nào định nổi. Thà yên nghỉ sớm như Y mà hạnh phúc! Tương lai sẽ mở ra với những khoảng trời vòi vọi, hay đưa về những ghềnh đá dựng cheo leo?). Ngày dần úa. Người trôi dạt, lìa nhau. Cho đến khi tôi chợt nhận ra có một nỗi gì đó trong mình mãnh liệt như Cái Chết thì, đồng thời tôi phải đối diện với một sự thực lạnh ngắt cay nghiệt như Nấm Mồ.
 
 
NGỌC MINH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 102, tuần lễ từ 17-5 đến 24-5-1973)
 

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

NGƯỜI BẠN NHỎ TÊN TÔ - Võ Hồng


Tố Phượng ôm con chó đến tặng tôi nhằm lúc tôi đi vắng nhiều ngày. Về nhà nghe kể lại nó nhớ mẹ kêu khóc cả đêm trong buồng tắm. Phải hai đêm kêu khóc tuyệt vọng như vậy, vừa lò dò đi tìm mẹ mà không có lối ra, nó mới chịu im và chịu ăn. Đành giã từ quá khứ, vĩnh biệt quá khứ, quên đi quá khứ để chấp nhận cuộc đời mới trong khung cảnh mới.
 
Đứa con út của chú tôi là người đỡ đầu bồng bế nâng niu nó. Hôm tôi về nhà em bồng nó lên giới thiệu:
 
- Đây, bé Tô.
 
Tôi hỏi:
 
- Ai đặt tên cho nó vậy?
 
- Em đặt.
 
Bé Tô cứ cúi nhìn xuống đất và huơ hai chân  trước tỏ ý muốn xuống đất. Có lẽ chiều cao làm nó không an tâm. Em tôi nâng cằm nó lên bắt nó nhìn tôi vừa bảo:
 
- Đó, cô chủ của Tô đó. Chào đi.
 
Tô ngước nhìn rụt rè rồi lại cúi nhìn xuống đất.
 
Tô thuộc giống chó Nhật nên đã nửa tuổi rồi mà vẫn không cao lớn vạm vỡ bao nhiêu mà thân hình chỉ roi roi thon thon. Thể chất mảnh mai nên hay đau vặt. Thứ nhất là ho. Tôi bế Tô xuống Thú y để được nghe giảng giải:
 
- Nhiều con chó trong thành phố cũng mắc chứng ho như nó vậy. Tại xe xịt thuốc DDT cứ chạy rảo các ngã đường xịt thuốc vào mỗi buổi chiều.
 
- ...
 
- Không có thuốc chi chữa được. Con nào mạnh thì bệnh lướt qua, con nào yếu thì đành chịu chết.
 
Ba tôi không đành tâm để Tô chống cự với bệnh bằng cái khả năng hữu hạn của nó, ông ra tiệm thuốc tây quen, hỏi cô dược sĩ quen:
 
- Thuốc ho thì nhiều thứ lắm, nhưng ông cần thuốc cho người lớn hay cho trẻ con?
 
- Ơ... ơ... cho trẻ con.
 
- Mấy tuổi?
 
- Ơ... ơ...
 
Lại có chuyện rối rắm. Con Tô nặng chừng mười ký thì đáng được xem là trẻ con. Và sáu tháng của nó phải coi như tương đương là sáu tuổi của loài người. Vậy nên ba tôi nói:
 
- Sáu tuổi.
 
Không ngờ cô dược sĩ mở to mắt ngạc nhiên:
 
- Con ông lớn hết rồi mà. Có đứa nào sáu tuổi đâu?
 
Ba tôi bật cười:
 
- Cám ơn cô đã ân cần lưu ý biết rõ gia đình chúng tôi. Thật ra tôi không mua thuốc cho con, mà mua cho con... chó con.
 
Đến lượt, cô dược sĩ cười lên và mấy cô bán hàng, cô ngồi két cũng thích thú cười theo. Sau đó, họ thảo luận về sự tương đồng giữa một con chó sáu tháng với một con người, và cuối cùng họ trao cho ba tôi một chai xi-rô. Tô uống xi-rô trong mươi ngày thì hết ho. Tôi mừng quá ghé lại tiệm thuốc Tây để "thay mặt Tô và nhân danh cá nhân tôi" cám ơn cô dược sĩ.
 
Tám tháng sau Tô lại ho. Lần này cơn ho dài và có kèm nước dãi trắng. Tôi lại hỏi thuốc nơi thú y. Một ông nhân viên lạnh lùng hỏi:
 
- Có cho nó uống thuốc sán lãi chưa?
 
- Dạ... chưa.
 
- Sao nuôi chó mà không cho uống thuốc sán lãi?
 
Tôi bí, không biết nên trả lời sao. Nghĩ lại, người Việt Nam mình cẩu thả thật, đáng bị rầy là phải. Chẳng những nuôi chó không cho uống thuốc sán lãi, đến nuôi con mà cũng không cho uống thuốc sán lãi nữa. Đến chừng thằng con tới tuổi động viên đi Thủ Đức, cha mẹ nó mới chợt nhớ ra rằng mình quên chưa hề cho nó uống thuốc sán lãi một lần.
 
Ông nhân viên thấy tôi đứng bí một cách thật thà, liền gọi cô thư ký bảo lấy cho tôi hai gói thuốc sán lãi.
 
- Mỗi gói uống làm hai lần. Uống trước bữa ăn.
 
Tôi móc ví trả tiền thì ông khoát tay:
 
- Thôi, biếu cô đó. 
 
Như vậy, cứ năm bảy tháng là Tô lại có một chứng đau, lại bỏ ăn đôi ngày khiến tôi có dịp để mà biết các loại thuốc tiêm, thuốc uống dành cho gia súc vừa cả những món thuốc dành cho người mà tôi cứ sẵn sàng xâm lấn vi phạm.
 
Tô nó yếu như vậy nên nó nhát nước, không thích tắm. Mỗi lần muốn tắm cho nó thì tôi phải đích thân bế nó, vỗ về và khi nó nhìn thấy thau nước đổ đầy trước mặt là chân nó cứ run khựng lên. Làm như thau nước đó không phải để tắm mà để luộc nó vậy.
 
Tôi phải xối nước nhè nhẹ, in ít rồi len lén xát xà phòng lên từng phần nhỏ của cơ thể nó, bắt đầu là mông, rồi ngược lên lưng, lên bụng, lên ức. Khi vò tới cái đầu thì mắt Tô biểu lộ đầy vẻ sợ hãi thê thảm.
 
Để tránh sương gió, tôi cho nó nằm ngủ trên một cái ghế bành đặt ở mái hiên. Khi ai vô ý đem di chuyển cái ghế ra xa vị trí thường nhật chừng một thước là Tô không lên nằm nữa. Hoặc cái ghế vẫn đặt ở chỗ cũ nhưng có ai vô tình để lên đó một tấm vải, một tờ báo thì Tô cũng không chịu lên nằm. Tôi coi nó như là biểu trưng của một tâm hồn tế nhị nhạy cảm, thấy ai tỏ một chút gì khác trong một thái độ nhỏ là đã vội ngừa ý xa xôi. Trong khi giữa xã hội loài người càng ngày càng thêm lắm kẻ trâng tráo lì lợm, thô bỉ đến độ phải đợi người khác nặng lời mới nham nhở cười trừ, thì một phong cách như vậy nơi con vật càng khiến tôi quí nó hơn.
 
Bởi cái thể chất mảnh mai của Tô mà mặc dù nó là một con chó đực, tôi vẫn gọi đùa là "con gái", phát âm trìu mến theo giọng miền Nam thì trở thành "con gải". Mỗi lần vỗ về nâng niu nó mà gọi là "con gải" thì nó mừng rỡ rối rít, vẹo mình vẫy đuôi rồi nhảy chồm lên. Bởi sống quen trong nhà nên mỗi khi mở cổng Tô thích được chạy ra đường một chút. Có lần ra đường rồi mải mê nhìn cái gì đó quên vào, người nhà sơ ý không biết cứ đóng cổng lại, vậy là Tô đứng chống chân lên song cửa cổng, ghếch mặt nhìn vào nhà vừa kêu rên khe khẽ ra tuồng sợ hãi lắm.
 
Lần này Tô lại bỏ ăn. Tôi có việc vắng nhà hai ngày, khi trở về nghe kể lại như vậy. Tôi lấy thuốc đau bụng pha với tròng đỏ trứng là món nó thích ăn, nhưng nó chỉ nhìn mà không buồn ngửi. Tôi lấy ống tiêm hút chất thuốc và thức ăn đó rồi nhờ em tôi cạy miệng nó để tôi bơm vào cuống họng. Phải là một người thương nó hết tình và nó tin cẩn hoàn toàn thì mới đủ can đảm mò tay vào giữa hai hàm răng nhọn bén và trắng nhởn đó.
 
Sáng hôm sau tôi pha thuốc với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm vào miệng. Nhưng nửa giờ sau thì Tô mửa ra hết. Cơ sự dường này thì đành phải gõ cửa Thú y để hy vọng có một thứ thuốc tiêm. Tôi mặc áo đi đến Ty Thú y.
 
Mười một giờ trưa. Một cô thư ký ngồi đơn côi giữa một phòng vắng.
 
- Mời cô chiều đến. Chừng ba giờ rưỡi hay bốn giờ... Chứng bệnh mà cô vừa khai, mấy hổm rày tôi nghe nhiều con chó cũng mắc như vậy. Hình như đang có cái dịch... Vâng... vâng, đúng vậy...
 
Ty Thú y biên tên thuốc và chủ nó cầm toa đi mua thuốc.
 
- Cô có biết tên thuốc là gì không?
 
- Tôi không biết. Có cái ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống đặt sau một cái bàn trống, - ông ấy chuyên môn khám chó cho thuốc.
 
- Chiều ông ấy có đi làm không?
 
- Tôi không rõ. Cô cứ đem chó tới.
 
- Con chó tôi nó nhút nhát lắm. Hay là có ông nào đi chữa bệnh tại gia, tôi xin mời. 
 
- Có ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống khác đặt sau một cái bàn trống khác, - nhưng không biết ông ta có...
 
Cô thư ký ngần ngừ.
 
Theo cái điệu này thì không có gì chắc chắn hết. Phải chia mọi động từ vào giả định cách (Subjuntive mood) vào Điều kiện cách (Conditional mood).
 
- Dẫu cô không biết tên thuốc nhưng chắc cô biết thuốc bán ở tiệm nào.
 
- Dạ ở tiệm Thanh Thảo đường Lam Sơn. Số nhà thì tôi quên.
 
Tôi vọt xe thật lẹ tìm đến tiệm Thanh Thảo. Ông chủ tiệm nghe kể bệnh chứng. Nghe đến chữ "đang có cái dịch", ông ngắt lời liền:
 
- Chó dại thì nó bỏ ăn nhưng một điểm nữa là nó sợ nước... Con mắt nó đỏ và bạ ai nó cũng cắn. Vả chăng...
 
Ông say sưa giảng giải về bệnh chó dại. Tôi phải vội vã thưa rằng tôi không mảy may nghi nó bị dại, hoàn toàn bảo đảm là nó không dại, cũng như tôi và ông hiện nay vậy. Tôi kể rằng nó mới ụa mửa hết cả thuốc lần nữa. 
 
- À... - ông lại giơ tay ngắt lời - nguyên là ở trong ruột non có những mao trạng ruột, khi nó đứng dựng lên thì tạo ra sự ụa mửa và nó còn...
 
Nghĩ rằng con Tô đang kiệt sức ở nhà, và những kiến thức về giải phẫu và sinh lý dẫu rất hay nhưng không làm cho nó hết bệnh, tôi cướp lời:
 
- Nghe nói hiện nay có nhiều con chó cũng mắc y chứng đó và Ty Thú y biên toa thuốc ra mua ở tiệm. Tôi hy vọng ông bán cho tôi đúng thứ thuốc đó.
 
- Như vậy thì...
 
Ông đi lại tủ thuốc, ngẩng lên cúi xuống, một ngón tay trỏ chỉ chỉ vào từng hộp thuốc, từng lọ thuốc như người ta điểm danh, rồi chợt kéo ra một lọ.
 
- Lấy lọ thuốc này được. Chích một lần hai xê xê (1). Chích làm ba lần.
 
- Đó là thuốc?
 
- Tétracicline hiệp với Chloromycétine.
 
- Chữa bệnh?
 
- Đau bụng, sưng ruột, ho...
 
Tôi cầm chai thuốc mà không tin tưởng bao nhiêu. Tưởng rằng có một thứ thuốc lịch trị như lời cô thư ký, ai ngờ đây cũng chỉ là một thứ thuốc nào đó, cho một vài trường hợp nào đó.
 
Con Tô có vẻ mệt hơn hồi sáng. Tôi lấy thuốc trụ sinh pha với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm cho nó. Định xế chiều sẽ trở lại Ty Thú y nên không dùng lọ thuốc tiêm.
 
Bốn giờ chiều. Lần này thì ở văn phòng có thêm một ông nhân viên. Và những cái ghế vẫn trống đằng sau những cái bàn tịch mịch. Ông nhân viên nói y chứng bệnh của Tô: bỏ ăn, chân run... và đoan chắc rằng chỉ cần ba mũi tiêm là dứt bệnh. Có điều cái lọ thuốc thần đó hiện để ở trong tủ mà chìa khóa tủ thì ông cán sự đi công tác mang theo mất rồi.
 
- Ông đi ba bữa nay. Chắc ngày mai ổng về. Cô chịu khó đợi thêm một ngày.
 
Tôi trở về âm thầm. Đi tìm Tô thì thấy nó ra nằm ở sân sau. Thấy tôi, nó cố gắng làm những cử động thường nhật: nghển cổ lên, đứng dậy bước tới... Nhưng chỉ loạng choạng hai ba bước là nó đứng dừng lại, thở dốc rồi nằm gục xuống để cát dính đầy nơi miệng. Tôi lau những hạt cát cho nó. Tôi kê đầu nó để nằm nghiêng trên một cái ghế nhỏ do một xấp báo xếp lại. Nó thở nhọc mệt.
 
Tôi không biết làm gì khác hơn là vuốt ve đầu nó, vuốt ve mông nó. Và nói lảm nhảm:
 
- Gắng lên Tô ơi! Ngày mai có thuốc. Lát nữa Tô uống thêm sữa với thuốc trụ sinh. Sao mày nằm buồn vậy? Dậy mau, có lũ nhỏ lén hái trứng cá đằng trước kìa. Chạy ra rượt!
 
Nhưng mặt Tô thản nhiên như nó không hề nghe tôi nói. Nó chỉ biết thở, những hơi thở gấp gáp nặng nề. Rồi bỗng tôi chợt nhận thấy rằng nó không còn thở nữa.
 
Buổi chiều màu xám. Lá cây ô ma thản nhiên xanh mướt trên cao. Tôi lặng yên ngồi vuốt mắt cho Tô, nắn bóp đôi chân trước thon thon manh mảnh. Tôi đã chứng kiến nhiều cái chết nên lòng tôi hắt hiu hoang vắng lạ thường.
 
Hơn hai năm, Tô với tôi đã thành một người bạn nhỏ. Khi tôi ăn xong là đến lượt nó. Tôi bảo nó:
 
- Xuống kêu cô Hiền lên lấy cơm phần Tô. Cô Hiền đâu?
 
Tô phóng chạy ngay xuống phòng Hiền, đứng ở giữa cửa, ngó lên đợi... Khi xe tôi về tới cửa, Tô nghe tiếng nổ vội chạy ra rồi chạy lui vào để báo hiệu cho người nhà ra mở cổng. Thế mà bây giờ thì nó chết rồi. Nó duỗi thẳng hai cặp chân xếp song song với nhau, như giũ bỏ hết mọi hoạt động, mọi háo hức chạy nhảy, leo trèo. Thôi rồi, không còn xục xạo đi săn lũ chuột, không còn nhảy chồm lên hàng rào để gầm gừ lũ nhỏ đến khoèo trái trứng cá.
 
Tôi sẽ báo tin như thế nào cho ba tôi biết rằng Tô đã chết rồi? Mới bảy giờ sáng nay ba tôi vừa từ giã nhà ra đi sau bốn ngày được về nhà nghỉ lễ Phục Sinh. Trước khi lên xe, ba tôi còn chạy tìm Tô để vuốt ve nó:
 
- Ở nhà uống thuốc cho mau mạnh nghe, con gải. Hẹn sẽ gặp lại, tuần sau.
 
Con gải đã không vẫy đuôi. Con gải chỉ lặng lẽ nhìn.
 
Tôi lo sẽ phải đọc trong bức thư đầu tiên ba tôi gởi từ nơi công tác về nhà có đoạn hỏi thăm sức khỏe của Tô. Chắc là tôi sẽ phải giả vờ quên không nhắc đến nó trong bức thư trả lời. Đợi cho một tháng hai tháng trôi qua. Tôi phải cố gắng hết sức giữ sao cho tâm hồn ba tôi tránh bớt được những dấu vết của sự xúc động, của sự xót thương, của sự buồn bã âm thầm.
 
_________________ 
(1) phát âm chữ cc là chữ centi-litre (phần trăm lít) viết tắt.
 
VÕ HỒNG      
(24-4-1973)     
 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 104, tuần lễ từ 31-5 đến 7-6-1973)
 
 

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

CÓ MỘT MÙA ĐỂ NHỚ - Thư Duy


Tôi đến V.K. lúc đang giờ học, sân trường vắng và hành lang cũng thưa người. Ở đó, tôi thấy Hân lẻ loi như một cánh bướm tội nghiệp. Hình như Hân lúc nào cũng thế, luôn luôn buồn bã và nhỏ nhoi. Vẫn áo trắng như ngày nào, vẫn chiếc cặp xinh xắn của một thời cô học trò tỉnh nhỏ. Tôi nhìn Hân và cười:
 
- Hôm nay Hân không có giờ học?
 
Hân chỉ về phía giảng đường:
 
- Không còn một chỗ nào cho Hân cả. Nhưng hôm nay Hân cũng không thích vào học.
 
Tôi nhìn xuống bãi cỏ xanh mướt phía dưới. Buổi sáng và nắng vàng. Tự dưng tôi muốn nói với Hân thật nhiều điều, về một thành phố mà chúng tôi đã bỏ đi, về những ngày lạ lẫm mà chúng tôi đang sống với. Nhưng Hân đã lên tiếng trước:
 
- Lâu quá không gặp Thư.
 
Tôi nói: 
 
- Lâu quá tôi không gặp ai. Vẫn ngỡ đã lạc nhau hết cả.
 
- Hân cũng thế. Đôi khi buồn muốn khóc.
 
Tôi nói:
 
- Rất tốt.
 
Hân mở tròn mắt:
 
- Điều gì?
 
- Những giọt nước mắt.
 
Tiếng Hân nghe buồn buồn:
 
- Hân thấy mình vẫn không có gì thay đổi. Dễ tủi thân và mau nước mắt.
 
Tôi cười:
 
- Hình như Hân có cặp kính mới màu xanh.
 
- Vừa đủ để lãng quên trong một phút.
 
- Rồi cũng quen đi. Hân ạ.
 
- Hân cũng mong thế.
 
Tôi nói:
 
- Không có ai học ở đây sao?
 
Hân nhìn tôi:
 
- Hình như có Thi thì phải. Thư muốn gặp?
 
Tôi nhìn một khoảng trời xanh ở trên cao, nói:
 
- Để làm gì.
 
Để làm gì, phải không Thi nhỉ. Tôi nhớ thật rõ dòng sông hôm ấy. Ở đó, nghiêng xuống những tàn cây là nghiêng xuống những bóng dáng ngậm ngùi. Buổi chiều. Trời rộng đến không dám thở. Tôi nghĩ rằng hạnh phúc giống như những đợt sóng, không ngừng lô xô trong trí tưởng, miên man. Ở cuối một buổi cắm trại, mùa hè, và Thi đứng đó, bàn tay vẫy cùng mảnh giấy có chữ "rời" bay trong gió, rơi xuống, dòng nước cuốn đi mau. Thế thôi. Cuối cùng cho một thời trung học và cuối cùng cho một mối tình hình sương bóng khói. Không biết lúc đó Thi nghĩ gì. Gió làm áo Thi bay, tóc Thi bay và hình như Thi cũng bay theo. Dáng Thi trên bến sông chiều lãng mạn như một bài thơ cổ. Tôi hiểu vì sao Thi không cùng về với tôi một chuyến đò. Và tôi hiểu từ đó tôi cùng Thi đã lạc nhau. Hình như, trong tâm tưởng mỗi người đều muốn thế, hạnh phúc chỉ đẹp khi còn một chút gì để nhớ, còn một chút gì buồn bã ở sau này.
 
Tôi chợt hỏi thêm:
 
- Hân có thường về Vĩnh Long?
 
- Thỉnh thoảng.
 
- Hân có thấy gì đổi khác?
 
- Ở một nghĩa nào?
 
- Cả hai.
 
- Vẫn vậy. Nhưng sao Hân tưởng như buồn hơn trước.
 
Tôi nhớ có lần tôi bảo với Hân là tôi có quá nhiều kỷ niệm ở thành phố đó. Thành phố mà mọi ngả đều dẫn tới một nhịp cầu. Chúng ta sẽ tự hỏi rằng những dòng sông nhỏ đó, những tấm gương soi đó, đã từng in bóng biết mấy chuyện tình. Những chiếc áo tha thướt nào đã đi qua, từ bước chân thơ ấu đến bước chân yểu điệu dịu dàng. Và gió có thổi bay không những đời thơ đó, làm sao mà chúng ta biết được. Cũng như chúng ta sẽ làm sao biết có giọt lệ nào đã nhỏ xuống chân cầu. Tôi đã nhớ trong thành phố đó, suốt một thời đầy thơ và suốt bẩy năm trung học đầy kỷ niệm. Không thể nào quên được những ngày chủ nhật cùng dăm đứa bạn thả thuyền trên sông ca hát ngu ngơ. Tiếng hát vang vang lồng lộng giữa trường giang, và hồn đầy như dòng sông nước lớn. Cũng như không thể nào quên được ngôi trường xinh xắn ngày ngày chúng tôi đi học, ở đó, mỗi bụi cỏ đều có một phần trái tim chúng tôi để lại. Để mới đây, trong một bức thư, bạn tôi đã nói: "... Xa Vĩnh Long tao chợt nhận ra mình đã già, một thời của chúng ta không còn nữa, có chăng là những tưởng tiếc, những ngậm ngùi... tao đang mệt mỏi, sống lếch thếch trong thành phố C.T. bụi bậm, sống ngây ngô giữa xã hội người, sống cảm khái trong im vắng của tao..." Hình như, ai đó có nói rằng Vĩnh Long là một thành phố ra đi để nhớ hơn là ở lại. Tôi nói ý tưởng này với Hân. Nhưng Hân chỉ im lặng như những lá me xanh. Tôi không biết Hân đang nghĩ gì. Hân  thường có những lúc buồn bất chợt. Tôi hiểu Hân. Hân sống quá nhiều bằng tình cảm. Tôi nói với Hân đó là một điều không tốt. Đời sống sẽ thổi Hân bay như một chiếc lá. Hân nói như thế cũng hay, và rất thơ. Tôi cười, thơ đâu chả thấy nhưng chỉ thấy một cô áo trắng lúc nào cũng trốn giờ Cha Thanh Lãng. Hân cũng cười theo, Thư nghĩ sao nếu vài năm sau có một cô học trò lúc nào cũng "mộng ngoài cửa lớp". Tôi nói, tôi sẽ bắt cô ta "diện bích" suốt cả ngày. Hân nhăn mặt, ác thế. Không ác đâu, "và rất thơ". Hân cười vì câu nháy của tôi. Hân rất thích đi dạy học. Và hình như Thi cũng thế. Thi nói với tôi đó là một nghề rất dịu dàng. Bây giờ chả hiểu Thi còn thích đi dạy nữa không, chớ còn tôi, tôi sắp sửa trở thành một ông thày. Định mệnh đã cột liền tôi với phấn trắng bảng đen, cũng như định mệnh bắt tôi phải nhớ Thi, "một cách rất dịu dàng".
 
Mắt Hân rời đám lá me và đậu lại trên bãi cỏ ở dưới. Hân nói:
 
- Thư biết gì không?
 
- Gì?
 
- Đã sắp mùa mưa.
 
- Hình như tôi đã thấy điều đó. Bắt đầu bằng những cơn mưa lẻ loi đi lạc.
 
- Mùa mưa, Thư thấy không, đó là một mùa để nhớ, một mùa rất đỗi bàng hoàng.
 
- Tôi cứ tưởng Hân đang làm thơ.
 
Hân mang đôi kính lên và không nói. Mùa mưa. Thật không Hân nhỉ, đó là một mùa rất đỗi bàng hoàng. Như tiếng hát của Thi ngày nào: "... Em đi về cầu mưa ướt áo...". Mùa mưa. Những buổi chiếu đứng ở hành lang nhìn hàng phượng cúi đầu sướt mướt. Thi ở đằng kia mà ngỡ đã nghìn trùng đến cuối một con dường, mưa đã giăng và tôi với Thi mỗi người có một lối rẽ riêng tư. Đời sống đã dành sẵn cho chúng ta những chia tay, như đôi mắt Thi, hôm nào đã nhỏ xuống những giọt lệ không ngờ. Nhưng dẫu sao, khóm nguyệt quế trước nhà Thi vẫn nở, rồi tất cả cũng đi qua, như trời mưa trời nắng.
 
Hân chợt nói với tôi:
 
- Có một thời gian Thi bị bệnh.
 
- Tôi biết.
 
- Thư có đến?
 
- Không. Dù tôi có về.
 
Tôi mong Hân đừng hỏi lý do. Hơn một trăm cây số chỉ để đi ngang qua nhà Thi một chút. Bởi tôi đã lạ rồi con ngõ đến nhà Thi, con ngõ ngày xưa thân ái biết chừng nào. Tốt hơn hết là chúng tôi đừng gặp nhau, như một câu nói của Kahlil Gibran: "Hãy để tình yêu là một đại dương dao động giữa bờ hồn các ngươi". Nhưng có thực chăng, tình yêu? Và có thực chăng, tình yêu giữa tôi và Thi? Tôi không tưởng dù tôi cố nghĩ. Một cái gì mơ hồ ; vâng, một cái gì mơ hồ mong manh như sương khói giữa hai người. Bên trong cánh cửa kia là Thi, Thi của ngày xưa vô cùng thân mến, Thi của đôi mắt đẹp tuyệt vời, Nhưng tôi, tôi không có đủ can đảm để phá tan lớp mù sương đó, dù tôi vẫn mong được ngủ say trong mắt Thi và quên lãng cuộc đời.
 
Mùa mưa sắp tới, Thi thấy không, hãy tặng cho nhau một chút hương cũ, hãy trao cho nhau những sợi tình xa, đan cho kín hết một góc vũ trụ của riêng ta, để thấy đời như một khúc nhạc buồn, âm thầm mà nhỏ lệ.
 
Tôi đọc nhỏ mấy câu thơ thật buồn của Hân: 
 
Hôn cành hoa dấu xưa
Nhắm mắt đã muộn màng.
Sẽ khô dòng lệ ứa
Một mai rồi đời tan.
 
Hân bỗng nói với tôi:
 
- Thư thấy không, đời sống luôn luôn buồn bã.
 
Tôi nói:
 
- Vì chúng ta mới thực là những kẻ tha thiết sống.
 
Rồi tôi nghe tiếng Hân rất buồn:
 
- Thư ạ, Hân vừa có một quyết định.
 
- Buồn hay vui?
 
- Làm sao mà Hân biết được. Có thể Hân sẽ đi xa.
 
- Đi xa?
 
Tôi nhìn Hân mà không kinh ngạc. Hân thường có những quyết định thật bất ngờ. Đi xa. Nghĩa là một thành phố nào đó, chẳng phải Vĩnh Long cũng chẳng phải Sàigòn. Tôi nghĩ đến một thành phố cao nguyên mưa sướt mướt, thành phố mà một phần tuổi thơ Hân trải qua nơi đó. Hân thường nói tôi nghĩ về nó, thành phố đã để lại trong óc Hân một ấn tượng màu xanh. Màu xanh của cây cỏ, màu xanh của rừng núi bạt ngàn. Những năm đầu di cư, gia đình Hân đã đến sống nơi đó, nên ấu thời Hân là những ngày rất thiên nhiên. Hân còn quá nhỏ để làm một thi sĩ, nhưng đôi khi, Hân nhìn mưa núi mà khóc một mình. Hân nói, tuổi thơ Hân là những ngày thật lẻ loi. Cho nên khi xuống đồng bằng, nhận Vĩnh Long làm quê hương, Hân đã nhìn những dòng sông mà ngỡ ngàng quá đỗi. Những ngày đầu và mãi về sau, Hân thường ngắm những dòng sông hằng giờ mà không biết chán. Nó đã nuôi lớn trong Hân những thân tình miên viễn, ấm áp như một mùa xuân.
 
Nhưng Hân đã nói:
 
- Một thành phố nhìn ra biển và một ngôi nhà nhìn ra biển. Đẹp một cách quạnh hiu.
 
- Nhưng còn chuyện học hành?
 
- Hân chỉ còn hy vọng ở khóa hai. Hay không hy vọng gì hết.
 
Tôi nói:
 
- Một ngôi nhà trông ra biển. Bây giờ đã sắp mùa mưa. Hân sẽ làm sao với nỗi buồn?
 
- Hân cũng không biết nữa.
 
Tôi cũng không biết nói gì sau đó. Tưởng tượng một mình Hân nhỏ bé với bãi vắng mênh mông thật vô cùng tội nghiệp. Dịu dàng như một dòng sông và mênh mang như một đại dương. Hình ảnh Thi lại hiện ra trong óc tôi. Thi cũng nhỏ nhoi và tội nghiệp biết chừng nào. Tôi từ biệt Hân và chúc Hân sẽ tìm gặp hạnh phúc, dù mỏng manh như bọt sóng. Hình như Hân muốn nói với tôi một điều gì đó, rồi lại thôi.
 
Tôi biết tôi, Thi và Hân ; mỗi người đều có một nỗi buồn riêng mà không ai đã nói nhau nghe.
 
 
THƯ DUY       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 103, tuần lễ từ 24-5 đến 31-5-1973)
 
 
 
 

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

RỒI CÓ MỘT NGÀY - Trần thị B.T.


Khi tôi đến thì chị Quỳ đã đi dạy. Cô giúp việc mở cửa, rót nước đặt lên bàn nhỏ xong lẩn xuống bếp ở luôn dưới đó. Tôi kiếm một chỗ thuận tiện vứt chiếc xắc vào rồi dạo quanh căn phòng khách. Khung cảnh không có gì thay đổi. Vẫn ngần ấy thứ đồ vật được sắp xếp treo móc theo đúng nguyên vị trí xưa kia. Bình hoa trên mặt tủ. Sách báo dưới gầm bàn salon. Con búp bê mở to mắt xanh biếc trong tủ kính cạnh những ly cốc thủy tinh đều đặn thứ tự lớn nhỏ. Bức ảnh thiếu nữ của chị Quỳ tươi cười bên ảnh chụp tôi đứng trước bãi biền mặt nhăn nhó vì nắng chói. Tôi nhớ tôi đã có tấm ảnh này trong kỳ hè ba năm về trước, và chính chị Quỳ đã chụp cho tôi. Bức ảnh được phóng lớn nên nét mặt nhăn nhó càng rõ rệt hơn, trông đến buồn cười. Thế mà chị Quỳ lại bảo thích "nó" nhất. Có lẽ đó là vì bức ảnh do chính tay chị chụp. Chị Quỳ rất yêu quý kỷ niệm. Tôi được biết trong một ngăn kéo bàn trong buồng có khóa cẩn thận, chị lưu trữ rất nhiều giấy tờ hình ảnh hoặc đồ vật liên quan đến những người thân quen của chị. Có những bức thư cũ kỹ nhàu nát (vì xem đi xem lại nhiều lần). Có những tặng vật cổ quái chẳng đáng giá bao nhiêu nhưng được chị nâng niu gìn giữ hết sức. Tôi là người thân duy nhất được chị cho xem và kể lại từng chi tiết về những kỷ vật ấy. Chị Quỳ là người đàn bà rất nhiều tình cảm nhưng chung thủy. Từ khi mối tình thứ nhất bị tan vỡ, cho tới nay chị chưa hề có thêm mối tình nào trong đời. Căn phòng không dấu hiệu chứng tỏ có sự hiện diện của người thứ hai khác phái xen vào đời chị. Sự xếp đặt nguyên như cũ, như ngày tôi rời bỏ. Tôi không biết phải chua xót hay vui mừng khi nhận ra điều này. Tuổi chị Quỳ không còn là tuổi xuân con gái nữa. Ngày tháng cứ lạnh lùng ra đi mà không có một bù đắp xứng đáng nào cho chị. Hình như chị Quỳ vẫn dửng dưng với từng mùa xuân trôi. Có lẽ anh Dương đã mang theo nửa phần hồn chị bên bước chân bội bạc ngày ra đi nên phần hồn còn lại "bỗng dại khờ" chăng? Tôi chỉ thấy chị thản nhiên sống, ít nói hơn và mỗi lần ôn nhớ dĩ vãng thì giọng chị lại sũng nước, đôi mắt ánh nỗi u uất nuối tiếc. Tôi thương chị Quỳ hết sức và tiếc dùm tuổi trẻ của chị để từ đó đâm oán hận anh Dương.
 
Tách nước đã nguội lạnh. Chị Quỳ vẫn chưa về. Để giết thì giờ tôi chấm giúp chị xấp bài dở dang trên bàn. Chị Quỳ cho học trò làm luận "chọn nghề". Đa số đều thích nghề dạy học. Một số nuôi mộng làm Y tá, Bác sĩ... Nhưng chung qui những tinh hoa son trẻ đều thích những nghề bác ái từ tâm. Một câu văn của cô học trò nào đó đề tên Minh Thục làm tôi cảm động và thương chị Quỳ hơn bao giờ hết. "Em muốn sau này được giống như cô giáo Quỳ của em. Hiền lành dễ thương và yêu chúng em hết mực." Học trò thương chị như vậy thảo nào chị chẳng hề muốn rời bỏ nghề dạy cực nhọc và chật vật này. Tôi nhớ có một lần chị tâm sự rằng "chết thì thôi chứ không khi nào chị bỏ dạy, dù công việc khác có nhàn hạ và kiếm được nhiều tiền hơn. Đời chị đã mất mát quá nhiều tình thương, giờ chị chỉ còn trông cậy quấn quýt vào đám học trò non nớt mà thôi. Chúng yêu thương chị lắm, Đó là niềm an ủi lớn nhất của chị để từ đó chị có hy vọng mà sống tươi vui nốt quảng đời còn lại..." Tôi đã cười, giả vờ hỏi, liệu chị có yêu học trò mãi được chăng? Chị nhìn tôi mỉm cười, em nghi ngờ chị? Em hiểu chị mà Thức. Anh Dương là người thứ nhất và cũng là người cuối cùng chị yêu riêng. Lúc đó sao tôi muốn anh Dương có ở đó để thấm thía lời chị Quỳ nói, để tỉnh ngộ việc anh làm. Tôi biết chị Quỳ đã nói những lời chân thành nhất của trái tim chị. Và thời gian đang chứng minh lời chị, phải không chị Quỳ?
 
Chị Quỳ không về một mình mà dẫn theo một cô gái. Chị giới thiệu với tôi, cô bạn nhỏ cùng dạy một trường với chị, cô mới đổi về, còn bỡ ngỡ với trường ốc và tỉnh lỵ này, cô không quen ai nên chị mời về ở chung cho có bạn. Vĩnh Khuê - tên cô gái - mỉm cười chào tôi. Nụ cười có hai khóe lúm sâu duyên dáng. Tôi bỗng nảy ra ý định giấu chị Quỳ lý do tôi về đây. Chỉ nói với chị tôi về chơi ít ra là một tuần. Chị Quỳ tươi tỉnh bội phần khi nghe tôi cho biết như thế. Tôi chợt bắt gặp đôi mắt đen láy của Vĩnh Khuê ánh lên nét vui mừng rồi tắt ngấm trong giây phút. Tôi thấy lòng xao xuyến rung động một cách kỳ lạ. Một cảm giác mới lạ dấy nhẹ trong lòng, luân lưu trong huyết quản. Chị Quỳ liến thoắng xếp dọn chỗ ở cho tôi và Vĩnh Khuê. Căn buồng vẫn thường dành cho tôi bị cô gái chiếm ngụ. Tôi phải dời ra chiếc sập nhỏ ngoài phòng khách. Tôi đùa với chị Quỳ, trong khi mắt liếc Vĩnh Khuê: Chị Quỳ hết thương em. Vĩnh Khuê đỏ mặt. Hai má như tô lượt phấn hồng, đôi mắt long lanh. Nàng xấu hổ cúi mặt sau mớ tóc xõa dài. Chị Quỳ vui vẻ, ừ chị thương em gái chị hơn chứ. Ai bảo Thức cứ bỏ đi hoài, ham rong chơi lắm thì rán chịu, Khuê nhỉ.
 
Tôi dẫn Vĩnh Khuê đi quanh bờ đất tiến sâu vào ruộng muối. Tia nắng buổi chiều soi rõ những tinh thể trắng phau lóng lánh. Từng ụ muối cao nghệu sừng sững bên bờ trông như một núi tuyết khô. Cánh đồng vắng teo không một bóng người. Những con chim cút nhỏ màu nâu sậm nhảy nhót trên đám cỏ mọc ven ruộng bỏ hoang phía xa. Vạt áo trắng của Khuê bay lượn trong gió. Mái tóc xõa vai gió thổi tạt che nửa phần khuôn mặt. Trông Vĩnh Khuê và trời đất chung quanh như một bức tranh được vẽ bằng đường nét chân thật nhất. Nàng líu ríu đi cạnh tôi như con chim nhỏ. Đi hết quãng đường dài, tôi bắt gặp trong thôn thượng một cây cầu nhỏ bắc ngang con suối nước đục ngầu bởi đất đỏ. Những tàn cổ thụ rậm vây quanh. Tôi ra dấu cho Vĩnh Khuê dừng lại. Nàng ngạc nhiên dò hỏi. Tôi mỉm cười, mình đứng đây nói chuyện một lát rồi về. Vĩnh Khuê ngoan ngoãn nghe lời tôi không phản đối mảy may. Nàng đứng dựa vào thành cầu ngắm đàn cá nhỏ nhiều mầu dưới lòng suối im lặng chờ đợi. Tôi ngửi được mùi hương tóc nàng phả vào mũi ngây ngất. Tôi muốn thời gian ngừng lại đây để tôi được mãi mãi đứng bên cạnh nàng, như thế này. Tôi muốn gần kề nàng suốt đời, đừng có ngày mai để tôi khỏi phải ra đi. Khỏi phải rời nơi đã đem lại cho tôi nhiều yên ổn tâm hồn. Nơi đã nhen nhúm trong lòng tôi ngọn lửa yêu thương sau bao nhiêu năm miệt mài tìm kiếm. Từ ngày quen biết Vĩnh Khuê, tôi nhận định được nơi chốn sẽ dừng lại nếu một mai thuyền đời hết lênh đênh. Nhưng thời gian gần gũi quá ngắn ngủi. Dù gì ngày mai tôi cũng phải ra đi rồi. Ngày lên thăm chị Quỳ tôi chỉ dự định ở vài ngày rồi sẽ thu xếp ít công việc lặt vặt trước khi thay đổi đời sống bởi một tờ giấy gọi trình diện của một cơ quan công quyền. Thế nhưng bất ngờ gặp Vĩnh Khuê, tôi đã lưu luyến không dứt rời như dự định được. Cả chị Quỳ lẫn Vĩnh Khuê đều không hay biết gì về chuyến đi ngày mai của tôi. Tôi muốn giấu tới phút cuối cùng. Chiều nay Vĩnh Khuê có giờ trống, tôi đã mời nàng đi với tôi sau khi chị Quỳ rời nhà đi đến trường. Chúng tôi đã nói với nhau những mẩu chuyện thời tiết trăng sao mà chưa ai dám đề cập tới vấn đề chính mà cả hai cùng cảm nhận được bằng trực giác. Vĩnh Khuê thì hẳn nhiên là sẽ im lặng nếu tôi im lặng hoài. Nhưng còn tôi? Sao tôi mãi ngập ngừng ngần ngừ tránh né...? Hay tận cùng thâm tâm tôi sợ sự thực phũ phàng?
 
Vĩnh Khuê ngắt cọng cỏ nứa ngậm ngang miệng. Màu xanh của lá nổi bật trên màu trắng của da. Chừng như không chịu đựng nổi sự lặng thinh nữa, nàng nhỏ nhẹ lên tiếng:
 
- Buổi đi chơi hôm nay anh có vẻ là lạ thế nào ấy. Anh dẫn Khuê ra đây hẳn có chuyện gì cần nói mà anh không tiện nói ở nhà?
 
Vĩnh Khuê đã mở đường cho tôi rồi đó. Cám ơn em, Vĩnh Khuê. Thật anh không biết phải giáo đầu câu chuyện như thế nào cho ổn. Tôi nhìn thẳng mắt nàng gật nhẹ:
 
- Khuê thông minh lắm. Khuê đoán đúng, anh có câu chuyện muốn nói với Khuê. Nhưng lần lựa mãi, đợi đến hôm nay là buổi cuối cùng anh mới nói ra.
 
Vĩnh Khuê ngạc nhiên:
 
- Có quan trọng lắm không anh? Chị Quỳ đã biết chưa?
 
Tôi lắc đầu:
 
- Chưa, chị Quỳ sẽ biết vào tối nay. Anh sợ chị Quỳ buồn, cũng như anh đã sợ em buồn.
 
- Vậy chuyện đó gần kề?
 
- Vâng. Khuê này, sau những ngày quen biết nhau Khuê hẳn biết tình cảm anh đối với Khuê như thế nào? 
 
Vĩnh Khuê cắn môi:
 
- Vâng.
 
Tôi tiếp:
 
- Ngày mới đến hẳn em biết anh chỉ đến thăm chị Quỳ rồi sẽ ra đi nhưng chưa biết ngày giờ nào?
 
- Vâng.
 
Tôi ngả lưng ra thành cầu:
 
- Vậy hôm nay anh cho em biết điều đó. Ngày mai anh phải từ giã em rồi, và ngày trở về thì chưa định được.
 
Khuê đứng bật thẳng người. Cọng cỏ rời tay trôi theo dòng nước. Mắt nàng mở to, môi mím chặt. Tôi buồn bã nhìn nàng. Giây lâu Khuê như lấy lại được bình tĩnh, nàng nhìn tôi, đôi khóe mắt long lanh ngấn nước.
 
- Sao giờ anh mới nói?
 
- Anh sợ Khuê buồn.
 
- Bây giờ anh không sợ Khuê buồn sao?
 
- Nhưng thời gian đã kề cận lắm rồi, anh bắt buộc phải cho Khuê biết.
 
Khuê im lặng. Nắng chiều đã tắt sau dãy núi xám xa mờ. Gió thổi nhiều hơn. Tôi thấy lòng tê tái, giá lạnh.
 
- Anh biết chuyện anh Dương với chị Quỳ?
 
Tôi ngạc nhiên ngó Khuê:
 
- Em hỏi anh điều đó để làm gì? 
 
- Rồi Khuê cũng sẽ như chị Quỳ, mãi mãi tuyệt vọng trông chờ hình bóng ai biết bao giờ trở lại.
 
Tôi chợt hiểu. Vĩnh Khuê sợ tôi sẽ như anh Dương, sẽ bội bạc rời bỏ nàng vĩnh viễn.
 
- Em đừng có ý nghĩ đen tối ấy. Anh là anh chứ anh không là anh Dương. Anh hiểu lòng anh. Ngày xưa anh Dương phụ rẫy chị Quỳ, một phần vì gia đình ngăn cản mối tình giữa chị Quỳ và anh ấy, một phần vì anh Dương chưa chịu xét kỹ lòng mình đã vội gieo rắc niềm tin vào chị Quỳ, khiến cho chị phải buồn một đời. Anh khác anh Dương ở chỗ là anh đã nghĩ kỹ, và anh không bị ràng buộc bởi mối dây tình cảm nào khác ngoài em và chị Quỳ. Vả lại em biết rằng anh thương chị Quỳ lắm chứ. Anh Dương ra đi không hẹn ngày về. Nhưng anh ra đi có hẹn ngày về, dù chưa định chắc bao lâu.
 
- ... ...
 
- Em không tin anh sao?
 
Khuê vội lắc đầu:
 
- Không, không phải thế...
 
- Sao em im lặng?
 
- Khuê không biết phải nói gì bây giờ. Dầu sao thì mai anh cũng sẽ ra đi.
 
- Nhưng anh sẽ trở về, và anh luôn nhớ Khuê kia mà.
 
- Vâng, Khuê nghĩ là anh sẽ trở về, Khuê tin là anh sẽ khác anh Dương, và Khuê không phải chịu thứ hình phạt ngấm ngầm như chị Quỳ hiện tại, nhưng...
 
Tôi ngắt lời:
 
- Khuê nghĩ vậy là anh mừng. Anh muốn buổi chiều cuối này là buổi chiều đẹp, buổi chiều đáng nhớ trong đời anh.
 
- ... ...
 
- Khuê hãy tạm quên rằng mai anh sẽ phải rời xa Khuê để nhoẻn một nụ cười xem nào.
 
Khuê giấu mặt:
 
- Anh kỳ quá, đang không bắt Khuê cười.
 
- Chứ sao, Khuê đừng buồn nữa. Tại vì vậy mà anh không dám cho Khuê biết sớm, sợ những ngày còn lại sẽ bớt vui. Thôi chứ, cô giáo rồi mà còn dài nước mắt à. 
 
Khuê nhìn tôi, môi nở nụ cười cố làm ra vẻ tươi tắn nhưng dấu vết hiu hắt còn đọng lại, chưa mất hẳn. Tôi thấy xót xa tận đáy lòng. Nắm bàn tay nhỏ bé của Khuê, tôi nói:
 
- Khuê, trước khi chúng mình ra về, anh muốn Khuê hứa với anh một điều.
 
- Anh nói đi, Khuê sẽ làm tất cả những gì anh muốn dù khó khăn tới đâu.
 
Nhìn sâu vào mắt nàng, tôi chậm rãi:
 
- Anh mong Khuê đừng buồn khi vắng anh nhất là cấm khóc. Đã là cô giáo rồi, Khuê còn khóc lóc học trò cười cho thì rán chịu.  Anh sẽ biên thư về cho em luôn luôn.
 
Khuê mỉm cười:
 
- Vâng, em hứa.
 
Tôi mỉm cười, hài lòng. Vũ trụ như tan biến, quanh tôi chỉ còn lại khoảng trời xanh trong đôi mắt long lanh ngấn nước chưa kịp khô. Cả vùng hạnh phúc hiện ra trong đó.
 
Bầu trời xám dần khi chúng tôi rời con suối đưa nhau về. Ngày mai tôi ra đi sẽ đem theo trong trí nhớ nhỏ nhoi khoảng trời xanh ngắt trong cửa mắt Khuê hôm nay.
 
 
TRẦN THỊ B.T.     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 101, tuần lễ từ 10-5 đến 17-5-1973)
 

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

NGÀY XƯA HOÀNG THỊ... - Phạm Thiên Thư

 Tưởng nhớ nhà thơ Phạm Thiên Thư!
 

 
 
  
 
 
 
 
 
  
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng

Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!
 
          PHẠM THIÊN THƯ