Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

DẤU THÁNH - Mường Mán


Máy bay đáp xuống phi trường Qui Nhơn, sau hai giờ nhồi đập, luồn lỏi dưới hàng lớp bụng mây trơn tuột. Hành khách nhiều người nôn oẹ ngay khi vừa vượt qua một phần ba đường bay. Mưa tạnh. Chiều ngự mênh mông phi trường trống. Bước xuống, ngạc nhiên thấy mình vẫn tỉnh táo, hình như trước đó anh đã ngủ một giấc ngon vùi, giấc ngủ nối hai thành phố và bất cần mây gió bên ngoài. Anh nhẩn nha nhớ lúc ngủ có mơ gì không. Chịu, không nhớ được. Gió lộng bốn bề, mặt đất lạo xạo sỏi vụn. Cái lạnh ở đây coi mòi hơn Huế một bậc và mấy nhịp. Cái lạnh dễ xui người ta cảm thấy lẻ loi khi đứng nhìn mông lên những chóp núi án ngay trước tầm mắt, mù sương nhạt khói. Anh ngẩn ngơ một phút giữa đám lao nhao cười nói của bọn người đồng hành, nhìn về hướng phố và bước ra khỏi "bầy nhặng" nhốn nháo đó. Chiếc xắc nhẹ hẫng, anh quàng lên vai đeo, dùng một tay níu giữ, tay còn lại thọc sâu vào túi quần ; với tóc bay, anh vừa đi vừa huýt gió như tên đãng tử đích thực. Đó là buổi chiều đầu tiên bước chân anh làm quen cát bụi thành phố em.
 
Con đường dẫn vào phố tương đối ngắn. Anh đi dưới những hàng hiên xa lạ, ném từng tia mắt vào tủ kính những quán hàng, chạp phô, ném lên bất cứ cái gì đụng phải. Sau một lúc do dự, anh đi quành vào công viên, bước lên mấy bậc cấp, đứng giữa căn nhà vuông lợp ngói, ngó mông bốn phía. Vẫn xe cộ, người, tiếng động, bầu khí ẩm ướt. Anh chợt nghĩ mình đã lầm khi bỏ Huế ra đi. Ở đây cũng cảnh vật, cũng cách bài trí phố xá chẳng khác gì Huế mấy tí, nhưng hình như nhạt tẻ hơn và rời rạc hẳn ra, mình chẳng ăn nhập vào nhịp quay trở nào cả. Dường như anh hơi buồn thì phải! Tiếp tục thả bộ dọc dài dưới những hàng hiên, chơi trò chắp vá những ý nghĩ không ra gì trong đầu, có lúc, anh suýt đâm sầm vào người nào đó trên đường, vội vàng xin lỗi, người nọ ngó anh bằng đôi mắt của Chúa Cứu Thế, làm anh suýt nổi giận. Phố lên đèn. Anh bước vào một khách sạn tương đối rẻ tiền, tra chìa khóa vào ổ mở cửa một căn phòng tối mò. Anh lần tay quanh tường tìm nút bật đèn, bật lách tách hai ba cái không thấy đỏ, anh bực bội định xuống tìm gã quản lý khách sạn xài xể một mách, nhưng lười biếng tính đoạn đường, xuống tới tầng dưới, phải đi quả dãy hành lang thẳng, một khúc cầu thang cong, đủ thấy mệt. Nằm trong tối cũng chẳng sao. Anh duỗi dài tay chân như tên chết đuối vừa được vớt ra khỏi nước. Khách sạn với những ồn động riêng của nó. Anh cố không để ý, nghe ngóng gì, tự nhủ mình có thể yên tâm nằm ngủ đến sáng, hoặc ngủ luôn, chẳng bao giờ trở dậy mà chẳng sợ ai tới quấy rầy. Lúc hai mắt đòi ngủ, cái bụng nổi lên gào thét. Đói. Anh chồm dậy. Qua hết khúc hành lang thẳng, quẹo xuống đoạn cầu thang cong, đụng đầu một đứa con gái đứng ở nấc thang thứ sáu. Ả đưa tay vuốt tóc, cười. Nụ cười sáng trắng, đầy răng. Anh chun mũi ngửi mùi nước hoa phả ra từ nắm xương gói trong chiếc áo bông xanh của ả, rồi khua hai tay, ra cái điều (ta đây) vội vã lắm.
 
- Đói và mệt.
 
Anh nói cộc lốc, chẳng cần biết ả nghe thấy không, cũng đếch biết ả cần mình không? Anh đi một mách tới nấc thang cuối, dừng lại trước chiếc bàn kê gần ngách cửa, nói với gã quản lý đầu hói ngồi trong chiếc ghế bành rộng:
 
- Ông ơi, trên kia không có đèn.
 
Gã dời mắt khỏi cuốn sổ, ngẩng lên:
 
- Thưa, phòng mấy ạ?
 
- Phòng 34, lầu 2.
 
Tự dưng, ý định xài xể gã biến đâu mất. Rõ ràng, anh đã nói với gã bằng cung cách hết sức lịch sự. Anh ra đường.
 
Giữa khoảng trống thụt lùi vào góc khuất bên hè đường, nhiều chiếc bàn vuông kê quanh cái xe phở ngút khói. Anh dồn vào bụng thứ nước nóng nổi lềnh bềnh những miếng bột mỏng sợi, thịt và mỡ, uống từng ngụm bia mát lạnh sảng khoái. Đó là tô phở và chai bia thứ nhất anh hưởng thụ ở thành phố em. 
 
Khi cúi xuống bật lửa mồi thuốc, nghe ai đó gọi tên mình giọng lạ hoắc, anh ngẩng lên, đúng lúc bàn tay người nọ vỗ lên vai, hắn đứng lù lù trước mặt. Anh không giấu được niềm vui, vụt đứng dậy, kêu lớn:
 
- A! Thông, mày ở đây hả? 
 
Hắn cười kéo ghế ngồi:
 
- Huế không chứa mày nữa hả?
 
- Mô có, tao tự ý bỏ đi mà.
 
Câu chuyện tiếp nối nồng nhiệt giữa men bia và khói thuốc. Khuôn mặt người bạn đẩy anh lùi xa về mấy năm trước. Anh hơi ngạc nhiên khi nghe hắn nói:
 
- Mày và tao xa nhau cũng gần ba năm.
 
Ba năm? Thời gian đó anh làm gì nhỉ? Ba năm, thằng bạn lưu linh qua bốn, năm thị trấn gì đó, giờ tạm dừng lại nghỉ mệt. Hắn cười hoan hỉ:
 
- Giờ tao khá rồi, có thể nuôi mày, sáng cà phê, trưa chiều cơm nước hẳn hòi, khỏi lo đói.
 
Anh hỏi hắn hiện làm thống chế gì, hắn gật gật cái đầu thưa tóc:
 
- Tí nữa về nhà rồi biết.
 
- Mày có cả nhà nữa à? - Anh ngạc nhiên kinh khủng.
 
- Tại sao không?
 
- Có lẽ thêm một mụ vợ và một bầy con nữa phải không?
 
- Tao vẫn độc thân.
 
Giọng hắn chợt tình cờ buồn bã. Hay chẳng buồn bã tí nào, cái buồn bã chỉ riêng anh tưởng thế cũng nên. Khuôn mặt hắn rắn, sạm dưới ánh sáng phù ảo của ngọn đèn đường từ ngoài hắt vào. Anh thấy ấm cúng khi nghe hắn nhắc vài ba kỷ niệm cũ, với giọng hết sức chân tình cảm động.
 
- Ba năm. Mày đã làm gì?
 
Hắn hỏi và trợn mắt nghe anh bảo chẳng làm gì hết. Lát sau, anh trở lại khách sạn, lấy hành lý, theo hắn về nhà.
 
Căn nhà hai phòng, mặt trước ngăn ra, kê hai dãy tủ kiếng đựng đầy sách, tiểu thuyết, giáo khoa, văn chương, tư tưởng, khoa học, bói số, kiếm hiệp... các thứ báo đặt từng chồng chìa ra ngoài khoảng hiên đìu hiu ngắn. Một tủ kiếng khác, nhỏ, thấp hơn mấy cái kia, đựng những bản nhạc thời thượng, bút mực, dụng cụ văn phòng, vé số kiến thiết. Vẻ sơ sài, nghèo nàn giấu giếm sau mấy xó ngách lấm bụi và màng nhện. Đó là thế giới của Thông. Mỗi ngày, hắn trịnh trọng ngồi sau chiếc quầy gỗ cam tâm, lơ mơ lạnh lùng nhìn ngày tháng trôi qua trên cuốn sổ chi thu, phiếu nhận hàng một cách cần mẫn, chí thú và can đảm. Anh ở lại với Thông một đêm. Sáng hôm sau, xách gói đi nơi khác. Bởi, ngó điệu dáng cần cù của Thông trụ trì sau quầy sách, anh đâm sốt ruột và, cảm nhận sâu xa mối bất ổn nào đó khi chạm mặt bà dì, ông dượng, cô em gái hắn. Thông giới thiệu anh với ông già ở gian kế bên. Anh há hốc mồm nghe hắn giới thiệu anh làm nghề dạy học. Ông già cẩn thận chiêm ngưỡng từ đầu đến chân anh, như thể ngầm đo lường coi anh có bao nhiêu ký lô mô phạm trong người, rồi khẽ gật đầu. Chỗ ở khá tiện lợi, căn nhà có cái gác gỗ, bên dưới dùng làm quán ăn. Anh đi về, ăn uống lúc nào cũng được.
 
Căn gác là nơi thờ phượng gia tiên ông chủ quán, ngay buổi đầu, ông cao giọng khuyến cáo:
 
- Tôi nể cậu Thông lắm mới để thầy ở trên, mong thầy giữ ngăn nắp, sạch sẽ cho.
 
Anh gật đầu, cố vẽ nụ cười phù thủy, xui ông ta yên lòng.
 
Gác khá rộng, có hành làng ngó ra khu vườn phía dưới, bên kia vườn, tiếng máy chạy nước đá nghe rõ mồn một. Đêm đầu tiên, anh không thể ngủ trước tiếng động náo hoạt đó, riết rồi quen, quen tới độ ghiền. Tiếng máy giữa khuya lắm lúc ngỡ in tiếng sóng biển. 
 
Mỗi sớm mai, phố phường còn ngợp trong màn sương bịt bùng, Thông và anh thả bộ đến cái quán cà phê không tên ở bến xe, cách chỗ ở chưa đầy hai trăm thước. Quán cà phê của lão Tàu già, và đứa con gái mười sáu tuổi ốm nhom, có tài cầm một lúc 5 tách cà phê bốc khói trong tay không biết nóng. Ngồi ở đó, tán gẫu đủ thứ chuyện với những người tài xế. Nghe họ kể chuyện đường xa, đèo dốc hiểm nghèo, tai nạn, buôn lậu... Tiếng nói chuyện ngấm trong khí lạnh, tiếng nổ, mùi khói xăng ngầy ngật ấm cúng. Trong không khí ấy, anh tìm thấy sự thoải mái đích thực. Những nét mặt cần lao (đôi khi dính đầy dầu mỡ) cười, nói, chửi thề, văng tục dễ dàng, không có giới hạn nào ngăn cách giữa bọn họ. Khoảng 7 giờ, anh đáp xe lam đến trường, Thông trở về trụ trì sau quầy sách của hắn. Ngôi trường anh theo học nằm trong vạt đất trống trồng toàn dương liễu khá thơ mộng. Mỗi ngày, anh ôm vở đến đó, ngồi nghe những ông thầy luống tuổi giảng luân lý đạo đức ; những đức tính cần thiết, ắt có và đủ, đào luyện cho lớp người làm nghề gõ đầu trẻ trong tương lai. Anh ngồi ở đó và, nhiều lúc chẳng nghe thấy gì hết những lời giảng trơn tru hơn mỡ, trôi tuột ra khỏi trí óc anh hết sức dễ dàng, lao xao mơ hồ, không lượng không phẩm không mùi vị. Dường như, anh nhận ra mình chẳng có cơ duyên gì với cái nghề này. Hay nói cách khác, anh ngầm đồng hóa và coi chỗ lui tới hàng ngày như chỗ để nghỉ chân. Trường cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ ra đường, khỏi lo nhân viên công lực mời vào trại nhập ngũ sớm. Nghề gõ đầu trẻ là nghề cao quí, anh không coi thường nó, nhưng anh nghĩ nó tĩnh quá. Không ai hiểu mình bằng chính mình. Anh tự biết anh là đứa có máu hiếu động. Đó là khoảng thời gian buồn bã nhàm chán nhất thuở anh mới tới cư ngụ ở thành phố em.
 
Bích yêu dấu. Nhớ không? Anh gặp và quen Bích vào những ngày cuối mùa thu. Trời lắm gió, thưa mưa, lửng lơ mây trắng. Anh quen biết Bích qua Diệu. Diệu, bạn của Thông, gọi Thông bằng chú mỗi lần vào quán sách, dáng người nhỏ nhắn, loắt choắt, môi cười tươi và giọng nói mỏng như giấy pelure vò nát. Với dáng dấp đó, anh kết luận: Diệu thật dễ mến.
 
Một buổi sáng nghỉ học. Anh ngồi với Thông sau quầy sách, buồn vui theo những bước hành hiệp giang hồ của đôi trai tài gái sắc Vô Kỵ Triệu Minh. Bích tới mang theo cơn mưa nhẹ, làm nhòa cả nhan sắc "nguyệt thẹn hoa nhường" của Triệu Minh. Anh bỏ rơi Vô Kỵ, bỏ rơi Triệu Minh, ngẩng nhìn và, không thể rời khuôn mặt sáng trăng vừa bắt gặp. Đôi mắt đen xếch, hai mớ tóc úp mở hững hờ, phút ấy anh mơ hồ tiên cảm tâm hồn mình sẽ bị đóng chặt trong hai dấu ngoặc đơn (Hai dấu ngoặc đơn, chính là hai mớ tóc úp mở hững hờ của Bích đó. Biết không?) Diệu liến thoắng cười nói. Bích chạm cái nhìn chiêm bái nóng nảy của anh, bèn giận dữ gom hết ngôn ngữ trên trái đất thành một câu lí nhí:
 
- Lấy cho Bích cuốn Hóa học, chú Thông.
 
Mưa chẳng nhẹ nhàng quấn quít bằng giọng nói hôm ấy của Bích đâu. Anh bảo đảm thế. Và, cũng hôm ấy, anh đoan quyết, chưa có gã trai nào chóng si tình, ngơ ngẩn bằng anh, khi Bích kéo tay Diệu bước mau ra khỏi hiên quán.
 
Thông nhìn anh, đùa:
 
- Nửa hồn mày dại khờ rồi à?
 
Rõ ràng, hắn đã bắt quả tang vẻ ngơ ngẩn đìu hiu của anh, anh đành cười lấp liếm:
 
- Nếu biết sáng nay có nàng tới mua cuốn Hóa học, đêm qua tao đã viết sẵn vài lời ngợi ca vào cuốn Hóa học ấy, sáng nay đưa bán là vừa vặn.
 
Thông cười ngất:
 
- Nói dóc.
 
Dóc thật. Hồi đó anh dóc dàn trời mây.
 
Em đã tới và, chỉ có thể cho buổi đầu. Mấy ngày sau đó, anh như cậu bé mười bảy tuổi, mơ mộng hết sức. Hình ảnh Bích bay múa trong những giấc ngủ của anh, tựa cánh bướm chở vào trời một mùa xuân lạ. Từ đó, quãng đường tới trường anh trở nên xa diệu vợi, không sông cách núi ngăn, anh cũng thấy khó mà ôm vở đến đó đều đặn ngày hai buổi. Ngược lại, quãng đường tới trường Bích, theo lối dẫn ra biển, trở nên thật gần. Anh bắt đầu đi đếm gạch lát hai bên lề con đường ấy, hỏi thăm viên gạch nào, còn lưu dấu người ta thường đi qua? Không viên gạch nào chịu lên tiếng trả lời anh cả. Anh học tính nhẫn nại của loài ong, siêng năng ngày 4 bận đi về. Thỉnh thoảng gặp Bích và Diệu, anh vờ đưa mắt lên ngọn cây mỉm cười với nắng, nhưng thật ra hồn anh lúc đó muốn mọc cánh bay theo.
 
Một hôm anh bỗng can đảm lạ thường, không thèm nhìn đỉnh cây cười nắng nữa, gặp Diệu và Bích, anh mau mắn chào hỏi và, với sự nhanh nhẹn như sóc của bất cứ gã trai nào lúc gặp người mơ, anh "nhào" tới gợi chuyện. Không biết bữa đó khả năng văn chương thi phú của anh cho đứa nào mượn hết. Anh nhớ, hình như anh đã nói với Diệu:
 
- Diệu làm "trái độn" giữa anh và Bích, Diệu nhé.
 
Diệu nhìn anh cười. Danh từ trái độn anh học lóm ở mấy cái tin tức thời sự trên nhật báo. Hồi ấy, người ta xôn xao, bởi có dư luận cho rằng miền Trung sẽ bị cắt làm trái độn giữa hai miền Nam Bắc. Trái độn, theo anh nó như cây cầu bắc nối giữa anh và Bích qua Diệu. Diệu hiểu ngay, Bích ngơ ngác tí ti rồi ném sang anh tia nhìn sắc nhọn tựa mũi tên, anh không né tránh nên "bị thương" nhè nhẹ. Suốt dọc đường xanh bóng cây, chỉ có anh và Diệu nói chuyện, Bích giữ im lặng, cười góp. Anh mơ hồ nhận ra chút nồng nàn không màu nào đó ẩn quyện trong sự im lặng của Bích.
 
Những ngày tiếp theo, chúng ta gặp nhau đều đặn hơn. Anh thường cúp cua những giờ học buổi sáng đi đón Bích. Trường Nữ trung học gần kề mé biển. Hai hàng cây dương liễu reo gió. Cát trắng. Áo trắng in bóng xuống lòng anh trong. Mùa thu sắp dứt, từng đợt nắng mỏng đọng loãng dưới mặt trời ấm. Anh tha thẩn một mình, đợi giờ Bích tan học, hoặc vào các quán giải khát rủ bọn trẻ đánh bóng bàn. Lúc này Bích đã chịu "khai khẩu", chúng ta thường đi dạo một vòng trên biển, trước khi Bích phải về kịp giờ cơm ở nhà. Lắm lúc cả hai cùng im lặng suốt thời gian đi bên nhau. Bích tinh nghịch bốc cát dồn đầy cặp sách, đầy túi áo anh. Anh đùa:
 
- Đem cát về dồn đống lại, mai sau làm nhà.
 
Bích nguýt:
 
- Nhà để chi?
 
Anh đùa:
 
- Một túp lều cát...
 
Bích vội vã cướp lời:
 
- Và một anh chàng khùng.
 
Đại khái thế, chúng ta nói toàn chuyện vớ vẩn, nhưng nói chuyện chỉ là cái cớ, những cái háy và nguýt của Bích mới tuyệt vời. Đôi khi Bích kể luôn miệng về đủ thứ chuyện. Những chuyện vặt vãnh rtong đời sống và những điều trong ước mơ. Vừa nghe Bích nói, anh vừa ngước nhìn bầu trời cao, nắng lao xao trên hàng đọt lá xanh, thấy mình là kẻ hạnh phúc nhất xứ. Dù sao, Qui Nhơn cũng đã mở ra cho anh thấy vài màu sắc êm đềm. Bích hiền và dịu dàng là thứ sắc màu kết tụ trong anh niềm hân hoan hương mật. Đời sống, với anh, từ đó, không còn chỉ là sự nối tiếp nhàm chán của ngày và đêm, nó còn túa ra hàng trăm tay quyến rũ. Cây đời anh trổ toàn lá vui. Chim đầy hồn ríu rít. Ngày ấy, tình kết thành trái. Trái lo sợ cắn giữa hai bờ môi son sẻ, vỡ nên lời:
 
- Ở nhà đã biết, con Bích em thấy bọn mình đi với nhau, nó mách bố, bố nói phải lo học.
 
Cắn vỡ trái lo sợ xong, Bích đăm chiêu im lặng. Anh bối rối nhìn vẻ mặt lo âu đến tội nghiệp của em, cười trấn an:
 
- Ăn thua gì, kệ xác Bích em.
 
Nỗi sợ ghê gớm gấp ngàn lần anh tưởng. Bích bỗng đổi giọng cứng bất ngờ:
 
- Bố nghiêm lắm, không ăn thua à? Hay thôi đi.
 
Ơ hay! Anh nghĩ Bích quá vô lý, sợ cái không đáng sợ chút nào. Anh nóng nảy một cách đáng đánh đòn:
 
- Thôi thì, anh về đây.
 
Thế là tình ta đầy ắp thêm một cuộc giận. Bích quay lưng, bước nhanh gần như chạy vào cổng trường, mặc dù đang giữa giờ ra chơi. Anh liều lĩnh đuổi theo Bích, bọn học trò đứng lao xao dưới hàng dương xanh lá, tụm ba tụm bảy quanh sân trường xanh cỏ, cùng loạt mở lớn mắt ngơ ngác ngó theo chúng ta. Bích trốn biệt vào lớp học. Sự liều lĩnh gan lì của anh tới đó đành dừng lại, trở thành con số không. Anh đứng trên bậc cấp, ngượng muốn chết khi lũ nhỏ bạn em "a thần phù" sấn lại, vây quanh tò mò xoi mói. Anh vội vàng quay lưng, nhắm phía cổng trường chạy bay ra ngoài, cảm thấy những trận cười cỡi gió đuổi theo lạnh cả gáy. Trưa hôm ấy, về nhà, nuốt cơm không vô, vì cơn ngượng còn nghẹn cứng trong cổ, ngượng và tức muốn ứa nước mắt, anh soi gương, thấy mình mang khuôn mặt của kẻ buồn rầu nhất thế giới. Anh bỏ không thèm ra biển đón Bích ba bốn hôm. Cuối cùng, không chịu được nỗi áy náy ray rứt trong lòng, anh lại ra bãi tìm bọn trẻ rủ đánh bóng bàn, làm mặt lạnh như thể chẳng cần đợi ai hết. Dường như Bích biết điều đó (qua Diệu? Qua lũ nhỏ bạn tinh nghịch?) nên những giờ nghỉ cuối buổi học chẳng thấy Bích ra bãi nữa. Anh thấy hoảng thật sự cấp tốc đi tìm Diệu nhờ hòa giải.
 
Gặp lại nhau. Cơn giận rút lui nhường cho nước mắt. Anh lúng túng không biết dỗ dành cách nào. Những giọt nước mắt long lanh dưới nắng, phản chiếu màu xanh bao la của biển trước mặt chúng ta. Biển kính cẩn nghiêng mình trước những giọt lệ nồng nàn của Bích. Và Bích, dịu dàng ngồi xuống bờ cát ẩm mục, bên anh. Ngoài khơi xa, nắng chói lòa trên đỉnh Hòn Xanh, thấp thoáng vài cánh buồm lẳng lơ cợt gió. Anh đã nói gì nhỉ? Anh nói chuyện trên trời dưới đất và, thầm mong biển khuyên Bích đừng khóc nữa.
 
Có gì đâu mà khóc? Bích em biết, bố biết, cả nhân loại biết hai đứa thương nhau, mình cũng không ngán.
 
Bích lắc đầu nhè nhẹ. Có điều gì đó chưa thể nói ra. Anh cảm tưởng điều ấy ẩn giấu trong dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích. Cái dáng ngồi buồn bã đã in đậm vào suốt chiều dài tâm hồn anh, mãi mãi, tới bây giờ chưa phai. Dấu cát hằn chỗ ngồi rồi sóng sẽ xóa, nhưng bờ vai nghiêng, bàn tay chống, cụm tóc dạt bay... mãi còn là những nét vẽ chân phương nổi bật trên sổ ngày tháng thuở ta chưa biết thế nào là sự chia lìa. Bích nín lặng, tưởng chừng bờ bãi phút chốc thành hoang thiêng. Chúng ta cùng buồn in hai viên cuội nhỏ trước mênh mông biển lớn. Anh quì gối trên cát, nhìn thật rõ chân trời phía xa, nhưng không thấy môi Bích thốt lời nào. Anh thèm nghe Bích nói, Bích cười. Im lặng một chặp, anh lo Bích biến thành tượng trong cái dáng ngồi trông ngước xa xăm kia. Anh chợt tinh nghịch và ác độc như cậu bé lên mười, dùng đầu điếu thuốc hực đỏ dí vào cổ tay trái Bích, đang chống trên cát, yếu đuối tựa ngó sen non dưới tầm mắt anh. Bích mím môi chịu đựng được một lúc rồi bật cười, mắt bao dung khóe nhìn trách móc nhẹ. Anh thảng thốt không hiểu sao mình lại điên rồ chơi trò trẻ con đó, rồi lặng người hối tiếc. Dúm lửa hực đỏ đầu điếu thuốc đã ghi khắc vào da thịt em niềm đau đớn. Đó chính là niềm đau đớn đầu tiên, anh cho em.
 
Tối hôm ấy, gặp nhau giữa công viên. Bích đưa cổ tay trái cho anh dưới ánh sáng ngọn đèn đường. Vết bỏng mưng thành một bọng nước bầm đỏ. Bích tròn xoe mắt nghe anh nói khoác:
 
- Bích biết anh đã ghi cái gì trên tay Bích đó không?
 
Bích khẽ lắc đầu. Anh cười bí mật:
 
- Một dấu thánh.
 
Bích tỏ vẻ không hiểu dấu thánh là gì, ngay cả anh cũng không biết giải thích ra sao nữa. Và, thật tình cờ, câu giải thích của anh trở nên câu thề nguyền:
 
- Bao giờ cái dấu thánh này chưa phai thì anh và Bích chưa xa nhau. 
 
Bích gật đầu đồng ý.
 
Từ đó, Bích mang dấu thánh trên tay, như là một bằng chứng yêu anh. Bằng chứng thiêng liêng thơ dại chỉ riêng hai đứa biết.
 
Để Bích em khỏi thấy, khỏi mách bố, chúng ta đồng ý với nhau mỗi tuần chỉ gặp gỡ một lần vào chiều thứ sáu. Từ đó, thứ sáu trở thành ngày mong đợi nhất trong tuần.
 
- Thứ sáu, buổi chiều, từ trước đến nay Bích vẫn nghỉ, giờ xách cặp "đi học" thế nào bố cũng nghi.
 
 Bích nói, đôi mắt bối rối chớp nhanh. Anh e sợ nỗi lo sợ tức khắc ập tới, kéo theo cơn giận lẫy khác thêm rắc rối. Anh nói lẹ:
 
- Dễ quá, Bích chỉ cần ghi thêm vào thời khóa biểu bốn giờ sinh ngữ vào chiều thứ sáu, trình ổng xem là xong, trường dạy thêm giờ là chuyện thường.
 
Bích tươi cười gật đầu. Cả hai cùng thấy hạnh phúc, tưởng chừng muốn ôm nhau nhảy ầm xuống biển.
 
Về biển không xong, chúng ta tính chuyện dắt nhau lên núi. Chuyến xe lam băng qua nhiều khu vườn xanh mượt, bỏ lại đằng sau phường phố phức tạp, đôi mắt dòm ngó của Bích em. Chúng ta đến chỗ cư ngụ của người chết. Nghĩa trang Phật giáo nằm thoải dưới chân đồi nhiều đá lắm cây. Xa tít phía trái, nắng chếch rõ dáng Đức Mẹ đứng dang tay trên mộ Hàn Mặc Tử. Từng lớp bọt trắng òa vỡ dưới chân Ghềnh Ráng, không biết có làm nguôi lòng thơ nuối của người thi sĩ quá cố ấy không? Anh muốn có đêm trăng dẫn em lên đó, thử nghe im vắng đưa ta tới cõi nào. Nhưng đường vào mộ bấy giờ có những người lính Mỹ trấn giữ. Bước qua cổng nghĩa trang là lớp lớp cỏ may đưa tay chào đón. Hàng ngàn ụ đất, hàng trăm nấm mồ. Mỗi nấm mồ cho một người chết và, hoang vắng dành riêng cho chúng ta. Pho tượng Phật đứng trên bệ cao, không biết đã từ bao lâu, nước sơn cũ mèm dưới sức sương gió gội, đổi màu vàng xỉn. Đôi mắt ngưng thần vẫn cúi xuống. Nhìn pho tượng Phật cô độc giữa nghĩa trang, Bích kể:
 
- Hồi nhỏ Bích suýt đi tu. Vì giận bu nên bà ngoại dẫn Bích lên một chùa miệt núi, dạo còn ở ngoài Bắc cơ. Hai bà cháu ăn chay niệm Phật được nửa tháng, bu tìm lên khóc lóc đem về. Nếu Bích đi tu, sức mấy bây giờ anh gặp.
 
Lang thang trên những lối cỏ, để mặc tình gió mang niềm vui lên cao. Chúng ta say mê nói về tương lai, những toan tính cho đời sống mai sau ngay trên phần đất của người chết. Hết thảy mọi cặp tình nhân trên trần gian điên dại này, đều dìu nhau tới những chốn thần tiên mơ mộng, chỉ riêng đôi ta, mượn nơi nghĩa địa làm miền rong chơi. Đôi mắt Bích em đã vô tình biến thành mắt của mụ phù thủy săn đuổi và, chúng ta chạy trốn, né tránh hàng loạt mũi tên thành kiến bắn ra từ bu, bố, từ cái gọi là nề nếp gia đình, từ sự kỳ thị dòng giống man rợ, vô nghĩa lý. Bích chỉ biết thương yêu và cúi đầu tuân phục. Chúng ta thường trở về lúc cơn mưa cuối mùa ào tới xua đuổi. Một chuyến xe lam khác lại có hai chỗ ngồi. Anh vừa nghe mưa vừa gỡ vô số kim cỏ may vướng mắc trên hai tà áo Bích (bởi kim cỏ may có thể tố cáo với người nhà cuộc đi chơi của chúng ta).
 
Chừng nửa tháng sau, tình yêu lại lái qua thêm một chặng đường buồn. Bích bối rối bảo anh:
 
- Bu vừa từ Sàigòn về, bu biết chuyện. Một cô giáo ở trường Bích, bạn bu, đi thăm mộ bắt gặp bọn mình, bả mách lại với bu, bu quyết liệt lắm.
 
Đôi mắt Bích đỏ hoe, loáng ướt, chiếc cặp trên tay như muốn rơi tuột xuống đất. Bích nhìn anh bằng khóe nhìn của con chiên ngày tận thế:
 
- Bích đã khai hết rồi.
 
Anh hình dung khuôn mặt xấu xí của cô giáo vô duyên nào đó và vung trái đấm bâng quơ vào không khí. Cơn tức nghèn nghẹn trong cổ họng. Bố biết, bu biết ; Bích em mách rồi cô giáo mắc dịch mách thật rối chuyện. Hôm ấy, Bích nói nhiều, toàn chuyện lo âu buồn tủi. Tiếng nói lắm khi lạc giọng bởi nước mắt. Anh thấy, với tình yêu Bích hình như anh trở nên bé bỏng lạ kỳ. 
 
18 tuổi. Trước mặt sau lưng Bích có gì? Bu người Bắc. Bố người Trung Hoa. Quê nội và quê ngoại Bích chưa bao giờ nhìn thấy.
 
Trí Bích mơ hồ hình ảnh Hà Nội thắp sáng từ những chuyện kể của bu: Quê ngoại thần thoại lung linh sau lớp lớp sương mù hoài niệm. Có lá bay bâng khuâng đường Cổ Ngư liễu yêu ma rủ tóc thương hồ Hoàn Kiếm. Những sáng mùa thu nắng lụa dậy thì vàng mơ đỉnh núi Ba Vì... 36 phố phường ao ước ngày trở lại rong chơi. Hình ảnh cô bé Bích hẳn ngu ngơ lắm giữa đêm 30 tết theo bu qua cầu Thê Húc hái lộc. Quê ngoại gần nhưng thật ra đã xa, như một tinh cầu nào khác. Bích tưởng tượng được cắn ngập răng những cam quýt bưởi bòng của các ngôi vườn rải dọc Việt Bắc mến yêu. Bích thèm rất nhiều thứ của Hà Nội, nôn nóng muốn về coi lại mảnh sân lát gạch tàu xưa, thời con gái bu thường chạy nhảy chơi đùa, coi lại những nơi chốn đã gợi hứng cho Nhất Linh, Khái Hưng... dệt nên những chuyện tình diễm tuyệt.
 
Và, trí Bích mơ hồ ấp yêu hình ảnh quê nội Trung Hoa vàng son qua ký ức bố: Quê nội bí mật trải dài vạn dặm rừng, tuyết, cổ lũy man thiên. Miền đất đã phát sinh ra những ông Lưu Bị, Quan Vân Trường dũng cảm, phi ngựa múa gươm dọc dài hơn ngàn trang Tam Quốc Chí... Học lịch sử Bích biết thêm: có một thời, những đoàn quân xuất phát từ quê nội, tiền hô hậu ủng sang xâm lược dày xéo quê ngoại một cách gớm ghiếc man rợ. Máu quê ngoại chảy róc rách qua cùm gông nô lệ của quê nội cả ngàn năm, để rồi kiên cường vùng lên dựng những trang sử bi hùng oanh liệt.
 
Bích chưa được thấy quê ngoại, quê nội, nhưng Bích yêu cả hai vì Bích yêu bu yêu bố, yêu những kỷ niệm gợi dậy từ chuyện kể của hai người. Những chuyện ảo mù, thần tiên như cổ tích.
 
Bích không hề biết ngôn ngữ quê nội, dù chỉ một chữ một câu. Bích nói giọng Hà Nội, pha lẫn in ít âm hưởng Bình Định, nghe vừa ngọt lòng vừa buồn rười rượi. 
 
Anh tới từ nơi khác, không từ đất Bắc, không từ Trung Hoa, nên Bích không có quyền yêu anh và ngược lại. Bu lý luận thế, bố giữ im lặng và, Bích khóc.
 
Những ngày tiếp theo của tháng mười một quá đỗi buồn tẻ. Giữa hai thời tiết âm ui, trắng không ra trắng, xanh không ra xanh của trời đất, không dưng anh bỗng nhớ Huế lạ lùng. Mỗi đêm, con trăng thượng tuần vắt vẻo đầu vườn dẫn anh ra khỏi nhà, đi vớ vẩn ngoài phố, đến giờ giới nghiêm trở về gõ cửa, để nghe giọng càu nhàu ngái ngủ của mụ chủ. Anh trở lại trường đón Bích, đi với nhau một quãng đường ngắn, hoặc ngồi trong cái quán cà phê nhỏ thụt lùi bên mé trái con đường dẫn ra biển. Ngồi ở đó, ăn những chiếc bánh đậu xanh bùi bùi, uống những tách cà phê đậm đắng ngước lên nhìn màu trời ốm yếu xanh xao như tâm hồn Bích.
 
Một hôm, anh tới trường, gặp ông giám thị ở chân thang. Ông ta vui vẻ hỏi năm sinh của anh, đoạn nhẹ nhàng bảo:
 
- Vừa có thông cáo chính thức, những giáo sinh trong lứa tuổi anh không thể tiếp tục học nữa, phải nhập ngũ theo tinh thần luật động viên số...
 
Anh nói cảm ơn, chào ông giám thị. Vào phòng đọc cái thông cáo rồi nhận hồ sơ đi ra. Đứng giữa sân ngó lần cuối cái cột cờ, ngó dãy hành lang cao với sợi dây căng ngang phơi áo quần của bọn nữ sinh nội trú, lay bay phất phới cơ hồ cờ xí liên hiệp quốc, trí phẳng như mỏm đá và mắt lãnh đạm. Sự hăng hái bao giờ cũng vuột mất khi anh đang trên đà lao tới, hoặc có ý định tháo lui. Cái sắc luật động viên sẽ du anh vào thế sống mới, nhưng nào anh có thấy buồn bã gì đâu, dĩ nhiên, vui sao được. Anh ra biển đón Bích, báo tin cho em hay. Bích không tin, lắc đầu mỉm cười:
 
- Anh dọa Bích hả?
 
Khi anh đưa xấp hồ sơ, Bích mở lớn mắt ngạc nhiên, rồi nhét tập hồ sơ vào cặp. Cả hai cùng im lặng. Nắng mông mênh, ngọn cao chim bói, tới lúc ấy anh mới thấy buồn thấm thía. Anh tưởng Bích sẽ bật khóc, nhưng không, em chỉ cúi nhìn dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên cổ tay trái một phút, hai phút, ba phút rồi Bích ngước lên, nhìn mông ra khơi xa, thở dài:
 
- Bao giờ anh đi?
 
*
 
Anh rời Qui Nhơn, bỏ lại đôi mắt ngơ ngác của Bích, mặt biển lóa nắng, nghĩa trang đầy cỏ hoa, những con đường và số tháng ngày rơi hụt lại đằng sau mất hút. Ngày anh đi, Bích cúp cua hai giờ học đầu để ra phi trường, lần thứ nhất và cũng là lần cuối, Bích bỏ học không chút lo âu, thắc mắc. Cùng đi với Bích còn dó Diệu và Nghi. Thông không tiễn anh, vì anh không muốn và hắn cũng không muốn. Từng đợt mưa mỏng tạt ngang phi trường, buồn hết sức. Anh đứng bất động, nghe mùi vị trái xíu muội ngọt chua ngấm tan đầu lưỡi. Đưa xíu muội cho anh ngậm, Bích có nghĩ rằng tình yêu của chúng ta cũng chua lẫn ngọt như thế không? Bích cố giấu nước mắt, không khóc, đôi cánh mũi khẽ phập phồng, cố nén ẩn ức trong buồng ngực. Chưa bao giờ anh thấy em can đảm và yếu đuối bằng lúc đó.
 
Đến bây giờ anh còn nhớ rõ cảm giác sung sướng hạnh phúc, khi nhận được điện tín của Bích báo tin sẽ vào Sài Gòn. Cái điện tín nhận được hôm thứ tư. Chủ nhật mới được ra phép, thành thử những ngày thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, không thể nào ngủ được. Dầu thế nào thì cái chủ nhật mong đợi kia cũng tới. Anh, da sạm đen, tóc cụt ngủn, áo quần trận, hai chân mang hai chiếc bốt-đờ-xô mệt mề. Hai miếng vải xanh thêu tên và danh số may ngay hàng thẳng lối trên hai miệng túi. Bích, gầy như que diêm gói trong lớp vải màu hồng nhạt. Bích có vẻ lạc lỏng, bên anh, giữa phố đông người. Bích nói:
 
- Thật đáng tiếc, đi chơi với anh mà không mặc được áo dài, giờ về nhà thay lại sợ bu biết. Suốt tuần nay, ngày nào Bích cũng đứng ở cửa, thấy ông lính nào qua cũng nom, trăm ngàn ông lính đã đi qua, không có ông nào giống anh.
 
Anh nhìn bộ đồ cụt của em, cười:
 
- Như vậy cũng đẹp chán.
 
Chúng ta rẽ qua đường phố khác, tránh xa khu phố Bích ở. Bích hỏi:
 
- Bây giờ đi đâu anh?
 
Anh nói, giọng y hệt tên kịch sĩ trong các vở tuồng cổ điển, pha lẫn chút bông đùa:
 
- Anh sẽ đưa Bích đến một nơi xa hẳn loài người, ở đó có chim ca, suối hát và mặt trăng...
 
Bích tiếp lời:
 
- Và mặt trời và sao và mây và gió đủ hết, anh mơ mộng dữ.
 
Hai đứa cùng cười xòa. Anh đưa Bích vào một quán kem. Như tất cả các cặp tình nhân khác trên mặt đất này, sau thời gian xa cách, gặp nhau, chúng ta thao thao nói tưởng chừng như bất tuyệt về nỗi nhớ mong, gợi dậy những kỷ niệm cũ, nhắc lại tên một số bạn bè và thấy lòng ấm ngọt lạ lùng. Giọng Bích chợt khựng lại giữa chừng cơn vui:
 
- Bây giờ tính sao, anh?
 
Anh nhìn sâu vào mắt Bích, bắt gặp nỗi vô vọng nhú mầm qua những tia nhìn ướt:
 
- Còn thấy nhau lúc nào hay lúc đó, anh chẳng biết sao nữa.
 
Bích khẽ gật đầu như con cừu ngoan. Anh thầm lặng nhìn cổ tay trái Bích, nhìn cái dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên đó. Những tiếng sóng ngày xưa cũ bỗng vọng dội rách rưới trong hồn. Dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích và biển ngàn rực rỡ nắng thời nào cũng dựng dậy bằng những đường nét hoài niệm cay xót. Quấn quít. Mênh mông. Quay quắt. Bốn mắt chúng ta cùng cúi xuống dấu thánh mà tưởng chừng trông suốt qua nhau. Trời đất, rừng rú, phố thị, biển cả, con người, phút chốc nhạt mù hết, chỉ còn chút ân sủng bí nhiệm le lói trên một dấu thánh muộn phiền, nhỏ nhoi nhưng quí giá. Bằng chứng của một mối tình trong veo hơn nước lọc. Dấu thánh em đeo mang lang thang qua hết thời con gái, rồi tinh sương nào thức dậy sẽ không thấy nó, như chuỗi ngày mơ đêm mộng cũ đã biệt tích trong mênh mông đời ta? Hoặc một chiều cuối kiếp dấu thánh sẽ theo em khép mắt, lãng quên" Không, anh không muốn tin điều gì cả.
 
- Dấu thánh vẫn còn. 
 
Bích cười buồn:
 
- Anh không thấy nó phai dần à? Có lẽ vì vết bỏng nhẹ quá. Sao hôm đó anh không đốt lâu hơn?
 
Sao hôm đó anh không nhân gấp đôi, gấp nghìn lần niềm đau đớn khắc ghi vào da thịt em, để hy vọng di tích ấy mãi còn? Anh rùng mình nghe lạnh. Giọng Bích âu yếm trách móc nhẹ nhàng, xui anh rũ.
 
Anh đưa mắt lơ đãng ngó ra đường: xe cộ, người, di động dưới màu nắng loãng. Lát nữa Bích sẽ đi ra, cuốn hút theo dòng đám đông lưu chuyển không ngừng đó. Chỉ cần sơ ý một chút, chúng ta có thể lạc mất nhau. Nói gì đến ngàn triệu năm sau, chúng ta là hai hạt bụi bay trong thinh không tìm kiếm. Chiều hôm đó, anh trở lại trại, lòng buồn vô hạn, như tên Do Thái trở về đất cũ, thấy nhà mình đã bị kẻ khác chiếm giữ.
 
Bích về Qui Nhơn. Mỗi tuần anh vẫn đều đặn nhận được một lá thư của em. Cho đến một ngày đầu tháng sau, anh nhận được cánh thư vỏn vẹn mấy hàng chữ bút chì trên miếng giấy xé ra từ tập vở học trò. Bích viết: "Cái dấu thánh đã biến mất, không còn trên cổ tay Bích nữa anh à. Có phải đó là điềm gở không?".
 
Sau cái thư đó, anh chẳng bao giờ nhận được thư nào của Bích nữa. Chúng ta lạc mất nhau trên mặt đất trùng trùng tai ương, bụi phủ này.
 
 
MƯỜNG MÁN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 118, tuần lễ từ 13-9 đến 20-9-1973)
 
 
 

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

CHIM SÂU, TIẾNG HÓT ẤU THỜI - Tạ Nghi Lễ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
cho anh gửi mùa thơ ấu
những dòng hương cũ năm xưa
để mai chim về có đậu
ươm nồng lên ngón tay thưa
 
bởi anh chưa ngày khôn lớn
bóng đời thơ ấu vây quanh
lòng thơm như dòng sữa mẹ
rất ngoan những bước thiên thần
 
năm anh thắp hồng tuổi nhỏ
bằng mùa xuân có sương sa
chim sâu, chim sâu về đậu
giữa đời anh phủ mưa hoa
 
anh tay đan lồng chim nhỏ
ủ tình đôi nhánh cỏ non
bảo chim, ơi chim đừng khóc
mùa thương anh cũng ngậm buồn
 
đôi ngày chim sâu buồn bã
anh ngồi nghe nước mắt rưng
nôn nao mấy lời khuyên dỗ
thương chim anh nói sao cùng
 
một ngày chim sâu ngã bệnh
một ngày anh cũng biếng ăn
sợ chim không còn hơi ấm
nên lòng anh bỗng lạnh căm
 
rồi chim bỏ đời, chua xót
anh xây nấm mộ riêng đời
còn đâu hương nồng mật ngọt
chim ơi, tiếng hót ấu thời
 
                                 TẠ NGHI LỄ
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 146, phát hành ngày 20-10-1974)
 

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

EM BÉ TRAI EM BÉ GÁI - Trần thị Tỉ Nhiên


Buổi sáng Vi thức giấc muộn hơn mọi hôm. Căn nhà vắng vẻ, các cửa lớn đều đóng chặt chứng tỏ cả nhà đã đi vắng. Ba đi làm, anh Trí anh Khang đến trường. Nhưng còn me, me đâu không thấy nhỉ. Vi nghĩ thầm như thế rồi đi xuống nhà bếp, chỉ có u già lúi húi bên tủ chén bát, nghe tiếng dép của Vi, u ngước lên:
 
- Vi vừa dậy đấy hở? Xuống đây u lau mặt cho rồi lên ăn sáng nhé.
 
Lát sau Vi theo u lên bàn ăn, vừa cắt bánh rót sữa ra, u vừa kể:
 
- Phần bé đến hai cái bánh cơ đấy. U đã bảo là bé ăn không hết nhưng ba dặn cứ để cho bé như thế.
 
U già không nói, Vi cũng biết rằng lúc chia bánh sáng nay, ba cũng như mọi lần cố ý dành phần nhiều nhất cho Vi. Ba cưng Vi nhất nhà mà lỵ. Buổi sáng có bốn cái bánh cho ba anh em, Vi đòi lấy hai cái, để cho anh Trí với anh Khang hai cái. Mặc dù không ăn hết một bánh nhưng biết ba cưng nên Vi làm nũng với ba như thế và quả nhiên ba chiều Vi ngay. Anh Trí, anh Khang tức lắm nhưng đành ấm ức trong lòng, chả dám đụng đến cục cưng của ba. Nhà có ba anh em, chỉ mình Vi là con gái lại bé nhất nhà nữa. Khi lập gia đình ba mong có con gái đầu lòng, anh Trí, anh Khang lần lượt ra đời khiến nỗi mong ước của ba càng lớn và khi me sinh ra Vi ba mừng ghê lắm. Me thì thương cả ba anh em đều nhau, đôi khi me hơi bực mình vì cái tính hay làm nũng của Vi, chỉ có ba mới chiều được Vi thôi.
 
Thấy Vi ngồi im quên cả ăn, u già lên tiếng:
 
- Thôi, bé ăn đi chứ, u còn đi chợ làm cơm, hôm nay me đi vắng.
 
Vi chợt nhớ nỗi thắc mắc khi nãy, vội hỏi u:
 
- Me đi đâu thế hở u? 
 
- Me đến bác sĩ:
 
Vi tròn mắt nhìn u:
 
- Ủa, me đâu có ốm mà đến bác sĩ chi vậy u? 
 
- Me đến hỏi xem me sắp sinh em bé chưa đấy mà.
 
A, me sắp sinh em bé, vậy mà chả ai cho Vi biết cả, Vi mong me về để hỏi chuyện em bé ghê.
 
Đến trưa me mới về, có cả dì Hà nữa. Anh Trí, anh Khang cũng vừa về tới. Còn ba trưa nay bận trực ở sở. Vừa bước vào nhà, me vui vẻ nói với u già:
 
- Bác sĩ bảo độ vài hôm nữa tôi sinh thôi u ạ.
 
U già ngớ ngẩn hỏi:
 
- Thế họ có nói là sinh con trai hay con gái không hở mợ?
 
Dì Hà bật cười:
 
- Làm sao mà biết trước được hở u? Mà trai hay gái gì cũng được, miễn là cho mẹ tròn con vuông thôi.
 
Quay lại thấy Vi mở to mắt lắng nghe cuộc nói chuyện của người lớn, dì Hà vuốt tóc Vi mỉm cười nói tiếp:
 
- À nhưng mà nếu sinh con gái là Vi "ra rìa" ngay!
 
Vi giật thót mình vì câu nói của dì Hà, ra rìa là sao nhỉ? À thôi Vi biết rồi, me sinh em gái thì Vi hết là con gái duy nhất của ba me, ba sẽ hết cưng Vi, sẽ thương em gái kia nhất nhà...
 
Thấy Vi đứng lặng người, anh Trí, anh Khang thích chí reo lên:
 
- A, a đúng rồi, nếu me sinh em gái, Vi sẽ bị "loại ra khỏi vòng chiến" ngay, cho đáng nhé.
 
Khiếp, đúng là dân con giai, mở miệng ra là dùng danh từ quân sự. Giá có ba ở nhà các anh ấy sẽ hết dám bắt nạt Vi. Mà khi ba về, Vi còn phải hỏi xem nếu có em gái khác, ba có còn thương Vi không nhỉ?
 
*
 
Sáng hôm nay những tiếng động khác thường khiến Vi giật mình thức giấc. Cả nhà đã dậy trước Vi nhưng sao mọi người có vẻ vội vàng, hấp tấp thế này. U già lăng xăng chạy từ nhà trên xuống nhà dưới, ba thì dặn các anh của Vi điều gì đó rồi vội vàng dẫn xe ra ngõ. Vi nhìn vào phòng me, me đang nằm trên giường và hình như me ốm hay sao ấy. Mặt me có vẻ mệt nhọc và me như cố nén những tiếng rên. Vi muốn vào thăm me nhưng u già không cho, bảo Vi ra sân chơi. Thấy Vi ngần ngừ chưa chịu đi, u dỗ:
 
- Bé ra sân chơi đi, chóng ngoan u thương. Me sắp sinh em bé đấy, để me nghỉ.
 
Me sắp sinh em bé! Vi nhớ lại tất cả chuyện hôm trước, lời của dì Hà, anh Trí, anh Khang... Nếu bây giờ me sinh em bé gái ba có bỏ rơi Vi không nhỉ? Hôm trước Vi định rồi quên hỏi ba điều ấy. Bây giờ ba đi đâu mất rồi chỉ còn Vi với nỗi thắc mắc lo âu nầy thôi. Lát sau ba về với dì Hà và đưa me sang ngôi nhà to to cũng gần nhà. Vi nhớ năm ngoái dì Hà cũng sinh em Triều ở đấy. U già dẫn Vi theo qua bên đó. U với dì Hà vào phòng với me, ba lại hấp tấp đi nữa, chỉ còn Vi ngồi ở phòng ngoài. Lúc này Vi vừa mong me chóng sinh em bé lại vừa sợ. Vi chỉ thích me sinh em bé trai thôi. Me chưa sinh em gái mà ba đã chẳng để ý đến Vi bằng mọi ngày, nếu có em gái chắc ba sẽ bỏ quên Vi luôn. Nghĩ đến đó Vi muốn khóc... Lát sau đánh bạo Vi đến gần phòng me nằm, nhìn qua cửa sổ chỉ thấy dì Hà và cô y tá, Vi hỏi:
 
- Dì ơi, me Vi sinh em bé chưa hở dì?
 
Dì Hà chưa trả lời, cô y tá đã tươi cười nhìn Vi:
 
- Chưa đâu bé, bé mong chóng có em lắm à?
 
Vi thấy dì Hà chợt kéo cô y tá lại gần dặn nhỏ điều gì đó không biết mà cô ta gật đầu luôn mấy cái rồi quay nhìn Vi cười, nụ cười của cô sao là lạ, Vi chả hiểu gì cả. Cô bảo:
 
- Thôi bé ra ngoài chơi đi, mẹ sinh xong chị gọi bé liền.
 
Nghe lời cô, Vi quay ra nhưng lòng vẫn nôn nao vì ý nghĩ em bé trai, em bé gái. Chợt có tiếng khóc oe oe vang lên từ phòng me nằm. Chẳng đợi ai gọi, Vi chạy nhanh vào, cửa phòng vẫn đóng kín, cô y tá tươi cười hiện ra nơi cửa sổ:
 
- Me sinh em gái rồi bé ơi.
 
Vi cuống quýt kêu lên:
 
- Chết, chết, me sinh em gái hở? Thôi, Vi hết được ba cưng rồi. Ba ơi, Vi ra rìa mất rồi!
 
Không hiểu sao cô y tá và dì Hà cười to lên, hình như có cả tiếng cười của me nữa. Lúc này chắc me mệt lắm mà sao me cũng cười được nhỉ. Vừa lúc đó ba bước lên thềm, Vi chạy ra ôm lấy chân ba mếu máo:
 
- Me sinh em gái rồi ba ơi, Dì Hà bảo con bị ra rìa mất rồi.
 
Ba hơi ngạc nhiên nhẹ nhàng gỡ tay Vi quay vào hỏi dì Hà rồi đi ra bảo Vi:
 
- Dì ấy đùa con đấy, me sinh em trai chứ không phải em gái đâu. Vậy là ba càng cưng con hơn nữa chứ. Thôi con gái cưng của ba cười lên xem nào.
 
Thấy Vi có vẻ chưa tin ba bảo:
 
- Cho con vào xem em bé đấy.
 
Vi nhảy ba bước vào phòng trong đến bên chiếc nôi thấp đặt nơi góc, trong đó có em bé nhỏ xíu nằm trong chiếc tã lót trắng. Vi nhìn vào và hét lên mừng rỡ:
 
- A đúng là em bé trai, Vi hết bị ra rìa rồi!
 
Mọi người lại cười vang lên, trong đó Vi chỉ nghe rõ nhất là tiếng cười của ba và Vi thấy thương ba hơn bao giờ hết.
 
 
TRẦN THỊ TỈ NHIÊN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 73, tuần lễ từ 19-10 đến 26-10-1972)
 

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

CHIẾC VỎ ỐC CỦA TỊNH ĐÔNG - Lê Miên Tường


Nhờ đi về cùng với H cho nên tôi gặp Tịnh Đông. H giới thiệu và Tịnh Đông gọi tôi bằng chú Huỳnh. Trước đó tôi cũng đã đôi lần thoáng thấy Đông khi tôi đến chị Phúc chơi.
 
H mời tôi về ăn cơm nhân tiện coi giùm nhà cho chị Phúc đi đám cưới người cháu họ. Tôi đồng ý nhưng cũng hỏi sao H không coi, H nói chiều H bận phiên trực 24 giờ. Tôi lại chỉ sang Tịnh Đông, H nói Đông không kham nổi với lũ em "con trời" nghịch phá.
 
Con đường chói lóa với cơn nắng đầu mùa. Tịnh Đông đi xa khỏi những bóng cây để sưởi ấm thân thể. Đây là cơn nắng thứ nhất sau hai tháng mưa dài lê thê. H nghịch đuổi mấy con chim sẻ đang đùa giỡn tắm nắng trên bãi cát trống của căn nhà có giàn hoa giấy đỏ tươi. Con chó Tây đen luốt thích chí đứng lè lưỡi liếm khúc xương gần đống rác. Tịnh Đông cúm rúm đi kề tôi tỏ vẻ sợ. Tôi hù. Con chó co giò chạy mất sau ga ra có chiếc xe hư nằm dềnh dàng. H đưa tay chỉ mấy trái bơ chín cuối mùa mắc lỏng xỏng lẻ loi trên cành bơ. Tôi nói ăn xong một trái bơ thấy hình như ngứa ngứa ở cuống họng. Tôi ghét. H cười nói anh không biết ăn. Tịnh Đông ngắt đóa hoa mười giờ bỏ cuống ngậm khít giữa hai hàm răng trắng.
 
Chúng tôi tới nhà lúc chị Phúc đang khép cửa sắp đi. Tôi chào. Chị Phúc cười chào lại. Chị Phúc ôm gói giấy vàng điệp với màu áo. An thường nói An thích nhất màu vàng. Màu vàng là màu kiêu sa.
 
H tình nguyện xuống bếp làm cơm cho Tịnh Đông rảnh giờ thêu áo. Bọn em Đông đang xúm nhau coi đá dế dưới gốc cây mít la ó om xòm. Chị Phúc nói cây mít là mít đực không có trái, khiến đứa con thứ tư của chị ngây ngô hỏi: lạ hê. Mít mà cũng có mít đực. Thế con là đực hay cái hả me?
 
Tịnh Đông trải vạt chiếc áo trắng lên bàn. Tôi ngồi xuống ghế đối diện.
 
- Thêu cái gì cho đẹp chú? - Tịnh Đông hỏi.
 
- Thêu một cánh hoa mười giờ - Tôi trả lời.
 
- Làm sao vẽ hả chú? - Tịnh Đông hỏi thêm, xong cầm đóa hoa mười giờ vừa hái ở dọc đường đưa lên ngắm nghía. Ngắm rồi bỏ xuống.
 
- Thì gắng mà vẽ - Tôi nói.
 
- Khó ghê, Đông không có hoa tay. Ở lớp, tới giờ vẽ Đông chuyên môn gật cho nên Đông chuyên môn bị gậy.
 
- Thì gắng.
 
- Thôi chú vẽ giúp Đông đi. 
 
- Mệt.
 
- Vẽ giúp đi mà. Tội Đông.
 
- Ờ... ờ.
 
Tịnh Đông đi lấy cái gạt tàn thuốc, cục tẩy hai màu xanh đỏ và cây bút chì chuốt nhọn. Tôi vẽ.
 
Tịnh Đông để cái gạt tàn gần tách trà ướp sói. Đầu tiên tôi vẽ cuống lá. Cánh hoa mới hái còn ướt sương.
 
Tịnh Đông nói:
 
- Chú vẽ cho đẹp nghe.
 
- Xấu thôi.
 
- Chú vẽ xấu nếu có nhỏ bạn nào ở lớp hỏi ai vẽ Đông sẽ nói chú. Lúc đó Đông sẽ bêu chú cho mà coi.
 
- Bêu thôi không vẽ. Chưa chi đã "phản".
 
- Thế chú gắng vẽ đẹp để Đông "khen". Tụi bạn Đông sẽ "lé" mắt.
 
- Cô bé lý luận nghe "ngọt" quá. Chú chịu thua cô bé và đành phải gắng vẽ cho đẹp.
 
- Đẹp nhất nghe.
 
- Vừa vừa thôi.
 
- Đẹp nhất thế giới đi. Cho oai.
 
- Thôi, đừng cho chú đi tàu bay giấy. Rớt đau.
 
Tịnh Đông cười. Tôi vẽ sang phần hoa. Tôi vẽ hai nụ hoa rời nhau có vẻ lạ.
 
Tịnh Đông hỏi:
 
- Hoa mười giờ là hoa chi hả chú?
 
= Là hoa mười giờ.
 
- Là sao chú?
 
- Là hoa chỉ nở lúc mười giờ.
 
- Còn mấy giờ khác hoa làm chi chú.
 
- Hoa đâu có "tay" mà làm.
 
- Không. Làm khác cơ.
 
- Khác sao?
 
- Là hoa có nở không?
 
- Không. Hoa khép lại và tàn đi.
 
Tịnh Đông chép miệng:
 
- Tội nghiệp. Khi không "trời" sinh ra thứ hoa quá tội nghiệp.
 
Tôi bưng tách uống ngụm trà.
 
- Thế mới là luật "trời". Người thì có người thế này kẻ thế khác. Hoa thì có hoa đẹp hoa xấu. Có hoa thơm có hoa hôi. Có hoa lâu tàn dĩ nhiên phải có hoa mau héo. Đông coi, con rắn dễ ghét thế mà đôi khi nó sống tới hai ba năm trong lúc con phù du tội nghiệp sống không tới hai giờ.
 
- Phù du là con gì hả chú?
 
- Là con thiêu thân.
 
- Là sao chú?
 
- Nó đâm đầu vô bóng đèn chết cháy nên gọi là thiêu thân.
 
- Nó dại ghê.
 
- Không phải dại đâu.
 
- Không dại sao nó không "đi chơi" chỗ khác lại đâm đầu vô bóng đèn chi?
 
- Cái số của nó vậy.
 
- Cái số là sao chú?
 
- Cái số là cái số. Nói ra dài giòng lắm.
 
- Chú nói đại khái đi.
 
- Ví dụ một kẻ kiếp trước cha mẹ ăn ở thất nhơn ác đức thì kiếp này kẻ ấy phải trả nợ, phải sống cực khổ đọa đày. Như thế, cái số của kẻ ấy khốn đốn. Nếu kiếp trước cha mẹ kẻ ấy hay bố thí làm phước, tất nhiên đời sống kẻ ấy sẽ sung sướng. Đó cũng là cái số. Hoặc giả dụ như chú chỉ sống tới năm mươi tuổi. Như thế cái số của chú chỉ sống tới năm mươi tuổi. Ví dụ Đông sống dai tới chín mươi tuổi. Như thế cái số của Đông sống tới...
 
- Thôi. Sống tới chín mươi tuổi ngán lắm.
 
- Sao ngán?
 
- Sống tới chín mươi tuổi má hóp răng rụng lưng còm... trông mất cả mỹ thuật. Mất sướng.
 
- ...
 
- Bộ chú thích Đông như bà già lắm à?
 
Tôi đã vẽ xong. Tịnh Đông cười hồn nhiên. Tôi cười theo. Tịnh Đông lấy từng cuộn chỉ so với màu của cánh hoa thật trên bàn.
 
Một đứa nhỏ rời khỏi đám đá dế chạy vào nhà thò đầu vô ô cửa, hỏi H:
 
- Cơm chín chưa dì?
 
H vừa xào nấu vừa nói:
 
- Chờ chút nữa, ông "trời con".
 
- Dì nấu chậm quá. Me nấu mau gấp mấy dì.
 
- Chậm thì tối mới có.
 
- Sức mấy.
 
- Chậm nữa thì sang năm mới ăn.
 
- Cháu đói gần chết rồi đây.
 
- Đói rán chịu. Ai vẽ tham ăn.
 
- Dì không cho ăn cháu phá.
 
- Phá đi.
 
- Phá liền chứ sợ gì ai. Cháu là tướng cướp... cụt chân à à... Ta là...
 
Đứa nhỏ cầm múa khúc cây huơ huơ vào cánh cửa kêu lẻng xẻng.
 
H dợm chân dọa đuổi. Đứa nhỏ cười hê hê co giò nhảy cò cò trở lại gốc mít. Tôi ngồi nhìn Tịnh Đông chăm chú thêu.
 
Từ lâu tôi đã van nài cũng như cự tuyệt thật nhiều mối tình. Cự tuyệt cái đáng cự tuyệt. Van nài điều nên van nài. Tôi đã từng bỏ phòng trốn đi khi có vài người đến kiếm ; nhưng trái lại tôi thường xuyên gởi thư cho An ngót năm trời nay tuy đôi lúc An chẳng viết cho tôi một chữ hoặc đôi lúc cao hứng một tháng An gởi dồn cho tôi ba bốn cái. Điều này tôi không thể cắt nghĩa. Tôi nhìn tôi rõ hơn. Tôi hiểu tường tận tôi hơn. Tôi chủ quan cho rằng nếu có tình yêu thứ thiệt, thì mỗi người chỉ có cơ hội "thiệt" một lần. Còn bao nhiêu lần khác đều miễn cưỡng giả dối.
 
Nếu tôi hái tặng anh một đóa hoa tôi đã hái chưng trên bàn suốt buổi sáng, dĩ nhiên vì lịch sự anh cũng nhận lấy nhưng không mấy hài lòng. Và trái lại, tôi cũng thế. Tình cờ lên rừng chơi, hái được một đóa hoa dại, anh sẽ thích nó. Nếu không biết tên hoa, anh lại càng thích hơn. Nhưng đây chỉ nói về tình yêu.
 
Tôi đang nói đến tình yêu và nhìn Tịnh Đông. Tịnh Đông có khuôn mặt bầu bĩnh và giọng nói thanh trong giống hệt An. Tôi xa An hai năm rồi. Ngày tôi đi An chỉ biết mút cà rem cây nhưng chắc bây giờ An đã biết ăn kem ba màu. Ăn kem ba màu thì phải vào quán. Tôi ở đây rồi. An sẽ vào quán với ai? Một người khác? Lâu nay tôi sợ nhất câu: "một người khác". Tôi cũng sợ thêm hai chữ nữa: "Thực tế". Sợ, nhưng chắc khó tránh khỏi. Sự việc phải xảy ra như thế. Một đứa con gái sẽ làm gì trong suốt thời gian 24 tháng dài đằng đẵng? An sẽ làm chi trong 2 năm dài? Học ư? Ừ, học. An học chăm, giỏi, vừa hoàn tất xong tú tài thật đấy ; nhưng ngoài những giờ học rỗi rảnh, An mơ mộng gì? Tuy tôi muốn nghĩ đẹp về An nhưng tôi khó đánh đổ nổi ám ảnh và thành kiến bi quan về kiếp người và lũ ngạ quỷ giăng bẫy quanh đời sống rình chờ. Thư mới nhất gởi đây An có nói An sẽ lên thăm. Tôi hãy lo chuẩn bị đi. Tôi vẫn mong. Nhưng tôi chẳng chuẩn bị chi cả. Đối với An, tôi bao giờ cũng thế. Tuy nhiều phen An đeo đẳng như một ám ảnh theo quấy rầy tôi, nhưng với tôi, An có mặt như một cái gì khiến tôi thấy khó thiếu. Nói ra điều này tôi không sợ tôi lầm. Tôi tin tôi. Khi yêu tôi không biết tự ái nên hóa ra tôi ngu ngơ dại khờ như một đứa bé.
 
Tịnh Đông thêu thật khéo. Màu hoa đỏ tươi nổi bật trên nền vải trắng trinh. Tôi nhớ hình bóng An qua Tịnh Đông. Điều này bậy thật. Nhưng tôi chẳng thể cưỡng nổi tôi. Nếu rõ ra, tôi rất mong Tịnh Đông hiểu cho tôi. Tôi là đứa hay xúc động dại dột.
 
Tịnh Đông vẫn tiếp tục di động mũi kim. Màu đỏ của nụ hoa đã hiện lên vài phiến. H ca nhỏ mấy đoạn nhạc rời trong bản Love story. Tôi nghịch nhễu nước bôi vẽ lên bàn loang lổ mặt một người nữ có mái tóc dài như Tịnh Đông. Tóc như tóc của François Hardy. Tịnh Đông hát nhỏ theo H. Tôi ngồi nghe.
 
Bọn nhỏ em Đông đã dời khỏi đám đá dế dưới gốc cây mít lần lượt vào ngồi thứ tự ở bàn ăn. Một đứa nhỏ nhất chậm chạp vô sau thấy chỗ-ngồi-thuận-tiện đã bị choán hết nên tức quá la lên:
 
- Ăn mà... ngồi.
 
Cả bọn nghe đứa nhỏ nói vô lý quá nên cười vang:
 
- Ăn mà không ngồi thế ăn chi? Bộ ăn đứng hả?
 
Đứa nhỏ vừa tức vừa mắc cỡ nên thút thít khóc. H ê a dỗ đứa nhỏ. Nồi cơm bốc hơi và chúng tôi ăn ngon lành. Món cá nục kho khô làm tôi nhớ nhà. Tôi xa nhà đã hai năm thường ngồi ăn một mình, thường ngủ ngáy một mình, thường đi rông một mình nên tôi biết uống rượu.
 
Bọn nhỏ cười đùa vô tư trong khi ăn. Tôi muốn như chúng mà không được. Sau bữa cơm H đi trực, Tịnh Đông tiếp tục thêu và tôi nán thêm ngồi đợi chị Phúc về. Bọn nhỏ kéo nhau đi ngủ.
 
Một lát tôi cũng kêu buồn ngủ. Tịnh Đông tới mở tủ lạnh rót ra cốc cho tôi một ít rượu Black and White. Tịnh Đông không cho tôi uống nhiều. Cô bé sợ tôi say. Nhưng rượu cũng chẳng có công hiệu. Tịnh Đông xuống bếp chế cà phê. Tôi lấy áo ngồi tẩn mẩn bắt chước thêu. Tịnh Đông bưng cà phê lên nói chú thêu không được đâu, coi chừng hư của Đông đấy. Tôi nói Đông bày chú thêu với. Đông chịu. Tôi uống cà phê và học thêu. Tôi thêu cuống hoa màu xanh lục và nghĩ nhiều về Tịnh Đông. Đôi mắt có bề sâu và nụ cười kính vỡ như con Phượng hoàng bị ná chùn cánh đáp mình xuống bờ trúc tre trú ẩn. Tại sao tôi lại ngồi đây coi nhà giùm cho chị Phúc?
 
Tại sao tại sao.
 
Buổi chiều tới vàng trong màu bông cải. Nhưng buổi chiều không khiến cái nhìn tôi đâm suốt để thâu thấy thời thơ ấu. Tôi không có thời thơ ấu. Có cũng như không. An đã có biên giới. Và những ngày thanh niên tôi trôi dạt như bọt bèo. Vì thế, tôi thèm. Tôi thèm theo cùng bọn nhỏ lên đồi thả diều chạy nhảy vui chơi. Tôi thèm đi nhưng Tịnh Đông bắt tôi ngồi lại. Bắt tôi ngồi lại và ngập ngừng hỏi tôi là thế nào với H. Tôi không muốn Tịnh Đông bị ngập lút bởi ý nghĩ vẩn đục nên hỏi lờ rằng sao Đông không ngủ. Đông nói Đông cố thêu cho xong áo mai đi Nha Trang thăm nội. Tôi nói trường sắp khai giảng rồi đi chi kịp. Đông nói Đông đi một tuần thôi, Đông sẽ về trước Trung Thu để tha hồ ăn bánh kẹo của chú chứ. Tôi nói đi ít không thú. Đông lại hỏi tôi về H.
 
- Chú là gì của dì H?
 
- Là gì là là gì? Không là gì cả.
 
- Nhưng Đông thấy chú hay đi chơi với dì H.
 
- Đi chơi là một việc. "Có gì" với H lại là một việc khác.
 
- Nhưng chú sẽ bị mang tiếng.
 
- Chú không cần.
 
- Đông thấy dì H có vẻ mến chú.
 
- Có-vẻ-mến khác với đã mến. Nhưng chú coi H như một đứa em. Hay như một người bạn.
 
- Dì H có biết vậy không chú?
 
- Không biết rồi cũng biết. 
 
- Khi đó dì H sẽ "từ" chú.
 
- Khi đó Đông có theo phe dì H mà "từ" chú không?
 
Đông mỉm cười gật đầu. Toàn diện nụ hoa đã nổi bật lên trên thân áo.
 
Cho chú cô đơn một mình cho bõ ghét. Tịnh Đông đùa. Tôi nói tôi không sợ. Đông lại hỏi ở nhà tôi thường làm chi. Tôi nói những giờ rảnh tôi viết lách, đọc sách và đi lêu bêu ngoài đường. Tôi cũng hay tới nhà thờ vào những năm giờ ba mươi sáng khi không có ai. Nếu những lúc có ý nghĩ hắc ám hoặc về cái chết nổi dậy tôi tụng kinh Kim Cương, Bát Nhã và ngồi Thiền. Đông cười nói chú đi tu đi. Tôi nói thế cũng như tu rồi. Đông nói phải vô chùa mới kêu là đi tu. Tôi nói tôi tu tại gia. Đông nói chú đi tu chú bỏ cái cô gì đó cho ai. Tôi hỏi cô gì. Đông nói cô An đó. Tôi hỏi sao biết. Đông nói hôm trước lại chơi chú bỏ quên quyển sách trong đó có thư của An. Tôi ờ ờ nói cô bé tò mò không tốt. Tịnh Đông nói với chú Đông mới tò mò. Tò mò vì chú không có xấu. Có xấu cũng cứ tò mò như thường. Tôi hỏi đọc thư Đông thấy sao. Tịnh Đông nói An viết hay và chữ đẹp. Rồi Đông hỏi tôi:
 
- An có đẹp như chữ An viết không chú?
 
Tôi trả lời:
 
- An giống Đông như đúc.
 
Nghe tôi nói xong, giọng Đông chùng xuống tự nhiên:
 
- An giống Đông nên chú nhìn Đông chú nhớ... An phải không?
 
- ...
 
- Đông bị chú... "lợi dụng" rồi đó.
 
Đông nói và cố nở nụ cười để tạo vẻ hài hước với dụng ý che giấu. Nhưng tôi biết Đông sắp khóc.
 
- Nhưng Đông không trách chú đâu.
 
Nói hết câu Đông cúi mặt xuống gần sát tà áo trắng. Cuống hoa màu xanh lục Đông thêu sắp xong. Tự nhiên tôi thấy lòng bâng khuâng như lúc tiễn người đi trên bến đò ngang.
 
Đông không trách đâu. Nghe Đông nói, tôi tự nguyền rủa mình.
 
Đông không trách đâu. Tôi muốn uống một ly Black and White nhưng Đông không cho. Có lẽ tôi sẽ phải viết một truyện về Đông và nên cho An rõ điều này. Tôi định nói với Đông như thế nhưng chị Phúc đã về. Tôi nhóm lưng. Đông xếp áo lại đứng dậy đưa tôi ra cửa. Chị Phúc dặn chủ nhật tới chơi chị nấu cháo lươn cho ăn. Tịnh Đông nói:
 
- Đi Nha Trang về Đông sẽ cho chú chiếc vỏ ốc thật đẹp. Chú thích không?
 
Tôi nói thích và bỏ đi.
 
Lúc rời khỏi nhà chị Phúc tôi ra đường đi lông bông thì gặp người bạn quen. Hắn mời đi cà phê. Tôi đi. Cà phê xong hắn kêu tôi về nhà uống rượu. Tôi đồng ý. Uống rượu vào tôi choáng váng ngây ngất nằm nghĩ tới Tịnh Đông. Nghĩ tới chiếc vỏ ốc. Vỏ ốc thì thường trống không và bạc hạnh. Đáng lẽ Tịnh Đông sẽ đem tặng tôi mối tình thánh thiện nhưng bởi lẽ có An rồi nên Đông tặng tôi chiếc vỏ ốc. Tặng cái trống không muộn màng.
 
Tôi nghĩ thế và cười buồn. Nghĩ rồi nằm ngủ mê như chết. Buổi sáng tôi dậy lúc 11 giờ thân thể rời rã. Tôi đi tắm, uống cà phê và ăn cơm. Chỗ mua thuốc chịu vì thiếu nhiều quá nên người đàn bà không cho tôi ghi nữa. Người bạn để gói thuốc của hắn lại cho tôi sau khi vô đồn. Tôi lười biếng nằm hút hết điếu thuốc cuối cùng trong bao mới dậy đi. Buổi chiều nắng rực rỡ đồi trà.
 
An nói tôi ham chơi và liều. H nói tôi ích kỷ, bướng và duy ngã. Chị Phúc thầm ghen với lối sống bất cần đời của tôi. Tịnh Đông không bình phẩm chi tôi cả chỉ khuyên tôi bớt thuốc lá cà phê và hãy ngủ cho nhiều vào.
 
Tôi bị ngập lút bởi sự tấn công tới tấp của thị phi và danh từ. Kẻ quen biết cho tôi là kiêu ngạo ngông nghênh. Tôi nhớ một câu của Anton Tchekov: "Người ta nói thế này thế nọ về tôi. Tóm lại chỉ là càn dỡ. Tôi chỉ là một người. Tôi yêu thiên nhiên và văn chương. Tôi ghét hủ lậu và chuyên chế."
 
Đi loanh quanh một hồi, tôi ghé Tịnh Đông. Những con đường có nhiều ngõ rẽ trồng đầy cây xanh và mặt trời buổi chiều mong manh chiếu từng tia nắng quái.
 
Đám đông đang chào xáo xúm xít trước nền nhà loang đất đỏ. Tiếng dùi nện dội đập và tiếng chị Phúc thảng thốt la lên. Tôi bước dội vào cảm thấy chói tai. Bọn nhỏ dạt ra hai bên cửa.
 
Người ta đang buộc cột nắp chiếc hòm gỗ nâu bằng dây thừng. Chị Phúc dã dượi nhoài mình vào đó với mớ tóc bù xù.
 
H đưa tôi chiếc áo trắng rách đầy máu của Tịnh Đông. Tôi cầm lấy xong nâng cánh tà lên nhìn đóa hoa mười giờ cũng đỏ bầm như máu. H nói lúc xe hồng thập tự chở xác Tịnh Đông về nhà thương, nhìn thấy, H ngất xỉu. Tịnh Đông đây sao?
 
Tôi xếp áo và hỏi H xin được cất, H gật đầu. Nếu An có lên, tôi sẽ kể cho An nghe về Tịnh Đông và chiếc vỏ ốc của Đông hứa tặng tôi sau khi ở Nha Trang về.
 
Nhưng Đông sẽ không tới được Nha Trang. Đông sẽ không còn như lời hẹn về trước Trung Thu để tha hồ ăn bánh kẹo và đòi tôi dẫn đi ngắm trăng.
 
Tôi nghĩ rằng lúc Tịnh Đông nảy ra ý định tặng tôi chiếc vỏ ốc Đông đã tự ví mối tình mình bất hạnh như vỏ ốc. Như thế tôi khỏi phải mất công chờ: Đông đã tặng tôi cái rỗng không vắng ngắt của một cảm tình đến muộn.
 
 
LÊ MIÊN TƯỜNG         
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 70, tuần lễ từ 28-9 đến 5-10-1972)
 

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

ĐÊM THU NHỚ MÌNH NHỚ BẠN - Phạm Ngọc Lư


Tiếng trống múa lân rộn rã ngoài kia như khua vào ký ức tôi đêm hội trăng rằm nhà Tú. Tú, thời tuổi nhỏ. Tú, tay đánh trống chầu hát bội gia truyền, múa may cặp dùi như múa võ. Trình quay tít đầu lân, tiến thối nhịp nhàng. Tôi mang mặt nạ ông địa, khệ nệ mang cái bụng độn vải căng phồng, phe phẩy quạt mo, chỉ chỏ cái đùm tiền treo đầu cây roi trên tay Vân. Vân cứ tinh nghịch nhử thèm miếng mồi ngang mũi lân, không cho nó táp lọt.
 
Thời đó mình bao nhiêu tuổi nhỉ? Nhớ không Trình?
 
Nay Vân chắc quên bẵng rồi? Nàng đã lớn, biết xõa tóc thề tôn nữ làm dáng, biết nghiêng nón ngang mặt thẹn thùa lúc gặp tôi. Tú thì dại dột đâm trống ném dùi để làm người đạo mạo. Hắn ở lại Huế giữ chiếc chìa khóa cửa mở cái kho tàng kỷ niệm của bọn mình. Như một kẻ thủ từ. Để anh lang bạt kỳ hồ, tôi lưu linh thỉnh độ. Hai đứa hai phương trời.
 
Bạn tôi, Trình Ô Lâu, ở Saigon mỗi lần thu đến đều viết thư về than thở: "Tiếc quá, trung thu này hai đứa mình không ra Huế được để bơi thuyền rước trăng trên sông Hương như độ nào". Tôi lại hỏi mình: Độ nào nhỉ? A, nhớ rồi, kỳ diệu thay, trí nhớ tôi vẫn còn sáng tỏ tựa ánh trăng rằm đêm năm xưa. Dễ chừng năm mười năm rồi? Nhưng sao nó vẫn gần gũi tinh tương y hệt như mới diễn ra đêm qua.
 
Ừ thì đêm qua vậy, Trình rủ tôi ra bến Gia Hội lúc trăng vừa lên khỏi ngọn tre dưới thôn Vỹ Dạ. Bạn nói:
 
- Hồi chiều ta đã thuê chiếc đò chạy kia. Xuống thôi.
 
Tôi cười:
 
- Đêm rằm anh mới kiêng thứ đò mặn. Ngày thường mô có hiền chi. 
 
- Chờ trăng lặn rồi tính chuyện nớ sau.
 
Đò lững thững tiến ra giữa sông, đi ngược lên Phu-Văn-Lâu. Dòng sông ngờm ngợp màu trăng như được tráng một lớp kim nhũ loang loáng. Mái chèo khuấy nước ngọt lịm như chiếc muỗng xắn nhẹ từng phiến đông sương. Trình nằm dài ra giữa khoang đò nhìn trăng lơ lửng đi theo trên đầu. Hứng chí bạn bắt chước giọng Nam Bình ca xang nghêu ngao. Tôi hát ử ư nhại theo. Rồi cả hai phá lên cười khoái sảng khiến con đò hơi chông chênh lắc nhẹ.
 
Nhìn lên: Tháp nước Giả Viên lù lù, cầu Bạch Hổ đen đủi chỉ vạch được những nét mờ mờ như màu bút chì kẻ mi mắt. Ngó xuống: Sáu vài cầu Trường Tiền trắng bạc phản chiếu ánh trăng sáng rực. Trên trời: trăng sáng lồng lộng. Dưới sông: trăng soi vằng vặc. Hình là đâu ảnh là đâu?
 
Tôi ngẩn ngơ quay lại. Trình mở cái túi mang theo bày ra một bình rượu nhỏ và hai chiếc cốc bé tí teo. Bạn trầm trồ:
 
- Rượu-hoàng-hoa đây nhé. Hiếm lắm!
 
Chén thù chén tạc mềm môi.
 
Chặp lâu, Trình đứng lên, thở ra hơi men nồng nực:
 
- Cả ngàn năm nay chưa có ai nối gót Lý Bạch. Ồ, trăng đẹp quá. Nàng đang mỉm cười vẫy gọi ta tề.
 
Bạn bỗng nhảy ầm xuống sông. Tôi hốt hoảng không kịp níu lại. Nhưng lát sau, bạn ngóc đầu lên khỏi mặt nước, đu lấy mạn thuyền. Người lái đò tỉnh ngủ, há hốc mồm ngơ ngác. Trình leo vào đò thở ì ạch, nước chảy ròng ròng khắp mặt mũi. Những giọt nước lóng lánh màu trăng như từng chuỗi hạt vàng mơn man ve vuốt người Trình. Bạn mở bật hai bàn tay nắm chặt nãy giờ: ngạc nhiên! Không có gì như anh tưởng? Trình thều thào:
 
- Tao nhớ mi đêm nay, L. ơi!
 
Đêm nay, ngồi giữa đất khách quê người, tôi cũng muốn thốt lên:
 
- Trình ơi, ta đang nhớ ngươi.
 
Trăng kia có là trăng đêm nào trên Hương Giang? Nhớ gì không?
 
Rượu-hoàng-hoa đã một thuở tuyệt tích thất truyền rồi chăng? Còn đây, rượu nhân thế uống một mình, ta muốn khô gan héo ruột. Sầu tình, tôi nhại thơ Nguyễn Bính ngâm càn: "Hai ta lưu lạc hai phương trời. Trải mấy mùa thu ngắm lá rơi..." Bỗng, nhà bên, ai đang hát héo hon: "Thu sang cho lá vàng bay... lá rơi cho đám cưới về... Người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa... tình duyên đã lỡ...". Tôi bồi hồi lắng nghe, xúc động. Bài hát vô tình trùng hợp với tâm sự mình, lúc nầy. Hôm kia có chàng đãng tử ngậm ngùi tiễn cố nhân sang sông. Sông Đà Rằng cuồn cuộn nước nguồn đục ngầu như đào xé lòng hắn nát ra. Không thuyền không bến. Nhưng người đã đi bằng những chiếc thuyền lá... vàng lác đác mà gió heo may thả xuống ven sông. Bằng tấm thiệp hồng hắn xếp làm con thuyền giấy, thả xuống dòng nước vô tâm. Rồi vỗ tay than:
 
Người đi neo bóng bên bờ
Cho sông thêm tội nước chờ thuyền lui
Nước đau từng sợi ngậm ngùi
Cuốn tình tôi chiếc lá vùi đáy sông...
 
Có kẻ gặp hắn đứng trầm ngâm bên bờ sông suốt buổi chiều trông hệt như một... triết gia trông vời dòng nước "nhất khứ bất phục phản" mà suy gẫm chuyện đời ngang trái oái oăm. Hỏi không nói, thưa không ừ, đùa không giận, chọc không cười ; hắn chỉ ngón tay lên trời mây bàng bạc ra dấu bảo kẻ kia im lặng. Rồi thơ thẩn.
 
Chàng đãng tử ấy mang bộ mặt và hình dung của tôi.
 
Làm sao biết, tôi đang làm-ra-vẻ thất tình hay đang thất tình đau khổ thật sự mà không hay?
 
Cũng như, làm sao biết nguyên do Trình nhảy ầm xuống sông Hương tìm hồn Lý Bạch đêm nao, là vì say rượu? Say trăng? Hay ngông nghênh làm-ra-vẻ say-ánh-trăng-tan-trong-màu-rượu?
 
Hỏi ai? Ai đâu tá?
 
Tiếng trống múa lân vẫn vang dội khắp phố. Đèn đuốc lung linh. Trẻ con hát nghêu ngao ngoài ngõ. Mặt trăng như mỉm cười.
 
Bạn tôi, tôi đang buồn khóc! Khóc cho nàng Trăng, cô Hằng, chú Cuội. Khóc cho đứa-bé-là-tôi-ngày-nào bây giờ lỡ lớn khôn, trót nhìn thấy khuôn mặt lồi lõm xấu xí của nàng trăng qua những tấm hình các phi hành gia chụp được. Tội nghiệp chị Hằng Nga gánh cung Quảng Hàn, chú Cuội vác cây đa lên vai cao chạy xa bay khỏi cái trí-óc-người-lớn của tôi. Nhưng làm sao họ yên thân dệt chuyện thần thoại cho trần gian được, khi những dấu chân thô kệch dị hợm của Amstrong, Aldin ; những máy móc quỷ quái ác hiểm đột nhập chốn thần tiên kia?
 
Bạn tôi, Trình Ô Lâu, trăng chết rồi ư? Sau đêm ta bơi thuyền chạy rước nàng về nơi... siêu thoát. Vâng, Trăng sáng tuyệt vời một đêm đó thôi. Ngàn đêm sau, chỉ còn trăng bạc nhược, trăng cô phòng, trăng chinh phụ, trăng dặm trường, trăng chiến địa...
 
Và trời đất cũng chỉ có một mùa Thu Xưa Mơ Mộng. Nay, hàng năm, ta đón thu vàng, thu sầu, thu chiến trường...
 
Sông Hương đã loang màu khói lửa
Con đò đã thủng ván gãy chèo?
Người lái đò đã bỏ sông bỏ bến?
Đại Nội ngậm ngùi ôm phế tích tang thương.
 
Ngôi nhà cổ kính của Tú nghẹn ngào và tấm tôn viện trợ lên mái ngói rêu phong.
 
Vân sắp uốn cao mái tóc thề đen mượt màu gỗ mun.
 
Huế, nay còn lại gì cho ta? Trình vẫn hẹn tôi về, giữa một đêm thu. Và hai đứa luôn luôn lỗi hẹn.
 
Huế soi bóng cũ trong Bửu Tú, người thanh niên hoàng phái trụ trì ở đường Chùa Ông, hai mươi mấy năm nay, chưa đi ra khỏi Huế vài chục cây số, chưa nếm mùi đời, chưa hề làm tôi giận. Cứ giữ chặt chiếc chìa khóa mở cửa cái kho tàng kỷ niệm ngọt bùi thanh tao (như chén chè hạt sen lồng nhãn do tay Vân nấu), nghe Tú. Chờ tôi.
 
Tôi sẽ về ngồi giữa căn nhà thơm mùi cổ kính vương giả ấy nói chuyện ngày xưa. Như mười năm qua, tôi vẫn thỉnh thoảng quay về, xuống sông Hương tắm rửa bụi bặm giang hồ trước khi đến thăm Tú, chào Vân.
 
Nhưng tôi hiểu, sau mùa trăng này, nếu trở về Huế tôi sẽ không còn thấy bóng Vân nữa. Bởi, lòng đã ngăn cách một dòng sông! Lúc đó, lại có chàng đãng tử đứng trầm ngâm bên bờ suốt buổi chiều trông hệt... một thằng điên! Hắn sẽ tìm một con đò mặn thả trôi ra giữa dòng sông Hương, buông thả đời mình? Để lãng quên.
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
22-9-72              
 
(Trích tuần báo Mây Hồng số 16, tuần lễ từ 31-10 đến 7-11-1972) 
 
 
 

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

CHUYỆN LÒNG - Lê Thụy Vi

 
 
 
 
 
 
 
 
 
đang ngồi học nhớ nhau
trời mưa hay em khóc
kiểng tan trường đã lâu
chờ anh gom bở học
 
mưa đùa trên mái ngói
rớt xuống lòng bàn tay
mưa qua hồn bối rối
ngỡ rượu tình - nên say
 
che dùm em cuốn vở
ngăn mưa rào hỏi thăm
nói một lời bỡ ngỡ
cho em đỏ má thầm
 
mưa đọng giữa kẽ môi
một giọt tình xanh ngắt
em đừng nói nửa lời
kẻo tình rơi đi mất
 
mưa quấn quít bước chân
ngại ngùng không dám thở
nghe con chim nho nhỏ
hót vụng về dưới hiên
 
em cây sứ trổ hồng
trắng một đồi thiếu nữ
mưa xuống xanh tóc rũ
mưa khơi chuyện riêng tư
 
chuyện lòng ta mới tỏ
em má đỏ hây hây
 
                   LÊ THỤY VI 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 69, tuần lễ từ 21-9 đến 28-9-1972)