Máy bay đáp xuống phi trường Qui Nhơn, sau hai giờ nhồi đập, luồn lỏi dưới hàng lớp bụng mây trơn tuột. Hành khách nhiều người nôn oẹ ngay khi vừa vượt qua một phần ba đường bay. Mưa tạnh. Chiều ngự mênh mông phi trường trống. Bước xuống, ngạc nhiên thấy mình vẫn tỉnh táo, hình như trước đó anh đã ngủ một giấc ngon vùi, giấc ngủ nối hai thành phố và bất cần mây gió bên ngoài. Anh nhẩn nha nhớ lúc ngủ có mơ gì không. Chịu, không nhớ được. Gió lộng bốn bề, mặt đất lạo xạo sỏi vụn. Cái lạnh ở đây coi mòi hơn Huế một bậc và mấy nhịp. Cái lạnh dễ xui người ta cảm thấy lẻ loi khi đứng nhìn mông lên những chóp núi án ngay trước tầm mắt, mù sương nhạt khói. Anh ngẩn ngơ một phút giữa đám lao nhao cười nói của bọn người đồng hành, nhìn về hướng phố và bước ra khỏi "bầy nhặng" nhốn nháo đó. Chiếc xắc nhẹ hẫng, anh quàng lên vai đeo, dùng một tay níu giữ, tay còn lại thọc sâu vào túi quần ; với tóc bay, anh vừa đi vừa huýt gió như tên đãng tử đích thực. Đó là buổi chiều đầu tiên bước chân anh làm quen cát bụi thành phố em.
Con đường dẫn vào phố tương đối ngắn. Anh đi dưới những hàng hiên xa lạ, ném từng tia mắt vào tủ kính những quán hàng, chạp phô, ném lên bất cứ cái gì đụng phải. Sau một lúc do dự, anh đi quành vào công viên, bước lên mấy bậc cấp, đứng giữa căn nhà vuông lợp ngói, ngó mông bốn phía. Vẫn xe cộ, người, tiếng động, bầu khí ẩm ướt. Anh chợt nghĩ mình đã lầm khi bỏ Huế ra đi. Ở đây cũng cảnh vật, cũng cách bài trí phố xá chẳng khác gì Huế mấy tí, nhưng hình như nhạt tẻ hơn và rời rạc hẳn ra, mình chẳng ăn nhập vào nhịp quay trở nào cả. Dường như anh hơi buồn thì phải! Tiếp tục thả bộ dọc dài dưới những hàng hiên, chơi trò chắp vá những ý nghĩ không ra gì trong đầu, có lúc, anh suýt đâm sầm vào người nào đó trên đường, vội vàng xin lỗi, người nọ ngó anh bằng đôi mắt của Chúa Cứu Thế, làm anh suýt nổi giận. Phố lên đèn. Anh bước vào một khách sạn tương đối rẻ tiền, tra chìa khóa vào ổ mở cửa một căn phòng tối mò. Anh lần tay quanh tường tìm nút bật đèn, bật lách tách hai ba cái không thấy đỏ, anh bực bội định xuống tìm gã quản lý khách sạn xài xể một mách, nhưng lười biếng tính đoạn đường, xuống tới tầng dưới, phải đi quả dãy hành lang thẳng, một khúc cầu thang cong, đủ thấy mệt. Nằm trong tối cũng chẳng sao. Anh duỗi dài tay chân như tên chết đuối vừa được vớt ra khỏi nước. Khách sạn với những ồn động riêng của nó. Anh cố không để ý, nghe ngóng gì, tự nhủ mình có thể yên tâm nằm ngủ đến sáng, hoặc ngủ luôn, chẳng bao giờ trở dậy mà chẳng sợ ai tới quấy rầy. Lúc hai mắt đòi ngủ, cái bụng nổi lên gào thét. Đói. Anh chồm dậy. Qua hết khúc hành lang thẳng, quẹo xuống đoạn cầu thang cong, đụng đầu một đứa con gái đứng ở nấc thang thứ sáu. Ả đưa tay vuốt tóc, cười. Nụ cười sáng trắng, đầy răng. Anh chun mũi ngửi mùi nước hoa phả ra từ nắm xương gói trong chiếc áo bông xanh của ả, rồi khua hai tay, ra cái điều (ta đây) vội vã lắm.
- Đói và mệt.
Anh nói cộc lốc, chẳng cần biết ả nghe thấy không, cũng đếch biết ả cần mình không? Anh đi một mách tới nấc thang cuối, dừng lại trước chiếc bàn kê gần ngách cửa, nói với gã quản lý đầu hói ngồi trong chiếc ghế bành rộng:
- Ông ơi, trên kia không có đèn.
Gã dời mắt khỏi cuốn sổ, ngẩng lên:
- Thưa, phòng mấy ạ?
- Phòng 34, lầu 2.
Tự dưng, ý định xài xể gã biến đâu mất. Rõ ràng, anh đã nói với gã bằng cung cách hết sức lịch sự. Anh ra đường.
Giữa khoảng trống thụt lùi vào góc khuất bên hè đường, nhiều chiếc bàn vuông kê quanh cái xe phở ngút khói. Anh dồn vào bụng thứ nước nóng nổi lềnh bềnh những miếng bột mỏng sợi, thịt và mỡ, uống từng ngụm bia mát lạnh sảng khoái. Đó là tô phở và chai bia thứ nhất anh hưởng thụ ở thành phố em.
Khi cúi xuống bật lửa mồi thuốc, nghe ai đó gọi tên mình giọng lạ hoắc, anh ngẩng lên, đúng lúc bàn tay người nọ vỗ lên vai, hắn đứng lù lù trước mặt. Anh không giấu được niềm vui, vụt đứng dậy, kêu lớn:
- A! Thông, mày ở đây hả?
Hắn cười kéo ghế ngồi:
- Huế không chứa mày nữa hả?
- Mô có, tao tự ý bỏ đi mà.
Câu chuyện tiếp nối nồng nhiệt giữa men bia và khói thuốc. Khuôn mặt người bạn đẩy anh lùi xa về mấy năm trước. Anh hơi ngạc nhiên khi nghe hắn nói:
- Mày và tao xa nhau cũng gần ba năm.
Ba năm? Thời gian đó anh làm gì nhỉ? Ba năm, thằng bạn lưu linh qua bốn, năm thị trấn gì đó, giờ tạm dừng lại nghỉ mệt. Hắn cười hoan hỉ:
- Giờ tao khá rồi, có thể nuôi mày, sáng cà phê, trưa chiều cơm nước hẳn hòi, khỏi lo đói.
Anh hỏi hắn hiện làm thống chế gì, hắn gật gật cái đầu thưa tóc:
- Tí nữa về nhà rồi biết.
- Mày có cả nhà nữa à? - Anh ngạc nhiên kinh khủng.
- Tại sao không?
- Có lẽ thêm một mụ vợ và một bầy con nữa phải không?
- Tao vẫn độc thân.
Giọng hắn chợt tình cờ buồn bã. Hay chẳng buồn bã tí nào, cái buồn bã chỉ riêng anh tưởng thế cũng nên. Khuôn mặt hắn rắn, sạm dưới ánh sáng phù ảo của ngọn đèn đường từ ngoài hắt vào. Anh thấy ấm cúng khi nghe hắn nhắc vài ba kỷ niệm cũ, với giọng hết sức chân tình cảm động.
- Ba năm. Mày đã làm gì?
Hắn hỏi và trợn mắt nghe anh bảo chẳng làm gì hết. Lát sau, anh trở lại khách sạn, lấy hành lý, theo hắn về nhà.
Căn nhà hai phòng, mặt trước ngăn ra, kê hai dãy tủ kiếng đựng đầy sách, tiểu thuyết, giáo khoa, văn chương, tư tưởng, khoa học, bói số, kiếm hiệp... các thứ báo đặt từng chồng chìa ra ngoài khoảng hiên đìu hiu ngắn. Một tủ kiếng khác, nhỏ, thấp hơn mấy cái kia, đựng những bản nhạc thời thượng, bút mực, dụng cụ văn phòng, vé số kiến thiết. Vẻ sơ sài, nghèo nàn giấu giếm sau mấy xó ngách lấm bụi và màng nhện. Đó là thế giới của Thông. Mỗi ngày, hắn trịnh trọng ngồi sau chiếc quầy gỗ cam tâm, lơ mơ lạnh lùng nhìn ngày tháng trôi qua trên cuốn sổ chi thu, phiếu nhận hàng một cách cần mẫn, chí thú và can đảm. Anh ở lại với Thông một đêm. Sáng hôm sau, xách gói đi nơi khác. Bởi, ngó điệu dáng cần cù của Thông trụ trì sau quầy sách, anh đâm sốt ruột và, cảm nhận sâu xa mối bất ổn nào đó khi chạm mặt bà dì, ông dượng, cô em gái hắn. Thông giới thiệu anh với ông già ở gian kế bên. Anh há hốc mồm nghe hắn giới thiệu anh làm nghề dạy học. Ông già cẩn thận chiêm ngưỡng từ đầu đến chân anh, như thể ngầm đo lường coi anh có bao nhiêu ký lô mô phạm trong người, rồi khẽ gật đầu. Chỗ ở khá tiện lợi, căn nhà có cái gác gỗ, bên dưới dùng làm quán ăn. Anh đi về, ăn uống lúc nào cũng được.
Căn gác là nơi thờ phượng gia tiên ông chủ quán, ngay buổi đầu, ông cao giọng khuyến cáo:
- Tôi nể cậu Thông lắm mới để thầy ở trên, mong thầy giữ ngăn nắp, sạch sẽ cho.
Anh gật đầu, cố vẽ nụ cười phù thủy, xui ông ta yên lòng.
Gác khá rộng, có hành làng ngó ra khu vườn phía dưới, bên kia vườn, tiếng máy chạy nước đá nghe rõ mồn một. Đêm đầu tiên, anh không thể ngủ trước tiếng động náo hoạt đó, riết rồi quen, quen tới độ ghiền. Tiếng máy giữa khuya lắm lúc ngỡ in tiếng sóng biển.
Mỗi sớm mai, phố phường còn ngợp trong màn sương bịt bùng, Thông và anh thả bộ đến cái quán cà phê không tên ở bến xe, cách chỗ ở chưa đầy hai trăm thước. Quán cà phê của lão Tàu già, và đứa con gái mười sáu tuổi ốm nhom, có tài cầm một lúc 5 tách cà phê bốc khói trong tay không biết nóng. Ngồi ở đó, tán gẫu đủ thứ chuyện với những người tài xế. Nghe họ kể chuyện đường xa, đèo dốc hiểm nghèo, tai nạn, buôn lậu... Tiếng nói chuyện ngấm trong khí lạnh, tiếng nổ, mùi khói xăng ngầy ngật ấm cúng. Trong không khí ấy, anh tìm thấy sự thoải mái đích thực. Những nét mặt cần lao (đôi khi dính đầy dầu mỡ) cười, nói, chửi thề, văng tục dễ dàng, không có giới hạn nào ngăn cách giữa bọn họ. Khoảng 7 giờ, anh đáp xe lam đến trường, Thông trở về trụ trì sau quầy sách của hắn. Ngôi trường anh theo học nằm trong vạt đất trống trồng toàn dương liễu khá thơ mộng. Mỗi ngày, anh ôm vở đến đó, ngồi nghe những ông thầy luống tuổi giảng luân lý đạo đức ; những đức tính cần thiết, ắt có và đủ, đào luyện cho lớp người làm nghề gõ đầu trẻ trong tương lai. Anh ngồi ở đó và, nhiều lúc chẳng nghe thấy gì hết những lời giảng trơn tru hơn mỡ, trôi tuột ra khỏi trí óc anh hết sức dễ dàng, lao xao mơ hồ, không lượng không phẩm không mùi vị. Dường như, anh nhận ra mình chẳng có cơ duyên gì với cái nghề này. Hay nói cách khác, anh ngầm đồng hóa và coi chỗ lui tới hàng ngày như chỗ để nghỉ chân. Trường cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ ra đường, khỏi lo nhân viên công lực mời vào trại nhập ngũ sớm. Nghề gõ đầu trẻ là nghề cao quí, anh không coi thường nó, nhưng anh nghĩ nó tĩnh quá. Không ai hiểu mình bằng chính mình. Anh tự biết anh là đứa có máu hiếu động. Đó là khoảng thời gian buồn bã nhàm chán nhất thuở anh mới tới cư ngụ ở thành phố em.
Bích yêu dấu. Nhớ không? Anh gặp và quen Bích vào những ngày cuối mùa thu. Trời lắm gió, thưa mưa, lửng lơ mây trắng. Anh quen biết Bích qua Diệu. Diệu, bạn của Thông, gọi Thông bằng chú mỗi lần vào quán sách, dáng người nhỏ nhắn, loắt choắt, môi cười tươi và giọng nói mỏng như giấy pelure vò nát. Với dáng dấp đó, anh kết luận: Diệu thật dễ mến.
Một buổi sáng nghỉ học. Anh ngồi với Thông sau quầy sách, buồn vui theo những bước hành hiệp giang hồ của đôi trai tài gái sắc Vô Kỵ Triệu Minh. Bích tới mang theo cơn mưa nhẹ, làm nhòa cả nhan sắc "nguyệt thẹn hoa nhường" của Triệu Minh. Anh bỏ rơi Vô Kỵ, bỏ rơi Triệu Minh, ngẩng nhìn và, không thể rời khuôn mặt sáng trăng vừa bắt gặp. Đôi mắt đen xếch, hai mớ tóc úp mở hững hờ, phút ấy anh mơ hồ tiên cảm tâm hồn mình sẽ bị đóng chặt trong hai dấu ngoặc đơn (Hai dấu ngoặc đơn, chính là hai mớ tóc úp mở hững hờ của Bích đó. Biết không?) Diệu liến thoắng cười nói. Bích chạm cái nhìn chiêm bái nóng nảy của anh, bèn giận dữ gom hết ngôn ngữ trên trái đất thành một câu lí nhí:
- Lấy cho Bích cuốn Hóa học, chú Thông.
Mưa chẳng nhẹ nhàng quấn quít bằng giọng nói hôm ấy của Bích đâu. Anh bảo đảm thế. Và, cũng hôm ấy, anh đoan quyết, chưa có gã trai nào chóng si tình, ngơ ngẩn bằng anh, khi Bích kéo tay Diệu bước mau ra khỏi hiên quán.
Thông nhìn anh, đùa:
- Nửa hồn mày dại khờ rồi à?
Rõ ràng, hắn đã bắt quả tang vẻ ngơ ngẩn đìu hiu của anh, anh đành cười lấp liếm:
- Nếu biết sáng nay có nàng tới mua cuốn Hóa học, đêm qua tao đã viết sẵn vài lời ngợi ca vào cuốn Hóa học ấy, sáng nay đưa bán là vừa vặn.
Thông cười ngất:
- Nói dóc.
Dóc thật. Hồi đó anh dóc dàn trời mây.
Em đã tới và, chỉ có thể cho buổi đầu. Mấy ngày sau đó, anh như cậu bé mười bảy tuổi, mơ mộng hết sức. Hình ảnh Bích bay múa trong những giấc ngủ của anh, tựa cánh bướm chở vào trời một mùa xuân lạ. Từ đó, quãng đường tới trường anh trở nên xa diệu vợi, không sông cách núi ngăn, anh cũng thấy khó mà ôm vở đến đó đều đặn ngày hai buổi. Ngược lại, quãng đường tới trường Bích, theo lối dẫn ra biển, trở nên thật gần. Anh bắt đầu đi đếm gạch lát hai bên lề con đường ấy, hỏi thăm viên gạch nào, còn lưu dấu người ta thường đi qua? Không viên gạch nào chịu lên tiếng trả lời anh cả. Anh học tính nhẫn nại của loài ong, siêng năng ngày 4 bận đi về. Thỉnh thoảng gặp Bích và Diệu, anh vờ đưa mắt lên ngọn cây mỉm cười với nắng, nhưng thật ra hồn anh lúc đó muốn mọc cánh bay theo.
Một hôm anh bỗng can đảm lạ thường, không thèm nhìn đỉnh cây cười nắng nữa, gặp Diệu và Bích, anh mau mắn chào hỏi và, với sự nhanh nhẹn như sóc của bất cứ gã trai nào lúc gặp người mơ, anh "nhào" tới gợi chuyện. Không biết bữa đó khả năng văn chương thi phú của anh cho đứa nào mượn hết. Anh nhớ, hình như anh đã nói với Diệu:
- Diệu làm "trái độn" giữa anh và Bích, Diệu nhé.
Diệu nhìn anh cười. Danh từ trái độn anh học lóm ở mấy cái tin tức thời sự trên nhật báo. Hồi ấy, người ta xôn xao, bởi có dư luận cho rằng miền Trung sẽ bị cắt làm trái độn giữa hai miền Nam Bắc. Trái độn, theo anh nó như cây cầu bắc nối giữa anh và Bích qua Diệu. Diệu hiểu ngay, Bích ngơ ngác tí ti rồi ném sang anh tia nhìn sắc nhọn tựa mũi tên, anh không né tránh nên "bị thương" nhè nhẹ. Suốt dọc đường xanh bóng cây, chỉ có anh và Diệu nói chuyện, Bích giữ im lặng, cười góp. Anh mơ hồ nhận ra chút nồng nàn không màu nào đó ẩn quyện trong sự im lặng của Bích.
Những ngày tiếp theo, chúng ta gặp nhau đều đặn hơn. Anh thường cúp cua những giờ học buổi sáng đi đón Bích. Trường Nữ trung học gần kề mé biển. Hai hàng cây dương liễu reo gió. Cát trắng. Áo trắng in bóng xuống lòng anh trong. Mùa thu sắp dứt, từng đợt nắng mỏng đọng loãng dưới mặt trời ấm. Anh tha thẩn một mình, đợi giờ Bích tan học, hoặc vào các quán giải khát rủ bọn trẻ đánh bóng bàn. Lúc này Bích đã chịu "khai khẩu", chúng ta thường đi dạo một vòng trên biển, trước khi Bích phải về kịp giờ cơm ở nhà. Lắm lúc cả hai cùng im lặng suốt thời gian đi bên nhau. Bích tinh nghịch bốc cát dồn đầy cặp sách, đầy túi áo anh. Anh đùa:
- Đem cát về dồn đống lại, mai sau làm nhà.
Bích nguýt:
- Nhà để chi?
Anh đùa:
- Một túp lều cát...
Bích vội vã cướp lời:
- Và một anh chàng khùng.
Đại khái thế, chúng ta nói toàn chuyện vớ vẩn, nhưng nói chuyện chỉ là cái cớ, những cái háy và nguýt của Bích mới tuyệt vời. Đôi khi Bích kể luôn miệng về đủ thứ chuyện. Những chuyện vặt vãnh rtong đời sống và những điều trong ước mơ. Vừa nghe Bích nói, anh vừa ngước nhìn bầu trời cao, nắng lao xao trên hàng đọt lá xanh, thấy mình là kẻ hạnh phúc nhất xứ. Dù sao, Qui Nhơn cũng đã mở ra cho anh thấy vài màu sắc êm đềm. Bích hiền và dịu dàng là thứ sắc màu kết tụ trong anh niềm hân hoan hương mật. Đời sống, với anh, từ đó, không còn chỉ là sự nối tiếp nhàm chán của ngày và đêm, nó còn túa ra hàng trăm tay quyến rũ. Cây đời anh trổ toàn lá vui. Chim đầy hồn ríu rít. Ngày ấy, tình kết thành trái. Trái lo sợ cắn giữa hai bờ môi son sẻ, vỡ nên lời:
- Ở nhà đã biết, con Bích em thấy bọn mình đi với nhau, nó mách bố, bố nói phải lo học.
Cắn vỡ trái lo sợ xong, Bích đăm chiêu im lặng. Anh bối rối nhìn vẻ mặt lo âu đến tội nghiệp của em, cười trấn an:
- Ăn thua gì, kệ xác Bích em.
Nỗi sợ ghê gớm gấp ngàn lần anh tưởng. Bích bỗng đổi giọng cứng bất ngờ:
- Bố nghiêm lắm, không ăn thua à? Hay thôi đi.
Ơ hay! Anh nghĩ Bích quá vô lý, sợ cái không đáng sợ chút nào. Anh nóng nảy một cách đáng đánh đòn:
- Thôi thì, anh về đây.
Thế là tình ta đầy ắp thêm một cuộc giận. Bích quay lưng, bước nhanh gần như chạy vào cổng trường, mặc dù đang giữa giờ ra chơi. Anh liều lĩnh đuổi theo Bích, bọn học trò đứng lao xao dưới hàng dương xanh lá, tụm ba tụm bảy quanh sân trường xanh cỏ, cùng loạt mở lớn mắt ngơ ngác ngó theo chúng ta. Bích trốn biệt vào lớp học. Sự liều lĩnh gan lì của anh tới đó đành dừng lại, trở thành con số không. Anh đứng trên bậc cấp, ngượng muốn chết khi lũ nhỏ bạn em "a thần phù" sấn lại, vây quanh tò mò xoi mói. Anh vội vàng quay lưng, nhắm phía cổng trường chạy bay ra ngoài, cảm thấy những trận cười cỡi gió đuổi theo lạnh cả gáy. Trưa hôm ấy, về nhà, nuốt cơm không vô, vì cơn ngượng còn nghẹn cứng trong cổ, ngượng và tức muốn ứa nước mắt, anh soi gương, thấy mình mang khuôn mặt của kẻ buồn rầu nhất thế giới. Anh bỏ không thèm ra biển đón Bích ba bốn hôm. Cuối cùng, không chịu được nỗi áy náy ray rứt trong lòng, anh lại ra bãi tìm bọn trẻ rủ đánh bóng bàn, làm mặt lạnh như thể chẳng cần đợi ai hết. Dường như Bích biết điều đó (qua Diệu? Qua lũ nhỏ bạn tinh nghịch?) nên những giờ nghỉ cuối buổi học chẳng thấy Bích ra bãi nữa. Anh thấy hoảng thật sự cấp tốc đi tìm Diệu nhờ hòa giải.
Gặp lại nhau. Cơn giận rút lui nhường cho nước mắt. Anh lúng túng không biết dỗ dành cách nào. Những giọt nước mắt long lanh dưới nắng, phản chiếu màu xanh bao la của biển trước mặt chúng ta. Biển kính cẩn nghiêng mình trước những giọt lệ nồng nàn của Bích. Và Bích, dịu dàng ngồi xuống bờ cát ẩm mục, bên anh. Ngoài khơi xa, nắng chói lòa trên đỉnh Hòn Xanh, thấp thoáng vài cánh buồm lẳng lơ cợt gió. Anh đã nói gì nhỉ? Anh nói chuyện trên trời dưới đất và, thầm mong biển khuyên Bích đừng khóc nữa.
Có gì đâu mà khóc? Bích em biết, bố biết, cả nhân loại biết hai đứa thương nhau, mình cũng không ngán.
Bích lắc đầu nhè nhẹ. Có điều gì đó chưa thể nói ra. Anh cảm tưởng điều ấy ẩn giấu trong dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích. Cái dáng ngồi buồn bã đã in đậm vào suốt chiều dài tâm hồn anh, mãi mãi, tới bây giờ chưa phai. Dấu cát hằn chỗ ngồi rồi sóng sẽ xóa, nhưng bờ vai nghiêng, bàn tay chống, cụm tóc dạt bay... mãi còn là những nét vẽ chân phương nổi bật trên sổ ngày tháng thuở ta chưa biết thế nào là sự chia lìa. Bích nín lặng, tưởng chừng bờ bãi phút chốc thành hoang thiêng. Chúng ta cùng buồn in hai viên cuội nhỏ trước mênh mông biển lớn. Anh quì gối trên cát, nhìn thật rõ chân trời phía xa, nhưng không thấy môi Bích thốt lời nào. Anh thèm nghe Bích nói, Bích cười. Im lặng một chặp, anh lo Bích biến thành tượng trong cái dáng ngồi trông ngước xa xăm kia. Anh chợt tinh nghịch và ác độc như cậu bé lên mười, dùng đầu điếu thuốc hực đỏ dí vào cổ tay trái Bích, đang chống trên cát, yếu đuối tựa ngó sen non dưới tầm mắt anh. Bích mím môi chịu đựng được một lúc rồi bật cười, mắt bao dung khóe nhìn trách móc nhẹ. Anh thảng thốt không hiểu sao mình lại điên rồ chơi trò trẻ con đó, rồi lặng người hối tiếc. Dúm lửa hực đỏ đầu điếu thuốc đã ghi khắc vào da thịt em niềm đau đớn. Đó chính là niềm đau đớn đầu tiên, anh cho em.
Tối hôm ấy, gặp nhau giữa công viên. Bích đưa cổ tay trái cho anh dưới ánh sáng ngọn đèn đường. Vết bỏng mưng thành một bọng nước bầm đỏ. Bích tròn xoe mắt nghe anh nói khoác:
- Bích biết anh đã ghi cái gì trên tay Bích đó không?
Bích khẽ lắc đầu. Anh cười bí mật:
- Một dấu thánh.
Bích tỏ vẻ không hiểu dấu thánh là gì, ngay cả anh cũng không biết giải thích ra sao nữa. Và, thật tình cờ, câu giải thích của anh trở nên câu thề nguyền:
- Bao giờ cái dấu thánh này chưa phai thì anh và Bích chưa xa nhau.
Bích gật đầu đồng ý.
Từ đó, Bích mang dấu thánh trên tay, như là một bằng chứng yêu anh. Bằng chứng thiêng liêng thơ dại chỉ riêng hai đứa biết.
Để Bích em khỏi thấy, khỏi mách bố, chúng ta đồng ý với nhau mỗi tuần chỉ gặp gỡ một lần vào chiều thứ sáu. Từ đó, thứ sáu trở thành ngày mong đợi nhất trong tuần.
- Thứ sáu, buổi chiều, từ trước đến nay Bích vẫn nghỉ, giờ xách cặp "đi học" thế nào bố cũng nghi.
Bích nói, đôi mắt bối rối chớp nhanh. Anh e sợ nỗi lo sợ tức khắc ập tới, kéo theo cơn giận lẫy khác thêm rắc rối. Anh nói lẹ:
- Dễ quá, Bích chỉ cần ghi thêm vào thời khóa biểu bốn giờ sinh ngữ vào chiều thứ sáu, trình ổng xem là xong, trường dạy thêm giờ là chuyện thường.
Bích tươi cười gật đầu. Cả hai cùng thấy hạnh phúc, tưởng chừng muốn ôm nhau nhảy ầm xuống biển.
Về biển không xong, chúng ta tính chuyện dắt nhau lên núi. Chuyến xe lam băng qua nhiều khu vườn xanh mượt, bỏ lại đằng sau phường phố phức tạp, đôi mắt dòm ngó của Bích em. Chúng ta đến chỗ cư ngụ của người chết. Nghĩa trang Phật giáo nằm thoải dưới chân đồi nhiều đá lắm cây. Xa tít phía trái, nắng chếch rõ dáng Đức Mẹ đứng dang tay trên mộ Hàn Mặc Tử. Từng lớp bọt trắng òa vỡ dưới chân Ghềnh Ráng, không biết có làm nguôi lòng thơ nuối của người thi sĩ quá cố ấy không? Anh muốn có đêm trăng dẫn em lên đó, thử nghe im vắng đưa ta tới cõi nào. Nhưng đường vào mộ bấy giờ có những người lính Mỹ trấn giữ. Bước qua cổng nghĩa trang là lớp lớp cỏ may đưa tay chào đón. Hàng ngàn ụ đất, hàng trăm nấm mồ. Mỗi nấm mồ cho một người chết và, hoang vắng dành riêng cho chúng ta. Pho tượng Phật đứng trên bệ cao, không biết đã từ bao lâu, nước sơn cũ mèm dưới sức sương gió gội, đổi màu vàng xỉn. Đôi mắt ngưng thần vẫn cúi xuống. Nhìn pho tượng Phật cô độc giữa nghĩa trang, Bích kể:
- Hồi nhỏ Bích suýt đi tu. Vì giận bu nên bà ngoại dẫn Bích lên một chùa miệt núi, dạo còn ở ngoài Bắc cơ. Hai bà cháu ăn chay niệm Phật được nửa tháng, bu tìm lên khóc lóc đem về. Nếu Bích đi tu, sức mấy bây giờ anh gặp.
Lang thang trên những lối cỏ, để mặc tình gió mang niềm vui lên cao. Chúng ta say mê nói về tương lai, những toan tính cho đời sống mai sau ngay trên phần đất của người chết. Hết thảy mọi cặp tình nhân trên trần gian điên dại này, đều dìu nhau tới những chốn thần tiên mơ mộng, chỉ riêng đôi ta, mượn nơi nghĩa địa làm miền rong chơi. Đôi mắt Bích em đã vô tình biến thành mắt của mụ phù thủy săn đuổi và, chúng ta chạy trốn, né tránh hàng loạt mũi tên thành kiến bắn ra từ bu, bố, từ cái gọi là nề nếp gia đình, từ sự kỳ thị dòng giống man rợ, vô nghĩa lý. Bích chỉ biết thương yêu và cúi đầu tuân phục. Chúng ta thường trở về lúc cơn mưa cuối mùa ào tới xua đuổi. Một chuyến xe lam khác lại có hai chỗ ngồi. Anh vừa nghe mưa vừa gỡ vô số kim cỏ may vướng mắc trên hai tà áo Bích (bởi kim cỏ may có thể tố cáo với người nhà cuộc đi chơi của chúng ta).
Chừng nửa tháng sau, tình yêu lại lái qua thêm một chặng đường buồn. Bích bối rối bảo anh:
- Bu vừa từ Sàigòn về, bu biết chuyện. Một cô giáo ở trường Bích, bạn bu, đi thăm mộ bắt gặp bọn mình, bả mách lại với bu, bu quyết liệt lắm.
Đôi mắt Bích đỏ hoe, loáng ướt, chiếc cặp trên tay như muốn rơi tuột xuống đất. Bích nhìn anh bằng khóe nhìn của con chiên ngày tận thế:
- Bích đã khai hết rồi.
Anh hình dung khuôn mặt xấu xí của cô giáo vô duyên nào đó và vung trái đấm bâng quơ vào không khí. Cơn tức nghèn nghẹn trong cổ họng. Bố biết, bu biết ; Bích em mách rồi cô giáo mắc dịch mách thật rối chuyện. Hôm ấy, Bích nói nhiều, toàn chuyện lo âu buồn tủi. Tiếng nói lắm khi lạc giọng bởi nước mắt. Anh thấy, với tình yêu Bích hình như anh trở nên bé bỏng lạ kỳ.
18 tuổi. Trước mặt sau lưng Bích có gì? Bu người Bắc. Bố người Trung Hoa. Quê nội và quê ngoại Bích chưa bao giờ nhìn thấy.
Trí Bích mơ hồ hình ảnh Hà Nội thắp sáng từ những chuyện kể của bu: Quê ngoại thần thoại lung linh sau lớp lớp sương mù hoài niệm. Có lá bay bâng khuâng đường Cổ Ngư liễu yêu ma rủ tóc thương hồ Hoàn Kiếm. Những sáng mùa thu nắng lụa dậy thì vàng mơ đỉnh núi Ba Vì... 36 phố phường ao ước ngày trở lại rong chơi. Hình ảnh cô bé Bích hẳn ngu ngơ lắm giữa đêm 30 tết theo bu qua cầu Thê Húc hái lộc. Quê ngoại gần nhưng thật ra đã xa, như một tinh cầu nào khác. Bích tưởng tượng được cắn ngập răng những cam quýt bưởi bòng của các ngôi vườn rải dọc Việt Bắc mến yêu. Bích thèm rất nhiều thứ của Hà Nội, nôn nóng muốn về coi lại mảnh sân lát gạch tàu xưa, thời con gái bu thường chạy nhảy chơi đùa, coi lại những nơi chốn đã gợi hứng cho Nhất Linh, Khái Hưng... dệt nên những chuyện tình diễm tuyệt.
Và, trí Bích mơ hồ ấp yêu hình ảnh quê nội Trung Hoa vàng son qua ký ức bố: Quê nội bí mật trải dài vạn dặm rừng, tuyết, cổ lũy man thiên. Miền đất đã phát sinh ra những ông Lưu Bị, Quan Vân Trường dũng cảm, phi ngựa múa gươm dọc dài hơn ngàn trang Tam Quốc Chí... Học lịch sử Bích biết thêm: có một thời, những đoàn quân xuất phát từ quê nội, tiền hô hậu ủng sang xâm lược dày xéo quê ngoại một cách gớm ghiếc man rợ. Máu quê ngoại chảy róc rách qua cùm gông nô lệ của quê nội cả ngàn năm, để rồi kiên cường vùng lên dựng những trang sử bi hùng oanh liệt.
Bích chưa được thấy quê ngoại, quê nội, nhưng Bích yêu cả hai vì Bích yêu bu yêu bố, yêu những kỷ niệm gợi dậy từ chuyện kể của hai người. Những chuyện ảo mù, thần tiên như cổ tích.
Bích không hề biết ngôn ngữ quê nội, dù chỉ một chữ một câu. Bích nói giọng Hà Nội, pha lẫn in ít âm hưởng Bình Định, nghe vừa ngọt lòng vừa buồn rười rượi.
Anh tới từ nơi khác, không từ đất Bắc, không từ Trung Hoa, nên Bích không có quyền yêu anh và ngược lại. Bu lý luận thế, bố giữ im lặng và, Bích khóc.
Những ngày tiếp theo của tháng mười một quá đỗi buồn tẻ. Giữa hai thời tiết âm ui, trắng không ra trắng, xanh không ra xanh của trời đất, không dưng anh bỗng nhớ Huế lạ lùng. Mỗi đêm, con trăng thượng tuần vắt vẻo đầu vườn dẫn anh ra khỏi nhà, đi vớ vẩn ngoài phố, đến giờ giới nghiêm trở về gõ cửa, để nghe giọng càu nhàu ngái ngủ của mụ chủ. Anh trở lại trường đón Bích, đi với nhau một quãng đường ngắn, hoặc ngồi trong cái quán cà phê nhỏ thụt lùi bên mé trái con đường dẫn ra biển. Ngồi ở đó, ăn những chiếc bánh đậu xanh bùi bùi, uống những tách cà phê đậm đắng ngước lên nhìn màu trời ốm yếu xanh xao như tâm hồn Bích.
Một hôm, anh tới trường, gặp ông giám thị ở chân thang. Ông ta vui vẻ hỏi năm sinh của anh, đoạn nhẹ nhàng bảo:
- Vừa có thông cáo chính thức, những giáo sinh trong lứa tuổi anh không thể tiếp tục học nữa, phải nhập ngũ theo tinh thần luật động viên số...
Anh nói cảm ơn, chào ông giám thị. Vào phòng đọc cái thông cáo rồi nhận hồ sơ đi ra. Đứng giữa sân ngó lần cuối cái cột cờ, ngó dãy hành lang cao với sợi dây căng ngang phơi áo quần của bọn nữ sinh nội trú, lay bay phất phới cơ hồ cờ xí liên hiệp quốc, trí phẳng như mỏm đá và mắt lãnh đạm. Sự hăng hái bao giờ cũng vuột mất khi anh đang trên đà lao tới, hoặc có ý định tháo lui. Cái sắc luật động viên sẽ du anh vào thế sống mới, nhưng nào anh có thấy buồn bã gì đâu, dĩ nhiên, vui sao được. Anh ra biển đón Bích, báo tin cho em hay. Bích không tin, lắc đầu mỉm cười:
- Anh dọa Bích hả?
Khi anh đưa xấp hồ sơ, Bích mở lớn mắt ngạc nhiên, rồi nhét tập hồ sơ vào cặp. Cả hai cùng im lặng. Nắng mông mênh, ngọn cao chim bói, tới lúc ấy anh mới thấy buồn thấm thía. Anh tưởng Bích sẽ bật khóc, nhưng không, em chỉ cúi nhìn dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên cổ tay trái một phút, hai phút, ba phút rồi Bích ngước lên, nhìn mông ra khơi xa, thở dài:
- Bao giờ anh đi?
*
Anh rời Qui Nhơn, bỏ lại đôi mắt ngơ ngác của Bích, mặt biển lóa nắng, nghĩa trang đầy cỏ hoa, những con đường và số tháng ngày rơi hụt lại đằng sau mất hút. Ngày anh đi, Bích cúp cua hai giờ học đầu để ra phi trường, lần thứ nhất và cũng là lần cuối, Bích bỏ học không chút lo âu, thắc mắc. Cùng đi với Bích còn dó Diệu và Nghi. Thông không tiễn anh, vì anh không muốn và hắn cũng không muốn. Từng đợt mưa mỏng tạt ngang phi trường, buồn hết sức. Anh đứng bất động, nghe mùi vị trái xíu muội ngọt chua ngấm tan đầu lưỡi. Đưa xíu muội cho anh ngậm, Bích có nghĩ rằng tình yêu của chúng ta cũng chua lẫn ngọt như thế không? Bích cố giấu nước mắt, không khóc, đôi cánh mũi khẽ phập phồng, cố nén ẩn ức trong buồng ngực. Chưa bao giờ anh thấy em can đảm và yếu đuối bằng lúc đó.
Đến bây giờ anh còn nhớ rõ cảm giác sung sướng hạnh phúc, khi nhận được điện tín của Bích báo tin sẽ vào Sài Gòn. Cái điện tín nhận được hôm thứ tư. Chủ nhật mới được ra phép, thành thử những ngày thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, không thể nào ngủ được. Dầu thế nào thì cái chủ nhật mong đợi kia cũng tới. Anh, da sạm đen, tóc cụt ngủn, áo quần trận, hai chân mang hai chiếc bốt-đờ-xô mệt mề. Hai miếng vải xanh thêu tên và danh số may ngay hàng thẳng lối trên hai miệng túi. Bích, gầy như que diêm gói trong lớp vải màu hồng nhạt. Bích có vẻ lạc lỏng, bên anh, giữa phố đông người. Bích nói:
- Thật đáng tiếc, đi chơi với anh mà không mặc được áo dài, giờ về nhà thay lại sợ bu biết. Suốt tuần nay, ngày nào Bích cũng đứng ở cửa, thấy ông lính nào qua cũng nom, trăm ngàn ông lính đã đi qua, không có ông nào giống anh.
Anh nhìn bộ đồ cụt của em, cười:
- Như vậy cũng đẹp chán.
Chúng ta rẽ qua đường phố khác, tránh xa khu phố Bích ở. Bích hỏi:
- Bây giờ đi đâu anh?
Anh nói, giọng y hệt tên kịch sĩ trong các vở tuồng cổ điển, pha lẫn chút bông đùa:
- Anh sẽ đưa Bích đến một nơi xa hẳn loài người, ở đó có chim ca, suối hát và mặt trăng...
Bích tiếp lời:
- Và mặt trời và sao và mây và gió đủ hết, anh mơ mộng dữ.
Hai đứa cùng cười xòa. Anh đưa Bích vào một quán kem. Như tất cả các cặp tình nhân khác trên mặt đất này, sau thời gian xa cách, gặp nhau, chúng ta thao thao nói tưởng chừng như bất tuyệt về nỗi nhớ mong, gợi dậy những kỷ niệm cũ, nhắc lại tên một số bạn bè và thấy lòng ấm ngọt lạ lùng. Giọng Bích chợt khựng lại giữa chừng cơn vui:
- Bây giờ tính sao, anh?
Anh nhìn sâu vào mắt Bích, bắt gặp nỗi vô vọng nhú mầm qua những tia nhìn ướt:
- Còn thấy nhau lúc nào hay lúc đó, anh chẳng biết sao nữa.
Bích khẽ gật đầu như con cừu ngoan. Anh thầm lặng nhìn cổ tay trái Bích, nhìn cái dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên đó. Những tiếng sóng ngày xưa cũ bỗng vọng dội rách rưới trong hồn. Dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích và biển ngàn rực rỡ nắng thời nào cũng dựng dậy bằng những đường nét hoài niệm cay xót. Quấn quít. Mênh mông. Quay quắt. Bốn mắt chúng ta cùng cúi xuống dấu thánh mà tưởng chừng trông suốt qua nhau. Trời đất, rừng rú, phố thị, biển cả, con người, phút chốc nhạt mù hết, chỉ còn chút ân sủng bí nhiệm le lói trên một dấu thánh muộn phiền, nhỏ nhoi nhưng quí giá. Bằng chứng của một mối tình trong veo hơn nước lọc. Dấu thánh em đeo mang lang thang qua hết thời con gái, rồi tinh sương nào thức dậy sẽ không thấy nó, như chuỗi ngày mơ đêm mộng cũ đã biệt tích trong mênh mông đời ta? Hoặc một chiều cuối kiếp dấu thánh sẽ theo em khép mắt, lãng quên" Không, anh không muốn tin điều gì cả.
- Dấu thánh vẫn còn.
Bích cười buồn:
- Anh không thấy nó phai dần à? Có lẽ vì vết bỏng nhẹ quá. Sao hôm đó anh không đốt lâu hơn?
Sao hôm đó anh không nhân gấp đôi, gấp nghìn lần niềm đau đớn khắc ghi vào da thịt em, để hy vọng di tích ấy mãi còn? Anh rùng mình nghe lạnh. Giọng Bích âu yếm trách móc nhẹ nhàng, xui anh rũ.
Anh đưa mắt lơ đãng ngó ra đường: xe cộ, người, di động dưới màu nắng loãng. Lát nữa Bích sẽ đi ra, cuốn hút theo dòng đám đông lưu chuyển không ngừng đó. Chỉ cần sơ ý một chút, chúng ta có thể lạc mất nhau. Nói gì đến ngàn triệu năm sau, chúng ta là hai hạt bụi bay trong thinh không tìm kiếm. Chiều hôm đó, anh trở lại trại, lòng buồn vô hạn, như tên Do Thái trở về đất cũ, thấy nhà mình đã bị kẻ khác chiếm giữ.
Bích về Qui Nhơn. Mỗi tuần anh vẫn đều đặn nhận được một lá thư của em. Cho đến một ngày đầu tháng sau, anh nhận được cánh thư vỏn vẹn mấy hàng chữ bút chì trên miếng giấy xé ra từ tập vở học trò. Bích viết: "Cái dấu thánh đã biến mất, không còn trên cổ tay Bích nữa anh à. Có phải đó là điềm gở không?".
Sau cái thư đó, anh chẳng bao giờ nhận được thư nào của Bích nữa. Chúng ta lạc mất nhau trên mặt đất trùng trùng tai ương, bụi phủ này.
MƯỜNG MÁN
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 118, tuần lễ từ 13-9 đến 20-9-1973)




