Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

CHƯƠNG 4, 5, 6_TAY NGỌC


4


Ngày 6-10...

Thưa mẹ,

Sáng chủ nhật vừa qua con đã đến Viện Cô Nhi từ lúc trời còn sớm. Vào giờ ấy người phụ trách hãy còn đang bận rộn quét dọn những đám lá rụng xơ xác trên khắp mặt sân sỏi. Bầu không khí mùa thu gây lạnh bao trùm khắp cảnh vật với những cơn gió heo may đầu mùa và những khóm lá ẩm ướt. Con chạnh nhớ đến những ngày đã qua trong kỷ niệm. Vào những ngày nghỉ như hôm nay, giờ này, bao giờ bóng dáng của mẹ con cũng thấp thoáng bên cánh cửa sắt ngoài cổng trường. Bà bận quần đen, áo đen đầu choàng một cái khăn voile cũng màu đen nữa. Ở giữa một đám đông các phụ huynh gồm đầy đủ các màu sắc rực rỡ, lòe loẹt của các tà áo, bóng dáng của bà hiện ra như một biểu hiệu của sự trang nghiêm, trầm lặng nhưng cô đơn và lạnh lẽo. Trong lúc đứng chờ để được gọi tên, con đã nhìn thấy bà nhưng bà không nhìn thấy con. Khuôn mặt bà thật buồn. Cặp mắt sâu, đen và xa vắng. Con mong bà nở một nụ cười với bất cứ kẻ nào đứng cạnh bà. Nhưng bà không nói, không nhìn ai cả. Chỉ đến lúc con thoát được ra ngoài cánh cổng sắt, xô lại tưởng như muốn bay bổng tới ngay phía bà, thì khuôn mặt của bà mới vụt tươi lên, nụ cười vụt hé nở trên đôi môi mộc mạc không phấn son, và bà đã giang cả hai cánh tay ra ghì chặt lấy thân hình bé bỏng của con như ghì lấy tất cả sự sống.

Ôi, thưa mẹ bề trên, con không hiểu tại sao con đã vô tình khơi lại những kỷ niệm cũ của con trong lá thư này. Có lẽ những giây phút này, ngồi trong bàn làm việc, mắt nhìn qua khung cửa kính trông xuống khoảng sân trường vắng lặng xác xơ rụng đầy lá vàng, mọi hình ảnh quen thuộc êm đềm ngày xưa đã sáng lên rực rỡ trong tâm tư của con. Nào con có còn lại gì đâu ngoài những hình ảnh ấy, kể từ khi mẹ con đã mất. Cho nên nếu con có làm mất đôi chút thì giờ quí báu của mẹ bề trên, con cũng xin mẹ vui lòng tha thứ.

Con xin nhắc lại từ lúc con đến Viện Cô Nhi thì cổng ngoài còn đóng im ỉm. Hai tay con lủng củng nhiều đồ lề. Đó là những món quà của các bạn cùng lớp con quyên tặng. Con đã kéo cái chuông bên bờ tường với tâm trạng của "một người lớn". Ồ, con không là người lớn sao, khi con đi đến chốn này với nhiệm vụ chứ chẳng phải rong chơi hay đùa nghịch. Giống như hồi đêm hôm qua, lúc con dạo một bài dương cầm cho ma soeur Félicité nghe trước khi đi ngủ, ma soeur Félicité đã ôm con vào lòng, hôn lên mắt con và nói:

- Tiếng đàn đã khá lắm rồi. Những âm thanh này là những âm thanh của một người lớn.

Con đã rúc vào ngực bà nói nũng nịu:

- Thưa ma soeur, nhưng con bao giờ cũng là con bé bỏng của ma soeur.

Và con đã ngoan ngoãn như một đứa trẻ lên năm, đi theo bà để bà dìu về phòng ngủ.

Ông già gác cửa nghe tiếng chuông kêu đã vứt cái chổi và chạy ra với bộ mặt cằn nhằn:

- Làm gì mà gọi rối lên thế. Hôm nay chín giờ mới mở cửa cho vào thăm.

Con đáp:

- Thưa ông cháu không phải người ngoài. Cháu đến giúp việc.

- Ai mướn cô?

- Chẳng có ai mướn cả. Cháu tự ý thôi.

Ông già nhìn con từ đầu xuống đến chân rồi nói:

- Vậy ra cô tình nguyện. Tốt lắm chúng tôi đang cần người.

Đoạn ông tra cái khóa vào ổ và mở cửa cho con vào. Sau khi cầm giúp con mấy món đồ lặt vặt, ông lại nói:

- Cô chịu làm tất cả mọi việc đấy chứ?

- Dạ chịu, miễn là vừa sức của cháu.

- Tốt lắm. Cô đi xuống dưới này, tôi còn một nửa cái sân chưa quét, lá rụng đến úa mục cả ra, cô làm nốt hộ.

Nói rồi ông lão ấn ngay vào tay con cái chổi mà ông ta đang quét và vừa quay đi vừa nói:

- Chừng nào xong, cô trao lại chổi cho tôi ở buồng xép phía sau.

Con vui vẻ nhận lời và cúi xuống chăm chỉ làm việc. Mãi đến nửa giờ sau công trình của con mới hoàn tất. Người con lấm tấm mồ hôi, mặc dầu có những trận gió lành lạnh thổi xao xác trong các khóm lá.

Lúc con gặp lại ông ta, thì ông ta lại trao cho đầy đủ thứ việc: rửa một chậu đầy bát đũa, ly chén sặc sụa mùi rượu trắng, thu dọn lại cái bếp nhỏ ngập ngụa những lá bánh, vỏ trái cây và xương xẩu gặm nham nhở vứt đầy trên nền đất, cuối cùng là công việc xách những thùng đổ đầy một cái lu lớn.

Mãi đến gần chín giờ mới xong việc, nhìn quanh thì ông lão đã bỏ đi từ bao giờ. Con thu dọn đồ lề rồi lên lầu tìm gặp chị Yến. Chị ta nhìn con và bĩu môi:

- Tôi biết mà! Rồi chỉ trong hai, ba kỳ nữa cô tới đóng cái cổng ngoài giùm chúng tôi lúc hết giờ là vừa vặn.

Con tức mình cãi:

- Đâu có! Em tới từ lúc trường hãy con sương mù.

- Vậy cô đi đâu suốt từ lúc đó đến bây giờ?

- Em giúp ông lão coi vườn làm việc. Quét sân này, rửa bát này, dọn bếp này, xách nước này...

- Có phải cái ông già có hàm râu cá chốt ở cằm này không? Có phải cô dọn dẹp ở mé nhà đằng sau không?

- Phải.

Chị Yến phá lên cười:

- Cái lão già mắc dịch đã đánh lừa cô rồi. Việc ấy là việc riêng của lão, ai bảo cô rỗi hơi đi làm. Hồi hôm, lão say rượu rượt vợ chạy có cờ. Hôm nay ở nhà chỉ có một mình lão, lão lợi dụng bắt cô làm đó!...

Nói xong chị Yến kéo con vào lòng tỏ vẻ thương hại và yêu mến. Đó là cử chỉ rất đặc biệt mà chưa bao giờ con thấy chị biểu lộ  ra với ai. Những lần trước gặp chị, bao giờ con cũng thấy chị cau có, gắt gỏng, như thể ở trên đời này, không có việc nào, không có con người nào hợp được với ý thích của chị vậy.

Sau đó con đã giúp chị cho lũ trẻ ăn sữa và bánh mì buổi sáng. Chị Yến trao cho con một khúc bánh mì và một ly sữa nhưng con từ chối và nói:

- Thôi để cho chúng nó, em không đói chị ạ.

Mặt chị đang tươi bỗng lại sầm xuống và chị gắt gỏng:

- Bộ tưởng cô ăn hết phần của chúng nó sao. Ê hề ra kia kìa. Được cái đồ ăn ở đây thì không thiếu. Một hãng bánh mì đã tặng không cho viện mỗi ngày một sọt!

- Nhưng em không có thói quen ăn sáng.

- Về ăn uống thì chẳng có ai quen cả. Đã làm thì phải ăn. Có ăn thì mới làm được, cô còn giở thói ra nữa thì tôi không chịu nổi cô nữa đâu.

- Vậy em xin một chút thôi nhé.

Chị Yến phá lên cười:

- Một chút à? Cô cứ thử cầm cả khúc này coi. Tôi coi cái mồm huếch ra thế kia cô lại không vật bay ba khúc nữa ấy chớ!

Nói rồi, chị ta trao cho con nguyên cả một cái bánh. Lời nói lỗ mãng nhưng đượm lòng yêu thương của chị mang lại cho con một nguồn vui mới lạ bởi vì trong những ngày sống bên cạnh má con hay dưới sự chăm sóc của Soeur Félicité, con chưa  bao giờ được ai tỏ lòng yêu thương bằng tính cách "quyết liệt" đến như thế.

Ăn sáng xong, con phụ giúp chị Yến đi rửa ráy cho lũ trẻ rồi đặt chúng nó ngồi trên một tấm ghế dài. Con hỏi:

- Làm sao cho chúng nó nói? làm sao cho chúng nó cười?

Chị Yến nhún vai:

- Tôi đố cô đấy. Nhưng tôi cấm cô không được bế một đứa bé nào lên tay quá năm phút. Nó mà quen thói đi thì rồi chính nó khổ.

Nói rồi chị kéo cái ghế đưa lại gần phía cửa sổ và cắm cúi đan. Còn về phần con, con đã bầy ra trước mặt mỗi đứa một món đồ chơi và hỏi han từng đứa. Nhưng vẻ mặt của chúng bình thản đến độ như không thể có một nỗi cảm xúc nào lộ ra được. Nhất là Thục, đứa em nuôi của con lại còn tệ hơn nữa. Mặt nó rầu rầu, cặp mắt lờ lững, vành môi khô héo không muốn nhúc nhích ngay cả khi có những con ruồi chạy nhẩy ở trên đó. Con cầm lấy tay Thục và làm điệu bộ khôi hài với nó. Nó nhìn con rồi lầm lũi quay đi. Bỗng một ông y tá mặc áo trắng đi qua, ông ta đứng dừng lại ở ngay mé đằng sau con và nói:

- Hà hà... bất hợp tác hả?

Thấy con quay lại, ông ấy lại tiếp:

- Tôi giúp cô nhé!

Nói rồi ông ấy trợn mắt lên nhìn Thục. Cái miệng ông ngoác ra, cái lưỡi ông thè ra thật dài, hàm răng của ông mọc bừa bãi, lổn nhổn. Bộ mặt ấy làm Thục hết hồn. Nó vừa trừng mắt lên nhìn ông với vẻ sợ hãi thì vừa vặn ông lại phát cho nó một cái vào mông đau điếng. Thục chóe lên khóc. Con vội ôm chầm lấy nó. Hai tay nó níu lấy cổ của con thật chặt như cầu xin một sự che chở. Thật là kỳ diệu. Chỉ trong vòng không đầy một nháy mắt, con đã mua chuộc và làm rung động được vùng tình cảm khô khan của con bé. Con nhìn ông y tá bằng một cái nhìn cảm tạ nồng nàn, nhưng bóng dáng cao lêu đêu của ông đã khuất sau cánh cửa, chỉ còn để lại một tiếng cười dài.

Sự ồn ào ấy làm chị Yến ngửng đầu lên. Mặt chị đỏ rần, cặp mắt long lanh sáng, chị dẩu mồm nhìn theo ông ta và cất tiếng chua ngoa:

- Thừa cơm rửng mỡ chưa? Khi không cũng đến cấu nó một cái cho nó khóc.

Nhưng chị không hiểu được nỗi vui mừng của con lúc ấy. Lợi dụng tiếng khóc của Thục, bất cần luật của chị đặt ra, con đã bế thốc Thục chạy về cuối dẫy hành lang để vào tìm khăn lau mặt cho nó. Con bé nín khóc. Trong ánh mắt của nó đã rạng lên một niềm vui yếu ớt. Lợi dụng được cơ hội ngàn vàng này, con đã hỏi han chuyện trò được với Thục. Mặc dầu nó không trả lời con, nhưng trông nét mặt và ánh mắt của nó, con biết nó đang đi gần tới sự thông cảm, lòng yêu thương mà con đặt vào nó. Một lát sau thì nó cười. Nụ cười tuy héo hắt nhưng làm rạng rỡ hẳn khuôn mặt buồn hiu mọi ngày, như thể trong một bầu trời u ám của những ngày mưa ròng rã bỗng vụt hiện lên những tia sáng yếu ớt của vừng thái dương sắp ló dạng.

Một lát sau con mới bế Thục trở lại. Lúc này ông y tá đã lại xuất hiện ở bên khung cửa sổ đối diện ngay với cái ghế mà chị Yến đang ngồi. Chị đang có vẻ giận dữ, kỳ kèo về cử chỉ lúc vừa qua của ông ta. Còn về phần ông thì ông chỉ đáp lại bằng nụ cười, tiếng cười hể hả dễ dãi phô ra một hàm răng lổn nhổn và to như răng ngựa. Chị Yến nói:

- Sao ham cười quá vậy? Mình cười để bắt con người ta khóc mà chịu được hả?

Ông y tá đáp:

- Vậy thôi nhé. Từ nay tôi không cười nữa. Về nhà má tôi có hỏi, tôi đổ thừa cho cô nhé.

- Ông có má hả? Vậy tôi sẽ mách má ông về tội ông bắt nạt trẻ con cho ông coi.

- Thế thì tôi xin chắp hai tay vái cô mười cái, cô mà mách má tôi thì tôi chết.

Chị Yến bật cười:

- Bộ ông sợ má lắm hả. Bả chắc là dữ đòn.

- Dữ thì không dữ nhưng bả bắt tôi cưới vợ. Eo ôi! Tôi thiết tưởng tôi mà phải cưới vợ thì tôi chít.

- Sao mà "chít"?

- Tại tôi chưa gặp một người nào hợp với ý muốn của tôi. Nhưng tôi thiết tưởng rằng tôi sắp gặp rồi đó.

Mặt chị Yến bỗng đỏ rần. Chị ném cuộn len xuống ghế và chạy lại bế một em nhỏ đang ngồi lên.

Thật là một sự lạ, trái với nguyên tắc khó khăn mọi ngày do chính chị đặt ra. Đó là không có bế ẵm một đứa nào lên tay cả.

Lúc ông y tá đi rồi chị Yến vẫn còn có vẻ bồi hồi. Sự bối rối biểu lộ bằng niềm vui bất ngờ hiện trên nét mặt của chị mà chị muốn giấu cũng không được. Suốt buổi ấy, hai chị em nô đùa vui vẻ với lũ trè con.

Trên dẫy hành lang mọi ngày lặng lẽ và buồn tẻ, bỗng rộn rã những tiếng cười hồn nhiên và vô tư.

Thưa mẹ, con nghĩ rằng đó là tiếng cười phát xuất từ nguồn tình cảm bắt đầu bởi sự yêu thương. Chỉ sự yêu thương mới xóa bỏ được hết nỗi ưu tư và nhọc nhằn của tất cả mọi người.

Con nguyện sẽ vì tình yêu thương đó mà tận tụy hết lòng.

HẠNH    



5


Ngày 10 tháng 10.

Thưa mẹ,

Đáng lẽ ra, để khỏi làm mất thì giờ quí báu của mẹ, con chỉ được tường trình với mẹ về công tác từ thiện mà con đang làm để thực hiện lời con hứa nhân ngày kỷ niệm thánh Antoinette, vị thánh bổn mạng của mẹ. Nhưng qua những lá thư mà con đã gửi mẹ, bỗng nhiên con tìm thấy một con đường vụt mở rộng trước tương lai của con. Con đường mà con thấy đầy hoa thơm cỏ lạ, ở đó thời gian được làm ngừng lại, muôn ngàn sự việc kết tinh thành những ý nghĩ thuần khiết, và con sẽ đem những ý nghĩ ấy kết thành từng trang giấy để gửi mẹ. Cũng con đường ấy, con cảm thấy càng đi sâu vào, tâm hồn con càng xao xuyến nhiều nỗi niềm rung động. Con đã nghe thấy tiếng nhựa sống chuyển mình trong thân cây, tiếng thở dài của một chiếc lá úa nằm phơi mình trên nệm cỏ hay những lời lẽ âm thầm chuyển đi qua tiếng chuông nhà thờ ngân nga vào những buổi chiều sắp tắt. Con đường mà con tin chắc rằng nó sẽ dẫn con đi tới một thế giới kỳ lạ, ở đó cảnh vật hòa lẫn với ý nghĩ, chỉ cần tâm niệm và gìn giữ cho ý nghĩ của mình trong sáng thì bầu trời cũng sẽ trở nên quang đãng, cây cỏ trở nên tốt tươi và số phận hẩm hiu của những cuộc đời khốn khó cũng được chiếu sáng bằng ánh sáng của tình thương yêu và nhân ái. Con đường ấy là sự gợi lên tiếng nói của yên lặng bởi vì chỉ có sự yên lặng mới hàm chứa đầy đủ mọi âm thanh gây ra bởi những việc làm tốt đẹp cũng như xấu xa. Sự kỳ diệu này chứng tỏ trong đoạn văn của Georges Duhamel viết về đoạn Quang cảnh Ba Lê nhìn từ tháp nhà thờ Notre Dame mà con mới đọc được trong một cuốn sách giáo khoa.

"Có một lúc im lặng kéo dài. Người ta nghe thấy từ dưới đất vọng lên những âm thanh, không phải là tiếng ồn ào hỗn tạp mà là cả ngàn tiếng động, cả ngàn tiếng riêng rẽ và khác biệt. Người ta nhận ra từng tiếng xe chạy, tiếng vó ngựa từng con, tiếng giầy của mỗi kẻ đi đường, tiếng rao của người bán hàng, tiếng gọi của một bà mẹ, tiếng còi của bộ máy, tiếng cọt kẹt của một cánh cửa, tiếng vĩ cầm than thở, tiếng chuông ngân nga, có lẽ cả tiếng động của một đồng bạc cắc, và bỗng nhiên có tiếng trong trẻo của của bọn trẻ đang chơi đùa trong sân Tòa Giám Mục, tiếng chúng reo hò, ca hát, nói năng, gần như nghe thấy cả hơi thở của chúng...

- ... Bởi vậy mà em tin là Chúa ở trên cao phải nghe thấy tiếng động của trần gian, chắc Chúa cũng như chúng ta trong giây phút này, phân biệt được lời than van của người này, tiếng kêu la giận dữ của kẻ kia, tiếng ca vui của người nọ. Giá mà thính tai thêm một chút nữa thì em có thể nói: Có một người thọt cũng đang đi, có một công nhân đang tất tả vì sợ bị đuổi, và có một thằng bé đang nói dối lần đầu tiên".

Thưa mẹ, con tin rằng chỉ những nghệ sĩ đi theo con đường mà con đang trình bày với mẹ mới có thể thấu suốt được vạn vật một cách sâu xa và kỳ diệu đến như thế.

Bởi vì chính con đường ấy đã biến nghệ sĩ thành sứ giả, thông ngôn lại tiếng nói thầm kín ẩn sâu trong những ước vọng của con người, để đem đến cho cuộc sống một sự thấu hiểu và cảm thông.

Con đường ấy còn là lối thoát mở cửa cho những tâm hồn hèn mọn như tâm hồn của con, cho những cuộc sống thấp kém như những cuộc sống của chúng con được có cơ hội nhìn lên cao, sung sướng, thẳng thắn và hãnh diện.

Thưa mẹ bề trên,

Con đường ấy chính là sự sáng tạo, là lãnh vực của những người cầm bút, là xứ sở do những ngôi sao sáng từ lâu đã trị vì, xứ sở của Alphonse Daudet, Anatole France, của những tác giả mà con được các ma soeur cho phép đọc trong tủ sách của thư viện nhà trường.

Con xin được làm một thần dân bé nhỏ và mới mẻ của những vị vua sáng chói ấy. Nhưng khác một điều, là bạn bè của con, những nhân vật của con, những sự việc mà con sẽ nói tới sẽ mãi mãi chỉ là những tuổi thơ đau khổ mà chính nhờ ở mẹ, con đã được biết tới, cảm thông và quyết phơi bày lên trang giấy. Con sẽ không có cao vọng in những hàng chữ thô sơ này  thành sách, con cũng không có cao vọng mong tất cả mọi người sẽ cùng đọc lên những ý nghĩ thầm kín của con mà con tự hứa sẽ chăm chỉ viết hàng ngày một cách đều đặn. Con chỉ xin coi việc làm đó như ý nghĩa của một sự tự nói chuyện với mình, một cách du ngoạn trong thế giới kỳ ảo của nghệ sĩ và con chỉ xin tường trình những điều đó dưới cặp mắt khả kính của mẹ. Chỉ cầu xin mẹ chấp nhận cho con điều đó là con đã đủ thấy lòng vô cùng sung sướng một cách trọn vẹn lắm rồi.

Thưa mẹ,

Đã có lần con trình bày với mẹ về trường hợp của Cúc, cô con gái có khuôn mặt trái soan, nước da đen ngâm ngâm, cái trán bướng bỉnh và đôi mắt lúc nào cũng mang vẻ hận thù. Thu Cúc là con của một gia đình không lấy gì làm nền nếp lắm. Ba của Cúc có vẻ không thương yêu gì đứa con gái mang số phận hẩm hiu này. Bởi vì Cúc là con của người vợ trước. Mẹ Cúc mất đi từ năm Cúc lên tám, cho đến bây giờ thì Cúc đã mười bẩy. Chín năm trời sống thiếu thốn tình thương, hoàn cảnh biến Cúc thành một cô gái quá quắt, ích kỷ, cô đơn và đôi khi còn độc ác một cách rất bình thản nữa. Trong lớp Cúc học hành một cách lơ đãng, không bao giờ Cúc chịu tìm hiểu những điều hay trong giáo lý, không bao giờ chịu khuất phục hoàn toàn trước bất cứ một ma soeur nào ở đây cả. Sự vâng lời của Cúc bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa bị đè nén, áp bức và tia mắt của Cúc luôn luôn phát ra cái ánh sáng của sự oán hờn hay thù hận. Như thế, tất nhiên những thái độ của Cúc chẳng thể nào chiếm được lòng tin yêu của các soeur trong Thánh Mẫu học đường. Tuy vậy các bà vẫn để cho Cúc yên ổn với sự cô độc của nó, miễn đừng phá phách hay lôi cuốn những người khác vào vòng tối tăm, mờ ám đang ám ảnh tâm hồn của Cúc. Một đôi khi có giận dữ lắm thì bà Madeleine chỉ hét lên thật lớn:

- Đổ quỷ dữ! Đồ quỷ dữ định phá phách cái gì ở đây chứ!

Rồi bà vùng vằng bỏ đi, khuôn mặt đỏ rừ, làn môi mỏng của bà tái lại và trở nên run run. Mỗi lần như thế Cúc đều bị phạt ăn cơm với muối trắng. Và bao giờ Cúc cũng lại phản đối bằng thái độ không ăn uống gì cả rồi tìm cách thủ tiêu lọ muối trắng vào bất cứ một xó xỉnh nào mà có khi cả tháng sau do một sự tình cờ người ta mới tìm ra.

Một lần trong bữa ăn, bốn chị bị phạt repas sec. Đó là chị Nguyệt Hồng, chị Lucie, chị Thanh Thảo và Thu Cúc. Bốn người được dọn riêng một bàn và có bà Cécile trông coi. Bà đứng nghiêm trang như một viên cảnh sát đắc lực, cặp kính trễ xuống tận sống mũi để lộ ra hai con mắt lạnh lẽo một cách dữ dội lúc nào cũng gườm gườm nhìn các chị như sẵn sàng vồ lấy một chị phạm lỗi để quất vào mông chị ta đau điếng. Điều đó khiến Nguyệt Hồng, Thanh Thảo và Lucie len lét như cố thu nhỏ lại trên mặt ghế. Các chị ấy cố gắng nhai những miếng cơm khô khan bằng một vẻ hết sức uể oải. Chỉ có Cúc là vẫn giữ nguyên vẻ bình thản. Nó gẩy từng hạt cơm vào miệng một cách rời rã, không chú ý trong khi đó cặp mắt của Cúc nhìn miệng ba người kia với ánh tinh nghịch. Hình như Cúc có vẻ khoái về sự có bạn đồng hành trong hình phạt của các soeur giáng xuống. Nhưng bà Cécile đã không để cho Cúc được ngắm người ta lâu hơn. Ngọn roi của bà đã chĩa vào đúng ngay giữa cằm của Cúc và đẩy từ từ cho cái đầu của nó ngay lại. Vừa làm bà vừa nói:

- Hãy lo lấy phần của mình. Phải vừa ăn vừa suy nghĩ về tội lỗi của mình đã gây ra. Như thế lần sau mới nhớ mà chừa đi được.

Cúc buông ngay đôi đũa xuống bàn và nói:

- Thưa ma soeur con đã suy nghĩ rồi và con thấy con không có lỗi gì cả!

Căn phòng đang rì rào tiếng nói nho nhỏ bỗng im phăng phắc. Tất cả mọi người đều ngừng tay và hướng về phía Cúc với một vẻ hồi hộp. Con bé gớm thật! Chỉ có một mình nó là dám ngang nhiên nói lên những điều mà nó đang nghĩ. Còn tất cả ở đây không một ai có đủ can đảm để làm công việc ấy, cho dù ai cũng tự cho rằng mình bị thọ hình một cách oan uổng cả.

Lời nói của Cúc làm bà Cécile giật thót người lên. Ngọn roi hạ từ cằm xuống vai của Cúc một cách sững sờ. Trong khi đó cặp môi hồng và mỏng của bà Cécile bắt đầu tái lại và trở nên run run. Bà xốc lại cái gọng kính cho khỏi tụt xuống trễ trên sống mũi rồi bằng tất cả sự cố gắng để nén cơn tức giận của mình bà ráng sức nở một nụ cười, nhưng trong hoàn cảnh ấy, phù hợp với vẻ mặt ấy, nụ cười như bị méo đi, kéo hai bên mép của bà nhếch lên làm làn da ở má đã rúm ró lại càng trở nên rúm ró. Vì thế trông bà đầy vẻ dữ dội, sự dữ dội hàm chứa một vẻ thâm trầm, nguy hiểm. Cười xong mặt bà Cécile vụt lạnh băng lại và lần này thì bà cất tiếng nói, đủ to để cho tất cả mọi người nghe thấy:

- Các soeur không xét xử ai oan uổng bao giờ. Nhưng nếu Thu Cúc thấy là mình bị oan uổng thì tôi cho phép cô trở về bàn ăn chỗ mọi ngày và tôi tuyên bố là hình phạt repas sec hôm nay còn có ba người.

Rồi bỗng nhiên bà đổi giọng:

- Thế nào, chị Nguyệt Hồng, chi Lucie, chị Thanh Thảo, các chị có thấy rằng mình bị oan uổng không?

Cả ba người vội vàng líu ríu nói:

- Thưa ma soeur không... chúng con xin nhận tội và xin hứa xin chừa...

Mặt bà Cécile tươi lên, bà "à" lên một tiếng thích chí, vành môi đang mím lại chợt trễ xuống, và hàm dưới của bà bỗng lúc lắc khiến cho khuôn mặt của bà như có vẻ được dài thêm ra. Nhưng cái nét tươi tắn bí hiểm ấy vụt tắt ngay như ánh sáng của một vì sao rụng, và trong chớp mắt vẻ mặt của bà càng trở nên lạnh lùng, dữ dội bằng mấy lần lúc trước. Bà chiếu ngay cái nhìn về phía Thu Cúc, ở đó bà bắt gặp khuôn mặt thản nhiên gần như chai đá của con bé liều lĩnh. Nó không đứng dậy, không đổi thế ngồi, cũng không cả biểu lộ một vẻ gì gọi là bối rối. Sự im lặng của nó khiến bà Cécile phải cất tiếng:

- Thế nào, cô học trò gương mẫu. Cô không phải chờ tôi mời cô lại một lần thứ hai nữa đấy chứ?

Thu Cúc vụt nhìn bà bằng cặp mắt oán hận rồi từ từ kéo ghế đứng dậy. Cả phòng ăn nín thở nhìn theo điệu bộ của cô bé bướng bỉnh. Cúc rời khỏi chỗ ngồi và lẳng lặng đi về phía giữa phòng. Khi qua mặt bà Cécile, Cúc sầm mặt xuống, và nó giữ vẻ hiên ngang không kém sự hiên ngang của bà. Bỗng nhiên bà Cécile dùng cái đầu roi gõ ngay lên vai Cúc và gọi giật lại:

- Cúc!

Cúc lẳng lặng đứng lại rồi quay mặt về phía bà. Bà Cécile ngắm lại Cúc một lần nữa từ đầu đến chân rồi hỏi:

- Hôm nay ai phạt cô?

- Thưa ma soeur, soeur Juliette!

- Về tội gì?

- Thưa ma soeur con không biết!

Bà Cécile cười "khạch" một tiếng thật kêu rồi với lấy tập hồ sơ để ở gần cửa sổ. Bằng điệu bộ thật chậm rãi và cố tình làm ra vẻ quan trọng, bà giở từng trang, dò từng dòng, truy từng tên, rồi một lát thật lâu, bà mới đọc lớn:

- Lưu Thu Cúc, cours troisième, phạm lỗi vì không nghe giảng giáo lý, không thuộc bài, bướng bỉnh lý sự, đề nghị hai ngày cơm muối trắng và chép phạt năm mươi lần lời tiên tri của Isaia!

Đọc đến đây bà Cécile bỗng ngừng lại và ngẩng lên nhìn. Bà bắt gặp ngay chị Ái Mỹ đang nháy nhó bằng cặp mắt láu lỉnh với chị Bích Hồng. Lập tức bà lớn giọng:

- Thế nào, chị Ái Mỹ! Chị thuộc lời tiên tri của Isaia đó chứ?

Mặt chị Ái Mỹ đang tươi tỉnh bỗng xám ngoẹt lại. Chị đứng dậy với đầy vẻ bối rối, hai bàn tay chị xoắn lấy cái mép khăn giải bàn. Đầu chị cúi xuống. Hai vành tai dần dần đỏ ửng lên. Bà Cécile lại bật lên một tiếng cười khô khan và ngắn. Bà ngắm chị như ngắm một món hàng quí báu rồi thốt nhiên bà đập ngọn roi xuống mặt bàn và nói bằng giọng giận dữ:

- Trong sáu  mươi người ở đây những ai thuộc thì đứng dậy cho tôi coi.

Tất cả mọi người đều buông đũa, đứng dậy đều một loạt. Bà Cécile mỉm một nụ cười hài lòng. Bà vẫy bàn tay ra hiệu cho ngồi xuống rồi nói với chị Thanh Thủy ngồi gần đó nhất:

- Hãy đọc cho mọi người nghe lại một lần nữa lời tiên tri của Isaia.

Chị Thanh Thủy chưa kịp ngồi hẳn xuống đã lại vội vàng đứng dậy. Hai tay chị khoanh chéo vào nhau. Mắt chị ngước lên trần như những lần trả bài cho bà Juliette. Và chị bắt đầu đọc liến thoắng:

- Trong sách Sấm Ngôn, tiên tri Isaia nói rằng: "Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai đặt tên là Emmanuel nghĩa là Thiên chúa ở cùng chúng tôi. Hãy dọn đường tới Chúa, hãy san lối cho phẳng, lấp hố sâu cho đầy, núi đồi hãy bạt cho thấp, đường ngõ quanh co phải uốn cho phẳng, mọi người sẽ được nhìn thấy Chúa Cứu Thế. Luật của Chúa sẽ ban từ Sion, lời của Chúa sẽ phán từ Jérusalem. Người sẽ thống trị các quốc gia và phán xử các dân tộc. Khi đó người ta sẽ lấy gươm rèn lưỡi cầy, lấy giáo đánh thành liềm hái, các quốc gia không còn đâm chém lẫn nhau và tất cả cùng chỗi dậy đi tới ánh sáng của Đấng toàn năng..."

Bà Cécile "à" lên một tiếng mãn nguyện nữa rồi nói:

- Đáng khen! Tất cả nữ sinh của Thánh Mẫu học đường đều phải đáng khen như thế. Thế còn chị Ái Mỹ. Chị trả lời tôi làm sao về sự bê bối của chị đây?

Ái Mỹ lắp bắp trả lời:

- Thưa ma soeur con xin nhận lỗi. Con hứa. Con chừa!

- Chép phạt năm mươi lần và nạp cho tôi vào giờ cầu nguyện buổi tối ngày mai.

Chị Ái Mỹ lẳng lặng ngồi xuống. Mồ hôi vã ra ướt đẫm cả mảnh lưng áo trắng của chị. Tất cả mọi người vẫn đều im lặng và bây giờ bà Cécile lại chĩa mũi dùi về Thu Cúc:

- Còn chị nữa. Nếu chị kêu oan thì chắc là chị có thể đọc lại cho tôi nghe một lần nữa, nhanh nhẩu như thế, trơn tru như thế và dễ dàng như thế chứ?

Thu Cúc khẽ nhún vai:

- Thưa ma soeur không thể được!

- Tại sao không thể được?

Thu Cúc dằn giọng:

- Bởi vì thưa ma soeur, con là kẻ ngoại đạo!

Cả phòng "ồ" lên một tiếng bất ngờ, và bầu không khí bỗng náo nhiệt hẳn lên. Lập tức bà Cécile đập đen đét cái roi xuống mặt bàn, mặt bà đỏ rừ lên, môi của bà vừa run vừa tái, bà hét lớn:

- Im! Im hết! Các cô định giở cái trò dơ dáy gì ra đây mà ồn ào như vậy chứ?

Sự ồn ào bị cắt đứt ngay lập tức và tất cả ai nấy đều tìm lại vẻ nghiêm trang bình thường. Nhưng cặp mắt của bà Cécile không vì thế mà giảm đi vẻ long lanh giận dữ mà ai cũng đều cảm thấy đang ở mức quá độ. Cặp mắt của bà trừng lên nhìn từng khuôn mặt một cách dữ dội, và tia mắt đó đi tới đâu là làm cho từng ấy chị phải cúi gầm xuống, nín thinh đến một con ruồi bay qua người ta cũng nghe thấy.

Sau khi đã đàn áp được tinh thần của lũ "quỉ dữ" chúng con rồi, bà mới biểu lộ một vẻ vô cùng mệt mỏi, quay lại phía Thu Cúc và nói:

- Cho chị về chỗ, chúng ta không còn gì để bàn luận với nhau thêm nữa!

Nói rồi bà nặng nề đi ra khỏi phòng. Tấm áo trắng còn nguyên nếp hồ cọ vào nhau kêu loạt soạt và sợi dây tràng buộc cây Thánh giá bằng gỗ có gắn tượng Đức Chúa thọ hình lúc lắc theo từng nhịp bước. Trong khi đó, Thu Cúc thản nhiên trở về chỗ ngồi.

Buổi chiều hôm đó, sau giờ cầu nguyện, con có nắm tay Cúc đi quanh sân trường và thủ thỉ:

- Tại sao hồi trưa mày dại dột như thế? Dầu sao, ở đây cũng không bao giờ nên thú nhận một cách thật thà vậy. Các ma soeur rất ghét kẻ ngoại đạo.

Cúc nhún vai mỉm cười:

- Tao biết. Nhưng tao thích làm thế. Đó là một cách trả thù hay ho nhất.

- Hay ho nhưng chẳng có lợi gì cả. Ở trong này không nên để cho các soeur ghét bỏ.

- Để cho các bà ấy yêu thương thì mới là một cái thân tội. Tao không bao giờ và cũng không thể nghe lọt tai được bất cứ một lời giảng giải nào về tôn giáo. Ở nhà má tao cũng soen soét nói chuyện ăn chay và làm việc phúc đức nhưng chưa bao giờ tao thấy bà ấy thực hành cả.

- Má mày khác và các soeur khác.

Một duộc! Tao không tin ai ngoài tin tao cả. Tao ghét lý thuyết không đi đôi với thực hành. Tao ghét cả Chúa lẫn Phật.

- Quỷ dữ! Đừng có nói tầm bậy!

- Vậy thì tốt hơn là mày đừng giao du với tao nữa. Hãy làm như tụi nó. Bây giờ chúng nó coi tao như là hủi. Dính với hủi thì sẽ có ngày phải chép phạt và ăn những bữa repas sec.

- Trái lại, tao không sợ. Tao ghét tính a dua của chúng nó. Thà ăn những bữa cơm muối trắng còn hơn là làm những công việc không vừa ý mình.

Mặt Cúc tươi lên. Nó nắm lấy tay con rồi gật đầu:

- Đúng vậy đó. Thà ăn cơm với muối trắng còn hơn là làm những công việc không vừa ý mình.

Con vội cãi:

- Không phải thế, không phải ý tao muốn nói như thế.

Cúc ngạc nhiên:

- Thì tao nhắc lại nguyên văn lời nói của mày.

- Đành vậy. Nhưng ẩn sau một lời nói, có nhiều ý nghĩa khác nhau. Kẻ phát biểu này hiểu theo nghĩa này, kẻ phát biểu kia hiểu theo nghĩa kia.

- Chẳng có sự nào khác biệt cả. Tao nói rõ hơn, là tao thích làm theo ý của tao dù tao có bị ăn cơm với muối trắng. Mày cũng vậy.

- Không thể vậy được. Bởi vì ý muốn của tao khác và ý muốn của mày khác. Tao muốn khép mình vào một trật tự chung và sống như thế, bởi vì cuộc sống đã xếp đặt như thế rồi. Còn mày, mày phá phách, hằn học, sự phá phách hằn học chỉ thỏa mãn lòng ích kỷ của mày mà thôi.

Cúc trừng mắt lên nhìn:

- Ích kỷ? Thế nào là ích kỷ?

Con đáp:

- Kẻ ích kỷ là kẻ chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính mình.

Cúc "à" lên một tiếng khoái trá rồi nói bằng giọng chanh chua:

- Phải rồi! Kẻ ích kỷ là kẻ chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính mình. Nhưng Hạnh ơi, mày có bao giờ thấy tao chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính tao không? Không thuộc giáo lý, kinh bổn có phải là ích kỷ không? Nói thẳng những ý nghĩ thành thực của mình cho người khác biết có phải là ích kỷ không? Nếu đúng như thế thì tao sẽ còn ích kỷ hoài hoài bởi vì tao không muốn giấu giếm những ý nghĩ hằn học với kẻ khác. Tao không muốn giữ gìn những lời rủa thầm kẻ đối diện trong khi bề ngoài vẫn làm ra vẻ thân ái và thán phục. Tao không muốn đóng kịch.

Nói rồi Cúc lại cười khẩy tiếp:

- Kỳ thật! Tao thấy các bà ở đây chỉ chú trọng đến bề ngoài. Và các bà ấy có vẻ hài lòng một cách dễ dãi về cái bề ngoài giả dối ấy.

Thưa mẹ bề trên,

Thật lạ lùng. Không hiểu tại sao con lại thấy những lời của Cúc có vẻ hợp lý mặc dầu con đã hết sức nhủ thầm: "Đừng tin Cúc, đừng bao giờ tin Cúc cả. Nó chỉ là một cây cỏ hoang, lớn lên một cách vô trật tự, thiếu săn sóc, vun trồng".

Cả ngày hôm đó con cứ băn khoăn thắc mắc về những lời của Cúc. Tư tưởng của Cúc như một luồng gió lạ làm xáo trộn tâm hồn bấy lâu nay vẫn phẳng lặng hiền hòa của con. Con bỗng thấy run sợ và mất hẳn niềm tin tưởng. Chính vì thế mà con viết thư đến cầu cứu ở mẹ. Xin mẹ bề trên ban cho con một lời khuyên nhủ. Con xin nguyện rằng dù lời khuyên đó đứng về bất cứ lập trường nào, con cũng sẽ vâng theo triệt để. Bởi vì con biết chỉ có mẹ mới là người dẫn dắt được con bước đi những bước ngay ngắn và vững chãi trong cuộc đời.

Con xin đón chờ lời khuyên bảo vàng ngọc của mẹ.

HẠNH    



6


Ngày 20 tháng 10...

Thưa mẹ,

Mặc dầu trí óc của con nhiều khi rất bận rộn về những sự ám ảnh bởi tâm trạng của Cúc, nhưng con cũng không xao lãng nhiệm vụ chính yếu mà con đã tự nguyện phải thi hành bằng được. Đó là nhiệm vụ biến đổi em Thục trở thành một người bình thường.

Bắt chước phương pháp làm việc của các y sĩ, con thiết lập một bản nhận xét về tình trạng của Thục để tiện bề theo dõi như sau:

HỒ SƠ VỀ EM THỤC

Thiết lập ngày 18 tháng 10.

Họ và tên : La thị Thục

Con Ông : La văn Tích

Và Bà : Trần thị Nở

Sinh ngày : 15 tháng 7 năm 19...

Nhập viện ngày : 26 tháng 3 năm 19...

Hoàn cảnh gia đình :

- Cha là nạn nhân của chiến cuộc (trúng đạn tử nạn khi đang làm đồng)

- Mẹ làm thợ hồ ở Sàigòn (có thể đã chết trong nhà thương thí - Lần cuối cùng vào thăm Thục, bà ta đang xin vào nhà thương chữa bệnh lao).

- Mẹ đỡ đầu hiện tại : Bà Lê thị Ánh, giám đốc Viện Cô Nhi Viện An Hòa.

Tình trạng sức khỏe :

- Ốm yếu xanh xao, bị chứng giun sán trầm trọng.

Điểm đặc biệt :

- Câm.

- Ưa nằm sấp nhiều hơn ngồi. Chưa biết đi, chân đứng không vững vì nằm nhiều.

- Không bao giờ cười, không bao giờ nhếch mép.

- Mắt không linh động, không thay đổi cách nhìn.

- Sợ sệt tất cả mọi thứ.

Công việc sẽ phải đạt tới :

- Tập nói.

- Tập đi.

- Tập biểu lộ tình cảm bằng cử chỉ.

Thưa mẹ,

Đấy mới chỉ là sự phác họa những điều hiểu biết và dự tính của con về Thục. Dự tính thật là khó khăn và nặng nề. Nhưng con nghĩ rằng yếu tố của lòng yêu thương sẽ chữa khỏi bệnh cho Thục. Và con sẽ hết sức đem lại cho Thục lòng yêu thương đó. Trong những ngày vừa qua, con đã tiến được một bước nhỏ trong nhiệm vụ này. Bây giờ Thục đã biết giơ tay cho con bế mỗi khi con xòe hai tay ra trước mặt Thục. Trong ánh mắt của nó, có thoáng qua một sự vui mừng chen lẫn ngần ngại, con thông cảm với nó về sự ngần ngại này. Chị Yến đã kể cho con nhiều về số phận hẩm hiu của nó và những nguyên nhân đã làm cho nó lãnh đạm thờ ơ với mọi người. Đó là bởi vì nó xấu, lại tật nguyền, hầu hết các quan khách đến thăm cô nhi viện đã bỏ rơi nó một cách thản nhiên. Có một lần nó giơ tay ra vừa khóc vừa đòi theo một bà sang trọng đang đứng ở trước dẫy nôi ngủ của nó. Nhưng bà ta khước từ. Bà còn mải đi tìm một đứa xinh xắn hơn, kháu khỉnh hơn. Và đó là tật xấu, thiên vị và bất công của một số người. Thục quen dần sự từ chối chua xót ấy. Dần dần nó hiểu ra được cái thân phận hẩm hiu của nó. Lâu ngày, nó không đòi theo ai, và cũng không khóc nữa. Nó nằm yên một mình giương cặp mắt thản nhiên nhìn mọi người đi qua. Cái bụng ỏng của nó ép sát xuống mặt giường. Ông y tá Bình bảo nằm như thế, nó ít bị giun hành hạ. Chị Yến cũng thương hại nó, nhưng chị lại bận quá nhiều việc. Trong Cô nhi viện này có gần một trăm đứa mà chỉ có bốn chị trông coi. Chính vì thế mà mỗi ngày, chị chỉ rờ đến nó những lúc chị nhét cái núm ở bình sữa vào miệng nó. Hai tay Thục phải ôm chặt lấy bình. Chiếc bình được treo dốc ngược lên bằng một sợi dây buộc lủng lẳng trên cái xà ngang ở đầu giường. Khi bú hết, Thục buông tay ra và bình sữa đu đưa ngay trên mũi của nó. Những giọt sữa hấp dẫn lũ ruồi đến một cách đông đảo. Từng đàn ruồi bò ở quanh miệng bình, trên chiếc núm cao su rồi nhẩy múa trên đôi mắt lờ đờ của Thục. Con bé nằm chán rồi thiu thiu ngủ. Hiển nhiên nó đã lớn lên một cách vô tình như một cọng cỏ dại.

Thưa mẹ, con không dám có ý nghĩ làm một việc phi thường. Nhưng quả thật tình cảnh của Thục đã gây cho con một xúc động sâu xa hơn những đứa trẻ khác. Chính vì thế mà con đã dành tất cả tâm lực của con vào công việc săn sóc Thục. Tất nhiên, ở quanh đó còn nhiều hoàn cảnh của các em bé mồ côi cũng đáng thương tương tự. Con hy vọng rồi sẽ có những bàn tay ngọc của các thiếu nữ khác góp phần vào công việc xoa dịu những nỗi thống khổ của chúng nó. Sự kêu gọi các bạn nội trú cùng phòng tuy làm con thất vọng nhưng không vì thế mà con nản chí. Con tin tưởng vào tâm hồn trong sáng và toàn thiện của các chị ấy. Chưa thúc đẩy được họ, ấy chỉ vì lời kêu gọi của con chưa được khéo léo đấy thôi. Con tự hứa một ngày kia, khi Thục đã hoàn toàn quý mến và tin cậy con rồi, con sẽ xin phép bà giám đốc Viện cô nhi và mẹ bề trên cho con được đón Thục vào thăm Thánh Mẫu Học Đường một lần. Biết đâu sự thăm viếng của Thục sẽ là một hình thức tốt để lôi cuốn sự chú ý của các chị vào mục đích tốt đẹp ấy. Lòng con đầy tin tưởng là con sẽ tiến tới được kết quả như ý muốn. Con xin mẹ hãy cầu nguyện Chúa cho con gìn giữ mãi được lòng tin ấy.

Bây giờ con xin kể cho mẹ nghe một vài mẩu chuyện vui về sự liên lạc giữa con và Thục. Tuần qua, nhờ 6 cái bon points về các môn Histoire, Géographic và Conjugaison des verbes con đánh đổi được lấy một quả cam. Con cất đi để dành tới chủ nhật đem vào cho Thục. Chị Yến hét lên:

- Tầm bậy tầm bạ! Cô không nhìn thấy cái bụng giun của nó đấy sao. Cái gì cô cũng chiều nó thì chỉ làm hại nó đấy thôi.

Con cãi:

- Nhưng cam lành!

- Ai bảo cô rằng lành?

- Các bác sĩ!

- Tầm bậy tầm bạ! Chả có bác sĩ nào cho phép đứa bụng giun sán ăn của ngọt cả.

- Nhưng ngọt kẹo khác mà ngọt cam khác.

- Ngọt cam còn tệ hơn là ngọt kẹo. Bởi vì cam có nước. Trẻ con uống nước ngọt vào có khác gì tống thuốc bổ cho giun ăn không? Tuần trước đó, cô không nhớ sao, con Nguyệt bên salle số 4 chỉ có uống nước sirop vào mà đi tiêu chẩy hai ngày liền.

- Sirop khác mà cam khác chớ!

- Chẳng có gì khác cả! Tôi cam đoan với cô như vậy. Về bệnh tật của chúng nó tôi biết quá mà. Dầu gì tôi cũng trông nom chúng nó cả năm, sáu năm liền...

Ông y tá Bình lúc đó đang xức thuốc lở cho mấy đứa ở cuối phòng, bỗng tự nhiên xen vào:

- Á à, thế là cô Yến định cướp nghề của tôi đó nhen.

Chị Yến đỏ mặt quay về phía ông ta trừng mắt nhìn:

- Việc gì đến ông mà ông xía vô công chuyện của người khác.

Ông Bình cười huếch hoác:

- Sao lại không. Tôi phải phản đối cái cách kiêng cữ vô lý của cô chớ. Cô Hạnh ơi, tôi thiết tưởng cô cho nó ăn cam được. Cam lành!...

Chị Yến giận dữ:

- Đừng có tuyên bố ẩu. Tôi mách bác sĩ trực bây giờ đó.

- Cô mách ai tôi cũng chẳng sợ, chỉ trừ mách má tôi...

Chị Yến cố giữ sự nhịn cười:

- Cái nhà ông này hay nhỉ! Cái gì ông cũng giở má ông ra. Đã thế tôi mách má ông thiệt cho coi.

Ông Bình dẫy nẩy lên:

- Ấy chớ! Tôi tấu cô. Tôi lậy cô. Cô mà mách má tôi thì tôi "chít"!

Chị Yến bật cười:

- Có mỗi một câu "tôi chít" mà cứ nói hoài.

- Chớ sao! Tôi thiết tưởng làm người ai mà không sợ chết.

Chị Yến mỉm cười tinh nghịch:

- Bộ ông sợ chết lắm hả?

- Sợ lắm chớ. Nhất là hồi này...

- Tại sao lại "Nhất là hồi này"...

Ông Bình nhìn chị bằng cặp mắt long lanh sáng ngời:

- Vì... vì... Hừm, vì gì thì cô cũng biết đấy.

- Ơ hay! Làm sao tôi biết được. Tôi có là ông đâu mà tôi biết.

- Thế thì bí mật quân sự. Nói ra thì... tôi chít...

- Cái nhà ông này hay thiệt. Thử "nhín" một lần coi?

Ông Bình làm bộ ngơ ngác:

- "Nhín" cái gì kia?

- Thì nhín cái câu đó.

Ông ta cười ranh mãnh:

- Bộ cô không thích tôi nói câu đó hay sao? Vậy thì tôi xin rút lại, tôi thề sẽ ném nó vô lò hấp, không bao giờ xài nữa.

- Thối chửa! Ông nói mặc ông chớ tôi can dự gì vô đó.

Ông Bình la lên:

- Trời! Cô nói chi đau lòng tôi quá vậy. Tôi thiết tưởng...

Chị Yến mỉm cười:

- Ông "thiết tưởng" cái gì...

- Tôi chả nói nữa...

- Tại sao định nói rồi không nói nữa...

- Tại tôi sợ!

- Sợ ai?

- Sợ cô!

- Tại sao sợ tôi?

- Vì tôi mà nói ra thì một là cô nổi giận lôi đình tống tôi một cái văng qua cửa sổ này mà hai là cô độn thổ chui xuống đất.

Mặt chị Yến đỏ rừ lên, chị la lối:

- Tầm bậy tầm bạ! Thôi tôi chẳng thèm nghe ông nói năng tầm bậy tầm bạ đâu...

Nói rồi chị bỏ đi một cách cuống quít và vội vã như không chịu đựng nổi cái nhìn thương mến của ông Bình chiếu thẳng vào đôi mắt long lanh của chị.

Lúc chị ấy đi rồi, con mới hỏi ông ta:

- Cháu cho nó ăn cam được không?

- Không được!

- Ủa, sao lúc nãy ông bảo được?

- Nãy khác, bây giờ khác.

- Sao kỳ cục vậy?

- Tại nãy cam nó ngọt bây giờ thì cam nó chua! Chua là không được!

- Vô lý! Làm sao ông biết quả cam này chua?

- Sao không biết. Tôi là tay tổ về chọn cam mờ! Hồi chưa có chiến tranh, tôi có cả một vườn cam. Cứ nhìn cái vỏ màu xanh ngăn ngắt, lại dầy tụp, lại có gân vàng, lại lấm tấm trứng quốc thế kia là chắc đến chín phần mười cam chua.

- Thiệt không?

- Không tin cô thử bóc ra coi.

Con nghe lời ông Bình, bóc ra nếm thử. Và, thưa mẹ, quả nhiên quả cam chua loét khiến con rùng mình và ê cả răng. Ông Bình cười ha hả, hai hàm răng của ông nhe ra như răng ngựa:

- Chịu thầy chưa?

- Chịu thầy!

- Vậy chia cho tôi một nửa. Tôi khoái ăn của chua. Giá bây giờ có khế mà gặm thì phải biết!

- Cháu biếu ông cả quả. Cháu sợ nhất ăn chua.

- Cô dở ẹc. Con gái mà không thích ăn quả chua thì cóc phải là con gái. Họ nhí nhót tầm ruột chấm muối ớt suốt ngày.

Vừa lúc ấy chị Yến đi vào, ông Bình bèn hỏi ngay:

- Phải không cô Yến?

- Phải cái gì?

- Tầm ruột đó, khế đó, cô thích không?

- Chèn ơi! Ông nói làm tôi nhễu nước miếng.

- Vậy đây! Mời cô nửa trái. Thứ cam này chua ác.

Chị Yến ngạc nhiên:

- Ủa! Thế không phải cam ngọt à?

Con bẽn lẽn:

- Dạ không, cam chua!

- Vậy mà các người xúi nhau cho trẻ nít nó ăn thì có chết người ta không.

Ông Bình la lên:

- Ai xúi?

- Còn ai nữa! Chính ông chứ ai.

- Tôi mà xúi trẻ nít ăn cam chua thì tôi chết!

Chị Yến cau mày giận dữ:

- Tầm bậy tầm bạ! Gì cũng thề, gì cũng thề... phỉ phui đi!...

Nói xong biết mình lỡ lời, chị lắc đầu quầy quậy và giơ hai bàn tay che kín khuôn mặt mắc cỡ của mình. Trong khi ấy ông Bình phun phì phì ra chung quanh và nói lia lịa:

- Phỉ phui! Phỉ phui!...

Cử chỉ của ông càng làm cho chị Yến mắc cỡ thêm. Hai tai chị đỏ ửng. Hai chân chị rẫy rụa dưới đất. Con có cảm tưởng như chị ấy muốn độn thổ, chui xuống nền nhà ngay lúc bấy giờ.

Một lát sau, khi ông Bình  đi khỏi thì chị Yến cũng vừa thay xong cho em Thục một bộ quần áo sạch sẽ và tươm tất. Con xòe tay ra đón Thục. Nó nhìn con như để đo lường mức độ tình cảm con đối với nó thế nào. Rồi bỗng nó giơ tay ra, cặp mắt nó sáng lên một nguồn ánh sáng linh động, vui mừng. Con sung sướng ôm chầm ngay lấy nó rồi bế nó ra đứng ở cửa sổ. Một nhánh Ngọc Lan xòe rộng với cành lá tươi tốt trải một màu xanh êm dịu dưới ánh nắng của một ngày cuối thu. Gió xào xạc trong vòm cây. Có tiếng chim truyền cành kêu chiêm chiếp nhỏ nhẹ như tiếng nói của những tâm hồn vô tư và trong sáng. Xuyên qua kẽ lá, thấp thoáng phía đằng xa là đường phố rộn rã của một buổi sáng chủ nhật đẹp trời. Trên vỉa hè, những tà áo mầu của những thiếu nữ bay rực rỡ như từng cánh bướm. Bầu trời xanh lơ thấp thoáng sau khóm lá có những cụm mây trắng bồng bềnh. Con giơ tay chỉ một con chim vành khuyên có bộ lông xanh mướt cho Thục nhìn thấy. Con chim ở ngay trong tầm tay với. Hai chiếc giò non của nó xinh xắn như hai cây tăm yếu đuối biết nhẩy nhót. Mắt Thục sáng lên nhìn. Nó ngắm con chim một cách chăm chú. Vẻ lờ đờ trong ánh mắt nhường chỗ cho một tia sáng tinh anh. Con rất sung sướng nhận thấy vùng cảm giác chai lì của nó đang bắt đầu giao động. Từ ngày con biết Thục, con chưa thấy Thục cười. Ô! Nụ cười của nó đối với con thật là đáng giá, thưa mẹ. Con nhất tâm sẽ tìm bằng được nụ cười ấy, cho dù có phải tổn hao nhiều tâm trí. Vì đó là nguồn vui của con. Ma soeur Félicité vẫn thường nhắn nhủ chúng con: "Hãy tìm kiếm cho cuộc đời của mình một chuẩn đích rồi hăng hái mà đi tới tận tình. Cuộc đời mà không có chuẩn đích thì khác nào con tầu đi giữa đại dương bão tố mà không có người lèo lái".

HẠNH    

____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 7, 8, 9


Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2019

CHƯƠNG 1, 2, 3_TAY NGỌC


1


Ngày 12 tháng 9...

Thưa mẹ,

Hôm trước, vào giờ học cuối của tuần lễ, ma soeur Juliette có báo tin cho chúng con biết là ngày hôm nay, ngày 12 tháng 9 là ngày kỷ niệm thánh Antoinette: vị thánh hằng kính, hằng trọng mà mẹ bề trên đã mang làm danh vị của mẹ, ma soeur có nói với chúng con rằng: "Vào ngày ấy, các con hãy đến chúc mừng mẹ bề trên với một lễ vật. Có thể là một món quà, có thể là một tấm thiếp, có thể là một việc làm ý nghĩa vị tha mà vì nghĩ đến ngày kỷ niệm của mẹ bề trên các con sẽ thi hành đối với kẻ khác".

Qua ngày nghỉ chủ nhật được ra khỏi trường nội trú, sáng thứ hai các bạn cùng lớp của con đã mang đến trường một bầu không khí xôn xao. Nhiều người mang theo những món quà lạ. Dung gói một đôi giầy mới trong một tờ giấy bóng đỏ. Hằng khoe một hộp kẹo lớn in cả một bức tranh tuyệt đẹp ở ngoài nắp sắt. Nguyệt mang đến trường một nửa tá khăn tay có hàng chữ thêu rất đẹp mắt "Antoinette, Sainte de la Charité" và còn biết bao nhiêu đồ lạ lùng, tốt đẹp khác nữa mà con đoán chắc ngày hôm nay mẹ bề trên sẽ đặt lên tấm khăn giải bàn trắng tinh khiết ở trong phòng mẹ. Mẹ sẽ ngắm nghía những gói nhỏ gọn gàng tượng trưng cho những tâm hồn nhỏ nhoi, xinh xắn dưới quyền điều khiển sáng suốt của mẹ. Và con đoán chắc lòng mẹ sẽ hân hoan khi nghĩ đến bầy con nhỏ của mẹ vẫn hằng ngoan ngoãn, dịu hiền, noi gương sáng cần cù của mẹ để mà học hành tiến bộ.

Thưa mẹ bề trên, giữa đám quà tượng trưng cho lòng tôn kính của bọn chúng con ấy, đã có thư này của con. Tên con là Hồ thị Hạnh, 16 tuổi, học cours troisième trường lưu trú Thánh Mẫu, dưới sự điều khiển của Soeur Juliette. Con mồ côi cả cha mẹ. Họ hàng thân thiết của con chỉ còn một người bác độc nhất, bạn thân thiết của mẹ con mà sinh thời mẹ con coi như chị ruột. Vì một hoàn cảnh đặc biệt, con không thể ở chung cùng bác Tuyết của con. Nhưng con đã được ma soeur Félicité nhận lảm mẹ đỡ đầu nuôi nấng, chăm sóc và dạy dỗ. Hàng tuần, con ít đi ra ngoài phố. Các bạn hữu của con đã được gia đình đón ra ngoài. Giữa một sân trường rộng rãi, mênh mông, sự yên tĩnh đến độ có thể nghe thấy tiếng chim truyền trên cành, tiếng lá xào xạc trong lùm cây, con đã ngồi tha thẩn hàng giờ trên nệm cỏ xanh mượt, tỉ mẩn đếm từng khóm hoa dại ven bờ rào, nói chuyện bâng quơ với những hòn sỏi trắng hay hát những bài mà ma soeur đã dạy để cho linh hồn má con nghe thấy ở trên trời.

Thưa mẹ bề trên, chính ở chỗ đó, con đã suy nghĩ đến phần đóng góp của con trong dịp lễ kỷ niệm thánh Antoinette, vị thánh hằng kính, hằng trọng mà mẹ bề trên đã mang tên. Nhưng thưa mẹ bề trên, thật là con đã tỏ ra vô cùng dốt nát và hèn kém khi đã không thể nào nghĩ ra sáng kiến gì để thay thế cho các đồ mừng phải mua bằng tiền bạc. Phải chi má con còn sống, con sẽ sung sướng biết bao khi được bà dẫn con đi dạo phố xá buổi sáng ngày chủ nhật. Con sẽ tha hồ yêu cầu bà mua cho con thứ này, thứ khác theo ý muốn.

Thưa mẹ bề trên, đến chiều hôm ấy, một sự tình cờ con được theo chị Tám, người giúp việc nấu ăn trong trường, đi sang bên Viện Cô Nhi của một cơ quan từ thiện. Hôm đó chị Tám phải chuyển phần chuối còn thừa lại của học sinh trong trường cho chị làm bếp ở bên Viện. Thưa mẹ, vì có cơ hội đó mà lần đầu tiên con được tiếp xúc với lũ trẻ nhỏ mồ côi mà đời sống của chúng còn khổ sở hơn con gấp trăm, nghìn lần. Nếu mẹ bề trên không quản mất thì giờ quí báu của mẹ, thì con xin kể lại những điều con đã nghe, thấy. Thưa mẹ, khu trẻ nhỏ ở Viện này chiếm hết tầng lầu thứ hai ở dẫy giữa. Khi con lên hết những bậc thang bằng đá trắng, thì con đã nom thấy một dẫy ghế thật dài kê sát ngay cạnh những tấm cửa sổ. Ở trên ghế là những em bé chừng lên ba, lên bốn tuổi. Tất cả có độ chừng hai chục đứa. Thưa mẹ, con nom chúng nó thật là tội nghiệp, bộ mặt ngơ ngác, cặp mắt buồn thảm, trên môi không có nụ cười. Hai mươi khuôn mặt là hai mươi vẻ hững hờ, tẻ lạnh. Trên băng ghế gỗ, mỗi đứa ngồi theo một điệu riêng. Một thằng bé lên bốn chỉ chơi có mỗi một trò là lắc lư cái đầu từ bên trái qua bên phải, thằng bé lên năm lại gật gù như người đang ngủ gật mặc dầu mắt nó mở to hờ hững nhìn mọi người qua lại. Lại có một em bé chốc lở chỉ biết nhìn nghiêng mà không biết nhìn thẳng. Những điều này theo lời giảng của chị trông nom thì là vì thiếu người săn sóc, hỏi han, thiếu người bầy trò cho chúng nó để chúng khỏi làm lấy có mỗi một điệu, cho nên ngày này qua tháng khác điệu bộ của chúng nó tự nhiên trở thành một thói quen độc nhất: đứa lắc đầu thì cứ lắc mãi, đứa khom lưng thì cứ khom mãi. Đó là tật kinh niên khó mà có thể chữa khỏi. Thưa mẹ, đến khi con bế một em bé thì con khám phá ra một điều. Đó là chúng không sử dụng được hai chân vì không có ai tập cho chúng nó biết đứng cả.

Nhưng sự thực khiếp hãi hơn cả là số phận của hai em gái và một trai vào quãng tuổi lên năm lên sáu. Thưa mẹ, cả ba đứa đều mắc bệnh câm. Có đứa câm từ khi người ta mới cho vào Viện. Bởi vì khi còn ở nhà nó ốm đau, quấy khóc đã bị bố mẹ nó đánh đập quá nhiều đến câm hẳn. Cũng có đứa vào đây chẳng ai dạy nói, để cho đến bây giờ nó vẫn ngồi ngơ ngác nhìn người qua lại với cặp mắt buồn thiu, không có một chút nào sinh khí hoạt động.

Thưa mẹ, đó là một vài hoàn cảnh khổ sở mà tình cờ con đã được chứng kiến trong ngày chủ nhật vừa qua. Bây giờ con mới nhận ra rằng dù con khổ sở thế nào cũng chẳng có nghĩa lý gì với các em đó cả. Cho nên nhớ đến lời ma soeur Juliette đã nói: "Có thể các con làm một việc có ý nghĩa vị tha vì nghĩ đến ngày kỷ niệm của mẹ bề trên mà thi hành đối với kẻ khác", con cảm thấy như mình đã tìm thấy lời giải đáp cho sự thắc mắc cứ lẩn quẩn mãi trong ý nghĩ của con.

Cũng vì sự ấy con đã viết lá thư này để thay cho món quà trong lễ trọng của mẹ.

Thưa mẹ bề trên,

Nhân danh ngày ấy, nhân danh lòng vị tha bác ái cao cả của mẹ, con xin hăng hái nhận một đứa bé khốn khổ nhất làm em đỡ đầu. Và con xin hứa với mẹ bề trên con sẽ đem hết khả năng sẵn có của con để mang lại cho em đó một vài tia sáng sung sướng hy vọng cũng như ý Chúa đã mong muốn cho tất cả mọi người đều được thụ hưởng.

HẠNH     


2


Ngày 20 tháng 9...

Thưa mẹ bề trên,

Con đã đem lời hứa với mẹ trong lá thư trước của con ra trình bày với ma soeur Félicité. Bà đã hoan hỉ và khuyến khích con trong việc làm khó khăn ấy. Như thế là mỗi buổi sáng chủ nhật, con đã có việc phải làm. Con không phải đi bách bộ một mình trong sân sỏi, không phải tấm tức khóc một mình giữa sự yên tĩnh kéo dài như bất tận của sân trường rộng bao la và vắng vẻ. Buổi sáng hôm nay, con đã dậy sớm, sửa soạn quần áo và một ít đồ chơi. Đó là những con thú bằng giấy màu mà con đã gấp theo mẫu trong cuốn "Jeux et divertissement chez soi" có trong thư viện. Con hy vọng sẽ làm quen với lũ trẻ bằng món quà ra mắt ấy. Con cũng muốn kể với mẹ thêm một điều là hai hôm trước đây con đem ý định của con ra trình bày với mấy cô bạn cùng lớp. Nhưng họ đều bận bịu với gia đình cả. Ái Mỹ bao giờ cũng mong tới ngày chủ nhật để đi picnic với ba má. Nguyệt Hồng thì có bà nội đón về trại cây cối ở ngoại ô. Diễm Hương lại thích ở nhà thu nhạc vào bande hơn. Chỉ còn có một mình Cúc thì chủ nhật nào được ra lại phải chia bài cho ba má suốt ngày. Cúc ghét không khí buồn tẻ ở gia đình lắm. Cúc muốn thoát ly ra ngoài để đi đâu cũng được nhưng ba Cúc rất dữ. Trong đám bè bạn, Cúc là kẻ không tìm thấy sự yên ổn trong lòng đâu, thưa mẹ. Con nhận thấy Cúc ghét bỏ những bạn bè có hoàn cảnh gia đình ấm áp. Cúc chỉ hay gần gũi với con. Bởi vì, dầu sao tương đối giữa hàng mấy trăm con người ở chốn này, con là kẻ lủi thủi nhất. Ở trong ý nghĩ của Cúc, Cúc không có một điều gì tươi mát để cho nó cảm thấy hãnh diện. Đối với Cúc tất cả những việc trước mắt đều chứa chất sự bất công, cho nên sự suy luận của Cúc khác hẳn sự suy luận của tất cả mọi người. Như hôm vừa qua, khi nghe con trình bầy về việc sang Viện Cô Nhi săn sóc các em nhỏ, Cúc rất dè bỉu. Nó đã bình phẩm một câu nghe thật rụng rời: "Chúng nó còn sướng hơn tao. Bởi vì chúng nó không có cả cha lẫn mẹ". Xin mẹ rộng lượng hãy cầu nguyện cho nó hơn là ghét bỏ. Nó đáng thương như tất cả những người đáng thương mà con đã gặp. Cho nên nghe Cúc từ chối phũ phàng, con không hề giận dỗi. Cúc không đáng bị giận dỗi bằng lời từ chối kênh kiệu của Diễm Hương: "Có mà điên thì mới bỏ phí thì giờ vào đầy. Nếu mày cảm thấy rỗi rãi thì tao sẽ mời mày về nhà nghe nhạc thâu bande. Tao có đủ tất cả các bản mà mày thích".

Thưa mẹ, sau hôm ấy, con biết là chỉ có một mình con tham dự vào việc khó khăn mà con đã hứa với mẹ. Nhưng con không thấy thế mà buồn lòng. Trong một bài giảng hôm cuối tuần, ma soeur Juliette có khuyên chúng con rằng hãy cố gắng giữ gìn những điều thiện nẩy nở trong tâm hồn, cũng như cố gắng luôn luôn giữ lòng tin cậy Chúa. Chúa chẳng để sự đe dọa nào có thể làm lung lạc đức tin ấy nơi con Chúa. Rồi từ đó, nếu ai ai cũng giữ được lòng thánh thiện, mọi vết nhơ sẽ được xóa bỏ, mọi tội lỗi sẽ được dung tha, mọi điều khổ sở sẽ được hàn gắn, và nhân loại sẽ tạo dựng được địa vị trong sáng ban đầu. Con xin nguyện với mẹ là con sẽ cố gắng thi hành công việc con theo đuổi bằng tất cả khả năng của con. Không phải vì con muốn lập công cùng mẹ, không phải vì mong mỏi được ân Chúa đền bù, nhưng chính là vì niềm vui của kẻ khác.

Con xin kể cùng mẹ về buổi sáng đầu tiên con làm nhiệm vụ ở Viện Cô Nhi. Lúc con đến thì giờ ăn sáng của lũ nhỏ vừa mới chấm dứt. Chúng nó được xếp thành một dẫy ngồi chơi ngoài hành lang. Hôm nay chúng nó được ăn mặc khá tươm tất. . Đó cũng là vì lý do ngày chủ nhật có nhiều người đến thăm. Nhưng vào giờ ấy chưa có ai tới cả. Con tiến lại phía chị Hai đang ngồi đọc truyện trên một tấm ghế gỗ. Chị ấy hỏi con:

- Cô đến có việc gì?

Con đáp:

- Em đến giúp chị. Từ nay tuần nào em cũng đến vào ngày chủ nhật.

Chị ta nhìn con rồi nhún vai:

- Rồi chả được mấy nỗi đâu cô ạ. Khối người lúc đầu hăng hái nhưng rồi lại chán ngấy. Có báu gì mấy cái của bẩn thỉu này.

Con không đáp, cúi xuống bế một đứa bé lên tay. Chị ta hét lên:

- Tôi cấm cô đấy. Cô định làm cho nó quen thói rồi ai dỗ cho đây.

Ồ! Cái nhà chị ta thật là khó tính và hung dữ. Nhưng chính ra con lại thích làm việc với những người như thế. Bởi vì sự nóng nảy ấy biểu lộ một tâm hồn sốt sắng, tham gia công việc bằng tất cả tấm lòng. Còn hơn những kẻ rửng rưng, tắc trách, coi nhiệm vụ của mình là một điều thứ yếu. Gắt gỏng con xong rồi, chị ta dịu giọng:

- Tôi nói thật đấy cô ạ. Hồi đầu có biết bao nhiêu người làm khổ tụi tôi. Mà cũng làm khổ luôn tụi nó nữa. Quí báu gì cái bồng cái bế năm mười phút để bắt chúng nó chờ mong cả một ngày chả có ma nào mà lại gần. Tốt hơn hết là hãy để cho chúng nó ngồi yên. Bây giờ nếu cô có lòng tốt thì xuống phòng dưới mang giùm lên cho tôi mấy cái xe tập đi. Qua cái cửa sơn xanh kia cô đi xuống rồi rẽ về bên tay mặt là tới.

Con vui vẻ nghe lời, nhưng một lát lại quay lên và nói:

- Em không thấy còn cái nào cả. Trừ một đống han rỉ và mất cả bánh xe.

Chị Yến, (tên chị ta là Yến) trợn mắt:

- Vậy cô còn muốn cho chúng nó ngồi xe có nệm bông nữa chắc. Chỉ có mấy cái han rỉ ấy mà thôi.

Con ngập ngừng:

- Nhưng mà còn mấy cái bánh xe...

- Làm sao?

- Em thấy chiếc nào cũng mất ít ra là hai ba cái.

- Thì nó vẫn thế, có làm sao đâu. Cô rắc rối lắm.

- Vậy thì làm sao tập đi cho chúng nó được.

Chị Yến nhìn lũ nhỏ rồi mỉm cười chua chát:

- Tập cho chúng nó đứng được cũng là phúc cho mình lắm rồi. Cô nhìn kỹ chân chúng nó mà coi. Có đứa nào đứng nổi một mình không?

- Tại sao lại đến nỗi này?

- Sao mà cô thắc mắc thế. Cô đi mà hỏi mấy ông, mấy bà cấp trên ấy chớ, vặn vẹo gì tôi. Tôi còn cho là may đấy. Mấy cái xe này là do vợ chồng một người ngoại quốc tặng cho từ hơn nửa năm nay. Chứ trước kia thì một mảnh cũng chả có.

Con buồn bã trở lại chỗ cũ khuân lên được bốn cái xe. Cái nào cũng han rỉ, méo mó và vải nệm mục rách gần hết. Đem đặt cả bốn cái trên nền đá hoa nhẵn bóng trông thật là thảm hại nhất là chả có cái nào lăn đi được một vòng. Tất cả đều chúi mũi xuống nền đá, khi đứa bé đụng tay vào thành xe thì nó rúm người lại vì sự mất thăng bằng của bốn bánh. Chị Yến nói:

- Bây giờ cô đặt giùm tôi đứa này, đứa này vào chỗ hộ. Mỗi đứa được đứng trong vòng 15 phút.

Vừa nói chị vừa chỉ từng đứa được ưu tiên cho đặt vào chỗ. Còn lại mười đứa khác đều đổ dồn mắt vào đấy. Chúng nó nhìn bạn với vẻ thèm thuồng. Dầu sao phải ngồi mãi một chỗ thì cũng chán ngấy, thưa mẹ.

Sau khi tất cả đã yên vị, con bắt đầu dò hỏi chị Yến về trường hợp của từng đứa. Trong bọn này, con chú ý nhất đến hoàn cảnh của một em gái. Nó tên là Thục, ở trong này đã được hai năm. Cha Thục làm ruộng bị đạn lạc chết giữa đồng. Mẹ Thục bỏ lên tỉnh xin làm thợ hồ. Được ít lâu bà ta kiệt sức không nuôi nổi con mới đem gửi vào Viện. Ngày đầu, mỗi tuần lễ bà ta vào thăm con ba bốn buổi. Sau thưa dần rồi bẵng hẳn. Có thể bà ta chết trong nhà thương vì lần thăm chót, chị Yến kể rằng nom bà ta tiều tụy và xanh như một tàu lá. Bà ta nói rằng sẽ đi nằm nhà thương và chắc lâu lắm mới trở lại được. Từ đó đến nay gần một năm, mà Thục thì có lẽ cũng quên cả mặt mẹ nó rồi. Năm nay Thục mới lên ba. Nom nó gầy ốm như một đứa trẻ mười mấy tháng. Đầu nó nhỏ, khuôn mặt choắt cheo, vàng vọt, đôi mắt đục lờ đờ không sinh khí. Chân tay gầy guộc như những khúc mía. Chỉ riêng có cái bụng của nó là lớn. Chị Yến bảo nó có đầy giun. Cũng vì vậy nó ưa nằm sấp hơn là đứng hay ngồi. Dù người ta đặt nó thế nào, loay hoay một lát nó cũng tìm cách nằm úp bụng xuống mặt ghế, hai cánh tay duỗi thẳng theo thân mình, đầu nghiêng đi, dương cặp mắt không chớp nhìn về một phía hết giờ này sang giờ khác, không cựa mình, không động đậy, không cả xua đuổi mấy con ruồi cứ bu lại trên mấy nốt ghẻ lở lấm tấm ở trên đầu. Số phận của Thục hẩm hiu nhất trong đám mười mấy đứa nhỏ trong Viện này. Bởi vì nó xấu xí và không linh hoạt, hơn nữa Thục lại còn mắc cái tật là không bao giờ nói lên được một tiếng. Hồi mới xin vào, nó đã bập bẹ gọi được tiếng má. Nhưng về sau này, chẳng mấy ai hỏi han đến nó nên nó lại quên đi và giữ im lặng như một con cá chép. Con không biết những người điều hành tất cả Viện có lưu tâm điều ấy không, hay chỉ cốt nuôi cho nó đủ no một ngày hai bữa là thấy lòng yên ổn vì đã làm trọn vẹn nhiệm vụ đối với nó rồi. Còn về phần các vị quan khách nhân từ ghé vào thăm Viện cũng chẳng có mấy ai ngó ngàng đến nó. Người ta ưa bế và hỏi han mấy đứa khác xinh xắn, bụ bẫm hơn. Thì ra ở chốn khốn khổ tận cùng này vẫn còn có sự phân chia xếp loại như người ta đã phân chia xếp loại ở tất cả mọi lãnh vực trong đời sống phức tạp hàng ngày.

Thưa mẹ, chính vì sự hẩm hiu ấy của Thục mà con có ý định chọn Thục làm đứa em đỡ đầu của con như đã hứa với mẹ. Con hy vọng sẽ mang lại cho Thục ít nhiều sự an ủi mà nó thiếu thốn, và nhất là biến đổi nó thành một con người có tình cảm, có suy nghĩ để sau này khỏi trở thành khối vô tri vô giác trong thể xác một con người.

Xin mẹ hãy cầu nguyện cho nhiệm vụ khó khăn ấy của con.

HẠNH     


3


Ngày 30 tháng 9...

Thưa mẹ,

Con đã dán một mảnh giấy lên kính cửa phòng ngủ của chúng con, trong đó kêu gọi lòng từ thiện của mọi người. Công việc này có vẻ ra ngoài phạm vi của một học sinh lưu trú, nhưng có lẽ các vị sẽ tha thứ cho con. Buổi sáng lúc vào kiểm soát chăn màn của học sinh, bà Cécile đã đứng đọc hết tờ giấy từ đầu đến cuối. Nhìn dáng dấp đầy vẻ nặng nề, mệt nhọc chứa chất sự cáu kỉnh thường xuyên của bà, chị Diễm Hương đứng cạnh con thì thào:

- Rồi thì mày chết! Lạc quyên bất hợp pháp: repas sec! Làm bẩn kính cửa: repas sec! Không thuộc nội qui: repas sec nữa! Bà này ưa cái kiểu cho học trò ăn cơm với muối trắng mà!

Lời nói của chị làm con thêm bối rối. Tim con đập mạnh. Con nhìn dáng đi nặng nề của bà bằng cặp mắt van lơn và sợ hãi. Nhưng khuôn mặt lặng lẽ của bà thật là khó mà dò được ý tứ bên trong. Bà đi qua dẫy giường mé phía bên phải trước. Tiếng hò hét của bà vang lên trong sự im lặng phăng phắc của tất cả căn phòng rộng rãi và đông người. Chị Vân để quên tập sách dưới gối, chị Thu không lau cái table de nuit cho hết bụi ; chị Tuyết ném vỏ chuối xuống gậm giường (tất nhiên bị phạt một bữa ăn cơm khô với muối trắng vân vân...). Đến khi bà đến trước mặt con thì bà đứng lại nhìn con rất lâu, cặp mắt dữ dội, vẻ nhìn khó đăm đăm chứa chất đầy vẻ cáu kỉnh và bực rọc. Cuối cùng bà nói:

- Cô Hạnh. Drap giường hôm nay cô gấp không thẳng nếp. Một lần nữa thì ăn cơm với muối đó nghe không!

Nói rồi bà quất cái roi xuống mặt nệm khiến cho tấm vải trắng đang phẳng phiu bỗng trở nên nhăn nhúm rồi khó nhọc bước sang mé giường bên. Ôi! Thưa mẹ, tả làm sao cho xiết sự vui sướng của lòng con lúc đó. Soeur Cécile thật là người bao dung và quảng đại. Ở bề ngoài cau có, gắt gỏng ấy đã chứa chất bên trong một tâm hồn đầy lòng vị tha và độ lượng. Con muốn khóc lên vì sung sướng. Mẹ bề trên và các soeur đã giúp đỡ và khuyến khích con trên đường tìm đến ánh sáng của Chúa, con đường lấy nguồn vui của kẻ khác làm nguồn vui của chính mình.

Riêng chị Diễm Hương thì đã biểu lộ một khuôn mặt sững sờ mang vẻ ngạc nhiên đến tột độ. Chị ấy mở to mắt nhìn theo bà và chợt thốt lên:

- Sự lọa... ạ!...

Tiếng nói của chị vừa bật ra, và chị vừa kịp bưng lấy mồm thì bà Cécile đã quay phắt lại nhìn chị với vẻ mặt giận dữ. Rồi bỗng nhiên bà quay trở lại với ngọn roi lăm lăm ở trên tay. Bây giờ thì chị Diễm Hương đã biến mất vẻ nghịch ngợm hàng ngày. Mặt chị cố giữ trang nghiêm. Nhưng càng trông chị càng tức cười. Người chị đứng thẳng, hai tay duỗi dài, quay mặt về chiếc cột đồng ở chân giường phản chiếu vào đôi mắt sáng ngời của chị. Một lát, bà Cécile tiến lại gần. Mắt bà nhìn chị như một người đồ tể nhìn một con vật sắp sửa mang lên bàn mổ. Cây roi của bà chĩa ra, chỉ thẳng vào người chị như muốn lục soát từ đầu đến chân. Rồi bỗng bà thúc ngọn roi vào chỗ gần mạng sườn của chị rồi "à" lên một tiếng sung sướng. Tưởng đến một cảnh sát bắt gặp quả tang một kẻ đang phạm tội vi cảnh cũng không sung sướng bằng như thế. Mọi người trong phòng đều đổ dồn mắt vào đúng chỗ bà Cécile đã chỉ. Ai cũng đều nom thấy một mảnh rách trên áo ngủ của chị Diễm Hương đã được chị túm lại bằng một sợi dây nom như một túm củ hành. Bà Cécile cười khoái trá:

- Hà! Hà! Khen cho tài nữ công khéo léo của chị. Chị thật xứng đáng làm một học sinh của Thánh Mẫu học đường.

Nói rồi bà dùng mấy ngón tay nhón lấy "củ hành" rồi kéo ra giữa phòng. Chị Diễm Hương líu ríu bước theo. Mọi người trong phòng được dịp ồ lên cười. Nhưng bà Cécile đã quắc mắt lên nhìn. Mấy chị đứng gần bà vội vàng bưng lấy miệng. Dưới sự điều khiển của bà, không ai được cười to cả, cho dù sự việc có đáng tức cười bao nhiêu đi nữa. Đã có lần bà mắng chúng con:

- Coi kìa! Con gái gì mà cái mồm ngoác lên tới tận đỉnh đầu. Đi soi gương thử coi có dơ dáy không nào.

Vì vậy tiếng cười tắt ngúm ngay sau cái nhìn giận dữ của bà, mặc dầu cho nó còn tấm tức trong cổ họng của mấy chị thường đã được phong làm vua quấy phá. Chị Diễm Hương bị dẫn ra chính giữa phòng. Cái áo của chị bị bà kéo xếch lên. Bà vừa vỗ ngọn roi lên đầu chị vừa xoắn lấy cái củ hành và chì chiết:

- Con gái con đứa! Công, dung, ngôn, hạnh thế này thì còn ai chịu được chị nữa không kia chớ.

Chị Diễm Hương ấp úng:

- Thưa ma soeur con... con khíu ta... ạm.

Tiếng "tạm" chưa ra dứt khỏi miệng chị thì bà Cécile đã phết cho chị một roi đau điếng. Sau đó bà truyền:

- Tôi hẹn cho chị từ giờ đến sáng ngày mai chị phải trình tôi chỗ rách đã được mạng lại bằng chỉ nhỏ.

Chị Diễm Hương trợn tròn mắt lên hỏi:

- Thưa ma soeur vá hay mạng...

Bà Cécile hét lên:

- Mạng!... Mà mạng bằng chỉ nhỏ!

Nói rồi không chờ xem mệnh lệnh của bà có làm chị Diễm Hương phải ngất hay không, bà đã lầm lũi ra ngoài. Khi cánh cửa phòng vừa khép lại thì tất cả mọi người đều rú lên, bu xúm xít lại chung quanh chị Diễm Hương để chiêm ngưỡng vẻ mặt thảng thốt và sững sờ của chị. Hình phạt của bà Cécile thật là quái ác. Ở trong lớp chị là người đứng hạng chót về môn nữ công!

Thưa mẹ, như vậy là dù không phải tại con, nhưng gián tiếp con cũng đã làm cho chị ấy chắc sẽ bị một ngày trời mất công đi chạy chọt, nhờ vả người khác.

Tấm giấy nhỏ nhoi, viết bằng giọng văn trúc trắc, mộc mạc kêu gọi toàn thể mọi người hãy nghĩ đến hoàn cảnh thiếu thốn của các em bé mồ côi, vẫn còn nằm vô tình trên cánh cửa. Nhưng sự vô tình của nhiều người trong lớp lại còn đáng buồn hơn nhiều. Tờ giấy đem dán lên không được một ngày sau thì đã có nhiều bàn tay vô danh phụ đề nhằng nhịt lên trên bằng những câu đùa cợt:

- Tôi xin góp một củ hành to bằng ngón chân cái.

- Thiếu tiền lẻ!

- Si j' étais riche!

Thưa mẹ, con không lấy thế làm buồn lòng. Bởi vì bên cạnh những kẻ vị kỷ ấy vẫn còn có nhiều tâm hồn vị tha khác. Những buổi tối sau đó thỉnh thoảng trên mặt table de nuit của con lại thấy để một vài gói quà tặng. Có chị cho kẹo, có chị cho khăn tay, có chị cho áo trẻ con, đặc biệt nhất là chị Bích Thủy gửi tặng bốn cái nệm lót xe tập đi do chính tay chị cắt và may lấy. Như thế là đến chủ nhật này con sẽ mang tới viện mồ côi nhiều món quà đầy ý nghĩa. Với ý ấy, lòng con vô cùng phấn khởi và thích thú: cho đến bây giờ con mới thấy thấm thía về những lời giảng dạy của Soeur Félicité trong giờ giáo lý tuần trước. Ma soeur đã nói:

- Đừng có sợ hãi rằng trên con đường khổ nhọc mà mình đang đi không có bạn đồng hành. Cái khó là chỗ mình biết giữ gìn đức tin cho đến phút kiệt lực, phút cuối cùng, phút mà lòng cảm thấy nguồn vui của một kẻ đã đem hết khả năng của mình ra phụng sự cho những điều tốt đẹp.

Thưa mẹ,

Dưới sự hướng dẫn và khích lệ của mẹ và các soeur đáng kính, con tin tưởng là con sẽ đi được đến cùng.

HẠNH     

_____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 4, 5, 6

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2019

GIỚI THIỆU SÁCH_TAY NGỌC


Kỳ trước, chúng ta đã đọc "CHIM HÓT TRONG LỒNG" và đã cùng hồi hộp, thương cảm, theo dõi những dòng tâm tư của một bé Hạnh thông minh, dễ thương mà đời phủ đầy bất hạnh. Bất hạnh lớn nhất đời cô bé trên dưới 10 tuổi này là : đã không cha lại mồ côi luôn mẹ, đang lúc sống yên ấm trong nội trú. Gấp cuốn truyện lại, chắc nhiều độc giả tự hỏi : không biết tương lai cô bé đó ra sao?

Tác giả đã trả lời chúng ta bằng một tác phẩm. Đó là cuốn TAY NGỌC, NHẬT TIẾN viết, VIVI vẽ bìa, Huyền Trân in lần thứ ba, 1971, 250 đồng.

TAY NGỌC được tác giả "viết tặng tâm hồn trong sáng của các em Thiếu nhi" hoàn tất tại Đàlạt mùa thu năm Đinh mùi, 1967. Đây là những dòng chữ viết tiếp những trang nhật ký, những lá thư gởi má trong "Chim hót trong lồng".

TAY NGỌC là một truyện dài viết dưới hình thức những lá thư. Hạnh, nhân vật chính của cuốn truyện đã trình bày những hoạt động, những cảm nghĩ, những sự việc xảy ra liên quan đến mình và các bạn nội trú trong những lá thư gởi mẹ bề trên. Hạnh bây giờ tuy mồ côi nhưng được một Sơ nhận đỡ đầu và cho tiếp tục ăn học như cũ. Trong một dịp đi sang viện Cô nhi, Hạnh đã được chứng kiến tận mắt những cực khổ, thiếu thốn của các em cô nhi nên cô đã tình nguyện hàng tuần, vào những ngày nghỉ, đến viện Cô Nhi để săn sóc các em bất hạnh đó. Hạnh đã say sưa với công việc bác ái này và đã kêu gọi, thuyết phục, lôi cuốn được một số bạn nội trú tiếp tay săn sóc, giúp đỡ các em. Chính Hạnh đã nhận đỡ đầu và săn sóc đặc biệt cho một em mồ côi tên Thục. Em này "đầu nhỏ, khuôn mặt choắt cheo, vàng vọt, đôi mắt đục lờ đờ không sinh khí. Chân tay gầy guộc và hình như bị bỏ rơi chẳng mấy ai ngó ngàng đến vì những người vào thăm ưa bế và hỏi han mấy đứa khác xinh xắn, bụ bẫm hơn". Hạnh chọn Thục với hy vọng biến nó thành một người có tình cảm và suy nghĩ.

Lúc đầu Hạnh kêu gọi các bạn giúp đỡ các em bằng cách viết lời kêu gọi vào giấy dán lên kính ở cửa nhà, nhưng chỉ được "những bàn tay vô danh phụ đề những câu đùa cợt như:

- Tôi xin góp một củ hành to bằng ngón chân cái.

- Thiếu tiền lẻ!

- Si j' étais riche!" (tr. 32) (1)

Sau nhờ kiên tâm và lòng yêu trẻ, Hạnh đã lôi cuốn được một số bạn đến tiếp tay. Họ lập "Hội những người bạn của bé Thục" (Thục là một tên tượng trưng cho các em mồ côi). Tất cả 7 người, họ chia nhau các công việc trong Viện như quét dọn nhà cửa, săn sóc, may vá quần áo cho các em. Hoạt động được một thời gian, các hội viên rút dần, chỉ còn lại mình Hạnh! Sau Hạnh kêu gọi đến các hội đoàn giúp đỡ. Trong thư gởi đến các đoàn có đoạn sau: "Xin dùng những bàn TAY NGỌC tưới lên những bông hoa héo úa này (2) tất cả mọi tình cảm tươi mát để vườn hoa tuổi trẻ chúng ta không còn có những cụm hoa tàn tạ".

Nhờ Hạnh, các bạn Hạnh và các em hướng đạo sinh mà những cô nhi đã được sống những giây phút thoải mái, tâm hồn được sưởi ấm bằng ngọn lửa tình thương tỏa ra từ những bàn TAY NGỌC. Chính những bàn TAY NGỌC này đã xoa dịu bao nỗi thương đau, tủi hờn và mang lại hạnh phúc cho các em kém may mắn của Viện Cô Nhi.

Tác giả còn cho biết về quan niệm giáo dục qua lời phê bình của Cúc, bạn Hạnh ; quan niệm về viết văn qua lời thư của Sơn, bạn Cúc ; quan niệm về bác ái, qua thư gởi các hội đoàn của Hạnh.

Ngoài ra, tác phẩm còn hiến cho các học sinh những đoạn văn tả người (tr. 97), tả cảnh (tr. 98), thuật sự (tr. 218)... đặc sắc mà các em có thể mô phỏng khi làm luận văn.

Trong hoàn cảnh sách báo thiếu lành mạnh tràn ngập thị trường hiện nay, TAY NGỌC với nội dung lành mạnh, lý tưởng, với lời văn trong sáng, giản dị... quả là một món ăn tinh thần bổ ích cho giới trẻ học sinh.


NHUỆ HƯƠNG   
27. 8. 72         
----------------- 
(1) Nếu tôi dư tiền. (2) Các trẻ mồ côi.


(Trích từ bán nguyệt san Ngàn Thông số 33, ra ngày 5-9-1972)

________________________________________________________________
XEM CHƯƠNG 1, 2, 3
 

TAY NGỌC - Nhật Tiến


Truyện dài của NHẬT TIẾN
Bìa của Vi Vi
NXB Huyền Trân - 1971

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2019

NGƯỜI VỀ PHỐ BIỂN - Duy Nguyên


Lâu quá anh chưa trở về phố biển. Dễ cũng có đến mấy năm đã qua, từ một ngày niên thiếu thúc hối rời bỏ. Từ đó, cũng có rất nhiều lúc tình cờ nhớ lại những tháng ngày xanh ngát, khi nghe ai đó nhắc nhở về biển.

Từ đó: biết mấy mùa bằng lăng tím ngát đến và đi, xong trở lại ; bao lần cây cối thay lá lớn lên đơm hoa kết trái. Hằng hà sa số đợt sóng kéo tràn bào mòn biết bao đá tròn quanh bờ bãi. Sóng cũng làm thay đổi bãi quanh co và bằng phẳng. Chắc chắn là bãi biển từ ngôi nhà nhìn xuống phải có nhiều thay đổi. Dù biển vẫn xanh, sóng vẫn trắng dạt dào như từ bao giờ.

Anh lẩm cẩm nghĩ vẩn vơ chắc là đã không biết bao lần nước biển bốc hơi đọng thành mưa, rơi xuống, và tiếp tục chu kỳ. Không biết những sợi tóc mọc dài được bao nhiêu rồi nhỉ? Em nhỏ thay đổi bao nhiêu mái tóc, tóc ngắn tóc dài, kiểu này kiểu nọ, thắt nơ cột bính?

Kể từ khi rời phố biển đến vùng rừng núi rồi đồng bằng, cũng có vùng biển lạ xa ; và nơi chốn đó gợi anh nhớ những ngày tung tăng, những đêm sóng gào cuồng nộ lang thang ra hứng gió quất lạnh cóng.

Đúng rồi, anh nhớ lắm đôi mắt tròn xoe như hạt nhãn em nhỏ. Anh tham ăn, nhớ trái mận có màu da hồng hào căng mịn. Những ngày hè nghịch ngợm và lãng mạn.

Thành phố anh ở bây giờ cách phố biển hơn trăm cây số, khoảng hai giờ xe chạy và chưa được nửa giờ đường bay. Tóm lại, không xa lắm. Nhưng đối với một tên lừng khừng thì cũng không ít có khi hay làm mất dịp ra biển. Anh hứa thầm hoài và cứ lỡ hẹn riết. Lâu lâu có ngày lễ vào thứ bảy hoặc thứ hai thật tiện lợi anh lại chẳng chịu đi. Cứ nghĩ bãi biển lúc nhúc toàn là người, thấy nản. Thành phố anh ở bây giờ rất nhiều nắng nhưng chẳng có lấy một bờ biển hay dòng sông nước trong mát. Kỳ này lại có lễ vào thứ hai, anh vẫn chứng nào tật nấy. Lữ khữ lừ khừ chẳng chịu tính toán, hoạch định chương trình gì ráo. Sáng chủ nhật nằm ngủ một giấc no mắt đến trưa. Thứ hai, ngày coi bộ đẹp. Nắng rực rỡ. Gặp nhau ở quán nước, một tên đề nghị đi tắm biển. Anh mừng rỡ lẫn ngạc nhiên hỏi dồn. Đó là tại vì ngày nay là một ngày rỗng trống, anh đoán thế. Tên đề nghị bảo khởi hành ngay bây giờ, chiều về.

Thế là không sửa soạn, chẳng có hành lý gì cả. Tất cả chất nhau lên chiếc xe hơi nhỏ mui trần. Trời nắng chang chang. Chuyến đi bất ngờ mang đến anh cảm giác thích thú lạ kỳ. Nằm thoải mái đầu dựa vào nệm xe, khói thuốc thở bay tản mác ra sau, anh không còn nghe nắng nóng bức. Chỉ có gió mát gì đâu. Anh cảm thấy mình là người sung sướng quá rồi.

Quả thực là anh rạo rực khi nghe thoảng mùi gió biển mằn mặn. Hình như cái cảm giác rạo rực giống như anh đọc được trong sách, đó là cảm giác thổn thức bối rối rung động gì đó của các cô mới lớn khi gặp "hoàng tử của lòng". Tuồng như anh của một mùa vụng dại, bỗng dưng bắt gặp ngày hôm nay khi về thăm thành phố biển nhiều ghi dấu.

Những loại cây xanh ngắt thấp lè tè mọc đầy dẫy trên vùng rừng sác, nước mặn trông cũng dễ thương. Anh nghe rõ ràng hương vị lạ ngây ngất của biển quen thuộc thời nào. Xe qua cây cầu có cái tên khá hay: Cỏ May. Bây giờ thì biển đang ở gần anh lắm vậy. Điều này làm anh nôn quá đi, tựa như đứa bé chờ cha mẹ về chợ. Anh huýt sáo ồn ào khiến tên bạn ngạc nhiên. Gì mà vui vậy bạn?

Anh mỉm cười. Anh nhớ ra rồi, cái động lực tuy mơ hồ nhưng bền bỉ thúc đẩy anh về thăm phố biển. Biển nhỏ chính là lý do hết sức chính đáng thôi thúc anh. Biển nhỏ: tóc dài cười tươi trẻ thơ, vóc dáng cử chỉ của một tâm hồn mềm mại rất dễ yêu. Anh hồi đó nhảy hàng rào qua ăn mận chấm muối ớt để rồi hít hà vì cay. Anh hồi đó cùng Biển nhỏ mò mẫm tìm những con ốc đủ màu.

Anh nhắm hờ mắt, vui thích tưởng tượng Biển nhỏ bây giờ. Trí tưởng tượng của anh không được dồi dào lắm nhưng anh cũng đủ biết Biển nhỏ không còn bé như hồi đó. Quên, không được gọi là Biển nhỏ nữa mà cũng chẳng được kêu là Biển nhớ. Hai tên đặt đó xưa rồi, quê rồi. Chỉ đúng một lúc nào đó mà thôi. Thế thì gọi là gì nhỉ? Để gặp nhỏ đã, anh sẽ có một tên khác đặt cho Biển. Thí dụ như Biển yêu, Biển thương... chẳng hạn. Đó chỉ là trí tưởng của anh và anh mong ước vậy.

Chắc Biển sẽ khoe với anh: Em không còn nhỏ nữa đâu. Em lớn rồi nè! Ừ. Thì lớn ghê lắm Thế thì không được gọi Biển nhỏ nữa nghe. Phải có tên gì khác gọi cho khỏi lộn với biển thật chứ và anh sẽ nói nhỏ: Biển lớn và đẹp thêm ra!

Như vậy chắc chắn là Biển quay lưng, bĩu môi (nhưng hẳn là trong bụng sung sướng lắm). Anh cũng giả vờ trêu, anh nói biển thật lớn rộng và đẹp hơn chứ bộ, cứ tưởng bở!

Lạy trời cho có điều đó xảy ra.

Có rất nhiều thay đổi dưới mắt anh trong trí nhớ về phố biển. Ngay cả ngọn núi là vật anh tưởng rất ít có thay đổi, giờ lạ hẳn, không kể cây cối thay đổi theo bốn mùa là lẽ đương nhiên. Anh muốn nói đến đài ra đa ngạo nghễ trên đỉnh, nhà cửa dần dần cất nhiều trên sườn núi, con đường quanh co vòng núi. Nhất là dưới chân núi thoai thoải thật nhiều biệt thự. Hồi anh còn ở đây, có vài căn nhà xoàng xoàng.

Nhất là các con đường, đường ở khu chợ, đường dọc ở bãi Trước đầy những quán ăn khách sạn đèn màu chữ màu lòe loẹt. Tiếng nhạc ồn ào thịnh hành, anh cứ tưởng đây là thành phố nào đó ở nước ngoài.

Thường những thay đổi làm người về e ngại. Anh cũng vậy. Anh hồi hộp ngồi xe chạy một vòng phố.

Dĩ nhiên là thành phố tân tiến văn minh hơn. Nhan nhản dọc hè phố áo màu sặc sỡ hở hang làm anh chán hết sức. Phải chi phố hiền hòa áo màu nhu tha thướt chắc hay lắm. Phải chi đừng có các cửa tiệm thời thượng đó, phố đỡ chướng mắt hơn. Anh phì cười. Các cửa tiệm đó không là của anh nên anh nghĩ vậy. Giả thử nó là của anh thì biết đâu nó còn ghê gớm hơn. Nhưng dĩ nhiên anh chưa bao giờ giàu đến vậy để có thể thay đổi bộ mặt phố.

Rồi anh lại vui vẻ như thường lúc nhìn màu biển xanh lấp lóa dưới nắng. Những ngọn lá vẫn xanh mướt trên các hàng cây khiến anh yêu đời như chưa từng yêu đến thế. Anh yêu biển quá sức (có thể biển viết hoa).

Xe vòng ra bãi Sau. Đáng lẽ anh phải bảo tên bạn lái đường vỏng chân núi nhìn xuống biển qua bãi Ô Quắn. Nhưng anh lại ngại bị hạch hỏi lôi thôi. Dù biết tính từng tên bạn một anh vẫn e dè. À, anh khám phá ra rằng anh vẫn còn khờ như ngày ở đây. Bởi vì đi con đường núi sẽ ngang qua nhà Biển nhỏ, dù anh rất muốn.

Tắm biển bao giờ cũng thú. Anh tiếc một điều là quá đông người, nước ngọt, phao, ghế đều quá đắt so với ngày trước. Thấy nhiều người tắm quá anh đâm ra chán dù biển còn rất quyến rũ. Anh mong nghe tiếng sóng vỗ giữa âm thanh lộn xộn của ngàn tiếng cười nói. Điều ao ước nhỏ nhoi mà cũng thật khó. Mấy tên bạn ngồi trên đá lấy ống dòm xem bọn con gái chí chóe tắm đùa. Một thằng nói ra đây rửa mắt thú hơn tắm. Anh xuống tắm, với anh biển hấp dẫn quá. Nước mặn chát trên môi và mắt anh cay sè.

Nhìn bầy con gái ríu rít chuyền banh anh vui lây. Trái bóng nhanh nhẹn nhảy từ từng bàn tay rám nắng chắc nịch. Da dẻ coi bộ đỏ rần rần. Vài cô tinh nghịch ôm chặt trái bóng chạy ào xuống nước trong khi các cô kia đuổi theo reo hò. Trời ơi, chắc là diễm phúc lắm nếu anh được làm trái bóng đó. Lúc này dường như con gái chịu khó tắm biển, không còn e lệ rụt rè như xưa. Các cô trông mạnh khỏe rắn chắc, da nâu hồng. Anh chợt phân vân tự hỏi trong bầy con gái dài suốt bãi biển có Biển nhỏ không?

Anh có ý tưởng kỳ cục là muốn Biển nhỏ vẫn ngây khờ, nghĩa là không có mặt trong đám con gái dạn dĩ kia. Mặt khác anh lại muốn thấy Biển lớn hẳn ra, thấy lại ngỡ ngàng và vui mừng. Anh thì vui là cái chắc rồi, anh vui dễ sợ nếu trường hợp đó xảy ra.

Nhưng còn Biển nhỏ? Anh nhớ ra rằng Biển đã lớn lên. Và biết đâu đã có rất nhiều thay đổi. Nhiều lắm.

Dù không hy vọng gì lắm anh vẫn đi dạo một vòng. Quá nhiều quán ăn giống nhau khó mà nhớ bảng hiệu, vị trí. Anh cũng mong gặp lại thằng bạn cũ nào cũng được, bạn vàng hay bạn trời đánh. Để có dịp nhắc lại về phố biển hồi đó. Mặc kẻ đối diện có chú ý hay không anh cũng cứ thao thao nói. Trong câu chuyện anh sẽ dò hỏi về Biển để bớt thắc mắc như bây giờ.

Đi hết một vòng mỏi nhừ anh buồn bã quay về chẳng gặp một bộ mặt nào quen thuộc. Chán thật!

Cả bọn kéo vào một hốc đá lôi đồ nguội ra ăn. Tắm khoảng hai giờ da đứa nào cũng đỏ au, tóc rít chịt. Một đứa lôi chai Dubonnet đưa lên cao trong tia mắt hấp háy vây quanh. Chà, trời này uống một hớp rượu... hết sẩy! Tuyệt vời không chê vào đâu được. Chuyền tay qua được vài lần đã hết sạch. Anh là tên cuối cùng của vòng cuối, dốc ngược chai còn sót vài giọt rượu thòm thèm.

Dù vậy anh vẫn cảm thấy ngây ngây dễ chịu. Thân thể khô ran và nóng bừng kích thích muốn chạy nhảy rất nhiều. Anh bực mình hết sức vì tên nào cũng như muốn ngủ (!). Phải thúc hối lâu lắm tất cả mới uể oải lên xe rời bãi. Trực chỉ bãi Dâu, bạn ta! Đi đường biển lý thú hơn. Con đường quen thuộc mà anh lỡ dại quên mất tên. Lần này anh làm tài xế.

Dĩ nhiên là anh chẳng say đến nỗi không thể lái được. Trái lại, anh bình tĩnh nhiều là khác. Cũng bởi đã nôn nao lắm rồi.

Dọc đường anh không ngớt nghĩ về Biển nhỏ. Anh cười thú vị khi nhớ cây mận ra trái da ửng đỏ quá mức hấp dẫn. Trưa hè nồng nàn, mận ngọt lịm cùng muối ớt cay xót lưỡi, , mắt to đen của Biển, môi hồng chúm chím và tóc thả dài như suối rừng. Còn gì thú vị bằng nhỉ?

Hình như bây giờ là mùa mận. Có lẽ đúng vậy, từ lâu anh quên mất về thời tiết mùa màng cây trái sau mấy năm không lấy làm êm đềm lắm. Anh bật cười thích thú, mấy tên trên xe nhìn anh và cũng cười theo. Ừ, bây giờ chắc có nhiều mận chín. Cây mận nhà Biển hẳn cao lớn sum sê treo những quả mận căng tròn quyến rũ như trái cấm. Mặc kệ, trái cấm là trái ngon. Anh lại là thằng con trai khoái ăn trái cấm hơn hết.

Con đường có nhiều thay đổi. Phía trái là bờ biển chẳng có gì lạ. Có thay đổi chút chút mà anh không thấy! Làm sao thấy được sự đổi khác của màu nước biển mênh mông, của cát vàng, của các hòn đá có bị bào mòn đi một ít. Phía phải ngày nay quá nhiều biệt thự, nhà mát. Cái nào cũng thật sang trọng và mang những cái tên hết sức kêu mà cũng hết sức tầm thường. Các khung cửa mở ra biển xanh. Phải chi có một ít cây cối thì hay hơn. Trông chúng tuồng như nóng bức quá. Anh lại bắt quàng ý tưởng về cây lá nhà Biển, về hàng rào tơ hồng óng ánh.

Tơ hồng. Loại dây leo có cái tên hay ghê. Sợi tơ hồng nối từ tay anh sang tay Biển khi hai đứa đứng hai bên hàng rào nói chuyện.

Một khoảng bãi cát ngắn tương đối bằng phẳng anh thấy hai cô nhỏ chạy lăng quăng. Tóc bay dạt phía sau, chân trần ướt cả hai ống quần trông thật vui. Anh chạy chậm, bóp kèn tin tin và đưa tay vẫy vẫy, cười.

Đến trước nhà Biển anh dừng xe lại Con đường nhỏ xe đậu sát vách đá thấp. Anh mừng vì còn nhận ra những nét quen thuộc cũ dù ngôi nhà đã được sửa chữa xây cất lại xinh hơn. Nhà Biển bây giờ có vẻ ấm cúng. Với hai ngọn đèn lồng ở cổng nom sang trọng hẳn. Tuy nhiên chính từ cái vẻ sang trọng đó làm tăng thêm sự cách biệt đối với những nhà lân cận. Anh còn có cảm tưởng càng tách biệt xa lạ hơn với người khách lạ, anh em.

Ngôi nhà một người quen lúc trước anh ở, bán cho người khác. Họ sửa lại quá lộng lẫy. Chán hết sức con đường này vì anh chẳng tìm được ở đó sự thân mật nào...

Cây mận nhà Biển còn và anh rất sung sướng thấy có nhiều trái. Tiếc là cái hàng rào tơ hồng mất tiêu. Thay vào đó  hàng rào xây gạch cẩn thận. Tất nhiên là không ai bỏ công ra trồng một loại dây leo nào khác. Các dây tơ vàng óng đứt đoạn từ hồi nào.

Mặc mấy tên bạn ngạc nhiên, anh xuống xe, lấy ống dòm nhìn qua đám lá để thấy rõ hơn. À, dường như cửa đóng. Khung cửa kính có tấm màn màu xanh che kín im lìm. Anh chạy lên đứng ngoài cánh cổng. Nhà đi vắng hết, có lẽ vậy, cánh cổng khóa lại bằng ống khóa to tướng bên ngoài. Anh bấm chuông, quả thật, không có ai chạy ra.

Anh đứng nhìn hồi lâu chờ với niềm hy vọng mong manh. Biết đâu có ai ở nhà và kẻ đó... lãng tai. Có thể đang bận làm gì đó. Màu lá mận xanh quyến rũ quá và trái mận căng tròn. Anh thấy rõ các nhánh cây khi trước đã trèo lên, đã bị kiến cắn dữ quá nhảy xuống nền đất kia.

Bây giờ ngôi nhà vắng ngắt. Rõ chán, ngày chúa nhật gì đâu!

Anh thất vọng chạy xuống. Anh bỗng khựng lại. Biết đâu ngôi nhà đó không còn là của gia đình Biển. Biết đâu được, nhỉ! Biển có thể đã rời vùng biển này đi đến vùng đồng bằng cao nguyên nào đó xa lắc lơ. Đi đến vùng núi cao đồi xanh ở cạnh suối rừng róc rách. Đi đến dòng sông mênh mang nào qua các cánh đồng lúa và cái tên Biển chỉ là một ghi nhớ, một nơi chốn ghé qua của cái gia đình viễn du đó. Không rõ. Hay Biển vẫn còn ở phố biển mà trú ngụ nơi khác anh khó gặp lại ngoài đường phố, trong thành phố có quá nhiều du khách.

Và anh buồn quá sức, làm như ý nghĩ trên là sự thật rồi vậy.

Lại một màn tắm ở bãi Dâu. Sau đoạn đường cả bọn đã tỉnh táo ào ào xuống tắm. Anh chán nản hết sức không ngờ chuyến đi buồn đến vậy. Có lúc muốn nhảy ào xuống biển sâu cho rồi. Quên mất, bãi Dâu có mấy hố sâu bất chợt nước ngầm chảy xiết. Vô phước cho người yêu đời và may mắn cho kẻ chán đời khi gặp các hố sâu. Anh đang buồn. Buồn gần như đồng nghĩa với chán đời, biên giới hai trạng thái đó quá gần, quá mong manh.

Vào quan nước ven bờ, tình cờ bài Biển nhớ. Bài hát làm anh rũ rượi chẳng muốn cựa quậy chi nữa. Có lẽ phải học thêm nhạc lý vững vàng để đặt duy nhất bài hát anh hứa với Biển nhỏ. Anh nhận ra mình vẫn còn khờ khạo yếu đuối không ngờ. Điều đó làm anh sung sướng khi biết anh còn trái tim xúc cảm giữa đời sống cằn cỗi này. Đồng thời điều đó khiến anh khổ không ít.

Anh đứng ngơ ngáo giữa rừng người cười cợt. Chân bước trên cát mềm, thỉnh thoảng vẫn dẫm phải vài viên đá sỏi đau buốt lòng bàn chân. Trông cát ẩm êm như thế mà cũng có chút lừa lọc nhỏ. Một tên thuê xuồng bằng cao su xốp rủ anh đi với hắn. Hai đứa chèo ra tít ngoài xa. Gác tay chèo, nằm ngửa mặt nhìn vào trong thành phố. Từ đây anh thấy rõ ràng thành phố có nhiều thay đổi. Chẳng hạn như các khách sạn, nhà hàng cao sừng sững, cây xanh chết bớt đi. Bãi Dâu, địa danh làm anh ngậm ngùi nhớ đến chuyện bể dâu. Sau nhiều năm biển xanh hóa thành ruộng dâu hay thành cái gì đó khó có thể ngờ trước. Sau mấy năm trở về, tên khách lạ quá lạ lùng trước sự thay đổi lớn lao đó. Giá mà lần này anh về một bờ bãi biến thành đất liền, một hòn đảo lặn xuống, mất tăm, vui lạ!

Tên bạn vỗ tay xuống nước lõm bõm đánh nhịp, hát. Xuồng càng lúc được đưa xa bờ hơn, giữa nước xanh rộng bát ngát. Tên bạn chợt ngồi dậy chỉ anh thấy chiếc xuồng gần đó, hai đứa con gái chèo nhịp nhàng. Hắn nheo mắt cười, lại đó nghe? Hai đứa ra sức chèo đến xuồng kia. Hai đứa con gái một mặc áo tắm vàng, một hồng. Nắng chói mắt không nhìn rõ mặt, qua dáng gọn ghẽ chắc cũng khá xinh. Đến gần anh chợt kêu lên mừng rỡ:

"Biển!"

Đứa con gái mặc áo tắm vàng quay nhìn trước. Anh định nói nhưng ngừng lại vì ngờ ngợ trí nhớ anh. Đứa con gái nói dạn dĩ hồn nhiên:

"Ông lộn rồi. Tôi không phải là Biển. Chị tôi đó."

Anh thở ra. Đúng rồi. Anh còn nhớ Biển nhỏ kỹ lắm chứ. Chắc cô gái này tên Núi tên Suối hay Đồi gì đó. Hồi đó cô gái còn nhỏ anh chẳng thể nào nhớ tên được. Anh phải nói dài giòng đại khái rằng thì là lâu quá mới về đây. Lâu quá không gặp Biển nên mới có sự lầm lẫn trên. Anh tả oán quá chừng làm như việc gọi lầm là cái tội lớn lắm. Anh hỏi:

"Biển đi đâu thế?"

"Không biết. Tôi đi bơi từ sáng. Ông có qua nhà?"

"Tôi có đi ngang thấy đóng cửa. vẫn còn ở địa chỉ cũ hở cô?"

"Còn."

Cô gái nhảy ùm xuống bơi một quãng xong trèo lên lắc lắc đầu cho nước văng ra. Nắng nóng quá, ông ạ. Cô gái lớn thế kia, thì Biển sẽ lớn thế nào? Anh chưa tưởng tượng được, khó quá. Anh nói với giọng tiếc nuối:

"Nhà lạ quá nhận không ra. May có cây mận tôi mới nhớ, tại hồi đó hay qua ăn mận."

"Ông đi lâu lắm rồi?"

"Lâu. Từ lúc cây mận mới ra trái. Hồi đó tôi ở nhà bên cạnh nhảy hàng rào qua chơi với chị của cô. Cô biết lúc đó đối với tôi cô ra sao không?"

"Không. Tôi chẳng thấy ông lần nào."

"Cô nhỏ xíu đến tôi chẳng nhớ gì về cô."

Anh mỉm cười. Định nói tôi còn chẳng nhớ tên cô nữa là. Cô gái hao hao giống Biển tuy đôi mắt không được xinh bằng. Không hiền như Biển trong ý nghĩ anh, có vẻ khôn lanh hơn nhiều. Chắc cũng hay đi chơi lắm đây. Cứ nhìn màu da nâu hồng bắt nắng là đủ biết. Cô gái dáng đại diện cho các cô choai choai, bạo dạn quá đáng.

"Biển lúc này thế nào?"

"Chỉ cũng vậy. Đâu có gì lạ."

Cách trả lời của cô gái không giúp anh biết gì về Biển bây giờ. Chả lẽ anh hỏi rằng Biển ốm hay mập, có cao được mấy tấc, rằng Biển có nhắc nhở gì anh, mắt có còn to không, đang để kiểu tóc nào... vân vân và vân vân. Cô em quên mất đã thật lâu anh không biết tí gì về Biển. Kể ra anh cũng vô tình quá, chẳng nhớ được địa chỉ để gửi một vài lá thư. Cũng có những lúc anh rất nhớ rất buồn muốn tìm một niềm an ủi. Niềm an ủi kiểu như: Một tâm hồn cô đơn qua mấy mùa xuân, tha thiết mong cánh nhạn bốn phương để xoa dịu nỗi khổ thời chinh chiến... nhan nhản trên các nhật báo. Tiếc cái là anh không ưa trò viết thư mà chưa biết tí gì về người đó. Mới đây có cô nhỏ nào tình cờ biết địa chỉ viết cho anh một cái thư, với lời lẽ mềm mại bạn nhỏ và ông. Trò này coi bộ khá hơn ít ra hai kẻ lạ xa đủ gặp vài điểm hợp ý qua vài bài trên báo. Tuy nhiên nếu biết mặt nhau vẫn hơn và càng tuyệt vời nếu cô nhỏ Nhà Bè dễ thương trong tính tình cử chỉ như Biển. Mà bây giờ Biển lớn có còn được như của năm học trò "đệ lục... nồi" và "đệ ngủ... gục" (lời Biển nhỏ).

"Biển có hay đi bơi không?"

Anh thò tay xuống nước biển xanh nghịch ngợm. Cô em Biển nheo mắt cười.

"Thường lắm! Tuần nào cũng đi vài lần là ít. Chị ấy bơi cừ ghê."

"Mong dịp nào tôi gặp Biển ngoài bãi."

Có gặp chưa chắc đã nhận ra. Anh bùi ngùi với ý nghĩ ấy. Và như thế anh tưởng tượng Biển chắc cũng như cô em. Da rám nắng hồng hào, thân thể rắn chắc khỏe mạnh. Sao Biển không lang thang dưới bãi tìm ốc hay ngồi trên đá thò chân nghịch sóng biển như xưa?

Chợt nhớ gì đó cô em Biển quay sang hỏi bạn:

"Anh Ni có nói đi đâu hôm nay không?"

"Không. Thì vẫn đi vòng vòng rồi tắm biển. Có lẽ họ đi Long Hải."

Cô gái quay sang anh.

"Chị Biển đi chơi. Anh chị tuần nào cũng đưa nhau đi khắp các phố."

"Anh nào?"

"Fiancé của chỉ đó. Ông không biết hả?"

Anh choáng váng như say sóng. Anh không khỏi liên tưởng Biển cùng cái thằng phải gió chở nhau trên chiếc gắn máy. Như bao cặp trẻ tuổi trong mùa hè nồng nàn. Anh, kẻ đứng bên lề tuổi trẻ còn đầy nhưng đã lỗi thời. Mùa hè của anh và Biển khi trước như xảy ra vào thời tiền chiến, còn lãng mạn khù khờ hơn cái phim Un' été 42. Biển hồi đó tách rời mọi đứa con gái khác tựa hồ một tinh cầu thiên đường cách loài người. Biết bao lần nước dâng rút, cơ man các con ốc chết phơi vỏ tuần tự đến đời ốc mượn hồn, tinh cầu thiên đường bị đồng hóa như mọi hành tinh khác tầm thường.

Biển nhỏ dễ thương đeo xâu vỏ ốc chạy nhảy tung tăng. Biển nhỏ trong sáng như nắng sớm mai. Như thế anh rất yêu Biển nhỏ.

"Tối ông đến chơi, chị có nhà."

Anh im lặng. Cô gái tiếp:

"Ông tên gì để tôi về nói trước chị Biển đợi."

"Nói tôi là Mây Bay"

"Mây Bay?"

Gật đầu anh chỉ cụm mây trắng phiêu bồng cuối mặt biển. Hai đứa con gái nhìn nhau cười khúc khích. Tên bạn cũng cười. À, cả ba hẳn cho là anh điên hoặc đang pha trò, mà trò vui rất tồi đối với anh bởi chỉ một mình anh hiểu. Anh nói ngậm ngùi:

"Chiều nay tôi đi rồi."

"Gấp vậy? Ông mới đến hồi sáng mà? Ở lại chơi mai về sớm."

Tên bạn cũng bảo:

"Ở lại đi. Chiều về mệt lắm."

"Thôi. Buồn chết người."

Và anh vội quơ tay chèo.

"Cho tôi gởi lời thăm Biển nhỏ"

"Biển nhỏ?"

"Vâng. Cô cứ nói thế, chị cô sẽ hiểu. Chào cô."

"Chào ông. Vui vẻ nghe ông!"

Một chút hạnh phúc nhỏ nhoi bị tước đoạt tàn nhẫn. Chút mơ mộng héo queo như tàu lá chết.

Đời sống càng lúc càng trở nên quá vội vã bon chen không để dành cho ai ít tươi mát dịu dàng như ngày xưa. Tiên chắp cánh bay xa không để lại rơi rớt chút gì dễ thương như giọt sương sớm, xảy đến cho bất cứ ai. Đời sống trở thành cái chong chóng quay vù vù và bọn anh là mẩu giấy nhỏ bay lạc tả tơi. Ngày xưa có anh và Biển nhỏ giữa thiên đường với trời xanh, biển cả. Ngày xưa: Biển có đôi mắt rất đẹp. Như những vì sao anh thấy, hằng đêm, nhấp nháy.

Anh đứng lơ ngơ trên cát, giữa đám người ồn ào, nhìn về hướng nhà Biển nhỏ. Bỗng dưng anh ao ước kỳ cục: Phải chi Biển đừng lớn làm quái gì. Tất nhiên điều trên không thể nào xảy ra. Anh váng vất nhìn hàng mận rơi tỏm xuống biển đen sì. Giữa nền trời bàng bạc mây, gió cuốn vô số lá xanh bay để gốc cây trơ trụi chết dần mòn. Anh và Biển, hai kẻ lạ xa tình cờ gặp quen, xa không còn trong nhau chút gì để nhớ. Có thể sau này cũng trong tình cờ gặp lại, nhận biết và Biển rất có thể làm như không hề quen anh. Kỷ niệm chỉ là bọt biển dù nhiều cách mấy vẫn dần dần vỡ tan.

Bây giờ phố biển với anh hoàn toàn xa lạ. Rời phố biển về chỉ còn ghi lại trên lớp da mùa hè rám nắng, vỡ ra.

Anh về và nghĩ sẽ không ra thành phố này. Để anh còn giữ hình ảnh Biển nhỏ ngày đó trong tâm hồn như chút an ủi nơi đời sống quá buồn bã. Còn nhớ một cô nhỏ mơ mộng. Để anh còn nhớ Biển nhỏ dạt dào không cần biết Biển nhỏ có nhớ Mây bay? Và anh rất hãnh diện vui vẻ kể rằng: Hồi đó, anh có quen một cô nhỏ tên là Biển...

Mặc dù chung quanh rất nhiều người, thành phố rộn rịp ; với anh phố biển buồn hiu.


DUY NGUYÊN    

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 103, tuần lễ từ 24-5 đến 31-5-1973)