Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Ở Nhà (I)


Một chiều tan học từ trường về, An vung vẩy cái cặp da đi ngang nhà bác Chất có bụi tre lúc nào cũng buộc con bò đen, một đám trẻ con vơ vẩn chơi gần đó chạy ra báo, vẻ rất háo hức: “Mẹ mày đi bệnh viện rồi đó!” Rồi con Thanh xông đến khoe: “Má tao phải đi cùng con châu chị mày, đi xích lô!” Rồi mấy đứa nhìn nhau bình luận: “Khiếp! Con Châu mặt tái mét, nhỉ?”

An chạy bắn về nhà, trong nhà, quang cảnh hỗn độn như vừa xảy ra một vụ lục soát ; cả chậu, khăn cũng vứt lên phòng khách, mấy ngăn kéo tủ quần áo kéo tung ra trong lúc vội vã nằm ngổn ngang giữa phòng. Thằng Vũ ngơ ngơ ngác ngác đi từ dưới bếp lên bảo: “Cơm cháy hết rồi!” An gắt: “Thằng ngố! Kể đi, mẹ bị ra làm sao?” Vũ trợn mắt ngẩn ra: “Đi rồi mà, chị Châu với bác Hòa đưa đi rồi mà!” – “Tao biết rồi, tao hỏi mày là mẹ bị ra sao mà phải đi cơ mà!” Rồi để trút giận vì thằng em rề rà, An nắm gáy con mèo đang gừ gừ cọ đầu vào chân chủ lẳng một cái ra góc nhà rồi bảo: “Kể nhanh đi” – “Mẹ đau bụng, đau lắm, rồi ói, có cả tí máu nữa” Rồi nó dài mặt ra: “Ghê lắm!”

“Bệnh tật!” An thở hắt ra một cái rồi mệt mỏi ngồi lọt thỏm vào trong lòng cái ghế mây to cộ, cái mặt non choẹt đầy tàn nhang của nó chợt cau lại lo âu già đến hơn mười tuổi. Vũ bảo: “Mẹ ôm bụng rên nghe sợ lắm, em không dám vào phòng!” – “Thì cũng như mày chứ gì?” Rồi An nhớ lại bố đã từng bảo cả nhà chỉ có An giống bố, nóng tính và không thích rên rỉ, ỉ eo. Còn Châu và Vũ giống mẹ, ốm một tý là quấn tròn cái chăn như một con sâu rồi rên hừ hừ, thỉnh thoảng thều thào đòi uống nước, tóc tai rũ rượi, mắt dại đờ ra trông đến sợ. Còn An, An không rên mỗi khi ốm, An chỉ nằm im thin thít trên giường, thằng Vũ cứ ít phút lại chạy vào thì thào khuyên chị nên xin mẹ ăn món này món nọ, xét ra toàn là những món ăn hợp khẩu vị của Vũ.

Thừ ra một lúc, An vùng dậy, nó buộc tóc ngoay ngoáy rồi ra lệnh cho Vũ: “Dọn nhà đi, từ mai tụi mình sẽ thay nhau đi nuôi mẹ!” Nói xong câu đó, nó oai vệ đi xuống bếp, cảm thấy mình đang là chủ, nắm quyền sinh sát mọi sự, và việc đầu tiên là nó nghiên cứu xem thằng Vũ đã để cháy nồi cơm như thế nào?

*

Ba đứa phân công như thế này: An học buổi sáng, Châu và Vũ học buổi chiều. Thế nên buổi sáng An sẽ vào với mẹ, còn buổi chiều là Châu. Vũ hỏi: “Em vào lúc nào?” Châu lừ mắt bảo: “Em vào đấy thì làm được việc gì? Hay lại nghịch ngợm để người ta tống cổ cả hai mẹ con ra khỏi bệnh viện?” – “Nhưng cũng phải cho em thăm mẹ chứ!”, Vũ phụng phịu, rồi nó reo lên: “Em sẽ vào buổi tối!” Châu nháy mắt ra hiệu cho An rồi bảo, rất trang trọng: “ Không được, mẹ dặn chị rồi, nhà mình vườn rộng, hàng rào, cửa nẻo lại ọp ẹp nên không được bỏ nhà vào với mẹ. Với lại, chỉ có em là đàn ông, có em, dù sao cũng an tâm hơn, trộm nó cũng còn biết sợ!” An kín đáo quay mặt ra hướng khác bĩu môi, rồi nén cười nó giơ tay chỉ mặt Vũ: “Đêm nay, mày phải thức canh cho chúng tao ngủ đấy!”

Chín giờ tối, Vũ bắt đầu đi đóng các cửa trong nhà. Có tất cả ba cái cửa phụ mở ra vườn và nhà kho, hai cánh cửa chính và sáu cái cửa sổ. Lần nào đóng xong, Vũ cũng thấy An làm một vòng thử lại từng cái, xem chốt trên chốt dưới rồi lấy tay đẩy ra ướm thử xem đã chắc chưa. Vũ uất ức lắm, nó bảo: “Chị cứ như một mụ gián điệp theo dõi em! Từ mai em không đóng nữa, để chị làm cho bảo đảm!” An quay ngoắt lại, trừng mắt nhưng không tìm ra câu gì để nói. Châu đang học bài gần đấy phải quay sang đấu dịu: “Thôi em cứ kệ nó kiểm tra, rồi mai em kiểm tra lại nó, xem nó đã cho chó ăn no chưa, gà đã ăn no chưa!...” rồi Châu thở dài ngao ngán: “Ngày nào cũng cãi nhau!”

Mẹ ốm, ngoài cái khổ là không có ai đứng ra làm quan tòa phân giải những vụ lắt nhắt như thế này, mấy đứa bé lại phải chịu một nỗi khổ khác là không biết kể chuyện cho ai. Mọi thường, cứ tan học về, vào nhà, vứt cái cặp lên giường, rồi là ù xuống bên mẹ, thay nhau mách chuyện trong lớp. An, Vũ thì hùng hổ, vui buồn ra mặt, trong khi Châu chỉ thủ thỉ to nhỏ, toàn những chuyện mà An, Vũ nghe ra xem chừng chẳng có gì là giật gân cả! Mấy hôm nay, ngoài chuyện lớp, mẹ còn phải nghe thêm chuyện mấy chị em chành chọe nhau ở nhà. Trên giường bệnh, mêt quá, mẹ nhắm mắt lại, miệng phải hơi cười mỉm cho trẻ con vui lòng, ấy thế mà nó vẫn không chịu, nó đòi: “Mẹ, mở mắt ra! Con nói chuyện ấy có đúng không hả mẹ?... Mẹ không nghe hả?...” – “Mẹ có nghe đấy chứ!...” Ngày nào cũng vậy, những người nằm cùng phòng ai cũng buồn cười, mỗi khi thấy một đứa bé bước vào với cái giỏ, mọi người lại đùa: “Đi báo cáo đấy!”

… Đêm, ba đứa ngủ say như lợn con. Một anh soi ếch đi ngang quà nhà, đầu treo một cái đèn pin sáng loáng. Mun và Tít thi nhau sủa. Trong nhà, An nằm, chân vắt lên bụng Châu, Vũ lăn qua một góc, chân thò ra khỏi màn, muỗi bám đầy, không đứa nào tỉnh dậy bật đèn để báo cho trộm biết: “Tao còn thức đây!”… như mẹ vẫn làm.

________________________________________________________________
Xem tiếp Phần II

 

Ở NHÀ



Tác giả : PHAN THỊ VÀNG ANH
Trình bày : Nguyên Hạo

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

MỘT VỤ HỎA TAI_TÂM HỒN CAO THƯỢNG


50. MỘT VỤ HỎA TAI
 (Vụ hỏa tai này xảy ra tại thành Tuy Ranh trong đêm hôm 27 tháng giêng năm 1880.)
                                                 
                                                   Chủ nhật, ngày 14

Sáng nay, trong khi đang ngồi bàn viết tìm một đầu đề về bài luận tự do mà thầy giáo bảo làm hôm trước, chợt có hai người lính cứu hỏa xin phép cha tôi vào xem bếp và lò sưởi vì họ trông thấy ngọn lửa trên ống khói (1) và không biết lửa tự nhà nào phát ra. Cha tôi bảo họ cứ vào mặc dầu lúc ấy bếp nhà tôi tắt cả. Họ xem xét các buồng và áp tai vào tường nghe những ống dẫn hơi của các nhà bên cạnh đi qua đấy xem có lửa hay không.

Cha tôi bảo tôi rằng :

- An ơi ! Đó là một đầu đề bài luận. "Đội lính cứu hỏa". Hai năm trước đây, ta đã có dịp xem họ làm việc. Con hãy viết theo lời ta kể lại.

"Nửa đêm hôm ấy, ta đi xem hát ở rạp Phan-Bô (2) về đến phố La-Mã (3), bỗng thấy lửa sáng rực trời và một đám đông người đang chạy. Một nhà ở cuối phố đang cháy ! Khói và lửa ở những cửa sổ trên mái bốc lên ngùn ngụt. Đàn ông, đàn bà chạy ra bao lơn rồi lại chạy vào, tiếng kêu khóc inh ỏi một góc trời. Công chúng kêu gào :

- Có ai vào cứu người ta không ? Họ chết cháy cả bây giờ. Các ông đội cứu hỏa ơi ! Các ông đội cứu hỏa ơi !

Ngay lúc ấy, 4 người lính cứu hỏa vừa tới, chạy thẳng vào đám cháy. Đồng thời, một cảnh tượng rùng rợn hiện ra ở trên từng gác thứ ba : Một người đàn bà bị ngọn lửa dồn ra bao lơn, không có lối xuống, gào khóc mất cả tiếng mà chưa ai tìm cách gì cứu được.

Những người lính cứu hỏa đã vào trong rồi nhưng không sao lên được từng thứ ba vì những xà nhà đổ xuống nghe như tiếng sấm mà khói lửa lấp hết cả lối vào. Họ liền chạy ra chỗ đầu nhà chưa cháy, phá mái, thòng dây leo xuống...

Gió to ngọn lửa càng lan ! Người đàn bà cháy sém cả mặt, chỉ còn chút nữa là bị thiêu sống và rơi xuống đất. Bỗng người ta thấy viên đội cứu hỏa mặt đen thủi ở trong đám khói lửa hiện ra đỡ lấy người đàn bà khốn nạn ấy và trao cho một người lính khác vừa áp thang leo tới.

Người ta đang hồi hộp lo cho số mệnh ba người lính đã cùng viên đội xông vào đám cháy lúc đầu, mãi không thấy ra, thình lình thấy cửa sổ ở tầng thứ nhì tung ra, người ta vội mang thang lại thì mấy người lính ấy liền chuyền tay nhau ôm những nạn nhân ra và trao cho người lính khác đứng đón ở cầu thang : một đứa con gái, hai đứa con trai, một người đàn bà, một ông lão. Những người này đều được vô sự.

Mặc dầu ngọn lửa lem lém bên mình, viên đội cứu hỏa, người đã trèo lên đầu tiên, đứng lại cho mọi người xuống hết để xuống cuối cùng.

Công chúng đều ngợi khen tất cả những người lính can đảm vừa xuống. Nhưng đến lượt viên đội là kẻ xung phong của đội, là người đã vào sinh ra tử để làm gương cho bạn đồng đội, là người sẽ phải chết theo nếu một người trong bọn lỡ bị thiệt mạng, vừa để chân xuống đất, thảy đều hò reo nhiệt liệt và giơ tay chào một cách kính cẩn và biết ơn.

Rồi chỉ trong giây lát, cái tên Lỗ-Bình xưa nay chẳng ai biết đến, đã truyền khắp cửa miệng.

Con ơi! Như thế gọi là can đảm đấy ! Đã gọi là can đảm thì không bao giờ suy luận, không bao giờ nghĩ ngợi, đi luôn đến chỗ có tiếng thất vọng kêu gào !

Hôm nào rỗi, cha sẽ đưa con đi xem đội cứu hỏa diễn tập và trỏ cho con viên đội Lỗ-Bình. Chắc con sẽ thích...

- À ! May quá ! Ông đội Lỗ-Bình đây rồi !

Tôi ngoảnh lại thì hai người lính cứu hỏa vào bếp ban nãy đang trở ra và đi trong sân.

Cha tôi trỏ vào người bé nhất đeo lon vàng, bảo tôi :

- Con ra bắt tay ông đội Lỗ-Bình đi !

Ông đội dừng lại, tươi cười đưa tay cho tôi bắt, xong chào cha tôi rồi ra.

Cha tôi nói thêm :

- Con nên nhớ rằng : trong đời con, con sẽ bắt tay trăm, nghìn người, nhưng cha quả quyết rằng trong trăm, nghìn bàn tay ấy hồ dễ con đã kiếm được lấy mười bàn tay có giá trị như bàn tay can đảm của viên đội cứu hỏa vừa ra.

---------------------
1) Ống khói chung của cả khu nhà có nhiều chủ ở. - 2) Blapo. - 3) Rome


Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

CÔ HÁI MƠ


Hồi ấy, thơ Nguyễn Bính lan tỏa mạnh mẽ vào đời sống bởi hồn chân quê. Phạm Duy và Nguyễn Đình Phúc không có tiền mua sách, bèn đến mượn ông Ngoạn, chủ nhà sách ở Cầu Gỗ và hẹn sẽ đọc xong sau khi đi vòng quanh một vòng Hồ Gươm, rồi trả lại. Không chỉ đọc hết tập thơ, hai ông còn hẹn với nhau sẽ cùng phổ nhạc một bài thơ của Nguyễn Bính sau khi đi hết vòng hồ. 
 
 “Cô lái đò” của Nguyễn Đình Phúc, “Cô hái mơ” của Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Bính đã ra đời như thế. 

 


Nghe bài hát Cô hái mơ, xin mời bấm dưới đây:

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

HY SINH_TÂM HỒN CAO THƯỢNG


Tháng năm

49. HY SINH
                                                         Thứ ba, ngày mồng 9.

Hôm qua, tôi đang mải chép bài thì em Thúy-Hoa rón rén vào bảo tôi rằng :

- Anh lại buồng mẹ với em. Sáng nay, em nghe thấy cha nói chuyện với mẹ. Hình như có một sự gì quan trọng và không hay cho cha. Cha ra vẻ thất vọng, mẹ đem lời an ủi. Như thế có lẽ nhà ta đến lúc xuống rồi ! Anh ạ. Cha mẹ ta sẽ hết tiền. Bổn phận ta là phải hy sinh để giúp đỡ cha mẹ, phải không anh? Nếu anh vui lòng em sẽ thưa với mẹ .Vậy anh có đồng ý với em không ?

Tôi bằng lòng.

Em Thúy-Hoa dắt tôi vào phòng mẹ tôi. Lúc ấy mẹ tôi đang ngồi khâu, vẻ tư lự. Chúng tôi chạy vào ngồi cạnh mẹ tôi. Em tôi nói luôn :

- Mẹ ơi , chúng con có chuyện muốn thưa với mẹ.

Mẹ tôi lấy làm ngạc nhiên, ngẩng nhìn chúng tôi.

Em tôi nói :

- Thưa mẹ, có phải cha con đang đứng vào trong cảnh thất bại không ?

Mẹ tôi đỏ mặt nói :

- Con nói gì thế ? Không phải đâu. Ai bảo con thế ? Tại sao con biết ?

Thúy-Hoa nói giọng quả quyết :

- Chả ai bảo con. Con biết rồi... Mẹ ơi, về phần chúng con, chúng con muốn hy sinh đôi chút. Mẹ hứa cuối tháng sẽ mua cho con cái quạt và cho anh An hộp thuốc vẽ. Bây giờ chúng con không thích nữa. Chúng con không muốn cha mẹ phải tiêu nhiều mẹ ạ.

Mẹ tôi định nói thì Thúy-Hoa lại tiếp luôn :

- Anh An và con đã quyết rồi. Cha chúng con còn chưa kiếm ra tiền thì chúng con còn phải tằn tiện. Chúng con xin nhịn ăn sáng và ăn tráng miệng. Như thế sẽ đỡ được ít tiền chợ. Và nếu còn phải dè sẻn các thứ khác nữa như quần áo, giày dép, chúng con cũng xin vui lòng. Những đồ chơi của chúng con đem bán đi cũng được ít tiền. Rồi con sẽ làm con sen cho mẹ, con sẽ khâu giúp mẹ. Mẹ muốn sai bảo việc gì, con xin làm tất... Miễn là mẹ và cha khỏi phải lo nghĩ và được yên lòng...

Em tôi nói xong, mẹ tôi vừa cười vừa khóc, hôn chúng tôi và bảo rằng :

- Các con nghe lầm đấy. Nhờ trời, nhà ta chưa đến nỗi phải sa sút như các con tưởng. Mẹ cám ơn các con đã nghĩ và thương đến cha mẹ.

Tối đến, mẹ tôi đem chuyện nói lại với cha tôi. Nhưng người cha đáng thương của chúng tôi chẳng nói chẳng rằng.

Chúng tôi còn đang phân vân trong dạ thì bỗng sáng nay chúng tôi được một sự ngạc nhiên và vui sướng quá chừng là em Thúy-Hoa thấy ở dưới khăn ăn cái quạt mới và tôi, một hộp thuốc vẽ 12 màu !


Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

MỤ ẤY HƯ HỎNG


Ông thị trưởng đang đứng ở cửa sổ. Ông ta diện một áo sơ-mi mỏng thêu hoa, có lá sen bằng đăng-ten trước ngực, trên đó lóng lánh một chiếc kim đầu bằng kim cương. Ông vừa mới cạo râu xong. Ông làm đứt một tí ở mặt, tạm thời rịt vào đấy một mẩu giấy báo.
 
- Thế nào, bé con!
 
Em bé đi qua là con một chị thợ giặt nghèo khổ. Khi đi qua cửa nhà ông thị trưởng, em đã lễ phép ngả mũ chào. Cái mũ lưỡi trai đã gập đôi vì em vẫn cuộn và nhét mũ vào túi.. em bé dừng lại với một vẻ lễ độ, khúm núm như đứng trước nhà vua. Quần áo em tồi tàn nhưng rất sạch sẽ, vá víu cẩn thận. em đi một đôi guốc kếch xù.
 
Ông thị trưởng nói:
 
- Mày là một đứa bé ngoan, mày lễ phép như thế vừa ý ta lắm. Chắc hẳn mẹ mày đang giặt ngoài bờ sông. Đúng là mày lại mang cho mẹ mày cái của đang thò đầu ra ngoài túi kia chứ gì? Mẹ mày làm thế thật là hư hỏng. Chỗ ấy bao nhiêu đấy?
 
- Thưa ông, nửa chai ạ!- Em bé sợ hãi quá, trả lời bằng một giọng gần như nghẹn ngào.
 
Con người đứng đắn ấy nói tiếp:
 
- Mà sáng nay mẹ mày cũng đã uống đúng chừng đấy rồi chứ gì?
 
Em bé cãi lại:
 
- Thưa không, hôm qua đấy ạ!
 
- Hai nửa cộng lại thành một chai. Mẹ mày thật là đồ hư hỏng. Thật đáng buồn, mẹ mày phải lấy làm xấu hổ mới phải. Còn mày cố tránh đừng có trở thành thằng nghiện ruợu, nhưng rồi mày cũng thế, chẳng tránh được đâu con ạ. Tội nghiệp! Thôi đi đi.
 
Em bé bước đi, Trong lúc mủi lòng, em vẫn cầm chiếc cát két ở trong tay. Gió lùa vào mái tóc vàng hoe của em, hất tung những chùm tóc xoăn dài.
 
Đến góc phố, em ngoặt vào một ngõ hẻm đi ra bờ sông. Ở đó, mẹ em quỳ gối trên chiếc ghế dài, đang ráng sức nện cái bàn đập xuống những bó quần áo to tướng. Cửa cống cối xay đã mở, dòng nước chảy xiết, kéo trôi những tấm khăn trải giường lớn, de dọa lật đổ cả chiếc ghế dài. Chị thợ giặt bắt buộc phải dùng hết sức chống chân xuống giữ.
 
Chị nói với con:
 
- Một tí nữa thì mẹ bị nước cuốn đi. May quá! Con đã đến, mẹ đang cần phải lấy lại sức một chút. Nước buốt quá mà mẹ phải ngâm ở đây sáu tiếng đồng hồ rồi. Con có mang gì cho mẹ không?
 
Em bé rút chai rượu ra. Người mẹ cầm lấy tu một ngụm.
 
Chị nói:
 
- Tốt quá! Nóng cả người! Một ngụm này đã rẻ hơn lại công hiệu ngang một bát xúp. Con trai của mẹ uống một tí đi, trông mặt con tái lắm. Đã sang thu rồi đấy, mặc quần áo mỏng thế chắc con mẹ rét lắm. Úi chào! Sao mà cái nước này buốt thế! Cốt là mẹ đừng ốm! Nhưng không, không thể được. Đưa mẹ uống ngụm nữa. Con cũng uống đi, một ngụm thôi nhé! Chớ có quen thói, con yêu quý tội nghiệp của mẹ!
 
Chị rời cái ghế dài lên bờ. Nước nhỏ giọt từ chiếc áo và manh chiếu quấn quanh người. Chị lại nói:
 
- Mẹ đem hết sức lực ra làm việc đến nỗi gần như bật máu ra đầu ngón tay, nhưng mẹ vui lòng làm để nuôi con một cách lương thiện, con trai yêu quý của mẹ!
 
Lúc đó có một người đàn bà nhiều tuổi hơn một chút, ăn mặc rách rưới, đi tới. Chị ta bại một nửa chân và chột mắt. Chị kéo một búp tóc lớn xuống che con mắt bị tật, nhưng lại càng làm cho người ta thấy rõ hơn. Chị là bạn của chị thợ giặt. Hàng xóm gọi chị ta là Mactơ què tóc xõa.
 
Mactơ nói:
 
- Chị phải làm việc vất vả dưới nước lạnh buốt như thế này thật đáng thương! Đúng là chị cần phải uống tí rượu cho lại sức, thế mà có những đứa ác khẩu còn mở miệng ra chê trách chị đấy.
 
Chị ta nhắc lại bài diễn thuyết hay ho mà ông thị trưởng đã tuôn ra với em bé lúc nãy. Chị đã nghe thấy khi đi ngang qua và chị cũng lấy làm buồn vì ông ta đã nói mẹ em như thế. Chị nói tiếp:
 
- Chính con người nghiêm khắc ấy, thấy người ta uống vài giọt rượu để giữ sức làm việc nặng nhọc đã cho là một tội nặng, hôm nay lại thết một bữa tiệc lớn có đủ các thứ rượu mùi ngon, rượu vang nặng. Mỗi người uống tới hai ba chai, nhất định không phải là việc uống cho đỡ khát. Nhưng làm thế nào họ có cho là uống rượu đâu, vì họ là những người sang trọng. Còn chị, họ lại bảo là đồ hư hỏng.
 
Môi run lên vì đau đớn, chị thợ giặt nói:
 
- A! Ông ấy bảo con thế đấy à? Bảo là con có một người mẹ tính hạnh không tốt… Có thể là đúng, nhưng nhẽ ra chẳng nên nói chuyện đó với trẻ con. Biết bao nhiêu chuyện đau buồn của mẹ đều nhà ấy mà ra cả.
 
Mactơ nói:
 
- Ngày xưa, khi bố mẹ ông thị trưởng còn sống, chị đã ở cho nhà ấy. Người ta có câu: “Đời cha ăn mặn, đời 
con khát nước.”
 
Mactơ mỉm cười về câu khôi hài của mình và nói tiếp:
 
- Câu chuyện là thế này: Ông thị trưởng đã mời rất nhiều người đến dự tiệc. Đến phút cuối cùng ông ta lại định thôi không đặt tiệc nữa, nhưng không kịp, thức ăn đã mua và làm dở rồi. Đầy tớ nhà ấy đã kể chuyện với tôi rằng: lúc ấy có thư báo là em út ông ta vừa chết ở thủ đô Côpenhagơ.
 
- Chết!- Chị thợ giặt kêu lên, mặt tái xanh như một cái xác không hồn.
 
- Đúng đấy! Nhưng tại sao chị lại có vẻ quan tâm nhiều đến việc ấy thế? Ừ phải rồi, chị biết ông ta từ hồi ở cho nhà ấy chứ gì?
 
- Sao? Chết rồi ư? Ông ta có tâm hồn cao quý biết bao! Ông ta chính là hiện thân của lòng nhân từ và hào hiệp. Cũng trong tầng lớp ấy, chẳng mấy người được như ông ta.
 
Trong lúc nói thế, nước mắt chị thợ giặt chảy ròng ròng trên má.
 
Chị lại nói tiếp:
 
- Chóng mặt quá! Hay là vì tôi đã uống quá mức nên không chịu được? Tôi thấy rất khó chịu.
 
Chị tựa người vào một tấm ván. Mactơ bảo:
 
- Trời ơi, chị bị cảm thật rồi. Cố gắng một tí cho nó qua đi nào! Nhưng chẳng được đâu, tôi thấy chị cảm nặng đấy. Tốt nhất là tôi dẫn chị về nhà.
 
- Còn đống quần áo kia?
 
- Cứ để đấy tôi giặt cho. Lại đây, đưa tay đây. Để cháu ở lại trông quần áo. Tôi sẽ quay lại và giặt nốt chỗ dở cho, cũng chẳng còn mấy.
 
Chị thợ giặt đáng thương lảo đảo bước đi. Chị nói:
 
- Tôi dầm nước lạnh lâu quá. Từ sáng tôi chưa được ăn uống gì cả. Tôi bị cảm, Giêsuma lạy chúa! Hãy giúp con về được đến nhà! Khổ thay cho con tôi!
 
Chị khóc sướt mướt. Khi ở lại bờ sông trông quần áo một mình, thằng bé cũng khóc. Hai người đàn bà bước đi chầm chậm. Chị thợ giặt lảo đảo bước qua ngõ hẻm. Đến trước cửa nhà ông thị trưởng, chị kiệt sức ngã lăn ra bờ hè. Người qua đường xúm quanh chị, chị què Mactơ chạy vội về nhà bạn gọi người đến giúp.
 
Thị trưởng và quan khách ra cửa sổ đứng xem. Ông chủ tiệc nói:
 
- À, mụ thợ giặt đấy mà, có lẽ mụ ấy lại uống rượu nhiều quá rồi. Mụ ấy thật là hư hỏng. Đáng tiếc cho thằng con trai của mụ, thằng bé ngoan quá, tôi yêu nó lắm… Nhưng mẹ nó lại là đồ khốn kiếp.
 
Người đàn bà đáng thương hồi tỉnh lại. Người ta đưa chị về gian buồng bé nhỏ tồi tàn của chị, đặt chị nằm vào giường. Mactơ pha cho chị một cốc bia nóng với bơ và đường. Theo chị, đó là môn thuốc tốt nhất. Sau đó, chị quay ra sông giặt qua loa chỗ quần áo, hay đúng hơn, là chỉ rưới nước lên rồi cho vào sọt. Chị có ý định tốt, nhưng chỉ hiềm nỗi yếu sức.
 
Đến tối, chị đến ngồi cạnh chị thợ giặt trong xó nhà nghèo nàn. Chị bếp nhà ông thị trưởng đưa cho chị chuyển cho người ốm mấy củ khoai rán và một miếng giăm-bông mỡ. Mactơ và em bé chén một bữa thoả thuê. Chị bảo: “Người ốm không ăn được thì ngửi mùi cho lại sức!”
 
Mactơ đặt em bé nằm ngủ ngang giường, dưới chân mẹ nó và đắp cho nó một cái nệm cũ viền xanh đỏ. Chị thợ giặt đã khá hơn một chút. Hơi thức ăn ngon và bia nóng đã làm cho chị lại sức.
 
Chị nói:
 
- Mactơ ơi, chị tốt lắm. Biết lấy gì trả ơn chị được? Lúc nào cháu ngủ rồi, tôi sẽ kể tất cả chuyện cũ cho chị nghe, mà hình như nó ngủ rồi thì phải. Chị xem cháu nằm ngủ ngoan, hiền lành vô tội thế kia! Nó không biết rằng mẹ nó đau khổ như thế nào và Thượng đế cũng muốn rằng không bao giờ nó biết chuyện ấy.
 
Chị cũng biết rằng trước kia tôi đã ở cho quan tư vấn trong triều, bố ông thị trưởng bây giờ. Bỗng một hôm, con giai út ông ta, học ở Côpenhagơ trở về thăm nhà. Lúc đó, tôi còn trẻ, nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng đứng đắn. Có Chúa chứng giám cho điều đó. Anh sinh viên trẻ tuổi ấy là một thanh niên vui vẻ, dễ tính, đáng yêu và đẹp trai. Trong người anh không có giọt máu nào khác ngoài dòng máu của những người coi trọng danh dự và trung thực. Anh ấy là con nhà chủ, tôi chỉ là người ở, nhưng chúng tôi yêu nhau, trong sạch và đứng đắn. Như vậy cũng không phải là có tội. Anh kể chuyện ấy với mẹ anh. Đối với anh, bà ấy cũng như Thượng đế trên trần gian. Và thực ra đó là một bà mẹ rất mực hiền hậu và yêu con.
 
Anh đeo vào tay tôi một chiếc nhẫn vàng và trở lại Côpenhagơ. Anh ấy vừa đi khỏi, bà chủ đã gọi tôi lên. Bà ta nghiêm nghị nhưng ngọt ngào lắm, những lời nói của bà tôi nghe như tiếng trên trời nói xuống. Bà giảng giải cho tôi rõ sự cách biệt giữa anh ấy và tôi. Bà bảo: “Bây giờ nó chỉ biết một điều là mày rất xinh thôi. Nhưng sắc đẹp sẽ tàn đi. Mày không được học tập và hiểu biết bằng nó, chúng mày không hợp với nhau ở chỗ đó, và đó sẽ là một điều đau khổ.” Bà nói thêm: “Tao rất quý và trọng những người nghèo, dưới mắt Thượng đế, trên thiên đàng, nhiều người nghèo đã chiếm được ngôi cao hơn người giàu. Nhưng dưới trần gian này thì chớ có đi nhầm đường. Mày hãy coi chừng, chớ lôi cuốn cả hai vào con đường đau khổ mà chúng mày tưởng lầm là bảo đảm được hạnh phúc. Tao biết, có một người trung hậu, một người thợ đã hỏi mày. Đây tao nói về Erich, anh thợ làm găng tay. Anh ta góa vợ, nhưng không có con, làm ăn dễ chịu. Hãy suy nghĩ cẩn thận về những lời tao vừa bảo.”
 
Mỗi một lời nói của bà chủ xuyên vào lòng tôi như một nhát dao nhọn hoắt. Bà ta nói đúng, đó là những điều làm cho tôi bối rối và đau khổ.
 
Tôi chua xót, hôn tay bà, nước mắt ròng ròng. Tôi còn nức nở đến khi về tới buồng riêng và lăn ra giường. Đêm hôm ấy là một đêm khủng khiếp. Chỉ có Thượng đế mới biết rằng tôi đau đớn và đấu tranh để chịu đựng như thế nào.
 
Ngày chủ nhật sau, tôi đến trước bàn thờ Chúa xin người soi sáng linh hồn. Hình như đúng là ý Chúa. Vừa ở nhà thờ bước ra, tôi đã gặp ngay Erich. Lúc đó tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng tôi hoàn toàn hợp nhau. Hoàn cảnh chúng tôi giống nhau, anh ta cũng có một cái vốn nho nhỏ. Tôi tiến về phía anh, cầm tay anh và hỏi:
 
- Anh còn nghĩ đến tôi không?
 
Anh trả lời:
 
- Còn chớ! Luôn luôn và mãi mãi.
 
- Anh có muốn lấy một người con gái chỉ quý trọng anh mà không yêu anh không? Có ngày điều đó sẽ đến.
 
Anh đáp lại:
 
- Điều đó sẽ đến, tôi tin chắc như thế.
 
Và chúng tôi hứa hôn với nhau.
 
Tôi trở về nhà, chiếc nhẫn vàng của anh sinh viên tặng ban ngày tôi đeo vào trong cổ áo, gần chỗ trái tim để tránh sự dị nghị của mọi người. Chỉ đến đêm, khi đi ngủ, tôi mới đeo nó vào tay. Tôi cầm lấy nó, hôn nó đến nỗi môi rớm máu. Rồi tôi đem nó trả lại cho bà chủ và bảo cho bà biết tin kết hôn của tôi sẽ công bố vào tuần lễ sau. Bà ta ôm chặt tôi vào lòng và hôn tôi. Bà ta không hề bảo tôi là đồ hư hỏng.
 
Hay là lúc đó tôi tốt hơn bầy giờ, mặc dầu tôi chưa từng trải sự đau khổ. Chúng tôi cưới nhau vào ngày lễ thánh mẫu hiến đường. Năm đầu tiên, mọi việc đều ổn cả. Chúng tôi có một người cùng làm và một chú học việc. Lúc đó chị ở cho nhà chúng tôi, chị Mactơ yêu quý.
 
Mactơ nói:
 
- Ừ, hồi ấy chị là một bà chủ tốt và đáng mến. Tôi không bao giờ quên được lòng tốt của chồng chị và chị đối với tôi hồi ấy.
 
Vâng, những năm chị làm với tôi là những năm tươi đẹp. Chúng tôi chưa có con. Anh sinh viên và tôi không gặp nhau nữa. Tuy nhiên, có một lần tôi trông thấy anh ấy, nhưng anh ấy chẳng hề trông thấy tôi. Ngày chôn cất bà mẹ, anh ấy có về đây. Anh ấy đứng bên mộ, nhợt nhạt như xác chết và chìm ngập trong niềm đau thương vô hạn. Nhưng đấy là anh ấy khóc mẹ mà thôi.
 
Ít lâu sau, khi cha chết, anh ấy đi du lịch rất xa ra nước ngoài, không trở lại đây nữa. Tôi được biết hình như anh ấy đã làm luật sư và không lấy vợ. Còn tôi, anh ấy đã quên rồi. Nếu anh ấy có gặp tôi, chắc anh ấy cũng chẳng nhận ra tôi nữa, vì tôi đã trở nên gớm giếc như thế này! Nhưng thế cũng tốt, thế còn hơn.
 
Chị kể đến những ngày gian nan, những ngày nghèo túng đã làm khổ chị một cách tàn nhẫn.
 
- Hồi đó, chúng tôi có năm trăm đồng tiền vàng. Ở phố lớn, người ta bán một ngôi nhà cổ giá 200 đồng. Chúng tôi đã mua và xây lại thành cái nhà mới, tính cả công thợ mộc và công thợ nề mất 1.020 đồng. Erich đã vay mượn được tiền ở Côpenhagơ. Chuyến tàu mang tiền về bị đắm và số tiền vàng cũng chìm xuống đáy biển.
 
Chính dạo ấy là lúc tôi sinh đứa cháu thân yêu hiền hậu đang ngủ ngoan ngoãn đằng kia. Chồng tôi bị một trận ốm nặng và kéo dài. Suốt trong chín tháng trời, tôi phải săn sóc, thay quần áo cho anh ấy vì anh ấy yếu quá. Công việc làm ăn của chúng tôi ngày càng lụn bại. Chúng tôi mắc nợ. Tiền dành dụm, đồ đạc bán đi đều trả nợ sạch. Erich mất, tôi đã phấn đấu, làm việc vất vả để nuôi con. Tôi làm việc liên tục, nhận bất cứ việc gì, lau thang gác thuê, giặt đủ các loại quần áo, lụa và vải. Nhưng sự đau khổ vẫn đeo đẳng tôi cho đến bây giờ. Đó là ý Chúa, rồi cuối cùng, chắc người sẽ gọi tôi về bên người. Tôi cũng tin rằng người sẽ chẳng bỏ rơi con trai tôi đâu.
 
Trong lúc đó, thị trưởng cho người gọi chị thợ giặt tới vì có một việc quan trọng cần báo cho chị. Lúc ấy thì đã muộn. Mactơ chạy gọi ông thợ cạo đến chích huyệt. Muộn quá rồi. Chị thợ giặt đáng thương đã qua đời.
 
Thị trưởng bảo:
 
- Mụ ấy rượu lắm vào nên mới chết.
 
Và đây là việc mà ông định bảo chị. Trong thư báo tin em ông chết có kèm một bản trích tờ di chúc: 600 đồng tiền vàng được dành cho chị thợ giặt góa chồng, ngày xưa đã ở cho cha mẹ ông. Số tiền này phải trao dần cho chị hay con chị, nhiều ít tùy theo sự cần dùng của họ.
 
Thị trưởng nghĩ thầm:
 
- À, mình nhớ ra rồi. Trước kia có chuyện gì đó giữa mụ ấy và em mình. Mụ ấy chết đi cũng phải, thằng bé con sẽ được hưởng cả số tiền. Mình sẽ gửi nó đến nhà tử tế, sau này nó sẽ trở thành người thợ khéo và tốt.
 
Và quả nhiên, Thượng đế cũng muốn những lời nói đó được thực hiện đầy đủ.
 
Thị trưởng gọi em bé đến. Ông hứa sẽ trông nom em và nói thêm rằng em không nên buồn phiền. Đúng là em đã mất một người mẹ, nhưng mẹ em cũng đã quá hư hỏng. Em bé đứng bên cạnh mẹ nức nở:
 
- Mẹ hiền yêu quý của con ơi. Có thật mẹ là người hư hỏng không?
 
Chị ở cũ ngước mắt lên trời như muốn cầu xin Thượng đế làm chứng và nói:
 
- Mẹ cháu chính là hiện thân của đạo đức. Ta đã biết điều đó từ lâu và càng biết rõ hơn sau câu chuyện đêm nọ. Ta thề với cháu rằng: Mẹ cháu là người ngay thẳng, đức hạnh, và trên kia Thượng đế cũng phán như thế. Vậy cháu hãy mặc cho người đời chê bai mẹ cháu là đồ hư hỏng, cháu phải luôn tôn kính hương hồn mẹ cháu.

HANS CHRISTIAN ANDERSEN  


Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

THIÊN TINH


Giữa một khu vườn có một cây hồng nở đầy hoa. Trong một bông hoa đẹp nhất có một chú thiên tinh. Chú xinh xắn, bé nhỏ đến nỗi mắt người ta không thấy được. Tuy thế, người chú cân đối, đẹp và đáng yêu như tình yêu đẹp đẽ nhất của trẻ thơ và thêm nữa, chú có đôi cánh mọc từ vai xuống chấm gót. Cái lâu đài chú ở mới đẹp làm sao! Sau mỗi cánh hoa như xa tanh trong suốt, màu sắc dịu dàng và hương thơm tỏa trong những căn buồng ấy dễ chịu biết bao! 
 
Suốt ngày thiên tinh vùng vẫy vui vẻ dưới nắng ấm. Chú bay lượn, từ đóa hoa này sang đóa hoa khác, rồi nằm rung rinh trên cánh cậu bướm đang nhảy múa trong không trung. Một hôm, chú chơi nghịch, đo xem phải bao nhiêu bước mới đi hết được tất cả các đường ngõ rắc rối do gân của lá bồ đề tạo thành. Con đường thật là dài. Chú bay nhanh như thế nào thì đôi chân lũn cũn của chú bước chậm từng ấy. Mặt trời đã lặn mà chú chưa đi hết những con đường quanh co rắc rối ấy.
Sương xuống, gió bất chợt nổi lên, thổi mát rượi. Thiên tinh phải về nhà gấp. Chú ráng hết sức bay vội về. Về đến cây hoa hồng, chú thấy nhà đã đóng cửa. Không riêng gì nhà chú mà tất cả hoa hồng ở đấy đều đã khép kín cánh hoa lại rồi.
Chú thiên tinh đáng thương sợ quá, vì chú chưa bao giờ ngủ ngoài trời cả. Chú vẫn được nằm êm ái trong những cánh hoa ấm áp. Chú tự nhủ: “Ôi, đêm nay ta đến chết mất!”
Chú nhớ rằng đầu vườn đằng kia có một vòm hoa tử lan đẹp như cánh bướm. Chú nghĩ thầm: “Ta ra nép vào một trong những đóa hoa đó, may ra sẽ được ngủ một giấc ngon.” Thiên tinh bay đến đấy. Suỵt! Có hai người đang ngồi dưới vòm hoa, anh một chàng thanh niên đẹp trai và một thiếu nữ kiều diễm. Họ ngồi cạnh nhau, đang từ biệt nhau. Họ yêu nhau quá nên không muốn rời nhau ra.
Chàng trai trẻ nói:
- Dù sao chúng ta cũng phải xa nhau. Anh trai em rất ghét chúng ta. Hắn bắt anh mang một lá thư đến nơi rất xa đây, tận bên kia núi rừng và sông hồ, anh phải tuân theo lời hắn. Thôi vĩnh biệt em yêu quý, dù thế nào đi nữa em cũng là vợ chưa cưới của anh.
Họ hôn nhau. Người thiếu nữ khóc, nàng tặng anh một đóa hoa hồng. Trước khi trao cho anh nàng đặt lên đó một chiếc hôn nồng nhiệt và âu yếm đến nỗi cánh hoa phải xòe ra. Chú thiên tinh vội lách vào và tựa đầu bên cánh hoa mềm mại thơm tho. Từ bên trong, chú nghe thấy họ từ biệt nhau, từ biệt nhau mãi.
Bông hoa hồng được cài vào ngực ngay sát tim chàng trai trẻ. Chà! Tim chàng đập sao mạnh thế! Chú thiên tinh không thể ngủ được vì con tim ấy thổn thức, làm chứ bị lắc tợn quá.
Chàng trai trẻ đi đến một khu rừng âm u vắng vẻ. Chàng dừng lại, rút đóa hoa hồng ở ngực ra hôn. Chàng hồn nhiên và say sưa đến nỗi gần đè bẹp chú thiên tinh. Qua những cánh hoa nhàu nát chú cảm thấy đôi môi của chàng nóng ran! Hoa hồng được những chiếc hôn ấy xòe rộng cánh ra như dưới ánh nắng ban trưa.
Bỗng một người, một tên gian ác, một tên hung đồ ghê gớm xuất hiện: đó là anh trai nàng thiếu nữ xinh đẹp. Nó rón rén đi theo chàng trai trẻ. Trong lúc chàng trai đáng thương mải mê hôn đóa hoa hồng, nó tiến đến sau chàng, rút dao đâm vị hôn phu của em gái nó một nhát chết tươi. Để cho chắc chắn hơn, nó bồi thêm một nhát nữa đứt phăng đầu chàng ra. Rồi nó vùi cả đầu lẫn thân xuống dưới gốc cây bồ đề lớn. Tên khốn kiếp tự nhủ: “Thế là nó đã đi đứt! Nó sẽ làm một cuộc hành trình lâu dài sang bên kia núi rừng. Khi không thấy nó trở về, người ta sẽ tưởng là nó đã chết dọc đường. Còn em gái ta sẽ không bao giờ dám nhắc đến tên nó trước mặt ta.” Nó lấy chân gạt lá khô lên trên cái hố đã đào rồi quay trở về nhà. Nhưng không phải chỉ có mình nó như nó tưởng. Thiên tinh đã đi theo nó. Chú núp trong một chiếc lá bồ đề khô cuộn tròn rơi vướng vào tóc trên sát nhân khi tên này cúi xuống đào huyệt chàng trai trẻ. Tên này đã đội mũ trùm lên trên chiếc lá. Dưới cái mũ này sao mà tối thế! Chú thiên tinh run lên, vừa sợ hãi vừa tức giận vì đã không ngăn được vụ giết người ghê rợn ấy.
Về đến nhà lúc trời vừa sáng, tên sát nhân cất mũ, rồi vào buồng nơi cô em gái đang ngủ. Cô bé xinh đẹp đang nằm, tuổi xuân mơn mởn. Nàng đang mơ thấy người mà nàng đã gửi gắm trái tim, nàng thấy chàng đã trở về, sau cuộc hành trình dài qua bao núi rừng và sông hồ.
Thằng anh độc địa của nàng cúi xuống nhìn nàng mỉm cười quái ác. Chiếc lá khô rơi từ tóc nó xuống giường mà nó cũng không hay. Nó đi ngủ một lát để nghỉ ngơi sau cái đêm đầy tội ác ấy.
Thiên tinh từ chỗ trốn chui ra và luồn vào tai người thiếu nữ. Chú kể lại cho nàng nghe, như báo mộng, vụ án mạng khủng khiếp. Chú tả lại cho nàng biết chỗ anh nàng đã giết và đã vùi xác người yêu nàng. Chú tả lại cây bồ đề to nở hoa cạnh đấy và nói thêm: “Để cho cô thấy rằng việc tôi nói không phải là một giấc mơ thường, cô sẽ thấy ở trên giường có một chiếc lá bồ đề khô”. Quả nhiên khi tỉnh dậy cô gái đã nhìn thấy chiếc lá. Cô đã tuôn biết bao nhiêu giọt lệ sầu thảm!
Cửa sổ phòng nàng để ngỏ suốt ngày nên chú thiên tinh có thể bay ra vườn một cách dễ dàng và lại chui vào những đóa hồng thân yêu, nhưng chú không đành tâm để mặc cô gái đáng thương nức nở một mình. Trên cửa sổ có một gốc hồng, thứ hồng tháng năm. Chú nép mình trong một bông hoa và nhìn cô gái. Ngày hôm ấy thằng anh có đến nhiều lần, vui vẻ, nhơn nhơn, mặc dầu nó đã làm một việc đại ác. Cô gái không dám hé một lời về nỗi buồn của mình.
Đêm đến, nàng lẻn ra ngoài đi vào rừng đến tận gốc cây mà nàng đã biết rõ. Nàng trông thấy đống lá khô, gạt ra, đào chỗ đất mới và tìm thấy đầu lâu cùng thi hài của người yêu. Nàng đứng đấy rất lâu, gục đầu đau khổ, nức nở cầu thượng đến ban ơn cho nàng sớm được chết theo.
Nàng nhấc cái đầu nhợt nhạt, mắt nhắm nghiền, nàng hôn vào đôi môi lạnh ngắt, gõ đất bám trên mớ tóc xoăn và tự nhủ: “Ta sẽ mang nó về và giữ lấy nó.” Sau khi lấp đất và phủ lá lên thi hài như cũ, nàng ra đi đem theo cái đầu và một cành hoa nhài dại mọc dưới gốc bồ đề.
Về tới buồng mình, nàng lấy một chậu hoa rất to, đặt cái đầu vào, lấp đất và trồng lên đó cành hoa nhài.
Chú thiên tinh không thể chịu đựng được cảnh thương tâm đó. Chú bay về cây hồng cũ nay đã tàn gần hết hoa, chỉ còn vài bông gần héo. Chú thở dài nói: “Trên đời này cái gì tốt đẹp thường chóng qua đi!” Cuối cùng, chú tìm được một cây hồng đang nở hoa và tối nào cũng về đấy nhẹ nhàng ngả lưng giữa những cánh hoa thơm tho, dịu dàng.
Đến sáng, chú bay về phía cửa sổ buồng cô gái đáng thương. Nàng vẫn luôn luôn bên chậu hoa bên trong đựng cái mà chỉ có chú thiên tinh biết rõ. Nàng khóc, nước mắt rơi xuống cánh hoa nhài và càng ngày mặt cô gái xấu số càng xanh nhợt đi bao nhiêu thì cây hoa nhỏ càng đâm chồi nảy lộc xanh tươi bấy nhiêu. Rồi cô gái âu yếm hôn vào những nụ hoa mới trổ. Thằng anh độc ác đến mắng nàng, hắn bào nàng là điên rồ, chỉ rên rỉ suốt ngày, không chịu ra khỏi phòng. Một hôm ủ rũ bên chậu hoa nàng thiếp đi, đầu gục trên cây hoa nhài. 

Chú thiên tinh bé nhỏ bay đến luồn vào tai nàng, nhắc lại cái tối ái ân ngồi dưới vòm hoa và kể cho nàng nghe về tình yêu của các thiên tinh. Nàng mơ một giấc mộng tuyệt đẹp. Giữa lúc đang ngây ngất, linh hồn nàng nhẹ nhàng bay lên thiên đường. Trên ấy, nàng lại tìm thấy người yêu. Cây nhài nở đầy những bông hoa trông như những chiếc chuông con trắng muốt, tỏa một mùi thơm ngào ngạt. Đó là hương thơm của cây hoa viếng người con gái đã quá cố.
Thằng anh trai độc ác đã trở lại và không mảy may thương xót cái chết của em gái nó. Nó đem cây hoa kỳ diệu đặt bên giường nó, hương thơm ngào ngạt khắp căn phòng.
Chú thiên tinh bay theo, chú bay từ hoa này sang hoa khác và trong mỗi bông chú tìm thấy một cô bạn nhỏ, chú kể lại cái chết thảm thương của chàng trai trẻ, chuyện thằng anh độc ác và cô em gái đáng thương cho các bạn nghe. Chúng đều trả lời: “Chúng tôi đã biết cả, vì phải chăng chính thịt chàng đã biến thành đất nuôi sống chúng tôi? Chúng tôi biết cả rồi.” Và chúng rung những chuông nhỏ của chúng, rồi im lặng. Chú thiên tinh cũng không thể tưởng tượng được rằng các bạn mình cảm động đến thế. Chú đi tìm đàn ong đang hút nhị hoa và kể lại vụ án mạng. Ong về tâu với chúa. Chúa ong ra lệnh cho cả đàn ngày mai đi giết tên sát nhân.

Nhưng đêm ấy, trong khi thằng anh đang ngủ cạnh cây nhài đầy hoa, tất cả các cánh hoa nở tung, và hồn hoa bay ra, vô hình, mang theo kim thuốc độc. Chúng chui vào tai tên hung đồ, nhắc lại tội giết người của nó. Chúng luồn vào lỗ mũi nó, bay trên môi nó và trong lúc nó nói mê sảng, chúng châm kim thuốc độc vào lưỡi nó. Sau đó chúng lại quay về núp trong những chiếc chuông trắng của chúng. Chúng nói: “Thế là chúng ta đã báo thù được cho người bị giết oan.”
Sáng hôm sau, cửa sổ vừa mở, chú thiên tinh cùng chúa ong và cả đàn ập vào để giết tên sát nhân. Hắn đã chết rồi, có nhiều người xúm quanh giường hắn nói rằng:
- Mùi hoa nhài đã làm cho hắn chết.
Thiên tinh chợt hiểu ngay là hồn hoa bé nhỏ và dũng cảm đã làm việc ấy, chú giảng giải cho chúa ong biết. Chúa ong và cả đàn vội xúm lại khen ngợi các bông hoa nhài. Chúng vo ve xung quanh cây hoa, người ta không thể nào xua được chúng nó đi. Một người cầm lấy chậu hoa để mang đi, một con ong đốt mạnh vào tay đến nỗi bác ta làm rơi vỡ chậu hoa. Người ta thất lòi ra cái sọ của chàng trai trẻ và do đó người ta khám phá ra đứa nằm chết trê giường kia là một tên sát nhân. Rồi ong chúa bay vút lên trên không đi khắp chốn ca ngợi sự báo oán của các bông hoa và câu chuyện chú thiên tinh núp sau một chiếc lá khô bé nhỏ đã tố cáo được vụ án mạng và trừng trị tên sát nhân.

 HANS CHRITIAN ANDERSEN