Hiển thị các bài đăng có nhãn Andersen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Andersen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

BẦY THIÊN NGA


nơi xa, xa đây lắm, nơi chim nhạn bay đến vào mùa thu, có một nhà vua có mười một con trai và một con gái tên là Liza. Mười một con trai trẻ tuổi ấy đều đeo thánh giá trên ngực và gươm bên mình. Ở trường, họ viết trên những tấm bảng bằng vàng với những con dao nhọn bằng kim cương, họ đọc thông và rất thuộc bài. Họ thật xứng đáng là những hoàng tử. Cô em út, nàng Liza, thường ngồi trên một chiếc ghế bằng thủy tinh, tay cầm một cuốn sách có nhiều tranh vẽ, riêng cuốn sách ấy cũng đáng giá bằng nửa giang sơn của bất cứ một vua chúa nào.

Họ sống rất sung sướng, nhưng chẳng được bao lâu.

Vua cha góa vợ. Ngài tục huyền với một bà hoàng hậu độc ác, bà chẳng yêu những đứa trẻ đáng thương kia chút nào, ngay từ ngày đầu, lũ trẻ đã cảm thấy như vậy.

Hôm ấy, ở lâu đài mở hội và lũ trẻ được tham dự. Nhưng thay vì bánh ngọt và táo nấu chín mà các hoàng tử và công chúa thường được ăn, hoàng hậu chỉ cho họ ăn cát và bảo rằng đối với họ như vậy là tốt lắm rồi

Tuần sau, mụ sai người dẫn cô bé đến ở trong một gia đình nông dân. Chỉ trong một thời gian ngắn, mụ đã tìm cách làm cho vua cha hết thương con và chẳng lưu ý gì đến họ nữa. Mụ ấy chính là một tay phù thủy.

Một hôm, mụ nói với mười một hoàng tử:

- Chúng mày hãy cút khỏi nơi đây, đi khắp thế gian mà kiếm ăn như những con chim đã đủ lông đủ cánh.

Nhưng mụ không thể làm hại họ như mụ mong ước vì họ đã biến thành một bầy thiên nga lộng lẫy, vừa bay qua vườn thượng uyển và cánh rừng gần đấy vừa cất lên những tiếng kỳ quái.

Đến sáng, bầy thiên nga bay qua túp lều, nơi công chúa Liza đang ngủ trên chiếc giường xinh xắn. Bầy thiên nga lượn trên mái nhà, vươn cổ ra và vỗ cánh ầm lên, nhưng chẳng ai nhìn thấy và nghe thấy gì cả. Bầy thiên nga tiếp tục bay, bay tít trên cao giữa các tầng mây, mỗi lúc một xa.

Cả bầy bay về phía khu rừng âm u dọc bờ biển.

Cô bé Liza ở lại túp lều tranh. Chẳng có trò chơi gì khác, cô chơi với mấy chiếc lá xanh. Cô lấy kim chọc vào một lá và nhìn qua lỗ lên mặt trời. Cô tưởng tượng thấy những cặp mắt sáng ngời của các anh và mỗi lần ánh nắng rọi vào má, cô tưởng đó là những chiếc hôn nồng cháy của các anh cô.

Những ngày buồn bã lần lượt trôi qua. Khi gió thổi qua bụi hồng trước nhà, gió hỏi hồng:

- Còn ai đẹp hơn các bạn nữa không?

Cả khóm hồng vừa lắc lư vừa nói:

- Có chứ, có nàng Liza!

Chủ nhật, khi bà cụ nông dân ngồi đọc kinh trên ngưỡng cửa, gió đến giở các trang sách và hỏi:

- Còn có ai ngoan đạo hơn sách không?

- Có chứ, có nàng Liza! - Quyển sách đáp và hoa hồng cũng bảo là đúng như thế.

Khi lên mười lăm tuổi Liza được trở về cung vua. Nhưng khi hoàng hậu thấy nàng đã trở nên muôn phần xinh đẹp, mụ lại không nén nổi lòng tức giận. Mụ muốn biến nàng thành thiên nga, nhưng mụ không dám, vì đức vua muốn gặp mặt công chúa.

Sáng sớm hôm sau, hoàng hậu vào phòng tắm làm toàn bằng đá hoa, có nệm êm và thảm rực rỡ phủ khắp phòng. Mụ bắt ba con cóc, hôn chúng và bảo con thứ nhất:

- Cóc hãy nhảy lên đầu con Liza lúc nó vào tắm làm cho nó cũng sẽ đần độn như cóc.

Rồi mụ dặn con thứ hai:

- Cóc hãy bám vào trán nó, làm cho nó xấu xí như cóc để cha nó không nhận ra nó nữa.

Sau cùng, mụ nói với con thứ ba:

- Cóc hãy bám vào tim nó, gợi cho nó những ý nghĩ xấu để cho nó và những kẻ khác phải khổ sở.

Nói rồi, mụ thả ba con cóc vào nước làm nước biến ngay thành màu xanh ngắt, mụ gọi nàng Liza vào, cởi quần áo cho nàng và bắt nàng phải tắm. Khi Liza vừa bước vào bồn nước thì con cóc thứ nhất bám vào tóc nàng, con thứ hai bám vào trán nàng và con thứ ba bám vào ngực nàng.

Hình như Liza không biết gì cả và khi nàng bước ra khỏi bồn nước thì ba đóa hoa anh túc nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Nếu cóc không có nọc độc và mụ phù thủy không ôm hôn chúng thì chúng đã biến thành ba bông hồng. Tuy nhiên, chúng cũng đã biến thành hoa vì chúng đã bám vào đầu và tim nàng Liza. Vì nàng rất ngoan đạo và tâm hồn rất trong trắng nên ma thuật không thể làm gì được nàng.

Khi mụ hoàng hậu độc ác thấy thế mụ bèn lấy nhựa vỏ trái hồ đào sát vào người Liza làm cho nàng đen thui đi, mụ còn xoa thuốc mỡ thối vào mặt nàng và làm rối bù bộ tóc dài và đẹp của nàng. Không còn có thể nhận ra nàng Liza xinh đẹp nữa.

Khi vua cha nhìn thấy nàng, ngài khiếp sợ và tuyên bố rằng nàng không phải là con gái mình. Chẳng ai muốn nhận nàng, ngoài con chó giữ nhà và đàn chim nhạn, nhưng chúng chỉ là những con vật khốn nạn, có nói cũng chẳng ai thèm nghe.

Nàng Liza đáng thương khóc sướt mướt và nghĩ đến các anh nàng. Nàng buồn bã trốn khỏi cung vua, lang thang suốt ngày ngoài đồng và cuối cùng nàng đi tới một khu rừng lớn. Nàng chẳng biết rồi sẽ đi đến đâu nữa. Tuy nhiên, trong lúc buồn nản, nàng vẫn luôn luôn muốn đi tìm các anh nàng, giờ đây chắc hẳn cũng đang lang thang khắp thiên hạ như nàng.

Nàng vừa đi được vài bước trong rừng thì trời sắp tối. Nàng bị lạc và chẳng còn có thể tìm thấy đường nữa. Nàng nằm xuống đám rêu, cầu kinh xong thì gối đầu lên một rễ cây.

Mọi vật im lìm. Không khí êm dịu. Quanh nàng, trong vòm lá, hàng trăm đom đóm lấp lánh nom như những đốm lửa xanh. Khi nàng lắc một cành cây thì trông thật giống như một trận mưa sao rơi xuống.

Suốt cả đêm nàng mơ tưởng đến các anh. Nàng mơ thấy nàng và các anh nàng đang chơi đùa lúc còn ấu thơ, viết lên những tấm bảng bằng vàng với những con dao nhọn bằng kim cương và xem cuốn sách có nhiều tranh vẽ đáng giá bằng nửa giang sơn của bất kỳ một vị vua chúa nào.

Nhưng trên bảng, họ không những chỉ viết những con số không hoặc gạch dưới những nét cổ mà còn viết những thành công của họ và tất cả những gì họ đã trông thấy hoặc đã xảy ra trong quãng đời phiêu bạt của họ.

Trong cuốn sách tất cả người và vật vẽ trong các tranh đều cử động. Chim ca hát. Người bước ra khỏi tranh để nói chuyện với Liza và các anh nàng. Mỗi lần người xem giở sang trang khác, người và vật trong tranh không bị xáo trộn.

Khi Liza tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao quá chân trời. Nàng không nhìn rõ mặt trời, vì những gốc cây lớn tỏa cành rậm rạp xuống đến tận đầu nàng. Nhưng những tia nắng cũng xuyên kẽ lá và lấp lánh như những đóa hoa bằng vàng.

Không khí ngát hương thơm. Chim ca hót và bay đến đậu trên vai nàng công chúa. Nàng nghe thấy tiếng nước róc rách, trên các dòng suối và đổ vào một cái đầm, cây lá xanh rờn bao quanh. Quanh đầm toàn là bụi cây rậm, nhưng có một quãng, hươu nai đi lại thành lõng nên Liza có thể theo đấy mà đến tận bờ đầm.

Nàng nhìn xuống. Nước trong vắt và từng chiếc lá in hình rất rõ trên mặt nước đến nỗi, nếu gió không làm rung cây, người ta có cảm tưởng như cành lá được họa lên trên đáy ao.

Chợt nhìn thấy bóng mình trong nước, nàng ghê sợ vì thấy mặt mày đen thui xấu quá đi mất. Nàng lấy bàn thay xinh xắn vốc nước vuốt lên mắt và lên trán, da dẻ nàng trở lại trắng trẻo như cũ. Nàng cởi quần áo lội xuống nước. Chưa bao giờ có một nàng công chúa đẹp đến thế.

Sau khi mặc quần áo xong, nàng uống một ngụm nước suối, rồi đi sâu vào rừng thẳm, cũng chả biết là sẽ đi đến đâu cả.

Nàng tưởng nhớ đến các anh, đến Thượng Đế chí nhân. Chắc chắn là người sẽ không bao giờ bỏ rơi nàng. Người sinh ra những cây táo dại dành cho kẻ đói và nàng đã run rủi tìm được một cây trĩu quả. Nàng dừng lại ăn táo rồi lại lên đường.

Cảnh vật im phăng phắc đến nỗi nàng nghe thấy cả bước chân nàng đi và tiếng lá rào rạo dưới chân nàng.

Không có lấy một bóng chim. Không có lấy một tia sáng xuyên qua những cành cây to lớn rạm rạp. Nhìn xa những cây cao mọc sít vào nhau, như một hàng rào sắt.

Chưa bao giờ Liza thấy một cảnh tĩnh mịch như vậy.

Đêm đến, nàng càng lo ngại. Trong rêu chẳng có lấy một con đom đóm nào.

Nàng nấp vào một nơi để ngủ. Nàng mơ thấy vòm lá rẽ ra và Thượng Đế chí nhân đang nhìn nàng, các tiên đồng xinh xắn đáng yêu đang bay lượn trên đầu nàng.

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, nàng chẳng còn biết rằng đã nằm mơ hay đã chứng kiến một cảnh thật.

Nàng lại lên đường.

Đi được mấy phút nàng gặp một bà lão tay mang một giỏ đầy mận. Bà cho Liza mấy quả, nàng hỏi bà có thấy mười một hoàng tử qua cánh rừng không?

- Không - Bà cụ trả lời - Nhưng hôm qua ta đã trông thấy mười một con thiên nga, mỗi con đội một chiếc mũ miện bằng vàng, đỗ xuống bơi lội trên dòng suối gần đấy.

Bà đưa Liza đến một bờ suối. Những cành cây dài rậm lá hai bên bờ suối giao nhau thành một cái nôi trên mặt nước.

Liza chia tay bà cụ và đi men suối tới tận quãng suối đổ ra đại dương. Trước mắt nàng là biển cả mênh mông, xanh ngắt, không một cánh buồm, một bóng thuyền. Làm thế nào mà đi xa hơn nữa bây giờ?

Nàng ngắm những hòn đá cuội trên bờ bể, nhiều vô kể, nước biển đã mài tròn đi. Thủy tinh, sắt, đá, tất cả những vật gì trôi dạt đến đấy đều bị nước mài nhẵn thín, mịn như bàn tay của nàng công chúa.

- Đại dương - Nàng nghĩ thầm - đã đẩy mọi vật lăn không ngừng và cuối cùng trở nên trơn tru. Ta cũng muốn không bao giờ mệt mỏi. Làn sóng trong vắt! Ta hiểu sóng muốn dạy ta điều gì rồi. Một ngày kia nhất định ta sẽ tìm thấy các anh ta.

Nàng nhìn thấy giữa đám rong bể mười một chiếc lông thiên nga. Nàng lượm lấy, chắp thành một bó. Nhiều giọt nước lấp lánh trên lông. Chẳng hay đó là nước biển, hay là nước mắt?

Nàng đứng một mình trên bờ biển, nhưng không để ý đến điều đó, nàng mê mải ngắm nhìn cảnh biến đổi không ngừng của biển cả. Khi có một đám mây đen bay tới, biển như muốn bảo nàng:

- Coi chừng, ta sắp bực mình đây.

Khi gió nổi, sóng biển ngầu bọt lên. Khi mây đỏ sẫm lại, gió lặng xuống thì biển trông như một khối đá hoa màu hồng. Nước biển khi xanh, khi trắng, nhưng dù biển lặng đến đâu, lúc nào cũng có tiếng nước vỗ nhè nhẹ bên bờ. Nước nhẹ nhàng dâng lên hạ xuống như lồng ngực của một đứa trẻ đang ngủ.

Khi mặt trời lặn, Liza nhìn thấy ở chân trời hiện ra mười một con thiên nga lớn, lông trắng, đầu đội mũ miện bằng vàng, đang bay về phía đất liền.

Chúng bay nối đuôi nhau thành hình một dải trắng dài.

Nàng chạy đến một quãng bờ cao và nấp sau một bụi cây. Đàn thiên nga sà xuống gần nơi nàng và vỗ những bộ cánh rộng và trắng.

Khi mặt trời vừa lặn, bỗng lông chim rụng hết và Liza thấy hiện ra mười một hoàng tử xinh đẹp, các anh nàng. Nàng reo to lên, mặc dù họ đã biến đổi nhiều, nhưng nàng cảm thấy ngay đấy chính là các anh nàng.

Nàng chạy lại ôm chầm lấy họ và tíu tít gọi tên từng người.

Khi họ nhận ra cô em út, giờ đã lớn và xinh đẹp hơn xưa, họ mừng quýnh lên. Họ vừa cười vừa khóc và thuật lại sự độc ác của mụ dì ghẻ.

Hoàng tử cả nói:

- Các anh bắt buộc phải bay lượn suốt ngày, chỉ được trở lại thành người khi mặt trời lặn, do đó các anh phải bay sát đất liền vào lúc gần tối. Nếu lúc ấy các anh còn bay trên cao thì các anh sẽ rơi xuống đất.

Đây không phải là nơi mà các anh ở, các anh ở bên kia biển có trong một xứ sở cũng đẹp như xứ sở này. Đường sang nơi ấy rất xa, phải vượt qua đại dương và nửa đường không có hòn đảo nào để có thể ngủ đỗ lại được. Ở chính giữa đại dương chỉ có một tảng đá mà các anh có thể chen chúc nhau mà nghỉ chân. Khi có thủy triều, nước dâng lên tận chỗ các anh đậu, tuy thế các anh vẫn đội ơn Thượng Đế đã đặt ở đấy một tảng đá để các anh có chỗ nghỉ đêm khi trở lại thành người. Không có tảng đá ấy, các anh không thể nào trở lại Tổ quốc, vì muốn vượt đại dương, mỗi năm các anh phải bay trong hai ngày, hai ngày dài nhất trong một năm. Mỗi năm một lần các anh được phép về đây và nghỉ lại mười một ngày. Lúc đó các anh bay lượn trên khu rừng lớn, các anh nhìn tòa lâu đài nơi chôn rau cắt rốn của chúng ta và nơi cha chúng ta đang ở, nhìn vào gác chuông nhà thờ cao vút, gần đấy là nơi mẹ thân yêu của chúng ta đang yên nghỉ. Nơi đây cây cối và bờ bụi đều là những người đốt than hát lên những bài hát cổ đã giúp cho chúng ta nhảy múa khi chúng ta còn bé. Hình như có cái gì thu hút các anh về chốn này, và cuối cùng các anh lại tìm thấy em, em gái bé nhỏ của các anh! Các anh còn ở đây hai ngày, rồi lại phải vượt biển để quay về xứ sở xinh đẹp, xa lạ kia. Hay là các anh đưa cả em đi. Nhưng các anh chẳng có tàu bè gì cả, biết làm thế nào?

- Em có thể làm cách nào cứu được các anh không? - Nàng Liza hỏi.

Và họ chuyện trò gần suốt đêm. Họ chỉ ngủ được trong giây lát. Bỗng có tiếng cánh chim đập trên đầu làm Liza tỉnh giấc. Đó là mười một hoàng tử lại biến thành thiên nga đang bay lượn vòng trên đầu nàng. Họ bay lên, bay cao mãi, rồi bay xa.

Nhưng một hoàng tử, cậu út, ở lại một mình bên em gái. Cậu rúc đầu vào lòng nàng, còn nàng thì vuốt ve bộ lông thiên nga của cậu. Họ ở bên nhau suốt cả ngày hôm ấy. Đến chiều các anh khác bay về và khi mặt trời vừa lặn, họ lại trở thành người.

Người anh cả nói:

- Ngày mai các anh phải đi và một năm nữa mới quay trở lại đây. Nhưng các anh không thể để em ở lại đây được. Em có can đảm đi theo các anh không? Cánh tay anh đã từng ẵm em qua rừng, cánh của tất cả các anh chắp lại chẳng lẽ lại không đủ sức để chở em qua bên kia biển cả hay sao?

Nàng út nói:

- Vâng, các anh đem em đi với.

Suốt đêm họ tết được một tấm lưới chắc chắn bằng cói và dây liễu. Liza nằm ngủ trên tấm lưới ấy và, khi mặt trời vừa hiện ra, các anh nàng đã biến thành thiên nga, dùng mỏ kéo lưới bay lên mây, mang theo nàng em gái đang ngủ rất bình thản.

Tia nắng rọi vào mắt nàng, một con thiên nga vội bay ngay lên phía trên, lấy bộ cánh rộng để che cho nàng ngủ. Khi Liza tỉnh giấc thì họ đã bay rất xa khỏi đất liền. Bay cao trên mặt biển như thế, nàng cảm thấy đang sống một giấc mơ kì diệu.

Bên cạnh nàng có một cành cây có quả và một bó rễ cây ăn được. Đó là hoàng tử út đã chăm lo đến việc ấy cho nàng. Nàng mỉm cười như để cảm ơn anh. Nàng nhận ra anh rất rõ, chính hoàng tử út lúc nãy đã bay trên lưới che nắng.

Lúc này họ bay cao đến nỗi chiếc tàu đầu tiên mà họ trông thấy giống như một con chim hải âu đậu trên mặt nước. Đằng sau họ có một đám mây lớn tựa như trái núi, nàng nom thấy bóng nàng và các hoàng tử rọi vào đám mây. Chưa bao giờ nàng thấy cảnh đẹp như vậy. Nhưng mặt trời càng lên cao, mây càng xa đi thì bóng cũng biến theo.

Họ bay suốt ngày không ngừng, như một mũi tên rít trong không gian. Nhưng họ bay chậm hơn thường ngày một chút vì còn phải khiêng cô em gái. Thời tiết bỗng xấu đi và trời đã sắp tối. Liza lo lắng thấy vầng thái dương lặn xuống chân trời mà không hề thấy tảng đá nào nhô lên mặt biển. Nàng cảm thấy đàn thiên nga vỗ cánh mạnh hơn.

Trời! Nàng thầm nghĩ, nếu các anh ta không bay kịp đến nơi! Chính là lỗi tại ta rồi. Khi mặt trời lặn, các anh sẽ biến thành người và sẽ rơi tõm xuống biển chết đuối mất.

Tự đáy lòng nàng cầu khẩn xin Thượng Đế cứu giúp. Nhưng họ vẫn chưa nhìn thấy tảng đá. Mây đen kéo đến, gió thổi mạnh báo hiệu một con giống tố. Mây tụ thành một đám xám xịt như chì. Chớp lóe liên hồi.

Mặt trời đã xuống tới mặt biển. Nàng Liza cảm thấy trái tim tan vỡ. Có lúc đàn thiên nga chao xuống rất nhanh làm nàng tưởng như đang rơi xuống biển. Nhưng không, đàn thiên nga đã lượn lên. Mặt trời chìm một nửa xuống nước thì nàng thấy ngay hòn đảo bên dưới. Trông nó không lớn hơn một con hải cẩu đang thò đầu lên trên mặt nước.

Mặt trời lặn nhanh, chỉ còn lại một dải sáng và mỏng ở phía chân trời khi nàng đặt chân lên tảng đá. Rồi ánh mặt trời vụt tắt như mảnh giấy cháy rụi.

Mười một hoàng tử và Liza chen chúc nhau trên tảng đá, chỉ vừa đủ chỗ cho họ đặt chân. Sóng biển cao, vượt qua cả đầu họ. Trời sáng lóe lên như rực cháy và sấm sét nổ ran không ngớt. Nhưng mười hai anh em cầm tay nhau và hát những bài kinh nguyện để lòng thêm can đảm.

Sáng ra, không khí trong sạch và mát mẻ. Mặt trời vừa ló lên, đàn thiên nga lại cùng nàng Liza bay đi. Biển vẫn còn động. Từ trên cao nhìn xuống ngọn sóng xanh sẫm ngầu bọt họ cảm thấy như hàng triệu con thiên nga đang rập rờn trên mặt nước.

Khi mặt trời lên cao hơn nữa, nàng Liza nhìn ra phía trước thấy trong không gian một dải đất toàn là núi non với những tảng băng lóng lánh. Nàng trông thấy một tòa lâu đài vĩ đại có những hàng cột chồng chất lên nhau bao quanh. Phía sau là một khu rừng sồi và rất nhiều vườn hoa. Liza hỏi các anh có phải đấy là nơi mà các anh định đến không, nhưng đàn thiên nga lắc đầu.

Cảnh vật mà nàng trông thấy là tòa lâu đài tráng lệ, hình dáng luôn luôn thay đổi của bà tiên Morgan. Không một người nào có thể vào đấy được. Liza mải ngắm phong cảnh tuyệt vời ấy, bỗng núi non, lâu đài, cây cối biến đi tất cả, và thay vào đó là hai mươi tòa nhà thờ hiên ngang, giống nhau như hệt, tòa nhà nào cũng có chòi cao và gác chuông tráng lệ.

Liza tưởng như nghe thấy tiếng đại phong cầm, nhưng đó chỉ là tiếng thì thầm của biển cả. Nàng đang bay sát vào các nhà thờ bỗng các công trình ấy biến ngay thành một đoàn thuyền vĩ đại căng buồm lướt sóng rất nhanh rồi biến mất.

Những cảnh huyền ảo cứ như thế hiện ra suốt cuộc hành trình cho đến lúc họ nhìn thấy dải đất họ định bay tới. Nơi đó sừng sững những ngọn núi xanh lam cao ngất với những khu rừng đầy cây bá hương, những tòa lâu đài và nhiều thành phố. Trước khi mặt trời lặn rất lâu, Liza đã được đặt xuống một tảng đá, ngay cửa một cái hang, nền đất phủ đầy dây leo như một tấm thảm tuyệt đẹp.

- Đêm nay em ước sẽ mơ thấy gì? - Hoàng tử út vừa hỏi vừa chỉ cho cô em gái phòng ngủ của nàng.

- Em cầu xin Thượng Đế cho em mơ thấy phép giải thoát cho các anh - Liza đáp.

Ý nghĩ ấy không phút nào rời nàng cả. Nàng cầu xin Thượng Đế cứu giúp nàng. Khi đã ngủ thiếp đi, nàng vẫn cầu nguyện. Nàng mơ thấy như lại bay qua trong không gian, tới lâu đài bà tiên Morgan và bà ta tiến đến trước mặt nàng, đẹp một cách lộng lẫy, giống hệt như bà tiên đã cho nàng mấy quả mận và kể chuyện đàn thiên nga đội mũ miện cho nàng nghe khi nàng đi tới khu rừng.

- Các anh con có thể giải thoát được - Bà tiên nói - Nhưng liệu con có đủ can đảm và bền gan để cứu các anh con không? Nước còn mềm hơn đôi bàn tay thanh nhã của con, nhưng nước chảy đá cứng nhất cũng phải mòn. Có điều là nước sẽ không cảm thấy đau đớn như đôi bàn tay con sẽ phải chịu đựng. Nước không có tim nên không biết đau đớn như con. Con sẽ gặp nhiều nỗi gian nguy, con có thấy cành tầm ma ta cầm trong tay không? Quanh cái hang con đang ngủ, tầm ma mọc nhiều lắm. Nhưng chỉ có loài tầm ma này và loài tầm ma mọc ở nghĩa địa mới dùng được, con chớ nên quên điều đó. Con phải đi hái cây ấy về và con sẽ bị phồng tay lên, đau đớn vô cùng. Con hãy lấy chân giẫm nát cây ra và sẽ được một loại sợi gai mà con sẽ dùng để dệt mười một chiếc áo dài tay. Dệt xong con quàng áo lên mười một con thiên nga, và như vậy là phép ma sẽ tiêu tan. Nhưng con phải nhớ rằng từ lúc bắt đầu dệt cho đến khi dệt xong con không được nói một câu. Dù phải dệt bao nhiêu năm con cũng không được nói. Nếu con chỉ nói một tiếng thôi thì tiếng nói đó sẽ như một nhát dao đâm xuyên tim các anh con. Như vậy là tính mạng các anh con treo ở đầu lưỡi của con đó.

Bà tiên đặt cành tầm ma vào tay nàng Liza và bàn tay nàng đau như bị bỏng. Nàng bừng tỉnh. Trời đã sáng rõ, bên nàng là cành tầm ma nàng đã mơ thấy. Nàng quỳ xuống tạ ơn Thượng Đế và ra khỏi hang, bắt đầu làm việc để cứu các anh.

Nàng hăm hở bẻ cây tầm ma, tay nàng cháy bỏng lên. Chẳng mấy lúc hai cánh tay nàng bị phồng cả lên. Nhưng nàng thản nhiên chịu đựng đau đớn, miễn là giải thoát cho các anh. Nàng lấy chân không giẫm nát cây tầm ma và bắt đầu dệt những chiếc áo xanh thẫm.

Khi mặt trời bắt đầu lặn, các anh nàng trở về. Họ rất sợ hãi khi thấy nàng bị câm. Lúc đầu họ tưởng rằng đó lại là phép ma mới của mụ dì ghẻ độc ác, nhưng khi trông thấy hai bàn tay cô em, họ hiểu ngay rằng nàng đang làm việc cho họ. Người anh trẻ nhất òa lên khóc, nước mắt nhỏ xuống làm mất ngay những chỗ phồng da và Liza không thấy đau đớn gì nữa.

Nàng thức suốt đêm để dệt áo, nàng không muốn nghỉ ngơi trước khi giải thoát được cho các anh nàng. Cả ngày hôm sau nàng ngồi một mình trong lúc đàn thiên nga bay đi, nhưng nàng chẳng hề thấy ngày dài nữa, nàng dệt xong một cái áo và bắt đầu dệt sang tấm thứ hai.

Bỗng có tiếng tù và của người đi săn vang lên trong núi. Tiếng tù và nghe càng gần, nàng càng lo sợ. Nàng chợt nghe thấy tiếng chó sủa, nàng hốt hoảng trốn vào trong hoang. Nàng quấn chiếc áo đã dệt thành một bọc và ngồi lên trên. Bỗng một con chó to chạy đến, theo sau cả đàn chó săn. Một lát sau, tất cả những người đi săn đã tụ tập ở cửa hang.

Đây là một cuộc săn bắn của nhà vua trị vì xứ này. Nhà vua tiến thẳng về phía nàng Liza. Chưa bao giờ ngài thấy một thiếu nữ xinh đẹp như thế. Ngài hỏi nàng:

- Làm sao mà nàng lại tới chốn này, hỡi cô bé kiều diễm kia?

Liza chỉ lắc đầu, vì cần phải giữ miệng để cứu lấy tính mạng của các anh nàng. Cùng lúc ấy nàng giấu đôi tay xuống dưới vạt áo để nhà vua không nhìn thấy đôi tay bị phồng lên.

- Nàng hãy đi theo ta - nhà vua phán - Nàng không thể ở đây được. Nếu nàng vừa đẹp người lại đẹp nết, nàng sẽ bận xiêm y may toàn bằng nhung lụa và ta sẽ ban cho nàng một chiếc mũ miện bằng vàng. Nàng sẽ ở lại trong cung điện.

Rồi nhà vua đặt nàng lên yên ngựa. Nàng chắp đôi tay lại, khóc lóc, nhưng nhà vua khẽ bảo nàng:

- Ta không muốn làm hại nàng đâu, một ngày kia nàng sẽ cảm ơn ta.

Nói rồi nhà vua ôm nàng ngồi phía trước, phóng ngựa qua núi, cả đoàn người đi săn theo sau.

Đến sẩm tối họ về đến kinh thành. Nhà vua đưa nàng Liza vào cung.

Trong những gian phòng rộng bằng đá hoa có những vòi nước chảy rất kỳ diệu, tường nhà treo đầy chân dung. Nhưng nàng chẳng chú ý đến vật gì cả, nàng chỉ than vãn, khóc lóc. Nàng lơ đãng, kệ cho các cung nữ mặc cho nàng những bộ quần áo lộng lẫy, đính ngọc trai vào mái tóc nàng và đeo găng vào đôi tay cháy xém của nàng.

Phục sức như vậy nàng lại càng xinh đẹp bội phần đến nỗi cả triều đình phải cúi rạp trước sắc đẹp của nàng.

Mặc cho vị giáo chủ lắc đầu phản đối và quả quyết rằng cô gái người rừng này hẳn là một mụ phù thủy, có đôi mắt đốt cháy và làm đảo điên trái tim của nhà vua, ngài vẫn tuyên bố rằng nàng là vị hôn thê của ngài.

Một đại hội được tổ chức, các cô thiếu nữ diễm lệ nhất trong nước nhảy múa những bản vũ đẹp nhất. Nhưng trong ánh mắt và đôi môi của nàng Liza không thấy hiện ra lấy một nụ cười và chỉ thấy vẻ đau đớn buồn phiền.

Nhà vua mở cả một phòng ngủ dành cho nàng. Phòng được căng toàn thảm xanh biếc, loại rất quý, trông hệt như khung cảnh cái động trong đó nhà vua đã gặp nàng. Trên sàn nhà là bó cây tầm ma nàng dùng để dệt áo và trên trần nhà treo chiếc áo đã dệt xong. Một người trong đoàn đi săn thấy lạ đã mang các thứ đó về.

Nhà vua nói:

- Ở như thế này em sẽ có thể tưởng tượng như đang ở chốn cũ của em. Có cả những thứ em trìu mến hoặc thường dùng trước đây. Với những vật ấy, giữa cảnh xa hoa em vẫn có thể sống bằng trí tưởng tượng cuộc đời trước đây.

Khi nàng Liza nhìn thấy những thứ mà trái tim nàng tha thiết mong muốn thấy, môi nàng nở một nụ cười và da mặt lại hồng hào tươi tắn lên.

Nàng nghĩ đến tính mạng của các anh và cúi xuống hôn tay nhà vua. Ngài ôm nàng vào ngực và truyền lệnh rung chuông nhà thờ liên hồi để báo tin ngài làm lễ thành hôn. Thế là cô gái câm trở thành hoàng hậu.

Giáo chủ thầm thì vào tai nhà vua không biết bao nhiêu lời sàm tấu, nhưng những lời đó không lay chuyển nổi ý định của nhà vua và lễ cưới vẫn cứ bắt đầu. Giáo chủ phải đích thân đặt mũ miện lên đầu nàng Liza. Lão ta độc ác, ấn sụp mũ miện xuống trán nàng, làm cho nàng bị đau ở đầu. Nhưng nàng vẫn cứ trơ ra, không còn thấy đau đớn về thể xác nữa, tim nàng còn đau hơn thế vì chưa giải thoát được các anh nàng.

Nàng vẫn câm, vì chỉ một lời thôi cũng có thể giết chết các anh nàng. Nàng chỉ biết dùng đôi mắt để tỏ lòng biết ơn nhà vua nhân đức đã tìm hết cách để an ủi nàng. Càng ngày nàng càng yêu nhà vua và trong thâm tâm nàng cũng muốn gửi gắm nhà vua nỗi đau khổ của nàng, nhưng nàng không thể nói lên được. Đêm nào cũng vậy nàng lại vào trong gian phòng xinh xắn, trang hoàng hệt như hang đá cũ, và tiếp tục dệt hết chiếc áo này sang chiếc khác. Dệt đến chiếc thứ 7 thì hết sợi gai tầm ma.

Nàng biết rằng giống tầm ma chỉ mọc ở nghĩa địa thôi và phải đích thân nàng đi hái mới được.

- Làm sao mà ra nghĩa địa được bây giờ? - Nàng nghĩ thầm - Ôi! Tay ta có đau đớn đến mấy cũng không thể so sánh với nỗi đau đang đè nặng tim ta! Ta muốn hy sinh tất cả cho các anh ta. Thượng Đế sẽ phù hộ cho ta.

Run rẩy như đang làm một việc xấu xa, một đem sáng trăng, nàng xuống vườn, đi theo con đường lớn, qua các phố vắng ngắt tới gần nghĩa địa. Ở đấy nàng thấy những mụ phù thủy già khọm và kinh tởm đang ngồi quây tròn trên nấm mồ lớn nhất. Chúng quẳng tất cả quần áo đi như sắp sửa tắm và dùng những ngón tay gầy guộc, dài ngoẵng để bới những ngôi mộ mới. Liza phải đi ngang qua chỗ chúng và chúng quằm quặm nhìn nàng. Nhưng nàng vẫn lẩm nhẩm đọc kinh. Nàng hái ít cây tầm ma, rồi trở về cung vua.

Chỉ có một người nom thấy nàng ra nghĩa địa. Đó là lão giáo chủ. Trong lúc mọi người đã ngủ, chỉ có lão còn thức. Lão cho rằng lão đã đoán rất đúng về những hành vi khả nghi của hoàng hậu. Theo lão, chính hoàng hậu là một mụ phù thủy đã mê hoặc nhà vua và toàn thể thần dân.

Hôm sau, lão kể với đức vua chuyện xảy ra đêm trước. Nhưng trong lúc lão kể, những pho tượng quanh đó đều lắc đầu như muốn nói: “Nàng Liza vô tội!” Lão giáo chủ lại xuyên tạc ngụ ý của những cái lắc đầu ấy và nói rằng các pho tượng đang kết tội hoàng hậu. Thế là hai giọt nước mắt lăn dài trên má nhà vua và ngài trở về cung, mang theo một mối nghi ngờ khinh khủng trong lòng. Đêm sau, ngài giả vờ ngủ và trông thấy nàng Liza đi ra như vậy và lần nào nhà vua cũng theo dõi nàng cho đến khi nàng trở về cung.

Càng ngày nhà vua càng trở nên lầm lì, nàng Liza cũng không hiểu vì sao. Đó lại thêm một nỗi buồn cho nàng, nhưng mối lo âu lớn nhất vẫn là việc giải thoát cho các anh nàng. Những hạt lệ của nàng tuôn trên nệm gấm, chăn nhung của hoàng gia như những hạt kim cương lóng lánh, tuy thế ai thấy nàng cũng vẫn ganh tỵ về sắc đẹp của nàng.

Công việc của nàng cũng đã gần xong. Nàng chỉ còn phải dệt một chiếc áo nữa thôi, nhưng sợi cây tầm ma lại hết. Nàng lại phải ra ngoài một lần nữa để hái vài nắm. Nghĩ đến việc đi đêm hôm và những mụ phù thủy ghê tởm, nàng rùng mình nhưng ý muốn của nàng không gì lay chuyển được và nàng cũng rất mực tin tưởng vào Thượng Đế. Nàng lại ra nghĩa địa. Nhà vua và giáo chủ theo gót nàng, họ thấy nàng đi vào cửa nghĩa địa rồi biến mất. Vào gần tới nơi họ mới nhìn thấy lũ phù thủy ngồi trên một ngôi mộ. Nhà vua chạy về, ngài đã tưởng tượng trong đám phù thủy ấy có con người mà tối tối ngài ấp đầu vào ngực.

- Dân chúng sẽ xét xử - Ngài phán quyết như vậy.

Dân chúng kết tội hoàng hậu phải chết thiêu.

Từ gian phòng huy hoàng, nàng bị dong đến ngục kín, gió rít qua những chấn song cửa sổ bằng sắt. Thay vào nhung lụa, người ta cho nàng bó tầm ma nàng đã hái về, để gối đầu. Những tấm áo thô, còn đầy gai, dệt bằng sợi tầm ma, được trải làm giường nằm. Gai đâm vào người nàng bỏng ran, nhưng nàng lại lấy làm thích thú. Nàng lại bắt tay ngay vào việc và tạ ơn Thượng Đế. Ngoài phố, trẻ con hát những bài hát nguyền rủa nàng. Chẳng có ai an ủi nàng lấy một câu.

Chiều đến một con thiên nga bay đến đậu vào cửa sổ.

Đó là hoàng tử út đã tìm thấy tung tích của nàng. Nàng thấy sung sướng vô cùng, mặc dù nàng biết rằng mai sẽ là đêm cuối của đời nàng. Chả là công việc của nàng đã gần xong và các anh nàng cũng không xa nàng mấy. Giáo chủ đến để làm phép rửa tội cho nàng, nhà vua đã lệnh cho lão làm việc ấy. Liza lắc đầu và làm hiệu bảo lão hãy để cho nàng yên. Ngay đêm ấy nàng phải hoàn thành công việc của nàng, nếu không bao nhiêu đau buồn, nước mắt và bao đêm mất ngủ cũng trở thành vô ích.

Giáo chủ vừa đi ra vừa càu nhàu, nhưng nàng biết mình vô tội.

Đàn chuột nhắt lon ton trên sàn nhà và gỡ sợi tầm ma giúp nàng. Một con họa mi đậu trên cửa sổ hót suốt đêm để khuyến khích nàng.

Trước khi mặt trời mọc mười một hoàng tử anh nàng vào cung xin được yết kiến nhà vua. Người ta bảo họ rằng không được, vì trời chưa sáng và không thể đánh thức nhà vua dậy lúc này được. Các hoàng tử van nài chán rồi dọa dẫm. Đội cấm binh kéo đến, nhà vua cũng thân chinh ra hỏi tại sao lại làm ầm ĩ lên như vậy. Vừa lúc ấy mặt trời ló lên, các hoàng tử chẳng còn đấy nữa, người ta chỉ thấy mười một con thiên nga đội mũ miện vàng đang bay lượn trên hoàng cung.

Nhân dân kéo đến ngoài cổng thành để xem thiêu mụ phù thủy. Người ra đã bắt nàng Liza mặc áo vải thô. Bộ tóc dài xõa xuống khuôn mặt xinh đẹp của nàng, đôi má nàng tái nhợt như da người chết, đôi môi nàng như cầu nguyện trong lúc đôi tay vẫn tiếp tục may vá. Ngay trên đường đi đến chỗ chết thiêu, nàng vẫn không ngừng may áo vì nàng đã dệt và may xong mười chiếc, chỉ còn chiếc thứ mười một nữa, nên nàng ráng hết sức may cho xong trước giờ chết thiêu.

- Kìa, trông mụ phù thủy kìa! Nhìn xem nó đang lẩm nhẩm cái gì trong mồm kia! Nó chẳng có lấy một cuốn thánh kinh trong tay! Phải xé tan làm muôn mảnh cái bọc quái quỷ nó cặp kè bên mình kia!

Mọi người xô đẩy nhau và sắp sửa giành lấy bọc áo, bỗng mười một con thiên nga bay tới.

Chúng đậu xung quanh nàng và vỗ những bộ cánh dài và rộng.

Đám đông kinh ngạc, lùi lại:

- Đó là điềm trời đấy, chắc hẳn cô ta vô tội - Nhiều người thì thào.

Đao phủ đã nắm lấy tay Liza. Nàng vội vã tung mười một chiếc áo lên đàn thiên nga, chúng biến ngay thành mười một hoàng tử trẻ măng. Riêng hoàng tử út còn lại một cánh thiên nga thay cánh tay, vì một chiếc áo chưa may xong, còn thiếu một tay.

- Giờ thì tôi đã nói được rồi! - Liza reo lên - Tôi vô tội!

Nhân dân thấy thế vội quỳ xuống trước mặt nàng như trước một nữ thánh. Nhưng nàng đã ngã lăn ra, ngất đi trong tay các anh nàng, vì làm việc nhiều, lo lắng nhiều và đau đớn nhiều, nàng đã kiệt sức.

- Đúng thế, em chúng tôi vô tội! - Hoàng tử tuyên bố.

Và hoàng tử kể lại đầu đuôi câu chuyện. Trong khi hoàng tử kể chuyện, một mùi hương tỏa ra như có hàng triệu đóa hoa hồng ở đâu đấy. Đó là những thanh củi trên giàn thiêu đã bén rễ mọc thành hoa lá.

Lúc này, giàn thiêu đã biến thành một khóm hoa hồng, trên cùng là một đóa hồng bạch, lóng lánh như một ngôi sao. Nhà vua hái lấy bông hoa cài vào ngực Liza, nàng tỉnh dậy, lòng đầy vui sướng và hạnh phúc. Bỗng nhiên, tất cả chuông nhà thờ không ai giật đều rung lên cả. Chim chóc kéo tới hàng đàn và trong cung vua mở một ngày hội lớn, chưa từng có từ trước tới nay.

 
HANS CHRISTIAN ANDERSEN   
 
 

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2016

CHÚ VỊT CON XẤU XÍ


Một ngày nắng đẹp, bên bờ hồ có một chị vịt đang bồn chồn đi lại quanh ổ trứng. Đã đến ngày đàn con của chị chào đời.

Chợt những quả trứng khẽ động đậy, rồi một, hai, ba… chú vịt con xinh xắn đội vỏ chui ra. Riêng quả trứng to nhất, hay được mẹ chú ý nhất, thì mãi không chịu nứt vỏ.

“Sao thế nhỉ? Có chuyện gì xảy ra chăng? Con hãy mau ra đây để ngắm trời xanh, nắng vàng đi chứ!” Vịt mẹ lo lắng nghĩ và lay nhẹ quả trứng.

Nhưng quả trứng vẫn nằm im. Đúng lúc ấy, một bác vịt đi qua, ghé thăm đám vịt mới nở.

Bác khen chúng dễ thương và sau một hồi ngắm nghía quả trứng còn lại trong ổ, bác vịt lắc đầu bảo:

– Tôi e đây là trứng gà tây. Tôi đã gặp chuyện này một lần rồi, rắc rối lắm! Cô quên nó đi, đưa bọn trẻ xuống nước cho chúng tập bơi kẻo tối đến nơi rồi.

Vịt mẹ không đành lòng làm theo lời khuyên của bác vịt kia, chị vẫn kiên trì ấp ủ hơi ấm cho quả trứng út ít. Và rồi cũng đến lúc vỏ trứng tách ra, một chú vịt con to lớn hơn hẳn các anh chị, lông xám xịt hiện ra. Vịt mẹ ngỡ ngàng nhìn nó hồi lâu và lắc đầu khẽ nói:

– Trời ơi, sao con khác lạ và xấu xí quá, chẳng lẽ con lại là gà tây?

Hôm sau, vịt mẹ dẫn cả đàn con ra hồ. Vịt con xấu xí bơi rất giỏi, nó luôn dẫn đầu cả đàn, theo sát sau mẹ. Vịt mẹ thấy vậy mừng lắm:

– Thằng bé đúng là con mình, không phải là gà tây, nó bơi giỏi thế cơ mà!

Khi đám vịt con đã cứng cáp, vịt mẹ dẫn chúng đi chào họ hàng, bà con xóm giềng. Nhưng đi đến đâu, vịt con xấu xí cũng bị cười cợt, chòng ghẹo.

Khi lũ vịt con được chia quà là những con cá trạch tươi ngon thì vịt con xấu xí cũng chỉ được nhận sau cùng. Bác vịt đầu đàn nhìn nó chẳng mấy thiện cảm và còn hỏi:

– Ơ, đứa trẻ xấu xí này là con cái nhà ai mà lạc vào đây thế?

Lũ vịt con thấy thế được thể bắt nạt vịt con xấu xí suốt ngày. Cứ hễ khi nào vắng mẹ là chúng không cho chú cùng ăn, cùng chơi với chúng.

Vịt con xấu xí buồn lắm, đành lủi thủi chơi một mình. Một hôm chú lang thang trong vườn, tình cờ gặp anh gà trống đang tâm sự với chị gà mái. Vừa nhìn thấy vịt con, anh gà trống đã quắc mắt mổ cho nó một cái rõ đau rồi quát lên:

– Đồ nhóc con xấu xí, mò đến đây làm gì cho bẩn mắt ta! Biến ngay!

Vịt con sợ hết hồn hết vía, bỏ chạy thục mạng. Cứ thế, ngày này qua ngày khác, vịt con xấu xí luôn bị xua đuổi, bị đối xử ghẻ lạnh, sống giữa bầy đàn mà chú luôn cảm thấy cô đơn. Không thể chịu đựng thêm được nữa, một hôm vịt con quyết định bỏ đi.

Vịt con men theo bờ hồ, chậm chạp bước đi. Chú không biết sẽ đi đâu. Đi đâu để tránh được những tiếng chê bai, giễu cợt? Chợt vịt con giật mình dừng lại. Thì ra đám ếch đang ngồi chơi, thấy vịt con đi tới đã đồng loạt nhảy xuống hồ, kêu toáng lên:

– Ộp ộp, con gì mà xấu xí quá, chắc không phải là vịt!

Vịt con tủi thân lắm. Chú nghĩ: “Mình xấu xí đến mức ma chê quỷ hờn hay sao mà ai thấy mình cũng muốn tránh xa thế nhỉ?!

Vịt con chán nản nằm ệp xuống vạt cỏ. Bỗng chú nghe thấy tiếng đập cánh vui vẻ, tiếng trò chuyện xôn xao, liền ngẩng lên nhìn. Một đàn vịt trời bay qua chỗ vịt con, hạ cánh xuống phía hồ bên kia nghỉ ngơi. Vịt con vội nhảy xuống hồ bơi về phía đàn vịt, mong muốn được kết bạn với chúng. Nhưng đám vịt trời vừa nhìn thấy chú đã kêu lên ầm ĩ:

– Con vịt xấu xí này ở đâu ra vậy?

Con cái của chúng ta làm gì có đứa khó coi thế này!

Ngay lúc ấy, tiếng súng nổ chợt vang lên: Pằng! Pằng! Và hai con vịt trời bơi gần vịt con nhất bị trúng đạn, không kịp kêu lên một tiếng nào.

Vịt con sợ hãi, run rẩy, cố rúc đầu vào đôi cánh nhỏ, nấp cạnh khóm sậy.

Vịt con nghe thấy tiếng nước văng rào rào. Một anh chó săn to lớn lù lù tiến đến. Nhưng anh chó chẳng thèm để ý đến vịt con, chỉ ngoạm hai con vịt trời bị bắn chết lôi vào bờ.

Vịt con thở phào nhẹ nhõm: “May quá! Mình xấu xí đến nỗi ngay cả anh chó săn cũng chẳng thèm để mắt đến”.
 
Đêm ấy, vịt con vừa sợ vừa mệt, cuộn mình trong đám cỏ mềm nằm ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau chú lại tiếp tục lên đường. Chú vẫn ước mong tìm được chốn nương thân, tìm được những người bạn tốt. Nhưng mùa đông đã bắt đầu tràn tới, gió lạnh thổi ào ào. Cuộc hành trình của vịt con càng khó khăn hơn. Vừa đói, vừa rét, vịt con lảo đảo bước đi.

Mãi đến khi kiệt sức, vịt con mới gặp một ngôi nhà nhỏ. Nơi ấy có một bà cụ phúc hậu sống cùng với chị gà và anh mèo.

Vừa nhìn thấy vịt con, bà cụ đã xuýt xoa thương xót và đưa ngay chú vào nhà. Bà cụ ủ ấm cho vịt con rồi lấy cháo nóng cho chú ăn. Từ khi rời đàn ra đi, bữa ấy vịt con mới được ăn ngon như thế.

Trong khi ấy thì anh mèo và chị gà cứ lượn lờ quanh vịt con.

Anh mèo gừ gừ hỏi:

– Này vịt con xấu xí kia, mi có biết bắt chuột không?

Còn chị gà thì cục ta cục tác nhặng xị lên:

– Trông chú mày, vịt chả ra vịt, gà chả ra gà, chú mày có biết đẻ trứng như chị không?

Vịt con không biết trả lời ra sao, chỉ biết lắc đầu. Thế là cả anh mèo và chị gà cùng đồng thanh:
– Đúng là đồ vô tích sự! ở đây không có chỗ cho chú em đâu.

Vịt con nghe nói thế không biết làm cách nào, đành ngậm ngùi ra đi.

Một buổi chiều, chú đi đến một cái hồ lớn ven rừng. Trên mặt hồ có đàn thiên nga đang bơi lội, con nào cũng trắng muốt tuyệt đẹp.

– Ước gì mình cũng xinh đẹp như các anh chị ấy thì hạnh phúc biết bao! –

Vịt con ao ước. Chú cứ ngẩn ngơ ngắm mãi cho đến khi đàn thiên nga cất cánh bay khuất dần sau khu rừng. Trời tối rất nhanh. Vịt con không còn biết đi đâu nữa! Nghĩ đến thân phận mình, chú gục mặt xuống tuyết nức nở khóc.

Sáng sớm hôm sau, có một bác gác rừng đi qua, thấy một chú vịt con bị băng phủ kín, lạnh cóng, nhưng vẫn còn thoi thóp thở. Bác đập vỡ đám băng bám quanh vịt con, bế chú lên, quấn vào vạt áo rồi đưa về nhà.

Vịt con được sưởi ấm, dần dần hồi tỉnh. Từ đó, vịt con xấu xí được ở lại trong căn nhà ấm áp của bác gác rừng tốt bụng. Mọi người trong nhà đều yêu quý chú ta. Vịt con vui lắm, nghĩ rằng sẽ được ở đây mãi mãi.

Nhưng rồi một ngày kia, cả nhà đi vắng hết, chỉ còn một mình vịt con đang thiu thiu ngủ. Chợt vang lên những tiếng kêu chít, chít, chít… Chú choàng tỉnh, lạch bạch chạy vào trong bếp. Một cảnh tượng lộn xộn diễn ra trước mắt chú: Cả đàn chuột đang đánh chén ngon lành trên bàn ăn.

Thấy động, đám chuột xô nhau bỏ chạy tán loạn làm bát đĩa, cốc, chén… rơi loảng xoảng, thức ăn vương vãi lung tung. Khắp phòng bếp bị đảo lộn bừa bộn, bẩn thỉu.

Vừa lúc đó bà chủ trở về. Thấy cảnh đổ vỡ ngổn ngang, còn vịt con xấu xí thì đang ngơ ngác đứng giữa nhà, bà giận dữ la lớn:

– Con vịt xấu xí kia, mày đã làm gì thế này?

Vịt con hoảng sợ, vội bỏ chạy ra khỏi nhà.

Tuyết rơi trắng xoá khắp nơi. Vịt con rét run, lẩy bẩy bước đi. Bỗng chú thấy lấp ló sau bụi cây có một căn nhà xinh xắn.

Vịt con bước đến, rụt rè gõ cửa. Một bác chuột đồng vui vẻ bước ra, ân cần xoa đầu vịt con:

– Tội nghiệp vịt con bé bỏng, vào nhà với bác cho đỡ rét!

Nhà bác chuột đồng rất ấm và chất đầy thức ăn. Mẹ con bác chuột thương vịt con lắm, họ giữ vịt con ở lại cho qua mùa đông giá rét. Lần đầu tiên trong đời, vịt con được yên tâm sống trong cảnh vui vẻ, đầm ấm thương yêu như vậy…

Thời gian thấm thoắt trôi đi, chẳng mấy chốc mùa xuân đã trở lại. Vịt con bây giờ đã lớn lên nhiều, chú bâng khuâng nhớ hồ nước trong xanh, nhớ cánh đồng đầy hoa, nhớ bầu trời cao rộng. Chú liền cám ơn và bịn rịn chia tay mẹ con bác chuột đồng để trở về hồ nước xanh.

Vịt con ra khỏi nhà, ngẩng mặt lên đón những tia nắng ấm áp của ông mặt trời và khoan khoái vẫy nhẹ đôi cánh. Chú chợt thấy mình được nâng bổng lên cao.

Vịt con reo lên:

– Ôi, mình đã biết bay! Mình đã biết bay thật rồi!

Vịt con sung sướng dang rộng và vẫy mạnh đôi cánh. Trong chốc lát, chú đã ở giữa bầu trời xanh bao la. Thật tuyệt vời, vịt con thích thú liệng xuống sát mặt hồ. Chú ngỡ ngàng không tin vào mắt mình nữa. In hình trên mặt nước biếc xanh không phải là chú vịt con xấu xí mà là một chàng thiên nga đẹp đẽ, trẻ trung.

“Thật là kì diệu, bây giờ sẽ không còn ai gọi mình là vịt con xấu xí nữa!” Chàng thiên nga tự nhủ và cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Chàng thiên nga kiêu hãnh vươn cao cái cổ thon dài bơi ra giữa hồ. Nơi đó có đàn thiên nga vừa hạ cánh, chúng đang vui vẻ gọi chàng thiên nga nhập bầy, cùng múa lượn đón chào mùa xuân.


HANS CHRISTIAN ANDERSEN  

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

MỤ ẤY HƯ HỎNG


Ông thị trưởng đang đứng ở cửa sổ. Ông ta diện một áo sơ-mi mỏng thêu hoa, có lá sen bằng đăng-ten trước ngực, trên đó lóng lánh một chiếc kim đầu bằng kim cương. Ông vừa mới cạo râu xong. Ông làm đứt một tí ở mặt, tạm thời rịt vào đấy một mẩu giấy báo.
 
- Thế nào, bé con!
 
Em bé đi qua là con một chị thợ giặt nghèo khổ. Khi đi qua cửa nhà ông thị trưởng, em đã lễ phép ngả mũ chào. Cái mũ lưỡi trai đã gập đôi vì em vẫn cuộn và nhét mũ vào túi.. em bé dừng lại với một vẻ lễ độ, khúm núm như đứng trước nhà vua. Quần áo em tồi tàn nhưng rất sạch sẽ, vá víu cẩn thận. em đi một đôi guốc kếch xù.
 
Ông thị trưởng nói:
 
- Mày là một đứa bé ngoan, mày lễ phép như thế vừa ý ta lắm. Chắc hẳn mẹ mày đang giặt ngoài bờ sông. Đúng là mày lại mang cho mẹ mày cái của đang thò đầu ra ngoài túi kia chứ gì? Mẹ mày làm thế thật là hư hỏng. Chỗ ấy bao nhiêu đấy?
 
- Thưa ông, nửa chai ạ!- Em bé sợ hãi quá, trả lời bằng một giọng gần như nghẹn ngào.
 
Con người đứng đắn ấy nói tiếp:
 
- Mà sáng nay mẹ mày cũng đã uống đúng chừng đấy rồi chứ gì?
 
Em bé cãi lại:
 
- Thưa không, hôm qua đấy ạ!
 
- Hai nửa cộng lại thành một chai. Mẹ mày thật là đồ hư hỏng. Thật đáng buồn, mẹ mày phải lấy làm xấu hổ mới phải. Còn mày cố tránh đừng có trở thành thằng nghiện ruợu, nhưng rồi mày cũng thế, chẳng tránh được đâu con ạ. Tội nghiệp! Thôi đi đi.
 
Em bé bước đi, Trong lúc mủi lòng, em vẫn cầm chiếc cát két ở trong tay. Gió lùa vào mái tóc vàng hoe của em, hất tung những chùm tóc xoăn dài.
 
Đến góc phố, em ngoặt vào một ngõ hẻm đi ra bờ sông. Ở đó, mẹ em quỳ gối trên chiếc ghế dài, đang ráng sức nện cái bàn đập xuống những bó quần áo to tướng. Cửa cống cối xay đã mở, dòng nước chảy xiết, kéo trôi những tấm khăn trải giường lớn, de dọa lật đổ cả chiếc ghế dài. Chị thợ giặt bắt buộc phải dùng hết sức chống chân xuống giữ.
 
Chị nói với con:
 
- Một tí nữa thì mẹ bị nước cuốn đi. May quá! Con đã đến, mẹ đang cần phải lấy lại sức một chút. Nước buốt quá mà mẹ phải ngâm ở đây sáu tiếng đồng hồ rồi. Con có mang gì cho mẹ không?
 
Em bé rút chai rượu ra. Người mẹ cầm lấy tu một ngụm.
 
Chị nói:
 
- Tốt quá! Nóng cả người! Một ngụm này đã rẻ hơn lại công hiệu ngang một bát xúp. Con trai của mẹ uống một tí đi, trông mặt con tái lắm. Đã sang thu rồi đấy, mặc quần áo mỏng thế chắc con mẹ rét lắm. Úi chào! Sao mà cái nước này buốt thế! Cốt là mẹ đừng ốm! Nhưng không, không thể được. Đưa mẹ uống ngụm nữa. Con cũng uống đi, một ngụm thôi nhé! Chớ có quen thói, con yêu quý tội nghiệp của mẹ!
 
Chị rời cái ghế dài lên bờ. Nước nhỏ giọt từ chiếc áo và manh chiếu quấn quanh người. Chị lại nói:
 
- Mẹ đem hết sức lực ra làm việc đến nỗi gần như bật máu ra đầu ngón tay, nhưng mẹ vui lòng làm để nuôi con một cách lương thiện, con trai yêu quý của mẹ!
 
Lúc đó có một người đàn bà nhiều tuổi hơn một chút, ăn mặc rách rưới, đi tới. Chị ta bại một nửa chân và chột mắt. Chị kéo một búp tóc lớn xuống che con mắt bị tật, nhưng lại càng làm cho người ta thấy rõ hơn. Chị là bạn của chị thợ giặt. Hàng xóm gọi chị ta là Mactơ què tóc xõa.
 
Mactơ nói:
 
- Chị phải làm việc vất vả dưới nước lạnh buốt như thế này thật đáng thương! Đúng là chị cần phải uống tí rượu cho lại sức, thế mà có những đứa ác khẩu còn mở miệng ra chê trách chị đấy.
 
Chị ta nhắc lại bài diễn thuyết hay ho mà ông thị trưởng đã tuôn ra với em bé lúc nãy. Chị đã nghe thấy khi đi ngang qua và chị cũng lấy làm buồn vì ông ta đã nói mẹ em như thế. Chị nói tiếp:
 
- Chính con người nghiêm khắc ấy, thấy người ta uống vài giọt rượu để giữ sức làm việc nặng nhọc đã cho là một tội nặng, hôm nay lại thết một bữa tiệc lớn có đủ các thứ rượu mùi ngon, rượu vang nặng. Mỗi người uống tới hai ba chai, nhất định không phải là việc uống cho đỡ khát. Nhưng làm thế nào họ có cho là uống rượu đâu, vì họ là những người sang trọng. Còn chị, họ lại bảo là đồ hư hỏng.
 
Môi run lên vì đau đớn, chị thợ giặt nói:
 
- A! Ông ấy bảo con thế đấy à? Bảo là con có một người mẹ tính hạnh không tốt… Có thể là đúng, nhưng nhẽ ra chẳng nên nói chuyện đó với trẻ con. Biết bao nhiêu chuyện đau buồn của mẹ đều nhà ấy mà ra cả.
 
Mactơ nói:
 
- Ngày xưa, khi bố mẹ ông thị trưởng còn sống, chị đã ở cho nhà ấy. Người ta có câu: “Đời cha ăn mặn, đời 
con khát nước.”
 
Mactơ mỉm cười về câu khôi hài của mình và nói tiếp:
 
- Câu chuyện là thế này: Ông thị trưởng đã mời rất nhiều người đến dự tiệc. Đến phút cuối cùng ông ta lại định thôi không đặt tiệc nữa, nhưng không kịp, thức ăn đã mua và làm dở rồi. Đầy tớ nhà ấy đã kể chuyện với tôi rằng: lúc ấy có thư báo là em út ông ta vừa chết ở thủ đô Côpenhagơ.
 
- Chết!- Chị thợ giặt kêu lên, mặt tái xanh như một cái xác không hồn.
 
- Đúng đấy! Nhưng tại sao chị lại có vẻ quan tâm nhiều đến việc ấy thế? Ừ phải rồi, chị biết ông ta từ hồi ở cho nhà ấy chứ gì?
 
- Sao? Chết rồi ư? Ông ta có tâm hồn cao quý biết bao! Ông ta chính là hiện thân của lòng nhân từ và hào hiệp. Cũng trong tầng lớp ấy, chẳng mấy người được như ông ta.
 
Trong lúc nói thế, nước mắt chị thợ giặt chảy ròng ròng trên má.
 
Chị lại nói tiếp:
 
- Chóng mặt quá! Hay là vì tôi đã uống quá mức nên không chịu được? Tôi thấy rất khó chịu.
 
Chị tựa người vào một tấm ván. Mactơ bảo:
 
- Trời ơi, chị bị cảm thật rồi. Cố gắng một tí cho nó qua đi nào! Nhưng chẳng được đâu, tôi thấy chị cảm nặng đấy. Tốt nhất là tôi dẫn chị về nhà.
 
- Còn đống quần áo kia?
 
- Cứ để đấy tôi giặt cho. Lại đây, đưa tay đây. Để cháu ở lại trông quần áo. Tôi sẽ quay lại và giặt nốt chỗ dở cho, cũng chẳng còn mấy.
 
Chị thợ giặt đáng thương lảo đảo bước đi. Chị nói:
 
- Tôi dầm nước lạnh lâu quá. Từ sáng tôi chưa được ăn uống gì cả. Tôi bị cảm, Giêsuma lạy chúa! Hãy giúp con về được đến nhà! Khổ thay cho con tôi!
 
Chị khóc sướt mướt. Khi ở lại bờ sông trông quần áo một mình, thằng bé cũng khóc. Hai người đàn bà bước đi chầm chậm. Chị thợ giặt lảo đảo bước qua ngõ hẻm. Đến trước cửa nhà ông thị trưởng, chị kiệt sức ngã lăn ra bờ hè. Người qua đường xúm quanh chị, chị què Mactơ chạy vội về nhà bạn gọi người đến giúp.
 
Thị trưởng và quan khách ra cửa sổ đứng xem. Ông chủ tiệc nói:
 
- À, mụ thợ giặt đấy mà, có lẽ mụ ấy lại uống rượu nhiều quá rồi. Mụ ấy thật là hư hỏng. Đáng tiếc cho thằng con trai của mụ, thằng bé ngoan quá, tôi yêu nó lắm… Nhưng mẹ nó lại là đồ khốn kiếp.
 
Người đàn bà đáng thương hồi tỉnh lại. Người ta đưa chị về gian buồng bé nhỏ tồi tàn của chị, đặt chị nằm vào giường. Mactơ pha cho chị một cốc bia nóng với bơ và đường. Theo chị, đó là môn thuốc tốt nhất. Sau đó, chị quay ra sông giặt qua loa chỗ quần áo, hay đúng hơn, là chỉ rưới nước lên rồi cho vào sọt. Chị có ý định tốt, nhưng chỉ hiềm nỗi yếu sức.
 
Đến tối, chị đến ngồi cạnh chị thợ giặt trong xó nhà nghèo nàn. Chị bếp nhà ông thị trưởng đưa cho chị chuyển cho người ốm mấy củ khoai rán và một miếng giăm-bông mỡ. Mactơ và em bé chén một bữa thoả thuê. Chị bảo: “Người ốm không ăn được thì ngửi mùi cho lại sức!”
 
Mactơ đặt em bé nằm ngủ ngang giường, dưới chân mẹ nó và đắp cho nó một cái nệm cũ viền xanh đỏ. Chị thợ giặt đã khá hơn một chút. Hơi thức ăn ngon và bia nóng đã làm cho chị lại sức.
 
Chị nói:
 
- Mactơ ơi, chị tốt lắm. Biết lấy gì trả ơn chị được? Lúc nào cháu ngủ rồi, tôi sẽ kể tất cả chuyện cũ cho chị nghe, mà hình như nó ngủ rồi thì phải. Chị xem cháu nằm ngủ ngoan, hiền lành vô tội thế kia! Nó không biết rằng mẹ nó đau khổ như thế nào và Thượng đế cũng muốn rằng không bao giờ nó biết chuyện ấy.
 
Chị cũng biết rằng trước kia tôi đã ở cho quan tư vấn trong triều, bố ông thị trưởng bây giờ. Bỗng một hôm, con giai út ông ta, học ở Côpenhagơ trở về thăm nhà. Lúc đó, tôi còn trẻ, nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng đứng đắn. Có Chúa chứng giám cho điều đó. Anh sinh viên trẻ tuổi ấy là một thanh niên vui vẻ, dễ tính, đáng yêu và đẹp trai. Trong người anh không có giọt máu nào khác ngoài dòng máu của những người coi trọng danh dự và trung thực. Anh ấy là con nhà chủ, tôi chỉ là người ở, nhưng chúng tôi yêu nhau, trong sạch và đứng đắn. Như vậy cũng không phải là có tội. Anh kể chuyện ấy với mẹ anh. Đối với anh, bà ấy cũng như Thượng đế trên trần gian. Và thực ra đó là một bà mẹ rất mực hiền hậu và yêu con.
 
Anh đeo vào tay tôi một chiếc nhẫn vàng và trở lại Côpenhagơ. Anh ấy vừa đi khỏi, bà chủ đã gọi tôi lên. Bà ta nghiêm nghị nhưng ngọt ngào lắm, những lời nói của bà tôi nghe như tiếng trên trời nói xuống. Bà giảng giải cho tôi rõ sự cách biệt giữa anh ấy và tôi. Bà bảo: “Bây giờ nó chỉ biết một điều là mày rất xinh thôi. Nhưng sắc đẹp sẽ tàn đi. Mày không được học tập và hiểu biết bằng nó, chúng mày không hợp với nhau ở chỗ đó, và đó sẽ là một điều đau khổ.” Bà nói thêm: “Tao rất quý và trọng những người nghèo, dưới mắt Thượng đế, trên thiên đàng, nhiều người nghèo đã chiếm được ngôi cao hơn người giàu. Nhưng dưới trần gian này thì chớ có đi nhầm đường. Mày hãy coi chừng, chớ lôi cuốn cả hai vào con đường đau khổ mà chúng mày tưởng lầm là bảo đảm được hạnh phúc. Tao biết, có một người trung hậu, một người thợ đã hỏi mày. Đây tao nói về Erich, anh thợ làm găng tay. Anh ta góa vợ, nhưng không có con, làm ăn dễ chịu. Hãy suy nghĩ cẩn thận về những lời tao vừa bảo.”
 
Mỗi một lời nói của bà chủ xuyên vào lòng tôi như một nhát dao nhọn hoắt. Bà ta nói đúng, đó là những điều làm cho tôi bối rối và đau khổ.
 
Tôi chua xót, hôn tay bà, nước mắt ròng ròng. Tôi còn nức nở đến khi về tới buồng riêng và lăn ra giường. Đêm hôm ấy là một đêm khủng khiếp. Chỉ có Thượng đế mới biết rằng tôi đau đớn và đấu tranh để chịu đựng như thế nào.
 
Ngày chủ nhật sau, tôi đến trước bàn thờ Chúa xin người soi sáng linh hồn. Hình như đúng là ý Chúa. Vừa ở nhà thờ bước ra, tôi đã gặp ngay Erich. Lúc đó tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng tôi hoàn toàn hợp nhau. Hoàn cảnh chúng tôi giống nhau, anh ta cũng có một cái vốn nho nhỏ. Tôi tiến về phía anh, cầm tay anh và hỏi:
 
- Anh còn nghĩ đến tôi không?
 
Anh trả lời:
 
- Còn chớ! Luôn luôn và mãi mãi.
 
- Anh có muốn lấy một người con gái chỉ quý trọng anh mà không yêu anh không? Có ngày điều đó sẽ đến.
 
Anh đáp lại:
 
- Điều đó sẽ đến, tôi tin chắc như thế.
 
Và chúng tôi hứa hôn với nhau.
 
Tôi trở về nhà, chiếc nhẫn vàng của anh sinh viên tặng ban ngày tôi đeo vào trong cổ áo, gần chỗ trái tim để tránh sự dị nghị của mọi người. Chỉ đến đêm, khi đi ngủ, tôi mới đeo nó vào tay. Tôi cầm lấy nó, hôn nó đến nỗi môi rớm máu. Rồi tôi đem nó trả lại cho bà chủ và bảo cho bà biết tin kết hôn của tôi sẽ công bố vào tuần lễ sau. Bà ta ôm chặt tôi vào lòng và hôn tôi. Bà ta không hề bảo tôi là đồ hư hỏng.
 
Hay là lúc đó tôi tốt hơn bầy giờ, mặc dầu tôi chưa từng trải sự đau khổ. Chúng tôi cưới nhau vào ngày lễ thánh mẫu hiến đường. Năm đầu tiên, mọi việc đều ổn cả. Chúng tôi có một người cùng làm và một chú học việc. Lúc đó chị ở cho nhà chúng tôi, chị Mactơ yêu quý.
 
Mactơ nói:
 
- Ừ, hồi ấy chị là một bà chủ tốt và đáng mến. Tôi không bao giờ quên được lòng tốt của chồng chị và chị đối với tôi hồi ấy.
 
Vâng, những năm chị làm với tôi là những năm tươi đẹp. Chúng tôi chưa có con. Anh sinh viên và tôi không gặp nhau nữa. Tuy nhiên, có một lần tôi trông thấy anh ấy, nhưng anh ấy chẳng hề trông thấy tôi. Ngày chôn cất bà mẹ, anh ấy có về đây. Anh ấy đứng bên mộ, nhợt nhạt như xác chết và chìm ngập trong niềm đau thương vô hạn. Nhưng đấy là anh ấy khóc mẹ mà thôi.
 
Ít lâu sau, khi cha chết, anh ấy đi du lịch rất xa ra nước ngoài, không trở lại đây nữa. Tôi được biết hình như anh ấy đã làm luật sư và không lấy vợ. Còn tôi, anh ấy đã quên rồi. Nếu anh ấy có gặp tôi, chắc anh ấy cũng chẳng nhận ra tôi nữa, vì tôi đã trở nên gớm giếc như thế này! Nhưng thế cũng tốt, thế còn hơn.
 
Chị kể đến những ngày gian nan, những ngày nghèo túng đã làm khổ chị một cách tàn nhẫn.
 
- Hồi đó, chúng tôi có năm trăm đồng tiền vàng. Ở phố lớn, người ta bán một ngôi nhà cổ giá 200 đồng. Chúng tôi đã mua và xây lại thành cái nhà mới, tính cả công thợ mộc và công thợ nề mất 1.020 đồng. Erich đã vay mượn được tiền ở Côpenhagơ. Chuyến tàu mang tiền về bị đắm và số tiền vàng cũng chìm xuống đáy biển.
 
Chính dạo ấy là lúc tôi sinh đứa cháu thân yêu hiền hậu đang ngủ ngoan ngoãn đằng kia. Chồng tôi bị một trận ốm nặng và kéo dài. Suốt trong chín tháng trời, tôi phải săn sóc, thay quần áo cho anh ấy vì anh ấy yếu quá. Công việc làm ăn của chúng tôi ngày càng lụn bại. Chúng tôi mắc nợ. Tiền dành dụm, đồ đạc bán đi đều trả nợ sạch. Erich mất, tôi đã phấn đấu, làm việc vất vả để nuôi con. Tôi làm việc liên tục, nhận bất cứ việc gì, lau thang gác thuê, giặt đủ các loại quần áo, lụa và vải. Nhưng sự đau khổ vẫn đeo đẳng tôi cho đến bây giờ. Đó là ý Chúa, rồi cuối cùng, chắc người sẽ gọi tôi về bên người. Tôi cũng tin rằng người sẽ chẳng bỏ rơi con trai tôi đâu.
 
Trong lúc đó, thị trưởng cho người gọi chị thợ giặt tới vì có một việc quan trọng cần báo cho chị. Lúc ấy thì đã muộn. Mactơ chạy gọi ông thợ cạo đến chích huyệt. Muộn quá rồi. Chị thợ giặt đáng thương đã qua đời.
 
Thị trưởng bảo:
 
- Mụ ấy rượu lắm vào nên mới chết.
 
Và đây là việc mà ông định bảo chị. Trong thư báo tin em ông chết có kèm một bản trích tờ di chúc: 600 đồng tiền vàng được dành cho chị thợ giặt góa chồng, ngày xưa đã ở cho cha mẹ ông. Số tiền này phải trao dần cho chị hay con chị, nhiều ít tùy theo sự cần dùng của họ.
 
Thị trưởng nghĩ thầm:
 
- À, mình nhớ ra rồi. Trước kia có chuyện gì đó giữa mụ ấy và em mình. Mụ ấy chết đi cũng phải, thằng bé con sẽ được hưởng cả số tiền. Mình sẽ gửi nó đến nhà tử tế, sau này nó sẽ trở thành người thợ khéo và tốt.
 
Và quả nhiên, Thượng đế cũng muốn những lời nói đó được thực hiện đầy đủ.
 
Thị trưởng gọi em bé đến. Ông hứa sẽ trông nom em và nói thêm rằng em không nên buồn phiền. Đúng là em đã mất một người mẹ, nhưng mẹ em cũng đã quá hư hỏng. Em bé đứng bên cạnh mẹ nức nở:
 
- Mẹ hiền yêu quý của con ơi. Có thật mẹ là người hư hỏng không?
 
Chị ở cũ ngước mắt lên trời như muốn cầu xin Thượng đế làm chứng và nói:
 
- Mẹ cháu chính là hiện thân của đạo đức. Ta đã biết điều đó từ lâu và càng biết rõ hơn sau câu chuyện đêm nọ. Ta thề với cháu rằng: Mẹ cháu là người ngay thẳng, đức hạnh, và trên kia Thượng đế cũng phán như thế. Vậy cháu hãy mặc cho người đời chê bai mẹ cháu là đồ hư hỏng, cháu phải luôn tôn kính hương hồn mẹ cháu.

HANS CHRISTIAN ANDERSEN  


Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

THIÊN TINH


Giữa một khu vườn có một cây hồng nở đầy hoa. Trong một bông hoa đẹp nhất có một chú thiên tinh. Chú xinh xắn, bé nhỏ đến nỗi mắt người ta không thấy được. Tuy thế, người chú cân đối, đẹp và đáng yêu như tình yêu đẹp đẽ nhất của trẻ thơ và thêm nữa, chú có đôi cánh mọc từ vai xuống chấm gót. Cái lâu đài chú ở mới đẹp làm sao! Sau mỗi cánh hoa như xa tanh trong suốt, màu sắc dịu dàng và hương thơm tỏa trong những căn buồng ấy dễ chịu biết bao! 
 
Suốt ngày thiên tinh vùng vẫy vui vẻ dưới nắng ấm. Chú bay lượn, từ đóa hoa này sang đóa hoa khác, rồi nằm rung rinh trên cánh cậu bướm đang nhảy múa trong không trung. Một hôm, chú chơi nghịch, đo xem phải bao nhiêu bước mới đi hết được tất cả các đường ngõ rắc rối do gân của lá bồ đề tạo thành. Con đường thật là dài. Chú bay nhanh như thế nào thì đôi chân lũn cũn của chú bước chậm từng ấy. Mặt trời đã lặn mà chú chưa đi hết những con đường quanh co rắc rối ấy.
Sương xuống, gió bất chợt nổi lên, thổi mát rượi. Thiên tinh phải về nhà gấp. Chú ráng hết sức bay vội về. Về đến cây hoa hồng, chú thấy nhà đã đóng cửa. Không riêng gì nhà chú mà tất cả hoa hồng ở đấy đều đã khép kín cánh hoa lại rồi.
Chú thiên tinh đáng thương sợ quá, vì chú chưa bao giờ ngủ ngoài trời cả. Chú vẫn được nằm êm ái trong những cánh hoa ấm áp. Chú tự nhủ: “Ôi, đêm nay ta đến chết mất!”
Chú nhớ rằng đầu vườn đằng kia có một vòm hoa tử lan đẹp như cánh bướm. Chú nghĩ thầm: “Ta ra nép vào một trong những đóa hoa đó, may ra sẽ được ngủ một giấc ngon.” Thiên tinh bay đến đấy. Suỵt! Có hai người đang ngồi dưới vòm hoa, anh một chàng thanh niên đẹp trai và một thiếu nữ kiều diễm. Họ ngồi cạnh nhau, đang từ biệt nhau. Họ yêu nhau quá nên không muốn rời nhau ra.
Chàng trai trẻ nói:
- Dù sao chúng ta cũng phải xa nhau. Anh trai em rất ghét chúng ta. Hắn bắt anh mang một lá thư đến nơi rất xa đây, tận bên kia núi rừng và sông hồ, anh phải tuân theo lời hắn. Thôi vĩnh biệt em yêu quý, dù thế nào đi nữa em cũng là vợ chưa cưới của anh.
Họ hôn nhau. Người thiếu nữ khóc, nàng tặng anh một đóa hoa hồng. Trước khi trao cho anh nàng đặt lên đó một chiếc hôn nồng nhiệt và âu yếm đến nỗi cánh hoa phải xòe ra. Chú thiên tinh vội lách vào và tựa đầu bên cánh hoa mềm mại thơm tho. Từ bên trong, chú nghe thấy họ từ biệt nhau, từ biệt nhau mãi.
Bông hoa hồng được cài vào ngực ngay sát tim chàng trai trẻ. Chà! Tim chàng đập sao mạnh thế! Chú thiên tinh không thể ngủ được vì con tim ấy thổn thức, làm chứ bị lắc tợn quá.
Chàng trai trẻ đi đến một khu rừng âm u vắng vẻ. Chàng dừng lại, rút đóa hoa hồng ở ngực ra hôn. Chàng hồn nhiên và say sưa đến nỗi gần đè bẹp chú thiên tinh. Qua những cánh hoa nhàu nát chú cảm thấy đôi môi của chàng nóng ran! Hoa hồng được những chiếc hôn ấy xòe rộng cánh ra như dưới ánh nắng ban trưa.
Bỗng một người, một tên gian ác, một tên hung đồ ghê gớm xuất hiện: đó là anh trai nàng thiếu nữ xinh đẹp. Nó rón rén đi theo chàng trai trẻ. Trong lúc chàng trai đáng thương mải mê hôn đóa hoa hồng, nó tiến đến sau chàng, rút dao đâm vị hôn phu của em gái nó một nhát chết tươi. Để cho chắc chắn hơn, nó bồi thêm một nhát nữa đứt phăng đầu chàng ra. Rồi nó vùi cả đầu lẫn thân xuống dưới gốc cây bồ đề lớn. Tên khốn kiếp tự nhủ: “Thế là nó đã đi đứt! Nó sẽ làm một cuộc hành trình lâu dài sang bên kia núi rừng. Khi không thấy nó trở về, người ta sẽ tưởng là nó đã chết dọc đường. Còn em gái ta sẽ không bao giờ dám nhắc đến tên nó trước mặt ta.” Nó lấy chân gạt lá khô lên trên cái hố đã đào rồi quay trở về nhà. Nhưng không phải chỉ có mình nó như nó tưởng. Thiên tinh đã đi theo nó. Chú núp trong một chiếc lá bồ đề khô cuộn tròn rơi vướng vào tóc trên sát nhân khi tên này cúi xuống đào huyệt chàng trai trẻ. Tên này đã đội mũ trùm lên trên chiếc lá. Dưới cái mũ này sao mà tối thế! Chú thiên tinh run lên, vừa sợ hãi vừa tức giận vì đã không ngăn được vụ giết người ghê rợn ấy.
Về đến nhà lúc trời vừa sáng, tên sát nhân cất mũ, rồi vào buồng nơi cô em gái đang ngủ. Cô bé xinh đẹp đang nằm, tuổi xuân mơn mởn. Nàng đang mơ thấy người mà nàng đã gửi gắm trái tim, nàng thấy chàng đã trở về, sau cuộc hành trình dài qua bao núi rừng và sông hồ.
Thằng anh độc địa của nàng cúi xuống nhìn nàng mỉm cười quái ác. Chiếc lá khô rơi từ tóc nó xuống giường mà nó cũng không hay. Nó đi ngủ một lát để nghỉ ngơi sau cái đêm đầy tội ác ấy.
Thiên tinh từ chỗ trốn chui ra và luồn vào tai người thiếu nữ. Chú kể lại cho nàng nghe, như báo mộng, vụ án mạng khủng khiếp. Chú tả lại cho nàng biết chỗ anh nàng đã giết và đã vùi xác người yêu nàng. Chú tả lại cây bồ đề to nở hoa cạnh đấy và nói thêm: “Để cho cô thấy rằng việc tôi nói không phải là một giấc mơ thường, cô sẽ thấy ở trên giường có một chiếc lá bồ đề khô”. Quả nhiên khi tỉnh dậy cô gái đã nhìn thấy chiếc lá. Cô đã tuôn biết bao nhiêu giọt lệ sầu thảm!
Cửa sổ phòng nàng để ngỏ suốt ngày nên chú thiên tinh có thể bay ra vườn một cách dễ dàng và lại chui vào những đóa hồng thân yêu, nhưng chú không đành tâm để mặc cô gái đáng thương nức nở một mình. Trên cửa sổ có một gốc hồng, thứ hồng tháng năm. Chú nép mình trong một bông hoa và nhìn cô gái. Ngày hôm ấy thằng anh có đến nhiều lần, vui vẻ, nhơn nhơn, mặc dầu nó đã làm một việc đại ác. Cô gái không dám hé một lời về nỗi buồn của mình.
Đêm đến, nàng lẻn ra ngoài đi vào rừng đến tận gốc cây mà nàng đã biết rõ. Nàng trông thấy đống lá khô, gạt ra, đào chỗ đất mới và tìm thấy đầu lâu cùng thi hài của người yêu. Nàng đứng đấy rất lâu, gục đầu đau khổ, nức nở cầu thượng đến ban ơn cho nàng sớm được chết theo.
Nàng nhấc cái đầu nhợt nhạt, mắt nhắm nghiền, nàng hôn vào đôi môi lạnh ngắt, gõ đất bám trên mớ tóc xoăn và tự nhủ: “Ta sẽ mang nó về và giữ lấy nó.” Sau khi lấp đất và phủ lá lên thi hài như cũ, nàng ra đi đem theo cái đầu và một cành hoa nhài dại mọc dưới gốc bồ đề.
Về tới buồng mình, nàng lấy một chậu hoa rất to, đặt cái đầu vào, lấp đất và trồng lên đó cành hoa nhài.
Chú thiên tinh không thể chịu đựng được cảnh thương tâm đó. Chú bay về cây hồng cũ nay đã tàn gần hết hoa, chỉ còn vài bông gần héo. Chú thở dài nói: “Trên đời này cái gì tốt đẹp thường chóng qua đi!” Cuối cùng, chú tìm được một cây hồng đang nở hoa và tối nào cũng về đấy nhẹ nhàng ngả lưng giữa những cánh hoa thơm tho, dịu dàng.
Đến sáng, chú bay về phía cửa sổ buồng cô gái đáng thương. Nàng vẫn luôn luôn bên chậu hoa bên trong đựng cái mà chỉ có chú thiên tinh biết rõ. Nàng khóc, nước mắt rơi xuống cánh hoa nhài và càng ngày mặt cô gái xấu số càng xanh nhợt đi bao nhiêu thì cây hoa nhỏ càng đâm chồi nảy lộc xanh tươi bấy nhiêu. Rồi cô gái âu yếm hôn vào những nụ hoa mới trổ. Thằng anh độc ác đến mắng nàng, hắn bào nàng là điên rồ, chỉ rên rỉ suốt ngày, không chịu ra khỏi phòng. Một hôm ủ rũ bên chậu hoa nàng thiếp đi, đầu gục trên cây hoa nhài. 

Chú thiên tinh bé nhỏ bay đến luồn vào tai nàng, nhắc lại cái tối ái ân ngồi dưới vòm hoa và kể cho nàng nghe về tình yêu của các thiên tinh. Nàng mơ một giấc mộng tuyệt đẹp. Giữa lúc đang ngây ngất, linh hồn nàng nhẹ nhàng bay lên thiên đường. Trên ấy, nàng lại tìm thấy người yêu. Cây nhài nở đầy những bông hoa trông như những chiếc chuông con trắng muốt, tỏa một mùi thơm ngào ngạt. Đó là hương thơm của cây hoa viếng người con gái đã quá cố.
Thằng anh trai độc ác đã trở lại và không mảy may thương xót cái chết của em gái nó. Nó đem cây hoa kỳ diệu đặt bên giường nó, hương thơm ngào ngạt khắp căn phòng.
Chú thiên tinh bay theo, chú bay từ hoa này sang hoa khác và trong mỗi bông chú tìm thấy một cô bạn nhỏ, chú kể lại cái chết thảm thương của chàng trai trẻ, chuyện thằng anh độc ác và cô em gái đáng thương cho các bạn nghe. Chúng đều trả lời: “Chúng tôi đã biết cả, vì phải chăng chính thịt chàng đã biến thành đất nuôi sống chúng tôi? Chúng tôi biết cả rồi.” Và chúng rung những chuông nhỏ của chúng, rồi im lặng. Chú thiên tinh cũng không thể tưởng tượng được rằng các bạn mình cảm động đến thế. Chú đi tìm đàn ong đang hút nhị hoa và kể lại vụ án mạng. Ong về tâu với chúa. Chúa ong ra lệnh cho cả đàn ngày mai đi giết tên sát nhân.

Nhưng đêm ấy, trong khi thằng anh đang ngủ cạnh cây nhài đầy hoa, tất cả các cánh hoa nở tung, và hồn hoa bay ra, vô hình, mang theo kim thuốc độc. Chúng chui vào tai tên hung đồ, nhắc lại tội giết người của nó. Chúng luồn vào lỗ mũi nó, bay trên môi nó và trong lúc nó nói mê sảng, chúng châm kim thuốc độc vào lưỡi nó. Sau đó chúng lại quay về núp trong những chiếc chuông trắng của chúng. Chúng nói: “Thế là chúng ta đã báo thù được cho người bị giết oan.”
Sáng hôm sau, cửa sổ vừa mở, chú thiên tinh cùng chúa ong và cả đàn ập vào để giết tên sát nhân. Hắn đã chết rồi, có nhiều người xúm quanh giường hắn nói rằng:
- Mùi hoa nhài đã làm cho hắn chết.
Thiên tinh chợt hiểu ngay là hồn hoa bé nhỏ và dũng cảm đã làm việc ấy, chú giảng giải cho chúa ong biết. Chúa ong và cả đàn vội xúm lại khen ngợi các bông hoa nhài. Chúng vo ve xung quanh cây hoa, người ta không thể nào xua được chúng nó đi. Một người cầm lấy chậu hoa để mang đi, một con ong đốt mạnh vào tay đến nỗi bác ta làm rơi vỡ chậu hoa. Người ta thất lòi ra cái sọ của chàng trai trẻ và do đó người ta khám phá ra đứa nằm chết trê giường kia là một tên sát nhân. Rồi ong chúa bay vút lên trên không đi khắp chốn ca ngợi sự báo oán của các bông hoa và câu chuyện chú thiên tinh núp sau một chiếc lá khô bé nhỏ đã tố cáo được vụ án mạng và trừng trị tên sát nhân.

 HANS CHRITIAN ANDERSEN

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2016

BÔNG CÚC TRẮNG


Các bạn hãy lắng nghe câu chuyện nhỏ này:

Ở một nơi thôn dã kia, gần ngay đường cái có một ngôi nhà nhỏ bé xinh xắn, nếu các bạn có đi qua, chắc hẳn cũng phải để ý đến ngay.

Phía trước có một vườn hoa nhỏ và một hàng rào xanh tươi. Gần đấy, bên bờ rào, có một cây cúc trắng đang nở hoa giữa đám cỏ rậm. Cũng như muôn hoa to đẹp trong vườn được những tia nắng của vầng dương sưởi ấm, giờ nào hoa cúc trắng cũng nở. Một sớm đẹp giời kia, cúc ta nở tung, xòe rộng bộ cánh nhỏ nhắn, trắng tinh và bóng bẩy nom như một vầng thái dương thu nhỏ đang tỏa ánh hào quang rực rỡ quanh mình. Dù cho người ta có trông thấy nó giữa đám cỏ và xem nó như một bông hoa tồi tàn vô nghĩa lý, nó cũng chẳng quan tâm đến điều ấy.

Nó lấy làm tự mãn, khoái trá tắm mình trong nắng ấm và nghe chim sơn ca hót vang trên trời cao.

Tuy là ngày thứ hai thế mà bông cúc trắng bé nhỏ ấy cũng vui sướng như ngày chủ nhật. Trong khi trẻ con ngồi học bài trên ghế nhà trường thì nó ngồi trên cái cuống xanh xanh của nó. Qua vẻ đẹp của thiên nhiên nó học được rằng Thượng đế rất nhân đức và hình như tất cả những điều nó lặng lẽ cảm thấy chim sơn ca bé nhỏ kia đã diễn đạt lên đầy đủ bằng giọng hót vui tươi. Cũng vì vậy mà nó nhìn chim sơn ca sung sướng đang ca hát bay lượn với một vẻ như kính trọng, nhưng không một mảy may tỏ ra mong muốn làm được như chim. Nó nghĩ thầm:

- Ta được nhìn, được nghe, nắng sưởi ấm ta, gió ôm ấp ta, thế là đủ. Ôi chao! Nếu còn than phiền thì thật là sai lầm.

Phía trong hàng rào có vô số là hoa mọc thẳng đuỗn và kiêu kỳ. Càng không có hương chúng càng vươn cánh vênh váo. Thược dược ráng sức phồng lên để tỏ ra to hơn hoa hồng. Nhưng hoa hồng đâu có đáng quý vì to hay nhỏ! Hoa uất kim hương rạng rỡ, màu sắc đẹp đẽ, vênh vang một cách kiêu kỳ. Chúng chẳng thèm đoái nhìn bông cúc trắng bé tí, trong khi bông hoa nhỏ tội nghiệp ngắm nghía chúng mà nói rằng: “Các chị ấy sang trọng, đẹp đẽ biết bao! Chắc hẳn chàng chim kỳ diệu kia thế nào cũng đến thăm. Ơn Trời, thế nào ta cũng được xem cái cảnh tượng ngoạn mục ấy”. Và ngay lúc ấy, chim sơn ca không bay về phía thược dược và uất kim hương mà lại sà xuống bãi cỏ, đến gần bông cúc trắng tội nghiệp, lúc này vui mừng đến kinh hoàng, chẳng còn biết nghĩ ra làm sao nữa.

Con chim non bèn nhảy nhót quanh bông cúc mà nói rằng:

- Sao cỏ lại êm đến thế nhỉ? Ồ! Bông hoa xinh xắn có trái tim bằng vàng, khoác áo dài bạc đáng yêu quá!

Nỗi vui sướng của bông hoa nhỏ không bút nào tả xiết. Chim hôn hoa lại hót cho hoa nghe, rồi mới bay về bầu trời xanh thẳm. Gần nửa giờ sau hoa còn chưa hết cảm động. Phần thì thẹn thò, phần thì vui mừng ngây ngất tận đáy lòng, nó nhìn tất cả những hoa khác trong vườn. Được mục kích vinh dự của cúc trắng chúng phải cảm thông niềm vui sướng của nó mới phải. Nhưng lũ uất kim hương lại càng thẳng đuỗn ra hơn trước, vẻ mặt đỏ ửng và nhọn hoắt của chúng tỏ vẻ hờn giận. Bọn thược dược thì sưng sỉa mặt mày. Cũng may cho bông cúc trắng đáng thương, chứ như mà chúng biết nói thì thế nào chúng chẳng thở ra biết bao lời chướng tai. Bông hoa bé nhỏ biết vậy nên cũng đâm buồn vì thái độ hằn học của chúng.

Lát sau, một cô gái, tay cầm con dao to, sắc và sáng loáng, vào vườn đến gần khóm uất kim hương, rồi cắt lấy từng bông một.

Bông cúc bé nhỏ thở dài:

- Tội nghiệp! Rõ thật là khủng khiếp! Thôi, thế là xong đời các chị uất kim hương.

Rồi, trong khi cô gái mang bó uất kim hương đi, cúc trắng lấy làm vui mừng vì chỉ là một bông hoa bé nhỏ, tồi tàn, mọc giữa đám cỏ nội. Thấu hiểu lòng nhân từ của Thượng đế, tràn ngập lòng biết ơn người, đến chiều tà, nó khép cánh, ngủ thiếp đi, suốt đêm mơ thấy vầng thái dương và chim sơn ca.

Sáng hôm sau, khi hoa cúc trắng lại xòe cánh đón không khí và ánh sáng, nó nhận ngay ra tiếng chim sơn ca đang hót, nhưng bằng một giọng rất buồn thảm. Sơn ca buồn là phải lắm vì người ta đã bắt được nó và nhốt nó vào một chiếc lồng treo trên cánh cửa sổ.

Chim cất tiếng hót ca ngợi cuộc sống tự do đầy hạnh phúc, vẻ đẹp của những cánh đồng xanh tươi và những cuộc du ngoạn của nó hồi trước, trên những khoảng trời cao.

Bông cúc trắng muốn đến cứu chim lắm, nhưng biết làm sao được? Đó là một chuyện khó. Lòng trắc ẩn của nó đối với con chim đáng thương bị cầm tù làm cho nó quên hẳn cảnh đẹp xung quanh, quên ánh nắng ấm áp và ngay cả những cánh hoa màu trắng chói lọi của chính mình.

Chẳng bao lâu có hai cậu bé đi vào vườn, cậu lớn tuổi hơn cầm một con dao dài và sắc giống như con dao của cô con gái đã cắt uất kim hương. Cúc trắng thấy họ đi về phía mình không hiểu họ định làm gì mình.

- Ta có thể cắt đám cỏ tốt chỗ này đem về cho chim sơn ca.

Một cậu nói vậy, rồi bắt đầu rạch một khoanh vuông quanh gốc cây cúc trắng.

Cậu kia bàn:

- Nhổ cái hoa đi.

Nghe thấy vậy cúc trắng run lên sợ hãi. Bị nhổ đi là xong đời còn gì? Và chưa lúc nào bằng lúc này nó cầu mong được sống và cùng đám cỏ được đặt vào lồng với chim sơn ca đang bị cầm tù.

Cậu bé lớn hơn trả lời:

- Thôi cứ để nó đấy hay hơn.

Thế là cúc trắng thoát nạn và được vào lồng với chim sơn ca.

Con chim đáng thương đập cánh vào nan lồng sắt, than vãn một cách sầu thảm cho số phận tù đầy của mình. Cúc trắng muốn lắm, nhưng cũng chẳng nói được với chim một lời an ủi.

Cả buổi sớm qua đi như thế.

Con chim bị cầm tù kêu lên:

- Ở đây hết cả nước rồi ; người ta đi vắng cả, chẳng để cho tôi lấy một giọt. Họng tôi khô bỏng, người tôi sốt dữ dội, ngạt thở quá! Than ôi! Thế là tôi phải chết, phải xa vầng thái dương sáng chói, xa cây cỏ xanh tươi và xa tất cả cảnh đẹp kỳ diệu của tạo hóa.

Rồi chim rúc mỏ vào đám cỏ ẩm ướt cho dịu mát đôi chút. Chim chợt nhìn thấy bông cúc trắng bèn gật đầu chào thân mật rồi hôn hoa mà bảo rằng:

- Cả em nữa, bông hoa nhỏ nhắn tội nghiệp của anh, em cũng sẽ chết ở đây. Người ta đã đem em và mấy ngọn cỏ vào với anh để đổi lấy cả cuộc đời phóng khoáng của anh. Giờ đây đối với anh mỗi ngọn cỏ là một gốc cây, mỗi cánh trắng muốt của em là một bông hoa thơm ngát. Ôi! Em đã gợi lại cho anh tất cả những gì anh đã mất!

Không nhúc nhích được, cúc trắng nghĩ thầm:

- Giá mà mình an ủi được anh ấy nhỉ?

Thế nhưng hương thơm của nó tỏa ra ngào ngạt khác hẳn mọi khi ; chim sơn ca biết vậy nên, mặc dầu héo hon vì cơn khát dữ dội, phải vặt hết ngọn cỏ này đến ngọn cỏ khác, nhưng nó vẫn gìn giữ không chạm đến bông hoa.

Tối rồi mà cũng chẳng ai về đem cho con chim sơn ca khốn khổ lấy một giọt nước. Thế là nó xả đôi cánh đẹp, vẫy vẫy, giật giật và hót lên một bài buồn thảm. Cái đầu nhỏ nhắn của chim ngả về phía hoa, con tim tan nát vì khát và đau đớn của chim ngừng đập. Trước cảnh tượng đau thương ấy, bông hoa cúc trắng nhỏ bé, cũng như đêm trước, chẳng thể nào khép cánh ngủ nổi. Ốm đau, thương xót, cúc lả xuống đất.

Sáng hôm sau, các cậu bé lại đến ; thấy chim đã chết các cậu nhỏ lệ xót thương và đào hố chôn chim. Xác chim được đặt vào một chiếc hộp đẹp màu đỏ và được chôn cất hết sức long trọng. Rồi các cậu lại đem rắc cánh hoa hồng lên trên nấm mộ.

Tội nghiệp cho chim! Khi chim còn sống và ca hát, người ta đã quên, đã mặc nó chết vì đói khát trong lồng ; chết rồi người ta mới khóc thương, ban cho những nghi lễ đầy vinh dự.

Mảnh cỏ cùng bông hoa cúc trắng bị người ta quẳng vào đám bụi ngoài đường cái ; chẳng ai nghĩ đến kẻ đã tha thiết yêu thương con chim non.

HANS CHRISTIAN ANDERSEN