Hôm kia, cơm trưa xong, cha tôi đang xem nhật báo bỗng kêu lên một tiếng ngạc nhiên rồi bảo chúng tôi:
- Ta cứ tưởng cụ mất đã hơn 20 năm nay rồi : Cụ Kha-Xích-Tiên là cụ
giáo khai tâm cho ta ngày xưa hiện còn sống và đúng 80 tuổi. Ta vừa xem
báo thấy tin cụ được thưởng "danh dự bội tinh" vì cụ đã tận tâm với chức
vụ trên sáu chục năm. Cụ mới về hưu được 2 năm nay. Cụ ở thành Công-đô (1) cách
đây độ một giờ xe lửa, tức là quê bác Giục, người làm vườn nhà ta ngày xưa.
Cha tôi nói tiếp :
- An ơi ! Mai ta sẽ đi thăm cụ.
Rồi cả buổi chiều hôm ấy, cha tôi chỉ nói đến chuyện cụ giáo Kha. Cái tên của thầy học "vỡ lòng" đã làm sống lại trong ký ức của
cha tôi biết bao nhiêu là kỷ niệm về thuở thiếu thời, kỷ niệm của các cố hữu và nhất là kỷ niệm của bà cụ thân sinh ra cha tôi.
Cha tôi kể lại rằng:
- Hình ảnh cụ giáo Kha đáng tôn kính ấy vẫn còn in trong óc ta.
Khi ta học thì cụ độ 40 tuổi. Cụ người nhỏ nhắn, lưng hơi gù, mắt sáng,
không râu, tính hồn hậu và thương yêu học trò như con. Sinh trưởng ở một
nhà nông, cụ đã chịu bao nhiêu nỗi thiếu thốn và đã tốn bao nhiêu công
phu mới thành được một vị giáo sư. Cha mẹ ta rất quí mến và đãi cụ
như một bạn thân trong nhà. Không hiểu sao quê ở Tuy-ranh cụ lại về
nghỉ ở Công-đô? Gặp ta, chắc hẳn cụ quên rồi, nhưng không ngại, ta còn
nhớ và nhận được cụ. 40 năm ! 40 năm qua rồi ! Chóng thật !... Mai ta sẽ
đi thăm cụ.
Hôm sau, độ 9 giờ, chúng tôi đã ra ga Thụy-Gia. Cảnh xuân như vẽ.
Chúng tôi qua những cánh đồng xanh tốt và những bờ giậu đương hoa, mùi
thơm ngào ngạt. Cha tôi có vẻ khoan khái, vừa ngắm cảnh, vừa nói chuyện với
tôi:
- Ngoài cha ta thì cụ giáo Kha là người yêu ta hơn hết và
đã làm ơn cho ta nhiều nhất. Ta không bao giờ quên được những lời cụ
khuyên và cả đến những câu cụ quở, mặc dầu những câu ấy có khi làm cho
ta trở về phải phát khóc. Ta hãy còn nhìn rõ những lúc cụ vào lớp, cụ
tựa gậy một góc, treo áo lên mắc rồi ngồi vào bàn, hôm nào cũng như hôm
nào chẳng sai. Cụ là người điềm đạm, cẩn thận, chịu khó và hết lòng...
buổi nào cụ cũng dạy đầy đủ và cẩn thận như buổi ban đầu.
Ta còn nhớ những lúc cụ gọi ta :
- A-Nhĩ-Bá ! Ngón tay trỏ quắp vào quản bút kia mà !
Xuống ga Công-đô, chúng tôi tìm nhà bác Giục, chỉ
có người vợ ở nhà. Chị ta có cái cửa hàng nhỏ trong ngõ. Lúc chúng tôi
đến thì chị đang bận trông con. Gặp chủ cũ, chị mừng rỡ quá và kể chuyện
rằng chồng chị sang thành Giê-nơ (2) làm thợ đã ba năm nay cũng sắp về và
đứa con gái đầu lòng bị bệnh câm điếc đang cho học tại trường Câm điếc ở
Tuy-ranh. Sau cùng chị trỏ nhà cụ giáo Kha-Xích-Tiên mà ở làng này không
một ai không biết.
Chúng tôi theo một con đường gồ ghề, hai bên giậu hoa đương nở, để đến nhà cụ.
Cha tôi không nói chuyện nữa vì mải ngẫm nghĩ những chuyện
ngày xưa ; thỉnh thoảng tôi lại thấy cha tôi mỉm cười hoặc lắc đầu thở
dài.
Thình lình, cha tôi đứng dừng lại nói:
- Kia rồi ! Đích cụ rồi ! May quá !
Quả nhiên ở đằng xa, một cụ già lưng còng, râu bạc, đầu đội mũ nỉ, tay chống gậy trúc, đang thủng thỉnh đi về phía chúng tôi.
Cha tôi bước rảo và nhắc lại:
- Chính cụ !
Khi chúng tôi đến gần cụ thì đứng dừng lại. Cụ cũng không bước nữa và ngẩng nhìn cha tôi.
Cha tôi cất mũ hỏi:
- Xin cụ tha lỗi, có phải cụ là cụ giáo Kha-Xích-Tiên không?
Cụ già đáp:
- Sao ngài lại biết tôi? Vâng, chính tôi là Kha-Xích-Tiên.
Cha tôi cầm tay cụ và nói:
- Vậy xin cụ cho phép học trò cũ bắt tay cụ. Tôi ở Tuy-ranh về thăm cụ.
- Tôi hân hạnh quá! Vậy ông học tôi vào hồi nào ? Xin lỗi ông, ông cho tôi biết tên.
Cha tôi xưng danh và nói đã học cụ năm ấy năm nọ. Cụ cúi đầu
nghĩ và nhắc đi nhắc lại tên cha tôi đến 3, 4 lần. Bỗng cụ sực nhớ ra,
ngẩng lên hỏi :
- A-Nhĩ-Bá! A-Nhĩ-Bá có phải là con cụ kỹ sư Bội-Tiên ở phố Lã-Đại không?
Cha tôi giơ hai tay ra, nói :
- Thưa cụ, phải đấy !
- Quí hóa quá !
Cụ vừa nói vừa ôm lấy cha tôi. Xong cụ nói tiếp :
- Mời ông về nhà tôi chơi.
Chúng tôi theo cụ về nhà. Một lát sau, chúng tôi đến một cái
vườn rộng, trong có ngôi nhà ba gian. Cụ mở cửa gian đầu mời chúng tôi
vào một cái buồng chung quanh quét vôi trắng. Góc phòng kê một cái sập
trên có cái mền bọc vải kẻ xanh và trắng, bên cạnh là cái bàn giấy có
ngăn chứa sách, giữa kê cái bàn con và 4 cái ghế tựa, trên tường treo
một tấm bản đồ cũ : đó là tất cả đồ đạc trong phòng.
Chúng tôi ngồi. Cha tôi và cụ giáo nhìn nhau một lúc, không nói gì.
Trong phòng, nền lát gạch vuông, mặt trời rọi vào như một cái
bàn cờ lớn. Cụ đăm đăm nhìn xuống nghĩ ngợi rồi hình như sực nhớ ra, cụ
nói to:
- A-Nhĩ-Bá ! Thôi ! Tôi nhớ ra rồi ! Bà cụ thân sinh ra ông là người tử tế lắm. Năm đầu ông ngồi bàn nhất bên trái, cạnh cửa sổ.
Cụ nghĩ một lúc như để lục lại những ký ức năm xưa, xong cụ lại nói:
- Ngày xưa ông là một cậu bé lanh lợi lắm ! Năm thứ nhì, ông
bị chứng yết hầu suýt nguy, sau khi được lành mạnh, bà cụ lại đưa ông ra
trường, người trông hãy còn còm gầy và đầu trùm một cái khăn vuông to
tướng. Từ bấy đến nay, đã 40 năm rồi, phải không ? Nay ông có
lòng tốt đến thăm thầy cũ thực là quí hóa ! Mấy năm trước cũng có nhiều
học trò cũ đến thăm tôi, kẻ làm Linh mục, người làm Đại tá và nhiều người
nữa đều có địa vị khá cả.
Cụ giáo nhân hỏi cha tôi nay làm nghề nghiệp gì, cha tôi đáp xong, cụ vui vẻ nói to :
- Một chức nghiệp tự do (3) có ích cho quốc dân ! Tôi rất vui lòng.
Xong cụ bùi ngùi nói:
- Đã đến gần một năm nay, tôi không được tiếp ai cả. Có lẽ ông là người khách cuối cùng của tôi, ông ạ.
Cha tôi vội nói :
- Cụ đừng nói thế. Trông cụ còn khỏe mạnh nhiều.
Giáo sư giơ bàn tay cho cha tôi xem và nói :
- Ông không trông thấy tay tôi run à? Đó là một triệu chứng
dở... Tôi bị chứng này đã ba năm, khi tôi còn đang dạy học. Trước tôi
tưởng không can gì, sau bệnh ấy một ngày một tăng làm cho tay tôi không
thể viết được nữa. Tôi phải xin nghỉ. Sau 60 năm vui trong cõi học, bỗng
dưng phải từ biệt học trò và bỏ công việc, lòng tôi
không khỏi đau đớn ngậm ngùi. Sau buổi học cuối cùng, tất cả học trò
theo về nhà tôi và ăn mừng. Tuy nhiên tôi vẫn thấy buồn, vì tôi nghĩ thế
là cái đời của tôi đã tàn... Năm ngoái bà giáo nhà tôi tạ thế, kế đến đứa
con một cũng qua đời. Hiện giờ tôi chỉ còn hai đứa cháu trai thôi.
Ruộng, vườn không có, tôi sống với số lương hưu trí vài trăm lira,
tần tiện cũng đủ. Ngồi không thấy ngày dài quá. Cái thú tiêu khiển độc
nhất của tôi là cái thú xem sách cũ, đọc học-báo và các pho sách truyện
mà người ta biếu tôi. Đằng kia... (Cụ trỏ vào ngăn sách trên bàn)... đằng kia đã xếp tất cả những kỷ niệm, những quá khứ của đời tôi. Ngoài
những tập ấy ra, tôi không còn có gì là của báu trên đời này nữa.
Nghỉ một lúc, bỗng cụ vui vẻ bảo cha tôi :
- Ông Bá ơi ! Ông có muốn tôi đem lại cho ông một sự ngạc nhiên không?
Nói xong, cụ chạy lại bàn viết, mở ngăn kéo ra, trong có vô số những buộc giấy bên ngoài đánh ghi cẩn thận.
Cụ bới tìm một lúc lấy một buộc tháo ra giở vài tờ rồi rút một
mảnh giấy cũ đưa cho cha tôi. Đó là một bài "luận" của cha tôi làm đã
bốn mươi năm nay.
Trên đầu, tôi thấy mấy giòng chữ này:
"A-Nhĩ-Bá Thứ hai, ngày 3 tháng 4 năm 1838
Luận
Nhận ngay ra nét chữ nguệch ngoạc hồi còn nhỏ, cha tôi cầm đọc
và mỉm cười. Đang xem, cha tôi bỗng dân dấn nước mắt. Tôi hỏi tại sao
thì cha tôi ôm chặt tôi vào lòng và bảo:
- Con ơi ! Con hãy xem trang này. Con nhìn kỹ những chữ L và T
mà chính tay bà nội con đã dạm lại cho ngay ngắn, dòng cuối cùng, hoàn
toàn do tay bà viết vì thuở ấy bà tập viết giống chữ ta để mỗi khi ta
mệt hay buồn ngủ không làm hết bài thì bà lại làm nốt cho ta. Mẹ ta thực
đã thương ta vô cùng !
Nói xong, cha tôi kính cẩn nâng trang giấy lên miệng hôn.
Cụ giáo trỏ vào các buộc giấy còn lại nói:
- Đó là những cuốn sổ tay của tôi. Mỗi năm tôi lấy một bài của
mỗi người học trò cất đi, xếp thứ tự và đánh số. Đôi khi giở ra xem lại
: chỗ này một câu, chỗ kia một câu thì muôn điều lại hiển hiện ra trong
óc tôi và tựa hồ như tôi sống lại cuộc đời dĩ vãng.
Ông Bá ơi ! Từ ngày tôi đi dạy đến giờ, kể biết bao nhiêu
học trò ! Nhắm mắt lại, tôi nhìn thấy một đám đầu xanh của trăm nghìn
đứa trẻ, lớp nọ kế tiếp lớp kia. Trong số ấy, biết đâu lại không có kẻ
thành ra người thiên cổ rồi ! Tôi nhớ dai nhất là những học trò tốt nhất
và những học trò xấu nhất, những người đã làm cho tôi vui và những
người đã làm cho tôi buồn bực. Nhưng tôi bây giờ cũng như người đã sang
bên kia thế giới rồi, tôi yêu tất cả, ai cũng như ai.
Cha tôi mỉm cười hỏi cụ:
- Còn tôi, ngày xưa có nghịch lắm không? Thưa cụ !
- Về phần ông à. Không, ngày ấy tuy còn nhỏ tuổi, nhưng ông đã
tỏ ra một đứa trẻ đứng đắn và có nết. Tôi còn nhớ bà cụ nhà là người
rất hiền hậu và yêu dấu ông vô cùng... Thế nào? Ông bỏ cả công việc để
về thăm một nhà giáo thanh bần, tuổi tác ?
- Thưa cụ, cụ nhắc đến mẹ tôi, tôi lại nhớ đến buổi học đầu tiên
của tôi. Mẹ tôi dẫn tôi đến trường. Hôm ấy là lần thứ nhất mà mẹ tôi
phải rời tôi trong hai tiếng đồng hồ và giao tôi trong tay người lạ. Đối
với mẹ tôi, việc đi học coi như một việc ra đời, một bước đầu trong
những kỳ ly biệt liên tiếp nhau sau này không thể tránh được và sẽ làm
cho mẹ tôi thương nhớ. Xã hội sẽ lôi kéo con bà ra và không bao giờ giả
lại nguyên vẹn. Vì thế, mẹ tôi rất cảm động, kêu xin với thầy để thầy
chăm chút cho. Ra về, mẹ tôi còn nhìn qua khe cửa, mỉm cười với tôi, hai
mắt long lanh giọt lệ. Cụ ra hiệu cho mẹ tôi về và có ý bảo mẹ tôi cứ
yên tâm. Cái nét mặt khoan từ ấy,cái cử chỉ hòa nhã ấy, cảm tình
thân ái ấy đã ghi sâu vào trong cõi lòng, khiến tôi không bao giờ quên
được. Ngày nay, chính vì mối kỷ niệm ấy mà tôi phải rời Tuy-ranh lại đây
để thưa với cụ, sau một kỳ xa cách hơn 40 năm trời, rằng :"Cảm ơn thầy
đã dạy dỗ con !"
Cụ không nói gì, chỉ lấy bàn tay run vuốt ve đầu tôi và trán tôi.
Trong khi ấy, cha tôi đưa mắt nhìn bốn bức tường trơn, chiếc
giường gỗ tạp, một miếng bánh tây để cạnh chai dầu ở bệ cửa sổ, rồi có
vẻ nghĩ ngợi.
- Sau 60 năm tận tụy với nghề, phải chăng đó là tất cả những phần thưởng của thầy ?
Gặp người cũ, xem chừng cụ hài lòng lắm. Cụ nói chuyện về gia
đình chúng tôi, về các cụ giáo đồng thời và những bạn học của cha tôi.
Cha tôi ngắt chuyện và ân cần mời cụ ra thành phố Công-đô xơi cơm hiệu với chúng tôi:
Cụ đáp :
- Cảm ơn ông, tôi không đi được.
Cha tôi liền cầm lấy hai tay cụ mời tha thiết. Cụ nói :
- Tay tôi run thế này, ăn làm sao được. Như thế sẽ là cái "tội" cho tôi và cho cả mọi người nữa.
Cha tôi nói:
- Thưa thầy, lúc ăn, con sẽ hầu thầy, không ngại.
Cụ bất đắc dĩ phải nhận lời, vừa đóng cửa vừa nói:
- Ông Bá ơi ! Hôm nay thực là một ngày vui vẻ cho tôi !
Tôi quả quyết với ông rằng tôi sẽ ghi nhớ mãi cho đến khi tôi không còn
sống nữa.
Cha tôi dắt cụ giáo theo đường cũ trở ra.
Đến hàng cơm thì vừa đúng 12 giờ. Chúng tôi vào bàn. Cụ giáo ngồi giữa cha tôi và tôi. Tiệc ăn bắt đầu.
Cụ giáo tay
đã run lại bị xúc động nên không thể lấy được đồ ăn. Cha tôi cắt thịt,
cắt bánh, và lấy muối bỏ vào đĩa cho cụ. Uống rượu, cụ phải dùng cả hai
tay cầm cốc mà vẫn còn run, làm cho rượu đổ xuống áo gi-lê. Cha tôi đứng
dậy cầm khăn chực lau, cụ gạt ra, bảo:
- Không được. Tôi kiêng...
Rồi cụ cười và đọc một câu dài bằng tiếng La Tinh.
Cuối bữa, cụ nâng cốc, trịnh trọng nói :
- Ông A-Nhĩ Bá thân qui của tôi ơi ! Tôi uống cốc này để chúc cho ông, cho các cháu được mạnh giỏi và để tưởng niệm cụ nhà !
Cha tôi liền bắt tay cụ và nói :
- Thưa thầy, cảm ơn thầy, con cũng xin chúc thầy được trường thọ.
Ở cuối phòng, chủ tiệm và người nhà xúm xít đứng nhìn, hình
như họ lấy làm sung sướng thấy vị giáo sư thân yêu của họ được ưu đãi.
Hai giờ, chúng tôi ra ga. Cụ giáo tỏ ý muốn tiễn chân. Cha tôi
lại khoác tay cụ, còn tôi thì dắt tay và vác gậy cho cụ. Những khách
qua đường đều đứng lại trông vì ở đây ai cũng biết cụ và kính cụ như
cha.
Qua một ngõ kia, nghe có tiếng trẻ con đánh vần và đọc sách. Cụ đứng lại, nét mặt rầu rầu, bảo cha tôi :
- Ông Bá ơi ! Tôi buồn quá ! Nghe tiếng trẻ học, tôi lại
nhớ đến trường cũ , nơi 60 năm ròng, tôi đã quen bén thứ âm nhạc bằng
tiếng trẻ thơ ấy... Than ôi ! Bây giờ tôi không có gia đình, tôi không
có học trò nữa !
Cha tôi đáp :
- Thưa thầy, xin lỗi thầy, có lẽ thầy lầm rồi ! Thầy còn có
biết bao nhiêu là học trò hiện ở rải rác trong cõi đời này ! Chúng vẫn
nhớ tới thầy cũng như con không bao giờ quên được thầy.
Cụ già buồn rầu nói :
- Không, không. Tôi không có trường học nữa. Tôi không có học trò nữa. Mà không có học trò thì tôi không có cái thú sống ở đời !
- Thầy đừng nói thế. Giáo trạch của thầy đã đầm thấm khắp nơi. Thầy đã hy sinh đời thầy một cách rất cao thượng.
Cụ giáo không nói gì, gục đầu vào vai cha tôi.
Khi chúng tôi đến ga thì xe lửa sắp chạy. Cha tôi vội vàng hôn cụ và nói :
- Thôi ! Chào thầy ở lại, con về.
Cụ nắm tay cha tôi ép vào ngực cụ, dân dấn nước mắt nói :
- Thầy chào con và cảm ơn con.
Trước khi lên xe, cha tôi đỡ lấy cái gậy trúc của cụ đưa cái gậy cán bạc có khắc tên tắt của cha tôi cho cụ và nói :
- Xin thầy giữ lấy cái gậy này, gọi là chút kỷ niệm của người học trò cũ.
Cụ không chịu nhận, nhưng cha tôi đã nhảy lên xe và quay ra nói :
- Kính thầy ở lại.
Cụ đáp :
- Con ơi, đi đường thận trọng nhé ! Ta cầu trời phù hộ cho con đã có lòng quí hóa đối với thầy cũ.
Cha tôi cảm động, chào cụ lần nữa.
- Thôi ! Lạy thầy ! Con mong lại có ngày được gặp thầy !
Xe chuyển bánh, chúng tôi trông thấy cụ lắc đầu như có ý bảo :
- Thầy trò ta, có lẽ không bao giờ gặp nhau nữa !
Cha tôi thấy vậy liền nói thêm :
- Xin thầy đừng ngại, thầy trò ta còn nhiều dịp gặp nhau.
Xe chạy, cụ giơ bàn tay run lên để chào và để trả lời.
----------------------
Chú thích – 1) Condove – 2) Gênes – 3) Đọc bài "Chú hề con" ta nhận thấy cha cậu An-Di làm nghề viết báo.