Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện cổ tích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện cổ tích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2024

VÉO VON TIẾNG ĐỊCH - Khái Hưng

 

Một buổi chiều êm đềm ấm áp, thoáng điểm mấy hạt mưa xuân.

Công chúa Li Nương, con Ðức Hùng Vương thứ mười bốn, cùng mấy ả tì nữ theo hầu, dạo chơi ngắm cảnh trong vườn Thượng Uyển ở trên đồi cao. Ði lâu, chân đã thấy mỏi, công chúa ung dung bước lên lầu Na Nan ngồi nghỉ, đưa mắt nhìn khắp bốn phương.

Quanh lầu, lá liễu buông mành, gió chiều khẽ đưa tha thướt. Trông ra xa, các đồi liên tiếp, như đàn rùa phủ phục nằm chầu. Trên đồi, những cây gồi, thân thẳng mà cao, ngọn cây phất phơ chòm lá xòe ra như tàn quạt. Thỉnh thoảng điểm những cây thông, gốc già giặn, lá xanh đen như mấy nét sẫm chấm phá trên nền màu non tươi. Dưới chân rặng đồi, con sông Bạch Hạc quanh co lượn khúc, ẩn, hiện bên những khóm cây rườm rà lả ngọn. Li Nương tì lan can, mắt rời cảnh vật bao la, cúi nhìn xuống cái hồ bán nguyệt, mới thấp thoáng nhô lên mặt nước một vài nõn sen mềm mại.

Bỗng nàng hé cặp môi mỉm cười, vì nàng vừa trông thấy bóng xinh đẹp của mình in trên mặt hồ trong xanh, phẳng lặng và sáng như gương. Nàng giơ tay trắng nuột vịn cành liễu non, bẻ mấy chiếc lá, thong thả bỏ rơi xuống hồ. Mặt nước rung động, hình công chúa cũng rung động. Gợn nước vòng tròn, rộng tan mãi ra, rồi dần dần biến đi như chìm xuống đáy hồ mà trả lại hình công chúa.

Li Nương vui sướng - cái vui sướng của tuổi trẻ hồn nhiên - cười khanh khách, giọng trong trẻo như tiếng con chim vàng anh đương hót ở trên cành.

- Này các ngươi! Các ngươi lại xem bóng ta vỡ rồi lại lành.

Bọn tì nữ, xúm xít quanh mình công chúa, đều cúi xuống nhìn, rồi cùng cười. Còn Li Nương thì tựa cột lầu tì tay lên lan can, hé cặp môi mỉm cười. Mấy giọt nước mưa đọng trên lá liễu từ từ rơi bám vào mái tóc búi lỏng, để trĩu xuống gáy, trông lấp lánh như những ngôi sao ló trong đám mây đen.

Bỗng mọi người đều chú ý lắng tai nghe...

Trong bầu không khí yên lặng buổi chiều tà, tiếng địch véo von ở đâu đưa tới, khi bổng khi trầm, như đến làm hoạt động một cảnh xuân đầm ấm.

Cành liễu rung rinh trước gió như chịu âm hưởng của khúc nhạc thanh tao, mà Li Nương vốn người đa cảm, cũng thấy toàn thân rung động, cặp má nóng bừng, trái tim hồi hộp...

Tiếng địch im bặt... Một người buông thở, thấy lòng nhẹ nhàng, khoan khoái.

Từ đó, trong buổi chiều tà vẫn nghe véo von tiếng địch.

*

Suốt năm đêm, công chúa Li Nương không chợp mắt, lòng thổn thức vì tiếng địch véo von. Chiều chiều, tiếng địch bay lọt tới thâm cung, như kể lể, như kêu van, như thì thầm trong tâm trí kẻ đa tình! Lúc lanh lảnh như nhịp cười khoái lạc, lúc thâm trầm như giọng than thở âu sầu.

Ðêm khuya thanh vắng, Li Nương mơ mộng. Tiếng địch vẫn như rành mạch bên tai. Nàng mỉm cười một mình, vì trí tưởng tượng của nàng đương cố vẽ ra một chàng thanh niên tuấn tú. Nàng lấy làm lạ, vì nhà âm nhạc nàng thấy hiện ra trước mắt giống hệt cái bóng người in trên mặt hồ bữa nọ.

Thấy công chúa kém tươi, vóc ngọc ngày một hao mòn. Vua cha lấy làm kinh hãi. Ngài cho rằng con đã đến tuổi cập kê, nên buồn về nỗi đêm xuân chiếc bóng, liền bày ra hội hè, chèo hát, thiết yến tiệc linh đình, mời hết các lạc hầu, lạc tướng đến dự, để công chúa kén chọn phò mã.

Nhưng ngắm mấy trăm yến khách, Li Nương không thấy một ai tài mạo sánh kịp người trong mộng. Nàng nghĩ thầm:

"Người thổi địch ấy đối với ta có thiên duyên, nên ta chưa gặp mặt mà đã tưởng tượng ra được."

Công chúa không chấm một ai. Các quan lạc tướng, các quan lạc hầu lại kéo nhau ai về nhà nấy. Làn không khí ở chốn đế đô lại tịch mịch như xưa.

Nhưng trong buổi chiều tà vẫn véo von tiếng địch...

*

Công chúa Li Nương ốm nặng.

Tiếng mõ rao khắp chốn đế đô cùng các vùng lân cận, để tìm kiếm các nhà lương y.

Song gần một năm, thầy lang đã kế tiếp nhau ra khỏi bệnh phòng mà bệnh nhân vẫn không thấy đỡ. Vì các thầy chẳng biết công chúa mắc phải bệnh gì.

Một hôm, về buổi chiều, một thầy lang già tới xin chữa bệnh. Thầy già, già lắm, già đến nỗi phải sờ soạng mới tìm thấy tay bệnh nhân để bắt mạch. Công chúa nghĩ thương tình, bèn khẽ bảo:

- Này cụ lang, cụ có muốn chữa tôi khỏi bệnh không? Nếu cụ muốn được Vua cha trọng thưởng thì có cách này khiến tôi khỏi ngay. Là ra tâu với Vua cha cho gọi người đương thổi địch kia vào thổi cho tôi nghe.

Thầy lang tuy mắt kém cỏi, nhưng tinh thần sáng suốt, hiểu ngay rằng công chúa mắc bệnh đau tim. Thầy liền đem lời công chúa tâu với Vua cha, nói khoác rằng mình mới tìm ra nguồn bệnh.

Tức thì Vua cha cho đi bắt chàng thổi địch giải tới cung điện.

Thuốc thần tiên thực! Công chúa nhác trông thấy anh chàng, các bệnh khỏi ngay, vì cái bộ dạng xấu xí lạ thường của nhà âm nhạc khiến nàng tỉnh ngộ, mà lòng thương hão nhớ huyền cũng theo hình ảnh tưởng tượng mà biến vào cõi mộng...

Nhưng trong buổi chiều tà vẫn véo von tiếng địch...

Nhà tài tử xấu xí từ khi ở điện nhà vua trở về nơi lều tranh vắng vẻ, mang theo hình ảnh Li Nương, và vì ai ngày đêm tưởng nhớ. Tiếng địch nay càng réo rắt, càng âm thầm như có chịu ảnh hưởng cái đẹp của công chúa, như muốn bao bọc ôm ấp lấy tấm linh hồn công chúa.

Ở trong cung, công chúa nghe tiếng địch, gan vàng vẫn lại thổn thức như xưa, bệnh cũ ở đâu lại ầm ầm kéo đến. Nhưng khi Vua cha cho đi bắt anh chàng thổi địch tới cung thì bệnh nặng lại khỏi dần.

Ðã như thế đến bốn lần rồi. Vua cha nổi trận lôi đình, ra lệnh cấm hết dân gian, không cho ai thổi địch.

Từ nay trong buổi chiều tà không còn đâu là tiếng địch véo von!

*

Hai tháng sau, công chúa Li Nương lại ốm, ốm rất nặng.

Lần này công chúa mắc bệnh, là vì đêm nào cũng nghe văng vẳng có tiếng địch bên tai, tiếng địch ảo não, buồn rầu như giọng ai kể lể tình xưa. Hễ thức giấc dậy thì tiếng địch lại im.

Năm đêm liền như thế. Bệnh tình công chúa xem ra nguy ngập.

Vua cha lại truyền cho đi tìm anh chàng thổi địch. Nhưng khi đến nhà chàng thì được tin chàng đã chết đúng năm ngày, thi thể chôn trên một ngọn đồi cao, nhìn vào trong cung. Chàng thổi địch trước khi từ trần đã dặn lại người nhà chôn mình ở đó.

Ðược tin, đức Vua lo sợ. Mà bệnh công chúa thì một lúc một tăng.

Một quan thị vệ quì gối tâu rằng:

- Xin bệ hạ cho đào mả người kia lên để công chúa trông thấy mặt thì chắc bệnh lại khỏi ngay.

Trong khi nguy kịch, nhà vua cũng phải theo lời, chứ còn biết làm sao.

Nhưng khi quật mồ lên, thi hài kẻ kia chỉ còn lại một khối tim. Cất lấy coi thì đó là một khối tim ngọc thạch. Các quan tất tả đem về trình đức Vua cha.

Vua cha giơ lên xem: trong có hình công chúa Li Nương đương ngồi lắng tai nghe một người thổi địch.

Ngài liền đem chuyện thuật cho con nghe và đưa luôn cho xem viên ngọc. Công chúa ngắm nghía trái tim thấy bóng mình trong đó, đem lòng thương kẻ chung tình. Từ từ giọt lệ rơi xuống viên ngọc... Trái tim người xưa bỗng tan ra, hòa với nước mắt của Li Nương mà biến mất.

Li Nương khỏi bệnh.

Mà từ đó, đêm đêm không bao giờ còn nghe thấy tiếng địch véo von.


KHÁI HƯNG       

(Trích từ tập truyện Anh Phải Sống)

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

LAN VÀ HUỆ - Hoàng Đạo

 

Chợ Chu là một đô thị nhỏ ở vùng Thái nguyên. Mấy gian chợ xây gạch ở chính giữa, chung quanh là những ngôi hàng của người Kinh lên đây buôn bán với bọn Thổ, Mán, rồi là rừng núi bao phủ bốn phía.

Trong các ngôi hàng kia, có ngôi hàng của vợ chồng ông Bá là thịnh vượng hơn cả. Cũng như các bạn hàng khác, ông bán cho dân Thổ những thứ họ cần dùng như muối, đường… và mua sản vật của họ để xuôi Thái Nguyên bán lại. Nhưng ông hiền hậu và thực thà, không có tính lừa lọc, lại sẵn lòng cứu giúp kẻ nghèo, nên dân Thổ thích giao dịch với ông và mến yêu ông lắm.

Vì thế, công việc làm ăn của ông rất dễ dãi và hai ông bà có thể tự mãn, nếu không có một nỗi khổ tâm: Hai ông bà muộn con. Hai ông bà uống thuốc suốt năm và luôn luôn đi cầu tự ở các đền chùa, nhưng vẫn không có kết quả gì.

Mãi đến năm ông đã năm mươi, bà mới sinh hạ được một mụn con gái. Hôm bà lâm sàng, ông Bá thấy trong vườn nở một nhánh hoa lan bạch ngọc, ông bèn đặt tên con gái là Lan.

Lan trông rất xinh, nước da trắng mịn, đôi con mắt to và thơ ngây như mắt thỏ. Cha mẹ nâng niu và quý báu như ngọc, ngày ngày bà Bá ra chùa tạ ơn Trời, Phật đã cho bà được toại nguyện.

Năm Lan lên ba, bà Bá không may thụ bệnh rồi từ trần. Từ đấy, tình cảnh hai bố con Lan thực là đáng thương. Ông Bá phần thì nhớ vợ hiền, phần thì thương con nhỏ mồ côi, buồn phiền không thiết làm gì hết, sao nhãng cả công việc buôn bán, ngày ngày chỉ uống rượu hay rong chơi cho khuây khỏa.

Một hôm, ông đương ngồi buồn nhắm rượu thì có một người đàn bà đến thăm. Bà ta ăn vận đại tang và nói là bạn của bà Bá, được tin bà mất nên đến viếng.

Phú ông nghe nói trạnh lòng, đem việc nhà ra kể lể than thở. Bà khách cũng khóc òa lên, sụt sùi nói rằng thấy cảnh nhà ông, chợt nhớ đến nông nỗi góa bụa của chính bà. Nghe bà khách nói, ông Bá cũng động lòng thương. Hai người kể lể với nhau chán chê rồi lại khóc, và đến lúc khóc chán chê rồi thì nhìn nhau và cùng thương hại lẫn nhau.

Lúc bà khách từ biệt ra về, ông Bá tiễn ra tận cửa, rồi cách đó vài hôm, ông sang đáp lễ. Hai người hóa ra năng đi lại với nhau, và không bao lâu, ông Bá cưới bà khách góa về làm vợ kế. Ông mong rằng từ đây ông sẽ có một người nội trợ đảm và Lan sẽ được người mẹ có thể thay người mẹ hiền đã khuất.

Song điều người ta mong ước thường không hay đến. Bà khách ban đầu còn tỏ vẻ âu yếm miễn cưỡng, nhưng về sau, lòng ghẻ lạnh đối với Lan dần dần rõ rệt. Lấy ông Bá được một năm, bà cũng sinh hạ một đứa con gái đặt tên là Huệ. Nhưng Huệ xấu xí, thô kệch, không được như Lan, nên bà mẹ từ đấy ghen tức với Lan, sinh ra thù ghét Lan.

Nhất là Lan càng khôn lớn lên trông càng xinh đẹp ra. Nước da cô trắng mịn, đôi má lúm đồng tiền, cái miệng cười rất có duyên, dáng đi mềm mại như một nhành lan, ai trông thấy cũng phải yêu.

Và, đáng mến hơn sắc đẹp, Lan có một tính tình hòa nhã, dịu dàng. Luôn luôn, cô khâu vá, hay làm một việc khác giúp đỡ mẹ ghẻ, và cố sức làm cho trong nhà có một hòa khí đáng yêu. Ông Bá rất yêu Lan, nhưng Lan không hề dựa vào lòng yêu ấy để đối phó với mẹ ghẻ; Lan thường nhường nhịn để trong nhà được vui vẻ. Như mẹ Lan khi xưa, Lan rất thương người, không khi nào gặp một người đau khổ là Lan không hết sức tìm cách giúp đỡ hay an ủi. Lan thương cả đến loài vật: mèo, chó trong nhà thấy Lan đâu là theo mừng, và cả đến chim sẻ quanh nhà cũng có khi bay đến đậu trên vai, lên tay Lan mổ thóc gạo, cô hay đem cho chúng ăn.

Huệ, trái lại, là một cô gái đỏng đảnh, chua ngoa, hay mắng chửi đầy tớ, chỉ biết vơ phần lợi về mình, mà lại muốn lúc nào người ta cũng khen mình đẹp và khôn ngoan.

Nhưng hàng xóm láng giềng chỉ yêu Lan và khen Lan, khiến Huệ tức ghen với chị và tìm cách làm hại chị. Song Huệ biết cha yêu quý Lan hơn, nên Huệ đành ghen thầm ghen vụng chị mà thôi.

Một hôm kia, ông Bá bàn với vợ về việc buôn bán, và nhất định xuống Thái mở một ngôi hàng nữa, còn ngôi hàng ở chợ Chu thì để lại cho vợ con trông nom.

Từ hôm ấy, Huệ không còn sợ hãi gì nữa, chỉ lăm lăm tìm dịp làm hại Lan cho bỏ ghét.

Huệ biết Lan tính hay thương loài vật, bèn nghĩ ra một cách trêu. Huệ leo trèo tìm tổ chim lấy trứng hay bắt chim con để chơi, và được con nào là đem về khoe chị, rồi vặt lông nó, đánh đập nó trước mặt chị Huệ, làm thế vừa để thỏa tính ác tự nhiên của cô, vừa để làm gai mắt chị. Lan trông thấy lấy làm thương tâm lắm, nhưng khuyên bảo Huệ làm sao cũng không được. Càng khuyên bảo, Huệ lại càng đánh đập tàn nhẫn hơn; đem việc ấy nói với mẹ ghẻ, thì mẹ ghẻ lại mắng át đi, bênh con ra mặt. Cho nên, nghe tiếng chim bị đánh kêu chiêm chiếp, Lan đành quay mặt đi không nhìn nữa, hay đi nơi khác cho khuất mắt

Huệ biết vậy lại trêu tức già. Cô ta bẫy được một con chuột bèn lấy giẻ tẩm dầu tây quấn vào thân con vật rồi lấy diêm châm. Con vật bị đốt sợ hãi quá, vừa chạy vừa kêu; Huệ lấy làm thích lắm, đứng vỗ tay xem đám lửa chạy quanh trong gian nhà.

Lan chợt trông thấy, vội chạy lại, lấy chăn chùm con chuột, dập tắt lửa, nhưng con vật đầy vết thương, nằm yên rên rỉ.

Thấy Huệ đứng cười, Lan giận lắm, uất lên mắng em:

- Sao Huệ chơi ác thế, hở?

- Ác gì mà ác. Nó có biết đau đâu!

Huệ vừa trả lời vừa rũ ra cười.

Lan nhìn con vật nằm rên, nói:

- Em thử bị như thế có đau không?

Ấy thế là Huệ khóc ầm lên, chu chéo kêu la:

- Chị rủa tôi! Chị ác thực!

Thế là Huệ giựt phăng lấy con chuột ném ra ngoài sân rồi vừa khóc vừa chạy ra mách mẹ.

Bà mẹ đương uống nước, gọi Lan ra mắng như tát nước vào mặt:

- Nó chơi thì mặc nó, can chi lại đến rủa nó? Chị bước ngay đi không thì tôi đập cái chén này vào mặt bây giờ.

Lan biết nói cũng bằng thừa, đành cúi đầu lủi vào nhà sau khóc một mình. Lúc đó con chuột đã tỉnh, đứng nhìn Lan khóc, hai con mắt như có vẻ buồn, rồi lủi thủi tìm đường trốn.

Được thể, Huệ lại càng lên mặt, cái gì cũng dành về phần mình cả, lúc nào cũng tìm cách bắt nạt, ăn hiếp chị. Quần áo Huệ tranh lấy cái đẹp, mới, còn đồ thải ra mới đến phần chị; hoa, hột, vòng, xuyến trong nhà chỉ có Huệ được dùng, cả đến những đồ tư trang ông Bá mua cho Lan cũng chỉ có Huệ được đeo. Thậm chí hai lồng chim vàng anh của ông Bá mua về cho Lan, vì ông thấy Lan ưa chim hót, Huệ cũng nhất định chiếm lấy làm của riêng, nhưng đến việc cho chim ăn, thì Huệ lại lười biết không làm được, đành phải giao cho chị.

Tuy vậy, Huệ vẫn ghen với Lan. Khi ra đường, Huệ ăn vận sang trọng và lòe lẹt, còn Lan bao giờ cũng chỉ được mặt cái áo cũ. Nhưng người ta vẫn nhìn Lan và tấm tắc khen cô bé xinh đẹp nõn nà. Những chị em hàng xóm cũng chỉ thích chơi đùa với Lan, vì Lan hòa nhã và vui vẻ, còn hễ thấy mặt Huệ đâu là vội lảng tránh. Huệ không biết là vì Huệ ích kỷ và hay chơi ác, lại tưởng là vì Lan gièm mình với chúng bạn, nên lại càng sinh ra ác cảm với Lan.

Mẹ Huệ đáng lẽ phải bắt con theo gương chị, trái lại, chỉ biết bênh con và nuông con. Hễ Huệ đến mách, là bà ta nghe liền và mắng Lan, phải trái thế nào cũng mặc. Ông Bá thì bận buôn bán, mỗi năm mới về vài ba lần thăm vợ con. Những lúc ấy, Lan có thể khóc lóc kể với cha được, nhưng vì thương cha đã có tuổi, nói ra sợ cha phiền, nên Lan đành im tiếng. Vả lại, những ngày ông Bá ở nhà, bà mẹ ghẻ tự nhiên sinh ra âu yếm Lan hơn, và thường là đánh mắng Huệ. Lan còn nhỏ tuổi không hiểu là bà làm bộ như thế để che mắt ông Bá, vì mỗi lần ông Bá đi khỏi thì bà lại trở nên ác nghiệt hơn.

*

Một lần ông Bá vừa đi khỏi, có một ông cụ già người Thổ râu tóc bạc phơ, ăn vận rách rưới, còng lưng chống gậy tre đến trước cửa nhà Lan xin cơm ăn, nói là vì nhỡ độ đường;

Bà mẹ ghẻ Lan ngồi ở cửa hàng mắng đuổi:

- Không có! Đi chỗ khác mà xin.

Huệ đương đứng đánh phấn, cũng cong môi lên bảo:

- Úi chào! Nhỡ với nhàng gì, chỉ khéo bịa! Bước ngay! Người khỏe mạnh thế kia, có què quặt gì mà phải đi xin.

Ông cụ còn đương đứng tần ngần nửa muốn đi nửa còn ráng lại, thì Lan ở trong nhà trông thấy, động lòng thương, vội lấy bát cơm nguội chạy ra định cho. Huệ thấy vậy, hầm hầm nét mặt chạy đến  giằng phứt bát cơm bảo:

- Ai khiến chị cho! Dễ có của bỏ rơi bỏ phí !

Rồi Huệ quay lại ton hót luôn với mẹ :

- Đấy me coi ! Me đã bảo không cho, mà chị ấy cứ đem cơm ra, chị ấy còn coi me vào đâu nữa.

Bà mẹ Huệ, bị con xui, tức khắc nổi giận, mắng sa sả vào mặt Lan :

- Ồ… Sao tôi đã bảo không cho mà chị lại còn cho nó, hở ? Chị lộng quyền vừa vừa chứ !

- Thưa dì, con không nghe thấy.

Bà dì ghẻ lạnh lùng :

- Cô không nghe thấy ; Cô điêu vừa chứ. Cô có coi tôi ra gì đâu ? Có phải của mồ hôi nước mắt của cô đâu mà cô tiếc.

- Dạ thưa dì…

- À… mày lại còn cãi lại hở ? Làm ăn phí phạm, tao bảo mày còn mắng lại phải không ? Cái con này không dạy làm dạy ăn, rồi đến hư thôi.

Thế rồi, bắt đầu hôm ấy, bà ta nhất quyết dạy Lan làm ăn. Nghĩa là bà bắt Lan làm hết cả việc nặng nhọc ở trong nhà : quét tước, giặt gịa, cơm nước, hầu hạ bà ta y như một đứa ở.

Không biết làm thế nào, Lan đành nhịn nhục chiều ý mẹ ghẻ. Sáng, cô phải dậy thực sớm lau nhà, đem quần áo ra sông giặt, rồi về xách rổ đi chợ làm cơm. Chiều đến, cô còn phải đi gánh nước, và khi cả nhà đi ngủ rồi, cô còn cái bổn phận đóng cửa nữa. Buổi đầu còn ăn chung với mẹ ghẻ và Huệ, nhưng dần dà, mẹ ghẻ đuổi xuống ăn ở trong bếp, lấy cớ rằng trong khi hai mẹ con ăn, phải có người trông nom cửa hàng, mà người ấy chỉ có thể là Lan.

Tuy vậy, Lan cũng không lấy làm oán trách. Lan thích làm việc, và một ngày bận tới tấp là một ngày trôi qua rất chóng, cô không có thì giờ để tủi thân và nghĩ đến sự cô độc buồn nản của đời cô. Làm việc nặng nhọc, Lan thấy không khó chịu bằng những lời cạnh khóe của Huệ, những câu đay nghiến mắng mỏ của mẹ ghẻ. Cô rất sợ những lời chua cay ấy và những hôm nào bị mắng – Thường là bị oan – là Lan ngồi lặng một nơi khóc thầm và nghĩ đến cha, mong cha chóng về để bênh vực lấy đứa con gái còn nhỏ dại mà đã bị đầy đọa.

Nhưng được một điều là bà mẹ ghẻ cũng biết tính Lan, có thể chịu khó làm lụng chứ không thể nhịn nhục chửi bới hay là đánh đập, nên bà còn nghĩ rằng đó cũng là một phương pháp làm cho Lan xấu người đi. Bà – và cả Huệ nữa – mong rằng chân tay Lan sẽ to ra và xù xì, thân hình Lan sẽ tiều tụy. Được ít lâu, hai mẹ con đều thất vọng : Lan, không những không xấu đi mà lại còn xinh đẹp thêm lên, thân hình mảnh dẻ của cô ngày trước đã hóa ra đầy đặn hơn, dưới làn da vẫn trắng bong, bắp thịt lẳn vào và rắn chắc ; đôi má cô ửng hồng như màu đào chín, và tay chân cô có cứng cáp mà vẫn nhỏ nhắn xinh xẻo. Huệ thấy vậy lại càng sinh ghen tức, nhất là cô ả tuy giữ gìn hết mực, không mó đến một việc gì cả, cũng không mấy khi ra ngoài nắng gió mà chân tay vẫn cục mịch, thô lỗ như chân tay thợ nề.

Lan thì vẫn ngây thơ, không để ý đến sự ghen ghét nhỏ nhen của Huệ, cặm cụi làm lụng suốt ngày. Chỉ riêng những buổi sáng tinh sương, lúc cô ra ngoài giếng giặt áo hay gánh nước là Lan thấy thư thả trong lòng một ít. Hoặc buổi tối, cô ngồi nhìn bóng trăng chiếu xuống sân gạch, con chó bông nằm cuộn tròn dưới chân, hay những lúc cô nghe vàng anh hót, thay nước cho chúng và cho chúng ăn. Nhưng điều Lan ưa thích hơn hết, là chiều chiều cô nhớ lại những việc thiện nho nhỏ cô đã làm được trong ngày sắp qua : may áo mũ cho con chị Tạc bán nước, mới sanh được vài hôm, nhưng không có gì mặc vì mẹ nó nghèo quá, lấy nước giúp cái Quyên, còn bé lắm mà đã phải đi gánh nước ; đãi những ông già đi ăn xin một bát cơm hay một đồng trinh và an ủi họ một vài lời. Vì thế nên Lan làm việc cực nhọc nhưng vẫn vui tươi, khiến Huệ lấy làm lạ và càng thêm căm tức, định bụng làm hại cho bằng được mới nghe.

Một hôm kia, có thư của ông Bá gửi về nói độ vài ngày nữa ông sẽ thu xếp về chợ Chu thăm nhà. Hai mẹ con Huệ tiếp được thư, lấy làm lo, nói với nhau rằng ông Bá về nhà mà khám phá ra việc hai mẹ con áp chế Lan, bắt Lan sốc vác như một con sen, thì có lẽ ông giận lắm và cảnh nhà không biết sẽ tan hoang đến bực nào.

Hai mẹ con bàn tính mãi, và một giờ sau, hai người đều tươi tỉnh nét mặt, như đã định sẵn mưu mẹo đối phó với Lan.

Chiều hôm ấy, như mọi bữa, Lan đặt nồi cơm và niêu cá kho rồi chạy ra ngoài cho chim ăn. Đến lúc cô trở vào bếp, thì niêu cá kho đã đổ tung xuống đất, và nồi cơm thì đổ úp xuống gio. Lan còn đang ngơ ngác thì Huệ đã chạy vào, giục giả :

- Chị làm cơm mau lên, mẹ kêu đói lắm rồi.

Vùa nói, Huệ vừa nhìn ngang nhìn ngửa và giả vờ ngạc nhiên thấy cơm, cá rơi vãi đầy bếp. Huệ giả vờ, vì chính Huệ đã đánh đổ để hại Lan :

- Ô hay ! Làm sao thế này? Chị làm như thế thì bao giờ được ăn.

Rồi không đợi Lan trả lời, Huệ tất tả chạy đi mách. Một lát sau, bà mẹ chạy vào quát tháo:

- Làm ăn thế à, con kia?

Lan lau nước mắt, trả lời :

- Con vừa lên cho chim ăn, trở xuống thì đã thấy đổ tung tóe ra rồi. Nào con có đánh đổ đâu mà dì mắng…

-  Lại còn cãi, hử ? Mày không đánh đổ thì còn ai nữa, còn nỏ mồm cãi… Bà lại tát cho một cái vỡ mặt ra bây giờ.

Vừa nói, bà ta vừa sấn sổ lại. Thấy vẻ hung hăng của mẹ ghẻ, Lan đứng thẳng, đôi mắt giáo hoảnh, cương quyết trả lời :

- Dì mắng tôi thì tôi chịu, nhưng tôi xin dì đừng động đến người tôi.

- À, mày lại bảo bà không đánh được mày à ? Bà thử đánh xem mày làm gì nào.

Lan đứng lặng người đi nhìn người mẹ ghẻ xông lại. Mãi đến lúc bà ta đến nơi, Lan mới như sực tỉnh, tái mặt đi và giơ tay gạt bà mẹ ghẻ ra một bên chạy như điên vào phòng riêng, đóng chặt cửa lại, rồi gục đầu vào tường khóc nức nở.

Trong khi ấy, tiếng bà mẹ ghẻ vẫn the thé rít lên :

- Mày liệu hồn, thế nào mai bà cũng dần xác mày ra, bà mới nghe.

Rồi bà phân bua với hàng xóm :

- Nuôi cho nhiều vào, để rồi nó đánh giả.

Lan ngồi khóc mãi ; càng nghĩ đến tình cảnh của mình, Lan lại càng thấy tủi nhục. Lan có thể chịu khó làm việc nặng nhọc, nhưng không thể chịu được những tiếng nói nặng và nhất là không khi nào lại để mẹ ghẻ đánh đập : Lan cho thế là mất cả nhân cách đi. Cô nghĩ đến mẹ đẻ, trong lòng nao nao, rồi nghĩ đến cha, thương cha đã già yếu rồi, biết được chuyện nhà thê thảm thế này thì buồn phiền biết bao.

Lan, đêm hôm ấy thức khuya lắm, băn khoăn, trằn trọc, không sao ngủ được. Lan nghĩ đến ngày mai và những ngày sau, đến cuộc đời cực nhục với những lời chửi rủa, những roi đòn…

Lan tự nhủ thầm là không sao ở với dì ghẻ được nữa, và một quyết định dần dần thành hình trong óc : cô bé nhất quyết trốn đi Thái Nguyên tìm cha.

*

Sáng mờ mờ hôm sau, Lan đã chỗi dậy, gói quần áo vào một bọc, rồi rón rén bước ra ngoài phòng. Lúc đó trong nhà ai nấy đều ngủ yên. Lan đến cũi con chó bông vỗ về ; con chó ngoe nguẩy đuôi ngước mắt lên mừng chủ rồi ngoan ngoãn theo lời Lan nằm xuống. Qua sân, Lan đi cạnh lồng chim đã thấy vàng anh vỗ cánh chiêm chiếp gọi. Lan nghĩ thầm :

- Tội nghiệp ! Mình đi rồi thì ai chăm nom chúng nó.

Lan nghĩ đến sự thiếu thốn của chim và bỗng nẩy ra ý tưởng so sánh số phận chúng bị nhốt, bị lồng với số phận của cô ở với dì ghẻ. Không rụt rè, Lan tháo cửa lồng, bắt từng con ra để trên bàn tay, vuốt ve rồi thả bay đi.

Thả xong vàng anh, Lan thấy trong lòng thư thái như chính cô được thoát khỏi sự giam cầm, nhẹ nhàng mở cửa sau đi trốn.

Lan cứ thẳng đường cái mà đi, nhưng cô vẫn thấp thỏm lo có người đuổi theo. Mà thực, một giờ sau, khi biết đã trốn, Huệ bàn với mẹ đuổi theo để cho Lan lạc vào rừng, vì nếu Lan về Thái Nguyên với ông Bá thì hai mẹ con sẽ không sống được yên.

Lan không ngờ rằng lòng người có thể nham hiểm đến thế, chỉ cho rằng dì ghẻ sẽ cho người đuổi theo để bắt về hành hạ. Cho nên lúc trời đã sáng rõ, Lan không dám ở trên đường cái, len vào rừng đi gần đường. Đến khi Lan trông thấy thấp thoáng bóng người đi vội vàng ra vẻ tìm tòi, cô liền núp sau một thân cây lớn, và khi nhìn thấy dì ghẻ trong đám người đi tìm, Lan không nghĩ ngợi gì nữa, lách vào trong rừng cây cắm đầu chạy.

Lan chạy lâu lắm rồi mới dừng lại thở. Chung quanh cô bé, toàn là lau, sậy, tre và biết bao nhiêu là thứ cây cao vút mà Lan không biết tên. Lan đứng yên một lúc, rồi tìm lối ra đường. Nhưng Lan đi mãi mà cũng chỉ thấy rừng ở trước mặt, ở sau lưng, Lan hoảng sợ, biết mình đã lạc đường. Tuy vậy, Lan cứ cố đi liều, may thì có thể ra khỏi rừng sâu.

Đến trưa, Lan thấy mỏi ngồi nghỉ và cô bé cảm thấy trơ trọi quá. Rừng im lặng, ánh nắng xuyên qua lá cây vó vẻ dịu dàng, cảnh vật êm ả, nhưng Lan thấy chứa chất đầy những sự bí mật kinh khủng. Tiếng chim gõ mõ đều đều ở đằng xa, Lan nghe thấy gợi ra những sự ghê gớm : nhỡ gặp gấu hay hổ, báo thì làm thế nào ! Nghĩ đến đấy, Lan sợ quá ôm mặt khóc.

Nhưng khóc cũng vô ích, Lan biết thế và can đảm gạt nước mắt đứng dậy tìm lối ra. Lan đi rồi nghỉ, nghỉ rồi lại đi, cứ thế cho đến chiều. Lan phần thì đói, phần thì mệt, đành ngồi xuống một gốc cây. Chân Lan đi nhiều đau rần và bị gai góc làm xây xát nhiều chỗ, Lan ngồi bóp chân và khóc nức nở, không biết làm gì, không còn đủ can đảm để đi nữa.

Lan ngồi khóc độ nửa giờ thì bỗng thấy một con chuột ngậm cuống một chùm trái cây kéo đến gần, ngước mắt lên nhìn Lan, không có vẻ sợ hãi, mà trái lại, như muốn tỏ lòng thương hại ; Lan thấy lông con vật nham nhở như bị xém và chợt nhớ đến cho chuột cô đã cứu khỏi chết về tay Huệ.

Con vật nhìn Lan rồi chạy đi. Tò mò, Lan đứng dậy nhìn chùm quả và ngạc nhiên khi nhận ra những trái sim chín đỏ. Con vật ngẫu nhiên mà kéo đến trước mặt Lan chùm sim chín hay là vì nhớ ơn xưa mà đem lại đây? Lan phân vân không biết nghĩ ra sao, nhưng cô vui lòng nhặt lên ăn đỡ đói. Tuy nhiên, Lan vẫn thấp thỏm, vì ánh chiều đã bắt đầu nhạt và tối đến thì chắc là Lan khiếp đảm không biết thế nào.

Chợt có tiếng chim hót rồi hai con vàng anh bay đến đậu lên vai Lan, kêu ríu rít ra vẻ mừng rỡ. Lan cũng mừng rỡ vì cô nhận ra hai con vàng anh cô thả ra ban sớm. Hai con chim kêu một hồi rồi cất cánh từ từ bay về phía Đông. Không thấy Lan đứng dậy, chúng lại bay về đậu lên vai Lan, chiếp chiếp kêu rồi lại bay đi, như có ý bảo Lan đi theo chúng. Thấy lạ, Lan đứng dậy ; đôi chim hót mừng mấy tiếng rồi từ tốn bay trước, Lan đi sau.

Đi được một quãng, hai con chim dừng bay đậu lên cành một cây đa cổ thụ rất to, cành lá rườm rà. Lan để ý nhìn thì thấy một tổ chim lớn, lớn lắm, ngay ở một cành thấp nhất, Lan thò tay có thể với tới.

Thấy vậy, Lan cũng mừng có nơi trú ẩn, bèn cố sức leo lên cây, đặt người vào tổ chim, lưng dựa vào thân cây. Trời đã chiều hẳn, nhưng chưa tối, qua lá cây, Lan thấy nhấp nhánh ngôi sao đầu tiên trên nền trời trong xanh, và trong lòng hoang mang sợ hãi những sự sẽ xảy ra trong đêm.

Bỗng hai con chim vàng anh kêu lên những tiếng nhỏ, có vẻ kinh sợ lạ lùng, bay đến mổ vào áo Lan như muốn bảo đi trốn. Lúc đó Lan thấy tiếng động ở trên đầu, ngẩng lên thì trông rõ một con trăn lớn ở trên ngọn cây đương leo xuống. Cô hoảng hồn nhảy vội xuống đất chạy.

Một lát sau, Lan ngừng lại thở và chưa biết chạy về đâu thì có một tiếng gầm trước mặt, rồi một con báo ở trong bụi rậm nhảy ra, hai con mắt sáng quắc. Lan không chạy được nữa, đánh liều cúi xuống đất nhặt sỏi, đá ném con vật túi bụi. Bỗng có một tiếng gầm nữa, lớn hơn, và một con hổ nhảy xổ ra. Con báo trông thấy lủi mất. Lan sợ quá, đứng ngẩn ra nhìn, nhưng cô bé kinh ngạc xiết bao khi thấy con ác thú nhìn cô, rồi hiền lành đi lại, thong thả và ngoan ngoãn như một con mèo lớn. Hai con vàng anh đậu trên vai Lan cất tiếng hót vui vẻ như mừng gặp được người quen.

Lan còn đương ngơ ngác thì ở trong rừng phía trước mặt có tiếng người nói :

- Cô Lan đấy à ? Cô đừng sợ. Có lão đây.

Một ông cụ già, râu tóc bạc phơ như một ông tiên, lê gậy trúc khoan thai rẽ lau sậy bước ra. Lan ngạc nhiên nhận ra ông cụ già: chính là ông cụ già đã đến ăn xin ở nhà Lan vì lỡ độ đường, và chính vì cho ông cụ bát cơm mà Lan bị mẹ ghẻ hành hạ.

Ông cụ xoa đầu Lan nói:

- Tội nghiệp! chắc con mỏi mệt lắm phải không? Chân con xây xát cả kia kìa, về nhà lão sẽ rịt thuốc ngay cho.

Ông cụ bảo Lan ngồi lên lưng hổ cho khỏi đau chân, rồi ông lê gậy đi vào một con đường nhỏ, lá cây phủ gần kín. Đi một lúc lâu, Lan thấy cây thưa dần rồi đến một cánh đồng nhỏ, ở giữa là một cái nhà sàn xây dựa vào sườn đồi, trông đẹp như trong cảnh thần tiên.

Ông già giơ gậy trúc chỉ cái nhà sàn nói:

- Nhà của lão đấy.

Vào đến nhà, nghe Lan kể lại câu chuyện trốn vào rừng, ông lắc đầu tỏ vẻ thương hại, rồi bảo:

- Lão biết, nhưng con đừng lo. Con cứ ở đây tạm với lão, thế nào thầy con cũng đến đón con về và con sẽ được sung sướng.

Đoạn, ông già lấy lá rịt những vết thương cho Lan và lấy cơm cho Lan ăn, chăm nom săn sóc Lan y như đối với con cháu. Lan cảm phục quá, nói vài lời tạ ơn thì ông cụ bảo rằng:

- Con đừng cám ơn. Con cứ nhớ rằng lúc nào cũng nên thương người và giúp đỡ người, vì giúp người ắt người sẽ giúp mình. Và thế là con cám ơn lão đấy.

Ăn xong thì trời đã tối. Lan ngồi trong gian nhà ấm áp, nhìn ra ngoài, trong lòng vui sướng. Hai con vàng anh ở đâu bay vào đậu lên cánh tay Lan, Lan âu yếm nhìn và lấy tay vuốt lông chim, se sẽ nói:

- Hai em ngoan quá.

Hai con chim ngẩng đầu nhìn Lan một cách trìu mến, rồi cùng bay lên ngưỡng cửa, hót lên những tiếng trong vắt.

*

Trong khi ấy, bà dì ghẻ Lan và Huệ ở nhà khúc khích cười với nhau, vì đã lừa được Lan trốn đi và lừa được Lan lạc vào rừng.

Tối hôm ấy, hai mẹ con đều không sao ngủ được, chong đèn ngồi. Ở ngoài, tiếng gió thổi nghe như tiếng ai than thở và chốc chốc tiếng cú lại nổi lên, gợi trong trí hai mẹ con những cảnh rùng rợn trong rừng tối. Hai mẹ con đều im lặng, không nói với nhau nửa lời và cũng không dám nhìn nhau, tuy cùng theo đuổi một ý nghĩa. Lan bây giờ ở đâu? Huệ hai mắt mờ trừng trừng như nhìn thấy hết cả nỗi kinh khủng của Lan ngồi đợi chết trong đêm tối. Cô bé không ngờ kết quả mưu kế của mình lại ghê gớm đến thế! Cô chỉ muốn chị đi cho khuất mắt, cô có ngờ đâu đêm hôm nay cô nghĩ đến chị, thương đến chị và thấy mình khổ cực, khốn nạn vô cùng.

Bỗng có tiếng hổ gầm ở xa xa? Huệ kêu lên một tiếng, ôm chầm lấy mẹ; Huệ vừa tưởng tượng thấy Lan bị hổ nhảy đến vồ. Bà mẹ ôm con ghì vào lòng, trên mặt cũng lộ ra sự hốt hoảng sợ hãi, và lúc Huệ khóc nức nở trông lên, cô thấy hai giòng nước mắt lặng lẽ chảy trên hai gò má của mẹ. Huệ ngập ngừng nói:

- Chị Lan… làm thế nào bây giờ, hở mẹ?

Bà mẹ thở dài không đáp, vì chính bà ta cũng hoang mang không biết làm gì để cứu Lan được. Đêm đã khuya, hai mẹ con vẫn còn ôm nhau, vừa lo sợ, vừa hối hận, khổ sở không biết đến thế nào.

Gió vẫn thổi rì rào, Huệ lắng tai nghe và bỗng kêu rú lên, chỉ ra cửa sổ nói sẽ:

- Mẹ trông kìa, chị Lan.

Bà mẹ nhớn nhác nhìn lên và trông thấy bóng một cành cây trong cửa sổ. Thì ra Huệ sợ hãi quá, tưởng Lan đã chết rồi, hiện hồn về báo thù.

Giữa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Huệ kêu:

- Đấy… chị ấy về đấy.

Bà mẹ đứng lên, mặt tái không còn một hột máu. Mãi đến lúc nghe rõ ràng tiếng ông Bá gọi, hai mẹ con mới hoàn hồn, và lại vui mừng nữa. Ông Bá vừa vào, và hay tin Lan lạc vào rừng, ông tức tốc sang hàng xóm tìm người cùng đi vào rừng. Hàng xóm đều yêu mến Lan nên nửa giờ sau, kẻ đèn đuốc, người dáo mác, độ mươi người đã cùng bọn nhà ông Bá xông pha vào rừng tối. Nhưng rừng rậm mà sâu, biết Lan ở phương hướng nào! May ông Bá tinh ý, thả con chó bông đi theo. Con chó đánh hơi lon ton chạy trước, ông và người nhà, Huệ và dì ghẻ theo sau, không mấy lúc đã tìm thấy căn nhà sàn ở giữa rừng.

Lan đương ngồi nói chuyện với ông cụ già chợt nghe tiếng chó sủa, rồi cô chưa kịp đứng dậy xem thì con chó bông đã leo lên sàn vẫy đuôi mừng. Tiếp liền theo, Lan trông thấy ông Bá bước vào. Hai cha con ôm chầm lấy nhau, và nước mắt Lan chảy xuống ướt đẫm cả má. Nhưng lần này không phải Lan khóc vì tủi nhục hay kinh sợ như trước; Lan khóc vì Lan mừng quá.

Lúc đó, hai mẹ con Huệ cũng đã vào gian nhà sàn, đứng cúi đầu gầm mặt xuống như kẻ sắp chịu tội. Nếu Lan đem việc mẹ ghẻ xử ác với mình ra nói với cha lúc ấy thì cũng chỉ là một việc hợp với công lý, nhưng Lan đã có định ý nên lúc ông Bá âu yếm hỏi, Lan chỉ đáp:

- Vì con vào rừng chơi, lạc mất đường.

Nghe con nói, ông Bá ghì chặt con vào trong lòng.

Bà mẹ ghẻ Lan cũng chạy lại ôm lấy Lan, thổn thức nói sẽ với Lan:

- Con tha lỗi cho dì. Bây giờ dì mới rõ con…

Và Lan ngạc nhiên khi thấy trên hai gò má của người đàn bà mà cô bé vẫn yên trí là ác nghiệt, hai giòng nước mắt từ từ chảy xuống.

Ông Bá cảm ơn ông cụ già rồi từ tạ ra về. Ai nấy đều vui vẻ, ánh đuốc chiếu tỏa trong rừng sâu, Lan nhìn có vẻ ấm áp như cuộc đời sắp tới. Bỗng Lan thấy có người kéo tay. Cô quay lại nhìn thì là Huệ, Huệ cúi đầu vào vai chị, nức nở:

- Em khổ sở quá, chị ạ. Biết làm thế nào để tạ tội với chị được. Chị tốt bụng thế, còn em thì khốn nạn quá, em lấy làm xấu hổ lắm.

Lan lấy tay khoác vai em, nói sẽ:

- Em biết hối thế là em tốt bụng như chị rồi.

Lan thấy trong lòng vui sướng vì điều Lan mong nhất, Lan đã được như ý: em Lan đã cảm hóa vì lòng tốt của Lan và bắt đầu trở nên một người con gái đáng yêu.

 

HẾT

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2021

BÔNG CÚC HUYỀN - Khái Hưng

 

 Tặng N.K.

Nước Tàu, như các em đã biết, hay đoán biết, là một nước sản xuất ra cái gì cũng tàu, cũng hoàn toàn tàu, nghĩa là rất đẹp. Đẹp từ người cho chí vật, đẹp từ trời cho chí đất, đẹp từ y phục cho chí lâu đài, đẹp từ cử chỉ khoan thai cho chí ngôn ngữ réo rắt, đẹp từ lời văn hoa lệ cho chí tư tưởng cao siêu. Hết thảy đều đẹp, đều sáng như ngọc, bóng như vàng, trong như pha lê vậy.

Ngày xưa ở nước Tàu có một ông vua Tàu tên là Thái Hoàng. Đức vua, tất nhiên, là cái đẹp nhất trong những cái đẹp ở nước Tàu. Nhưng ngài lại là đấng thiên tử tối cao tối đại, vị hoàng đế lẫm liệt oai nghiêm, nên trong bàn dân thiên hạ ít ai dám ngước mắt để ngắm nghía, hơn thế, để liếc trộm dung nhan ngài, mỗi khi ngài ngự kiệu vàng chơi phố. Bọn thần tử thoáng trông thấy bóng cờ vàng, thoáng nghe thấy tiếng nhạc nội, đã vội nằm rạp xuống đất hai tay bưng kín mặt mà đợi cho kiệu rước qua rồi mới dám ngửng đầu lên. Tuy vậy mặc lòng, bọn họ vẫn tưởng tượng ra được cái đẹp nguy nga lộng lẫy của đấng chúa thượng chí tôn, vì ai ai cũng biết dân Tàu là một dân tộc giàu tưởng tượng.

Mà hoàng đế đẹp nguy nga lộng lẫy thực: Ngài ngự trên chín bệ vàng, trong cỗ ngai có chín con rồng vàng lượn khúc quấn hai bên tay vịn, dưới chiếc tàn vàng cán bạc có tua minh châu lỏa tỏa rủ chung quanh, lấp lánh như trăm nghìn ngôi sao rực rỡ. Ngài đội chiếc mũ miện đan bằng tóc các nàng tiên nga, có dát chín con rồng vàng diệp vờn chín viên ngọc ngô công - Số chín là số của thiên tử cũng như màu vàng là màu của thiên tử, chiếc áo long bào ngài mặc khi ngự triều là công trình tuyệt sảo của mười tám người thợ may khéo nhất trong mười tám nước chư hầu. Tơ dùng để dệt nên gấm ấy toàn là tơ những lứa tằm nuôi riêng trong cung cấm bằng lá dâu châu Hồ do một trăm con ngựa Xích thố ngày đêm chuyên chở. Chân ngài sỏ trong đôi ủng đan bằng kim tuyến, mũi đính hạt trân châu, và dẫm lên lưng đôi rùa vàng sống đã ngót hai nghìn năm trên núi Thái sơn. Tóm lại, cái gì ở bên mình ngài, ở trong cung điện ngài cũng đều là vật quý và hiếm nhất dưới gầm trời.

*

Nhưng quý và hiếm hơn cả những vật quý và hiếm nhất dưới gầm trời, ấy là bà thứ phi họ Quắc. Hoàng đế cho là thế và quả là thế: Chẳng một viên ngọc thạch nào nước trong bằng mắt thứ phi ; chẳng một giải mây chiều nào huyền ảo bằng tóc thứ phi. Má thứ phi mịn và nhung hơn trái đào tơ phớt hồng ; môi thứ phi thắm hơn son và tươi hơn bông hoa mẫu đơn Giang nam hàm tiếu, giọng nói thứ phi trong sáng như tiếng dương cầm, trầm trầm như tiếng nhị hồ, khoan thai, chững chạc như điệu tỳ bà của nàng Chiêu Quân nhà Hán. Vì thế, đứng trước thứ phi và đối với con mắt thẩm mỹ của hoàng thượng, đôi rùa vàng sống ngót hai nghìn năm trên núi Thái Sơn chỉ là hai con vật tầm thường không đáng kể. Tầm thường cả con trĩ vàng đuôi dài hơn một trượng, con họa mi hót đủ một trăm bài âm nhạc du dương, đôi bạch sà khiêu vũ theo điệu nghê thường trên nguyệt điện, con anh vũ biết nói chín thứ tiếng, tiếng Mông cổ, tiếng Mãn châu, tiếng Tây tạng, tiếng Ấn độ, tiếng Diến điện, tiếng Việt Nam, tiếng Triều tiên, tiếng Nhật bản, và cả tiếng Tàu nữa.

Những con vật kỳ dị ấy, cả nước tôn kính và hoàng đế rất mến yêu. Nhưng nếu thứ phi muốn giết chết để làm một trò chơi tiêu khiển thì chỉ một hiệu lệnh ở miệng mỹ nhân ban ra, chỉ một cái trỏ ở ngón tay mỹ nhân hạ xuống, là hoàng đế hỏa tốc cho thi hành. Chẳng thế mà một hôm hoàng đế đã sung sướng được ngắm bàn tay xinh đẹp kia ném vỡ chiếc chén thần của ngài. Chiếc chén ấy lúc thường chỉ là một chiếc chén ngọc, dù ngọc quý, nhưng mỗi khi hoàng đế thân rót rượu vào và cầm nưng lên môi, thì hình ảnh hoàng hậu bỗng hiện ra trong nước rượu, hiện ra với hết cả vẻ yêu kiều, diễm lệ. Vì thế mà thứ phi ghen, dù hoàng hậu thăng hà đã quá mười năm. Nàng đỡ lấy chén để xin chuốc rượu hầu hoàng đế, rồi giơ thẳng cánh tay ngà đập chén vỡ ra từng mảnh. Đoạn, nàng quỳ xuống ôm chân hoàng đế và kêu van xin tha tội. Nhưng hoàng đế không những không tỏ vẻ tức giận, mà ngài còn cúi đỡ thứ phi dậy và vui tươi bảo nàng: "Trẫm tiếc không có một cái chén quý thứ hai để được ngắm tay ái khanh đập một lần nữa."

Thứ phi ghen với hoàng hậu đã quá cố. Nàng ghét lây cả thái tử là con hoàng hậu và sau này sẽ lên ngự ngai vàng trên chín bệ mà nhận lấy sự tôn thờ của hàng trăm triệu thần dân trong mười tám nước chư hầu.

*

Thái tử năm nay mười tám tuổi trời. Chàng là một đấng nam nhi anh tuấn, văn võ kiêm toàn. Chàng đã đọc và hiểu thấu hết các sách kinh, truyện và sử ký. Chàng lại tinh thông khắp mười tám ban võ nghệ cao cường. Nhưng chàng gắng công luyện tập các khoa văn võ là chỉ để đẹp lòng vua cha, vì chàng là một người con chí hiếu. Chứ cái thú độc nhất của chàng, cái thú nhóm ngay từ thời thơ ấu của chàng là cái thú chơi hoa, chơi cảnh.

Ở Đông cung, thái tử có một vườn hoa không rộng bằng vườn thượng uyển của hoàng đế, cũng không bài trí lộng lẫy và có quy tắc như vườn thượng uyển, nhưng xinh xắn hơn, nhưng thân mật hơn, nhưng nhiều vẻ nên thơ hơn biết mấy: Trong vườn không thiếu một giống hoa lạ, một loài cây quý. Thái tử đã tốn công tốn của cho đi lùng khắp bốn phương để tìm mua bằng được hết những thảo mộc kỳ dị trong thiên hạ. Mùa nào hoa ấy, trăm sắc đua nhau khoe tươi. Một thứ hoa vừa sắp tàn, một thứ hoa đã chớm nở. Trong vườn không một ngày vắng bóng hoa. Xuân có lan, có thủy tiên. Hạ có mẫu đơn, có thược dược. Thu có cúc, có phù dung. Đông có mai và đào và lý. Còn có biết bao nhiêu loại khác mà mỗi loại chia ra biết bao nhiêu giống khác nhau.

Cách chơi hoa của thái tử lại rất công phu, không ai theo kịp. Chàng chơi không những hoa mà cả lá, không những lá mà cả cành. Không một lá bị sâu cắn, không một cành bị mọt đục, cây nào cây nấy đều hoàn toàn, không khuyết điểm. Sớm chiều năm mươi người làm vườn chuyên vào việc quét các cuống hoa, lá rụng. Năm mươi người khác giữ việc kín nước tưới từng gốc, rửa từng lá. Đó toàn là nước mưa chứa trong một cái bể chìm rất lớn: Thái tử muốn hoa phải thanh khiết từ sắc cho chí hương, nên không để đọng trên hoa một giọt nước không trong sạch.

Thái tử đối đãi hoa như đối đãi bạn thân, săn sóc, ân cần, bênh vực, nưng niu, làm giàn thưa che nắng, làm màn lụa ngăn rét. Nếu có mưa to gió lớn nổi lên thì bất cứ là ngày hay đêm, thái tử vội vã đánh thức bọn làm vườn dậy lấy tre, pheo, gỗ, lạt để chống đỡ cho hoa, lấy tàn, lọng ra che mưa che gió cho hoa.

Mỗi khi có bông hoa nở, thái tử sai đặt án, đem rượu, đem giấy, bút, mực ra tận gốc cây để chàng nâng chén mừng hoa, đề thơ vịnh hoa, ca tụng hoa. Nhiều lần chàng ngồi bên hoa suốt từ khi hoa bắt đầu hàm tiếu cho mãi đến lúc hoa mãn khai, ôn tồn, kính cẩn, thân mật, âu yếm nói truyện với hoa. Cách thưởng thức hoa như thế, thái tử cho là rất hợp nhân đạo và hợp với lẽ trời. Chàng không thể tưởng tượng có người tàn nhẫn cắt hoa đem cắm bình được. Chàng nói: "Người có tứ chi ngũ tạng. Hoa có rễ, thân, cành, lá. Sao nỡ lìa hoa ra khỏi các bộ phận nuôi sống nó! Một mỹ nhân có hai bàn tay đẹp, ai lại điên rồ chặt ra, như ông vua nước Ngô, đem hiến cho một thằng ngốc? Hoa chỉ đẹp khi hoạt động trên cành cây, cũng như hai bàn tay ngọc chỉ đẹp khi hoạt động trên cánh tay người mỹ nữ. Đem cắt hoa ra mà chơi không những tàn ác, còn là lối chơi của hạng người không biết thẩm mỹ." Vì thế đã một lần chàng đem xử tử một tên nữ tỳ vào vườn ngắt trộm hoa của chàng. Chàng cho đó là cách xử án rất công bằng. "Vì - chàng nói - sát nhân giả tử thì giết hoa sao lại không kết vào án tử hình?"

Chẳng may cho thái tử, tên nữ tỳ lại là một đứa hầu cận của bà thứ phi họ Quắc. Thứ phi đã sẵn thù ghét thái tử vì thái tử có cái vườn quý, nay lại căm giận thái tử vì thái tử đem giết một tên nữ tỳ của mình. 

Và nàng quả quyết báo cừu.

*

Một hôm nàng gian ác tâu với hoàng đế:

- Muôn tâu bệ hạ, muôn muôn tâu đức Hoàng đế tối cao tối đại, thần thiếp nghe nhân dân tán tụng những cái đẹp, cái quý, cái lạ ổ dưới triều Bệ hạ mà thần thiếp lấy làm sung sướng. Những cái đẹp, cái quý, cái lạ ấy không những được nhân dân tán tụng mà cả các nước láng giềng cũng đều nức nở khen ngợi là những của báu có một không hai trong thiên hạ. Một nhà vạn vật học Triều tiên đã khảo cứu rất tinh tường về con Anh vũ biết nói chín thứ tiếng và con Họa mi hót thạo một trăm điệu ca của Bệ hạ trong bộ sách mới soạn, dầy tới năm mươi pho và dài tới ba trăm sáu mươi nhăm chương. Trong bảng các con vật sống lâu nhất thế giới của một nhà bác học Ấn độ, đôi rùa của Bệ hạ được xếp đứng đầu. Cái mũ miện và cái áo long bào của Bệ hạ đã được nước Tây di sai sứ sang xin vẽ hình để đem bày vào tủ gương trong viện bảo nghệ ; sau hết đến cái vườn hoa kỳ dị của Thái tử. Vườn ấy các nước láng giềng đều cho là đẹp và quý gấp bội vườn thượng uyển, và vua nước Ba tư vừa cho sứ giả sang xin một vài giống hoa lạ mà Thái tử gây được. Đó thực là thứ quý nhất trong những thứ quý ở dưới triều Bệ hạ...

Tức thì hoàng đế nổi trận lôi đình:

- Thái tử là một tên tặc tử bất hiếu bất mục. Nó nhờn trẫm, nó dám lấn trẫm ư? Phải bỏ ngay nó vào ngục tối.

Thứ phi làm ra bộ sợ hãi, vội quỳ xuống tâu:

- Muôn tâu Thánh thượng, xin Thánh thượng hãy dẹp cơn thịnh nộ để thần thiếp được bầy tỏ hết lời. Muôn tâu Bệ hạ, nếu Bệ hạ bỏ ngục Thái tử thì tội thần thiếp rất lớn, đã vô tình gây nên cái vạ này. Vả dưới trời, cái gì không là của Bệ hạ. Thái tử là thái tử của Bệ hạ thì cái vườn quý của thái tử không là của Bệ hạ, còn là của ai? Vậy, muôn tâu Bệ hạ, sao Bệ hạ không cứ để thái tử đứng trông nom chăm chỉ nơi vườn ấy, để thỉnh thoảng Bệ hạ ngự tới thưởng hoa?

Hoàng đế vui cười:

- Hay! Hay! Nếu ái khanh không tâu bày rõ các lẽ thì suýt nữa trẫm đã lỡ lầm.

Thứ phi lại tiếp:

- Muôn tâu Bệ hạ, nay gặp tiết thu mát mẻ, chính là thời hoa cúc thịnh khai. Thái tử có gây được một loại hoa cúc tên gọi "Cúc huyền", lấy giống ở tận vùng cao nguyên xứ Tây tạng ; hoa vừa rộng, vừa dày, cánh dài và đen và mịn và mượt như tuyết nhung đen. Thứ hoa quý ấy mỗi năm nở có một lần vào trung tuần tháng chín và hiện Thái tử giữ rất bí mật để một mình thưởng lãm. Vậy sao Thánh thượng không hạ lệnh truyền cho Thái tử đến hôm rằm tháng chín này đặt tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự ngoạn cúc?

Hoàng đế lại vui cười:

- Hay! Hay! Ái khanh tâu rất hợp ý trẫm.

Bèn tức tốc cho đòi quan ngự-tiền-thống-sự vào cung thảo ngay một đạo chiếu chỉ truyền cho thái tử phải đúng hôm đêm rằm tháng chín sửa soạn một tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự lãm hoa cúc huyền lấy giống ở vùng cao nguyên xứ Tây tạng. Lời chiếu thêm rằng: "Nếu Thái tử cố ý tàng nặc loài hoa quý, thì cứ chiếu luật Đại-Trung-Quốc mà kết tội, tội khi quân và tội tàng nặc một thứ quốc bảo."

Thái tử đương đứng ngắm mấy giò bạch cúc hàm tiếu thì quân hầu vào báo có chiếu chỉ Thánh hoàng. Chàng vội truyền bày hương án, đốt hương trầm lạy tám lạy rồi quỳ nghe tuyên chiếu.

Lời chiếu vừa ngứt thì suýt nữa Thái tử ngứt theo. Chơi hoa trong bao nhiêu năm nay, chàng chưa từng biết có loại cúc huyền. Mà nói gì loại cúc! Có loại hoa nào cánh lại đen và mịn và mượt như nhung đen? Chàng mong rằng vua cha lầm màu huyền với màu tím thẫm ; nhưng không, lời chiếu đã cắt rõ nghĩa chữ "màu huyền" là màu đen và mịn và mượt như nhung đen. Thật là minh bạch, không còn lầm lẫn gì nữa, không còn ngờ vực gì nữa.

Song Thái tử cũng cố gượng phủ phục xuống thảm vàng và tung hô: "Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế, đứa con bất hiếu này xin khâm mạng." Vì Thái tử làm một người con chí hiếu, không dám trái lệnh vua cha một lần nào, dù công việc vua cha giao phó cho khó khăn và nguy hiểm đến đâu mặc lòng.

Nhưng lần này công việc vua cha giao phó cho lại không còn là khó khăn và nguy hiểm nữa. Đó hình như là một công việc không làm nổi, không thể làm được.

Dầu sao, Thái tử cũng bình tĩnh cho đòi quan coi vườn đến mà bảo rằng:

- Phụ hoàng vừa xuống chiếu truyền cho ta đến rằm tháng chín này đặt tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự lãm loại cúc huyền của ta, loại cúc cánh đen và mịn và mượt như tuyết nhung đen.

Quan coi vườn vội kêu:

- Tâu Điện hạ, trong vườn không có loại cúc huyền mà kẻ hạ thần thiết tưởng trong thiên hạ làm gì lại có được một loại cúc huyền?

Thái tử thản nhiên nói:

- Phụ hoàng đã truyền có thì phải có. Phụ hoàng đã muốn coi thì phải tìm ra cho bằng được, dù trong sự tìm kiếm phải hi sinh đến tính mạng.

- Vậy kẻ hạ thần xin đem đầu dâng lên Thánh thượng để chịu tội thay cho Thái tử, chứ quả thực kẻ hạ thần đã đọc hết các sách đông, tây khảo cứu về khoa thảo mộc học mà chưa từng thấy có bản chép đến, đả động đến một loại cúc huyền bao giờ. Tâu Điện hạ, có chăng loại cúc huyền chỉ là một loại cúc "huyền ảo" do khối óc tưởng tượng loài người phác họa ra.
 
Thái tử chau mày, gắt:
 
- Ngươi cứ nói loanh quanh mãi. Phụ hoàng đã nói ở vườn ta có loại cúc huyền thì vườn ta phải có. Mà nếu chưa có thì phải tìm kiếm xem ở đâu có để mua... Hay ta thử sang tận vùng cao nguyên xứ Tây tạng là nơi sản xuất giống cúc huyền, như lời chiếu chỉ đã dạy?

Tức thì Thái tử kén đủ một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước, cho cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước, cùng viên quan coi vườn ngay hôm ấy khởi hành sang Tây tạng để mua cúc huyền.

Giòng giã hơn tháng trời, quan coi vườn và một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước vẫn chưa trở về. Mà hôm nay đã là mười ba tháng chín. Hai hôm nữa hoàng đế sẽ ngự giá đến xem cúc huyền.

Thái tử mong ngóng tin tức và lo sợ mất ngủ mất ăn. Ngày ngày chàng ra thăm những khóm cúc trong vườn. Các hoa đều đã hàm tiếu. Thái tử đi từ gốc nọ sang gốc kia, nhận xét từng  hoa một: bông thì vàng, bông thì trắng, bông thì tím, bông thì hồng. Tịnh không một bông nào có chớm sắc đen. "Mà đen sao được!" Thái tử mủm mỉm nghĩ thầm.

Hy vọng Thái tử chỉ đặt vào đoàn phái bộ sang Tây tạng. Hy vọng mong manh nhưng vẫn còn là hy vọng. Biết đâu, phải, biết đâu Trời, Phật lại không phù hộ, độ trì, lại không đoái tưởng tới tấm lòng hiếu thảo của Thái tử mà khiến cho đoàn phái bộ thành công.

Đêm hôm ấy quan coi vườn và một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước vẫn chưa về. Suốt năm canh thái tử đứng trên lầu cao đăm đăm trông về hướng tây, lắng hết tinh thần để đợi nghe một tiếng nhạc ngựa.

Bình minh hôm sau, quan coi vườn và ba viên kỵ sĩ phi tuấn mã về tới đông cung. Chín mươi bảy, người và ngựa, hoặc ốm, hoặc chết, rải rác ở dọc đường.

Thái tử vội chạy xuống lầu và cất tiếng hỏi:

- Bông cúc huyền...?

- Muôn tâu Điện hạ không có cúc huyền!

Rứt lời, quan coi vườn nằm vựt ra, ngất vì mệt.

*

"Còn có đêm nay nữa. Đêm mai..." Thái tử không dám nghĩ trọn tư tưởng.

Chàng thong thả, buồn rầu, đi tản bộ trong vườn, bên những khóm mẫu đơn, khóm cúc đã bán khai, và rung rinh dưới ánh trăng vàng. Chàng ngửng nhìn trời, trời không một gợn mây nhỏ. Bóng Hằng Nga lấp ló sau mành tơ liễu thướt tha, như còn e lệ thẹn thùng. Thái tử thầm nghĩ: "Chị Hằng ơi, chị có mưu kế gì cứu ta ra khỏi nỗi khó khăn này không? Đêm mai, nếu ta không có bông cúc huyền để tiến dâng Hoàng phụ thì ta sẽ bị khép vào tội tàng nặc, và chị sẽ không còn được thấy bóng ta ẩn hiện trong bóng lá, bóng hoa..."

Bỗng, kinh ngạc xiết bao! Trong tia ánh trăng, một thiếu nữ hiện ra, một thiếu nữ vận xiêm áo màu xanh, vén màn liễu bước tới trước mặt thái tử vái chào và lễ phép hỏi:

- Thưa, tiện tỳ xin hầu đấng Đông cung Thái tử.

Thái tử ngây người đứng lặng.

"Lạ! Đêm khuya... Người con gái này từ đâu lọt được vào trong cung điện, trong vườn riêng..." Ả thanh y nhắc lại:

- Thưa ngài, tiện tỳ muốn xin vào yết kiến đức Đông cung Thái tử.

Thái tử quát hỏi:

- Ngươi là ai? Ở đâu đến đây?

- Thưa, các cô chủ của tiện tỳ ở ngay gần đây. Các cô chủ sai tiện tỳ sang xin Thái tử một việc...

- Chính ta là Thái tử. Các cô chủ ngươi muốn xin điều gì?

Ả thanh y thụp xuống lạy:

- Đông cung Thái tử thiên tuế, thiên thiên tuế! Các cô chủ tiện tỳ muốn xin Điện hạ rộng phép cho mượn đình Khán hoa của Điện hạ để họp mặt đêm nay.

Thái tử nghĩ thầm: "Các cô chủ... họp mặt." Rồi tò mò hỏi:

- Họp mặt để làm gì? Mà các cô chủ ngươi là ai đó?

- Tâu Điện hạ, các cô chủ tiện tỳ là những cô láng giềng của Điện hạ. Đêm nay các cô chủ họp kỳ hội đồng bất thường để bàn về một việc tối quan trọng.

Thái tử càng kinh ngạc: "Các cô láng giềng... Cạnh đông cung có thấy bóng thiếu nữ nào đâu?... Mà sao lời lẽ đứa nữ tỳ này chải chuốt là như thế?" Chàng mỉm cười đáp:

- Được, ngươi về nói các cô chủ cứ tới Khán hoa đình mà họp phiên hội đồng bất thường. Ta cho phép, nghe!

- Dạ!

Ả thanh y mừng rỡ vái chào lui gót.

*

Thái tử đứng chờ xem những cô láng giềng là những thiếu nữ nào mà xưa nay chàng chưa từng gặp mặt. Chỉ một lát sau, một luồng gió nhẹ thoảng đưa hương trầm. Tơ liễu se sẽ rung động, cành lá se sẽ dãn ra. Từ bốn phía các thiếu nữ khoan thai bước tới. Thái tử ngơ ngác nhìn: toàn những giai nhân không quen biết và toàn những nhan sắc tuyệt vời. Mỗi người mỗi đẹp, không thể cho được ai hơn ai: Có những tấm thân mảnh dẻ nhưng rất nở nang cân đối. Có những tấm thân đầy đặn nhưng không to béo nặng nề. Nước da mịn và mát. Khuôn mặt hoặc bầu dục, hoặc trái xoan, hoặc tròn trĩnh đều có những nét nhịp nhàng và linh động. Vẻ mặt hoặc thùy mị, hoặc sắc sảo, hoặc nhanh nhẹn đều nhuốm một tinh thần trang nhã nên thơ. Y phục thì hầu đủ hết các màu tươi sáng: màu hồng, màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu trắng, màu tía, màu tím, màu nâu, hoặc đậm hoặc nhạt, hoặc nổi, hoặc chìm và luôn luôn biến sắc dưới ánh trăng thu, thướt tha uyển chuyển như những cánh hoa hoạt động trong làn gió sớm.

Thái tử hoa cả mắt. Và chàng nhẩm đếm: có tới linh một trăm thiếu nữ!

Một nàng y phục màu nguyệt bạch, tiến lên trước, nói:

- Kính tâu Điện hạ, em xin thay mặt tất cả các chị em đông đủ ở đây mà cúi chúc Điện hạ thiên tuế, thiên thiên tuế. Sau nữa xin dâng lời cảm tạ Điện hạ đã rộng lượng cho mượn nơi cung điện thâm nghiêm để họp mặt tối hôm nay.

Thái tử ngây ngất nghe những lời nói dịu dàng, thánh thót như tiếng ca chim hoàng oanh trong khóm hoa thơm mát. Và chàng lẳng lặng giơ tay mời các thiếu nữ bước lên đình Khán hoa.

*

Trong đình Khán hoa cao rộng, tường cột sơn một sắc thiên thanh, các thiếu nữ nghiêng mình ngồi trên đôn sứ. Nàng mặc áo màu nguyệt bạch đứng lên nói:

- Kính tâu Điện hạ, trước khi khai hội đồng, em... mà các chị em đây đã yêu mến bầu vào ghế chủ tịch, em xin giới thiệu các chị em với Điện hạ đã. Em và hai hiền muội (trỏ hai thiếu nữ cùng một khuôn mặt, và vận áo màu hồng, màu tía) họ Ngưu, tiểu tự Bạch-mẫu-đơn, Hồng-mẫu-đơn, Tử-mẫu-đơn. Tám chị đây cùng một vẻ mềm mại, phong nhã là tám chị em họ Giản, tiểu tự Tố Tâm, Bạch Ngọc, Nhất Điểm, Triết Đông, Hoắc Lan, Cẩm Lan, Phong Lan, Diệp Lan. Chị mặc chiếc áo màu hồng ngồi bên là chị Lệ Đường. Em chị mặc áo màu hồng ngồi bên là chị Hải Đường. Ba chị quàng khăn lụa mỏng, màu phơn phớt trắng, hồng và tía là ba chị em họ Triệu, tiểu tự Bạch Đào, Hồng Đào và Tử Đào. Ngồi đối diện là hai cô em ngoại thích của các chị Đào. Một chị họ Mai, một chị họ Lý, cả hai đều cốt cách thanh tao, dáng dấp già dặn. Chị ngồi sau lưng da mịn như bạch ngọc, tóc sáng như mây chiều, đầu đội mũ vàng, mình mặc áo đoạn trắng, cổ choàng khăn lụa xanh, là chị Tiên Nga họ Thủy. Bốn chị đội mũ cánh sẻ màu vàng, màu trắng, màu tím, màu đỏ đều họ Kim tên Tước. Còn năm chị mặc áo màu rực rỡ kia thì họ Quỳ, tên Cẩm, tên Phù, tên Thục, tên Thu, tên Hướng-nhật. Chị mặc áo hồng nhạt, tay cầm chiếc quạt lông cánh trả là chị Phù Dung họ Thu. Chị đội mũ đuôi phượng ngồi cuối hàng ghế thứ hai là chị Phượng Vỹ họ Kim Tinh. Chị có tấm thân mảnh dẻ và nước da như tuyết là chị Huệ họ Bội Lan. Chị mặc áo màu lá mạ đứng tựa cột bên hàng hiên kia tục danh là chị Thiên-lý. Vận áo nhung tơ và ngồi đầu hàng đôn thứ ba là chị em chị Mai Khôi họ Nguyệt-quý tiểu tự Lê Dương, Hoàng Yến, Hồng Nhung, Hồng Quế. Đứng vịn vai chị Hoàng Yến là cô em họ chị, tiểu tự Tầm Xuân.

Thấy nàng Mẫu Đơn kéo dải cuộc giới thiệu, nàng Bạch Cúc sốt ruột và tức tối, vì mãi chưa thấy nàng chủ tịch đếm xỉa đến họ Cúc nhà mình, một họ lớn vào bực nhất, danh giá vào bực nhất. Nàng liền đứng lên mỉa mai ngắt lời:

- Em xin phép bàn chen một câu, một câu thôi. Em thiết tưởng ông Hoàng tử đáng tôn kính của chị em chúng ta hẳn đã tế nhận từng nét, từng màu trong nhan sắc và y phục của chị em chúng ta rồi, lọ là chị chủ tịch họ Ngưu còn phải tả tỉ mỉ cho mất thời giờ.

Nàng Mẫu Đơn mỉm cười mỉa mai đáp lại:

- Cũng cần nói thêm qua loa để Thái tử biết rõ cỗi rễ từng họ từng chi một chứ. Chẳng hạn nếu không tả minh bạch - minh bạch chứ không phải tỉ mỉ - thì Thái tử biết đâu rằng chị với các chị Thược Dược cùng ở trong một họ Bao.

Nàng Bạch Cúc trở nên ranh mãnh:

- Còn ai hiểu họ hàng tung tích chị Thược Dược bằng chị!

Các thiếu nữ che miệng khúc khích cười vì đều biết rằng nàng Mẫu Đơn tuy được bầu lên địa vị hoa khôi, mà vẫn có máu Thược Dược trong huyết quản, và họ Ngưu chỉ là một chi nhánh của đại tộc Bao. Thấy được chị em khuyến khích, nàng Bạch Cúc càng tàn nhẫn:

- Nếu cần phải nói minh bạch thì sao chị không thuật lại cả cái lai lịch vẻ vang của chị?

Cử tọa cười càng to, vì ai cũng còn nhớ năm xưa họ Mẫu Đơn bị hoàng hậu Võ Tắc Thiên đầy xuống Giang-nam một dạo.

*

Từ nãy Thái tử vẫn ngồi im, âm thầm nhận xét từng thiếu nữ. Bây giờ thấy có sự xích mích giữa hai nàng Mẫu Đơn và Bạch Cúc, chàng liền đứng lên nói:

- Thưa các tiểu thư, đáng lẽ trong phiên hội họp của các tiểu thư kẻ dự thính này không được phép bàn chen một câu. Nhưng vì sau một cơn bàng hoàng - mà đứng trước những tấm nhan sắc như kia, ai là không bàng hoàng? - tôi đã nhận ra rằng các tiểu thư và tôi quả là chỗ lân cận, quen biết, vì thế tôi mới dám cùng các tiểu thư bàn một câu này : Tôi thiết tưởng đã quen biết nhau thì lọ là còn phải giới thiệu. Vâng, chẳng rõ các cô thế nào chứ tôi thì tôi đã nhận ra từng cô. Thực vậy, cô Mộc Lan ạ, cô đừng ngờ vực mà thì thầm với em là cô Mộc Liên nữa. Đứng bên cô há chẳng phải các cô Mộc Quế, Mộc Cẩn, Mộc Hương? Trong họ Mộc, ai nấy vẫn được bình yên cả đấy chứ? Còn ba cô Tiễn-xuân-la, Tiễn-hồng-la, Tiễn-thu-la chẳng hay lâu nay có cắt được bộ y phục kiểu mới nào không? Cô Thụy Hương thì tôi chắc vẫn tự chế lấy các thứ nước thơm xức tóc mà dùng... Ồ! Suýt nữa tôi quên cô Bạch Liên và cô Hồng Liên họ Hà. Hai cô vẫn cứ bẽn lẽn như thường.

Các thiếu nữ vui cười quay nhìn cả về phía hai nàng Bạch Liên và Hồng Liên đang cầm chiếc quạt xanh hình tròn che khuất của mặt hoa.

Một thiếu nữ mặc áo màu thiên lý đứng lên. Cử tọa thì thào: "Chị Hoàng Lan." Nàng nói:

- Chị chủ tịch họ Ngưu cho mời chị em ta đến họp tối hôm nay tại Khán hoa đình, có việc gì quan trọng không hay chỉ có một mục đích đem chúng ta ra giới thiệu với ông Hoàng tử?

Nàng Mẫu Đơn vội đáp:

- Có chứ! Bây giờ giới thiệu xong rồi, em xin tuyên bố khai mạc hội đồng. Hôm nay chúng ta đem ra bàn có một việc, nhưng việc ấy rất quan trọng. Nguyên ít lâu nay tất cả chị em ta đều nhận thấy sự thay đổi của Thái tử. Ngài không vui tươi như trước nữa. Lúc nào ngài cũng ủ rột, âu sầu, và có vẻ tư lự. Sáng hôm nay em lại nghe thấy hai thi sĩ Hoàng Oanh và Bạch Yến xướng họa với nhau, trong thơ ca đầy những lời cảm động, đầy những tứ oán trách. Chúng ta ngờ rằng ở Đông cung sắp xảy ra điều gì dữ dội. Hôm nay chị em chúng ta họp mặt tại đây, đáng lẽ để cử một đại sứ đến thăm Thái tử và hỏi ngài xem duyên cớ vì đâu ngài buồn phiền, sầu não, xem duyên cớ vì đâu lại có những bài ca như than như khóc ở khu vườn này, là nơi bao giờ cũng chỉ có những màu trong sáng và những lời ca êm ấm, vui tươi. Nhưng, may thay, ngài lại có mặt tại nơi hội họp, vậy chúng ta có nên đem điều ấy ra hỏi thẳng ngài không, và làm như thế, có khỏi đường đột không?

*

Thái tử không đợi lời đáp của cử tọa, vội đứng lên nói:

- Làm như thế không có gì là đường đột cả. Thưa các tiểu thư, quả thực tôi buồn phiền lắm. Mà có lẽ chỉ một hôm nữa là tôi sẽ phải rời bỏ nơi vườn này và xa hẳn các cô láng giềng xinh đẹp của tôi.

Ở khắp các hàng đôn, xôn xao những câu kinh hoảng:

- Rời cái vườn này? Rời cung điện này?

Thái tử cười buồn nói tiếp:

- Có khi bị kết vào án tử hình nữa là khác.

Tiếng kêu rú lên:

- Trời ơi! Tử hình!

- Có thể lắm. Vì tôi đã phạm một tội rất nặng, tội tàng nặc một thứ quốc bảo, mà tôi chưa từng biết rằng có ở dưới trời này. Quốc bảo đó là... là bông Cúc huyền.

- Cúc huyền!

Ai nấy nhao nhao lên và nhìn dồn cả về phía các nàng Cúc rực rỡ trong các bộ y phục mới, màu trắng, màu vàng, màu hồng, màu tím, màu nâu.

Thái tử nói tiếp:

- Hoàng đế xuống chiếu truyền đêm mai là rằm tháng chín Ngài sẽ ngự giá đến thưởng ngoạn Cúc huyền  của tôi ở nơi vườn này. Mà Cúc huyền quả tôi không có, và tôi thiết tưởng cũng chẳng đâu có.

Náng Nhất Điểm đứng lên hỏi:

- Thưa các chị Bạch Cúc, Đại Đóa, Kim Cúc, Hồng Cúc, Tử Cúc, trong các họ Cúc, họ Bao, có ngành nào là ngành Cúc-Huyền không?

Nàng Mẫu Đơn thay lời đáp:

- Nói gì trong họ Bao, đến cả trong Hoa quốc chúng ta, tìm đâu cho ra một màu đen, một màu huyền?

Nàng Bạch Đào thỏ thẻ:

- Nhưng nay Hoàng thượng bắt phải có Cúc huyền, thì biết làm thế nào?

Thái tử cúi nhìn đáp:

- Thì thái tử này đành chịu tội, chứ biết sao?

Nàng Mẫu Đơn tiếp luôn:

- Và vườn này sẽ bị tàn phá hay lọt vào tay một người khác, một người không thương yêu hoa. Không, không thể thế được. Chị em chúng ta phải bày mưu lập mẹo giúp Thái tử ra khỏi bước khó khăn.

Nàng Hoàng Cúc buồn rầu láy lại:

- Bày mưu, lập mẹo! Mưu gì? Mẹo gì?

Nàng Kim Tước đứng lên hỏi:

- Nhưng các chị có biết màu đen hay màu huyền thế nào không đã?

Tiếng thì thào ở khắp các ghế: "Ừ, màu huyền là màu gì nhỉ? Màu đen như thế nào nhỉ? Chị có thấy màu đen là màu gì không?

- Em biết màu huyền là màu gì rồi!

Mọi người quay lại nhìn xem ai, thì ra đó là nàng Tiễn-xuân-la. Liền tranh nhau hỏi:

- Màu huyền là màu gì? Màu huyền như thế nào?

- Màu huyền là màu không trắng, không xanh, không lam, không hồng, không tím, không vàng, không đỏ, không nâu.

- Rồi gì nữa? Hình trạng nó như thế nào?

- Nó thế.

Cử tọa cười vang. Nàng Tiễn-xuân-la xấu hổ ngồi xuống. Nàng Mẫu Đơn nói:

- Màu huyền là một màu không có trong loài hoa. Nhưng biết đâu lại không có trong loài người. Chi bằng đem hỏi Thái tử xem màu ấy thế nào.

Thái tử mỉm cười đáp:

- Màu huyền, như cô Tiễn-xuân-la đã nói, không phải là màu đỏ hay màu tím, hay màu lam, hay màu lục. Nhưng nếu đem những màu ấy trộn lẫn nhau và trộn cho khéo, cho đúng phân ly thì chúng ta sẽ có một màu mà người ta gọi là màu huyền.

Một vài thiếu nữ khúc khích cười:

- Thái tử giảng như thế, chúng ta vẫn không thể mường tượng ra được màu huyền.

Thái tử như chợt nghĩ ra:

- À được! Tôi xin đi lấy màu huyền cho các cô xem.

Chàng liền vào nội cung, mở rương lấy chiếc áo khoác nhung tơ màu đen, cầm ra Khán hoa đình bảo các thiếu nữ:

- Đây, màu huyền đây. Cái áo khoác này tôi vừa may xong, định để sang xuân đem tặng công chúa nước Nam chiếu mà tôi muốn tới du lịch. Đây, các cô coi, tuyết mịn và mượt, các cô xét kỹ đến đâu cũng không tìm ra được một sợi tơ không huyền lẫn ở trong. Vì thế mà chiếc áo khoác nầy rất quý.

Các thiếu nữ chạy xô cả lại gần chỗ Thái tử đứng:

- Đó là màu huyền? Ồ! Màu huyền lạ nhỉ!

Thái tử mỉm cười bảo Bạch Cúc:

- Vậy Bạch Cúc tiểu thư ướm thử chiếc áo vào người xem có nổi không nào?

- Phải đấy! Phải đấy! Chị Bạch Cúc mặc thử xem. Ra! Ra mau!

Các thiếu nữ xúm nhau lôi, đảy nàng Bạch Cúc ra giữa phòng, rồi khoác chiếc áo màu huyền lên người.

- Không! Mặc vào kia! Mặc hẳn hoi vào đã.

Bạch Cúc bẽn lẽn và lúng túng làm theo, xỏ tay, thắt giải, vuốt tà. Tiếng vỗ tay trong những tiếng mừng reo:

- Bông Cúc Huyền! Bông Cúc Huyền đẹp lắm! Có bông Cúc Huyền rồi!

Thái tử ngắm nghía nói:

- Cúc Huyền đẹp thực!

Nàng Bạch Mẫu Đơn giọng ghen tị:

- Tâu Điện hạ, thế Mẫu Đơn huyền có đẹp không?

Thái tử vội chữa:

- Đẹp lắm chứ. Cô nào mặc màu huyền cũng nổi, cũng đẹp.

Bỗng có tiếng gà gáy sáng. Các thiếu nữ vội vàng chạy cả ra vườn:

- Thôi, kính chào Điện hạ. Sẽ có buổi tái ngộ.

Thái tử buồn rầu, mơ mộng nhìn theo bầy thiếu nữ rẽ lá, tản mát đi vào trong hoa.

*

Sáng hôm sau, Thái tử tỉnh giấc, thấy mình nằm ngủ trong một gian phòng ở đình Khán hoa. Chàng bỡ ngỡ nhìn quanh phòng một lượt, rồi đứng dậy sang bên khách sảnh là nơi chàng nhớ có cuộc hội họp tối hôm qua. Các đôn sứ vẫn còn bày thành hàng rất có trật tự. Và phảng phất chàng còn ngửi thấy mùi hương, trong đó chàng nhận ra được hương từng mỗi thứ hoa.

Vậy mộng hay thực? Thái tử thầm hỏi.

Chàng bước xuống vườn. Ngoài vườn hoa phù dung, hoa cúc đua nở, hớn hở trong gió thu lạnh, trong sương thu lam.

Thái tử lại gần:

Trong đám cúc đủ các màu, màu trắng, màu hồng, màu nâu, màu tía, màu tím, màu vàng, giữa những màu tươi sáng ấy, kỳ dị thay! đứng khép nép như thẹn thùng trong y phục mới một bông cúc đẹp nhất, có dáng dấp nhất, một bông cúc huyền, cánh đen và mịn và mượt như nhung tơ.

Thái tử mỉm cười nhìn bông hoa mới:

Rồi thản nhiên hạ lệnh sửa soạn tiệc yến để nghênh thánh giá tối hôm nay.

 
 KHÁI HƯNG         
10 - 1 - 43            
Cấm phỏng theo soạn kịch.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

CÁI ẤM ĐẤT - Khái Hưng


Ngày xưa có một người cự phú xứ quê ốm nặng và biết mình thế nào cũng sẽ từ trần, liền gọi ba con trai đến bên giường mà bảo rằng:

- Cha sinh được ba con, nhờ trời cùng khỏe mạnh và nết na. Đó là sự quý báu và sung sướng nhất trong đời cha. Trong đời cha, cha đã làm nhiều điều ác, nhiều sự bất công, cha xin thú thực thế trước khi nhắm mắt vĩnh biệt các con. Nhưng đối với các con thì cha chỉ có một lòng thương mến, chiều chuộng. Có lẽ cũng vì quá thương mến chiều chuộng các con, và quá nghĩ đến tương lai tốt đẹp của các con mà cha đã ác nghiệt, bất công đối với kẻ khác. Trong khoảng bao nhiêu năm cha đã bòn chắt làm giàu, cha đã hà hiếp bóp hầu bóp họng người ta để có được cái tài sản ngày nay mà cha sắp đem chia cho ba con, chia một cách thực công bằng, nghĩa là chia ra ba phần thực ngang nhau.

Người ốm mỉm cười chua chát nói tiếp:

- Sự công bằng, cha vẫn yêu quí sự công bằng, khốn nỗi cha lại yêu quí các con hơn sự công bằng, vì thế mà dù bản tâm công bằng cha đã nhiều lần trở nên thiên lệch. Thôi thì không công bằng với người đời, ít ra hôm nay cha cũng công bằng được với các con. Cha muốn rằng sau khi cha từ trần, các con sẽ không kêu ca một điều gì về sự bất công của cha, và sẽ hoàn toàn ưng thích phần gia tài mà cha sắp chia cho.

"Đây, ba phần tài sản ấy đây, cha đã chia từ lâu (vừa nói người cha vừa đưa ra một bản chúc thư). Nay chỉ việc điền tên các con vào phần các con ưng thuận. Ba phần ấy là: Phần thứ nhất, cái dinh cơ này và ao vườn bao bọc, chung quanh có tới dăm chục mẫu ; phần thứ hai, hai trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu ; phần thứ ba, một cái ấm đất..."

Người con cả và người con thứ hai cùng ngắt lời, kêu:

- Một cái ấm đất?

- Ừ, một cái ấm đất. Cái ấm đất ấy hiện cha chôn ở dưới một chân giường cha đương nằm đây. Cha yêu quí nó lắm. Ở đời nếu có vật gì cha yêu quí hơn cả các con thì vật ấy là cái ấm đất của cha. Chính nhờ nó mà ngày nay cha có nhà cửa nguy nga và ruộng vườn hằng trăm mẫu. Các con hãy để cha kể lịch sử nó cho các con nghe.

"Hẳn các con cũng biết mang máng rằng ngày xưa cha nghèo lắm. Nhưng chắc các con chưa rõ, chắc các con không thể tưởng tượng được cha nghèo đến bực nào. Ông bà sớm mất, cha phải mang thân đi tha phương cầu thực, trong hầu bao chỉ vẻn vẹn có hơn quan tiền. Đó là tất cả gia tài mà ông để lại cho cha, vì túp nhà tre lợp rạ làm nhờ trên một miếng đất công của làng đã đổ sụp sau một trận bão lớn. Nhưng dù nghèo và mới mười hai tuổi đầu cha vẫn không lo chết đói, cha vẫn tin ở sức cha, ở lòng can đảm của cha và hy vọng ở tương lai, tuy tương lai chỉ lờ mờ xa lắc.

"Buổi đầu bỡ ngỡ, và không có chủ kiến, không có mục đích, cha đi lang thang trên đường cái, định bụng hễ gặp việc gì thì làm việc ấy. Nhưng chả gặp việc gì. Vì thế, khi tới một tỉnh lỵ, cha đã ăn lấn vào cái vốn liếng nhỏ mọn mất gần một nửa. May sao, trời phật dun dủi, một hôm cha gặp một thằng bé tay xách cái ấm đất, tay cầm cái bát sành, miệng cất tiếng rao lanh lảnh: "Có ai nước vối nóng, hai đồng một bát không nào?"

"Cha như chợt trông thấy con đường đi của mình. Thế là cha làm thân với thằng bé, hỏi nó cách thức bán hàng và ngày hôm sau chả trở nên một bạn đồng nghiệp của nó...

"Câu chuyện dài lắm, mà cha lại sợ mệt không đủ sức kể hết đầu đuôi, ngành ngọn cho các con nghe được. Các con chỉ nên biết rằng cha xuất thân với nghề bán nước vối rong, và cái đồ vật nuôi sống cha lúc buổi đầu, hơn thế, cái đồ vật đã gây cho cha cái lưng vốn thứ nhất nó sinh sôi nẩy nở mãi ra cho tới ngày nay là cái ấm đất quí báu, là cái ấm đất linh thiêng giấu ở trong một bí mật dị kỳ, cái ấm đất mà cha sắp đem chia cho một trong ba con yêu mến của cha. Nó là người bạn hàn vi của cha. Nó là người bạn thân mật trong một quãng đời trong sạch của cha, vì ngày còn phải kiếm ăn với cái ấm đất, cha rất hiền lành, ngay thẳng, thành thực. Rồi sau, một ngày một thêm giàu có, cha cũng một ngày một thêm lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn. Nhà cửa đồ sộ, cha dựng lên bằng mồ hôi nước mắt của người đời ; vườn, ruộng mênh mang, đó là những giọt máu đào của người đời mà cha đã khôn khéo, gian ngoan chiếm đoạt. Đến như cái ấm đất nuôi sống cha thì nó hoàn toàn trong trắng, không hề nhuộm máu, đựng mồ hôi nước mắt của một ai."

Ngừng một lát, yên lặng nhìn đình màn nghĩ ngợi, rồi người cự phú lại nói: "Cái ấm đất chứa một bí thuật sung sướng, và cha đã sung sướng nếu cha đã tha thiết muốn sung sướng... nhưng cha đã dại dột chỉ muốn giàu có... Nhưng đó là một điều bí mật mà cái ấm đất sẽ giúp một trong ba con khám phá ra. Vì thế cái ấm đất của cha sẽ là cái ấm đất yêu quí, cái ấm đất đạo đức, phần gia tài mà cha dành cho con nào xứng đáng nhất. Vậy các con thử trả lời mỗi đứa một câu xem đứa nào sẽ có hân hạnh, sẽ có diễm phúc được chia phần gia tài trong sạch và thiêng liêng ấy.

Người con cả vội đáp:

- Thưa cha, đời cha thực là một cái gương kiên nhẫn, cần lao, đạo đức cho chúng con và cho khắp mọi người soi. Cái cơ nghiệp hằng vạn của cha, cha đã tay trắng làm nên...

Người cha giơ bàn tay ra vội gạt:

- Không, cha khởi cơ nghiệp bằng cái ấm đất. Vậy con phải nói: Cha đã ấm đất dựng lên nhà gạch mới đúng.

- Dạ, con cũng biết thế. Nhưng xây nhà xây cửa, tậu vườn tậu ruộng, há không phải do hau bàn tay trắng với lòng kiên nhẫn, với cái thông minh mẫn tiệp của cha? Trên đời có biết bao nhiêu đứa trẻ bán nước vối, vậy thử hỏi ngoài cha ra đã một ai làm nên trăm nên nghìn chứ đừng nói làm nên vạn như cha vội. Vậy thì cái ấm đất chỉ là một vật, một khí cụ mà cha đã dùng trước là để kiếm ăn, sau là làm giàu, cũng như cái cầy, cái bừa, chẳng hạn. Vâng, thưa cha, cái cầy, cái bừa, con trâu đã giúp cha gây dựng cơ nghiệp to tát, con thiết tưởng ít ra ba thứ ấy cũng phải được xếp ngang hàng với cái ấm đất chứ. Cớ sao cha lại nỡ bên trọng, bên khinh...

Người cha mỉm cười ngắt lời:

- Thôi, con không nên dài lời vô ích, cũng không nên bắt bẻ cha, tội nghiệp. Cha hiểu ý con rồi. Con muốn được chia phần hai trăm mẫu ruộng và năm chục con trâu chứ gì?

Người con yên lặng cúi đầu không đáp. Người cha lại nói:

- Quả thực con không xứng đáng được cha chia cho cái ấm đất trong sạch và thiêng liêng của cha. Vậy đem bút mực đây để cha điền tên con vào chỗ phần thứ hai.

Người con cả, sung sướng chạy vội đi lấy cái bút và nghiên mực đặt ở bên mình cha, rồi đưa tay ra sau gáy nâng cha ngồi dậy. Người ốm vừa viết vừa nói:

- Đáng lẽ cha phải chia cho con phần dinh cơ vì trong đó có nhà thờ thờ ông cha, mà con lại là con trưởng. Nhưng con đã thích ruộng, thích trâu, thì cha cũng chia ruộng trâu cho con. Cha không muốn làm phật lòng các con trước khi cha nhắm mắt. Bây giờ đến lượt anh Hai. Anh nghĩ sao? Anh thử trả lời để cha xem anh có xứng đáng được hưởng cái phần gia tài quí giá nhất của cha không?

Người con thứ hai lễ phép cúi đầu thưa:

- Cha đã hỏi, con xin thành thực trình bày. Cái ấm đất mà cha vừa kể cho chúng con biết rõ lịch sử, thực là một cái ấm đất quý, một cái ấm đất phi thường, một cái ấm đất thiêng liêng nữa, như lời cha dạy. Nó là người bạn buổi thiếu thời của cha, nó là người bạn trong sạch nhất của cha. Bây giờ cha lại muốn để nó làm bạn với một trong ba anh em chúng con, thì con thiết tưởng kẻ nào được phần danh dự ấy phải là người có tài cao, có đức lớn mới xứng đáng. Nay con tự xét mình con tài hèn đức mỏng...

Người cha vội cướp lời:

- Nghĩa là con không ưng lấy cái ấm đất chứ gì!

- Dạ, xin cha cho phép con nói hết ý nghĩ của con đã. Cha là người có đại tài, đại đức nên đã tay trắng làm nên cơ nghiệp to tát ngày nay. Con nói tay trắng, tuy con vẫn nhớ công cái ấm đất kia. Con nói thế là vì con cho rằng có tài, đức như cha thì dù xuất thân làm nghề gì cha vẫn tới được cái đích giàu có hằng vạn. Cái ấm đất chỉ may mắn được lọt vào tay cha lúc ban đầu. Nếu cha xuất thân làm thợ ngõa thì chắc cái bay, cái thước nay cũng được cha quý trọng như cái ấm đất. Tóm lại, làm nên giàu có là chỉ nhờ về tái đức của cha. Nếu con cũng có tài cao, có đức dầy thì với cái ấm đất cha để cho con, con sẽ cũng làm nổi cơ đồ như cha ngày nay. Nhưng tiếc rằng tài con hèn, đức con mỏng nên không dám cáng đáng lấy cái công việc khó khăn mà những người phi thường như cha mới làm nổi.

Người cha cười:

- Khéo! Khéo! Khéo! Con khéo nói lắm. Như thế kể con cũng có tài đấy, cái tài ngôn ngữ. Nhưng đức của con thì quả còn mỏng mảnh như con nói. Vậy con chưa xứng đáng được cha chia cho cái ấm đất của cha. Còn anh Ba, anh Ba nghĩ sao? Thử nói cha nghe nào.

Người con thứ ba đáp:

- Thưa cha, cái ấm đất của cha thực là một gia bảo của nhà ta, nếu cha giao nó cho con, thì con xin cam đoan với cha rằng con sẽ chăm nom giữ gìn nó, con sẽ là người bạn suốt đời của nó.

Người cha kinh ngạc hỏi:

- Con có đủ tài đức để giữ nó không, để giữ nó mãi mãi không?

- Thưa cha, con không dám tự cao cho rằng con có đủ tài, đủ đức, và con cũng không biết con có xứng đáng được cha giao cho thứ bảo vật yêu quý của cha không, nhưng nếu cha xét thấy con xứng đáng mà ban cho thì con xin vui lòng nhận.

- Con vui lòng?

- Vâng, con vui lòng.

- Nhưng con phải biết phần gia tài ấy chỉ có một cái ấm đất với mười quan tiền để mua nồi, mua vối, mua củi...

- Thưa cha, ngày xưa cha xuất thân chỉ có một cái ấm đất với ngót một quan tiền.

- Con phải đi bán nước vối rong, con sẽ phải cất cao giọng rao suốt ngày ấy sang ngày khác: "Có ai uống nước vối nóng không?"

- Cha làm được thì con cũng xin cố làm được.

- Con sẽ ngủ nhiều đêm ở vệ hè, ở trong quán chợ.

- Người ta ngủ như thế được thì con cũng ngủ như thế được.

- Hai anh con được một người hai trăm mẫu ruộng, và một người cái dinh cơ đồ sộ này, mà con chỉ được mỗi một cái ấm đất, con không suy bì?

- Thưa cha, hai trăm mẫu ruộng, một nơi dinh cơ rộng rãi với một cái ấm đất hơn kém nhau thế nào khó lòng mà so sánh được. Nhưng có một điều con tin chắc, là cha đã chia ra làm ba phần bằng nhau, thì tất ba phần ấy phải bằng nhau, không hơn không kém. Nhận phần hai trăm mẫu ruộng, hay phần dinh cơ, hay phần một cái ấm đất, con tin chắc rằng cũng thế mà thôi, nhất con lại được nghe cha ca tụng cái quãng đời bán nước vối của cha là trong sạch, là sung sướng, và mạt sát cái đời làm chủ nhân ông mấy tòa nhà và hai trăm mẫu ruộng mà cha cho là một đời lừa lọc, gian trá, ác nghiệt, tàn nhẫn. Thưa cha, nếu kiếm ăn với một ấm nước vối là sống và tiêu pha phung phí trong tòa nhà này cũng chỉ là sống thì can gì không chọn lấy cái sống trong sạch và sung sướng kia mà lại đi chuốc lấy cái sống ô trọc, khổ sở này. Thưa cha, con quả quyết xin cha ban cho con cái ấm đất, nếu cha xét con thực xứng đáng được lĩnh phần gia tài quí báu ấy.

Người cha vui cười:

- Xứng đáng thì con xứng đáng lắm rồi. Ngày xưa, lúc lâm chung mẹ con, mẹ con có căn dặn cha rằng thằng Ba khá hơn hai anh nó, vậy khi chia gia tài, phải nghĩ đến nó hơn hai anh nó một chút. Quả thực ngày nay cha thấy rõ ràng con khá hơn hai anh con, và quả thực ngày nay con được cha chia cho phần gia tài đích đáng nhất. Cha cứ tưởng phần gia tài ấy không ai được nhận và cha sẽ phải làm lại chúc thư. Nhưng bây giờ thì cha sẽ yên tâm mà nhắm mắt từ biệt các con.

*

Năm hôm sau người cha chết, chết giữa lúc tâm trí còn sáng suốt, vì lời cuối cùng của nhà cự phú là lời dặn các con nên giản dị trong việc ma chay. Dẫu có lời dối dăng ấy, anh Cả và anh Hai cũng cứ làm ma linh đình để được tỏ lòng hiếu, không phải hiếu đối với cha mà đối với làng xóm, họ hàng. Vì đối với người cha đã qua đời, họ không cần lấy lòng lấy bề như xưa để hòng được hưởng phần gia tài lớn nữa.

Riêng người con thứ ba là thành thực đau đớn. Xưa nay anh vẫn yêu cha, vì yêu cha là một tính tình tự nhiên trong lòng anh. Nhưng từ lúc được nghe mấy lời tâm huyết của cha, tình yêu của anh lại tăng lên bội phần, tình yêu lẫn trong tình thương. Ban ngày ngồi một mình, anh tưởng tượng cái đời vất vả, nghèo đói, khổ sở của cha thủa trước. Anh thấy hiện ra trước mắt một thằng bé rách rưới, gầy còm, xách ấm nước vối chạy rong, miệng luôn luôn giao hàng: "Có ai uống nước vối nóng không nào!". Thằng bé ấy là cha anh, và vài hôm nữa sẽ là anh. Đã có đêm Ba chiêm bao thấy chính Ba xách ấm đi thất tha thất thểu ngoài đường, dưới mưa phùn gió lạnh. Tỉnh dậy Ba lại càng thương cha. Và Ba muốn sống ngay cái đời rét mướt ấy để được biết ngày xưa cha khổ sở đến bực nào.

Anh Cả và anh Hai thương hại em và muốn chia của cho em để em được cùng mình hưởng giàu có. Nhưng Ba nhất định từ chối, nói cha đã chia cho một cái ấm đất và một chục quan tiền để làm vốn mua vối nấu nước bán, thì anh chỉ nhận phần gia tài ấy thôi. Hai anh dọa Ba rằng Ba sẽ chết đói. Ba cười đáp:

- Thế thầy ngày xưa thì sao? Không những thầy không chết đói mà thầy còn làm nên nhà cửa, tậu được ruộng vườn để ngày nay chia cho anh em ta.

Và Ba lại cười. Hai anh cho rằng Ba nói mỉa mai, tức giận im lặng. Vì sự thực những nhà cửa, ruộng vườn ấy chỉ hai anh được hưởng, chứ Ba có dự phần vào đâu. Nhưng cái cười của Ba là cái cười tự nhiên, chứ không có ngụ ý mỉa mai hay oán trách hai anh. Vả lại chính Ba đã bằng lòng và xin nhận cái phần gia tài mà cha cho là trong sách ấy. Anh nghĩ thầm: "Có lẽ cái trong sạch đã làm cho cha sung sướng, khi cha còn bần hàn, vì trong cái đời giàu có của cha, ta chưa từng thấy cha sung sướng bao giờ: lúc nào cha cũng phàn nàn, lo nghĩ, xoay sở, có khi mất ngủ mất ăn. Ta chỉ mong được sung sướng, vậy thì có cái ấm đất mà sung sướng còn hơn có cửa nhà, vườn ruộng mà khổ sở."

Thế là Ba quả quyết với cái chí tự lập lấy thân.

Vừa xong việc tang ma, anh bắt đầu bước vào nghề mới, cái nghề bán nước vối rong.

Anh bỏ ra ba quan thuê một cái quán tranh ở bên chợ. Với năm quan anh mua lá vối và các đồ dùng để nấu nước. Rồi sáng sáng thức dậy thực sớm, dậy trước cả tiếng gà gáy thứ nhất, anh nấu nước rót vào cái ấm đất ra đi và cất tiếng rao lanh lảnh:

- Nước vối nóng ngon có ai uống không" Có ai uống nước vối nóng ngon không nào?

Mà nước vối của Ba vừa nóng vừa ngon thực. Lá vối trước khi nấu Ba đã ủ kỹ nhiều ngày. Ba lại nấu với nước mưa trong sạch và tra vào một ít nụ vối. Vì thế nước vối của Ba ngọt và thơm. Các bà đi chợ xa nghe tiếng rao, vui mừng bảo nhau: "Chúng ta hãy đặt gánh nghỉ chân uống một bát nước vối của anh Ba đã! Nước vối anh Ba uống vào là hết nhọc mệt liền!" Rồi gọi lại mỗi người uống một bát. Uống xong các bà khen lấy khen để: Nước vối anh Ba nấu khéo quá! Ai đã uống một lần thì không sao quên được nữa, không sao bỏ được nữa, người ta nghiện nước vối anh Ba như nghiện rượu. "Nước vối anh Ba" câu áy đã thành như một câu ngạn ngữ.

Đi khỏi một quãng, các bà đem chuyện anh Ba ra nói với nhau cho vui trên con đường xa. Một bà bảo:

- Anh Ba là con cụ Bá làng tôi. Cụ giàu nứt đố đổ vách mà sao cụ vừa mất được mươi hôm anh ấy đã phải đi bán nước rong!

Bà khác đáp:

- Hai người anh cũng tệ! Nào nhà cửa linh đình, nào ruộng nương hằng trăm mẫu mà nỡ để em đi bán nước vối.

Bà thứ ba nói:

- Nghe đâu hai người anh có xin chia của cho em, nhưng anh Ba anh ấy nhất định không nhận. Anh ấy bảo ngày xưa cụ Bá xuất thân với cái nghề bán nước vối rong thì nay anh ấy cũng cứ theo cái nghề ấy.

- Dễ thường anh ấy điên?

- Chẳng điên thì cũng lẩn thẩn. Thiên hạ lại có người chê của thì cũng lạ!

Trong khi các bà kháo chuyện anh thì Ba đương rẽ xuống ruộng bán nước vối cho một bọn thợ gặt. Nghe tiếng rao trong trẻo, họ đã ngừng tay cắt lúa và cất tiếng gọi:

- Anh Ba, đem nước xuống đây bán cho chúng tôi, nước vối của anh chúng tôi uống hôm qua, hôm nay vẫn còn nhớ vị thơm ngọt. Chúng tôi đương mong ngóng anh đây!

Chẳng mấy lúc ấm nước đã cạn. Ba chạy về nhà rót đầy ấm khác rồi lại đi bán rong cho khách qua đường, mãi xế chiều mới trở về nơi quán tranh thổi cơm ăn. Cơm xong, Ba nghêu ngao hát chèo, hát trống quân chơi, rồi đi ngủ để sáng hôm sau lại dậy sớm nấu nước vối đi bán.

Và anh tự cho là anh sung sướng, tự cho là đời anh đầy đủ. Phải, anh còn thiếu một thứ gì? Anh có nhà để ở. Có một nghề "trong sạch" để kiếm ăn. Anh không lo nghĩ, không phiền muộn, băn khoăn. Ngày ngày anh kiếm không những đủ ăn, mà còn để ra được chút đỉnh. Số tiền ấy anh sẽ dùng vào việc thuốc thang khi không may anh xảy ra đau ốm. Nhưng anh chắc chắn rằng không khi nào anh sẽ đau ốm được. Anh ăn uống có điều độ, ngủ thức có điều độ. Công việc làm không những anh cho là không vất vả mà lại còn có hứng thú nữa. Khi xưa ở nhà với cha, không bao giờ anh để ý ngắm cảnh đẹp, không bao giờ anh để tai nghe chim hót. Ngày nay thì anh coi như đó là những vật sở hữu của anh. Buổi sáng tiếng chim chích chòe làm cho lòng anh thư thái ; buổi chiều tiếng chim sơn ca vừa hót vừa bay thẳng vút lên trời xanh làm cho trí anh cao rộng.

Rồi thân thể anh nở nang ra dưới gió mát, dưới nắng trong, dưới làn không khí thênh thang nơi đồng áng. Cả mưa dầm gió lạnh cũng không làm cho thân anh hao tổn, trái lại nhờ thế mà bắp thịt anh rắn chắc lại, mà lòng can đảm, chí phấn đấu của anh tăng mãi lên. Và anh càng thấy anh sung sướng.

*

Một buổi sáng, Ba dậy sớm nấu nước vối xong rót vào ấm đất ra đường rao bán. Nhưng hôm ấy không phải là ngày phiên chợ nên anh phải đi một quãng đường dài để đến bán nước cho bọn thợ cấy ở các thửa ruộng xa. Gần tới nơi, anh gặp một ông lão râu tóc bạc phơ ngồi mệt lả ở bên vệ đường. Ông lão uể oải giơ tay vẫy anh, như không còn đủ sức để cất tiếng gọi. Ba lại gần hỏi:

- Cụ xơi nước?

Ông lão gật. Rồi Ba chưa kịp rót nước ra bát, ông lão đã giựt lấy cái ấm đất và ngậm vòi uống ừng ực. Ba vội kêu:

- Ấy nước nóng, khéo không cụ bỏng mồm đấy.

Nhưng lạ chưa! Không những ông lão không bỏng mồm mà ông còn có vẻ khoan khoái nữa. Một lát, ông đưa cái ấm đất trả lại Ba. Anh cầm thấy nhẹ bỗng, ghé mắt nhòm vào trong thấy ấm ráo hoảnh. Ông lão mỉm cười nói:

- Lão uống mất nhiều phải không? Lão khát quá đi mất thôi. Không có ấm nước vối của anh thì không khéo lão đã chết rồi. Cám ơn anh nhé. Thôi, lão đi đây, bây giờ khỏi khát rồi thì lão đi xa đến đâu cũng được.

Dứt lời, ông lão đứng lên đi thẳng.

Ba không nói gì, chỉ vội vàng chạy một mạch về nhà rót đầy ấm nước khác đem đi bán.

Hôm sau cũng vào lúc ấy và ở chỗ ấy, Ba gặp một bà lão nằm rên khừ khừ. Ba ghé lại hỏi thăm:

- Cụ làm sao thế?

Bà lão đáp:

- Già khát lắm mà không có tiền uống nước. Không khéo già chết khát mất thôi.

- Thưa cụ, có nước vối nóng đây, xin mời cụ xơi, bao giờ cụ có tiền cụ trả cũng được.

- Nhưng già làm gì cò tiền, già nghèo lắm.

- Mời cụ cứ xơi, cháu xin biếu không cụ một bát.

- Một bát thì thấm thía vào đâu!

- Vậy mời cụ muốn uống bao nhiêu tùy ý.

- Thế à?

Bà lão vui sướng vồ lấy cái ấm đất, nhưng tay bà run lẩy bẩy đánh rơi ấm xuống cỏ, nước đổ lênh láng.

- Thôi, thế này thì khổ già rồi. Đổ không còn lại một giọt nào nữa.

Ba không lộ vẻ thất vọng, không thốt một lời gắt gỏng hay phàn nàn. Anh chỉ ôn tồn bảo bà lão:

- Cụ chịu khó ngồi đấy chờ cháu một lát, cháu về nhà lấy ấm nước khác đem đến mời cụ xơi.

Rồi anh xách cái ấm đất cắm đầu chạy thực mau về nơi quán tranh, trong lòng chỉ áy náy lo rằng nếu mình chậm trễ thì bà lão kia sẽ chết khát mất. Lúc ra tới chỗ cũ thì quả bà lão, mệt lả vì khát, đương nằm phục bên đường. Anh vừa thở hổn hển vừa gọi:

- Cụ ơi! Nước đây rồi, cụ dậy mà uống.

Bà lão vội vàng ngồi dậy nói:

- Ồ! Thế thì tốt quá!

Rồi choàng tay ra vồ lấy cái ấm đất. Nhưng trong lúc hấp tấp, bà ta lại đánh đổ hết nước trong ấm.

Lần thứ hai, Ba xách ấm chạy về nhà. Không những anh không bực tức và oán trách bà lão, mà anh còn cố chạy mau hơn lần trước, vì sợ bà lão đã khát quá không khéo lần này anh sẽ không kịp cứu sống.

Nhưng Ba cứu sống được bà lão, vì lần cuối cùng này anh rất cẩn thận, cầm ấm và bát rót nước cho bà lão. Bà uống luôn ba bát, và mặt bà tỉnh táo hẳn lên. Bà mỉm cười nói:

- Anh tốt bụng lắm, vừa thương người vừa nhẫn nại. Thương người già yếu thì có người bằng anh đấy, nhưng nhẫn nại như anh thì có lẽ không một ai nữa. Nước của anh đổ, anh đã không tức giận, không tỏ lòng tiếc, lại còn hấp tấp chạy về nhà lấy ấm nước khác để cho người đánh đổ nước của anh uống ; anh thực là một người hiếm có và giống hệt cha anh thủa còn hàn vi...

Ba kinh ngạc hỏi:

- Thưa cụ, cụ biết cha cháu từ thời cha cháu hàn vi?

Bà lão cười đáp:

- Phải, tôi biết lắm. Chính vì tôi đã giúp cha anh trở nên giàu có. Tôi thấy cha anh là người phúc hậu nên tôi thương, tôi nói ngày xưa cơ, chứ về sau cha anh đã thay đổi hẳn, không còn dễ dàng và có lòng tốt thương người nữa. Cho hay đó vẫn là lẽ tự nhiên, khi người ta giàu có thì người ta dễ thay đổi tính tình...

- Vậy thưa cụ, cụ là ai?

- Tôi là linh hồn cái ấm đất này. Tôi là thần Ấm-Đất, và cũng như cha anh ngày xưa, nhờ phép tôi, anh sẽ trở nên giàu có ngay lập tức. Anh đã hiểu vì sao cha anh chia cho anh cái ấm đất này chưa? Anh đã hiểu vì sao thương yêu anh nhất trong ba con, cha anh đã chia cho anh phần gia tài quý báu này chưa? Trong ba phần gia tài thì phần này to hơn nhất, mà to hơn nhất là vì tôi sẽ có phép làm cho anh giàu có hơn cả hai người anh không tốt của anh. Anh thì anh tốt lắm. Hôm qua tôi đã thử anh một lần, hôm nay tôi lại thử anh hai lần nữa, đều thấy anh vẫn không thay lòng đổi dạ.

Ba ngây người đứng nghe, tưởng mình đương chiêm bao. Bà lão lại tiếp:

- Cha anh chia cho anh phần gia tài này còn vì một lẽ nữa. Là nếu cái ấm đất có lọt vào tay hai người con lớn của cha anh thì họ cũng chẳng biết, chẳng thèm dùng đến. Mà có dùng đến thì cũng chẳng được tôi hóa phép giúp đỡ, vì tôi rất ghét cái tính ngạo mạn và huênh hoang của chúng. Cha anh biết chỉ anh mới cảm động nổi tôi. Quả thực anh đã được lòng tôi, vì tôi đã hiện lên đây để giúp đỡ anh.

Ba vẫn ngây người không hiểu. Anh nhắc lại:

- Giúp đỡ cháu?

- Phải, giúp đỡ anh. Nhưng trước khi hóa phép, tôi hãy hỏi anh câu này: "Anh muốn giàu có như cha anh và suốt đời lo nghĩ, băn khoăn, cặm cụi, mong ước mỗi ngày một giàu có mãi hơn lên, phải, anh thích cái đời giàu có và không bình tĩnh một chút nào ấy hay cái đời đủ ăn và luôn luôn thư thái. Không làm phiền ai và không bị ai làm phiền mình. Tóm lại, anh thích một đời giàu có hay một đời sung sướng?"

Hai tiếng "sung sướng" như đánh thức Ba. Anh không ngần ngừ nữa, quả quyết trả lời:

- Cháu chỉ ao ước được sung sướng, suốt đời sung sướng.

- Nghĩa là anh không ham giàu?

- Không.

- Anh không thích sang?

- Không.

- Anh không thích ở nhà lầu? Anh phải biết ở nhà lầu cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ.

- Thưa cụ ở nhà tranh cũng có thể cao ráo, sạch sẽ, mát mẻ được.

- Anh không thích ăn sơn hào, hải vị? Sơn hào, hải vị ngon lắm chứ?

- Thưa cụ, rau muống, đậu phụ chấm tương cũng ngon lắm mà lại lành.

- Anh không thích được ngắm những thửa ruộng thẳng cánh cò bay của mình?

- Thưa cụ, cháu thường được ngắm nhiều hơn thế, cháu thường được ngắm những cánh đồng lúa chạy thẳng tắp đến tận chân trời.

- Nhưng đó không phải ruộng của anh.

- Thưa cụ như thế càng hay, vì cháu được ngắm cái đẹp mà không phải chăm nom săn sóc tới.

- Nhưng thóc sẽ về tay người khác.

- Nhưng người ấy có ăn được hết số thóc đâu? Cháu không có một tấc ruộng nào mà hằng ngày vẫn đủ no. Tiền bán nước vối cũng đủ nuôi sống cháu rồi.

- Vậy anh muốn gì? Anh muốn tôi giúp anh như thế nào, vì thế nào tôi cũng phải giúp anh. Tôi là bạn thân của cha anh thủa xưa, cha anh đã phó thác anh cho tôi, chẳng lẽ tôi lại để anh nghèo đói, khổ sở, chẳng hóa ra tôi phụ lòng tin cậy của cha anh lắm ư?

- Thưa cụ, quả cháu không khổ sở. Nếu cụ làm cho cháu cứ được vui vẻ, sung sướng suốt đời như ngày hôm nay thì cháu cám ơn cụ lắm.

Bà lão đứng dậy nói:

- Anh sẽ vui vẻ, sung sướng suốt đời.

Rồi bà biến đi.

Sáng hôn sau Ba dậy sớm để nấu nước, nhưng lạ quá! cái ấm đất ai đem để ngay trong nồi, và lạ hơn nữa! cái ấm đất ấy đựng đầy nước vối nóng. Ba rót ra bát nếm thử thì thấy nước ngọt và thơm hơn mọi ngày nhiều. Anh vui mừng xách ấm đi bán rong. Và mãi chiều anh mới về nhà thổi cơm ăn vì cái ấm đất kỳ dị của anh không lúc nào nước vơi, nên anh không cần về lấy thêm. Hàng anh bán lại chạy gấp năm, gấp mười trước: Hình như tiếng rao của anh có phép thiêng lôi cuốn khách lại.

Đó là pháp thuật của thần Ấm-Đất. Thần đã chuẩn lời mong ước của Ba: Suốt đời sung sướng.

Và Ba sẽ suốt đời sung sướng với cái ấm đất linh thiêng bao giờ cũng đầy nước vối thơm ngọt.

Ba sẽ sung sướng được sống một đời trong sạch.

Ba sẽ sung sướng với sự giúp đỡ kẻ nghèo, vì không cần giàu có, Ba vẫn có thể giúp đỡ được kẻ nghèo bằng một bát nước vối nóng thơm, ngọt.

Ba sẽ sung sướng vì một đời bình dị sẽ không bao giờ thay đổi lòng Ba như một đời giàu có: Ba sẽ mãi mãi giữ được nguyên vẹn lòng tốt của mình.

Không có lòng tốt thì người ta sung sướng sao được?

Ba sẽ suốt đời sung sướng.

HẾT