Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2023

HAI CẢNH TRỤY LẠC - Khái Hưng

 

Hải cùng một ng­ười làng đã hai l­ượt đi suốt phố Hậu Giang mà không sao tìm thấy nhà em. Tìm nhà người quen ở một tỉnh nhỏ vẫn là một sự khó khăn. Ngờ là chủ đi lùng bắt con nợ, những ng­ười bị hỏi thăm chỉ có một câu trả lời vắn tắt "không biết" dù họ biết mười mư­ơi mặc lòng.

Chán nản, mỏi mệt, hai ng­ười ngồi nghỉ chân ở một hàng nước bên hè, định bụng sẽ cố tìm một lần cuối cùng nữa.

- Bác Giác ạ, hay chú nó dọn nhà đi phố khác ?

Ng­ười nhà quê mình bao giờ cũng t­ưởng như­ ng­ười khác, nghĩa là chẳng tư­ởng gì hết.Trí thức l­ười biếng không nghĩ ngợi để có một ý kiến riêng.

- Chẳng nhẽ lại chịu trở về làng.

Bà hàng n­ước đon đả mời chào, rồi hỏi :

- Thưa, các ông ra tỉnh có việc quan ?

- Không, chúng tôi ra tìm ng­ười em.

Giác đỡ lời, hỏi :

- À bà có biết ông Hai ở đâu không ?

Bà hàng ngửa mặt, đôi mắt nhăn nheo hấp háy như­ cố tìm trong trí nhớ. Giác lại tiếp luôn :

- Ông hai Bản, ông ấm Bản... ông ấm Hai... Tên tục ông là Hai Niu ấy mà... Bà có biết không ?

Hai ng­ười nhìn chòng chọc vào cặp môi cắn chỉ của bà hàng n­ước để chờ câu trả lời.

- Bà làm ơn bảo giùm.

- Ông Hai Niu ? Ông ấm...

- Phải, ông Hai Niu, ông ấm Bản, ông Hai Bản.

- Thư­a hai ông, thế thì tôi không biết.

Giữa lúc ấy ở đằng xa trên con đ­ường nắng rát, loang loáng trong bóng lá nhẹ nhàng rung động của cây soạn tây mới thấp thoáng điểm hoa t­ơi đỏ, một ng­ười đàn ông kéo cái xe bò đang đi lại. Trên xe một ng­ười đàn bà ngồi bên đống thuổng, cuốc, quang, thúng, nghêu ngao ngâm kiều :

Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Ng­ười kéo xe luôn luôn quay lại hỏi chuyện, không nghĩ gì đến cái nóng một buổi trư­a hè im gió, oi ả, nặng nề khó thở.

Giác phe phẩy chiếc quạt rách trỏ xe bò bảo Hải :

- Ông ấm ạ, ai như­...

- Ờ... ờ ai như­...

Cả hai cùng không dám nói đến tên ng­ười kéo xe. Như­ng Hải không sao giữ nổi lời cảm động buột miệng gọi :

- Hai !... chú Hai Bản !

Bản dừng lại :

- Ai gọi tôi ?

Hải buồn rầu nhìn Giác. Chàng không ngờ em chàng đ­ương sống trong cảnh trụy lạc ấy.

Như­ng Bản nhận ra đ­ược thì vui mừng đặt vội càng xe bò xuống hè :

- Ồ quý hóa quá ! Bác ra chơi... Sao bác không lại đằng nhà ?

Hải bẽn lẽn không đáp. Giác mỉm c­ười ngư­ợng nghịu :

- Ấy chúng tôi đi tìm nhà ông mãi mà không thấy. Ông ở phố Hậu Giang ?

- Vâng, phố này chính là phố Hậu Giang.

Ng­ười đàn bà chắp tay chào :

- Lạy bác ạ.

- Không dám, chào thím.

- Mời bác về nhà chơi.

Hải và Giác đứng dậy ngần ngại, do dự, nhìn nhau một ìần nữa. Bà hàng nhắc khéo tiền trầu n­ước :

- Bác phó hãy để hai ông ngồi chơi. Hai ông vừa sơi đ­ược mỗi ng­ười một miếng trầu, một bát n­ước.

Bản c­ười vui vẻ :

- Thôi, bà để bác cháu về nhà nghỉ chẳng bác cháu mệt, đây tiền trầu n­ước.

Bản xỉa ba trinh vào thành chõng nhà hàng, rồi thản nhiên ra nâng càng xe bò, và giục :

- Mời bác đi.

Hải ngắm nghía em: cái áo cộc màu xanh bạc, cái quần vải thô màu cháo lòng, hai bàn chân vôi cát bám đầy trong đôi guốc quai cao su gót mòn gần hết. Ðối với Hải đó là những biểu hiệu trụy lạc của một đời ng­ười, và Hải nghĩ thầm "Ta tuy cũng nghèo kiết, như­ng chẳng bao giờ chịu tự hạ như­ thế kia. Vả con quan, ai lại tự hạ đi kéo xe bò... Hừ ! Thà chết đói còn hơn..."

Hải vụt nhớ đến tình cảnh nheo nhóc của mình. Vợ chàng ngược xuôi nhì nhằng, dệt vải làm gạo, chơi ống, chơi ph­ường để cố nuôi sống một gia đình bảy tám miệng ăn, như­ng dầu sau, chàng cũng không đến nỗi bê tha, lụi xui quá như­ em. Dầu sao chàng cũng chân giấy chân dép, khi ra đình, khi đến nhà đám, nhà chay, chàng không để ai có thể khinh nhờn được; "Chà, thằng Bản, t­ưởng nó bỏ làng ra tỉnh làm v­ương làm t­ướng gì ? Thật là bêu diếu ông cha Bản ạ !"

Cái tên Bản bỗng nhắc Hải nhớ lại cả một thời kỳ giàu có sang trọng. Em chàng tên là Bản vì ra đời ở huyện Vụ Bản, cũng như­ cha mẹ chàng đặt tên chàng là Hải, vì sinh chàng ở huyện Tiền Hải...

Mấy năm sau, vì việc r­ượu, cha chàng bị cách, rồi buồn quá mắc bệnh mà chết. Từ đó, ba mẹ con vẫn sống trong cảnh phong lưu như­ x­ưa, vẫn kẻ hầu, ng­ười hạ, vẫn ăn tiêu phung phí và chẳng thèm nghĩ tìm kế sinh nhai. Chỉ có một việc là bán. Tr­ước còn bán ruộng v­ườn, sau bán đến đồ đạc. Làm ma cho mẹ xong, gia tài hai anh em khánh kiệt.

Gia tài khánh kiệt, nh­ưng Hải vẫn sống theo cảnh cũ. Tuy chẳng còn tiền của đâu mà tiêu rộng rãi, song cái tính đài các chững chạc, Hải vẫn giữ đ­ược. Ðến nỗi trong làng chẳng ai dám t­ưởng rằng chàng xơ xác.

Nào ai biết đâu rằng nhiều bữa vợ chồng con cái xúm nhau vào nồi cơm ngô khoai và đĩa muối. Nào ai biết đâu rằng mấy con đi nhặt rau sam rau dền về luộc cho cả nhà ăn. Ng­ười ta chỉ trông thấy ông ấm vận quần áo lành sạch, mỗi khi ông ra đình hay đến chơi nhà ai, ng­ười ta chỉ trông thấy ông ngồi chễm chệ trên sập, ung dung xoay ván bài tổ tôm, hay gật gù nhấp giọng chén chè tàu liên tâm, ng­ười ta chỉ trông thấy bà ấm đem bát đĩa con phư­ợng và các mâm đồng ra rửa ở đầu cầu ao mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, và những ng­ười láng giềng tỏ ý thèm muốn khi đứng ngắm nghía con chim họa mi của ông ấm nhảy, hót trong cái lồng cao, quang dầu, treo bên bụi hồng đầy hoa.

Giấu giếm che đậy, nhẫn nại, chịu khổ, chịu đói để giữ thanh danh, lúc nào Hải cũng không nhãng nghĩ đến điều đó, và năm tr­ước, chẳng dung đư­ợc, chàng đã nhận chức đại bái và tiêu vào việc ấy hết nửa bát ống của vợ. Những ý t­ưởng phức tạp lộn xộn, rối tung trong óc Hải lại đư­ơng bực về nỗi em chàng làm cho chàng mất thể diện ở tr­ước mặt một ng­ười làng, câu hỏi của em dâu càng làm cho chàng bực tức thêm :

- Các cháu vẫn chơi đấy chứ, bác ?

Lạnh lùng, chàng đáp :

- Phải ?

*

Một lát sau, mấy ng­ười về tới nhà Bản, căn nhà gạch một gian ngăn đôi bởi bức phên liếp dán giấy nhật trình. Vợ chồng Bản mời anh và ông khách ngồi chơi, rồi đi theo một cái cổng chung cho cả dãy nhà để cất xe bò vào sân.

Hải đã đỡ ngư­ợng với ng­ười làng, vì nhà em cũng sáng sủa và bài trí cũng dễ coi : Một cái ghế ngựa quang dầu, trên tường mấy tờ tranh quảng cáo của hiệu dầu hỏa. Hải đư­ơng ngắm nghía cái đồng hồ rỉ để trên bàn tre, và thầm ao ­ước kiếm đ­ược vài đồng mua một chiếc, thì Bản đã rửa mặt rửa chân tay và thay quần áo sạch sẽ, từ trong nhà b­ước ra :

- Bác đi chân hay đi xe đấy ?

- Tôi đi xe chú ạ, có ba hào.

- Ờ rẻ nhỉ.

Kỳ thực, hai ng­ười đã kéo bộ ra tỉnh, nh­ưng quen tính giữ gìn, Hải đã nói dối, nói dối với cả em và tuy có ng­ười làng làm chứng cho sự nói dối ấy đứng ngay bên cạnh.

- Cái nhà này chú thuê bao nhiêu tiền ?

- Th­ưa bác ba đồng. Chả nói giấu gì bác, tr­ước kia tôi thuê một gian nhà và ở chung với ba ng­ười nữa, thành thử chỉ mất có bảy hào thôi. Về sau, nhà tôi tìm đ­ược mấy cậu học sinh ăn cơm trọ mới thuê cái nhà này. Kể cũng kiếm đ­ược đủ ăn. Tôi thì đi làm, để cháu ở nhà nấu bếp, như­ng đã hơn tháng nay, các cậu ấy về nghỉ hè cả, thành thử cái nhà này rộng quá. ấy chả nói giấu gì bác...

Bản ngừng lại, quay ra bảo Giác :

- Mời bác vào rửa mặt mũi chân tay cho mát rồi xơi cơm.

Giác biết rằng anh em Hải muốn nói câu chuyện riêng, liệng lảng ra sân sau. Bản hạ giọng nói tiếp :

- Chả nói giấu gì bác, tôi không muốn để nhà tôi ăn không ngồi rồi, nên đã đi xin tạm cho một chân phu hồ ở chỗ tôi làm việc.

Hải trợn mắt :

- Phu hồ ! Chú để thím là phu hồ ?

- Vâng, bác tính chẳng gì cũng kiếm đ­ược hào r­ưỡi hào tám mỗi ngày, mà công việc có khó nhọc là bao.

Hải chép miệng lắc đầu :

- Giá ở xa tận đâu thì chả nói làm gì nh­ưng ở ngay tỉnh nhà, mà chú thím luộm thuộm thế, bê tha thế, tôi e lắm.

Bản c­ười như­ng không đáp. Chàng chẳng lạ gì tình cảnh của anh và tánh nết anh, chàng cũng thừa biết. Chàng nghĩ thầm, cầm hết thứ nọ đến thứ kia, hết v­ườn ruộng đến đồ đạc nhặt từng cái dĩa, cả ba chén trà đem đi bán để chạy bữa ăn, như­ thế anh mình không cho là luộm thuộm, bê tha. Còn vợ chồng mình, chỉ làm việc, làm việc bằng tay chân...

Hải thở dài ứa lệ bảo em :

- Chú ạ, nhà ta sa sút chóng đến thế ! Lúc thầy còn làm quan, thì chúng ta sung s­ướng biết bao, mà bây giờ, bây giờ.

Bản c­ười :

- Bác nghĩ thế, chứ tôi, tôi lại nghĩ khác. Chúng ta sinh tr­ưởng ở nơi giầu sang thì thuở bé mới đ­ược ăn, mặc, chơi bời sung sướng. Nếu là con nhà khó thì chúng ta cũng đã nghèo đói khát. Ngày nay chúng ta không còn ở cảnh giàu sang thì chúng ta đừng thiết nhớ đến thời x­a nữa có hơn không.

- Ðành thế, như­ng chú bê tha quá.

Bản ngắt lời :

- Ở đời chỉ có sự l­ười biếng, sự ỷ lại là bê tha. Còn như­ em, em không làm việc bằng trí thức, mà em làm việc bằng tay chân, thế thôi. Có gì là bê tha đâu ? Không biết bác thế nào, chứ em thì không sự gì làm cho em đau lòng bằng ngắm cảnh một người không còn sung túc mà cứ muốn có cái hào nhoáng của một ng­ười sung túc. Sự giả dối ấy...

- Như­ng thanh danh nhà mình ?

- Nghèo khác, thanh danh khác. Yên phận nghèo làm việc để sống, sao thanh danh ông cha ta lại vì thế mà mất hay bị tổn hại đ­ược ? Em nhận ra điều ấy ngay hôm em quả quyết bán một ít v­ườn ruộng, phần gia tài của em, kiếm ngót lấy trăm bạc vốn rồi đư­a vợ con ra đây, theo anh em đi làm thợ. Ngày nay không bao giờ phàn nàn một điều gì nữa. Vì em đã vui lòng nhận mình là một ng­ười thợ nề chính thức sống bằng công việc chân tay, cái đời cậu ấm của em chỉ còn phảng phất trong giấc mộng xư­a. Nếu may ra, nay mai em trúng độc đắc vì em có mua số thì em lại sống theo cái đời ng­ười có hàng vạn, chứ sao ! Phải không bác ?

Hải c­ười g­ượng, giọng mỉa mai :

- Phải !

Lúc đó, vợ Bạn b­ưng ra một mâm gỗ trên có bát canh, khói thơm bốc lên ngào ngạt, Bản hỏi :

- Ðẻ thằng Ðá có mua thêm cái gì ăn không ?

- Thầy thằng Ðá ạ, tôi đã mua thêm ba xu đậu với ba xu xáo bò rồi đây.

Bản phá lên c­ười :

- Bác coi, chúng em có hoàn toàn là một cặp vợ chồng thợ thuyền không ?


KHÁI HƯNG     

(Trích trong tập truyện ngắn Dọc Đường Gió Bụi)

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

CUỐN SÁCH BỎ QUÊN - Thạch Lam

 

Thành đi lại trên sân ga, thong thả và lơ đãng. Gió mạnh dán chặt quần áo vào người chàng, khiến cái lạnh thêm thấm thía và ẩm ướt. Tuy trời không mưa, nhưng Thành tựa như thấy trong lòng mưa bụi, buồn rầu và chán nản, một mối buồn không sâu sắc, nhưng êm êm làm tê liệt cả tâm hồn.

Chàng không muốn nhớ lại, hình như muốn để quên đi với nỗi thất vọng ấy. Câu trả lời của ông Xuân, nhà xuất bản, vẫn nhắc lại bên tai Thành một nhịp trầm và khó chịu:

– Sách của ông không được ai hoan nghênh cả.

Thành mím môi lại, giữ vẻ tự nhiên, điềm đạm như người đã thường nghĩ đến điều ấy rồi. Chàng để tay lên bản thảo cuốn “Mơ xưa”, vuốt cong đầu giấy lại, không trả lời. Ông Xuân nói tiếp:

– Thật vậy. Hai nghìn cuốn “Người bạn” in ra mà bây giờ chưa bán được hai trăm. ấy là không kể gửi đi biếu các báo đã mất non dăm chục rồi. Tôi chưa in ra cuốn sách nào khó bán như thế.

Ông chép miệng nhìn Thành, có ý bảo chàng hiểu rằng cái vốn hai trăm bạc ông bỏ ra chưa thâu được hết. Tuy vậy, Thành cứ cố; chàng run run tay cầm bản thảo cuốn “Mơ xưa” lên; xốc lại hai đầu định sắp sửa cho vào cặp, khẽ hỏi:

– Thế còn cuốn này, ông…

Câu trả lời đón trước đến ngay, quả quyết không có gì lay chuyển nổi:

– Ồ, ông còn định xuất bản quyển này nữa hay sao? Tôi xin chịu, ông có các vàng tôi cũng không dám in ra nữa.

Thành không hiểu tại sao chàng lại mỉm cười tuy chàng không muốn. Chính chàng cũng khó mà nói rõ được cái ý nghĩa của cái cười đó. Chàng cầm mũ với cặp, đứng dậy, nắm cái bàn tay mềm và uể oải của ông chủ rồi đi ra.

Đến ngoài đường, lúc bấy giờ Thành mới nhận thấy nỗi thất vọng của mình, và để nó tràn lên cả tâm hồn, không chống cự. Chàng có cái cảm giác bị hụt chân chết ngập trong mối buồn và thấy một nỗi thương thấm thía vô hạn cho chính mình.

Trong những đêm không ngủ ở nhà quê, chàng vẫn mơ tưởng một sự thành công rực rỡ xứng đáng với tài năng. Những lúc đó, Thành sung sướng như nhấp chén rượu mạnh mà hơi men làm say sưa dần dần. Chàng tưởng sách của chàng đã được thiên hạ hoan nghênh nhiệt liệt, các báo đua nhau tán thưởng, và bán chạy hết ngay trong tháng xuất bản. Ông Xuân sẽ để một tập bạc trên bàn, tiếp chàng niềm nở và nói nịnh:

– Sách của ông bán chạy quá. Thật, tôi chưa từng thấy nhà văn nào được hoan nghênh như ông.

Thành sẽ cười nhã nhặn và kín đáo, nhận lời khen ấy như một người không quan tâm đến sự nhỏ mọn về danh vọng ấy. Chàng sẽ đưa trình cuốn “Mơ xưa”, sẽ được ông Xuân trân trọng đỡ lấy và vui vẻ nhận xuất bản ngay.

Nhưng sự thực… Môi Thành sẽ nhếch hơi chua chát, và chàng tự hỏi không biết có nên chế giễu mình không. Chàng không nghĩ đến đi chơi trong Hà Nội nữa, thuê ngay xe ra ga lấy vé. Thành muốn rời bỏ ngay cái tỉnh lãnh đạm này, mong lại thấy căn phòng nhỏ ấm áp của chàng, cái bàn viết có bóng cây trong vườn lung lay trên mặt, mỗi khi ánh nắng chiếu ngang.

Thành ngửng nhìn đồng hồ: ba giờ… chuyến tàu dễ không bao giờ đến chắc! Con đường sắt về Nam song song thẳng tắp dưới trời u ám, như làm xa vắng rộng rãi thêm nỗi buồn. Tất cả những mơ ước tha thiết của tuổi trẻ, của tâm hồn nghệ sĩ, những mộng đẹp xây lên trong lúc say văn, tất cả đều theo gió lạnh tan dần. Tâm hồn Thành trơ trọi như một cánh đồng thấp mà lúa đã gặt rồi.

Khi tàu đến, chàng chỉ còn là một kẻ chán nản bước lên xe. Chàng đi xuống hạng ba, mở cửa toa bước vào. Thành dễ chịu khi thấy trong toa vắng không có ai, ngoài một người gác tàu ngồi thu hình trong một xó, không buồn ngửng lên trong khi chàng đi qua. Thành cũng gieo mình trên chiếc ghế, kéo cổ áo lên che gáy – cái lạnh thấm thía quá! – rồi lặng yên để cho tiếng rộn rịp của chuyến tàu ru mình.

*

Ngoài xa, cánh đồng chuyển lần sau làng mạc. Dòng tư tưởng của Thành cũng chảy xuôi, một sự yên tĩnh đến thay chỗ cho nỗi buồn, Thành lại thấy mình thiết tha và hy vọng. Thật ra, sách không bán chạy chưa phải chứng tỏ rằng chàng không có tài; nhiều nhà văn nổi tiếng khắp hoàn cầu lúc mới đầu chẳng bị thiên hạ bỏ quên và hững hờ là gì. Sự lãnh đạm của công chúng nhiều khi là cái dấu hiệu của một tài năng xuất chúng, không được người ta hiểu, vì vượt ra ngoài khuôn sáo thường. Thành tự an ủi khi nghĩ mình có thể là một tài năng ấy. Chàng ôn lại những quãng sách đã đọc qua, trong đó nhiều nhà văn lão luyện đã khuyên nhủ: người nghệ sĩ phải không cần đến sự hoan nghênh của công chúng, bởi tự mình đã được hưởng cái thú thần tiên của sự sáng tác; được hoan nghênh nhiều khi chỉ làm hại cho nghệ sĩ, vì khiến cho nghệ sĩ tự mãn và nô lệ cái sở thích của người đọc.

Thành thấy những tư tưởng ấy đúng là thâm thúy. Không có thứ nào say sưa và chìm đắm bằng cái thú của chàng cảm thấy mỗi khi cầm bút diễn tả lòng mình, thấy các nhân vật chàng đặt ra trở nên linh hoạt trên trang giấy. Chàng đã có sự rung cảm ấy, đã có trời mây, ánh nắng và hoa cỏ, tất cả vạn vật đang sống chung quanh. Những đám mây thấp bay trên cánh đồng lúa xanh kia là một bài thơ bất tuyệt và đằm thắm. Thành cúi nhìn ra ngoài xe, mê mải ngắm phong cảnh qua làn khói trắng mà gió đánh tạt về bên đường. Lòng chàng dịu dần, và cảnh vật trước mắt lại thấy tươi vui, tuy lúc đó trời bắt đầu mưa bụi. Thành đứng hẳn dậy, cúi mình nhìn qua cửa kính, để gió lạnh lùa vào mái tóc và táp vào da.

*

Xe đỗ. Một cái ga nhỏ, bên mấy nếp nhà tranh chơ vơ. Tiếng người lên xuống ồn ào vang động. Thành thoáng thấy bóng một thiếu nữ bước lên xe. Tự nhiên chàng quay lại: người thiếu nữ vừa lách cửa toa, một luồng gió ùa vào, manh áo dài bay lên để lộ cái áo len màu đỏ. Thiếu nữ đưa mắt nhìn khắp lượt, thấy trong xe chỗ nào cũng đã chật, hơi lưỡng lự một chút, rồi đến ngay chiếc ghế trước mặt Thành để hành lý xuống: mấy gói bọc giấy và một cái va li nhỏ bằng nan mây. Thành mỉm cười vì có sự gần gũi ấy; chàng chăm chú nhìn thiếu nữ: một khuôn mặt trái xoan, một vẻ đẹp thường thường. Quần áo ra lối nửa tỉnh, nửa quê. Học sinh? Buôn bán? Thành không thể đoán rõ được.

Thiếu nữ cũng ngửng mặt lên nhìn chàng, rồi cúi đầu xuống, hai bàn tay xinh xẻo lần mở va li với một chiếc khóa con kền sáng. Thành không rời mắt, chàng có cái cảm giác thú vị sắp được đi vào trong đời thân mật của thiếu nữ. Nắp va li hé mở. Thành thoáng thấy mấy nếp quần áo xếp gọn ghẽ, cái khăn mặt bông trắng và bánh xà phòng thơm mới nguyên. Bỗng chàng rung động từ đầu đến chân như có luồng điện chạy; thiếu nữ vừa mới lấy ra một cuốn sách, chính là cuốn “Người bạn” của chàng. Quyển sách còn mới nguyên, hình như vừa mua chưa xem đến. Thành thấy màu xanh của bìa sách, dòng chữ tên sách và tên tác giả – chính là tên chàng – nhảy múa trước mắt khi thiếu nữ để sách trên đùi, lấy con dao con cẩn thận rọc từng trang một.

Thành không thể nói rõ cái cảm giác của chàng lúc ấy thế nào. Chàng bàng hoàng, nửa như e sợ, nửa như sung sướng. Thiếu nữ đã giơ sách lên trước mặt, dựa người vào thành ghế chăm chú xem. Thành ngắm nhìn cái bàn tay xinh xắn cầm lấy sách, chàng chăm chú nghe tiếng giấy mới sột soạt mỗi lần một trang giấy giở. Thành thấy như thiếu nữ một lần giở trang giấy của tâm hồn mình, gần gũi và thân mật hơn. Chàng hồi hộp nhận xét trên nét mặt người đọc, ảnh hưởng của văn chàng, tựa như thiếu nữ đang đọc những ý nghĩ sâu xa của chàng vậy. Mà chàng không có cách nào giảng giải nó thêm! Thành muốn kêu lên chính chàng là Văn Sơn, là tác giả. Chàng ước ao giá bây giờ có người bạn nào đến gặp chàng, người bạn vỗ vai hỏi: “Kìa anh Văn Sơn? Thế nào, cuốn “Người bạn” của anh có bán chạy không?”. Thành tưởng tượng sẽ nhũn nhặn trả lời: cũng khá, và thiếu nữ, ngạc nhiên, sẽ hạ quyển truyện xuống, mở to mắt nhìn chàng kính phục và sung sướng. Chàng sẽ thấy thiếu nữ ấp úng, má hơi đỏ, kiều mị, khẽ thưa: “Em xin lỗi vì sự đường đột, nhưng có phải ông là Văn Sơn không ạ?”.

Ồ may quá! Rồi nàng xin chữ ký của chàng đề trên cuốn sách, sẽ vụng về lúng túng một cách đáng yêu, khen chàng là nhà văn… có tài.

Nhưng mà… không có người bạn nào cả, ngoài thiếu nữ với chàng; thiếu nữ vẫn chăm chú xem, và chàng thì nóng nảy, bứt rứt, xoay xỏa trên ghế. Chỉ một người đọc văn mình cũng đủ làm cho chàng cảm động thế ư? Thiếu nữ bỗng trở nên có duyên lạ, môi đỏ thắm, đôi mắt dưới làn mi cong và dài, theo từng dòng chữ, êm nhẹ như nhung, như vuốt ve trên lòng chàng. Bao nhiêu nỗi buồn bực thất vọng của Thành vì những lời nói của ông chủ nhà xuất bản đều tiêu tan mất cả. Trong cái lạnh lẽo của tâm hồn chàng, thiếu nữ kia đã đem lại sự đầm ấm, nâng niu, ít ra cũng đã có một người hiểu chàng. Thành đoán chắc thiếu nữ này, khi ở thôn quê, dưới bóng đèn, hay buổi chiều dưới rặng hoa lý, đã từng mơ màng những chuyện nàng đọc, và trái tim nàng đã từng rung động vì thân thế của người trong truyện.

*

Thiếu nữ hạ quyển sách xuống, hơi nhếch mắt nhìn ra ngoài. Dãy nhà ngoại ô tỉnh Nam đã trông thấy đằng xa. Thiếu nữ lại hé mở va li thử lại ổ khóa và sửa soạn hành lý khác. Chàng thở dài: chàng biết thiếu nữ sẽ xuống ga này, còn chàng, chàng phải đi vài ga nữa mới về tới nhà. Hồi hộp, Thành thấy từ nãy đến giờ chàng chưa tìm được cách nào cho thiếu nữ biết tên, hay làm quen với nàng. Nhiều lúc, chàng muốn gợi chuyện với thiếu nữ, nhưng không hiểu tại sao, mỗi lần chàng ngượng nghịu lại thôi. Những câu nói định sẵn không muốn nói ra khỏi miệng khiến chàng bực tức cho mình. Thành đứng lên, ngồi xuống, băn khoăn; thiếu nữ đưa mắt nhìn Thành, một tay để trên va li, một tay vén lại tà áo cho gọn ghẽ.

Tầu bắt đầu đi chậm, vào ga. Thành luống cuống đứng dậy ra đầu toa tựa vào bên cửa nhìn xuống, như chú ý lắm đến cảnh tấp nập ở dưới đường. Khi thiếu nữ khệ nệ xách va li đi qua trước mặt, Thành nép người vào bên. Mái tóc người thiếu nữ khẽ phớt qua ngực chàng, mái tóc đen che vành tai hồng và cái cổ tròn xinh. Chàng cúi xuống nữa, ra hẳn ngoài tầu, nhìn theo thiếu nữ đi lẫn vào đám đông người. Lâu chàng còn nhận thấy đôi vai mảnh và thon của thiếu nữ trong đám hành khách cho đến khi thiếu nữ khuất vào ga.

Thành có cảm tưởng như đã mất một người bạn thân yêu quá.

Chàng buồn nản thong thả trở về chỗ cũ. Bỗng nhiên Thành đứng lại, và mắt chàng mở to ra: trên ghế, chỗ thiếu nữ ngồi, cuốn “Người bạn” của nàng vừa mở nằm yên. Thành cầm vội lấy, cúi nhìn ra ngoài. Chàng tưởng còn kịp gửi trả người thiếu nữ. Nhưng tầu đã chạy rồi. Gió lạnh bắt đầu thổi mạnh lên. Thành gieo mình xuống ghế, tay mân mê cuốn sách, giở đi giở lại các trang: hình như còn một chút đầm ấm gì của người thiếu nữ ấy vương lại trong trang giấy. Nhưng đột nhiên, như có mũi kim xuyên thẳng vào tim chàng: ngộ không phải là thiếu nữ bỏ quên chăng? Biết đâu nàng chẳng bỏ lại vì cuốn truyện tồi khiến nàng không vừa lòng? Biết đâu nàng không rõ chính chàng là tác giả và cố ý bỏ sách lại để tỏ sự nhạt nhẽo của nàng?

Thành khẽ thở dài. Những ý nghĩ ngờ vực đó xôn xao trong óc chàng. Thành mân mê cuốn sách tựa như có thể tìm được trong ấy câu trả lời. Rồi thẫn thờ, chàng để sách xuống lòng, áp trán vào cửa kính nhìn ra ngoài. Mưa bụi đã tạnh từ lâu và nền mây xám tách ra, để lọt một tia nắng vàng dịu lướt nhẹ trên ruộng mạ xanh non, trong trẻo và mong manh quá như sắp tắt. Thành thấy cái vui trong lòng chàng cũng trong sáng và mong manh như thế, chỉ một chút nghi ngờ, một chút lạnh lẽo cũng đủ làm cho tan đi. Thành không muốn nghĩ nữa; chàng khe khẽ khép cuốn sách lại, và ngồi yên lặng như mơ màng.
 
 
 Thạch Lam          
(Trích từ tập truyện Nắng Trong Vườn)

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

ĐƯỜNG NÀO RA BIỂN - Hoàng Ngọc Tuấn


Lãng bước xuống khỏi chiếc xe lam. Ở một ngã ba đường phố chợ ồn ào, nóng bức và lạ mặt. Lãng bâng quơ nhìn những hàng quán và bến xe đò, rồi bước đi trên một con đường nào đó. Lãng không có vẻ gì đặc biệt. Anh như những người khác, tầm thường, còn trẻ, khoảng hai mươi ba tuổi. Cái tuổi nếu không ở đại học hay làm một công chức quan trọng thì có lẽ đã đi lính. Và anh ở vào trường hợp thứ ba, nghĩa là đã đi lính. Tuy nhiên anh chưa phải là một người lính thực sự, mà là một người lính quân trường, mặc áo trận màu xanh chỉ mới được vài tháng.

Thành phố Nha Trang thật mới mẻ và xa lạ với anh. Đã lâu rồi anh quen thuộc với Saigon. Một buổi sáng nào đó anh không biết trước được, anh cùng những người khác nối đuôi nhau ôm bọc quân trang leo lên một chiếc máy bay quân sự khổng lồ, bay đến miền biển nầy. Từ một nơi đầy nắng lộng lẫy của phố phường hay nắng thơm của đồng lúa vùng ngoại ô, đến một nơi nắng mang theo cát và vị mặn của biển cả. Từ một quân trường này đến một quân trường khác. Vẫn mồ hôi, súng đạn và những tiếng hô một hai. Có khác chăng là ở đây đen thêm một chút, mồ hôi thấm ướt áo hơn một chút. Bởi vì bây giờ là mùa hạ, ở miền núi non không một bóng mát cây xanh, mặt trời tung hoành quá, chói chang quá.

Đi ngang qua mặt tủ kính của một tiệm sách, Lãng nhìn thấy trong thoáng chốc hình ảnh của mình. Sao vẫn thấy là lạ. Tóc tai bớt ngắn ngủn, nón đội sụp xuống che kín mắt, trên ngực áo gắn hai miếng vải trắng ghi tên và danh số của mình, những thứ để phân biệt anh và đám người khác trong doanh trại.

Trời khô, hơi thuốc lá nóng. Rạp chớp bóng làm điếc tai mọi người bằng tiếng nhạc gào la từ máy phóng thanh. Phố chợ lao xao người ngợm trông mệt mắt, những thứ ấy làm anh nản. Cái đặc biệt của một thành phố duyên hải dĩ nhiên chỉ có thể là biển. Trại lính của anh nằm sát bãi biển, mỗi ngày mang ba lô, súng đạn ra bãi học, biển đã quen thuộc với đôi mắt anh. Nhưng bây giờ, anh vẫn thèm nhìn thấy biển, say một chút dịu dàng với màu nước xanh bát ngát, trời cao và tiếng sóng gọi rì rào.

Những đường phố chạy theo nhiều ngả khác nhau. Anh không biết sẽ đưa anh đến đâu, dãy nhà cao che lấp mất biển cả. Anh loay hoay giữa những con đường lạ và người lạ, thỉnh thoảng nhìn thấy một vài gái miền biển khá ngộ nghĩnh, làn da rám nắng và đôi mắt trong, da thịt có lẽ chắc nịch sau làn áo mỏng.

Một thiếu nữ khá xinh, có lẽ là người đẹp cuối cùng dạo phố sáng chủ nhật này, đứng trước một sạp bán sách báo. Áo dài nàng màu xanh, có lẽ dệt bằng lụa mềm. Lãng đi lại gần. Nàng cũng có làn da rám nắng và đôi mắt trong, chỉ có thế, không lấy gì làm xuất sắc lắm. Bàn tay nàng đang lật chậm rãi vài trang sách, một cuốn thơ cũ của Nguyễn Bính. Anh tiến lại gần nàng thêm chút nữa, gần đến nỗi nếu có một người khách bộ hành vội vã nào đó đụng phải người anh, anh sẽ té nhào vào lòng áo mềm của thiếu nữ. Đó thật là một điều may mắn, nhưng ít xảy ra quá, và anh chờ hoài vẫn không thấy xảy ra.

Sau cùng anh lên tiếng, với tất cả sự thành thật của một lữ khách tìm đường nơi phố lạ.

- Xin lỗi cô... làm thế nào để đi ra bãi biển được?

Thiếu nữ giật mình quay lại, ngạc nhiên, dường như không hiểu tại sao lại có một gã thanh niên ngơ ngáo dường ấy. Nàng nhướng mắt:

- Xin lỗi, tôi không nghe rõ anh nói gì ạ.

Lãng khổ sở nhắc lại câu nói của mình, lần này dài dòng hơn, với bộ mặt cố làm ra vẻ đứng đắn:

- Thưa cô, bây giờ tôi đang đứng ở đây...

- Dĩ nhiên rồi.

- Nhưng... Tôi muốn đi ra bãi biển thì phải theo con đường nào... nghĩa là... có con đường nào ra biển, cô vui lòng chỉ giúp.

Thiếu nữ nhìn anh. Bây giờ nàng có vẻ hiểu và tin ý định thành thực của anh, nhưng vẫn còn đôi chút ngạc nhiên. Nàng bặm môi, đưa tay chỉ một con đường trước mặt và nói rằng anh hãy đi theo con đường này, rồi rẽ sang trái, sang phải, sang trái... v.v... Cuối cùng sẽ đến đường Duy Tân, anh sẽ nghe tiếng sóng vì đó là con đường chạy dài theo bãi biển.

- Anh nhớ chưa?

- Nhớ, nhưng mà có vẻ rắc rối quá nhỉ.

Nàng rời khỏi sạp sách, miệng có lẽ thoáng mỉm cười.

- Bộ anh chưa đến Nha-Trang lần nào sao, anh không quen ai ở đây sao?

- Không có ai cả. Ở đây tôi là "con bà phước"".

Nàng có vẻ chú ý, với một ít tò mò.

- "Con bà phước"?

- À. Cô không hiểu cái chữ này đâu. Phải ở trong quân trường mới biết được. Đại khái có nghĩa là tôi không có thân nhân nào ở đây, suốt cả mấy tháng chẳng có bà con họ hàng nào đến thăm cả. Như thế gọi là "con bà phước" đấy.

Nàng có vẻ hiểu một cách thích thú. Bây giờ nàng quan sát bộ áo lính hơi nhăn nheo và bạc màu của anh. Mặc áo lính ở đây là một chuyện rất thường. Thành phố này mỗi sáng chủ nhật đầy nhóc lính tráng đủ thứ. Không quân, Hải quân, lính rằn ri của Lực lượng đặc biệt, lính Đồng Đế...

- Tôi hiểu rồi. Chắc anh ở một nơi nào xa, mới đến đây học chứ gì, cái trường gì đó ở cuối bãi biển...

Lãng đưa tay chỉ về hướng quân trường của mình. Phố Đồng Đế, dưới chân núi Hòn Khô, che lấp trong những hàng cây dương xanh ven biển, gần gũi bên vườn dừa của thôn Ba Làng.

Rồi hình như thiếu nữ thấy mình đã làm xong bổn phận từ thiện chỉ đường cho Lãng rồi, nên nàng mỉm cười chào anh. Điều này thật đáng buồn. Anh lúng túng cầm chân nàng lại bằng những lời vòng vo dài dòng, và biết được nhà nàng ở gần bờ biển. Như thế thật tuyệt, nếu nàng là một hướng dẫn viên cho anh biết đường ra biển. Và không hiểu tại sao nàng lại bằng lòng.

Hai người rời con phố chính, theo những con đường nhỏ khá dễ thương, nhiều bóng mát, những cây bàng vệ đường lá ngả sang màu vàng úa hay đỏ sẫm, thỉnh thoảng vài ngọn lá rơi theo cơn gió mát.

Con đường cuối cùng nằm ven biển. Hàng dừa xanh lao xao chạy dài. Trên bãi cát lấm tấm màu xanh đỏ của những chiếc áo tắm. Lãng nhìn một lượt qua những quán nước nằm sát cạnh nhau trên bãi biển, bàn ghế đặt ngoài sân, che phủ trên cao là những tàn lá dừa rậm rạp.

Lãng mời thiếu nữ vào một quán nào đó. Nàng ngập ngừng, nhưng không có vẻ gì bối rối. Anh phải nói thêm một ít lời khách sáo, một ít lời tả oán của một anh lính xa nhà, đã lâu không có một người quen để chuyện trò trong chốc lát. Thiếu nữ bằng lòng. Thật dễ chịu. Có lẽ nàng đã hết cái thời nữ sinh làm dáng rụt rè. Anh rất ghét phải tốn hơi sức để mời mọc một cô gái điệu bộ. Cũng may mà nàng khá tự nhiên, có lẽ đã đi làm việc rồi. Có thể là một cô giáo kèm học trò tiểu học, hay cũng có thể kèm tiếng Việt cho một gã lính Mỹ nào đó, trong bài học vỡ lòng, đại khái như: "Anh yêu em. Anh sẽ cho em mỗi tháng 100 dollar nếu em yêu anh" có nghĩa là: "I shalll give you 100 dollars monthly if you love me". Lãng sẽ chán chết nếu nàng kèm trẻ theo kiểu này, và anh biết rằng ở đây rất nhiều người làm cái công việc đó.

Vào một quán số 3, số 4 hay số 5 gì đó, ngồi vào chiếc ghế đặt ngoài cùng để nhìn thấy cả một khoảng biển chạy dài từ Hòn Chồng đến cửa bể. Anh gọi cho thiếu nữ một ly nước dừa, và anh một ly cà phê. Nàng ngạc nhiên:

- Sao anh không uống nước dừa, tôi thấy thường thường những người lạ đến đây, họ thích uống nước dừa lắm.

Lãng mỉm cười, mơ màng:

- Bây giờ tôi không thấy thèm. Cô biết không, hôm qua còn ở trong trường, tôi đã được uống một ly nước dừa ngon nhất thế giới. Lúc đó hơn 12 giờ trưa, ở một bãi tập dưới chân núi, không một ngụm gió, trời nóng chảy mỡ, mồ hôi, mệt nhoài... bọn tôi lẻn vào làng Đường Đệ, ở quán cóc gần biển, trái dừa và những viên đá lạnh thô sơ. Ngon lành tuyệt trần, uống xong nằm đong đưa trên võng, giá chết ngay cũng được.

Nàng bật cười, có vẻ một ít thích thú và một ít tội nghiệp cho Lãng. Anh nói:

- Này cô Bích Tiên.

Nàng ngạc nhiên:

- Kìa, tên tôi đâu phải thế.

- Ồ, có sao đâu. Gọi tạm như thế cũng được. Cô có vẻ là một nàng tiên xanh lắm. Bích Tiên có nghĩa là nàng tiên xanh.

Nàng tỏ vẻ không bằng lòng cái tên mới này. Trái lại, anh rất thích thú. Cha mẹ nàng làm sao đặt tên hay cho con bằng anh được. Lãng định mở đầu một câu chuyện khác, nhưng anh dừng lại.

Quán nước nhiều lính tráng ngoại quốc và những gái diêm dúa ăn mặc rẻ tiền. Chiếc máy hát ồn ào những bài ca thời trang kệch cỡm, rồi bỗng dưng thay đổi. Một bản nhạc mơ mộng lênh đênh của Đoàn Chuẩn nhẹ nhàng vang lên, Gửi gió cho mây ngàn bay... Lãng dựa người dài theo ghế, thoải mái lạ thường.

- Anh kể chuyện về quân trường anh đi, chắc có nhiều chuyện lạ lắm, Ở đó có khổ lắm không?

- Cô nào cũng thế, cứ làm như là chuyện cổ tích. Cũng đâu có gì lạ. Những mệt nhọc, nỗi khổ người ta quên đi mau lắm. Bây giờ ngồi đây, tôi cảm thấy khoan khoái, như thế là đủ rồi.

Nàng lặng thinh. Anh đã uống hết ly cà phê, gọi thêm một ly khác. Thêm một chút đá lạnh vì trời bắt đầu nóng. Nàng nhíu mày:

- Anh uống cà phê, hút thuốc gì nhiều thế. Coi chừng đau gan, mất ngủ cho mà xem.

- Ồ, cái gì chứ về vụ cà phê, tôi là một thiên tài. Một ngày uống bao nhiêu ly cũng được.

Nàng bật cười vì chữ cuối cùng của anh.

- Bích Tiên biết không, hồi còn ở Saigon, tôi có gia nhập một hội thiên tài. Bạn bè tôi toàn là những bậc thiên tài cả. Thiên tài cà phê thuốc lá, thiên tài ăn diện đẹp, thiên tài nhịn đói, thiên tài không học cũng thi đỗ, thiên tài đi phòng trà không tốn tiền, thiên tài đi hội thảo...

- Còn ở đây?

- Ồ, trong quân trường lại còn nhiều thiên tài hơn nữa. Thiên tài "mang bình hơi", thiên tài khai bịnh, thiên tài đánh giày, thiên tài "chà láng", thiên tài ghi sổ câu lạc bộ, thiên tài ngủ gục... Bích Tiên biết không, có thằng đi giữa trời nắng chang chang mà vẫn ngủ được ngon lành.

Nàng nói có vẻ trách móc:

- Anh thích nói đùa lắm nhỉ.

Anh lắc đầu. Những điều anh nói không có gì là đùa nghịch cả, anh thực tình tin rằng đó là những thiên tài vững chắc nhất, không một nhà phê bình nào hạ bệ được cả.

Hai người cứ ngồi nói chuyện vẩn vơ, chung quanh là nhạc đệm vô tình, có bài hay bài dở. Giọng nói của nàng mơ hồ:

- Mình nên về, ngồi lâu quá rồi.

- Ồ, có sao đâu. Tôi cũng là một thiên tài ngồi lì quán nước nữa. Tôi có thể ngồi quán suốt ngày chỉ với một ly trà đá uống cầm chừng.

Lãng cũng hơi buồn. Tóm lại, anh là một bậc thiên tài về những điều vô ích.

- Biển ban đêm đẹp lạ lùng lắm, anh sẽ thấy...

- Tiếc thật, đến bốn giờ chiều là tôi phải trở vào trại rồi, chậm một chút là "chết thảm".

- "Chết thảm"?

- À, đó lại là tiếng hay dùng trong quân trường nữa. Đại khái là nếu tôi "chết thảm", có nghĩa là bị "quây" mệt bở hơi tai. Đeo ba lô, súng đạn, nón sắt lên trình diện dã chiến. Nhảy xổm, hít đất, song phi vào thế chừng trăm cái cho mệt lả người. Rồi có thể được lịnh chạy hồng hộc đi xin chữ ký của một thằng bạn chuyên môn trốn biệt vào một câu lạc bộ bí mật nào. Hay có thể thơ mộng hơn, chạy nước rút vòng quanh sân để làm thi sĩ đếm xem có bao nhiêu cây bàng trút lá. Xong rồi lại được lịnh trong hai phút phải cởi ngay bộ đồ trận để mặc may ô, xà lỏn chạy ra, rồi lại chạy vào thay bộ đồ đi phép có thắt cà vạt đàng hoàng, rồi lại thay bộ đồ trận...

- Vui nhỉ.

- Trời ơi, cô bảo thế là vui sao?

Con gái nhiều khi vô tình thế đấy, hay cười nghịch ngợm những lúc mình khổ muốn chết. Nhưng anh nghĩ lại có lẽ đó là những kỷ niệm đáng nhớ. Lãng nhắm mắt lại, mường tượng đến những ngày qua. Sáu ngày nhọc mệt đổi lấy tám giờ phép ở thành phố. Bây giờ ngồi đây chân tay muốn duỗi dài, buông lìa hết mọi chuyện.

Quân trường cách biệt bên ngoài bằng một hàng rào kẽm gai, nhưng đã cách quá xa. Giấu mình kín đáo trong những hàng cây dương, là trại lính, là một thế giới lạ lùng. Ào ạt suốt ngày đêm như con thác nước. Những thân người thanh niên rám nắng, ướt nhầy mồ hôi, đeo đầy quanh người súng đạn. Những hơi thở dốc trên triền đồi cao, nắng cháy lênh láng trên da những buổi trưa đường xa mù mịt. Tiếng chân chạy, tiếng hô rầm rập quay cuồng. Ăn ngồm ngoàm trong mồ hôi nhỏ giọt, ngủ lăn lóc trên đất cát, trong rừng cây. Có sớm mai tỉnh dậy thấy tóc tai và chăn ướt mềm sương muối mà đêm qua vẫn ngủ mệt mê. Thèm những điều bé nhỏ tầm thường nhất. Thèm một hơi thuốc đen dưới bóng cây, thèm một ngụm nước lã khi mặt trời đốt khô cuống họng, thèm buổi trưa được ngã mình dăm ba phút dưới bóng mát một bụi cây rừng, thèm một tách cà phê đen thong thả buổi sớm. Có đêm khuya đi hoài trong rừng xa, lại thèm được nhìn thấy chiếc giường của mình trong doanh trại.

- Bích Tiên biết không, tôi rất thèm ngủ dậy được thấy mặt trời.

Nàng ngạc nhiên không hiểu, Lãng giải thích cho nàng. Từ nhiều tháng nay, sớm nào tiếng chuông báo thức cũng lôi đầu anh dậy từ lúc bốn giờ, trời tối đen như mực. Đã lâu không được cái thú mở mắt là nhìn thấy ánh nắng tràn đầy vào phòng.

Nắng lên cao, biển chói chang màu sáng bạc. Trời đã trưa, những người đi tắm biển lần lượt về nhà hay vào nằm dưới những chiếc dù xanh đỏ. Bích Tiên nhìn anh, đôi mắt thoáng buồn, nàng nói rằng nàng phải về nhà, cuộc dạo phố ngày chủ nhật giờ đây đã chấm dứt. Lãng đòi đưa nàng về nhưng nàng từ chối, anh hẹn tuần sau nhưng nàng nói không hứa chắc được. Thật đáng buồn, thời buổi gì mà ít oi thì giờ quá. Cái gì cũng vội vàng gấp gáp. Gặp gỡ chuyện trò, chưa kịp tiến tới đâu cả thì đã chấm dứt. Như một giọt nước mưa rơi quá nhanh, mới buông mây mà đã vỡ tan trên đất.

Áo lụa Bích Tiên xanh mềm, anh thích được gần màu áo ấy. Nếu gặp nhau vào thời nhàn hạ hơn, biết đâu sẽ có dịp cầm tay nàng, đầu óc dư thừa lãng mạn để nói đôi câu tình yêu. Tóc thiếu nữ sẽ buông thả trên tay anh, và đôi môi tươi màu nắng biển, anh sẽ biết.

- Thôi em về ạ. Chiều anh nhớ vào trại cho đúng giờ kẻo bị phạt nhé.

Bích Tiên bỏ đi. Lãng cũng bỏ đi. Thôi đã qua một buổi sáng dễ thương. Ở một nơi chỉ quen thuộc với mệt nhọc và khô cạn như một tảng đá núi, mà tình cờ lông bông ngoài phố, quen được một thiếu nữ như Bích Tiên, có được một khoảng thời gian chuyện trò êm ái, nghe tiếng nói con gái reo vui bên tai. Như thế cũng là một nỗi hạnh phúc lớn lắm rồi, hiếm khi bắt gặp được.

Và Lãng bỗng ngẩn ngơ. Anh có gặp một thiếu nữ nào sáng hôm nay đâu. Anh chỉ ngồi quán nước một mình lặng lẽ, đâu có nàng Bích Tiên nào bên cạnh, với đôi mắt trong và làn da rám nắng. Anh nhìn lại quanh mình, chỉ có biển cả và anh. Anh không còn hiểu gì hết.

Hay như trên cõi sa mạc hoang vắng, ta thường mơ thấy mình được gục đầu trong một lòng suối mát. Con suối cạn tầm thường, ở một nơi chốn như thế đã ngon tuyệt vời như trái cấm địa đàng. Những điều tầm thường, nhưng nhiều khi chỉ là giấc hư ảo.

Buổi chiều xuống, màu đại dương sậm hơn. Những cánh buồm no gió kêu gọi mộng hải hồ.


HOÀNG NGỌC TUẤN    

(Trích từ tập truyện ngắn Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, nxb An Tiêm 1972)

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2023

BA MƯƠI THÁNG TƯ - Nhã Uyên

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ba mươi tháng tư  đã bao năm

Ai là lữ khách ghé về thăm

Con đường đất đỏ ngày xưa ấy

Mang vết chân người đã xa xăm


Câu hát điệu hò ru nắng mưa 

Kẽo kẹt đâu đây tiếng võng đưa

Trên sông sóng nước con thuyền nhỏ

Rợp mát nghiêng nghiêng những bóng dừa


Đầm ấm yêu thương những tháng năm

Làm người nhỏ lệ khóc âm thầm

Ngày đó ra đi nào giã biệt

Bỏ  tuổi ngây thơ bỏ chỗ nằm


Ánh mắt khi về vẫn thiết tha

Bên hàng dâm bụt đỏ màu hoa

Còn chút tình  xưa  nên hàn gắn

Để chẳng giận hờn, chỉ xót xa...

                                Nhã Uyên
 

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2023

NHỚ NGÀY GIỖ TỔ - Xuân Quỳ

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 “Dù ai đi ngược về xuôi 
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng Ba”

Một vùng công đức Mẹ Cha 
Khơi sông mở cõi giao hòa bốn phương. 

Ai về Cổ Tích, Hy Cương 
Lâm Thao, Phú Thọ rừng bương đồi chè 

Đêm nằm như vẫn còn nghe 
Trống đồng vang vọng suối khe ruộng đồng… 

Mây bay vẫn dáng Tiên Rồng 
Âu Cơ lưng địu, tay bồng, vai mang. 

Vua Hùng dựng nước Văn Lang 
Núi sông voi ngựa hàng hàng uy nghi. 

Vương triều khi thịnh, khi suy 
Lửa hồng son sắt chẳng khi nào tàn 

Một vùng nắng dội, mưa chan 
Mồ hôi đổ xuống, bản làng mọc lên.

Cháu con nghìn thuở không quên 
Ngày giỗ Tổ, bao hồn thiêng hội về.
 
                                             XUÂN QUỲ 
 

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2023

KỶ NIỆM ĐOẠN ĐƯỜNG CAM LỘ - HUẾ - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Không còn nhớ là mùa thu hay mùa đông. Nhưng mưa dằng dai trắng mướt trên những tháp canh, ngập giao thông hào, những hàng rào kẽm gai lủng lẳng lựu đạn và mìn ứa rỉ rả từng giọt nước.

Đó là tiền đồn Mai Lộc, trên đỉnh núi Cùa, ngọn đồi quan sát trông suốt vùng rừng núi Ba Lòng miền giới tuyến. Gần bên là Carol, Khe Sanh.

Người lính đóng quân ở đó. Anh được mang từ Saigon về đây. Chuyến bay Tân Sơn Nhất - Ái Tử chất ứ mùi mồ hôi và súng đạn ba lô chồng chất lên nhau như cá hộp.

Sáng sớm, người lính chun ra khỏi căn hầm nước lên đến chân. Anh leo lên tháp canh, châm điếu thuốc, nhìn ra thung lũng bao la trông thật bình yên với lác đác xóm nhà người Thượng trong sương mù. Nhưng đó chỉ là một hình ảnh có vẻ tĩnh mịch trong bình minh mưa lạnh. Đêm qua, nhiều ngày qua, thung lũng đã thấm đầy máu của lính và núi đồi bị cào xới lỗ chỗ bởi bom đạn như da chó ghẻ lở.

Hôm nay là một ngày rảnh rang. Vì hai ngày hôm qua, toán của người lính gồm 8 người đã hoạt động trên một ngọn đồi trong vùng địch, cách đơn vị bạn 10 cây số rừng dày, những giây phút căng thẳng, lặng câm, rình rập, rét mướt đó đã chấm dứt khi một chiếc trực thăng bốc toán trả lại đồn Mai Lộc.

Ngày nay đến phiên toán khác nhảy vào trong núi. Người lính thầm nghĩ mình phải lợi dụng thời gian nghỉ này để "dù" về Huế thăm nhà. Trời vẫn còn mưa, đường bùn lầy trơn trợt, nhưng kể gì những thứ đó. Trùm vội poncho vào người, anh cắn môi gục đầu tránh bớt gió lạnh, lội bộ ra khỏi đồn.

*

Làng xóm nghèo nàn tiêu điều trên núi Cùa bỗng chốc trở thành chợ búa náo nhiệt khi một Lữ Đoàn đóng quân ở đây. Hàng quán mọc lên san sát, luộm thuộm nhưng cũng có đủ cả, cà phê, la de, đồ nhậu, bún bò điểm tâm. Ở nơi chó ăn đá gà ăn muối này cái gì thấy cũng ngon miệng dầu giá tiền tự động nhảy vọt vào mỗi cuối tháng có máy bay của Ban Quân Lương đến phát lương cho lính. Cờ bạc và ăn nhậu, ở đây chỉ có hai thứ đó. Có thằng sạch túi nợ nần lung tung, có tin chiến thắng sau một cuộc hành quân, người ngợm nặng chịch không phải vì huy chương, mà vì hai ba cái đồng hồ, cà rá đeo đầy.

Người lính đã đi từ đồn đến chợ. Anh vào một quán quen thuộc. Quán do một lão già râu tóc bạc phơ làm chủ, đông khách nhất trong vùng này không kém gì Pagode ở Saigon. Quán luôn luôn đầy đặc lính, mỗi sáng trước khi đi đâu, đi chở đạn hay nhận đồ tiếp tế, những chiếc GMC đều dừng lại một lát, vài người lính ào xuống vô làm một ly cà phê đen, tô cháo gà hay một ngụm đế cho ấm bụng. Quán trở thành số một trên đỉnh núi, có lẽ là nhờ có con gái của lão chủ, một cô bé khoảng 15 tuổi dễ thương xinh xắn vẫn lướt thoăn thoắt từ bàn này sang bàn khác với khay cà phê bốc khói. Cô bé rừng xanh này chưa một lần đến trường học, chưa  bao giờ nhìn thấy một thành phố, đôi mắt long lanh của cô chỉ biết mấy mái nhà tranh lụp xụp vì cảnh tượng ồn ào của những vụ chuyển quân, giết chóc từ năm này sang năm khác.

Cô bé pha cho người lính một ly cà phê đen nhỏ. Anh cảm thấy đói bụng nhưng chỉ còn vài chục đồng cho ly cà phê. Nếu là tuần trước thì anh đã ăn sáng một bữa no kềnh bụng, cái ngày đem gạo sấy, đồ hộp xuống bán bớt cho dân làng để lấy tiền mua thuốc hút.

Anh mỉm cười nhìn cô bé, nói rằng mình sắp về Huế và cô có muốn chiếc nón lá bài thơ không.

Mắt cô bé mơ màng, nhưng cô lắc đầu dầu đôi má ướm hồng đôi chút. Anh tức mình đã không có nhiều dịp thân mật thêm với cô, để có thể đọc cho cô nghe vài câu thơ trữ tình của Quang Dũng:

"Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa
Đã hết sắc màu chinh chiến cũ
Em có bao giờ nhớ đến ta".

Thật tình cờ. Quang Dũng làm thơ cho Bộ Đội kháng chiến chống Pháp nhưng ngày nay thơ ông có vẻ thích hợp và gần gũi cho những người lính miền Nam hơn. Lính mặc đồ rằn ri của TQLC, BĐQ, NQ hẳn vẫn nhớ đến câu:

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

*

Qua mấy cây số đường đèo bằng hai chân mỏi run mới xuống đến chân núi Cùa. Bọn lính Mỹ bần tiện hay cẩn thận quá, mình vẩy tay xin nhờ quá giang mà xe nó vẫn làm lơ chạy thẳng.

Cam Lộ. Cái tên ướt át ngọt ngào cho một nơi khô cằn rách mướp. Hầu hết dân cư đều là người Thượng, những nhà của dân tạm cư mảnh mai yếu ớt, cứ một đêm là có vài cái tan tành cháy nát vì bị pháo kích.

Người lính đón xe chở củi ra Đông Hà. Từ bến này mới có xe đò về Huế.

Đến Đông Hà nhưng chưa đi được. Anh gặp một vài đứa bạn cũ, thằng thì Pháo Binh thằng Thiết Giáp, đủ thứ. Chúng kéo anh vào một quán bên cạnh bến xe.

Lại nhậu. Trời ơi, mình đói bụng muốn chết, thầm mong chúng kêu cho mình một tô bún bò Huế mà chúng chỉ kêu rượu. Rượu rẻ tiền: Ruhm Manila, đắng nghét và nóng như lửa, bụng trống uống vô vài ly thấy cồn cào chuếnh choáng. Mãi lúc sau mới có thêm vài miếng lòng heo lót dạ, dạ dày sôi sục lợn cợn thêm.

Gặp một ông nhà văn từ Saigon về đây làm phóng sự chiến trường. Ông đeo bảng tên và chữ PRESS to tướng trên áo, vai mang máy thâu băng máy hình đủ cả. Tụi bạn có người biết tên ông, chạy ra lôi kéo vào nhậu cho bằng được, người lính phải can khéo lắm ông mới thoát được cuộc rượu mệt người ấy (ông D.N.M, không có tôi bữa thì ông cũng say sưa nằm lăn quay ở bến xe như tôi rồi).

Đến trưa, cả bọn lăn lóc trong quán, lè nhè toàn những tiếng chửi thề, nhắc đến tên người chết một cách thương xót cũng bắt đầu bằng hai tiếng Đ.M.

Anh lạng quạng ra khỏi quán, đi tiểu, nôn thốc tháo rồi nằm dài người mê mệt ở bến xe đò. Trẻ nít bu quanh chỉ trỏ cười cợt. Thằng bạn Pháo Binh tỉnh hơn, lôi anh lên ngồi sau yên xe Honda của hắn, rồi rú ga chạy vùn vụt về Huế. Anh mệt nhoài ôm hông hắn, xe phóng ào ào như ngựa điên một vài lần suýt bay xuống ruộng.

Đến Huế vào buổi chiều, đường bờ sông Hương vẫn êm êm rơi đầy bóng lá, sông nước lung linh như mầu áo trắng thanh thoát qua mấy nhịp cầu. Thế là đủ. Chỉ cần một chút mái ngói đỏ hồng mình tưởng như mầu môi cười chào đón, một chút trắng của những tấm lòng thiếu nữ.

Hạnh phúc cho người lính. Trở lại quê nhà dầu không còn gặp một người ruột thịt, nhưng dòng sông, cầu nhỏ, đò ngang, nội thành rêu phủ đã là ruột thịt của anh rồi. Anh trở lại làm một cậu bé con lang thang lội nước trên vỉa hè. Áo quần dơ bẩn đầy bụi đỏ, râu tóc đầy mùi rượu, nhưng nhai hết một trái me non trong răng, là thấy hồn chan chứa thời thanh xuân thơ dại.

Người lính ghé nhà một người quen ở chân cầu Nhà Thờ Phú Cam. Trong căn phòng ấm áp, anh uống cà phê nóng thơm phức, hút thuốc ngon liền tay, nghe vài ca khúc tình lãng mạn. Người nhạc sĩ cũng hát cho anh nghe tiếng ca nồng nàn tình người, kêu gọi một ngày mai thanh bình cho đất nước.

T.C.S, ông cứ tiếp tục hát. Dầu cho trên mặt trận có biết bao tiếng nổ ầm ĩ của vũ khí ngày đêm chát chúa bên tai, nhưng chẳng có ai muốn nghe âm thanh sấm sét ấy đâu, ngay cả những người lính Pháo Binh dày dạn cũng phải bịt tai lại mỗi khi tác xạ.

Mọi người đều chỉ thèm khát nghe Tiếng Người.

*

Một năm nay người lính sống lây lất ở Saigon. Làm một kẻ thường dân ngồi qua ngày trong những quán nước. Chiến thuật, bản đồ, địa bàn, vũ khí... anh đã quên tuốt, vì anh không còn muốn nhớ đến nữa.

Saigon mùa hè 72, tin tức đẫm máu từ mặt trận tới tấp bay về, hình ảnh chiến trường chiếm hết trang nhật báo, trang tám Cáo Phó Chia Buồn.

Vẫn là mặt trận cũ. Nhưng khốc liệt bi thảm gấp trăm lần. Mai Lộc, Cam Lộ, Đông Hà, Quảng Trị tan tành, Huế nghẹt thở lao đao. Một người bạn cùng đơn vị ngày trước, vừa ra khỏi quân y viện, tình cờ gặp anh ngoài quán nước. Hắn què tay, nhưng trí nhớ vẫn còn lành lặn để kể cho anh nghe về cảnh sống chết của bạn bè ngoài đó. Chết, bị thương, mất tích, bị bắt sống, trốn thoát chạy về được, bị bắn bỏ v.v... Cô bé mười lăm tuổi của hàng cà phê đã lấy chồng đi lính nghĩa quân, vài ngày sau cô trở thành một góa phụ mặt mày già cỗi.

Anh lặng yên nghe chuyện rất thông thường trong thời buổi này, nhưng sao vẫn thấy bàng hoàng.

*

Người lính đó có thể là bất cứ người lính nào khác, lính nhà nghề hoặc lính tài tử, lình tình nguyện hoặc lính bị Cảnh sát tuyển mộ, lính Bộ Binh hoặc lính Thủy Quân Lục Chiến v.v... Như nhiều người khác, người lính đó chỉ muốn có một ngày vứt bớt chữ LÍNH luộm thuộm đằng sau. Chỉ còn một chữ NGƯỜI là đủ. Nhưng ngày mai mơ ước ấy vẫn còn xa.

Bây giờ, có lẽ anh phải Vĩnh Biệt phố thêm một lần nữa.

Vĩnh biệt thiếu nữ ngậm hoa Sơn Cúc trên môi, em chẳng thể tìm kiếm thấy chuyện thần tiên ở đời anh đâu, con búp bê kết bằng vỏ sò và ly cà phê trong quán vắng có đủ cho em một kỷ niệm? Vĩnh biệt người nữ của muôn đời, vĩnh cửu, vĩnh thúy, có nở những nụ cười điểm cho cả nhân gian mà chẳng bao giờ cho riêng anh cả. Vĩnh biệt cô bé treo mùng, tâm hồn cô bình yên trong nắng quá, chẳng bao giờ cô hiểu được lời anh. Vĩnh biệt người đàn bà giờ đây đang gần anh nhất, xin cám ơn những điều săn sóc chiều chuộng và nhiệt tình rộng lượng trên căn gác nóng.

Buồn thay cho một xứ sở mà có hai tiếng luôn luôn sẵn sàng ở đầu môi:

Vĩnh biệt.

HOÀNG NGỌC TUẤN      

(Trích tuần báo Khởi Hành số 155, ra ngày 1-6-1972)

Nguồn : blog Trần Hoài Thư

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2023

QUÁN NHỎ DƯỚI CHÂN NÚI - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Vào mùa đông, nắng tắt thật nhanh khi chiều xuống. Bầu trời xám đen và dãy núi bao quanh cũng chìm trong một tấm màn mờ mịt. Dưới chân núi, chợ búa lưa thưa người mua bán, hầu hết là vợ lính tráng hay những người đồng bào Thượng.

Chỉ có thế. Không có gì ngoài một con đường đỏ chạy băng qua giữa xóm và lên thẳng trên núi. Ở đỉnh núi là một nơi người ta gọi là Cùa, vùng đóng quân của vài đơn vị bộ binh quanh năm chịu đựng cảnh mưa rừng giá lạnh, để quan sát những con đường xâm nhập của địch gần vùng giới tuyến 17.

Người lính quá giang xe đò từ Huế ra Đông Hà, và từ Đông Hà đến chân núi Cùa. Lúc này trời đã gần tối hẳn, dân cư đều đóng kín cửa nhà, xem lại những hầm trú ẩn để sẵn sàng nhảy xuống mỗi khi có pháo kích, và cách đôi ba đêm một lần, chuyện những trận mưa trái phá nổ tung trên đầu xóm này là một điều thông thường.

Từ chân núi lên đỉnh, còn hơn 10 km đường đèo đầy sình lầy trơn trợt, địch quân ẩn nấp trong những cánh rừng rậm hai bên đường đèo. Chỉ có xe nhà binh với đầy đủ súng ống hộ tống mới dám đi trên con đường này, và cũng chỉ di chuyển ban ngày. Ban đêm, xe thiết giáp đóng trên những đồi cao sẵn sàng nhả đạn vào tất cả những cái gì chuyển động trên đường, vì đó chỉ có thể là quân địch.

Người lính mệt nhọc nhìn lên đỉnh núi xa vời vợi, nơi đơn vị của anh đang trú đóng. Anh vừa "dù" đi vào Huế chơi, định trở về chân núi khoảng bốn giờ chiều để đón xe nhà binh Mỹ lên núi. Nhưng bây giờ đã trễ, hơn sáu giờ chiều, cái xóm làng nhỏ bé này biến thành một nghĩa địa chết. Xe đò cũng đã chấm dứt chuyến xe chót, nên anh không thể đón xe trở ra Đông Hà ngủ lại một đêm ở cái quận tương đối an ninh này được.

Một cái quán bên đường, gần với chợ không người, đang lục tục đóng cửa. Người lính bước nhanh vào, quán không có bảng hiệu gì, chưng lõng chõng một bộ bàn ghế gỗ thô sơ, vài chai bia, xị đế cho những ông lính địa phương vẫn thường ra đây nhậu.

Người lính gọi một chai bia lớn và một bao Ruby Quân tiếp vụ. Anh uể oải đặt bọc đồ trên bàn, chỉ gồm mấy gói mè xửng mua ở Huế. Lão chủ quán đang thu xếp đồ đạc, nhíu mày có vẻ không bằng lòng vì người khách đến quá muộn này, nhưng cũng lững thững ra sau bếp, đem lên một chai bia và chiếc ly thủy tinh dơ bẩn, bám đầy bụi.

- Hết đá rồi. Cậu uống không tạm nghe.

Người lính gật đầu, đưa bàn tay nắm vào chai bia, thấy cũng còn hơi lành lạnh. Lão chủ quay đi, khó nhọc kéo kín những cánh cửa gỗ, lão đã già yếu rồi, mặt nhăn nheo bạc thếch như lớp vảy cá và tóc lưa thưa trong khi râu xồm xoàm quanh miệng.

Người lính xé bao thuốc lá, một điếu ơ hờ nằm giữa môi.

- Cho tôi xin một chút lửa.

Lão già nhìn quanh quất:

- Hết hộp diêm rồi cậu à. Cậu lấy đèn dầu trên tủ mồi cũng được.

Người lính rít hơi khói, nhìn bâng quơ hai ngón tay vàng ám khói của mình.

- Giờ chắc hết xe lên Cùa rồi phải không cụ?

Lão già đưa hai tay lên trời, liếc một cái nhìn ra ngoài khung cửa sổ, trời đã tối đen.

- Trời ơi. Cậu định lên núi bây giờ, làm gì có xe nữa. Cậu mới đi Huế vô à?

Người lính gật đầu, dí nát đầu điếu thuốc vào trong lon sữa bò, chiếc gạt tàn thuốc thông dụng ở miền quê.

- Kẹt thật, lên núi cũng không được mà trở ra phố cũng chịu. Biết vậy tôi ngủ lại thêm một đêm ở Huế cho rồi.

Lão già đứng nhìn người lính một hồi rồi lụm cụm vào sau bếp, những tiếng động lỉnh kỉnh nổi lên cho biết lão đang dọn dẹp bếp núc. Người lính châm thêm một điếu thuốc theo thói quen, cơn gió núi chợt lọt vào quán từ kẽ hở của cánh cửa làm anh rùng mình. Cái xứ khí hậu quái đản này làm anh chán hết sức. Nắng thì như đốt cháy da người thành mỡ. Mưa đã hơn tuần nay, chỗ đơn vị anh đóng toàn là những vùng sình lầy, khi thì như muốn níu chặt lấy đôi giày "bốt đờ sô", khi thì trơn tuột như những tảng băng làm người ta té nhào vào trong những vùng nước đã dơ bẩn.

Người lính kéo cao áo che kín lấy cổ, tới đứng bên cửa sổ và nhìn ra ngoài. Những mái nhà lụp xụp giờ đây mất hút đi đâu hết trong bóng tối, xa xa có một vài ánh sao sáng nhỏ nhoi lập lòe, chắc là đồn của địa phương quân hay thiết giáp. Dãy núi âm u đen thẫm, một đôi chỗ nền trời bật sáng lấp lánh vì những ngọn hỏa pháo từ dưới bắn lên. Tiếng rầm rì của trực thăng bay nghe mơ hồ không biết ở vùng nào, và đại bác của pháo binh Mỹ thỉnh thoảng nổ từng loạt rời rạc, có cái âm thanh buồn nản đập thình thịch vào bụng.

Lão già lại từ dưới bếp xuất hiện, mang theo ánh lửa vàng lập lòe từ cây đèn cầy trên tay lão. Người lính trở về ngồi trên ghế.

- Thôi, ăn cho chắc bụng rồi tính sau. Quán còn cái gì ăn không cụ?

Giọng lão già lè nhè:

- Bây giờ đâu còn gì nữa. Sáng sớm thì có bún gà, cháo huyết...

- Sáng thì nói làm gì...

Lão già nói:

- Bây giờ chỉ còn vài bao mì Đại Hàn...

Người lính mỉm cười:

- Được rồi. Lính tráng mà được ăn món đó cũng ngon quá rồi. Cụ lấy nước sôi nấu cho tôi hai gói.

Lão già lắc đầu mệt nhọc, chậm chạp quay lại.

- Nước sôi cũng hết trơn rồi. Cậu đợi tôi bắc lửa nấu lại.

Người lính nhắc một cái ghế kê chân, anh ngồi duỗi dài lưng dựa vào vách, tay gõ gõ đánh nhịp trên bàn theo một điệu tân nhạc nào đó xa xa vẳng lại, từ máy ra-dô của một nhà ai.

Lát sau, anh hì hụp ăn tô mì nóng bỏng, hơi lạt lẽo vì thiếu thịt nhưng nhờ có thêm xì dầu nên cũng khá ngon miệng. Bỗng có tiếng gõ cửa làm anh giựt mình, lấy tay áo chùi miệng và ngửng đầu lên.

Lão già đến bên cánh cửa, cẩn thận dí mắt vào khe hở nhìn ra ngoài rồi kéo thanh gỗ chận cửa qua một bên. Lão càu nhàu la lên:

- Đồ quỷ, mày đi đâu giờ mới thò đầu về?

Cô gái lách mình vào, ngạc nhiên nhìn người lính đang chăm chú nhìn mình, rồi quay sang lão già.

- Con đi lại nhà chị Tư, may nhờ cái áo.

Lão già kéo kín cánh cửa, tiếp tục cằn nhằn:

- Cứ áo với quần mãi. Con gái lớn mà cứ nhông nhông giữa đêm hôm, có ngày...

Cô gái bĩu môi:

- Ở đây mình rành đường quá xá mà ba. Lính tráng họ cũng quen biết hết chứ bộ.

Người lính vừa ăn xong tô mì, anh rót miếng nước trà nguội ngắt từ chiếc bình nhôm. Anh bỗng gọi lão già, ấp úng nói:

- Cụ à, kẹt quá... cụ cho tôi ngủ đỡ đêm nay ở đây đi.

Lão giật mình, ngần ngại nhìn người lính. Lão lo âu nhìn bộ mặt đen sạm với râu tóc bù xù của người lính. Nhất là bộ áo quần rằn ri bạc màu, nó chứng tỏ anh không phải là lính địa phương trong làng này. Anh thuộc vào một thứ lính tráng lang bạt kỳ hồ, đi hành quân khắp bốn vùng, nơi đâu cũng chỉ đóng quân vài tháng rồi lại đi, và thứ lính này lại có tiếng là phá phách dữ dằn lắm.

Lão già ậm ự nói:

- Cậu đến trụ sở Nhân Dân Tự Vệ hay Nghĩa quân ngủ tạm thì tiện hơn... tôi ở đây một mình già cả, nhà lại có... con gái.

Lão già vừa nghĩ đến trận đập lộn chiều qua ở chợ giữa mấy ông lính rằn ri này với địa phương quân vì nhậu say hay giành gái gì đó.

Người lính bật cười:

- Cụ đừng lo, tôi là người đàng hoàng, tôi là...

Anh lúng túng chỉ vào chiếc lon khâu ở vai áo. Cô gái nhanh chóng tiếp lời:

- Người ta là Trung Sĩ đó ba. Trung Sĩ thì không làm gì bậy đâu.

Lão già có vẻ khó xử, lão liếc nhìn cô gái và những tút thuốc lá Mỹ, vài chai rượu trong tủ, xem chừng như đó là gia tài cuối cùng của lão. Người lính tiếp tục:

- Chỉ ngủ đỡ một đêm thôi, mai tôi đón xe lên núi sớm.

Cuối củng lão già cũng bằng lòng, vì lão khó từ chối cho được. Lão bảo cô con gái lấy chiếu trải cho người lính ngủ ngay ở giữa quán. Lão thì vẫn thường trực nằm trên chiếc ghế bố nhà binh dưới bếp, và cô con gái đổi chỗ vào trong phòng xép chứa đồ đạc.

Người lính duỗi hai tay có vẻ dễ chịu, anh lại ngậm một điếu thuốc lá, cô gái đưa cho anh ngọn đèn dầu để anh châm lửa. Anh bây giờ mới nhìn rõ cô gái, không đẹp, hơi đen, tóc dài và thân hình có vẻ rắn chắc khỏe mạnh... bộ đùi bó sát trong làn vải đen bóng. Anh nuốt nước miếng, mới đêm qua anh vừa "ngủ đò" ở Huế, lăn lóc với một gái điếm, nhưng bây giờ... anh cố tránh không nhìn bộ ngực đầy vun trong chiếc áo mỏng lấm tấm hoa đỏ của cô gái. Anh nói cho có chuyện:

- Áo của cô đẹp lắm.

Cô gái có vẻ thích thú, mỉm cười duyên:

- Em phải nhờ người quen ra Huế mua, hàng "xoa" đó anh.

Cô gái tự nhiên ngồi xuống, tay vặn cho ngọn đèn dầu khơi sáng lên.

- Anh hành quân ở vùng này lâu chưa anh?

- Cũng hơn hai tháng, chắc sắp về rồi.

Cô gái liếc nhìn ông bố đang lui hui sau bếp, rồi bắt chuyện:

- Người ta nói thứ lính nầy đi đây đi đó dữ lắm phải không anh?

- Cũng lung tung khắp cả.

- Vậy anh đi Saigon chưa?

Người lính mỉm cười, một thoáng mơ màng:

- Thì Saigon là hậu cứ của tụi tôi mà, mỗi lần hành quân xong là về đó.

Cô gái nhìn người lính có vẻ thán phục, nàng lẩm bẩm:

- Saigon... chắc lớn lắm, đẹp lắm hả anh?

- Cô chưa vào đó sao?

- Chưa. Xa quá mà, em cũng ưa đi một chuyến cho biết nhưng không có ai quen ở đó. Ở đây đi Huế là tốn tiền lắm rồi.

Người lính ngáp một cái mệt mỏi, anh nói:

- Huế cũng đẹp chán lắm rồi. Tôi mới biết lần đầu.

Cô gái đứng dậy, kiễng chân vói tìm cây đèn cầy trên cao, tấm thân nàng căng lên, nàng bỗng quay mình lại và bắt gặp người lính đang trộm nhìn nàng.

- Anh cứ đi hành quân quanh năm, chắc vợ con ở nhà nhớ lắm hả.

- Chưa vợ.

- Thì bồ, bồ càng nhớ hơn nữa.

- Cũng không có bồ.

Cô gái bĩu môi, mắt tinh nghịch:

- Xạo. Mấy ông lính như anh không có đàn bà làm sao chịu nổi.

- Thỉnh thoảng cũng có chứ. Xuống "xóm" là có ngay.

Cô gái đỏ mặt nguýt dài một cái, dưới ánh lửa hồng của ngọn đèn dầu, người lính thấy ấm lòng, vì đuôi mắt cô gái có một vẻ gì lẳng lơ không chịu được. Anh nuốt nước bọt một lần nữa.

Lão già lại lù lù lên, nắm tay gõ lên đầu cô gái một cái cộp:

- Trải chiếu cho người ta rồi thì vô buồng ngủ đi. Con gái gì mà cứ bẹo mày bẹo mặt hoài.

Cô gái hứ một tiếng với lão già rồi xách cây đèn dâu vào phòng trong. Người lính hớp miếng bia còn lại trong ly, lấy tiền ra trả cho lão già. Anh nhìn thấy trong bóp mình chỉ còn vài trăm bạc và chợt nhớ mới lãnh lương ngày hôm kia. Lão già cũng bớt cái vẻ cau có của lão.

- Hầm ở vườn sau nhà. Đêm hôm có pháo kích nhớ chạy ra đó. Lạy trời cho mấy "ông" du kích đêm nay không mò về, về mà gặp được cậu thì hết nước nói.

Người lính bật cười:

- Cái gì chứ pháo kích thì tụi tôi ăn như cơm bữa. Nhảy vào trong núi, nào mìn nào đạn bắn tơi bời mà chưa chết. Mấy anh du kích kể làm gì cụ.

Lão già nhún vai:

- Biết đâu ấy.

Lão để lại cho người lính một cây đèn nhỏ, rồi xuống bếp đi ngủ.

Người lính nằm ngửa trên chiếu, duỗi thân mình thẳng ra một cách khoan khoái, anh lấy chiếc "bê rê" kê dưới đầu làm gối, rồi ngồi dậy cởi đôi giày đầy bùn. Lát sau, anh co duỗi mười ngón chân kêu lên vài tiếng lách cách. Có tiếng động gì đó vẳng ra từ phòng của cô gái. Anh chép miệng, nghe ngóng tiếng đại bác nổ rền xa xa, nhưng những thứ đó không làm anh chú ý nữa, anh đã nghe đều đều vào mỗi đêm như lời ru con của mẹ hồi anh còn bé.

Người lính thổi tắt ngọn lửa leo lét của cây đèn cầy. Một ngụm khói bay ra có mùi khó chịu nhưng anh không nhìn thấy gì hết. Ngoài trời, đêm đã đen đặc, nhưng trong cái quán rất nhỏ dưới chân núi này, đêm đen cùng tận.

*

Vào giữa đêm, người lính giật mình nửa mê nửa tỉnh, anh nghe mơ màng một mùi thơm êm dịu phủ khắp mặt mình. Mái tóc dài của cô gái che kín mắt anh nhưng anh vẫn thấy rõ đôi mắt đờ đẫn mê man của nàng. Một bàn tay cô gái đặt trên ngực anh và anh nghe rõ ràng bên hông mình, được ép chắc nịch bởi da thịt nóng hổi của cô gái. Mặt của nàng dụi vào cổ anh nhột nhạt, anh mỉm cười thầm nghĩ may mà mình mới tắm ngày hôm qua ở Huế, chứ gặp lúc cả tháng lội trong rừng, nước chỉ dùng để uống và nấu ăn chứ đừng nói đến rửa ráy. Anh nằm yên, thấy khoái cảm chạy như một luồng điện rần rật khắp thân người. Bàn tay anh đè chặt lưng cô gái vào người anh, và gỡ những sợi tóc của nàng qua một bên để tìm miệng nàng. Nhưng cô gái tránh miệng anh, nàng chồm lên úp môi vào ngực anh, hơi thở cố nén lại vẫn nghe rõ dồn dập. Anh mỉm cười, lẩm bẩm... chắc gái quê không thích hôn môi, bàn tay nhám sù sì của anh nắm lấy cổ cô gái, kéo sát trên da nàng chạy xuống ngực, và hàng nút áo của nàng bật tung ra. Một tay kia anh vuốt ve trên mông nàng, mềm và nóng hổi.

Cô gái kêu lên vài tiếng nhỏ rời rạc trong cổ họng. Người lính trở thành một chiến sĩ sung sướng nhất trong cảnh thiên đàng. Không còn tiếng súng, không còn mìn bẫy và lựu đạn, không còn ngủ ướt lạnh buốt trong núi sâu hay khát nước rã cuống họng ở những vùng nắng cháy. Không còn máu, không còn huy chương, không còn tiếng kèn xung phong hay điệu kèn truy niệm tử sĩ. Không còn đội nón sắt nhảy xuống hầm nghe tiếng đạn đại bác réo trên đầu. Không còn dùng poncho gói lại gấp rút những xác người ngay trên trận địa...

Đây là đêm bình yên hiếm có trong suốt năm năm làm lính của anh.

*

Lúc gần sáng toán lính nghĩa quân đi kích trở về nói chuyện lao xao làm lão già giật mình thức dậy. Lão càu nhàu chửi thề trong miệng, giờ thì lão tỉnh táo như sáo, khó lòng mà dỗ giấc ngủ đến lại được. Lão mở mắt nhìn vào bóng tối mông lung, và lão vụt nghĩ đến người lính xa lạ đang nằm trong nhà mình. Lão hơi lo ngại, vùng dậy lúi húi đánh quẹt thắp cây đèn cầy, rồi rón rén ra khỏi bếp, mò mẫm tiến đến chỗ nằm của người lính.

Lão già bỗng sững người, suýt đánh rơi cây đèn cầy. Người lính và cô con gái lão đang quấn chặt vào nhau trên nền đất, thân thể cả hai trần truồng trắng loáng trong bóng tối, một tấm chăn mỏng đắp hờ trên bụng họ.

Lão muốn dụi cây đèn cầy đang cháy vào ngực cô con gái quá, nhưng lão dừng lại. Dưới ánh sáng, cả hai đang ôm nhau như một cặp vợ chồng mới cưới ngủ mê man, khuôn mặt bình yên thỏa mãn như những đứa trẻ vừa no sữa. Cái miệng của cô con gái lại hình như đang mỉm cười.

Lão chửi thầm trong bụng. Mẹ, cái con trời đánh thánh đâm này phải cho ngựa dày mới xứng. Tháng trước người ta đồn đại nó với viên xã trưởng, tuần trước mình bắt gặp nó với ông cảnh sát làng và mới hôm qua trong xóm nhỏ to rằng nó ngủ suốt đêm ở trụ sở mấy tên Nhân dân tự vệ... Rồi bây giờ nữa.

Một tiếng ầm khủng khiếp như sét đánh làm lão giật mình đánh rớt cây đèn cầy. Rồi liên tiếp những tiếng nổ ghê rợn như đâm vào tai lão, san sát chung quanh và khắp cả. Lão la lên: pháo kích! pháo kích!... và bỏ chạy xuống bếp, đạp tung cánh cửa, sợ hãi làm lão lết nhanh ra vườn và cuối cùng cũng chun được vào hầm trú ẩn ở gần cầu tiêu. Tiếng đạn bay réo như chuông kêu trên đầu và xóm làng nhỏ bé như nhảy múa trong những ngọn lửa đỏ cháy tung lên.

Một lúc sau có từng tràng đạn pháo binh phản pháo nổ ầm ĩ, hỏa châu thả sáng rực trời ở những đồn trại. Trên trời đen, trực thăng bay rầm rầm chúc đầu xuống, họng súng đại liên phun những lằn sáng đỏ rực, uốn cong lượn như con rồng lửa.

Đến sáng trận pháo kích chấm dứt. Một nửa nhà cửa dưới chân núi bị thiêu hủy. Nặng nhất là ở chợ và dãy nhà sát bên, trong đó có quán của lão già. Tất cả chỉ còn là những ngọn khói ngùn ngụt cháy trên những thanh gỗ bị thui đen như củi bếp.

Lão già nhanh chân xuống hầm nên chỉ bị trầy trụa qua loa ở đầu gối và trên trán. Quán nhỏ của lão lãnh trọn một quả trái phá.

Người lính và cô gái vì phải luống cuống mặc áo quần, không kịp chạy ra hầm nên đều bị thiêu cháy đen. Cô gái còn lại chiếc vòng vàng nơi cổ tay dập nát.

Cũng may là người lính đã tiêu hết tiền lương. Anh chỉ còn lại chiếc thẻ bài.


HOÀNG NGỌC TUẤN    

(Trích từ tập truyện ngắn Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, nxb An Tiêm 1972)