Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Ngọc Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Ngọc Tuấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

NGƯỜI CÒN HAY MẤT Ở BÌNH LONG - Hoàng Ngọc Tuấn

 
Lan, gia đình em ở Quảng Trị, riêng mình em thì ở Bình Long. Có những thành phố nào làm vật thiêu thân hơn 2 thành phố đó?
 
trũng đất thấp như một thung lũng nằm giữa thành phố Bình Long, có công viên tên gọi là công viên Hoàng Hôn.
 
Tôi chẳng thấy tấm bảng chỉ tên nào nhưng nàng đã nói cho tôi biết thế. Một mảnh đất tiêu điều trơ trọi không có những vòi nước phun xòe tung tóe như ở Saigon. Vài ghế đá trống lạnh, con đường mòn băng qua đám cỏ khô vàng hoe. Tất cả chỉ có thế.
 
Và nếu muốn diễn tả lại cả cái thị xã ven đồn điền cao su đất đỏ này, cũng không biết phải nói thêm gì hơn. Chỉ một quán hủ tíu ở đầu ngõ vào thành phố, một sạp báo, vài xe bán nước sinh tố bao quanh ngã ba đường, những quán cà phê lố nhố khách hàng toàn là lính tráng của sư đoàn 5 hoặc biệt kích.
 
Thế mà, ngày ấy, một ngày gần đến mùa xuân năm ngoái, chốn bụi đỏ quạnh hiu nhỏ bé này bỗng tươi mát êm đềm như một vùng Đất Hứa. Vì ngày ấy, tôi có nàng.
 
Từ Saigon, tôi nôn nóng leo lên một chiếc xe đò nào đó về Bình Long, là nơi tôi chưa hề biết. Si dại, say mê như một thiếu niên nhỏ dại, hay có lẽ tôi luôn luôn mang một tâm hồn nhỏ dại, tôi đã chạy theo nàng không một phút ngừng nghỉ. Quanh quẩn trên khắp những con đường đêm, quán nước, tầng lầu cao nhất và vắng người nhất của rạp chớp bóng... Chúng tôi gần gũi bên nhau quấn quýt không rời ở Sàigòn. Nhưng chưa đủ, khi nàng một sớm mai nọ trở về Bình Long, nơi mà nàng đang sinh sống, tôi cũng chẳng muốn dính dáng gì với thủ đô hoa lệ đầy những cặp tình nhân này nữa, và phóng vội theo nàng.
 
Chúng tôi là bạn cùng lớp với nhau trong năm đầu tiên ở Văn Khoa. Thời đó vui vẻ và sống động biết mấy. Chen chúc giành ghế trong các giảng đường, mắt đăm đăm vào đống COURS mà miệng thì thầm nhỏ to những điều không có trong sách vở, ngồi trong thư viện tập viết những chữ Hán ngoằn ngoèo mà đầu óc chỉ đơn giản chứa đựng một đôi mắt biếc trong veo, kẻ chữ bậy bạ trên bàn tên tuổi của những nhà đại triết gia Heidegger, Khổng tử bên cạnh tên nàng. Tôi tạm gọi tên nàng là Lan, NTNLan. Tạm gọi thôi vì ở Việt Nam có hàng trăm ngàn cô gái tên Lan, nhưng đây là một cô Lan rất đặc biệt, một người không giống ai cả... bởi vì tôi đã yêu nàng.
 
KHI TÔI NÓI RẰNG TÔI YÊU EM, CÓ NGHĨA LÀ EM BẤT TỬ, câu nói say đắm này là của Gabriel Marcel, một triết gia danh tiếng của Pháp. Nhưng ông này cũng không đắm đuối bằng tôi, tôi nói: khi anh nói rằng anh yêu em, có nghĩa là em không còn là em nữa, em vừa là em vừa là anh... qui tắc Nhị-Nguyên đến đây đành sụp đổ, trong Nhất Thể Tình Ái.
 
Hồi đó, tôi và nàng thương nhau như thế. Cũng như tất cả những người ở tuổi hai mươi mới bước chân vào Đại Học, chúng tôi đều xây những giấc mơ đẹp. Tương lai trong lành và thênh thang quá. Nàng chăm chỉ ghi cours mỗi ngày trong giảng đường, tôi cũng chăm chỉ ngắm nhìn nàng để làm thơ ca ngợi.
 
Nhưng thời thanh xuân ấy rất ngắn ngủi. Vì hoàn cảnh gia đình, nàng không thể nào làm một cô sinh viên thuần túy, nàng phải kiếm chỗ dạy học thêm, lưu lạc xuống đến thị trấn Bình Long heo hút. tôi cũng bỏ học, nửa vì tự ý, nửa vì bắt buộc, lạc lõng theo đời kiếm sống.
 
Gần hai năm sau, tình cờ chúng tôi gặp nhau trong một ngày nộp đơn cho niên khóa mới. Nàng đã thêm tuổi, nhưng mắt nàng vẫn trong, dầu trên trán đã thêm vài nét nhăn mệt nhọc. Tôi cũng bớt ồn ào trẻ con như trước. Gặp gỡ vội vàng, cả hai đều có ít thì giờ, không đủ để nhắc lại biết bao chuyện cũ.
 
Tôi chỉ kịp nói một câu rất ngắn, mà vẫn đủ. Nàng trả lời nhưng không mất một tiếng nói nào, mà vẫn tràn đầy ý nghĩa.
 
Yêu thương.
 
*
 
Đêm đó, những con đường lên xuống theo dốc chập chùng của Bình Long không một bóng điện. Đêm chẳng trăng sao, hỏa châu thỉnh thoảng rơi đỏ đằng xa. Trời tối tăm mịt mù và tôi hoàn toàn không biết đường xá gì hết, ngay cả đường về nhà nàng mà hồi chiều tôi vừa đến, giờ cũng quên mất trong một mầu đen thẫm.
 
Nàng đem tôi đến ngôi giáo đường nhỏ ở nơi xa trung tâm thành phố. Buổi lễ giảng chiều chủ nhật kéo muộn đến tối, kết thúc bằng những bài Thánh Ca đồng vọng man mác, âm thanh nghe huyền ảo êm đềm. Nàng cũng góp tiếng trong Ban Hợp Xướng của nhà thờ. Tôi là người ngoại đạo, và tôi cũng chẳng hề tin có Chúa ngự trên trời nhưng đêm đó, ngồi lặng lẽ hút thuốc một mình dưới một gốc cây trong sân nhà thờ, nghe tiếng hát vẳng ra tôi trở nên sợ hãi nhận thấy rằng nàng và tôi đều nhỏ bé quá. Cuộc sống bao la và ngăn cách, thời đại mệt mỏi và bất an, tình yêu của chúng tôi vùng vẫy thật yếu ớt trong cõi đời sỏi đá này. Rồi tôi sẽ mất nàng hay nàng sẽ mất tôi? Một ngày chia xa nào đó chắc chắn sẽ đến.
 
Buổi lễ chấm dứt, tôi và nàng lên phố, tìm một quán nhỏ còn ánh đèn ăn một bữa cơm đạm bạc nhưng rất ngon lành.
 
Rồi chúng tôi đi lang thang trong đêm. Qua công viên Hoàng Hôn, ngồi nghỉ chân một lát trên chiếc ghế đá. Bóng tối tràn ngập, tôi hôn nàng ở đó, ngọt ngào giữa cõi trời không.
 
Rồi còn gì nữa. Chân âm thầm, gió thổi lạnh qua đường vắng tanh mà tay trong tay ấm. Quán cà phê về khuya vắng khách, đèn mờ không cho nhìn thấy rõ mặt nàng, để xem nụ cười có hân hoan hay ủ dột. Nhạc lè nhè bên tai, những bài hát ái tình đã mòn mỏi, nhưng đôi khi nghe cũng thấm thía. Vì khi đang yêu nhau, lòng mình thường dễ dãi lắm.
 
Đêm chấm dứt, không phải vì trời sáng nhưng vì đã đến giờ giới nghiêm. Nàng về nhà, tôi tìm đến một khách sạn tồi tàn trong tỉnh.
 
Thêm một lần nữa, môi hôn rồi tạm biệt.
 
*
 
Tôi trở lại Saigon. Nàng tiếp tục dạy học ở dưới tỉnh. Cả hai xa nhau một thời gian dài. Chia xa, điều đó xảy ra rất thông thường trong thời buổi này. Nhưng tôi vẫn mong có một ngày trở lại, nấp ngoài lớp học lén nhòm nàng đang giảng bài cho một lũ nhỏ.
 
Chờ đợi lúc tan trường, bất thình lình nhảy ra đứng trước mặt nàng. Để rồi tiếp tục trong những bài học chỉ dành riêng cho hai người, trở lại làm học trò nhưng môi không còn ê a tập đọc, vì môi đã dành cho chuyện khác.
 
Nhưng lần này, tôi bặt tin nàng rất lâu. Một cánh thiệp Giáng Sinh có hình cỗ xe ngựa chở bầy trẻ nhỏ lên trời, gởi cho nàng nhưng vẫn không thấy hồi âm. Ngày tháng dần dà đẩy đưa, xua đuổi. Tôi như nằm trên một ngọn sóng vật vờ trôi xa mãi, xa bến bờ, xa những lời hẹn thì thầm, xa thị trấn nhỏ mù mờ và như thế đó, tôi đã xa nàng...
 
Bình Long tháng 4 năm 1972. Chiến tranh bùng nổ khốc liệt. Trên tất cả những tờ báo hình ảnh đồn điền cao su ven thành phố đã ngã rạp tan tác dưới vòng xích sắt xe tăng. Hỏa tiễn, đại bác, bom đạn đổ ngập lửa xuống đầu thị trấn xưa nay vẫn mỏng manh yếu ớt. Nhà cửa đổ nát, người người ngã gục vì đủ loại đạn dược đến từ mọi phía. Người nằm trong vòng vây của lửa và máu, của đói khát và sợ hãi. Người lũ lượt cuống quýt chạy loạn. Người kẹt lại trong một mảnh đất hiền mà bây giờ đã là nơi tử thủ một mất một còn.
 
Lan, em làm sao sống nổi giữa hai lằn đạn, giữa trận thư hùng còn hơn là huyết hải thâm cừu giữa những vũ khí tối tân nhất được đem đến từ những cường quốc văn minh nhất hoàn cầu.
 
Công viên Hoàng Hôn giờ đây là lằn mức giao tranh của những chiến xa và những trận xáp lá cà bằng lưỡi lê và lựu đạn. Ngôi Giáo Đường nhỏ chắc cũng không còn gì, tượng Chúa trên Thập Giá có nhiệm mầu chăng trong bom đạn. Căn nhà của Lan nằm trong một cư xá gần mấy khu quân sự và dinh Tỉnh Trưởng chắc là đã trở thành đống gạch vụn, và ngôi trường với mấy lớp học sơ sài bàn, chữ phấn trắng viết nguệch ngoạc trên bảng đen trong một lớp tiểu học : ẤU BẤT HỌC LÃO HÀ VI? Nhỏ mà không học, lớn lên biết làm gì? Không biết Lan đã giải thích thế nào câu cách ngôn đó cho đám học trò đầu xanh. Chứ tôi, tôi đã quá nản, nhỏ học hay không học, lớn lên cũng đi lính, cũng bị đẩy vào cuộc giết chóc kéo dài mấy chục năm nay, cũng chết, cũng tật nguyền hay cũng bàng hoàng ngu ngơ nếu còn sống sót.
 
Lan, gia đình em ở Quảng Trị. Riêng mình em thì sống với người bà con ở Bình Long. Có những thành phố nào bị làm vật thiêu thân hơn hai địa danh đó nữa? Có định mệnh nào nghiệt ngã hơn nữa?
 
Giờ đây, tôi đợi chờ tin em từ cõi mịt mùng, và thi sĩ Hữu Loan ơi, cho tôi sửa một chữ trong câu thơ bất hủ của ông:
 
Xin đừng chết người em nhỏ hậu phương.
 
 
HOÀNG NGỌC TUẤN      
 
(Trích tuần báo ĐỜI số 132, tuần lễ từ 18-5 đến 25-5-1972)
 

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2025

HOÀNG HOA - Hoàng Ngọc Tuấn

 
Vào đầu mùa xuân, đường xá khắp thành phố đã rút hết nước lũ. Dòng sông trở lại màu tươi xanh và bầu trời khô ẩm. Sau một mùa đông mưa rơi mù mịt, những hàng lá cây vệ đường bắt đầu lung linh trong ánh nắng vàng. Mọi vật đều trở nên rộn ràng và hồng hào hơn.
 
Trong sân vườn nhà, cây mai đã trổ lác đác những đọt lá tươi non. Và tôi hy vọng chồi cây sẽ nở hoa đúng theo kỳ hạn thường lệ hằng năm, vào ngày Tết.
 
Những ngày đi học vẫn tiếp tục đều đặn. Học trò không còn run lẩy bẩy đến trường dưới cơn mưa nữa. Sân trường vui nhộn hơn trong giờ ra chơi. Và phố phường ráo khô tưng bừng quyến rũ nhiều thêm những lần trốn học hay về nhà muộn.
 
Không có gì lạ ở trường học, nhưng trái lại, đã có một "biến cố" xảy ra trong nhà.
 
Đó là quyết định của bà ngoại tôi bằng lòng cho thêm một gia đình khác đến ở chung trong nhà.
 
Đây là lần đầu tiên kể từ ngày ngôi nhà cổ kính và kín đáo này được xây cất nên, trong nhà có thêm sự hiện diện của người lạ, những người không thuộc gia tộc.
 
Căn phòng lớn ở phía tay phải ngôi nhà, trước kia là nơi vợ chồng cậu mợ Cả ở tạm mấy tháng sau ngày thành hôn, nay đã được anh Tốt với chị Giỏi quét dọn sơn phết lại thật ngăn nắp và sáng sủa để đón gia đình mới.
 
Tôi rất tò mò về những người lạ sắp đến ở chung này. Tôi thầm mong gia đình họ sẽ có ít nhất là một thằng nhóc tì trạc tuổi tôi để làm bạn cho vui.
 
Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng. Buổi chiều nọ, một chiếc xe kéo chậm chạp vào sân nhà, người phu khuân vác xuống một vài chiếc va ly và ít đồ đạc. "Gia đình" người lạ cũng từ một chiếc xe xích lô đạp bước xuống, vỏn vẹn có hai người. Một bà ra dáng đã có thời làm mệnh phụ phu nhân, già nua trong chiếc áo dài gấm thêu cũ xưa, nhưng có lẽ bà ta thua tuổi bà ngoại tôi một chút. Người thứ hai, một thiếu nữ trạc tuổi với dì Kim Lan, khoảng mười chín, khép nép trong chiếc áo dài màu vàng nhạt, bỡ ngỡ nấp sau lưng bà cụ mà tôi đoán chừng là mẹ của nàng.
 
Chỉ có thế. Trái với sự chờ đợi hồi hộp của tôi, những người lạ mặt này xuất hiện mà không mang theo một điều mới lạ đáng thích thú nào cả. Họ có vẻ lạnh lùng, buồn rầu. Sau khi bà ngoại tôi tiếp khách vài phút, hai người lạ được chị Giỏi hướng dẫn vào căn phòng đã dọn dẹp sẵn sàng cho họ.
 
Chỉ có tôi là còn đứng nấp sau chiếc cột nhà lớn, dõi mắt nhìn theo hai người lạ. Còn trong nhà, chỉ sau một phút là im lìm vắng vẻ như cũ, không có gì thay đổi. Bà ngoại trở lại với chiếc ghế trường kỷ. Chị Giỏi xuống lại nhà bếp lo nấu nướng bữa cơm chiều. Anh Tốt vẫn bửa củi ngoài sân. Dì Kim Lan tiếp tục với chiếc khăn thêu. Còn cậu Đức và cậu Lãnh đều vắng nhà.
 
Tôi rón rén lại gần bà ngoại, tò mò lên tiếng:
 
- Mình cho họ thuê phía nhà bên đó hở bà?
 
Bà ngoại lặng lẽ gật đầu.
 
- Họ ở có lâu không bà? Cái bà và... chị đó là ai vậy bà?
 
Bà ngoại xoa đầu tôi, giọng bà nhỏ nhẹ:
 
- Bà đó là bà Đốc Học. Ông Đốc trước kia có quen biết với ông ngoại.
 
Dần dần, tôi cũng biết được thêm về lai lịch của hai người lạ. Ông Đốc Học là bạn thâm giao với ông ngoại tôi hồi còn sinh tiền. Ông ngoại tôi làm quan ở Bộ Binh nhưng cũng sính văn chương thi phú, thường đi lại đàm đạo tương đắc với ông Đốc Học, một nhà khoa bảng tiếng tăm về văn học đương thời. Ông Đốc trẻ tuổi hơn ông ngoại, nhưng hai người bạn cố tri này lại qua đời trong cùng một năm. Thế là ngoại tôi và bà Đốc cũng trở thành quả phụ một lần. Năm đó, cậu con trưởng của bà ngoại tôi đã được hai mươi tuổi, sắp ra trường và làm việc. Còn bà Đốc vất vả hơn, cô con gái độc nhất của bà mới được hai tuổi, bằng tuổi với dí út Kim Lan. Ngày nay, cô con gái đó là người thiếu nữ mặc áo vàng chiều nọ tôi đã gặp. Rồi tôi cũng biết tên nàng, Hoàng Hoa. Chẳng bao lâu, Hoàng Hoa và dì Kim Lan trở thành thân thiết với nhau ngay. Hai người thường chuyện trò ríu rít, thơ thẩn sánh đôi bên nhau dạo quanh vườn sau mỗi buổi cơm chiều.
 
Thỉnh thoảng, bà Đốc ngồi với bà ngoại tôi trên sập gụ, chuyện trò nho nhỏ. Bà Đốc ít ăn trầu hơn bà ngoại, bà cũng có vẻ trẻ hơn nhiều và nhìn dáng dấp khoan thai và búi tóc đen nhánh của bà Đốc, tôi đoán hồi xưa bà đẹp lắm.
 
Bà ngoại cũng gật gù nhìn Hoàng Hoa, bảo bà Đốc:
 
- Trông cháu giống chị hồi xưa như đúc.
 
Như thế là bà Đốc vào thời còn trẻ phải rất đẹp. Vì bây giờ, Hoàng Hoa quả thực trông yêu kiều quyến rũ hơn hết mọi người con gái tôi đã từng gặp. Chị sắc sảo còn hơn dì Kim Lan rất nhiều. Chính dì Kim Lan cũng thú nhận là nhiều lúc ngồi ngắm Hoàng Hoa đến mê mẩn. Cậu Lãng thân yêu của tôi, con người hào hoa sành sỏi đã từng phê điểm tất cả những người đẹp nổi danh của xứ Huế, cũng thì thầm với tôi về Hoàng Hoa: "Tao công nhận con nhỏ đó đẹp ác ôn"... Tôi hơi bất bình khi thấy cậu vẫn gọi, dầu là gọi tên, người thiếu nữ đoan trang này bằng cái tiếng "con nhỏ" cố hữu của cậu. Chỉ có cậu Đức là không có một ý kiến nào hết, khuôn mặt cậu lầm lì lạnh băng, đầu chỉ hơi gật nhẹ một cái mỗi khi Hoàng hoa lễ phép chào. Chỉ có một lần dì Kim Lan thắc mắc về tên người thiếu nữ này, cậu Đức giải thích trong một lời ngắn ngủi: "Có lẽ lấy từ một câu thơ Đường: Thu ẩm hoàng hoa tửu..." 

Cái kiến thức ít ỏi của tôi về Cổ văn cũng thuộc mấy câu thơ ngắn đó:
 
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi
 
Mấy cụ già nho học cựu truyền ở Huế thường thích đặt tên con theo những chữ trong cổ thi. Một gia đình ở gần nhà tôi, ven bờ sông trước ga xe hỏa, cũng có hai cô con gái mang tên là Phương Thảo và Lục Hà (cô Lục Hà hát trên đài phát thanh Huế với biệt hiệu là Hà Thanh).
 
Mùa thu uống rượu Hoàng Hoa...
 
Có lẽ ông Đốc ngày trước cũng là một tay phong lưu tài tử. Tôi không biết men rượu hoa vàng ngon ngọt say sưa thế nào, nhưng giờ đây, Hoàng Hoa quả đã nhiều phen làm tôi trộm ngắm say sưa mê mẩn không kém gì dì Kim Lan. Bà dì này thường tôn những người đẹp trong phim ảnh hay trên các tờ báo ca nhạc làm thần tượng, dì cắt hình họ bỏ trong cặp và mái tóc của dì thỉnh thoảng được tập tành chải theo kiểu mấy cô ca sĩ. Tôi cũng thán phục những người đẹp như dì Kim Lan, nhưng tôi thấy sự ngưỡng mộ của tôi có lý hơn dì. Cùng là đàn bà như nhau mà say mê như điếu đổ làm cái quái gì.
 
Mấy lúc sau này, ngồi trong lớp học tôi nôn nóng chờ giờ bãi về hơn thường lệ. Buổi chiều nghỉ học tôi cũng từ chối lời rủ rê đi chơi của bạn bè. Bọn nó đều ngạc nhiên chưng hửng nhìn tôi. Duy Cận giận hờn, Sơn Vồ ngơ ngác, chỉ có Toại Lém nheo mắt ranh mãnh nhìn tôi như diễu cợt. Nó thì thầm một chuyện gì có vẻ bí mật với hai đứa kia, rồi cả bọn tò mò nhìn tôi.
 
Tôi bực mình la lên:
 
- Tụi mày làm gì mà nhìn tao như kiểu nhìn con khủng long vậy?
 
Cả bọn không trả lời. lại chụm đầu vào nhau bàn tán.
 
Tôi nổi cáu:
 
- Sao không có thằng nào nói với tao một tiếng? Tụi mày làm như tao chết rồi à.
 
Giọng Sơn Vồ có một chút mỉa mai:
 
- Mày "chết" rồi chứ gì nữa...
 
Toại Lém phụ họa:
 
- Ừ, đúng rồi. Mày mà sa chân vào "chuyện đó" là chết rồi con ơi.
 
Tôi còn đang ngạc nhiên, Duy Cận lại lạnh nhạt thêm vào:
 
- Tí Buồn. Tao biết tại sao mày "bỏ" tụi tao rồi. Tại sao mày muốn đi chơi riêng rồi.
 
Tôi ấp úng:
 
- Đừng nói bậy bạ. Đời nào tao "bỏ" tụi mày. Có lúc nào tao đi chơi riêng đâu. Xi nê, ăn chè, đi biển Thuận An, hay làm cái gì... gì... như người sành điệu đó cũng cùng với tụi mày.
 
Toại Lém cười khẩy, nó nói dằn từng tiếng:
 
- Chà... lúc này mày muốn làm người sành điệu một mình rồi. Tí, tụi tao biết mày mới có... bồ. Con nào đó?
 
Tôi la lên:
 
- Trời ơi, đâu có!
 
Lập tức cả ba cái miệng nhao nhao ùa lên:
 
- Thôi đừng nói láo!
 
- Đừng đóng kịch nữa!
 
- Tí, mày nuốt lời thề rồi. Mày không nhớ tụi mình đã ngoéo tay với nhau là thằng nào có "bồ", phải nói cho cả bọn biết. Con đó tên gì? Học trường nào? Lớp mấy? Mày dẫn tụi tao đi "nghễ" * nó cho biết mặt.
 
Tôi lúng túng không nói được một lời giải thích nào. Tụi bạn lại càng nghi ngờ thêm. Vì kể ra tụi nó cũng có lý. Bốn đứa tôi từ lâu đã có điều lệ: thằng nào "yêu" con nào, phải chỉ rõ cho ba thằng kia biết tên biết mặt, để rồi cả bọn lò dò đạp xe theo "người tình của bạn" xì xồ bàn tán vào mỗi buổi tan trường, và có khi suốt cả năm mà "chàng" chưa dám nói với "nàng" một tiếng, thông thường bọn tôi chỉ "chấm" những đứa con gái học thua mình hai lớp cho đỡ bị... tự ti mặc cảm, mấy cô bé lớp Đệ Lục hay quá lắm thì cũng chỉ đến lớp Đệ Ngũ cùng trường.
 
Tôi biết làm sao để giải thích cho tụi bạn hiểu thái độ bị xem là thất thường trong mấy lúc gần đây của tôi, khi chính tôi cũng không thể giải thích cho chính mình hiểu. Tại sao tôi bỗng lơ là với giờ học, tại sao tôi đâm lười ngay cả đến chuyện đi rong chơi với bạn bè, tại sao tôi lại mong về nhà sớm, muốn ở lì trong nhà chứ không buồn đi đâu hết?
 
Tại sao? Đầu óc tôi rối bung mù mờ. Tôi không hiểu tôi, tôi không hiểu gì cả. Có "bồ"? Cái thằng Toại Lém thật bạo mồm lanh miệng. Tôi mà bồ bịch cái quái gì? Có ma nào mà thèm làm "bồ" với tôi ngoài ba thằng bạn quỷ sứ này.
 
Tôi thở dài, dịu giọng:
 
- Tụi mày nghi oan tao rồi. Tao có ai đâu ngoài cái con Nguyệt Nga mà tụi mày đều biết rồi.
 
Duy Cận reo lên:
 
- À... đúng rồi. Chắc là tại con Nguyệt Nga mày mới ngơ ngẩn như người mất hồn thế. Nhưng sao mày lại thất tình, yếu quá vậy?
 
Toại Lém lại lên giọng sành sỏi:
 
- Thất tình là ngu. Con gái thiếu khối gì. Con trai mà thất tình là không phải là người... người sành điệu.
 
Tôi giả vờ thú nhận cho qua chuyện. Thật ra, cả tháng nay tôi không hề nghĩ đến Nguyệt Nga. Đó là một cô bé học lớp Đệ Lục ban Pháp văn cùng trường, một "người yêu" mà tôi biết chắc chắn trăm phần tên nó là Nguyệt Nga, thế mà tôi vẫn lẩm cảm đi theo nó suốt cả mấy tháng hỏi đi hỏi lại cái câu làm quen thật vô duyên là: "Ê... ê... tên gì đó?" cả trăm lần vẫn chưa được nó mở miệng trả lời. Cách làm quen con gái hay nhất, đầu tiên là hỏi tên, "chiến thuật" đó của người sành điệu Toại Lém truyền cho tôi lần này sai bét.
 
Đến bây giờ, cả bọn mới tỏ vẻ hài lòng vì cho rằng đã hiểu nguyên nhân bí mật làm tôi trở thành bất thường. Tại vì cô bé Nguyệt Nga. Tôi cũng gật đầu với chúng để khỏi bị "quay điện" điều tra thêm gì nữa, còn gay gắt hơn cả lúc bị thầy Lê Gầy hạch hỏi mấy cái công thức toán Điện. Nhưng trong thâm tâm, tôi biết chắc chắn không phải vì cô bé nhỏ tí tầm thường đó mà tôi thay đổi.
 
Chắc chắn là không phải... tôi thề với Trời Phật điều đó. Nhưng vì sao, vì ai mà tôi đâm ra thẫn thờ như một kẻ si tình? Tôi cũng xin thề với Trời Phật là sẽ không nói cho ai biết điều thầm kín này.
 
Vì chính tôi cũng không dám nói cho... tôi biết.
 
Gặp tôi đang ngồi lúi húi cột sửa chiếc cần câu cá dưới bóng mát của mái hiên nhà, Hoàng Hoa dịu dàng mỉm cười. Chị tự nhiên ngồi trên bệ tường gạch thấp gần tôi, tay bâng quơ víu xuống những bông hoa công chúa mầu tím nhạt buông lủng lẳng trên giàn cây.
 
Tôi nói nhỏ:
 
- Coi chừng bị ong đốt đó.
 
Hoàng Hoa nhìn tôi, mắt mở ra ngạc nhiên:
 
- Có ong ở đây à.
 
Tôi gật đầu. Thấy Hoàng Hoa có vẻ tò mò quan sát đám hoa lá rậm rạp như để tìm ong, tôi buông chiếc cần câu và đứng dậy. Tôi tìm một cây sào, chọc mạnh vào một bông nằm khuất trong lá, một chú ong mật nãy giờ cắm đầu sâu hút trong cuống hoa, giật mình hốt hoảng bay ra. Hoàng Hoa có vẻ thích thú, môi chị lại hơi mỉm cười. Tôi cũng cười theo chị, mắt dò tìm và tay cầm sào đuổi thêm vài chú ong đang hút nhụy hoa vù vù bay ra nữa.
 
Hoàng Hoa lơ đãng nhìn quanh khu vườn, lẩm bẩm:
 
- Vườn nhà của Tú đẹp quá. Ở đây thấy thích thật. Tú có thích không?
 
Tôi gật đầu. Bây giờ, Hoàng Hoa là người quen biết duy nhất gọi tôi bằng tên thật một cách đàng hoàng. Ở nhà, mọi người đều kêu tôi bằng cái tên thân mật: Tí, và tụi bạn thì gọi một cách bỡn cợt hơn: Tí Buồn.
 
Mỗi khi nghe cái tên Tú của mình vang lên thật mềm mại từ đôi môi của Hoàng Hoa, tự dưng tôi lại thấy mình như lớn thêm vài tuổi.
 
Hơn một tháng qua từ ngày Hoàng Hoa đến đây, ngoài dì Kim Lan, tôi sung sướng thấy mình là người được chị nói chuyện hỏi han nhiều nhất. Mặc dầu điều đó thật dễ hiểu: cậu Đức và cậu Lãng đều là hai người đàn ông đã trưởng thành, hai cậu không được tự nhiên lắm mỗi khi gặp mặt Hoàng Hoa, chị cũng thường khép nép cúi đầu chào một cách rụt rè. Còn tôi chỉ là một cậu nhỏ thua Hoàng Hoa đến ba tuổi nên chị dễ dàng thân mật tự nhiên với tôi ngay. Có lần chị nói rằng xem tôi như em, nhưng may mắn thay, mỗi khi trò chuyện chị đều gọi tôi bằng tên chứ không kêu là em một cách kẻ cả.
 
Gió chiều xào xạc qua rặng tre ở bờ ao và cây lá thoang thoảng thổi mát mặt tôi. Tôi nhìn thấy những sợi tóc của Hoàng Hoa cũng bay bay lòa xòa hai bên má. Chị nhẹ nhàng vuốt một vài sợi ra sau vai, có vẻ định đứng dậy:
 
- Mình đi dạo một vòng trong vườn đi Tú.
 
Tôi liếc ra sân, trả lời:
 
- Đợi chút nữa. Còn nhiều nắng lắm.
 
Trời mới khoảng gần bốn giờ chiều. Vẫn còn ánh nắng loang lổ trên vườn sân, đó là nhờ những tàn lá ngăn rợp bớt chứ nhìn ra ngoài đường cái, tôi thấy nắng sáng loáng khắp cả.
 
Chiều nay, hai ông cậu tôi đều đi đâu vắng. Dì Kim Lan theo bà ngoại đến thăm nhà một người bà con. Tôi đã định ra bờ sông ngồi câu cá cho đỡ buồn. nhưng bây giờ, tôi thấy khó có thể vác cần câu ra ngồi một mình buồn thiu ngó xuống mặt nước sông lừ đừ nữa.
 
Tôi cùng ngồi dưới hiên nhà với Hoàng Hoa, chờ chiều xuống dần. Thềm gạch lấm tấm những bông giấy nhỏ màu đỏ thắm, sáng nào chị Giỏi cũng quét tước sạch sẽ nhưng rồi bao giờ cũng rơi rụng lác đác thêm trong ngày. Tôi chăm bẳm nhìn lên bầu trời trong chan hòa ánh sáng ngời của nắng, khi có một tiếng động nhỏ vang lên, tôi quay sang nhìn Hoàng Hoa, mắt tôi mới bị ngộp nắng làm hoa lên, chỉ thấy màu đỏ của loài bông giấy leo lên giàn cây chan hòa lung linh trong màu áo vàng của Hoàng Hoa. Chị có vẻ thích màu vàng. Tôi để ý thấy những chiếc áo dài hay áo cánh mặc trong nhà của chị đều toàn là một màu vàng, vàng nhạt, vàng tươi hoặc vàng sẫm, màu vàng nào cũng êm mát nhẹ nhàng, đôi khi cũng rực rỡ lắm nhưng không bao giờ chói mắt kệch cỡm như màu bông cúc vạn thọ.
 
Một lát sau, Hoàng Hoa và tôi bước xuống khỏi những bậc thềm nhà, thủng thẳng vào sâu trong vườn... 
 

(Trích từ tạp chí Thời Tập số 5, phát hành ngày 11-4-1974)

 ________
(*) Nghễ : Một tiếng lóng của giới học sinh ở Huế vào những năm 60, đại khái có nghĩa là ngắm nghía con gái. 
 

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

VÀI TRANG BẢN THẢO - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Đêm ấy tôi ở gần bên em. Sau cánh cửa sổ mở ra khu vườn âm thầm tối đen, tôi tìm thấy một khung trời đêm có rất ít ngôi sao nhấp nhánh. Trăng đã biệt dạng từ mấy đêm qua. Ánh sáng bàng bạc mầu ngà không còn tắm dầm mình trên tấm áo trắng mỏng manh của em, như nhiều đêm trước tôi thấy dáng em xanh xao, nhợt nhạt trong màn khuya mộng mị.
 
Đêm nay, em đóng kín cửa sổ lại. Căn phòng nhỏ không đèn sáng rực lên một đôi mắt nhỏ. Tôi rất yêu đôi mắt của em, đó là điểm đầu tiên nơi em rù quyến thu hút lấy tôi, không phải ngay vào thuở ban đầu mà dần dần từ tốn mỗi ngày mỗi thấm nhập vào tôi sâu đậm cho đến một lúc máu tim tôi hòa tan thật không ngờ vào ánh mắt muôn ngàn linh động, ảo hóa chập chùng ấy.
 
Em nhìn tôi em nhìn tôi, lẳng lặng nhìn tôi không rời một giây không nói một lời. Tôi hiểu được chăng tiếng nói rền vang câm nín từ trái hồn em đã chín hồng, mọng ướt, vỡ căng trong tình yêu tôi qua biết bao nhiêu ngày đêm soi rõ và thấu suốt.
 
Tôi có hiểu được chăng, những điều tưởng chừng như hiển hiện xác thật dưới ánh sáng trưng của bóng đêm, và quen thuộc nằm lòng trong tôi như máu đỏ phập phồng.
 
Tôi hiểu được em chăng. Tôi hiểu được chút gì nơi em. Hay là em mãi mãi vẫn ẩn mật lạ lùng, dầu em đã nói với tôi, tỏ cho tôi biết nhiều điều đơn giản thường tình, ví dụ như tôi biết lúc nào em được sung sướng, tôi cũng biết cơn đau của em vào những lúc buồn bã, hoang mang bối rối. Nhưng tôi đã hiểu được chút gì về những nếp nhăn trên môi em khi môi ấy không phải là nụ cười cũng không phải là nụ hoa giấu kín đắng cay. Tôi đã hiểu được chút gì về tiếng nói khô khan rất ngắn của em, em đã nhiều lần nói "không", vội nuốt lệ đỏ, lắc đầu, khinh mạn trả lời khi tôi ân cần hỏi em về hạnh phúc. Tôi đã hỏi hàng trăm lần. Suốt đời tôi ao ước muốn biết em được hạnh phúc không, tôi muốn rõ em có hài lòng khi đón nhận tôi từ một lúc nào thật bàng hoàng và có còn muốn tiếp tục tự giữ em ở trong tôi mãi mãi. Tôi muốn biết em, tôi muốn biết tôi, ai ai cũng muốn biết đâu là quả phúc của cuộc đời. Chúng ta có được hạnh phúc hay không, khổ đau có đe dọa mầm chỗi dậy tái hồi vây bủa. Tôi sống được chút gì hoan lạc, em sống được chút gì hoan hỉ. Em bỏ quên, tôi đánh mất những gì trong đời. Đáng lý ra thì chúng ta phải được nhận những gì và sự thực có phải ta đã bị xua đuổi ra khỏi vườn mơ ước, rơi xuống khỏi nhánh cây gãy lìa mà chưa kịp hái rất nhiều trái ngọt trên cành.

Tôi yêu em vì thế. Tôi yêu em vì tôi không bao giờ hiểu em được cả. Em che giấu tôi nhiều chuyện, em nói dối, điêu ngoa, đôi môi em đáng yêu, thấy thèm biết mấy nhưng đôi khi quỷ quyệt như một nàng kỹ nữ.

Tôi cũng dối trá với em. Em hai lòng chẳng hợp nhất cho tôi, tôi cũng giấu dĩ vãng tôi đã nhiều lần tính san sẻ.

Nhưng có hề gì đâu tất cả những điều ấy. Tâm hồn tôi trắng xóa trong sạch khi gần bên em, đời tôi bùng cháy lửa sống hồng hào từ lúc bắt đầu yêu em.

Tôi đã biết được em là ai? Em, mang một cái tên như nhiều người khác, một thân xác như nhiều người khác, và dĩ nhiên, em không phải là những biểu hiện phụ thuộc bề ngoài đó. Chẳng có cái gì có thể tượng trưng được cho em. Chẳng một lời mô tả, kết luận ngắn ngủi nào có thể nói đủ về em.

Đúng như em mơ màng nói nhỏ trong ngực áo tôi.

Anh nhớ đi, em là em. Anh đừng hòng tìm một hình ảnh về ai ở nơi em, anh đừng mong tìm em ở một ai ai khác về sau. Em là em, nhớ chưa, anh nhìn em đi.

Tôi chăm chú nhìn sát vào mặt em, trong bóng tối, chúng ta chỉ được gần nhau trong tối tăm, đêm khuya, lặng thinh, bí mật, chúng ta thích hợp với một vũ trụ không có ánh sáng chói chang của mắt người soi mói và tiếng nói vo ve ồn ào của kẻ khác. Nhìn em, đó là điều tôi say mê nhất, đã rất nhiều lần tôi chăm chăm nhìn em, âu yếm, đùa cợt, hung dữ, giận hờn. Tôi nhìn em mê mệt suốt đêm ngày không biết chán, cả một đời tôi lẳng lặng sống với khuôn mặt em sát trước mặt, bất cứ ở đâu, xa vắng hay gần gũi, bất cứ lúc nào chỉ hai người hay giữa chỗ đông người, phút mở mắt sớm mai hay nhắm mắt ngủ trong đêm, tôi vẫn nhìn thấy em, chiêm ngưỡng, ra dấu, mỉm cười hay nháy mắt với em như một người thờ thẫn khật khùng thường ngồi cười nói lảm nhảm một mình.

Đêm nay, tôi nhìn tah61y em rõ ràng bằng xương bằng thịt. Tay tôi có thể vòng qua đầu em để tháo sợi dây lụa cho mớ tóc em xổ tung ra nằm bê trễ trên gối, vương vãi, chạm nhột, mơn man thích thú vào mặt tôi một cách dịu dàng. Tôi cúi xuống kề mắt mũi sát với mặt em, em kéo tóc em thành hai mối dây vòng sau qua gáy tôi, cột lại, sơ sài mà chắc chắn, tóc em giữ tôi vào em, tôi nghe mình hiện thân làm một con người sống động, mãnh liệt, tràn trề sung sướng trong một biển tối bao la ngát thơm hương em mơ hồ thoáng vội, chỉ nồng nàn đối với tấm lòng nhạy cảm của tôi như những sợi dây đàn căng thẳng, run rẩy, rung động lạnh người trong một hơi thở nhẹ từ môi em lén lút trao tôi.

Trong đêm, trời khuya thanh vắng, mùi hương. Hương. Tôi hoàn toàn chỉ biết được một hương em từ đầu hôm cho đến lúc trời tảng sáng. Hương, mùi hương ấy cũng như lời em thầm thì mông lung vô nghĩa tôi chẳng hề quên.

Em chẳng bao giờ nói với tôi một câu nào làm cho tôi mát dạ hả lòng. Em ăn nói hà tiện lời, giấu kỹ, gò bó ngăn chận tình cảm của mình một cách dễ ghét. Có lẽ em yêu tôi nhiều hơn là lời em nói, em nghĩ em nhớ đến tôi nhiều hơn là khuôn mặt dửng dưng của em hướng về tôi. Có lẽ, bởi vì tôi chẳng bao giờ biết được chắc chắn một điều gì nơi em. Em thường tự hào về con người riêng rẽ, khép kín của mình. Em hãnh diện nói với tôi:

Chỉ có mình em mới biết rõ em thôi. Anh chẳng bao giờ hiểu em cả. Có nhiều điều anh đã hiểu lầm về em, ví dụ như tưởng rằng em yêu anh, thật ra đó là một điều lầm lẫn rất lớn.

Tôi đau đớn lặng người, lời ác độc của em đâm suốt vào tôi, thiêu cháy, tôi tan rã như đống tro tàn.

Tôi quay cuồng kêu gào một mình trong tôi, và em sẽ nghe được câu hỏi hoang mang buồn bã ấy.

Tại sao? Em không yêu tôi? Thế tại sao có môi hôn nồng nhiệt giữa chúng ta? Tại sao đã có những lần mầu mắt chan chứa ân tình say đắm giữa chúng ta? Tại sao? Phải chăng tất cả đó là những giây phút đùa cợt điên cuồng, những màn kịch rồ dại không suy nghĩ, những ảo giác lung linh hay là những giấc mơ đậm nét nhưng rất ngắn và sớm tan tành.

Tôi nói em đừng làm khổ tôi vì những lời em lạ thường tôi không tài nào hiểu nổi. Thôi, tôi không cần nghe em nói, tôi không cần ngôn ngữ, không cần âm thanh, tôi không cần lời ngọt ngào và sợ hãi chẳng dám nghe lời đắng chát.

Tất cả những điều tôi cần, tôi muốn,. tôi ao ước trên đời này, tất cả những điều đáng giá nhất cho cuộc sống là một mùi hương người nữ trao trọn vẹn cho tôi không kèm theo một lời thừa thãi. Không cần cả đến tiếng "yêu", chỉ là mùi hương của da thịt em đêm đêm ôm ấp vỗ về trong tôi, ngát thơm đôi môi, tôi chỉ cần chỉ yêu một điều duy nhất đó.
 
Hương. Trong đêm, suốt đêm. Môi quấn quít kề cận nhau không rời.

Đó, tôi cảm tạ em, tôi yêu em biết bao. Em rộng lượng đắm đuối dâng hiến cho tôi một đôi môi thơm mùi dạ hương diệu vợi, thoang thoảng như chớp nhoáng chợt tan ở đâu đây, tẩm đậm lắng sâu vào người như được tiếp một dòng máu thứ hai cứu vớt sinh mạng mình.

Em cứu sống tôi, cứu vãn một quá khứ nổi trôi khổ nhọc đã qua từ nay được xoa dịu an ủi, cứu vãn một tương lai không còn là vô vọng tuyệt mù. Mỗi thời khắc tàn tạ thiêu hủy vội vàng, nhờ em, đã trở thành những phút ngàn vàng thường hằng với đầy nghĩa đẹp. Tôi sống trường sinh bất lão, hưởng ngọt nhụy xuân vĩnh viễn không phai, tắm nắng tươi giòn của mùa hè thắm hoài không nhạt. Đó, trong đêm tối, chúng ta không nói gì nhiều với nhau. Tôi chỉ còn nhớ vài lời em ngắn ngủi:

Em là em.

Anh không thể nào hiểu được em đâu.

Em cũng không hiểu em có yêu anh hay không.

Những lời đó em nhắc đi nhắc lại mãi. Và thế là sự liên hệ giữa chúng ta đã bấp bênh, mỏng manh, yếu ớt từ gốc rễ.

Tôi đã sợ một ngày tàn phai.

*

Vẫn là trong đêm.

Vẫn trong căn phòng nhỏ không đèn có cánh cửa sổ hướng ra khu vườn, nhưng cửa đã đóng kín.

Tối mù trước mắt tôi, nhưng tôi vẫn biết chiếc áo ngắn của em mặc màu vàng nhạt.

Chiếc đĩa hát cũ đã xoay hết vòng cuối cùng, một điệu nhạc xưa đã ngưng tiếng, còn rơi rớt vài dư âm trong trí tôi.

Tôi châm thuốc hút bằng cây diêm quẹt. Tôi định dùng đóm lửa nhỏ thắp sáng ngọn tim của một mẩu nến trắng. Nhưng em đã níu tay tôi lại, em thổi tắt lửa. Tôi nuốt một hơi thuốc, em nhẹ nhàng áp má vào lòng tay tôi, cũng xin được chia một ngụm khói thuốc.

Tôi nói em đừng tập hút thuốc lá, kẻo sẽ trở nên ghiền, suốt ngày ngậm, vắt vẻo trên môi một điếu thuốc như những ả giang hồ.

Em vùng vằng nói em chỉ hút vài hơi cho vui thôi vì em thích mùi khô ấm, thơm đậm, bồng bềnh của khói thuốc lá.

Tôi nói hút thuốc nhiều môi sẽ bị hư, bỏng, có những vết thâm. Và em hãy giữ môi em tươi mãi cho tôi, vì đôi môi em từ nay không chỉ là của em mà còn của tôi nữa. Em bĩu môi, anh đừng ham, chẳng có cái gì của em là của anh cả. Anh sẽ không được gì hết.

Tôi biết. Rốt cùng, chúng ta chẳng ai cho nhau được điều gì cả. Em như một con ốc thu hình giấu kín, tôi như là đảo hoang không thể trở về cập bến với đất liền.

Chúng ta hoàn toàn xa lạ với nhau. Có lẽ chúng ta không thương yêu gì nhau đâu. Chúng ta chỉ giống nhau ở một điều, chỉ gần nhau ở một điểm, là đều yêu thích bóng tối, cùng say sưa với hương đêm, cùng bị cuốn hút mê muội trong da thịt nhau mỗi khi bất ngờ hay cố tình kề cận.

Tôi thiếp ngủ mơ màng trong chân tóc em. Tôi hơi say, tôi đã uống vài hớp rượu, tôi hút thuốc quá nhiều đến nóng ran môi miệng. Khi em hôn vào vai tôi để gọi tôi dậy thức qua đêm cùng em, tôi cảm thấy miệng đắng, tôi sợ rằng hơi thở tôi nặng nề làm em khó chịu.

Tôi nói, miệng anh đầy hơi rượu và mùi thuốc, để anh đánh răng xúc miệng một chút, hay ăn một cây kẹo ngọt.

Em lắc đầu không cho, em níu tôi lại, giữ tôi bằng vòng tay siết quanh lưng như một nhánh rong mát êm mềm mại.

Em nói, không sao đâu, em ghét mấy người không hút thuốc lá, em cũng thích hơi rượu nồng nồng nữa, anh mới uống gì đó, bia hay rượu chát, rượu mạnh.

Tôi uống rượu cỏ-nhát lóng lánh vàng, cay thơm và thuốc lá thứ nặng nhất, nóng đậm.

Em mỉm cười âu yếm (...)

Anh nhớ không, hồi anh bắt đầu gặp em, năm ấy em chỉ khoảng mười bảy mười tám tuổi.

Tôi nhớ, lúc đó không biết là trời mưa hay trời không mưa, trời đầy nắng hay trời êm bóng mát. Bên một dòng sông lặng lẽ, ngôi nhà của em càng thêm có vẻ trống vắng u buồn, xưa cũ, mái rêu cổ kính, vườn cây rậm tối vài đóa tường vi nở lẻ loi trong vuông cỏ trước nhà, đằng sau là một ao cạn, một cái giếng khô, một cây sung còn ít trái chát không ai thèm hái, và cây khế chua lấm tấm hoa trắng thường rụng rơi khi gió đêm thổi mạnh về.

Đúng rồi, tôi đã nhớ, hồi ấy tuổi em non dại, dáng em gầy nhỏ, đôi mắt đăm đăm như ẩn chứa một điều gì, đôi môi khép kín lạnh băng ít khi thấy nở một nụ cười. Tôi đã nhớ, nhưng không còn nhớ hết nhớ rõ về em. Tôi chỉ còn bắt lại trong ký ức vài hình ảnh mơ hồ của em, em thường mặc áo màu gì, vàng hay trắng, tóc em cắt như thế nào, ngắn như búp-bê hay để dài lòa xòa ngang vai... tôi cũng không nhớ rõ. Em đã nói chuyện với tôi một vài lần, những lời thông thường dửng dưng, những chuyện vu vơ lặt vặt như một người khách lạ.

Và hồi đó, quả đúng tôi chỉ là một người khách lạ. Hình như có vài lần đứng trong sân vườn nhà, em trao đổi với tôi vài câu chuyện bâng quơ.

Anh có xem cuốn sách, cuốn phim đó chưa.

Em học trường nào. Ở lớp có chuyện gì vui không, tháng mấy em thi, sau này học xong em định làm gì. Lớn lên em thích làm gì, dạy học, buôn bán, ca sĩ, tài tử màn bạc...

Không. Em không thích làm gì cả. Em cũng không biết em muốn điều gì. 

Ai cũng phải biết điều gì mình thích nhất, điều mình muốn làm nhất trên đời chứ.

Nhưng em thật không biết mà. Có lẽ em chỉ thích ở đây mãi, thành phố này em ở đã quen rồi, em sợ có ngày phải đi chỗ khác. Nhưng có khi em lại muốn đi đến một nơi nào thật xa thật lạ, một nơi em chưa bao giờ biết, một nơi em không có một người quen nào hết.

Như thế chắc em sẽ thích ở cao nguyên. Ban Mê Thuột hay Đà Lạt.

Ở đó như thế nào anh.

Trời lạnh lắm. Đà Lạt có hoa anh đào, Ban Mê Thuột có hoa sứ trắng.

Em thích trời lạnh lắm, em thích trời mưa. Trời mưa lất phất, đi bộ lội nước lúp xúp đến nhà một nhỏ bạn nói chuyện và ăn đậu phụng rang nóng hổi, em thích lắm. Anh có thích không? 

Anh không biết. Anh đã hết biết yêu hoa lá, thời tiết, mùa mưa hay nắng, đậu phụng, ô mai, me chua v.v... Anh đã chết hồn thơ dại rồi.

Nghĩa là có một thời anh cũng thích những thứ đó phải không?

Phải. Một thời đã qua, mới đây nhưng sao thấy lâu lắm. Xa quá rồi, xa quá, như trong chuyện cổ tích thần thoại... Chuyện kể rằng có chàng hoàng tử bị bà phù thủy ếm bùa biến thành một cánh bướm bay vất vưởng suốt đêm ngày.

Và rồi một hôm, có một nàng công chúa tìm hoa trong vườn thượng uyển, chụp lưới bắt được cánh bướm.

Trong tay công chúa nhẹ nhàng vuốt ve, bướm hiện hình trở thành chàng hoàng tử, bướm được phục sinh thành người.

Và hoàng tử kết hôn cùng công chúa?

Anh không biết, anh chỉ nghe me anh kể chuyện nửa chừng, tới đó là anh đã ngủ gục, anh không biết đoạn kết ra sao.

Anh thích một đoạn kết ra sao?

Em thích một đoạn kết ra sao?

Anh sẽ không nói đâu.

Như thế em cũng không nói đâu.

Bướm thích bay xa. Hoa thích ở lại trên cành. Hoàng tử thích rong ruổi trên đường thiên lý. Công chúa thích sống êm ấm trong lầu son.

Đó toàn là những chuyện vớ vẩn. Em đã nói với tôi; tôi đã nói với em, nhưng chúng ta không giữ lại một chút gì tình ý. Hồi đó, em như một hình bóng nhạt nhòa chưa in rõ trên hồn tôi, em chợt có, chợt không, chợt gần bên, chợt biến mất, tôi cũng không biết đến.

Nhưng rồi, thời gian, thời gian kỳ diệu biến đổi mạnh mẽ nhiều điều thật không ngờ. Ngày tháng qua đi, một năm qua, hai năm qua, ba năm qua đi... cho đến một ngày, làm sao tôi biết rõ đó là ngày nào, đột nhiên em có mặt và sống trong tôi chấn động sáng ngời như một tia chớp nháng lửa trên khung trời dông tố.

Tôi bỗng yêu em như mới được trở lại làm người, mới chập chững bước chân vào tuổi thanh xuân hồn nhiên bồng bột. Tôi bỏ hết tất cả. Tôi bắt đầu làm tôi sơ sinh trong ngày thứ nhất, tôi bắt đầu biết run rẩy ngây ngất trong một hơi thở chạm nhẹ vào em.

Tôi chẳng dám tin vĩnh cửu là điều có thật trên đời, nhưng tôi sẵn sàng tin phút giây này là vĩnh cửu. Tôi chẳng dám mong tôi sẽ sống dai muôn đời thi đua cùng trái đất, nhưng tôi biết chắc rằng phút giây này tôi thật sống (...)

Em mơ những gì?

Anh mơ những gì?

Anh mơ ước đừng có gì làm tan tành những giấc mộng.

Rồi chính anh sẽ làm tan tành cho mà xem.

Không bao giờ. Công việc duy nhất của suốt đời anh là làm cho sự thật đẹp như mơ mộng để cuối cùng tất cả những gì dpe95 nhất của mơ mộng đều trở về, trở thành sự thật.

Anh nói như đang ở trên mây xanh.

Không phải đâu, em. Anh chịu sống, chịu chết với mặt đất này rồi. Em nhớ không, hồi nhỏ, ta thường được nghe nói rồi tưởng đến một thiên đường. Nhưng bây giờ anh biết,  cảnh thiên đường đã xây dựng vừa đủ trong em. Đôi môi là cánh cổng, em đã mở cho anh vào.

Thế còn em, em biết tìm thiên đường nơi đâu, nơi anh?

Không. Anh không có đâu. Nghe anh nói đây.

Em ước mơ chi cõi trời trăng sao xa lạ. Mà biết đâu thiên đường nằm trong trái tim em.

Anh làm thơ à?

Không. Cần gì thơ với thẩn nữa, anh nói lời cục mịch, em thốt tiếng thô sơ, anh cũng cảm thấy chơi vơi trong cõi thơ rồi.

Có lẽ khuya lắm anh à. Hay là trời sắp sáng rồi em sợ.

Anh cũng sợ, cũng ghét trời sáng. Chúng ta như loài vạc ăn đêm, chỉ thẳng thắn thành thực với nhau trong đem tối. Ban ngày, em mang mặt nạ lầm lì khó khăn, anh nói cười đóng kịch.

Em có vẻ hơi mệt, em nói có lẽ vì hớp rượu lúc nãy, em không quen uống rượu.

Đã bảo trước mà, em cứng đầu của anh. Để anh thắp nến xem em có bị say không.

Tôi lần mò trong bóng tối, tìm được một cây diêm quẹt và thắp sáng ngọn đèn cầy.

Trong ánh lửa lung linh, chợt hồng chợt đỏ như khiêu vũ chao lượn những hình thù mập mờ, tôi nhìn thấy khuôn mặt em ửng đỏ, môi tươi, mắt sáng, nồng thắm, đáng yêu quyến rũ như một vị thiên thần chịu giấu cánh ở lại trần thế (...)


HOÀNG NGỌC TUẤN     

(Trích từ tạp chí VĂN số tháng 10-1973)

Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2023

THƯ THI - Hoàng Ngọc Tuấn

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(Phần bổ túc cho truyện Thư Về Đường Sơn Cúc)
 
 Ngày... ngày, tháng... tháng, năm... năm.

Bạn lớn

Có nhận được thư viết trên giấy hồng của em không
Chắc người đưa thư đã làm mất
Vì nếu nhận được
Sao anh im lìm, câm và lười như thế
Nhớ viết một dòng cho em yên tâm
Rằng anh không phải là nhân vật chính
Của đoạn kết truyện "Không còn ai trả lời"
Một hôm đi qua cầu là đi luôn không trở lại
Đừng cấm em tưởng tượng
Nên em đã tưởng tượng rằng mọi chuyện thế là tan đi
Làm em đạp xe đạp một mạch xuống biển
Tìm vài cọng cỏ chong chong chích vào tay mình
Nhưng mùa hè này tháng sáu mùa hè
Cỏ đã khô vàng héo úa bay bời đâu mất
Hè ơi đã đến cổng trường vừa khép
Học trò nôn nao vui buồn chia tay nhau
Thầy chia tay cô, Hiệu Trưởng chia tay ông Giám Học
Bác gác dan chia tay bà bán nước mía
Và anh thì không đợi đến mùa ly biệt
Anh đã chia tay em lâu rồi phải không
Mùa gặp đầu tiên mùa thương thứ nhất mùa quên cuối cùng
Cuộc đời là chi đôi lứa là chi mà lạ lùng như thế
 
 
2
 
Có bao giờ anh để ý đến
Những lá cỏ non bé nhỏ và hay buồn
Hay bị lãng quên nên thường hay tủi thân
Mắt nó ướt mắt nó ướt
Anh không tin sao
Đó, những hạt sương mai những hạt sương chiều
Những hạt sương khuya óng mềm là bằng cớ
Ôi nước mắt cỏ non
Làm sao mặn bằng nước mắt em
Không những mặn mà còn thêm vị chát
Như hôm nào anh đã ví em
Với những gì chua non nhất của cõi trần
Với những gì đắng chát nhất của trần thế 


3

Gởi đến anh
Những trang cảo thơm lần giở
Tagore:
"Những ai ở gần em
Đều không hiểu rằng
Lời nói của họ chỉ đem em vào lòng anh
Những ai yêu em
Đều không hiểu rằng
Tình yêu của họ chỉ đem em vào lòng anh"
Thêm nữa, Nikos:
"Cặp mắt cô ghi uổng công hình ảnh... của người yêu dấu
Trong một vài năm nữa
Ta còn nhớ được đôi mắt chàng xanh hay đen"
Thì em sẽ nói
Đôi mắt chàng xanh hay đen là tùy theo mắt em
Vì mắt anh đã hơn một lần bị nhốt trong mắt em rồi đó


4

Một năm dĩ nhiên có ba trăm sáu mươi lăm ngày
Ta chỉ có chừng năm ngày gặp nhau
Thì có gì đâu mà anh thêm thắt thành chuyện trường thiên
Thế mà than ôi anh đã vẽ vời bịa đặt
Còn nhiều hơn, còn quá sức tưởng tượng
Thế có phải là anh đang tập ghét em
Sau khi đã tập quên những lời anh hứa
Anh yêu thương của em anh còn nhớ gì không
Những lời anh hứa với em trong hầm gió


5

May cho anh là em chưa kịp giận anh
Đã đến ngày khai trường chao ơi biết bao bận rộn
Làm em quên cả giận hờn
Để em kể cho anh nghe ngày em đến trường
Buổi thứ nhất mở đầu năm học mới
Áo trắng mới cặp mới giày mới nón mới
Chỉ có chiếc ví tay nho nhỏ màu hồng là cũ
Từ tháng tư năm ngoái anh đã cho em
Mà lâu nay em vẫn còn cất giữ
Như đã giữ cuốn truyện thần tiên Alice nhiều hình màu
Và băng nhạc dầu đã mòn vì phải xoay biết bao nhiêu vòng
Trong những đêm nhớ anh đành tìm nhạc thế người
Nốt nhạc rung theo tiếng đàn trầm
Bàng hoàng mê như lần hôn đầu sảng sốt
Theo hơi khói thuốc anh còn vương
Trong những bao thuốc lá rỗng không bị vò nát
Và những hộp diêm cũng rỗng không
Mà em cũng còn cất giữ
Thôi... phải quên đi những điều đó
Vì ngày mai là khai giảng rồi
Em phải dậy sớm trước nhất lên trường dành chỗ
Chiếm cho được một ghế ngồi bàn đầu
Để chiêm ngưỡng dung nhan thầy cô cho rõ
Và để mình được nhớ rõ mặt mày
Hầu kiếm thêm vài điểm cảm tình sau khi làm bài thi lục cá nguyệt
Năm nay em đã lên lớp mười hai mà vẫn như thuở nào
Thời còn lớp sáu sớm tinh mơ là hối hả đến trường
Với bánh mì và vở mới thơm phức ngon lành trong cặp
Ngày mai ngày mai trường lớp cũ
Nhớ quá đi sân cỏ và bạn bè
Thành thực mà nói
Em bây giờ thương anh ít hơn là thương ngôi trường nhỏ
Em đang đợi ngày mai


6

Sao anh không báo trước cho em
Những điều anh làm đã phai ố đi chân tình cũ
Bây giờ em thương tiếc biết bao
Cái tình bằng hữu vong niên ngày trước của ta
Trong vắt như trăng sương đã trôi qua
Mà lẽ ra không nên vương chút bụi
Alissa Alissa Alissa
Thiên nữ quên mình, chịu đi qua "khung cửa hẹp"
Nàng đã một lần giống em mà giờ khác xa em
Anh đâu biết ở đây cả nhà giận thiên hạ giận
Em cũng giận, oán ghét và thương anh lẫn lộn
Con sói rừng hung hăng cô độc của em
Con sói hồn tươi trẻ mà đôi môi già cỗi của em
Anh.


7

Chiều đó anh đi mô mà mất biệt
Em chờ anh suốt buổi
Trong sân giáo đường nhiều người ra kẻ vào
Quỳ gối hứng những giọt nước thánh
Con đường với nhiều gốc cây to tưởng chừng như có anh đang đứng nấp
Nhưng mà vẫn không
Trời bỗng đổ cơn mưa bất ngờ
Em ướt như chuột tóc rối vào nhau coi xấu ghê đi
Mưa trút bên ngoài và mưa lăn trong góc mắt em
Em nhất định mình sẽ không khóc
Lắng nghe trên môi những giọt nước mưa mặn
Nhìn xuống áo mình đã lấm dấu bùn trên đường lầy
Chiếc áo dài hồng của lần gặp đầu tiên anh còn có nhớ
Và buổi tối dần xuống
Anh vẫn đi mô không thấy về
Trời ơi đi đâu đi hoài đi hủy
Báo hại mình em đứng rã rời trong bóng tối
Tủi buồn như con mèo đói (thật thế, em đang đói bụng)
Thiên hạ xa xôi người đâu có biết
Có kẻ "người dưng khác họ"
Em đang chờ hôm nay


8

Đã thật xa nơi chốn của anh mới bình tâm trở lại
Mặc dầu mình có quá nhiều điểm khác biệt nhau
Nhưng mà em vẫn cứ thương anh, nghe không
Nhưng giấc mộng chung lối trọn đời
Chắc là không bao giờ thành tựu
Em muốn xa anh xa anh trong năm mười năm nữa
Để trắc nghiệm cái đầu óc dễ quên dễ chán của anh
Anh có chờ em được không
Chắc là không
Thì thôi, bổn phận của em là phải tan phải biến
Là những vết bút chì loăng quăng dễ dàng bôi xóa
Hãy cầm bằng em như là một bóng ma
Thực là hồn, xác là hư
Đã một thời yêu thương
Đã một thời gần gũi
Mà giờ đành thăng thiên


9

Nhìn lại em coi
Như rơm rạ xác xơ cỏ úa tầm thường đen đúa lọ lem
Với những ngả rẽ đợi chờ trước mặt
Rối mù như mưa, thị thành núi lạ sách vở gia đình
Đất đai vô tình trái tim bệnh hoạn
Và những vết mực xạ trong hồn
Theo bàn tay anh khắc trên tay em
Một lần, nhiều lần, thế là chẳng phai mãi mãi
Nhưng mà mình vẫn phải quên nhau
Cho cuộc đời anh thênh thang
Cho cõi sống em yên bình gỗ đá


10

Quên chưa
Nếu chưa
Sáng thức dậy nhớ gượng cười và nhớ em
Tối đi ngủ nhớ cười gượng và gọi tên em
Để cho em ngoài này hắt hơi vài cái
Cho em tỉnh ngủ
Vì mấy ngày hôm nay đâm ra lười quá
Học hành chẳng vô
Bực mình quẳng vở
Ôm lấy đàn tranh 
Tập tành khảy khúc
Tình tang tang tình


11

Ai bảo lỡ nuôi hồn nhau
Bằng những lá thư như xoài sống tê răng
Có nuôi thì cũng có ngày sổng chuồng mất biến
Lâu nay mình dường như lạ mặt
Thế là đã lạc nhau
Thế là đã đứt mất cái mỏng manh hơn tơ trời
Thôi đây là lá thư cuối cùng
Giấy mực này có giúp ích gì nhau đâu
Rồi sẽ đi đến đâu
Những lá thư về đường Sơn Cúc rồi sẽ đi đến đâu
Những lá thư từ đường Sơn Cúc rồi sẽ đi đến đâu
Ngày hôm nay có lẽ em nên chấm dứt
Em sẽ không viết gì cho anh nữa
Dầu em đã nhận lấy sâu trong người
Những khốn khó anh mang những nỗi đau anh chịu
Đã như bệnh truyền nhiễm lây vào người em
Em sẽ giam anh suốt đời
Trong một ngăn của tim óc và da thịt
Trong ngăn nhớ cất kỹ đến ngàn sau
Em sẽ nhốt anh chung thân mãi mãi
Trong cánh đồng tuổi nhỏ có rào quanh
Cánh đồng thơ ngây thứ nhất của tình xanh
Xanh như làn da run run thở buổi đầu tiên
Xanh một lần tái tê, xanh một đời lạnh ngắt


12

Thôi nghe
Nhưng làm sao ly thân nhau đây
Có dễ dàng như Twinky xoay ba vòng trên bờ biển
Thế là quên
Có thật dễ dàng
Xoay mình ba vòng là quên đi tất cả
Anh thử cùng em xem
Xoay ba vòng trên đất
Xoay ba vòng trên đất
Lảo đảo trái tim tháng ngày mai sau chóng mặt.

                                                   HOÀNG NGỌC TUẤN

(Trích từ tạp chí Văn số tháng 3-1975)


Thứ Ba, 23 tháng 5, 2023

TỰ TRUYỆN GIỮA MÙA HÈ - Hoàng Ngọc Tuấn

 

 Qui Nhơn, tháng Sáu, 1973.

Tôi mất tự do vào đầu mùa xuân 73, kể từ ngày mười một Tết. Đến tháng tư, trước ngưỡng cửa mùa hè, tôi bị đưa ra Diêu Trì một nơi cách thành phố Qui Nhơn khoảng mười lăm cây số.

Qui Nhơn đâu phải là nơi xa lạ. Đây là chốn cũ, trước đây tôi đã sống hơn hai năm ở thị trấn ven duyên hải miền Trung này. Thôi, âu cũng là một dịp về thăm lại một phố phường mang nhiều kỷ niệm êm đẹp ngày xưa, dầu dĩ nhiên là chẳng bao giờ sống lại những tình cảm vô tư trẻ dại như ngày xưa được nữa.

Tôi về chốn cũ. Đất đai, núi đồi, biển cả là những "cố nhân" duy nhất còn đây mãi mãi không hề thay đổi, còn tất cả những thứ khác, tất cả những người thân quen cũ, giờ đây đã hoàn toàn biệt bóng hay nhạt nhẽo lạ lùng.

Trở lại Qui Nhơn. Sống thế nào đây, thấy gì đây, biết làm gì đây? Vài hàng trong lá thư của Trịnh Công Sơn an ủi: "... Có điều rất an tâm là thấy Tuấn gần như có thể làm việc trong bất cứ hoàn cảnh nào và mọi nơi. Về lại Qui Nhơn coi như về lại trong câu chuyện tình nào đó của Tuấn đã viết mà thôi. Cách đến chỉ có khác một chút..."

Ông Sơn ơi, lần này "cách đến" khác những lần về trước nhiều lắm chứ. Lần trước, về bằng máy bay Air VN, xách va-ly rộn rã ra khỏi phi trường ở trung tâm thành phố, leo lên một chiếc xích-lô đạp bảo chạy vòng vòng chậm rãi khắp nơi trước khi về nhà để bồi hồi nhìn ngắm những lề đường cũ, tăng thêm thú vị cho chuyến trở về. Lần này, lạc quan mà suy nghĩ, đỡ tốn tiền hơn vì đi bằng máy bay quân sự.

Không lạc quan và cũng không bi quan, suy nghĩ một cách thành thật và sáng suốt, thì sự khác biệt giữa những lần trở về này đủ làm rúng động đau buốt tâm hồn, đủ thôi thúc dằn vặt để có thể viết một cuốn tiểu thuyết trong tương lai, một tác phẩm phân biệt nơi đâu là quê nhà yêu thương, nơi đâu là vùng đất lưu đày khổ ải, nơi đâu là thung lũng cội nguồn của hạnh phúc, nơi đâu là hỏa diệm sơn đốt cháy thiêu hủy nhân tính và tình người...

Nhưng đó là chuyện về sau, không sớm thì muộn cũng sẽ đến.

Bây giờ, vì hoàn cảnh khó khăn tù túng đè nặng trên người tôi chỉ có thể viết ra vài chuyện nho nhỏ và vụn vặt, ôn lại một vài kỷ niệm riêng tư, những ý nghĩ lộn xộn không đầu không đuôi, những điều cảm nhận vội vàng thiếu sót chưa đủ chân tay... Đó là những lời phát ra từ một trái tim quá lớn mạnh chứa đựng trong một thân thể quá yếu mệt, bị nhốt trong một thời đại quá khô cạn.

Tóm lại, Tự Truyện Giữa Mùa Hè bắt đầu mà chưa biết dần dần sẽ đi đến đâu, chưa biết đoạn cuối sẽ kết luận như thế nào. Như một chuyến đi lang bang không biết chỗ dừng chân tạm nghỉ và đích đến. Và cũng không mang theo đủ hành trang, thực phẩm, tất cả đều lượm lặt trên đường.
 

Biển không còn đẹp nữa

Xe chạy từ Diêu Trì vào thành phố Qui Nhơn, đường gập ghềnh đầy bụi đỏ vì ổ gà, trời nắng gắt, những ngọn núi chạy dọc hai bên đường. Ở đây, tôi thấy đủ tất cả bầu không khí của một vùng đất chiến tranh. Đầy xe nhà binh vội vã, đầy những người mặc đồ lính mệt mỏi, và súng đạn nặng nề đeo lê thê trên người. Ruộng đất khô cằn, hương lúa chỉ thoang thoảng mơ hồ, cầu gãy, màu xanh của đồng ruộng không bao la chạy đến mút chân trời, chung quanh là núi, núi chập chùng ngăn cản, chặn lối.

Tôi cảm thấy nao nao hồi hộp khi xe bắt đầu vào trung tâm thị xã Qui Nhơn. Mười năm nay tôi đã không nhìn thấy thị trấn này. Khoảng vào năm 63, tôi đã rời Qui Nhơn ra đi và lúc ấy chẳng bao giờ nghĩ đến có ngày mình trở lại. Vì gia đình tôi không còn ở đây nữa, miền biển này cũng chẳng phải là nơi du lịch lý tưởng như Đà-Lạt, Nha-Trang hay Vũng-Tàu. Một mối tình bồng bột của tôi cũng đã vỡ nát trong thuở làm học trò lang thang ven biển. Nghĩa là Qui Nhơn chẳng còn một người quen thân nào chờ đợi tôi trở về. Không ai còn biết tôi, tất cả đều đã quên tôi dầu tôi vẫn còn giữ mãi trong tâm trí rất nhiều hình ảnh đẹp lẫn xấu, thơ mộng lẫn thô kịch của thành phố này. Tôi vẫn còn nhớ mãi những người bạn thân hoặc sơ, những người con gái đến gần hay thoáng vội trong đời tôi ở đây. Mấy năm nay, những ngụn cát nóng của biển Qui Nhơn vẫn còn vương vấn lấm tấm trong người tôi, như những vết mực đã loang trên áo trắng một lần là không bao giờ xóa sạch, từ đó những chữ được viết ra vẫn còn váng vất, bị níu kéo trong vùng ký ức, nhảy múa những kỷ niệm xinh đẹp và buồn rầu về phố cũ (Dấu chân người về, Có bao nhiêu cánh buồm trên biển, Canh bạc của một vài người, Tuổi Trẻ Tuổi Trẻ...)

Mười năm qua, từ một cậu học trò lơ đãng trong lớp Đệ Tam B3 trường Cường Để, tôi trở thành một người đàn ông vẫn còn đãng trí ngơ ngác giữa đời, một thanh niên kéo dài sự học của mình trên những con đường trắc trở gian nan, vĩnh biệt học đường để học... ngoài đường không thầy cô dẫn dắt. Và không có một năm học nào mang nhiều kỷ niệm vui buồn học trò bằng năm Đệ Tam trường Cường Để, bởi vì sang năm Đệ Nhị, tôi vào Sàigòn học và ở thủ đô này không còn tình thầy trò, tình bạn bè thú vị đẹp đẽ như các lớp học tỉnh nhỏ nữa.

Khi xe đã vào thành phố, ngôi nhà đầu tiên mà tôi mong muốn được thấy lại là trường Cường Để. Vẫn không khác trước mấy, dĩ nhiên là được xây cất thêm vài lớp mới, cát trắng và những tàn lá nhỏ dương liễu vẫn còn vương vãi đầy trên sân trường. Để xem, tôi còn nhớ được những gì, những thằng bạn nào đã cùng tôi đùa phá trong phòng lớp nhỏ trên lầu một: Khoa ở gần nhà thường rủ đi học, Thiều cận thị đá bóng chạy góc trái, Hùng cận thị, Xuân bảnh trai, Khánh gảy đàn guitar rất nghề, Dũng đen con nhà bán sách, Bửu-nhỏ cùng tôi đứng ở sạp báo mân mê tờ báo Văn số 1 mới ra lò với một tâm trạng "hiếu học, ưa suy nghĩ", Bửu-lớn có võ Bình Định gia truyền, Sơn cao giữ "gôn" thay tôi sau một pha tôi làm thủ môn ôm bóng bay luôn vào trong lưới, Chanh học giỏi nhất lớp, Sương chuyên hô hào xuống đường biểu tình, Cừ chuyên rủ tôi đánh bi-da và đi chọc gái... Nữ sinh trong lớp chỉ có lèo tèo vài mạng, tôi không nhớ rõ lắm vì hồi đó tôi chọc phá con gái thì tài chứ chưa bao giờ dám nói chuyện đàng hoàng và nhìn ngay mặt một đứa con gái, tôi chỉ nhớ một nàng vì có cái tên đặc biệt: Mai Lâm Tuyết Hường, mảnh khảnh, mắt ướt, cười chúm chím rất điệu, con nhà làm thầu khoán gạch bông, bây giờ nghe đâu vẫn chưa chồng (nhưng dĩ nhiên là không phải chờ tôi đâu).

Và hồi đó, tôi chơi thân với tất cả bọn trong lớp, tôi là một người bạn nhỏ được mọi người khoái. Tôi chơi với tất cả những "phe nhóm" đối nghịch nhau. Bọn học gạo có cảm tình với tôi vì tôi học không tệ lắm và thỉnh thoảng cũng đứng nhất vài môn. Bọn "nhất quỷ nhì ma..." cũng kéo tôi làm đồng chí trong những vụ cúp cua đi tắm biển hay la cà ở những quán bi-da, quán nước. Bọn thể tháo gia cho tôi ở trong đội bóng chuyền, bóng tròn ; tôi chơi tệ nhất nhưng lại hăng hái mang chanh tươi, đá lạnh theo ủng hộ gà nhà. Bọn có "tâm hồn văn nghệ" cũng nể tôi vì tôi thường "sơ mi" môn luận văn và học thuộc lòng được vài cái tên cỡ lớn như Albert Camus, Jean Paul Sartre v.v... Năm này tôi cũng đã bắt đầu làm thơ, gởi bài đăng báo với nhiều bút hiệu thay đổi hàng tháng (nhưng chẳng có báo nào thèm đăng thơ tôi cả). Tóm lại, năm theo học lớp Đệ Tam trường Cường Để là năm học vui tươi, thích thú, sống động, đáng ghi nhớ nhất trong đời học sinh của tôi.
 
Mười năm qua, Qui Nhơn đã thay đổi nhiều. Tôi, bạn đồng học của tôi, chúng tôi cũng đã thay đổi nhiều. 1963 - 1973 chúng tôi lớn lên, trưởng thành, vào đời trong một giai đoạn tàn bạo gay go nhất của thời chiến. Phần lớn chúng tôi đều đã đi lạc ra ngoài đường bay lý tưởng mộng mơ thời nhỏ. Mười năm qua, ngày nay còn lại mấy kẻ ngày xưa từng ngồi bên nhau miệt mài sách đèn dưới một mái trường. Một số đông đều đi lính, giờ mang cấp bực Trung úy, Đại úy hay đã chết. Một số trở thành phế nhân. Một số trốn lính hay đào ngũ. Một số ít may mắn và xuất sắc hơn, ăn học thành tài, ngày nay có những địa vị vững vàng trong xã hội. Một vài người mất tích. Đó là một vài điều tôi được biết một cách thiếu sót và mơ hồ do một người bạn cùng lớp tình cờ gặp lại, bùi ngùi ôn những chuyện xưa dưới một quán cà phê trong trại lính (Tr/úy Thiều, cận thị, đá bóng bằng chân trái).

Còn tôi, mười năm qua, đã có gì mới lạ. Có lẽ ngày nay, so với những bạn học cũ, tôi là kẻ đã sống trong những hoàn cảnh đột ngột biến đổi không ngừng nhiều nhất. Ngay cả trong lúc tôi viết những dòng này, tôi cũng chưa biết được trong mười ngày tới, tôi sẽ ở đâu, bị đưa đi đến đâu, bị làm gì và được làm gì, chỉ chắc chắn một điều là sắp thêm những thay đổi trong đời sống. Mười năm nay, tôi không có một công việc, một nghề nghiệp gì lâu bền, không một nơi ăn chốn ở nào lâu bền, không có một người bạn hay người tình nào gắn bó lâu bền, không có một thú vui nào lâu bền. Tôi sống trắc trở, khó khăn, trôi nổi, ham muốn, thất bại, hoang phí, đói khổ. Tôi sống bồng bột say sưa lẫn tỉnh táo một cách chán chường lạnh nhạt. Mười năm trước, không bao giờ tôi nghĩ rằng phải nợ nần ai từng đồng để kiếm một bữa cơm hay thuốc hút. Không bao giờ tôi nghĩ rằng mình có thể bị một người nào đó giận ghét. Không bao giờ tôi nghĩ rằng mình lại đi nhờ cậy chịu ơn một ai. Không bao giờ tôi nghĩ rằng mình lại sống bất hợp lệ, trốn tránh luật pháp hay bị cầm tù... Thế mà, mười năm qua, tôi đã lần lượt sống hết với tất cả những tình cảnh bất ngờ ngoài ý muốn đó. Chỉ còn một điều duy nhất an ủi, một điều không đi ra ngoài "chương trình", không "lạc đề" là hơn mười năm trước, tôi đã từng say mê viết nên những bài thơ bài văn vớ vẩn, đến ngày nay, trong tôi vẫn còn nguyên vẹn và lớn mạnh hơn nữa niềm say mê đó, và tôi thà chết còn hơn là đánh mất khả năng và ước vọng viết thiêng liêng kỳ diệu  này.

Sau mười năm chịu đựng lẫn giang rộng tay nhận lấy làn sóng vật chất do những người lính Mỹ viễn chinh đổ vào thành phố, thành phố Qui Nhơn đã đồ sộ hơn về một vài phương diện, và cũng đã tàn tạ hơn về những khía cạnh khác. Những người ít tiền đều lần lượt bỏ thành phố này mà đi trước tình trạng vật giá đắt đỏ nhảy vọt theo lối tiêu xài của người ngoại quốc. Còn lại chen chúc trong thị trấn một giai cấp mới tranh sống làm giàu mau lẹ: gái điếm, ma cô, cờ gian bạc bịp, chủ bar, khách sạn, những người chạy "áp phe" buôn đồ Mỹ... Sống nhẫn nhục thiếu thốn trong bóng tối là những người công chức, giáo sư, quân nhân bị ràng buộc ở mảnh đất cát nóng hỗn loạn này. Ngày nay lính ngoại quốc đã ồ ạt kéo nhau ra đi, sau khi đã ồ ạt đến, bỏ lại sau lưng cả một tỉnh lỵ xơ xác trần trụi, những tòa building xây dở dang, những quán bar ế khách, những ổ nhện xuống giá bắt đầu chào đón vui vẻ khách chơi bản xứ, những bóng tối sa đọa trong góc quán với những cô cậu học trò phi "sì-ke", những đứa con hoang hai dòng máu đồng minh thân hữu...

Qui Nhơn, giờ đây tôi về lại thất vọng vì không tìm thấy những vẻ đẹp như ngày xưa tôi đã từng quen thuộc, những con đường phố vắng người dửng dưng buồn tẻ, bụi bặm, nóng bức mùa hè, nhạc thời trang kệch cỡm trong những quán kem, lẻ tẻ vài Hippy cóp nhặt mẫu Saigon... Đáng tiếc bây giờ là mùa nghỉ hè, thiếu vắng những tà áo tha thướt của mấy cô học trò trường Sư phạm, trường Nữ Trung học và trường Trưng Vương... Vắng mặt những thiếu nữ này là một thiệt thòi rất lớn cho Qui Nhơn, họ thuộc về một đạo binh dũng cảm, cứu vãn nét son của tỉnh nhỏ âu sầu.

Tôi và một vài người bạn, chúng tôi ngồi uống bia trên bãi biển. Một quán nước xập xệ, tầm thường, áo quần giặt treo bừa bãi trên sân. Nhưng nhờ có chút bia lạnh và những ngọn gió biển mằn mặn từ ngoài khơi thổi vào, cộng thêm với một vài câu chuyện "trà dư tửu hậu" thân mật giữa bạn bè, tôi cảm thấy khoan khoái đôi chút. Năm chiếc ghế thấp vây quanh chiếc bàn lỏng chỏng vỏ chai và tàn thuốc. Năm người ngồi nhâm nhi nói chuyện vặt. Chúng tôi giống nhau ở một điểm là đều lần lượt đi qua những chặng đường ngoài ý muốn lẫn đúng theo ý muốn: học hành, đi lính, viết văn, làm thơ v.v... Bốn người trên đều xuất thân từ nghề dạy học, hiện đã có vợ và từ một con trở lên. Tôi chưa bao giờ đi dạy học, chưa bao giờ có vợ. Đó là điểm khác biệt đầu tiên.

Tôi nhìn ra biển. Thuyền phơi ngổn ngang trên cát. Xa xa những cánh buồm, rặng núi và hải đảo, ngọn hải đăng trên đỉnh núi phía tay trái, Ghềnh Ráng với nấm mồ của Hàn Mặc Tử phía tay phải.

Biển như hẹp lại, cạn khô và đờ đẫn. Trước kia, tôi dẫm những dấu chân lỗ chỗ trên bãi cát ướt và lặng người nhận thấy biển cả bao la bát ngát, chuyển động mãnh liệt, sóng tung tăng bọt trắng kiều diễm biết bao nhiêu. Ngày nay, biển Qui Nhơn trước mắt tôi không còn đẹp nữa. Thời gian hay sự già cỗi đã gây nên điều tai hại đó? Giữa tôi và biển, ai là kẻ đã thay đổi trong mười năm qua?

Tôi hoang mang không biết rõ. Tôi hút thuốc, uống bia, hít gió, nhớ lại những ngày qua cực khổ mệt mỏi của mình, tôi buồn quá đỗi...


Sáng tác

Trong vòng ba tháng nay, tôi viết được khá nhiều. Giữa chốn tăm tối, nóng bức, tù túng, tôi viết tiếp được một nửa cuốn truyện dài Tôi và Em, bởi thế một phần lớn tác phẩm này chứa đầy sự khao khát ánh sáng và không khí trong lành bát ngát của tự do. Trang cuối của Tôi và Em chấm dứt, sau một vài tuần sự sáng tác bị ngưng lại vì những vụ di chuyển, lên đường rất là mệt nhọc, đến Qui Nhơn, trong một doanh trại nằm dưới chân núi, tôi viết liên tục được 4 truyện ngắn khá ưng ý (Hôn Lễ, Đôi Môi Dạ Hương, Hẹn mỗi Tuần, Lời Cầu Hôn) và sau khi viết xong bài tùy bút có tính cách tự truyện này, tôi sẽ bắt tay ngay vào dòng thứ nhất của một truyện dài mới, bản phác thảo đã có trong đầu óc tôi, đôi chỗ lờ mờ, đôi chỗ dần dần đậm nét nhưng chắc chắn cuốn truyện dài này sẽ hoàn tất vào tháng 8-73.

... Loạt truyện ngắn của tôi, viết trong tháng này, không hiểu sao lại mang rất nhiều ám ảnh về chuyện hôn nhân, cưới vợ, lấy chồng... Hay đó là điềm báo trước một tai nạn khủng khiếp dịu dàng, đau khổ vui vẻ nhất, sắp sửa đổ xuống trên đầu tôi. Than ôi, "tam thập nhi lập", các cụ ngày xưa đã nói thế, năm nay tôi mới có 26 cái xuân xanh thôi mà.

Sáng tác văn chương. Viết. Đó là hoạt động tôi theo đuổi không hề ngừng nghỉ. "Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu". Tình yêu, theo thiển ý của tôi, thà là yêu nhiều, yêu dư còn hơn là yêu ít hay không yêu gì cả. Viết, đối với tôi cũng thế. Thà là viết nhiều, viết dư còn hơn là không viết gì cả. Thời gian và sự biến đổi của cảm tính văn nghệ sẽ tự động gạn lọc giùm những sáng tác của tôi, một vài tác phẩm sẽ bị bỏ quên nhưng dần dần tôi tin chắc rằng nó sẽ được phục hồi.

Tôi sáng tác, chưa hề bị ràng buộc bởi những đòi hỏi, yêu cầu của bất cứ một ai. Tôi không bị lệ thuộc vào bất cứ một điều kiện của một cơ quan, tổ chức, một chủ nghĩa, một tờ báo hay một nhà xuất bản nào. Độc giả, khối đa số thầm lặng này rất quan trọng vì có thể mang lại nhiều hoặc ít những quyền lợi vật chất và khích lệ tinh thần cho các tác giả, cũng không thể yêu cầu tôi viết nên bất cứ điều gì. Tôi bị quyến rũ chút ít bởi các tác giả lớn quốc tế và những trào lưu văn chương tiền phong nhưng tôi không nằm trong quỹ đạo của bất cứ ai, bất cứ dòng văn chương nào. Lần lượt, tôi theo dõi các khuynh hướng khác nhau và những thay đổi về hình thức, kỹ thuật của văn chương: cổ điển, lãng mạn, tả chân, hiện thực, tâm lý, tân lãng mạn, siêu hình... tiểu thuyết luân lý giáo dục, tiểu thuyết luận đề và đặt vấn đề, tiểu thuyết biện thuyết cho chủ nghĩa chính trị, tiểu thuyết mới, tiểu thuyết "chữ đẻ ra chữ" gần như là phát sinh từ vô thức... Tôi sung sướng được thưởng ngoạn ít nhiều tinh hoa của tất cả những bộ mặt phong phú khác biệt nhau của mọi dòng sáng tác, và tự nhủ rằng tất cả những dòng sông đó đều có chung một nguồn lớn lao duy nhất. Tính chất của nguồn gốc đó là đặc tính lớn lao đầu tiên của văn chương. Văn chương, đó là ý thức sáng suốt về giá trị của con người, một giá trị không phải chỉ được biểu hiện bởi một thân xác hữu hạn và một kiếp sống phù du, mà còn được kết tinh nuôi dưỡng bền vững, rộng lớn, lâu dài hơn nhờ sự sáng tạo của tinh thần. Sự sống của một tác phẩm thường lâu dài hơn một tác giả. Sự hiện diện của một tác phẩm cũng bao quát ở nhiều  nơi, đậm nét, ăn sâu hơn là một khuôn mặt mo nhỏ bé của tác giả. Trên bình diện sinh lý, nhà văn cũng tầm thường như bất cứ người tầm thường nào. Hắn cũng phải, cũng cần, cũng khoái ăn, ngủ, làm ái tình, bài tiết theo đúng tứ khoái thông thường như mọi người khác. Hắn chỉ đặc biệt thấy cần thiết, ao ước có thêm một cái khoái, đệ ngũ khoái, đó là sự viết.

Tôi không thấy có sự khác biệt giữa những điều mà người ta thường gọi là văn chương dấn thân và văn chương thuần túy, văn nghệ vị nghệ thuật hay văn nghệ vị nhân sinh. Rốt cùng, giá trị nội tại vững mạnh của một tác phẩm (dầu mang bất cứ một chủ đích nào hay không có chủ đích nào cả) quyết định sự sống và ảnh hưởng của tác phẩm đó giữa lòng nhân gian. Tất cả những tác phẩm văn chương đích thực của những tác giả thực sự mang ước muốn và có đủ khả năng sáng tạo, đều là "dấn thân", dấn thân hiểu theo nghĩa đã viết nên được bất cứ điều gì bắt nguồn từ đời sống, từ cảm xúc, từ nỗ lực hiện tồn và từ khát vọng thăng hoa hay cải thiện ý nghĩa của cuộc đời. Như thế, những điều viết ra đó quay trở lại, nhập cuộc, phục vụ cho con người. Tôi tin tưởng rằng văn chương không thể hướng về sự hủy diệt, cái chết hay hư vô.

Dầu có những tác phẩm mang đầy bầu khí hư vô và cũng có nhiều nhà văn đã tự sát, nhưng dầu cho y có tự sát, thì đó chỉ là sự tự hủy thân xác chứ không phải tự hủy tác phẩm của y. Mỗi chữ nào y đã viết ra được là một chiến thắng đối với hư vô, là dấu hiệu của sự hiện thân giữa đời, là bằng chứng của ý thức muốn sống và làm người. Khi một nhà văn trở nên mệt mỏi hoang mang, không còn sáng tạo được nữa, nghĩa là không còn chiến đấu được nữa để chống chọi với bóng tối hư vô bao trùm đeo đuổi trên cuộc đời y như một con ma vô hình truyền kiếp, có thể y sẽ tự tìm đến cái chết, sau khi đã để lại cho đời những tác phẩm cứu sống con người. Hemingway, kết thúc đời mình bằng cách tự sát, sau khi đã dốc hết tim óc mình vào những tác phẩm bất hủ, mở đầu, khai sinh, cứu vãn cho rất nhiều sinh mệnh trên toàn cầu. Bởi thế mỗi nhà văn lớn đều mang trong người một bất tử tính. Sau khi y chết, tác phẩm của y, nghĩa là chính linh hồn, linh khí của y vẫn còn sống mãi với con người. Và không một tác phẩm nào lại mang tính chất cô đơn, biệt lập với cuộc đời. Tác phẩm văn chương sống chung, chia sẻ, đối thoại, hòa hợp, giao cảm với những người nào chọn lựa nó. Bởi thế, một tác phẩm văn chương đích thực lúc nào cũng chống lại sự cô đơn, sự lạ mặt, ngộ nhận, hư vô và sự chết. Điều ấy đưa đến kết luận, những người sáng tạo nghệ thuật là những chiến sĩ bảo vệ và nuôi dưỡng cho cuộc tồn sinh sống động, ấm cúng, hợp quần, thân ái của nhân loại. Những nghệ sĩ là chiến sĩ vô danh mà người ta không thể tìm ra một loại huy chương nào đủ xứng đáng để tưởng thưởng cho họ. Không có một vòng hoa nào, dầu lộng lẫy đến đâu, lại có thể đủ xứng đáng để choàng cho họ. Tiền bạc và danh vọng chỉ làm thỏa mãn vuốt ve thân xác chứ không thỏa đầy được trọn vẹn con người nghệ sĩ. Phần thưởng lớn nhất, ước muốn lớn nhất của một nghệ sĩ, là được tự do sáng tạo, tự do chọn lựa một con đường sáng tạo, tự do sống một cuộc đời sáng tạo, và tự do gởi đến mọi người trọn vẹn những công trình sáng tạo mà không bị chút đẽo gọt, hạn chế, kiểm soát hay sửa đổi méo mó...

Nhưng đáng buồn thay, đến giờ phút này tôi vẫn chưa có được những điều mong muốn khiêm nhường và đơn giản đó...
 

Sàigòn, Văn nghệ và Tiền bạc

Gần bốn tháng nay tôi không có mặt ở Sài-gòn. Thời gian xa cách đô thị xô bồ thân ái này quả thật quá dài đối với tôi. Tôi quá nhớ, quá thèm về Sài-gòn, từ mười năm nay tôi dính liền với chốn phố phường này như một con nai tơ giữa rừng xanh. Rừng đe dọa đầy dã thú, nguy hiểm, chằng chịt gai góc nhưng chẳng thể nào bỏ rừng được.

Giờ đây ở Qui Nhơn, trong một hoàn cảnh thật đặc biệt và khó khăn, ngày về Sàigòn trở nên xa xăm quá.

Tôi nhớ lại những ngày sống ở Sàigòn. Cái gì lôi cuốn tôi mạnh mẽ nhất tại thành phố này? Chỉ có hai thứ : văn nghệ và tiền bạc. Không phải là tình yêu. Thời gian gần đây tôi cũng đánh mất khá nhiều tình bạn hữu. Bọn nó đi đâu cả, làm ăn, lấy vợ đẻ con, lưu lạc đâu mất hết rồi. Nhiều lắm là chỉ còn lại một người : Trịnh xuân Tịnh, đó là người bạn thân nhất của tôi trong thập niên 70 (Đến đầu năm 1980, chắc chúng ta sẽ ít đi chơi với nhau hơn vì vợ ai nấy theo).

Tình yêu? Tôi rất ít bận tâm về tình yêu, gần như là không. Một điều nói ra thật khó tin, nhưng có thực, là tôi, tác giả của hàng chục truyện tình ái, hiện nay chẳng có ai là người yêu cả, chẳng có một mối tình nào cả. Tôi gần như không biết yêu ai, có lẽ tôi chỉ yêu tôi. Có lẽ tôi giống như lời nhận xét của một nhân vật nữ trong tập truyện Chuyện hai người: "Tình yêu? Anh mà biết gì về tình yêu?" Đàn bà, con gái, cô bé... thi nhau bay lượn đẹp mắt như bươm bướm trong sách tôi, nhưng cũng chỉ sống đẹp trong sách, gấp sách lại, các nàng bay biến, tác giả khốn khổ này chẳng có tài nào đuổi theo bắt kịp. Nhiều khi tôi nghĩ rằng tôi có thể điên cuồng hay chết sầu não vì tình, nhưng thật ra không phải, qua bao nhiêu vụ thất tình lớn nhỏ đủ thứ, tôi vẫn sống nhăn, vẫn tỉnh táo, vẫn vui vẻ rong chơi như thường, dĩ nhiên là phải hơi đau đau một chút trước những vụ chia lìa, đổ vỡ nhưng rồi lại an ủi tự nhủ: thôi, chắc gì mình yêu thật, chắc gì người ta yêu thật, đó chỉ là "hình như là tình yêu" thôi mà. Câu thần chú "hình như là tình yêu" đó quả là một liều thuốc tiên quý báu.

Rốt cuộc, chỉ có hai thứ đeo đuổi sát nút đời tôi như hình với bóng. Đó là văn nghệ và tiền bạc. Tôi điêu đứng khổ sở vì chúng, tôi hăng say sung sướng cũng vì chúng.

Ở Sàigòn, mỗi sáng tôi thức dậy sớm và ra khỏi nhà vào đúng 7 giờ. Đều đặn như một ông công chức chăm chỉ. Thật ra tôi có đi đến một sở làm nào đâu, tôi có công việc gì đâu. Tôi dậy sớm, kéo dài vụ uống cà phê tại quán đầu ngõ trong một giờ đồng hồ. Hút nửa bao thuốc lá cũng trong khoảng thời gian đó. Vừa nhìn ra ngoài đường xem xe cộ người người chạy qua chạy lại, vừa lẩm nhẩm những chữ những câu nào chợt xuất hiện bất ngờ lộn xộn trong đầu. Đôi khi tôi xem sửa lại mấy trang bản thảo vừa viết trong đêm qua. Rồi tôi nhíu mày liếc coi đồng hồ tay như một chính khách danh tiếng có nhiều cuộc hẹn quan trọng. 9 giờ: Tôi ra khỏi quán. Đi đâu bây giờ? Tôi chẳng hẹn ai, chẳng ai hẹn tôi cả.

Tôi lững thững cuốc bộ, chậm chạp và cẩn thận. Hoặc tôi đi xe "lam", không chậm chạp và không cẩn thận theo ý muốn tôi được. Đi đâu bây giờ? Hoặc tôi lên nhà xuất bản Trí Đăng, hỏi thăm, thúc giục hay đứng nhìn chiếc máy in đang rầm rập phóng ra từng cahiers sách của tôi, nói chuyện vẩn vơ với ông chủ một chút, mượn tiền, đòi tiền... rồi về. Hoặc tôi lên nhà xuất bản An Tiêm hỏi thăm, thúc giục hay đứng nhìn mấy cô thợ đóng xếp từng trang sách của tôi, nói chuyện vẩn vơ với ông chủ một chút, mượn tiền, đòi tiền... rồi về.

Ngày nào cũng chừng đó chuyện. Chỉ thỉnh thoảng, không khí tại nhà An Tiêm mới lạ và vui vẻ hơn một chút, đó là lúc tôi mượn tiền một cách tha thiết và thú thực là hết sạch tiền rồi. Ông chủ cười cười thú thực là cũng hết sạch tiền rồi. Trời đất bỗng u ám, dầu chưa có mưa lớn khách vẫn cố tình ngồi lại. Hai kẻ hết sạch tiền ngồi bên nhau, bỗng trở nên tương đắc thân mật. Lên gác chơi, nghe nhạc chơi, nhậu chút chơi... Xong rồi, không tiền trong túi biết đi đâu bây giờ, thế là tôi ở lại nhà An Tiêm suốt ngày. Chuyện trò nổ ra như bắp rang. Ông chủ than thở về những khó khăn : thời buổi lộn xộn ít người bỏ tiền ra mua sách, giá giấy công in tăng khủng khiếp, tiền bạc thiếu hụt, nợ nần... Ông chủ say sưa nói về những dự tính tương lai, nào là mua máy in, in thêm loại sách "De Luxe", mở caféteria, thành lập hệ thống phát hành toàn quốc, làm tạp chí văn nghệ, tổ chức triển lãm sách... vân vân và vân vân... Ông chủ đem ra khoe những ấn bản họa phẩm danh tiếng, sách quý, những mẫu chữ mới lạ đặt mua từ ngoại quốc... Ông chủ hăng hái nói với tác giả, sẽ in sách anh đẹp tối đa, kỹ lưỡng tối đa, phổ biến rộng rãi tối đa, hết sức là "siêu tuyệt"... Tác giả ngồi ngây người sung sướng như được người yêu thủ thỉ âu yếm, quên hẳn cả việc hết tiền, cần tiền. Thế là tác giả cũng hăng hái không kém, bàn bạc, góp ý kiến, chọn chữ chọn tranh làm bìa, sửa morasse không công đến mờ mắt, thiếu điều tự tay đóng xếp sách và vác sách đi bán giùm... Đến giờ cơm trưa, câu chuyện vẫn chưa chấm dứt, tôi vẫn chưa muốn về, thế là cơm nước bày ra, khách và chủ ăn uống đạm bạc thịt cá với la-de, cà-phê thuốc lá... Nhận thư độc giả đọc lúc ngủ trưa, đến chiều mới ngủ dậy và... về.

Đó, công việc mỗi sáng ở Sàigòn của tôi chỉ có như thế. Thỉnh thoảng, khi thấy báo Văn hay Bách-Khoa đăng bài mình, mới đổi hướng đi một chút, lên Tòa soạn lấy báo, lãnh tiền nhuận bút, trò chuyện với vài người quen... rồi về.

Đi đâu rồi cũng về, nhưng ở Sàigòn, tôi biết về đâu. Ít khi tôi về căn phòng nhỏ tối tăm buồn bã của tôi. Tôi thường từ nhà người quen này về nhà người quen khác.

(Hầu hết những truyện của tôi đều viết ở Sàigòn, vài trang, vài trang, đâu đó ở nhà người này, nhà người nọ, lúc nào cảm thấy viết được là tôi viết, không một thời khóa biểu, không thói quen nào cả, bất kể sáng chiều tối, bàn ghế đàng hoàng hay nằm trên giường bố, nằm dưới đất trong tù.)

Buổi chiều tôi hẹn với Tịnh ở quán Khánh Ly. Tôi đã hết thích không khí ồn ào náo nhiệt ở quán Pagode. Tôi và Tịnh ngồi uống bia lai rai, lại nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tôi đấu hót ba hoa, hòa bình trên thế giới, ngưng bắn, thống nhất hai miền Nam Bắc, tương lai của nền văn nghệ Việt Nam... Tôi say sưa nói về những cuốn sách tôi đã viết, về những cuốn sẽ viết, đã có 6 cuốn trong năm 71-72, sẽ có ít nhất là 6 cuốn trong năm 73... Chúng tôi nhắc đến rất nhiều về Huế, nhớ đến một vài người bạn ở Huế, dự trù sẽ về thăm Huế trong vài ngày... Tôi uống tiếp, ngà ngà, tôi nói mong sẽ viết được một tác phẩm thật lớn về chốn cố đô ven sông Hương này... ngà ngà hơn, suýt chút nữa thì tôi đã đánh cá với Thịnh là tôi sẽ đoạt giải Nobel văn chương trong vòng hai mươi năm tới. Thỉnh thoảng cô chủ quán Khánh Ly xuất hiện, miệng phì phèo điếu thuốc, mang một cái bầu to tướng trước bụng, ngồi lại góp vài chuyện bâng quơ... Đến tối, tôi theo Tịnh về nhà, ăn cơm dằn bụng, rồi lại rủ nhau phóng ra phố. Lần này có đèo thêm anh Sơn. Lại vào quán. Castel, một quán nhỏ xinh xắn lịch sự theo đúng mẫu Made in Paris, quầy rượu thoải mái, rất nhiều bông hồng. Tôi ngắt trộm một bông nhỏ dấu trong ngực áo để lát nữa đem về tặng Ngâu. Lại uống rượu, tôi nhường cho nhạc sĩ T.C. Sơn đối thoại lâu dài với một cô caissière rất duyên dáng dễ thương, người đồng hương với Kim Dung và Trịnh Phối Phối. Khuya, gần giới nghiêm, ba người loạng quạng về nhà, có khi về thẳng một cách mau lẹ, có khi ghé lại cao ốc Dupont hay góc đường Yên Đổ : phòng máy lạnh mát mẻ, da thịt đàn bà cũng khá mát mẻ đầy mùi nước hoa, mất toi hai ngàn đồng ( thế là đi đứt gần hết tiền nhuận bút của một truyện ngắn).

Đó, làm sao tôi quên Sàigòn được. Ở đó, tôi sáng tác hăng say sung sức, tôi xài tiền cũng mê man mạnh mẽ không kém. Văn nghệ và tiền bạc, tôi không thể sống mà thiếu hai thứ đó được.

Tôi lênh đênh sảng khoái, bồng bềnh thênh thang trong màu đen của chữ mực in và màu xanh của giấy bạc. Dĩ nhiên là những cuốn sách của tôi đem lại ít nhiều tiền tác quyền, nhưng chắc chắn là tôi không viết vì tiền. (Hiện nay tôi là một trong rất ít tác giả ở V.N. không viết "phơi-ơ-tông" và cũng không có nghề nghiệp nào mưu sinh ngoài hoạt động sáng tác cả. Tôi vẫn cứ viết rất chậm chạp và lười biếng, ngay cả lúc tôi đang cần tiền nhất vào cuối năm 72, lúc ấy có ít nhất là 5 nhà xuất bản uy tín lẫn tài tử đều muốn in sách của tôi, một vài nhà không ngần ngại đưa tiền trước). Tuy nhiên, cần phân biệt một tác phẩm và một ấn phẩm. Dù có tiền hay không, tôi vẫn sáng tạo liên tục nên những tác phẩm, nhưng khi những tác phẩm ấy được in ra, được trở thành ấn phẩm trên một tờ báo hay trong tủ sách của một nhà xuất bản nào, sự trở thành ấy dĩ nhiên phải tùy thuộc ít nhiều vào chuyện tiền bạc.

Đó, Sàigòn, nơi chốn thu hút tôi từ mười năm nay. Tôi tình nguyện làm một con thiêu thân sáng suốt bay thẳng vào cõi ánh sáng đó. Tôi là một con thiêu thân loại đặc biệt, mê đắm trong ánh sáng, nhưng sẽ không bị thiêu cháy vì ánh sáng.

Giờ đây, tôi thèm về Sàigòn quá đỗi. "Sài-gòn đẹp lắm Sài-gòn ơi... Sài-gòn ơi..."
 

Ngâu

Tôi nhớ Ngâu ngang hàng với nhớ Sài-gòn. Trước kia Ngâu ở Huế, tôi nhớ Ngâu ngang hàng với Huế. Ngâu thật vĩ đại. Ngâu ảnh hưởng trong tôi bằng cả hàng triệu người, cỏ cây, nhà cửa... của một thành phố.

Những ngày cuối còn ở Sàigòn, những cách ngăn với thế giới bằng những bức tường cao và hàng rào kẽm gai, tôi được gặp Ngâu trong thoáng chốc vội vàng.

Ngày đó, Ngâu đến thăm tôi một chiều... nắng.

Trời thật nắng, nóng bức, ngột ngạt, bên cạnh chúng ta là đám người vo ve ồn ào hỗn độn. Chen chúc trên băng ghế gỗ chật ních những cặp vợ chồng, tình nhân, tâm sự khóc lóc sụt sùi, chúng ta vẫn tươi cười nhắc đến những ngày vui cũ. Tôi vẫn còn nói đùa được cho Ngâu bật cười, da mặt Ngâu hồng lên vì ánh nắng và bụi đường, chiếc áo sơ-mi của Ngâu trắng tinh, jupe xanh, tay còn nắm cuốn sách luyện thi Tú tài hai, và một viên kẹo rượu cho tôi. Chúng ta hối hả, tranh nhau nói chuyện không kịp thở. Người ta chỉ cho chúng ta gặp nhau tối đa là 15 phút. Trong khu "thăm nuôi" chật hẹp của ngục tù, giữa đám người tội đồ phờ phạc và vợ con họ rầu rĩ, tôi và Ngâu, chúng ta nổi bật lên như hai ánh sao, như một đôi tài tử minh tinh màn bạc. Nếu tôi nhớ không lầm, và cũng không tự kiêu quá, thì chiều đó, chúng ta là hai người xinh đẹp nhất giữa cõi người khổ đau tăm tối. Tiếng còi nổi lên xua đuổi thân nhân ra về một cách tàn nhẫn, chúng ta bàng hoàng, chần chờ nán lại, mỗi tiếng còi thúc hối chia cắt như mỗi mũi dao đâm vào lòng tôi...

Thôi, Ngâu về rồi. Bóng Ngâu nhỏ nhoi mất hút trong đám đông, tôi đứng lặng câm ngó theo cho đến khi Ngâu hoàn toàn biến mất, tôi lầm lũi trở về căn phòng tối.

Ngâu, tôi vô cùng hối hận khi nhớ lại trước đây đã nhiều lần tôi tự kiếm cớ giận hờn để xa Ngâu, nhưng làm sao xa Ngâu nổi. Giờ đây, dù muốn dù không, Ngâu đã quá xa tôi. Ngâu là giọt mưa cách biệt, phút hội ngộ ngắn như một lóng tay út mà thời gian xa vắng dài như cả một vòng tay chờ đợi.


Hiện tại

Tôi đang viết những dòng chữ này trong một doanh trại nằm dưới chân núi Yan, tỉnh Bình Định. Nhờ người thân giúp đỡ, tôi được nương náu tạm thời ở nhà một ông Tá đàn Vỹ cầm. Tôi "kèm học" cho đám cô cậu từ 17 tuổi đến 5 tuổi. Tôi phải nặn óc nhớ lại, học ôn một cách mệt nhọc mấy cuốn sách Trung Tiểu học để "giảng bài" từ phương trình bậc hai có hai ẩn số, chứng minh hai tam giác bằng nhau, số thập phân, toán chia ba con, cửu chương 2, em tập đánh vần ABC... Cũng may mà mùa nghỉ hè đã đến, tôi được xoay qua những chuyện vui vẻ hơn : đá bóng, đánh vũ cầu, chơi lô tô với đám trẻ con... tôi cũng thích chơi ô làng và đánh thẻ lắm, thỉnh thoảng tôi "binh" xập xám với mấy đứa lớn. Ngày ngày đều đặn trội qua, mới thế mà tôi đã sống gần hai tháng dưới mái nhà này. Mỗi đêm, tôi bắc chiếc ghế nhỏ ra ngồi trong bóng tối dưới hiên nhà, mơ màng nhìn dãy núi đen xa xa mù mịt, từ trong nhà có tiếng đàn vỹ cầm vẳng ra nghe thật buồn thê thiết, tôi đau lòng nhớ nhung đến những người quen, đến những chặn đường long đong đã qua và e rằng còn sẽ tới nữa, tôi muốn khóc, môi tôi cháy phỏng những điếu thuốc lá đốt nối đuôi nhau (Tôi tha hồ hút thả cửa ba "tút" Bastoz xanh của Trần Phong Giao, Nguyễn Mộng Giác và cô em bà con của Khánh Vân mới gởi cho).

Đôi ba đêm một lần, tôi khuây khỏa đôi chút khi đi uống rượu hoặc uống cà phê đến khuya với Nguyễn Kim Phượng và Sông Thao. Cũng loanh quanh ở mấy cái quán nhỏ trong trại lính. Hai tuần một lần, tôi được ra Qui Nhơn ăn ngủ thảnh thơi một ngày Chủ nhật tại nhà anh Giác, gặp hai ông thi sĩ Vũ Hữu Định và Đặng Tấn Tới tại đây.

Hôm nọ, dù Phú và đứa em trai của tôi, thằng Lộc, "Mắt Cọp" có vào trại thăm, hắn nhe răng cười nói: "anh Tuấn mặc pyjama coi có vẻ công tử bột và mập ra..." Tôi nói sức mấy, tôi không còn được đóng vai công tử và không thể nào khỏe mạnh mập mạp được nữa, từ khi...

Từ khi... "Chuyện của Tí Đường đến đây là hết. Từ đó cuộc đời của Tí buồn bã lắm..." (Xin xem lại Cô Bé Treo Mùng).

Thư từ của bạn bè, những người quen và cả những độc giả không quen biết gửi đến, an ủi tôi rất nhiều. Nhất là những lá thư đều đặn của Tịnh, thường kèm theo một tấm bưu phiếu cầm lấy nghe thật ấm lòng. (Suốt bốn tháng nay tôi sống hoàn toàn nhờ tiền tác quyền của cuốn Tôi và EmCô Bé Treo Mùng in lần hai. Cám ơn Mơ Nữ, cám ơn Cô bé treo mùng)...

... Sự bất hạnh đã đưa tôi đến hoàn cảnh hiện nay. Nhưng trong hoàn cảnh này, tôi lại được khá nhiều may mắn so với những người khác. Lòng ưu ái ấy bắt nguồn từ tình cảm của người thân, và quý báu nhất là của những người chưa một lần quen biết...

... Những chữ cuối cùng của "Tự Truyện Giữa Mùa Hè" xin dành để gởi lời cám ơn chân thành của tôi đến quý vị trên đây, là những người đã hết lòng giúp đỡ, thăm viếng thăm nuôi, an ủi tôi rất nhiều trong thời kỳ khốn đốn nguy nan nhất của tôi, từ tháng 2/73 đến nay...

... Quý vị trên đây dĩ nhiên là mỗi người đều có một cuộc sống, nghề nghiệp, chức vụ và lập trường riêng biệt khác nhau. Từ một bà sắp có cháu bồng cho đến một cô thiếu nữ chưa chồng. Từ một nhà quân sự chuyên nghiệp lão thành cho đến một người... hoãn dịch lâu dài hay một ông lính trơn tài tử. Từ một nhà giáo chân chính cho đến một kẻ "khinh bỉ" học đường.

Từ nghệ sĩ cho đến người tu sĩ...

Những khác biệt hình thức ấy không quan trọng. Điều quan trọng là một lần nữa, xin tất cả quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi.

Cám ơn, cám ơn, cám ơn...


18-6-73                
HOÀNG NGỌC TUẤN    

(Trích từ tạp chí Bách Khoa số 395 và 396)