Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2026

MA TÚY - B.S. Đỗ Hồng Ngọc


Buổi chiều, tại phòng mạch, tôi tiếp một thân chủ đến khám bệnh một cách bất thường: cô Y tá không kịp làm hồ sơ, không kịp lấy nhiệt độ, đã vội vàng đưa khẩn cấp người bệnh vào. Tôi hiểu ngay lý do: một "cas" nặng.
 
Người bịnh còn rất trẻ, một thanh niên khoảng 17 - 18 tuổi là cùng, mặt trắng xanh, môi không có tí máu, mồ hôi nhễ nhại. Anh ngồi gục trên ghế, trước mặt tôi, tóc tai rũ rượi, thở không ra hơi và áo ướt đẫm. Những giọt mồ hôi vẫn tiếp tục nhỏ ròng ròng từ màng tang xuống cổ. Mắt anh nhắm nghiền, lúc chợt mở ra thì toàn là tròng trắng xác. Anh thều thào: tôi ói, tôi mệt quá, cứu tôi... rồi im luôn. Hốt hoảng, tôi lay anh dậy, hỏi địa chỉ để mời người nhà anh đến đưa anh đi bệnh viện gấp vì tình trạng anh cần được săn sóc ở bệnh viện. Trong lúc đó tôi khám anh. Mạch yếu, mau. Da lạnh buốt. Mồ hôi vẫn tuôn từng giọt, từng giọt. Phổi tim không thấy gì đặc biệt. Lạ! Đột nhiên anh ngáp. Một cái ngáp ngắn, nhanh vừa đủ lóe trong trí tôi một tia sáng: anh là một nạn nhân của bịnh ghiền! Thú thực, cho đến phút đó, tôi xấu hổ vì chưa tìm ra bịnh gì rõ ràng cả. Tôi rọi đèn vào mắt, xem cử động của con ngươi. Hai con ngươi nở rộng, lười biếng thu vào dưới ánh đèn pin. Biết rõ bịnh anh rồi, tôi viết giấy giới thiệu cho người nhà, cũng vừa mới đến, mang anh vào bệnh viện. Buổi chiều hôm đó, tôi không làm gì ra hồn cả. Đầu óc lơ mơ nghĩ đến người thanh niên đầy tương lai đó đang gục ngã, nhợt nhạt, vật vã vì thiếu thuốc! Gia đình anh không ai biết anh mắc bịnh ghiền. Mọi người chỉ tưởng anh bị trúng gió. Tôi cũng không tiện nói ra vì bịnh ghiền là một tội phạm đối với xã hội, cảnh sát có thể làm phiền anh, gia đình sẽ xấu hổ, xua đuổi anh và anh sẽ sống trong mặc cảm... Tôi cũng được biết anh đang học lớp mười một, chuẩn bị thi tú tài.
 
Những ngày sau đó tôi có dịp tiếp một thân chủ khác: một người không biết rõ tên mình, đờ đẫn, do người nhà đưa đến, khai là bị xỉu ở cầu thang. Thấy trên tay có những dấu chích bầm, không đúng vị trí bình thường, và trạng thái tinh thần đó tôi biết ngay bịnh tình anh. Một người khác bị áp xe một cách cũng khác thường thú nhận là đã giã nhỏ thuốc viên binoctal pha nước chích gân!
 
Đối với y sĩ, người mắc bịnh ghiền không phải là một phạm nhân. Anh ta chỉ là một người bịnh như tất cả những người bịnh khác, có khác chăng là ngoài cái bịnh thể xác còn thêm cái bịnh tâm thần trầm trọng hơn. Nghĩ xa một chút, họ có thể là một nạn nhân! Và như thế đáng thương hơn là đáng trách. Nếu có ý chí, thêm sự trợ giúp của y học, họ có thể thoát được tình trang ghiền tai hại đó để tìm lại tương lai. Khi viết lại những dòng này, những điều hiểu biết đơn sơ về thứ bịnh ghiền, thứ toxicomanies trong đó chữ "toxico" nghĩa là chất độc và "manie" là nghiện, là ghiền, chỉ một trạng thái tâm lý lệ thuộc đặc biệt, nếu em chưa sờ mó gì đến món độc đó thì không bao giờ sờ đến, nếu mới lỡ nhúng tay thì vẫn còn kịp rụt tay về, và nếu đã lỡ ghiền nặng thì cũng không thối chí ngã lòng mà cố gắng chữa dứt đi.
 
Những ngày gần đây báo chí đã lên tiếng báo động về tình trạng ghiền ma túy ở khắp các tỉnh, đặc biệt là ở Sàigòn, trong giới trẻ, sinh viên học sinh, đến nỗi đã có chiến dịch y tế nhằm phát hiện các trường hợp bị bịnh này ở các trường trung học trên toàn quốc. Người ta cũng thấy các quảng cáo ồn ào những thứ thuốc chữa bịnh ghiền cũng như các trung tâm, các bệnh viện chuyên chữa bịnh này. Nhưng thế nào là một người mắc bịnh ghiền? Ma túy gồm những thứ thuốc gì, tai hại ra sao? 
 
Một cách đơn giản tôi có thể nói với em rằng người ghiền ma túy là một người có một ước muốn, một nhu cầu khẩn thiết đối với một hay nhiều thứ ma túy không có không được, phải có với bất cứ giá nào. Đó là một tình trạng lệ thuộc tinh thần và thể xác vào một hay nhiều thứ ma túy, sự lệ thuộc này có đặc điểm là càng ngày càng gia tăng, nghĩa là càng ngày càng phải tăng thêm số lượng thuốc và tăng lên mãi để đạt được sử thỏa mãn như cũ (vì quen thuốc).
 
Ma túy có nhiều thứ, nhưng những thứ thường thấy là các loại nha phiến (thuốc phiện, bạch phiến và các chuyển hóa chất), cần sa, LSD, các loại thuốc ngủ hay an thần (barbituriques, hypnotiques, tranquilisants), loại kích thích amphétamines, cocaine.
 
Người bị ghiền nha phiến rất dễ nhận ra: cứ thấy một người gầy ốm, xanh xao, áo quần luộm thuộm dơ dáy, trên tay chân có những vết sẹo, vết kim chích, có cái nhìn xa vắng, bất động, sợ ánh sáng, con ngươi teo nhỏ (myosis) thường giấu sau cặp kính đen là có thể nghi ngờ rồi đó! (Tuy nhiên coi chừng lầm với các thi sĩ nghe! Các thi sĩ cũng thường có cái nhìn xa vắng, cũng thích cô đơn, có xu hướng... ở dơ, và cũng thường gầy ốm xanh xao lắm đó!) Thực ra dấu chứng dễ nhận nhất để biết một người bị ghiền là lúc họ thiếu thuốc. Lúc đó họ bứt rứt, bỏ ăn, khó ngủ và chừng nửa ngày sau họ choáng váng xây xẩm, chóng mặt, có khi ngã quỵ, toát mồ hôi,  chảy nước mắt, ngáp... Càng lâu họ càng bứt rứt hơn, nôn mửa, có khi tiêu chảy. Con ngươi nở lớn, các bắp thịt co giựt đau đớn, thần kinh bị rối loạn và có thể trở thành một người điên. Lúc đó họ có thể làm bất cứ điều gì để có được thuốc, họ trở thành nguy hiểm đối với xã hội. Có người bị gia đình nhốt trong nhà đã trổ nóc nhà mang theo đồ đạc đi cầm, đi bán lấy tiền mua thuốc. Tôi có một người quen, ông ta có đứa con trai bị ghiền á phiện, hối hận, tự nguyện xin ông giam trong phòng kín để cai, đến ngày thứ ba, không chịu đựng nổi nữa, nhân lúc ông mang cơm vào anh ta tung dậy, xô té người cha để thoát ra đường. Về sau anh kể rằng nếu hôm đó cha anh ngăn chặn anh dám giết chết ông ta lắm!
 
Trong trường hợp không bị thiếu thuốc, người ghiền thuốc phiện vẫn có thể bị bịnh vì đã chích thuốc bừa bãi, thiếu vệ sinh: áp xe, phong đòn gánh (tétanos), sưng gan, viêm cơ tim... và những trường hợp thường thấy nhất là tinh thần bạc nhược, thân thể gầy còm, mất khả năng sinh lý. trường hợp dùng một lượng thuốc quá cao có thể đưa đến tình trạng hôn mê, tím da, trụy tim mạch mà chết nếu không kịp chữa trị. Có những trường hợp người mẹ ghiền thuốc bị sanh non và đứa con mới sanh ra đã có những triệu chứng của cơn ghiền vì thiếu thuốc!
 
Ghiền cần sa có những triệu chứng khác hơn: mắt đỏ (nhặm mắt), mí mắt sụp, cười man dại, lẫn lộn về thời gian và không gian. Cũng có thể bị sưng cuống phổi, rối loạn bộ tiêu hóa, đôi khi lên cơn khùng thường gây ra bịnh tảo điên (schizophrénie).
 
Loại LSD gây ra các ảo giác. Người ghiền có thể tự hủy mình hoặc giết người không kể những tai hại về phương diện di truyền cho con cháu vì có ảnh hưởng đến các nhiễm thể.
 
Loại thuốc ngủ nhóm barbituriques như binoctan, méprobamate làm người ghiền có phản ứng chậm, đi đứng không vững (dễ gây tai nạn lưu thông), nói lắp bắp, dã dượi, lẫn lộn... Thiếu thuốc gây tình trạng mất ngủ, co giựt, mê sảng.
 
Loại Amphétamines (Maxiton, Benzedrine, Ortédrine, Phénédrine...) kích thích vỏ não làm ta có cảm giác sáng suốt trong giây lát (nhiều em thường dùng như loại thuốc "giúp trí nhớ" để học thi) nhưng sau đó đưa đến tình trạng lẫn lộn, chóng mặt, hồi hộp, nhức đầu, suy nhược, bỏ ăn, có thể đi đến chỗ điên cuồng, tự tử (đã được viết rõ trong Những Tật Bệnh Thông Thường Trong Lứa Tuổi Học Trò).
 
Bây giờ em đã biết một cách đại khái những tai hại của từng loại ma túy đối với người ghiền, những tai hại không những nguy hiểm cho sinh mạng của họ, cho nhân cách, cho tương lai họ mà còn di hại cho thế hệ sau nữa. Nhưng vì đâu mà người ta trở thành ghiền ma túy? Câu trả lời thuộc thẩm quyền của các nhà xã hội học, các tâm lý gia, các nhà giáo dục và... nhà nước! Một thống kê mới đây ở Pháp cho biết những người ghiền ngày nay rất trẻ, quá trẻ, đa số ở tuổi 16-18 và ghiền nặng, ghiền nhiều thứ ma túy cùng một lúc (polytoxicomanie) ở đủ mọi thành phần xã hội (khác với ngày xưa thường ở người đứng tuổi, giàu có hoặc ở trong giới nghệ sĩ và chỉ ghiền... một thứ thôi cũng đủ chết rồi!), phần nhiều là giới trẻ đô thị, độc thân, tạm cư hay đi hoang, thất chí, vô nghề nghiệp... Hai yếu tố chính là hầu hết đều sống trong một gia đình có cảnh bất hòa giữa cha mẹ, anh em: xung khắc cha mẹ, anh em, cha mẹ ly dị, ly thân, con cái bị ghét bỏ, không được giáo dục chu đáo, người cha nhu nhược thiếu uy quyền trong gia đình, con khinh cha v.v... Yếu tố thứ hai là bè bạn: không nơi nương tựa ở gia đình họ tụ tập thành từng nhóm cùng trang lứa để nương tựa lẫn nhau, họ gần gũi, thân thiết nhau, rồi đua đòi bắt chước hay tò mò muốn "biết như mọi người"...
 
Tại nước ta ngoài hai yếu tố kể trên còn có những nguyên nhân xa gần khác bi đát hơn, khiến cha mẹ đầu tắt mặt tối lo cho con có cái ăn cái mặc, con cái bị bỏ quên niềm tin ở người lớn, các giá trị đạo đức bị đảo lộn v.v...
 
Trong bối cảnh đó, vấn đề ma túy trở nên gai góc, khó khăn, đòi hỏi một giải quyết toàn diện. Trong phạm vi bài này tôi chỉ muốn nhấn mạnh là công cuộc bài trừ ma túy trong giới học trò, phụ huynh đóng một vai trò quan trọng chớ không phải y sĩ và cảnh sát. Gia đình hòa thuận, êm ấm - con cái được để ý, chăm sóc - người cha thực sự có uy quyền - cũng như kiểm soát sự giao dịch, kết bạn của con em đúng mức có thể là những liều thuốc tốt.
 
Riêng với em, có lẽ tôi phải nói rằng chỉ có những tâm hồn thiếu già dặn, yếu đuối, bịnh tật mới tìm đến ma túy. Nếu đã lỡ, tôi hy vọng em thừa nghị lực dể dứt bỏ. Khó, nhưng không phải không làm được. Giai đoạn đầu em cần sự trợ giúp của y sĩ - thường tại một y viện, bệnh viện đầy đủ phương tiện - trong vòng hai tuần lễ, sau đó em còn phải cố gắng nhiều hơn trong một thời gian lâu dài, 5 - 7 tháng mới thoát nổi chứng bệnh kỳ quặc này. Ý chí của đương sự mới cứu thoát đương sự thôi.
 
Người bệnh tôi kể với em ở phần đầu bài này giờ đã lên đại học. Anh đã trở lại nếp sống bình thường từ sau lần nằm bệnh viện đó. Nghĩ đến chuyện cũ, anh cười: thực là một giấc mơ, một giấc mơ khủng khiếp, toát mồ hôi lạnh.
 
 
ĐỖ HỒNG NGỌC    
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 135, tuần lễ từ 7-6 đến 14-6-1974)
 

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

VỀ MỘT MÙA - Ngụy Ngữ


"Nơi tôi ở bây giờ đang rực rỡ màu vàng của hoa muồng và hoa hướng dương. Hoa muồng từng cây lớn đơm thành tàn rậm rạp quanh vùng sân rộng, hoa hướng dương từng thân bé thưa rời trồng đứng trước hiên thềm. Hoa vàng, lá xanh. Những buổi sáng đi làm, qua khỏi cổng, nhẩn nha tản bộ vào dưới bóng cây im rợp, một người bạn thân thường chỉ xuống số hoa rụng suốt đêm chồng lên nhau cả lớp dày nổi rõ trên nền hắc ín trải sân, bảo tôi: nhìn để mai mốt có xa mà nhớ kia, thành phố này đó.
 
Người bạn đã già, hai mắt kiếng cận thị nặng gần 10 độ...".
 
Đó là những dòng chữ mở đầu một bài ngắn - có lẽ vậy, rất ngắn - tôi viết và đã biếng nhác bỏ rời, quên bẵng luôn, đâu từ khoảng đầu tháng chín - lúc hoa muồng mới nở - cho mãi tới giờ, chiều nay, khi tình cở giở lại đọc thấy, nhìn ra: cây muồng lớn và thấp nhất trước cửa không còn cánh hoa nào cả. Đã sang tháng chạp rồi. Rõ thời gian, chẳng ngờ gì được hết. Và tháng chạp, không còn hoa muồng, bây giờ đang ngay đoạn giữa mùa một loại hoa vàng khác: hoa quỳnh dại ; cùng lúc lại cũng là chớm mùa của một loại hoa đỏ: hoa vông vang.
 
Như hoa muồng, hoa quỳnh dại vàng thật vàng, và, cũng thế, hoa vông vang đỏ thật đỏ. Hình dung nếu tôi phải dạy một đám học trò nhỏ, có dịp nào giảng về hai màu vàng và đỏ ở đúng sắc độ của nó chắc không cách nào hay hơn là tôi đem ví ngay cho hai thứ hoa này. Lẽ dĩ nhiên đám học trò nhỏ đều phải con dân của phố tôi đang ở, nơi suốt mùa thu đông rợp hoa tươi chói để sửa soạn cho mùa xuân tới với những hoa có màu dịu hơn: trắng của cà phê, tím nhạt của keo, nâu non của hoa pháo...
 
Miền núi cao. Với sương mù đến sớm tan muộn, và luôn quánh bạc bít đất ngợp trời, xứ này là một xứ trong mây, đất đai của chuyện kể. Với hoa, đủ màu đủ sắc lan man tiếp nhau nở suốt bốn mùa mỗi năm, đây là một xứ phố hoa, phố vui mừng.
 
Trong phố hoa, giữa xứ mây sương, cổ áo thường xuyên kéo cao lên một chút với hơi lạnh thân quen vào nắng hanh sáng, đêm trăng sao. Vâng, kéo cổ áo lên một chút thôi là đủ, hoặc có thể cài nút tay áo sơ mi lại, nhét hai bàn tay vào túi quần, mặc thêm cái áo len ngắn mỏng, không cần phải khăn quàng và các thứ áo ấm dày. Cũng không cần nhìn vào trang nhất các nhật báo bày bán đầu ngã tư. Chỉ chừng đó là đủ. Và đi lang thang khe khẽ huýt sáo miệng theo những khúc hát từ bao nhiêu quán cà phê dọc đường thì thầm vẳng ra, cười chào vài người bạn.
 
Nhân giả ái sơn. Không trí không dũng không tín không nghĩa gì hết.
 
Ở đây, một trong số khúc hát thì thầm tôi quen miệng hát qua bao nhiêu ngày : Rằng xưa có gã từ quan, lên non tìm động hoa vàng...
 
Muồng có hai loại: lá nhỏ và lá lớn. Rất giản dị. Hoa vàng thật vàng và tên nó nôm thật nôm. Lá lớn, gọi muồng lá lớn ; lá nhỏ, gọi muồng lá nhỏ. Một anh bạn dạy học xuất thân từ trường nông lâm mục bảo tôi vậy, nhưng có một anh bạn khác, không dạy học, không học chương trình nông lâm mục mà lại là dân địa phương trăm phần trăm lại bảo: ngoài tên muồng hơi không đẹp nó còn một tên càng hơi không đẹp hơn nữa tức là bia. Cây bia, rõ quái đản. Và cả hai tên, với những vị ưa mơ mộng, vẫn chưa vừa. Cần rắc rối một chút mới được, bèn thêm hai tên nữa: Hoàng điệp, Hoàng hoa.
 
Hoa, cũng như con gái, càng đẹp càng tốt - dù cho hương màu có chứa đầy độc dược hoặc cành đầy gai nhọn chẳng sao - và tất cả đều giấu sẵn một điều chung ở ngay trong bản chất khi xuất hiện dưới ánh mặt trời, đó là cái đồng lõa hay đúng hơn là khuyến khích, thúc hối kẻ khác gọi lầm tên mình. Và gọi lầm hay thích sao gọi vậy, gọi tùy hứng cũng giống nhau.
 
Hoa vàng, nôm na quá bèn Hán hóa một chút tức khắc có Hoàng hoa ngay. Rồi tiếp theo: đường có nhiều hoa vàng là hoàng hoa lộ, suối chảy dọc thung lũng hoa vàng quanh bờ là hoàng hoa khê, vườn cây có nhiều hoa vàng là hoàng hoa viên. Còn Hoàng điệp, cái tên này tôi đã nghe được lần đầu tiên ở miệng một nữ tu trẻ tuổi thuộc giòng thánh Vinh Sơn với nụ cười đẹp và mấy ngón tay trắng nõn vấy đất đưa trỏ vời: hàng hoàng điệp đó tôi trồng ngày mới tới đây... Nghe lần đầu nên lấy làm ngạc nhiên ngơ ngác: nó là muồng chứ đâu phải là hoàng điệp. Rất nhanh, tôi được nghe một bài giảng ngắn đầy chất mơ màng: hoàng là vàng, ông không thấy nó vàng rực đó sao ; còn điệp, ai cũng gọi thế, bởi nó giống hoa điệp quá, trông nó tôi nhớ quê tôi ngoài Bắc, ngày tôi còn nhỏ...
 
Hoa muồng được trồng quanh các sân nhà, sân công sở, rải rác ven đường, dọc suối, mênh mang thưa rời trên những thảm trà thảm cỏ ở các lưng đồi, dồn lại thành rừng rậm kín ở các thung lũng chưa khai phá. Hoa quỳnh dại cũng thế. Ven đường, dọc suối, cuối góc phố, giữa những thung lũng, quanh các vườn cây. Chỉ thua cái không được người ta mang trồng trong sân. Tuy cả hai cùng thuộc giống hoang dại nhưng quỳnh dại có vẻ hoang dại hơn có lẽ nhờ điểm đó, điểm thứ nhất ; song song với mấy điểm khác biệt khác: thân thảo, sớm nở tối tàn, không cho bóng mát, chiếm nhiều đất, sinh sản nhanh. Còn tên lầm, chẳng thua gì muồng, khá nhiều. Ngay cả quỳnh dại cũng đã là một tên lầm rồi. Quỳnh dại, quỳnh vàng, hoàng quỳnh, quỳnh hoang, hướng dương dại - bởi rất giống thứ hướng dương thật, cùng màu, cùng kiến trúc, chỉ khác chút đỉnh ở lá, hoa hơi nhỏ hơn và cây mọc đông đảo chứ không riêng rời từng gốc - Lầm hết. Anh bạn xuất thân trường nông lâm mục bảo vậy. Tên nó là Quì kia.
 
Quì, biết tên thật nhưng thích và trót đã quen miệng nên vẫn gọi tên lầm là Quỳnh dại, chẳng sao. Và Quỳnh dại, hôm nào mới đây, với một cô bạn dân Huế tha phương, con gái giòng Tôn nữ, trong một mẩu chuyện bâng quơ gì đó tôi tình cờ nhắc đến tên hoa này, tức khắc đôi mắt bất-loạn-mi của cô ta nhướng lớn: ơ, tên mô lạ rứa. Theo tinh thần cắt nghĩa của tu nữ, tôi cắt nghĩa, biện bạch ; cô ta lắc đầu: mô, răng giống được, hoa ni màu vàng còn hoa quỳnh màu trắng thê. Thế là câu chuyện bâng quơ hướng luôn vào chủ đề hoa. Cô ta nói, tôi cãi. Tôi nói, cô ta cãi. Cãi, lắc đầu, gật đầu và đến một lúc nào đó cô ta bật ngặt nghẽo cười bởi khám phá ra được rằng không những tôi chỉ lầm mấy tên hoa điệp hoa quì mà còn hằng hà sa số tên hoa khác nữa, như hoàng lan tôi gọi là ướp đọi, ngọc lan, mộc lan - những thứ gì gì lan đó... - trong lúc cô bạn gọi ngoài tên hoàng lan còn tên oanh, trảo, bại hoại ; như hoa nguyệt quế tôi gọi là ngâu đực, hoa bông trắng, trong lúc cô bạn gọi ngoài tên nguyệt quế còn tên hoa-ở-chùa-nửa-chừng... Hằng hà sa số thứ và mỗi thứ là một chuỗi tên lạ hoắc, đối với tôi.
 
Lẽ dĩ nhiên trong bao nhiêu cái tên lạ hoắc cho bao nhiêu thứ hoa đó chắc chắn phải có rất nhiều cái tên gọi lầm, phải không?
 
Muồng vàng, quỳnh dại, keo tím..., các thứ hoa hoang dã. Phố hoa và cả miền hoa, đâu phải chỉ ngần đó. Còn trùng trùng điệp điệp những thứ khác nữa. Nào là hoa sân vườn, hoa trồng trước thềm, hoa lủng lẳng bên hiên, hoa tràn lan trên mái, hoa đỏ ngõ trước, hoa rợp cổng vào. Trong sương mù và nắng hanh lạnh, với bạn bè gái trai, qua mấy năm dài tôi đã sống giữa hoa. Có hoa tôi đứng lại thích thú nhìn, có hoa tôi đưa tay hái trộm mang về cắm lên bàn viết, có hoa tôi nhìn tới là phát cáu, có hoa tôi trông được là mừng, có hoa tôi buồn bã: nở cho hết rồi về, vân vân, và, cũng có hoa như lời đứa con gái con của anh bạn già cận thị bập bẹ hát: thì hái bỏ đi... để làm chi, thêm phiền.
 
Ngay khi bắt đầu cầm viết viết mấy giòng đầu bài bị bỏ dở từ khoảng tháng chín tôi đã có ý định viết một bài ngắn về hoa, hoặc điểm danh sơ qua, hoặc tường trình tổng quát thời sự của hoa một mùa nơi mình đang ở. Hình như thế thì phải. Nhưng đã biếng nhác buông tay. Rồi mãi ba tháng sau, khi cầm viết viết tiếp, ý định cũ lại hiện trở lại. Và lại thêm lần nữa, đã đành không buông tay bỏ dở như lần trước nhưng có đốt cho hết thuốc lá rồi ý định vẫn không tài nào được thực hiện hoàn hảo cả. Bởi, rất giản dị, chẳng lẽ điểm danh lại điểm danh bằng những tên lầm, và không lý gì tường trình thời sự một mùa lại chỉ nói tới màu vàng hoa quỳnh dại đang độ, màu đỏ tươi hoa vông vang mới chớm hé mà thôi. Dù cho có sơ qua và tổng quát tới mức nào đi nữa vậy cũng không được, không ổn.
 
Thế đấy, tôi một kẻ đã bao năm dài quanh quẩn giữa hoa.
 
Biết về hoa, vâng, tôi có biết. Như biết rằng không phải hoa nào cũng có chung một giai đoạn sau rốt là kết trái đơm hạt cho đời sau mà có hoa chỉ nở để nở. Nở hoa một đời mình là thôi, vừa đủ tròn phận sự. Nụ xanh thoát lên đầu cành lá, màu dần hiện ra, và ngày hàm tiếu, ngày tỏa rộng cánh, phơi nhụy, qua dăm ngày sau cánh rụng, rục tàn, chấm dứt. Nhiệm vụ truyền sinh không phải được đặt ở nó mà đặt ở các bộ phận khác của cây. Có cây mỗi năm hoa chỉ nở một mùa và mỗi mùa chỉ một đóa. Có cây hoa ra đúng giờ giấc từng ngày. Có cây đến những vài năm mới có hoa một bận và hoa có thể dai dẳng hàng tháng cũng có thể chỉ tươi vui được một sớm một chiều là xong. Có cây không phải sống bằng dưỡng chất do đất cung cấp mà phải sống bằng hơi sương hướng gió, rễ bám cứng trên đá tảng, hạt bay vương vãi giữa thinh không. Có cây rụng lá chết đi với mùa này và lặng lẽ chỗi dậy ra lá đâm hoa cho mùa khác. Vâng, tôi biết. Như biết rằng thăm thẳm đâu trong khuất vời của sự sống vô tận, hoa theo nhịp thời tiết triền miên tràn dâng ra, tựa một giòng sông với những triều nước, bến cảng với những chuyến xe nườm nượp đến đi, những con đường đô thị đông vui với những đời trai gái. Như biết hoa là nhan sắc của mặt đất, là áo đẹp của mỗi mùa, niềm vui của trần thế, biểu trưng phong thổ và tâm tình của từng miền dân cư..., nhưng, cùng lúc, ngày trên mặt đất, ở nơi nào đó lại có những hoa mang tin ngày buồn, hoa lạc ngõ, hoa độc dược, hoa gian trá, hoa đau thương...
 
Biết thế và chỉ nói thế là không đủ. Phải nói thêm. Lại tất nhiên không phải nói sâu thêm, rộng thêm về những điều vừa nói, với những cái tên gọi lầm, những tên mơ màng gọi theo tu nữ và tôn nữ, mà phải đích xác hơn, sách vở hơn: tên khoa học, tên địa phương, đặc tính của mỗi thứ một, cách lai giống, phương pháp chăm bón, việc tưới nước bỏ phân, hay hơn nữa, là công dụng, giá thị trường, tương lai hoa trong sinh hoạt kinh tế hậu chiến. Buồn thay đó lại là điều tôi hoàn toàn không biết.
 
Thì ra, giữa phố hoa này, qua bao nhiêu năm quanh quẩn tôi vẫn chỉ là một kẻ lang thang chi đạo, lơ đãng chi vi đức. Như cánh chuồn chuồn.
 
Chấm dứt bài viết, những giòng cuối này tôi dành cho em. Em, đứa con gái tóc dài có cái tên là tên một thứ hoa hoang dại được gọi lầm tên ở thành phố này nơi em đã đến, đã ra đi, nơi tôi còn lần khân nán lại mãi tới bây giờ. Điểm danh, không được. Và tường trình, cũng thế. Nhưng cũng thế với bao nhiêu người khác, còn riêng em, nơi xa xôi đó, khi đọc những giòng này hãy cho rằng được đi. Đây là một bài tường trình thời sự hoa của một mùa đất cũ. Những dáng người đang với tôi lẩn khuất giữa hoa em không thể nhận mặt được bởi thuở đó em chưa hề quen: không sao. Còn những tên hoa, vẫn nhớ chứ? Hãy nhớ lấy. Nhớ lấy những hoa của thời yên vui đó, hoa của đất cũ, của tuổi thơ xưa và quên đi những chùm hoa đau buồn mà ngày nào tôi đã trao em từ phiên chợ đông người về bên thềm loang lổ đầu cái động hoa vàng mù mịt tiếng kêu vang đó. Nhé.
 
 
NGỤY NGỮ      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1973)
 

Thứ Tư, 21 tháng 5, 2025

NHỚ CON VE SẦU - Hoàng Lâm Viên


Mến tặng tất cả những học sinh của tôi
 
Mấy buổi trưa nay trong người tôi thấy có một cái gì khác lạ... Một cảm giác náo nức nhưng cũng rất nhẹ nhàng dâng lên trong lòng tôi. Cái gì nhỉ? À, phải rồi! Tôi nghe tiếng ve kêu. Tiếng ve quen thuộc từ bao lâu đã trở lại để cùng tâm hồn tôi hòa tấu khúc hát bất tuyệt của trời đất. Tôi ngửng đầu lên ánh nắng xuân vẫn dịu dàng xuyên qua các cành lá nhưng cao hơn nữa, những đám mây trắng đang chia nhau cố che kín cả bầu trời xanh. Vào hè rồi còn gì!
 
Tôi không biết tiếng cuốc kêu thê thảm như thế nào nhưng cứ mỗi lần nghe tiếng ve kêu là trong lòng tôi lại gợn lên rất nhiều nỗi thiết tha. Đã bao lần rồi tôi nằm nghe tiếng ve kêu trong hàng cây trước hiên nhà mà không biết chán. Ôi, làm sao tôi quên được những buổi trưa hè nóng bức nhưng vô cùng êm ả đó? Tất cả trời đất như ngừng lại, người ta chỉ còn nghe thấy tiếng ve... Tiếng ve không du dương trầm bổng nhưng có mãnh lực đưa tôi về quá khứ, giúp tôi sống lại hình ảnh thân ái của những ngày xưa... Ngày xưa! Mới đó mà phút chốc đã hơn những mười năm... Phải, hơn mười năm về trước có một cậu học trò nhỏ cứ những buổi trưa hè thường hay đi học về sớm để lang thang dưới những hàng cây. Con đường rộng thênh thang còn hàng cây thì cao vời vợi và trên cùng là bầu trời chan hòa ánh nắng. Và trong những tàn lá cây dịu dàng kia, hàng trăm ngàn con ve cùng cất tiếng hát để giúp vui cho cậu trong suốt cuộc hành trình. Không gian yên tĩnh quá, cậu tưởng chừng như tiếng ve đã có từ đời kiếp nào rồi và bây giờ còn âm thầm vọng lại. Khúc ca êm đềm đó được những cơn gió mát phụ họa thêm vào đã nhiều lần quyến rũ cậu bé ngồi lại dưới gốc cây mà mơ mộng. Cậu muốn lánh xa cái lớp học nóng bức và buồn nản với một ông giáo già đạo mạo lúc nào cũng lăm lăm cái thước kẻ trên tay. Ve kêu... Gió thổi... Và mây trắng nhẹ nhàng trôi trên bầu trời. Biết bao hình ảnh đẹp đã hiện lên trong trí cậu trong những giờ phút thần tiên đó! Mây trắng càng bay những ý nghĩ của cậu càng trở nên mơ hồ huyền ảo... Rồi một ngày kia cậu sẽ lớn... tương lai có phải bao giờ cũng rộng rãi và tươi sáng như con đường cậu đang đi trước mặt nầy không? Ôi, còn biết bao nhiêu cái bí mật phong kính lấy cái số mạng của một kiếp người mà con ve kia, dù thóc mách đến đâu cũng không làm sao hé mở ra được! Tiếng ve chỉ có thể làm bật lên vài nốt nhạc trong cả bản đàn đang bắt đầu xôn xao trong lòng cậu cũng như trong lòng bất cứ người trẻ tuổi nào khác. Gió vẫn thổi, ve vẫn kêu đều đều và mây trắng trên trời vẫn tha hồ bay tản mạn... Cậu bé vào lớp học mang theo trong lòng bao nhiêu là mơ ước. Cuộc đời của ve đã gắn liền với cuộc đời học sinh của cậu từ đó và mối cảm tình thắm thiết nầy cho đến nay vẫn không có gì thay đổi. Có ai còn đang đi học, nghe tiếng ve kêu mà trong lòng không thấy náo nức bao giờ!
 
Người ta cứ hay cho phượng là loại hoa có công báo hiệu hè sang mà không nhắc nhở gì đến ve trong khi ve mới chính là vị sứ giả mau mắn và trung thành hơn cả. Phượng phải do tay người trồng mới có và trồng xong chưa chắc đã có hoa còn ve thì hiện diện khắp nơi và dường như suốt ngày lúc nào cũng lo làm tròn bổn phận của mình. Phượng lười biếng và kiêu hãnh bao nhiêu thì ve âm thầm và kiên nhẫn bấy nhiêu... Tự phụ là đứng đầu muôn vật mà loài người không hiểu cho điều đó. Bên cạnh sự bất công con người còn tỏ ra mình dại dột nữa!
 
Nhưng dù loài người đối xử thế nào ve cũng vẫn điềm nhiên ca hát suốt mùa hè. Mãi mãi ve vẫn là người bạn không bao giờ lỗi hẹn của các cô các cậu học trò, luôn luôn tái ngộ với họ sau chín tháng trời miệt mài sách vở. Mang trong lòng mộng đẹp như trời xanh, tinh khôi như mây trắng, họ ngẩn ngơ nhìn những đốm hoa phượng nở khắp đó đây (Màu đỏ của hoa có khác gì tấm lòng son trong người họ?) Rồi tiếng ve cất lên càng làm cho họ thêm phần luyến tiếc... Luyến tiếc gì đây? Họ không biết nữa. Họ chỉ thấy những ngày cuối năm phảng phất một hương vị lạ lùng, vừa buồn vừa đẹp một cách xa xôi... Những ông thầy khó tánh nhất cũng thành ra dễ dãi còn bạn bè thì không còn ai làm cho họ ghét nữa. Những ngày cuối cùng đó quý báu làm sao, họ cố giữ lại nhưng nào được. Từng ngày, từng ngày cứ lọt qua kẽ hở của hai bàn tay đong đầy thiết tha. Rồi đến một lúc nào đó chân họ ngập ngừng khi phải rời xa mái trường thân yêu... Ve, ve ơi, kêu làm chi nhiều thế? Xin hãy ngừng tiếng để trả lại cho ta những ngày xưa đã mất, những giờ phút được sum họp bên thầy, bên bạn! Ôi, còn đâu những sáng đi học, từng lớp lũ lượt vào trường, tiếng hát vang rền trong nắng. Ôi, còn đâu những chiều tan lớp, những tà áo trắng chạy ùa ra cửa, cười nói rộn ràng như tiếng chim non! Xin hãy trả lại cho ta những kỷ niệm vui cũng như buồn, những nụ cười cũng như những tiếng khóc. Xin hãy trả lại cho ta những lá thư xanh, những lời hò hẹn cũng như những ngày nghỉ học chan chứa ân tình...
 
Biết là không được mà vẫn mong ước chỉ vì ham muốn thì nhiều nên miệng mới nhủ lòng như thế thôi. Nếu con nhộng không phá vỡ cái kén thì làm sao hóa thân thành bướm để tung bay khắp bốn phương trời rộng rãi? Chính vì thế mắt kia tuy có nhìn trường nhưng chân này cứ phải rời xa... Vả chăng, hoa nở để mà tàn bèo hợp để mà tan, vạn vật mà còn phải phôi pha như thế thì loài người cũng không nên có nhiều than thở...
 
Cậu bé ngày xưa bây giờ đã lớn. Cậu vẫn còn có dịp đi dưới hai hàng cây rợp tiếng ve trong một không gian đầy ánh nắng nhưng những mộng đẹp ngày xưa đã không còn trở lại. Hoa bướm ngày xưa đã bỏ cậu để tìm đến những tâm hồn son trẻ khác. Cậu đành đứng lại một bên đường nhìn từng lớp người môi hồng, mắt biếc đi qua mà trong lòng không khỏi xao xuyến ngậm ngùi... Nhưng, dù sao đi nữa, con ve sầu mãi mãi vẫn là một hình ảnh đáng yêu trong tâm hồn cậu. Và bây giờ, cứ mỗi lần hè đến, tiếng ve kêu dù ở đâu cũng được cậu thưởng thức bằng cả tấm lòng để mơ hồ nhớ lại rằng ngày xưa đã có một thời mình còn đi học.
 
 
HOÀNG LÂM VIÊN      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 55, tuần lễ từ 15-6 đến 22-6-1972)
 

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2025

TẢN MẠN ĐẦU XUÂN… - Thùy An


Tôi thuộc mẫu người “Hát hay không bằng hay hát”. Từ nhỏ đã thích ca hát, líu lo suốt ngày, trưa nào cũng nôn nao chờ nghe chương trình ca nhạc của đài phát thanh Huế, toàn ca sĩ gạo cội như Thái Thanh, Minh Trang, Thúy Nga, Anh Ngọc… Tôi lười biếng học bài nhưng lại siêng nhẩm theo lời bài hát, thuộc rất nhanh, nghe qua một lần là thuộc giai điệu, nghe lần thứ hai thì thuộc lời luôn. Từ lời hát hồn nhiên tươi sáng… Đoàn người tưng bừng về trong cơn gió, hồn như đám mây trắng lửng lơ, giang hồ không bờ không bến đẹp như kiếp bô –hê –miên… (Con Đường Vui –Lê Vy) đến lời tình yêu nồng nàn đắm say… Hãy trả lời lòng anh mấy câu, tình duyên với em trong kiếp nào, xuân còn thắm tươi, anh còn mong chờ, ái ân kẻo tàn ngày mơ… (Mộng Chiều Xuân –Ngọc Bích), cả những lời than khóc ủy mị…Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây, lòng vắng muôn bề không liếp che gió về, ai nức nở thương đời châu buông mau dương thế bao la sầu… (Giọt Mưa Thu –Đặng Thế Phong), tôi hát như con vẹt, hoàn toàn không hiểu nội dung ca từ.
 
Năm 1954, tôi giã từ Huế theo gia đình vào Đà Nẵng lập nghiệp, nơi đây, phong trào Văn Nghệ phát triển rất mạnh mẽ, khiến cho niềm đam mê ca hát của tôi càng được dịp dâng cao như sóng triều. Hồi đó, Ty Thông Tin Đà Nẵng hoạt động rất hăng say. Tuần nào cũng có chương trình phát thanh của các công sở trong thành phố trên mọi lãnh vực: Nông Nghiệp, Thuế Vụ, Thủy Lâm… Xen giữa những bài diễn thuyết, những bản báo cáo khô khan, là một chương trình văn nghệ khá xôm tụ được diễn ra trên cái balcon nhỏ xíu nhìn xuống một khoảng đất rộng được gọi là vườn hoa Diên Hồng (mặc dù đốt đuốc cũng không tìm thấy một bông hoa nào). Ca sĩ nghiệp dư là các cô chú công nhân viên và lũ nhóc “cây nhà lá vườn” chúng tôi. Tuy hát không hay nhưng nhờ thời đó, nhạc phẩm nào cũng tươi vui, cũng rộn ràng cuốn hút như Ô Mê Ly, Trường Làng Tôi, Bánh Xe Lãng Tử, Reo Vang Bình Minh, Ly Rượu Mừng… nên mỗi cuối tuần, các “fan” đứng chật cả vườn hoa, vỗ tay đến rát bỏng. Một số bài hát mang tâm sự buồn, nói lên nỗi lòng “kẻ ở người đi” như Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Hận Ly Hương, Bắc Một Nhịp Cầu, Xuân Tha Hương… cũng được phổ biến rộng rãi, hay nhất là bài Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương đã làm rung động biết bao trái tim người yêu nhạc.
 
Hội chợ diễn ra khắp nơi. Các gian hàng buôn bán, các khu vui chơi mở nhạc hết volume từ sáng đến tối, nhiều bài hát rất hay như Khúc Ca Ngày Mùa, Nhạc Rừng Khuya, Vui Đời Nghệ Sĩ, Bức Họa Đồng Quê… làm không khí càng tưng bừng rộn rã. Đặc biệt đôi song ca Ngọc Cẩm –Nguyễn Hữu Thiết hát lui hát tới bài Gạo Trắng Trăng Thanh, Trăng Rụng Xuống Cầu… Vì đâu ô hay sao trăng rụng xuống cầu???... khiến ai đi hội chợ cũng nghe đến thuộc nằm lòng. Nhạc “chế” bắt đầu xuất hiện, lâu quá tôi chỉ còn nhớ vài bài như trong Gạo Trắng Trăng Thanh có câu Ai đang đi trên đường đê tai lắng nghe muôn câu hò đê mê… thì bị sửa thành Ai đang đi trên cầu Bông rớt xuống sông ướt cái quần nylon…, bài Nhạc Rừng Khuya có câu Nhạc đêm tàn hòa cùng rừng cây trầm lắng…thì hóa thành Mặt xấu òm mà còn làm duyên làm dáng…, hay trong bài Trăng Sáng Trong Làng Đêm nay trăng sáng soi làng tôi một vài cô thôn nữ xay lúa cho ngày mai, vầng trăng soi sáng trên đầu thôn, bên ven hồ mờ thắm… thì được hát trong các kỳ thi Em ơi em cứ yêu thầy đi mặc dù thầy xấu xí, em cứ yêu thầy đi, một mai em có vô trường thi, em lo gì trợt gót…
 
Mấy ông bầu Sô ở Sài Gòn cũng bay ra Đà Nẵng tổ chức Đại Nhạc Hội và tôi thường không bỏ sót đêm nào. Thích nhất là xem Túy Phượng vừa hát vừa nhảy bài Mambo Italiano và nghe Cao Thái ca bài Mexico hay nhức tim. Hồi đó không có nhiều nhóm tam ca tứ ca như bây giờ, chỉ có ban hợp ca Thăng Long (Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc) rất điêu luyện với những bài Sáng Rừng, Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Đoàn Lữ Nhạc, Hội Trùng Dương…, ban hợp ca Hạc Thành (Nhật Bằng, Nhật Phượng, Thể Tần, Hồng Hảo) tan rã rất sớm, ban tam ca Sao Băng gồm 3 anh chàng Duy Mỹ, Phương Đại, Thanh Phong, hát không hay nhưng được cái cao ráo đẹp trai, sáng sân khấu nên khán giả ủng hộ nhiệt tình.
 
Nhớ năm học đệ tam, tôi được xem một chương trình nhạc thính phòng gồm những tình khúc nước ngoài được các nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương… viết lời Việt như Giòng Sông Xanh, Sóng Nước Biếc, Khúc Hát Thanh Xuân, Chủ Nhật Buồn… và được hát bởi những giọng ca nổi tiếng như Bạch Yến, Thái Thanh, Khánh Ngọc… tuyệt vời đến nỗi tôi ra ngẩn vào ngơ suốt một ngày, học bài không thuộc, làm bài không xong. Rồi nhớ năm thi đậu bán phần, được thưởng một chuyến đi Sài Gòn, ngồi trên máy bay, nơi tôi nghĩ đến nhiều nhất là… các phòng trà với bao nỗi háo hức chờ mong, phen này phải xem tận mắt các thần tượng bằng xương bằng thịt thay vì nghe họ hát trên đài phát thanh. Suốt một tuần ở Sài Gòn, cả bảy đêm tôi đều có mặt khắp các phòng trà Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Anh Vũ… để say sưa thả hồn bay bổng theo tiếng hát của các ca sĩ trứ danh Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Jo Marcel… đặc biệt là chương trình ca múa nhạc ở Maxim’s do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm đạo diễn. Nơi đây, sân khấu rực rỡ hoành tráng, ca sĩ hát có múa minh họa, nghệ sĩ múa đẹp như tiên… thích nhất là vở nhạc kịch “Bạch Tuyết và 7 chú lùn” do ca sĩ Bạch Yến đóng vai Bạch Tuyết, khuôn mặt xinh tươi, chiếc áo đầm trắng lả lướt xoay tròn, giọng hát ngọt ngào điêu luyện… khiến ai được xem một lần khó thể nào quên.
 
Có rất nhiều dòng nhạc, từ dân ca đến nhạc trẻ, nhạc thính phòng… khán giả có nhiều tầng lớp, “gu” thưởng thức nhạc cũng khác nhau, trăm hoa đua nở rộn ràng. Vườn nào cũng có hoa đẹp, ca sĩ không thượng vàng hạ cám như bây giờ, mà ai hát cũng hay, cũng có chất giọng riêng… Lúc bấy giờ chưa có băng cassette, càng chưa có Ti Vi, dĩa nhựa cũng hiếm hoi, lâu lâu mới phát hành một vài dĩa khiến những người thích nghe nhạc như tôi chỉ biết làm bạn với cái Radio to đùng, bắt đài Sài Gòn thường bị nhiễu sóng, nhưng vẫn trung thành với các chương trình ca nhạc như Dạ Hương, Tiếng Thời Gian, Tiếng Tơ Đồng… 
 
Nhiều nhạc sĩ trẻ nổi lên bởi một loạt ca khúc được khán thính giả nhiệt tình đón nhận như Trịnh Công Sơn, Trúc Phương, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lâm Tuyền… thích nhất là nhạc Văn Phụng, ca từ hay, giai điệu tươi đẹp và rất tình tứ như Yêu Và Mơ, Tiếng Hát Với Cung Đàn… Nhiều ca sĩ bỗng trở thành hiện tượng khi gặp một bài phù hợp với chất giọng của mình như Thanh Thúy (Ướt Mi –Trịnh Công Sơn), Phương Dung (Nỗi Buồn Gác Trọ –Trúc Phương), Bạch Yến (Đêm Đông –Nguyễn Văn Thương), riêng Nhật Trường tự hát nhạc của mình (Trần Thiện Thanh), phần lớn nội dung ca ngợi lính như Tuyết Trắng, Rừng Lá Thấp… khiến mấy cô có người yêu đi lính cảm thấy như viết riêng cho mình nên càng có cảm tình với anh ca sĩ này. 
 
Từ năm 1960, xuất hiện dòng nhạc chiêu hồi, bài Ngày Về của Hoàng Giác được chọn làm nhạc hiệu của chương trình trên Đài Phát Thanh, trên Truyền Hình Tung cánh chim tìm về tổ ấm, nơi sống bao ngày giờ đằm thắm… nghe rất thấm thía, có nhiều bài viết theo đơn đặt hàng nhưng thật xúc động như Em Chờ Anh Trở Lại (Hoàng Nguyên), Từ Đó Em Buồn (Trần Thiện Thanh), Xa Vắng (Y Vân)…
 
Nhiều “lò” đào tạo ca sĩ ra đời, tôi chỉ nhớ vài địa chỉ như “lò” Phạm Đình Sĩ (anh của nhạc sĩ Phạm Đình Chương) gồm các ca sĩ như Mai Hân, Mai Hương, Bích Thủy, Quốc Thắng…, “lò” Nguyễn Đức gồm những ca sĩ mang chữ “Phương” phía trước tên như Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm…, “lò” Tùng Lâm gồm những ca sĩ mang chữ “Trang” như Trang Kim Yến, Trang Thanh Lan… Tất cả các cô đều xinh đẹp, hát hay, nên khi có cơ hội lên đài Truyền Hình, tên tuổi các cô càng được nhiều người hâm mộ.
 
Và còn nhiều, nhiều nữa… nhưng lớp bụi thời gian đã xóa mờ ký ức, thêm vào đó, tuổi già khiến đầu óc mơ mơ hồ hồ, có những bài hát thuộc lời nhưng quên mất tựa đề. Nhớ mãi một kỷ niệm đẹp thời niên thiếu, đó là đêm lửa trại năm tôi học lớp đệ lục trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng (1958 -1959). Giữa phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bên ánh lửa bập bùng, chúng tôi đã nắm tay nhau, hát những lời rất phóng khoáng… Lửa hồng cháy, cháy trong đêm dài, lửa là hồn trai soi vào đêm vui, ta còn vui mãi… Bập bùng trước mắt là ánh lửa soi, chập chùng sau lưng là non là núi, lửa hồng ơi. Đời người thanh niên là ánh lửa soi, lửa đời đốt cháy buồn bã sầu ai… Bây giờ muốn nghe lại bài hát này nhưng không nhớ tên bài hát. Tôi đã nhờ cô học trò phụ trách trang nhạc yêu cầu trên website của trường, nhưng em trả lời: “Phải biết tên bài mới tìm được cô ơi.” 
 
Trong nhóm thân hữu a2a, có nhiều anh chị hát hay, đàn giỏi, biết rất nhiều về nhạc, có ai nhớ tên bài hát này, nhắc cho Thùy An với. Cám ơn lắm lắm.

 

8/ 2/ 2011

T.A    

 
 

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2025

HOA ĐÀO NĂM TRƯỚC - Nguyễn Hiến Lê


“Mãi mãi là trong những phút giây” (Xuân Diệu).
 
Hồi đó tôi học năm thứ ba hay thứ tư trường Bưởi (sau đổi tên là Chu Văn An), ăn tết ở Phương Khê xong, trở về Hà Nội.

Chiếc xe đò Mĩ Lâm từ Trung Hà xuống, đậu ở bến gần chợ Sơn Tây một hồi lâu rồi mới lại khởi hành, chạy một vòng chậm chậm trong thành phố để đón thêm khách. Trời lạnh, dân chúng còn ăn Tết, các cửa ngõ còn nửa khép nửa mở, vỉa hè còn vắng người và rải rác xác pháo.

Xe quẹo vào một con đường nhỏ nhưng sạch sẽ, trong một khu công chức, và ở sau một bức tường thấp, tôi thấy ló lên một tàng đào lớn, thịnh khai, đỏ thắm. Xe vừa chạy tới thì một cánh cửa gỗ ở nách bức tường đó từ từ hé mở, một thiếu nữ trạc mười sáu mười bảy bước ra: vành khăn nhung bao làn tóc đen nhánh làm nổi nước da trắng mịn, hồng hào; áo the điều, quần lãnh Bưởi. Tôi có cảm giác trời xuân bỗng nhiên bừng sáng. Xe vẫn chạy chậm chậm, và tôi quay lại nhìn cho tới khi khuất bóng, lòng hồi hộp mà bâng khuâng.

Bâng khuâng không phải chỉ riêng vì người mà vì toàn cảnh. Ánh xuân trong dịu, đường phố thanh tĩnh, màu câu đối dán bên cửa với màu áo trên mình thiếu nữ, nét mực Tàu với vành khăn nhung, nhất là màu hoa đào kia với nước da nọ, tất cả cùng hiện lên một lúc, hòa hợp với nhau một cách ngẫu nhiên mà tuyệt diệu. Chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh xuân đẹp như vậy.

Chiếc xe đã ra khỏi thành phố, bon bon trên con đường Sơn Tây - Hà Nội, tôi ngâm thầm bài Ðề Tích Sở Kiến Xứ.

“Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng”.


Và tôi có cảm tưởng ngông ngông rằng thi sĩ như đã tặng riêng tôi bài đó, vì hiểu thơ thì ai cũng có thể hiểu được, mà muốn cảm xúc mãnh liệt thì phải thấy cái cảnh tả trong thơ, có cái tâm sự của người làm thơ. Cả một trời xuân và một tình xuân bàng bạc trong bốn câu của Thôi Hộ.

Từ đó, mặc dầu biết rằng cũng sẽ thất vọng như Thôi Hộ thôi,

“Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong”
(1)

mà Tết nào, đi ngang qua tỉnh lị Sơn Tây, tôi cũng để ý tìm lại cảnh hoa đào năm trước.

Cảnh cũ, người cũ đã không sao cùng gặp lại được, thì thử kiếm cảnh khác, miễn là cũng đủ đào hoa nhân diện? Ở Hà Nội việc đó rất dễ. Từ hai mươi lăm tháng chạp, suốt phố Hàng Ðường tới cửa chợ Ðồng Xuân như một rừng đào, cái cảnh “hoa chi tự kiểm, kiểm như hoa”(2).

Ðâu phải là hiếm, mà sao tôi vẫn không tìm lại được cảm giác cũ. Tôi nghĩ có lẽ tại đường phố náo nhiệt, mà hoa không còn trên gốc, thiếu vẻ thiên nhiên chăng?

Có lần tôi lên tận làng Yên Phụ, thơ thẩn cả buổi trong các ngõ hẹp, lát gạch bên bờ Hồ Tây. Nơi đây còn vài ngôi đình chùa cổ, trong tiếng gió tiếng sóng như văng vẳng giọng ngâm thơ của Hồ Xuân Hương. Nhà nào cũng có vườn, tuy không rộng nhưng cũng trồng đủ giống hoa như làng Ngọc Hà, nhiều nhất là đào, đỏ ối mỗi khi xuân sang. Các thiếu nữ nửa quê nửa tỉnh, vừa tỉa cành vừa niềm nở chào khách, miệng tươi như hoa, nhưng lòng tôi chỉ vui vui chứ không xúc động; vẫn không phải cảnh sắc năm xưa. Thế thì thiếu cái gì đây? Tôi nghĩ không ra.

Kế đó, tôi vô Nam và năm nào Tết đến cũng ngắm hoàng mai mà bâng khuâng nhớ đào.

*

Rồi một hôm cách đây mười tám năm, vào đầu mùa mưa, đi ngang qua vườn một ẩn sĩ, thấy đẹp, tôi ghé vào thăm. Vườn nằm trên bờ một con kinh, ở vòng ngoài thành phố Long Xuyên, nổi tiếng vì có nhiều loại hồng quí từ Pháp gởi về.

Tôi vào tới giữa sân thì một thiếu nữ tươi cười bước ra chắp tay: “Thưa thầy”. Thiếu nữ vẻ thanh tú, ngừng lại bên một bụi hồng leo màu phơn phớt đỏ. Ánh nắng ban mai chiếu vào chùm hoa và phản ánh làm cho má thiếu nữ cũng ưng ửng. Tôi còn đương cố nhận mặt thì thiếu nữ đã nhắc giùm. Tôi hỏi thăm mấy câu rồi trầm ngâm dạo vườn một lát. Vườn trồng cả chục loài hoa, nhiều nhất là hồng, và hồng có cả chục giống; sương mai lấp lánh mà hương thơm ngào ngạt.

Thật thú vị, khi không cố ý tìm thì ngẫu nhiên gần như gặp lại cảnh cũ. Trong vài giây, lòng tôi lại xúc động như hồi trẻ ở Sơn Tây. Xúc động nhẹ thôi: trời hôm đó dịu nhưng không phải là trời xuân ngoài Bắc, mà hồng cũng không thể sánh với đào được. Có lẽ còn tại cái tuổi, cái tâm trạng của tôi nữa chăng? Nhưng cũng là một phút đẹp trong đời, và ở vườn hồng ra, tôi lại ngâm thầm bài thơ của Thôi Hộ, nhớ lại tuổi xuân, cảm xúc triền miên, dịu dịu.

Hôm sau vào lớp học, thiếu nữ cùng với các bạn, đứng dậy chào tôi, nhưng lạ quá, tôi gần như không nhận ra nữa: cũng chỉ như mọi nữ sinh khác, lễ phép, nhu mì, thế thôi; như bé lại vài tuổi, còn cái duyên hôm trước thì đã biến đâu mất. Tôi bước lên bục mà phân vân tự hỏi tại sao. Tại không khí trong lớp học chăng? Hay tại thiếu bụi hồng dưới ánh dịu ban mai bên bờ nước? A, giá đừng gặp lại!

*

Tôi nhớ đâu như Alfred de Vigny có câu:

“Aimez ce que jamais on ne verra deux fois”.

Trước kia tôi vẫn cho Vigny là quá bi quan, hơi ngược đời nữa. Nay bóng chiều đã xế, tôi nghiệm rằng những cảnh đẹp nhất mà ta được thấy, luôn luôn chỉ thoáng hiện rồi biến mất, không sao gặp lại được lần thứ hai.

Phải, cái buổi sáng ở Sơn Tây kia, cũng như cái đêm tôi qua Ðèo Cả, cách đây non ba chục năm, chỉ ngẫu nhiên xuất hiện một lần trong một đời người. Ðêm đó, tôi đương ngắm cảnh biển mênh mông nhấp nhô dưới ánh trăng thì xe lửa lượn vào một khúc quẹo và những lớp sóng bạc bỗng biến đâu mất mà trước mặt tôi hiện lên một dãy núi đen tím với một cái vũng lốm đốm mươi ngọn đèn chài đỏ như than hồng trên một làn nước phẳng lặng: cảnh biến đổi thật huyền ảo và trong một phút tôi có cảm giác là mọc cánh mà lên tiên. Có thể rằng sau này tôi được gặp một cảnh trăng trên biển tương tự cảnh đó, nhưng có may lắm thì cũng chỉ phảng phất vài phần như cảnh vườn hồng so với cảnh vườn đào thôi. Vì phải có một sự giao hội kì diệu mà hữu tình của biết bao cái ngẫu nhiên, từ người và vật tới mây nước, ánh sáng, hương thơm, tâm trạng cùng nhau tấu lên một hòa khúc thì mới gây cho ta được một cảm giác hoàn toàn thỏa mãn về tinh thần, một cảm giác phơi phới nửa hư nửa thực, đột ngột mà bâng khuâng. Ta thấy lòng ta nở ra, ngũ quan mẫn tuệ, tinh thần thanh thoát như chơi vơi. Một đời người hưởng được vài ba phút mà dư hưởng bất tuyệt đó, tôi tưởng đã là phước lớn. Nó quí ở chỗ không bao giờ tái hiện và rất ngắn ngủi. Ðừng kiếm lại nó, vô ích, mà cũng đừng mong cho nó kéo dài: nếu chiếc xe Mĩ Lâm sáng xuân đó và chuyến xe lửa đêm trăng kia, vì một lẽ gì ngừng lại, thì cái mĩ cảm của tôi tất phải giảm mà dư hưởng tất không bền.

Vigny khỏi phải nhắc: Chúng ta chỉ “yêu cái gì không thấy tới hai lần” mà xuất hiện chỉ trong một nháy mắt. Cái tuyệt mĩ bao giờ cũng phù du, mà lại thọ nhất.


Sài Gòn
Xuân Tân Hợi
________________________

(1) Bài này đã có nhiều người dịch, nhưng tôi chưa gặp bản nào như ý, cho nên không muốn chép lại. Chỉ có hai câu của Nguyễn Du là xứng với hai câu cuối trong nguyên tác:
“Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.
Ai có tài dịch thêm hai câu đầu cũng thành lục bát, để ghép lại cho đủ bài thì thú lắm.
(2) Thơ của một nữ sĩ đời Thanh: “Cành hoa tựa má, má như hoa”.
 

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2024

DUYÊN HẠNH NGỘ - Trần Thị Nguyệt Mai

      

   Gia Định, trường Lê. Đó là ngôi trường tôi đã học năm cuối cùng của bậc trung học niên khóa 1971-1972. Trùng hợp làm sao đó là năm đầu tiên trường mở lớp B (ban toán) và cũng là năm đầu tiên thời Việt Nam Cộng Hòa, Bộ Giáo dục chuyển đổi cách gọi các lớp trung tiểu học sang số thứ tự của năm học từ lớp 1 đến lớp 12 thay vì cách gọi như trước đó (Năm, Tư, Ba, ... , Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất). Tôi là “ma mới” trong số những “ma mới” của lớp học này vì cũng có một số bạn khác từ trường ngoài vào. Nhưng các bạn đều rất dễ thương, không phân biệt trường gốc hay trường ngoài. Tất cả hòa đồng với nhau, cùng học, cùng vui, cùng giỡn (rất đúng với câu “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”) dưới sự “lãnh đạo” của trưởng lớp Đỗ Thị Hậu. Hậu học rất giỏi và tính cũng rất “tếu”. Những lúc thầy cô chưa lên lớp, nàng hay đùa giỡn, nói câu nào là cả lớp cứ cười thỏa thuê!

  Tôi vẫn còn nhớ cô Mảnh người miền Nam dạy Toán, thầy Kính người Huế dạy Lý Hóa, ... Và đặc biệt là cô Vân người Huế, dáng nhỏ, rất dịu dàng và dễ thương, dạy môn Anh văn. Trong ngày cuối cùng của niên học, tôi đã nhìn thấy những dòng nước mắt của cô lăn trên má. Về đến nhà, vẫn còn nguyên xúc cảm, tôi ghi lại một mạch bằng thơ.

CÒN MÃI TRONG TIM

Kính tặng Cô Ngô Thị Vân – Giáo Sư Anh Văn

Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt – Gia Định


Với chúng em, đây là niên học cuối

một cuộc thi chấm dứt thuở học trò

chỉ còn lại chút dư âm tiếc nuối

những tháng ngày rất đẹp, rất nên thơ…

 

Ngày cuối cùng Cô giảng xong bài học

dặn những điều cần thiết lúc đi thi

em đã thấy, ở Cô, dòng lệ ngọc

biết bao tình trong giây phút biệt ly

 

(Em vẫn biết còn học trò áo trắng

là vẫn còn giữ những nét dễ thương

đời mai sau sẽ có nhiều bóng nắng

tìm đâu ra khoảng mát chốn học đường?)

 

Và Cô ơi, suốt đời em mãi nhớ

dòng lệ nào tràn ngập những thương yêu

một khoảng trời màu hồng trong tim nhỏ

bục gỗ, bàn thầy, bóng dáng chắt chiu…

 

1972

 

    Bài thơ vẫn ở với tôi, và tôi vẫn xúc động mỗi lần đọc lại. Có lần khi vào trang nhà trường Lê Văn Duyệt, thấy lời kêu gọi đóng góp bài cho Giai Phẩm, tôi đã định gửi, nhưng không thành. Sau đó, tôi đã post trên trang blog của mình và của bạn bè, mong nhờ sức mạnh của internet, bằng cách nào đó, cô Vân sẽ đọc được bài thơ của học trò làm tặng năm xưa. Và hy vọng đã được nhen lửa. Và ước mơ đã trở thành sự thật. Ngày 18-11-2020, nhân ngày Hiến Chương Nhà Giáo Việt Nam, Quang Võ đã cho post lại trên trang blog của em:

https://tuoihoandmore.blogspot.com/2020/11/con-mai-trong-tim.html

     May mắn sao lần này bài thơ được lọt vào mắt xanh của bạn Nhã Đảo (Thuận) và bạn chuyển đến Cô Vân. Cô đã ứa nước mắt khi đọc thơ học trò và nhờ Nhã Đảo tìm ngay địa chỉ của tôi để liên lạc. Cảm ơn Quang Võ và Nhã Đảo nhiều lắm. Các bạn đã giúp cho Cô giáo và học trò “gặp” lại nhau sau gần 50 năm! Tuy chưa thực sự được gặp nhau bằng xương bằng thịt, được ôm (hug) nhau, nhưng tôi vẫn như đang được ở gần Cô, được nghe Cô kể chuyện về đời sống của Cô bây giờ nhờ những links Cô chia sẻ các bài viết. Và đây đã là món quà lớn nhất của tôi trong mùa Lễ Tạ Ơn năm 2020…

 

       Khi đọc những bài Cô gửi, tình cờ thấy Cô nhắc đến tên Hoàng Ngọc Biên, nên tôi hỏi Cô, “Cô ơi, có phải đây là Nhà văn Hoàng Ngọc Biên không?” Thật bất ngờ khi được Cô xác nhận đó là người em họ mà Cô rất thương quý. Quả đất thật tròn! Tôi được hân hạnh quen với anh Hoàng Ngọc Biên vào năm 2017 khi chúng tôi cùng thực hiện cuốn sách “Tuyển tập I - Chân dung Văn học Nghệ thuật & Văn hóa” của Bác sĩ / Nhà văn Ngô Thế Vinh. Anh Vinh đã đặt cho nhóm bốn người cộng tác là “dream team” gồm Ngô Thế Vinh, Hoàng Ngọc Biên, Lê Hân và Nguyệt Mai. Và khi biết anh Biên là bạn với Thầy Lê Hà Quảng Lan, tôi đã xin anh cho gọi là Thầy, nhưng anh không cho và dặn cứ gọi là anh. Tôi cũng chia sẻ với Cô Vân bài thơ “Tiễn anh Hoàng Ngọc Biên” tôi viết năm 2019 khi anh đi xa cũng như tác phẩm cuối đời The Train - a novella and selected writings của anh, do Nhân Ảnh xuất bản năm 2019. Cô ngỏ ý muốn có một cuốn, nên tôi đã nhờ anh Lê Hân in tặng Cô.

   Một lần Cô chia sẻ ý muốn gom tất cả bài viết từ trước đến nay để in sách làm kỷ niệm. Cả anh Lê Hân và tôi đều rất vui được Cô tin tưởng giao cho nhiệm vụ này. Do đó, tôi đã có dịp được cùng làm việc với bạn Nguyễn Thị Ngọc Diễm và anh Ngô Khắc Trí. Tôi vẫn còn nhớ Ngọc Diễm, trưởng lớp 12 A4 niên khóa 1971-1972, nước da rất trắng, tóc quăn, xinh xắn và học rất giỏi. Chắc chắn Ngọc Diễm không thể hình dung ra tôi vì nào biết tôi là ai trong số học sinh đến lớp Diễm trong giờ ra chơi ngày ấy, khi thỉnh thoảng tôi ghé thăm Lê Nguyễn Mai Trắng (Lê Thị Bạch Mai) – một bạn văn ở Tuổi Hoa. Sau này, được biết Ngọc Diễm là một văn nghệ sĩ nhưng tên tuổi bạn nổi bật hơn trong lĩnh vực âm nhạc, và cũng là em của nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến và chị của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Nhung. Có lần tôi đã xin anh Trịnh Y Thư email của chị Trọng Tuyến để viết thư nhờ chị chuyển đến Ngọc Diễm, hỏi thăm về tin tức hai người bạn trong lớp 12 B mà chúng tôi đã mất liên lạc từ sau biến cố Tháng Tư Đen... Nay có dịp “gặp” lại Ngọc Diễm trong “project” này. Thật vui. Trước đây, Ngọc Diễm đã giúp cho Cô Vân tập họp phần lớn bài vở trong cuốn sách này, và nay anh Ngô Khắc Trí là em trai của Cô tiếp tục những phần còn dang dở. Anh Trí từ lâu cũng đã âm thầm lưu giữ những bài viết của Cô và giờ đây đánh máy lại toàn bộ văn thơ để thực hiện ước mơ của người chị thân yêu...

 

      Nhân chuyến nghỉ hè ở miền Nam California năm 2022, tôi ngỏ ý nhờ anh Lê Hân chở giúp đến thăm Cô. Anh Hân rất sốt sắng, vui vẻ nhận lời. Hẹn hò email trước với Cô, Cô chọn ngày thứ Năm 7/7/2022. Sốt ruột, mong ngóng, đợi chờ... Rồi ngày đã đến... Niềm vui thật khó tả! Cô giáo và học trò được trùng phùng tái ngộ không phải nơi ngôi trường mang tên vị đại thần của hai triều vua Gia Long và Minh Mạng, cũng là người duy nhất hai lần được đề cử giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành, mà ở thành phố Ngàn Cây Sồi (Thousand Oaks), California, Hoa Kỳ sau đúng nửa thế kỷ (1972 – 2022). Cô vẫn như xưa, dáng nhỏ dịu dàng, không chút thay đổi, ngoại trừ những nét thời gian mà không ai có thể tránh khỏi. Lần này, tôi được dịp gặp Cô Vĩnh, là nha sĩ, em của Cô. Thật thương hai Cô thức dậy từ sáng sớm, nấu bữa tiệc hội ngộ rất thịnh soạn đãi chúng tôi. Làm sao có thể quên được buổi này, cảm động lắm hai Cô ơi! Nhân đây, Nguyệt Mai xin cảm ơn anh chị Hân – Châu thật nhiều. Không có anh chị, chắc chắn buổi gặp gỡ này khó có thể thành sự thật.

   Thưa Cô rất kính thương, hôm nay cuốn sách đang trên đường hoàn tất... Những kỷ niệm để nhớ để thương của Cô sẽ được lưu giữ và chia sẻ với tất cả những người thương yêu. Một đời Cô hết lòng với gia đình cũng như tận tụy dạy dỗ, lo lắng cho học trò, nên Cô được tất cả mọi người yêu quý. Cuốn sách này được thành hình từ những tình cảm quý mến yêu thương Cô của những người thân trong gia đình và các học trò. Riêng với em, có một câu ngạn ngữ mà em rất thích, “Những Thầy Cô giỏi nhất dạy bằng trái tim, chứ không từ sách vở”. Cô chính là một trong những người Thầy như thế. Để em luôn mang ơn và nhớ đến...

 

Trần Thị Nguyệt Mai

29.10.2022

 

(trích từ phần Phụ Lục sách Những kỷ niệm để nhớ để thương*

của Ngô Thị Vân – Nhân Ảnh xuất bản 2023)