Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

VÌ TÌNH - Thế Lữ

 

Anh Trần Văn quả không phải là người đẹp trai. Độc giả hãy tưởng một người trạc hai mươi nhăm, nước da đen, mũi to, nhô đại ra ngoài, cái trán cũng nhô trông như cái bướu, đôi lông mày rất rậm, làm cho cặp mắt cận thị của anh ta có một vẻ dữ tợn đến kỳ khôi. Anh ta ăn mặc quần áo tây nhưng người lùn mà cả ngang, dáng đi láu táu trông rất ngộ nghĩnh. Cả người anh ta cái gì trông cũng buồn cười.

Tôi yêu bạn tôi đến đâu cũng phải nhận rằng bạn tôi trông xấu quá!

Văn cũng tự biết thế. Có khi anh lại tự chế giễu mình để làm cho bạn hữu vui cười. Nhưng anh ta là một người tính nết thật thà, dễ tin người và có một tấm lòng tử tế hơn ai hết thẩy.

Tôi lại phải nói cho độc giả hay rằng con người giản dị thực thà kia lại là người đa tình nữa. Chẳng biết đó có phải là điều "mai mỉa của số mệnh" không? Chỉ biết bạn tôi biết yêu, mà yêu say, yêu đắm, yêu thiết, yêu tha; tình yêu trong huyết mạch người con trai này sôi nổi như sóng bể. Nhưng trong bao nhiêu thiếu nữ mà anh ca tụng nhan sắc, anh ta không được lấy một cô nào để ý đến mình. Cái đó cũng không lấy gì làm lạ.

Ấy vậy mà anh Văn cũng có một chuyện tình, hay một chuyện mà anh sẵn lòng gọi là chuyện tình thì đúng hơn. Câu chuyện thực chẳng hay gì cho anh ta, nhưng bạn tôi không muốn quên, mà mỗi khi nhắc tới, lại ra ý cảm động như người âu yếm vuốt ve một điều ký vãng êm ái.

Đầu đuôi câu chuyện như thế này:

Tháng chạp năm ấy, anh Văn lên Yên Bái, thăm một người bà con. Lúc trở về anh gặp một người thiếu nữ, ăn mặc giản dị, người rất đẹp, và rất có duyên, cùng đi với anh ta một chuyến xe hỏa.

Người ấy ngồi ngay ghế trước mặt Văn, khiến cho anh chàng mở một quyển sách ra nhưng không đọc được câu nào hết. Văn là người nhã nhặn lễ phép, nên không dám nhìn lâu, sợ người thiếu nữ ngượng. Anh ta thỉnh thoảng mới sẽ kín đáo trông lên, để cho mắt được hưởng cái nhan sắc kia trong giây lát thôi. Cái lòng yêu mộ của bạn tôi thì thực nồng nàn, song chỉ dám biểu lộ ra đến thế là hết. Vả anh ta biết rằng mong hơn cũng chẳng được nào. Người thiếu nữ thì trắng trẻo thế kia, yêu kiều thế kia, trên khuôn mặt thanh tú ấy không chỗ nào đáng chê, còn mình thì... Ôi chao! Bạn tôi chép miệng thở dài một cách rất chua chát.

Rồi anh ta nghĩ bụng:

"Giá mình được là người quen với con người nhan sắc như thế cũng đủ lắm rồi".

Anh ta bèn cố tình đợi dịp làm quen. Thì may sao cái dịp ấy hiện ngay đến sau khi người thiếu nữ ra cửa toa để nhổ quết trầu.

Xe hỏa về ngày gần Tết, nên rất đông; lúc cô kia ở cửa toa trở vào thì đã bị hai bác nhà quê chiếm mất chỗ. Người thiếu nữ thấy họ ra chiều không nể gì ai hết nên không nói gì, chỉ cau mày vịn tay lên mép cửa sổ gần đấy đứng nhìn ra cảnh tượng bên ngoài.

Văn ngồi bên này tức hộ cô kia, liền mắng cho mấy bác đàn ông vô lễ mấy câu ra phết lắm. Đoạn anh ta đứng dậy, đến bên người thiếu nữ, lúng túng một chút rồi mời cô ngồi xuống chỗ mình. Người thiếu nữ không từ chối. Cô ta vén áo ngồi xuống, lại cám ơn anh Văn bằng một nụ cười. Thế là đủ cho bạn tôi bay ngay lên tận chín tầng mây.

Anh Văn đứng bên người thiếu nữ, không giấu được sự vui mừng. Anh ta lấy dáng bộ rất tình tứ, làm như mình chẳng lùn một tý nào hết, và quên bẵng đi rằng mình hiện làm chủ nhân một cái "mũi sư tử", đôi mắt cận thị với cái trán gồ. Nhưng dẫu cho bạn tôi có nhớ đến cái xấu đáng giận của mình cũng không hề gì mấy,- anh ta cũng vẫn sung sướng được, bởi vì người thiếu nữ hình như không trọng bề ngoài lắm, và hình như chỉ cảm riêng vì tấm lòng quý báu của anh Văn tôi.

Coi lối ăn mặc nhã nhặn của cô ta, Văn đoán là người nền nếp ở tỉnh nhỏ. Thế thì cô đã không có cái thói đỏng đảnh khinh người như bọn tiểu thư Hà Nội, họ chỉ ưa chuộng những công tử tốt mã bề ngoài. Anh ta lại thấy cô kia đi có một mình nên mới lấy thứ giọng bao dung và rất nhã nhặn mà hỏi :

- Thưa cô, cô đi đâu?

- Thưa ông, em xuống Hà Nội.

- Thưa cô, cô xuống chơi hay có việc?

- Thưa ông, em xuống hỏi nợ một người chịu tiền hàng.

Rồi cô ta hỏi lại Văn :

- Ông cũng về Hà Nội ư?

- Thưa cô vâng.

Thế rồi câu chuyện của hai người cứ thân thiết hơn, đằm thắm hơn lên, mà con mắt đắm đuối của người thiếu nữ thêm lóng lánh, thêm tình tứ...

Anh Văn thì chưa thấy bao giờ mình có duyên đến thế.

Anh ta cười bằng miệng cười xinh đẹp nhất, hắng giọng luôn để đỡ cảm động, và cứ chớp hoài đôi mắt cận thị để cho mình biết chắc rằng đây là sự thực, chứ không phải trong giấc mơ. Người bạn tốt của tôi thực không ngờ rằng lại được hưởng những giây phút êm đềm quá đáng ấy.

Mà cái hạnh phúc mỗi lúc một tăng lên! Một lần tầu đỗ, hành khách lên ít, xuống nhiều. Người thiếu nữ lại ngồi nhích ra một bên, để cho Văn ta được ngồi cạnh. Lại một lần khác, người thiếu nữ đánh rơi chiếc khăn tay lụa, anh Văn nhặt lên hộ, lúc trả, được chạm đến bàn tay ngà ngọc của mỹ nhân. Rồi lại được mỹ nhân mời ăn trầu. Văn răng trắng, diện tây, nhưng cũng nhận lấy một cách rất lịch sự.

Anh ta cứ hết lòng cảm tạ sự tình cờ đã làm cho anh gặp được người thiếu nữ, và trong trí đã thấy trước những chuyện tình duyên êm ái sau này. Có một người nhan sắc để mà yêu, để mà nhớ thương, để mà mong đợi đến cái ngày tốt đẹp kia là ngày được sánh vai người ngọc! Ồ, còn gì sung sướng cho đời người hơn! Anh Văn thường ngỏ riêng với tôi rằng: "Tôi xấu thế này, chỉ mong lấy được một người có duyên thôi, thế cũng đủ mãn nguyện". Thế mà người thiếu nữ kia đã có duyên lại đẹp, lại sắc sảo, lại lễ phép, lại con nhà nền nếp, đủ mọi điều hay! Mà lại còn tỏ ra lòng quyến luyến anh Văn nữa kia! Cho nên một lời nói của cô ta, một cử chỉ của cô ta, cùng những ý tứ ở đầu mày cuối mắt cô ta, đã khiến cho trái tim bạn tôi nhiều lần đập mạnh lên dữ dội.

Ngồi bên một người đẹp như thế thì đường dài đến đâu cũng là ngắn. Chả mấy chốc, xe lửa đã tới Gia Lâm.

Rồi qua cầu.

Rồi qua ga Đầu Cầu.

Mọi người đều thu xếp để xuống. Người thiếu nữ buộc lại khăn vuông ra đằng sau gáy rồi đến đứng bên một cái va ly là hành lý của cô ta. Anh Văn lại bên hỏi :

- Cô có ai ra đón tầu không?

- Thưa ông, không ạ!

Văn mừng thầm sẽ được dịp xách hộ va ly. Anh ta lại nói :

- Từ Hàng Da tới Cửa Nam cũng gần, vậy trước khi ngược Yên Bái, cô ghé qua vào chơi nhà tôi.

- Xin vâng.

Người thiếu nữ lúc ấy đưa đầu ra ngoài cửa sổ trông về phía ga.

Tầu dần dần chạy chậm lại. Văn đang tìm câu gì nói nữa bỗng nhiên cô ta quay lại, tái mặt đi. Văn ân cần hỏi thì cô ta gượng cười đáp :

- Em đi tầu không quen, nên vừa đứng dậy đã chóng mặt.

- Thế mà tôi tưởng cô phải cảm... Nhưng cô ngồi xuống, không mệt thêm.

Người thiếu nữ ngồi xuống, mỉm cười nhìn Văn bằng đôi mắt mệt nhọc, dịu dàng và... âu yếm. Văn sướng quá, đỏ cả má, đỏ cả mũi, lần hết túi ba đờ xuy đến túi áo trong định tìm một vật mà không thấy, rồi phàn nàn :

- Buồn quá! Tôi bỏ quên lọ dầu ở nhà ông bạn rồi. Không thì cô lấy một chút xoa cũng đỡ.

- Nhưng không hề gì cả! Em cũng chỉ choáng váng một chút thôi.

- Tuy thế cô cũng nên ngồi yên đấy để tôi mang hành lý xuống trước đưa cho mấy người nhà đứng đợi ở ga rồi tôi lên đón cô sau.

Người thiếu nữ tỏ ý mừng rỡ và cám ơn Văn, nhưng cũng nói :

- Như thế phiền ông quá.

- Không. Nào, cô có những gì?

- Em chỉ có cái va ly đó thôi. Nhưng phiền ông quá!

- Không có gì mà phiền. Tôi đi không cũng thế.

Lúc ấy tầu vừa đỗ.

Cái va ly nặng lắm mà Văn ta làm ra bộ rất khỏe, coi như rất nhẹ, rồi hăng hái xách bước xuống sân ga. Bấy giờ thì anh ta cao lớn lực lưỡng lắm.

Người thiếu nữ đứng trông theo Văn, tay bóp thái dương. Anh ta thấy mỏi cánh tay mà chưa dám nghỉ vội. Đi đến gần lối ra hạng ba, anh ta mới dám đặt va ly xuống. Đợi một lúc mà đám người chen chúc trước mặt vẫn không chịu tiến lên, Văn nóng ruột hỏi một người đi cạnh mình :

- Sao lại đứng cả lại thế này?

Người ấy trả lời :

- Họ khám hành lý.

Văn quay lại nhìn thì người thiếu nữ chắc đã ngồi xuống, trông qua cửa sổ xe hỏa không thấy nữa... Văn sợ cô ta đợi lâu quá liền cố sức lách lên trước thì bị mấy người đội đoan cản lại, bắt đưa va ly cho họ xem.

Một người lính đoan bảo Văn :

- Chúng tôi vừa nghe tin báo có người đem thuốc phiện lậu đến Hà Nội nên phải khám hành khách.

Văn mỉm cười, đáp :

- À, tưởng gì!

Vừa nói dứt lời thì cái va ly người thiếu nữ gửi, mở tung ra, trong thấy đầy những hộp bằng đồng, gắn kín và to bằng quyển sách dầy cộp.

Một người đội đoan cười gằn, nói tiếng Pháp :

- Lần này thì anh không thoát được tay tôi!

Văn chưa hiểu ra sao thì đã bị người ta điệu về Sở Thương chính.

Tuy rằng bạn tôi hết sức phân trần rằng mình là con nhà lương thiện, không bao giờ làm điều trái phép, nhưng không ai tin. Cái va ly thuốc phiện lậu đó là cái cớ buộc tội rất hùng hồn. Anh ta khai rằng anh ta quá tin người, rằng người ta lợi dụng mình; song nhất định không chịu nói rằng đó là một người con gái.

Nhờ nhiều người có thế lực che chở nên Văn mới được tại ngoại hậu cứu, sau khi bị giam đến gần nửa tháng - từ hăm ba tháng chạp tới mồng mười tháng giêng. Đến lúc ra tòa, anh ta mạnh thầy cãi, nên chỉ phải phạt có hai tháng tù án treo với bồi thường cho Sở Thương chính ba nghìn bạc.

Lúc kể chuyện này cho tôi nghe xong, bạn tôi thản nhiên kết luận:

"Tuy vậy, tôi cũng được ngồi nói chuyện với người nhan sắc ấy... hơn hai tiếng đồng hồ". 

 

THẾ LỮ  

(Trích từ tập truyện ngắn Bên Đường Thiên Lôi)

  

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

CHIẾN TRẬN - Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

 
Hình: latimes.com

Mẹ nói:

“Không ngờ, mẹ có được một đứa con là bác sĩ rất kiên cường.”

“Con không biết mình có kiên cường không Mẹ à!”

Đôi mắt Ái chớp nhanh để ngăn nỗi xúc động. Ái lảng sang chuyện khác:

“Mẹ ơi! Sao Mẹ lại mong có con làm bác sĩ hở Mẹ?”

“Mẹ không vì giàu, vì danh, mà chỉ vì Mẹ nặng một lòng biết ơn các bác sĩ. Nói chung là bác sĩ, y tá và những người làm trong ngành Y con ạ!”

“Mẹ nói đúng. Nếu không có y tá và các nhân viên khác, thì bác sĩ khó lòng làm tròn công việc của mình.”

Ái mang đĩa thức ăn của mình về bàn. Cái bàn ăn khá rộng, hai mẹ con ngồi hai đầu. Hình như đã thành một thói quen rồi, không ngồi kế bên nhau như trước kia. Hai chữ “cách ly” có ý nghĩa như một hành động vì an toàn, không phải nghĩa xa cách tình cảm. Con người thật lạ, Ái nghĩ vậy. Kho tự điển không có thêm chữ mới, mà có thêm nghĩa mới.

Trong bữa cơm hiếm hoi được ngồi cùng nhau, mẹ và Ái ôn lại chuyện một năm qua. Thế mà đã được một năm! Một năm thay đổi hẳn cuộc sống của mọi người! Thế giới có hơn 100 triệu người mắc bệnh, hơn 2 triệu rưỡi người tử vong. Những con số biết nói. Mỗi con số nhích lên là một sinh mạng!

Mẹ nói với giọng bâng khuâng:

“Từ khi còn nhỏ, mẹ đã có ý nghĩ quý trọng những vị bác sĩ. Ngày xưa, ở xứ mình, đa số người ta chỉ đến bác sĩ khi bị bệnh thật nặng. Do đó, vị bác sĩ được coi như ông tiên hay bà tiên cứu sống mình vậy. Hồi năm tuổi, con bị bệnh sốt xuất huyết. Thời đó, bệnh sốt xuất huyết và bệnh bại liệt là nỗi kinh hoàng của các bậc cha mẹ. Bệnh bại liệt thì có vaccine để ngừa, nhưng sốt xuất huyết thì không. Hôm mẹ ở với con trong phòng cấp cứu của bệnh viện Nhi Đồng, mẹ tận mắt chứng kiến một đêm không ngủ. Các bác sĩ, y tá, nhân viên và các sinh viên Y Khoa thực tập làm việc không ngừng tay. Họ cũng như những người mẹ theo dõi từng giọt dịch truyền, từng nấc lên xuống trên nhiệt kế đo thân nhiệt của những đứa con đang nóng sốt.”

“Mẹ, chỉ khi con ra trường, con mới biết là Mẹ thích có con làm bác sĩ.”

Mẹ cười:

“Thì bởi vì Mẹ không muốn tạo áp lực cho các con, Mẹ muốn các con tự do chọn ngành mình theo học. Điều Mẹ muốn, Mẹ không nói khiến các con khó nghĩ.”

“Hi hi, Mẹ đúng là bà mẹ tân thời.”

“Mẹ chưa già mà lị!”

Ái nghe cảm động. Hiếm hoi có một bữa cơm Ái được ngồi ăn thức ăn do Mẹ nấu. Ngày nào cũng là những ngày vội vã. Có được phút nào thong thả là ngủ vùi cho lại sức rồi lại vội vã ra đi. Mà cũng đâu phải lúc nào Mẹ cũng có thì giờ kể chuyện ngày xưa như hôm nay. Công việc của Mẹ cũng bộn bề…

“Lúc đó con còn nhỏ quá, nhưng con vẫn nhớ tới bây giờ, ngày con mê man trong bệnh viện. Con thấy đủ loại giấc mơ, có lẽ vì do sốt cao quá. Có lần thức giấc, con thấy ông bác sĩ đang khám bệnh cho con. Con tưởng như ông ấy là một ông tiên áo trắng…”

“Thì là ông tiên thật đó! Cả bệnh viện ai cũng mến phục ông. Nhưng ông ăn nói rất thẳng thắn. Ông sẵn lòng chê trách những bà mẹ coi thường lời căn dặn của ông. Căn bệnh sốt xuất huyết rất tai ác, con ạ! Nó lấy mạng sống của nhiều trẻ con.”

Rồi Mẹ rơm rớm nước mắt, nhắc đến một vị bác sĩ có con chết vì bệnh này. Đứa bé nằm giường ngay bên cạnh giường của Ái. Trước khi chết, đứa bé còn nói líu lo. Người cha bác sĩ đau lòng vì con, nhưng khi rời phòng bệnh, ông vẫn trấn an các bậc mẹ cha và chúc lành cho các cháu ở lại.

Còn một khía cạnh khác mà Mẹ thường không muốn nhớ, đó là đời sống của con người trong hoàn cảnh xã hội lao đao. Có người nói rằng tiền bác sĩ lãnh được sau một cuộc giải phẫu chỉ ăn được tô phở, hoặc chua chát hơn, so sánh một “ca” mổ ruột, bác sĩ lãnh tiền không bằng một người thợ vá một cái ruột xe. Có vẻ phóng đại quá chăng? Nhưng đó là thực tế. Nhiều vị làm trong ngành Y không ngần ngại nhận bao lì xì trước khi làm nhiệm vụ. Xã hội tập cho họ có thói quen như vậy, lâu dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Nhưng may mắn thay, vẫn còn những người không để mất lòng tự trọng, vẫn không để mất phẩm giá, không lao theo thời trang.

“Ngược về trước nhiều năm, có những hình ảnh làm Mẹ ghi nhớ lắm con ạ! Hồi đi học, Mẹ có lúc đến thăm thương bệnh binh. Mẹ nhìn mấy ông bác sĩ quân y, thấy cũng hơi sợ, vì trông các ông nghiêm nghị, khắc khổ lắm. Có lẽ vì thường xuyên ra trận, đối diện với cái sống chết trong gang tấc của những người lính, nên ít khi các ông cười.”

“Thật vậy hở Mẹ?”

“Ừ. Vậy chứ mấy ông cũng tình cảm lắm, chỉ có điều là họ giấu thôi! Một lần tình cờ Mẹ thấy ông bác sĩ quân y rơi nước mắt khi một người thương binh đau quá khóc gọi mẹ của anh ấy. Nỗi đau của con người, dù là tinh thần hay thể xác, không ai gánh giùm ai được.”

Ái khẽ nói:

“Con đi đây Mẹ!”

“Lại đi hở con?”

“Dạ. Số người nhiễm có giảm, nhưng người ta vẫn chết vì bệnh này. Tụi con còn mệt nhiều.”

Mẹ lắc đầu, mắt trĩu nặng. Mẹ dặn dò như mọi lần:

“Con cẩn thận.”

“Mẹ cũng vậy nhé! Có ai đến, Mẹ nhớ mang mask vào rồi hãy nói chuyện.”

“Mẹ biết. Con này, Mẹ không hiểu sao, chỉ một việc đơn giản như vậy, bảo vệ mình, bảo vệ người, mà nhiều người không muốn làm.”

Ái thở dài:

“Họ có cái lý của họ. Họ nghĩ đó là cái quyền của họ mang mask hay không. Họ không sống trong hoàn cảnh những người bị bệnh. Họ không thông cảm cho những người phải làm việc như tụi con.”

Ái rùng mình. Phải, một năm trôi qua như cơn ác mộng! Nhiều người cho đến lúc bệnh nặng rồi, vẫn không tin tại sao mình bị bệnh. Họ nói họ không tiếp xúc với ai, vậy con virus từ đâu mà đến? Không chỉ người già hay người suy yếu vì có sẵn bệnh, mà cả thanh niên tràn đầy sức sống cũng mắc bệnh. Làm việc trong phòng ICU, Ái như người đồng hành với bệnh nhân giành giật sự sống. Khi thất bại, Ái như cũng đồng hành với họ trong lúc họ ra đi. Rồi Ái phải đứng lại. Họ đi một mình.

Một lần, Ái ngồi bên người bệnh là một ca sĩ. Ai biết được đàng sau mớ dây nhợ và ống thở, là một giọng hát thanh tao! Cô có vẻ muốn hát. Nhưng đã hết! Tiếng chim ríu rít quyến rũ đã được thay bằng tiếng thở khò khè, và lịm dần như ánh nến leo lét chìm vào vũng tối. Một lần, Ái ngồi bên người bệnh là một nhà thơ. Những ngón tay run run cử động như muốn viết. Nhà thơ không còn đủ tỉnh táo để mơ mộng. Tất cả chung quanh nhà thơ chỉ là một tấm màn u uất. Trong những ngày căng thẳng cao độ, Ái chứng kiến cảnh phòng bệnh với những dãy giường mới mang tới, chính là garage đậu xe của bệnh viện, cảnh hàng dài những xe cứu thương chờ chuyển bệnh nhân vào phòng cấp cứu nhưng không còn chỗ, phải chờ cả mấy tiếng đồng hồ. Thương tâm hơn nữa, nhà xác cũng hết chỗ. Thi hài của những người chết đã được gói kín, sắp xếp lên các ngăn kệ của phòng lạnh dã chiến, có khi là trên những chiếc xe vận tải lạnh. Họ nằm chật chội, lớp lớp, hàng hàng…

Phải, một năm trôi qua như cơn ác mộng. Chết vì Covid có đáng hay không? Không đáng chút nào. Nhưng nhiều người đã chết. Cuối Tháng Hai, nước Mỹ đã mất nửa triệu người.

Có nhiều lúc Ái không dám nhìn mình trong gương. Mở chiếc “khẩu trang” ra, Ái choáng váng vì dưới hai mắt và hai bên má của mình như bị biến dạng: kết quả của việc thường trực đeo mask ngày cũng như đêm. Những phiên trực làm mặt mũi xanh xao. Hết trực, Ái phờ phạc tìm đến giấc ngủ, hy vọng lấy lại sức lực. Nhưng trái lại, Ái rơi vào tình trạng mất ngủ kinh niên. Ái sợ rằng mình rồi cũng sẽ mắc bệnh!

Một người bạn khá thân chia sẻ rằng bạn được làm việc ở nhà, vì công việc văn phòng có thể mang về nhà, không cần đến sở. Bạn tỏ ý lo ngại cho Ái. “Ái ơi, mình biết “work from home” là may mắn lắm. Có những việc không thể làm ở nhà, như Ái đó! Ái đối diện với mối nguy hiểm từng giờ.” Bạn cũng giả dụ nếu có thể chọn lựa, bạn thà chết vì đau tim hơn là chết vì Covid. Bạn nói đúng. Cái chết vì Covid đau khổ biết bao! Người chết vì Covid cô đơn biết chừng nào!

Vẫn như có sẵn định mệnh cho từng người, không ai chọn lựa được đâu! Ai mà biết được mình sẽ chết vì cái gì, chết lúc nào và chết ra sao? Có lẽ vì đã chứng kiến quá nhiều người chết nên Ái có một cách nghĩ cho riêng mình. Đó là làm việc bằng tinh thần của một người lính. Giường bệnh là chiến trận. Người lính chỉ có một con đường là chiến đấu. Khi bại trận, người lính ngồi ôm mặt khóc. Khi chiến thắng, chào tạm biệt bệnh nhân xuất viện bằng tiếng vỗ tay và lời reo mừng. Mạng sống con người vẫn luôn quý giá!

Ái khẽ nói:

“Con đi đây Mẹ!”

“Ừ, con đi.”

Ái cười:

“Mẹ yên tâm, không đến nỗi như trước đâu! Mình đã được chích vaccine rồi.”

Mẹ gật đầu, nét mặt Mẹ vui:

“Phải, cơ thể của mình đang “sản xuất” chiến binh để chống giặc. Nói ráng một chút con nghe, ngày xưa, con nít như Mẹ làm quen với vaccine lần đầu trong đời là “trồng trái” để ngừa bệnh đậu mùa. Eo ơi, người ta dùng cái ngòi bút thấm thuốc rạch lên da mình mấy vết nghe ớn. Ai cũng lãnh sẹo vì “trồng trái” để khỏi bị cái bệnh tai ác đó. Có người còn bị mưng mủ, hành lên hành xuống. Dân mình nghe chích vaccine là mừng lắm. Họ biết tin tưởng vào khoa học. Chưa bao giờ nghe nói đến chuyện chống vaccine.”

Hai mẹ con không hẹn mà cùng thở dài, rồi cùng cười.

“Con đi đây!”

Biết trước rằng khi vào bệnh viện, Ái lại cũng sẽ đối diện với những cảnh ngộ đau lòng. Tuy vậy, tâm trạng có phần nhẹ nhàng hơn trước, với ý nghĩ mình đã có “cái nhà máy sản xuất chiến binh chống giặc” trong người. Có một chút hy vọng! Lúc trước, đi ra khỏi nhà cũng là như người lính đi ra mặt trận, nhưng chuẩn bị tâm lý sẵn sàng. Có khi không được về nhà vì phải “cách ly” đúng nghĩa. Cũng có thể mãi không được về.

 

Cuối Tháng Hai, 2021            
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh   

Nguồn: http://www.camlinguyenthimythanh.com

 

Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2021

THẮM MÃI NHỮNG MÀU HOA - Trần thị Phương Lan

 

Thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho chúng ta vô số những món quà vô giá: từ binh minh nắng rực rỡ hồng trên giòng sông lững lờ trôi xuôi, chiều tà nắng nhạt nơi thôn dã yên bình, đêm trăng thanh gió mát thổi qua bến vắng, hoặc ngay cả những buổi trưa: thời khắc khó chịu nhất trong ngày, vẫn đẹp mơ màng với biển xanh cát trắng nắng vàng cùng với những hàng phi lao rì rào hòa tiếng sóng miên man vỗ bờ. Trong muôn vàn những quà tặng trời ban đó, thì HOA là một trong những nguồn cảm hứng vô tận cho giới nghệ sĩ sáng tác, góp phần làm cho trần gian này trở nên bội phần đáng yêu.

Chả thế mà chúng ta vẫn thường hay bắt gặp trong thơ, văn, nhạc, họa, bóng hình của muôn ngàn sắc hoa. Vốn tính tham lam, thuở nhỏ, tôi  thường hay mộng ước thành nhạc sĩ hay ngay cả họa sĩ nữa, để thả hồn theo những áng mây chiều, những ánh sao đêm để có thể ca tụng vạn vật theo ngàn phím tơ hay nét cọ. Nhưng càng lớn tôi càng biết lượng sức mình! Giờ đây tôi chỉ còn biết tán thưởng những bậc nghệ sĩ tài năng hơn mình, và trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này nói riêng, chỉ xin được đề cập đến những tác phẩm của những nhạc sĩ kỳ tài vô tình nói hộ lòng tôi, đã tô đậm những sắc màu thắm tươi của những loài hoa kỷ niệm họ yêu mến, để tô điểm cho cuộc đời thêm hương sắc.

Trong tất cả những nhạc phẩm viết về hoa, có lẽ bài Nhớ mùa hoa tím của Mạnh Phát được tôi yêu thích nhất, dù không biết rõ tác giả đang đề cập đến loại hoa nào, mà chỉ đoán lờ mờ đó là một loài hoa dại nơi đồng nội, dựa theo nội dung bài hát, và hình minh họa đẹp tuyệt vời của họa sĩ Duy Liêm. Thuở nhỏ khi còn ở Châu Đốc với bác, tôi thường được nghe ca khúc này. Có lẽ đây là lý do chủ yếu khiến tôi yêu thích bài hát này chăng? Nhớ khi nào qua mấy mùa hoa. Mơ bóng dáng năm xưa xa mờ. Chiều chiều tìm trong tia nắng phai, gửi về nơi chân mây cuối trời bao buồn vui giữa mùa hoa tím... Châu Đốc là một tỉnh lẻ nửa tỉnh nửa quê, và cũng có nhiều loài hoa màu tím: bập bềnh trên ao hồ có hoa lục bình đẹp mê ly; dây leo thì có hoa cát đằng buông rủ trông như cây hoa đậu và thường hay bị sâu ăn, hoa bìm bìm rất xinh xắn dù đơn sơ mộc mạc, hoa ánh hồng tức hoa lan tỏi  nhìn thì đẹp quí phái nhưng lại hôi rình mùi tỏi, đúng là loài hữu sắc vô hương. Trái lại, hoa lài Nhật hai màu trắng, tím lại thơm ngây ngất  Có cả hoa giấy đỏ, cam, trắng, tím nữa, vẫn thường trồng trong vườn để làm cảnh hoặc để làm hàng rào, Một hôm bước lần theo lối cũ tôi về tìm lại giàn hoa tím xưa chưa phai… (Dưới giàn hoa cũ, Tuấn Khanh).

Một bài hát tôi cũng vô cùng mê đắm vì hình ảnh nên thơ và nhịp điệu rộn ràng là bài Hoa soan bên thềm cũ, được trình bày qua tiếng hát vui tươi của ca sĩ Thanh Lan. Sinh ra ở miền Nam, tôi không được biết đến loài hoa này, dù vẫn thường nghe nhắc tới qua  lời bài hát, Khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi... Lâng lâng như lạc vào đồng hoa. Như hương hoa soan dâng bên thềm nhẹ nhàng nhưng ngất say,.. hay bài Mái trường xưa của Phạm Mạnh Cương, Chiều nao hoa soan ngập mái trường. Chiều nao hè về gieo nhớ thương… Chắc tác giả đã nhầm với hoa phượng? Hoa phượng rơi đón mùa thu tới. Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi. Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi nhớ muôn vàn nhớ ơi. Hát trong màu hoa nhớ… (Sắc hoa màu nhớ, Nguyễn Văn Đông).

Một loài hoa tím nữa được trân trọng nhắc đến trong bài Mùa thu chết, do nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ của Apolinaire, thi sĩ Bùi Giáng lược dịch, là hoa thạch thảo, hình như cũng được gọi là cúc họa mi. Giống như ca khúc liêu trai Mùa thu chết, sự ưa thích của tôi đối với bài hát Tôi vân yêu hoa màu tím của Hoàng Trọng hoàn toàn dựa vào niềm hứng thú thất thường lúc thích lúc không của tôi, Ngập ngừng trăng thu lững lờ vương soi xuống trần gian vắng Lạnh lùng mây đem gió về khua lá rơi người buồn chăng? Tôi trót yêu hoa màu tím, Nên vấn vương duyên thầm kín, Ôi biết bao đêm thao thức bên song bâng khuâng chờ trông. Mà thời gian trôi mấy mùa thu qua vẫn hoài mong nhớ. Đàn lòng ngân lên những lời tha thiết bên người thờ ơ...

Trong bảng màu vẽ của họa sĩ thì màu hồng nằm gần màu tím, vì màu này từ màu kia mà ra. Vì vậy sau đây tôi xin nhắc đến loài hoa màu hồng! Vì ít nhất một bài viết cũng phải có bố cục mạch lạc, chứ đâu thể luông tuồng. (Lẽ ra tôi đã viết bài cảm nhận này theo thứ tự bốn mùa xuân hạ thu đông, rồi tôi lại đổi ý, viết theo từng sắc hoa, mà mở đầu là màu tím) như những bông hồng lả lơi dưới ánh trăng, Vườn hồng say ánh trăng đêm. Nhấp nhô bên hàng cây mềm. Ngàn hoa nghe gió êm êm. Trăng thu nghiêng mình bên thềm… (Thềm trăng, Minh Phương) hay hoa đào mùa xuân, Chợt nhớ thương về quê xưa. Mùa xuân không còn nữa. Muôn cánh hoa đào phai úa. Lối cũ rơi hững hờ. Nơi ấy bao ngày xanh qua. Hồn thơ mơ màng quá. Yêu những khung trời hoa bướm với nắng tơ vàng êm… (Hoa bướm ngày xưa, Nguyễn Hiền). Cũng sắc hoa hồng phơn phớt của hoa đào trong nhạc phẩm Tình xuân (Vũ Thành),  Đào mỉm cười trong gió chào đón xuân về. Nhạc tràn lan đây đó muôn loài lắng nghe. Tình ngày xuân chứa chan vương vấn cung đàn…

Mùa xuân là mùa hoa nở, Trông Anh Đào bừng nở. Nàng Lan cũng mỉm cười. Âu yếm bên nàng Huệ là Cúc sắc khoe vàng tươi. Năm ngón tay Ngọc Nữ nhẹ đưa xuân vào cõi đời. Trong nắng xuân vời vợi cởi áo cho nàng Hồng vui (Xuân mộng, Lam Phương).

Cũng phải nhắc đến một loạt tác phẩm ca ngợi hoa mùa xuân, tất cả đều có giá trị thưởng lãm, như Đẹp giấc mơ hoa của Hoàng Trọng, Hôm qua đến tìm em. Anh thấy hoa xuân rơi đầy trước thềm. Bâng khuâng bước nhẹ êm. Sợ làm tan bao giấc mơ hoa triền miên…, Dựng một mùa hoa của Hoài An và Phó Quốc Thăng, Chào bình minh hoa ban mai lả lơi. Nhạc dịu êm dư âm vang ngàn nơi Bên khóm tre tươi chim hót hoa cười trong nắng yêu đời…, Mùa hoa thắm của Hoàng Trọng, Trời bình minh nhẹ theo chiều gió, muôn cánh hoa đẹp trên cánh đồng, khoe sắc êm dịu dưới ánh hồng, nhìn hoa thắm lòng bao nhớ nhung…, Hoa xuân của Phạm Duy, Có một chàng thi sĩ miền quê. Ngắt bông hoa biếu người xuân thì. Có một đàn em bé ngoài đê. Hát câu i tờ đón xuân về…, Đám cưới đầu xuân của Trần Thiện Thanh, Trò chơi trẻ con em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu. Chú rể ngẩn ngơ ra hái hoa cà làm quà cưới cô dâu,  Đồn vắng chiều  xuân của Nhật Trường, Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai nhẹ rớt trên vai gầy. Hồn chới với ngỡ giữa xuân vàng dáng em sang…

Hoa cũng là tiếng nói của tình “bạn”  thuở ban sơ, như trong bài Nhớ bạn của Vũ Thành, Xuân vương trên ngàn hoa nhắc bao sầu nhớ mơ màng .Mây buông trong chiều vắng như luyến tiếc giấc mơ đã tàn Nhớ dưới xuân năm nào lòng say ước mơ sống trong mộng vàng, Tuổi biết buồn của Phạm Duy và Ngọc Chánh, Nhớ bé xưa cùng chơi, đuổi nhau dưới bóng hàng cây Nấu nướng hay nhảy dây, vòng chơi cuốn theo tuổi say Nụ hoa dắt trên đầu, tặng nhau đứng bên cầu, Ai ngờ dòng đời đang cuốn mau... 

Nhạc, đó là tiếng lòng! Ước mong sao những người nghệ sĩ tài hoa ấy cứ tiếp tục chia sẻ với nhân gian những kỷ niệm vương ngàn sắc hoa của họ, để những phím tơ đồng cứ mãi réo rắt ngân lên những cung bậc du dương, để ngàn hoa, hóa bất tử trong các nhạc phẩm ấy, sẽ thắm mãi những sắc màu, cho người đời ngàn xưa đến tận ngàn sau vẫn còn được thưởng ngoạn…

Trần Thị Phương Lan    
(Bút nhóm Hoa Nắng)   
 

Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2021

CON BƯỚM CHẾT TRONG SÁCH - Nguyễn Du (Yên Nhiên chuyển ngữ)

 

Thư phòng thấm đẫm mùi hương sách
Rũ phong lưu nào phải dại cuồng
Giữa trang sách còn lưu xác bướm
Hồn úa tàn vẫn luyến văn chương
 

Giấc phồn hoa mọt dễ tỉnh mộng
Lòng gấm thêu lửa đóm khó thiêu
Nghe đạo rồi chết cũng thỏa dạ
Dẫu say hoa, mê sách hơn nhiều


Yên Nhiên


*


Điệp Tử Thư Trung


Vân song tằng kỷ nhiễm thư hương

Tạ khước phong lưu vị thị cuồng

Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch

Tàn hồn vô lệ khốc văn chương

 

Đố ngư dị tỉnh phồn hoa mộng

Huỳnh hỏa nan hôi cẩm tú trường

Văn đạo dã ưng cam nhất tử

Dâm thư do thắng vị hoa mang


Nguyễn Du (1766 - 1820)

Thứ Năm, 1 tháng 4, 2021

BÔNG CÚC HUYỀN - Khái Hưng

 

 Tặng N.K.

Nước Tàu, như các em đã biết, hay đoán biết, là một nước sản xuất ra cái gì cũng tàu, cũng hoàn toàn tàu, nghĩa là rất đẹp. Đẹp từ người cho chí vật, đẹp từ trời cho chí đất, đẹp từ y phục cho chí lâu đài, đẹp từ cử chỉ khoan thai cho chí ngôn ngữ réo rắt, đẹp từ lời văn hoa lệ cho chí tư tưởng cao siêu. Hết thảy đều đẹp, đều sáng như ngọc, bóng như vàng, trong như pha lê vậy.

Ngày xưa ở nước Tàu có một ông vua Tàu tên là Thái Hoàng. Đức vua, tất nhiên, là cái đẹp nhất trong những cái đẹp ở nước Tàu. Nhưng ngài lại là đấng thiên tử tối cao tối đại, vị hoàng đế lẫm liệt oai nghiêm, nên trong bàn dân thiên hạ ít ai dám ngước mắt để ngắm nghía, hơn thế, để liếc trộm dung nhan ngài, mỗi khi ngài ngự kiệu vàng chơi phố. Bọn thần tử thoáng trông thấy bóng cờ vàng, thoáng nghe thấy tiếng nhạc nội, đã vội nằm rạp xuống đất hai tay bưng kín mặt mà đợi cho kiệu rước qua rồi mới dám ngửng đầu lên. Tuy vậy mặc lòng, bọn họ vẫn tưởng tượng ra được cái đẹp nguy nga lộng lẫy của đấng chúa thượng chí tôn, vì ai ai cũng biết dân Tàu là một dân tộc giàu tưởng tượng.

Mà hoàng đế đẹp nguy nga lộng lẫy thực: Ngài ngự trên chín bệ vàng, trong cỗ ngai có chín con rồng vàng lượn khúc quấn hai bên tay vịn, dưới chiếc tàn vàng cán bạc có tua minh châu lỏa tỏa rủ chung quanh, lấp lánh như trăm nghìn ngôi sao rực rỡ. Ngài đội chiếc mũ miện đan bằng tóc các nàng tiên nga, có dát chín con rồng vàng diệp vờn chín viên ngọc ngô công - Số chín là số của thiên tử cũng như màu vàng là màu của thiên tử, chiếc áo long bào ngài mặc khi ngự triều là công trình tuyệt sảo của mười tám người thợ may khéo nhất trong mười tám nước chư hầu. Tơ dùng để dệt nên gấm ấy toàn là tơ những lứa tằm nuôi riêng trong cung cấm bằng lá dâu châu Hồ do một trăm con ngựa Xích thố ngày đêm chuyên chở. Chân ngài sỏ trong đôi ủng đan bằng kim tuyến, mũi đính hạt trân châu, và dẫm lên lưng đôi rùa vàng sống đã ngót hai nghìn năm trên núi Thái sơn. Tóm lại, cái gì ở bên mình ngài, ở trong cung điện ngài cũng đều là vật quý và hiếm nhất dưới gầm trời.

*

Nhưng quý và hiếm hơn cả những vật quý và hiếm nhất dưới gầm trời, ấy là bà thứ phi họ Quắc. Hoàng đế cho là thế và quả là thế: Chẳng một viên ngọc thạch nào nước trong bằng mắt thứ phi ; chẳng một giải mây chiều nào huyền ảo bằng tóc thứ phi. Má thứ phi mịn và nhung hơn trái đào tơ phớt hồng ; môi thứ phi thắm hơn son và tươi hơn bông hoa mẫu đơn Giang nam hàm tiếu, giọng nói thứ phi trong sáng như tiếng dương cầm, trầm trầm như tiếng nhị hồ, khoan thai, chững chạc như điệu tỳ bà của nàng Chiêu Quân nhà Hán. Vì thế, đứng trước thứ phi và đối với con mắt thẩm mỹ của hoàng thượng, đôi rùa vàng sống ngót hai nghìn năm trên núi Thái Sơn chỉ là hai con vật tầm thường không đáng kể. Tầm thường cả con trĩ vàng đuôi dài hơn một trượng, con họa mi hót đủ một trăm bài âm nhạc du dương, đôi bạch sà khiêu vũ theo điệu nghê thường trên nguyệt điện, con anh vũ biết nói chín thứ tiếng, tiếng Mông cổ, tiếng Mãn châu, tiếng Tây tạng, tiếng Ấn độ, tiếng Diến điện, tiếng Việt Nam, tiếng Triều tiên, tiếng Nhật bản, và cả tiếng Tàu nữa.

Những con vật kỳ dị ấy, cả nước tôn kính và hoàng đế rất mến yêu. Nhưng nếu thứ phi muốn giết chết để làm một trò chơi tiêu khiển thì chỉ một hiệu lệnh ở miệng mỹ nhân ban ra, chỉ một cái trỏ ở ngón tay mỹ nhân hạ xuống, là hoàng đế hỏa tốc cho thi hành. Chẳng thế mà một hôm hoàng đế đã sung sướng được ngắm bàn tay xinh đẹp kia ném vỡ chiếc chén thần của ngài. Chiếc chén ấy lúc thường chỉ là một chiếc chén ngọc, dù ngọc quý, nhưng mỗi khi hoàng đế thân rót rượu vào và cầm nưng lên môi, thì hình ảnh hoàng hậu bỗng hiện ra trong nước rượu, hiện ra với hết cả vẻ yêu kiều, diễm lệ. Vì thế mà thứ phi ghen, dù hoàng hậu thăng hà đã quá mười năm. Nàng đỡ lấy chén để xin chuốc rượu hầu hoàng đế, rồi giơ thẳng cánh tay ngà đập chén vỡ ra từng mảnh. Đoạn, nàng quỳ xuống ôm chân hoàng đế và kêu van xin tha tội. Nhưng hoàng đế không những không tỏ vẻ tức giận, mà ngài còn cúi đỡ thứ phi dậy và vui tươi bảo nàng: "Trẫm tiếc không có một cái chén quý thứ hai để được ngắm tay ái khanh đập một lần nữa."

Thứ phi ghen với hoàng hậu đã quá cố. Nàng ghét lây cả thái tử là con hoàng hậu và sau này sẽ lên ngự ngai vàng trên chín bệ mà nhận lấy sự tôn thờ của hàng trăm triệu thần dân trong mười tám nước chư hầu.

*

Thái tử năm nay mười tám tuổi trời. Chàng là một đấng nam nhi anh tuấn, văn võ kiêm toàn. Chàng đã đọc và hiểu thấu hết các sách kinh, truyện và sử ký. Chàng lại tinh thông khắp mười tám ban võ nghệ cao cường. Nhưng chàng gắng công luyện tập các khoa văn võ là chỉ để đẹp lòng vua cha, vì chàng là một người con chí hiếu. Chứ cái thú độc nhất của chàng, cái thú nhóm ngay từ thời thơ ấu của chàng là cái thú chơi hoa, chơi cảnh.

Ở Đông cung, thái tử có một vườn hoa không rộng bằng vườn thượng uyển của hoàng đế, cũng không bài trí lộng lẫy và có quy tắc như vườn thượng uyển, nhưng xinh xắn hơn, nhưng thân mật hơn, nhưng nhiều vẻ nên thơ hơn biết mấy: Trong vườn không thiếu một giống hoa lạ, một loài cây quý. Thái tử đã tốn công tốn của cho đi lùng khắp bốn phương để tìm mua bằng được hết những thảo mộc kỳ dị trong thiên hạ. Mùa nào hoa ấy, trăm sắc đua nhau khoe tươi. Một thứ hoa vừa sắp tàn, một thứ hoa đã chớm nở. Trong vườn không một ngày vắng bóng hoa. Xuân có lan, có thủy tiên. Hạ có mẫu đơn, có thược dược. Thu có cúc, có phù dung. Đông có mai và đào và lý. Còn có biết bao nhiêu loại khác mà mỗi loại chia ra biết bao nhiêu giống khác nhau.

Cách chơi hoa của thái tử lại rất công phu, không ai theo kịp. Chàng chơi không những hoa mà cả lá, không những lá mà cả cành. Không một lá bị sâu cắn, không một cành bị mọt đục, cây nào cây nấy đều hoàn toàn, không khuyết điểm. Sớm chiều năm mươi người làm vườn chuyên vào việc quét các cuống hoa, lá rụng. Năm mươi người khác giữ việc kín nước tưới từng gốc, rửa từng lá. Đó toàn là nước mưa chứa trong một cái bể chìm rất lớn: Thái tử muốn hoa phải thanh khiết từ sắc cho chí hương, nên không để đọng trên hoa một giọt nước không trong sạch.

Thái tử đối đãi hoa như đối đãi bạn thân, săn sóc, ân cần, bênh vực, nưng niu, làm giàn thưa che nắng, làm màn lụa ngăn rét. Nếu có mưa to gió lớn nổi lên thì bất cứ là ngày hay đêm, thái tử vội vã đánh thức bọn làm vườn dậy lấy tre, pheo, gỗ, lạt để chống đỡ cho hoa, lấy tàn, lọng ra che mưa che gió cho hoa.

Mỗi khi có bông hoa nở, thái tử sai đặt án, đem rượu, đem giấy, bút, mực ra tận gốc cây để chàng nâng chén mừng hoa, đề thơ vịnh hoa, ca tụng hoa. Nhiều lần chàng ngồi bên hoa suốt từ khi hoa bắt đầu hàm tiếu cho mãi đến lúc hoa mãn khai, ôn tồn, kính cẩn, thân mật, âu yếm nói truyện với hoa. Cách thưởng thức hoa như thế, thái tử cho là rất hợp nhân đạo và hợp với lẽ trời. Chàng không thể tưởng tượng có người tàn nhẫn cắt hoa đem cắm bình được. Chàng nói: "Người có tứ chi ngũ tạng. Hoa có rễ, thân, cành, lá. Sao nỡ lìa hoa ra khỏi các bộ phận nuôi sống nó! Một mỹ nhân có hai bàn tay đẹp, ai lại điên rồ chặt ra, như ông vua nước Ngô, đem hiến cho một thằng ngốc? Hoa chỉ đẹp khi hoạt động trên cành cây, cũng như hai bàn tay ngọc chỉ đẹp khi hoạt động trên cánh tay người mỹ nữ. Đem cắt hoa ra mà chơi không những tàn ác, còn là lối chơi của hạng người không biết thẩm mỹ." Vì thế đã một lần chàng đem xử tử một tên nữ tỳ vào vườn ngắt trộm hoa của chàng. Chàng cho đó là cách xử án rất công bằng. "Vì - chàng nói - sát nhân giả tử thì giết hoa sao lại không kết vào án tử hình?"

Chẳng may cho thái tử, tên nữ tỳ lại là một đứa hầu cận của bà thứ phi họ Quắc. Thứ phi đã sẵn thù ghét thái tử vì thái tử có cái vườn quý, nay lại căm giận thái tử vì thái tử đem giết một tên nữ tỳ của mình. 

Và nàng quả quyết báo cừu.

*

Một hôm nàng gian ác tâu với hoàng đế:

- Muôn tâu bệ hạ, muôn muôn tâu đức Hoàng đế tối cao tối đại, thần thiếp nghe nhân dân tán tụng những cái đẹp, cái quý, cái lạ ổ dưới triều Bệ hạ mà thần thiếp lấy làm sung sướng. Những cái đẹp, cái quý, cái lạ ấy không những được nhân dân tán tụng mà cả các nước láng giềng cũng đều nức nở khen ngợi là những của báu có một không hai trong thiên hạ. Một nhà vạn vật học Triều tiên đã khảo cứu rất tinh tường về con Anh vũ biết nói chín thứ tiếng và con Họa mi hót thạo một trăm điệu ca của Bệ hạ trong bộ sách mới soạn, dầy tới năm mươi pho và dài tới ba trăm sáu mươi nhăm chương. Trong bảng các con vật sống lâu nhất thế giới của một nhà bác học Ấn độ, đôi rùa của Bệ hạ được xếp đứng đầu. Cái mũ miện và cái áo long bào của Bệ hạ đã được nước Tây di sai sứ sang xin vẽ hình để đem bày vào tủ gương trong viện bảo nghệ ; sau hết đến cái vườn hoa kỳ dị của Thái tử. Vườn ấy các nước láng giềng đều cho là đẹp và quý gấp bội vườn thượng uyển, và vua nước Ba tư vừa cho sứ giả sang xin một vài giống hoa lạ mà Thái tử gây được. Đó thực là thứ quý nhất trong những thứ quý ở dưới triều Bệ hạ...

Tức thì hoàng đế nổi trận lôi đình:

- Thái tử là một tên tặc tử bất hiếu bất mục. Nó nhờn trẫm, nó dám lấn trẫm ư? Phải bỏ ngay nó vào ngục tối.

Thứ phi làm ra bộ sợ hãi, vội quỳ xuống tâu:

- Muôn tâu Thánh thượng, xin Thánh thượng hãy dẹp cơn thịnh nộ để thần thiếp được bầy tỏ hết lời. Muôn tâu Bệ hạ, nếu Bệ hạ bỏ ngục Thái tử thì tội thần thiếp rất lớn, đã vô tình gây nên cái vạ này. Vả dưới trời, cái gì không là của Bệ hạ. Thái tử là thái tử của Bệ hạ thì cái vườn quý của thái tử không là của Bệ hạ, còn là của ai? Vậy, muôn tâu Bệ hạ, sao Bệ hạ không cứ để thái tử đứng trông nom chăm chỉ nơi vườn ấy, để thỉnh thoảng Bệ hạ ngự tới thưởng hoa?

Hoàng đế vui cười:

- Hay! Hay! Nếu ái khanh không tâu bày rõ các lẽ thì suýt nữa trẫm đã lỡ lầm.

Thứ phi lại tiếp:

- Muôn tâu Bệ hạ, nay gặp tiết thu mát mẻ, chính là thời hoa cúc thịnh khai. Thái tử có gây được một loại hoa cúc tên gọi "Cúc huyền", lấy giống ở tận vùng cao nguyên xứ Tây tạng ; hoa vừa rộng, vừa dày, cánh dài và đen và mịn và mượt như tuyết nhung đen. Thứ hoa quý ấy mỗi năm nở có một lần vào trung tuần tháng chín và hiện Thái tử giữ rất bí mật để một mình thưởng lãm. Vậy sao Thánh thượng không hạ lệnh truyền cho Thái tử đến hôm rằm tháng chín này đặt tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự ngoạn cúc?

Hoàng đế lại vui cười:

- Hay! Hay! Ái khanh tâu rất hợp ý trẫm.

Bèn tức tốc cho đòi quan ngự-tiền-thống-sự vào cung thảo ngay một đạo chiếu chỉ truyền cho thái tử phải đúng hôm đêm rằm tháng chín sửa soạn một tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự lãm hoa cúc huyền lấy giống ở vùng cao nguyên xứ Tây tạng. Lời chiếu thêm rằng: "Nếu Thái tử cố ý tàng nặc loài hoa quý, thì cứ chiếu luật Đại-Trung-Quốc mà kết tội, tội khi quân và tội tàng nặc một thứ quốc bảo."

Thái tử đương đứng ngắm mấy giò bạch cúc hàm tiếu thì quân hầu vào báo có chiếu chỉ Thánh hoàng. Chàng vội truyền bày hương án, đốt hương trầm lạy tám lạy rồi quỳ nghe tuyên chiếu.

Lời chiếu vừa ngứt thì suýt nữa Thái tử ngứt theo. Chơi hoa trong bao nhiêu năm nay, chàng chưa từng biết có loại cúc huyền. Mà nói gì loại cúc! Có loại hoa nào cánh lại đen và mịn và mượt như nhung đen? Chàng mong rằng vua cha lầm màu huyền với màu tím thẫm ; nhưng không, lời chiếu đã cắt rõ nghĩa chữ "màu huyền" là màu đen và mịn và mượt như nhung đen. Thật là minh bạch, không còn lầm lẫn gì nữa, không còn ngờ vực gì nữa.

Song Thái tử cũng cố gượng phủ phục xuống thảm vàng và tung hô: "Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế, đứa con bất hiếu này xin khâm mạng." Vì Thái tử làm một người con chí hiếu, không dám trái lệnh vua cha một lần nào, dù công việc vua cha giao phó cho khó khăn và nguy hiểm đến đâu mặc lòng.

Nhưng lần này công việc vua cha giao phó cho lại không còn là khó khăn và nguy hiểm nữa. Đó hình như là một công việc không làm nổi, không thể làm được.

Dầu sao, Thái tử cũng bình tĩnh cho đòi quan coi vườn đến mà bảo rằng:

- Phụ hoàng vừa xuống chiếu truyền cho ta đến rằm tháng chín này đặt tiệc yến ở nơi vườn riêng để rước Thánh giá tới ngự lãm loại cúc huyền của ta, loại cúc cánh đen và mịn và mượt như tuyết nhung đen.

Quan coi vườn vội kêu:

- Tâu Điện hạ, trong vườn không có loại cúc huyền mà kẻ hạ thần thiết tưởng trong thiên hạ làm gì lại có được một loại cúc huyền?

Thái tử thản nhiên nói:

- Phụ hoàng đã truyền có thì phải có. Phụ hoàng đã muốn coi thì phải tìm ra cho bằng được, dù trong sự tìm kiếm phải hi sinh đến tính mạng.

- Vậy kẻ hạ thần xin đem đầu dâng lên Thánh thượng để chịu tội thay cho Thái tử, chứ quả thực kẻ hạ thần đã đọc hết các sách đông, tây khảo cứu về khoa thảo mộc học mà chưa từng thấy có bản chép đến, đả động đến một loại cúc huyền bao giờ. Tâu Điện hạ, có chăng loại cúc huyền chỉ là một loại cúc "huyền ảo" do khối óc tưởng tượng loài người phác họa ra.
 
Thái tử chau mày, gắt:
 
- Ngươi cứ nói loanh quanh mãi. Phụ hoàng đã nói ở vườn ta có loại cúc huyền thì vườn ta phải có. Mà nếu chưa có thì phải tìm kiếm xem ở đâu có để mua... Hay ta thử sang tận vùng cao nguyên xứ Tây tạng là nơi sản xuất giống cúc huyền, như lời chiếu chỉ đã dạy?

Tức thì Thái tử kén đủ một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước, cho cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước, cùng viên quan coi vườn ngay hôm ấy khởi hành sang Tây tạng để mua cúc huyền.

Giòng giã hơn tháng trời, quan coi vườn và một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước vẫn chưa trở về. Mà hôm nay đã là mười ba tháng chín. Hai hôm nữa hoàng đế sẽ ngự giá đến xem cúc huyền.

Thái tử mong ngóng tin tức và lo sợ mất ngủ mất ăn. Ngày ngày chàng ra thăm những khóm cúc trong vườn. Các hoa đều đã hàm tiếu. Thái tử đi từ gốc nọ sang gốc kia, nhận xét từng  hoa một: bông thì vàng, bông thì trắng, bông thì tím, bông thì hồng. Tịnh không một bông nào có chớm sắc đen. "Mà đen sao được!" Thái tử mủm mỉm nghĩ thầm.

Hy vọng Thái tử chỉ đặt vào đoàn phái bộ sang Tây tạng. Hy vọng mong manh nhưng vẫn còn là hy vọng. Biết đâu, phải, biết đâu Trời, Phật lại không phù hộ, độ trì, lại không đoái tưởng tới tấm lòng hiếu thảo của Thái tử mà khiến cho đoàn phái bộ thành công.

Đêm hôm ấy quan coi vườn và một trăm kỵ sĩ giỏi nhất nước cưỡi một trăm tuấn mã nhanh nhất nước vẫn chưa về. Suốt năm canh thái tử đứng trên lầu cao đăm đăm trông về hướng tây, lắng hết tinh thần để đợi nghe một tiếng nhạc ngựa.

Bình minh hôm sau, quan coi vườn và ba viên kỵ sĩ phi tuấn mã về tới đông cung. Chín mươi bảy, người và ngựa, hoặc ốm, hoặc chết, rải rác ở dọc đường.

Thái tử vội chạy xuống lầu và cất tiếng hỏi:

- Bông cúc huyền...?

- Muôn tâu Điện hạ không có cúc huyền!

Rứt lời, quan coi vườn nằm vựt ra, ngất vì mệt.

*

"Còn có đêm nay nữa. Đêm mai..." Thái tử không dám nghĩ trọn tư tưởng.

Chàng thong thả, buồn rầu, đi tản bộ trong vườn, bên những khóm mẫu đơn, khóm cúc đã bán khai, và rung rinh dưới ánh trăng vàng. Chàng ngửng nhìn trời, trời không một gợn mây nhỏ. Bóng Hằng Nga lấp ló sau mành tơ liễu thướt tha, như còn e lệ thẹn thùng. Thái tử thầm nghĩ: "Chị Hằng ơi, chị có mưu kế gì cứu ta ra khỏi nỗi khó khăn này không? Đêm mai, nếu ta không có bông cúc huyền để tiến dâng Hoàng phụ thì ta sẽ bị khép vào tội tàng nặc, và chị sẽ không còn được thấy bóng ta ẩn hiện trong bóng lá, bóng hoa..."

Bỗng, kinh ngạc xiết bao! Trong tia ánh trăng, một thiếu nữ hiện ra, một thiếu nữ vận xiêm áo màu xanh, vén màn liễu bước tới trước mặt thái tử vái chào và lễ phép hỏi:

- Thưa, tiện tỳ xin hầu đấng Đông cung Thái tử.

Thái tử ngây người đứng lặng.

"Lạ! Đêm khuya... Người con gái này từ đâu lọt được vào trong cung điện, trong vườn riêng..." Ả thanh y nhắc lại:

- Thưa ngài, tiện tỳ muốn xin vào yết kiến đức Đông cung Thái tử.

Thái tử quát hỏi:

- Ngươi là ai? Ở đâu đến đây?

- Thưa, các cô chủ của tiện tỳ ở ngay gần đây. Các cô chủ sai tiện tỳ sang xin Thái tử một việc...

- Chính ta là Thái tử. Các cô chủ ngươi muốn xin điều gì?

Ả thanh y thụp xuống lạy:

- Đông cung Thái tử thiên tuế, thiên thiên tuế! Các cô chủ tiện tỳ muốn xin Điện hạ rộng phép cho mượn đình Khán hoa của Điện hạ để họp mặt đêm nay.

Thái tử nghĩ thầm: "Các cô chủ... họp mặt." Rồi tò mò hỏi:

- Họp mặt để làm gì? Mà các cô chủ ngươi là ai đó?

- Tâu Điện hạ, các cô chủ tiện tỳ là những cô láng giềng của Điện hạ. Đêm nay các cô chủ họp kỳ hội đồng bất thường để bàn về một việc tối quan trọng.

Thái tử càng kinh ngạc: "Các cô láng giềng... Cạnh đông cung có thấy bóng thiếu nữ nào đâu?... Mà sao lời lẽ đứa nữ tỳ này chải chuốt là như thế?" Chàng mỉm cười đáp:

- Được, ngươi về nói các cô chủ cứ tới Khán hoa đình mà họp phiên hội đồng bất thường. Ta cho phép, nghe!

- Dạ!

Ả thanh y mừng rỡ vái chào lui gót.

*

Thái tử đứng chờ xem những cô láng giềng là những thiếu nữ nào mà xưa nay chàng chưa từng gặp mặt. Chỉ một lát sau, một luồng gió nhẹ thoảng đưa hương trầm. Tơ liễu se sẽ rung động, cành lá se sẽ dãn ra. Từ bốn phía các thiếu nữ khoan thai bước tới. Thái tử ngơ ngác nhìn: toàn những giai nhân không quen biết và toàn những nhan sắc tuyệt vời. Mỗi người mỗi đẹp, không thể cho được ai hơn ai: Có những tấm thân mảnh dẻ nhưng rất nở nang cân đối. Có những tấm thân đầy đặn nhưng không to béo nặng nề. Nước da mịn và mát. Khuôn mặt hoặc bầu dục, hoặc trái xoan, hoặc tròn trĩnh đều có những nét nhịp nhàng và linh động. Vẻ mặt hoặc thùy mị, hoặc sắc sảo, hoặc nhanh nhẹn đều nhuốm một tinh thần trang nhã nên thơ. Y phục thì hầu đủ hết các màu tươi sáng: màu hồng, màu đỏ, màu vàng, màu xanh, màu trắng, màu tía, màu tím, màu nâu, hoặc đậm hoặc nhạt, hoặc nổi, hoặc chìm và luôn luôn biến sắc dưới ánh trăng thu, thướt tha uyển chuyển như những cánh hoa hoạt động trong làn gió sớm.

Thái tử hoa cả mắt. Và chàng nhẩm đếm: có tới linh một trăm thiếu nữ!

Một nàng y phục màu nguyệt bạch, tiến lên trước, nói:

- Kính tâu Điện hạ, em xin thay mặt tất cả các chị em đông đủ ở đây mà cúi chúc Điện hạ thiên tuế, thiên thiên tuế. Sau nữa xin dâng lời cảm tạ Điện hạ đã rộng lượng cho mượn nơi cung điện thâm nghiêm để họp mặt tối hôm nay.

Thái tử ngây ngất nghe những lời nói dịu dàng, thánh thót như tiếng ca chim hoàng oanh trong khóm hoa thơm mát. Và chàng lẳng lặng giơ tay mời các thiếu nữ bước lên đình Khán hoa.

*

Trong đình Khán hoa cao rộng, tường cột sơn một sắc thiên thanh, các thiếu nữ nghiêng mình ngồi trên đôn sứ. Nàng mặc áo màu nguyệt bạch đứng lên nói:

- Kính tâu Điện hạ, trước khi khai hội đồng, em... mà các chị em đây đã yêu mến bầu vào ghế chủ tịch, em xin giới thiệu các chị em với Điện hạ đã. Em và hai hiền muội (trỏ hai thiếu nữ cùng một khuôn mặt, và vận áo màu hồng, màu tía) họ Ngưu, tiểu tự Bạch-mẫu-đơn, Hồng-mẫu-đơn, Tử-mẫu-đơn. Tám chị đây cùng một vẻ mềm mại, phong nhã là tám chị em họ Giản, tiểu tự Tố Tâm, Bạch Ngọc, Nhất Điểm, Triết Đông, Hoắc Lan, Cẩm Lan, Phong Lan, Diệp Lan. Chị mặc chiếc áo màu hồng ngồi bên là chị Lệ Đường. Em chị mặc áo màu hồng ngồi bên là chị Hải Đường. Ba chị quàng khăn lụa mỏng, màu phơn phớt trắng, hồng và tía là ba chị em họ Triệu, tiểu tự Bạch Đào, Hồng Đào và Tử Đào. Ngồi đối diện là hai cô em ngoại thích của các chị Đào. Một chị họ Mai, một chị họ Lý, cả hai đều cốt cách thanh tao, dáng dấp già dặn. Chị ngồi sau lưng da mịn như bạch ngọc, tóc sáng như mây chiều, đầu đội mũ vàng, mình mặc áo đoạn trắng, cổ choàng khăn lụa xanh, là chị Tiên Nga họ Thủy. Bốn chị đội mũ cánh sẻ màu vàng, màu trắng, màu tím, màu đỏ đều họ Kim tên Tước. Còn năm chị mặc áo màu rực rỡ kia thì họ Quỳ, tên Cẩm, tên Phù, tên Thục, tên Thu, tên Hướng-nhật. Chị mặc áo hồng nhạt, tay cầm chiếc quạt lông cánh trả là chị Phù Dung họ Thu. Chị đội mũ đuôi phượng ngồi cuối hàng ghế thứ hai là chị Phượng Vỹ họ Kim Tinh. Chị có tấm thân mảnh dẻ và nước da như tuyết là chị Huệ họ Bội Lan. Chị mặc áo màu lá mạ đứng tựa cột bên hàng hiên kia tục danh là chị Thiên-lý. Vận áo nhung tơ và ngồi đầu hàng đôn thứ ba là chị em chị Mai Khôi họ Nguyệt-quý tiểu tự Lê Dương, Hoàng Yến, Hồng Nhung, Hồng Quế. Đứng vịn vai chị Hoàng Yến là cô em họ chị, tiểu tự Tầm Xuân.

Thấy nàng Mẫu Đơn kéo dải cuộc giới thiệu, nàng Bạch Cúc sốt ruột và tức tối, vì mãi chưa thấy nàng chủ tịch đếm xỉa đến họ Cúc nhà mình, một họ lớn vào bực nhất, danh giá vào bực nhất. Nàng liền đứng lên mỉa mai ngắt lời:

- Em xin phép bàn chen một câu, một câu thôi. Em thiết tưởng ông Hoàng tử đáng tôn kính của chị em chúng ta hẳn đã tế nhận từng nét, từng màu trong nhan sắc và y phục của chị em chúng ta rồi, lọ là chị chủ tịch họ Ngưu còn phải tả tỉ mỉ cho mất thời giờ.

Nàng Mẫu Đơn mỉm cười mỉa mai đáp lại:

- Cũng cần nói thêm qua loa để Thái tử biết rõ cỗi rễ từng họ từng chi một chứ. Chẳng hạn nếu không tả minh bạch - minh bạch chứ không phải tỉ mỉ - thì Thái tử biết đâu rằng chị với các chị Thược Dược cùng ở trong một họ Bao.

Nàng Bạch Cúc trở nên ranh mãnh:

- Còn ai hiểu họ hàng tung tích chị Thược Dược bằng chị!

Các thiếu nữ che miệng khúc khích cười vì đều biết rằng nàng Mẫu Đơn tuy được bầu lên địa vị hoa khôi, mà vẫn có máu Thược Dược trong huyết quản, và họ Ngưu chỉ là một chi nhánh của đại tộc Bao. Thấy được chị em khuyến khích, nàng Bạch Cúc càng tàn nhẫn:

- Nếu cần phải nói minh bạch thì sao chị không thuật lại cả cái lai lịch vẻ vang của chị?

Cử tọa cười càng to, vì ai cũng còn nhớ năm xưa họ Mẫu Đơn bị hoàng hậu Võ Tắc Thiên đầy xuống Giang-nam một dạo.

*

Từ nãy Thái tử vẫn ngồi im, âm thầm nhận xét từng thiếu nữ. Bây giờ thấy có sự xích mích giữa hai nàng Mẫu Đơn và Bạch Cúc, chàng liền đứng lên nói:

- Thưa các tiểu thư, đáng lẽ trong phiên hội họp của các tiểu thư kẻ dự thính này không được phép bàn chen một câu. Nhưng vì sau một cơn bàng hoàng - mà đứng trước những tấm nhan sắc như kia, ai là không bàng hoàng? - tôi đã nhận ra rằng các tiểu thư và tôi quả là chỗ lân cận, quen biết, vì thế tôi mới dám cùng các tiểu thư bàn một câu này : Tôi thiết tưởng đã quen biết nhau thì lọ là còn phải giới thiệu. Vâng, chẳng rõ các cô thế nào chứ tôi thì tôi đã nhận ra từng cô. Thực vậy, cô Mộc Lan ạ, cô đừng ngờ vực mà thì thầm với em là cô Mộc Liên nữa. Đứng bên cô há chẳng phải các cô Mộc Quế, Mộc Cẩn, Mộc Hương? Trong họ Mộc, ai nấy vẫn được bình yên cả đấy chứ? Còn ba cô Tiễn-xuân-la, Tiễn-hồng-la, Tiễn-thu-la chẳng hay lâu nay có cắt được bộ y phục kiểu mới nào không? Cô Thụy Hương thì tôi chắc vẫn tự chế lấy các thứ nước thơm xức tóc mà dùng... Ồ! Suýt nữa tôi quên cô Bạch Liên và cô Hồng Liên họ Hà. Hai cô vẫn cứ bẽn lẽn như thường.

Các thiếu nữ vui cười quay nhìn cả về phía hai nàng Bạch Liên và Hồng Liên đang cầm chiếc quạt xanh hình tròn che khuất của mặt hoa.

Một thiếu nữ mặc áo màu thiên lý đứng lên. Cử tọa thì thào: "Chị Hoàng Lan." Nàng nói:

- Chị chủ tịch họ Ngưu cho mời chị em ta đến họp tối hôm nay tại Khán hoa đình, có việc gì quan trọng không hay chỉ có một mục đích đem chúng ta ra giới thiệu với ông Hoàng tử?

Nàng Mẫu Đơn vội đáp:

- Có chứ! Bây giờ giới thiệu xong rồi, em xin tuyên bố khai mạc hội đồng. Hôm nay chúng ta đem ra bàn có một việc, nhưng việc ấy rất quan trọng. Nguyên ít lâu nay tất cả chị em ta đều nhận thấy sự thay đổi của Thái tử. Ngài không vui tươi như trước nữa. Lúc nào ngài cũng ủ rột, âu sầu, và có vẻ tư lự. Sáng hôm nay em lại nghe thấy hai thi sĩ Hoàng Oanh và Bạch Yến xướng họa với nhau, trong thơ ca đầy những lời cảm động, đầy những tứ oán trách. Chúng ta ngờ rằng ở Đông cung sắp xảy ra điều gì dữ dội. Hôm nay chị em chúng ta họp mặt tại đây, đáng lẽ để cử một đại sứ đến thăm Thái tử và hỏi ngài xem duyên cớ vì đâu ngài buồn phiền, sầu não, xem duyên cớ vì đâu lại có những bài ca như than như khóc ở khu vườn này, là nơi bao giờ cũng chỉ có những màu trong sáng và những lời ca êm ấm, vui tươi. Nhưng, may thay, ngài lại có mặt tại nơi hội họp, vậy chúng ta có nên đem điều ấy ra hỏi thẳng ngài không, và làm như thế, có khỏi đường đột không?

*

Thái tử không đợi lời đáp của cử tọa, vội đứng lên nói:

- Làm như thế không có gì là đường đột cả. Thưa các tiểu thư, quả thực tôi buồn phiền lắm. Mà có lẽ chỉ một hôm nữa là tôi sẽ phải rời bỏ nơi vườn này và xa hẳn các cô láng giềng xinh đẹp của tôi.

Ở khắp các hàng đôn, xôn xao những câu kinh hoảng:

- Rời cái vườn này? Rời cung điện này?

Thái tử cười buồn nói tiếp:

- Có khi bị kết vào án tử hình nữa là khác.

Tiếng kêu rú lên:

- Trời ơi! Tử hình!

- Có thể lắm. Vì tôi đã phạm một tội rất nặng, tội tàng nặc một thứ quốc bảo, mà tôi chưa từng biết rằng có ở dưới trời này. Quốc bảo đó là... là bông Cúc huyền.

- Cúc huyền!

Ai nấy nhao nhao lên và nhìn dồn cả về phía các nàng Cúc rực rỡ trong các bộ y phục mới, màu trắng, màu vàng, màu hồng, màu tím, màu nâu.

Thái tử nói tiếp:

- Hoàng đế xuống chiếu truyền đêm mai là rằm tháng chín Ngài sẽ ngự giá đến thưởng ngoạn Cúc huyền  của tôi ở nơi vườn này. Mà Cúc huyền quả tôi không có, và tôi thiết tưởng cũng chẳng đâu có.

Náng Nhất Điểm đứng lên hỏi:

- Thưa các chị Bạch Cúc, Đại Đóa, Kim Cúc, Hồng Cúc, Tử Cúc, trong các họ Cúc, họ Bao, có ngành nào là ngành Cúc-Huyền không?

Nàng Mẫu Đơn thay lời đáp:

- Nói gì trong họ Bao, đến cả trong Hoa quốc chúng ta, tìm đâu cho ra một màu đen, một màu huyền?

Nàng Bạch Đào thỏ thẻ:

- Nhưng nay Hoàng thượng bắt phải có Cúc huyền, thì biết làm thế nào?

Thái tử cúi nhìn đáp:

- Thì thái tử này đành chịu tội, chứ biết sao?

Nàng Mẫu Đơn tiếp luôn:

- Và vườn này sẽ bị tàn phá hay lọt vào tay một người khác, một người không thương yêu hoa. Không, không thể thế được. Chị em chúng ta phải bày mưu lập mẹo giúp Thái tử ra khỏi bước khó khăn.

Nàng Hoàng Cúc buồn rầu láy lại:

- Bày mưu, lập mẹo! Mưu gì? Mẹo gì?

Nàng Kim Tước đứng lên hỏi:

- Nhưng các chị có biết màu đen hay màu huyền thế nào không đã?

Tiếng thì thào ở khắp các ghế: "Ừ, màu huyền là màu gì nhỉ? Màu đen như thế nào nhỉ? Chị có thấy màu đen là màu gì không?

- Em biết màu huyền là màu gì rồi!

Mọi người quay lại nhìn xem ai, thì ra đó là nàng Tiễn-xuân-la. Liền tranh nhau hỏi:

- Màu huyền là màu gì? Màu huyền như thế nào?

- Màu huyền là màu không trắng, không xanh, không lam, không hồng, không tím, không vàng, không đỏ, không nâu.

- Rồi gì nữa? Hình trạng nó như thế nào?

- Nó thế.

Cử tọa cười vang. Nàng Tiễn-xuân-la xấu hổ ngồi xuống. Nàng Mẫu Đơn nói:

- Màu huyền là một màu không có trong loài hoa. Nhưng biết đâu lại không có trong loài người. Chi bằng đem hỏi Thái tử xem màu ấy thế nào.

Thái tử mỉm cười đáp:

- Màu huyền, như cô Tiễn-xuân-la đã nói, không phải là màu đỏ hay màu tím, hay màu lam, hay màu lục. Nhưng nếu đem những màu ấy trộn lẫn nhau và trộn cho khéo, cho đúng phân ly thì chúng ta sẽ có một màu mà người ta gọi là màu huyền.

Một vài thiếu nữ khúc khích cười:

- Thái tử giảng như thế, chúng ta vẫn không thể mường tượng ra được màu huyền.

Thái tử như chợt nghĩ ra:

- À được! Tôi xin đi lấy màu huyền cho các cô xem.

Chàng liền vào nội cung, mở rương lấy chiếc áo khoác nhung tơ màu đen, cầm ra Khán hoa đình bảo các thiếu nữ:

- Đây, màu huyền đây. Cái áo khoác này tôi vừa may xong, định để sang xuân đem tặng công chúa nước Nam chiếu mà tôi muốn tới du lịch. Đây, các cô coi, tuyết mịn và mượt, các cô xét kỹ đến đâu cũng không tìm ra được một sợi tơ không huyền lẫn ở trong. Vì thế mà chiếc áo khoác nầy rất quý.

Các thiếu nữ chạy xô cả lại gần chỗ Thái tử đứng:

- Đó là màu huyền? Ồ! Màu huyền lạ nhỉ!

Thái tử mỉm cười bảo Bạch Cúc:

- Vậy Bạch Cúc tiểu thư ướm thử chiếc áo vào người xem có nổi không nào?

- Phải đấy! Phải đấy! Chị Bạch Cúc mặc thử xem. Ra! Ra mau!

Các thiếu nữ xúm nhau lôi, đảy nàng Bạch Cúc ra giữa phòng, rồi khoác chiếc áo màu huyền lên người.

- Không! Mặc vào kia! Mặc hẳn hoi vào đã.

Bạch Cúc bẽn lẽn và lúng túng làm theo, xỏ tay, thắt giải, vuốt tà. Tiếng vỗ tay trong những tiếng mừng reo:

- Bông Cúc Huyền! Bông Cúc Huyền đẹp lắm! Có bông Cúc Huyền rồi!

Thái tử ngắm nghía nói:

- Cúc Huyền đẹp thực!

Nàng Bạch Mẫu Đơn giọng ghen tị:

- Tâu Điện hạ, thế Mẫu Đơn huyền có đẹp không?

Thái tử vội chữa:

- Đẹp lắm chứ. Cô nào mặc màu huyền cũng nổi, cũng đẹp.

Bỗng có tiếng gà gáy sáng. Các thiếu nữ vội vàng chạy cả ra vườn:

- Thôi, kính chào Điện hạ. Sẽ có buổi tái ngộ.

Thái tử buồn rầu, mơ mộng nhìn theo bầy thiếu nữ rẽ lá, tản mát đi vào trong hoa.

*

Sáng hôm sau, Thái tử tỉnh giấc, thấy mình nằm ngủ trong một gian phòng ở đình Khán hoa. Chàng bỡ ngỡ nhìn quanh phòng một lượt, rồi đứng dậy sang bên khách sảnh là nơi chàng nhớ có cuộc hội họp tối hôm qua. Các đôn sứ vẫn còn bày thành hàng rất có trật tự. Và phảng phất chàng còn ngửi thấy mùi hương, trong đó chàng nhận ra được hương từng mỗi thứ hoa.

Vậy mộng hay thực? Thái tử thầm hỏi.

Chàng bước xuống vườn. Ngoài vườn hoa phù dung, hoa cúc đua nở, hớn hở trong gió thu lạnh, trong sương thu lam.

Thái tử lại gần:

Trong đám cúc đủ các màu, màu trắng, màu hồng, màu nâu, màu tía, màu tím, màu vàng, giữa những màu tươi sáng ấy, kỳ dị thay! đứng khép nép như thẹn thùng trong y phục mới một bông cúc đẹp nhất, có dáng dấp nhất, một bông cúc huyền, cánh đen và mịn và mượt như nhung tơ.

Thái tử mỉm cười nhìn bông hoa mới:

Rồi thản nhiên hạ lệnh sửa soạn tiệc yến để nghênh thánh giá tối hôm nay.

 
 KHÁI HƯNG         
10 - 1 - 43            
Cấm phỏng theo soạn kịch.