Hiển thị các bài đăng có nhãn Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 12, 2021

SÁNG LÊN, NHỮNG QUẢ CẦU - Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

 

Như một trận sóng thần, ào ạt kéo đến rồi rút đi. Không biết bao giờ lại kéo vào nữa. Chỉ thấy những gì để lại thật khôn lường. Nhưng con người vốn có bản năng sinh tồn nên đứng dậy rất nhanh. Họ hối hả chạy đua với dòng sống mới. Ai cũng vui vì được sống. Trận dịch, và những gì kèm theo, là như thế.

Ngoại trừ những em nhỏ, quá nhỏ, như bé Hoan. Em chỉ mới bốn tuổi, vừa qua mấy lớp mẫu giáo. Em không biết gì hết. Ai bảo làm sao thì em làm vậy. Em biết khóc khi buồn, và biết cười khi có ai bày trò chơi thú vị. Nhưng có một điều em biết nhiều hơn ai khác, là từ nay em không thấy ba và má của em về nhà nữa! Và đó là em nhỏ đầu tiên mà Nhiên gặp, khi tiếp nhận công việc mới của mình.

Ai khiến xui chi, Nhiên về Việt Nam khi dịch chưa đến Mỹ. Khi dịch bùng mạnh ở Mỹ, Nhiên ở lại Việt Nam. Đến khi Việt Nam bị dịch hoành hành, Nhiên chọn ở lại. Cũng như những người bạn trong cùng hội thiện nguyện của mình, Nhiên chạy vào những vùng mà từ đó người ta chạy ra. Lần này, Nhiên phụ với Chị Cả nhận làm “mẹ” của đàn con mười đứa, tuổi từ bốn đến mười hai. Hoan là bé nhỏ nhất.

Em mở to đôi mắt nhìn Nhiên. Đôi mắt long lanh, ngây thơ nhưng đầy vẻ chịu đựng. Chị Cả nói bé Hoan là đứa trẻ ít nói nhất trong số các em được nhận về. Ngay sau khi ba má em mất, cuộc sống của em đã bị đảo lộn hoàn toàn. Em không còn người thân nào ở thành phố này.

Nhìn bé Hoan, Nhiên nghe lòng quặn thắt. Kỷ niệm những ngày sống trong viện cô nhi trở về. Nhưng Trời đã ban cho Nhiên một bà mẹ quý. Bà vào viện cô nhi, ôm từng đứa, từng đứa về nhà. Đám con mười đứa của bà, trắng có, đen có, vàng có. Nhà của bà là một hợp chủng quốc, bà nói vui như vậy. Những đứa con của bà lớn lên dần, được đi học đàng hoàng, lại còn được tiếp nhận kho kiến thức của bà mẹ-nhà giáo. Bây giờ bà đã mất, Chị Cả, một trong những con nuôi của bà, tiếp nối tấm gương của mẹ, mở một mái nhà tình thương và nhận nuôi một số cô nhi trong đại dịch.

Và như thế, dòng đời, cứ như theo một kịch bản đã được viết sẵn!

  *

“Em bé, cô tên là Nhiên, còn bé?”

Bé Hoan lí nhí đáp:

“Con tên là Hoan.”

Rồi bé cúi đầu xuống, im lặng, nửa gương mặt giấu sau chiếc khẩu trang, chỉ nhìn thấy ánh mắt lẩn trốn. Nhiên gợi chuyện:

“Bé với cô cùng chơi trò chơi lớp học nhé!”

Đôi mắt hơi liếc nhìn lên, tỏ vẻ muốn hỏi. Nhiên tiếp luôn:

“Bé muốn làm cô giáo hay làm học trò nào?”

Lần này thì ánh mắt hơi vui lên một chút. Chắc bé thấy câu hỏi của Nhiên hơi lạ. Lại lặng im, không trả lời. Nhiên đề nghị luôn:

“Bé Hoan làm cô giáo đi! Cô thì làm học trò. Cô thích làm học trò lắm!”

Ánh mắt sáng lên. Nhiên gọi mấy em khác đến cùng làm học trò. Hình như trò chơi này thời nào, ở đâu, các bạn nhỏ cũng đã từng có lần chơi. Nhưng lớp học này thì có điểm khác thường, học trò không có bàn ghế ngay ngắn, mà mỗi trò ngồi một góc, cách xa nhau, mang khẩu trang. Và cô giáo nhỏ nhít của lớp học, bắt đầu tiếng nói ngập ngừng:

“Chào các bạn.”

Chao ôi, thật là lịch sự! Cả lớp chào lại:

“Chào cô ạ!”

Và như vậy, giờ học diễn ra. Cô giáo Hoan xin một xấp giấy, phát cho mỗi trò một tờ. Cả lớp chờ đợi cô giáo ra lệnh. Cô giáo hơi suy nghĩ, rồi nói:

“Bạn nào muốn làm gì cũng được.”

Cả lớp “ồ” lên, thích thú. Cô giáo nói tiếp:

“Nhưng bạn nào vẽ hình thì sẽ được nhiều điểm.”

Chẳng là cô giáo chưa học lên lớp Một!

Nhiên chọn vẽ. Từ thuở còn bé, tuy không xuất sắc với môn Vẽ, nhưng Nhiên lại rất thích vẽ, như một cách giải trí. Nhà mẹ nuôi có đầy đủ bút màu, thuốc vẽ, giấy vẽ các loại, nên các con của bà cũng tạm thấy thoải mái. Lớn lên, Nhiên không có thì giờ để vẽ tranh, nhưng khi buồn thì cũng nguệch ngoạc vài nét, như một cách để bày tỏ điều gì đó với chính mình. Nhiên qua Mỹ, được đi nhiều nơi có phong cảnh đẹp, cũng phác họa vài nét khi có cảm xúc với thiên nhiên. Rồi như một duyên nợ, khi tốt nghiệp đại học, Nhiên đã chọn đi làm việc thiện nguyện. Môi trường làm việc khiến Nhiên cảm nhận được nhiều nét đặc biệt của cuộc sống con người. Nhưng không có thì giờ để vẽ nữa. Mỗi cảm xúc đều được ghi vào tâm khảm, bằng hai con mắt. Một em bé Somalia ốm trơ xương. Một bà mẹ Kenya đau đớn trong khi sinh con. Một gia đình Haiti chia nhau bữa cơm hẩm. Một người lính Afghanistan sau chiến tranh, trở về nhà trên chân nạng. Một di dân Trung Mỹ bơi qua dòng sông chảy xiết, tìm chân trời mới…

Nhiên xin “cô giáo Hoan” cho chọn vẽ, thế mà lại ngồi thừ ra trước trang giấy trắng. Coi vậy mà khó dữ! Nhìn quanh, thấy có vài bạn nhỏ đang cúi mình vẽ gần xong. Có bạn vẽ cây, lá, bông hoa. Có bạn vẽ ngôi nhà. Có bạn vẽ người. Ôi, đây là những bạn nhỏ mồ côi! Tim Nhiên nhói lên. Bỗng Nhiên nhớ đến một bức ảnh, các bạn của Nhiên truyền nhau từ internet: Một bé gái nhỏ tại Iraq vẽ hình mẹ mình lên nền nhà trong cô nhi viện của bé, sau đó cẩn thận cởi giày, nằm xuống trên ngực mẹ rồi thiếp đi… Bức ảnh, vâng, bức ảnh, được chia sẻ khắp nơi, nhanh và rộng như một cơn bão.

Cuối cùng thì “trò Nhiên” cũng nộp bài. Không thể nộp giấy trắng, Nhiên vẽ lên góc trên bên trái của trang giấy, một trái tim nhỏ xíu. “Cô giáo Hoan” hơi có vẻ cười nhẹ qua đôi mắt khi nhìn thấy bức tranh. Cô giáo thu bài của cả lớp.

*

Buổi trưa, căn nhà nóng, ngột, tuy đã được gắn vài cây quạt máy. Sài Gòn như không còn mùa đông! Thật vậy sao? Nếu so sánh với cùng thời gian này vài mươi năm trước, thì quả đúng như vậy. Thuở đó, Nhiên là cô học trò nhỏ, những ngày mùa đông còn co ro trong chiếc áo ấm mỗi buổi sáng đến trường, đêm ngủ còn đắp chăn đến tận cổ. Thật ra thì không lạnh nhiều lắm đâu, nhưng cũng là món quà tặng cuối năm Trời cho người của thành phố này, và cũng là dịp để người ta mặc áo ấm, gọi là se sua một chút. Còn bây giờ, với lượng người và nhà cửa ngày một nhiều, cây cối ngày một thưa đi vì bị đốn bỏ, Sài Gòn không có nhiều không khí để thở, mùa đông như cũng không còn.

Đã từng đi đây đi đó, nếm trải nhiều loại khí hậu khác nhau, Nhiên vẫn thương cái lạnh nhè nhẹ của mùa đông Sài Gòn xưa. Bây giờ thì mùa nào người ta cũng phải ra đường với mũ bảo hộ, kính đeo mắt, khẩu trang và áo khoác ngoài kín mít. Thời dịch bệnh, những vật dụng này lại càng kiên cố hơn, cộng thêm tấm chắn trong suốt che mặt. Thấy thương người dân của mình quá!

Tội nghiệp Chị Cả, chị lo các bé nóng không ngủ được, cứ đi thăm chừng hoài. Chị tập cho các bé theo nề nếp như một lớp học bán trú, buổi trưa phải có một giấc ngủ ngắn. Nhưng cái lớp học này phải gọi là lớp học nội trú rồi! Các học trò chỉ còn đây là nhà.

Nhiên cũng tìm cho mình một góc, tự bắt mình lim dim như thể làm gương cho các bé. Tâm trí lan man nghĩ đến những vùng đất xa xôi. Rồi cũng nhớ về xứ Mỹ. Mình đã không về Mỹ gần hai năm rồi! Thấy nhớ. Giờ này bên Mỹ cũng khá rộn ràng mùa lễ cuối năm. Năm ngoái dịch bùng nặng, người ta hầu như bỏ qua hết chuyện vui chơi. Năm nay có vaccine rồi, “chiến trận” lắng xuống phần nào, mọi sinh hoạt được phục hồi. Đọc tin, thấy người ta than năm nay khan hiếm các Ông Già Noel. Chẳng là Ông Già Noel thường có mặt ở các trung tâm mua sắm, trên những đường phố, cho trẻ con đến làm quen và chụp hình. “Đóng vai Ông Già Noel” trở thành một cái nghề. Tuy năm nay mức lương được trả cao hơn bình thường, nhưng có nhiều Ông Già Noel sợ bị lây bệnh nên đã bỏ nghề.

Ngày xưa trẻ con tin có Ông Già Noel do không bao giờ gặp được ông, chỉ thấy ông qua những tấm thiệp, truyện tranh hay phim ảnh. Trong mỗi gia đình, cha hoặc mẹ, thậm chí một anh hay chị, làm Ông Già Noel đi phát quà, mà thường thì bí mật lắm, chẳng cho ai thấy. Mà không phải gia đình nào cũng có Ông Già Noel. Với nhiều gia đình Việt Nam, đó là một xa xí phẩm!

Có một ai đó đang khe khẽ ngồi dậy. Nhiên hé mắt nhìn. Một cái bóng nhỏ xíu. Là bé Hoan! Nhiên định tới giúp bé, nhưng thôi, vì thấy bé đang mở trang giấy để trước mặt. Với một cây bút chì, bé vẽ. Nhiên mỉm cười thú vị. Hóa ra cô bé cũng thích vẽ, giống như mình ngày xưa. Vẽ xong, bé Hoan rón rén, thật nhẹ nhàng, đặt tờ giấy xuống bên dưới xấp bài đã thu của lớp.

  *

Hôm nay lớp học trở lại, với Nhiên là cô giáo. Các bé có những môn học thật sự. Nhưng đây chỉ là trường lớp tạm, mà các bé lại ở những lứa tuổi khác nhau. Các bé cần được đến trường thật, học với thầy cô thật. Dịch bệnh khiến môi trường học tập thu lại thành thế giới ảo, càng khó khăn hơn nhiều với hoàn cảnh của các bé.

Nhiên cầm xấp bài tập hôm qua, hỏi bé Hoan:

“Cô giáo có chấm điểm chưa?”

Bé Hoan lắc đầu, chỉ vào Nhiên. Nhiên bật cười:

“Vậy hôm nay cô được làm cô giáo, cô sẽ chấm điểm cho các con nhé!’

Lướt nhanh các tờ bên trên, Nhiên nói:

“Thật ra mình chỉ là lớp học làm quen thôi, cô xin chấm bài nào cũng mười điểm, nhé các con! Các con giỏi lắm, viết chữ ngay ngắn, vẽ tranh đẹp. Cô khen tất cả các con. Các con bây giờ là anh chị em trong cùng một mái nhà. Cô mong rằng các con sẽ thương yêu nhau, giúp đỡ nhau.”

Các bé “dạ” rân, tỏ vẻ vui mừng. Nhiên xem từng bài, và đến tờ giấy nằm dưới cùng, đúng như Nhiên nghĩ, đó là một bức vẽ. Tờ giấy này chính là bức vẽ Nhiên vẽ trái tim nhỏ xíu ở góc trên bên trái. Phần còn trống đã được lấp đầy bằng nét vẽ non nớt, nhưng rõ ràng. Là hai cái bình, trong mỗi bình bé vẽ một người đứng, rất đơn giản, nhưng nhìn là biết bé muốn vẽ ai. Nhiên lặng người, nghe quặn thắt tận tâm can.

Trưa, Nhiên trốn vào phòng với Chị Cả. Nhiên kể cho Chị Cả nghe rồi khóc nức nở, khóc đau đớn. Nhiên tưởng như thấy lại hình ảnh của chính mình ngày xưa. Nhưng ngày xưa, con bé Nhiên không biết diễn tả tâm trạng của mình như vậy. Nhiên lớn lên, ray rứt với nỗi buồn không biết mặt cha, còn mẹ thì mất trong loạn lạc. Nhiên tưởng chỉ có chiến tranh là kẻ hủy diệt ghê gớm nhất trên đời. Nhưng bây giờ, trận đại dịch như sóng thần quét qua, đã biến hàng ngàn trẻ em Việt Nam và hàng triệu trẻ em trên thế giới trở thành trẻ mồ côi trong chớp mắt.

Thì ra bé Hoan, cô bé chỉ mới bốn tuổi, lại là người bước ra nhận di hài của cha mẹ bé!

  *

Sài Gòn nay như không có mùa đông. Nhưng Chị Cả và Nhiên muốn mang mùa đông trở về. Là một mùa đông ấm áp cho các bé. Hai chị em khệ nệ bưng cây thông xin được từ Nhà Thờ, đặt ở góc phòng học. Là cây thông giả, không sợ gây dị ứng cho các bé. Các bé được gọi xúm vào giúp trang trí cho cây thông. Bên cạnh những sợi gòn dùng làm tuyết, Nhiên cho treo những quả cầu đủ màu. Các bé ngoan sẽ được Ông Già Noel cho quà. Mà chắc chắn là tất cả các bé đều ngoan. Các bé vui, nói chuyện rộn ràng.

Nhiên kéo bé Hoan lại gần, hỏi nhỏ:

“Con có vui không?’

Bé Hoan gật đầu nhè nhẹ. Nhiên chỉ lên hai quả cầu, nói:

“Ba ở trong một quả cầu, Má ở trong một quả cầu. Đó là những ngôi sao sáng, như sao trên trời vậy, con thấy không?”

Bé Hoan gật đầu, ánh mắt tươi lên. Chị Cả nói lớn:

“Nào, trang trí đã xong. Mình thắp đèn lên nhé các con!”

Các bé đồng loạt đếm một, hai, ba. Đèn đã được thắp lên! Những quả cầu rực sáng, chớp tắt, lấp lánh như những vì sao.

 

Tháng 12/2021                  

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh 

Nguồn : http://www.camlinguyenthimythanh.com
 

Thứ Hai, 12 tháng 4, 2021

CHIẾN TRẬN - Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

 
Hình: latimes.com

Mẹ nói:

“Không ngờ, mẹ có được một đứa con là bác sĩ rất kiên cường.”

“Con không biết mình có kiên cường không Mẹ à!”

Đôi mắt Ái chớp nhanh để ngăn nỗi xúc động. Ái lảng sang chuyện khác:

“Mẹ ơi! Sao Mẹ lại mong có con làm bác sĩ hở Mẹ?”

“Mẹ không vì giàu, vì danh, mà chỉ vì Mẹ nặng một lòng biết ơn các bác sĩ. Nói chung là bác sĩ, y tá và những người làm trong ngành Y con ạ!”

“Mẹ nói đúng. Nếu không có y tá và các nhân viên khác, thì bác sĩ khó lòng làm tròn công việc của mình.”

Ái mang đĩa thức ăn của mình về bàn. Cái bàn ăn khá rộng, hai mẹ con ngồi hai đầu. Hình như đã thành một thói quen rồi, không ngồi kế bên nhau như trước kia. Hai chữ “cách ly” có ý nghĩa như một hành động vì an toàn, không phải nghĩa xa cách tình cảm. Con người thật lạ, Ái nghĩ vậy. Kho tự điển không có thêm chữ mới, mà có thêm nghĩa mới.

Trong bữa cơm hiếm hoi được ngồi cùng nhau, mẹ và Ái ôn lại chuyện một năm qua. Thế mà đã được một năm! Một năm thay đổi hẳn cuộc sống của mọi người! Thế giới có hơn 100 triệu người mắc bệnh, hơn 2 triệu rưỡi người tử vong. Những con số biết nói. Mỗi con số nhích lên là một sinh mạng!

Mẹ nói với giọng bâng khuâng:

“Từ khi còn nhỏ, mẹ đã có ý nghĩ quý trọng những vị bác sĩ. Ngày xưa, ở xứ mình, đa số người ta chỉ đến bác sĩ khi bị bệnh thật nặng. Do đó, vị bác sĩ được coi như ông tiên hay bà tiên cứu sống mình vậy. Hồi năm tuổi, con bị bệnh sốt xuất huyết. Thời đó, bệnh sốt xuất huyết và bệnh bại liệt là nỗi kinh hoàng của các bậc cha mẹ. Bệnh bại liệt thì có vaccine để ngừa, nhưng sốt xuất huyết thì không. Hôm mẹ ở với con trong phòng cấp cứu của bệnh viện Nhi Đồng, mẹ tận mắt chứng kiến một đêm không ngủ. Các bác sĩ, y tá, nhân viên và các sinh viên Y Khoa thực tập làm việc không ngừng tay. Họ cũng như những người mẹ theo dõi từng giọt dịch truyền, từng nấc lên xuống trên nhiệt kế đo thân nhiệt của những đứa con đang nóng sốt.”

“Mẹ, chỉ khi con ra trường, con mới biết là Mẹ thích có con làm bác sĩ.”

Mẹ cười:

“Thì bởi vì Mẹ không muốn tạo áp lực cho các con, Mẹ muốn các con tự do chọn ngành mình theo học. Điều Mẹ muốn, Mẹ không nói khiến các con khó nghĩ.”

“Hi hi, Mẹ đúng là bà mẹ tân thời.”

“Mẹ chưa già mà lị!”

Ái nghe cảm động. Hiếm hoi có một bữa cơm Ái được ngồi ăn thức ăn do Mẹ nấu. Ngày nào cũng là những ngày vội vã. Có được phút nào thong thả là ngủ vùi cho lại sức rồi lại vội vã ra đi. Mà cũng đâu phải lúc nào Mẹ cũng có thì giờ kể chuyện ngày xưa như hôm nay. Công việc của Mẹ cũng bộn bề…

“Lúc đó con còn nhỏ quá, nhưng con vẫn nhớ tới bây giờ, ngày con mê man trong bệnh viện. Con thấy đủ loại giấc mơ, có lẽ vì do sốt cao quá. Có lần thức giấc, con thấy ông bác sĩ đang khám bệnh cho con. Con tưởng như ông ấy là một ông tiên áo trắng…”

“Thì là ông tiên thật đó! Cả bệnh viện ai cũng mến phục ông. Nhưng ông ăn nói rất thẳng thắn. Ông sẵn lòng chê trách những bà mẹ coi thường lời căn dặn của ông. Căn bệnh sốt xuất huyết rất tai ác, con ạ! Nó lấy mạng sống của nhiều trẻ con.”

Rồi Mẹ rơm rớm nước mắt, nhắc đến một vị bác sĩ có con chết vì bệnh này. Đứa bé nằm giường ngay bên cạnh giường của Ái. Trước khi chết, đứa bé còn nói líu lo. Người cha bác sĩ đau lòng vì con, nhưng khi rời phòng bệnh, ông vẫn trấn an các bậc mẹ cha và chúc lành cho các cháu ở lại.

Còn một khía cạnh khác mà Mẹ thường không muốn nhớ, đó là đời sống của con người trong hoàn cảnh xã hội lao đao. Có người nói rằng tiền bác sĩ lãnh được sau một cuộc giải phẫu chỉ ăn được tô phở, hoặc chua chát hơn, so sánh một “ca” mổ ruột, bác sĩ lãnh tiền không bằng một người thợ vá một cái ruột xe. Có vẻ phóng đại quá chăng? Nhưng đó là thực tế. Nhiều vị làm trong ngành Y không ngần ngại nhận bao lì xì trước khi làm nhiệm vụ. Xã hội tập cho họ có thói quen như vậy, lâu dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Nhưng may mắn thay, vẫn còn những người không để mất lòng tự trọng, vẫn không để mất phẩm giá, không lao theo thời trang.

“Ngược về trước nhiều năm, có những hình ảnh làm Mẹ ghi nhớ lắm con ạ! Hồi đi học, Mẹ có lúc đến thăm thương bệnh binh. Mẹ nhìn mấy ông bác sĩ quân y, thấy cũng hơi sợ, vì trông các ông nghiêm nghị, khắc khổ lắm. Có lẽ vì thường xuyên ra trận, đối diện với cái sống chết trong gang tấc của những người lính, nên ít khi các ông cười.”

“Thật vậy hở Mẹ?”

“Ừ. Vậy chứ mấy ông cũng tình cảm lắm, chỉ có điều là họ giấu thôi! Một lần tình cờ Mẹ thấy ông bác sĩ quân y rơi nước mắt khi một người thương binh đau quá khóc gọi mẹ của anh ấy. Nỗi đau của con người, dù là tinh thần hay thể xác, không ai gánh giùm ai được.”

Ái khẽ nói:

“Con đi đây Mẹ!”

“Lại đi hở con?”

“Dạ. Số người nhiễm có giảm, nhưng người ta vẫn chết vì bệnh này. Tụi con còn mệt nhiều.”

Mẹ lắc đầu, mắt trĩu nặng. Mẹ dặn dò như mọi lần:

“Con cẩn thận.”

“Mẹ cũng vậy nhé! Có ai đến, Mẹ nhớ mang mask vào rồi hãy nói chuyện.”

“Mẹ biết. Con này, Mẹ không hiểu sao, chỉ một việc đơn giản như vậy, bảo vệ mình, bảo vệ người, mà nhiều người không muốn làm.”

Ái thở dài:

“Họ có cái lý của họ. Họ nghĩ đó là cái quyền của họ mang mask hay không. Họ không sống trong hoàn cảnh những người bị bệnh. Họ không thông cảm cho những người phải làm việc như tụi con.”

Ái rùng mình. Phải, một năm trôi qua như cơn ác mộng! Nhiều người cho đến lúc bệnh nặng rồi, vẫn không tin tại sao mình bị bệnh. Họ nói họ không tiếp xúc với ai, vậy con virus từ đâu mà đến? Không chỉ người già hay người suy yếu vì có sẵn bệnh, mà cả thanh niên tràn đầy sức sống cũng mắc bệnh. Làm việc trong phòng ICU, Ái như người đồng hành với bệnh nhân giành giật sự sống. Khi thất bại, Ái như cũng đồng hành với họ trong lúc họ ra đi. Rồi Ái phải đứng lại. Họ đi một mình.

Một lần, Ái ngồi bên người bệnh là một ca sĩ. Ai biết được đàng sau mớ dây nhợ và ống thở, là một giọng hát thanh tao! Cô có vẻ muốn hát. Nhưng đã hết! Tiếng chim ríu rít quyến rũ đã được thay bằng tiếng thở khò khè, và lịm dần như ánh nến leo lét chìm vào vũng tối. Một lần, Ái ngồi bên người bệnh là một nhà thơ. Những ngón tay run run cử động như muốn viết. Nhà thơ không còn đủ tỉnh táo để mơ mộng. Tất cả chung quanh nhà thơ chỉ là một tấm màn u uất. Trong những ngày căng thẳng cao độ, Ái chứng kiến cảnh phòng bệnh với những dãy giường mới mang tới, chính là garage đậu xe của bệnh viện, cảnh hàng dài những xe cứu thương chờ chuyển bệnh nhân vào phòng cấp cứu nhưng không còn chỗ, phải chờ cả mấy tiếng đồng hồ. Thương tâm hơn nữa, nhà xác cũng hết chỗ. Thi hài của những người chết đã được gói kín, sắp xếp lên các ngăn kệ của phòng lạnh dã chiến, có khi là trên những chiếc xe vận tải lạnh. Họ nằm chật chội, lớp lớp, hàng hàng…

Phải, một năm trôi qua như cơn ác mộng. Chết vì Covid có đáng hay không? Không đáng chút nào. Nhưng nhiều người đã chết. Cuối Tháng Hai, nước Mỹ đã mất nửa triệu người.

Có nhiều lúc Ái không dám nhìn mình trong gương. Mở chiếc “khẩu trang” ra, Ái choáng váng vì dưới hai mắt và hai bên má của mình như bị biến dạng: kết quả của việc thường trực đeo mask ngày cũng như đêm. Những phiên trực làm mặt mũi xanh xao. Hết trực, Ái phờ phạc tìm đến giấc ngủ, hy vọng lấy lại sức lực. Nhưng trái lại, Ái rơi vào tình trạng mất ngủ kinh niên. Ái sợ rằng mình rồi cũng sẽ mắc bệnh!

Một người bạn khá thân chia sẻ rằng bạn được làm việc ở nhà, vì công việc văn phòng có thể mang về nhà, không cần đến sở. Bạn tỏ ý lo ngại cho Ái. “Ái ơi, mình biết “work from home” là may mắn lắm. Có những việc không thể làm ở nhà, như Ái đó! Ái đối diện với mối nguy hiểm từng giờ.” Bạn cũng giả dụ nếu có thể chọn lựa, bạn thà chết vì đau tim hơn là chết vì Covid. Bạn nói đúng. Cái chết vì Covid đau khổ biết bao! Người chết vì Covid cô đơn biết chừng nào!

Vẫn như có sẵn định mệnh cho từng người, không ai chọn lựa được đâu! Ai mà biết được mình sẽ chết vì cái gì, chết lúc nào và chết ra sao? Có lẽ vì đã chứng kiến quá nhiều người chết nên Ái có một cách nghĩ cho riêng mình. Đó là làm việc bằng tinh thần của một người lính. Giường bệnh là chiến trận. Người lính chỉ có một con đường là chiến đấu. Khi bại trận, người lính ngồi ôm mặt khóc. Khi chiến thắng, chào tạm biệt bệnh nhân xuất viện bằng tiếng vỗ tay và lời reo mừng. Mạng sống con người vẫn luôn quý giá!

Ái khẽ nói:

“Con đi đây Mẹ!”

“Ừ, con đi.”

Ái cười:

“Mẹ yên tâm, không đến nỗi như trước đâu! Mình đã được chích vaccine rồi.”

Mẹ gật đầu, nét mặt Mẹ vui:

“Phải, cơ thể của mình đang “sản xuất” chiến binh để chống giặc. Nói ráng một chút con nghe, ngày xưa, con nít như Mẹ làm quen với vaccine lần đầu trong đời là “trồng trái” để ngừa bệnh đậu mùa. Eo ơi, người ta dùng cái ngòi bút thấm thuốc rạch lên da mình mấy vết nghe ớn. Ai cũng lãnh sẹo vì “trồng trái” để khỏi bị cái bệnh tai ác đó. Có người còn bị mưng mủ, hành lên hành xuống. Dân mình nghe chích vaccine là mừng lắm. Họ biết tin tưởng vào khoa học. Chưa bao giờ nghe nói đến chuyện chống vaccine.”

Hai mẹ con không hẹn mà cùng thở dài, rồi cùng cười.

“Con đi đây!”

Biết trước rằng khi vào bệnh viện, Ái lại cũng sẽ đối diện với những cảnh ngộ đau lòng. Tuy vậy, tâm trạng có phần nhẹ nhàng hơn trước, với ý nghĩ mình đã có “cái nhà máy sản xuất chiến binh chống giặc” trong người. Có một chút hy vọng! Lúc trước, đi ra khỏi nhà cũng là như người lính đi ra mặt trận, nhưng chuẩn bị tâm lý sẵn sàng. Có khi không được về nhà vì phải “cách ly” đúng nghĩa. Cũng có thể mãi không được về.

 

Cuối Tháng Hai, 2021            
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh   

Nguồn: http://www.camlinguyenthimythanh.com

 

Thứ Tư, 10 tháng 3, 2021

NGƯỜI BÀ CON TRONG KIẾP NÀO - Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh



1
 Em nhìn tôi, đôi mắt tròn quá tròn. Tôi cũng tròn mắt nhìn em. Hơi sững sờ một chút. Em nói :
 
– Thanh- san!?? Có phải chị là Thanh?
 
– Dạ phải. Cô là…?
 
– Tên tôi là Aika. Tôi làm ở phòng bên cạnh ạ.
 
– Lab ELISA?
 
– Phải.
 
Em cúi đầu thật thấp để chào tôi, rồi em đưa ra một xấp hình:
 
– Nhân viên tiếp tân đưa những tấm hình này cho tôi, vì anh ấy tưởng người trong hình là tôi, nhưng may quá, tôi biết chị làm bên lab này, nên nhận luôn giùm cho chị.
 
– Cám ơn Aika.
 
Tôi cầm xấp hình, nhìn mình trong hình rồi nhìn Aika. Cả hai chúng tôi cùng cười. Mấy người nhân viên trong phòng đến xin xem hình, và nói sao chúng tôi giống nhau quá!
 
Đó là kỷ niệm nhỏ mà tôi mang theo suốt những năm tháng sau này, khi tôi không còn gặp lại Aika nữa. Tôi vẫn không tin vào cái điều làm thế nào lại có một cô gái Nhật Bản có nét mặt giống tôi như vậy. Nhưng quả tình là ai cũng công nhận chúng tôi rất giống nhau, như hai chị em. Sau ngày đầu tiên gặp nhau ấy, Aika và tôi đã làm việc bên nhau trong cùng khoa thí nghiệm. Khi tôi từ giã Tokyo, thì em cũng chuyển về Sendai trong tỉnh Miyagi để làm việc ở một chi nhánh của Hồng Thập Tự Nhật Bản, và sau đó… không có cơ hội biết được tin tức gì của nhau. Thời đó chúng tôi chưa dùng email, mà gọi điện thoại thì lại là một điều không dám nghĩ tới, vì… quá đắt.
 
Và em là một trong những người bạn Nhật Bản mà tôi quen biết trong hai tháng sống tại đất nước này, năm 1994.
 
Là Nhật Bản năm 1994! Lần đầu tiên tôi được “xuất ngoại”, sau nhiều lần bị “sang đoạt” học bổng, cuối cùng tôi thi đậu và được đi, mà lại được đến xứ sở của hoa Anh Đào, của mặt trời mọc. Phải, tháng Năm thì không còn hoa Anh Đào nữa, nhưng bù lại tôi biết vì sao mà xứ sở này được gọi là xứ mặt trời mọc. Tôi rất ngạc nhiên khi buổi sáng chỉ mới hơn 4 giờ thì trời đã sáng chói chang. Không thể “ngủ nướng” thêm một chút nào, mà phải dậy đọc sách thôi. Nhìn qua các cửa sổ của tòa nhà cạnh bên khách sạn tôi trú ngụ, có lẽ là một công ty thương mại, nơi mà đến khuya lắc tôi vẫn thấy đèn sáng choang, người đi qua đi lại hồ như làm việc suốt đêm, rồi 4 giờ sáng vẫn có người đi qua đi lại. Một thành phố không ngủ! Bởi vì trời đất như cũng không ngủ.
 
Là Tokyo lịch sự, trang trọng. Thành phố sạch sẽ. Cái tân tiến đứng cạnh cái cổ kính. Building cao ngất xen lẫn với đền đài có tự lâu đời. Chỉ trừ lúc phải về khách sạn vào chiều tối, ở trong căn phòng mà khi đóng cửa lại thì chỉ còn nghe “tiếng của sự im lặng” o… o… đến nhức tai, còn những khi có thể được tôi vẫn thích đi ra ngoài, để tản bộ ngắm cảnh đường sá, để mua thức ăn, có khi chỉ để nghe tiếng kêu của những con quạ trú ngụ trên những ngọn cây. Vâng, Tokyo đặc biệt có rất nhiều quạ. Loài chim này không xa lạ với những cư dân ở khắp nơi trong thủ đô. Và chẳng bao lâu cũng không còn xa lạ với tôi.
 
Là những đường tàu metro, xe lửa. Tokyo luôn rầm rập tiếng của xe lửa. Xe chạy trên cao. Xe chạy dưới hầm. Cảm giác của tôi khi sống tại đây là: người dân, và cả những người không phải cư dân của Tokyo nhưng từ các thành phố khác vào làm việc, hết phân nửa di chuyển dưới lòng đất, nếu không, chắc là sẽ không nhích bước nổi.
 
Là người Tokyo. Vội vã nhưng không chen lấn. Bận rộn nhưng rất đúng giờ. Họ đi như chạy, nhưng không đụng vào ai. Lên xe bus, xe lửa, metro, họ đứng san sát vì xe lúc nào cũng đông nghẹt người, đa số là người từ các vùng khác vào thành phố để làm việc. Vì thường phải mất ít nhất một, hai tiếng đồng hồ trên xe nên họ rất thích nhắm mắt. Ngồi cũng nhắm mắt, đứng cũng nhắm mắt. Tôi thì banh mắt ra và nơm nớp lo sợ mình bị lố trạm thì lạc đường. Nhưng họ, những người “ngủ đứng ngủ ngồi” trên xe ấy, hầu như mở mắt rất đúng lúc, khi tiếng loa trên xe báo đúng tên cái trạm mà họ cần xuống. Họ không bao giờ bị lố. Cũng là người Tokyo, khi chiếc xe lửa hay metro dừng lại ở một trạm, người đứng gần cửa kéo nhau đi xuống dù đó chưa phải là nơi họ muốn xuống, để lấy chỗ trống cho những người dưới bến lên xe hết, rồi họ lại trở vào. Có người không hiểu, cho rằng bày ra như vậy không cần thiết. Nhưng lát nữa, khi họ xuống đúng trạm của họ, sẽ không có cảnh chen chúc xảy ra trên xe.
 
Người Nhật nói rất nhanh, nhưng họ vẫn có đủ thời gian để chào nhau lịch sự, đủ thời gian để cúi đầu thật thấp, không chỉ để chào, mà để tỏ sự tôn trọng người đối diện trong suốt cuộc chuyện trò.
 
Và đó là họ, người Tokyo, người Nhật. Và như thế, mọi việc diễn ra hàng ngày, thật bình thường, thật đẹp.
 
Là Masayuki, người hướng dẫn, người có nhiệm vụ “take care” tôi trong thời gian tôi ở Tokyo, đưa tôi đến nơi ở mới, vì khách sạn chỉ là nơi tôi tạm trú trong một tuần đầu, giá phòng rất đắt. Nơi ở mới, người ta gọi là “mansion”, nhưng không phải “lâu đài”, mà là loại khách sạn nơi đó người cư ngụ có thể tự nấu ăn, và phải tự dọn dẹp trong phạm vi căn phòng của mình. Giá cả cũng rẻ hơn một chút. Masayuki nói:
 
– Khi nào phải dọn đi nơi khác, khách phải dọn dẹp sạch sẽ rồi mới trả phòng. Lúc đó xin chị cứ gọi tôi đến dọn dẹp giúp nhé!
 
Tôi hoảng hồn nói ngay:
 
– Không, không, sao lại thế? Cám ơn anh , tôi làm được ạ! Cám ơn anh!
 
Masayuki rất dễ mến, nhưng hút thuốc quá nhiều. Anh nói không bỏ thuốc lá nổi. Mà người Nhật cũng hút thuốc dữ lắm. Ở những máy tự động bán snack, tôi thường thấy nam, nữ, người già, thanh niên dừng lại mua thuốc lá. Tôi ở Việt Nam đã quen với cảnh người ta hút thuốc, nhưng nhìn người Nhật hút thuốc tôi có chút ngỡ ngàng. Cho đến hiện tại, tôi được biết tỷ lệ hút thuốc của người Nhật là 37% ở nam giới và 9% ở nữ giới, đã giảm rất nhiều so với ngày đó, nhưng Nhật Bản vẫn đứng trong số các nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất trong thế giới công nghiệp hóa.
 
Gần bước qua tuổi bốn mươi nhưng Masayuki chưa lập gia đình. Anh nói:
 
– Trước khi làm công việc này tôi đã ở Nepal và đi làm việc tại một làng nhỏ ở chân núi Himalaya. Chắc rồi tôi sẽ trở về đó để theo chân các vị sư, họa may mới bỏ được thuốc lá.
 
Tôi cười theo anh. Nhưng tôi không chắc là các vị sư ở đó có bị cấm hút thuốc lá hay không. Trong một cử chỉ tin cậy, Masayuki cho tôi xem hình của mẹ anh:
 
– Đây là mẹ tôi. Bà cụ đang sống trong viện dưỡng lão, với nhiều chứng bệnh chưa cần thiết cho một người ngoài tuổi sáu mươi. Những di chứng hậu quả của bom nguyên tử năm 1945 đấy! Nhưng bà vẫn còn sống. Ba tôi thì đã qua đời. Còn tôi thì thích lang thang.
 
Masayuki mỉm cười nhưng trông thật buồn. Tôi nghĩ nếu không phải đang ngồi trước mặt tôi, chắc chắn là anh sẽ châm một điếu thuốc. Tôi cũng mỉm cười, bất chợt lòng se lại khi nhớ đến những câu chuyện cha mẹ tôi thường kể về khoảng thời gian năm 1945, khi cha mẹ tôi mới cưới nhau chưa có con cái, khi nạn đói xảy ra tại Việt Nam làm cả triệu người chết, khi những người thuộc thế hệ cha ông của Masayuki đến đất nước của tôi bằng những bước chân chinh phục…
 
Người anh em, người bà con đang “take care” tôi trong thời gian tôi tu nghiệp tại Nhật, với tuổi đời khá đủ để hiểu đôi điều về lịch sử, cũng như tôi, chắc cũng đăm chiêu với ý nghĩ về những cuộc thăng trầm, dù lúc đó chúng tôi còn ở tận đâu đâu.
 
Chúng tôi cùng im lặng.
 
2
 
Là những người dễ thương của khoa xét nghiệm. Từ người trưởng phòng và cũng là người nhiều tuổi nhất trong khoa cho đến các nhân viên trẻ măng. Họ thật nhiệt tình và dễ mến. Ai cũng gọi ông trưởng phòng là “sensei” (thầy). Vậy mà chỉ trong ngày đầu tiên nhận tôi vào làm việc, ông đã hỏi tôi ngay:
 
– Thanh- san! (san là ông, bà, cô, anh, chị…, người Nhật hay gọi như vậy giống như người Việt thường đặt ông, bà, cô, anh, chị… trước cái tên). Chị có dạy học trò không?
 
– Dạ có, thưa sensei! Tôi không có danh hiệu giáo sư, tiến sĩ chi cả. Nhưng tôi có học trò, tôi có giảng bài ạ!
 
Ông nói ngay:
 
– Như vậy chị đã là sensei. Chúng tôi tôn trọng những người đứng lớp, truyền bá kiến thức cho người khác.
 
– Cám ơn sensei!
 
Tôi chạnh nhớ đến câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” của người mình.
 
Nhưng ông không nói giỏi tiếng Anh. Tôi lại không rành tiếng Nhật, mà cũng không bị bắt buộc phải học tiếng Nhật, vì tôi chỉ tu nghiệp 2 tháng với học bổng của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), có thể sử dụng tiếng Anh để làm việc. Vì vậy tôi luôn có người thông dịch trong sở nếu gặp người không thể nói tiếng Anh. Tôi rất khâm phục nền khoa học của nước Nhật vì họ tự lực cánh sinh rất nhiều, sách vở tài liệu toàn chữ Nhật, máy computer dùng toàn chữ Nhật, cần thiết lắm thì họ mới in tài liệu tiếng Anh dành cho khách ngoại quốc. Tôi rất may mắn có đầy đủ trong tay những văn bản tiếng Anh. Nhưng có một điều đáng nể nữa, là họ không chấp nhất bắt phải dịch tất cả ra chữ Nhật đối với những từ ngữ chuyên môn, cho nên tôi dễ dàng tìm thấy nguyên ngữ tiếng Anh như “antibiotics, vitamin, antigen, antibody v.v…” trong tài liệu tiếng Nhật của họ. Hai đặc điểm hầu như có vẻ mâu thuẫn này là câu trả lời cho thắc mắc tại sao đất nước Nhật Bản có thể tiến rất nhanh và rất xa sau khi hai quả bom nguyên tử trút xuống vào năm 1945 như vậy.
 
Là những con người cần cù trong các lab của khoa xét nghiệm về các bệnh lây truyền qua máu. Tôi ngạc nhiên nhưng cũng tự trả lời được vì sao một đất nước robot- hóa như Nhật Bản mà trong phòng thí nghiệm vẫn còn dùng những bộ “agitator” thủ công. Tôi, ngoài những lúc dùng micropipet tự động, còn phải tập “xoe” bộ “đồ nghề” dùng để pha loãng này, và mến phục những cô kỹ thuật viên khéo léo, thoăn thoắt bàn tay như thể đang múa những chiếc kim đan.
 
Là Trung tâm Truyền Máu Trung ương của Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, một cái tên rất dài, Japanese Red Cross Central Blood Center, nơi tôi đến học và làm việc. Là những chi nhánh Hồng Thập Tự ở lân cận thủ đô. Tôi cảm thấy mình nên làm một cái gì cho những nơi tiếp nhận mình, cho người Nhật, vì vậy tôi xin được hiến máu.
 
Ôi! Tôi không được như ý! Vì khi bước lên chiếc cân, tôi không đủ 40 ký lô! Một cô kỹ thuật viên chuyên lấy máu an ủi tôi:
 
– Nguyên tắc của chúng tôi là không lấy máu của người dưới 40 ký lô, xin chị đừng buồn. Chị còn nhiều cách để giúp chúng tôi mà!
 
Tôi đành phải dẹp ý tưởng hiến máu.
 
Những người đi hiến máu cho Hội Hồng Thập Tự nhận một cái móc khóa lưu niệm của Hội, thế thôi, và tươi cười ra về.
 
Tôi thấy mình còn nợ đất nước này một cái gì…
 
3
 
Là thầy tôi bên N.H.I., Viện Sức khỏe Quốc gia tại Tokyo. Tôi lại chuyển qua một “mansion” khác, để gần với N.I.H. cho đỡ mất thời gian đi và về. Nói là “gần” nhưng tổng cộng thời gian đi bus và metro rồi đi bộ thêm một khúc đường nữa cũng hơn cả tiếng đồng hồ. Tôi học được thói quen lên xe thì nhắm mắt lại, sau khi đã yên tâm là mình không sợ lạc nữa. Tôi học cách đi thật nhanh mà không mệt. Nhưng nói nhanh như người Nhật thì không. Mấy bạn Nhật hỏi tại sao người Việt Nam nói hơi chậm, tôi có dịp giải thích cho bạn là tuy có nói nhanh cách mấy cũng không thể nhanh quá, vì tiếng nước tôi là tiếng “đơn âm” (monosyllable), không phải “đa âm” (polysyllable) như tiếng Nhật hay tiếng Anh, tiếng Pháp… Các bạn thấy thú vị lắm. Các bạn cũng nể phục khi nhìn thấy chữ Việt, loại chữ dùng mẫu tự La-tinh. Tôi lại có cơ hội để nói một hơi về công lao của những vị học giả đã có công xây dựng loại chữ viết dễ học này, một sản phẩm có một không hai của Á châu.
 
Thầy dạy về HIV của tôi là một nữ giáo sư. Bà rất tận tụy, lại rất dịu dàng nên thầy trò tôi rất hợp nhau. Chính vì nể trọng bà quá nên khi bà đưa tôi đi ăn món “cá sống” và những loại hải sản sống khác, tôi phải luôn miệng khen ngon vì biết họ chỉ đãi khách quý những món ăn sống đó. Còn ở sở làm việc thì tôi vẫn thường ăn các món ăn nấu chín như thức ăn của người mình thôi. Ôi! Tôi còn nhớ cảm giác khi cho những thức ăn sống vào miệng, trợn mắt nuốt, miệng tươi cười, không dám tỏ vẻ gì làm thầy buồn. Tôi tự nhủ: “Ráng lên! Chỉ có vài dịp thôi mà!”
 
Thầy tôi đưa tôi đi Tokushima, nằm trên đảo Shikoku, rồi giao tôi cho những người ở đó “chăm lo” cho tôi trong thời gian tôi học tại một công ty dược phẩm tư nhân, công ty Otsuka. Đêm đầu tiên ở Tokushima, tôi về phòng, viết thư cho Ba tôi:
 
“Ba ơi, khi con nhìn thấy cây cầu treo Naruto hùng vĩ nối đất liền với hòn đảo nơi đây, một cây cầu dài, cao và diễm lệ, con không ngăn được nước mắt Ba ạ! Vì thấy cây cầu này con lại nghĩ đến những cây cầu xiêu vẹo và không an toàn ở xứ sở mình. Người ta xây dựng bao nhiêu nhà cao cửa rộng ở thành thị nhưng không bao giờ xây nổi một cây cầu xi măng cho dân ở thôn quê, để tồn tại biết bao nhiêu cầu tre lắc lẻo, thậm chí những cây cầu khỉ, những cây cầu bằng thân cây dừa trơn trợt…”
 
Khi đến nơi đây tôi lại làm quen với một chỗ ở mới. Là một “dorm” dành cho nhân viên và học viên của công ty Otsuka. Bây giờ thì không phải là khách sạn mà cũng không là “mansion”. Phòng ngủ rất đẹp, nơi giặt giũ cũng rộng rãi. Quần áo sáng chỉ cần giặt rồi cho qua máy sấy, chiều về đã thấy quần áo khô ráo để trên mặt máy sấy rồi, người khác đã đến dùng máy và thu xếp giùm cho mình mà không bao giờ sợ mất. Nấu ăn thì không lo vì tôi đã có thể ăn trong cafeteria của sở. Nhưng còn một phần “nguy hiểm” đối với tôi: đi tắm. Ồ! Đi tắm thì có gì mà nói? Nơi ở đã tuyệt vời thế kia thì tắm táp đâu có thành vấn đề! Nhưng không, với tôi, là cả một vấn đề. Vì tôi không tìm đâu ra một phòng tắm riêng. Các vị phụ nữ tắm chung trong một phòng tắm khổng lồ, với những vòi sen gắn dọc theo các bức tường, và rồi cùng xuống vẫy vùng trong một cái hồ thật lớn, Trời ạ!!!
 
Tôi không dám thổ lộ với ai về “nỗi đau khổ” này. Nhưng thầy tôi rất tinh ý, bà hỏi tôi có phải khó khăn lắm không, vì bà biết người Việt Nam không có tập quán đó. Tôi đành công nhận điều khó nói này. Thầy bảo sẽ nhờ công ty thu xếp cho tôi một chỗ ở khách sạn, nhưng tôi không chịu, tôi hứa sẽ “xoay sở” được. Thầy quay lưng đi, tôi lại đau khổ tiếp. Tôi không thể nào làm như họ được. Tôi vốn tính mắc cỡ mà! Làm sao đây? Trời thương xót tôi, tôi đã tìm ra, ngay trong phòng tắm khổng lồ ấy, một góc nhỏ có một tấm màn kéo lại, trong góc ấy có hẳn một vòi sen. Tôi thật như được cứu sống, sung sướng với cái “giang sơn” riêng biệt của mình.
 
Sau này, khi một người bạn mời tôi về nhà của chị ở chơi một ngày, tôi cũng có dịp thấy cái hồ tắm chung của gia đình người Nhật, vợ chồng con cái cùng tắm chung trong đó.
 
Là những em bé Nhật Bản má phinh phính hồng hồng, vô tư hồn nhiên thụ hưởng tất cả những gì mà cuộc sống ở đất nước thanh bình phồn thịnh này mang lại cho các em. Người còn sức trẻ thì miệt mài học hành, làm việc, chạy đua với cái đồng hồ. Nhưng tôi đã thấy, trên vầng trán và ánh mắt của những người già, chưa phai dư ảnh của những nhọc nhằn trong quá khứ. Bà cụ mẹ của người bạn tôi, khi theo chúng tôi đi chơi, dừng lại trước những tấm bảng trưng bày cảnh hoang tàn của Hiroshima và Nagasaki sau cuộc thả bom nguyên tử năm 1945, lặng lẽ lau nước mắt. Rồi như nuốt vội nỗi buồn vào trong, bà lẩm nhẩm hát một bản cổ nhạc. Vậy rồi cũng có một lúc bà kể hết cho tôi nghe thời thơ ấu của bà, khi chiến tranh xảy ra bà là cô bé lên mười, gia đình ở Hiroshima tan nát chia lìa, bà theo người bà con chạy qua Tokushima từ đó.
 
Là Tokushima, thanh bình, êm ả. Không vội vã như nếp sống ở Tokyo. Mọi người đi xe hơi riêng. Ít thấy người đi san sát, ít nghe tiếng xe cộ rập rình. Ngày nghỉ, mọi người đi cable lên vãn cảnh chùa trên núi cao đầy những cây cedar, hoặc đi tàu lớn ra thưởng thức whirlpools ở Naruto, hưởng hết cái cảm giác khi con tàu dừng lại ở một chỗ không chạy được mà cuốn tròn trong một xoáy nước. Ngoài nơi làm hàng mỹ nghệ với vải nhuộm Indigo độc đáo, còn một nơi nữa, nơi đã cho tôi cảm nghĩ về tính ưa chuộng hàng thủ công của người Nhật. Tất cả những gì được làm thủ công, “hand-made”, người Nhật rất quý. Đó là một nhà máy làm đường bằng phương pháp thủ công, nhưng cơ ngơi thì như một nhà máy tối tân vậy. Ở xứ mình, mọi người vẫn coi đường chỉ đơn giản là một loại thức ăn, một thứ gia vị, không có gì đặc biệt. Tôi dù sao cũng vẫn không quên những ngày tháng sau 30 tháng tư 1975, có những khi thèm ăn ngọt khủng khiếp, phần vì do mọi thứ đều khan hiếm, phần thì do thiếu ăn nên cơ thể lúc nào cũng thèm ngọt. Đường lúc đó là “nhu yếu phẩm”, thậm chí là “xa xí phẩm”. Đêm nào tôi cũng phải nấu một lon “ghi gô” chè để ăn thì mới thấy không tội lỗi với chính mình! Nhưng rồi, mọi người cũng dễ dàng quên đi cái thức ăn, cái gia vị đã một thời là nỗi ao ước. Thế mà, tôi không thể ngờ, khi tôi mua một hộp kẹo đường từ nhà máy làm đường ở Tokushima, giá rất đắt, về tặng các bạn ở công ty Otsuka, mọi người xúm lại, hân hoan thấy rõ. Mỗi người nâng niu một chiếc kẹo đường trong bàn tay, ngắm nghía, rồi từ từ bóc lớp giấy đẹp đẽ bọc ngoài, vừa thưởng thức vừa trầm trồ như thể những viên kẹo đường kia là cao lương mỹ vị. Sau này tôi mới nghiền ngẫm ra được rằng người Nhật Bản thích ăn đường không chỉ vì ái mộ hàng thủ công, lại càng không phải vì thiếu thốn…
 
Tôi trở lại Tokyo sau khi đã học xong về R.I.A., kỹ thuật miễn dịch phóng xạ. Cũng đã làm quen với cảnh “đếm” độ phóng xạ với một thiết bị nhỏ như cây bút mang trong túi áo mỗi khi đi vào phòng thí nghiệm. Trên đường về tôi còn được ghé cố đô Kyoto để dự lễ hội Gion nhân một ngàn hai trăm năm xây dựng cố đô, được hòa cùng dòng người cuồn cuộn chìm ngập trong rừng xe hoa trang trọng, được thấy những đền đài cổ kính và phố sá nhộn nhịp, được vào trú ngụ trong khách sạn “Ba chị em” (Three sisters’ Inn) hoàn toàn phong cách Nhật.
 
Ngày tôi rời Tokyo, vẫn là Masayuki đưa tôi ra phi trường. Không đơn giản xem anh như người có nhiệm vụ hướng dẫn đường đi nước bước cho mình, tôi xem anh như một người bà con, có duyên tôi đã gặp.
 
– Thanh- san! Hẹn gặp lại chị. Sayonara!
 
– Masayuki- san! Tạm biệt. Bao giờ anh qua Nepal, nhớ cho tôi biết.
 
– Vâng.
 
– Bao giờ anh bỏ thuốc lá được, cũng nhớ cho tôi biết.
 
– Chắc chắn.
 
Ôi! Tôi không thể nào quên được đất nước này. Trong nhiều năm sau nữa, tôi vẫn thấy như mình còn nợ nơi đó một cái gì. Bởi tôi còn nhớ, nhiều lúc đang đi trên đường phố tại Nhật Bản, tôi nghe một tràng tiếng Nhật, mà thật đáng tội là tôi đâu có hiểu tiếng Nhật nhiều, tôi phải trả lời bằng tiếng Anh rằng tôi không phải là người Nhật. Nếu may người kia hiểu tiếng Anh, họ sẽ bảo rằng tôi trông giống người Nhật lắm. Ai cũng nói như vậy cả. Tôi đã là người Nhật trong một kiếp nào chăng?
 
4
 
Trong nhiều năm sau nữa, một ngày kia tôi tình cờ xem một DVD phim hoạt họa “Grave Of The Fireflies”, tôi đã khóc ròng khi trông cảnh hai anh em mồ côi sống trong những ngày tháng cuối cùng của Thế chiến thứ Hai ở đất nước Nhật Bản, lúc thành phố Kobe đang bị quân đội Đồng Minh dội bom. Là Seita và Setsuko. Đứa anh và đứa em gái. Áo quần tả tơi, đói khát, lang thang trong những hầm trú bom, hai anh em sống lây lất nhờ những thức ăn thừa. Gia tài còn lại cuối cùng của chúng là một cái lon đựng kẹo, loại kẹo đường có mùi trái cây, kẹo Sakuma, và chúng đã bắt những con đom đóm bỏ vào đầy cái lon không. Ngọn đèn đom đóm ấy có thể chiếu sáng căn hầm mà hai anh em trú ngụ. Nhưng qua hôm sau cô bé Setsuko hoảng sợ khi thấy những con đom đóm đều chết hết. Cô bé đào một cái huỵêt để chôn bầy đom đóm ấy. Và khi không còn thứ gì để ăn, anh Seita phải đi ăn trộm hoa màu ở những nhà của nông dân gần đó và ăn trộm cả đường nữa. Nhưng cuối cùng, ngay thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, em Setsuko chết vì suy dinh dưỡng trầm trọng. Trong cơn hấp hối, em mút những viên bi đủ màu mà ngỡ đó là những viên kẹo trái cây. Em đưa cho anh những “nắm cơm” mà thật ra chỉ làm bằng đá. Em chết mà chưa kịp ăn bữa cơm do anh nấu vội. Một người nông dân cho anh vật liệu để anh thiêu xác em. Anh đặt một ít tro tàn của em vào chiếc lon kẹo trái cây và mang theo bên mình, cho đến khi anh cũng chết vì đói lạnh tại một nhà ga xe lửa. Chỉ có một chút vui ở cuối phim, là cảnh hai anh em họ, đúng ra là hai linh hồn, không còn rách rưới, không còn đói khát, ngồi bên nhau trên thiên đường và nhìn xuống quang cảnh một thành phố Kobe tráng lệ thời hiện đại.
 
Ôi! Người Nhật không bao giờ quên quá khứ, cho nên họ nâng niu trân trọng những viên kẹo đường.
 
5
 
Bây giờ đây, khi nước Nhật đang trải qua một tai họa khủng khiếp gồm cả động đất, sóng thần và hạt nhân, tôi nghe trái tim tôi đau đớn như đứng trước nỗi bất hạnh của người thân. Vâng, tôi yêu đất nước mặt trời mọc đó, đất nước của những con người siêng năng và giàu lòng tự trọng. Là đất nước chứa chan những bài hát hòa bình vì đã từng trải qua đau thương từ chiến tranh. Là đất nước hứng chịu thiên tai triền miên. Thật xót xa khi nghe một nhà khoa học đã nói: “Trái đất của chúng ta chịu một áp lực khủng khiếp từ trong lòng đất, nó phải bung ra ở một nơi nào đó. Và… nó đã bung ra tại Nhật Bản. Khi Nhật Bản gánh chịu đại nạn này, phần còn lại của thế giới đã được an toàn hơn!!!”
 
Tôi vẫn thấy mình còn nợ đất nước đó một cái gì! Một món nợ tình cảm thật thiêng liêng. Và cả thế giới cũng có món nợ đó. Thế giới đã học được ở người dân Nhật Bản tính can cường chống chọi với khó khăn trong tai họa, sự chịu đựng nghịch cảnh và tinh thần thượng tôn luật pháp. Trên cả những điều đó, là tấm lòng nhân ái, hy sinh. Họ nuốt nỗi đau của riêng mình vào tận trong sâu thẳm của tâm hồn để an ủi người khác, để cùng đối diện với hậu quả tang thương. Và nếu cần, họ cũng sẽ can đảm hy sinh để cho người khác được sống an toàn.
 
Trong những lúc dán mắt lên màn hình TV tìm kiếm, tôi như đã bắt gặp vô số những em gái Aika, em gái hao hao giống tôi như người chị em của kiếp nào. Em đang bước trên đống đổ nát, tìm kiếm người thân, tìm kiếm những vật dụng hay đồ kỷ niệm của gia đình. Đôi mắt em tròn quá tròn! Tôi cũng đã bắt gặp nhiều lắm, những Masayuki đang ra sức dọn dẹp những mảnh vỡ nhà cửa, những bùn đất di tích của làn sóng dữ để lại. Anh không phải đi Nepal. Nơi mảnh đất của tổ tiên anh, anh đã đắc đạo.
 
Cô giáo Taylor Anderson, cư dân của Virginia Hoa Kỳ, đến Nhật Bản dạy Anh văn trong ba năm tại các trường tiểu học của thành phố Ishinomaki, tỉnh Miyagi, một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất ở phía đông bắc Nhật Bản. Người ta nhìn thấy cô Taylor lần cuối ngay sau khi động đất ngày 11 tháng 3 năm 2011 xảy ra, cô đã nán lại để giao hết học sinh vào tay cha mẹ các em rồi mới yên tâm lên xe đạp chạy đi. Cô đã hy sinh trong trận sóng thần. Còn bao nhiêu người nữa đã đến Nhật Bản đóng góp và sẻ chia. Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ và những cơ quan từ thiện khác cũng sẽ làm nhiệm vụ nhân đạo, giúp đỡ cho người Nhật Bản. Dưới mái nhà chung, trên nền đất chung là trái đất này, số phận chúng ta gắn liền với nhau như trong một vòng tròn sinh tử. Nếu tin là con người có nhiều “kiếp”, tôi sẽ tưởng tượng trong một kiếp nào đó có thể tôi đã từng mang thân phận một người phụ nữ chưa hề được nhìn thấy trọn vẹn ánh ban mai vì từ đầu đến chân bị che kín, chưa hề được bước chân đến trường hay vào rạp hát. Cũng có thể ở một kiếp nào tôi sẽ là em bé Phi châu lem luốc sống trong một bộ tộc ít ai biết tới, ngày ngày chơi đùa với bầy thú trên sa mạc. Một kiếp nào nữa tôi và em Aika sẽ là hai chị em ruột trong một mái gia đình. Tôi cầu nguyện cho linh hồn của những người bị sóng thần cuốn trôi ra biển một ngày nào đó sẽ trở lại làm người dân sống trên mảnh đất xinh đẹp của họ, nhìn thấy một đất nước Nhật Bản rực rỡ tốt đẹp và an lành hơn nhiều. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho một Nhật Bản luôn luôn mạnh mẽ, và cho tất cả những người trên thế giới này được có một trái đất bình yên.
 
 
 
CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH   
 
 

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

CÁI ÔM - Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh


1

Mẹ ngồi xem lại những tấm hình, những đoạn phim quay lúc đi chơi. Mẹ cười thích thú.

“Chỗ này vui quá! Đông người, nghẹt thở luôn, nhưng mà Mẹ thích lắm! Mai mốt cho Mẹ đi lại chỗ này đi con!”

“Dạ.”

An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.

An có giải thích cho Mẹ, nhưng chỉ đơn giản, ngắn gọn thôi, không muốn khiến Mẹ lo lắng. Rằng lúc này mình không nên đi ra đường nhiều, nhất là người có tuổi như Mẹ, để tránh bị mắc bệnh. Rằng cái con virus này mới toanh, chưa có thuốc chữa, cũng chưa có thuốc ngừa. Rằng con virus này có thể truyền bệnh từ người sang người, do những giọt li ti bắn ra khi người ta ho hay hắt hơi. Rằng ngay cả thở vào nhau cũng có thể truyền những con virus này. Thế thôi! Nói như vậy chỉ để Mẹ yên tâm mà ở trong nhà, không bị buồn.

Mẹ nói Mẹ cũng có đầy kinh nghiệm về những con vật tí hon dễ sợ như thế. Mẹ nói sợ nhất là con vi trùng thương hàn. Mẹ nhắc về ngày xưa, khi Mẹ ở tuổi mới lớn, mắc bệnh thương hàn, nặng đến nỗi tóc tai rụng hết, mình mẩy trơ xương. Mẹ nhắc về những con virus làm cháu của Mẹ bị bệnh sốt xuất huyết, bị sốt bại liệt… Mẹ sợ đến nỗi ngày đêm cầu Trời khấn Phật cứu giùm các cháu.

Từ ngày Mẹ yếu đến nỗi di chuyển trong nhà cần có người theo một bên, phải dùng đến cái walker, Mẹ ít khi phải nghe những chuyện bệnh tật. Đó là vì không ai muốn Mẹ phải nghe. Tránh được thì tránh, không thì phải thật đơn giản, càng ít càng tốt.

“An này! Hai tuần nay không thấy anh chị đưa các cháu đến chơi.”

“Dạ, Mẹ, mình đang phải theo lệnh ở yên trong nhà.”

Mẹ thở dài:

“Ừ há! Mẹ quên. Vậy bao giờ Mẹ mới gặp tụi nhỏ?”

“Chắc cũng không lâu đâu Mẹ! Mình ráng chờ.”

An biết cho đến khi nào có vaccine để ngừa bệnh thì lúc đó mới thật sự yên tâm. Trong nhiều ngày nữa chưa chắc Mẹ sẽ được gặp các cháu. Mọi người dùng điện thoại để liên lạc. May mà có phương tiện này!

“Mẹ ơi, lúc này mình ít ra ngoài, Mẹ gọi điện thoại thăm mấy cô bác đi! Chắc họ cũng thích trò chuyện lắm đó!”

“Ừ nhỉ! Chắc họ cũng buồn vì không được đi đâu cả.”

Thế là Mẹ bắt điện thoại gọi cho mấy bà bạn. Những câu chuyện vui khiến Mẹ cười khanh khách. Nhưng cũng có lúc nét mặt của Mẹ trầm tư, Mẹ ngồi lặng yên không nói. Đến tối, khi thấy An hết việc rồi, Mẹ kể:

“Bác Hai, bác ấy nói là thấy buồn lắm, vì anh của bác ấy vào bệnh viện, mà người nhà không ai được vào theo, không được thăm, chỉ có thể nói chuyện qua điện thoại. Anh của bác ấy sắp mất rồi, mà bác ấy không làm gì được. Rồi thì như nhiều người khác, ông anh sẽ chết cô đơn trong bệnh viện.”

An dọn cơm ra chiếc bàn thấp cho Mẹ. Mẹ vẫn ngồi trên giường, xoay người ra để ăn cơm. An chạy ra khá xa, vừa dọn dẹp vừa nói chuyện với Mẹ. Mẹ hỏi:

“Sao con không ăn cơm luôn?”

“Mẹ ăn trước đi, con làm chút chuyện rồi ăn.”

Mẹ có vẻ không vui. Thường ngày hai mẹ con cùng ăn cơm với nhau, hôm nay Mẹ lại phải ăn một mình. Thấy Mẹ giằm giằm cái muỗng trong chén, An bật cười, giải thích:

“Mẹ à, từ nay con phải đứng xa Mẹ một chút, vì con là người chăm sóc Mẹ, mà con lại còn phải ra đường đi mua thức ăn và các thứ cần thiết. Con có thể đang mang mầm bệnh mà không hay, lỡ con lây cho Mẹ thì khổ. Nhưng ngoài con ra thì không ai có thể thay con ở bên cạnh Mẹ. Vậy Mẹ chịu khó…”

“Mẹ hiểu rồi! Con nói phải. Mẹ hiểu mà!”

Ban đêm, Mẹ ngủ ngon, nhưng An lại trằn trọc. Những lúc ngủ không được, An thường chạy vào giường Mẹ, chui tọt vào chăn, ôm lấy Mẹ và ngủ được ngay. Nay thì không. Hai mẹ con hứa với nhau “giữ khoảng cách an toàn” như mọi người. Được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Và giữ như vậy sẽ giúp Mẹ “làm quen” với kiểu cách mới này, sẽ không trách móc khi mấy đứa cháu đến nhà mà không ôm hôn bà như trước.


2

Buổi sáng, Mẹ ở trong phòng tắm rất lâu. An rón rén đi vào, thấy Mẹ đang rửa tay. Mẹ nói:

“Bạn của Mẹ bảo phải rửa tay cho đúng cách, ít nhất 20 giây con ạ!”

An phì cười:

“Dạ phải. Con cũng định nói với Mẹ như vậy.”

“Ừ, có như vậy mình mới không bị bệnh. Mẹ sợ bị bệnh lắm!”

Mẹ tự đi ra với cái walker, không cho An giúp. Mẹ nói:

“Con cứ ở cách xa Mẹ sáu feet, để khỏi bị bệnh.”

An trố mắt:

“Mẹ biết chuyện này nữa?”

“Mẹ biết chứ! Coi TV thì biết. Mà bạn của Mẹ cũng nói vậy.”

“Dạ. Mẹ thật cẩn thận!”

An dọn bữa ăn sáng cho Mẹ. Mẹ nhìn các thứ trên bàn, lắc đầu:

“Thời buổi này mua sắm khó khăn, mình ăn tiện tặn lại con à!”

“Dạ. Thế này là quá tiện tặn rồi đó Mẹ!”

“Ừ… Con này! Tự nhiên Mẹ nhớ lại cái thời người ta phải dè sẻn mọi thứ. Gạo không có mà ăn, phải ăn độn. Rồi thì ai đến chơi nhà bạn hay nhà bà con, muốn ở lại ăn cơm thì phải đem theo phần gạo cho chính mình, nghĩ mà thương. Bây giờ không phải là không có tiền, mà là có tiền nhưng không mua được đầy đủ như ý mình muốn… Rồi thì… ở yên trong nhà, nhà ai nấy ở, cái gì mà “cách ly”, giống như giới nghiêm vậy, thật không khác gì thời chiến tranh. Nhưng mà… lại không giống. Thời chiến tranh, người ta còn tới nhà nhau, thăm nhau được. Bây giờ không ai tới nhà ai. Gặp nhau, lại phải đứng cách nhau 6 feet. Lạ quá!”

Mẹ nói từ từ, từ từ, nói xong thì cũng vừa hết phần ăn sáng. Mẹ nhìn ra cửa. An biết Mẹ đang nhớ giờ ra đường. Mẹ vốn yếu ớt nên mấy hôm nay An không muốn cho Mẹ ra ngoài. An mở máy cho Mẹ tập theo bài thể dục nhẹ nhàng. Xem ra Mẹ cũng muốn tập dần với những điều khác thường nhưng đang trở thành bình thường. Nhà một mẹ một con, An cũng nhắc mình phải tập dần. Dù muốn hay không, cũng phải công nhận rằng mình đang sống trong cái thế giới “ảo” nhiều hơn thật. Làm việc online, đặt hàng online, gặp nhau online… Đôi khi, anh chị ghé nhà An cho chút quà, hoặc đi chợ mua lặt vặt giùm An, chỉ đến trước cửa đặt giỏ xuống, có thấy nhau thì cũng phải đứng xa nhau 6 feet, chào nhau rồi đi. Cứ như là ai cũng sợ rằng chỉ cần tỏ tình thương mến qua những câu nói dông dài sẽ đủ khiến cả nhà con virus bay theo hơi thở mà vào mũi người kia. Nghe có vẻ như đùa mà dễ thành sự thật lắm, cho nên ai cũng tuân thủ nguyên tắc “social distancing.”

Mở những trang tin, những email các nơi gửi về, tràn ngập biết bao điều chia sẻ. Một bạn kể rằng ngay cả người trong cùng một nhà cũng giữ khoảng cách an toàn. Giờ cơm, mỗi người tự bới cơm, ngồi ăn ở các góc xa nhau. Hơi tếu một chút, chị nói hai vợ chồng chị lo sợ quá nhưng không muốn ngủ riêng, sợ bị buồn, nên thỏa thuận nằm ngược đầu nhau. Hai vợ chồng cuối cùng tự thấy mình vô lý, cùng cười xòa công nhận với nhau: nằm ngược đầu vô ích, trừ khi ai cũng có chiều cao 6 feet.

Một bạn tâm sự về nỗi khó khăn của mình khi đối diện với những câu hỏi của đứa con năm tuổi: “Vậy con không được cho ai ôm nữa sao?” Bé nói mà ánh mắt rưng rưng. Cha mẹ của bé phải giải thích một hồi, và cuối cùng lại ôm bé vào lòng để bé thôi tỉ tê.

Một ông anh, suốt mấy năm trời hàng ngày nấu thức ăn Việt mang vào nursing home cho vợ, nay không được cho vào. Anh vẫn mỗi ngày đội giá rét đến trước cổng nursing home, nhìn vào, rồi ra về.

Một bạn khác nói về nỗi ray rứt của mình khi nhớ cha mẹ già ở Việt Nam, biết bao giờ mới được bay về thăm cha mẹ?

Một bạn nữa nói rằng có người thân qua đời nhưng không thể đến dự đám tang, đành chia buồn với nhau trên internet.

An não lòng khi nghe một người quen của mình chào vĩnh biệt người nhà qua facetime, một người bạn đi sinh con một mình vì ngay cả chồng của chị cũng không được theo cùng. Và ngay lúc này, hiện ra trên màn hình computer, là câu chuyện một bà mẹ vội vàng trùm hết cả người cô con gái y tá một tấm trải giường, chỉ để ôm lấy con trong phút giây ngắn ngủi cô ghé nhà rồi lại đi tới tuyến đầu chống bệnh.

Khi càng ngày tin tức về những vùng dịch trầm trọng càng đến dồn dập, An tự nhắc mình đừng bao giờ đứng về một thái cực nào. Không sợ hãi hoảng hốt, mà cũng không thờ ơ lạc quan giả tạo. Dịch bệnh đang hoành hành, bao nhiêu mạng sống đã mất đi, bao nhiêu người đang hy sinh ở tuyến đầu, đó là sự thật. Con virus này không chừa một ai, từ ông thủ tướng, ông nghị sĩ, đến người bác sĩ, y tá, cảnh sát, quân nhân, người buôn bán, học sinh sinh viên… Con virus này không phân biệt tuổi tác, nam nữ, giàu nghèo, tôn giáo, màu da. Sức mạnh của nó còn hơn cả thiên tai, hơn cả chiến tranh!


3

Lần xong chuỗi hạt, Mẹ nhắc An:

“Con đi ngủ đi! Con làm việc nhiều quá!”

“Dạ, Mẹ ngủ trước đi! Con sắp xong rồi.”

“Con đừng để bị bệnh nghen!”

An giật mình. Trước giờ Mẹ vẫn coi An là một người trẻ trung khỏe mạnh.

“Dạ không, con không dễ bị bệnh đâu!”

“Con đừng tự tin quá! Chưa có vaccine ngừa cái con virus này đâu con!”

“Dạ con biết. Bao giờ có, mình sẽ thật sự an tâm ha Mẹ!”

An lắc đầu, tắc lưỡi. Phục Mẹ quá! Mẹ bây giờ quan tâm đến nhiều thứ hơn mình tưởng. Rất may là Mẹ có cái thế giới bạn bè của Mẹ, chuyện trò với nhau qua điện thoại mỗi ngày. Như vậy cũng hay, mình không phải giải thích nhiều. Thật ra có nhiều bậc cao niên rất cần sự giải thích của con cháu, vì họ sẽ rất ngỡ ngàng khi gặp những điều bất thường trong sinh hoạt hàng ngày. Không được giải thích, họ sẽ tưởng con cháu không thương họ hoặc xa lánh họ. Họ cũng rất mỏng manh và nhạy cảm như những em bé.

Mẹ ngủ được một lát rồi bắt đầu rục rịch. An nghĩ có lẽ ánh đèn bên ngoài hắt vào khiến Mẹ khó ngủ. Vậy mình cũng nên tắt đèn đi ngủ thôi! An nằm ở phòng sách, kế phòng Mẹ. Nằm một lát thì chính An bắt đầu rục rịch. Cảm giác gì lạ mà quen quá! À, hóa ra là thấy thiếu thiếu một cái gì. Trước đây, khi chưa có dịch bệnh này, mỗi đêm An thường ôm Mẹ, hôn hai bên má của Mẹ, rồi Mẹ hôn lại. Hai mẹ con chúc nhau ngủ ngon. Nửa đêm, những khi ngủ không được, An thường chạy vào giường Mẹ, chui tọt vào chăn, ôm lấy Mẹ và ngủ được ngay.
 
An đứng lên, ngần ngại. Nhưng rồi An kéo hộc tủ lấy ra một chiếc mask. An mỉm cười. Cái này được gọi là chiếc “khẩu trang” đây! An mang “khẩu trang” vào, và rón rén đi vào phòng Mẹ. Mẹ nói khẽ:
“Con lại đây!”

“Dạ.”

An ngồi lên giường của Mẹ, cảm thấy khao khát muốn chui vào tấm chăn của Mẹ. Cái mà hai mẹ con đang cần bây giờ là cái ôm thân quen mỗi ngày. Mẹ lấy từ trong chiếc túi ở đầu giường một cái mask khác. Mẹ nói:

“Chờ Mẹ một chút.”

Mẹ mang mask vào, nhanh nhẹn như một cô y tá. Mẹ cười:

“Con thấy Mẹ giỏi không?”

“Mẹ là giỏi nhất!”

An ôm lấy Mẹ, ôm lấy thân hình gầy gò của Mẹ, nhưng hồ như cảm nhận được dòng sữa chảy dạt dào từ thân Mẹ truyền qua cho mình, ấm, rất ấm…


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh   
Mùa Phục Sinh 2020           

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

CÂY GIÁNG SINH TÌNH YÊU


Ba nhắc tôi:
 - Mặc nhiều áo vào con ạ! Trời lạnh lắm đó!
 - Dạ.
 Tôi “dạ” rồi lẳng lặng vào lấy thêm áo khoác. Hai cha con ra xe. Như một công việc quá quen thuộc hàng ngày, Ba đưa tôi đến trường. Trường học chỉ cách nhà tôi ba “block”, nhưng Ba vẫn đưa tôi đi, Ba không muốn tôi phải co ro trong tiết trời lạnh lẽo này nếu tôi đi bộ.
Đến trường, hai cha con nói “Bye” với nhau thật ngắn gọn. Ba lái xe đi. Mười tiếng đồng hồ nữa tôi mới gặp lại Ba. Bỗng nhiên hôm nay tôi dừng lại một chút ở cổng trường, ngoái nhìn theo Ba. Tôi không kịp thấy gì ngoài cái đuôi xe màu xám bạc. Rồi tôi liên tưởng đến màu trắng xám trên mái tóc của Ba. Một cách không cố ý, hai bàn tay của tôi nắm chặt lại. Tôi nghe tiếng thở dài của mình. Tôi bước theo đám học sinh, vào trường.
Giờ ăn trưa, trong khi các bạn xúm xít với nhau bàn chuyện lễ Giáng Sinh, tôi lặng lẽ đến ngồi ở một góc vắng. Tôi phải len lén chứ không thì chẳng yên thân với tụi nhóc. Thật ra thì khi tôi học hành, vui chơi cùng các bạn, tôi cũng là một cô học trò linh hoạt lắm. Nhưng khi ngồi yên tĩnh một mình, tôi như sống bằng một phần già dặn của chính tôi. Mấy đứa bạn thân không cần tinh ý gì cả cũng biết là tôi buồn vì không được sống gần mẹ. Nhưng tụi nó không muốn nói nhiều về điều đó nên thường để tôi một mình khi thấy tôi cần như thế. Dù sao, ở cái tuổi mười lăm như chúng tôi đây, cũng đã mang một chút gì “người lớn” trong cách suy nghĩ và xử sự.
Nhưng tôi còn có Ba. Ba cũng thương tôi lắm, chăm sóc tôi không thua một ông bố nào mà tôi biết. Ba đưa đón tôi đi học, giúp tôi làm bài, chở tôi đi chơi, đi mua sắm, thật như kiêm luôn cả phần việc của một người mẹ nữa. May là tôi cũng đã lớn, chứ không thì còn được Ba bồng bế, dỗ dành và ru ngủ nữa. Tôi cảm nhận được hết cái tình trìu mến của Ba. Tôi không đòi hỏi gì hơn. Nhưng tôi thấy rất rõ, giữa Ba và tôi vẫn có một khoảng cách. Vì tôi là con gái chăng? Không đúng. Mà có lẽ cái khoảng cách ấy chính là sự thiếu vắng của Mẹ.
Ở trường chúng tôi ăn cùng một thực đơn như nhau. Những thức ăn nhà trường cung cấp là quá đủ cho chúng tôi. Nhưng bạn tôi hầu như ai cũng có một chút gì mẹ chuẩn bị cho đem theo ăn thêm. Tôi thì không. Đó cũng là điểm khác biệt. Có khi tôi cũng được chia những thức ăn “phụ trội” đó. Tôi thưởng thức mà không suy nghĩ. Nhưng cũng có khi vì đó mà buồn.
Bữa ăn tối, thường thì hai cha con cùng nhau nấu nướng. Nhưng có những lúc tôi sắp thi, ba tôi lại giành nấu một mình. Có khi lười quá Ba lại lái xe ra ngoài để mua “cơm chỉ”. Mà ở đây lại là “cơm chỉ” của Mỹ. Mấy món ăn của tiệm “cơm chỉ” cũng ngon nhưng nhiều chất béo quá. Tôi là con gái nên sợ béo. Tôi không dám chê, nhưng hay len lén nhìn Ba. Tôi thấy Ba không lộ vẻ gì, nhưng khen thì Ba cũng không khen.
Đêm thì hai cha con hai phòng sát bên nhau nhưng tôi thường đi ngủ trước. Ba ngồi làm việc hay xem ti-vi một mình rồi Ba đi ngủ hồi nào tôi không hay. Và đó là xong một ngày của hai cha con. Cuộc sống có vẻ đơn điệu quá phải không?
***
Chiều nay tôi đi bộ về một mình vì Ba tôi làm thêm giờ. Tôi đi một đoạn ngắn với nhỏ Tina rồi chúng tôi chia tay ở trước nhà nó. Đi đến chỗ cây sồi to, tôi dừng lại và giật mình khi nhớ đến một chuyện đã khá lâu rồi, khi tôi mới bốn tuổi. Lúc đó Ba đi làm xa nên Mẹ là người đón tôi. Tôi được ngồi trong xe ấm áp nhưng tôi lại đưa mắt thèm thuồng nhìn các bạn đi bộ ngoài đường. Tôi buột miệng hỏi Mẹ:
- Mẹ ơi! Sao mẹ không cho con đi một mình như các bạn ấy?
Mẹ cười:
- Nhà các bạn ấy ở gần hơn nhà mình. Có bạn thì cha mẹ đi làm hết nên bạn đi một mình. Con sung sướng có mẹ đưa đón mà con không vui sao?
- Con… con cũng thích đi bộ một mình giống như các bạn.
Mẹ lắc đầu:
- Con xem bạn Dalena kìa! Nó phải đi một mình vì mẹ nó mất rồi!
Tôi im lặng. Bỗng tôi lẩm bẩm thật nhỏ tưởng mẹ không nghe:
- Bạn ấy vậy mà sướng!
Nhưng Chúa ơi! Mẹ lại nghe rất rõ. Mẹ lái xe tấp vội vàng vào ven đường, nơi có cây sồi to tướng này. Mẹ thắng xe “két” một cái nghe chói tai, rồi Mẹ đưa hai tay ôm lấy đầu. Mẹ khóc nức nghẹn không thành tiếng. Tôi hoảng sợ, bật khóc theo và xin lỗi mẹ rối rít. Sau này, tôi có dịp tâm sự cùng cô giáo dạy môn English, tôi được cô cho biết là có rất nhiều bạn nhỏ cùng suy nghĩ như tôi vì muốn chứng tỏ mình độc lập. Cô khuyên tôi đừng buồn. Nhưng tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ lại chuyện ấy và có tâm trạng mình đã làm lỗi với mẹ.
Tôi rẽ vào cái ngõ cụt của nhà tôi. Hai cha con, hai chìa khóa riêng, tôi không phải lo. Tôi nhìn một lượt vòng quanh những nhà hàng xóm, cảm thấy không khí xung quanh có chút rộn ràng. Kìa! Đèn hoa và các vật trang trí trước những ngôi nhà đã đầy cả rồi!
Tôi mở khóa, bước vào nhà. Tôi đã quen với cái tĩnh mịch của căn nhà mình sống. Tôi quen dọn dẹp nhà cửa mỗi khi về đến, và nấu thức ăn cho hai cha con. Tôi dừng lại trước tủ lạnh, ngắm những tấm ảnh gia đình tôi đã đính thật nhiều trên cánh cửa bằng những miếng hình có nam châm đủ màu sắc lưu dấu những danh lam thắng cảnh. Như một thói quen không thể thiếu mỗi ngày, tôi mỉm cười chào những người trong hình: Ba, Mẹ và tôi.
***
Ba mang về một cây thông Giáng sinh. Đó là một cây thông giả. Nhà tôi đã bỏ hẳn lệ chưng cây thông thật từ khi tôi phát sinh chứng bệnh dị ứng với mùi nhựa thông. Cây thông giả của những năm trước, sau khi dùng đi dùng lại đã cũ nên Ba muốn mua cây mới. Khi Ba nhờ tôi phụ để lắp nó, tôi rất ngạc nhiên nhận ra đó là một cây thông có lá màu bạc. Toàn cây cũng là màu bạc. Tôi thắc mắc:
- Sao lại là màu bạc hở Ba?
- Đó là màu đặc biệt nhất đó con. Màu xanh thì mình đã biết từ bao lâu nay rồi!
- Nhưng con thấy cái cây thông màu bạc thì trông không vui.
- Ba sẽ trang trí những đốm tuyết trắng, rồi treo đèn kết hoa lên thì vui ngay.
- Con không thích. Thông là cây evergreen, làm sao mất màu xanh được? Con nghĩ nhà sản xuất cây này có tâm tính hơi khác thường, làm ra cái chuyện không đúng sự thật.
Ba nghe tôi chê thẳng thừng thì tỏ vẻ thất vọng. Nhưng Ba vẫn cố thuyết phục tôi:
- Con nhìn một lát sẽ thấy đẹp.
- Đẹp gì? Con nghĩ đó chỉ là tự ép buộc mình thôi. Con không quen nhìn màu bạc này trên một cái cây lẽ ra phải xanh.
- Con thật khó tính!
Nghe Ba nói hơi gắt, tôi bỗng khựng lại. Cảm giác khó chịu làm tôi bỏ đi vào bếp. Tôi nghĩ Ba không để ý đến con gái mình nghĩ gì, Ba “theo thời”, và chắc chắn là cái cây thông này phải mắc tiền hơn những cây thông “cổ điển” lâu nay.
Ba thấy tôi giận, nên đi vào gợi chuyện:
- Sao? Tối nay con gái cho Ba ăn món gì?
Tôi đáp nhẹ:
- Như mọi ngày thôi Ba!
- Vậy tốt rồi! Ba chỉ mong một ngày như mọi ngày.
Tôi kịp nghe tiếng Ba thở dài thật nhỏ. Tôi thấy hơi hối hận vì mình đã hờn mát với Ba. Tôi đang suy nghĩ một câu nói đùa để chọc Ba cười, thì có tiếng chuông điện thoại reo. Ba đi bắt máy. Tôi nghe loáng thoáng nhưng đoán được ngay điện thoại từ đâu. Ba nghe điện thoại xong, đến gần bên tôi, và không đợi tôi hỏi, Ba nói:
- Cô y tá nói Mẹ không còn đập phá, nhưng đã hai ngày nay bỏ ăn, không nói gì, chỉ ngồi ủ rủ trong một góc.
***
Mấy hôm nay buổi chiều tôi phải đi bộ về nhà một mình, vì Ba sau khi tan sở đã ghé bệnh viện thăm Mẹ, thật tối Ba mới về. Tôi cũng chuẩn bị cơm chờ Ba về rồi hai cha con cùng ăn. Tôi không thể thăm Mẹ hàng ngày như Ba được, mà phải chờ đến cuối tuần, vì Ba muốn tôi có đủ thời gian để làm bài. Mà đã bao năm nay vẫn là như vậy rồi. Chỉ khi nào Mẹ có những biểu hiện khác thường thì Ba mới vào thăm mỗi ngày, ngoài ra hai cha con chỉ vào thăm Mẹ mỗi cuối tuần. Thời gian đầu, khi Mẹ phải ở lại bệnh viện như một bệnh nhân nội trú, Ba như phát điên lên. Mãi sau, Ba đành phải chấp nhận sự thật: Mẹ không thể chung sống với gia đình như những người phụ nữ bình thường được nữa. Căn bệnh tâm thần của Mẹ đã quá nặng! Đứa con gái cần có người mẹ để chia xẻ, hướng dẫn và giúp đỡ nhiều nhất, đã phải chấp nhận sống xa mẹ. Vâng, tôi cũng đã phải chấp nhận sự thật đó. Cho đến bây giờ, tôi nhìn lại vẫn cảm thấy tủi thân ghê gớm. Ba là đàn ông, có thương con đến mấy cũng khó có thể hiểu thấu và chia sớt cùng con.
Tối nay tôi đã tận dụng thời gian Ba chưa về để làm xong bài tập Toán. Tôi được rảnh rồi! Chỉ còn chờ Ba về là ăn cơm thôi, cũng hơi trễ một chút nhưng hai cha con còn có thời gian để xem một phim gì đó trên ti-vi. A! Tôi bỗng thấy mình có việc làm, khi nhìn qua phòng khách, cây Giáng sinh chưa được trang hoàng gì cả. Ba quá bận rộn mà! Tôi sẽ làm cho Ba có chút ngạc nhiên chứ? Con gái Ba sẽ được khen là giỏi. Tôi tủm tỉm cười và đi sang đó. Trong khi soạn những hộp đựng đồ trang trí cho cây thông, tôi liếc nhìn qua góc làm việc của Ba, bỗng thấy trên bàn chiếc máy computer chưa tắt. Ba hẳn đã ngủ gà ngủ gật ở đây đêm hôm qua ư? Ba lại mê viết lách chi đây? Ba thật là người tham công tiếc việc! Từ bao lâu nay Ba vẫn mê công việc như thế. Phải tắt máy giùm Ba thôi. Tôi chạm nhẹ nút “enter”. Màn hình hiện lên một trang đang viết dở. Không phải là những khung tài liệu “excel” như thường lệ, mà toàn những chữ, như một bài văn. Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt tôi: “Anh rất ân hận…”
***
“Em! Anh rất ân hận vì đã không biết trân quý em. Mọi cái anh đều coi như chuyện đương nhiên là như vậy. Đến bây giờ, khi gặm nhấm nỗi nhớ ray rứt, đối diện với sự cô đơn, anh hiểu thế nào là sự thống khổ. Anh không dám để lộ cho con biết, dù với sự tinh tế của con, nó sẽ dễ dàng lắng nghe lời anh thố lộ.
Ngày trước, khi em mỗi tháng tay xách nách mang đi thăm nuôi anh, anh đã thương em biết bao! Mỗi lúc nhìn em quay lưng đi và chìm cái dáng gầy gò nhẫn nhục trong dòng người, anh ứa nước mắt tự nhủ “Nếu được trở về, tôi sẽ làm mọi cái để cho vợ tôi được hạnh phúc”.
Bao nhiêu gian nan rồi cũng vượt qua được một cách kỳ diệu. Sang bên này, mọi cái bỗng không được như mình nghĩ. Anh và em phải đi làm cật lực mới đủ sống. Mình đã không dám sinh con. Dù chưa đến nỗi như cảnh hai vợ chồng trong một câu chuyện mình đọc được trên báo: họ chỉ gặp nhau ở trạm xăng, khi người vợ làm ca đêm trở về và người chồng bắt đầu đi làm buổi sáng, nhưng anh và em cũng không có nhiều thời gian dành cho nhau. Khi anh chọn được một công việc vừa ý, hợp với khả năng của mình, anh đã đam mê công việc nhiều hơn là nghĩ đến em. Mỗi ngày mình trở về từ hãng, em lủi thủi làm bếp, và anh ngồi miệt mài với những giấy tờ của sở. Có hôm nghe tiếng em xuýt xoa vì bị dao cắt trúng tay, anh ngồi bên này hỏi vọng sang “Em có sao không?”, rồi nghe em trả lời “Không sao”, anh lại tiếp tục công việc của mình. Cho đến mấy ngày hôm sau, thấy em đi bác sĩ, anh mới biết là vết thương khá sâu trên ngón tay em bị làm độc. Ôi anh thật là hời hợt! Thế mà rồi đâu cũng vào đấy. Một lần đến chơi nhà bà con, em bưng tô phở nóng sôi bị vấp té. Anh thấy các bà các chị xúm lại giúp em, anh đã không theo em vào phòng để xem vết phỏng, và anh vẫn chén chú chén anh với mấy người đàn ông. Ngày qua ngày, anh càng tỏ ra là một người không quan tâm đến em khi anh quá ỷ lại vào những người xung quanh.
Những chuyện đó có người sẽ cho là rất nhỏ, nhưng trong nỗi ân hận của anh, chúng lại trở thành ray rứt vô cùng. Ôi, anh ước gì ngay bây giờ em đang có trước mặt anh để nghe anh xin lỗi. Anh đã phạm một tội lỗi mà chính anh không tha thứ cho mình, đó là anh đã quên mất căn bệnh của em. Ngày anh quen em, anh đã rất xót xa vì biết em mang một tâm bệnh. Phần vì em có mang một tính di truyền, trong dòng họ của em đã có người cậu bị bệnh tâm thần, phần vì em là một sinh viên rất đam mê học hành. Em đặt hết tâm trí vào việc học, em luôn muốn được đậu cao. Đậu cao! Hầu như cái thời của mình ai cũng mơ đậu cao. Nhưng em đã bị tác dụng của sự đam mê ấy làm mất quân bình. Cuối năm thứ nhất thi hỏng vài môn, em đã phát bệnh. Lúc đó em rất hiền, ngồi bên anh, em bảo em nghe có tiếng người nói thì thầm vào tai, có lúc như có một người khác đang “ở trong em”. Thế thôi! Người nhà đưa em đi chữa thuốc. Sau đó em yên ổn trở lại. Từ sau ngày cưới của mình, em đã như một người hoàn toàn khỏe mạnh…
Em! Một người nào đó đã nói: “Con người ta có thể dũng cảm đương đầu với những sự gian khó, nhưng lại không sống nổi với sự nhàm chán và cô đơn”. Có phải là trường hợp của em đó không? Em rất can trường nhưng em cũng rất yếu đuối. Em rất vững chãi nhưng em dễ ngã quỵ. Anh đã không nghĩ đến điều đó. Thời gian em mang thai, anh cũng không ngờ đến căn bệnh tiềm ẩn của em. Anh tưởng sống vui vẻ với nhau là đủ rồi, thật đơn giản. Ôi anh không thể tưởng tượng được, cái ngày đứa con gái xinh xắn của mình tròn năm tuổi là ngày bệnh của em tái phát. Em biết rõ như vậy nên em rất kềm chế mình. Những lúc em nổi cơn giận dữ thì anh lại không có bên cạnh. Anh ham mê công việc ở hãng và phó thác em cho người được Sở Xã hội gửi đến giúp. Em vì bệnh nên không thể tiếp tục đi làm, trong khi em là người dệt thật nhiều những ước mơ tốt đẹp về sự nghiệp. Điều này tác dụng y như việc trước kia em bị thi hỏng. Và bệnh của em ngày càng nặng thêm.
Mimi được năm tuổi thì mẹ lại phải xa con. Tình trạng của em quá tệ đến nỗi tất cả mọi người, từ bác sĩ đến người thân, đều khuyên anh đưa em vào ở trong bệnh viện để được điều trị thích hợp và cũng để giữ an toàn cho con. Anh không còn cách chọn lựa nào khác. Mỗi lần anh cùng Mimi vào thăm em, anh như thấy em đổi khác một chút. Em cũng trò chuyện, nói cười, nhưng đột nhiên em như chìm vào một cõi xa lạ nào chỉ có mình em biết. Và anh thường dắt con ra về trong một cảm giác hụt hẫng đau đớn. Có phải đó là sự trừng phạt Trời dành cho anh không hở em?
Mười năm qua anh sống trong một cảm giác vô cùng nuối tiếc những ngày chúng ta vui buồn có nhau. Anh cố gắng làm tất cả cho con của mình được sung sướng. Nhưng anh như người lính ra trận không có chiến hữu. Anh không thể tâm sự với em được nữa rồi! Những lúc vào thăm em, nói chuyện với em, anh chỉ là một người ngoại quốc. Có lúc em tỏ vẻ lắng nghe anh rồi bỗng cười phá lên và hỏi “anh nói cái gì?”… Em không còn có thời gian, không gian để chia xẻ cùng anh nữa.
Mấy hôm nay em đã trở bệnh thành một trạng thái khác, không còn khích động hung hăng. Anh vào thăm, thấy em ngồi im lìm trong góc phòng, hỏi gì cũng không nói. Bác sĩ cũng không hiểu em nghĩ gì. Nét mặt của em lạnh như một tảng băng. Là vì sao hở em? Anh muốn tảng băng đó phải được ấm lên. Làm thế nào đây? Anh tự hỏi và không có câu trả lời. Anh đã kiệt sức!”
***
Ba và tôi đã hoàn thành cây Giáng sinh kịp trước lễ. Không khí của đêm Chúa ra đời thật bình an tuy ngoài trời tuyết rơi nhiều. Xứ Lake Tahoe của tôi năm nay trời lạnh hơn mọi khi. Tôi chuẩn bị một vài món ăn cho tiệc “réveillon”, chữ này Ba bày tôi nói theo tiếng Pháp đó! Tôi biết làm các món ăn nhờ sưu tầm và học hỏi qua sách báo, internet và ti-vi, chứ tôi đâu được học ở mẹ như các bạn khác. Tôi bày tất cả thức ăn trên bàn, và ngồi chờ.
Ba về! Và có cả Mẹ nữa! Tôi đã hồi hộp chờ đợi giây phút này. Mẹ ngơ ngác nhìn quanh khắp nhà như đang đến một xứ lạ. Mẹ thờ thẫn nhìn tôi lúc này đang ôm lấy Mẹ. Tôi không cần biết Mẹ có nhận ra tôi là ai không nữa. Nhưng tôi biết rằng lòng tôi đang được ấm lên, rất ấm.
Ba đưa Mẹ vào phòng khách, dìu Mẹ ngồi xuống chiếc ghế tròn từ ngày nào vẫn là dành riêng cho Mẹ. Chiếc ghế này tôi cũng rất thích, vẫn thường thay Mẹ ngồi vào đó để cảm nhận cái sung sướng muốn cuộn mình ngủ vùi như một con mèo nhỏ. Mẹ tỏ vẻ hài lòng. Và Mẹ nhìn sang cây Giáng sinh. Đôi mắt của Mẹ bỗng sáng lên như có hồn. Mẹ lẩm bẩm:
- Cây thông! Cây thông… màu bạc! Ô, sao có cây thông màu bạc???
Ba bật khóc. Ba quỳ xuống bên cạnh Mẹ, nói với giọng xúc động:
- Phải, cây thông màu bạc. Em có nhớ gì không?
Mẹ lắc đầu. Ba nói trong sự nhẫn nại:
- Cây thông trên ngọn đồi gần Viện Pasteur Đà Lạt, em nhớ không? Năm đó, anh nghỉ phép về cưới em, mình được thêm mấy ngày để đi Đà Lạt. Mình đã tinh nghịch chạy lên ngọn đồi trước mặt Viện Pasteur để chặt cây thông con về làm cây Giáng sinh. Khi hai đứa khệ nệ mang đi, có người chạy theo cho biết là cảnh sát sẽ phạt những ai đốn chặt cây thông con, vì đó là điều cấm. Hai đứa hoảng hồn. Em nảy ra sáng kiến vào tiệm bán sơn mua một lon sơn. Hết sơn trắng để giả làm tuyết, mình đành mua lon sơn màu bạc, hai đứa thi nhau phết sơn lên cành cây. Thế là ra một cây thông màu bạc. Hì hục sơn xong, anh và em nhìn quanh thấy mọi người bu lại như coi hát xiệc. Trong số đó có một anh cảnh sát. Anh ấy lắc đầu, cười hai đứa mình già đầu mà dại như con nít. Thật không giống ai! Thế nhưng cây thông được bưng về tặng cho trường học vì mình đâu có nhà ở đó mà chưng. Thế rồi…
Ba đang nói huyên thuyên bỗng ngưng bặt, vì Mẹ đang cười thật giòn. Như có một phép lạ nào làm cho cả gương mặt của Mẹ sáng lên rạng rỡ. Mẹ thật đẹp như Mẹ trong những bức hình tôi ép vào sách để ngắm mỗi ngày. Ký ức của Mẹ có phần nào đã sống lại chăng? Tất cả những gì Ba vun đắp bấy lâu, bằng nỗi buồn phiền, thất vọng, nhớ nhung, ân hận, và tình yêu, đã được đền lại bằng phút giây này!
Giáng Sinh 2009
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh