Tâu hoàng thượng,
Ngày xưa, nước Ba Tư là một
nước giàu mạnh nhứt thế giới. Chính quốc đã rộng lớn lại thêm chư hầu đông đảo.
Mỗi chư hầu có một tiểu vương đứng đầu để cai trị muôn dân. Hằng năm họ phải
mang đồ đến triều cống nhà vua Ba Tư.
Vua xứ Ba Tư là một ông vua
trong sạch, thẳng thắn, nhân đức. Ngoài ra, vua còn có tài đánh trận, dẹp chư
hầu, mang lại yên vui cho dân chúng. Vì vậy mà các chư hầu và dân chúng nước Ba
Tư đều một lòng tôn kính nhà vua.
Vua Ba Tư có cả thẩy một
trăm người vợ. Ngoài ra, còn có thêm ba bốn trăm nàng cung nữ.
Mỗi bà vợ của nhà vua đều
được ở riêng mỗi cung, lầu son gác tía, tiền bạc rất nhiều, lại có nữ nô, nữ tỳ
để sai bảo và một tên thái giám chăm sóc.
Hằng năm, các chư hầu thường
đem đến dâng vua vài ba mỹ nữ.
Tuy sống trong cảnh sung
sướng đầy đủ như vậy, nhưng nhà vua lúc nào cũng có vẻ sầu thảm.
Cũng chỉ vì hương sắc đầy
cung mà ngài vẫn hiếm hoi chưa có mụn con nào.
Những kẻ tâm phúc của nhà
vua đã thấu hiểu rõ nỗi buồn đó nên ngày đêm bày những trò vui giải trí để mong
cho nhà vua bớt niềm lo lắng.
Nhưng than ôi! Làm sao mà có
thể lấp kín được mối sầu to lớn của vị đế vương kia, khi mà trong cung không có
tiếng trẻ khóc.
Nhà vua đã khấn xin thượng
đế, mở kho bố thí cho dân nghèo, nhưng tất cả đều vô hiệu. Rồi dần dần, nhà vua
buồn chán thêm, ngài sống biệt lập và không lo gì đến việc triều đình. Bá quan
văn võ thấy tình trạng như vậy thì rất lo sợ.
Một bữa kia, có một người
ngoại quốc mang theo một đứa nô lệ gái tới xin bệ kiến.
Nhà vua truyền lệnh cho vào.
Người ngoại quốc quỳ mọp dưới đất, tán tụng công đức của nhà vua một hồi lâu
rồi tâu:
- Tâu bệ hạ, kẻ hèn này là
người ngoại quốc, trộm nghe bệ hạ đang có chuyện buồn rầu trong lòng. Kẻ hèn có
thể xin làm nguôi được nỗi buồn của bệ hạ chăng?
Nhà vua hỏi:
- Khanh có cách nào để làm
vui lòng trẫm?
- Tâu bệ hạ, hạ thần xin
dâng bệ hạ một nàng nô lệ có sắc đẹp tuyệt trần. So với các mỹ nhân của bệ hạ
từ trước đến nay thì không ai có thể sánh kịp.
Nhà vua nghe người ngoại
quốc nói như vậy thì hỏi:
- Nàng nô lệ của khanh đẹp
như thế nào?
- Tâu bệ hạ, ngoài nhan sắc
hiếm có trên đời này, nàng còn rất thông minh, tính tình thùy mị, đoan trang.
Nhà vua liền truyền cho dẫn
nàng nô lệ vào.
Người ngoại quốc được lệnh
bước ra ngoài. Lát sau, chàng ta dẫn theo một thiếu nữ dáng đi uyển chuyển,
thân hình nẩy nở, trên mặt có che một chiếc khăn the.
Nhà vua ngồi trên ngai vàng,
tuy chưa nhìn rõ mặt thiếu nữ, nhưng cũng lấy làm vừa ý. Ngài quay sang hỏi
người ngoại quốc:
- Nhà ngươi đòi giá bao
nhiêu?
- Thần đâu dám. Với một ông
vua nhân đức như bệ hạ, không bao giờ hạ thần dám ngã giá, dầu cho thần đã mua
tới mấy ngàn nén vàng, không kể đến công trình tìm kiếm. Nay thần chỉ xin dâng
bệ hạ để giúp cho bệ hạ vui thôi.
Nhà vua suy nghĩ một hồi rồi
nói:
- Nhưng ta không muốn nhà
ngươi từ xa xôi đến đây chịu thiệt thòi để chiều ý ta như vậy. Bây giờ ta trả
cho nhà ngươi mười nghìn nén vàng, nhà ngươi có cho là quá ít ỏi không?
- Muôn tâu, kẻ hèn này đâu
dám nghĩ thế. Nhưng nếu bệ hạ ban ơn, kẻ hèn này cũng không dám chối từ. Thần
sẽ ca tụng đức cao cả của bệ hạ suốt đời.
Nhà vua vội truyền lấy mười
nghìn nén vàng và trao cho người ngoại quốc. Ngài còn ban thêm cho y chiếc áo
gấm có thêu kim tuyến.
Người ngoại quốc quỳ xuống
cảm tạ, đoạn lui ra.
Kinh đô Ba Tư vốn nằm trên
một hòn đảo, nổi bật lên với nhiều lâu đài san sát. Nhà vua chọn cho mỹ nhân
một cung điện hướng ra biển cả, ngày đêm
sóng nước nhấp nhô, cảnh trời nước bao la thơ mộng.
Rồi ngài đưa mỹ nhân vào
điện ngọc, sai bọn thị nữ sửa soạn cho người đẹp thật lộng lẫy, trang sức bao
nhiêu thứ châu báu ngọc ngà để chờ giờ hội ngộ sân rồng.
Đúng ba hôm sau, vua Ba Tư
ngự đến.
Mỹ nữ đang ngồi một mình,
buồn rầu nhìn ra biển cả sóng bạc nhấp nhô, gió thổi rì rào, thì nghe tiếng
chân người bước vào. Nàng mơ hồ ngẩng lên, nhận ra đức vua. Đáng lý ra nàng
phải đứng dậy tiếp đón, nhưng trái lại, nàng vẫn điềm nhiên quay mặt về hướng
cũ.
Đức vua lấy làm lạ, đứng
nhìn sững một hồi. Nhưng rồi ngài không thể tỏ thái độ gì vì chao ôi! Vẻ đẹp
của nàng không làm sao mà tả hết được. Một vẻ đẹp ẩn giấu bên trong một nỗi
buồn thăm thẳm mà bấy lâu nay ngài chưa từng được nhìn thấy.
Nhà vua ngây người trước sắc
đẹp mỹ nhân, rồi mơ hồ nghĩ thầm:
- Tại sao trên thế gian này
lại có người đẹp như vậy. Nhưng hóa công sao quá éo le, lại không cho nàng biết
một chút lễ nghi. Ồ, hay là nàng sinh trưởng trong một nơi thôn quê hẻo lánh,
chưa bao giờ được học hỏi những phép tắc xã giao.
Nghĩ rồi, vua đến bên cạnh,
một tay đặt lên vai mỹ nhân. Nhưng tuyệt nhiên nàng vẫn im lặng, vẻ mặt sầu
muộn đến ơ thờ.
Sự im lặng đó làm cho vua
ngần ngại. Ngài hỏi nhẹ:
- Ái khanh! Ái khanh có thề
cho ta biết, cha mẹ khanh là ai? Ông trời đã ban cho khanh một nhan sắc diễm
tuyệt mà tai sao khanh lại mang một nỗi buồn sầu thảm? Hay tại vì khanh nhớ
nhà, nhớ quê hương?
Tiếng nhà vua êm đềm rót bên
tai nhưng giai nhân vẫn không hề cất tiếng nói, đôi mắt buồn vẫn xa xăm vời
vợi.
Đức vua vẫn tiếp tục:
- Khanh có biết như vậy là
khanh phụ lòng trẫm không? Khanh hãy nói đi, dù chỉ một lời thôi cũng đủ làm
cho tình yêu của trẫm sống dậy trong lòng. Khanh phải biết rằng, được một vị
hoàng đế Ba Tư sủng ái không phải là chuyện dễ. Hay trẫm không đủ tài làm tiêu
tan nỗi buồn của ái khanh? Ái khanh ơi! Ái khanh hãy nhìn lên và cười với trẫm
một tiếng xem sao?
Sự van nài của nhà vua vẫn
không làm xiêu lòng người đẹp. Chao ôi! Gương mặt xinh xắn kia vẫn như câm, như
điếc, vẫn không hề đáp lại sự thương mến của nhà vua.
Nhưng với ý nghĩ chinh phục
lòng người đẹp, nhà vua vẫn không nản. Ngài vỗ tay gọi bầy tì nữ đến dọn yến
tiệc lên. Mỹ nhân và nhà vua ngồi vào bàn.
Người đẹp hững hờ bước tới
đối diện với nhà vua. Rồi trong suốt buổi tiệc, bao nhiêu món ăn chính tay nhà
vua thân hành mời người đẹp với tất cả niềm quý mến.
Mỹ nữ ngồi, dáng dấp cử chỉ
rất phong lưu đài các. Điều đó chứng tỏ nàng là một vị vương giả, sống trong
cảnh vàng son. Nhưng tuyệt nhiên nàng vẫn không hề cất tiếng và không cả nhìn
đến nhà vua.
Tiệc tan, nàng tự đứng dậy
đi rửa tay. Trong khi ấy, nhà vua càng nghĩ càng lấy làm lạ.
Rất có thể là nàng câm
chăng. Trời ơi, nếu quả thế thì tạo hóa bất công thật. Nỡ bắt một giai nhân
tuyệt thế như vậy phải chịu thiệt thòi. Nhưng dù sao đi nữa thì tình yêu của ta
đối với nàng không thay đổi.
Ngài bèn gọi bọn tỳ nữ đến
hỏi nhỏ:
- Các ngươi săn sóc nàng có nhận thấy điều gì đáng
nói không?
Bọn tỳ nữ đáp:
- Muôn tâu thánh thượng, đã
ba hôm rồi, mặc cho chúng tôi tắm gội, trang điểm, nàng không hề nói một lời
nào cả. Chúng tôi đã đợi xem nàng có chê hay khen quần áo, hoặc sai bảo chúng
tôi điều chi. Nhưng tuyệt nhiên, nàng vẫn làm thinh không nói.
Nhà vua nghĩ rằng nàng có
điều gì sầu thảm chất chứa trong lòng. Có lẽ chỉ có những trò vui mới có thể
làm nàng bớt buồn đi được.
Nghĩ rồi, ngài bèn truyền
cho chọn một đoàn ca nhi, vũ nữ rất hay ngày ngày đến trước mặt nàng ca vũ giúp
vui.
Làm sao kể hết được những vũ
điệu, những trò vui, những câu hát mơ hồ, những trận cười chẩy nước mắt.
Giai nhân vẫn không thay đổi
thái độ, đôi mắt luôn luôn hướng về viển cả sâu thẳm.
Nhà vua cho là lạ lắm rồi,
song trước sắc đẹp của nàng, ngài vẫn không nản lòng.
Rồi những cuộc vui chấm dứt,
ca nhi ra về, bọn tỳ nữ vào phòng riêng, chỉ còn mình vua và mỹ nhân.
Đêm hôm ấy, nhà vua làm lễ
hợp cẩn cùng người đẹp.
Qua đến ngày hôm sau, khi
ánh bình minh ló dạng, nhà vua chỗi dậy, lòng rất hân hoan vì từ trước đến nay,
ngài đã từng chiêm ngưỡng bao nhiêu nhan sắc, nhưng vẫn chưa đậm đà bằng cuộc
ân ái đêm qua. Vì vậy, vua càng ngày càng đem lòng thương và quí mến mỹ nhân
hơn nữa.
Ngài còn tỏ lòng chung thủy
bằng cách cho các bà chánh cung, thứ phi cùng các nàng cung nữ được trở về quê
hương và cấp phát bạc tiền gấm vóc để họ được sống một cuộc đời nhàn hạ. Ngài
còn ra lệnh cho ai muốn đi lấy chồng tùy ý. Vỏn vẹn trong cung chỉ còn lại một
số cung nữ đã về già và mười bà mệnh phụ phu nhân có chồng để săn sóc người
đẹp.
Từ độ ấy trở đi, sau những
buổi họp triều, nhà vua thường dành thì giờ để gần gũi mỹ nhân, mặc dầu suốt
một năm trời nàng không hề nói năng dù chỉ là một tiếng thở dài.
Tình hai người như thế tưởng
chừng sẽ tàn phai theo năm tháng, nhưng trái lại, nhà vua đối với mỹ nhân vẫn
nồng nàn.
Rồi một buổi kia, ngài buồn
rầu nói:
- Ái khanh ơi! Tình yêu của
trẫm đối với ái khanh thiệt không ngòi bút nào tả xiết. Đã nhiều lần trẫm nói
với ái khanh, dù ái khanh không tin lời trẫm thì ái khanh cũng thấy rằng vì ái
khanh mà trẫm đã từ bỏ bao nhiêu cung nữ. Khanh hãy nói đi, trẫm nguyện ngàn
đời yêu khanh. Hơn một năm trời rồi khanh không hề cất tiếng nói cho sung sướng
lòng trẫm. Khanh ơi! Cuộc đời vương giả không người kế tự, lòng trẫm tưởng
chừng đã chết, trẫm không còn thiết gì đến bả vinh hoa. Ngày hôm nay gần khanh,
nỗi buồn của trẫm đã vơi đi quá nửa. Nhưng được ái khanh nói lên một tiếng, chỉ
một tiếng thôi, dù trẫm có nhắm mắt, trẫm cũng vui lòng.
Nét mặt mỹ nhân từ từ biến
đổi. Nàng bắt đầu mỉm cười. Nhà vua sung sướng quá, quì xuống nâng tay người
đẹp lên. Trong khi ấy, tiếng ngọc nhẹ nhàng, trong như pha lê, ríu rít như
chim:
- Tâu thánh thượng, thần
thiếp quả có lỗi rất nhiều. Chờ đợi đến giây phút ngày hôm nay, không riêng gì
bệ hạ, thần thiếp cũng buồn tủi, lo lắng. Đầu tiên, thiếp phải có lời tạ tội
với bệ hạ vì đã để bệ hạ suy nghĩ quá nhiều về thần thiếp. Thiếp cũng biết rằng
tình của bệ hạ đối với thiếp tưởng đến muôn đời cũng không sao đền đáp được.
Nhà vua ôm chầm lấy nàng,
ngắt lời:
- Thôi, khanh đừng nói nữa.
Trẫm yêu khanh không phải vì những ý tưởng được đền đáp như khanh nghĩ.
Nhưng người đẹp vẫn tiếp
tục:
- Còn một điều quan trọng và
quí báu mà thiếp phải chờ đến giờ nầy mới báo tin mừng cho bệ hạ: Nhờ hồng phúc
của bệ hạ, thượng đế sẽ ban cho bệ hạ một hoàng tử để nối nghiệp. Muôn tâu bệ
hạ, thiếp tưởng không có tin mừng này thì một đời thiếp sẽ giữ im lặng để sống
bên cạnh bệ hạ như một chiếc bóng. Và rồi đến một ngày, thiếp sẽ bị thải hồi
như những người khác. Hôm nay thì thiếp đã có đủ quyền thế để cất tiếng nói, vì
thiếp cũng thật tình yêu bệ hạ.
- Chao ôi! Sao mãi đến bây
giờ khanh mới cho trẫm được hưởng hạnh phúc đó? Trẫm sung sướng tưởng đến mê
loạn đi được. Ái khanh! Ái khanh cho trẫm một đứa con ư? Nhưng khanh khoan nói
gì, hãy chờ trẫm một lát.
Nói rồi, nhà vua hấp tấp đi
ra. Ngài đến Ngân lang điện gọi quan tổng lý đại thành truyền xuất một ngàn
đồng vàng làm lễ tạ ơn trời đất, lại truyền loan báo cho dân chúng biết tin
mừng.
Rồi nhà vua quay vào cầm tay
mỹ nhân âu yếm:
- Trẫm có chút việc phải ra
ngoài, khanh đừng giận. Bây giờ thì khanh hãy lần lượt kể cho trẫm biết tại sao suốt một năm trời
chung sống, khanh không hề nói cười. Chắc hẳn là phải có nguyên nhân, nhưng
trẫm không tài nào biết nổi.
Người đẹp buồn rầu nói:
- Muôn tâu thánh thượng,
thiếp nghĩ rằng bệ hạ không cần rõ cũng hiểu lòng thiếp lắm rồi. Mang thân làm
kẻ nô vong xa xứ sở, mất những nguồn yêu thương mà thiếp nghĩ muôn đời cũng
không tìm thấy được, hoàn cảnh ấy khiến lòng thiếp tơi bời không còn thiết gì
nữa. Thần thiếp lại là kẻ mang nặng sầu tư, làm sao mà vui được khi xa nhà, cha
mẹ, anh em, dấn thân làm nô lệ cho người ta? Cho nên thần thiếp không muốn nói
năng gì. Dám mong bệ hạ nhủ lòng thương mà bỏ qua cho.
Đức vua xúc cảm nói:
- Những lời ái khanh rất
phải. Nhưng làm nô lệ một vị quân vương như trẫm, trẫm coi khanh như một người
vợ mà khanh vẫn có ý tưởng buồn rầu sao?
- Tâu bệ hạ, thiếp nghĩ đã
là nô lệ thì trong hoàn cảnh nào cũng vẫn là đầy tớ người ta. Bởi vậy cho nên
nếu gặp được người chủ giàu sang, có uy quyền, lấy bề ngoài mà quên đi nỗi hờn
tủi bên trong, là những kẻ tầm thường không đáng bận tâm đến.
Nhà vua kinh ngạc hỏi:
- Vậy ra ái khanh là bậc
vương giả hay sao? Ái khanh hãy cho trẫm biết. Trẫm nóng ruột lắm rồi.
Mỹ nữ cười nhạt nhẽo nói:
- Thần thiếp không là người
đồng giới với bệ hạ.
Nhà vua sửng sốt nhìn người
đẹp, hỏi:
- Vậy ái khanh là tiên trên
trời?
- Tâu hoàng thượng, thiếp
không dám giấu, thiếp là công chúa thủy cung tên gọi Hải Đường. Cha thiếp là vị
quốc vương hùng mạnh trấn cứ miền Hải Đế. Phụ vương thiếp băng hà, nhường ngôi
cho anh thiếp là Nam Khê. Nhờ mẫu hậu của thiếp xưa kia là một công chúa nước
láng giềng cùng hợp với hoàng huynh chăm lo việc nước, nên nước nhà thái bình
thịnh trị. Không ngờ một ngày kia, quân thù mang binh mã đến đánh, chỉ vì muốn
thiếp làm hoàng hậu nhưng không thành. Quân thù trở mặt, anh thiếp và mẫu hậu
phải bỏ đi lánh nạn một nơi khác để chiêu mộ binh tướng.
Rồi một buổi, hoàng huynh
cho gọi thiếp vào nói:
- Anh không muốn cho em kết
hôn với một vị vương giả nào dưới thủy cung này cả. Với sắc đẹp của em, anh tin
rằng em sẽ lấy được một vị quân vương trên đất liền.
Nghe nói, thiếp bất mãn vô
cùng, nhưng vẫn dằn lòng nói:
- Tâu hoàng huynh, chúng ta
dòng dõi thủy tộc, đối với người trên mặt đất không một chút tương quan. Em
không nghĩ rằng người dưới biển kết duyên với người trên đất liền là bất chính,
nhưng vì muốn bảo thủ giống nòi, em không thể nghe lời hoàng huynh được.
Hai người nuôi hai ý tưởng
nên thiếp và hoàng huynh thường hay xung khắc nhau. Cuối cùng, thiếp phải lên
mặt đất, trú trên đảo Thủy Tiên.
Đảo Thủy Tiên là một đảo nhỏ,
hình tròn như mặt trăng, ở giữa Ấn Độ Dương. Quanh năm khỏi tỏa lê thê, từ xa
nhìn vào tựa như một cái mâm bằng bạc.
Trên đảo, có một chiếc hang
rộng và kín đáo, chung quanh có suối nước trong vắt. Dọc hai bên lối vào hang cây
cối sum suê, không thiếu gì.
Trong suốt thời gian sống ở
đó, ban ngày thiếp tìm trái cây ăn lót dạ, buổi tối vào hang đá nghỉ ngơi. Rồi
cho đến một hôm, vì thấy trong người mệt mỏi, thiếp ngủ thiếp đi trên một gốc
cây thì bỗng có một người đem bọn gia nhân đến bắt thiếp đem về nhà. Hắn muốn
ép thiếp làm vợ nhưng dụ mãi không được, hắn bèn bán cho người lái buôn nô lệ.
Rồi người này lại bán cho bệ hạ.
Nếu không được bệ hạ thương
tình mà tỏ ra đạo đức, thì có thể thiếp đã nhẩy xuống biển trở về quê quán.
Nhưng ngày nay thiếp đã có mang với bệ hạ, đó là mối dây liên lạc giữa thần thiếp
và bệ hạ suốt một đời. Hơn nữa, nếu hoàng huynh và mẫu hậu hay biết tin thì có
lẽ vui mừng khôn xiết, vì thiếp đã làm vừa lòng các người.
______________________________________________________________________
Còn tiếp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét