Thứ Năm, 17 tháng 7, 2025

NGHÌN NĂM BIẾT CÓ NGHÌN NĂM NỮA - Phạm Khánh Vũ

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
có khi tôi ngủ mà tôi biết
cũng có khi lòng tôi dửng dưng
buổi sáng mang thùng ra tưới đất
đất cười một nụ quá ung dung
 
cũng có khi lòng tôi rách rưới
buổi chiều mây khói tụ sau nhà
tôi nhớ người như tôi nhớ bóng
tôi đứng một mình tôi hát ca
 
có khi tôi thức tôi không biết
con mắt tròn xoe trông bóng đen 
vượn hú đâu mà nghe ảo não
tôi khóc vùi cùng nỗi êm đềm
 
có hôm mang vở lên trường học
tôi ngủ quên trời đất cay nồng
tôi mơ tôi bước ra đời sống
giật mình thức dậy hóa ra không
 
tháng ngày tôi xếp vào trong gối
tôi mộng hàng đêm rất tự nhiên
tôi bước trong đời không có thực
nên suốt đời chỉ thấy ưu phiền
 
khi tôi thong dong nằm nghe nhạc
tôi tưởng người ấm áp bên mình
nhạc ru từng nỗi buồn cao thấp
tôi ru người bằng mộng tinh anh
 
có hôm ra trước sân nhà vắng
tôi ngó trăng và trăng ngó tôi
một lúc tôi nghe đầu choáng váng
tôi khóc mà trăng cứ mỉm cười
 
Cứ uống cà phê là bỗng nhớ
tôi nằm chết ngất giữa tình say
tôi cười có lúc tôi không biết
cho nắng bò lên mỗi ngón tay
 
có lúc tôi ôm đầu tôi hát
tôi hát và tôi êm ái nghe
đời nhiều khi buồn như mây nổi
từ độ nào tim lạc lối về
 
nhiều lúc tôi bực mình muốn khóc
tôi hỏi tôi - này - hai mươi năm
bao nhiêu ngày tháng mòn trên tóc
chẳng lúc nào vui - cứ mãi buồn
 
có hôm tôi đứng bên bờ suối
nước trôi mà tôi thì đứng im
cành thông gió tạt còn nghiêng ngả
tôi đứng mình tôi rất tự nhiên
 
tôi cứ vô tình tôi không biết
tôi đứng mong manh giữa cuộc đời
lũ chim ngu dốt òa lên khóc
tôi ngã vào giòng nước chẩy xuôi
 
một ngày tôi đứng quay đầu lại
bên kia là rừng núi điệp trùng
bên này - cả đời tôi sóng vỗ
sóng vỗ nghìn năm rất dửng dưng
 
cả đời tôi buồn không dám nói
mà nói thì nào ai có nghe
những đêm mất ngủ nằm ôm gối
mơ trăng vàng lạnh bước sau hè
 
tôi ở giữa đời tôi lạc lõng
người bỏ đi rồi ai nữa đâu
tôi hái hoa vàng tôi khóc lóc
còn lại chút gì để nhớ nhau
 
có khi tôi gọi người rền rĩ
người ơi người xa biệt chốn nào
tháng ngày tôi chất vào trong bếp
tôi đốt cho lòng tôi bớt đau
 
tôi đi hiu quạnh trong đời sống
có ai về dìu lại bước chân
nghìn năm rồi có nghìn năm nữa
tôi vẫn ngồi ôm suốt căn phần
 
chắc rồi tôi chết tôi không biết
sớm mai này - xin chớ ai buồn
cho tôi hổ thẹn về với đất
tháng ngày còn lại ném sau lưng
 
                                 PHẠM KHÁNH VŨ
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 139, tuần lễ từ 5-7 đến 19-7-1974)
 
 
 

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2025

YÊU NGƯỜI, TA LÀM THƠ - Tôn Nữ Thu Dung


- Nè Hiển, thấy Nam Du ra sao?
 
- Có vẻ hay hay.
 
- Rõ hơn tí nữa.
 
- Nhỏ có khuôn mặt xinh.
 
- Tốt quá.
 
- Và cái miệng đẹp.
 
Bây giờ thì anh biết rõ ràng rồi, anh vừa yêu, vừa thương Nam Du. Bất ngờ và độc đáo quá. Vân Muội xưa rồi, Lam Sương đã trở thành quá vãng, chỉ có Nam Du, Nam Du, Nam Du. Cô bé ngộ nghĩnh, cô bé dễ thương. Chúa ơi, anh muốn khoe với tất cả mọi người rằng anh yêu Nam Du ghê gớm.
 
Dời nhà Hiển, anh phóng xe như bay như biến, chẳng để làm gì cả, chẳng để đến với ai, vì giờ này Nam Du nho nhỏ của anh đang ngồi bí xị trong bàn học với những điều lệ khó khăn cô bé tự đặt cho mình. Niềm vui trong anh vỡ ra như những con sóng nhỏ, những con sóng cứ vỗ về mãi trái tim anh. Tối nay, trời cũng đẹp chi lạ, những con đường rộn ràng xe cộ không còn làm anh nhăn mặt, những cô bé Nha trang bỗng dưng dễ thương như nhau - dĩ nhiên là cũng còn thua Nam Du của anh một chút. Ôi, Nam Du, Nam Du... cả cái tên cũng dễ thương nữa cơ trời ạ. Phải chi không phải là mùa thi của Nam Du, phải chi ngày 26-6 chỉ là giấc mộng thì chắc chắn anh sẽ bắt cóc Nam Du cùng lang thang với anh, chở Nam Du xuống nhà tên Hiển nghe hắn hát những bài quái đản mà hay vô kể, đưa Nam Du xuống phố để khoe với thiên hạ rằng Nam Du nho nhỏ xinh xinh. Phải chi Nam Du có ông bố hiền hiền một chút có lẽ anh sẽ đến thuê nhà Nam Du mất thôi. Những cái phải chi đó làm anh vui sống, làm anh hăng hái và làm anh hy vọng.
 
Yêu Nam Du. Anh nghĩ mãi cũng không thể hiểu được rằng mình yêu Nam Du hay thương Nam Du. Nam Du 17 tuổi, còn nhi đồng quá đi thôi, còn mê ngậm kẹo, còn mê uống sữa, còn sợ những con zéro tròn vo của ông thầy. Anh 27 tuổi, cảm thấy mình già nua ghê quá, anh đã ra đời, đã lăn lóc với nỗi khổ nỗi đau. Anh khác xa Nam Du nhiều quá, anh mê cái chất ngọt quyến rũ của tuổi trẻ, ghiền những hương vị the cay của khói đời và thèm những con zéro tròn trĩnh. Những đóa môi hôn đó. Cô bé Nam Du dễ thương ơi! Có lẽ anh chưa yêu Nam Du, yêu ai là phải nghĩ đến chuyện xây dựng lâu dài (một mái nhà tranh, hai quả tim vàng thì thơ mộng thật nhưng mà Nam Du đâu có chịu. Cô bé cứ thích đi xe hơi, ở nhà lầu kia, Chúa ạ!). Anh cũng biết chẳng bao giờ Nam Du thích hợp với những vai trò lẩm cẩm ấy. Nam Du chỉ là người tình bé nhỏ thôi, hơi cải lương một chút, nhưng đúng y như thế.
 
Người-tình-bé-nhỏ! Anh cứ gọi đại như vậy cho nó thơ mộng, dù rằng Nam Du chưa hề biết chút nào về những âm mưu hắc ám của anh. Để lôi kéo Nam Du vào trò chơi ấy, anh sắp sẵn một chương trình quyến rũ đại qui mô : Một lần đi Đại Lãnh, anh chụp một cái hình Nam Du ngồi trên cát, cái dáng bó gối nghinh nghinh thật là đặc biệt, anh sang 2 tấm và chỉ đưa cho Nam Du một, tấm kia anh cất kỹ vào ví và trong một lúc vô-tình-đầy-cố-ý, khi trả tiền cà phê, anh hơi dí sát vào mắt tên bạn. Hắn chộp ngay lấy : Ô, Nam Du đây nè. Anh cười bí mật, không thèm trả lời. Hắn càng sốt ruột hơn : Cô bé cho mày hả? Dĩ nhiên, không cho sao tao có.
 
Rồi, anh yên chí là hắn sẽ phao cái tin đó lên bạn bè ai cũng biết Nam Du và cái tin đó hẳn phải chấn động dư luận lắm. Nhưng đâu có hề chi phải không Nam Du? Anh cũng "được" lắm chứ bộ. Chỉ tội nghiệp cho những tên con trai theo Nam Du đâm ra thất vọng não nề. Cũng chẳng sao, vì nhờ thế chúng ta có thêm những văn thi sĩ nặng ký, làm giàu cho nền văn học nước nhà. Cũng ích quốc lợi dân chán, phải không Nam Du? Và, cũng tôi nghiệp cho Nam Du. Một hôm thấy vắng những đóa Ngọc Anh trên thành cửa ngõ, cô bé đã nói với anh:
 
- Tự nhiên mấy hôm nay Âu không đem Ngọc Anh đến nữa.
 
- Tại Nam Du, ai bảo em cứ lửng lơ, lơ lửng hắn phải đi tìm người khác chứ bộ.
 
Nam Du ngạc nhiên:
 
- Tìm người khác làm gì?
 
- Để yêu, bộ ai cũng phải chờ đợi em sao.
 
Nam Du giận lắm:
 
- Nếu biết hắn nghĩ như vậy Du đã vất hết hoa của hắn vào giỏ rác. Cứ tưởng hắn thấy Nam Du thích Ngọc Anh rồi đem đến chứ.
 
Chao ơi Nam Du bé con! Có ai điên khùng chiều theo ý thích của một cô bé xa lạ không đã chứ. Có ai hằng ngày đem hoa đến tặng cho một người mình không yêu? 
 
Vậy là nốc ao một tên cây si cổ thụ, anh nghĩ rằng phải hạ thêm vài ba tên nữa mới yên ổn ngủ trên chiến thắng vinh quang. Nhưng để đền bù thiệt hại cho Nam Du, anh thường ăn cắp những đóa hồng nhung bên nhà cô giáo Tâm đem tặng. Cái tên Âu ngu ngốc, ai lại tỏ tình bằng Ngọc Anh bao giờ đã chứ. Nhất là tỏ tình với một cô bé ngang như cua và nhi đồng quá sức. Anh khôn hơn hẳn, những đóa hồng nhung thắm, để anh nhớ lại ý nghĩa : À, hoa hồng tượng trưng cho tình yêu, màu sắc càng đậm tình yêu càng nồng nàn. Nhất anh rồi phải không Nam Du, khen anh đi cô bé. Rồi cô Tâm cũng nhìn thấy những cây hoa cưng quý bị hành hạ, cô xót ruột lắm, buổi tối cô xích con Louis cạnh đó ; khi anh lẻn vào, may nhờ quen biết, con vật chỉ hực hực lên mấy tiếng đánh hơi rồi im bặt, dầu có nghe, cô Tâm cũng chả dám ra, cô giáo chi mà nhát dễ sợ. Bữa nào anh phải làm ma dọa mới được. Nhưng một ngày nào đó, những cây hồng nhung sẽ hết hoa, anh lo lắm (sao anh ngu quá, không nghĩ ra những hàng hoa tươi đầy chợ). Quen Nam Du, anh hay nghĩ đến chuyện lâu dài, vì Nam Du còn bé xí. Anh xin cô giáo một nhánh về ươm. Sao mà anh giống cái ông nào trong bài thơ kia quá cỡ:
 
"anh nuôi một nhánh hồng
chăm từng bông hoa nở
anh ươm một chút tình
đầy trái tim vừa mở"
 
anh đang chăm từng nụ đó Nam Du, những đóa hoa như miệng cười xinh tuyệt của em, ôi Nam Du Nam Du Nam Du.
 
Nam Du có một nụ cười răng khểnh, anh thấy nụ cười La Joconde mím mím và kênh kiệu quá, nụ cười Nam Du tươi tắn hơn nhiều. Cô bé cười trông giòn như quả ổi, và anh là một tên rất thèm ăn ổi. Chao ơi! Nếu có tài, anh sẽ họa lại nét cười của Nam Du, chắc chắn anh sẽ trở thành triệu phú trong một thời gian rất ngắn. Chẳng cần phải nghiên cứu quyển "Làm thế nào để trở thành triệu phú" làm cái quái gì cho mệt. Điều đáng tiếc là anh không phải là họa sĩ, không phải là thi sĩ, không phải là nhạc sĩ, cũng không là bất cứ loại "sĩ" nào mà thiên hạ mến chuộng. Anh chỉ là ông thầy tầm thường dạy quốc văn cho những lớp 11 ban đêm, như thế có nản không chứ? À quên, còn một lần nữa anh chưa nói, rằng nếu Nam Du từ chối tình yêu của anh thì anh sẽ là một đạo sĩ suốt đời lang thang để tìm chân lý, chân lý yêu...
 
rằng xưa có gã từ quan
lên non tìm động hoa vàng ngủ say
 
Yêu Nam Du, anh làm được hai câu thơ trong giấc mơ chứ trên thực tế thì hai câu ấy mở đầu cho tập thơ "Động hoa vàng" của Phạm Thiên Thư đó, cô bé ạ. Và như thế, anh có được thiên hạ gọi là thi sĩ đâu!
 
Nam Du, sao Nam Du chỉ mới có 17 tuổi thôi hở em?
 
 
TÔN NỮ THU DUNG      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 132, tuần lễ từ 17-5 đến 24-5-1974)
 
 

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2025

NGÀY MAI TÌNH SẼ KHÓC - Hạt Cát


Khi ô-mai ngọt trên môi. Và khi em là nạn nhân tình người, là lúc trái yêu vừa nở nụ trên môi nàng và trên môi tôi. Là lúc tôi gặp nàng và nàng gặp tôi. Là lúc tim tôi rung động trước nàng và tim nàng rung động trước tôi. Nghĩa là lúc tôi yêu nàng và nàng yêu tôi. Là lúc xa nhau đã biết tương tư.
 
Tôi mới tương tư nàng, "người khu tị nạn". Nàng ở không xa tôi lắm mà tôi cứ ngỡ là đã xa. Bởi tôi vừa thoát khỏi một cơn mơ. Bây giờ tôi đã mơ mộng lắm. Và bây giờ tôi hết là thằng học trò thơ ngây và hồn nhiên như một thuở nào. Có một lúc tôi đã thầm cám ơn những rủi ro đã đẩy nàng tới gần tôi và bắt tôi phải gặp nàng rồi nhung nhớ nàng. Tôi không nhớ hết khuôn mặt xinh của nàng. Nhưng tôi nhớ rõ nụ cười buồn của nàng. Trong suốt trận banh chiều hôm đó tôi đã quên tất cả. Chiều hôm đó gió quay nghiêng trái đất và tôi thấy nhân loại nhỏ bé. Chỉ mình tôi trên đồng cỏ xanh hoang vắng với một nụ hồng mới nở. Tôi chơi bóng rổ. Tôi đã bắt và nhồi hằng ngàn quả bóng. Và quả bóng thương yêu đã đến với tôi thật bất ngờ. Tôi bắt gặp nàng nhìn tôi và nàng mỉm cười. Có lẽ lúc đó mặt tôi đỏ vì tôi thấy mặt nàng cũng đỏ. Rồi chiều cũng tắt cho tôi lạc mất linh hồn. Bây giờ tôi thích ra đường ngắm thiên hạ. Thiên hạ chiều nay thật vui. Tôi để mặc gót chân thương nhớ đưa bước. Tôi bước đi trên con đường dài xa tít. Cỏ dại bên đường ướt sương lạnh làm tôi nhớ da diết. Gió rung nhẹ cành thông cho lá rơi đầy trên tóc. Rồi gió lại thổi tóc tôi bay bay cho lá bỏ đi xa. Có lẽ lá về cuối đường. Ở cây thông cuối đường chắc có con chim nhỏ đang hát vui...
 
Rồi tôi đến cuối đường khi tôi không biết. Khu tị nạn trước mặt thật gần. Nàng! Nàng đang đứng trước cổng nhìn tôi, mỉm cười. Thật là tình cờ. Bước chân tôi hình như run rẩy. Thân xác tôi hình như nặng thêm.
 
- Anh ấy, thẩy banh hay ghê.
 
Tôi không biết sao tôi gặp quá nhiều tình cờ. Tôi mơ mộng lắm. Vì tôi đã có những giấc mơ lớn. Nhưng giấc mơ lớn của tôi đã hết là giấc mơ, nó là sự thực. Con chim cuối đường đang hót. Tôi như tan biến. Tôi tình cờ đỏ mặt làm nàng cũng đỏ mặt. Tim tôi đập loạn xạ. Tôi không dừng lại được. Tôi ngượng ngập:
 
- Hôm đó có đi xem?
 
Nàng gật đầu. Đôi mắt nàng mở rộng.
 
Và cuộc tình đã bắt đầu bằng một lời khen và một cái gật đầu. Cuộc tình đến. Cuộc tình đã xong phần nhập để. Rồi cuộc tình tiếp nối. Cuộc tình đi vào thân bài. Tôi yêu nàng. Nàng đã yêu tôi. Ngày mai tình sẽ tha thiết hơn. Ngày kia tình sẽ nồng nàn hơn. Tình đẹp lắm. Tình thơ mộng lắm. Tình lãng mạn lắm. Tình hẹn hò lắm. Tình êm đềm lắm. Tình thích chuyện trò lắm. Tình thích chọc giận nhau lắm. Rồi tình thích vỗ về nhau lắm. Tôi đã yêu nàng. Tình nàng dịu dàng như trời mây. Mây trong sáng, mây lơ thơ nắng hạ. Có lúc tình ngây ngất. Tình mê say với thương yêu nồng nàn. Có lúc tình giận. Trời nghiêng ngả. Cây cỏ ngủ phôi pha. Rồi tình được vuốt ve cho tình thêm nồng nàn. Tình ngủ say mơ.
 
Như có lần tôi nhìn nàng cười và nàng hỏi tôi:
 
- Sao cười?
 
- Cái mặt nó mỏi mệt, nó muốn tập thể dục. Ai cấm?
 
Tôi không nghe trả lời. Nàng bí. Nàng giận. Tôi quay lại nhìn. Và tôi bắt gặp đôi má phính phì to, đôi môi hồng chúm lại. Tôi bật cười.
 
- Mặt em đang tập thể dục.
 
Tôi liền nhận được một cái nguýt thật dài.
 
- Ai thèm tập.
 
- Em.
 
- Hồi nào?
 
- Mới.
 
Lại lặng im. Nàng lại bí. Nàng lại giận. Tôi cười ngây ngô, ngạo nghễ.
 
- Đừng nên tập quá. Xấu. Lâu lâu tập một lần thôi. Mới dễ thương.
 
- Mệt. Không thèm nói nữa.
 
- Chưa chắc. Rồi sẽ thèm nói.
 
Nàng lại nguýt tôi một cái tưởng như dài vô tận. Tuyệt vời. Nàng mà nguýt một lần nữa thì tôi chết ngay.
 
- Cứ tưởng người ta cần lắm. 
 
- Có thể lắm chứ.
 
- Không cần. Nhất định lần này không thèm nói nữa.
 
- Những lần trước vẫn thế mà cứ vẫn thèm nói.
 
- Lần này khác.
 
- Không khác.
 
- Nhất định khác. 
 
- Nhất định không khác.
 
- Mệt. Không thèm nói nữa.
 
Và nàng đã không nói nữa. Nàng khóc. Ngoan ngoãn, dễ thương và ngây thơ như nàng nói, nàng để nước mắt thay lời giận hờn. Tôi để mặc nàng khóc. Ngắm  người yêu khóc hờn dỗi đối với tôi là một cái thú dù có đôi khi là thú đau thương. Bởi nàng khóc dễ thương quá. Bởi nàng khóc đáng yêu quá. Cho nên nàng phải chịu thua cái tính bướng bỉnh kỳ cục của tôi. Nàng đành tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
 
- Cái mặt dễ ghét lắm.
 
- Dễ ghét thôi. Không đến nỗi lắm.
 
- Lắm.
 
- Không.
 
- Lắm.
 
- Chưa chắc. Vẫn có người không ghét được.
 
- Không thèm, dễ ghét.
 
Tôi vui với cuộc tình của tôi. Thật ngây thơ và thật đẹp. Và tôi cười với nàng.
 
- Ừ, em bé ngoan lắm.
 
Bây giờ, tôi với nàng đang sóng bước trên con đường cát dài xa tít. Cát ướt mềm hôn gót chân nhột nhạt, làm chân hai đứa quấn quít lấy nhau. Bờ biển buổi tối thật đẹp mà lạnh lùng quá. Gió thổi lạnh hồn hai đứa. Gió hôn mái tóc hai đứa. Gió hôn thiết tha quá, mái tóc hai đứa bay cao. Gió hôn nồng nàn quá, mái tóc quyến luyến. Lần cuối cùng đi bên nàng rồi thôi. Ngày mai nàng sẽ lên xe về với quê hương nàng. Ngày mai nàng về cho sống lại cuộc sống bình thường mà đã lãng quên. Còn ngày mai tôi ở lại với nhiều thiếu sót.
 
- Ngày mai em ra đi?
 
- Dạ, ngày mai em về.
 
Tôi đã hỏi câu đó cả chục lần và nàng đã trả lời câu đó cả chục lần. Phút chia ly tôi đã định nói thật nhiều để bây giờ không nói được gì. Chỉ có thế mà tôi với nàng đã đi dọc theo bãi biển hằng giờ. Và rồi cũng chỉ có thế. Ngôn ngữ tôi cạn ráo. Nàng im lặng. Tôi im lặng. Bởi có còn gì để nói nữa. Chỉ bất chợt, tôi và nàng cùng dừng lại và cùng quay lại nhìn đoạn đường đã đi qua, gót chân hai đứa đè lên nhau quấn quít chạy dài trên mặt cát. Nhìn mà hai đứa cùng xót thương cho những dấu chân ngày mai sẽ bị sóng cuốn đi. Hai đứa không đi nữa. Hai đứa quay lại nhìn nhau, thật lâu. Và nàng khóc.
 
Cuộc tình nào rồi cũng đi vào đoạn kết. Có đôi khi kết vui. Có đôi khi kết buồn. Có đôi khi kết nồng ấm như nắng hạ. Có đôi khi kết lạnh như sương đêm đọng trên đôi mắt người yêu. Và cuộc tình của tôi với nàng cũng đã đi vào đoạn kết. Nó không kết bằng một dấu chấm, nghĩa là sau đó không biết sẽ bắt đầu bằng một chữ hoa hay sẽ không còn gì. Nó chỉ vừa kết bằng một dấu phẩy, nghĩa là sau đó còn có một mệnh đề nối tiếp. Mà, biết đâu ngày mai tình sẽ khóc xót xa như nàng đang khóc xót xa. Ừ, biết đâu ngày mai tình sẽ khóc.
 
 
HẠT CÁT      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 139, tuần lễ từ 5-7 đến 19-7-1974)
 

Thứ Ba, 8 tháng 7, 2025

GIỌT NƯỚC MẮT TRÊN DƯƠNG CẦM - Vũ Hạnh


Hồi còn đang lang thang tìm việc ở Đô thành, tình cờ tôi được gặp một người bạn cũ mời dạy dương cầm cho con anh ta.
 
Từ đấy một tuần ba buổi, tôi đến nhà anh, một biệt thự xinh xắn nằm trong một khu vực yên tĩnh của thủ đô.
 
Tôi còn nhớ rõ những cảm giác vừa tươi sáng vừa mệt nhọc buổi ban đầu, khi qua khỏi cái cổng kiến trúc theo lối Nhật, sơn màu đỏ tươi, phủ đầy hoa tím, men theo những lối đi rắc đầy đá trắng nhỏ vụn, sào sạo dưới đế giầy đã mòn nhẵn, dọc theo những hàng cây kiểng xinh tươi, bước đến một căn phòng gọn gàng, quét vôi xanh nhạt, dành riêng cho những buổi dạy. Bao giờ cũng thế, vào nhà tôi đã gặp người học trò độc nhất của tôi ngồi chờ bên chiếc dương cầm. Đó là một em gái nhỏ, khoảng chín mười tuổi, tóc hoe vàng, cặp mắt dịu hiền, khuôn mặt thon thon mà màu da trắng xanh càng làm tăng thêm vẻ ốm yếu của một vóc dáng gầy gò. Em chăm chú nghe lời tôi giảng giải về những điều thường thức nhập môn, ngoan ngoãn như một người con nghe lời cha dạy và vẻ thành kính trong cử điệu của em khiến nhiều khi tôi có cảm tưởng là đang đứng trước một tín đồ mộ đạo. Em có một lối học tập siêng năng, đứng đắn, khó tìm thấy trong những em nhỏ cùng lứa tuổi non trẻ ấy. Vốn có một bản chất dễ cảm và một năng khiếu thông minh đặc biệt, em hoàn toàn thích ứng với âm nhạc, hình như em cũng cảm thấy, bằng một trực giác tự nhiên rằng đó là món ăn thiết yếu của đời em. Em học say mê, chăm chỉ, cần cù. Thực ra những nhận xét trên đây mãi về sau này tôi mới có dịp để tìm hiểu rõ ràng. Còn lúc đó, tôi chỉ nhìn thấy em một cách mơ hồ, bởi vì tôi không bao giờ chú tâm đến người học trò nhỏ bé trong lúc chạy việc tạm thời. Đôi khi tôi cũng hơi ngạc nhiên về sự tiến bộ mau lẹ của em, nhưng rồi mối ngạc nhiên ấy thoáng qua, nhường chỗ cho những nỗi lo lắng khác chi phối tâm hồn.
 
Vào những buổi dạy, trong khi người học trò nhỏ ôn lại những bài tập, tôi ngồi trên chiếc ghế tựa cửa sổ nghĩ ngợi lan man... Những âm thanh còn ngượng ngập, những nhịp điệu còn so le lúc ban đầu dội lên trong phòng, khuấy rộn ở lòng tôi bao nhiêu suy nghĩ băn khoăn. Những giờ dạy ấy đối với tôi chán nản làm sao! Cả cái khung cảnh sáng tươi bên ngoài cũng như êm dịu bên trong đều như xa lạ với tôi. Đôi khi tôi cảm thấy thấm thía sự lạc loài của mình trong một nếp sống sang trọng và tôi tự hỏi tại sao mình lại dạy nhạc ở một nơi đáng ghét thế này, một nơi mà mỗi viên gạch vuông, mỗi hòn sỏi trắng đều sạch sẽ như một cuộc sống không lo âu. Tôi ngước nhìn thời gian trôi chậm chạp bên cạnh cái xuân không phai tàn của cô gái Tàu lộng lẫy khoe duyên trên tấm lịch, rồi âm thầm, tôi làm lại bài toán nhỏ trong óc - một vài phép nhân đơn giản - để tổng kết cái số tiền hàng tháng thu lượm qua những buổi dạy buồn tẻ này. Số tiền nhỏ mọn kia tôi đã chán biết là bao nhiêu rồi, nhưng như thường lệ những tư tưởng của tôi, sau khi vơ vẩn lượn qua khắp nẻo, lại quay về với nó, hình như bao giờ tôi cũng phải nghĩ ngợi thêm về nó để tìm ra những chân lý mới của cuộc đời.
 
Nhưng đến lúc ý nghĩ lập lại cái vòng lẩn quẩn của sự chán nản tôi mới bắt đầu nhận thấy người học trò của tôi bé nhỏ quá, ốm yếu quá, khờ dại quá. Sao không phải là cô gái mười bảy, mười tám đương xuân, hơ hớ dậy thì, mà tiếng đàn sẽ làm rung chuyển cả tâm não. Hay là một nàng đã quá tuổi xuân đi tìm khuây lãng trong âm nhạc, cõi lòng đang còn thao thức những rung động sôi nổi mà tiếng đàn sẽ khêu gợi dậy chứ không thể làm cho im đi. Như thế, với cái khung cảnh êm dịu vắng vẻ này, tôi có thể tìm được cái hào hứng để ôn lại những bản đàn mê hoặc ngày xưa, dệt nên những mối tình thơ mộng, tìm một ý nghĩ cho cuộc sống bấp bênh này.
 
Tôi lo nghĩ ngợi như thế suốt buổi dạy, tìm sự thỏa mãn bằng hưởng thụ trong thế giới không tưởng, để rồi khi bước ra về, với tay lấy chiếc mũ đã cũ nhàu, nhìn thấy thời gian nặng nề và cô gái Tàu duyên dáng trên tấm lịch, tôi lại ngao ngán trên những lối đi sào sạo dưới gót giày mòn nhẵn.
 
Một buổi chiều, như thường lệ, tôi lại đến phòng dạy bên cạnh người học trò bé nhỏ độc nhất của tôi. Ngón đàn của em đã thạo và em bắt đầu tập đến những bản hòa điệu. Tôi sẽ cho em đi qua tất cả bài tập của sách và như thế tôi sẽ có rất nhiều những giờ phút thong thả nghỉ ngơi... Như thường lệ, sau khi treo chiếc mũ lên mắc, liếc nhìn thời gian và cô gái Tàu trên lịch, tôi lại trên mặt bàn vớ lấy quyển sách bọc bằng lớp giấy hồng tươi đặt ngay ngắn trước mặt em bé, vội vàng giở ra, lấy cây bút chì màu, gạch dấu treo bên gốc một bản hòa điệu ở một trang bên cạnh bài cũ.
 
Trong khi em bé bắt đầu đánh thức dậy những âm thanh của chiếc đàn trầm lặng thì tôi lại gần cửa sổ mơ màng...
 
Tôi không còn nhớ tôi ngồi như thế được bao lâu thì tiếng đàn dừng lại và giữa cái im lặng lạnh lùng của gian phòng tôi nghe tiếng khóc nức nở của em bé. Tôi quay lại hết sức ngạc nhiên nhìn thấy đầu em cúi xuống rung chuyển từng hồi cùng với đôi vai gầy gò, theo những tiếng nấc. Tôi cảm thấy khó chịu hết sức. Ngồi thẳng dậy, tôi hỏi:
 
- Ái, việc gì mà cháu khóc?
 
Em bé như muốn nén tiếng khóc, nhưng càng ép lòng em lại càng nức nở. Tôi đến gần, cảm thấy thương hại:
 
- Tại sao cháu không nói? Việc gì mà cháu khóc?
 
Em hơi ngửng đầu lên nhìn tôi, cặp mắt em mờ lệ, rồi lại cúi xuống. Sự im lặng càng khiến cho tôi muốn tìm hiểu. Tôi lại bắt đầu cảm thấy trách nhiệm của mình, tôi đến lay nhẹ vai em, cố hỏi một cách thân mật:
 
- Tại sao Ái lại khóc? Ai làm gì mà Ái khóc? Chú có la Ái lần nào đâu?
 
Bây giờ tuy em đã nín, nhưng tiếng ấm ức vẫn còn. Tôi đứng yên lặng bên em, trong lòng cảm thấy khó hiểu. Bao lâu này, trừ những câu nói giảng dạy và sai bảo cần thiết lặt vặt, tôi không quen nói chuyện với người học trò mà tôi xem như còn quá dại khờ. Tôi không hiểu được em với cái tâm trạng kỳ quặc này. Tôi cúi xuống, bảo:
 
- Thôi, cháu hãy đi xuống nhà rửa mặt rồi sẽ lên học.
 
Em bé ngoan ngoãn vâng lời. Tôi lại chiếc ghế, càng thấy bực dọc vì không thể tìm hiểu. Tôi cố gắng một cách phiền bực giải thích cái tâm trạng ấy và sau cùng kết luận rằng đấy là sự trái chứng của những trẻ con được nuông chiều và bệnh hoạn.
 
Một lát sau, Ái đã đi lên và ngồi lại cạnh đàn. Những nút bấm bắt đầu gợi lại âm thanh một cách dè dặt. Nhưng khi tiếng đàn đã dàn trải trong yên lặng dịu dàng của căn phòng thì những tiếng nức nở cũng hòa theo. Sau cùng tiếng đàn ngừng bặt, và đầu em gục xuống, hai tay gầy nhỏ bám lấy thành đàn.
 
Tôi vừa tự bảo: "Đấy, lại khóc rồi". Nhưng những sự trạng vừa qua tưởng như đã giúp tôi thấy được sự thực. Tôi lại gần, hỏi rất vội vàng:
 
- Có phải tiếng đàn làm cháu khóc không?
 
Em đáp lại trong nước mắt:
 
- Thưa chú, bản nhạc buồn quá...
 
Những tiếng nói thấm đầy nước mắt ấy thực đã làm tôi sững sờ. Những tiếng ấy xoáy mạnh trong lòng tôi như lướt qua những rung động cạn cợt để tìm sâu vào cái phần xúc cảm bên trong của một con người biết suy nghĩ. Trong một thoáng, tôi thấy tất cả sai lầm của việc tôi làm. Người học trò, bản nhạc, tiếng đàn đối với tôi từ lâu nay hết sức xa lạ. Trong khi người học trò của tôi đem hết tấm lòng thơ ngây vào bài học, vào nghệ thuật, thì tôi mắc bận tâm vào bao nhiêu cái nhỏ nhen của cuộc đời. Sao lại bắt em bé trong trắng phải chịu dày vò vì những tình cảm cách xa em không biết bao nhiêu chặng đường, những tình cảm mà em không thể hiểu biết, có thể đi cho đến trọn đời em không bao giờ tìm gặp, nếu sự sống ngày mai sẽ xóa bỏ được hết những u uất khổ đau đã hành hạ con người từ bao nhiêu thế kỷ. Chính cái sự dạy dỗ mua bán này đã bắt tôi đem tấm lòng vẩn đục để phủ nhận những sự thực lớn lao trước mắt. Tôi đã vì tự ái, vì ghét ghen, vì thành kiến, hoặc đã vì những hình thức lòe loẹt của cuộc đời lung lạc để không nghĩ đến cái nhiệm vụ thiêng liêng của một nhà giáo dục, của sự truyền cảm trong nghệ thuật, của một kẻ đàn anh đối với em nhỏ thơ ngây. Tôi bỗng ý thức được sự thấp kém của mình. Tiếng khóc như có phép bùa đã tước lột được cả cái bên ngoài biến đổi, che đậy, để lộ nguyên hình cái cá nhân ti tiểu trong tôi. Cô gái trên tấm lịch như vô duyên hẳn đi, và thời gian, và thời gian trên xếp giấy mỏng manh như quá sức vội vàng. Có lẽ nào con người thực của chúng ta phải được thúc đẩy bằng nước mắt để xây dựng tiếng cười, niềm vui cho tương lai.
 
Tôi rút cây viết chì mầu, gạch tréo lên tất cả bản nhạc rồi vuốt tóc người học trò nhỏ, ôn tồn tôi bảo:
 
- Thôi, chúng ta sẽ không dùng bản nhạc này nữa. Mỗi buổi chú sẽ chọn lọc bài nào hay hơn, vui hơn để cho cháu đàn. Hôm nay, chúng ta nghỉ sớm. Cháu lau nước mắt và ra ngoài chơi đi.
 
Tôi đứng nhìn em nhẹ nhàng ra khỏi dãy hiên và cảm thấy cả cái khối nặng nề của tòa nhà, cái khối bao la của cảnh vật bên ngoài như quá to lớn đối với cái vóc người bé nhỏ kia. Nhưng cả những khối ấy không bao giờ có thể làm hủy diệt cái thân hình mong manh kia được. Chính những cảm xúc buồn bã, sa đọa của cuộc đời do bàn tay của những kẻ tự gọi là hướng dẫn giáo dục, truyền bá nghệ thuật mới có thể bẻ gãy những tâm hồn như thế, những tâm hồn tốt đẹp có thể sẵn sàng rung động với bao nhiêu nhịp điệu lớn lao của cuộc đời.
 
Và, mãi đến bây giờ, mỗi lần nghĩ đến sự mua bán trong phạm vi giáo dục, nghệ thuật, tôi lại cảm thấy vô cùng xấu hổ vì những giọt nước mắt của người học trò nhỏ vẫn còn sáng lóng lánh trong hồn tôi, tỏa chiếu cái sự thực luôn đòi hỏi vươn cao lên của ý thức con người.
 
 
VŨ HẠNH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 63, tuần lễ từ 10-8 đến 17-8-1972)
 

Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2025

GIẤC MƠ CỦA RỪNG VÀ SUỐI - Nguyễn Thúy Ái


Tiểu Khê chạy băng băng ra khỏi ngõ và kéo chiếc khăn buộc ra khỏi mái tóc vất lên một bụi cây gần đấy. Buổi chiều đang đi dần vào hoàng hôn. Hôm nay trên dãy núi tây không có ráng chiều, màu vàng huy hoàng làm ửng hồng những phiến mây trắng và ửng hồng đôi má của bé Hạ Tuyền. Màu hỏa hoàng ấy tuy chói chang nhưng đẹp vô cùng. Có lúc Tiểu Khê đã đem màu ra pha và nhìn màu vàng ấy để pha cho đúng. Nhưng không bao giờ pha được cái màu sáng láng sống động ấy.
 
Hôm nay không gian hình như có màu tím rất nhạt, tuy bầu trời vẫn xanh, có lẽ do sự hiu quạnh và màu xanh của núi rừng đang sẫm bóng chiều nên Tiểu Khê cảm thấy như vậy. Đến bên bụi hoa cạnh lề một con đường mòn nhỏ, khóm hoa có những cành yếu mọc dày đan phủ trên một tảng đá, có hoa nở vào buổi chiều, những cánh hoa trắng nhỏ và hương thơm dịu dàng, Tiểu Khê ngồi xuống thảm cỏ bên cạnh, nghe gió đưa hương lùa vào tóc và tiếng cười trong trẻo của hai đứa em đùa với nhau. Chúng thường chơi với nhau và bỏ quên Tiểu Khê, bởi chúng nghịch và nhanh như những con sóc, Tiểu Khê không tài nào đuổi kịp.
 
Những hôm mới về, Tiểu Khê say mê đi dạo trong rừng và hái hoa, mỗi khi ra khỏi ngõ là Tiểu Khê trở về với cánh tay đầy hoa. Tiểu Khê cắm khắp các phòng trong nhà, đến nỗi mẹ phải ngán. Tiểu Khê thích thú vô cùng khi cắm xong một bình hoa, đứng ngây người ra ngắm, tâm hồn bỗng nhẹ như một phiến mây. Những lúc như thế, Tiểu Khê ước giá có mấy nhỏ bạn thì thật là tuyệt vời.
 
Nhớ ở lớp học đứa nào có một cành hoa là đứa khác năn nỉ xin hay đôi khi lấy ẩu. Tiểu Khê nhớ bạn quá đỗi vì chưa bao giờ thiếu bạn đến thế, Tiểu Khê đang có cả đồi hoa, còn bao nhiêu là con đồi, bao nhiêu là thảm cỏ xanh thênh thang. Và ơi, giòng suối trước nhà. Con suối mà ba vừa làm một chiếc cầu bắc qua đó, chiếc cầu dễ thương quá, khi ba vừa làm xong Tiểu Khê đứng xoa hai tay vào nhau và khen:
 
- Đẹp quá ba ơi, chiếc cầu như một giấc mơ, vươn qua giòng suối.
 
Có lúc Tiểu Khê ra ngồi trên cầu, thả hai chân xuống nước và nhìn những con tôm thấp thoáng trong mấy kẽ đá trắng. Chao ơi, giá mà có một đứa bạn lúc này, có ai nghĩ đến Tiểu Khê đang sống nơi núi đồi quạnh hiu này không?
 
Mẹ thì bận rộn với bao nhiêu việc trong nhà, ba thì thường đi với con ngựa của ba, hay đi săn. Lúc ở nhà thì ba đọc sách, làm việc, ngồi hút thuốc bên cửa sổ hay dạy hai đứa nhỏ học thêm. Ba chỉ hỏi Tiểu Khê rất ít vào mỗi tối về việc học, thầy cô, bạn bè. Giữa ba với mẹ Tiểu Khê thấy lạ nhất là hai người ít nói chuyện với nhau, chỉ nhìn và mỉm cười. Qua những vật kỷ niệm mà mẹ nâng niu giữ gìn, Tiểu Khê biết rằng ngày xưa ba mẹ đã có với nhau một cuộc tình tuyệt vời. Giữa những yêu thương dịu ngọt như thế mà Tiểu Khê vẫn mong có một người bạn vô cùng.
 
Buổi sáng thức dậy cho gà, chim ăn, giúp việc mẹ hay theo ba vào rừng. Nếu không thích thì ngồi ở nhà trong chiếc ghế mây bên cửa sổ đọc sách. Mỗi khi có một chiếc xe thổ mộ nào đi ngang qua, là Tiểu Khê giật mình và tưởng tượng ra, một bóng dáng thân yêu nào đó của bạn bè thấp thoáng trong xe, Tiểu Khê sẽ chạy ra đỡ xuống, hai đứa sẽ ôm nhau sau đó hãy nhận ra Nhiên hay Lê, Quỳnh, Phương Đông. Tiểu Khê đã bao lần sung sướng khi tưởng tượng ra như vậy và bao lần thất vọng nhìn chiếc xe đi thẳng, tiếng vó rung rung và mất hút.
 
Chỉ những buổi tối và những bữa ăn Tiểu Khê mới quên được nỗi nhớ mong này, vì những thương yêu đang vây quanh. Tiểu Khê ăn uống cười đùa với các em. Những thứ ba săn được và mẹ nấu thật ngon. Ba nói với mẹ : em cũng sáng tạo liên tục trong cách nấu ăn và trang trí nhà cửa.
 
Những lúc ấy thì mau qua hơn những buổi dằng dặc của những ngày hạ dài. Những sáng thức dậy lười lĩnh nằm trong phòng nghe chim hót, nghe tiếng nước đổ giữa sự im vắng của núi rừng. Tiểu Khê lại càng thích hát và kể chuyện cho mẹ nghe.
 
Đôi lúc có một vài người bạn của ba ghé qua, ở lại vài ngày, cùng ba đi săn và ban đêm thức nói chuyện thật khuya. Vui nhất là có người bạn từ ngày xưa của ba lẫn mẹ. Tiểu Khê thích thú ngồi theo trong một góc phòng nghe gợi lại những chuyện ngày còn trẻ, những lúc ấy Tiểu Khê thấy dường như ai cũng trẻ lại, nhất là mẹ, đôi khi mặt mẹ đỏ lên vì một mẩu chuyện. Tiểu Khê liên tưởng, trong tương lai, Tiểu Khê sẽ ngồi cùng bạn bè như thế trong căn phòng khách ấm cúng của sau này...
 
*
 
Tiểu Khê muốn đi ngược với chiều gió nên men dần theo con đường chính dẫn về thành phố, trong tay cầm một cành cây vừa hái bên đường, tóc bay lả tả. Tiểu Khê vừa đi vừa giữ tóc lại và hát vu vơ. Một tháng hạ đã trôi qua... Tiểu Khê cứ đi, thả ý tưởng theo những câu hát hòa trong gió chiều thoảng nhạt. Đã khá xa nhà, Tiểu Khê cũng hơi sợ nhưng chưa quay lại, đã yêu cảnh núi rừng này lắm rồi. Phía xa có tiếng xe độc mã trở về sớm hơn thường lệ. Xe có một người khách, Tiểu Khê hơi giật mình và tự nhủ, làm gì có bạn mình. Dáng ngồi có vẻ trẻ, cũng không thể là bạn của ba. Chiếc xe gần hơn, một cánh tay được vẫy ra, Tiểu Khê chưa kịp phản ứng gì dù là bằng ý tưởng, chiếc xe rẽ ngang đến, người khách nhảy xuống trước khi xe ngừng.
 
- Trời ơi, anh Phiên.
 
- Tiểu Khê, Tiểu Khê đi đón anh đó hả?
 
- Làm sao em biết, làm sao...
 
Tiểu Khê ngỡ ngàng khôn cùng.
 
Anh bảo người xà ích đánh xe đi trước và anh đi bộ về với Tiểu Khê.
 
Phiên là học trò cũ của ba - ba Tiểu Khê là một giáo viên - và là bạn của Tiểu Khê, không biết có thể gọi là bạn thân được không, thấy Tiểu Khê không có ai thân hơn anh và tuy anh học hơn Tiểu Khê nhiều lớp.
 
Phiên đỡ lấy cành hoa trên tay Tiểu Khê, im lặng một lúc rồi nói:
 
- Anh về đây chắc là thầy cô Tiểu Khê ngạc nhiên lắm nhỉ? Khi thi xong kỳ thi cuối năm trí óc thảnh thơi để nhìn lại một năm qua. Thêm một chứng chỉ, một mớ kiến thức, trong sinh hoạt bạn bè của anh thì cũng có nhiều điều vui. Nhưng rồi anh vẫn thấy anh là một kẻ du mục bơ vơ chưa tìm ra được bộ lạc, nên anh về đây mong được hưởng những ngày xuân trong mùa hạ này.
 
- Tiểu Khê vẫn thích câu thơ ấy lắm.
 
- Có thể suốt năm vẫn là mùa xuân Tiểu Khê nhỉ.
 
- Dạ. 
 
Anh mỉm cười thật ấm và mắt nhìn những núi đồi sâu trong bóng chiều.
 
Trước ngõ nhà, bên cạnh hành lý của Phiên, ba mẹ đang đứng hướng về phía hai dứa, Phiên đi nhanh trước đến chào.
 
Tiểu Khê mang đồ vào nhà. Trong khi anh ngồi nói chuyện với ba, mẹ đi làm đồ ăn. Tiểu Khê đi pha cho anh một ly sữa và đi dọn dẹp phòng, chọn cắm cho anh một loại hoa rừng mà Tiểu Khê thích nhất. Nghe tiếng Phiên nói với ba: "Về đây nhìn khung cảnh nơi đây con không hiểu sao con chịu đựng thành phố suốt năm một cách tốt đẹp". Ba bảo: "Có lẽ lúc đó con không phân tích nó, vả lại tuổi trẻ thì phải vậy". Ba hỏi về chuyện học hành của anh, hỏi thăm về những người học trò mà ba còn nhớ.
 
Phiên đi lại trong phòng xem những đồ vật, hỏi chuyện mẹ và hát thật tự nhiên, mẹ khen anh có giọng ấm, Tiểu Khê mỉm cười.
 
Sáng thức dậy thấy Phiên đi dạo trong vườn với ba. Trong khi ăn sáng ba bảo Phiên và Tiểu Khê nên đi chơi. Phiên nhìn Tiểu Khê, Tiểu Khê cười như không có ý kiến gì, chỉ vâng lời thôi. Tiểu Khê mặc áo dài màu trắng. Phiên nói như thế hay nhưng lại bất tiện lắm.
 
Anh mang theo một chiếc máy ảnh và một cái súng nhỏ, súng rất đơn giản, anh bảo súng này chỉ bắn được chim và những con thú nhỏ.
 
Anh kể chuyện những bạn bè của anh, những chuyện chưa có trong rừng mộng của Tiểu Khê và một ít ước mơ. Tiểu Khê hỏi phân khoa anh có nhiều con gái học không? Anh bảo ít thôi. Cả hai nói chuyện quên cả ngắm cảnh. Tiểu Khê lấy làm lạ, một người cao ngạo như anh mà lại cô đơn. Sao thế nhỉ?
 
Sau đó là mục chụp hình. Phiên nhảy lên những mô đá, trèo lên những cành cây để hái trái chất đầy chiếc lẵng mây của Tiểu Khê. Trưa về có được mấy con chim, anh nói, Tiểu Khê khá đấy chứ, đi bộ cả buổi sáng như thế mà vẫn tươi tỉnh.
 
Những buổi tối anh ngồi đánh cờ với ba hay ra hiên ngồi đàn hát, Tiểu Khê ngồi yên nghe hay đôi khi hát theo. Tiểu Khê bảo đêm thơm hơn một giòng sữa đó anh, Phiên cười nếu anh kể lại bạn bè anh nghe những điều nầy chắc họ không tin là thật. Có lần đi dạo trong vườn dưới một bầu trời sao huy hoàng Phiên nói:
 
- Tên Tiểu Khê diễn nôm có nghĩa suối nhỏ nhỉ. Để anh gọi Tiểu Khê là suối nhỏ. 
 
- Còn Phiên nghĩa là gì, chắc không hay đâu. Thôi để em gọi Phiên là Rừng.
 
- Tiểu Khê thấy anh có vẻ rừng rú lắm hả?
 
- Em nói rừng chứ đâu có rú. Phiên có vẻ âm ấm giống rừng núi.
 
Những hôm Phiên cưỡi ngựa đi săn một mình, Tiểu Khê thường ngồi trên bậc thềm, chờ ngựa tiến vào và ra đỡ những con chim anh săn được. Những hôm đẹp trời này ba cũng siêng làm việc. Có hôm giúp ba làm cái giàn để treo những giò lan hay làm những giàn rau cho mẹ, những việc này có vẻ hợp với Phiên lắm còn Tiểu Khê chỉ vì tính chất mộng mơ. Phiên xăn tay áo, Tiểu Khê cũng buộc mớ tóc lướt thướt lại, khu vườn trở nên nhộn nhịp vì Phiên và Tiểu Khê đều rất tếu. Những lúc đi hái quít, Tiểu Khê mang một cái đan bằng mây, Phiên bảo giống một sơn nữ và anh ca bài Sơn nữ ca.
 
Khi nói chuyện  về giòng suối trước nhà, Suối Tằm, Phiên hỏi giòng suối này phát nguyên từ đâu. Ba bảo cách đây khoảng ba cây số theo đường chim bay nhưng nếu đi bộ thì xa hơn. Phiên hứa hôm nào đi với Tiểu Khê đến nơi ấy. Hạ và Hào đòi đi theo, Tiểu Khê la, cho chị can đi không cõng em nổi đâu.
 
Buổi sáng đi thăm suối cả hai dậy rất sớm. Mẹ hơi lo, Phiên nói cô yên trí, con dám đánh lộn với cọp mà, nhưng phiền nỗi là ở đây chỉ có thú hiền thôi. Không khí còn ẩm sương, mùi hoa cỏ, mùi đất ngạt ngào trong sương sớm. Tiểu Khê vận đồ gọn, Phiên mang một chiếc Bêrê khiến Tiểu Khê nghĩ đến những nhân vật của thời kháng chiến, đến những bài thơ của Quang Dũng. Tiểu Khê đội một chiếc mũ rộng vành để che sương. Đi theo con đường mòn dọc bờ suối. Con đường thật "cỏ lan lối mục, rêu phong dấu tiều". Thỉnh thoảng gặp những con thú nhỏ như chồn, sóc, thỏ chạy ngang qua. Hay những con chim ngỡ ngàng vì tiếng huýt sáo của Phiên. Tiểu Khê cứ tiếc là nhìn nơi nầy thì bỏ sót nơi kia. Có khi nhìn mà không kịp ngắm. Ở thành phố mà có được một khoảng nhỏ nào bằng ở đây thì bạn bè sẽ cho rằng còn thiên đường hơn những thiên đường. Tiểu Khê tả những cảm giác cho Phiên nghe, anh bảo chúng ta y như những kẻ của thời sơ khai. Ngồi nghỉ chân bên một bờ cỏ, Phiên ngồi nhìn chung  quanh rồi chợt mở xách lấy ra một con dao đến một bụi cây gần đấy hì hục đào. Tiểu Khê mệt quá nên chẳng buồn đi theo, lát sau anh cầm lại một cái củ khá dài. Tiểu Khê hỏi anh định đem về làm thuốc đấy à. Anh nói, củ mài đấy, anh biết thứ nầy khi còn là một hướng đạo sinh, nó ngon lắm. Tiểu Khê chợt nhớ, ba kể một năm đói nào đó rất xa, khi còn thực dân Pháp, người ta lên rừng đào củ nầy để ăn.
 
Phiên ra suối lấy nước cho Tiểu Khê rồi sau đó tiếp tục con đường, gần trưa mà vẫn chưa tới, mặt Tiểu Khê đỏ dưới vành mũ, Phiên cũng vậy, anh đỏ bừng. Tiểu Khê nghĩ thầm, hai đứa như say rượu. Bỗng Phiên nhìn Tiểu Khê cười, chúng ta y hệt như những kẻ say. Dừng chân bên một bãi cỏ mượt dưới bóng cây, Tiểu Khê ngã ra cỏ, Phiên vất ba lô. Tiểu Khê đưa khăn tay cho anh lau mồ hôi. Giày được mở ra, Tiểu Khê đặt đôi chân đỏ và rát trên cỏ. Tiểu Khê mở xách và lần lượt dọn đồ ra. Chiếc khăn hơi giống màu cỏ, Tiểu Khê để bánh và nước. Phiên bảo đáng lẽ chúng ta phải tìm lấy thực phẩm thì mới hay, mới đáng gọi là hai kẻ của sơ khai. Rồi anh đi gom củi khô để làm bếp đốt củ.
 
Họ ăn trong khi củ đang chín, vì đói bụng nên củ cũng hết trơn. Phiên ngồi châm thuốc, mỗi khi anh hút thuốc, có một tư thế hơi ngạo nghễ mà ngày xưa Tiểu Khê rất ghét (nhưng bây giờ thì không). 
 
- Tiểu Khê hát đi.
 
- Tiểu Khê hát hết nổi rồi, để nhường cho mấy con chim.
 
Ngồi nghỉ, nhưng rồi Tiểu Khê cũng đứng dậy đi quanh những bụi cây gần đấy và hét lên khi trông thấy một ổ gà rừng. Phiên giật mình, chạy lại và nhặt lên.
 
Giòng suối hẹp dần, chảy len giữa hai bờ đá. Từ trên một ghềnh đá cao, một cái thác nhỏ chảy xuống. Phiên định leo lên để nhìn nhưng đá chồng chất với nhau trông ghê quá Tiểu Khê sợ, nên Phiên không leo. Thế là vẫn chưa biết được nơi phát nguyên thực thụ. Phiên đem máy ảnh ra chụp rồi sau đó họ cùng ngồi yên trên một bờ đá bên suối. Trông Phiên yên lặng, Tiểu Khê muốn biết anh nghĩ gì vô cùng. Lát sau thì Tiểu Khê cũng lục vào ý nghĩ riêng. Và cứ mải mê ngắm nhìn, nên khi Phiên nhắc đến giờ đi về hai chân Tiểu Khê cơ hồ mỏi ra. 
 
- Bây giờ để Tiểu Khê đi lại con đường anh cũng ngại quá.
 
Anh đi bên Tiểu Khê một lúc rồi chợt nghĩ ra:
 
- Bây giờ đi tìm một khúc chuối rừng.
 
Tiểu Khê mừng hết sức và cố đi nhanh theo anh.
 
Anh đốn chuối để nguyên cả ngọn kéo về cho tiện. Tiểu Khê giúp anh lôi chuối ra bờ suối, Phiên bảo khúc ghềnh thác nầy thì mới thả bè được. Anh tìm hai cành cây thẳng và dài, vót nhọn đóng xuyên qua những thân chuối nằm song song sát nhau và làm một mái chèo. Tiểu Khê bảo, làm cho một chiếc. Xong xuôi anh cười: Bây giờ cho Tiểu Khê hạ thủy con thuyền.
 
Tiểu Khê cười thật vang, giá có chai rượu anh nhỉ? Thuyền còn neo bến vì còn sớm. Tiểu Khê theo Phiên để anh đi tìm gà rừng. Khi xuống bè, mới đầu Tiểu Khê thật sợ vì nó cứ chao đi chao lại. Dần dần giòng suối bớt hẹp, con nước bình hơn nên bè trôi thong thả khỏi phải chèo. Có lúc Phiên dừng lại để Tiểu Khê hái một ít hoa lạ bên bờ suối. Suối có một loại rong xanh thật đẹp. Bè êm ả trôi, Phiên ơi, có phải chúng ta đang hưởng những ưu ái trong số những ân huệ mà con người còn có thể tìm được cho mình. Phiên nói với Tiểu Khê, bằng lời, bằng những đầm ấm vui tươi, bằng bóng chiều đọng lại trong mắt, đôi mắt ấm mà Tiểu Khê muốn thu mình trong đó. Tiểu Khê bỏ mũ xuống để cho tóc bay. Tiểu Khê yêu những cơn gió chiều vô cùng. Những giọt nước mắt thật ngọt ngào lăn ra. Tiểu Khê vội quay đi và hát một câu hát thật vui tươi trẻ thơ để Phiên khỏi nhận biết. Và chẳng bảo nhau, cả hai cùng nhìn lên bầu trời, nhìn những cánh chim trở về, nghe khúc nhạc dạo của rừng núi đêm bắt đầu tấu lên. Chiếc cầu bắc qua giòng suối trước nhà rõ dần. Ba mẹ đứng trước ngõ, hai đứa em ùa ra. Hạ Tuyền nhìn màu nắng rám trên mặt hai người và nói:
 
- Hai người trông lạ hoắc, y như lạc đến từ một hành tinh nào.
 
- Hạ có lối ví von hay quá, anh có lời khen.
 
- Hào cố xách mấy con gà. Ba thì thích thú với chiếc bè của Phiên làm. Hào bảo, bây giờ anh cho em chiếc bè nhé.
 
*
 
Phiên đưa Tiểu Khê vượt qua giấc mơ bắc ngang giòng suối. Ấy là hôm đi câu ở hồ Nai. Đi vòng qua ba con đồi nhỏ, có một vũng nước lớn nằm dưới chân đồi. Từ trên đồi nhìn xuống, hồ nước trông xa rõ mây trời và bóng một cây to đang nở hoa bên hồ. Hoa vàng nhỏ kết thành từng chùm. Phiên để đồ trên bờ và mắc mồi vào lưỡi câu. Tiểu Khê đi dạo quanh hồ rồi đến ngồi bên nhìn anh câu. Những đợt gió lùa qua, phấn hương trên cây hoa vàng đổ xuống đầu hai người nổi trên mặt nước. Rồi Tiểu Khê muốn để Phiên đấy với sự yên lặng của anh, đi dọc tìm những cọng cỏ kết thành một chiếc mũ và gắn hoa trên đó - Tiểu Khê đang nằm trên cỏ làm thì Phiên đến, anh gọi là chiếc vương miện, đỡ lên đội cho Tiểu Khê rồi chống gót giày quay một vòng trở lại tiếp tục câu. Những ngày ở thành phố, đi chơi với bạn Tiểu Khê vẫn thường lén mọi người tìm đến một nơi vắng để được một mình. Tiểu Khê vẫn yêu vô cùng những quạnh hiu quanh mình tuy đôi lúc sự quạnh hiu cũng làm cho Tiểu Khê chảy nước mắt. Những ngày cô đơn đó, buổi sáng đi học trên con đường rộng thênh thang, đi nép sát bên lề và chợt thấy mình bé bỏng và cần một sự che chở nào đó. Những hôm ít bận rộn với bài vở, Tiểu Khê đi tìm một nơi vắng để ngồi với những mộng mơ, với hân hoan đầy hồn hay nước mắt ướt tóc ướt tay. Những nỗi buồn mà nguyên nhân mơ hồ cũng chiếm trong hồn Tiểu Khê khá bền... Tiểu Khê ngồi nghĩ miên man và hát, những lời ca rất đẹp và bi thảm, xúc động tỏa nhẹ trong tim và đôi mắt bỗng ướt. Phiên đã đứng bên từ lúc nào, vẫn cái vẻ trầm-tư-hăng-hái.
 
*
 
Buổi sáng sương sa nhiều, vẫn đi bên nhau không nói năng.
 
- Chừng nào anh đi nhỉ?
 
- Ngày mai.
 
Tiểu Khê nói, thật thản nhiên và giọng đầy dỗi hờn:
 
- Anh đã ngán nơi nầy?
 
- Không phải vậy...
 
- ...
 
- Tiểu Khê, sao anh không hợp với sự an lành, dù sự an lành đó thật đẹp, đủ những gì anh yêu thích. Anh nghĩ điều đó sau nầy sẽ khiến anh trở thành một kẻ phiêu bạt.
 
Buổi sáng Phiên đi nắng vui, trời xanh và dáng Phiên rồi khuất sau những dáng núi.
 
 
NGUYỄN THÚY ÁI      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 110, tuần lễ từ 12-7 đến 19-7-1973)
 

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025

CÒN MỘT ĐỜI ĐỂ XA NHAU - Hoài Diễm Từ


- Hắn có nét mặt của người mang mộng lớn.
 
- Là ra làm sao?
 
- Nóng thế. Hảy kiên nhẫn nghe tao tiếp. Hắn có nét của người mang nhiều mộng lớn, nhưng mộng không thành, lúc nhìn lại thấy lỡ làng mọi sự.
 
- Là ra làm sao? Mầy xuống giọng như cải lương không bằng.
 
- Mầy thông minh mà. Đó là một người cô đơn trong trời đất, dửng dưng với cuộc đời.
 
Thực nhăn mặt:
 
- Thôi dẹp đi, tao hết muốn nghe. Dạo này mày mơ mộng và lý tưởng gớm.
 
Viên cười bâng quơ:
 
- Gì mà mơ mộng, lý tưởng! Mày muốn nghe, tao nói. Mày kêu dẹp, tao thôi. Nhưng tao nói điều đáng nói thì tao không thôi điều mày bảo thôi được.
 
Thực ngạc nhiên nhìn bạn:
 
- Ơ, con nhỏ này lạ thật.
 
Viên im lặng tựa cửa nhìn ra đường. Nắng xế buồn như đời tàn lụi. Tôi lạ lắm sao? Bộ tôi lạ lùng khi gặp lại hắn? Sáu năm hắn bỏ đi rồi trở về. Im lặng như chiếc lá. Sáu năm, đã có vẻ như người tỉnh mộng. Điều này làm hắn như gần tôi tí chút. Trước thì không. Thời mới quen nhau chúng tôi (sao lại chúng tôi nhỉ?) chỉ có những câu nói bâng quơ. Những lần nhìn thấy nhau bên kia lớp học ; ngoài đường phố. Hình như tôi thấy lắm lúc tôi đợi chờ hắn bày tỏ một điều gì đó nhưng hắn vẫn thản nhiên xem tôi như những người quen biết khác. Hắn có đôi mắt không làm xao xuyến được ai. Mắt xa vời, nhìn như không nhìn gì cả. Môi khép hờ, buồn chán. Ngoài ra không còn gì đặc biệt gọi là quyến rũ hay làm rung động. Mặt đầy đặn, lạnh lùng. Trán cao, dồ, kiêu hãnh và bướng bỉnh. Thế nhưng tôi chú ý đến điều nào?
 
Trước hắn vẫn ở đây, không làm nên tích sự gì. Đi một dạo rồi cũng vậy. Nhưng điều này có quan hệ không? Hắn còn trẻ như tôi. Còn sống là còn một đời dài để làm một cái gì đó. Không có lúc nào để bảo rằng sớm hay muộn. Tôi có bào chữa cho hắn không? Dĩ nhiên là tôi thiên lệch rồi. Gặp lại, trả lời cho sự vui mừng của tôi hắn nói: Bây giờ tôi thấy rõ mình chỉ là kẻ bất tài thôi Viên à. Tôi pha trò: trông anh giống chàng thi sĩ chưa gặp thời. Cả hai đứa đều cười, khi nói câu đó, tôi nghĩ đến Nam với Thực. Nam làm thơ vì Thực, Nam hoạt động văn nghệ vì Thực. Hắn cũng tên Nam. Hình như cũng có làm thơ.
 
Viên khép bớt một cánh cửa, ngăn nắng vàng lại phía bên kia rồi trở lại ngồi xuống cạnh Thực. Bất chợt nàng bắt gặp trong ánh mắt Thực những dòng tưởng nhớ mênh mông. Nàng cười khẽ, nắm lấy một lọn tóc đen nhánh của Thực trong tay và hỏi:
 
- Nhớ Nam?
 
Thực bàng hoàng một chút:
 
- Ừ.
 
- Thấy không. Tôi đi guốc trong bụng cô rồi cô-giáo-suốt-đời-mơ-mộng ạ.
 
Thực gỡ tóc ra khỏi tay Viên:
 
- Nói có vẻ trầm trọng thế? Sợ tôi không có đủ bản lãnh để mơ mộng suốt đời như cô đó thôi.
 
- Hại gì không nhỉ?
 
- Ai biết. Nhưng hình như thỉnh thoảng nên mơ mộng một chút cho dễ thở. Mơ mộng triền miên chắc sẽ hụt chân.
 
Viên đáp nhẹ:
 
- Hụt chân vì mơ mộng? Nên lắm chứ.
 
Thực im lặng. Một lát nàng hỏi:
 
- Hắn tên gì?
 
- Nam.
 
- Không trùng họ chứ?
 
- Dĩ nhiên.
 
Viên cười:
 
- Mang tên Nam tốt số nhỉ.
 
- Kiêu hãnh rồi đó, bạn.
 
- Những người không có chút kiêu hãnh nào trong máu là những người luôn luôn cúi xuống.
 
- Nam của Thực có không?
 
- Có, cả bầu kiêu hãnh trong người.
 
- Ghê vậy coi chừng đó. Còn liên lạc với nhau đều không?
 
Thực lắc đầu. Đã lâu, kể từ lúc Nam báo tin sẽ về nhưng không về. Năm sáu tờ thư gửi đi, như đi vào khoảng hư vô. Không một lời vọng lại. Nam có thay đổi địa chỉ cũng cho tôi biết lẽ nào không. Hay Nam đã... Điều này tôi không dám nghĩ đến và chắc chắn không bao giờ xảy ra. Đôi khi đi ngang bến xe, tôi muốn trèo lên một chỗ ngồi để đến với chàng. Nhưng tôi không thể liều lĩnh được. Đời sống có trăm thứ buộc ràng, níu giữ tôi ở lại thành phố này. Thành phố nhỏ như bụm tay và xấu như đồng đất khô, nứt nẻ.
 
Còn tôi trong đời sống, tôi là kẻ vô hồn trôi xuống trôi lên. Trong cuộc tình tôi phó mặc Nam dẫn dắt. Có Nam hay không, vẫn không thay đổi được gì. Tôi không tìm được những mới mẻ trong tình yêu. Điều này thì Nam hiểu. Có điều xa nhau tôi nhớ chàng quay quắt.
 
Hay tôi có một tâm hồn khô lạnh, một quả tim mất cảm hứng với đời sống này rồi. Hình như sinh ra và lớn lên là đày mình vào một chuyến đi dài hạn, tẻ nhạt. Đi mãi, đi hoài cho đến giờ kiệt sức. Ngã xuống bình yên, chấm hết mình.
 
Ai cũng bảo tôi thờ ơ với mọi sự. Ba mẹ, chị Tố, anh Khuyến, Viên... Tôi thờ ơ, tôi ngẩn ngẩn ngơ ngơ, tôi ngáo ộp. Tôi là kẻ hững hờ với chính bản thân. Ai cũng bảo tôi lạ như bước trong giấc chiêm bao đầy. Dò dẫm những phần đường mơ hồ, đã lấp. Nhưng tôi thấy tôi dò tìm gì đâu. Tôi thấy tôi như phiến bông gòn trắng, phiêu hốt, lãng đãng trên thế gian khốn nạn này.
 
Có lẽ tôi sai nhịp trong cuộc hòa tấu chói tai của đời sống.
 
Viên hát khẽ trong tóc Thực... "Tôi đang mơ giấc mộng dài, đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh..." Cả bài hát dài. Viên chỉ thuộc hai câu. Hát đi hát lại đến phát ngấy cái tâm sự xám xanh của nàng. Hát để khỏi phải im lặng như Thực.
 
Thực đến kệ sách rút một tập thơ ra đọc những đoạn bất ngờ lật phải. Nàng cố gắng quan tâm vào việc này để không phải nghĩ ngợi quanh quất. Thật ra thuở trước nàng rất mê nhạc yêu thơ. Thơ, nàng có rất nhiều. Những thi nhân trước đến các tác giả bây giờ. Đọc rồi nhớ, rồi quên. Có một dạo, Thực khám phá ra thơ không bay cao như nàng tưởng. Và Thực buồn vô hạn. Nàng buồn như chưa từng kể từ khám phá đó. Những người làm thơ đã được Thực dành cho một chỗ cao nhất đó mất rồi. Họ, đối với Thực, không còn là sừng sững bóng lớn. Nàng không hiểu tại sao họ có bấy nhiêu điều cứ nói từ thế kỷ này sang thế kỷ khác mà không cạn mòn trơ trẽn.
 
Viên ngồi nghĩ vẩn vơ, một lát Thực gấp sách lại trả về chỗ cũ và hỏi:
 
- Xuống phố với tao không?
 
Viên lắc đầu:
 
- Tao phải giữ nhà.
 
- Ừ nhỉ. Thôi tao về.
 
- Về làm gì? Ở lại chơi với tao.
 
- Để mày một mình cho dễ mơ mộng.
 
Rời nhà Viên, Thực vào thu thân trong quán vắng, ở một con đường yên tĩnh có được vài bóng cây. Chỗ nàng với Viên thường đến. Có Nam nữa, chỉ một lần thôi xa lắm. Chỉ một lần thôi và chẳng bao giờ nữa, là sao? Bỗng dưng Thực thấy mình bi quan hết sức. Trong quán có vài đứa con trai trạc tuổi Thực. Nhìn Thực và nói với nhau điều gì. Bọn họ nghĩ xấu nàng chăng? Mặc kệ. Thực hớp một ngụm cà phê nóng. Mùi cà phê thơm lừng. Nàng nghĩ có thêm một điếu thuốc chắc thú vị. Nhưng có thêm một điếu thuốc chắc sẽ giống Nam. Lại Nam. Thôi hãy im đi nhé. Chỗ này tôi ngồi với anh một lần và co ro nhiều lần khác. Đây là chỗ quen thuộc của tôi mỗi lần ra phố. Ghé lại, ngồi xuống và nhớ về. Mỗi ngày qua, với tôi mỗi hồi tưởng xót xa. Mỗi ngày qua với tôi, một khoảng cách hụt hơi thêm vào, nối dài giữa tôi bây giờ với tôi ngày cũ. Biết rằng tiếc nhớ cũng không làm gì được. Nhưng sống, không phải là để nghĩ đi, nghĩ lại ; nhớ tới, nhớ lui hay sao?
 
Quê tôi là nơi mà các văn thi sĩ không thèm nói đến trong tác phẩm của họ. Một quận lỵ cuối cùng trong một tỉnh cuối cùng trên bản đồ Việt Nam. Tôi chỉ sống ở đó đến ngày vừa có chút trí nhớ để ghi nhận một cách mơ hồ nơi mình sinh ra. Tôi phải theo gia đình ra tỉnh vì công việc làm ăn của ba mẹ. Mang máng nhớ lúc đi, căn nhà to bán được đôi ba nghìn, và con mèo mướp bằng tuổi tôi, bà ngoại cũng cẩn thận bỏ vào bao đem theo. Trí nhớ tôi chỉ ghi nhận rõ ràng nơi tôi ở sau này. Từ ven con sông cắt đôi thành phố, tôi đã lớn lên. Đã rửa sạch mùi bùn đất quê mùa thuở còn bé nhỏ. Tỉnh lỵ, hai mùa mưa nắng. Mưa thì mưa đến thiu chảy mấy con đường. Nắng nứt da, bể phổi.
 
Thực đứng lên đi ra ngoài. Đầu óc nàng căng trong nắng xế. Nắng chói như mắng xả vào mặt.
 
Đường phố chính cách một năm còn lởm chởm ổ gà. Ghé một cửa tiệm bán sách báo hỏi mua một vài quyển sách. Không có. Chưa về. Mua một tạp chí Nam thưởng gửi bài đăng. Không có thơ chàng. Đứa con gái quen ngồi trông cửa hàng nói hôm nay hình như chị bệnh. Bệnh gì nhỉ? Chắc tại nắng quá đi thôi.
 
Qua con sông nhỏ đục ngầu phù sa đỏ thưa người. Thực nhìn dòng nước thấy đầu óc dịu lại. Nhưng nước dơ thế kia có rửa sạch gì không. Niên khóa tới chắc Thực sẽ xin đổi đi một nơi nào khác. Một chỗ nào. Hay ở đâu cũng là nơi chôn lấp đời mình. Thuở còn đi học, cùng qua với Nam trên đò này Thực hỏi tại sao không viết văn. Nam hỏi: viết gì? Thực nói: Về thành phố này. Nam cười: đó là việc làm của những người siêng năng cần mẫn. Kẻ nào lười, làm thơ. Thực không được siêng năng cần mẫn cho lắm, nhưng nàng có ý định viết. Có điều mấy năm qua, mãi loay hoay với sách vở, loay hoay tạo dựng đời mình nên quên mất, Thực nghĩ hay là ta thử xem. Biết đâu đó chẳng phải là một lối thoát như Nam đã chọn: làm thơ.
 
Đã chiều. Không biết từ lúc nào, Thực yêu khoảng thời gian nhợt nhạt này đồng thời cũng sợ nó ghê gớm. Đó là giờ phút bắt gặp mình lẻ loi, nằm giữa vô cùng. Nằm, lắng đọng và tan chảy. Nằm, bùi ngùi và hụt hẫng mênh mông. Đó là giờ phút thấy mình như hồn ma đi lang thang trên những vùng đất mơ hồ lạ lẫm. Mở rộng mắt, mở toang lòng.
 
Chỉ còn mẹ Thực ở nhà. Nghe hỏi, nàng mới nhớ đã quên mua vài món đồ mẹ dặn.
 
Có tiếng sáo cất lên âm âm trong lòng phố. Múa lượn trên các mái nhà. Chờn vờn bên tai. Tiếng xưa. Chiều nào cũng Tiếng xưa rồi thôi. Không gì khác. Đó là tiếng trúc của anh chàng trạc tuổi Thực ở cách mười căn nhà. Lang thang, trôi dạt đâu đó mấy năm nay trong quân ngũ. Trước, học chung trường Thực có nghe. Tiếng sáo không điêu luyện nhưng buồn. Nay, tiếng sáo có phong thái ngậm ngùi, hối tiếc. Tiếng xưa. Tiếng xưa hay tiếng thở dài. Thực bịt tai lại. Bài nhạc dứt. Thực bỏ ra. Hắn muốn nói gì với ai? Sao chiều nào cũng Tiếng xưa hết. Chiều nào cũng kêu gọi dĩ vãng. Chiêu hồn quá khứ.
 
- Hình như con sắp bệnh hở Thực?
 
- Bệnh gì đâu, mẹ - Thực mỉm cười khi thấy vẻ lo âu của mẹ.
 
- Sao mặt con thâm quá.
 
- Thế mẹ không nghe à. Ngày nào cũng một khúc sáo cũ.
 
- Ừ nhỉ. Đứa nào dốt thế. chỉ thuộc có mỗi một bài. Thôi con ăn cơm đi. Rồi trông nhà cho mẹ ra tiệm thuốc.
 
Nghe mẹ nói Thực cười ngất. Nàng lùa dăm hạt cơm vào mồm, thốt nhiên nàng nhớ Nam. Nàng nghĩ một ngày nào mối tình của hai đứa sẽ giống như bữa ăn muộn màng, nguội lạnh.
 
Thực buông đũa đứng lên. Nàng đến bên tường. Gỡ một tờ lịch vò nát trong tay mình và quẳng ra cửa sổ.
 
 
HOÀI DIỄM TỪ     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 109, tuần lễ từ 5-7 đến 12-7-1973)
 

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2025

NGHE MÂY VỀ TÂM HỒN NHỎ - Tuyết Oanh


Em trở về thành phố biển một mình vào một buổi chiều nhạt nắng. Lòng em dâng lên một niềm vui khó tả. Tim em đập từng nhịp bồi hồi theo vòng bánh xe lăn. Đại lộ Gia Long vẫn thơ mộng như ngày nào. Trạm Air VN vẫn u buồn như ngày xưa ra đi. Không có gì thay đổi mặc dầu đã ba năm qua. Con bé ngày xưa bây giờ đã lớn, thành phố Nha Trang vẫn dễ thương, thơ mộng ngàn đời.
 
Em xách chiếc va-li nhỏ chậm rãi bước xuống xe ca. Gió thổi áo em bay bay, đôi tà áo trắng phần phật quấn quít trong chiều. Em thấy mình bé bỏng đến tội nghiệp. Đám người ồn ào đón đợi thân nhân làm đau nhức màng nhĩ em không ít. Một chiếc xích lô trờ tới. Về đâu, cô? Đường Duy Tân nha bác. Em leo lên ngồi nhỏ bé trên nệm xe. Chiếc va-li đặt dưới chân im lìm. Đôi tay em trắng xanh thuôn dài buông thỏng trên đùi. Hơn một giờ trên phi cơ làm em mệt nhoài. Hai hàng me bên đại lộ đã đến mùa thay lá. Lá me vàng bay bay. Một giọt nắng vàng nhỏ xíu rơi trên nền áo em trắng muốt. Nha Trang ơi, thành phố của em dễ thương đời đời.
 
Chiếc xe dừng lại, em trả tiền rồi xách va li đẩy cổng bước vào trong. Những viên đá cuội lào xào dưới bước chân em. Vài khóm quì rạng rỡ kiêu sa. Khi xa Nha Trang em đã nhớ nhiều những bông hoa Cúc Quì. Một loài hoa trùng tên với em. Cúc Quì. Hoa Cúc Quì trầm lặng trong gió sớm và kiêu sa trong nắng chiều. Hàng dương liễu xanh rì chạy dài từ cổng vào mãi sân nhà làm mái che cho lối đi thêm thơ mộng. Cậu bé Ti Ti thấy em trước tiên. Mẹ ơi, chị Cúc Quì về. Em đặt chiếc va li giữa nhà, vòng tay ôm hôn chú bé. Mẹ từ dưới bếp chạy lên. Ánh mắt mẹ nhìn em tràn đầy âu yếm. Niềm vui òa vỡ trên môi, thấm ngát lên nụ cười.
 
- Mẹ nhận được điện tín con hôm qua. Mẹ mừng quá ăn cơm chả được đó. Trọn ngày nay trông chừng hoài.
 
Em ôm hông mẹ.
 
- Chị Quang Chung đâu mẹ?
 
- Chị con đi học rồi.
 
- Bên Hải Học Viện hở mẹ?
 
- Ừ! Thôi thay áo đi con. Mẹ có mua cua về nấu bún riêu cho con ăn này. Thích không?
 
- Thích chứ mẹ. Nhất mẹ rồi cơ.
 
Mẹ cười hiền, đi xuống nhà sau. Cậu bé Ti Ti lại đòi quà nhặng cả lên. Em cho bé một chùm nhãn Vũng Tàu, và một chiếc tàu bằng vỏ sò ráp nối thật khéo léo. Công trình một tháng của anh Khắc Tiệp đó. Em lắc lắc đầu. Tạm quên hình ảnh Khắc Tiệp trong vài phút. Em đang hít thở không khí Nha Trang, thành phố dấu yêu ngàn  đời sóng vỗ. Em vào phòng tắm dội nước ào ào. Cậu bé Ti Ti nói thật to: - Sáng mai đi tắm biển với em nha chị Quì. Tắm lúc sáu giờ ấy chị. Buổi sáng nước biển ấm tuyệt vời. Em xin mẹ đi thăm phố một tị, mẹ dặn về sớm dùng cơm. Em dạ thật ngoan. Chiếc quần xì-gà tím rộng ống, áo pull vàng, bộ đồ ba mới sắm cho. Cậu bé Ti Ti cười reo lên, áo chị Quì đẹp ác. Em cười cười đạp xe mini ra cổng. Em đạp xe chạy vòng vòng quanh phố. Phố xá bây giờ có vẻ thịnh hơn trước. Con đường Độc Lập vẫn tấp nập, em quẹo xe, rẽ sang đường khác. Bất ngờ một chiếc Vespa trờ tới đâm vào xe em. Em rủa thầm, lái xe mà để mắt nhòm đâu đâu á. May mà chẳng có sao. Trầy da chân sơ sơ. Ăn thua chi, lãnh thẹo mới sợ chứ. Em không để ý đến người đã đụng nhầm em, có lẽ em sẽ tỉnh bơ quay đi nếu người ta không lên tiếng:
 
- Xin lỗi cô! Có sao không cô?
 
Hắn nở một nụ cười rất dễ thương. Ơi, nụ cười giống anh Khắc Tiệp chi lạ. Em lắc đầu:
 
- Cám ơn ông. Tôi không sao cả.
 
Hắn bắt chuyện:
 
- Cô là khách của Nha Trang?
 
- Không.
 
Hắn mở tròn mắt ngạc nhiên. (có lẽ lúc nãy em nhòm phố xá một cách... kỳ lạ lắm sao?) Em đoán biết được ý nghĩ trong đầu hắn. 
 
- Tôi xa Nha Trang ba năm, làm khách lạ ở Vũng Tàu.
 
Hắn ồ lên gật gù. Và hắn mỉm cười:
 
- Hình như cô yêu biển lắm.
 
- Vâng. Ông nhận biết vì màu da tôi?
 
Hắn nhìn em thật khó hiểu:
 
- Tôi không có ý nói như vậy đâu. Tôi nói nơi cô sống toàn biển với cát thôi.
 
Em quay đầu xe lại:
 
- Đã đến giờ phải về dùng cơm. Xin phép ông.
 
- Vâng. Mong gặp lại cô. 
 
Và em quên hẳn đi, sau bữa cơm chiều. Ở tuổi em, dễ quên mà cũng dễ nhớ. Một tia mắt nhìn, một mái tóc bồng cũng đủ làm bâng khuâng suốt buổi. Một cuộc gặp gỡ tình cờ, một hình ảnh nào đó, có thể, cũng dễ lãng quên. Buổi tổi, chị Quang Chung trò chuyện cùng em trước hiên nhà. Nhỏ mau lớn ghê, mười sáu tuổi rưỡi rồi phải không. Em gật đầu, im lặng nghe chị tâm sự. Chị có yêu một người học cùng lớp, anh ta dễ thương lắm bé ạ. Em hỏi:
 
- Anh ấy đối với chị ra sao, có yêu chị không?
 
- Coi như bạn. Hình như anh ấy không biết. Con trai không tế nhị bằng con gái, phải không em?
 
- Vâng ạ.
 
Chị vỗ nhẹ vai em:
 
- Còn mi sao? Có "chấm" ai chưa?
 
Em bỗng nhớ đến anh Khắc Tiệp. Em cười:
 
- Ở Vũng Tàu em chẳng có một tên bạn trai nào, ngoại trừ anh Khắc Tiệp, con bác Vinh.
 
- Tình cảm em đối với anh Khắc Tiệp như thế nào?
 
- Em mến anh ấy.
 
- Dĩ nhiên rồi. Chị muốn hỏi "chuyện kia" cơ.
 
- Em hổng biết.
 
- Sao lại hổng biết?
 
- Em vẫn tự hỏi lòng mình. Xa anh Tiệp em nhớ. Gặp anh Tiệp em thích cãi nhau, thích nhìn anh cười. Thế thôi.
 
- Vậy thì chưa chắc. Ở tuổi em mau quên lắm.
 
- Em cũng nghĩ như chị.
 
Hai chị em thủ thỉ thật lâu. Gió biển thổi lên từ phía trước mát thật mát. Em kể cho chị nghe chuyện Vũng Tàu. Về ngôi trường Đinh Tiên Hoàng an tọa trên đồi cát lộng gió. Ngôi trường yêu dấu có em trong suốt ba năm. Về thầy Trần Thái L. cũng sinh trưởng ở vùng cát trắng biển xanh đã mỉm cười khi nhìn học bạ của em. Hai thầy trò ở cùng một quê hương xứ sở kia mà. Em kể chị nghe, bãi Dâu chất chồng những đá. Em tả chị nghe con đường quen thuộc N.A.N có bụi cát bay bay, trong mỗi cơn gió lốc. Có một điều em không nhắc đến là ba, về dì Phương, người đã cướp ba ra khỏi gia đình, xa khỏi tình mẹ hiền dịu. Chúng em ngồi bên nhau cho đến khuya, tự nhiên em thấy nơi này ấm áp lạ. Tự dưng em thấy yêu Nha Trang vô cùng.
 
Em đi chầm chậm trên cát. Bãi cát mịn màng trắng lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời. Hàng dừa lả ngọn đong đưa trước gió. Gió bể đùa cợt! Áo bay. Tóc bay. Thân hình ba mươi sáu ký của em cũng muốn bay luôn, sóng biển vẫn hoài hoài một điệu tình ca muôn thuở. Nắng biển đời đời vẫn muốn lột tróc da mặt cho gió cuốn đi. Và mặt biển, vẫn đẹp như đôi mắt của nàng tiên kiều diễm. Biển, đôi khi có một vẻ đẹp dịu dàng, đôi khi như muốn chồm lên gào thét cho bão tố phong ba. Em đang say sưa nhìn vẻ đẹp trùng trùng xanh ngát của biển khơi, tình cờ ngẩng lên, đôi mắt người con trai nhìn mình như lạ hẳn đi. À, người con trai hôm qua. Người con trai có nụ cười giống anh Khắc Tiệp. Hắn bước lại gần em:
 
- Tôi biết thế nào cũng gặp cô ở đây.
 
Em không nhìn hắn. Quán Gió Khơi khác ra vào tấp nập. Vài người đi lang thang trên bãi biển nhìn biển say mê như muốn thu hết vẻ đẹp của biển vào trong đôi mắt.
 
- Cô nói gì đi chứ?
 
- Nói gì hở ông?
 
- Cô có vẻ thi sĩ quá.
 
- Tôi không biết làm thơ. Nhưng tôi rất yêu biển, yêu như yêu tôi.
 
Giọng hắn xa xôi:
 
- Cô chỉ yêu cô và biển thôi à?
 
- Còn mẹ tôi, ba tôi, chị em tôi và hoa Cúc Quì nữa chứ.
 
- Cô cũng yêu hoa Cúc Quì nữa à? Cùng một ý thích với tôi rồi.
 
Em hơi vui:
 
- Ông yêu hoa Cúc Quì?
 
- Tôi yêu Cúc Quì vì cô yêu Cúc Quì.
 
Hình như tim em đập trật nhịp:
 
- Tôi không thích nghe ông đùa như thế.
 
- Xin lỗi cô.
 
- Chào ông. Tôi có việc phải đi.
 
Lần này thì em không thể quên hắn. Em đi thật nhanh về nhà. Mặt em còn nóng ran như cảm mạo. Em nhìn vào gương, một vài hạt mụn be bé làm duyên trên má. Em cười trong gương. A! Nụ cười sắp đến hồi chín tươi trên bờ môi duyên dáng. Em đã lớn rồi phải không, phải không?
 
Tiếng chị Quang Chung ríu rít ngoài phòng khách, chị ấy đi đâu về kìa. Hình như có dắt bạn bè về nữa cơ. Chị Chung đến phòng em:
 
- Cúc Quì ơi, có anh ấy tới kìa.
 
Em ngơ ngẩn:
 
- Anh ấy nào?
 
- Anh Hoàng, người bạn tối chị kể với em đó.
 
- À à... em nhớ ra rồi.
 
Chị Chung cười tươi:
 
- Chị ra phố về. Gặp anh ấy đi lang thang trên đường PBC, chị mời về đây. 
 
- Chị ra tiếp anh ta đi.
 
Chị nắm tay em:
 
- Đi. Em đi với chị. Chị giới thiệu cho em, em "coi mắt" giúp chị.
 
Chị lôi em ra phòng khách mặc dù em chẳng muốn đi chút nào. Em muốn ngồi một mình để nhớ và nghĩ đến một bóng hình vừa thoáng qua. Xin giới thiệu với anh... Trời ơi. Hắn. Người con trai ban nãy. Hắn là người chị Quang Chung đang nuôi mộng đắp mơ. Chị Chung vô tình nói tiếp:
 
- Cúc Quì, em gái của Quang Chung. Và đây anh Hoàng, bạn chị.
 
Hắn nhìn em không chớp:
 
- Hân hạnh được quen Cúc Quì.
 
Em đỏ mặt, quay đi tránh tia nhìn của Hoàng. Chị Chung nhìn em, nhìn hắn nghi ngờ:
 
- Hai người đã quen nhau?
 
Em lắc đầu:
 
- Không.
 
Và bỏ chạy khỏi phòng. Chị Quang Chung gọi Quì, Cúc Quì.
 
Hình như bên tai em còn vang vang một giọng nói ấm áp:
 
- Tôi yêu Cúc Quì vì cô yêu Cúc Quì.
 
 
TUYẾT OANH        
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 138, tuần lễ từ 28-6 đến 5-7-1974)