Thứ Ba, 19 tháng 11, 2024

THẦY VÀ TRÒ

     Năm nọ, cậu học trò dốt nhất lớp đến chúc Tết thầy…

Ông đồ quá ngạc nhiên vì trò này luôn chậm chạp nhất lớp lại đến chúc Tết thầy sớm nhất.

   Thầy hỏi:

- Sao con không đi cùng các bạn mà đến một mình?

   Cậu học trò khoanh tay thưa:

- Tại vì con học dốt, tiếp thu chậm nên con ngại đi cùng các bạn.

Hơn nữa, nếu đi cùng các bạn thì khi đến, cả buổi thầy chỉ nói chuyện với những bạn giỏi thôi…

Con sẽ không được trò chuyện cùng thầy…

Ông đồ trầm ngâm một lúc rồi bảo vợ lấy ra một chiếc phong bao, một đĩa xôi với cái đùi gà.

Thầy chỉnh lại vạt áo rồi nâng cái khay lễ lên, nói:

- Ngày Tết, thầy có lễ mọn biếu con.

Thầy vui vì ngày đầu năm con đã cho thầy một bài học lớn.

Con cũng là thầy của ta…

Cậu học trò dốt mặt tái xám, lắp bắp:

- Con xin lỗi thầy! Con nói gì không phải, mong thầy bỏ qua.

Xin thầy đừng làm thế. Con sợ lắm…!

Ông đồ bảo:

- Không. Con không nói sai gì cả. Câu nói thật của con đã cho ta một bài học quý giá.

Đã làm thầy thì phải biết đối xử công bằng với tất cả học trò.

Dù là trò dốt, dù trò giỏi, dù gia cảnh trò khó khăn bần hàn hay giàu có thì người thầy cũng phải đối xử công bằng.

Con cũng chính là thầy của ta…

Sau Tết đó, cả ông đồ và cậu trò dốt kia đều thay đổi.

Cậu trò học tiến bộ rất nhiều, sau này thi cử đỗ đạt hiển vinh và được làm quan trong Triều .

    Trong cuộc sống, ai cũng có ít nhất một người thầy

   Ai cũng có thể trở thành một người thầy của ai đó…

                                                                                                                                                  (Nguồn: Sưu tầm)

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2024

CHIẾC VÒNG CỦA VUA SOLOMON

 
 
(Vua Solomon trong Kinh Thánh được vang danh vì sự khôn ngoan, giầu có và các trước tác của mình. Ông lên làm vua vào khoảng 967 trước Công Nguyên. Quốc gia Do thái của ông, lúc đó, trải dài từ ven sông Euphrates trên miền Bắc, vùng Lưỡng Hà, xuống đến tận vùng cực Bắc của Ai Cập, phía Nam).
 
Một ngày nọ vua Solomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “ Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó”.

Benaiah trả lời: “ Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?”

Nhà vua đáp: “Nó có một sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Solomon biết rằng sẽ không có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn.

Benaiah dừng chân lại hỏi: “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sống và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón lễ hội. “Nào, ông bạn của ta – vua Solomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”.

Tất cả các cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Solomon cũng cười

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây, thưa đức vua”. Khi vua Solomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: “ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG QUA ĐI”. Vào chính giây phút ấy, vua Solomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi… 
 
Sưu tầm.     

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2024

TRONG CHÙM TI GÔN CHIỀU THỨ BẢY - Lam Thủy


Chiều thứ bẩy, nếu bây giờ là năm sáu năm về trước thì cái cảnh "dập dìu tài tử giai nhân" đã diễn ra tưng bừng trên con đường trước bao lơn nhà tôi. Ngày ấy, không chiều thứ bẩy đẹp trời nào mà chị Diễm không vờ nhõng nhẽo:

- Me ơi, cho con sang nhà con Thu một lát nha.

Và để me thật tin, chị kéo tôi đi theo làm chứng cho chị. Mỗi bận thế tôi thích lắm, được chị hóa trang cho bằng chiếc áo đầm xanh, nơ xanh, ví xanh, hài xanh lại thêm vài chục trong ví xách tay thì sướng mê người. Tôi tung tăng nắm đuôi áo chị Diễm đi khắp nơi, quên rằng không phải chỉ có hai chị em mà còn thêm một ông tướng, chị Diễm gọi thế, cao lêu nghêu kè kè theo từ lúc ra đến ngõ. Và một lát của chị Diễm là suốt cả buổi chiều nắng đẹp. Về nhà, me nhìn chị tủm tỉm:

- Gớm, hai cô đẹp như tiên. Đi có mỏi chân không con?

Mỏi chân ghê lắm, tôi ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, chị Diễm cũng ngồi theo nhưng chị không thấy mỏi mà lặng người đến tội nghiệp. May quá me cười xòa rồi đi xuống bếp. Đến bây giờ tôi mới hiểu cái lo sợ của chị. Thì ra, me không ngây thơ như chị nghĩ, me không nói ; thế là tuần sau chứng nào tật ấy, chị em lại... đến nhà bạn, tha hồ thích!

Bây giờ, chị Diễm không còn để dẫn tôi đi tung tăng nữa vì tòa đã cấp giấy phép công khai cho chị dung dăng dung dẻ mí cái anh chàng ấy ; lấy từ thứ hai đến chúa nhật làm ngày thứ bảy sốt. Còn tôi? Sau ngày người ta "xỏ mũi" chị, me vừa lau nước mắt vừa nói với chị Diễm trong ngày cưới thế, kéo... sang sông thì tôi đâm buồn kinh khủng. Ba mất sớm, gia tài của me có ba đứa con, hai gái một trai. Mà thằng bé sống toàn với chị, "gần dèn thì sáng", tính tình y hệt con gái, nhu mì nhủ mỉ, chơi toàn trò chơi con gái, không thèm bắn bi ve không thèm chơi con quay. Chị Diễm đi rồi, chỉ có hai chị em cu ky trong nhà, không hiểu thằng Vinh học cái sách nào mà suốt ngày chuyên nghề phá thiên hạ. Thấy người ta thơ thẩn dạo vườn dưới trăng đêm, hắn giả ma nhát tôi suýt ngất. Thấy tôi chợt vô ý tủm tỉm một mình, hắn cũng nheo mắt:
 
- Vinh biết rồi, chị Duyên đang nhớ tô bún riêu ngoài chợ.
 
Tôi sợ hắn còn hơn sợ me nữa cơ đấy. Từ dạo chị Diễm ra đi, tôi cũng bắt đầu "kỳ cục về mọi phương diện". Tôi hay buồn vơ vẩn một mình thôi. Vì bao giờ thì tôi vẫn thấy xa cách với me thế nào nhất là me phải thế ba lo sinh kế, còn thì giờ nào gần con gái me. Nghĩa là bây giờ tôi hoàn toàn quạnh quẽ. Sao chị Diễm đi quá sớm. Sao me không cho tôi một đứa em gái nữa, ngoài thằng Vinh ra.
 
Tôi yêu hoa ti gôn lắm. Những lúc như vầy đây, tôi chỉ còn biết đứng trên bao lơn ngắm những cánh hoa bé xinh xinh, thì thầm kể với hoa chuyện Đức giận hờn tôi suốt cả tuần nay, chiều thứ bảy không thèm đến chơi với tôi. Mấy lần tôi muốn xuống nước làm "con chó leng keng" cho tôi đừng ray rức mỗi lúc nhìn đôi mắt Đức u buồn, nhưng e ngại thế nào! Đức ngồi bàn trên vẫn lặng lẽ, không hay quay xuống tủm tỉm với tôi nữa. Tôi nghe bơ vơ làm sao giữa lớp học. Mỗi lúc bị kêu lên bục, ánh mắt trìu mến và nụ cười khuyến khích Đức vẫn dành cho tôi. Đức giận tôi, Đức có biết đã làm cả hai buồn bã đến đâu không? Giờ chơi, Đức đứng ở hành lang nhìn người ta dưới sân trường, tôi vẫn ngồi ì trong lớp, không đi đâu cả. Có ai để đùa như mọi hôm nữa. Con bé Bích Hà hất đầu về phía Đức:

- Giận hở?

- Ừ.

- Hèn nào không thấy mày cười lấy một tiếng. Từ hai ba niên học không nghe một lần xích mích, bi chừ bộ chúng bây "mát dây" hay sao mà giận mí hờn thế nhỉ?

Tôi phân bua:

- Tao không nhớ rõ làm sao mờ Đức giận tao nữa. Hình như tao làm con bé tức cái gì đó. Mà nó không thèm nói, chả biết làm sao bi chừ.

Bích Hà nhún vai một cái rồi đi. Tôi chợt thấy đôi mắt Đức thoáng nét buồn bã, chắc Đức nghĩ rằng tôi vô tình không thèm rầu rĩ khi giận nhau. Trong cái bộ mặt lầm lỳ ấy, Đức đang khổ sở lắm, hai đứa chỉ có nhau là bạn. Hiểu rõ nhau, thương nhau, có chuyện gì tôi cũng mò đến Đức nói hắn nghe, cả chuyện chiều thứ bẩy này nữa. Cuối tuần rồi! Mây mùa đông trôi nhiều quá.

- A, chị Duyên đây này! Thế mà Vin tìm chị khắp nơi không thấy.

- Tìm chị để chi?

- Để hỏi chị xem hắn tới chưa.

- Hắn nào?

- Thằng cha Thứ Bẩy!

Tôi lườm Vinh một cái:

- Vinh thật là lộn xộn!

- Chứ không phải sao? Chiều thứ bẩy nào cũng đợi hắn từ lúc ăn cơm xong. Ba giờ rồi, chắc hắn sắp tới.

- Mặc hắn chứ.

Vinh háy mắt:

- Vinh mời hắn vào nhà nhé?

Tôi xùy một cái. Vinh nhẩy như con choi choi:

- Chị Duyên chối nè! Vinh biết rồi. Thế nào Vinh cũng bắt cóc hắn vào nhà mình cho xem.

Tôi tủm tỉm cúi đầu. Thôi Vinh ạ! Để yên cho hắn đi. Chị đang khổ sở vì hắn đây. Vinh chưa kịp làm gì thì hắn đã... bắt cóc linh hồn chị rồi, Vinh đâu biết nhật ký đã đầy ắp thương yêu chị viết cho hắn. Không hiểu hắn nhốt lòng chị nơi nào mà phải cố gắng hết sức mới nuốt được vài chữ. Còn thì để thì giờ ngồi viết vơ vẩn những câu chi là lạ, từ bao giờ đến nay chị chưa viết bao giờ. Chị viết hay mắt hắn viết cho chị? Tôi nhìn đám hoa ti gôn cũng tưởng rằng có bóng dáng hắn thấp thoáng bên kia. Giàn hoa ti gôn đỏ hồng như màu son con gái. Hắn có bứt một chùm đưa lên môi không nhỉ?

- Thôi Vinh ơi. Đừng làm chị quê à nghe.

- Biết bắt hắn vào nhà làm gì không? Vinh sẽ đét vào đít hắn vài roi.

- Chết! Vinh?

- Ừ, ai bảo hắn cứ lang thang trước cửa làm chị cứ...

- Cứ sao? Chị chả sao cơ mà.

Tôi cốc đầu Vinh một cái rồi bỏ vào phòng. Ba giờ rưỡi. Hắn đến chưa nhỉ? Hay hắn ngủ quên ở quán café nào rồi? Tôi không nhớ là hắn bắt đầu quấy phá tôi từ lúc nào, chỉ thấy một buổi chiều bỗng đâm buồn đến não nuột. Ngắm mây, mây trôi mất, thì thầm với gió, gió lặng im. Với tay ngắt chiếc lá cây bông sứ hoa đã bị tôi bứt hết từ lâu, cả cây sum suê hoa, chỉ có cành này đâm vào bao lơn thì toàn màu xanh ngắt, chỉ còn lá với cành khô, vò vò rồi thả rơi lả tả. Lá rơi buồn bã không tiếng động như lòng tôi bây giờ. Tôi hoang mang như đi đến cõi nào xa xăm. Chơ vơ giữa khoảng không lạ lùng. Chợt cái gì níu kéo tôi về với gần hoa nhỏ đỏ ửng dễ thương. Lá xanh mướt lẫn mấy dây hoa và lẫn mái tóc hắn nữa. Đầu hắn nhấp nhô dưới khóm hoa, chiều thứ bẩy đi dạo phố đấy hở? Nhưng ở đây đường im vắng giữa hai hàng cây rợp bóng, không người, không xe cộ, chỉ toàn hoa với lá, với mây trời và bóng mát, hắn dạo gì ở đây? À, hay hắn đang làm thơ đấy nhỉ? Trên bao lơn này tôi cũng làm thơ đây. Những vần thơ lạ lùng chưa từng thấy.

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu (X.D.)

Và bằng cánh hoa ti gôn nho nhỏ nữa. Và rồi thời khắc biểu của tôi thay đổi một chút ở chiều thứ bẩy. Thay vì xếp sách vở đánh một giấc, thì tôi lại ghi : 4 đến 5 giờ, nói chuyện với ti gôn. Khác với chị Diễm, chiều thứ bẩy là buổi chiều của tình yêu, trong sáng như da trời xanh lơ.

Khi tôi trở ra bao lơn thì thằng Vinh đã đi đâu mất, mất cả chiếc xe của hắn. À, chiều thứ bẩy hắn cũng có chương trình, me tôi còn bận trông hàng, bằng không có lẽ cũng có việc khác nốt. Ba tôi đã mất từ bao năm nay rồi còn gì.

Nắng chợt bừng sáng, gió hây hây, gió sang mùa độc địa làm người ta cảm cúm tưng bừng. Đứng trên bao lơn mà sốt ruột, hay hắn cảm mất rồi? Từ cuối con đường rợp bóng, nếu tôi không để ý thì hắn sẽ hiện ra và thấy tôi trước. Nhưng nếu tôi nép vào bóng cây bông sứ thì tôi sẽ phát giác ra cái dáng điệu thơ thẩn đường chiều một khách thơ lơ đãng nhìn lá rụng. Có lẽ chiều thứ bẩy của hắn sẽ là thì giờ để nói chuyện với lá me Trần Quí Cáp rơi! Lá me chứ không phải là rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi đâu người ấy nhé.

Tôi nép vào chính giữa bóng cây bông sứ rậm rạp trốn hắn. Ai bảo để người ta sốt ruột từ nẫy đến giờ vẫn chưa thèm đến. Tôi sẽ núp ở đây, nhìn lén đôi mắt ngơ ngác của hắn khi bao lơn vắng bóng người con gái đợi hắn đi qua. Bốn mắt gặp gỡ, một tia nhìn thôi, hắn đi qua, tôi vào phòng. Hắn đi rồi có về không, tôi không biết. Hay chiều nay tôi rán kiên nhẫn dạo hết con đường, xem có trở lại không. Lá me rơi khá nhiều. Không hiểu lá mơ của Nguyễn Bính thế nào, chứ lá me của hắn trông be bé, vàng vàng như hạt bắp. Từ trong này nhìn ra, tôi có thể tưởng là mưa phùn màu vàng. Lá rơi nhiều rồi mà tôi chưa thấy hắn. Chao ơi! Hắn có thể quên hẹn ư? Để tôi đứng một mình đây sao! Nhỡ có người khác đi ngang giàn hoa ti gôn thì sao? Hắn có ghen không? Hay hắn không để ý rằng có tôi đứng trên bao lơn lén trông hắn qua cây bông sứ, qua giàn ti gôn? Có thể thế ư? Nhưng sao mỗi thứ bẩy, hắn vẫn nhìn vào đây, có lần tôi trốn ở một góc thì thấy hắn đứng lại kiễng chân dòm vào kiếm cơ mà. Sao hôm nay hắn để tôi nhón chân ngóng hắn mãi thế này? 4 giờ rưỡi. Hắn ngủ quên? Hắn ốm? Hay sao? Một cánh sứ rụng xuống, lòng tôi cũng rụng một cánh hoa buồn bã, cánh hoa đỏ như một giọt máu: hoa ti gôn. Nhưng giàn hoa xa quá, ngoài tầm tay, tôi đành bứt lá bông sứ cho lên miệng ngăn tiếng thở dài. Lá bông sứ tẩn mẩn trên môi đăng đắng vậy. Con đường của tuần trước vui tươi rộn rã bước chân hắn dáng người hắn, bây giờ sao mà vắng lặng buồn bã thế này? Gió càng nhiều, me càng rơi, tôi càng muốn sàn xuất thực nhiều "viên thuốc nước mắt".

Tôi rời khỏi bao lơn từ lúc nào để xuống những bậc tam cấp của ngôi nhà cổ kính. Đi trên lối sỏi xào xạo, tôi lặng lẽ đếm bông sứ rơi. Có một chiếc ngớ ngẩn ngừng trên tóc tôi. Hoa thương hại tôi đấy ư? Hoa an ủi tôi ấy à? Hoa có cô đơn không? Rời cành hoa có buồn không? Hoa có biết nắng đã nhạt mà người ta không tới không? Người ta quên tôi rồi hoa ạ! Người ta ốm hở? Hay người ta đã thay đổi chương trình rồi, đi đến một nơi ồn ào khác, với người khác rồi phải không? Tôi cúi đầu bước trên con đường lá me bay vàng úa, con đường hắn vẫn thơ thẩn chiều thứ bẩy đây mà. Trên vỉa hè có giàn ti gôn giăng đầy hoa cỏ, loài hoa mang thật nhiều tên rắc rối : nho, hoa chuông, nho ti gôn, lắm khi tôi cãi với bạn bè chỉ vì hoa nho, hoa ti gôn đấy. Tôi đang bắt chước hắn đây, cũng ngắm lá mơ. À lá mơ rơi. Cũng kiễng chân nhòm vào bao lơn nhà, tưởng tượng xem thấy tôi đứng trong kia, tôi có thương tôi không. Tóc gió khẽ bay bay yên lặng, đẹp thế thì hẳn là tim hắn phải thay nhịp đập rồi nhỉ? Thế sao hắn không đến? Hắn không thương nhớ suốt cả tuần sao? Không bồn chồn nóng nẩy sao? Không nhớ màu hoa ti gôn sao? Đầy hoa đỏ ửng.

Tối với tay định ngắt một dây hoa thì có việc hơi lạ lùng xẩy ra làm tôi sửng sốt. Trên giàn hoa có một tờ giấy, không như những tờ giấy thông thường trên mặt hè, mà được gấp làm tư, có lẽ được giấu cẩn thận hơn là vất bừa vào. Thế nào? Có nên nhặt không? Thay vì hái hoa, tôi lại tò mò cầm tờ giấy và đọc hàng chữ: "Tôi phải đi Đà lạt đến thứ hai mới về. Đằng ấy cho tôi biết tên đi. Sáng thứ ba tôi đến nhận thư, nghe! Đỗ Văn Thái Phương". Vài chiếc lá me rơi vãi trên tờ giấy. Thái Phương! Thư đề thứ năm, hắn đã đi Đà lạt rồi. Tôi có linh cảm rằng bức mật thư này của hắn, hắn xin lỗi trễ hẹn đây mờ! Hắn đây sao? Bức thư cài trên nhánh ti gôn dễ yêu, bức thư gởi đi mà không chắc tới tay người nhận. Nhỡ trận mưa cuối thu làm trôi đi mất thì sao. Con người gì mà liều lĩnh thế! Nhưng tôi lại hoang mang lạ lùng. Thư gởi cho ai? Thái Phương là ai? Là hắn phải không? Hoa ti gôn, hẳn nhánh hoa này biết rõ ai đã đặt thư vào đây. Hoa biết rõ nhất, sao hoa có khẽ rung rinh trước gió như cùng chung nỗi sung sướng vu vơ trong lòng tôi? Ơi! Bức thư mầu nhiệm là chiều đứng dừng lại, nắng reo vui. Tôi nghe trong gió tiếng lá me thì thầm. Sáng thứ ba, sẽ có kẻ ngơ ngẩn đọc lại bức thư của mình đã đặt trên chỗ cũ, nhưng được thêm vài hàng chữ: "Đà lạt vui không? Sáng thứ ba đừng kiễng chân nhìn vào nhà, người ta đi học rồi. Nguyễn Thị Vân Duyên". Và có lẽ cũng thẫn thờ tự hỏi có phải ti gôn đã viết thư? Hay người con gái lặng lờ  trong bao lơn ấy đã dời chân đến đây ghi thêm vài câu làm người tưởng như đang trong giấc mộng! Thực hay hư?


LAM THỦY       

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 76, tuần lễ từ 9-11 đến 16-11-1972)
 

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2024

TRĂNG Ở HIÊN NGOÀI - Mường Mán

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
buồn bắt đầu từ hai vực mắt
rồi buồn bay lên tới đỉnh cây
cây trút lá mang buồn xuống thấp
trả lại người chút gió heo may

mùa thu đến em làm sao biết được
nếu không nghe chim thốt lời mây
nếu không kết tóc thành giông bão
gọi mưa về ủ kín hai vai

khi anh đến em làm sao biết được
nếu không treo trăng ở hiên ngoài
nếu cứ để mặc tình cho đêm rụng
những trái xanh lấp kín cổng vào

mùa đông đến em làm sao biết được
nếu không nghe trời trở lạnh trên cao
nếu không nhớ rằng mưa là thác
đổ từng giòng rượu mạnh xuống chiêm bao

khi anh đến em làm sao biết được
nếu không đong hạnh phúc đầy tay
nếu vô tình mà không cảm thấy
cuối lòng mình có một cơn say

mùa hè đến em làm sao biết được
nếu không nhìn chim đổi đường bay
nếu không ngắm cầu vồng năm sắc
để chọn màu may áo tương lai

khi anh đến em làm sao biết được
nếu không rung chuông báo động thiên đường
nếu không nhờ đốm lửa của que diêm
thắp mười đầu ngón tay bạch lạp

mùa xuân đến em làm sao biết được
nếu không mang mộng cũ ra hong
nếu không giăng tơ rối dọc ngang lòng
để bước chân âm vang ngàn nốt nhạc

khi anh đến em làm sao biết được
nếu buồn không lên tới đỉnh cây
nếu trăng không treo ở hiên ngoài
khi anh đến em làm sao biết được?

                                       MƯỜNG MÁN

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 77, tuần lễ từ 16-11 đến 23-11-1972)

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2024

HÀNG RÀO BÔNG GIẤY - Sao Hồng

 

Vị Thanh đứng thấp hơn hàng rào bông giấy nhiều. Hải chỉ kịp nhận thấy mấy sợi tóc con đứng trên đỉnh đầu Vị Thanh khi một ngọn gió nhẹ bay qua. Hải muốn gọi Vị Thanh nhích ra đây, đàng này cửa rào thấp, để được xem mặt Vị Thanh rõ hơn. Hai tuần rồi còn gì, Vị Thanh về miền biển với chị Nguyệt. Hải thường đứng một mình, chờ chiếc xe sơn trắng từ đầu đường chạy về mỗi buổi chiều. Vậy mà chiều nay Vị Thanh về rồi. Vị Thanh còn trốn sau hàng rào cao xanh um. Hải ngoắt tay:

- Ra đây Vị Thanh.

Hải nhìn mấy sợi tóc con lắc nhẹ nhẹ, Hải mím môi cười:

- Suốt đời Vị Thanh không làm người lớn được đâu.

Hải biết chắc Vị Thanh đang lè lưỡi. Thói quen của cô bạn đồng tuổi là vậy. Cái gì cũng làm ma nhát người ta, làm như người ta sợ. Còn lâu cô ạ!... Hải nghe giọng nói con chim trốn sau hàng cây bông giấy.

- Mấy ngày nay có bài nhiều không anh Hải.

- Có chứ! Một chốc Vị Thanh sang lấy tập ghi lại.

- Ghê!

Hải lại tưởng tượng thêm cái lưỡi dài đỏ loét vừa được chào mừng cây xanh bông đỏ.

- Vị Thanh đang làm gì vậy.

- Ai dám qua nhà anh.

- Sao vậy?

- Qua đường xe đụng.

Hải bật cười:

- Chưa chịu thua cô đâu.

Hải nhìn thấy mấy sợi tóc cao cao tí, có lẽ những đầu ngón chân của Vị Thanh đang nhón cao hơn.

- Anh Hải.

- Cái gì Vị Thanh?

- Cho Thanh mượn tập ghi cours lại nghe.

- Không bao giờ cho người đi chơi sung sướng như vậy.

- Ác như...

- Cái gì Vị Thanh.

- Thôi, không nói.

Hải không còn tìm được sợi tóc cao nữa, lấp loáng thấy bộ đồ trắng Vị Thanh mặc, Hải bực mình. Ba của Vị Thanh cẩn thận đến phát ghét. Ỷ nhà có hai cô con gái đẹp rồi trồng hàng rào dày cui, làm người ta hết cách. Hải tìm kế:

- Vị Thanh này.

- ...

- Vị Thanh đứng ra đây nói chuyện tôi sẽ cho mượn tập ghi cours.

- Thôi hổng thèm. Vị Thanh quên rồi.

Bây giờ tới Hải sợ Vị Thanh quên thật.

- Này, cho mượn mà.

- Không biết.

Hải trả thù mấy cái lá khía cạnh còn xanh, cho mầy chết. Ác quá chừng.

- Anh Hải nói gì vậy.

- À... tôi mắng con sâu.

Giọng Vị Thanh hơi lạc.

- Ở đâu anh Hải?

Hải cố nín tiếng cười.

- Ở gần tay Vị Thanh đó.

Hải nghe tiếng bạn la nhỏ. Nhưng sau đó hình như hơi thở nhẹ đi.

- Anh Hải nghe...

Hải cười tung. Chị Nguyệt ở đâu chạy xe về.

- Hải. Sao không vào nhà chơi. Vị Thanh đâu?

Hải chỉ tay.

- Trong đó. Em nói chuyện với Thanh.

Chị Nguyệt mở cửa.

- Con nhỏ này. Vào đây em.

Hải được dịp nhìn chị Nguyệt. Trời ơi! Sao chị đỏ hoét vậy. Vừa lúc đó Vị Thanh chạy đi. Hải kịp nhìn bộ quần áo trắng, mái tóc dài hơi quá vai, đôi dép trắng tinh, Hải cười với mình. Chị Nguyệt đóng cửa.

- À! Chị đi biển mà. Trắng sao nổi.

Thì ra vậy. Thảo nào Vị Thanh... Hải lại cười. Ít ra cũng tìm được "chân lý".

Hải ngồi xuống bộ ghế nệm ở phòng khách với mong ước lời nói chị Nguyệt lúc nãy sẽ thành sự thật. Em ngồi đây, chị kêu Vị Thanh ra nói chuyện. Hải đếm những tai hoa hồng đặt trên bàn. Đây là tác phẩm của Vị Thanh, Hải biết chắc vậy. Vì chỉ Vi Thanh mới ở nhà và mới tỉ mỉ thế này. Còn chị Nguyệt, đi làm cả ngày. Và Hải đếm thêm vòng chạy của cây kim bé nhất trên mặt đồng hồ. Hai ba vòng kim. Vị Thanh chưa hiện ra. Cô tiên của tôi ơi. Úm ba la... Hải lẩm nhẩm như đọc thần chú. Hải nghe tiếng dép lẹp xẹp. Vị Thanh ra rồi. Hải chuẩn bị nụ cười, nhưng lại là chị Nguyệt. Chị thay đồ ngắn, bộ đồ màu vàng bằng hàng nội hóa, tóc quấn lên bằng cái kẹp có cài hoa vàng. Hải cười với chị.

- Chị Nguyệt có vẻ mến màu vàng.

Chị Nguyệt ngồi xuống ghế:

- Vị Thanh mắc cỡ trốn rồi. À, em hỏi gì nhỉ. Màu vàng à? Ừ, chị mến màu này, nhưng có người cho là màu phản bội.

Hải lắc đầu:

- Em không nghĩ vậy. Màu mình thích là màu đẹp. Và người minh yêu thì đẹp.

Chị Nguyệt nhìn Hải:

- Hôm nay Hải có vẻ gì lạ.

- Dạ, xin lỗi chị, em về.

Chị Nguyệt đứng dậy theo Hải.

- Sao vậy Hải. Giận chị à?

- Không đâu chị.

- Hay giận Vị Thanh.

- Cũng không.

Chị Nguyệt lắc đầu:

- Vậy chị chịu.

Chị Nguyệt đưa Hải ra cửa:

- Quên, Vị Thanh nhờ chị nói với em cho cô ấy mượn tập chép bài.

Hải gật đầu rồi ra cửa. Hải dí sát đôi dép xuống mặt đường. Chiếc xe chạy ngang sau lưng Hải. Muốn  chết sao ông... rồi Hải nhìn theo. Cái giận chùng xuống. Vị Thanh mượn tập. Vậy Vị Thanh không quên. Hải cũng không giận. Ngày mai sang xin lỗi chị Nguyệt lần nữa. Có lẽ chị cười Hải. Nhưng không sao. Hải nghĩ đến dáng chạy của Vị Thanh ban nãy.


SAO HỒNG      

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 76, tuần lễ từ 9-11 đến 16-11-1972)

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

CON CHIM VÀNH KHUYÊN - Khái Hưng

Ngày nay ngắm chim vành khuyên tự do nhảy ngót trên cành, tôi không khỏi bùi ngùi hối hận. Là vì tôi nhớ tới một sự thê thảm đã xảy ra.

Hôm ấy, một buổi sáng cuối thu, trời vừa bắt đầu lạnh lại thêm có mưa phùn gió bấc trông như cảnh tháng chạp về gần tết vậy.

Chẳng biết làm gì, táy máy tôi lấy củi đốt lò sưởi ngồi nhìn lửa cháy và nghe than nổ rắc rắc cho vui.

Sự sung sướng - cái sung sướng êm đềm, lười biếng - như cùng khí nóng tiết ở các thớ củi ra mà theo hơi thở thấm vào trí não, tâm hồn tôi. Ngồi gác chân lên bàn giấy, tôi mỉm cười nhìn khói thuốc lá từ từ tản mạn bay lên trần, và tôi cảm thấy lòng tôi khoan khoái nhẹ nhàng.

Tôi vẫn định hút hết điếu thuốc là đi làm việc liền vì cuốn tiểu thuyết của tôi đã mấy hôm ròng không hơn một chữ. Nhưng gần hết điếu thuốc ấy thì lơ mơ nhưng không tưởng tới tôi đã đánh diêm hút điếu thuốc khác.

Tờ báo hôm trước, ai xem xong để mở trên bàn. Tôi uể oải đưa tay ra với lấy. Ðọc hết trang đầu nhưng bởi tâm trí tôi đầy những sung sướng không đâu, nên những tư tưởng ở ngoài không có lối lách vào được nữa...

Ðể mắt tới hàng chữ lớn "Có bão ở Vịnh Bắc Kỳ", thốt nhiên, tôi nhìn cảnh mưa phùn, gió bấc, lá rơi đập vào cửa kính đóng, tiếng kêu tí tách, và tôi tìm hiểu vì đâu trong những chuỗi ngày bình tĩnh lại bỗng xảy ra một ngày mưa gió như kia ! Há chẳng phải trận bão rớt đó chăng ?

Rồi tôi nghĩ tới những người bị nạn, khổ sở; những cảnh nhà đổ trước mắt tưởng tượng của tôi, rõ ràng hoạt động.

Bên ngoài gió thổi vù vù, màn mưa thướt tha che mờ cửa kính. Lá vàng bay tựa những chiếc thuyền trôi giạt trên làn sóng thảm.

Trong lò lửa than âm ỉ...

Bỗng thấy tiếng chíp chíp nho nhỏ dưới chân ghế, tôi cúi nhìn xuống : Một con chim non ướt lướt thướt đương xù lông, run lập cập.

Trong lúc mơ màng thương xót những kẻ bị khốn trong cơn giông tố ở chốn xa xăm, lòng trắc ẩn của tôi tưởng tượng con chim ra một người thoát nạn vào đây ẩn núp.

Tôi rón rén đưa tay ra bắt, con chim chỉ chiêm chiếp kêu mà không bay không nhảy. Có lẽ nó sợ hãi quá, có lẽ ban nãy một cơn gió mạnh đã phá tan ổ nó, và nó đã rơi xuống cùng với cái nệm êm ấm của mẹ nó đã làm.

Nằm trong lòng bàn tay tôi, con chim vành khuyên, vì kẻ bị nạn là một con chim vành khuyên, vẫn run lẩy bẩy, vẫn kêu chiêm chiếp. Lương tâm tôi thì thầm bảo tôi rằng tiếng kêu ấy là tiếng cám ơn của con vật ngây thơ.

Tôi lấy tờ báo gập lại dùng làm cái mền, xúc ít tro ấm trong lò, rồi tôi đặt kẻ chịu ơn tôi nằm lên trên. Bấy giờ con chim được sưởi đã hoàn hồn, nó không chịu nằm yên một chỗ, vừa kêu vừa nhảy dưới gầm bàn, gầm ghế.

Vì nhà có mèo, tôi sợ con chim xinh xắn kia gặp nạn một lần thứ hai, tôi liền đứng dậy săn nó khắp trong phòng, bắt kỳ được mới nghe. Tôi chỉ muốn nó được sống, được thoát nạn, dầu nó tưởng nhầm rằng tôi dữ tợn đuổi bắt nó, tôi há cần chi ? Thi hành một điều thiện với ai, ta có e gì kẻ kia không ưa, không muốn ?

Tôi lấy cái lồng bàn nhỏ úp lên con chim, định bụng khi nào tạnh mưa im gió, tôi sẽ thả nó lên cây. Sự làm ơn của tôi thực đã chu đáo.

Vào buổi trưa, khi trời quang đãng, khi ánh sáng một ngày thu tốt đẹp đã trở lại rực rỡ, trong trẻo tiếng chim trưa hót, nhảy nhót trên cành, khiến tôi nhớ tới sự giải phóng con chim vành khuyên của tôi, chưa đủ lông đủ cánh, chỉ biết kêu, biết nhảy, mà chẳng biết bay. Lòng sính làm phúc của tôi nghĩ đến tìm con chim mẹ mà giao trả lại con. Song trong trí tôi hiểu ngay là vô lý, và làm tôi phải tức cười.

Tôi liền mua một cái lồng nhỏ, thả con chim của tôi vào, chờ vài hôm, nửa tháng, khi nó đủ sức biết bay tôi sẽ trả tự do cho nó. Thiết tưởng cũng chẳng muộn gì...

Ở đời người làm ơn bao giờ cũng sung sướng hơn người chịu ơn. Ðó là do lòng tự phụ của ta hay đó là một bản năng thiên nhiên của loài người để giúp đỡ nhau trong sự bảo thủ Tôi không biết, mà tôi cũng không biết cái tính tự phụ trong sự thi ân và cái tính tự coi mình bị khuất phục trong sự thi ân có sẵn trong loài chim vành khuyên chăng. Tôi chỉ biết rằng từ hôm tôi tưởng cứu sống được một con vật yếu ớt thì tôi lấy làm sung sướng lạ lùng, còn trái lại, con chim vành khuyên, kẻ chịu ơn tôi, thì ra chiều tức tối giận dữ tôi lắm. Không một lần nào, khi tôi lại gần để cho nó ăn, nó thân chào tôi bằng tiếng chiêm chiếp ngây thơ buổi đầu gặp gỡ, nó bay nhảy huyên thuyên, đạp phá then công để tìm lối trốn ra.

Mà tôi, thì nào tôi có vẻ dữ tợn cho cam. Tôi vẫn tươi cười, se sẽ hút sáo, để khiến cho con chim yêu quý lầm tôi là đồng loại với nó. Thật ra, tôi rất mến nó, tôi thương nó, tôi ân cần săn sóc nó. Tôi nghĩ hết cách, làm hết mọi việc dù là cỏn con mà tôi đoán là sẽ làm cho nó vui lòng. Cái công nó ở bao giờ tôi cũng lau chùi cho được sáng sủa.

Trong cái nắp hộp kem tí hon, bao giờ nước uống cũng trong sạch. Trước kia bất cứ thứ hoa quả hay bánh mứt gì tôi đang làm thức tráng miệng cũng được : Tôi vẫn có tính dễ dãi. Ngày nay vì con chim của tôi, tôi bảo bếp bữa cơm nào cũng phải có chuối tiêu là thứ quà mà loài chim khuyên rất ưa, rất thích, vì thế con chim yêu quý của tôi mỗi bữa được ăn một mẩu chuối mới, vừa thơm vừa sạch.

Một sự lạ, nghĩa là lạ cho tôi ? Tôi càng ân cần săn sóc tới con chim bao nhiêu, nó càng tỏ lòng căm tức tôi bấy nhiêu. Buổi đầu, lúc tỳ tay lên lan can tôi đứng sát công, tò mò ngắm nghía, nó mới đạp, nhảy, phá phách. Một tuần sau, hễ thoáng thấy bóng tôi trong nhà bước ra hiên ra nó bắt đầu công lộn rồi. Ðến lúc về sau tôi sinh sợ hãi nó. Lòng sợ hãi ở lòng thương kia mà ra : Tôi không muốn vì tôi mà kẻ chịu ơn bị xây chân, rụng lông, sứt mẻ. Buổi sáng, bắt buộc phải ra thay nước, thay chuối cho nó, tôi làm các công việc ấy rất mau, rồi lại chạy vội vào trong nhà đứng nấp sau bức rèm ren nhìn ra.

Con chim đưa mắt nhìn quanh mình tưởng thấy bóng đêm bấy giờ nó mới chịu ăn chịu uống.

Một tính tình trái ngược nẩy ra trong lòng tôi. Con chim xinh đẹp càng ghét tôi, tôi lại càng yêu nó. Nửa tháng sau, tôi tưởng chừng hai chúng tôi không thể rời nhau ra được. Tôi nhớ lời hứa của tôi, tôi nghĩ tới ngày tôi sẽ giải phóng cho nó mà tôi buồn rầu lo lắng.

Tôi đã quen đứng sau bức rèm ren, nghe tiếng chiêm chiếp ngây thơ của nó, thì nó nhẹ nhàng nhảy nhót trên cái cầu tre bắc trong công. Khi nó biết bay, và giữ lời hứa tôi thả nó ra thì sao khỏi có một chỗ trống trong đời tôi. Sáng nào cũng vậy, vừa ngủ dậy, ở trên giường bước xuống dép là tôi chạy ra ngắm con chim của tôi trọn gần nửa giờ, vậy khi nó xa cách tôi thì trong mẩu đời ấy của một ngày dài đằng đẵng tôi sẽ làm cái gì ?

*

Một buổi sáng, mở mắt thức giấc, tôi nhận thấy một sự phi thường mới xảy ra. Mọi khi, tôi có đến gần nó mới phá phách, thế mà sáng hôm ấy, con chim nhu mì bỗng dưng làm ầm y như điên như cuồng. Thì ra trên cây sấu, lá xanh rũ bên hiên, có hai con chim vành khuyên đang vui vẻ tí tách chuyền cành, nên con chim của tôi muốn sổ công ra với bạn.

Tôi tức giận, nên đuổi hai con vật ranh đến làm mất sự bình tĩnh và có lẽ sự sung sướng của kẻ mà tôi sẵn lòng yêu thương, săn sóc.

Trong khi ngắm cành lá um tùm, tươi tốt, rung động trong bầu không khí trong trẻo lênh láng ánh sáng quanh mình, tôi lại quay nhìn cái lồng trơ trọi chật hẹp không một chút mỹ thuật, mà tôi nhốt con vành khuyên. Tôi là kẻ xưa nay vẫn thích cảnh đồi, cảnh núi,cảnh nước chảy mây bay, cớ sao tôi lại nhẫn tâm nhốt một con vật xinh xắn, nhanh nhẹn vào trong cái nhà tù kia được ?

Tôi vụt nhớ tới, và quả quyết mở cửa công giải phóng con chim. Thốt nhiên, tôi buông một tiếng thở dài; tôi tiếc cái thời kỳ sum họp của chúng tôi. Thực tôi nói ra, có lẽ không ai tin, nhưng tôi đã quen coi con chim vành khuyên của tôi như một người bạn tôi, tôi đã làm đủ thứ để mua chuộc lòng bạn tôi, để mong bạn tôi, không bao giờ muốn tự ý rời tôi ra, nhưng mà, mà, than ôi ! Tôi còn biết làm những gì để được bạn nhớ tới lưu luyến ?

Tôi buồn rầu rút cửa công lên, rồi tôi lại vội sập cửa công xuống. Rồi tôi thì thầm thành thật nói với con chim : "Thôi ta khất đến tuần lễ sau."

Buổi trưa, tôi loay hoay lấy cành sấu mềm xuống, buộc vào thân cây cọ đã sẵn có một cành khô mộc rất đẹp mà tôi cho leo từ xưa. Tôi treo lồng chim ở đó, cho lá khô mộc rũ lòng thòng qua then tre, như thế, dẫu bị nhốt, con chim của tôi vẫn được sống tron cảnh thiên nhiên. Ấy là vì tôi tưởng thế và tôi tưởng chắc "bạn tôi" sẽ được vui lòng.

*

Ðau đớn biết bao ! Tôi hối hận biết bao ! Một buổi sáng, ra hiên coi, tôi thấy con chim vành khuyên của tôi đã chết nằm trên những nan tre, hai chân màu nâu thẫm giơ lên và co quắp như chân con chim quay, cái đầu tý hon nghiêng về một bên, cặp mỏ vẫn ngậm khít và có một tia máu đen chảy ra mép. Hai cánh nó rã rời xõa ra. Có lẽ nó mới biết bay và trong khi nó thử sức bộ cánh của nó, nó đã quá văng mạnh mình vào then lồng đến hộc máu tươi ra đằng mồm mà chết.

Trời ơi ! Có thể như thế chăng ? Có thể cái vỗ cánh thứ nhất tập bay chuyền trong lồng là nguyên nhân cái chết kia ?

Trời ơi ! Có thể như thế được chăng ? Có thể cái ngày tôi hy vọng được cùng con chim nhỏ của tôi mãi mãi gần nhau lại là ngày nó cùng tôi vĩnh biệt. Phải, chiều hôm trước một người bạn chơi chim đã đến cho tôi một cách thần hiệu để giữ con chim ở mãi với tôi mà không cần đến lồng, đến dây buộc. Tôi cứ cho nó ăn bánh đậu xanh và dầu có thả nó ra, đến bữa nó cũng phải mò về. Thành thử tuy được tự do bay nhảy trên cây mà với mình nó vẫn còn có tình lưu luyến.

Tôi mừng quýnh, và buổi tối, tôi đã vội ra phố hàng Bạc mua một phong bánh đậu mùi va ni sực nức thấm qua lần giấy áo bọc ngoài.

Thế mà nó chết nó chẳng sống mà ăn bánh đậu của tôi.

Hay có tâm linh báo cho nó trước, nên nó không muốn để tôi lừa dối ?

Thế là hết, thế là từ nay mỗi sáng tôi chẳng còn núp sau cái rèm ren, ngắm nghía nó nhảy trong lồng. Ðứng trước tử thi con chim tôi buồn rầu bồi hồi và tôi hối hận.

Tiếng chiêm chiếp của đàn chim sâu, chim sẻ ở trên cành cây sấu càng làm tăng tình thương xót trong lòng tôi. Sự sum họp của chúng tôi vừa được ba tuần lễ.

Từ hôm ấy, mỗi khi ngồi bên lò sưởi, tôi lại nhớ tới buổi sáng cuối thu, u ám gió bấc mưa phùn cái buổi bão rơi đã gợi lòng trắc ẩn của tôi đối với nhân loại, đối với vạn vật.

Ngồi nhìn lửa cháy trong lò, nghe tiếng nổ rắc rắc tôi liên miên nghĩ tới những sự thiện, ác của loài người.

Tôi tin rằng con người vốn sẵn có lòng tốt.

Song chỉ có lòng tốt liệu đã đủ chưa ? Có khi vì bản tâm tôi tốt, vì tôi sốt sắng làm điều thiện quá mà tôi gây nên toàn những sự tai hại, cũng chưa biết chừng.

Ðối với con chim vành khuyên, bản tâm tôi chỉ muốn cứu sống. Khi lòng trắc ẩn hiện ra trong tâm hồn tôi, tôi có ngờ đâu một ngày kia nó sẽ đổi ra tình lưu luyến. Tình lưu luyến ấy chỉ là lòng ích kỷ, nhưng nào có nghĩ tới.

Lòng tốt của tôi khiến tôi ân cần săn sóc đến sự ở sự ăn, sự uống của con chim, tưởng như nó không còn thiếu một thứ gì. Tôi có ngờ đâu rằng đời con chim không phải chỉ có sự ở, sự ăn, sự uống. Trời đã sinh ra nó có đôi cánh, thì nó phải dùng để bay. Không được bay thì nó chết.

Cho hay ta muốn thi ân cùng ai mà ta không xét tới nguyện vọng, tới lòng sở thích của người ta thì sự thi ân của ta chỉ gây nên oán, nào có ích gì.

Nhìn lửa cháy trong lò, nghe tiếng nổ rắc rắc, tôi buồn rầu ngẫm nghĩ.
 
 (Trích từ tập truyện ngắn Dọc Đường Gió Bụi)

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2024

ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ - Trần thị Phương Lan


Vậy là một trong muôn vàn những giấc mơ lớn nhỏ của tôi cuối cùng cũng đã trở thành sự thật: Tôi được quay lại thăm Châu Đốc sau hơn nửa thế kỷ rời xa. Xưa Từ Thức cùng người thương/tiên nữ tiêu dao quên cả tháng ngày nơi tiên giới. Lúc sực nhớ đến cha mẹ bèn quay trở lại chốn hồng trần tìm kiếm thì hỡi ôi, hơn 500 năm đã trôi qua, cảnh cũ đã khác xưa, người xưa đã trở thành thiên cổ.

Còn tôi ư? Nếu không có "thổ địa" Châu Đốc là chị Thơ con bác giáo Đ., hàng xóm láng giềng của chúng tôi khi trước, làm "hướng dẫn viên du lịch", thì tôi đã không thể nào nhận ra lại được đường xưa lối cũ. Ví dụ, nhà công vụ của thân phụ chị Thơ trước đây nay đã trở thành một quán cà phê hai mặt tiền, hoặc Ty Thông Tin cách nhà công vụ của bác tôi một hương lộ nhỏ, qua bao đời chủ, đã biến hình đổi dạng thành khách sạn nơi chúng tôi vừa tạm trú qua đêm! Đúng là vật đổi sao dời!

Trong suốt chuyến đi về Châu Đốc kỳ này, tôi may mắn được nghe nhiều câu chuyện xoay quanh những nhân vật mà tôi từng biết khi còn nhỏ. Ví dụ như ông giáo sư Luông, người thường dắt chúng tôi đi hái hoa lục bình vào mỗi chiều thứ bảy, chính là cháu ruột của Tổng Trưởng Giáo Dục dưới thời Việt Nam Cộng Hòa Ngô Khắc Tỉnh, rồi sau này ông Luông lại trở thành con rể của ngài đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Trung Hoa Dân Quốc là ông Nguyễn Văn Kiểm, bào huynh của tổng thống Thiệu. Nghe kể tới đây tôi đã mừng hết lớn, vì lúc "quen biết" ông Luông tôi chỉ mới "tí tuổi đầu", chưa đủ lớn để mê mệt ông giáo sư đào hoa ấy, bởi vì nếu tôi sàn sàn tuổi người chị họ của tôi và những nữ sinh bạn của chị ấy, nếu phải lòng ông Luông thì tôi chỉ còn nước ôm đầu máu chạy về, từ chết tới bị thương, vì ông Luông dòng dõi danh gia vọng tộc như vậy, khó lòng có chuyện "Đài gương soi xuống dấu bèo cho chăng" lắm!

Đêm. Nằm trằn trọc trong khách sạn trước đây từng là Ty Thông Tin của Châu Đốc, tôi tiếc nhớ mùi hương hoa Dạ Lý và hoa Quỳnh bên nhà bác giáo lúc xưa thường thoang thoảng bay sang lúc đêm về. Cuối cùng tôi cũng biết được loài hoa nhỏ li ti màu trắng và rất thơm trước đây cũng được trồng trong vườn nhà bác giáo mà tôi tình cờ thấy lại ở Sài Gòn lúc gần đây mà tôi cứ thắc mắc mãi có tên là hoa Đuôi Chồn!  Không thích đi xe hơi vì bít bùng khó thở, dễ làm tôi nôn ói, tôi cũng chẳng thích nằm máy lạnh vì cùng lý do. Đối với tôi, hiện đại chỉ tổ hại điện.

Tôi mở cửa bước ra, ngắm thành phố Châu Đốc về đêm. Nhìn sang bên kia là chùa Bồ Đề, một địa danh vẫn còn giữ lại chút ít nét quen thuộc. Đối diện chùa, trước đây là bến xe đò đậu quanh bồn kèn, nay là bến xe taxi. Còn bồn kèn đã được lát gạch láng, gắn đèn xanh đỏ chớp tắt, nửa quê nửa tỉnh. Ôi còn đâu cây hoa phượng thương yêu thuở nào mọc ở bồn kèn, đã khiến tôi mang vào những bài tập làm văn luôn đứng đầu lớp. Gần chùa giờ có một quán ăn mặn bề ngoài tuy đơn sơ giản dị nhưng đồ ăn ngon hết biết.

Bờ sông Châu Đốc đối diện dinh Tỉnh Trưởng xưa kia nay có vẻ đông đúc bát nháo hơn, hướng nhìn sang Tân Châu cũng bị che khuất bởi những bè cá, và cầu tàu năm xưa chúng tôi thường ngồi đón gió tối tối nay có một bức tượng hình cá ba sa được dựng lên là biểu tượng của Châu Đốc. Dù vẫn biết rằng…You can never go home again (Thomas Wolfe)... Bạn không thể nào trở về chốn cũ lần nữa, vì mọi việc đều thay đổi, tôi vẫn không khỏi cảm thấy thất vọng giùm bài hát Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn của Văn Phụng giờ đây không còn thích hợp để tả cảnh bờ sông Châu Đốc nữa rồi. https://youtu.be/k8uelmx3wcg?si=CcHjdKfsAvlR01ni

Đi hết cả Châu Đốc, tôi chẳng tìm thấy đâu một cành hoa lục bình kỷ niệm thời ấu thơ, nhưng ít ra tôi vẫn còn được trông thấy lối đi hẹp khi xưa dẫn đến ao hoa lục bình, đàng sau những căn nhà phố, cách khu nhà công vụ ông Luông và những giáo sư trường Thủ Khoa Nghĩa ở, nơi lưu dấu những bước chân chúng tôi tới hái hoa những chiều cuối tuần.

Một đặc sản của Châu Đốc mà tôi đã vội "vồ" ngay lấy trong chuyến "hồi hương" này là những chiếc xe lôi chất chứa nhiêu kỷ niệm. Nhưng nhìn những người đạp xe lôi ốm nhách đến lòi cả xương, tôi thật lòng rất muốn trách móc những ai có bổn phận/trách nhiệm nhưng lại không tạo ra công ăn việc làm cho những người dân thấp cổ bé miệng nơi đây, dù đã suýt soát nửa thế kỷ từ "ngày ấy" đã trôi qua rồi.

Trần Thị Phương Lan     
(Bút nhóm Hoa Nắng)      

Hình đính kèm: Chùa Bồ Đề (giữa), xa xa là khách sạn Thành Phát màu trắng (Ty Thông Tin cũ)