Hiển thị các bài đăng có nhãn Mường Mán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mường Mán. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

MÊNH MÔNG NẮNG HIỀN - Mường Mán


Ngày nắng lớn. Chiều. Hình như biển luôn luôn có điều gì bất an trong lòng nên mặt biển nhăn.
 
Mỗi nếp nhăn là mỗi nếp lượn lấp lánh nắng. Nắng và biển cùng rực rỡ. Mùa thu đang rải hoa lên mặt biển sóng. Và, những dấu chân không quen biết nhau rải đều, lỗ đỗ trên dải cát, quanh chỗ hai người ngồi.
 
Người con trai búng mẩu tàn thuốc xuống mé nước, âu yếm nhìn người bạn gái:
 
- Anh vừa gửi biển một chiếc phao.
 
Người con gái mải bay lượn tầm nhìn ra ngàn khơi, lúc này thu ngắn khóe nhìn mênh mông lại:
 
- Chiếc phao gì đó?
 
- Cái tàn thuốc lá.
 
Đôi môi thoáng tươi một nét cười, người con gái khẽ hất mớ tóc đẫm nước mặn. Cái hất như một cử chỉ làm dáng quen thuộc của cô.
 
- Chiếc phao của anh nhỏ quá không cứu được ai đâu.
 
Người con trai duỗi chân trên cát:
 
- Cứu một chú còng tinh nghịch nào đó lỡ bơi xa bờ.
 
- Nhưng chiếc phao rã tan trong nước mất anh ơi.
 
- Ừ há!
 
Người con trai cười. Hai hàm răng đều, sáng. Người con gái dí ngón tay trỏ xuống cát viết tên mình và tên bạn. Hai cái tên đọng ánh nắng cùng lóng lánh, hằn rõ những đường nét mềm mại một cách khá dễ thương.
 
Nét chữ trên cát quyến rũ người con trai, hắn chăm chú nhìn rồi thì thầm:
 
- Này cô bé! Cô có nghĩ hai cái tên sẽ ngọ ngoạy bò đi không?
 
Mắt người con gái chợt ánh vẻ tinh nghịch:
 
- Ừ, em cũng nghĩ thế. Nếu nhờ phép lạ nào đó, hai cái tên cùng thức dậy và bò đi, trườn đi như loài động vật bò sát chắc thích lắm anh há!
 
- Nếu nó thức dậy thật, anh đố cô bé hai cái tên sẽ bò xuống biển hay lên núi?
 
- Sẽ xuống biển, biến thành 2 con cá tung tăng bơi lội.
 
- Không, sẽ lên núi biến thành chim bay bổng đi hái trái nuôi nhau chứ.
 
Cả hai cùng cất tiếng cười to. Người con gái trông ốm yếu như một cánh lá và người con trai rắn rỏi khỏe mạnh tựa một cành thông mà mớ tóc rối bù trên đầu hắn là tàng lá rườm rà.
 
Người con trai viết tên mình và tên bạn bất cứ chỗ nào tay hắn có thể với tới. Phút chốc, vùng cát quanh chỗ ngồi hai người ngoằn ngoèo những cái tên đan nhau.
 
Biển mênh mông rì rào sóng. Mặt trời trên đầu tựa một trái cây chín. Mặt trời mùa thu dịu dàng hơn mùa hè nhiều ; hình như nó được bọc bởi lớp lụa mỏng manh nào đó, chỉ ban phát cho trần gian những luồng sáng ấm, không nóng. Và, những tảng mây trôi khoan thai nhàn du qua khoảng trời rộng hình như cũng ướp thơm mùi hương nào đó, phảng phất qua hồn người mơ hồ chút nồng chút ngọt của thứ hạnh phúc bình dị, hòa bình.
 
Một con còng rón rén mon men đến bên bàn chân trắng muốt người con gái.
 
- Chắc nó nghĩ bàn chân em là một miếng san hô.
 
Người con trai cười chúm chím:
 
- Không phải đâu, nó đang say rượu, đang thất tình.
 
Người con gái lườm bạn:
 
- Sao anh biết?
 
- Nó một mình lẻ bạn, biển là 1 hồ rượu lớn, nước biển là rượu. Mỗi khi thất tình những chú còng uống nước biển và say như người ta say rượu.
 
- Anh chỉ tài phịa.
 
- Thật đó.
 
- Thế anh say rượu lần nào chưa?
 
- Chưa. Vì chưa thất tình. Giờ anh muốn biến thành chú còng con thất tình uống no nước biển và say.
 
- Say rồi con còng làm gì?
 
- Con còng sẽ vượt biển tới một ốc đảo ngoài khơi xa nhìn về bãi cát này.
 
- Nhìn về thấy gì?
 
- Thấy cô bé ngồi khóc một mình.
 
Người con gái ngúng nguẩy đầu, mái tóc nũng nịu bay những sợi óng ánh trong nắng.
 
- Xí, anh xạo không à! Ai thèm khóc. Sao anh không nghĩ em cũng sẽ biến thành 1 con còng khác bơi ra ốc đảo ấy tìm anh, cắn anh một miếng cho bõ ghét? Hứ!
 
Người con trai cười lớn. Tiếng cười của hắn làm con còng "thất tình" giật mình rời xa bàn chân người con gái, biến mất sau những mô cát chập chùng.
 
Dưới nắng, khuôn mặt người con gái sáng rỡ một vẻ đẹp dịu dàng. Gió trở cơn, mây lồng lộng trôi nhanh dưới vòm trời xanh ngắt. Màu nắng như phai vàng bớt bởi màu thiên thanh của trời và biển trộn lẫn.
 
Sóng thì thầm, thì thầm.
 
- Đố cô bé biết biển đang nói gì?
 
- Biển đang hát.
 
- Không, biển đang nói: cô bé năm nay lớn hơn năm ngoái.
 
Người con gái véo nhẹ cánh tay bạn:
 
- Thức dậy đi bạn ơi! Đừng mơ nữa! Năm ngoái mình gặp nhau ở Thuận An, giờ là Mỹ Khê.
 
- Ở đâu cũng biển cả!
 
- Khác chứ.
 
- Khác gì?
 
- Năm ngoái ở biển Thuận An anh dễ thương, năm nay ở biển Mỹ Khê anh dễ ghét.
 
Người con trai lẩm bẩm:
 
- Năm ngoái, năm nay, một năm rồi nhỉ?
 
Hắn nghĩ: một năm rồi hai năm, ba năm, có năm nào, mùa thu, mất nhau, một mình trở lại giữa vùng cát mông quạnh này, đứng, ngồi, ngẩn ngơ, ngơ ngẩn nhớ. Cô bé rồi sẽ lớn. Những cánh cửa trùng điệp của xuân thu đông hạ, của đời người liên tiếp mở ra. Lạc mất nhau. Không tìm thấy nữa.
 
Người con trai chợt thoáng rùng mình lo sợ, cuống quýt nắm lấy bàn tay bạn. Níu giữ. Vâng, phải níu giữ thật chặt.
 
Người con gái cúi đầu nhìn bàn tay cô nhẹ nhàng lùa cát đắp lên 2 bàn tay quấn quít ấy. Hai bàn tay ấm nóng khuất dần dưới làn cát nóng.
 
Và, bâng khuâng 2 đôi mắt ràng buộc những khóe nhìn. Hai môi cười mở ra mênh mông, thinh lặng dưới nắng.
 
 
MƯỜNG MÁN      
 
(Trích tuần báo Mây Hồng số 16, tuần lễ từ 31-10 đến 7-11-1972) 
 
  
 
 
 

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

DẤU THÁNH - Mường Mán


Máy bay đáp xuống phi trường Qui Nhơn, sau hai giờ nhồi đập, luồn lỏi dưới hàng lớp bụng mây trơn tuột. Hành khách nhiều người nôn oẹ ngay khi vừa vượt qua một phần ba đường bay. Mưa tạnh. Chiều ngự mênh mông phi trường trống. Bước xuống, ngạc nhiên thấy mình vẫn tỉnh táo, hình như trước đó anh đã ngủ một giấc ngon vùi, giấc ngủ nối hai thành phố và bất cần mây gió bên ngoài. Anh nhẩn nha nhớ lúc ngủ có mơ gì không. Chịu, không nhớ được. Gió lộng bốn bề, mặt đất lạo xạo sỏi vụn. Cái lạnh ở đây coi mòi hơn Huế một bậc và mấy nhịp. Cái lạnh dễ xui người ta cảm thấy lẻ loi khi đứng nhìn mông lên những chóp núi án ngay trước tầm mắt, mù sương nhạt khói. Anh ngẩn ngơ một phút giữa đám lao nhao cười nói của bọn người đồng hành, nhìn về hướng phố và bước ra khỏi "bầy nhặng" nhốn nháo đó. Chiếc xắc nhẹ hẫng, anh quàng lên vai đeo, dùng một tay níu giữ, tay còn lại thọc sâu vào túi quần ; với tóc bay, anh vừa đi vừa huýt gió như tên đãng tử đích thực. Đó là buổi chiều đầu tiên bước chân anh làm quen cát bụi thành phố em.
 
Con đường dẫn vào phố tương đối ngắn. Anh đi dưới những hàng hiên xa lạ, ném từng tia mắt vào tủ kính những quán hàng, chạp phô, ném lên bất cứ cái gì đụng phải. Sau một lúc do dự, anh đi quành vào công viên, bước lên mấy bậc cấp, đứng giữa căn nhà vuông lợp ngói, ngó mông bốn phía. Vẫn xe cộ, người, tiếng động, bầu khí ẩm ướt. Anh chợt nghĩ mình đã lầm khi bỏ Huế ra đi. Ở đây cũng cảnh vật, cũng cách bài trí phố xá chẳng khác gì Huế mấy tí, nhưng hình như nhạt tẻ hơn và rời rạc hẳn ra, mình chẳng ăn nhập vào nhịp quay trở nào cả. Dường như anh hơi buồn thì phải! Tiếp tục thả bộ dọc dài dưới những hàng hiên, chơi trò chắp vá những ý nghĩ không ra gì trong đầu, có lúc, anh suýt đâm sầm vào người nào đó trên đường, vội vàng xin lỗi, người nọ ngó anh bằng đôi mắt của Chúa Cứu Thế, làm anh suýt nổi giận. Phố lên đèn. Anh bước vào một khách sạn tương đối rẻ tiền, tra chìa khóa vào ổ mở cửa một căn phòng tối mò. Anh lần tay quanh tường tìm nút bật đèn, bật lách tách hai ba cái không thấy đỏ, anh bực bội định xuống tìm gã quản lý khách sạn xài xể một mách, nhưng lười biếng tính đoạn đường, xuống tới tầng dưới, phải đi quả dãy hành lang thẳng, một khúc cầu thang cong, đủ thấy mệt. Nằm trong tối cũng chẳng sao. Anh duỗi dài tay chân như tên chết đuối vừa được vớt ra khỏi nước. Khách sạn với những ồn động riêng của nó. Anh cố không để ý, nghe ngóng gì, tự nhủ mình có thể yên tâm nằm ngủ đến sáng, hoặc ngủ luôn, chẳng bao giờ trở dậy mà chẳng sợ ai tới quấy rầy. Lúc hai mắt đòi ngủ, cái bụng nổi lên gào thét. Đói. Anh chồm dậy. Qua hết khúc hành lang thẳng, quẹo xuống đoạn cầu thang cong, đụng đầu một đứa con gái đứng ở nấc thang thứ sáu. Ả đưa tay vuốt tóc, cười. Nụ cười sáng trắng, đầy răng. Anh chun mũi ngửi mùi nước hoa phả ra từ nắm xương gói trong chiếc áo bông xanh của ả, rồi khua hai tay, ra cái điều (ta đây) vội vã lắm.
 
- Đói và mệt.
 
Anh nói cộc lốc, chẳng cần biết ả nghe thấy không, cũng đếch biết ả cần mình không? Anh đi một mách tới nấc thang cuối, dừng lại trước chiếc bàn kê gần ngách cửa, nói với gã quản lý đầu hói ngồi trong chiếc ghế bành rộng:
 
- Ông ơi, trên kia không có đèn.
 
Gã dời mắt khỏi cuốn sổ, ngẩng lên:
 
- Thưa, phòng mấy ạ?
 
- Phòng 34, lầu 2.
 
Tự dưng, ý định xài xể gã biến đâu mất. Rõ ràng, anh đã nói với gã bằng cung cách hết sức lịch sự. Anh ra đường.
 
Giữa khoảng trống thụt lùi vào góc khuất bên hè đường, nhiều chiếc bàn vuông kê quanh cái xe phở ngút khói. Anh dồn vào bụng thứ nước nóng nổi lềnh bềnh những miếng bột mỏng sợi, thịt và mỡ, uống từng ngụm bia mát lạnh sảng khoái. Đó là tô phở và chai bia thứ nhất anh hưởng thụ ở thành phố em. 
 
Khi cúi xuống bật lửa mồi thuốc, nghe ai đó gọi tên mình giọng lạ hoắc, anh ngẩng lên, đúng lúc bàn tay người nọ vỗ lên vai, hắn đứng lù lù trước mặt. Anh không giấu được niềm vui, vụt đứng dậy, kêu lớn:
 
- A! Thông, mày ở đây hả? 
 
Hắn cười kéo ghế ngồi:
 
- Huế không chứa mày nữa hả?
 
- Mô có, tao tự ý bỏ đi mà.
 
Câu chuyện tiếp nối nồng nhiệt giữa men bia và khói thuốc. Khuôn mặt người bạn đẩy anh lùi xa về mấy năm trước. Anh hơi ngạc nhiên khi nghe hắn nói:
 
- Mày và tao xa nhau cũng gần ba năm.
 
Ba năm? Thời gian đó anh làm gì nhỉ? Ba năm, thằng bạn lưu linh qua bốn, năm thị trấn gì đó, giờ tạm dừng lại nghỉ mệt. Hắn cười hoan hỉ:
 
- Giờ tao khá rồi, có thể nuôi mày, sáng cà phê, trưa chiều cơm nước hẳn hòi, khỏi lo đói.
 
Anh hỏi hắn hiện làm thống chế gì, hắn gật gật cái đầu thưa tóc:
 
- Tí nữa về nhà rồi biết.
 
- Mày có cả nhà nữa à? - Anh ngạc nhiên kinh khủng.
 
- Tại sao không?
 
- Có lẽ thêm một mụ vợ và một bầy con nữa phải không?
 
- Tao vẫn độc thân.
 
Giọng hắn chợt tình cờ buồn bã. Hay chẳng buồn bã tí nào, cái buồn bã chỉ riêng anh tưởng thế cũng nên. Khuôn mặt hắn rắn, sạm dưới ánh sáng phù ảo của ngọn đèn đường từ ngoài hắt vào. Anh thấy ấm cúng khi nghe hắn nhắc vài ba kỷ niệm cũ, với giọng hết sức chân tình cảm động.
 
- Ba năm. Mày đã làm gì?
 
Hắn hỏi và trợn mắt nghe anh bảo chẳng làm gì hết. Lát sau, anh trở lại khách sạn, lấy hành lý, theo hắn về nhà.
 
Căn nhà hai phòng, mặt trước ngăn ra, kê hai dãy tủ kiếng đựng đầy sách, tiểu thuyết, giáo khoa, văn chương, tư tưởng, khoa học, bói số, kiếm hiệp... các thứ báo đặt từng chồng chìa ra ngoài khoảng hiên đìu hiu ngắn. Một tủ kiếng khác, nhỏ, thấp hơn mấy cái kia, đựng những bản nhạc thời thượng, bút mực, dụng cụ văn phòng, vé số kiến thiết. Vẻ sơ sài, nghèo nàn giấu giếm sau mấy xó ngách lấm bụi và màng nhện. Đó là thế giới của Thông. Mỗi ngày, hắn trịnh trọng ngồi sau chiếc quầy gỗ cam tâm, lơ mơ lạnh lùng nhìn ngày tháng trôi qua trên cuốn sổ chi thu, phiếu nhận hàng một cách cần mẫn, chí thú và can đảm. Anh ở lại với Thông một đêm. Sáng hôm sau, xách gói đi nơi khác. Bởi, ngó điệu dáng cần cù của Thông trụ trì sau quầy sách, anh đâm sốt ruột và, cảm nhận sâu xa mối bất ổn nào đó khi chạm mặt bà dì, ông dượng, cô em gái hắn. Thông giới thiệu anh với ông già ở gian kế bên. Anh há hốc mồm nghe hắn giới thiệu anh làm nghề dạy học. Ông già cẩn thận chiêm ngưỡng từ đầu đến chân anh, như thể ngầm đo lường coi anh có bao nhiêu ký lô mô phạm trong người, rồi khẽ gật đầu. Chỗ ở khá tiện lợi, căn nhà có cái gác gỗ, bên dưới dùng làm quán ăn. Anh đi về, ăn uống lúc nào cũng được.
 
Căn gác là nơi thờ phượng gia tiên ông chủ quán, ngay buổi đầu, ông cao giọng khuyến cáo:
 
- Tôi nể cậu Thông lắm mới để thầy ở trên, mong thầy giữ ngăn nắp, sạch sẽ cho.
 
Anh gật đầu, cố vẽ nụ cười phù thủy, xui ông ta yên lòng.
 
Gác khá rộng, có hành làng ngó ra khu vườn phía dưới, bên kia vườn, tiếng máy chạy nước đá nghe rõ mồn một. Đêm đầu tiên, anh không thể ngủ trước tiếng động náo hoạt đó, riết rồi quen, quen tới độ ghiền. Tiếng máy giữa khuya lắm lúc ngỡ in tiếng sóng biển. 
 
Mỗi sớm mai, phố phường còn ngợp trong màn sương bịt bùng, Thông và anh thả bộ đến cái quán cà phê không tên ở bến xe, cách chỗ ở chưa đầy hai trăm thước. Quán cà phê của lão Tàu già, và đứa con gái mười sáu tuổi ốm nhom, có tài cầm một lúc 5 tách cà phê bốc khói trong tay không biết nóng. Ngồi ở đó, tán gẫu đủ thứ chuyện với những người tài xế. Nghe họ kể chuyện đường xa, đèo dốc hiểm nghèo, tai nạn, buôn lậu... Tiếng nói chuyện ngấm trong khí lạnh, tiếng nổ, mùi khói xăng ngầy ngật ấm cúng. Trong không khí ấy, anh tìm thấy sự thoải mái đích thực. Những nét mặt cần lao (đôi khi dính đầy dầu mỡ) cười, nói, chửi thề, văng tục dễ dàng, không có giới hạn nào ngăn cách giữa bọn họ. Khoảng 7 giờ, anh đáp xe lam đến trường, Thông trở về trụ trì sau quầy sách của hắn. Ngôi trường anh theo học nằm trong vạt đất trống trồng toàn dương liễu khá thơ mộng. Mỗi ngày, anh ôm vở đến đó, ngồi nghe những ông thầy luống tuổi giảng luân lý đạo đức ; những đức tính cần thiết, ắt có và đủ, đào luyện cho lớp người làm nghề gõ đầu trẻ trong tương lai. Anh ngồi ở đó và, nhiều lúc chẳng nghe thấy gì hết những lời giảng trơn tru hơn mỡ, trôi tuột ra khỏi trí óc anh hết sức dễ dàng, lao xao mơ hồ, không lượng không phẩm không mùi vị. Dường như, anh nhận ra mình chẳng có cơ duyên gì với cái nghề này. Hay nói cách khác, anh ngầm đồng hóa và coi chỗ lui tới hàng ngày như chỗ để nghỉ chân. Trường cung cấp đủ giấy tờ hợp lệ ra đường, khỏi lo nhân viên công lực mời vào trại nhập ngũ sớm. Nghề gõ đầu trẻ là nghề cao quí, anh không coi thường nó, nhưng anh nghĩ nó tĩnh quá. Không ai hiểu mình bằng chính mình. Anh tự biết anh là đứa có máu hiếu động. Đó là khoảng thời gian buồn bã nhàm chán nhất thuở anh mới tới cư ngụ ở thành phố em.
 
Bích yêu dấu. Nhớ không? Anh gặp và quen Bích vào những ngày cuối mùa thu. Trời lắm gió, thưa mưa, lửng lơ mây trắng. Anh quen biết Bích qua Diệu. Diệu, bạn của Thông, gọi Thông bằng chú mỗi lần vào quán sách, dáng người nhỏ nhắn, loắt choắt, môi cười tươi và giọng nói mỏng như giấy pelure vò nát. Với dáng dấp đó, anh kết luận: Diệu thật dễ mến.
 
Một buổi sáng nghỉ học. Anh ngồi với Thông sau quầy sách, buồn vui theo những bước hành hiệp giang hồ của đôi trai tài gái sắc Vô Kỵ Triệu Minh. Bích tới mang theo cơn mưa nhẹ, làm nhòa cả nhan sắc "nguyệt thẹn hoa nhường" của Triệu Minh. Anh bỏ rơi Vô Kỵ, bỏ rơi Triệu Minh, ngẩng nhìn và, không thể rời khuôn mặt sáng trăng vừa bắt gặp. Đôi mắt đen xếch, hai mớ tóc úp mở hững hờ, phút ấy anh mơ hồ tiên cảm tâm hồn mình sẽ bị đóng chặt trong hai dấu ngoặc đơn (Hai dấu ngoặc đơn, chính là hai mớ tóc úp mở hững hờ của Bích đó. Biết không?) Diệu liến thoắng cười nói. Bích chạm cái nhìn chiêm bái nóng nảy của anh, bèn giận dữ gom hết ngôn ngữ trên trái đất thành một câu lí nhí:
 
- Lấy cho Bích cuốn Hóa học, chú Thông.
 
Mưa chẳng nhẹ nhàng quấn quít bằng giọng nói hôm ấy của Bích đâu. Anh bảo đảm thế. Và, cũng hôm ấy, anh đoan quyết, chưa có gã trai nào chóng si tình, ngơ ngẩn bằng anh, khi Bích kéo tay Diệu bước mau ra khỏi hiên quán.
 
Thông nhìn anh, đùa:
 
- Nửa hồn mày dại khờ rồi à?
 
Rõ ràng, hắn đã bắt quả tang vẻ ngơ ngẩn đìu hiu của anh, anh đành cười lấp liếm:
 
- Nếu biết sáng nay có nàng tới mua cuốn Hóa học, đêm qua tao đã viết sẵn vài lời ngợi ca vào cuốn Hóa học ấy, sáng nay đưa bán là vừa vặn.
 
Thông cười ngất:
 
- Nói dóc.
 
Dóc thật. Hồi đó anh dóc dàn trời mây.
 
Em đã tới và, chỉ có thể cho buổi đầu. Mấy ngày sau đó, anh như cậu bé mười bảy tuổi, mơ mộng hết sức. Hình ảnh Bích bay múa trong những giấc ngủ của anh, tựa cánh bướm chở vào trời một mùa xuân lạ. Từ đó, quãng đường tới trường anh trở nên xa diệu vợi, không sông cách núi ngăn, anh cũng thấy khó mà ôm vở đến đó đều đặn ngày hai buổi. Ngược lại, quãng đường tới trường Bích, theo lối dẫn ra biển, trở nên thật gần. Anh bắt đầu đi đếm gạch lát hai bên lề con đường ấy, hỏi thăm viên gạch nào, còn lưu dấu người ta thường đi qua? Không viên gạch nào chịu lên tiếng trả lời anh cả. Anh học tính nhẫn nại của loài ong, siêng năng ngày 4 bận đi về. Thỉnh thoảng gặp Bích và Diệu, anh vờ đưa mắt lên ngọn cây mỉm cười với nắng, nhưng thật ra hồn anh lúc đó muốn mọc cánh bay theo.
 
Một hôm anh bỗng can đảm lạ thường, không thèm nhìn đỉnh cây cười nắng nữa, gặp Diệu và Bích, anh mau mắn chào hỏi và, với sự nhanh nhẹn như sóc của bất cứ gã trai nào lúc gặp người mơ, anh "nhào" tới gợi chuyện. Không biết bữa đó khả năng văn chương thi phú của anh cho đứa nào mượn hết. Anh nhớ, hình như anh đã nói với Diệu:
 
- Diệu làm "trái độn" giữa anh và Bích, Diệu nhé.
 
Diệu nhìn anh cười. Danh từ trái độn anh học lóm ở mấy cái tin tức thời sự trên nhật báo. Hồi ấy, người ta xôn xao, bởi có dư luận cho rằng miền Trung sẽ bị cắt làm trái độn giữa hai miền Nam Bắc. Trái độn, theo anh nó như cây cầu bắc nối giữa anh và Bích qua Diệu. Diệu hiểu ngay, Bích ngơ ngác tí ti rồi ném sang anh tia nhìn sắc nhọn tựa mũi tên, anh không né tránh nên "bị thương" nhè nhẹ. Suốt dọc đường xanh bóng cây, chỉ có anh và Diệu nói chuyện, Bích giữ im lặng, cười góp. Anh mơ hồ nhận ra chút nồng nàn không màu nào đó ẩn quyện trong sự im lặng của Bích.
 
Những ngày tiếp theo, chúng ta gặp nhau đều đặn hơn. Anh thường cúp cua những giờ học buổi sáng đi đón Bích. Trường Nữ trung học gần kề mé biển. Hai hàng cây dương liễu reo gió. Cát trắng. Áo trắng in bóng xuống lòng anh trong. Mùa thu sắp dứt, từng đợt nắng mỏng đọng loãng dưới mặt trời ấm. Anh tha thẩn một mình, đợi giờ Bích tan học, hoặc vào các quán giải khát rủ bọn trẻ đánh bóng bàn. Lúc này Bích đã chịu "khai khẩu", chúng ta thường đi dạo một vòng trên biển, trước khi Bích phải về kịp giờ cơm ở nhà. Lắm lúc cả hai cùng im lặng suốt thời gian đi bên nhau. Bích tinh nghịch bốc cát dồn đầy cặp sách, đầy túi áo anh. Anh đùa:
 
- Đem cát về dồn đống lại, mai sau làm nhà.
 
Bích nguýt:
 
- Nhà để chi?
 
Anh đùa:
 
- Một túp lều cát...
 
Bích vội vã cướp lời:
 
- Và một anh chàng khùng.
 
Đại khái thế, chúng ta nói toàn chuyện vớ vẩn, nhưng nói chuyện chỉ là cái cớ, những cái háy và nguýt của Bích mới tuyệt vời. Đôi khi Bích kể luôn miệng về đủ thứ chuyện. Những chuyện vặt vãnh rtong đời sống và những điều trong ước mơ. Vừa nghe Bích nói, anh vừa ngước nhìn bầu trời cao, nắng lao xao trên hàng đọt lá xanh, thấy mình là kẻ hạnh phúc nhất xứ. Dù sao, Qui Nhơn cũng đã mở ra cho anh thấy vài màu sắc êm đềm. Bích hiền và dịu dàng là thứ sắc màu kết tụ trong anh niềm hân hoan hương mật. Đời sống, với anh, từ đó, không còn chỉ là sự nối tiếp nhàm chán của ngày và đêm, nó còn túa ra hàng trăm tay quyến rũ. Cây đời anh trổ toàn lá vui. Chim đầy hồn ríu rít. Ngày ấy, tình kết thành trái. Trái lo sợ cắn giữa hai bờ môi son sẻ, vỡ nên lời:
 
- Ở nhà đã biết, con Bích em thấy bọn mình đi với nhau, nó mách bố, bố nói phải lo học.
 
Cắn vỡ trái lo sợ xong, Bích đăm chiêu im lặng. Anh bối rối nhìn vẻ mặt lo âu đến tội nghiệp của em, cười trấn an:
 
- Ăn thua gì, kệ xác Bích em.
 
Nỗi sợ ghê gớm gấp ngàn lần anh tưởng. Bích bỗng đổi giọng cứng bất ngờ:
 
- Bố nghiêm lắm, không ăn thua à? Hay thôi đi.
 
Ơ hay! Anh nghĩ Bích quá vô lý, sợ cái không đáng sợ chút nào. Anh nóng nảy một cách đáng đánh đòn:
 
- Thôi thì, anh về đây.
 
Thế là tình ta đầy ắp thêm một cuộc giận. Bích quay lưng, bước nhanh gần như chạy vào cổng trường, mặc dù đang giữa giờ ra chơi. Anh liều lĩnh đuổi theo Bích, bọn học trò đứng lao xao dưới hàng dương xanh lá, tụm ba tụm bảy quanh sân trường xanh cỏ, cùng loạt mở lớn mắt ngơ ngác ngó theo chúng ta. Bích trốn biệt vào lớp học. Sự liều lĩnh gan lì của anh tới đó đành dừng lại, trở thành con số không. Anh đứng trên bậc cấp, ngượng muốn chết khi lũ nhỏ bạn em "a thần phù" sấn lại, vây quanh tò mò xoi mói. Anh vội vàng quay lưng, nhắm phía cổng trường chạy bay ra ngoài, cảm thấy những trận cười cỡi gió đuổi theo lạnh cả gáy. Trưa hôm ấy, về nhà, nuốt cơm không vô, vì cơn ngượng còn nghẹn cứng trong cổ, ngượng và tức muốn ứa nước mắt, anh soi gương, thấy mình mang khuôn mặt của kẻ buồn rầu nhất thế giới. Anh bỏ không thèm ra biển đón Bích ba bốn hôm. Cuối cùng, không chịu được nỗi áy náy ray rứt trong lòng, anh lại ra bãi tìm bọn trẻ rủ đánh bóng bàn, làm mặt lạnh như thể chẳng cần đợi ai hết. Dường như Bích biết điều đó (qua Diệu? Qua lũ nhỏ bạn tinh nghịch?) nên những giờ nghỉ cuối buổi học chẳng thấy Bích ra bãi nữa. Anh thấy hoảng thật sự cấp tốc đi tìm Diệu nhờ hòa giải.
 
Gặp lại nhau. Cơn giận rút lui nhường cho nước mắt. Anh lúng túng không biết dỗ dành cách nào. Những giọt nước mắt long lanh dưới nắng, phản chiếu màu xanh bao la của biển trước mặt chúng ta. Biển kính cẩn nghiêng mình trước những giọt lệ nồng nàn của Bích. Và Bích, dịu dàng ngồi xuống bờ cát ẩm mục, bên anh. Ngoài khơi xa, nắng chói lòa trên đỉnh Hòn Xanh, thấp thoáng vài cánh buồm lẳng lơ cợt gió. Anh đã nói gì nhỉ? Anh nói chuyện trên trời dưới đất và, thầm mong biển khuyên Bích đừng khóc nữa.
 
Có gì đâu mà khóc? Bích em biết, bố biết, cả nhân loại biết hai đứa thương nhau, mình cũng không ngán.
 
Bích lắc đầu nhè nhẹ. Có điều gì đó chưa thể nói ra. Anh cảm tưởng điều ấy ẩn giấu trong dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích. Cái dáng ngồi buồn bã đã in đậm vào suốt chiều dài tâm hồn anh, mãi mãi, tới bây giờ chưa phai. Dấu cát hằn chỗ ngồi rồi sóng sẽ xóa, nhưng bờ vai nghiêng, bàn tay chống, cụm tóc dạt bay... mãi còn là những nét vẽ chân phương nổi bật trên sổ ngày tháng thuở ta chưa biết thế nào là sự chia lìa. Bích nín lặng, tưởng chừng bờ bãi phút chốc thành hoang thiêng. Chúng ta cùng buồn in hai viên cuội nhỏ trước mênh mông biển lớn. Anh quì gối trên cát, nhìn thật rõ chân trời phía xa, nhưng không thấy môi Bích thốt lời nào. Anh thèm nghe Bích nói, Bích cười. Im lặng một chặp, anh lo Bích biến thành tượng trong cái dáng ngồi trông ngước xa xăm kia. Anh chợt tinh nghịch và ác độc như cậu bé lên mười, dùng đầu điếu thuốc hực đỏ dí vào cổ tay trái Bích, đang chống trên cát, yếu đuối tựa ngó sen non dưới tầm mắt anh. Bích mím môi chịu đựng được một lúc rồi bật cười, mắt bao dung khóe nhìn trách móc nhẹ. Anh thảng thốt không hiểu sao mình lại điên rồ chơi trò trẻ con đó, rồi lặng người hối tiếc. Dúm lửa hực đỏ đầu điếu thuốc đã ghi khắc vào da thịt em niềm đau đớn. Đó chính là niềm đau đớn đầu tiên, anh cho em.
 
Tối hôm ấy, gặp nhau giữa công viên. Bích đưa cổ tay trái cho anh dưới ánh sáng ngọn đèn đường. Vết bỏng mưng thành một bọng nước bầm đỏ. Bích tròn xoe mắt nghe anh nói khoác:
 
- Bích biết anh đã ghi cái gì trên tay Bích đó không?
 
Bích khẽ lắc đầu. Anh cười bí mật:
 
- Một dấu thánh.
 
Bích tỏ vẻ không hiểu dấu thánh là gì, ngay cả anh cũng không biết giải thích ra sao nữa. Và, thật tình cờ, câu giải thích của anh trở nên câu thề nguyền:
 
- Bao giờ cái dấu thánh này chưa phai thì anh và Bích chưa xa nhau. 
 
Bích gật đầu đồng ý.
 
Từ đó, Bích mang dấu thánh trên tay, như là một bằng chứng yêu anh. Bằng chứng thiêng liêng thơ dại chỉ riêng hai đứa biết.
 
Để Bích em khỏi thấy, khỏi mách bố, chúng ta đồng ý với nhau mỗi tuần chỉ gặp gỡ một lần vào chiều thứ sáu. Từ đó, thứ sáu trở thành ngày mong đợi nhất trong tuần.
 
- Thứ sáu, buổi chiều, từ trước đến nay Bích vẫn nghỉ, giờ xách cặp "đi học" thế nào bố cũng nghi.
 
 Bích nói, đôi mắt bối rối chớp nhanh. Anh e sợ nỗi lo sợ tức khắc ập tới, kéo theo cơn giận lẫy khác thêm rắc rối. Anh nói lẹ:
 
- Dễ quá, Bích chỉ cần ghi thêm vào thời khóa biểu bốn giờ sinh ngữ vào chiều thứ sáu, trình ổng xem là xong, trường dạy thêm giờ là chuyện thường.
 
Bích tươi cười gật đầu. Cả hai cùng thấy hạnh phúc, tưởng chừng muốn ôm nhau nhảy ầm xuống biển.
 
Về biển không xong, chúng ta tính chuyện dắt nhau lên núi. Chuyến xe lam băng qua nhiều khu vườn xanh mượt, bỏ lại đằng sau phường phố phức tạp, đôi mắt dòm ngó của Bích em. Chúng ta đến chỗ cư ngụ của người chết. Nghĩa trang Phật giáo nằm thoải dưới chân đồi nhiều đá lắm cây. Xa tít phía trái, nắng chếch rõ dáng Đức Mẹ đứng dang tay trên mộ Hàn Mặc Tử. Từng lớp bọt trắng òa vỡ dưới chân Ghềnh Ráng, không biết có làm nguôi lòng thơ nuối của người thi sĩ quá cố ấy không? Anh muốn có đêm trăng dẫn em lên đó, thử nghe im vắng đưa ta tới cõi nào. Nhưng đường vào mộ bấy giờ có những người lính Mỹ trấn giữ. Bước qua cổng nghĩa trang là lớp lớp cỏ may đưa tay chào đón. Hàng ngàn ụ đất, hàng trăm nấm mồ. Mỗi nấm mồ cho một người chết và, hoang vắng dành riêng cho chúng ta. Pho tượng Phật đứng trên bệ cao, không biết đã từ bao lâu, nước sơn cũ mèm dưới sức sương gió gội, đổi màu vàng xỉn. Đôi mắt ngưng thần vẫn cúi xuống. Nhìn pho tượng Phật cô độc giữa nghĩa trang, Bích kể:
 
- Hồi nhỏ Bích suýt đi tu. Vì giận bu nên bà ngoại dẫn Bích lên một chùa miệt núi, dạo còn ở ngoài Bắc cơ. Hai bà cháu ăn chay niệm Phật được nửa tháng, bu tìm lên khóc lóc đem về. Nếu Bích đi tu, sức mấy bây giờ anh gặp.
 
Lang thang trên những lối cỏ, để mặc tình gió mang niềm vui lên cao. Chúng ta say mê nói về tương lai, những toan tính cho đời sống mai sau ngay trên phần đất của người chết. Hết thảy mọi cặp tình nhân trên trần gian điên dại này, đều dìu nhau tới những chốn thần tiên mơ mộng, chỉ riêng đôi ta, mượn nơi nghĩa địa làm miền rong chơi. Đôi mắt Bích em đã vô tình biến thành mắt của mụ phù thủy săn đuổi và, chúng ta chạy trốn, né tránh hàng loạt mũi tên thành kiến bắn ra từ bu, bố, từ cái gọi là nề nếp gia đình, từ sự kỳ thị dòng giống man rợ, vô nghĩa lý. Bích chỉ biết thương yêu và cúi đầu tuân phục. Chúng ta thường trở về lúc cơn mưa cuối mùa ào tới xua đuổi. Một chuyến xe lam khác lại có hai chỗ ngồi. Anh vừa nghe mưa vừa gỡ vô số kim cỏ may vướng mắc trên hai tà áo Bích (bởi kim cỏ may có thể tố cáo với người nhà cuộc đi chơi của chúng ta).
 
Chừng nửa tháng sau, tình yêu lại lái qua thêm một chặng đường buồn. Bích bối rối bảo anh:
 
- Bu vừa từ Sàigòn về, bu biết chuyện. Một cô giáo ở trường Bích, bạn bu, đi thăm mộ bắt gặp bọn mình, bả mách lại với bu, bu quyết liệt lắm.
 
Đôi mắt Bích đỏ hoe, loáng ướt, chiếc cặp trên tay như muốn rơi tuột xuống đất. Bích nhìn anh bằng khóe nhìn của con chiên ngày tận thế:
 
- Bích đã khai hết rồi.
 
Anh hình dung khuôn mặt xấu xí của cô giáo vô duyên nào đó và vung trái đấm bâng quơ vào không khí. Cơn tức nghèn nghẹn trong cổ họng. Bố biết, bu biết ; Bích em mách rồi cô giáo mắc dịch mách thật rối chuyện. Hôm ấy, Bích nói nhiều, toàn chuyện lo âu buồn tủi. Tiếng nói lắm khi lạc giọng bởi nước mắt. Anh thấy, với tình yêu Bích hình như anh trở nên bé bỏng lạ kỳ. 
 
18 tuổi. Trước mặt sau lưng Bích có gì? Bu người Bắc. Bố người Trung Hoa. Quê nội và quê ngoại Bích chưa bao giờ nhìn thấy.
 
Trí Bích mơ hồ hình ảnh Hà Nội thắp sáng từ những chuyện kể của bu: Quê ngoại thần thoại lung linh sau lớp lớp sương mù hoài niệm. Có lá bay bâng khuâng đường Cổ Ngư liễu yêu ma rủ tóc thương hồ Hoàn Kiếm. Những sáng mùa thu nắng lụa dậy thì vàng mơ đỉnh núi Ba Vì... 36 phố phường ao ước ngày trở lại rong chơi. Hình ảnh cô bé Bích hẳn ngu ngơ lắm giữa đêm 30 tết theo bu qua cầu Thê Húc hái lộc. Quê ngoại gần nhưng thật ra đã xa, như một tinh cầu nào khác. Bích tưởng tượng được cắn ngập răng những cam quýt bưởi bòng của các ngôi vườn rải dọc Việt Bắc mến yêu. Bích thèm rất nhiều thứ của Hà Nội, nôn nóng muốn về coi lại mảnh sân lát gạch tàu xưa, thời con gái bu thường chạy nhảy chơi đùa, coi lại những nơi chốn đã gợi hứng cho Nhất Linh, Khái Hưng... dệt nên những chuyện tình diễm tuyệt.
 
Và, trí Bích mơ hồ ấp yêu hình ảnh quê nội Trung Hoa vàng son qua ký ức bố: Quê nội bí mật trải dài vạn dặm rừng, tuyết, cổ lũy man thiên. Miền đất đã phát sinh ra những ông Lưu Bị, Quan Vân Trường dũng cảm, phi ngựa múa gươm dọc dài hơn ngàn trang Tam Quốc Chí... Học lịch sử Bích biết thêm: có một thời, những đoàn quân xuất phát từ quê nội, tiền hô hậu ủng sang xâm lược dày xéo quê ngoại một cách gớm ghiếc man rợ. Máu quê ngoại chảy róc rách qua cùm gông nô lệ của quê nội cả ngàn năm, để rồi kiên cường vùng lên dựng những trang sử bi hùng oanh liệt.
 
Bích chưa được thấy quê ngoại, quê nội, nhưng Bích yêu cả hai vì Bích yêu bu yêu bố, yêu những kỷ niệm gợi dậy từ chuyện kể của hai người. Những chuyện ảo mù, thần tiên như cổ tích.
 
Bích không hề biết ngôn ngữ quê nội, dù chỉ một chữ một câu. Bích nói giọng Hà Nội, pha lẫn in ít âm hưởng Bình Định, nghe vừa ngọt lòng vừa buồn rười rượi. 
 
Anh tới từ nơi khác, không từ đất Bắc, không từ Trung Hoa, nên Bích không có quyền yêu anh và ngược lại. Bu lý luận thế, bố giữ im lặng và, Bích khóc.
 
Những ngày tiếp theo của tháng mười một quá đỗi buồn tẻ. Giữa hai thời tiết âm ui, trắng không ra trắng, xanh không ra xanh của trời đất, không dưng anh bỗng nhớ Huế lạ lùng. Mỗi đêm, con trăng thượng tuần vắt vẻo đầu vườn dẫn anh ra khỏi nhà, đi vớ vẩn ngoài phố, đến giờ giới nghiêm trở về gõ cửa, để nghe giọng càu nhàu ngái ngủ của mụ chủ. Anh trở lại trường đón Bích, đi với nhau một quãng đường ngắn, hoặc ngồi trong cái quán cà phê nhỏ thụt lùi bên mé trái con đường dẫn ra biển. Ngồi ở đó, ăn những chiếc bánh đậu xanh bùi bùi, uống những tách cà phê đậm đắng ngước lên nhìn màu trời ốm yếu xanh xao như tâm hồn Bích.
 
Một hôm, anh tới trường, gặp ông giám thị ở chân thang. Ông ta vui vẻ hỏi năm sinh của anh, đoạn nhẹ nhàng bảo:
 
- Vừa có thông cáo chính thức, những giáo sinh trong lứa tuổi anh không thể tiếp tục học nữa, phải nhập ngũ theo tinh thần luật động viên số...
 
Anh nói cảm ơn, chào ông giám thị. Vào phòng đọc cái thông cáo rồi nhận hồ sơ đi ra. Đứng giữa sân ngó lần cuối cái cột cờ, ngó dãy hành lang cao với sợi dây căng ngang phơi áo quần của bọn nữ sinh nội trú, lay bay phất phới cơ hồ cờ xí liên hiệp quốc, trí phẳng như mỏm đá và mắt lãnh đạm. Sự hăng hái bao giờ cũng vuột mất khi anh đang trên đà lao tới, hoặc có ý định tháo lui. Cái sắc luật động viên sẽ du anh vào thế sống mới, nhưng nào anh có thấy buồn bã gì đâu, dĩ nhiên, vui sao được. Anh ra biển đón Bích, báo tin cho em hay. Bích không tin, lắc đầu mỉm cười:
 
- Anh dọa Bích hả?
 
Khi anh đưa xấp hồ sơ, Bích mở lớn mắt ngạc nhiên, rồi nhét tập hồ sơ vào cặp. Cả hai cùng im lặng. Nắng mông mênh, ngọn cao chim bói, tới lúc ấy anh mới thấy buồn thấm thía. Anh tưởng Bích sẽ bật khóc, nhưng không, em chỉ cúi nhìn dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên cổ tay trái một phút, hai phút, ba phút rồi Bích ngước lên, nhìn mông ra khơi xa, thở dài:
 
- Bao giờ anh đi?
 
*
 
Anh rời Qui Nhơn, bỏ lại đôi mắt ngơ ngác của Bích, mặt biển lóa nắng, nghĩa trang đầy cỏ hoa, những con đường và số tháng ngày rơi hụt lại đằng sau mất hút. Ngày anh đi, Bích cúp cua hai giờ học đầu để ra phi trường, lần thứ nhất và cũng là lần cuối, Bích bỏ học không chút lo âu, thắc mắc. Cùng đi với Bích còn dó Diệu và Nghi. Thông không tiễn anh, vì anh không muốn và hắn cũng không muốn. Từng đợt mưa mỏng tạt ngang phi trường, buồn hết sức. Anh đứng bất động, nghe mùi vị trái xíu muội ngọt chua ngấm tan đầu lưỡi. Đưa xíu muội cho anh ngậm, Bích có nghĩ rằng tình yêu của chúng ta cũng chua lẫn ngọt như thế không? Bích cố giấu nước mắt, không khóc, đôi cánh mũi khẽ phập phồng, cố nén ẩn ức trong buồng ngực. Chưa bao giờ anh thấy em can đảm và yếu đuối bằng lúc đó.
 
Đến bây giờ anh còn nhớ rõ cảm giác sung sướng hạnh phúc, khi nhận được điện tín của Bích báo tin sẽ vào Sài Gòn. Cái điện tín nhận được hôm thứ tư. Chủ nhật mới được ra phép, thành thử những ngày thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, không thể nào ngủ được. Dầu thế nào thì cái chủ nhật mong đợi kia cũng tới. Anh, da sạm đen, tóc cụt ngủn, áo quần trận, hai chân mang hai chiếc bốt-đờ-xô mệt mề. Hai miếng vải xanh thêu tên và danh số may ngay hàng thẳng lối trên hai miệng túi. Bích, gầy như que diêm gói trong lớp vải màu hồng nhạt. Bích có vẻ lạc lỏng, bên anh, giữa phố đông người. Bích nói:
 
- Thật đáng tiếc, đi chơi với anh mà không mặc được áo dài, giờ về nhà thay lại sợ bu biết. Suốt tuần nay, ngày nào Bích cũng đứng ở cửa, thấy ông lính nào qua cũng nom, trăm ngàn ông lính đã đi qua, không có ông nào giống anh.
 
Anh nhìn bộ đồ cụt của em, cười:
 
- Như vậy cũng đẹp chán.
 
Chúng ta rẽ qua đường phố khác, tránh xa khu phố Bích ở. Bích hỏi:
 
- Bây giờ đi đâu anh?
 
Anh nói, giọng y hệt tên kịch sĩ trong các vở tuồng cổ điển, pha lẫn chút bông đùa:
 
- Anh sẽ đưa Bích đến một nơi xa hẳn loài người, ở đó có chim ca, suối hát và mặt trăng...
 
Bích tiếp lời:
 
- Và mặt trời và sao và mây và gió đủ hết, anh mơ mộng dữ.
 
Hai đứa cùng cười xòa. Anh đưa Bích vào một quán kem. Như tất cả các cặp tình nhân khác trên mặt đất này, sau thời gian xa cách, gặp nhau, chúng ta thao thao nói tưởng chừng như bất tuyệt về nỗi nhớ mong, gợi dậy những kỷ niệm cũ, nhắc lại tên một số bạn bè và thấy lòng ấm ngọt lạ lùng. Giọng Bích chợt khựng lại giữa chừng cơn vui:
 
- Bây giờ tính sao, anh?
 
Anh nhìn sâu vào mắt Bích, bắt gặp nỗi vô vọng nhú mầm qua những tia nhìn ướt:
 
- Còn thấy nhau lúc nào hay lúc đó, anh chẳng biết sao nữa.
 
Bích khẽ gật đầu như con cừu ngoan. Anh thầm lặng nhìn cổ tay trái Bích, nhìn cái dấu thánh đã khô thành vết sẹo trên đó. Những tiếng sóng ngày xưa cũ bỗng vọng dội rách rưới trong hồn. Dáng ngồi trông ngước xa xăm của Bích và biển ngàn rực rỡ nắng thời nào cũng dựng dậy bằng những đường nét hoài niệm cay xót. Quấn quít. Mênh mông. Quay quắt. Bốn mắt chúng ta cùng cúi xuống dấu thánh mà tưởng chừng trông suốt qua nhau. Trời đất, rừng rú, phố thị, biển cả, con người, phút chốc nhạt mù hết, chỉ còn chút ân sủng bí nhiệm le lói trên một dấu thánh muộn phiền, nhỏ nhoi nhưng quí giá. Bằng chứng của một mối tình trong veo hơn nước lọc. Dấu thánh em đeo mang lang thang qua hết thời con gái, rồi tinh sương nào thức dậy sẽ không thấy nó, như chuỗi ngày mơ đêm mộng cũ đã biệt tích trong mênh mông đời ta? Hoặc một chiều cuối kiếp dấu thánh sẽ theo em khép mắt, lãng quên" Không, anh không muốn tin điều gì cả.
 
- Dấu thánh vẫn còn. 
 
Bích cười buồn:
 
- Anh không thấy nó phai dần à? Có lẽ vì vết bỏng nhẹ quá. Sao hôm đó anh không đốt lâu hơn?
 
Sao hôm đó anh không nhân gấp đôi, gấp nghìn lần niềm đau đớn khắc ghi vào da thịt em, để hy vọng di tích ấy mãi còn? Anh rùng mình nghe lạnh. Giọng Bích âu yếm trách móc nhẹ nhàng, xui anh rũ.
 
Anh đưa mắt lơ đãng ngó ra đường: xe cộ, người, di động dưới màu nắng loãng. Lát nữa Bích sẽ đi ra, cuốn hút theo dòng đám đông lưu chuyển không ngừng đó. Chỉ cần sơ ý một chút, chúng ta có thể lạc mất nhau. Nói gì đến ngàn triệu năm sau, chúng ta là hai hạt bụi bay trong thinh không tìm kiếm. Chiều hôm đó, anh trở lại trại, lòng buồn vô hạn, như tên Do Thái trở về đất cũ, thấy nhà mình đã bị kẻ khác chiếm giữ.
 
Bích về Qui Nhơn. Mỗi tuần anh vẫn đều đặn nhận được một lá thư của em. Cho đến một ngày đầu tháng sau, anh nhận được cánh thư vỏn vẹn mấy hàng chữ bút chì trên miếng giấy xé ra từ tập vở học trò. Bích viết: "Cái dấu thánh đã biến mất, không còn trên cổ tay Bích nữa anh à. Có phải đó là điềm gở không?".
 
Sau cái thư đó, anh chẳng bao giờ nhận được thư nào của Bích nữa. Chúng ta lạc mất nhau trên mặt đất trùng trùng tai ương, bụi phủ này.
 
 
MƯỜNG MÁN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 118, tuần lễ từ 13-9 đến 20-9-1973)
 
 
 

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

NGOẠI, TOÀN VÀ NIỆM - Mường Mán


"Trong thành ngoài thành phượng đỏ rực cả rồi". Câu nói kèm nụ cười, đôi mắt sáng ngước, tay trái đong đưa chiếc xắc hành lý, tay phải vung vẩy chùm hoa đỏ chói, áo xanh màu da trời hai tà quấn bên chân, Niệm bước vào khung cửa rộng, dừng lại giữa phòng khách thoáng ngơ ngác, rồi bỗng ngượng nghịu khi thấy trong nhà hình như hơi đông người, không những chỉ có vợ chồng anh Lân mà còn dăm ba người bạn khác nữa. Chị Nhã là kẻ đầu tiên đứng lên đón Niệm: "Mới về hả? Sao không đánh điện tín để anh chị đi đón? Lù lù về như ma". Anh Lân nhìn chùm hoa trên tay Niệm: "Phượng nở khắp rồi sao? Cô về bảo mọi người mới hay đấy". Nhiều tiếng cưới vây lấy Niệm, làm thiếu nữ bối rối gật đầu chào quanh một lượt, đoạn tê tái bước nhanh vào nhà sau. Chị Nhã theo vào: "Ngụy ghê, về chưa chào ai cả đã nói chuyện hoa hòe, ai chẳng tức cười". Niệm nói: "Về tới phố thấy phượng đỏ tứ phía, không hiểu sao em mừng chi lạ. Năm nay thứ hoa ấy nở nhiều và đẹp gấp mười năm ngoái". Niệm cắm chùm hoa vào chiếc ly đặt trên bàn. Chị Nhã quở nhẹ: "Cái thứ bông đường bông sá ấy chưng làm gì? Bộ vừa về cô đã leo lên cây hái hoa chắc!" Niệm cười: "Em bảo bác xích lô dừng lại xin của bọn học trò đấy chứ".
 
Phượng, thứ bông đường bông sá, vì phượng nở khắp dọc những ngả đường, đâu đâu cũng thấy phượng dâng những mâm hoa đỏ ối, bật nổi giữa nền cây lá. Màu đỏ phượng ánh lên những vầng mây, thêu gấm đào cho không gian Huế ngã dịu vào vòng tay nồng nàn của hè. Xuống phi trường Phú Bài lên xe ca tới An Cựu, Niệm đã bàng hoàng biết bao khi gặp phượng. Nắng vàng bay múa trong màu hoa phả vào hồn người từng gợn sóng êm ả. Tưởng chừng gió không đến từ trời, từ sông hay non núi mà đến từ hoa, từ tầng tầng cánh huyết thắm dâng ngợp giác quan, rồi buông thả xuống nghìn cánh tươi như máu đỏ. Vừa tới Huế, phượng đã nắm lấy hồn Niệm nhấc bổng lên, ném trôi trên những bước lênh đênh. Ngồi xích lô đi chậm qua phố chính, Niệm ngắm phượng hai bên bờ sông, phượng theo Niệm vào thành, che lọng lớn đứng nghiêm trang bên những cửa phủ im bóng. Hoa trổ ngời khắp phố, khoác áo mới cho những hè đường. Phải chăng hoa đưa tin đến cho kẻ vừa về, rằng quê nhà vẫn bằng an, không biến cố như những năm trước, chưa đổ vỡ như những phố không may. Tin bí mật rao truyền qua mạch gió, Niệm vô tình nhận, nên nàng vẫn không hiểu sao khi về tới gặp phượng mình lại mừng quá thể. Mừng quấn quýt đến nỗi vừa bước lên thềm nhà đã vội báo tin hoa. Cái tin mọi người ở đây đều đã biết từ hơn tháng trước, khi sớm mai nào thức dậy, chợt nhìn thấy những cánh phượng thứ nhất về cười rung nụ đỏ đầu cành, trong vườn, trong công viên, dọc đường phố.
 
Có mùa hè là có phượng. Phượng không thuộc về hè mà hè thuộc về phượng. Sự trải chói của phượng trên bề mặt của không gian Huế xác định điều ấy. Hoa trùng điệp, lơ đãng mấy cũng không thể không thấy hoa. Thiên hạ ở đây quá quen nhịp đi và đến đều đặn, chẳng bao giờ lỗi hẹn của hoa, nên không mấy ai để ý. Chỉ có kẻ ở xa mới về mới thấy phượng gọi hồn cách thiết tha, mới nghe phượng nói và thấy phượng khóc, lệ ràn rụa đỏ ngập trong các sân trường, trên mái lầu, mặt thành rêu cũ. Huế buồn ngủ hết ba mùa, mùa hè Huế choàng thức nhờ phượng, bởi phượng và, không thể thiếu phượng. Lũ học trò gái trai đội nắng đến những lớp hè, trước giờ học chúng thường rủ nhau đạp xe long rong, vài đứa, thế nào, cũng có đứa cầm một chùm hoa ở tay hoặc dắt bên cặp sách. Có những cô thả bộ vẩn vơ, đưa lên miệng nhâm nhi từng cánh thắm. Có những cậu lang thang theo tình, gót giày mang xác phượng đến tận cổng nhà nàng... nằm vạ. Họ, dúm trẻ dễ thương đó, mỗi mùa mang tin hoa đi khắp phố nhà. Và biết đâu, có những cậu những cô đi xa vào mùa này lại không mang theo vài chùm hoa cho nặng thêm hành lý, nặng thêm chút tình hoài hương, vì những cõi khác có thể có phượng, nhưng phượng ở đâu cũng không thể xui lòng buồn lòng vui nồng nàn bằng phượng Huế, cái màu đỏ mênh mang úp chụp xuống người tê tái, đe dọa những ngày nhiễu nhương, đồng thời màu đỏ đó gửi tới người lời báo hỷ rực rỡ những mùa hoài vọng.
 
Năm ngoái, Niệm ra đi vào mùa thu, khi phượng chỉ còn là những cành nhánh bâng khuâng đâm vút lên trời, những mâm hoa rực đã trút vơi, bằn bặt tan vào đất theo chục cơn mưa trút, bầy nụ mầm nẩy muộn đành héo rụng, đợi đến mùa sau bừng lên một thời phượng khác. Mùa thu, Niệm khăn gói ra đi cho kịp niên học mới mở ra ở một nơi xa xôi khác, nơi có thời tiết và giòng sống chảy mạnh hơn Huế. Bận rộn với lũ học trò, nhà trọ, mưa nắng quẩn quanh trong phố thiên hạ chín tháng ròng quay quắt nhớ nhung và, giờ Niệm trở về. Kẻ mong ngóng Niệm trở về nhất không phải là chị Nhã anh Lân, mà là Toàn. Trong nhiều lá thư Toàn không ngớt giục Niệm về. Toàn viết, đùa mãi với cây nạng khác gì kẻ tuyệt vọng ôm khúc củi mục mong nó nở hoa. Anh khẩn thiết mong Niệm về, về để thấy việc anh sắp cưới Nguyệt là chuyện có thật. Niệm nói với chị Nhã: "Lâu nay anh Toàn ghé nhà không?". Chị Nhã đang bứt từng cong rau muống xanh bỏ vào thau nước lớn, ngẩng lên" "Mất biệt hơn hai tuần nay không thấy ghé. - Thế chị cũng không xuống ngoại chơi sao" - Chấm bài thi muốn mù cả mắt còn đâu thì giờ". Niệm thích thú với ý nghĩ Toàn không hề biết nàng về, thế nào chẳng ngạc nhiên khi Niệm bất thần hiện đến. Thời sự của Toàn lúc này thế nào? Niệm chẳng hề tin những điều anh viết trong thư, đúng hơn là nàng chẳng muốn tin Toàn sắp đội chữ tòng lên đầu Nguyệt. Niệm cúi xuống nhặt cọng rau muống bẻ gãy rời từng đoạn nhỏ: "Thế chị Nguyệt cũng biệt luôn sao? - Cả cặp, Nguyệt lẫn Toàn". Niệm thoáng băn khoăn: "Thư mới nhất gửi em anh Toàn bảo hai người sắp lấy nhau mà". Chị Nhã vờ phát cáu: "Sao mày thắc mắc mãi về bọn họ thế?
 
Ừ, sao vậy nhỉ? Có phải vì ngay từ đầu Niệm đã chẳng thích gì Nguyệt lắm không? Những năm còn học ở dây, Nguyệt cùng trường và hơn Niệm hai lớp. Nguyệt ở sát hông nhà, chỉ cần gọi vói qua một tiếng là có thể nghe tiếng Nguyệt đáp nếu nàng có ở nhà. Thời chưa quen nhau, Toàn thường leo lên cây nhãn cao nhất trong vườn trông vời qua sân nhà người ta, nhìn trộm dáng kiều ra vô thơ thẩn. Rồi hai người quen nhau. Hình như yêu nhau. Niệm làm bộ tảng lờ không ý kiến gì cả, Toàn cứ hỏi hoài, Niệm nổi nóng bảo Niệm chẳng thích Nguyệt lắm. Nguyệt đẹp, nết na đấy, nhưng ở người thiếu nữ ấy có cái gì Niệm không thể chịu được. Đôi mắt sắc quá chăng? Dáng đi cố tạo vẻ đài các sang cả chăng? Nét mặt đang cười nói tươi tỉnh đột nhiên ngớ ngớ ra trông thật đần chăng? Nguyệt càng tỏ vẻ không thích, Toàn càng làm ra vẻ si mết Nguyệt hơn. Có lẽ Toàn yêu Nguyệt thật. Cũng có thể không. Họ sắp lấy nhau? Thôi nhau? Niệm không hình dung được. Hai kẻ vắng mặt được nhắc nhở tưởng như đã ở cõi xa mờ nào khác. Buổi chiều sậm mầu dần, những mâm phượng đơm rực trên những ngọn cây, lửa cháy trong lò sửa soạn bữa cơm chiều, chị Nhã lui tới nhẹ nhàng tựa vệt khói giữa những bày biện quen thuộc. Nơi xa xôi, nhiều đêm Niệm đã nằm nhớ quay quắt khung cảnh đơn giản nhưng ấm cúng này.
 
Niệm mở cửa phòng riêng của mình với chút cảm động thoáng buồn rầu của kẻ vừa trở về, nghe nỗi háo hức đã chìm xuống, loãng mù vào khoảng bát ngát nắng nôi gió lá bên ngoài, của lòng tĩnh lặng bên trong. Niệm nói vọng qua cửa sổ: "Lâu nay có ai vào phòng em không?". Chị Nhã nói: "Thỉnh thoảng anh Toàn vẫn tới nằm đọc sách một lát rồi đi, bộ mất mát cái gì sao?" Niệm cười: "Không, tự nhiên em thấy sờ sợ, cứ ngỡ lâu ngày phòng bỏ không, ma quỷ vào đây ngự". Trên bàn học, chồng sách giáo khoa không ai đụng tới, bụi bám mờ cả chữ nghĩa. Cái bình hoa không hoa. Tấm ảnh mầu tươi chụp Niệm cười trước cổ tháp Linh Mụ lồng kính đặt trên chiếc tủ nhỏ. Nhìn mặt nệm phẳng trũng dấu người nằm, Niệm mường tượng thấy Toàn với cuốn sách mở ngang tầm mắt, chiếc nạng gác bên thành giường cách mệt mỏi. Cái dáng lẻ loi của anh bao giờ cũng tách biệt hẳn với mọi người. Với Niệm, Toàn không những là người anh mà còn là người bạn thiết. Niệm hiểu Toàn hơn ai hết. Bao mộng tưởng đầu đời đã rời bỏ anh, thực tại là lưỡi dao bén, gọt trụi lớp vỏ hồn nhiên bọc quanh trái tim xưa kia vang động nhịp sống hồng hào. Niệm đã sợ hãi biết bao khi nghe Toàn bảo, anh chẳng biết sử dụng trí tuệ, tay chân anh như thế nào trong những ngày còn lại. Toàn vốn ít nói. Tiếng nói cỏ vẻ thừa hơn trên môi anh từ ngày chiến trường giữ lại một khúc chân, quân y viện tặng anh cái nạng gỗ. Toàn câm lặng lắm lúc làm Niệm sởn cả gai ốc trong những buổi chiều hai anh em cùng ngồi bên gốc hoàng lan, giữa nhà ngoại, gốc cây họ đã cùng trồng cùng vun tưới năm mười một tuổi - Có lần Toàn đùa bao giờ Niệm lấy chồng nhớ mang cây hoàng lan theo trồng dưới cửa sổ phòng ngủ, sẽ không mơ thấy mộng dữ - Vào những chiều như thế, Niệm thường nhắc kể về thời bóng họ quấn quít bên chân nhau. Thời Niệm lẽo đẽo theo anh, tham dự hầu hết mọi trò chơi bạo mạnh của bọn trẻ trai đồng lứa. Nhảy bổ vào những cuộc vui săn chim bằng ná cao su, chia phe đánh giặc giả, chen chân vào các hí viện coi cọp ciné..., lắm lúc Niệm quên hẳn mình là con gái, Niệm từng làm thủ môn cho đội banh của Toàn đấu với đội xóm vườn Đào, xóm Ngã ba Thánh giá, và trở thành thủ môn giỏi bao giờ chẳng hay. Những buổi tắm sông Toàn đã phải nhốt Niệm vào phòng kín khóa cửa, mặc Niệm gào khóc nguyền rủa anh. Toàn nhất định không cho Niệm theo anh và bọn nhỏ leo lên kè đá bông nhông xuống giòng nước dữ. Toàn lì, Niệm còn muốn gan lì hơn anh trong mọi trò nghịch ngợm. Suốt ngày hai anh em quấn quít bên nhau, mối ràng buộc êm ái bén rễ ăn sâu trong vòng tay bao dung của ngoại. Mối ràng buộc nới rộng dần theo năm tháng, cho đến một hôm, Toàn nhìn thật lâu vào đôi mắt to của em gái, nhận rằng Niệm đã khôn lớn, Niệm thảng thốt thấy Toàn nhìn Niệm bằng khóe mắt dị kỳ. Khóe mắt của Toàn như chẳng phải của Toàn nữa, mà là cái nhìn của một người con trai lạ mặt nào ẩn giấu bí mật, bát ngát sau cái vóc dáng quen thuộc của anh. Cái nhìn ấy ám ảnh Niệm nhiều đêm, làm nàng thấy không thể đi đứng nói cười nô đùa hồn nhiên trước mặt anh như trước được nữa. Mãi cho tới bây giờ. Cây hoàng lan vẫn còn. Tuổi nhỏ đã mất. Tuổi lớn vụt đến cùng cây nạng theo Toàn bước lênh khênh. Tóc ngoại ngày mỗi bạc trắng hơn. Và Niệm lúc này, vừa từ nơi xa xôi về, ngồi nhìn dấu trũng Toàn để lại trên mặt nệm như dấu tích một lẻ loi cùng cực.
 
Dưới giàn đậu quyên râm bóng, ngoại ngồi bất động dõi mắt theo mấy con bướm lượn quanh những khóm hoa. Mọi tiếng động như rút hết lên mây, bị ngăn lại sau những mành lá. Chiều trùm xuống chỗ ngoại ngồi từng thước im lặng lớn. Chút nắng sót muộn vừa đủ nhuộm óng ánh những ngọn tóc bạc trắng phất phơ đầu mỗi hơi gió, và khẽ lả xuống cơ hồ có bàn tay bí mật nào dám hỗn hào nghịch tóc ngoại. Không hiểu nghĩ gì mà không dưng ngoại bỗng mỉm cười. Ngoại của Niệm và của Toàn đó, người tôn nữ già đang ở thật xa chốn điện đài hoang phế. Ngoại chẳng màng gì đến những mảnh vàng son tơi tả nữa. Bây giờ tàng lọng che ngoại là giàn đậu quyên, là mái nhà lợp ngói âm dương đứng lặng giữa vùng xanh cây trái. Hài xưa nay thay thế bắng guốc gỗ mức mộc mạc thô sơ. Quạt trầm thôi không dùng nữa, quạt nan tre bồi giấy mỏng cũng thừa để ngoại quạt nóng ấp nồng. Ngoại ngồi đó, giữa lũy tre bọc ấm làng Nam Phổ, mắt hiền hậu nhìn lũ bướm tung bay, chẳng cần biết thời gian đang trôi, chiều đang lên hay chiều xuống. Ngoại mỉm cười và giật mình nghe tiếng gọi quen thuộc của đứa cháu gái.
 
Nhận ra Niệm, ngoại đứng lên cười thành tiếng, trách móc nhẹ nhàng: "Cháu làm ngoại giật mình, về bao giờ thế, hở?" Niệm dựa xe đạp vào cây khế dành sà đến ôm vai ngoại: "Ngoại đang ngồi nhớ ông cháu phải không? - Láo nào. Bảy mươi rồi, mày làm như ngoại còn hai mươi". Niệm quả quyết: "Rõ ràng cháu thấy ngoại đang mơ màng mà". Mắt ngoại âu yếm rực sáng tia nhìn vui. Ngày xưa nhan sắc ngoại nổi tiếng một vùng, ngày nay nhan sắc ấy vẫn còn phảng phất trên khuôn mặt lồng khung trong tuổi già. Hai bà cháu bước dưới những tàng cây. Ngoại cầm tay Niệm nhìn từ đầu đến chân mỉm cười. Niệm ước thầm ngoại cho mình nửa nét duyên muộn màng trên nụ cười của ngoại. Ngoại nói: "Cháu lớn thật rồi, gả chồng là vừa vặn. Ngày xưa bằng tuổi mày ngoại đã bồng má thằng Toàn trên tay, ngày nay tụi mày chỉ giỏi ẵm búp bê nhựa". Niệm nhìn quanh căn nhà hiu quạnh: "Anh Toàn đâu ngoại?" Ngoại lần tay vào túi áo lấy miếng trầu gấp nhỏ, miếng cau tươi bỏ vào cái cối tí hon nghiền nát, chầm chậm từ từ. Niệm nghĩ ngoại lãng tai không nghe rõ lời nàng hỏi, Niệm nhắc lại, lớn hơn: "Anh Toàn đi đâu vắng, thưa ngoại". Ngoại đứng dừng lại: "Cháu vào ăn cơm với ngoại nhé". Niệm bắt đầu sốt ruột, ngạc nhiên thấy ngoại chợt trầm ngâm buồn buồn, không còn vui vẻ như lúc nàng mới đến. Niệm bỗng nhớ cái tánh ưa lẫy hờn của ngoại, của những người trọng tuổi. Ngoại đang giận anh Toàn chuyện gì chăng? Niệm nhủ thầm và ghé miệng gần tai ngoại hơn: "Anh Toàn đi chơi chưa về sao ngoại?" Ngoại bỏ miếng cau trầu giã nát vào miệng, chậm rãi: "Hắn đi rồi". Niệm lặng người trong khoảnh khắc, mơ hồ cảm thấy có nỗi bất trắc nào đó trong sự vắng mặt của Toàn, thốt nhiên tim nàng đập mạnh: "Anh Toàn đi đâu vậy ngoại?" Trước vẻ bối rối của Niệm, ngoại bình thản: "Lên Pleiku thăm má nó". Niệm chưng hửng, ngẩn ngơ vì sự biến mất đột ngột của Toàn ngoài dự tưởng nàng, cùng lúc cơn giận mơ hồ dâng lên nghẹn cổ: "Anh Toàn đã hứa đợi cháu về, sao giờ lại bỏ đi hở ngoại?" Ngoại lắc đầu: "Biết đâu, nó bảo vài bữa có mày về, mày sẽ đến ở với ngoại cho đỡ buồn". Niệm kín đáo thở dài.
 
Đứng cạnh ngoại lúc này, tựa con cá trở về biển cũ, Niệm tìm thấy lại mình trong vóc dáng lặng thầm những ngày tháng sống hồn nhiên như cây cỏ. Tưởng chừng cô bé con thuở nọ, chưa một lần dời bước khỏi vưởn nhà, phương xa còn mãi là những cõi khép kín bên ngoài bờ giậu. Hơi thở Niệm tan ngầm, bắt kịp cách dễ dàng nhịp thở của mọi thứ mọi vật đang có ở chung quanh. Hàng chậu kiểng đặt dưới chái bếp lâu ngày không cắt tỉa, cành lá xuề xòa. Chiếc áo mưa rách của Toàn treo rũ bên cái cối đá dưới gốc cây đào lộn hột dễ chừng hai ba năm không buồn đổi chỗ. Mảnh sân sau - chỗ ngoại và Niệm đang đứng - chẳng rộng cũng chẳng hẹp hơn. Giới hạn bởi bức tường cổ cả trăm năm, không ngõ giao thông với vườn nhà kế cận, mảnh sân sau là thế giới thu hẹp của những đêm sao, những trưa đong đưa võng hóng gió. Dưới hiên, chỗ đặt lu nước vẫn ẩm ướt những mặt đá nhẵn mòn. Niệm rời ngoại, đến múc từng gáo nước mát lạnh trong lu dội xuống hai bàn chân trắng hồng nổi trên màu guốc gụ, đăm đăm nhìn lên bức tường cũ kỹ. Nét dao khắc trên đó chưa phai mờ. Trong thoáng lòng ấm dịu, Niệm như nghe rõ tiếng cười của Toàn, và thấy rõ cái dáng cao cao của anh đứng cạnh bức tường, dí mũi dao nhọn vào lần vôi ám màu mưa nắng, hôm trước ngày Niệm ra đi. Hôm đó cũng có nắng vàng giống bữa nay, nhưng không có nến phượng thắp sáng nền trời. Toàn bỏ vội trái đu đủ gọt dở xuống cạnh lu nước, hoa cây dao bảo Niệm đứng yên để anh chạm vào tường dáng đứng gầy gò của người em gái. Trò chơi bất ngờ và trẻ con như thể hai anh em chưa khôn lớn. Nét dao chạy vòng theo hình chiếc bóng Niệm hắt lên tường, do ánh nắng buổi chiều đang xuống dần đầu những ngọn cây. Bức tường giờ xanh mốc thêm một lớp rêu phong, nét khắc mờ mở tỏ tỏ. Không dưng, Niệm muốn so lại bóng mình trong dáng đứng cũ. Nàng loay hoay cố tìm một vị trí thích hợp để ánh nắng có thể dọi mình dán chặt vào đúng cái khuôn do nét dao để lại, nhưng chẳng thể, lúc này nắng đã xuống quá thấp, bắt bóng nàng lệch hẳn lên phía đầu tường. Niệm đứng lặng nhìn bóng mình mà ngỡ như bóng ai khác, mơ hồ chiếc bóng cũ đã theo Toàn ra đi. Niệm buồn bã: "Anh Toàn muốn trốn cháu hay sao mà lại bỏ đi trước khi cháu về hở ngoại?" Thấy Niệm dơm dớm nước mắt, ngoại vỗ về: "Cái thằng vô tình hết sức, nhà vườn rộng thênh thang thế này nó bỏ ngoại một mình chẳng thèm ngó lại, chỉ có mày là thương ngoại thôi". Mở cửa vào nhà Niệm giúp ngoại sửa soạn bữa cơm chiều, nàng không ăn vì chẳng thấy đói. Niệm xới cơm vào chén ngoại: "Anh Toàn lên Pleiku thật sao?" Ngoại cười điềm đạm: "Chứ mày nghĩ nó đi đâu bây giờ?"
 
Đi đâu bây giờ? Ngoại có vẻ tin Toàn lên Pleiku thật. Nhưng Niệm chẳng tin chút nào. Từ ngày dì Khanh bước thêm bước nữa, Toàn cơ hồ coi như mẹ đã chết. Anh không hề buồn chuyện tái giá, nhưng dù sao, dì Khanh cũng đã thuộc hẳn về một đời sống khác, với những hệ lụy buồn vui nóng lạnh khác. Toàn không muốn đặt chân - dù bây giờ anh chỉ còn một chân, rất khiêm tốn - vào cái đời sống riêng đó. Dì Khanh đã kinh ngạc và khóc ngất ngày Toàn chống nạng từ quân y viện trở về, thản nhiên bắt tay ông Chánh, nói cảm ơn ông ta và hy vọng ông sẽ mang lại hạnh phúc cho mẹ trong quãng đời còn lại của bà.
 
Đêm đó hai người đàn ông đã cùng uống rượu và nói chuyện với nhau rất tương đắc, ít ra người ngoài trông vào cũng thấy thế. Toàn từ chối lời mời của ông Chánh, không lên Pleiku. Buổi sáng đưa mẹ ra phi trường, Toàn đã thản nhiên nói với dì Khanh: Bây giờ mẹ thuộc về ông Chánh, còn con, con sẽ thay thế mẹ ở bên bà ngoại. Ngày nào ngoại mất con sẽ báo tin rước mẹ về. Hôm dì Khanh đi, Toàn lang thang đâu đó đến tối mịt mới về nhà, Niệm và ngoại ngồi chờ bên mâm cơm, cả hai cùng khóc.
 
Và, bên mâm cơm bữa nay, Niệm ngồi nhìn ngoại lẻ loi giữa căn nhà vắng trống. Có phải thời sum vầy đã qua, bây giờ là thời một mình? Ngoại có bao giờ hoài niệm chuỗi ngày xanh ngát xưa? Áo ủ hương nồng từng nếp lụa ngà xôn xao mây gió, trâm cài tóc biếc theo chị theo em thả hài lướt trên những đường thơm. Gương soi nửa in mặt hoa, nửa in bóng ngự thuyền. Mộng ngời đêm lẻn trốn ra cửa đông thành trao bàn tay cho lần hẹn hò thứ nhất. Rồi khúc hát hạnh phúc lứa đôi, tiếp dài sang những khúc hát nổi trôi theo chồng con đèo bồng qua ngày chói chang, qua đêm tăm tối. Có mùa đông quây quần bên chiếu ngồi, mùa xuân đông bầy cháu con hành hương hái lộc, mùa hạ lênh đênh thuyền ngược giòng Hương, đời nhẹ bổng theo tiếng đàn nhịp phách. Có ông ngoại cầm hết hàng chục mẫu ruộng thẳng cánh cò bay, thành khói sương một đêm trên chiếu bạc, gả con gái lấy chồng ngoại phải bán hết tư trang, gọi là chút hồi môn kẻo thiên hạ chê nhà ta sa sút... Xa hết, khuất mau, để giữa nắm tóc trắng bảy mươi, ngoại ngồi trơ trọi một mình. Một mình ngoại tay nâng cái chén và những miếng cơm, như và từng hạt chia rời nuốt cho trôi, cho quên nỗi ngậm ngùi cô chiếc. Một mình Toàn đâu đó bên bóng rừng đồi núi hay đường dài, chiếc nạng gõ rền nhịp đều, điệp trùng trong âm thanh buồn bã không nguôi của hàng trăm ngàn chiếc nạng khác, dọc những ngã ba tư khuất khúc trong lòng chiến thời dài rộng mênh mông. Một mình Niệm trở về ngồi đây, giữa buổi chiều của năm hai mươi tuổi, cũng buồn bã như chiều của ngoại, của người bảy mươi. Ngoại, Toàn và Niệm, mỗi người như được sinh ra để đi đứng và sống một mình.
 
Niệm nghe nỗi náo nức gặp ngoại gặp Toàn phút trước, phút này khô quắt lại thành giọt đắng ngậm tê đầu lưỡi. Đùa mãi với cây nạng, khác gì kẻ tuyệt vọng ôm khúc củi mục mong nó nở hoa. Anh khẩn thiết mong Niệm về, về để thấy việc anh cưới Nguyệt là chuyện có thật. Sao Toàn chẳng đợi Niệm về? Anh không chịu đựng hơn nữa đời sống tịch mịch ở đây sao? Anh không thấy ngoại già và ngoại cần thiết sự có mặt của anh cho đỡ cô độc sao? Mối tình của Nguyệt và anh là chuyện hoang đường hay có thật? Người thiếu nữ đẹp, nết na ấy đã không cho anh tìm thấy chút bóng mát nguôi quên nào sao? Tình yêu Nguyệt dẫu có cho anh vẫn không lấp đầy những khoảng trống? Niệm biết, trong Toàn có những khoảng trống thăm thẳm mở ra như miệng vực, anh nhìn xuống và thấy mình quẫy lội dưới ấy.
 
Chẳng ai nói thêm lời nào nữa.
 
Niệm bỏ ngoại ngồi lại với mâm cơm buồn tẻ, bước ra vườn, huyễn hoặc với ý tưởng Toàn đang ẩn núp đâu đó sắp lên tiếng gọi mình, như thời nhỏ, mỗi lần chơi trò trốn tìm, Toàn vẫn thường trốn thật kỹ, đợi Niệm khóc chào thua mới chịu ló ra. Lần này, Toàn trốn thật rồi, trốn khuất sau lớp mù sương dày mịt, chẳng thể tìm thấy được nữa. Niệm cảm tưởng nàng đã mất Toàn vĩnh viễn. Mất như tuổi thơ họ đã mất không bao giờ còn sống lại được lần nữa, thời quấn quít bên nhau.
 
Trở về kịp mùa hè, ngỡ rằng kịp hẹn, không hay Toàn nuốt hẹn bỏ đi, Niệm đứng giữa biển câm lặng mênh mông Toàn để lại, lòng hoang mang trống trải như ngày xưa mỗi lần bắt hụt những trái banh bão lốc, khác một điều, bây giờ không còn nghe tiếng Toàn trách móc em gái vụng về, dọa chẳng cho giữ chân thủ môn nữa. Lời trách của Toàn lúc này rì rào trong tiếng gió, lồng lộng khôn nguôi. Có phải Toàn trách Niệm đã bỏ anh mà đi, đã cho anh thấy anh là kẻ sinh ra chỉ để đi đứng, và sống một mình? Dù sao Toàn ra đi cũng làm Niệm chợt cảm thấy mình có nhiều điều để tự trách. Những điều trước đó nàng không hề để ý, hoặc vì đã quá coi nhẹ sự cần thiết của mình bên anh. Với Toàn, Niệm có thể là cả thế gian bát ngát này. Niệm vắng mặt, cả thế gian cùng khuất lấp, cái còn lại chỉ là cơn choáng váng dài dặc anh phải chống trả liên miên, chống với hai tay đã mỏi với súng đạn ba lô, những ngày nằm rừng thời trước, với cây nạng và cái chân còn lại bây giờ. Nguyệt không thể thay thế Niệm, vì Nguyệt hoàn toàn vắng mặt trong thời mộng tưởng anh. Với Nguyệt, hiện tại nóng hổi khô khốc tật nguyền luôn luôn bày ra trước mặt, Toàn khó lòng làm ngơ trốn thoát. Trong khi với Niệm, Toàn được dầm mình vào dòng sông ấu thơ dịu ngọt. Dòng sông hiền lành có cội nguồn giấu ẩn trong anh trong Niệm, còn chảy tha thiết không ngừng. Tới cuối kiếp, Niệm vẫn nhớ khóe nhìn đăm đăm kỳ dị của Toàn thuở nào. Khóe nhìn nói một điều anh không thể nói. Và, có phải Toàn nghĩ rằng nghìn năm nàng không thể hiểu, nên anh đã nhất định giấu kín lời nói đó bằng sự biến mất, không đợi Niệm về?
 
Đâu đó giờ này Toàn đang gập ghềnh nạng gỗ cuối phố chợ hoặc đầu sông biển mịt mù. Trong căn nhà rộng thênh, ngoại lẻ loi với bóng tối quánh dần trên những chỗ ngồi không người trở lại. Trải kín trên mặt đất dài rộng mênh mang, giờ này đang có những cuộc gặp gỡ, chia tay, những đôi cặp tìm đến nhau và những người đi một mình. Giờ này hàng nghìn cánh phượng thắm bâng khuâng nhỏ máu xuống những con đường trong phố, nhuộm hồng những gót chân tình nhân. Giờ này Niệm bước lui tới dưới những tàn lá thẫm ngát bóng chiều tà, một lúc nào đó, thốt nhiên nàng dừng lại, sững sờ trước cây hoàng lan đã bị chặt cụt tận gốc.
 
 
MƯỜNG MÁN       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 140, phát hành ngày 20-7-1974)
 

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

MÙA SƯƠNG TRÊN VAI - Mường Mán


Quì đứng nép vào cây cột dưới hàng hiên, chiếc áo mưa vừa cởi ra hai phút trước cuốn gọn trong tay. Quì mặc áo dài tím, ngoài choàng thêm cái áo len đen. Khuôn mặt Quì trắng, đôi mắt Quì to ngước trông vời bến xe đằng trước, không nói năng chi cả. Quỳnh đứng bên Quì, quần jean nâu áo pull màu cà rốt, áo mưa vắt trên vai. Quỳnh hút thuốc, cũng nhìn ra bến xe, cũng không nói năng chi. Hai người ở lứa tuổi thanh niên và, dường như vừa trải qua một trận hờn giận gì đó nên lúc này chẳng ai buồn mở môi hé miệng.
 
Bến xe nhộn nhịp xe ra vào lui tới, huyên náo tiếng rao quà vặt của những cô bé tay nách rổ trái cây hoặc mẹt bánh, mỗi lần có xe vào bến nhào tới tranh nhau mời mọc khách hàng. Hành khách ôm xách, kẻ vội vàng kẻ lững thững. Vẻ vội vàng lững thững toa rập với mớ âm thanh hỗn loạn tạo thành hoạt cảnh vui mắt vui tai và tràn đầy sinh lực ; trái hẳn với khung cảnh ủ trệ trầm buồn lặng nín của dãy phố cũ kỹ bụi bặm bên sau.
 
Mưa tầm tã. Những rãnh nước quanh bến xe trôi lềnh bềnh rác rến lon hộp. Chỗ Quì và Quỳnh đứng trú mưa là thềm của một quán tạp hóa. Dường như cảm thấy im lặng lâu quá cả hai sẽ buồn ngủ, Quỳnh lên tiếng xé rách im lặng:
 
- Quì ơi, sao em dối trá vậy? Thấy anh về vui muốn chết lại cứ bô bô anh ra đây làm chi? anh về Quảng Trị làm chi?
 
Quì im lặng. Quỳnh ném mẩu tàn thuốc xuống rãnh nước dưới chân.
 
- Mưa rầm rầm điệu này, mưa thêm vài ngày nữa chắc lụt mất. Nếu Trời lụt, Quì cứ để cho nước cuốn về Huế nghe! Lúc ấy ông chú thân yêu có níu cũng không được. Anh sẽ đợi ở Huế, đợi Quì trôi vào là ẵm liền. Đồng ý?
 
Quì vẫn nhìn ra xa, lắc đầu nhè nhẹ:
 
- Nếu trôi được Quì trôi ra tới biển đông luôn, không còn ghé Huế.
 
- Quì không ghé anh cũng cứ đợi.
 
- Đợi bao lâu?
 
- Đợi đến tết Công gô.
 
Quì bĩu môi:
 
- Dóc tổ, anh láo như con chồn tinh quái trong truyện cổ tích.
 
Quỳnh cười ha ha:
 
- Kiếp trước anh là thằng Cuội ngồi gốc cây đa.
 
Quì hỉnh mũi:
 
- Bóp ẩu chị Hằng nên bị đuổi khỏi mặt trăng.
 
- Hình như thế.
 
- Thế là cái chắc chớ hình như hình nhử chi nữa.
 
Quỳnh thở phì khói thuốc tợ ống khói tàu lửa:
 
- Quì hạ anh xuống thấp hơn mực nước biển rồi đó.
 
- Rán mà trồi lên.
 
- Trồi lên chắc không nổi.
 
- Huy động cả họ hàng nội ngoại ra mà kéo anh lên.
 
Quỳnh tát nhẹ vai Quì:
 
- Em hỗn như con Bú dù.
 
- Con Bú dù chỉ biết kêu khẹt khẹt, không biết nói ; Quì nói được tức Quì không phải là con Bú dù.
 
- Quì lý luận trôi chảy như một dòng sông.
 
- Sông nào?
 
- Sông Thạch Hãn.
 
Quì bật cười:
 
- Sông Thạch Hãn, Quì nghe bọn học trò nói mùa hè xắn cao quần lội qua được, qua bên kia sông đi vớ vẩn coi người ta chụp ếch nhái.
 
- Vui không?
 
- Vui chứ!
 
- Mùa hè sang năm chắc mình nên bới cơm bới nước đi coi người ta bắt ếch nhái suốt một ngày ròng, vui cho đã đời.
 
Quì quắc mắt một tia nhìn ướt. Tia nhìn âu yếm ôm gọn khuôn mặt tươi trẻ của người bạn trai. Quỳnh vẫn đưa mắt nhìn vời xa, điếu thuốc mới đốt bốc khói giữa hai ngón tay thầm lặng - những sợi khói hân hoan và, Quỳnh nom trẻ thơ trong dáng trầm ngâm thanh thản.
 
Quì buồn bã nhìn Quỳnh. Người thanh niên suốt cả buổi chiều nay không hề biết đến sự bối rối đang kết thành sợi dây thun thắt bóp tim nàng. Quì đang cố gượng vui ; Quì đang cố cười nói để tự cho phép mình sống một buổi cuối cùng thật sự êm đềm bên cạnh người mình thương mến. Lát nữa Quỳnh lên một chiếc xe taxi nào đó trở về với thành phố của anh ta, là hết. Thế giới riêng biệt của anh sẽ khép kín sau màn mưa trùng điệp. Quỳnh ở đầu mút con đường xa 60 cây số. Con đường nhựa nối hai thành phố, mỗi tuần Quỳnh nôn nao vượt qua tìm về với nhau, sống tròn một ngày đầy nghĩa rộng tình sâu: đi lang thang qua những con đường heo hút tỉnh lỵ này, ngồi trong những quán chật ních lính tráng ở đây, đưa nhau vào rạp xi nê hôn nhau, đưa nhau ra bờ sông cười dưới nắng, cãi nhau dưới gốc cây và giận dỗi trước khu bưu điện... Mỗi tuần Quì tới bưu điện 3 lần, hôn lên con tem 6 đồng, khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau". Những tờ thư kể lể nhớ nhung quá nhiều nên thỉnh thoảng Quì gửi một tờ giấy trắng - cho nó lạ một tí, như người ta ăn mặn suốt tháng, ăn chay hai ngày rằm và mồng một cho đỡ nhàm. Thời êm đềm đó qua rồi. Ngày mai tất cả đổi thay hết rồi.
 
Ngày mai. Thành trì đã thiết lập, Quì hết tự do bay nhảy. Con chim non sẽ bị nhốt vào lồng, con cá nhỏ bị nhốt trong chậu. Quỳnh không hề biết  điều đó. Quì có nên nói cho chàng nghe hay không?
 
Có nên tả lại sự giận dữ của mẹ khi hay tin từ lâu giữa Quì và chàng vẫn còn liên lạc, mối liên lạc lâu nay bà ngỡ cắt đứt rồi không? Có nên nói đến quyết định của mẹ, của anh em chú bác nàng không? Cái quyết định bất ngờ như từ trên trời rớt xuống, như tự mặt đất không dưng nẩy lên. Dẫu sao, cái quyết định ấy vẫn có thực, nó lù lù đó, không dễ gì tẩy xóa, chối bỏ.
 
Hôm qua mẹ từ Đà Nẵng về mang theo cái quyết định nóng bỏng ấy nói cho ông chú, các cô em họ của Quì nghe. Nghe xong Quì khó chịu lạ. Khó chịu vì không hề ngờ nhân vật chính đóng vai quan trọng trong quyết định của mẹ lại là ông Mai. Ông Mai bạn của anh Điềm anh Dĩnh. Ông Mai vẫn thường đến nhà chơi. Ông Mai thỉnh thoảng khám bệnh tim cho Quì. Ông Mai thường lái xe đưa cả bọn đi biển Mỹ Khê, Lăng Cô những hôm chủ nhật trong mấy tháng hè vừa qua, từ ngày Quì rời trường sư phạm Qui Nhơn trở lại Đà Nẵng sửa soạn bước vào đời tập tễnh làm cô giáo làng.
 
Quì không thể ngờ ông Mai lại mết Quì. Ông ta khéo che đậy tình cảm?
 
Có thể lắm - ở lứa tuổi ông ta, ổng thừa sức che giấu xúc động bồng bột thường phát tiết thành cử chỉ lời nói mà bọn thanh niên mới lớn thường mắc phải. Hoặc giả những lúc gặp Quì ông có để lộ ra một vài phần nhưng Quì không để ý, Quì coi ông ta như anh Điềm anh Dĩnh, những người lớn, thế thôi. Vả tâm trí Quì mải bận rộn với hình bóng Quỳnh thì để ý đến ông Mai - người - lớn ấy làm gì cơ chứ! Trong những lần về biển, cùng đi với anh Điềm anh Dĩnh và Quyên (cô em gái út của Quì) Quì chằng thấy ông ta tỏ ra cử chỉ nào săn sóc đặc biệt hoặc khác thường cả. Quì nô giỡn, cười đùa và hát hỏng hồn nhiên dưới đôi mắt bình thường của ông ta. Có một lần độc nhất, Quì tắm xong lên nằm úp bụng phơi nắng, ông Mai ngồi xuống bên cạnh lấy cát rải lên lưng Quì, Quì kêu nhột và dơ ; ông ta đỏ mặt cười rồi ngưng ngay trò chơi, đứng lên nhập bọn với anh Điềm anh Dĩnh (lúc ấy đang đấu láo với một cô bạn). Bây giờ nhớ lại lần đó, Quì nghĩ: "Có thể hôm ấy ông Mai thử phản ứng của Quì cũng nên. Nếu Quì để yên không kêu nhột, dơ ông ta sẽ tiến tới đâu nữa nhỉ? Quì lắc đầu không thể hiểu nổi.
 
Thoạt tiên nghe mẹ nhắc đến ông Mai và cái quyết định của cả gia đình, Quì thấy khó chịu: nỗi khó chịu nhẹ nhàng không thể làm trào nước mắt nhưng Quì chợt nhận ra thật chóng vánh vị thế lẻ loi cô độc của mình. Cái quyết định kia được một lực lượng hỗ trợ quá hùng hậu. Quì nghĩ đền Quỳnh với những nhịp tim đập mạnh, nếu ngồi nán lại chút nữa nghe mẹ nói chắc Quì đã ngất xỉu. Căn bệnh đã tốn không biết bao nhiêu thuốc uống và chích dường như chưa chịu rời Quì. Quyết định của mẹ có liên quan phần nào đến căn bệnh dai dẳng ấy
 
Nhớ lại những lần tới khám bệnh, Quì phải cởi áo để trần ngực cho ông Mai đặt ống nghe đo nhịp tim, Quì ngượng chín người. Ông Mai là người duy nhất nhìn thấy ngực Quì, người đầu tiên nghe nhịp tim Quì đập. Chẳng biết có phải ông Mai đã bị nhịp tim bệnh hoạn của Quì cám dỗ không? Chẳng biết có phải hai miếng ngực trắng non nhỏ nhắn khiêm tốn của Quì đã mê hoặc ông không? Không, ông ta là bác sĩ chuyên khoa về tim thì mỗi ngày nhìn ngắm ngực con bệnh và nghe tim con bệnh đập là chuyện quá thường tình. Vậy thì tại sao ông ta có ý định cưới Quì? Cưới một con bệnh mà hơn ai hết, ông biết rằng rất có thể ngày nào đó vợ mình sẽ chết bất đắc kỳ tử? Quì lắc đầu, lắc đầu qua trái lắc đầu qua phải, không hiểu.
 
Lý do mẹ đưa ra thật vững vàng trơn tru:
 
"Lấy thằng Mai, nó sẽ vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, nó đã trì chí theo dõi bệnh tim con lâu nay, nó hiểu cách chữa trị. Vả lại nó cũng sắp rời bệnh viện Duy Tân về Quảng Trị, ra Giêng tụi bây cưới nhau xong mỗi ngày nó đưa con đi dạy, đỡ nhọc".
 
A! Sao mẹ không nói trắng ra, Mai vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, vừa là thằng tài xế suốt đời trung thành của con? Quì khóc, Quì lắc đầu. Lắc đầu đã trở thành cử chỉ quen thuộc mỗi khi Quì muốn trốn tránh ý tưởng hắc ám nào, những ý tưởng tới từ nỗi buồn, từ một cơn giận nghẹt tim chẳng hạn...
 
Quì nhìn Quỳnh, nhìn gã thanh niên hồn nhiên trước sự bối rối tê đau của nàng. Gã vẫn không hề biết. Có nên nói cho Quỳnh biết không? Quì lắc đầu, Quì lắc đầu phân vân, Quì lắc đầu trước nỗi buồn của Quì, không dám lắc đầu trước quyết định của mẹ. Quì thương mẹ, Quì thương nỗi lo lắng của mẹ. Ngày mãn khóa mẹ bỏ hết công việc vào Qui Nhơn với Quì. Hôm chọn nhiệm sở mẹ ngồi bên Quì:
 
"Con phải về Quảng Trị, con phải chọn ty tiểu học Quảng Trị, ở đó có chú Tâm lo cho con về chỗ tốt, về Đà Nẵng không ai lo chỗ tốt cho con được cả."
 
Quì vâng dạ, Quì chọn Quảng Trị.
 
Quảng Trị: địa danh của một nơi chốn nghèo khó, buồn nản. Địa danh được nhắc nhở khá nhiều trong những bản tin chiến sự hàng ngày trên mặt báo, trên đài phát thanh. Miền đất hiền thục nhưng lỡ nằm ở vị thế cam go trên bản đồ chiến lược nên được biếu thêm một tước hiệu nữa: địa đầu giới tuyến. Quảng Trị, khu phố vuông vắn vây bọc những mái nhà thâm u cúi xuống những lòng đường bức bối, lính tráng đông hơn dân cư. Quảng Trị chỉ sống dậy từ 7 giờ sáng ; 8 giờ tối coi như Quảng Trị chết đi, những lòng đường dành cho lá bay, dành cho ma quỷ. Quảng Trị không như Huế, Đà Lạt, Nha Trang: những địa danh vừa đọc lên đã nghe quyến rũ lạ thường. Quảng Trị: cái tên mới đọc đã nghe xao xác, cực lòng.
 
Những trận gió Nam thổi từ Lào về, những heo may từ thâm sơn Thanh Nghệ Tĩnh vô làm Quảng Trị lên những cơn sốt bất thường, nóng cháy và lạnh run. Những cơn sốt đôi khi làm lệch lạc cả bước đi của tiết mùa.
 
Quì về Quảng Trị, Quì ở nhà chú Tâm. Mỗi ngày Quì vượt qua một con đường lầy lội bùn đỏ, vượt qua hai cánh đồng tới ngôi trường ở vùng ngoại ô buồn tẻ. Hôm đến trường lần đầu Quì đi với chú Tâm. Quì khóc ròng lúc đứng trên bục gỗ nhìn xuống đám học trò lem luốc, những thân thể còi cọc trước tuổi vì thiếu ăn thiếu mặc, những khuôn mặt cúi xuống trang vở buồn bã như mái tôn ủ dột che mưa nắng trên đầu chúng. Quì nhìn lũ học trò và, lắc đầu lắc đầu.
 
Mưa nhẹ hạt hơn. Có nên nói cho chàng biết không? Quì ôm sát chiếc áo mưa vào ngực tìm chút hơi ấm và chút can đảm nào đó có thể từ thinh không rơi xuống giúp Quì. Không, Quì vẫn câm lặng như con hến, như con ốc trong chiếc vỏ kỳ dị. Quì chợt thấy mình thật kỳ dị. Quì có cảm tưởng mọi con mắt của đám đông trên bến xe chiều nay đang đổ dồn về nàng, đổ dồn về đứa con gái khốn khổ với những khóe nhìn cay xót. Quì ho nhỏ, giọng Quì trầm:
 
- Anh ra xe đi, cái xe đằng kia sắp đầy rồi đó. Quì còn phải đi làm lại tóc.
 
Quỳnh nắm lấy bàn tay trắng muốt nổi gân xanh của Quì bóp nhè nhẹ:
 
- Gắng tìm đủ mọi cách bò về Huế ăn tết với anh.
 
Quì cúi mặt giấu đôi mắt bắt đầu tươm lệ nóng. Quì cắn mạnh môi dưới, Quì cắn nhẹ môi trên nhủ thầm: Quì ơi mày phải bình tĩnh uống cạn chén mật ngọt cho đến giọt cuối cùng ; chén mật ngọt sắp cạn rồi. Ngày mai mày uống mật đắng mật cay mật chua. Quì thả khóe nhìn ướt xuống bàn tay nắm của Quỳnh:
 
- Vâng, Quì cố gắng hết mình, anh ra xe, họ nổ máy rồi kìa.
 
Quỳnh bóp mạnh tay Quì rồi buông ra, khoác áo mưa vào, nhìn lâu vào mắt Quì âu yếm:
 
- Lại khóc, cô giáo rồi mà cứ ngỡ mình còn là học trò thò lò mũi xanh. 
 
Quỳnh bước ra khỏi hàng hiên, bước nhanh tới chiếc xe đậu cuối bến. Quỳnh ra khỏi hàng hiên, Quỳnh vừa vượt qua biên giới. Chén mật ngọt cạn rồi, cạn thật rồi. Quì rũ áo mưa mặc vào, trùm mũ che ngang mặt.
 
Quỳnh lên xe. Quỳnh đưa tay ra cửa xe vẫy. Quì đứng trông vời theo cho đến lúc xe khuất sau dãy nhà mái tôn, khuất sau hàng cây trụi lá trơ vơ dưới trời mù mưa tháng Chạp.
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp. Quì ôm mưa tháng Chạp trong lòng mà đi. Tháng Chạp mênh mông lồng giá rét vào tóc Quì, tháng Chạp tô son nhạt vào môi Quì, tháng Chạp đánh phấn lạnh vào má Quì. Mùa đông đang già theo cơn mưa muộn màng chiều nay, mùa xuân sẽ tới ; mùa xuân gần kề. Hôm qua lễ tất niên cử hành tại trường. Cô giáo vỗ tay hát giữa bầy trẻ ngơ ngác. Cô giáo cắn hạt dưa. Cô giáo ăn mứt gừng cùng lũ trẻ. Cô giáo bâng khuâng, nhớ những mùa xuân tuổi nhỏ mặc áo vàng quàng khăn lụa nhảy tung tăng chân sáo trên đường ngập xác pháo hường. Cô giáo nhìn qua cửa lớp, nhìn ra cánh đồng xa ngút mắt ngẫm nghĩ nơi đây tiêu sơ hoang dại quá chắc mùa xuân chẳng bao giờ về!
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp, lạnh một mình, buồn một mình, hồn nghèo trí mỏi, môi mím mắt ngây. Chàng đi rồi, Quỳnh đi rồi. Quỳnh mang mùa xuân của Quì về Huế rồi. Ngày mai, là hết. Ngày mai ông Mai sẽ đem xe rước Quì và mẹ về Đà Nẵng. Về Đà Nẵng để Quì đeo nhẫn đính hôn. Về Đà Nẵng để Quì tha hồ nhận lời chúc tụng của bà con bằng hữu. Những lời châm chọc của mấy cô em con ông chú giờ nghe còn nóng vành tai:
 
"Chị lấy cái ông Quỳnh ấy à? Trước mặt ông ta một chồng bản thảo, sau lưng ông ta một chồng bản thảo, bên phải bên trái ông ta hai chồng bản thảo nữa. Eo ôi truyện ngắn truyện dài. Chị còn chỗ nào để ngồi gần ông ta nữa?"
 
Quì ngậm nét cười cay đắng rồi Quì phun cay đắng ra thành ngôn ngữ ngậm ngùi:
 
"Vậy tao lấy ông Mai, bên phải ông ta một núi bông băng, bên trái ông ta nghìn chai thuốc đỏ, sau lựng trước mặt ông ta thuốc uống thuốc chích, tao còn chỗ nào nữa mà ngồi?"
 
Những tiếng cười vang rân, vang xa như tiếng ruồi xanh ngân nga trong lòng thạch động. Thạch động là cái óc của Quì, tâm hồn Quì sâu và lạnh lẽo tựa thạch động, trống rỗng một trăm phần trăm.
 
"Bà chị ơi, biết bao nhiêu người đang thèm địa vị của chị. Nếu không ưng xin chị dang ra cho tụi em nhào vô."
 
Những lời khôi hài thiếu muối thiếu vị tinh thiếu xì dầu, nhạt nhòa vô duyên Thanh nói, Liên nói, Phương nói. Tụi nó sao giàu ngôn ngữ đến thế? Quì nghèo nàn rồi. Tâm hồn em nghèo nàn từ khi anh bỏ đi. Câu thơ của ai vậy?
 
Quì bước đi tựa con tàu say gió. Những đường phố luốc lem bùn đỏ cũng là những đường sắt say rượu. Con tàu say, đường sắt say sẽ đưa nhau tới ga trạm nào? Quảng Trị đó, con phố âu sầu cưu mang những con đường âu sầu. Này vết chân đi qua lồng vào bùn đỏ ; bùn đỏ ôm níu lấy những dấu chân để một mai chờ nắng đốt thành bụi phiêu du cùng gió, bụi lãng quên. Quảng Trị đó, những quán hàng đìu hiu cửa mở, những thềm hiên tối nặng màu chàm. Có nên đi làm lại tóc theo lời mẹ dạy không? Quì đi, chân lang thang trí lang thang theo mưa lang thang. Quì tìm lối ra bờ sông, ngó sang bên kia thảm cỏ lướt thướt mưa mù, màu xanh lục ngon nhưng lạnh lùng quá. Quì chợt ao ước mình được hóa thành con nai vàng ngơ ngác, con nai vàng tỉnh táo gục mặt xuống thảm cỏ giá băng kia. Sông Thạch Hãn, trăm mui thuyền bồng vẻ nghèo khó, dòng sông trôi buồn như một khúc hành Tỳ bà.. Quì khẽ lắc đầu lắc đầu.
 
Quì băng qua đường tới nhà bưu điện.
 
Có nên đánh cái điện tín cho Quỳnh? Nên lắm. Phải báo cho chàng biết. Trước sau gì anh cũng phải biết. Anh biết để anh còn đủ thì giờ mà khổ mà đau mà nguyền rủa em, phải không anh?
 
Bưu điện đóng cửa im lìm. Ô hay, hôm nay chủ nhật. Quì kêu thầm trong trí, Quì bối rối đứng sững trước tòa nhà tẻ ngắt. Cái thùng thư cũ kỹ thân yêu nằm nép dưới khuôn cửa sổ. Cái thùng thư mỗi tuần Quì tới với nó 3 lần, hôn lên con rem 6 đồng khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau" Những cánh thư chắp cánh bay đi mang về những lời nồng lời ngọt. Hết rồi, kể từ ngày mai hết rồi. Xa nhau, gửi thư cho nhau Quỳnh kêu: "Quì ơi, mình ở xa nhau nên tình yêu phải đi và đến bằng lối hàm thụ". Thư mới nhất Quỳnh viết:
 
"Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm. Thương anh mỗi ngày nhớ uống thuốc cho chóng lành bệnh tim, chứa đủ hình ảnh anh trong tâm thất trái và tâm thất phải. Thương anh mỗi đêm nhớ gọi tên anh 100 lần cho anh nhảy mũi ngất ngư con tàu đi. Thương anh thì chớ nên khóc, mặc dù những lúc khóc đôi mắt em trông ngon như hai trái nhãn lồng lột vỏ. Thương anh thì ngủ cho thật đầy, 7 giờ tối đắp mền, 7 giờ sáng tung mền dậy. Thương anh thì đừng nói hành nói tỏi anh. Thương anh đừng dọa dẫm hăm he anh: chọc Quì giận Quì đi lấy chồng. Thương anh thì tết này gắng tìm đủ mọi cách tìm về trong vòng tay lớn của anh. Thương anh thì nhớ đá lông nheo thật kỹ những lúc anh chợt buồn bã giữa chừng cơn vui. Thương anh bao nhiêu thương cái tính xấu cái nết tốt của anh bấy nhiêu. Quì phải học thuộc đoạn trên làm kinh nhật tụng. Mỗi đêm quay mặt về Huế mà đọc mà cầu nguyện, gặp anh Quì phải đọc thuộc làu làu."
 
Thương anh thì thương cái tính xấu, nết tốt của anh. Tính xấu? Nết tốt? Quì không biết Quỳnh có tính xấu, nết tốt nào nữa. Anh phải cái tội đùa cợt nhiều quá, tham lam hôn hít quá, thế thôi. Quỳnh ơi Quỳnh ơi! Quì đứng như cây chuối trồng trước nhà bưu điện. Đi đâu? Về nhà có mẹ đang đợi? Vào tiệm làm lại mái tóc? Không. Mưa điên hớp hồn Quì, gió điên nhiếp dẫn hồn Quì. Quì bước đi theo tiếng hú nào đó thật âm vang thật bí mật của tháng Chạp, của đông già heo hút trên những đầu cây. Quì đi như là bay.
 
*
 
- Còn chuyến cuối, mau lên cô hai.
 
Người tài xế taxi đứng cạnh chiếc xe lùn màu đen đưa tay vẫy Quì. Quì kéo cao hai ống quần hấp tấp bước tới, cùng lúc một thanh niên từ sau lưng Quì cầm xắc chạy nhanh vào bến. Quì vướng chân vấp ngã trên vũng nước đọng. Người thanh niên vượt lên trước tới bên xe. Người tài xế phân bua:
 
- Còn có một chỗ thôi ông ơi. 
 
Người thanh niên đong đưa chiếc xắc nóng nảy:
 
- Tôi tới trước để tôi lên.
 
Quì áo quần lấm bết bùn đất nhổm dậy tới đứng ngẩn ngơ bên gã thanh niên. Người tài xế vung tay về phía Quì:
 
- Cô này tới trước, ông xem cô ta vấp ngã dơ cả quần áo kìa.
 
Đám hành khách ngồi trên xe nhao nhao:
 
- Kìa lên đi chứ, tối rồi, cãi nhau mãi sao? Cô nhỏ đó tới trước để cổ lên.
 
Người tài xế mở cửa, Quì ríu ríu nói cám ơn rồi vào chỗ ngồi. Người tài xế đóng mạnh cửa, vào cabin, ngoảnh lại nhìn gã thanh niên cười, nụ cười hàm ý xin lỗi. Gã thanh niên lỡ chuyến quay lui khoảng bến lõng bõng nước sau lưng, đong đưa chiếc xắc trên tay, lẩm bẩm chửi thề. Xe rồ máy.
 
Còn chuyến cuối, Quì đưa tay vuốt mặt, thở ra nhẹ nhõm. Quì cũng không nhớ nàng đã trở lại bến xe bằng lối nào nữa. Đôi môi lạnh cóng của Quì thoáng nụ cười nhẹ. Lòng xe chật kín om hơi ấm giúp Quì tỉnh táo phần nào. Mưa sắp dứt hạt, chỉ có từng đợt mỏng như tơ giăng ngang bầu trời. Quì khẽ nhắm mắt ngả đầu ước mong được ngủ một giấc dài và thật thoải mái. Quì nhắm mắt, càng nhắm kỹ càng tốt. Quì không muốn nhìn lui khu phố buồn bã này chút nào. Mẹ đang làm gì ở nhà? Chắc mọi người nghĩ Quì đang ngồi trong tiệm uốn tóc nào đó. Mẹ ơi con trở thành đứa con hư từ đây, từ chuyến xe cuối chiều hôm nay. Chuyến xe con đã ngỡ chẳng bao giờ con bước lên thế mà giờ con đang ngồi trong lòng nó để bắt đầu một chuyến đi. Chuyến đi có thể đưa đến hậu quả lầm than nhất cho đời con. Nhưng dẫu sao con cũng đã có quyền quyết định. Khổ con chịu, sướng con vui. Xin tạ lỗi mẹ. Xin lỗi ông Mai nhé. Thanh ơi Liên ơi Phương ơi tao nhường lại đó, đứa nào nhào vô thì cứ nhào, tao dang ra xa rồi. Tao không thể cứ uống mật đắng mà cứ bảo là mật ngọt được. Tao không thể chui vào cái vỏ hạnh phúc tiền chế được. Quỳnh ơi, em đang đuổi theo anh, đuổi theo mùa xuân ; trả mùa đông lê thê lại cho thành phố mưa bùn nắng bụi này. Anh đang ở chặng đường nào? Anh sắp tới Huế chưa? Anh có nghĩ rằng em đang đuổi theo anh gấp rút không? Đuổi theo, đuổi theo bắt cho kịp hạnh phúc. Đuổi theo, đuổi theo ngất ngư mệt lả rồi ngả vào lòng anh khóc một trận cho đã nư ; khóc hai trận cho trôi hết buồn lo điên dại ; khóc ba trận mừng hội ngộ hân hoan. Em sẽ khóc hoan hỷ, khóc ngọt bùi, trong thiên hạ có bao nhiêu kiểu khóc em sẽ khóc hết. Khóc xong em sẽ cười, trong thiên hạ có bao nhiêu nụ cười em gom lại thành rừng thành biển. Cười quên mình là đứa con bỏ đi hoang. Cười xóa mặc cảm đứa con hư. Cười vỗ ngực vinh danh người tình chung thủy. Em thèm khóc, em thèm cười. Em đang về với anh. Về vòng tay cúi đầu đọc bài kinh nhật tụng của anh: "Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm..." Vâng, thương anh thương anh, thương anh. Thương anh em sẽ tuân theo kỷ luật anh đặt, mệnh lệnh anh ra. Em đánh rơi chữ "hiếu" rồi, từ nay em xin đội chữ "tòng" lên đầu làm vương miện. Em về với anh là em quăng bỏ sau lưng hết tiếng xấu tiếng tốt, tiếng vo ve, tiếng thì thầm của đám đông thiên hạ. Em đang về. Em đang trở về. Căn nhà thuê trong hẻm lờ mờ ánh điện câu đêm nay sẽ rực rỡ ánh sáng. Đêm nay em bỏ cuộc đời nhỏ bé em vào đôi tay anh, anh muốn nhào muốn nặn, bóp méo uốn cong nặn tròn gì cũng được hết. Em sẽ mềm dẻo như cục đất sét, em sẽ ngon ngọt như cây mía mừng, em nồng nàn như vôi. Em không chua như chanh, em không chua như dấm đâu Quỳnh ơi!!!
 
Quì vụt mở mắt. Xe phanh rít lại bất ngờ nhồi lên cái mạnh. Tới Huế rồi sao? Tới Huế rồi à? Quì cuống quít hỏi và, không nghe ai trả lời cả. Đám hành khách nhốn nháo chúi về phía trước nom ra cửa kiếng. Cửa mở, mọi người ào xuống đường. Cái gì vừa xảy ra? Sao xe dừng lại ở đây?
 
Một chiếc xe Honda ngã sóng soài đầu mũi taxi. Người lái Honda là một người lính, anh ta nằm cách đó mấy thước. Mọi người chạy ùa tới nâng kẻ ngộ nạn dậy. Người lính chỉ xây xát nhẹ, cánh tay phải anh ta tóe máu bởi một đường rách ngắn. Người tài xế taxi tái xanh mày mặt, gã đưa tay chỉ con đường mòn bên phải (lối chiếc xe Hoda đã đi ra) than thở:
 
- Thật là tai bay vạ gió, khi không đâm ngang ra như vậy cha ai mà tránh kịp.
 
Một xe Quân cảnh chạy trờ tới. Người tài xế taxi phân bua với đám hành khách:
 
- Lỗi hay phải gì xe tôi cũng không thể về Huế tối nay được. Xin bà con cô bác thông cảm, tai nạn bất ngờ. Tôi xin hoàn tiền lại bà con đón xe khác về, hoặc trở lại Quảng Trị, may ra giờ này còn có xe nhà binh.
 
Đám hành khách tiu nghỉu, không ai nói năng gì cả ; cũng chẳng thấy ai đưa tay ra nhận lại tiền.
 
Quì đứng buồn bã thàng thốt như người vừa ra khỏi cơn mê ngắn. Quì ngơ ngẩn hỏi một bà già đứng bên cạnh:
 
- Đây là đâu bác?
 
Bà già ngưng nhai trầu:
 
- Mỹ Chánh, còn 40 cây số nữa mới tới Huế.
 
Đám hành khách một số xúm lại coi toán Quân cảnh làm biên bản, số khác đứng lơ ngơ trông lui tới đón xe.
 
Còn 40 cây số nữa. Quì ứa nước mắt trông hút con đường phía trước. Mưa dứt hạt từ lâu. Bầu trời mang mang sương xanh lạnh. Trước mặt, con đường vắng tanh không bóng người. Quì ngó về bên phải, những cánh đồng rộng mênh mông tiếp chân núi thẳm mù mây khói tím. Quì ngó sang trái, những quán hàng lụp xụp tranh tôn chen lẫn nhau. Quì trông lui, hoang vu hoang vu và hoang vu. Hiu quạnh trải bốn bề vây lấy đám người lỡ đường ; hiu quạnh vây lấy Quì.
 
Bà già ngạc nhiên thấy Quì khóc. Bà nhìn Quì bằng tia nhìn vừa ái ngại vừa trìu mến:
 
- Vô cái quán trong này ngồi nghỉ tí đã con. Giờ này không mong chi có xe về Huế, chuyến mình đi là chuyến cuối mà. Trở lại Quảng Trị họa may có xe nhà binh từ Phong Điền về. Bác đi hàng ngày bác biết quá. Thôi về Quảng Trị ngủ một đêm sớm mai đi cho chắc ăn.
 
Quì như không nghe thấy lời rủ rê thân mật của người đồng hành khả kính ấy. Quì đứng yên như không nhúc nhích. Còn 40 cây số trước mặt để đi tới và 20 cây số sau lưng dể trở về. Quì là người tình chung thủy nhưng là một đứa con hư. Trở về: Quì là kẻ phụ tình nhưng là một đứa con có hiếu. Đi tới hay trở lại? Mẹ ơi! Anh Quỳnh ơi! Tôi về đâu? Con về đâu? Em về đâu? Thiên đường, địa ngục trước mặt tôi hay sau lưng tôi? Mẹ ơi! Anh ơi!
 
Tay Quì xuôi, mắt Quì mở lớn. Quì đứng trông vời con đường phía trước. Quì khẽ quay đầu trông phía sau. Sương đổ xuống vai Quì và gió xoáy buốt hồn Quì. Quì lắc đầu lắc đầu. 
 
 
MƯỜNG MÁN      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1972)