Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

LAN VÀ HUỆ - Hoàng Đạo

 

Chợ Chu là một đô thị nhỏ ở vùng Thái nguyên. Mấy gian chợ xây gạch ở chính giữa, chung quanh là những ngôi hàng của người Kinh lên đây buôn bán với bọn Thổ, Mán, rồi là rừng núi bao phủ bốn phía.

Trong các ngôi hàng kia, có ngôi hàng của vợ chồng ông Bá là thịnh vượng hơn cả. Cũng như các bạn hàng khác, ông bán cho dân Thổ những thứ họ cần dùng như muối, đường… và mua sản vật của họ để xuôi Thái Nguyên bán lại. Nhưng ông hiền hậu và thực thà, không có tính lừa lọc, lại sẵn lòng cứu giúp kẻ nghèo, nên dân Thổ thích giao dịch với ông và mến yêu ông lắm.

Vì thế, công việc làm ăn của ông rất dễ dãi và hai ông bà có thể tự mãn, nếu không có một nỗi khổ tâm: Hai ông bà muộn con. Hai ông bà uống thuốc suốt năm và luôn luôn đi cầu tự ở các đền chùa, nhưng vẫn không có kết quả gì.

Mãi đến năm ông đã năm mươi, bà mới sinh hạ được một mụn con gái. Hôm bà lâm sàng, ông Bá thấy trong vườn nở một nhánh hoa lan bạch ngọc, ông bèn đặt tên con gái là Lan.

Lan trông rất xinh, nước da trắng mịn, đôi con mắt to và thơ ngây như mắt thỏ. Cha mẹ nâng niu và quý báu như ngọc, ngày ngày bà Bá ra chùa tạ ơn Trời, Phật đã cho bà được toại nguyện.

Năm Lan lên ba, bà Bá không may thụ bệnh rồi từ trần. Từ đấy, tình cảnh hai bố con Lan thực là đáng thương. Ông Bá phần thì nhớ vợ hiền, phần thì thương con nhỏ mồ côi, buồn phiền không thiết làm gì hết, sao nhãng cả công việc buôn bán, ngày ngày chỉ uống rượu hay rong chơi cho khuây khỏa.

Một hôm, ông đương ngồi buồn nhắm rượu thì có một người đàn bà đến thăm. Bà ta ăn vận đại tang và nói là bạn của bà Bá, được tin bà mất nên đến viếng.

Phú ông nghe nói trạnh lòng, đem việc nhà ra kể lể than thở. Bà khách cũng khóc òa lên, sụt sùi nói rằng thấy cảnh nhà ông, chợt nhớ đến nông nỗi góa bụa của chính bà. Nghe bà khách nói, ông Bá cũng động lòng thương. Hai người kể lể với nhau chán chê rồi lại khóc, và đến lúc khóc chán chê rồi thì nhìn nhau và cùng thương hại lẫn nhau.

Lúc bà khách từ biệt ra về, ông Bá tiễn ra tận cửa, rồi cách đó vài hôm, ông sang đáp lễ. Hai người hóa ra năng đi lại với nhau, và không bao lâu, ông Bá cưới bà khách góa về làm vợ kế. Ông mong rằng từ đây ông sẽ có một người nội trợ đảm và Lan sẽ được người mẹ có thể thay người mẹ hiền đã khuất.

Song điều người ta mong ước thường không hay đến. Bà khách ban đầu còn tỏ vẻ âu yếm miễn cưỡng, nhưng về sau, lòng ghẻ lạnh đối với Lan dần dần rõ rệt. Lấy ông Bá được một năm, bà cũng sinh hạ một đứa con gái đặt tên là Huệ. Nhưng Huệ xấu xí, thô kệch, không được như Lan, nên bà mẹ từ đấy ghen tức với Lan, sinh ra thù ghét Lan.

Nhất là Lan càng khôn lớn lên trông càng xinh đẹp ra. Nước da cô trắng mịn, đôi má lúm đồng tiền, cái miệng cười rất có duyên, dáng đi mềm mại như một nhành lan, ai trông thấy cũng phải yêu.

Và, đáng mến hơn sắc đẹp, Lan có một tính tình hòa nhã, dịu dàng. Luôn luôn, cô khâu vá, hay làm một việc khác giúp đỡ mẹ ghẻ, và cố sức làm cho trong nhà có một hòa khí đáng yêu. Ông Bá rất yêu Lan, nhưng Lan không hề dựa vào lòng yêu ấy để đối phó với mẹ ghẻ; Lan thường nhường nhịn để trong nhà được vui vẻ. Như mẹ Lan khi xưa, Lan rất thương người, không khi nào gặp một người đau khổ là Lan không hết sức tìm cách giúp đỡ hay an ủi. Lan thương cả đến loài vật: mèo, chó trong nhà thấy Lan đâu là theo mừng, và cả đến chim sẻ quanh nhà cũng có khi bay đến đậu trên vai, lên tay Lan mổ thóc gạo, cô hay đem cho chúng ăn.

Huệ, trái lại, là một cô gái đỏng đảnh, chua ngoa, hay mắng chửi đầy tớ, chỉ biết vơ phần lợi về mình, mà lại muốn lúc nào người ta cũng khen mình đẹp và khôn ngoan.

Nhưng hàng xóm láng giềng chỉ yêu Lan và khen Lan, khiến Huệ tức ghen với chị và tìm cách làm hại chị. Song Huệ biết cha yêu quý Lan hơn, nên Huệ đành ghen thầm ghen vụng chị mà thôi.

Một hôm kia, ông Bá bàn với vợ về việc buôn bán, và nhất định xuống Thái mở một ngôi hàng nữa, còn ngôi hàng ở chợ Chu thì để lại cho vợ con trông nom.

Từ hôm ấy, Huệ không còn sợ hãi gì nữa, chỉ lăm lăm tìm dịp làm hại Lan cho bỏ ghét.

Huệ biết Lan tính hay thương loài vật, bèn nghĩ ra một cách trêu. Huệ leo trèo tìm tổ chim lấy trứng hay bắt chim con để chơi, và được con nào là đem về khoe chị, rồi vặt lông nó, đánh đập nó trước mặt chị Huệ, làm thế vừa để thỏa tính ác tự nhiên của cô, vừa để làm gai mắt chị. Lan trông thấy lấy làm thương tâm lắm, nhưng khuyên bảo Huệ làm sao cũng không được. Càng khuyên bảo, Huệ lại càng đánh đập tàn nhẫn hơn; đem việc ấy nói với mẹ ghẻ, thì mẹ ghẻ lại mắng át đi, bênh con ra mặt. Cho nên, nghe tiếng chim bị đánh kêu chiêm chiếp, Lan đành quay mặt đi không nhìn nữa, hay đi nơi khác cho khuất mắt

Huệ biết vậy lại trêu tức già. Cô ta bẫy được một con chuột bèn lấy giẻ tẩm dầu tây quấn vào thân con vật rồi lấy diêm châm. Con vật bị đốt sợ hãi quá, vừa chạy vừa kêu; Huệ lấy làm thích lắm, đứng vỗ tay xem đám lửa chạy quanh trong gian nhà.

Lan chợt trông thấy, vội chạy lại, lấy chăn chùm con chuột, dập tắt lửa, nhưng con vật đầy vết thương, nằm yên rên rỉ.

Thấy Huệ đứng cười, Lan giận lắm, uất lên mắng em:

- Sao Huệ chơi ác thế, hở?

- Ác gì mà ác. Nó có biết đau đâu!

Huệ vừa trả lời vừa rũ ra cười.

Lan nhìn con vật nằm rên, nói:

- Em thử bị như thế có đau không?

Ấy thế là Huệ khóc ầm lên, chu chéo kêu la:

- Chị rủa tôi! Chị ác thực!

Thế là Huệ giựt phăng lấy con chuột ném ra ngoài sân rồi vừa khóc vừa chạy ra mách mẹ.

Bà mẹ đương uống nước, gọi Lan ra mắng như tát nước vào mặt:

- Nó chơi thì mặc nó, can chi lại đến rủa nó? Chị bước ngay đi không thì tôi đập cái chén này vào mặt bây giờ.

Lan biết nói cũng bằng thừa, đành cúi đầu lủi vào nhà sau khóc một mình. Lúc đó con chuột đã tỉnh, đứng nhìn Lan khóc, hai con mắt như có vẻ buồn, rồi lủi thủi tìm đường trốn.

Được thể, Huệ lại càng lên mặt, cái gì cũng dành về phần mình cả, lúc nào cũng tìm cách bắt nạt, ăn hiếp chị. Quần áo Huệ tranh lấy cái đẹp, mới, còn đồ thải ra mới đến phần chị; hoa, hột, vòng, xuyến trong nhà chỉ có Huệ được dùng, cả đến những đồ tư trang ông Bá mua cho Lan cũng chỉ có Huệ được đeo. Thậm chí hai lồng chim vàng anh của ông Bá mua về cho Lan, vì ông thấy Lan ưa chim hót, Huệ cũng nhất định chiếm lấy làm của riêng, nhưng đến việc cho chim ăn, thì Huệ lại lười biết không làm được, đành phải giao cho chị.

Tuy vậy, Huệ vẫn ghen với Lan. Khi ra đường, Huệ ăn vận sang trọng và lòe lẹt, còn Lan bao giờ cũng chỉ được mặt cái áo cũ. Nhưng người ta vẫn nhìn Lan và tấm tắc khen cô bé xinh đẹp nõn nà. Những chị em hàng xóm cũng chỉ thích chơi đùa với Lan, vì Lan hòa nhã và vui vẻ, còn hễ thấy mặt Huệ đâu là vội lảng tránh. Huệ không biết là vì Huệ ích kỷ và hay chơi ác, lại tưởng là vì Lan gièm mình với chúng bạn, nên lại càng sinh ra ác cảm với Lan.

Mẹ Huệ đáng lẽ phải bắt con theo gương chị, trái lại, chỉ biết bênh con và nuông con. Hễ Huệ đến mách, là bà ta nghe liền và mắng Lan, phải trái thế nào cũng mặc. Ông Bá thì bận buôn bán, mỗi năm mới về vài ba lần thăm vợ con. Những lúc ấy, Lan có thể khóc lóc kể với cha được, nhưng vì thương cha đã có tuổi, nói ra sợ cha phiền, nên Lan đành im tiếng. Vả lại, những ngày ông Bá ở nhà, bà mẹ ghẻ tự nhiên sinh ra âu yếm Lan hơn, và thường là đánh mắng Huệ. Lan còn nhỏ tuổi không hiểu là bà làm bộ như thế để che mắt ông Bá, vì mỗi lần ông Bá đi khỏi thì bà lại trở nên ác nghiệt hơn.

*

Một lần ông Bá vừa đi khỏi, có một ông cụ già người Thổ râu tóc bạc phơ, ăn vận rách rưới, còng lưng chống gậy tre đến trước cửa nhà Lan xin cơm ăn, nói là vì nhỡ độ đường;

Bà mẹ ghẻ Lan ngồi ở cửa hàng mắng đuổi:

- Không có! Đi chỗ khác mà xin.

Huệ đương đứng đánh phấn, cũng cong môi lên bảo:

- Úi chào! Nhỡ với nhàng gì, chỉ khéo bịa! Bước ngay! Người khỏe mạnh thế kia, có què quặt gì mà phải đi xin.

Ông cụ còn đương đứng tần ngần nửa muốn đi nửa còn ráng lại, thì Lan ở trong nhà trông thấy, động lòng thương, vội lấy bát cơm nguội chạy ra định cho. Huệ thấy vậy, hầm hầm nét mặt chạy đến  giằng phứt bát cơm bảo:

- Ai khiến chị cho! Dễ có của bỏ rơi bỏ phí !

Rồi Huệ quay lại ton hót luôn với mẹ :

- Đấy me coi ! Me đã bảo không cho, mà chị ấy cứ đem cơm ra, chị ấy còn coi me vào đâu nữa.

Bà mẹ Huệ, bị con xui, tức khắc nổi giận, mắng sa sả vào mặt Lan :

- Ồ… Sao tôi đã bảo không cho mà chị lại còn cho nó, hở ? Chị lộng quyền vừa vừa chứ !

- Thưa dì, con không nghe thấy.

Bà dì ghẻ lạnh lùng :

- Cô không nghe thấy ; Cô điêu vừa chứ. Cô có coi tôi ra gì đâu ? Có phải của mồ hôi nước mắt của cô đâu mà cô tiếc.

- Dạ thưa dì…

- À… mày lại còn cãi lại hở ? Làm ăn phí phạm, tao bảo mày còn mắng lại phải không ? Cái con này không dạy làm dạy ăn, rồi đến hư thôi.

Thế rồi, bắt đầu hôm ấy, bà ta nhất quyết dạy Lan làm ăn. Nghĩa là bà bắt Lan làm hết cả việc nặng nhọc ở trong nhà : quét tước, giặt gịa, cơm nước, hầu hạ bà ta y như một đứa ở.

Không biết làm thế nào, Lan đành nhịn nhục chiều ý mẹ ghẻ. Sáng, cô phải dậy thực sớm lau nhà, đem quần áo ra sông giặt, rồi về xách rổ đi chợ làm cơm. Chiều đến, cô còn phải đi gánh nước, và khi cả nhà đi ngủ rồi, cô còn cái bổn phận đóng cửa nữa. Buổi đầu còn ăn chung với mẹ ghẻ và Huệ, nhưng dần dà, mẹ ghẻ đuổi xuống ăn ở trong bếp, lấy cớ rằng trong khi hai mẹ con ăn, phải có người trông nom cửa hàng, mà người ấy chỉ có thể là Lan.

Tuy vậy, Lan cũng không lấy làm oán trách. Lan thích làm việc, và một ngày bận tới tấp là một ngày trôi qua rất chóng, cô không có thì giờ để tủi thân và nghĩ đến sự cô độc buồn nản của đời cô. Làm việc nặng nhọc, Lan thấy không khó chịu bằng những lời cạnh khóe của Huệ, những câu đay nghiến mắng mỏ của mẹ ghẻ. Cô rất sợ những lời chua cay ấy và những hôm nào bị mắng – Thường là bị oan – là Lan ngồi lặng một nơi khóc thầm và nghĩ đến cha, mong cha chóng về để bênh vực lấy đứa con gái còn nhỏ dại mà đã bị đầy đọa.

Nhưng được một điều là bà mẹ ghẻ cũng biết tính Lan, có thể chịu khó làm lụng chứ không thể nhịn nhục chửi bới hay là đánh đập, nên bà còn nghĩ rằng đó cũng là một phương pháp làm cho Lan xấu người đi. Bà – và cả Huệ nữa – mong rằng chân tay Lan sẽ to ra và xù xì, thân hình Lan sẽ tiều tụy. Được ít lâu, hai mẹ con đều thất vọng : Lan, không những không xấu đi mà lại còn xinh đẹp thêm lên, thân hình mảnh dẻ của cô ngày trước đã hóa ra đầy đặn hơn, dưới làn da vẫn trắng bong, bắp thịt lẳn vào và rắn chắc ; đôi má cô ửng hồng như màu đào chín, và tay chân cô có cứng cáp mà vẫn nhỏ nhắn xinh xẻo. Huệ thấy vậy lại càng sinh ghen tức, nhất là cô ả tuy giữ gìn hết mực, không mó đến một việc gì cả, cũng không mấy khi ra ngoài nắng gió mà chân tay vẫn cục mịch, thô lỗ như chân tay thợ nề.

Lan thì vẫn ngây thơ, không để ý đến sự ghen ghét nhỏ nhen của Huệ, cặm cụi làm lụng suốt ngày. Chỉ riêng những buổi sáng tinh sương, lúc cô ra ngoài giếng giặt áo hay gánh nước là Lan thấy thư thả trong lòng một ít. Hoặc buổi tối, cô ngồi nhìn bóng trăng chiếu xuống sân gạch, con chó bông nằm cuộn tròn dưới chân, hay những lúc cô nghe vàng anh hót, thay nước cho chúng và cho chúng ăn. Nhưng điều Lan ưa thích hơn hết, là chiều chiều cô nhớ lại những việc thiện nho nhỏ cô đã làm được trong ngày sắp qua : may áo mũ cho con chị Tạc bán nước, mới sanh được vài hôm, nhưng không có gì mặc vì mẹ nó nghèo quá, lấy nước giúp cái Quyên, còn bé lắm mà đã phải đi gánh nước ; đãi những ông già đi ăn xin một bát cơm hay một đồng trinh và an ủi họ một vài lời. Vì thế nên Lan làm việc cực nhọc nhưng vẫn vui tươi, khiến Huệ lấy làm lạ và càng thêm căm tức, định bụng làm hại cho bằng được mới nghe.

Một hôm kia, có thư của ông Bá gửi về nói độ vài ngày nữa ông sẽ thu xếp về chợ Chu thăm nhà. Hai mẹ con Huệ tiếp được thư, lấy làm lo, nói với nhau rằng ông Bá về nhà mà khám phá ra việc hai mẹ con áp chế Lan, bắt Lan sốc vác như một con sen, thì có lẽ ông giận lắm và cảnh nhà không biết sẽ tan hoang đến bực nào.

Hai mẹ con bàn tính mãi, và một giờ sau, hai người đều tươi tỉnh nét mặt, như đã định sẵn mưu mẹo đối phó với Lan.

Chiều hôm ấy, như mọi bữa, Lan đặt nồi cơm và niêu cá kho rồi chạy ra ngoài cho chim ăn. Đến lúc cô trở vào bếp, thì niêu cá kho đã đổ tung xuống đất, và nồi cơm thì đổ úp xuống gio. Lan còn đang ngơ ngác thì Huệ đã chạy vào, giục giả :

- Chị làm cơm mau lên, mẹ kêu đói lắm rồi.

Vùa nói, Huệ vừa nhìn ngang nhìn ngửa và giả vờ ngạc nhiên thấy cơm, cá rơi vãi đầy bếp. Huệ giả vờ, vì chính Huệ đã đánh đổ để hại Lan :

- Ô hay ! Làm sao thế này? Chị làm như thế thì bao giờ được ăn.

Rồi không đợi Lan trả lời, Huệ tất tả chạy đi mách. Một lát sau, bà mẹ chạy vào quát tháo:

- Làm ăn thế à, con kia?

Lan lau nước mắt, trả lời :

- Con vừa lên cho chim ăn, trở xuống thì đã thấy đổ tung tóe ra rồi. Nào con có đánh đổ đâu mà dì mắng…

-  Lại còn cãi, hử ? Mày không đánh đổ thì còn ai nữa, còn nỏ mồm cãi… Bà lại tát cho một cái vỡ mặt ra bây giờ.

Vừa nói, bà ta vừa sấn sổ lại. Thấy vẻ hung hăng của mẹ ghẻ, Lan đứng thẳng, đôi mắt giáo hoảnh, cương quyết trả lời :

- Dì mắng tôi thì tôi chịu, nhưng tôi xin dì đừng động đến người tôi.

- À, mày lại bảo bà không đánh được mày à ? Bà thử đánh xem mày làm gì nào.

Lan đứng lặng người đi nhìn người mẹ ghẻ xông lại. Mãi đến lúc bà ta đến nơi, Lan mới như sực tỉnh, tái mặt đi và giơ tay gạt bà mẹ ghẻ ra một bên chạy như điên vào phòng riêng, đóng chặt cửa lại, rồi gục đầu vào tường khóc nức nở.

Trong khi ấy, tiếng bà mẹ ghẻ vẫn the thé rít lên :

- Mày liệu hồn, thế nào mai bà cũng dần xác mày ra, bà mới nghe.

Rồi bà phân bua với hàng xóm :

- Nuôi cho nhiều vào, để rồi nó đánh giả.

Lan ngồi khóc mãi ; càng nghĩ đến tình cảnh của mình, Lan lại càng thấy tủi nhục. Lan có thể chịu khó làm việc nặng nhọc, nhưng không thể chịu được những tiếng nói nặng và nhất là không khi nào lại để mẹ ghẻ đánh đập : Lan cho thế là mất cả nhân cách đi. Cô nghĩ đến mẹ đẻ, trong lòng nao nao, rồi nghĩ đến cha, thương cha đã già yếu rồi, biết được chuyện nhà thê thảm thế này thì buồn phiền biết bao.

Lan, đêm hôm ấy thức khuya lắm, băn khoăn, trằn trọc, không sao ngủ được. Lan nghĩ đến ngày mai và những ngày sau, đến cuộc đời cực nhục với những lời chửi rủa, những roi đòn…

Lan tự nhủ thầm là không sao ở với dì ghẻ được nữa, và một quyết định dần dần thành hình trong óc : cô bé nhất quyết trốn đi Thái Nguyên tìm cha.

*

Sáng mờ mờ hôm sau, Lan đã chỗi dậy, gói quần áo vào một bọc, rồi rón rén bước ra ngoài phòng. Lúc đó trong nhà ai nấy đều ngủ yên. Lan đến cũi con chó bông vỗ về ; con chó ngoe nguẩy đuôi ngước mắt lên mừng chủ rồi ngoan ngoãn theo lời Lan nằm xuống. Qua sân, Lan đi cạnh lồng chim đã thấy vàng anh vỗ cánh chiêm chiếp gọi. Lan nghĩ thầm :

- Tội nghiệp ! Mình đi rồi thì ai chăm nom chúng nó.

Lan nghĩ đến sự thiếu thốn của chim và bỗng nẩy ra ý tưởng so sánh số phận chúng bị nhốt, bị lồng với số phận của cô ở với dì ghẻ. Không rụt rè, Lan tháo cửa lồng, bắt từng con ra để trên bàn tay, vuốt ve rồi thả bay đi.

Thả xong vàng anh, Lan thấy trong lòng thư thái như chính cô được thoát khỏi sự giam cầm, nhẹ nhàng mở cửa sau đi trốn.

Lan cứ thẳng đường cái mà đi, nhưng cô vẫn thấp thỏm lo có người đuổi theo. Mà thực, một giờ sau, khi biết đã trốn, Huệ bàn với mẹ đuổi theo để cho Lan lạc vào rừng, vì nếu Lan về Thái Nguyên với ông Bá thì hai mẹ con sẽ không sống được yên.

Lan không ngờ rằng lòng người có thể nham hiểm đến thế, chỉ cho rằng dì ghẻ sẽ cho người đuổi theo để bắt về hành hạ. Cho nên lúc trời đã sáng rõ, Lan không dám ở trên đường cái, len vào rừng đi gần đường. Đến khi Lan trông thấy thấp thoáng bóng người đi vội vàng ra vẻ tìm tòi, cô liền núp sau một thân cây lớn, và khi nhìn thấy dì ghẻ trong đám người đi tìm, Lan không nghĩ ngợi gì nữa, lách vào trong rừng cây cắm đầu chạy.

Lan chạy lâu lắm rồi mới dừng lại thở. Chung quanh cô bé, toàn là lau, sậy, tre và biết bao nhiêu là thứ cây cao vút mà Lan không biết tên. Lan đứng yên một lúc, rồi tìm lối ra đường. Nhưng Lan đi mãi mà cũng chỉ thấy rừng ở trước mặt, ở sau lưng, Lan hoảng sợ, biết mình đã lạc đường. Tuy vậy, Lan cứ cố đi liều, may thì có thể ra khỏi rừng sâu.

Đến trưa, Lan thấy mỏi ngồi nghỉ và cô bé cảm thấy trơ trọi quá. Rừng im lặng, ánh nắng xuyên qua lá cây vó vẻ dịu dàng, cảnh vật êm ả, nhưng Lan thấy chứa chất đầy những sự bí mật kinh khủng. Tiếng chim gõ mõ đều đều ở đằng xa, Lan nghe thấy gợi ra những sự ghê gớm : nhỡ gặp gấu hay hổ, báo thì làm thế nào ! Nghĩ đến đấy, Lan sợ quá ôm mặt khóc.

Nhưng khóc cũng vô ích, Lan biết thế và can đảm gạt nước mắt đứng dậy tìm lối ra. Lan đi rồi nghỉ, nghỉ rồi lại đi, cứ thế cho đến chiều. Lan phần thì đói, phần thì mệt, đành ngồi xuống một gốc cây. Chân Lan đi nhiều đau rần và bị gai góc làm xây xát nhiều chỗ, Lan ngồi bóp chân và khóc nức nở, không biết làm gì, không còn đủ can đảm để đi nữa.

Lan ngồi khóc độ nửa giờ thì bỗng thấy một con chuột ngậm cuống một chùm trái cây kéo đến gần, ngước mắt lên nhìn Lan, không có vẻ sợ hãi, mà trái lại, như muốn tỏ lòng thương hại ; Lan thấy lông con vật nham nhở như bị xém và chợt nhớ đến cho chuột cô đã cứu khỏi chết về tay Huệ.

Con vật nhìn Lan rồi chạy đi. Tò mò, Lan đứng dậy nhìn chùm quả và ngạc nhiên khi nhận ra những trái sim chín đỏ. Con vật ngẫu nhiên mà kéo đến trước mặt Lan chùm sim chín hay là vì nhớ ơn xưa mà đem lại đây? Lan phân vân không biết nghĩ ra sao, nhưng cô vui lòng nhặt lên ăn đỡ đói. Tuy nhiên, Lan vẫn thấp thỏm, vì ánh chiều đã bắt đầu nhạt và tối đến thì chắc là Lan khiếp đảm không biết thế nào.

Chợt có tiếng chim hót rồi hai con vàng anh bay đến đậu lên vai Lan, kêu ríu rít ra vẻ mừng rỡ. Lan cũng mừng rỡ vì cô nhận ra hai con vàng anh cô thả ra ban sớm. Hai con chim kêu một hồi rồi cất cánh từ từ bay về phía Đông. Không thấy Lan đứng dậy, chúng lại bay về đậu lên vai Lan, chiếp chiếp kêu rồi lại bay đi, như có ý bảo Lan đi theo chúng. Thấy lạ, Lan đứng dậy ; đôi chim hót mừng mấy tiếng rồi từ tốn bay trước, Lan đi sau.

Đi được một quãng, hai con chim dừng bay đậu lên cành một cây đa cổ thụ rất to, cành lá rườm rà. Lan để ý nhìn thì thấy một tổ chim lớn, lớn lắm, ngay ở một cành thấp nhất, Lan thò tay có thể với tới.

Thấy vậy, Lan cũng mừng có nơi trú ẩn, bèn cố sức leo lên cây, đặt người vào tổ chim, lưng dựa vào thân cây. Trời đã chiều hẳn, nhưng chưa tối, qua lá cây, Lan thấy nhấp nhánh ngôi sao đầu tiên trên nền trời trong xanh, và trong lòng hoang mang sợ hãi những sự sẽ xảy ra trong đêm.

Bỗng hai con chim vàng anh kêu lên những tiếng nhỏ, có vẻ kinh sợ lạ lùng, bay đến mổ vào áo Lan như muốn bảo đi trốn. Lúc đó Lan thấy tiếng động ở trên đầu, ngẩng lên thì trông rõ một con trăn lớn ở trên ngọn cây đương leo xuống. Cô hoảng hồn nhảy vội xuống đất chạy.

Một lát sau, Lan ngừng lại thở và chưa biết chạy về đâu thì có một tiếng gầm trước mặt, rồi một con báo ở trong bụi rậm nhảy ra, hai con mắt sáng quắc. Lan không chạy được nữa, đánh liều cúi xuống đất nhặt sỏi, đá ném con vật túi bụi. Bỗng có một tiếng gầm nữa, lớn hơn, và một con hổ nhảy xổ ra. Con báo trông thấy lủi mất. Lan sợ quá, đứng ngẩn ra nhìn, nhưng cô bé kinh ngạc xiết bao khi thấy con ác thú nhìn cô, rồi hiền lành đi lại, thong thả và ngoan ngoãn như một con mèo lớn. Hai con vàng anh đậu trên vai Lan cất tiếng hót vui vẻ như mừng gặp được người quen.

Lan còn đương ngơ ngác thì ở trong rừng phía trước mặt có tiếng người nói :

- Cô Lan đấy à ? Cô đừng sợ. Có lão đây.

Một ông cụ già, râu tóc bạc phơ như một ông tiên, lê gậy trúc khoan thai rẽ lau sậy bước ra. Lan ngạc nhiên nhận ra ông cụ già: chính là ông cụ già đã đến ăn xin ở nhà Lan vì lỡ độ đường, và chính vì cho ông cụ bát cơm mà Lan bị mẹ ghẻ hành hạ.

Ông cụ xoa đầu Lan nói:

- Tội nghiệp! chắc con mỏi mệt lắm phải không? Chân con xây xát cả kia kìa, về nhà lão sẽ rịt thuốc ngay cho.

Ông cụ bảo Lan ngồi lên lưng hổ cho khỏi đau chân, rồi ông lê gậy đi vào một con đường nhỏ, lá cây phủ gần kín. Đi một lúc lâu, Lan thấy cây thưa dần rồi đến một cánh đồng nhỏ, ở giữa là một cái nhà sàn xây dựa vào sườn đồi, trông đẹp như trong cảnh thần tiên.

Ông già giơ gậy trúc chỉ cái nhà sàn nói:

- Nhà của lão đấy.

Vào đến nhà, nghe Lan kể lại câu chuyện trốn vào rừng, ông lắc đầu tỏ vẻ thương hại, rồi bảo:

- Lão biết, nhưng con đừng lo. Con cứ ở đây tạm với lão, thế nào thầy con cũng đến đón con về và con sẽ được sung sướng.

Đoạn, ông già lấy lá rịt những vết thương cho Lan và lấy cơm cho Lan ăn, chăm nom săn sóc Lan y như đối với con cháu. Lan cảm phục quá, nói vài lời tạ ơn thì ông cụ bảo rằng:

- Con đừng cám ơn. Con cứ nhớ rằng lúc nào cũng nên thương người và giúp đỡ người, vì giúp người ắt người sẽ giúp mình. Và thế là con cám ơn lão đấy.

Ăn xong thì trời đã tối. Lan ngồi trong gian nhà ấm áp, nhìn ra ngoài, trong lòng vui sướng. Hai con vàng anh ở đâu bay vào đậu lên cánh tay Lan, Lan âu yếm nhìn và lấy tay vuốt lông chim, se sẽ nói:

- Hai em ngoan quá.

Hai con chim ngẩng đầu nhìn Lan một cách trìu mến, rồi cùng bay lên ngưỡng cửa, hót lên những tiếng trong vắt.

*

Trong khi ấy, bà dì ghẻ Lan và Huệ ở nhà khúc khích cười với nhau, vì đã lừa được Lan trốn đi và lừa được Lan lạc vào rừng.

Tối hôm ấy, hai mẹ con đều không sao ngủ được, chong đèn ngồi. Ở ngoài, tiếng gió thổi nghe như tiếng ai than thở và chốc chốc tiếng cú lại nổi lên, gợi trong trí hai mẹ con những cảnh rùng rợn trong rừng tối. Hai mẹ con đều im lặng, không nói với nhau nửa lời và cũng không dám nhìn nhau, tuy cùng theo đuổi một ý nghĩa. Lan bây giờ ở đâu? Huệ hai mắt mờ trừng trừng như nhìn thấy hết cả nỗi kinh khủng của Lan ngồi đợi chết trong đêm tối. Cô bé không ngờ kết quả mưu kế của mình lại ghê gớm đến thế! Cô chỉ muốn chị đi cho khuất mắt, cô có ngờ đâu đêm hôm nay cô nghĩ đến chị, thương đến chị và thấy mình khổ cực, khốn nạn vô cùng.

Bỗng có tiếng hổ gầm ở xa xa? Huệ kêu lên một tiếng, ôm chầm lấy mẹ; Huệ vừa tưởng tượng thấy Lan bị hổ nhảy đến vồ. Bà mẹ ôm con ghì vào lòng, trên mặt cũng lộ ra sự hốt hoảng sợ hãi, và lúc Huệ khóc nức nở trông lên, cô thấy hai giòng nước mắt lặng lẽ chảy trên hai gò má của mẹ. Huệ ngập ngừng nói:

- Chị Lan… làm thế nào bây giờ, hở mẹ?

Bà mẹ thở dài không đáp, vì chính bà ta cũng hoang mang không biết làm gì để cứu Lan được. Đêm đã khuya, hai mẹ con vẫn còn ôm nhau, vừa lo sợ, vừa hối hận, khổ sở không biết đến thế nào.

Gió vẫn thổi rì rào, Huệ lắng tai nghe và bỗng kêu rú lên, chỉ ra cửa sổ nói sẽ:

- Mẹ trông kìa, chị Lan.

Bà mẹ nhớn nhác nhìn lên và trông thấy bóng một cành cây trong cửa sổ. Thì ra Huệ sợ hãi quá, tưởng Lan đã chết rồi, hiện hồn về báo thù.

Giữa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Huệ kêu:

- Đấy… chị ấy về đấy.

Bà mẹ đứng lên, mặt tái không còn một hột máu. Mãi đến lúc nghe rõ ràng tiếng ông Bá gọi, hai mẹ con mới hoàn hồn, và lại vui mừng nữa. Ông Bá vừa vào, và hay tin Lan lạc vào rừng, ông tức tốc sang hàng xóm tìm người cùng đi vào rừng. Hàng xóm đều yêu mến Lan nên nửa giờ sau, kẻ đèn đuốc, người dáo mác, độ mươi người đã cùng bọn nhà ông Bá xông pha vào rừng tối. Nhưng rừng rậm mà sâu, biết Lan ở phương hướng nào! May ông Bá tinh ý, thả con chó bông đi theo. Con chó đánh hơi lon ton chạy trước, ông và người nhà, Huệ và dì ghẻ theo sau, không mấy lúc đã tìm thấy căn nhà sàn ở giữa rừng.

Lan đương ngồi nói chuyện với ông cụ già chợt nghe tiếng chó sủa, rồi cô chưa kịp đứng dậy xem thì con chó bông đã leo lên sàn vẫy đuôi mừng. Tiếp liền theo, Lan trông thấy ông Bá bước vào. Hai cha con ôm chầm lấy nhau, và nước mắt Lan chảy xuống ướt đẫm cả má. Nhưng lần này không phải Lan khóc vì tủi nhục hay kinh sợ như trước; Lan khóc vì Lan mừng quá.

Lúc đó, hai mẹ con Huệ cũng đã vào gian nhà sàn, đứng cúi đầu gầm mặt xuống như kẻ sắp chịu tội. Nếu Lan đem việc mẹ ghẻ xử ác với mình ra nói với cha lúc ấy thì cũng chỉ là một việc hợp với công lý, nhưng Lan đã có định ý nên lúc ông Bá âu yếm hỏi, Lan chỉ đáp:

- Vì con vào rừng chơi, lạc mất đường.

Nghe con nói, ông Bá ghì chặt con vào trong lòng.

Bà mẹ ghẻ Lan cũng chạy lại ôm lấy Lan, thổn thức nói sẽ với Lan:

- Con tha lỗi cho dì. Bây giờ dì mới rõ con…

Và Lan ngạc nhiên khi thấy trên hai gò má của người đàn bà mà cô bé vẫn yên trí là ác nghiệt, hai giòng nước mắt từ từ chảy xuống.

Ông Bá cảm ơn ông cụ già rồi từ tạ ra về. Ai nấy đều vui vẻ, ánh đuốc chiếu tỏa trong rừng sâu, Lan nhìn có vẻ ấm áp như cuộc đời sắp tới. Bỗng Lan thấy có người kéo tay. Cô quay lại nhìn thì là Huệ, Huệ cúi đầu vào vai chị, nức nở:

- Em khổ sở quá, chị ạ. Biết làm thế nào để tạ tội với chị được. Chị tốt bụng thế, còn em thì khốn nạn quá, em lấy làm xấu hổ lắm.

Lan lấy tay khoác vai em, nói sẽ:

- Em biết hối thế là em tốt bụng như chị rồi.

Lan thấy trong lòng vui sướng vì điều Lan mong nhất, Lan đã được như ý: em Lan đã cảm hóa vì lòng tốt của Lan và bắt đầu trở nên một người con gái đáng yêu.

 

HẾT

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2023

MƯA THÁNG BA - Nhã Uyên

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tháng Ba  rồi !  Nào ai có biết

 Khi lưng chừng  bỗng thấy mưa bay

Nắng chưa về  nắng trốn trên mây

Chợt  xốn xang  bụi bay vào  mắt


Khi ngày dài trời mưa lất phất

Khi mùa xuân nỗi nhớ nghẹn lời

Khi miền nào tuyết vẫn còn rơi 

Đời có đẹp như người thường chúc


" Một năm mới tràn đầy hạnh phúc

Đẹp như hoa  như gấm lụa là

Ta yêu người người vẫn yêu ta

Thật thiết tha khi trời trở gió! "


Hoa thuỷ tiên chưa tàn còn đó

Vẫn  mượt mà tươi  thắm trắng tinh
 
 Khi anh đào vừa hé nụ xinh

Trên cành khô  tưởng chừng trống vắng


Tháng Ba rổi !  Mà trời không nắng

Chim không  về  vui  hót trong ngày

Tim rộn ràng  hy vọng   đầy tay

Rồi có ngày sẽ thành sự thật


Xứ thần tiên đượm sữa và mật

Bao nhiêu người  mong ước được qua

Nơi  đất khách quê người  xuýt xoa

Khi thấy tuyết lần đầu trắng xoá


Trong lạnh lẽo sao mà nhớ quá

Trời bên kia chim hót  nắng reo

Một mùa xuân tươi thắm kèm theo

Ai cũng biết được nầy mất nọ


Vẫn đợi nắng về bên đầu ngõ

Đuổi mây đen theo gió bay xa

Tàn một ngày trong buổi chiều tà

Nhớ lại câu người xưa thường nói:

" Cái vòng danh lợi cong cong

Kẻ hòng ra khỏi người mong bước vào"



                              Nhã Uyên


Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

LIÊU TRAI HUẾ - Nhã Ca

 

Thiên, con nhà nghèo ở xứ Quảng được cái là con một nên cha mẹ có tâm nguyện cho cậu quý tử học hành thành tài. Thiên học xong bậc tiểu học ở trường làng, muốn thi lên Trung học phải ra Huế. Ông bà già bán mẫu ruộng, bán con trâu, tài sản đời trước truyền lại để cho cậu quý tử tới trường thi.

Thiên tuy sinh chốn quê mùa, nhưng thông minh, hiếu học. Bốn năm dùi mài đèn sách, cậu Thiên đỗ Trung Học, chuẩn bị lên Tú Tài được thành học trò ngôi trường mang tên vua chúa: Trường Khải Định. Năm đó cậu Thiên đúng 20 tuổi. Gạo trắng nước trong, không phải làm lụng khổ cực như bao thanh thiếu niên khác ở quê nhà. Thiên trắng trẻo, cao ráo. Con trai mà có cái miệng chúm chím, môi đỏ hồng như môi con gái thoa son. Chỗ Thiên ở xa trường học. Mãi tận Kim Long. Tuy xa nhưng được cái yên tĩnh để học hành. Chỗ trọ chỉ có một căn nhà nhỏ cất sau vườn, kế là một dọc các hàng cau, cũng lẫn thêm vài thứ cây ăn trái như cây ổi, cây mãng cầu, phía góc vườn có một cây vú sữa lâu năm, đến mùa trái chi chít, cây lão, trái nhỏ nhưng ăn ngọt như đường. Chỉ có điều, cành cây cao quá nên rất khó hái.

Thiện rất tằn tiện, không đua đòi, tự mua lấy gạo nấu lấy ăn. Thức ăn thì trong vườn rau sam, rau dền mọc chi chít. Trên hàng rào thì lá cây bát ngát đeo tòn ten, đọt xanh non mập vươn tứ tán. Còn có cả bụi chuối sau vườn, buổi nào rỗi rảnh, xuống mé sông cầm cái vợt. Tép lội từng đàn trong rong xanh hoặc cỏ lúp xúp bên bờ sông. Vớt mấy vợt là có bữa ăn ngon lành. Tép nấu với củ chuối non, ăn thay cơm cũng được, nhờ vậy mà sắm được chiếc xe đạp cũ để sáng sáng chiều chiều, căm cúi đạp đi đạp về.

Chủ nhà là một đôi vợ chồng già, sống bằng lợi tức từ cây trái trong vườn. Ông cụ tuy tuổi đã cao mà còn rất khỏe, ông có một chiếc ghe nhỏ, sáng sớm ra sông bủa một mẻ cá cho bà cụ kèm cùng rau quả đem ra chợ bán. Con cái lớn lập gia đình ở riêng hết rồi, lâu lâu bồng bế con cái về thăm, lại mang về nải chuối, buồng cau, mớ rau tập tàng của bà mẹ già lo sẵn. Về thăm rồi đi nên nhà có một bữa ồn ào sau đó càng thêm vắng lặng.

Người đời trước có câu:

"Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành"

Thì đúng quá đi chớ. Cách nhà Thiên trọ học khoảng năm căn, có một gia đình có tới năm cô gái. Hèn chi nhà giàu quá chừng luôn. Nhà có ngũ long công chúa mà. Chỉ có điều năm chị em mà năm tính nết khác nhau. Cô chị nhu mì, hiền hậu, còn mấy cô em thì nghịch ngợm phá tán. Có bữa cậu Thiên đạp xe đạp ngang qua, liếc vô mé vườn, thấy mấy cô trèo cây đu đưa, còn la hét như khỉ cái.

Lạ, nhà thì đông vui như vậy mà sát bên có cái vườn bỏ hoang. Căn nhà xưa lắm đã sập xuống cũng đâu từ lâu rồi, hầu như chỉ còn đống vôi vữa trên cái nền nham nhở cỏ mọc. Xung quanh thôi thì cỏ lùng mọc luông tuồng, cây cối phía sau vườn không có ai sửa sang, rậm rạp hoang dã. Mỗi lần ngang qua, liếc vô nhà mấy cô con gái, cậu Thiên cũng không thể không ngó căn nhà hoang dã này. Về nhà có hỏi thăm ông bà cụ, thì ông bà cụ cho biết: Cái nhà nớ... Ui cha, xưa giàu dễ sợ. Quan gia cha truyền con nối chớ không phải dân dã chi mô. Rồi, khi tàn thì cũng tàn rụi rứa đó. Như ri thì mới biết không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời!".

"Vậy tại sao người ta không mua đất xây cái nhà khác. Miếng đất rộng mà vuông vức."

"Cậu muốn mua không?"

Thiên cười:

"Cháu không dám mơ ước đâu, hai bác. Nhà cháu nghèo lắm. Ba mạ cháu từ ngày bán miếng đất, con trâu để lo cho cháu ăn học, đã phải đi làm thuê làm mướn để sống."

"Tội..."

Bà cụ thở ra. Ông cụ nói tiếp:

"Miếng vườn đó không ai dám mua."

"Răng rứa bác?"

"Nghe nói..."

Chỉ là chuyện nghe nói. Phía sau khu vườn có một khu mộ xưa lắm. Mỗi cụ nhớ một cách, chuyện kể không chuyện nào giống chuyện nào. Ngôi mộ đằng sau vườn là vợ bé của ông quan, bị chết trong lúc sanh đẻ. Lại có người nói ngôi mộ xưa rồi, trước đây nhà quan này có một nàng hầu, vì tội tư tình buộc phải thắt cổ chết. Người khác kể, đó là ngôi mộ một cô gái nghèo, cha mẹ bán cô vô nhà quan. Sau bị nghi ăn cắp đồ vật, cô thắt cổ để minh oan cho sự trong sạch của mình. Còn ông già thì cương quyết:

"Toàn là chuyện ba láp, tào lao cả. Ngôi mộ đó, lâu rồi con gái của vị quan đương trào, bị chết không biết lý do nào. Nên ngôi mộ trước xây bằng vôi, có bia, tấm bia lâu ngày xiêu đổ, rồi mất. Đời sau nhà nghèo quá nên chỉ lấp thêm đất thôi. Mưa nắng xối xả thấy lồi đá vôi phía đưới đó tề."

Còn bà già thì cứ một chuyện kể mãi:

"Lâu vậy mà người nằm dưới mồ chưa đầu thai. Vườn đó ma dữ lắm. Nghe nói cô bán hột vịt lộn bán tối đi ngang qua, gặp một cô gái kêu một lúc tới chục hột vịt lộn, nói đi theo cô lấy tiền. Đến ngõ khu vườn nớ cô gái biến mất. Mấy ngày sau, mấy đứa con nít lòn rào vô vườn hái trái cây, còn thấy đủ chục hột vịt lộn nằm trên ngôi mộ. Chuyện rứa mà cũng chưa ớn xương sống lắm mô. Có chú xích lô còn trẻ, đẹp trai, đạp xe qua cầu Bạch Hổ buổi tối, thấy có một cô gái tóc dài vẫy, biểu đưa về Kim Long. Chú ấy đạp xe theo lời chỉ dẫn của cô gái. Tới ngõ khu vườn, cô bảo dừng xe. Chú xích lô chờ lấy tiền thì cô day mặt lại. Một khuôn mặt màu xanh, hai con mắt đỏ và cô cười, có hai cái răng nanh. Chú xích lô hét lên một tiếng, muốn xỉu luôn, rồi đạp xe thí mạng tới mấy nhà lân cận, xin tá túc một lát cho lại hồn. Hỏi chuyện, mới biết là đã gặp con ma trong xóm thường đồn đãi."

"Hai bác có chộ lần mô không?"

"Chộ" tiếng Huế, có nghĩa là "nhìn thấy". Cả ông bà già đều lắc đầu. Ông già: "Tui nghe kể thì nhiều lắm, nhưng chộ thì chưa chộ lần mô hết. Mấy người trong xóm nói, chọc phá chơi vậy thôi chứ con ma này hiền, họ hay cầu xin lắm. Nhứt là cái nhà có năm cô gái, tháng cúng hai lần, rằm trăng tròn và mùng một trăng trốn. Nghe nói lúc đầu con ma cũng phá dữ lắm, nhưng sau cúng kiến, chắc hạp nên yên."

Anh chàng học trò cười thầm trong bụng. Thì ra, ma hay hơn người, chớ con gái với nhau, có khi nào ưa nhau chớ. Cũng có thể là con ma này đẹp lắm, ăn bứt năm cô gái kia, nên mới không ganh tị.

Mùa hè năm đó, Thiên lân la làm quen được với cô chị đầu của gia đình kia. Cũng tình cờ thôi, bữa đó, khi chiều trời nổi giông gió, rồi mưa, hơi đất xông lên dầy khịt, bốc một cái mùi làm nhức đầu lắm. Cô Trâm, đi học về gần tới nhà thì một ống quần bị quấn vô dây sên. Nếu cô không nhanh nhẹn phanh xe lại kịp nhảy xuống thì cả người lẫn xe đã té lăn quay rồi. Cô vừa lò cò vừa đẩy xe vô lề thì đúng lúc Thiên trờ tới. Dựng xe vào sát lề, Thiên mau mắn:

"Tôi có thể giúp cô được không?"

Thiệt tình trong bụng cô Trâm đã để ý tới anh học trò trong Quảng ra thi này lâu rồi. Anh ta coi có vẻ đứng đắn, hiếu học. Đã đến đây lâu rồi mà nghiêm chỉnh, không mắt liếc mày đưa, lanh chanh, lấc cấc như mấy anh chàng gà trống trong tuốt xóm. Người chi mà có đôi môi đỏ hồng, cười chúm chím làm con gái mê hồn. Người chi mà cứ cặm cụi chúi đầu vô quyển sách, người chi mà, coi nụ cười tề... Quần áo đơn giản thôi, đầu tóc bồng bềnh nghệ sĩ chứ không như mấy anh chàng kia, lúc nào cũng bôi bờ-ri-dăng-tin láng bóng. Mấy đứa em gái của Trâm thường rúc rích cười, trêu chọc ngày nào cũng có mấy con ruồi chết, vì té từ trên lớp dầu kia xuống bể đầu, toé máu. Trâm làm dáng, gật đầu mà hất mái tóc cho che bớt mái tóc nhìn trộm của mình.

"Dạ..."

Con gái Huế vậy đó. Không bằng lòng cũng dạ. Tiếng "dạ" hiểu nghĩa nào thì ra nghĩa đó.

Thiên tháo dây sên để gỡ lai quần người đẹp ra, bất đắt dĩ đã có lúc cầm bàn chân giữ cho người đẹp thăng bằng lúc gỡ gấu quần bị vướng dây sên. Thiên sững sờ, đang giữa trời mưa ướt át mà trong lòng ấm nóng hẳn lên,, khi nhìn thấy một vệt dầu đen dính trên mu bàn chân trắng nõn với gót sen hồng thắm.

"Xin lỗi..."

Trâm đã gượng thẳng người, xỏ chân vào chiếc guốc hồi nãy đã văng xuống đất. Đôi má của Trâm còn đỏ hơn gót son hồng dầm dưới mưa ở chân nữa.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Chỉ dăm tháng sau, cô cậu đã phải lòng nhau. Thôi thì hẹn hò đủ cách, hôm Lăng Tự Đức, bữa đổi Vọng Cảnh, quán bánh bèo chân núi Ngự Bình. Trâm bắt đầu dối cha dối mẹ. Kín đáo lắm, nhưng cũng không thoát khỏi cặp mắt của bốn cô em gái. Rồi tới cha mẹ Trâm cũng đem lòng nghi ngờ. Ráo riết quá, cả hai phải dùng kế hoãn binh, nghĩa là bấm bụng không gặp gỡ nhau một thời gian cho qua tình huống đã.

Phía gia đình Trâm, đã cho người đi dò xét cậu học trò trong Quảng ra thi này. Người cha lắc đầu:

"Con hư tại mẹ. Bà có biết không, thằng đó nhà nghèo rớt mồng tơi. Bà chìu nó quá nên chừ dạy hết nổi. Kêu nó ra đây."

Cô Trâm khúm rúm đứng trước mặt cha mẹ.

"Dạ thưa, con lỡ..."

"Lỡ răng. Lỡ răng noái nghe coi."

"Dạ con lỡ thương người ta..."

"Mất dạy. Dám cả gan trả lời ba mạ mi rứa há. Áo mặc không qua khỏi đầu được. Mi mới thương người ta thôi, có chi mà lỡ... Lỡ chi rồi, nói ra hết đi... Con gái như mi, gọt đầu bôi vôi, đem câu cá sấu biết chưa."

Cô Trâm khóc oan khóc uổng:

"Dạ thưa ba mạ, con chỉ lỡ thương, chớ đạo giáo lễ nghĩa con không dám vượt..."

"Mi thề đi. Đứng trước bàn thờ ông bà thắp hương mà thề. Mạ nó thắp nhang cho nó."

Trâm còn biết sao hơn. Mà quả thiệt, thể xác, tâm hồn Trâm vẫn còn trong sáng. Có dối cha dối mẹ hẹn hò, lén lút. Nhưng thật chưa tới mức cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay. Mối tình đầu chỉ là mộng mơ, Trâm vẫn gìn giữ và Thiên cũng chưa một lần sàm sỡ dám xúc phạm tới người yêu. Trâm cầm nén nhang mẹ đưa, lòng xót xa như muối xát, lạy trước bàn thờ tổ tiên.

"Nói bỏ là bỏ. Lậm vô rồi chình ình cái bụng ra chừ. Thề đi. Chưa có lỡ, thề bỏ. Thề trước ông bà, thề trước ba mạ mi đây nì. Hay chưa bưa, muốn đi trai gái nữa."

Trâm khóc. Lập lại lời cha. Trâm biết cảm giác bị đâm một nhát dao vô tim đau đớn ra sao, mà không chết được.

"Mi biết nhà nó nghèo xơ nghèo xác không hè. Ba mạ nó đi làm thuê làm mướn chớ con nhà gia giáo chi mô."

"Dạ con biết. Nhưng ảnh học giỏi lắm."

"Học giỏi làm chi. Thân cô thế cô, có cái bằng cạp mà ăn há. Thôi đừng noái nữa. Từ bữa ni trở đi, không được gặp. Nói thôi là thôi."

Cô Trâm thút thít khóc. Người cha dịu giọng xuống một chút:

"Vô trong đi, còn đứng đó coi chừng tao nổi ma lên. Tao nói rồi, tao bắt gặp một lần nữa tao đánh chết không thương. Tao trói gô đầu lại, không học hành chi hết, tao gả cho bất cứ thằng mô, cụ trâu cũng gả."

Trâm biết tính ông già. Đã nói một lời là như cái đinh đóng vô cái cột. Hết tháo ra, tháo ra là sụp đổ hết. Trâm cũng không cầu cứu mẹ. Mẹ như cái bóng lẽo đẽo sau lưng cha, như lời nói lập lại lời cha.

Tội nghiệp Trâm, nhà có năm chị em, chỉ có hai phòng dồn chung. Trâm không có phòng riêng để khóc. Cô phải ra vườn, úp mặt vào cây nhãn, cây bưởi, khóc một trận như mưa lụt mà vẫn không vơi sầu khổ.

Đáng lẽ mùa Hè, Thiên phải trở về quê. Nhưng hè này, vì lậm với mối tình, nên nhứt quyết ở lại. Cha mẹ không có khoản tiền chu cấp ba tháng hè. Vậy là Thiên rơi vào cơn túng quẫn, túng thiếu. Nhờ hai ông bà già cảm thương thư sinh nghèo, hiếu học, giới thiệu Thiên cho một chủ cồn bắp, sáng sớm phải ra cồn bẻ bắp, chiều tối mịt mới về. Nhờ vậy, bữa đói, bữa no, Thiên sống qua ngày được.

Khó khăn lắm Trâm mới báo tin được cho Thiên biết, cuộc tình đã bị bại lộ, cha mẹ không bằng lòng. Lúc này Trâm bị canh giữ gắt lắm nên hủy hết các buổi hẹn hò. Không ngày nào Thiên không tìm cách đi qua nhà Trâm, không thấy bóng dáng Trâm đâu hết, mà chỉ thấy bốn cô em leo trèo nghịch ngợm như khỉ leo cây. Có cô nhìn ra thấy Thiên, còn đưa hai bàn tay lên mũi, làm dấu chòng ghẹo. Thiên muốn gặp một cô nhờ vả cũng khó, vì họ như tránh hắn, không muốn xớ rớ tới gần.

Một buổi chiều đi bẻ bắp về, bà già đưa ra một miếng giấy xếp nhỏ:

"Có cô chi đó noái đưa cho cậu để đòi mấy quyển sách chi đó..."

"Cô Trâm phải không bác?"

"Ừa, như rứa. Nhà có tới năm cô, đủ thứ tên, tui hổng nhớ."

"À, tui có mượn mấy quyển sách, quên mất. Bậy..."

Thiên không muốn bà già nghi ngờ, nói trống lấp. Rồi đi ra nhà sau, mở tờ giấy ra đọc.

Đúng là thư của Trâm. Hẹn mười giờ đêm, chờ ở dưới bến sông trước nhà cô, cô có chuyện muốn nói. Thiên mừng rơn. Chiều đó quên luôn cả ăn cơm, không thấy đói bụng. Cứ hết ngồi lại đứng, chờ cho tới giờ hẹn để ra đi. Thiên cẩn thận ra khỏi vườn bằng cái lỗ rào thưa để không ai hay biết.

Đêm cuối tháng, trời tối đen như đêm ba mươi. Nhưng đã quen đường lối, Thiên đi tới bờ sông trước nhà Trâm sớm hơn giờ hẹn. Thiên cẩn thận xuống tận bờ, nhà nào thì cũng có một bến sông, có kê bốn hòn đá lớn để có thể trải quần áo lên mà sát xà bông, xung quanh có nhiều bờ bụi kín đáo. Là nơi lý tưởng của các cặp tình nhân hò hẹn.

Chờ chừng mười lăm phút thì Trâm đến. Nhận ra nhau theo hình dáng quen thuộc trong bóng tối thôi. Cái bóng của Trâm thon thả làm sao, mớ tóc đen màu mun trôi lẫn trong đêm, vẫn thấy được nét tha thiết.

"Em."

"Hức...hức..."

Thiên nghe tiếng Trâm nức nở. Hắn cầm lấy tay nàng. Bàn tay lạnh ngắt. Tại sao vậy, từ nhà ra đây đâu có bao xa. Chưa hết ngạc nhiên thì Trâm đã rút tay lại:

"Đừng đụng em. Đừng đụng em..."

Tưởng Trâm hờn dỗi chi đây, Thiên càng sấn tới. Thình lình Trâm đưa tay đẩy mạnh, chút xíu thì Thiên đã trượt chân, rơi tòm xuống sông. Cố gượng đứng dậy, nhảy sâu vô một bụi cỏ, Thiên hỏi:

"Em giận anh? Anh mần chi mà em giận anh rứa. Nói cho anh biết để anh sửa..."

Trâm vẫn lặng thinh. Hai người đứng yên trong bóng tối. Linh tính báo cho Thiên biết là cuộc tình của hai người có trục trặc chi rồi, chớ răng khi không Trâm đổi tính nết như vậy. Hồi lâu, Trâm bật khóc ra tiếng.

"Từ nay anh đừng gặp em nữa. Em..."

"Răng không gặp nhau. Chúng mình thương nhau không có tội... Trâm nì, có chuyện chi thì em nói cho anh nghe..."

"Không. Không có chi hết. Nhưng em, bữa nay nói rõ cho anh biết. Em không hề yêu anh, chưa hề yêu anh. Em yêu anh là giả đò đó."

Thiên cười khan, cay đắng:

"Em nói chi lạ rứa. Yêu mà cũng có yêu giả đò..."

"Chớ răng. Người ta yêu giả đò chán chi. Từ bữa nay trở đi đừng gặp tui."

"Em đoạn tuyệt anh? Răng tự nhiên em thay lòng đổi dạ..."

"Ừ, tui rứa đó. Tui giả đò, chừ không muốn giả đò nữa. Nói cho anh biết tui còn tốt bụng, không để anh lầm tui..."

Trâm nói mau, như sợ để lâu rồi không nói được:

"Chừ anh biết rồi hí. Tui là đứa con gái xấu rứa đó. Giả đò yêu anh cho vui... Nhưng bữa ni, tui muốn dứt khoát luôn cho nên mới hẹn anh ra đây noái cho anh biết. Tui... tui sắp đi lấy chồng."

....

"Đi rồi. Đi rồi. Hay. Hay."

"Ê, một hai ba. Dô ta. Dô..."

Từ mấy bụi rậm tối thui phun ra mấy vòi nước xối vô mặt Thiên, vô quần áo, vô tóc tai làm Thiên một lần nữa tối tăm mặt mũi.

"Dê dê... xấu chưa tề. Nghèo rớt mồng tơi mà cũng trèo cao..."

"Té cái chổng đít, bể đầu, phọt máu"

"Dê dê, xấu hổ..."

Tiếng cười khúc khích của bọn giặc con gái như vây chung quanh Thiên. Thiên nhận ra từ áo quần bốc lên một mùi hôi thối nồng nặc, mùi nước mắm, nước cống rãnh xú uế từ mấy cái vòi vừa xịt đầy mặt mũi, tóc tai quần áo chàng.

Thiên hiểu ra rồi. Mấy giọng cười khúc khích kia là của đứa em gái của Trâm. Không hiểu sao buổi hẹn hò chia tay tàn nhẫn này lại để cho bầy quỷ cái kia biết được mà phá.

Thiên ôm đầu chạy một mạch chui qua lổ rào, vô vườn. Cũng may, tuy ở căn nhà sau nhưng cái lu sát gốc cau lúc nào cũng lưng nước với cái gáo dừa để sẵn. Tắm gội khổ sở xong, Thiên ngồi suốt đêm với ngọn đèn dầu.

Chiều hôm sau, đi qua nhà nàng, ngó vô, thấy mấy cô em gái leo trèo mấy cây ở sát đường cái. Thấy Thiên, họ cười rộ lên, ngưng đu đưa như khỉ và hát:

"Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế dê chi cho khổ đời...!"

Thiên cúi đầu, đạp xe một mạch về nhà. Thêm một ngày bỏ cơm nữa.

Còn Trâm, tối hôm đó nói những lời như sát muối vào vết thương với người yêu, nàng trở về phòng nằm như chết rồi. Một lúc lâu, thấy bốn đứa em gái túm tụm trong phòng cạnh, xì xào to nhỏ và cười rúc rích. Lúc cô em kế trở về phòng, thấy chị nằm êm rơ cũng nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh.

"Chị Trâm nì..."

"Chi rứa?"

"Hồi nãy tụi em nghe nói hết rồi. Hay lắm, chị cự tuyệt thằng nớ thiệt tài. Tụi em phục sát đất."

Trâm làm thinh. Cô em vặn tắt ngọn đèn dầu. Căn phòng chìm trong một vũng tối. Cô em tiếp:

"Thằng nớ chắc tởn tới già. Hi hi..."

"Hi, hi, tụi em xịt nước cống vào người hắn, xịt nhiều lắm. Hắn ôm đầu bỏ chạy rồi. Từ nay chị không cần sợ chi hết nghe. Chọc tụi em là chọc đúng ổ ong vò vẻ... Hi hi..."

Trâm quay mặt, nước mắt chảy âm thầm. Nàng đã dứt khoát với chàng, đã nói lời tàn nhẫn trái lòng. Nói rồi lòng nàng cũng đã chết.

Tin cô Trâm sang Xuân sẽ về nhà chồng làm vết thương trong lòng của Thiên như không ngừng chảy máu. Suốt mùa Đông tàn tạ, rét mướt, Thiên ném bỏ sách vở, loay hoay với một khúc gỗ quý. Thêm một đêm giao thừa thức trắng, một đầu khúc gỗ biến thành cái trâm cài tóc. Một đầu gỗ khác, khắc lộng hai trái tim lồng vào nhau và một cái lược thưa, dang dở. Đó là món quà cưới Thiên muốn tự tay hoàn tất để tặng nàng.

Liên tiếp mấy ngày đầu năm, Thiên rình mò chờ cơ hội nhưng không còn dịp may nào được gặp gỡ Trâm. Có nhiều hôm đón đường, chờ chực, Trâm đều bị đi kèm với mấy cô em gái dữ như chằng, cả hai không dám nhìn nhau nữa. Thấy mấy cô em gái của Trâm, Thiên nhớ lại hôm bị xịt nước mắm đầy mình, sượng trân, chỉ còn biết cúi gầm mặt xuống mà đạp xe đi. Lá thư tình bao đêm nắn nót và xếp gọn nằm trong túi.

Mùa Xuân đối với Trâm năm ấy cũng quá kinh khủng. Nhìn cây mai vàng trước sân nở vàng rực bên bể cạn với xác pháo giao thừa còn rơi vãi đầy trên mặt đất, Trâm cảm thấy trái tim mình cũng vỡ vụn, chảy máu như pháo hồng. Chẳng còn bao lâu nữa, Trâm phải về nhà chồng. Lễ giáo mà. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Cha mẹ, vì muốn tống khứ nàng đi, đã gả vội gả vàng cho một người đàn ông mới góa vợ có đứa con nhỏ một tuổi. Cha nàng nói:

"Rứa như răng mi mới ưng. Người ta nhà gia thế, có tới ba bốn căn nhà ở Nguyệt Biều, mi tưởng..."

Nguyệt Biều Trâm hình dung ra được, ngôi nhà cổ rộng mênh mông, âm u, nàng sẽ sống suốt đời với một người đàn ông mình không thể thương yêu, với bàn thờ, linh vị của một người vợ trước lúc nào cũng nghi ngút hương.

Cả ngày đầu năm, người cha nhìn đứa con gái lớn nghiêm khắc:

"Nì, đầu năm mi đừng có thụng cái mặt xuống như rứa chớ. Xui cả năm nghe chừ."

Cái mặt Trâm ra làm sao. Trâm không soi gương, không biết. Nhưng vui mừng hớn hở thì Trâm làm không được rồi. Thôi thì cứ tránh mặt cha cho xong. Cũng may, ngày mùng một, mấy đứa em về chơi bên bà ngoại làng Hương Thúy, hơi xa xôi nên phải ở lại đêm. Cha mẹ rủ hàng xóm qua chơi, để xâm hương. Trâm lo nước nôi mứt bánh xong, kêu mệt xin phép cha đi ngủ sớm.

Nằm thao thức hoài. Cô nhớ lại buổi sáng lúc đưa mấy đứa em đi khuất rồi, Trâm còn ngơ ngẩn đứng ở ngoài ngõ một lát. Cô ngó xuống bến sông và nhớ lại bao nhiêu chuyện. Cô nhác thấy bóng Thiên dưới bến sông. Anh ta ngồi trên hòn đá dùng để giặt quần áo, quay lưng lại. Anh ta ngồi bao lâu như vậy rồi? Đã thành tượng đá chưa?

Tính đốt ngón tay, không còn bao lăm ngày nữa, sân nhà cũng đầy xác pháo như vậy, và Trâm từ giã nơi đây để về nhà chồng. Không được đâu, mình đã có thề với trời đất, lấy chàng mà. Chỉ lấy anh. Lấy anh thôi. Răng chừ lại lấy người ta? Trâm khóc vùi. Tự nhiên muốn làm một chuyện gì thật liều lĩnh, như tìm cái chết chẳng hạn.

Trâm khoác cái áo choàng trắng, có giải thắt lưng rất dài. Không biết sao lại chọn cái áo đó. Nàng trèo cửa sổ ra sau vườn. Đêm lặng lẽ quá, đêm mênh mông giúp nàng trải nỗi buồn rộng lớn thêm. Đây rồi, cành cây này đã lớn, vững chắc quá. Không được, tội mẹ, tội mấy đứa em. Làm sao mẹ còn có thể ở trong căn nhà này, đi ra ngoài khu vườn này. Sẽ là một ám ảnh suốt đời đối với mẹ

"Qua khu vườn hoang kia tề."

Như có ai nói thầm bên tai Trâm. Trâm thẫn thờ bước tới bên hàng rào. Ở phía rào này có nhiều lỗ hổng để chui qua bên kia. Trâm chui qua được một cách thong thả. Tuy vườn mọc đầy cỏ lùng, cây cối rậm rạp nhưng vẫn có những lối mòn do lũ trẻ con hàng ngày trốn vào chơi, hái trái cây, hái rau tập tàng, nhờ vậy mà Trâm đi loanh quanh được một lúc. Không biết có ai đưa đường không mà Trâm đã tới cạnh ngôi mộ hoang, người trong xóm đồn đãi ở dưới mồ có một người con gái chết oan rất thiêng.

Bình thường Trâm sợ ma lắm, nhưng bữa nay tâm trạng bần thần, lại quá đau khổ về tình duyên, còn có ý định tìm cái chết nữa nên Trâm không biết sợ hãi nữa. Mà có lẽ, chỉ có người nằm yên dưới mồ mới hiểu Trâm, mới chịu nghe Trâm tâm sự.

Gió như động hơn trên trời, lay động cành lá ào ào. Tiếng cành khô kêu răng rắc như lời nói của đêm muốn cùng san sẻ với tâm sự của Trâm.

"Chị à, dù sao chị cũng tới trần gian trước tui. Chị lớn tuổi hơn tui, tui kêu chị bằng chị. Xin lỗi tôi không đem nhang để thắp cho chị. Nhưng bữa nay tôi sẽ về dưới bầu bạn với chị. Tôi không muốn sống nữa."

Tiếng cành cây khô lại kêu rắc rắc. Và có một vài tiếng động đâu đây. Trâm nghe như có tiếng chân. Nhìn quanh quất, không thấy bóng ai hết.

"Chị về phải không? Chị đừng đi trước chờ tui với. Tui yêu người ta mà không lấy được, thà tui chết để trọn vẹn với tình... Chị nghe tui nói không?"

Trâm cảm thấy sau ót mình lành lạnh như có bàn tay ai vừa đụng khẽ lên đó. Cô cố lấy hết can đảm, nhìn lên. Trong đêm Xuân một cành cây lớn vươn ra. Thật là lãng mạn. Như một thiên tình sử trong tiểu thuyết, còn hơn nữa là đằng khác. Trâm vừa lẩm bẩm những lời tha thiết đoạn tuyệt với người tình và chuẩn bị cho cái thòng lọng vào cổ rồi thả người xuống. Chỉ tích tắc thôi, không còn thấy đau khổ nữa...

"Bước tới. Leo lên. Leo lên đi..."

Trong đầu Trâm, như có tiếng reo hò thúc giục. Bước lên một bước nữa thôi. Bước nữa, bước nữa...

Rõ ràng Trâm bước tới, nhưng có ai đã kéo Trâm thụt lùi. Thật ra không có ai hết, chính sự sợ hãi đó thôi. Cũng có thể, ai đó, vô hình đang trì kéo bước chân Trâm ngược lại. Không. Không được đâu. Không có can đảm đâu.

"Thiếu tui ba cây nhang đó."

Lùi tới góc vườn, Trâm nghe tiếng nói lùng bùng trong tai. Chắc đó là tiếng hồn ma từ đáy mộ vừa bị Trâm đánh thức. May quá, tới góc vườn nhà rồi. Nhanh như con sóc, Trâm chui qua lỗ hổng sang vườn nhà, rồi đu lên cửa sổ. Vào tới phòng rồi, chăn trùm đầu kín mít rồi, Trâm tiếp tục run nữa.

Bên vườn hoang, có tiếng mèo gào lên, như giận dữ cùng với gió thổi cành rung lá cuồng loạn.

Gió rung cuồng loạn tới cả căn nhà chòi nhỏ sau vườn của chàng thư sinh trọ học. Trong nhà Thiên có sẵn một chai rượu chàng đã mua về từ mấy hôm trước để nhâm nhi ba ngày tết. Nhưng làm gì có Tết, có Xuân nữa. Thôi thì mượn nó quên sầu đời đêm nay.

Một mình độc ẩm. Bụng đói cồn cào, rượu vô lãng đãng. Chàng học trò trong Quảng ra thi trong cơn say, loạng choạng hát một bài tiếng Quảng, múa may cùng hình ma bóng quỷ. Gió bên ngoài đã hú thành tiếng, rên rĩ, bứt lá, bẻ cành. Giữa cơn gió hú, như có tiếng đập cửa, tiếng gọi. Chẳng biết bằng cách nào, cửa mở... giữa cơn mơ hồ, Thiên mở mắt, thấy một cô gái mặt ngọc, tóc dài đã ở bên mình.

"Trâm. Em..."

Đúng là khuôn mặt của Trâm, sao có đôi mắt lạ lùng đang nhìn chàng. Nửa mê, nửa tỉnh, Thiên quỳ xuống ôm ngang qua thân mình nàng. Sao nàng mỏng quá, nhẹ quá, ôm nàng trong tay mà y như có lúc chỉ ôm không khí, ôm hư vô...

"Trâm. Em đã đến, anh mong gặp em biết bao nhiêu."

Cô gái quỳ xuống, mặt đối mặt. Giọng nàng như tiếng thở:

"Anh. Em yêu anh. Em đã đến rồi nì. Đến rồi nì..."

"Anh nhớ em. Anh đau khổ tưởng chết. Có phải thật là em đến không?"

"Chi mô mà khổ. Em tới rồi nì."

Cô gái vò mái tóc của chàng trai trong tay, nâng mặt chàng lên:

"Có phải thật là em đó không?"

"Không thật mô. Em không phải người ta. Anh sợ không?"

"Không sợ. Không sợ."

Chàng học trò bỗng thấy mình như một đại lực sĩ. Chỉ cần một cánh tay, chàng nhẹ nhàng nhấc bổng cô gái lên, mang nàng tới chiếc giường tre. Y trang trút bỏ, cả một khối bạch ngọc lồ lộ chập chờn cùng ánh đèn dầu. Khối ngọc trong vòng tay học trò, khi thì Trâm thẹn thùng, sợ hãi, khi thì là một con bé nghịch ngợm, hung hăng, liều lĩnh. Đêm xuân nồng cháy, chiếc giường tre không ngừng kêu rên át cả tiếng gió ngoài vườn.

Gần sáng, nàng xô chàng ra:

"Em phải về. Về liền kẻo không kịp."

"Em còn đến nữa không. Em đừng bỏ anh... anh chết mất."

Nàng lùa năm ngón tay mềm mại vào tóc chàng:

"Hồi tối em thấy anh múa hát. Đêm mai, anh còn rượu, uống một ly, cất tiếng hát là em tới."

Nàng mặc quần áo, vội vã đến cả không kịp hôn chàng, biến nhanh ra ngoài như luồng gió. Thiên bàng hoàng không biết là mộng hay thực, rồi mệt mỏi thiếp đi. Chàng nằm bẹp hai ngày không dậy nổi. Bà chủ trọ bưng cho bát cháo, Thiên húp vài muỗng rồi bỏ. Vậy mà đêm đó, vừa nghe tiếng gió hú ngoài vườn, anh chàng đã bật dậy.

Chẳng biết sức lực từ đâu tới, sau khi nốc được mấy ly rượu, chàng học trò xứ Quảng lại một mình múa hát tưng bừng. Quả nhiên chỉ lát sau, cô gái đã trở lại. Trâm đã biến thành gái liêu trai từ bao giờ, tóc thả buông lơi không cài không kẹp, hai chân như lướt trên mặt đất. Nàng đẹp hơn nhan sắc mà trước đây chàng đã gặp gỡ, hẹn hò. Mắt nàng như lúc nào cũng pha chất lân tinh, óng ánh gợn sóng tình. Vừa đến, không cần tâm sự nữa, chàng ôm chầm lấy nàng như sợ nàng biến mất.

Vuốt ve, ôm ấp đắm say. Có lúc dưới ánh đèn dầu, nàng nằm nhắm mắt như nàng công chúa ngủ trong rừng, chàng vẫn không thể rời tấm thân nõn nà mà nóng bỏng.

Suốt cả tháng trời, cứ hôm nào chàng uống đủ đô rượu thì nàng đến và hai người quấn quýt lấy nhau tiếp tục truy hoan. Chiếc giường tre cơ hồ chịu không nổi đã xiêu vẹo, van xin, nài nỉ hàng đêm và muốn sụm.

Một hôm, sau cơn hoan lạc, nàng mới nhìn thấy ở góc bàn cái trâm cài tóc và cái lược làm còn dang dở. Nàng cầm lên coi, chàng nói:

"Đã sắp tới ngày em về nhà chồng chưa?"

"Em..."

Cắn môi tới rớm máu. Chàng ôm nàng vào lòng xót xa:

"Đây là vật anh làm để tặng em ngày đi lấy chồng. Và đây là lá thư tình mãi hoài anh không dám gửi."

Nàng cầm lấy, khóc:

"Cũng đã tới ngày em phải xa anh rồi."

Chàng thẫn thờ:

"Em đi lấy chồng anh sống không nổi. Thật đó, anh sống không nổi mô."

Nàng càng khóc lớn hơn:

"Em không còn cách nào khác. Hôm nay là ngày chót em gặp anh. Ngày mai em không tới được nữa..."

"Không em không thể xa anh, không thể bỏ anh. Hay mình trốn đi?"

Nàng gật đầu:

"Anh thề đi. Anh trốn đi với em. Anh thề độc, thề độc địa đi. Anh không bỏ em..."

Thiên sung sướng đưa tay thề liền. Thề độc thề địa nữa. Phải, chàng sẽ sắp xếp một chuyến đi. Cả hai đều trốn khỏi xứ Huế. Vì tình, Thiên có thể phụ lòng mẹ cha, bỏ khoa thi, bỏ tương lai tú tài sắp đoạt trong tay.

"Tối mai em tới, anh sẽ đưa em đi. Mình sống với nhau, em không sợ ai nữa. Em..."

Nàng cười. Nụ cười sao mà xa xôi, bí hiểm quá.

"Tối mai... Không đâu. Tôi mai em hẹn anh ở bến sông. Rồi mình đi."

Thiên mừng rỡ ôm chặt lấy nàng. Cả hai tiếp tục truy hoan cho tới gần sáng.

Tiếng gà gáy canh tư đã thúc giục lắm rồi, nàng mới vội vã bỏ đi. Lúc đó, khu vườn bên ngoài đã lờ mờ hiện trong màn sương.

Sáng hôm sau, Thiên nằm thiêm thiếp, đầu nóng như lửa. Chàng lên cơn sốt nặng. Trùm mền, đắp chăn. Ông bà chủ nhà lo lắm, có giúp Thiên một nồi thuốc xông buổi tối. Xông xong, Thiên có khỏe hơn, nhưng đầu óc còn choáng váng, mắt hoa. Dù vậy, nhớ lời hẹn với người yêu, Thiên thu xếp mấy bộ quần áo, chút tiền bạc dành dụm rồi chờ cho tới hai ba giờ sáng, một mình ra bến sông trước nhà Trâm. Sông nước lấp lánh, nôn nao.

Thiên chưa kịp cảm thấy hơi sương đêm lạnh, nàng đã tới. Vẫn nhẹ như gió, lướt trên mặt đất.

"Anh sợ em không tới. Đi, mình đi."

"Khỏi đi đâu hết ôm em đã. Em lạnh."

Nàng áp cả tấm thân vào người chàng, tự tay cởi áo chàng, áo nàng. Áo quần nào ấm bằng hơi nóng thể xác. Nàng vỗ vập, ôm ấp, đòi hỏi. Và đôi lứa quấn chặt, rơi mình xuống bờ cát bên sông.

Ai bảo sông Hương khúc Kim Long không từng, biết sôi sục?

Vẫn còn mùa xuân để cô gái đi lấy chồng. Đám cưới nhà giàu sẽ làm lớn lắm. Bây giờ không còn ai canh giữ Trâm nữa. Một bữa, cả xóm xôn xao bàn tán có xác chết dưới sông vớt lên chính là xác anh học trò trọ học.

Vậy là câu chuyện liêu trai giữa chàng học trò và ma nữ tiểu thư con quan nằm dưới nấm mồ trong ngôi nhà hoang lập tức được truyền tụng. Tình tiết câu chuyện bàn tán càng lúc càng ly kỳ. Đêm đêm, ma nữ từ dưới mồ lên vào phòng chàng học trò, lôi chàng ta ra bờ sông ân ái. Sau đây là đoạn đối đáp lâm ly giữa ma và người. Giọng ma nữ hẳn nhiên phải nhẹ nhàng như gió thoảng:

"Anh nói là chết vì em, không hối hận?"

"Không hối hận."

"Nếu em là ma, anh có yêu em không?"

"Anh cũng thành ma để yêu em."

"Vậy mình đi nghe."

"Anh yêu em!"

"Anh nhìn em coi, em là ai?"

Chàng học trò mở bừng mắt. Khuôn mặt cúi xuống trên người chàng là một cô gái, mái tóc xõa che khuôn mặt. Lúc đó trời sắp sáng hay có một ánh sáng nào mờ nhạt soi gương mặt người con gái màu xanh. Nàng mỉm cười, đẹp như hằng nga trên cung. Mà sao nụ cười bỗng dại đi, rồi khuôn mặt cũng biến đổi, méo mó, rồi giữa nụ cười nhô ra hai răng nanh...

"Eo ôi." Anh chàng kinh hoảng quá, hét lên và vùng vẫy. Nhưng hai cánh tay ma nữ đã như hai gọng kìm, ôm chặt lấy anh học trò, và cả hai lăn xuống dòng tối đen. Câu chuyện Liêu Trai Huế thường được kết luận vậy.

Hình như phải mấy ngày đêm xác anh học trò mới nổi lên. Người cha của năm cô gái không khỏi bùi ngùi xúc động, ngầm trách mình cứng rắn nhưng cũng thở ra một hơi dài nhẹ nhỏm.

Đúng là anh chàng Thiên chứ ai. Tội chàng quá, Trâm khóc không biết bao nhiêu đêm, nhưng rồi đành chịu cam phận về nhà chồng. Mong chồng, mong cuộc đời mới sẽ giúp nàng nguôi ngoai mối tình tan vỡ, chia ly kẻ âm người dương.

Trước ngày lên xe hoa, Trâm nhớ lại mình còn thiếu nợ hồn ma dưới mồ trong khu vườn hoang kia một nắm nhang. Muốn trả cho xong trước khi về nhà chồng. Trâm mua một bó nhang, chờ cơm chiều xong, trời chạng vạng, một mình lẻn vô sau căn nhà hoang.

Bữa đó trời không một cơn gió. Khu vườn càng lặng lẽ hoang vắng. Ngôi mộ đất lở xơ xác nằm trơ vơ. Trâm bỗng nhìn thấy trên mộ, ai để một phong bì thư cũ mèm và một cây trâm bằng gỗ, phía cán khắc lộng hai trái tim lồng nhau, cắm chặt lá thư xuống đất.

Trâm mở ra xem, mới hay thư của Thiên gửi cho mình lâu rồi. Còn chiếc trâm cài chắc là một quà tặng cho nàng. Trâm đọc xong lá thư, đốt cho mất tang mất tích. Còn cây trâm giữ lại để cài tóc coi như một kỷ niệm.

Đêm đó, Trâm nằm mơ, thấy Thiên cầm tay một người con gái rất đẹp, mớ tóc còn dày và dài hơn tóc thề của Trâm nữa. Thiên không nói gì, nét mặt vui vẻ. Cô gái nói với Trâm:

"Cám ơn em đã cho chị một nắm nhang."

Nói xong cả hai đều biến mất.

Cô gái nào chả có những giấc mơ đêm trước ngày tân hôn. Ngày mai pháo sẽ nổ trước sân. Trâm sẽ có một cuộc đời khác.

Chuyện bốn chục năm sau. Tối đầu năm trong một gia đình Việt Nam. Ở một thành phố khác, cũng có thể ở một đất nước khác. Một ông tóc hoa râm, chén chú chén anh với các bạn già cùng lưu lạc gặp lại. Chủ nhà đã ngà ngà say, nhắc lại chuyện xưa, ông cười.

"Thì rứa, học trò trong Quảng ra thi mà. Hồi trẻ anh nào chẳng có lúc tầm bậy tầm bạ. Thì cũng tính đánh hoa cả cụm, không được thì đánh lẻ. Mà mình cũng mần chi mô. Bảo hát là hát, bảo ôm là ôm, bảo đi là đi. Bà tui bây chừ đó tề... Nì, mạ nó mô hè, lấy chai Remi trong tủ ra nhậu luôn, bữa ni vui..."

"Uống vừa vừa thôi ông ơi: Từ ngày tui lấy ông tới bữa ni, chỉ thấy ông mê rượu."

"Bà đừng noái nữa mà tui kể ra bà hổ ngươi. Chớ không phải nhờ rượu, nhờ hát hay mà hồi đó có con ma nữ liều mạng..."

"Còn nói nữa, không biết dị. Mấy anh biết không, có một chuyện mà kể hoài, làm như oai lắm."

"Để chú ấy kể chuyện Liêu Trai Huế đi, cô Ba". Một ông nói.

Bà chủ nhà ngoe nguẩy, đặt chai rượu xuống trước mặt ông chồng rồi cười cười bỏ vào nhà trong.

Thì ra đầu năm, các ông hoa râm lai rai kể chuyện xưa tích cũ. Chủ nhân có mái tóc hoa râm từng là chàng học trò xứ Quảng ra Huế học thi. Bà chủ được gọi là cô Ba, nghe đâu chính là cô em thứ ba trong đám "ngũ long công chúa" nghịch như quỷ sứ ở Kim Long thuở nào.
 
 
NHÃ CA       
 

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2023

TIẾNG HÁT HOANG ĐƯỜNG- Hoàng Ngọc Tuấn

Co-mot-kho-tang-tranh-Trinh-Cong-Son_Tin180.com_001

 (Tranh sơn dầu trên giấy của Trịnh Công Sơn –  năm 1963)

Tiếng hát của chị thật hoang đường, trong âm thanh đục mờ như một màn sương, có những nhựa cây ma túy. Nó làm đầu óc tôi lãng đãng nhưng không mệt mỏi, trái lại người tôi lúc nghe chị hát, tỉnh táo ghê gớm lắm, những lời ca như những hạt mưa giông nặng trĩu, và tôi lắng nghe rõ ràng từng tiếng vang động của giọt âm thanh lóng lánh ấy như tiếng chuông rền trong trái tim, đôi khi nó làm tôi hạnh phúc, đôi khi làm tôi đau đớn.”

Nàng cười: “anh nói mơ hồ và dài dòng quá, tôi không hiểu được hết”. Người thanh niên nói: “có hề gì đâu, tôi cũng không nhớ được hết những lời tôi vừa nói, tôi chỉ cảm thấy bất chợt như thế, chỉ có điều này làm tôi nhớ mãi, là tiếng hát của chị cần cho tôi như cơm áo, thuốc lá, như tiếng mẹ ru thời còn bé, và tôi sẽ chết được nếu mai sau rủi có việc gì xảy ra làm tôi không còn được nghe chị hát nữa”. Nàng cười sung sướng. Đôi mắt nàng khi vui tươi vẫn tối tăm hơn đêm tối. Nụ cười của nàng khi hạnh phúc vẫn không được toàn vẹn, vẫn nặng trĩu trong một màn lướt dĩ vãng dày đặc nào đó.

Người thanh niên bỏ đi sau khi nói những lời cuối cùng với nàng. Nàng tìm một điếu thuốc nhưng bao thuốc của nàng đã trống không, bị vò nát trong bàn tay nàng. Nàng nghĩ rằng mình thôi không hút thêm một điếu thuốc nào nữa, đêm nay nàng đã hút hết một bao rồi, nhưng chất cà phê còn thấm trong lưỡi khiến nàng thèm một hơi thuốc lá, một ít khói nóng cay cho miệng bớt nhạt nhẽo. Người thanh niên trở lại với bao thuốc lá trong túi áo, anh châm cho nàng một điếu thuốc, và nhờ ánh lửa của que diêm cháy trong phút chốc, nàng nhìn thấy tóc anh đã dài và anh mặc một chiếc áo sơ mi màu xanh da trời. Người thanh niên nói anh sẽ đưa nàng về nhà bây giờ nếu nàng thích về và đã buồn ngủ. Nàng gật đầu đồng ý, về nhà bây giờ chắc sẽ buồn nhưng nàng nhớ hai đứa con của nàng giờ đang ôm gối ngủ say.

Bây giờ là đêm nhưng chiếc áo dài màu lục diệp của nàng còn đen hơn đêm tối. Trong đêm khuya hoang lạnh, không còn âm thanh gì cả ngoài tiếng bánh xe lăn rào rạo trên mặt đường, nàng thì thầm hát một đoạn nhạc nhưng tiếng hát nhỏ quá khiến nàng cũng không nghe gì cả. Tiếng hát dư thừa còn lại trong đêm khuya, nghe yếu đuối như hạt bong bóng nước.

Như thế là một đêm của nàng đã hết. Đêm bắt đầu khi ngọn đèn thắp lên ánh sáng, và đáng lẽ kéo dài đến sáng, nhưng vì bây giờ giới nghiêm lúc mười hai giờ, những người bạn của nàng và nàng phải về nhà nên đến giờ đó xem như đêm của nàng đã hết. Những giờ về sáng còn lại là ngủ mê man trong một cơn mơ tươi thắm và chờ đợi ngày khác bắt đầu.

*

Nếu người điên không nghe, nàng vẫn nói một mình cho nàng: Tôi có cái tên của một loài hoa mùa xuân nhưng đời tôi không trong sáng như mùa xuân. Ở tuổi mười tám tôi là một nữ sinh nhưng rồi đã bỏ trường học vào năm đó. Thành phố này có những đêm lộng lẫy ở phòng trà ca nhạc, những cặp tình nhân ăn mặc sang trọng như tài tử, những người bồi mặc áo trắng thắt nơ đen thật đẹp cung kính cầm chai sâm banh rót vào ly. Không khí mê hoặc của bóng tối trong căn phòng gắn máy lạnh, hình ảnh rực rỡ cúa những cô ca sĩ dưới ánh đèn màu, âm thanh sôi nổi của tiếng đàn, trống kèn. Tôi đã yêu những thứ đó quá sớm, và khi tôi yêu điều gì, tôi không thể nào trốn tránh nó được, tôi lao đầu chạy theo như một dòng thác nước đổ ào xuống thung lũng.

Tôi tập tành hát hỏng, mang những giấc mộng huy hoàng nhưng rồi chỉ là một cô ca sĩ vô danh trong cái thành phố quá khó khăn cho những ai muốn bắt đầu điều gì. Sài Gòn có thật nhiều thần tượng, mà người ta đã thi nhau nhào nặn rồi dựng nên, những thần tượng phần nào giả tạo nhưng vững chắc trước đám đông người dễ dãi. Tôi bỏ nhà, bỏ Sài Gòn, lên một tỉnh cao nguyên, tìm được một chân khiêm nhường trong phòng trà nhỏ. Mỗi đêm đứng trước ánh đèn chiếu vào người, mặc một bộ đồ da đen bóng cóp nhặt theo những ca sĩ ngoại quốc, hát vài bài nhạc thời thượng do khách yêu cầu rồi nghe một tràng pháo tay nhỏ nhoi. Cứ như thế mãi.

Trời Đà Lạt lạnh và cô đơn, tôi cần hơi ấm của một người tình. Tôi yêu dễ dàng một người đàn ông trẻ tuổi có khá tiền, và trở thành vợ của người đó thật đơn giản. Một đứa bé gái và một đứa bé trai ra đời, tôi trở thành đàn bà nhưng trong tôi có một tâm hồn trẻ con vẫn sống mãi. Tôi yêu nhiều điều, say mê nhiều thứ và chạy theo luôn những điều tôi yêu. Người chồng và hai con mang lại cho tôi hạnh phúc, nhưng tôi vẫn thèm khát những điều khác nữa, những điều không phải là hạnh phúc, đôi khi đồng nghĩa với khổ đau, trôi nổi. Tôi có thêm một hai nhân tình sang giàu và thế lực, công khai nép mình trong vòng tay của họ, tình yêu tôi đối với một vài người khá lâu dài, một vài người ngắn ngủi. Người chồng ghen tuông đau đớn, cãi vã giận dữ rồi bỏ đi, rồi lại trở về. Đời sống chúng tôi không còn yên bình, sự yên bình mà người khác có thể tìm thấy dễ dàng, nhưng tôi quá chán sự yên bình. Người chồng tìm quên ở những người đàn bà khác, chúng tôi yêu nhau nhưng đôi lúc thù ghét nhau và cả hai đứa cứ tiếp tục bị vây khốn trong một xích sắt siết chặt, cùng tìm lấy nhau vào nỗi khổ.

Tôi vẫn hát ở phòng trà nhỏ cao nguyên để kiếm một số lương đủ sống. Tôi không suy nghĩ nhiều về âm nhạc. Tôi chỉ muốn được trở thành một ca sĩ ăn khách nhất, được nhiều người hâm mộ, tiền thù lao thật cao để tôi ăn xài thỏa thích, mua sắm những bộ y phục đắt tiền, tôi hát như một cái máy, tiếng hát tôi sẽ tự động phát ra, chạy đều đều cho đến hết bài, như một bổn phận đối với tiền bạc.

*

Một đêm khi phòng trà vừa đóng cửa, người nhạc sĩ nhìn thấy nàng đang đứng dưới mái hiên bên ngoài mưa rơi từng vệt óng ánh trong bầu trời đen, nàng vừa hát xong, đứng một mình ngần ngại nhìn trời mưa, rồi lặng lẽ bước ra ngoài đường, thân hình nàng gầy nhỏ co ro trong chiếc áo đi mưa, mái tóc đen láng nước. Nàng dừng lại ở sạp bán thuốc, mua một bao thuốc lá rồi tiếp tục đi. Trong bóng đêm có những ngụm khói xanh mỏng manh, đôi mắt nàng nhìn xuống mặt đường lạnh lùng như một người xa lạ trong thành phố. Người nhạc sĩ lần đầu tiên vừa nghe nàng hát trong phòng trà. Giữa đám đông khách đang bận rộn trò chuyện và nhậu nhẹt, tiếng hát nàng thật yếu ớt và lẻ loi. Nhưng người nhạc sĩ lặng yên nghe nàng hát, tiếng ca non dại như một loài chim nhỏ chưa vỡ tiếng, con chim chưa thoát xác để trở thành loài họa mi mơ ước. Trong giây lát, nhìn dáng dấp cô đơn của nàng thật mơ hồ trên con đường đêm, người nhạc sĩ đột nhiên nghĩ rằng những bài hát của anh là dành riêng cho nàng, cho dù những bài hát ấy thật khó khăn, đòi hỏi một giọng ca điêu luyện, cho dù tiếng hát của nàng còn non yếu. Nhưng khuôn mặt nàng với nếp nhăn đến sớm trên một vầng trán trẻ, đôi mắt mơ hồ buồn như màu suối nhưng đôi khi lóe lên những ngọn lửa tham vọng quyết liệt. Hình ảnh ấy cứ bám chặt lấy tâm trí người nhạc sĩ, anh biết những bài hát của anh lâu nay vẫn chờ đợi một tiếng hát đàn bà thật lạ thường, bây giờ đã trao hết cho người anh mới gặp đầu tiên này, trao tặng như một món quà sinh nhật làm sung sướng cả hai người.

Anh gọi tên nàng. Những bước chân nàng ngạc nhiên dừng lại, và như thế là nàng cũng chấm dứt luôn đời sống nhàm chán vô ích, kéo dài lê thê trong phòng trà đêm đêm, ở một tỉnh lỵ lạnh lùng. Nàng vứt điếu thuốc xuống vũng nước mưa, thắp lên môi một điếu thuốc mới. Ánh lửa rực rỡ sáng một đám hồng hào trong đêm tối tăm, nàng bắt đầu hút một điếu thuốc mới. Một quãng đời vui mới, một trái tim nồng mới và một hạnh phúc êm ái mới.

Căn phòng của người nhạc sĩ có cánh cửa sổ nhìn sang khu rừng, từ bên trong tiếng hát của nàng ào ạt vỡ tung bay ra theo khung cửa, chen lẫn với tiếng đàn. Ròng rã nhiều ngày, người nhạc sĩ tập cho nàng hát những bài của anh, hát trong bầu không khí hoàn toàn mới mẻ, không còn bận tâm với bọn thực khách xung quanh, không nghĩ đến những lời hò hét yêu cầu của bọn say rượu, không cần phải liếc mắt cười tình với khán giả, không nghĩ đến số tiền lương mỗi tháng. Đến một lúc nào đó, tự do tuôn trào ra từ lồng ngực, dễ dàng như hơi thở, âm thanh vỡ tung hoang dại như loài dã thú. Dã thú lâu nay vẫn nằm bệnh hoạn trong cũi sắt, mòn mỏi hết những sở trường. Bao lâu nay dã thú không có rừng xanh, tiếng suối, cây già, không có không khí trong sạch của trời cao, dã thú tầm thường như một loài gia súc. Bây giờ cánh cửa lồng đã mở, dã thú có được tất cả những gì nó thèm khát. Tiếng hát nàng mới lạ như nàng mới nghe lần đầu tiên, và nàng cương quyết sẽ bám chặt lấy nó suốt đời.

Người nhạc sĩ cũng tập cho nàng biết yêu những bài hát, biết yêu những nốt lên cao vút như ước mơ, những nốt thấp trùng xuống như phận người. Anh nói: người ta không thể hát thật hay một bài hát nếu không yêu, nếu không cảm thấy những lời ca chính là những điều mình bao lâu nay ôm ấp chưa thành tiếng nói. Nàng đùa cợt.

– Như thế muốn hát hay hơn nữa, có cần phải yêu người làm ra bài hát không?

Người nhạc sĩ cười không nói gì, anh dừng đàn:

– Ngày mai anh sẽ về Sài Gòn. Dưới đó có một quán văn nghệ của sinh viên mở, họ mời anh về hát, ở đó nhiều người chờ anh hát cho họ nghe.

– Em cũng về Sài Gòn theo.

– Em phải suy nghĩ kỹ lại. Ở đây hát phòng trà em kiếm được vài chục ngàn mỗi tháng. Xuống dưới đó, hát cho đám đông nghe, chỉ uống nước đá lạnh mà đôi khi còn bị ăn cà chua nữa.

– Em suy nghĩ nhanh lắm. Quyết định rồi, em về. Em không cần tiền nữa, bây giờ chỉ cần có người hiểu mình, thành thật thích nghe mình, họ thèm nghe cũng như em thèm hát.

Tự dưng nàng nghĩ đến mây trời. Một đám mây cứ nằm mãi trên trời cao thật vô ích và buồn chán biết bao, sao không biến thành những cơn mưa ngọt ngào rơi tràn ngập trên những cánh đồng lúa khô cạn.

Nàng bật cười, cười với người nhạc sĩ: bây giờ em mới đúng là “con chim đến từ núi lạ, ngửa cổ hát chơi…”

*

Đêm đầu tiên trình diễn bằng tiếng hát đích thực của mình. Sân khấu là hai két bia xếp cạnh nhau đặt giữa sân cỏ, một ngọn đèn vàng treo trên nhánh cây trước mặt. Máy vi âm đang bỏ không, chờ đợi nàng. Chung quanh là đám người ồn ào vây kín, chuyển động không yên, cả một khu rừng làm bằng những mái tóc lòa xòa bên cạnh nhau, những khuôn mặt trẻ tuổi ngước lên háo hức chờ đợi. Tiếng la hét hối thúc nổi vang thêm lên và có một vài tiếng kêu bực dọc của một anh chàng nào đó ngồi gần bục gỗ. Nàng lo lắng nhìn người nhạc sĩ: đông quá, em sợ. Thoáng chốc người ca sĩ chuyên nghiệp trong nàng đã chết, nàng cảm thấy sợ hãi trước những đôi mắt sáng thẳng thắn đang chờ đợi nàng. Đám người trẻ tuổi này không tốn một đồng để nghe nhạc nhưng lại có quyền khen chê khắc nghiệt nhất, tiếng vỗ tay nồng nhiệt hay những lời la ó dữ dội sẽ thốt lên từ những đôi môi hồng nông nổi.

Nàng đứng run rẩy như một cô nữ sinh lần đầu tiên ra trước ánh đèn sân khấu.

Những người sinh viên phụ trách quán cà phê tất tả chạy lui chạy tới lo đủ thứ công việc, sửa dây điện, thử lại máy phóng thanh, gắn đường dây máy thâu băng vào chiếc máy ghi âm để thâu tiếng hát của nàng. Người sinh viên chủ quán đưa mắt nhìn người nhạc sĩ, anh gật đầu và thử lại sợi dây đàn. Anh sinh viên ra trước máy vi âm, giới thiệu chương trình nhạc do người nhạc sĩ quen thuộc và một tiếng hát mới lạ là nàng trình diễn.

Nàng ra đứng trước cái bục gỗ rất bấp bênh vì hai két bia đặt không đều bằng nhau. Không có ánh đèn xanh đỏ chiếu vào người như ở phòng trà, nhưng cách xa nàng một khoảng ngắn có một ngọn đèn màu hồng mờ nhạt làm khuôn mặt nàng thật huyền ảo và lạ lùng trong đêm tối.

Nàng cố gắng không nhìn ai, gần như có cả một rừng đôi mắt sáng rực rỡ chiếu thẳng vào mặt nàng. Tiếng đàn của người nhạc sĩ vang lên bên tai, rồi dần dần chậm rãi chờ đợi, nàng bắt đầu cất tiếng hát.

Dần dần những hình người chung quanh nàng đều mờ nhạt, tan biến vào trong bóng đêm, nàng không còn nhìn thấy một ai. Tất cả cảnh tượng vây phủ quanh nàng như một sa mạc hoang vắng, một sa mạc không có cát trắng nhưng là dày đặc màu đen. Lát nữa đây, tràng pháo tay sẽ làm cơn mưa quý giá rơi trên cát nóng bỏng, hay những lời xua đuổi sẽ là cơn bão dìm chết kẻ lữ hành. Nàng nhắm mắt lại, hay chỉ nhìn mơ hồ trên trời cao. Tiếng hát bay vào đêm tối như một tiếng gọi xa xăm nghe vừa thật hoang đường vừa thật gần gũi. Âm thanh phiền muộn lãng đãng trôi về một nơi không bến bờ, như một cái gì không bao giờ trọn vẹn. Những khúc lên cao chưa đến tột đỉnh bỗng đứt nghẹn rã rời, dấu vết đau đớn đầy tràn trong tiếng hát, những đoạn xuống thấp nặng buồn như một thảm kịch.

Trong một khoảng thời gian, đêm ngừng lại trên mái tóc nàng, tiếng hát ngây ngất thoát ra từ một đôi môi mê đắm, một đôi môi không có nụ cười, đã làm rung động kỳ diệu tâm hồn của những người trẻ tuổi. Khán giả đứng im như tượng đá, họ bàng hoàng đón nhận một thứ hạnh phúc lạ lùng chưa hề có bỗng dưng trong một đêm tầm thường này, họ đã may mắn bắt gặp.

Lời ca cuối vút dài như một lằn roi quật lên da người rồi ngưng bặt. Bài hát đã hết. Bóng tối rực sáng tiếng reo hò cuồng nhiệt, những tràng pháo tay vang dội và những đôi mắt trong thêm rực rỡ. Bây giờ sa mạc đã có cơn mưa mong ước, nàng cười tươi tắn như một cô bé thơ, sung sướng nhìn đám đông đang reo hò gọi tên nàng. Người nhạc sĩ nói nhỏ: em thành công rồi đó. Nàng đưa tay vịn vào vai người nhạc sĩ nghỉ mệt, những giọt mồ hôi sung sướng thấm ướt lưng áo nàng.

Bài hát thứ hai tiếp tục. Bây giờ nàng có thể nhìn những người ngồi trước mặt bằng ánh sáng thân yêu như một người bạn chân tình. Bây giờ đã có những người yêu thương tiếng hát của nàng và chờ đợi nghe nàng mãi. Những khuôn mặt xanh gầy của tuổi trẻ hiện rõ trước mặt nàng và nàng biết nàng đã hát lên những điều họ ôm ấp từ lâu trong tâm khảm, họ nghe nàng hát như nghe tiếng nói âm thầm trong trí não họ.

Nàng biết nàng đang nói giùm cho những thiếu nữ mơ mộng trong tay người tình, khi nàng hát bài “Tình ca của người mất trí”. Bài hát ấy là trái tim đau đớn của những người thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung, đã sớm biết nỗi buồn của người góa phụ, khi người yêu của họ bất chợt ngã gục trên một chiến trường nào đó, ở Pleime, ở Đồng Xoài, ở Chiến Khu D hay ở ngoài Hà Nội. Nàng cũng có một người yêu tử trận trên miền núi, bây giờ nàng kêu khóc đau xót cho nàng và cho cả biết bao cô gái khác. Dưới ánh đèn, giọt lệ không bao giờ rơi trên mắt nàng, nhưng trong tâm hồn đã rơi đầy tiếng khóc hiu quạnh.

Tiếng vỗ tay lại vang đầy và nàng tiếp tục những bài khác. Khi bài hát “Mẹ ru con”, hình ảnh đứa con trai đang nghịch ngợm với khẩu súng nhựa hiện lên làm nàng sợ hãi. Bài hát là hai lần ru con của người mẹ trong thời đại này. Lần thứ nhất khi con thơ khóc chào đời, lần thứ hai trên xác người con đã hai mươi tuổi vừa bỏ mình vì bom đạn. Nàng thầm mong cho đứa con của nàng không bao giờ lớn thêm tuổi, nàng kinh sợ biết bao phải ru con một lần thứ hai thật đau đớn trong đời. Nàng nhìn thấy những đôi mắt buồn bã, làn da mặt khô khan tái xanh của những người ở tuổi hai mươi đang đứng trước mặt nàng. Những người ấy, một mai đây có thể sẽ chôn vùi thân xác trong một nấm mồ, đôi mắt xao xác vẫn còn mở lớn thương tiếc cuộc đời tươi đẹp.

Những bài hát tiếp theo mê hoặc lòng người như một thiên đàng ước hẹn. Trong những bản tình ca giọng hát của nàng thảnh thơi ngây ngất, đượm đầy nét tình tứ nũng nịu như một tình yêu trong vắt. Những người yêu nhau đêm nay đã được nếm ly rượu nồng nàn làm mạch máu căng hồng trong cơ thể.

Tiếng hát chói lọi tuôn trào theo toàn thân nàng rung động, những sợi tóc mai thấm ướt mồ hôi, đôi mắt mê man nhắm nghiền, đầu ngẩng lên cao ngất và những ngón chân bám chặt trên sàn gỗ. Người nhạc sĩ yên lặng đàn nhưng những ngón tay anh bấm đau nhói trên sợi dây đàn, và sợi dây bền bỉ rung động mãnh liệt tưởng chừng như sắp đứt đoạn.

Người nhạc sĩ cũng lắng nghe tiếng nói của mình hôm nay vang động lên thật yêu dấu từ một người khác. Anh nghĩ rằng phải là một người đàn bà như nàng mới có thể hòa hợp tuyệt diệu với những bài hát của anh. Những lời lẽ, nhạc điệu sầu thảm của anh không phải dành cho những cô trinh nữ bình yên trong gia đình. Những kẻ trong trắng chưa hề va chạm với đời hay những người nhạc máy trong phòng trà, chỉ là nàng, tiếng hát mơ mộng và đượm một chút giang hồ mệt mỏi, cũng như đời sống đã nếm mùi vị hoan lạc lẫn đau đớn của nàng, chỉ có nàng mới xứng đáng để hát những bài ca ấy.

Tiếng hát của nàng chan hòa với lời ca, là giấc mộng của một đời người thiếu thốn mơ đến ngày mai trong sáng. Đêm đã khuya, tiếng hát tàn. Nàng ngợp người trong nguồn suối hạnh phúc của những lời khen ngợi chân thành, cảm tình chân thật của những người bạn mới. Nàng biết rằng mình đã lìa bỏ thật rồi bộ mặt của một cô ca sĩ chỉ làm thứ rượu khai vị cho khách chơi sang trọng. Tiếng hát của nàng giờ đây đã tìm được những tình nhân, tiếng hát không bỏ sót một ai, tiếng hát có mãnh lực không cho ai lơ đãng, bắt mọi người dừng lại những cử động, bắt họ lắng nghe từng lời. Tiếng hát không ru ngủ ai mà trái lại, làm cho mọi người thức giấc. Không giúp cho ai lãng quên đời sống, trái lại giúp con người cảm nhận thấm thía những nỗi đau cũng như những niềm vui của đời sống.

Từ đó, những ca khúc của người nhạc sĩ soạn ra cho nàng hát, trở thành những ca khúc đời chân thực.

*

Đã lâu người thanh niên mặc áo xanh không gặp nàng và cũng không nghe nàng hát như ngày xưa. Bây giờ thỉnh thoảng sang nhà hàng xóm đế xem nhờ Tivi, anh bắt gặp khuôn mặt mờ nhạt của nàng trên khung ảnh nhỏ chao động.

Một hôm, tình cờ anh nghe tiếng hát của nàng vang lên trong chiếc ra-dô nhỏ chạy rè rè, tiếng hát đã nuôi sống tâm hồn anh một thuở nào bây giờ sao quá lạnh lùng, dửng dưng như một người chết. Trong căn phòng nhỏ của anh bỗng nhiên tràn ngập hình ảnh tươi đẹp và sống động của nàng ngày xưa. Anh tắt vội máy, cảm thấy sợ hãi và buồn bã lạ thường.

Từ lúc mùa xuân đem chiến tranh vào tận trung tâm thành phố, quán cà phê bị dẹp bỏ, bạn bè mỗi người một nơi. Trận xung đột cuối cùng nào đó giữa nàng và người chồng, hai người ly dị nhau, nàng giữ lấy cô bé gái với hai bàn tay trắng. Những nhu cầu, đòi hỏi của thành thị thúc giục sau lưng nàng, nàng không còn là con chim ngửa cổ hát chơi nữa, bây giờ nàng hát ra từng xấp giấy bạc. Phòng ghi âm của đài phát thanh, những hãng đĩa, ống kính vô tuyến truyền hình, những hộp đêm sang trọng. Bây giờ nàng đã trở thành một cô ca sĩ nổi danh và ăn khách nhất. Nhiều người khác vây quanh lấy nàng, những khách chơi giàu sang và một người nhân tình mới.

Người thanh niên hồi đó có làm một bài thơ dành tặng cho nàng, nhưng sẽ không bao giờ anh có dịp đọc cho nàng nghe nữa, bây giờ anh chỉ nhớ một đoạn ngắn.

…”Chỉ ao ước nàng hóa thân vành khuyên bé bỏng

Mỗi đêm tóc xõa môi phai

Bàn chân trần mướt xanh trên cát

Hơi thở mẩu thuốc tàn

Mà giọt lệ không bao giờ rơi

Âm thanh như đêm

Xóa nhòa linh hồn cũ…”

Anh không dám trách nàng một điều gì. Anh cũng ao ước trở thành một thi sĩ nhưng không bao giờ anh trở thành thi sĩ được cả. Anh phải chạy gạo kiếm cơm, muôn ngàn lo âu của đời sống đè nặng người anh như một phiến đá làm anh nghẹt thở. Cuộc đời không phải là một bài thơ cho anh.

Cuộc đời cũng không là một bài hát cho nàng. Bây giờ, giấc mơ danh vọng ngày xưa đã đến với nàng. Nhưng nàng còn hát được những đời thật tuyệt vời hay không?

 
Hoàng Ngọc Tuấn        
 
(Trích từ tập truyện ngắn Hình Như Là Tình Yêu)

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2023

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI - Khái Hưng

Gánh hát tất cả mười người. Tất cả mười người đã mấy tháng nay, bắt đầu từ khi mới sang xuân, đi lang thang trên con đường cát trắng, hành lý chứa chặt trong bốn chiếc hòm vuông quang dầu, cũ kỹ.

Họ đi, đi mãi, đi đã hàng trăm dặm chỉ thỉnh thoảng dừng chân một đêm hoặc hai, ba ngày trong một xóm, một làng, một huyện lỵ.

Rồi họ lại đi.

*

Một buổi chiều cuối xuân, một buổi chiều ngây ngất oi ả khiến ai đã luôn luôn sống gần cảnh thiên nhiên phải tiếc thời xuân qua khi ngắm lại cỏ, cây mây nước.

Bao ngày tốt đẹp hầu tàn.

Mặt trời đã sắp lặn mà phường bạn còn lang thang giữa quãng đường Thái Nguyên, Đa Phúc, phân vân chưa biết đi đâu. Một cô đào hát chậm chạp, uể oải lê bước theo sau, bỗng cất tiếng gọi:

- Bác Hai ơi! Nghỉ chân ăn lót dạ đã, kẻo đói lắm.

Bác Hai, một người quắc thước, giọng dịu dàng, âu yếm gắt yêu:

- Mơ đói rồi à? Chả được việc gì. Chỉ ăn cả ngày thôi!

Xuống giọng, tiếng cười khanh khách của cô đào hát làm rung động làn không khí yên lặng một thung lũng hoang vu. Rồi theo Mơ, cả bọn cùng cười, cười một cách vô ý nghĩa, vì họ biết rằng cười Mơ như thế không bao giờ họ bị bác Hai giận hay mắng.

Mơ, năm nay vừa mười tám tuổi, mười năm trước, nàng theo cha mẹ hát xẩm ở bến phà Tân Đệ. Một hôm đó, bác Hai ngắm nghía thấy con bé hát hay, lại có giọng trong trẻo, nhẹ nhàng, liền bỏ tiền ra mua đem về nuôi, dạy nghề xướng ca.

Năm năm học tập, Mơ thành tài múa hát có nhịp nhàng điệu bộ. Hai đặc điểm của Mơ là cái giọng véo von bổng trầm đúng bậc và tấm nhan sắc diễm lệ. Không phải là cái nhan sắc chín chắn, thùy mị, kín đáo của phần nhiều các cô gái quê, nhưng cái nhan sắc long lanh với đôi mắt hơi sếch, với cặp môi tươi thắm luôn nhếch một nụ cười lẳng lơ, nồng nàn.

Vì thế Mơ là người cốt yếu trong gánh hát bác Hai Truyện, là linh hồn một ban chèo dù khi Mơ đóng các vai rất hoạt động như Thị Mầu, Vân Dại, Châu Long, hay khi Mơ chỉ sắm một vai hoạt tượng như Phật Bà trong bản Quan Âm Thị Kính suốt nửa giờ ngồi im không nhúc nhích. Lúc đó mặt xinh xắn, và cặp mắt, cặp môi của Mơ thu hết tinh thần khán giả.

Thực vậy, người ta đến coi chèo chỉ vì Mơ. Chẳng thế mà phường của bác Hai Truyện đã nổi danh khắp các vùng là "phường Mơ".

- Mơ! Đừng cười thế đó!

Mơ càng cười to rồi nũng nịu:

- Khốn nhưng cháu đói lắm. Cháu vừa mỏi, vừa đói.

Bác Hai Truyện cũng gật cười theo:

- Đói mà cười no được ư?

- Không bác ạ, cười không no được, nhưng ăn thì no ngay. Còn mười nắm cơm buổi sáng mang đi, để làm gì nữa cho nặng khăn gói, thưa bác?

Trong phường có tài tử Tư Thiệp vào trạc tuổi Mơ. Bao giờ chàng cũng làm theo ý Mơ, bao giờ chàng cũng ân cần săn sóc đến Mơ. Chàng liền vì Mơ năn nỉ:

- Thưa bác chúng ta nên nghe lời chị Mơ, hãy dừng chân trên ngọn đồi để ăn lót dạ nắm cơm và tiện nhìn xem vùng quanh đây có làng nào trù phú, ta đến xin hát.

Cất giọng tự phụ, bác Hai quay lại bảo anh em phường bạn:

- Các chú mới theo nghề được năm ba năm nay, chứ tôi, tôi đã già một đời khắp trên các con đường trong nước. Tôi cần gì trèo lên ngọn đồi mới biết đâu có làng trù phú. Anh em cứ đi, chỉ nửa thôi nữa là đến ấp Đông Hà, thế nào cũng có cơm ăn chiếu ngủ.

Mơ vẫn thích trêu ghẹo cha nuôi, ỡm ờ hỏi:

- Bác thông thuộc thế thì sao từ sáng đến giờ tới bao nhiêu nơi xin hát đều không đắt?

Câu hỏi của Mơ làm cho bác Hai phải buồn rầu nghĩ ngợi. Nay đã gần hết tháng ba hội hè ở các làng đã gần tàn đám, hèn chi mà phường bác đi từ sáng đến giờ không gặp một nơi giữ hát.

Kể thì cái nhan sắc của Mơ cũng đã khiến họ mời mọc ân cần. Song bọn kỳ mục hủ lậu, biển lận kia còn bao giờ biết ngắm nghía cái đẹp, biết thưởng thức cái tài.

Bác Hai lẩm bẩm:

- Phải rồi! Chính phải rồi! Chỉ vì thế.

Rồi bác quay lại bảo anh em bạn hát. Lời dõng dạc quả quyết như hô binh của một ông tướng có oai quyền:

- Chúng ta lên đồi!

Mơ thích chí cười như nắc nẻ. Bỗng thoáng nhìn thấy cặp mắt nghiêm khắc của bác Hai, Mơ im bặt, lặng lẽ đi theo.

Tới ngọn đồi, mọi người nghỉ chân, ai nấy mở lấy cơm nắm, muối vừng ra ăn.

Bác Hai thầm bảo Mơ:

- Ăn ít chứ, con ạ.

Mơ cười:

- Nhưng cháu đói, mà ở đây có gió mát, cháu ăn càng ngon miệng.

- Tùy ý, nhưng để bụng chốc nữa ăn cơm nóng, canh ngọt vẫn hơn. Bây giờ Mơ nên nghe lời bác, mở hòm lấy phấn sáp, lược gương ra điểm trang cho thực đẹp.

Mơ ngơ ngác ngây thơ nhìn chủ:

- Đã hát đâu mà bác bảo sắm vai trò.

Bác Hai vẫn giữ vẻ mặt nghiêm nghị:

- Không, bác không bảo cháu đóng trò. Bác chỉ bảo cháu trang sức mà thôi. Cả chị Liên cũng vậy.

Ngoan ngoãn, Mơ vâng lời, lấy gương lược phấn sáp ra chải chuốt tô điểm. Trông vào gương thấy dung nhan mình tiều tụy, Mơ giật mình vì cùng một cảm tưởng như cha nuôi. Dầm mưa, dãi nắng, cái nước da trắng mát tự nhiên của nàng đã xám đen với gió bụi dọc đường. Mơ ngẫm nghĩ: "Thảo nào! Mà ta có ngờ đâu!".

Mười phút sau, mọi người xúm xít chung quanh cô đào hát, khen ngợi không dứt lời. Vì trang điểm xong, Mơ vẫn còn giữ được cái nhan sắc mọi khi, với tấm thân uốn lượn nhịp nhàng trong chiếc quần lĩnh và chiếc áo the mùa vỏ xó. Cảm động hơn hết là chàng Tư Thiệp. Chàng ngây người, đứng ngắm không chớp mắt.

*

Gánh hát của bác Hai Truyện nấn ná ở lại ấp Đông Hà đã gần một tuần lễ.

Chủ ấp là một trang thiếu niên lỗi lạc, ưa chơi các thứ thi, họa, cầm ca. Mà cái thú coi diễn chèo hình như chàng lại thích hơn. Chầu chàng đánh rất xinh, các điệu hát chàng rất thành thạo.

Vì thế đôi bên có chiều lưu luyến lẫn nhau. Chủ ấp muốn được nghe đủ các điệu hay, trùm phường được người sành nghề thưởng thức, cũng không vội ngỏ lời từ biệt xin đi.

Song dẫu sao cái cớ hiển nhiên rõ rệt mà không ai muốn thú nhận... là đào Mơ.

Ngay hôm theo ban hát tới ấp Đông Hà, nàng đã được khách đa tình chú ý. Tối hôm ấy phường hát bắt đầu diễn tích Kim Nham, và Mơ sắm vai Vân Dại.

Dưới ánh đèn măng xông, đôi mắt long lanh hoạt động, cặp môi đỏ thẫm nhoẻn nụ cười ngây thơ, bàn tay mềm mại xòe mạnh cái quạt tầu xương trắng, tay vờ rung rung tháo đường chỉ viền tà áo, hai chân thoăn thoắt khi tiến khi lui, khi bắt chước con gái bơi nước té bèo, bao điệu bộ, bao ám hiệu khuôn sáo để tả một cô gái điên đã khiến Mơ trở nên muôn phần diễm lệ.

Thế là lửa ái tình nhóm liền, bùng bùng ngùn ngụt. Hai người như đã hẹn hò nhau từ kiếp trước, để kiếp này gặp nhau.

Một người trai trẻ chơi bời, một người đang tuổi đào thơ đã từng yêu vờ thương hão những phường tục tử vô tri cùng mình thủ những vai tình chính. Nay thì không phải ái tình giả dối chốn sân khấu nữa, nhưng là ái tình nồng nàn, thành thực trong gian phòng ấm cúng thơm tho.

*

Hôm nay bác trùm Hai Truyện lên chào ông chủ ấp để xin rời phường đi nơi khác.

Tới giờ lên đường tìm đâu cũng không thấy Mơ. Đồng ý với chủ ấp nàng đã trốn núp ở nhà một điền hộ quanh vùng. Mọi người trong gánh hát còn đương lo sợ, ngơ ngác nhìn nhau thì một tên điền tốt đến đưa cho bác Hai một phong thư. Mở vội ra xem, bác chỉ thấy có năm chục bạc và mấy lời vắn tắt "Chúc anh em lên đường may mắn. Còn Mơ thì nay đã là vợ tôi rồi". Buồn rầu gánh hát ra đi.

Gánh hát mất Mơ khác nào người mất linh hồn.

Gánh hát mất Mơ? Không bao giờ bác Hai Truyện tưởng đến một sự vô lý như thế. Người ta chiếm mất Mơ của bác? Người ta cướp Mơ của bác? Cố nén sự đau đớn, bác bỏ số tiền vào túi. Bỗng như điên cuồng, bác cười nói huyên thuyên rồi nghêu ngao cất tiếng hát vang trời trên con đường cát trắng.

Bạn bè thấy bác vui vẻ thì tưởng rằng có lẽ bác mừng cho con nuôi đã lấy được chồng giàu có. Nhưng cặp mắt ướt mờ kia chứa bao nhiêu nỗi bi ai.

Hôm ấy, đêm đã khuya. ở một làng bên hãy còn tiếng trống chèo phường bác Hai Truyện. Trong khi bác cùng gánh hát uể oải, chậm chạp lang thang trên con đường chưa biết đi đâu thì, làng ấy đã khẩn khoản ra đón mời.

Thức giấc Mơ lắng tai nghe. Cái thời kỳ đằng đẵng Mơ lăn lóc với nghề đã cùng hồi trống đến làm rối loạn lòng nàng. Trước mắt Mơ lộn xộn hiện lên các vai chèo nhẩy múa trên con đường trắng mịt mù xa tắp.

Tiếng trống chèo đổ hồi càng thúc giục.

Tiếng trống chầu điểm thì thùng như mắng trách, gắt gỏng, đe nạt.

Lẳng lặng, se sẽ Mơ ngồi dậy. Tình nhân của Mơ ngủ vẫn mê man. Khoác vội tấm áo vào mình, quấn vội cái khăn lên mái tóc, Mơ nhẹ nhàng lướt như cái bóng, lẻn bước ra đi.

Cảnh sáng trăng suông, các vật lờ mờ, Mơ tưởng tới tấm thân cô độc.

Khi đến gần gánh hát Mơ thở dài, dừng bước đứng lại. Giữa lúc ấy, Tư Thiệp thổi khúc địch sầu thảm trong bản chèo Hạng Vũ bị vây nơi Cai Hạ.

Tiếng địch véo von, rền rĩ làm rung động lòng Mơ, làm tiêu tan cả ái tình mới mẻ. Ngồi xệp xuống đất Mơ bưng mặt khóc hối hận.

Tiếng địch vẫn sang sảng, khi lên bổng lúc xuống trầm như mỉa mai, như chế giễu kẻ lìa phường phản bạn. Mơ đứng phắt dậy lau nước mắt hốt hoảng chạy một mạch vào trong rạp.

*

Bản chèo vừa tan, gánh hát bác Hai đã vội vã lên đường, tuy bấy giờ mới gà gáy sáng.

Rồi mặt trời mọc trên đỉnh đồi lại chiếu ánh nắng xuống mười người lang thang trên con đường cát trắng, hành lý chứa chất trong bốn chiếc hòm vuông quang dầu, cũ kỹ.

Họ đi. Rồi họ lại đi.

Và Mơ, Mơ sẽ già đời là một tấm linh hồn phiêu lưu nay đây mai đó, như bị cái nghề lãng mạn tự do ác nghiệt, mọi rợ nó cám dỗ, nó chiếm đoạt, nó cưỡng bách, cái nghề mà hạnh phúc của ái tình, mãnh lực của kim tiền đều không thắng nổi.

Tận tụy với nghề, họ đi mãi trên con đường.

 
KHÁI HƯNG      
 
(Trích từ tập truyện ngắn Dọc Đường Gió Bụi)