Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã Ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã Ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

NGÀY THƠ DẠI - Nhã Ca


Anh Dư ơi.
 
Ở đâu cũng có nắng vàng, có gió mát. Nhưng không nắng ở đâu, gió ở đâu, có thể thay thế được màu nắng vàng và những cơn gió lộng của thời thơ dại. 
 
Vào năm nào anh Dư nhỉ? Hình như dạo ấy, Thuyền mới lên bảy tuổi. Bạn của Thuyền lúc đó còn là con mèo tam thể tên là Mimi. Nhưng con Mimi làm Thuyền buồn chết được, lười biếng, ngủ cả ngày, lại ăn vụng, cả đời chẳng bao giờ biết tắm rửa, chỉ đưa mấy cái vuốt nhỏ xíu vuốt mặt đã tưởng rũ hết bụi bặm của một đời mèo. Có lẽ vì con Mimi mà sau này lớn lên, Thuyền ghét loài mèo kinh khủng. Chính anh Dư cũng không thích giống này mà. Khi anh tới, con mèo Mimi bị ra rìa ngay. Chúng ta thích chuột hơn. Những con chuột mà chị Thố cho là gớm ghiếc, mỗi lần trông thấy tái xanh mặt mũi, lại là đồ chơi chúng ta chuộng nhất, anh Dư nhỉ?
 
Không bao giờ Thuyền quên được hôm anh mới tới. Có lẽ anh vừa ở trong bếp lò ra chăng? Đen thui, bóng nhẩy, hai mắt là hai cục than hồng và đầu tóc, đứng xa, Thuyền cũng ngửi thấy mùi khét lẹt. Chị Thố bịt mũi, còn anh Minh, anh Sơn thì trố mắt nhìn, như trông thấy một con thú lạ kỳ lắm. Người đàn bà đem anh tới có bà con với má, mặt mày chẳng hiền lành tí nào. Thú thật, Thuyền có ác cảm ngay lúc mới nhìn thấy lần đầu. Bà ta để lại anh với những lời dặn dò không mấy tử tế. Sau đó, mấy anh em Thuyền được người lớn giải thích, anh là con lớn của dì Bích, con riêng của dì, đâu với người chồng trước, bây giờ dì phải đi xa với người chồng mới. Chỉ sự bỏ rơi của gia đình dì Bích, đã làm mấy chị em Thuyền xầm xì. Chị Thố hồi đó lên chín, cao giọng: Thằng đó dơ dáy, không chơi. Anh Sơn, mười một, bĩu môi: Thằng này tướng nhà quê, ngu lắm. Anh Minh nặng nề: Nó trông giống thằng ăn cắp ở chợ, coi chừng nó. Dĩ nhiên lời anh Minh được tin tưởng hơn, vì anh Minh mười ba tuổi, lúc đó là cậu cả trong nhà, bắt đầu oai vệ rồi. Riêng Thuyền, Thuyền tò mò lắm. Suốt ngày hôm đó, anh Dư lẩn quẩn dưới bếp không dám lên nhà trên. Thuyền lén xuống nhìn trộm anh hoài. Có lần Thuyền làm quen nhưng anh quay mặt đi. Thuyền đã cáu, nghĩ: chắc thằng cha này ăn cắp thật, sao đứng dưới bếp hoài.
 
Đứng dưới bếp không phải để ăn vụng còn gì nữa. Thuyền ném con Mimi về phía anh. Nhanh như cắt, anh đưa chân ra đá nó cái ứ. Có lẽ Thuyền cũng đau như con mèo bị đá, và Thuyền bế con mèo lên. Nhưng con mèo phản chủ, nó ức Thuyền vì cái ném vừa rồi, cào vào tay Thuyền sước da đau điếng. Thuyền kêu lên, thả vuột nó xuống. Anh dợm bước lại. Thuyền bỏ chạy sau khi ném cho anh một tiếng: Chó. Hằn học.
 
Suốt tuần lễ mới tới, anh chỉ lẩn quẩn dưới bếp để nghe những lời nhiếc mắng của bà Đá. Bà Đá! Khi lớn lên, Thuyền biết thương hại bà ta rồi, vì Thuyền biết chắc chắn bà ta bị quỉ dữ mang về địa ngục. Ít nhất cũng có cả trăm con quỉ rình rập hành hạ bà để lập công với diêm vương. Bà Đá là một người nhà quê hung tợn nhưng làm việc giỏi. Bà kéo hết mấy anh em về phe với bà. Với mấy anh em Thuyền bà phải hầu hạ đủ thứ. Còn anh Dư, bà đâu phải hầu hạ gì. Bà còn nhờ vả anh là đằng khác. Sai vặt đủ thứ, kể cả rửa bát, nhúm lửa. Ở nhà quê, phải chụm lửa rơm và củi khô. Miệng anh Dư đã trở thành cái ống thổi lửa của bà. Anh quì xuống sát đất, phùng má thổi, bụi bay mù mịt. Anh Dư còn phải đập con chuột núp sau đống củi, đào giun cho vịt ăn. Coi như anh Dư làm thay cho bà hết một nửa công việc để bà Đá rảnh rỗi, nghĩ đủ mưu kế hành hạ anh. Chuyện cũng dễ hiểu, Thuyền cảm thấy bà đối với anh Dư rất xa cách, hầu như không có chút liên hệ ruột thịt nào. Nhưng tất cả những điều đó, đối với Thuyền cũng không quan trọng lắm. Thuyền cho như thế là vì Thuyền không về phe kẻ dữ để hà hiếp anh Dư. Năm anh Dư tới, gia đình Thuyền còn ở nhà quê. Ba đưa gia đình về một làng hẻo lánh ở vùng biển. Tuy vậy, gia đình Thuyền vẫn sống cách biệt với làng xóm bên ngoài nhờ được ở trong một khu nhà xưa. Khu nhà nằm trên một ngọn đồi có tường thành bao bọc. Vườn có nhiều cây. Đến bây giờ Thuyền còn nhớ chết người được những cây nhãn mùa hè trái ngọt như đường phèn. Những cây thanh trà, bưởi, những cây chanh tán xòe rộng, thấp, đưa tay với được. Tới mùa, chanh đơm hoa trắng xóa. Nhớ nhất là hai cây sầu đông ở trước sân, những hoa, những quả là đồ chơi của tụi nhỏ. Khu nhà rộng mênh mông, cả gia đình Thuyền chỉ ở hết một góc nhỏ, còn là bỏ không. Những năm đó, tình thế chưa yên ổn để các công sở tổ chức lại. Tòa nhà gia đình Thuyền ở có từ thời Pháp thuộc, nay được sáp nhập vào ngành Công chánh. Ba Thuyền gần như bị đổi về đây để giữ nhà, ông đang tìm đủ mọi cách để được về thành phố. Cả gia đình Thuyền đều chán sống ở đây, không ai có thể hòa hợp với đời sống vùng đồng chua nước mặn này. và anh Dư xuất hiện trong gia đình không hợp cảnh tí nào. Anh là một đứa bé quê đặc. Thuyền còn lờ mờ trong trí nhớ những hình ảnh ở tỉnh thành. Anh Dư thì không. Đối với gia đình Thuyền, anh Dư chỉ là một đứa bé tầm thường, ngu độn nữa là đằng khác. Với Thuyền, lúc đầu, Thuyền cũng nghĩ vậy. Thuyền về hùa với các anh các chị để bắt nạt anh Dư.
 
Thuyền còn nhớ như in, khoảng mười ngày sau khi anh tới, anh Minh và anh Sơn đã bày nhiều trò chơi nghịch ngợm mà anh là nạn nhân. Anh làm bò cho họ cưỡi. Anh bị bôi nhọ nồi làm mọi da đen cho các anh trói đánh, xẻo thịt, nhéo tai. Anh phải giả chết để các anh kéo ra chôn sau độn cát, chừa cái đầu cho anh có mũi mà thở. Thuyền đã cùng chị Thố đi sau lưng các anh, cười, la hét, cổ võ. Ba má không thể biết được những trò chơi tai ác đó, và nếu có dịp nào nghi ngờ thì bà Đá cũng tìm cách xí xóa đi. Anh Dư, Thuyền đã tai ác quá phải không? Và anh hẳn đã có lúc nhìn Thuyền với ánh mắt khinh bỉ, thù hằn. Thuyền đã cười đến bể bụng khi thấy anh bị hành hạ, bị đánh đập, chôn sống, và chính Thuyền đã có lúc cầm nắm cát vãi lên mặt anh, khi anh bị chôn chừa đầu ra ngoài. Anh Sơn bắt anh Dư phải mở mắt để những hạt cát rơi vào, anh nhắm mắt lại. Anh Sơn banh mắt anh ra. Anh nhổ nước bọt vào mặt anh Sơn, oằn người chịu đựng. Ôi, cái con bé tai ác độc địa trong Thuyền may mắn đã có lần chết đi, vĩnh viễn. Để Thuyền nhắc lại nhé. Hôm đó các anh bày một trò chơi mới. Anh Minh, anh Sơn đóng vai tráng sĩ, bắt được tên tàu ô là anh Dư. Đánh đập chán, anh Minh, anh Sơn cột anh Dư vào một cành cây. Sau đó, cả bọn bỏ đi. Nhưng Thuyền, một lát sau, vào buổi trưa, Thuyền tò mò chạy ra xem. Anh Dư đã mệt lả, mặt đen xì, hai mắt như lạc đi vì nắng, vì đói. Giữa lúc đó, Thuyền nghe bước chân đến gần. Thuyền núp vào một bụi cây. Bà Đá đi ra. Thuyền nghĩ là bà đem cơm cho anh Dư, và chắc bà sẽ mở trói cho anh. Nhưng lạ lùng chưa, bà gọi: Ê, thằng mọi biển. Mày thấy tao không? Và bà cười sặc sụa, cười như điên dại: Cho mi chết, mi phải chết. Tao thù mi tận xương tủy mi biết không? Mi dám nói quỉ ám tao há? Ha ha, ừ, tao là quỉ. Và bà cúi xuống lượm đá chọi anh Dư. Thuyền mở lớn mắt nhìn cảnh hãi hùng đó. Phải, lúc đó Thuyền kinh khiếp quá. Bà Đá không có vẻ gì là người mà như một con quỉ sống. Tự nhiên Thuyền cảm thấy sợ hãi. Dám bà này sẽ giết anh Dư lắm. Tim Thuyền càng đập mạnh hơn khi thấy bà Đá tháo đầu dây buộc, vắt một đầu dây lên cành cây cao, kéo tuốt anh Dư lên, rồi lại thả dần anh xuống, xong lại kéo lên. Mỗi lần xuống gần tới đất, anh Dư đều đưa hai chân đạp vào mặt bà Đá. Bà bị trúng một hai cái và cơn điên của bà bùng lên dữ dội. Bỗng dưng trong tâm hồn non nớt của Thuyền đau nhói, xót xa. Và bất thình lình, Thuyền nhảy ra bá vào cổ bà Đá. Thuyền đánh đu, cắn mạnh vào tay bà. Thuyền nghiến răng, cố hết sức nhay mạnh. Bà Đá rú lên, buông tay. Sợi dây tuột xuống và anh Dư rơi đánh bịch. Thuyền đã bị bà Đá hất ra, nhưng cứ xông bừa tới. Bà Đá nhìn Thuyền, ánh mắt vừa giận, vừa lạ lùng, rồi cút mất.
 
Khi quay lại, Thuyền còn nhớ mãi khuôn mặt anh Dư lúc đó. Anh nhìn Thuyền. Chao ơi là mắt. Mắt nghi ngờ. Mắt đề phòng. Mắt sợ hãi. Thuyền muốn tiến tới gần anh, mở dây cho anh nhưng sao Thuyền sợ quá. Và vì sợ, Thuyền đã run lẩy bẩy. Cuối cùng Thuyền chảy nước mắt. Anh Dư có vẻ dịu đi. Lúc đó, anh đã hết ghét Thuyền rồi phải không? Anh để yên cho Thuyền mở dây trói, nhưng anh không nói với Thuyền một lời nào. Xong xuôi, anh ném cho Thuyền một cái nhìn không tình cảm, bỏ chạy mất.
 
Thú thật với anh Dư. Lúc đó, Thuyền thương anh kinh khủng. Thuyền tự hứa sẽ không bao giờ nghịch ác với anh, làm hại anh. Thuyền sẽ binh vực anh. Nhưng loay hoay mãi mấy ngày, Thuyền không có dịp để gặp anh, nói chuyện với anh được. Mãi sau, Thuyền rình anh, thấy anh chui ra khỏi khu vườn bằng một cái ngách nhỏ kín đáo trong một bụi cây rậm. Ở nhà ta cổng luôn luôn khóa. Anh Minh, anh Sơn có thể trèo cửa sau để ra bãi cát, rồi ra mấy cái đầm nước phía sau vịnh. Chị Thố cũng theo các anh được, còn Thuyền thì không. Chân Thuyền quá bé. Nhưng khi khám phá ra cái ngách của anh Dư thì thế giới bên ngoài không còn xa lạ với Thuyền nữa rồi. Thuyền đi theo anh, cách một khoảng xa, và thấy anh hẹn với một thằng nhỏ chăn trâu. Thuyền biết tên thằng bạn của anh. Thằng Nghiệp. Anh với nó có nhiều trò chơi vui quá. Bắt cá, đào khoai. Thuyền mê món khoai nướng của anh. Anh đào trộm khoai, vùi xuống cát và đốt lửa ở trên. Khoai chín thơm phức. Lúc đầu, anh không thèm để ý tới Thuyền. Anh biết Thuyền đi theo mà làm như không biết. Khi thằng Nghiệp phát giác báo động với anh, anh lặng thinh. Thuyền còn nhớ như in lời thằng Nghiệp: Đuổi con nhỏ này đi. Nó cũng độc ác như anh chị nó. Và thằng Nghiệp cầm que xua đuổi Thuyền. Thuyền òa khóc. Anh đứng dậy nắm tay Thuyền dắt lại chỗ nướng khoai. Có lẽ chưa bao giờ Thuyền ăn được củ khoai ngon tới như thế. Buổi tối hôm đó, Thuyền đã giấu một cái bánh ngọt đi tìm anh Dư để đưa. Vất vả lắm, Thuyền mới tìm ra anh. Anh đang rình gì sau đống củi. Thuyền chết khiếp được khi thấy anh bắt một lô chuột con còn đỏ hỏn. Suýt tý nữa thì Thuyền đã hét lên. Anh Dư làm dấu:
 
- Suỵt.
 
Thuyền vẫn bưng lấy mặt.
 
Anh Dư làm dấu Thuyền đi theo.
 
Anh đi ra góc vườn. Vườn tối thui. Anh Dư có một hộp quẹt. Anh quẹt một cây soi đường. Đi được một đoạn nhỏ lửa tắt, cả hai dừng lại. Thuyền vấp rễ cây, vấp mô đất, đá, nhưng Thuyền không dám đi gần anh, níu anh vì quá sợ những con chuột đỏ hỏn. Cuối cùng anh dừng lại. Thuyền mở mắt nhìn những hang hốc anh làm bằng gạch, bằng đá, bằng ngói. Lần đầu tiên Thuyền thấy anh cười với Thuyền. Nụ cười của anh làm xóa hết những nét dữ dằn trên mặt. Anh ra dấu cho Thuyền ngồi xuống.
 
- Anh làm gì đó anh Dư?
 
- Làm hang nhốt chuột.
 
- Nhốt chi vậy?
 
- Chơi.
 
- Anh nuôi chuột hả?
 
- Ừa.
 
Anh bỏ những con chuột đỏ hỏn vào miếng vải lót ở trong hang rồi quẹt diêm thắp một cái tim đèn nhúng trong dĩa dầu. Anh ngồi che về phía gió cho tim đèn khỏi tắt, rồi anh xoa hai tay, ngó lũ chuột lúc nhúc. Thuyền cũng lần mò tới gần, ngồi chồm hổm bên anh. Thuyền đã thấy bớt sợ hãi, và dưới ánh đèn đỏ mù mờ, cô chăm chú nhìn những chiếc mõm chuột nhỏ xíu, những thân hình non nớt, trong suốt, da căng một màu hồng đỏ, mắt nhắm kín. Mấy chú chuột con bò lổm ngổm, đụng vào nhau té lăn quay. Bỗng nhiên Thuyền cười thành tiếng.
 
- Thích không?
 
- Anh không gớm hả?
 
- Có gì mà gớm.
 
- Anh để thế này lỡ con Mimi bắt ăn tội chết.
 
Anh Dư tỏ vẻ khinh bỉ:
 
- Con đó lười thối thây. Với lại còn lâu nó mới biết có chuột ở đây.
 
Anh lấy một viên gạch lớn đậy miệng hang lại. Thuyền kêu:
 
- Nó chết ngạt.
 
- Nó có chỗ thở đây này.
 
Anh Dư chỉ trên nóc hang, có chừa lỗ thông hơi nhỏ. Thuyền lấy cái bánh ngọt ra dúi vào tay anh Dư. Anh dẫy nẩy, suýt nữa cái bánh rơi xuống đất.
 
- Chi?
 
- Bánh.
 
Anh Dư làm thinh. Thuyền nói mau:
 
- Anh ăn đi. Thuyền để dành cho anh đó.
 
Anh Dư lắc đầu. Thuyền buồn ghê. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ anh Dư muốn thân thiện với Thuyền. Thuyền nhét vào tay anh lần nữa.
 
- Ăn đi mà.
 
- Không.
 
- Không thì vất đi vậy. Anh vất đi.
 
Câu nói hờn dỗi của Thuyền làm anh ngần ngại. Rồi anh cười nữa.
 
- Thôi, cho chuột ăn nghen.
 
Thuyền không nói gì. Anh lật viên gạch ra, soi đèn vào hang. Anh bẻ từng miếng bánh bỏ vào. Lũ chuột vẫn bò lúc nhúc, bò lên cả bánh mà không biết. Anh nói:
 
- Để mai mốt nó mở mắt được nó ăn. 
 
Anh lại chồm hổm ngắm bầy chuột một cách thích thú. Thuyền hỏi:
 
- Anh mới nuôi hả?
 
- Nuôi lâu rồi.
 
Thấy Thuyền có vẻ không hiểu, anh giải thích:
 
- Mấy lần trước làm hang không kỹ, chuột mẹ tới tha đi hết trơn.
 
- Lần này nó cũng tha cho coi.
 
- Sức. Lần này làm hang kỹ lắm.
 
- Anh Minh anh Sơn có biết anh nuôi chuột không?
 
- Không.
 
- Biết mấy anh phá cho coi.
 
Anh Dư làm thinh, như không muốn nghe chuyện mấy người đó. Thuyền tiếp:
 
- Chị Thố sợ chuột.
 
Anh vẫn chăm chăm nhìn vào hang. Thuyền tức giận. Giận lắm chứ, khi anh chỉ chú ý tới mấy con chuột mà không nghe Thuyền nói. Tính ác trong lòng Thuyền nổi dậy. Được rồi, sáng mai đem con Mimi cho nó ăn thịt hết. Không cần, chỉ cho các anh biết phá chơi. Thuyền bặm môi:
 
- Mai mét anh Minh. Anh ấy tới phá cho coi.
 
- Hử?
 
Anh đứng dậy, nhanh như cắt. Để làm gì? Thuyền không hiểu Thuyền có ý định đó hay nói chơi cho hả giận vậy. Anh ngó Thuyền, ánh mắt tối sầm. Tối thui luôn. Anh Dư đá ngọn đèn tắt câm. Thuyền nghe tiếng chân anh bỏ đi. Hoảng hốt, Thuyền đưa tay chụp, nhưng Thuyền chỉ chụp khoảng không. Trong khi đó, gió như đưa tay ai tới chờn vờn trên cổ, trên tóc. Thuyền bật khóc lớn.
 
Một que diêm lóe lên. Anh Dư trở lại. Anh nắm lấy tay Thuyền lôi đi. Cây diêm le lói rồi tắt. Thuyền chìm nghỉm trong bóng đêm dày. Thuyền không biết đường lối, tay bị kéo đi, chân giẫm trên đá, trên rễ cây. Nhưng Thuyền không sợ nữa. Thuyền biết chắc anh Dư sẽ đưa Thuyền vào tận nhà. Nếu anh không đưa Thuyền đi, nếu anh giận Thuyền, bỏ luôn Thuyền ngoài vườn chắc Thuyền sẽ sợ tới chết đứng. Trong đêm biết bao nhiêu ma quỉ. Trong vườn lại có nhiều rắn, nhiều con sâu róm đầy lông đen thui. Đụng phải nó ngứa gãi chết được. Anh Dư có thù ghét gì Thuyền đâu nào. Thuyền không thể không nói ra những ý nghĩ đang ở trong đầu.
 
- Anh Dư. Thuyền không mét ai hết.
 
Anh không nói gì.
 
- Anh cho Thuyền chơi với anh nghe, nghe.
 
Vẫn im lặng. Thuyền độc thoại:
 
- Chơi nướng khoai. Chơi đánh giặc. Đi bắt còng. Nghe, nghe. Thuyền nghỉ chơi anh Minh, anh Sơn đi. Chị Thố cũng ác.
 
Thuyền nhớ chuyện chị Thố đổ lỗi cho anh Dư ăn vụng chuối. Anh Dư bị đòn. Thuyền tiết lộ:
 
- Hôm nọ chị Thố ăn chuối vứt vỏ sau vườn, đổ cho anh. Chị Thố nói anh cắt râu con Mimi để nó không bắt chuột được. 
 
Anh Dư. Chuyện cắt râu con mèo Mimi có thật phải không? Anh cắt râu con Mimi là vì lũ chuột. Sau này anh thú thật với Thuyền điều đó, và Thuyền đồng ý: Từ nay, loại con Mimi cho rồi, nó đã mất râu, trở thành một con vật vô dụng.
 
Anh bỏ Thuyền ở hàng hiên, nói: Đó, có đèn sáng rồi, vô nhà đi. Nhưng Thuyền còn níu lấy anh, xin thêm một chuyện.
 
- Sáng mai, cho Thuyền đi thăm chuột với nhé. Nhé. Thuyền sẽ để dành một quả chuối.
 
Sáng hôm sau, tưởng anh Dư không nhớ. Nhưng anh đã kéo Thuyền ra góc vườn. Hang hốc đã bị phá tung. Lũ chuột đã được chuột mẹ tha đi mất. Những mẩu bánh cũng không còn. Anh Dư ngẩn ngơ: Kỳ thiệt. Hang chắc vậy mà nó cũng tha đi được. Chán chuột chưa? Thuyền trả lời cho anh là chưa. Trò chơi bắt chuột còn lâu lắm cho tới khi trong nhà khám phá và cấm. Nhưng ăn thua gì anh Dư nhỉ? Còn cả trăm nghìn trò chơi vui hơn. Chỉ lo không đủ thì giờ thì có.
 
Anh Dư. Từ hôm đó, anh đã hết ghét bỏ Thuyền. Còn Thuyền, Thuyền dám nói Thuyền đeo anh còn hơn đeo mẹ nữa. Sao Thuyền dám nói thế nhỉ? Vì sao hả anh Dư? Vì anh, vì anh đó , vì anh và những ngày thơ dại tươi vui, triền miên không bao giờ dứt. Thật đó. Thuyền còn tiếp tục chuyện anh nữa.
 
 
NHÃ CA                
(Ngày đôi ta mới lớn, trích)   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 128, tuần lễ từ 19-4 đến 26-4-1974) 
 

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

MÙA HÈ CỦA BÉ - Nhã Ca


Theo anh Phong, để báo hiệu mùa hè, ở miền Trung, phượng nở đầy đường và ve kêu rộn rã. Khúc nhạc ve thì sầu thảm lắm, buồn ơi là buồn. Có thế, người ta mới gọi là ve sầu. Ở Sàigòn, khác hẳn. Để báo hiệu mùa hè, những chú dế ở đâu không biết, xuất hiện như giặc tới. Ngoài đường, dế kêu inh ỏi suốt đêm. Trong nhà, cũng có những chú dế nhờ nội tuyến, lọt vào, trổ tài ca hát ầm ỹ, làm nhức óc không chịu nổi.
 
Kẻ nội tuyến ở đây là thằng Bím. Chẳng là, anh chàng có những mùa chơi. Mùa đánh bi. Lúc nào trong túi anh chàng cũng đầy nhóc những hòn bi đủ màu, trong suốt. Bi rơi đầy nhà. Bi bừa bãi đến gây tai nạn. Rồi tới mùa chơi diều. Ông Bím thấy tụi trẻ con làm diều, khoái lắm. Lúc đầu, ông chờ có con diều nào lạc, rơi mắc ở cành cây, ông khèo xuống. Dao kéo chi trong nhà cũng mẻ hết. Ông làm con diều nào trông cũng thảm lắm cơ, và ông lấy ống chỉ của mẹ ra cột. Ông chạy diều không bao giờ bay lên cao, mà chỉ là là mặt đất. Ông chán những con diều bướng bỉnh rồi. Và bây giờ, kinh khủng nhất là mùa dế.
 
Bắt tội Bố, trưa nào nắng chang chang, phải lái xe đến tận Chợ cũ tìm mua dế cho Bím. Ông trở về, với những hộp, những lon. Bím hí ha hí hửng. Vừa vô tới nhà đã toáng cả lên:
 
- Tóc. Ai làm ơn cho xin sợi tóc đi.
 
Nói là xin xỏ, nhưng vừa trông thấy Bé, nó đã chạy ào tới vít đầu Bé xuống. Bé chưa hiểu gì thì bứt, bứt, đầu Bé đau nhói, mấy sợi tóc bị đứt bung. Đau quá, Bé nổi cục, tóm lấy thằng Bím, cốc vô đầu nó mấy cái. Đau phải biết, cho lần khác phải nhớ. Nhưng thằng Bím coi như chẳng thấm vào đâu. Nó đem mấy cái lon, cái hộp, chạy lui chạy tới, rồi chúi ở một góc nhà. Con Tí xoắn lấy:
 
- Đâu, đâu, cho chị coi với.
 
Thằng Bím đưa tay che lại:
 
- Hổng được nghen. Lớ xớ nó đi mất. Để nó cho em.
 
Rồi nó ba hoa:
 
- Xời ơi. Trên Chợ cũ nhế nhiều ơi là nhiều. Nhế cơm, nhế lửa, nhế cánh đen, nhế cánh xanh.
 
- Nhế nhế cái gì. Dế nghe chưa.
 
- Thì nhế. Nhế.
 
Con Tí bật cười. Lân cũng đứng coi, nhưng làm ra vẻ ta đây người lớn rồi, không thèm chơi dế nữa. Làm ra vẻ vậy, nhưng ai không biết là anh chàng thích mê đi. Cả Bé đây này, thấy mấy con dế cũng thích quá trời. Và Bé ngồi xuống bên cạnh chàng Bím:
 
- Cho chị coi với.
 
- Coi thôi nghe.
 
- Ừ.
 
Thằng Bím mở hộp ra, Bé chỉ thấy mấy con dế lấp ló, rồi nó đậy nắp hộp lại. Rồi nó đứng dậy.
 
- Đừng có ai đụng vô nghe. Cấm nghe. Để em đi lấy cỏ cho nó ăn. Ủa mấy sợi tóc đâu rồi. Mới đây...
 
Nó cúi tìm, nó xô con Tí, xô Bé, xô Lân. Nó bò giữa nhà. Nó thấy cái quạt trần quay, nó đổ tội cho cái quạt:
 
- Khỉ. Quạt mất hết rồi. Bay mất tóc rồi. Chị Tí, đền em đi.
 
- Tao vặn quạt bao giờ.
 
- Không biết. Chị Bé đền em đi.
 
- Tao đập chết giờ.
 
- Không cần, lấy tóc mẹ.
 
Bầy dế của thằng Bím chỉ tới chiều là thảm thiết lắm rồi. Con gẫy cánh, con đứt râu, con thì bò không nổi vì chỉ còn độc nhất một cái chân, và tới tối, chỉ có chú dế độc cước, là con thoi thóp thở. Lúc mười một giờ, lúc cả nhà đang coi Ti vi, gần tới đoạn chót một vở tuồng thì thằng Bím hét lên dãy đành đạch:
 
- Tao không cho mày chết. Nhế. Nhế. Mày có sống lại không? Hu Hu. Tao hổng cho mày chết. Hông, hông à nhe...
 
Đầu tiên, mẹ tưởng con dế cắn mổ gì thằng Bím. Lát, mới biết là con độc cước đã mệt đừ, hấp hối. Thằng Bím còn cột sợi tóc ngang mình con dế, và cố quay. Nó vừa quay vừa khóc:
 
- Bố ơi. Nó hổng chịu xòe cánh nữa. Nó lì. Nó nhất định chết. Con nhế, con nhế... hu hu...
 
Anh Phong dỗ dành:
 
- Nó chết rồi, còn xòe cánh gì nữa. 
 
Và anh bảo Bím thả con dế xuống, anh bế Bím lên:
 
- Được rồi. Để mai anh mua con khác cho. Thiếu gì. Anh bày cho Bím cách làm cho nó nổi hung đá nhau. Nuôi dế khó lắm, phải biết cách nó mới sống được.
 
Thằng Bím chùi nước mắt:
 
- Mai. Mai anh nhớ nghe. Anh nhớ mua nhé.
 
- Xong rồi. cho anh chơi dế với nghe.
 
- Chỉ cho anh Phong chơi thôi.
 
Bé vừa buồn cười vừa thấy tiếc. Ước chi Bé cũng có mùa chơi dế như thế. Bây giờ thì đã muộn. Thấy anh Phong cưng chiều thằng Bím, Bé ham ơi là ham. Ngay sáng hôm sau, anh Phong có giờ nghỉ, anh vội đưa thằng Bím đi mua dế.
 
... Từ lúc anh Phong tham dự trò chơi này thì Bé cũng được thằng Bím gật đầu cho vô đảng.
 
Sở dĩ như vậy là vì Bé có đầu tóc tốt. Anh Phong nói tóc Bé dài lắm, lại mướt, dùng để cột dế là nhất. Lân thấy phe này đông quá, cũng muốn kết thân. Mười một giờ đêm, Lân còn tha thẩn ngoài cột điện để chụp dế. Lân bắt dế rất tài, chỉ có hai đêm, Lân đã có mười mấy hộp đựng dế, con nào cũng bự không. Lân gạ:
 
- Bé thích chơi dế không?
 
- Thích chứ.
 
- Lân có nhiều dế lắm, Lân cho Bé nghe.
 
Bé vui vẻ nhận. Nhưng khi đem dế của Lân cho nó đá với dế của thằng Bím, anh Phong và Bé đã có dịp cười ngất. Anh Phong vừa phát minh ra một phương pháp kình cho dế nổi đóa mà vẫn tiết kiệm được tóc cho Bé. Anh lấy một khúc tre nhỏ, dài gấp hai và to gấp ba cây tăm. Anh sai Bé đi lấy đèn cầy, anh hơ đèn cầy chảy, cắt những sợi tóc cho ngắn đi, xếp lại lấy sáp ướp bắt dính những sợi tóc vào cây tăm tre. Xong anh có cái chổi tóc nho nhỏ. Cái chổi này đem quét quét vào râu, vào đầu, miệng của dế, các chú dế nhột, nổi đóa đá nhau ngay. Phương pháp này nhàn hơn, giữ sức khỏe cho dế hơn là cột tóc mà quay tít mù. Anh Phong đặt hai chú dế vào một cái hộp lớn:
 
- Coi dế của Bé với của Bím, con nào thắng nghe.
 
 
NHÃ CA        
(bé yêu, trích)    
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 133, tuần lễ từ 24-5 đến 31-5-1974)
 
 
 

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

CHỦ NHẬT TRẮNG - Nhã Ca

 

Buổi trưa hôm nay đúng là trưa buồn nhất trong tuần lễ. Hình như có đứa bạn nào đã nói với Vành Khuyên một câu rất bóng bẩy : Ngày chủ nhật trắng. Đúng thật, như trưa nay, trong hồn cô bé có một nỗi buồn trắng trong nghĩa là chả có gì để buồn hết mà cứ buồn. Ăn cơm trưa xong, giúp chị Quyên dọn dẹp chén bát, rồi mọi người đi nghỉ trưa hết. Vành Khuyên cứ tha thẩn đi ra đi vô mãi làm chị Quyên sốt ruột, đang nằm ở giường, chị ngóc đầu dậy:

- Mày có đi ngủ không Khuyên. Làm gì vậy?

Khuyên trả lời rất ngây thơ, mà cũng tại cô bé chả biết trả lời câu nào khác hơn nữa:

- Em làm gì đâu.

- Không học bài thì đi ngủ, chớ đi ra đi vô nghe cậu sinh viên đánh đàn đầu xóm hả?

Khuyên vui thích:

- Em mê tiếng đàn rồi chị ơi.

Chị Quyên ngồi hẳn dậy, mở mắt trừng trừng ngó con bé, rồi khi đã xem xét thấy con bé vẫn còn nhỏ, chưa có gì đổi khác hơn, chị cau mày:

- Nè, bỏ cái giọng đó đi chớ không ăn đòn nghe. Con nít mà nói bậy bạ.

Khuyên tới nơi bàn học ngồi xuống, cô bé để hai bàn tay lên bàn rồi ngắm hai bàn tay. Một lúc cô lại mở ngăn kéo. Nghe tiếng động, chị Quyên lại càu nhàu:

- Trời đất. Mày làm ầm ầm ba ngủ không được là mày lãnh đủ nghe.

Lúc này cả nhà ngủ hết trên căn gác nhỏ ở đằng sau bếp. Có chị ngủ không được rồi chị cáu thì có. Khuyên nghĩ thầm: Coi bộ chị đang mơ mộng, chị muốn thiệt yên tĩnh để mơ mộng. Ừ, chuyện chiếc guốc phiêu lưu của chị. A, buồn cười quá. Người đàn ông có cái đầu tròn như đầu guốc, có cái mồm dài như quai guốc và cái bụng dài, lép kẹp. Bồ chị Quyên đó. Khuyên phì cười. Lần này thì chị Quyên hết chịu nổi:

- Khi không là cười, có duyên dữ. Con gái gì đâu...

Khuyên lại lục ngăn kéo nữa. Cô bé muốn tìm kiếm vật gì đó nhưng cô muốn kéo dài sự tìm kiếm để giết thì giờ. Gặp cuốn vở Khuyên cũng lôi ra giở một vài tờ rồi khép lại, bỏ xuống, lôi lên vật khác ngắm nghía, đến cây bút nguyên tử Khuyên cũng mở nắp ra để không làm gì hết rồi cẩn thận đậy lại. Một vài đồ vật dễ thương ở trong ngăn kéo cũng được Khuyên cầm đến vuốt ve. Cái gương con, cái lược, con búp bê Nhật nhỏ xíu, cái hộp nhỏ được cột nơi vòng để xâu chìa khóa, khi lên giây thì ngân lên một điệu đàn thánh thót, kỷ niệm một sinh nhật mới đây của Khuyên, của một người bạn trai của chị Quyên tặng, mới ngày vui đó mà đi biền biệt rồi, cả người tặng quà cũng đi đâu mất, mỗi lần Khuyên hỏi chị Quyên, chị càu nhàu: Không biết, mà mày hỏi làm chi vậy? Biết hỏi làm chi đâu, nhưng vật hắn cho còn đây, khi cầm tới thì cũng nhớ lại vậy thôi, cái lối trả lời của chị đó kỳ cục khỏi chê đi.
 
Còn cái gương con xinh xắn bọc bạc chạm trổ, bỏ gọn trong tấm nỉ mầu hồng nhạt này nữa, cái này thì không ai tặng Khuyên hết mà của chị Quyên, món quà của anh Hạo tặng chị ấy, coi bộ chị không thích anh này mấy, nên khi thấy Khuyên thích là chị cho ngay : Cho mày đó, báu gì thứ đó, cất đi. Khuyên còn nhớ mãi nguyên văn câu nói của chị, vì lúc đó Khuyên thật ngạc nhiên. Ai ngờ chị cho dễ dàng như vậy được. Khuyên cầm lên soi mặt, cô bé chăm chú nhìn cái môi cong của mình rồi mỉm cười, cô vui lắm vì cô vừa tặng cô một nụ cười thật đẹp. Và vô lẽ ngồi ngắm cái môi cong của mình mãi, Khuyên cất gương đi, rồi đậy ngăn kéo lại.

Vật mà Khuyên tìm lại đang nằm lăn lóc trên bàn. Trái vũ cầu vẫn còn bọc trong giấy ni lông. Khuyên đẩy trái cầu tới trước mặt và nhìn nó, đôi mắt dịu dần, chìm đắm trong mơ màng. Uổng quá, trái cầu chưa một lần được tung lên. Từ hôm đó tới nay cũng đã năm sáu tuần lễ gì rồi. Sau vụ mấy đứa bạn bị hốt đưa lên văn phòng, cuộc chơi này bị bỏ hẳn, mấy con nhỏ thiếu may mắn bị phạt khá nặng, và hình phạt nặng nề nhất là bị gửi giấy về báo cho phụ huynh. Eo ơi, nếu mà Khuyên bị như thế thì chắc chết mất. Chả dám chơi trò đó nữa, nhưng tiếc làm sao.

Những buổi trưa nắng bên ngoài cổng trường như đang bao vây cô nhỏ. Trưa chủ nhật thật vô vị, Khuyên có thói quen đi học sớm để chơi bên ngoài cổng trường. Một buổi trưa ở nhà như thế này thật bó giò bó cẳng. Khuyên nhớ những con đường quanh trường chi lạ. Bác cảnh sát hôm nay chắc buồn nghe, bác nhớ sự rộn ràng của trưa áo trắng ghê gớm lắm chứ, chẳng thế thì tại sao cứ mỗi ngày thứ hai, Khuyên thấy quần áo bác trắng tươi, chỗ bác đứng sáng hơn, và tiếng thổi roét roét hăng hơn trưa thứ bẩy nhiều. Bác có thấy mình đứng với các ông lính hôm nọ không vậy cà? Bác thấy, chắc bác mất bớt cảm tình dành cho mình đi. Khuyên đưa tay cầm trái vũ cầu. Một cái miệng tươi sẵn nụ cười, một đôi mắt với hàng mi thật dài, thật xanh lại lởn vởn trước mắt Khuyên. Đuổi nó đi, hắn vô duyên quá mà, trái cầu chẳng còn để làm chi cả. Cô bé nhớ tới lời nói của hắn: Để viết thư mà viết nói gì vậy? - Chán gì chuyện để nói. Có nhiều chuyện lắm, bảo đảm mà. Khuyên trề môi: Đồ xạo. Thư gì đâu. Đồ xạo. Ừ, lấy tên là xạo đi. Khuyên bỗng bật lên tiếng cười.

- Khỉ ơi. Điên rồi hay sao vậy?

- Khuyên che miệng quay lại nhìn chị. Đôi mắt chị Quyên như đang bốc hơi mà cái mặt của chị đang tràn cơn giận. Khuyên le lưỡi làm mặt xấu nửa như tỏ vẻ sợ nửa như trêu thêm.

- Mày đi nằm ngủ đi. Trưa nào ở nhà là cặm cụi phá tán. Đi ngủ.

Khuyên bỏ trái cầu lên bàn, làm cái mặt ỉu xìu leo lên nằm bên cạnh chị. Bắt được Khuyên lên nằm rồi, chị Quyên có vẻ yên tâm, quay mặt đi ngủ tiếp. Khuyên cũng nhắm mắt, nhưng không ngủ được. Mình có ngủ trưa bao giờ đâu, mà ngủ trưa rồi quen đi, tới giờ vô lớp là rục ra thì nguy quá. Cô nhắm mắt được một phút rồi lại mở mắt ra, lén nhìn chị. Rồi buồn quá cô bé lại trở mình, khi cô quay mặt vào trong vách, khi cô quay mặt vào mái tóc chị Quyên, tóc chạm vào má, vào gáy buồn thấy mồ, cô bé lại nhúc nhích. Quyên trở người nằm ngửa, chán đến độ không muốn càu nhàu nữa, nhưng Khuyên biết chị còn thức.

Khuyên nhớ tới những khám phá được về chị. Bây giờ Khuyên đã biết về chiếc guốc của chị Quyên rồi. Mới đây này, Khuyên rình theo được chị Quyên, thấy buổi tối chị đi ra ngõ, tới dọc đường chị gặp chiếc guốc của chị. Chị có một chiếc guốc sơn đen. Cười quá đi, cái anh chàng tặng chị cuốn Những giọt mực là một ông lính, chắc cũng sĩ quan, mà Khuyên nhận ra có biết gì đâu, chỉ biết hắn là đồ nhà binh, hắn có dáng người hơi đẫy, chắc chắn là da xạm đen. Khuyên bèn nghĩ ngay tới một chiếc guốc sơn màu đen. Ai bảo hắn tự xưng là chiếc guốc. Khuyên bỗng tò mò, muốn hỏi chuyện chị, cô bé không biết đánh thức chị bằng cách nào, cô giả vờ ho khúc khắc, giả vờ một lúc cũng chảy nước mắt thật.

- Mày làm gì vậy?

- Em ho.

- Chán chưa. Ai giễu với mày đâu, cái con này.

Khuyên biết chị làm bộ gắt gỏng nhưng chị đang giấu nụ cười. Khuyên vừa liếc mắt bắt gặp nụ cười đó rồi. Cô bé yên tâm, biết là mình đã tới lúc gợi chuyện được.

- Chị Quyên nè, chị đã đọc cuốn Những giọt mực chưa?

- Gì?

Chị quay hẳn mặt qua để ngó Khuyên, ánh mắt chị ngạc nhiên, có nét thất sắc. Biết ngay mà, Khuyên làm bộ cười rất ngây thơ:

- Chị phải kiếm mà đọc. Hay lắm.

- Mày đọc bao giờ vậy?

- Em vừa, lâu rồi, mấy tuần rồi chị.

- Bộ mày mua đó Hả? Nè, liệu mà xin tiền mua tiểu thuyết đọc, tao mét ba cho coi.

- Đâu phải tiểu thuyết. Cuốn đó mà chị nói là tiểu thuyết. Mà cũng tiếc quá, giá tác giả lồng vào truyện một mối tình thì đẹp hơn, một mối tình của đồ vật, như mối tình của đôi guốc ly kỳ hơn một chút thì hay biết bao.

Đạp phải đuôi chị Quyên rồi, và chị ngóc đầu lên, vẻ dọa nạt nhưng để giải thích cho sự ngờ vực của chị nhiều hơn:

- Nè mày còn nhỏ mà bày đặt nói chuyện tình yêu chi vậy? Mày có cuốn đó không đưa tao coi thử chút xem sao?

Khuyên làm bộ tiếc rẻ:

- Em trả cho tụi bạn mất rồi. Để mai mốt em mượn cho.

Chị Quyên chẳng chú ý gì nữa, chị nằm trở xuống, giọng chị vui vẻ hẳn:

- Thôi để tao cho tiền mua một cuốn. Mày sao còn nhỏ mà bày đặt quá.

Khuyên láu táu:

- Để em kể chị nghe. Truyện có nhiều đồ vật lắm nhưng em kể đoạn về đôi guốc... Một đôi guốc chị ạ, cũ mèm. Mình cứ coi chúng nó như một cặp tình nhân đi, chắc đôi tình nhân này xấu lắm vì đôi guốc cũ quá rồi, sứt quai cả chục lần, mòn vẹt như đôi guốc của em vứt ở gần tủ... đôi tình nhân xấu như vậy mà chung tình mới cảm động phải không chị Quyên.

Thiếu điều chị Quyên đấm ngực kêu trời, nhưng chị cố gắng nhỏ nhẹ:

- Tao biết rồi, đừng kể nữa.

- Ừ.

Khuyên mỉm cười lí lắc nhưng làm bộ càu nhàu:

- Vậy mà hồi nãy la em, bảo là tiểu thuyết.

Chị Quyên phì cười:

- Thì mày vừa bày đặt biến thành tiểu thuyết đó chớ gì nữa? Phải hôn? Thôi, nói chuyện khác đi.

Khuyên biết nói chuyện gì nữa giờ. Ngẫm nghĩ một lát, Khuyên nói:

- Ở nhà chị có nhận được thư của tụi bạn em gửi cho em không?

Bày đặt thư từ chi vậy? Ba đập chết nghe không?

Khuyên cắn môi, rồi buột miệng:

- Em có con bạn ở xa lắm, khi nào nó gửi thư chị cất cho em.

- Ừ.

- Chị thấy thư của ai tên Xạo thì cất cho em.

Chị Quyên không nhịn được, quay lại. Chị muốn cười nhưng ngạc nhiên quá không cười nổi nữa.

- Con gái mà tên Xạo. Trời đất.

- Dạ. Xạo mà. Xạo là biệt hiệu của nó. Nó tên thật là Hoa Rừng. Mấy cái con nhỏ này khùng điên gì đâu. Còn nghe nó nói nữa chắc loạn óc với nó mất. Cô chị lớn giọng:

- Thôi im đi. Không có giỡn à nghen.

- Em nói thiệt. Giỡn gì đâu.

Cô bé bắt gặp đôi mắt của chị, hơi ngán. Hình như chị Quyên đang nghi ngờ gì mình. Dám nói thêm vài câu, mình hớ hênh bật mí hết lắm. Chị Quyên mà biết được chị mắng cho xấu hổ chết luôn. Ngu quá đi Khuyên ơi, mày là một con bé ruột để ngoài da mất rồi. Phải đánh tan ánh mắt hoài nghi của chị đi mới được. Kìa chị nhíu mày, hồi hộp ghê.

- Mày làm sao vậy, Khuyên? Mày có điên không?

Điên? Không, mình đâu có điên. Còn tỉnh đàng hoàng mà. Khuyên lại phải giương đôi mắt lên nhìn chị, nói và cười thầm sự giả bộ ngây thơ của mình:

- Dạ không. Em đâu có điên.

- Xí xọn.

Chị Quyên chán ngán quay mặt đi. Chị nhắm mắt liền làm như còn trông thấy cái mặt của Khuyên thì phát cáu, chịu không nổi vậy. Khuyên cười thầm, rồi ma quỷ gì xui hỏi thêm một câu lãng nhách:

- Chị ngủ chưa chị Quyên?

- Chưa.

- Chị ngủ hả?

- Ừ.

- Em cũng ngủ đây.

Đố ngủ được đấy. Có trưa nào mình ngủ được đâu. Mà trừ ngày chủ nhật, có trưa nào rỗi để ngủ. Cô bé nằm thao thức nhớ đủ chuyện, hai chân cứ thấp thỏm muốn ngồi dậy mà sợ chị Quyên biết. Phải đợi cho chị ngủ say đã, gắng nằm chịu trận thêm một lúc nữa đi Khuyên ơi. Đôi mắt Khuyên vẫn mở thao láo, vậy mà Khuyên thấy hết. Khuyên thấy rất rõ những buổi trưa ở bên ngoài cổng trường. Những buổi đánh vũ cầu qua hẳn rồi. Bung bung, trái cầu tung qua tung lại đẹp mắt biết bao nhiêu. Rồi khuôn mặt của bà giám thị. Bà giám thị không bao giờ đẹp bằng các cô giáo. Hình như bà giám thị nào cũng dữ, làm như không dữ thì không bao giờ được làm giám thị vậy. Vũ cầu bị dẹp, mất một trò chơi thích thú biết bao. Kể ra, ở nhà, buổi chiều ở con hẻm của Khuyên cũng có thể chơi vũ cầu đỡ ghiền. Nhưng nhiều chuyện làm kỳ đà cản mũi lắm. Lát lát xe gắn máy, honda, xe vespa chạy vô ngõ rần rần. Rồi ba đứa con nít ông trời con đạp xe đạp lạng quạng như say rượu, miệng chửi thề om xòm. Rồi mình đánh vũ cầu, mấy thằng con trai đi ngang đi lại như diễn binh, có thằng lấp ló trên gác cầm vở đi tới ra cái điều chăm học mà để ngắm lén. Với lại chị Quyên đã hết tuổi thích cái trò này rồi, mình biết chơi với ai nữa.

Những buổi trưa xanh, đầy nắng vẫn như một cảnh thần tiên trong tuổi thơ ấu. Khuyên nhớ cổng trường nao nức và thấy một ngày ở nhà thật vô vị. Không đánh vũ cầu thì còn trăm thứ khác để vui. Trao đổi nhau truyện để đọc nè, nói chuyện nè. Tụi nó mua cả báo để cho nhau đọc nữa, rồi hình tài tử. Mà không có chuyện gì, ngồi dưới bóng cây chờ giờ vô học cũng khoái rồi. Từng cụm, từng cụm ba bốn đứa, năm bảy đứa, nói cười như chim. Lại có cô làm ra vẻ mơ mộng đứng một mình, ngắm hoài mấy cái xe lăn trên đường không biết mệt mắt.

Bao giờ được chơi vũ cầu lại nhỉ? Trời ơi, Khuyên muốn nhìn trái vũ cầu nằm trên bàn quá. Trái vũ cầu của người lính tên Xạo. Khuyên muốn cười ghê đi. Mới hôm qua đây nè, con Phượng đã lục cặp Khuyên. Nó tò mò đấy. Ê quá, nào bắt được gì đâu. Vậy mà nó cũng hỏi:

- Ông lính có gửi thư cho mày không?

Người ta quên từ mười đời vương mà nó còn nhắc mãi. Nhưng cũng tại Khuyên đó chớ. Không biết trong trường hợp nào Khuyên đã tiết lộ cho nó biết về cuốn sổ nhỏ và giòng ghi địa chỉ. Khuyên giận mình ghê. Cái gì cũng không giữ kín được trong lòng. Khuyên đánh trống lấp:

- Thư từ gì, tầm bậy không à mày.

Con Phượng chép miệng:

- Không đánh vũ cầu, tao buồn quá.

- Vậy mày đi sớm chi vậy?

- Quen rồi mày. Ở nhà buồn thấy mồ.

Ừ, nó cũng như Khuyên, làm sao không đến trường sớm được. Mà phải chịu một trưa chủ nhật như trưa nay, chắc nó cũng khó chịu, bực dọc như Khuyên. Không biết nó có bị nhà bắt nằm chết dí như mình không? Đang nghĩ miên man thì chị Quyên trở mình day mặt qua phía Khuyên. Không kịp thấy chị còn thức hay ngủ, Khuyên nhắm tít mắt lại.

Lát sau, Khuyên hé mắt nhìn. Cô thấy chị Quyên đã có vẻ ngủ say. Ban đầu cô nằm yên, thận trọng nhìn chị, rồi cô chống tay thật nhẹ nhàng ngồi dậy. Làm như chưa yên tâm, cô còn ngồi ở đó một lúc coi động tĩnh trước khi thòng hai chân xuống đất.

Nền gạch mát như thạch, thấm vào chân Khuyên làm cô bé không muốn nhấc chân lên nữa. Nhưng rồi cô cũng bước tới bàn học, ngồi xuống ghế thật nhẹ. Khuyên đưa mắt nhìn chị Quyên lần nữa thấy chị ngủ say, Khuyên yên tâm. Khoái quá, giờ này mình được tự do rồi, tay chân mình thoải mái quá. Các đồ vật trên bàn hình như cũng sáng hơn như cùng vui với Khuyên. Khuyên cầm thật nhẹ trái vũ cầu lên, vuốt ve rồi đặt lại chỗ cũ. Khuyên cũng không quên mấy bông hoa giấy chính tự cô làm lấy. Và rồi, cô bé chợt nhớ tới cuốn truyện Những giọt mực mà chị Quyên đang cất giấu đâu đó. Cô muốn đọc lại giòng chữ đề tặng với giòng chữ: Chiếc guốc phiêu lưu. Làm bộ cho lâm ly hóa ra chớ phiêu lưu gì đâu. Họ mới gặp nhau đây nè. Khuyên bỗng nhìn qua bàn học chị Quyên. Cái ngăn kéo nhỏ khóa kỹ đó chắc chứa đựng nhiều sự bí mật lắm. Khuyên rón rén qua bàn chị.

Chùm chìa khóa ngon ơ trên bàn. Khuyên mừng rơn. Nhưng mở ngăn kéo làm sao cho chị Quyên đừng biết đây. Chỉ một tiếng động nhỏ là chị nhỏm dậy rồi mình sẽ trả lời làm sao với chị? Mình sẽ nói: Em đi tìm đồ của em. Ơ hay, tìm đồ của em sao lại mở chìa khóa ngăn kéo của chị. Khó quá. Nhưng sự tò mò đã tràn đầy, khó có gì ngăn nổi nữa. Khuyên bỗng thấy mình có lắm mưu mẹo quá. Ừ, thì mình lấy ra rồi mình móc sẵn chìa khóa vào, nghe rục rịch thì mình bấm khóa lại, chị chẳng biết kịp đâu. Khuyên thận trọng mở khóa. Nhẹ nhàng ghê, có động tịnh gì đâu. Kìa, cái con chuột chết dí trong bìa sách đã hiện ra đó. Mà mình coi làm gì để mất công, mình đã đọc, đã biết rồi mà. Khuyên vẫn cứ cầm lên giở ra đọc. Không có gì lạ hết, cô bỏ vào toan khóa ngăn lại.

Cô chợt ngần ngừ. Còn cuốn cạt nê nằm cạnh đó nữa. Coi thử xem. Khuyên mở lớn mắt. Chị Quyên viết nhật ký. Thảo nào tối nào cũng thấy chị thức khuya, đi ngủ sau Khuyên không à. Thì ra chị làm công việc này đây. Chiếc guốc phiêu lưu ơi, tha hồ chị nhắc tới chiếc guốc.

Nào có gì đâu. Chị ghi đủ thứ, cả chuyện đi chợ, mua thức ăn. Cả lời bà hàng chửi chị, vì chị trả giá rồi không mua. Chuyện chị giận bạn bè: Hai đứa giận nhau rồi, mình không thèm nhìn Thục, cái mặt nó kênh kênh ghét ghê. Đồ làm bộ. Mình đợi nó xin lỗi mình trước chớ mình thì đời nào. Nó tưởng mình sẽ xin lỗi nó, sẽ làm thân với nó. Còn lâu. Nó nhà giàu kệ nó, mình nghèo như mình có tư cách, có tự ái của mình.

Khuyên mỉm cười. Thì ra thế giới của chị Quyên đâu có khác gì thế giới của Khuyên. Cũng giận hờn nhau, cũng chê bai, nói xấu nhau. Mình với con Phượng cũng giận nhau cả chục lần. Vậy trước mặt mình chị Quyên cứ làm bộ ra vẻ lớn lắm chớ chị vẫn còn con nít không. Coi nào, chị viết gì mà chi chít đằng sau coi bộ ghê quá nè. Ngày 25-7. Nhận được lá thư của kẻ vô danh. Chán quá, mất thì giờ thấy mồ. Mình cười muốn chết luôn vì lối tỏ tình kìm sanh. Tôi yêu cô mất rồi, cô là ánh sáng, là mặt trăng, là nguồn sống... Tôi sẽ đau khổ, sẽ ra đi, sẽ bỏ luôn đất Sàigòn này, đi đến chân trời góc biển nếu không được em để mắt xanh tới. Thôi, bể bụng mất. Lạy ông, ông vô danh.

Ông này không phải chiếc guốc phiêu lưu. Lật nữa. Ly kỳ đấy chứ. Sao mình chẳng nhận được một lá thư như thư chị Quyên để mà cười nhỉ? A, đây nữa nè... Mình leo lên xe Lam là hắn cũng leo lên. Hình như hắn đợi sẵn ở đó chờ mình. Hôm nay hắn làm gan hỏi chuyện mình nữa chớ. Mình khỏi thèm trả lời đi. Đàn ông con trai coi bộ nhát gái thế không khá. Loại này về sau là loại sợ vợ mà rất hèn. Phải cho anh chàng một trận để anh chàng tởn mà chừa đi... Không thấy chị Quyên cho anh chàng dệt ái tình trên xe Lam này một trận như thế nào? Không có hay là tại chị quên ghi vô đây. Vui quá. Khuyên đọc tiếp. Biết mà, đến hồi gay cấn đây. Chiếc guốc phiêu lưu của chị đây rồi. Chán mớ đời, chả biết tên họ gì, cứ chàng, hết chàng rồi người ấy. Người ấy là ai? Tức cười quá. Chao ôi, dài thế này làm sao đọc hết. Chị mà dậy bất thình lình thì mình chết. Bỏ ngang đi. Biết vậy hồi nãy đừng đọc mấy chuyện làm nhảm của chị. Khuyên cuống quít lật qua rất nhanh. Chuyện làm nhảm yêu đương. Chàng và tôi. Ôi, ái tình là thuốc thánh, là nước tiên. Chị Quyên trở thành một con người dở điên dở tỉnh. Cái gì vậy nè. Khuyên đã lật đến gần trang chót, và không dừng được. Khuyên lật lui mấy tờ nữa.

... Anh thân mến,

Thật em điên đầu mất. Làm thế nào bây giờ. Em sẽ chết mất nếu tình trạng cứ căng thẳng như thế này. Anh đề nghị bạo quá, em không thể. Nhưng tôi cũng không thể thiếu chàng. Tôi yêu chàng cuồng điên mất rồi, đến ngu muội, đến thành một đứa ngốc. Đêm nay, khi nghĩ lại những lời chàng đề nghị, tôi run quá. Chàng có nói điều đó ra thật sao? Chàng có nói mà... Sao chàng ngang tàng thế. Sao chàng không thể bình thường như mọi người được. Một đám cưới? Ở thời buổi này, ở tình thế này. Chàng nói ra là chán đời, là bi quan... Không, để tôi suy nghĩ đã. Hãy cho em suy nghĩ đã. Em sợ quá... Mình đã hỏi con Thục. Con Thục lý tưởng quá. Ừ, tao có thể chết vì tình yêu. Nó thì lãng mạn, mơ mộng. Nó sống như trong tiểu thuyết. Còn mình? Mình mà như thế được à? Mày thử nghĩ lại đi. hắn như thế, hắn ngông cuồng, hắn ba gai như thế, ba má mày có thương nổi hắn không? Hắn làm gì đủ tiền để làm đám cưới... Thục khuyên mình làm những điều đó thật sao? Cái con đó sống như ngọn sóng, hung hăng... mình khác nó mà, mình biết vậy.

Chàng đề nghị mình điều ghê gớm quá. Nhưng một là mình có chàng, hai là mình mất chàng. Tự nhiên chàng làm một chiếc guốc phiêu lưu, nhưng mình, mình còn tệ hơn chiếc guốc nữa, mình chỉ là một chiếc guốc đã đứt quai. Trốn đi theo chàng không? Trốn đi theo chàng không? Trốn đi theo chàng không? Đi. Tình yêu ơi, ta đau khổ vì mi quá. Đi nhé. Đi nhé Hạ Quyên.

Khuyên đưa tay lên bịt miệng để trấn áp tiếng kêu lớn. Cái gì thế này. Chị Quyên, chị ấy sắp bỏ trốn theo chiếc guốc phiêu lưu của chị? Có thể tin được không? Có thể lắm chớ. Sao nhật ký đứt đoạn thế này. Khuyên lật nữa cách vài tờ trắng có một giòng chữ đề ngày thứ ba với hai chữ: Định mệnh. Ly kỳ chưa. Chị định ngày hôm đó trốn theo chiếc guốc đen thui của chị. Khuyên thở dài nhè nhẹ rồi bỏ cuốn sổ vào ngăn kéo khóa lại như cũ. Bên giường chị Quyên vẫn ngủ say như chết. Khuyên bỗng giật mình nghĩ thầm: Đúng rồi, tại đêm nào chị cũng thức khuya, hôm nay gượng không được nên ngủ vùi đấy mà. Tội nghiệp chị Quyên quá. Chắc chị đang đau khổ vì tình yêu lắm. Khuyên thương chị tới muốn khóc. Mà Khuyên khóc thật rồi, nước mắt đang chảy ràn rụa trên má cô. Chị đừng bỏ đi theo chiếc guốc. Một chiếc guốc mà mộng đi phiêu lưu là ngông cuồng quá. Mà chị Quyên ơi, chị đâu phải là chiếc guốc. Khuyên muốn mở cuốn sổ nhỏ của chị Quyên, viết vào bên cạnh trang nhật ký đó câu: Chị đâu phải là chiếc guốc này, chị là chiếc giày sang trọng. Chị là cô lọ lem, chỉ cần để rơi lại cho hoàng tử một chiếc giày. Nhưng làm sao cô dám viết vào đó như thế được. Tội nghiệp chị Quyên quá. Và cái anh chàng tự cho mình là chiếc guốc phiêu lưu bỗng trở nên kệch cỡm, dã man và đáng ghét vô cùng. Mình phải tìm cách ngăn cái vụ kinh khủng này mới được. Nhất định mình phải ngăn chị Quyên lại. Nhất định chị Quyên không thể là chiếc guốc ngu muội.

Nhưng chị Quyên đang nằm ngủ kia có cái gì ngộ quá. Khuyên cũng nao nức muốn được như chị Quyên, muốn lớn liền như thế. Khuyên nghĩ tới tình yêu trai gái, cái thứ mà lâu nay, hễ nghĩ tới là cô bé thấy tội lỗi. Nhưng giờ thì khác rồi, cái thứ đó có một cái gì bí mật, quyến rũ lắm. Nửa làm cô muốn bước tới, nửa làm cô sợ sệt muốn nó tới chậm hơn. Không, của Khuyên còn là những buổi trưa đầy nắng vàng bên ngoài cổng trường, những chuyện trò líu lo như chim, những tràng cười vỡ hồn vui sướng.

Tội nghiệp chị Quyên quá. Tự ví mình như một chiếc guốc. Khuyên gục đầu xuống bàn. Cụ sách ơi, cụ giúp cháu với. Nhưng đồ vật ở trong phòng Khuyên thật cù lần, chẳng chịu biết gì hết, chẳng chịu giúp Khuyên gì hết. Cái thế giới riêng của chúng hình như không thích sự rắc rối của loài người, cứ làm thinh lờ đi.

Chị không phải là chiếc guốc đâu chị ơi. Cô bé khổ sở kêu thầm một mình. Chuyện ghê gớm quá. Có chuyện ghê gớm như vậy sắp xẩy ra ở trong nhà này được à? Khuyên nhỏm dậy, mắt mở lớn. Không ai trả lời Khuyên hết, cả chị Quyên, chị vẫn còn mê mệt trong giấc ngủ.


NHÃ CA      

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 43, tuần lễ từ 23-3 đến 30-3-1972)
 

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

LIÊU TRAI HUẾ - Nhã Ca

 

Thiên, con nhà nghèo ở xứ Quảng được cái là con một nên cha mẹ có tâm nguyện cho cậu quý tử học hành thành tài. Thiên học xong bậc tiểu học ở trường làng, muốn thi lên Trung học phải ra Huế. Ông bà già bán mẫu ruộng, bán con trâu, tài sản đời trước truyền lại để cho cậu quý tử tới trường thi.

Thiên tuy sinh chốn quê mùa, nhưng thông minh, hiếu học. Bốn năm dùi mài đèn sách, cậu Thiên đỗ Trung Học, chuẩn bị lên Tú Tài được thành học trò ngôi trường mang tên vua chúa: Trường Khải Định. Năm đó cậu Thiên đúng 20 tuổi. Gạo trắng nước trong, không phải làm lụng khổ cực như bao thanh thiếu niên khác ở quê nhà. Thiên trắng trẻo, cao ráo. Con trai mà có cái miệng chúm chím, môi đỏ hồng như môi con gái thoa son. Chỗ Thiên ở xa trường học. Mãi tận Kim Long. Tuy xa nhưng được cái yên tĩnh để học hành. Chỗ trọ chỉ có một căn nhà nhỏ cất sau vườn, kế là một dọc các hàng cau, cũng lẫn thêm vài thứ cây ăn trái như cây ổi, cây mãng cầu, phía góc vườn có một cây vú sữa lâu năm, đến mùa trái chi chít, cây lão, trái nhỏ nhưng ăn ngọt như đường. Chỉ có điều, cành cây cao quá nên rất khó hái.

Thiện rất tằn tiện, không đua đòi, tự mua lấy gạo nấu lấy ăn. Thức ăn thì trong vườn rau sam, rau dền mọc chi chít. Trên hàng rào thì lá cây bát ngát đeo tòn ten, đọt xanh non mập vươn tứ tán. Còn có cả bụi chuối sau vườn, buổi nào rỗi rảnh, xuống mé sông cầm cái vợt. Tép lội từng đàn trong rong xanh hoặc cỏ lúp xúp bên bờ sông. Vớt mấy vợt là có bữa ăn ngon lành. Tép nấu với củ chuối non, ăn thay cơm cũng được, nhờ vậy mà sắm được chiếc xe đạp cũ để sáng sáng chiều chiều, căm cúi đạp đi đạp về.

Chủ nhà là một đôi vợ chồng già, sống bằng lợi tức từ cây trái trong vườn. Ông cụ tuy tuổi đã cao mà còn rất khỏe, ông có một chiếc ghe nhỏ, sáng sớm ra sông bủa một mẻ cá cho bà cụ kèm cùng rau quả đem ra chợ bán. Con cái lớn lập gia đình ở riêng hết rồi, lâu lâu bồng bế con cái về thăm, lại mang về nải chuối, buồng cau, mớ rau tập tàng của bà mẹ già lo sẵn. Về thăm rồi đi nên nhà có một bữa ồn ào sau đó càng thêm vắng lặng.

Người đời trước có câu:

"Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế chân đi không đành"

Thì đúng quá đi chớ. Cách nhà Thiên trọ học khoảng năm căn, có một gia đình có tới năm cô gái. Hèn chi nhà giàu quá chừng luôn. Nhà có ngũ long công chúa mà. Chỉ có điều năm chị em mà năm tính nết khác nhau. Cô chị nhu mì, hiền hậu, còn mấy cô em thì nghịch ngợm phá tán. Có bữa cậu Thiên đạp xe đạp ngang qua, liếc vô mé vườn, thấy mấy cô trèo cây đu đưa, còn la hét như khỉ cái.

Lạ, nhà thì đông vui như vậy mà sát bên có cái vườn bỏ hoang. Căn nhà xưa lắm đã sập xuống cũng đâu từ lâu rồi, hầu như chỉ còn đống vôi vữa trên cái nền nham nhở cỏ mọc. Xung quanh thôi thì cỏ lùng mọc luông tuồng, cây cối phía sau vườn không có ai sửa sang, rậm rạp hoang dã. Mỗi lần ngang qua, liếc vô nhà mấy cô con gái, cậu Thiên cũng không thể không ngó căn nhà hoang dã này. Về nhà có hỏi thăm ông bà cụ, thì ông bà cụ cho biết: Cái nhà nớ... Ui cha, xưa giàu dễ sợ. Quan gia cha truyền con nối chớ không phải dân dã chi mô. Rồi, khi tàn thì cũng tàn rụi rứa đó. Như ri thì mới biết không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời!".

"Vậy tại sao người ta không mua đất xây cái nhà khác. Miếng đất rộng mà vuông vức."

"Cậu muốn mua không?"

Thiên cười:

"Cháu không dám mơ ước đâu, hai bác. Nhà cháu nghèo lắm. Ba mạ cháu từ ngày bán miếng đất, con trâu để lo cho cháu ăn học, đã phải đi làm thuê làm mướn để sống."

"Tội..."

Bà cụ thở ra. Ông cụ nói tiếp:

"Miếng vườn đó không ai dám mua."

"Răng rứa bác?"

"Nghe nói..."

Chỉ là chuyện nghe nói. Phía sau khu vườn có một khu mộ xưa lắm. Mỗi cụ nhớ một cách, chuyện kể không chuyện nào giống chuyện nào. Ngôi mộ đằng sau vườn là vợ bé của ông quan, bị chết trong lúc sanh đẻ. Lại có người nói ngôi mộ xưa rồi, trước đây nhà quan này có một nàng hầu, vì tội tư tình buộc phải thắt cổ chết. Người khác kể, đó là ngôi mộ một cô gái nghèo, cha mẹ bán cô vô nhà quan. Sau bị nghi ăn cắp đồ vật, cô thắt cổ để minh oan cho sự trong sạch của mình. Còn ông già thì cương quyết:

"Toàn là chuyện ba láp, tào lao cả. Ngôi mộ đó, lâu rồi con gái của vị quan đương trào, bị chết không biết lý do nào. Nên ngôi mộ trước xây bằng vôi, có bia, tấm bia lâu ngày xiêu đổ, rồi mất. Đời sau nhà nghèo quá nên chỉ lấp thêm đất thôi. Mưa nắng xối xả thấy lồi đá vôi phía đưới đó tề."

Còn bà già thì cứ một chuyện kể mãi:

"Lâu vậy mà người nằm dưới mồ chưa đầu thai. Vườn đó ma dữ lắm. Nghe nói cô bán hột vịt lộn bán tối đi ngang qua, gặp một cô gái kêu một lúc tới chục hột vịt lộn, nói đi theo cô lấy tiền. Đến ngõ khu vườn nớ cô gái biến mất. Mấy ngày sau, mấy đứa con nít lòn rào vô vườn hái trái cây, còn thấy đủ chục hột vịt lộn nằm trên ngôi mộ. Chuyện rứa mà cũng chưa ớn xương sống lắm mô. Có chú xích lô còn trẻ, đẹp trai, đạp xe qua cầu Bạch Hổ buổi tối, thấy có một cô gái tóc dài vẫy, biểu đưa về Kim Long. Chú ấy đạp xe theo lời chỉ dẫn của cô gái. Tới ngõ khu vườn, cô bảo dừng xe. Chú xích lô chờ lấy tiền thì cô day mặt lại. Một khuôn mặt màu xanh, hai con mắt đỏ và cô cười, có hai cái răng nanh. Chú xích lô hét lên một tiếng, muốn xỉu luôn, rồi đạp xe thí mạng tới mấy nhà lân cận, xin tá túc một lát cho lại hồn. Hỏi chuyện, mới biết là đã gặp con ma trong xóm thường đồn đãi."

"Hai bác có chộ lần mô không?"

"Chộ" tiếng Huế, có nghĩa là "nhìn thấy". Cả ông bà già đều lắc đầu. Ông già: "Tui nghe kể thì nhiều lắm, nhưng chộ thì chưa chộ lần mô hết. Mấy người trong xóm nói, chọc phá chơi vậy thôi chứ con ma này hiền, họ hay cầu xin lắm. Nhứt là cái nhà có năm cô gái, tháng cúng hai lần, rằm trăng tròn và mùng một trăng trốn. Nghe nói lúc đầu con ma cũng phá dữ lắm, nhưng sau cúng kiến, chắc hạp nên yên."

Anh chàng học trò cười thầm trong bụng. Thì ra, ma hay hơn người, chớ con gái với nhau, có khi nào ưa nhau chớ. Cũng có thể là con ma này đẹp lắm, ăn bứt năm cô gái kia, nên mới không ganh tị.

Mùa hè năm đó, Thiên lân la làm quen được với cô chị đầu của gia đình kia. Cũng tình cờ thôi, bữa đó, khi chiều trời nổi giông gió, rồi mưa, hơi đất xông lên dầy khịt, bốc một cái mùi làm nhức đầu lắm. Cô Trâm, đi học về gần tới nhà thì một ống quần bị quấn vô dây sên. Nếu cô không nhanh nhẹn phanh xe lại kịp nhảy xuống thì cả người lẫn xe đã té lăn quay rồi. Cô vừa lò cò vừa đẩy xe vô lề thì đúng lúc Thiên trờ tới. Dựng xe vào sát lề, Thiên mau mắn:

"Tôi có thể giúp cô được không?"

Thiệt tình trong bụng cô Trâm đã để ý tới anh học trò trong Quảng ra thi này lâu rồi. Anh ta coi có vẻ đứng đắn, hiếu học. Đã đến đây lâu rồi mà nghiêm chỉnh, không mắt liếc mày đưa, lanh chanh, lấc cấc như mấy anh chàng gà trống trong tuốt xóm. Người chi mà có đôi môi đỏ hồng, cười chúm chím làm con gái mê hồn. Người chi mà cứ cặm cụi chúi đầu vô quyển sách, người chi mà, coi nụ cười tề... Quần áo đơn giản thôi, đầu tóc bồng bềnh nghệ sĩ chứ không như mấy anh chàng kia, lúc nào cũng bôi bờ-ri-dăng-tin láng bóng. Mấy đứa em gái của Trâm thường rúc rích cười, trêu chọc ngày nào cũng có mấy con ruồi chết, vì té từ trên lớp dầu kia xuống bể đầu, toé máu. Trâm làm dáng, gật đầu mà hất mái tóc cho che bớt mái tóc nhìn trộm của mình.

"Dạ..."

Con gái Huế vậy đó. Không bằng lòng cũng dạ. Tiếng "dạ" hiểu nghĩa nào thì ra nghĩa đó.

Thiên tháo dây sên để gỡ lai quần người đẹp ra, bất đắt dĩ đã có lúc cầm bàn chân giữ cho người đẹp thăng bằng lúc gỡ gấu quần bị vướng dây sên. Thiên sững sờ, đang giữa trời mưa ướt át mà trong lòng ấm nóng hẳn lên,, khi nhìn thấy một vệt dầu đen dính trên mu bàn chân trắng nõn với gót sen hồng thắm.

"Xin lỗi..."

Trâm đã gượng thẳng người, xỏ chân vào chiếc guốc hồi nãy đã văng xuống đất. Đôi má của Trâm còn đỏ hơn gót son hồng dầm dưới mưa ở chân nữa.

Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Chỉ dăm tháng sau, cô cậu đã phải lòng nhau. Thôi thì hẹn hò đủ cách, hôm Lăng Tự Đức, bữa đổi Vọng Cảnh, quán bánh bèo chân núi Ngự Bình. Trâm bắt đầu dối cha dối mẹ. Kín đáo lắm, nhưng cũng không thoát khỏi cặp mắt của bốn cô em gái. Rồi tới cha mẹ Trâm cũng đem lòng nghi ngờ. Ráo riết quá, cả hai phải dùng kế hoãn binh, nghĩa là bấm bụng không gặp gỡ nhau một thời gian cho qua tình huống đã.

Phía gia đình Trâm, đã cho người đi dò xét cậu học trò trong Quảng ra thi này. Người cha lắc đầu:

"Con hư tại mẹ. Bà có biết không, thằng đó nhà nghèo rớt mồng tơi. Bà chìu nó quá nên chừ dạy hết nổi. Kêu nó ra đây."

Cô Trâm khúm rúm đứng trước mặt cha mẹ.

"Dạ thưa, con lỡ..."

"Lỡ răng. Lỡ răng noái nghe coi."

"Dạ con lỡ thương người ta..."

"Mất dạy. Dám cả gan trả lời ba mạ mi rứa há. Áo mặc không qua khỏi đầu được. Mi mới thương người ta thôi, có chi mà lỡ... Lỡ chi rồi, nói ra hết đi... Con gái như mi, gọt đầu bôi vôi, đem câu cá sấu biết chưa."

Cô Trâm khóc oan khóc uổng:

"Dạ thưa ba mạ, con chỉ lỡ thương, chớ đạo giáo lễ nghĩa con không dám vượt..."

"Mi thề đi. Đứng trước bàn thờ ông bà thắp hương mà thề. Mạ nó thắp nhang cho nó."

Trâm còn biết sao hơn. Mà quả thiệt, thể xác, tâm hồn Trâm vẫn còn trong sáng. Có dối cha dối mẹ hẹn hò, lén lút. Nhưng thật chưa tới mức cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay. Mối tình đầu chỉ là mộng mơ, Trâm vẫn gìn giữ và Thiên cũng chưa một lần sàm sỡ dám xúc phạm tới người yêu. Trâm cầm nén nhang mẹ đưa, lòng xót xa như muối xát, lạy trước bàn thờ tổ tiên.

"Nói bỏ là bỏ. Lậm vô rồi chình ình cái bụng ra chừ. Thề đi. Chưa có lỡ, thề bỏ. Thề trước ông bà, thề trước ba mạ mi đây nì. Hay chưa bưa, muốn đi trai gái nữa."

Trâm khóc. Lập lại lời cha. Trâm biết cảm giác bị đâm một nhát dao vô tim đau đớn ra sao, mà không chết được.

"Mi biết nhà nó nghèo xơ nghèo xác không hè. Ba mạ nó đi làm thuê làm mướn chớ con nhà gia giáo chi mô."

"Dạ con biết. Nhưng ảnh học giỏi lắm."

"Học giỏi làm chi. Thân cô thế cô, có cái bằng cạp mà ăn há. Thôi đừng noái nữa. Từ bữa ni trở đi, không được gặp. Nói thôi là thôi."

Cô Trâm thút thít khóc. Người cha dịu giọng xuống một chút:

"Vô trong đi, còn đứng đó coi chừng tao nổi ma lên. Tao nói rồi, tao bắt gặp một lần nữa tao đánh chết không thương. Tao trói gô đầu lại, không học hành chi hết, tao gả cho bất cứ thằng mô, cụ trâu cũng gả."

Trâm biết tính ông già. Đã nói một lời là như cái đinh đóng vô cái cột. Hết tháo ra, tháo ra là sụp đổ hết. Trâm cũng không cầu cứu mẹ. Mẹ như cái bóng lẽo đẽo sau lưng cha, như lời nói lập lại lời cha.

Tội nghiệp Trâm, nhà có năm chị em, chỉ có hai phòng dồn chung. Trâm không có phòng riêng để khóc. Cô phải ra vườn, úp mặt vào cây nhãn, cây bưởi, khóc một trận như mưa lụt mà vẫn không vơi sầu khổ.

Đáng lẽ mùa Hè, Thiên phải trở về quê. Nhưng hè này, vì lậm với mối tình, nên nhứt quyết ở lại. Cha mẹ không có khoản tiền chu cấp ba tháng hè. Vậy là Thiên rơi vào cơn túng quẫn, túng thiếu. Nhờ hai ông bà già cảm thương thư sinh nghèo, hiếu học, giới thiệu Thiên cho một chủ cồn bắp, sáng sớm phải ra cồn bẻ bắp, chiều tối mịt mới về. Nhờ vậy, bữa đói, bữa no, Thiên sống qua ngày được.

Khó khăn lắm Trâm mới báo tin được cho Thiên biết, cuộc tình đã bị bại lộ, cha mẹ không bằng lòng. Lúc này Trâm bị canh giữ gắt lắm nên hủy hết các buổi hẹn hò. Không ngày nào Thiên không tìm cách đi qua nhà Trâm, không thấy bóng dáng Trâm đâu hết, mà chỉ thấy bốn cô em leo trèo nghịch ngợm như khỉ leo cây. Có cô nhìn ra thấy Thiên, còn đưa hai bàn tay lên mũi, làm dấu chòng ghẹo. Thiên muốn gặp một cô nhờ vả cũng khó, vì họ như tránh hắn, không muốn xớ rớ tới gần.

Một buổi chiều đi bẻ bắp về, bà già đưa ra một miếng giấy xếp nhỏ:

"Có cô chi đó noái đưa cho cậu để đòi mấy quyển sách chi đó..."

"Cô Trâm phải không bác?"

"Ừa, như rứa. Nhà có tới năm cô, đủ thứ tên, tui hổng nhớ."

"À, tui có mượn mấy quyển sách, quên mất. Bậy..."

Thiên không muốn bà già nghi ngờ, nói trống lấp. Rồi đi ra nhà sau, mở tờ giấy ra đọc.

Đúng là thư của Trâm. Hẹn mười giờ đêm, chờ ở dưới bến sông trước nhà cô, cô có chuyện muốn nói. Thiên mừng rơn. Chiều đó quên luôn cả ăn cơm, không thấy đói bụng. Cứ hết ngồi lại đứng, chờ cho tới giờ hẹn để ra đi. Thiên cẩn thận ra khỏi vườn bằng cái lỗ rào thưa để không ai hay biết.

Đêm cuối tháng, trời tối đen như đêm ba mươi. Nhưng đã quen đường lối, Thiên đi tới bờ sông trước nhà Trâm sớm hơn giờ hẹn. Thiên cẩn thận xuống tận bờ, nhà nào thì cũng có một bến sông, có kê bốn hòn đá lớn để có thể trải quần áo lên mà sát xà bông, xung quanh có nhiều bờ bụi kín đáo. Là nơi lý tưởng của các cặp tình nhân hò hẹn.

Chờ chừng mười lăm phút thì Trâm đến. Nhận ra nhau theo hình dáng quen thuộc trong bóng tối thôi. Cái bóng của Trâm thon thả làm sao, mớ tóc đen màu mun trôi lẫn trong đêm, vẫn thấy được nét tha thiết.

"Em."

"Hức...hức..."

Thiên nghe tiếng Trâm nức nở. Hắn cầm lấy tay nàng. Bàn tay lạnh ngắt. Tại sao vậy, từ nhà ra đây đâu có bao xa. Chưa hết ngạc nhiên thì Trâm đã rút tay lại:

"Đừng đụng em. Đừng đụng em..."

Tưởng Trâm hờn dỗi chi đây, Thiên càng sấn tới. Thình lình Trâm đưa tay đẩy mạnh, chút xíu thì Thiên đã trượt chân, rơi tòm xuống sông. Cố gượng đứng dậy, nhảy sâu vô một bụi cỏ, Thiên hỏi:

"Em giận anh? Anh mần chi mà em giận anh rứa. Nói cho anh biết để anh sửa..."

Trâm vẫn lặng thinh. Hai người đứng yên trong bóng tối. Linh tính báo cho Thiên biết là cuộc tình của hai người có trục trặc chi rồi, chớ răng khi không Trâm đổi tính nết như vậy. Hồi lâu, Trâm bật khóc ra tiếng.

"Từ nay anh đừng gặp em nữa. Em..."

"Răng không gặp nhau. Chúng mình thương nhau không có tội... Trâm nì, có chuyện chi thì em nói cho anh nghe..."

"Không. Không có chi hết. Nhưng em, bữa nay nói rõ cho anh biết. Em không hề yêu anh, chưa hề yêu anh. Em yêu anh là giả đò đó."

Thiên cười khan, cay đắng:

"Em nói chi lạ rứa. Yêu mà cũng có yêu giả đò..."

"Chớ răng. Người ta yêu giả đò chán chi. Từ bữa nay trở đi đừng gặp tui."

"Em đoạn tuyệt anh? Răng tự nhiên em thay lòng đổi dạ..."

"Ừ, tui rứa đó. Tui giả đò, chừ không muốn giả đò nữa. Nói cho anh biết tui còn tốt bụng, không để anh lầm tui..."

Trâm nói mau, như sợ để lâu rồi không nói được:

"Chừ anh biết rồi hí. Tui là đứa con gái xấu rứa đó. Giả đò yêu anh cho vui... Nhưng bữa ni, tui muốn dứt khoát luôn cho nên mới hẹn anh ra đây noái cho anh biết. Tui... tui sắp đi lấy chồng."

....

"Đi rồi. Đi rồi. Hay. Hay."

"Ê, một hai ba. Dô ta. Dô..."

Từ mấy bụi rậm tối thui phun ra mấy vòi nước xối vô mặt Thiên, vô quần áo, vô tóc tai làm Thiên một lần nữa tối tăm mặt mũi.

"Dê dê... xấu chưa tề. Nghèo rớt mồng tơi mà cũng trèo cao..."

"Té cái chổng đít, bể đầu, phọt máu"

"Dê dê, xấu hổ..."

Tiếng cười khúc khích của bọn giặc con gái như vây chung quanh Thiên. Thiên nhận ra từ áo quần bốc lên một mùi hôi thối nồng nặc, mùi nước mắm, nước cống rãnh xú uế từ mấy cái vòi vừa xịt đầy mặt mũi, tóc tai quần áo chàng.

Thiên hiểu ra rồi. Mấy giọng cười khúc khích kia là của đứa em gái của Trâm. Không hiểu sao buổi hẹn hò chia tay tàn nhẫn này lại để cho bầy quỷ cái kia biết được mà phá.

Thiên ôm đầu chạy một mạch chui qua lổ rào, vô vườn. Cũng may, tuy ở căn nhà sau nhưng cái lu sát gốc cau lúc nào cũng lưng nước với cái gáo dừa để sẵn. Tắm gội khổ sở xong, Thiên ngồi suốt đêm với ngọn đèn dầu.

Chiều hôm sau, đi qua nhà nàng, ngó vô, thấy mấy cô em gái leo trèo mấy cây ở sát đường cái. Thấy Thiên, họ cười rộ lên, ngưng đu đưa như khỉ và hát:

"Học trò trong Quảng ra thi
Thấy cô gái Huế dê chi cho khổ đời...!"

Thiên cúi đầu, đạp xe một mạch về nhà. Thêm một ngày bỏ cơm nữa.

Còn Trâm, tối hôm đó nói những lời như sát muối vào vết thương với người yêu, nàng trở về phòng nằm như chết rồi. Một lúc lâu, thấy bốn đứa em gái túm tụm trong phòng cạnh, xì xào to nhỏ và cười rúc rích. Lúc cô em kế trở về phòng, thấy chị nằm êm rơ cũng nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh.

"Chị Trâm nì..."

"Chi rứa?"

"Hồi nãy tụi em nghe nói hết rồi. Hay lắm, chị cự tuyệt thằng nớ thiệt tài. Tụi em phục sát đất."

Trâm làm thinh. Cô em vặn tắt ngọn đèn dầu. Căn phòng chìm trong một vũng tối. Cô em tiếp:

"Thằng nớ chắc tởn tới già. Hi hi..."

"Hi, hi, tụi em xịt nước cống vào người hắn, xịt nhiều lắm. Hắn ôm đầu bỏ chạy rồi. Từ nay chị không cần sợ chi hết nghe. Chọc tụi em là chọc đúng ổ ong vò vẻ... Hi hi..."

Trâm quay mặt, nước mắt chảy âm thầm. Nàng đã dứt khoát với chàng, đã nói lời tàn nhẫn trái lòng. Nói rồi lòng nàng cũng đã chết.

Tin cô Trâm sang Xuân sẽ về nhà chồng làm vết thương trong lòng của Thiên như không ngừng chảy máu. Suốt mùa Đông tàn tạ, rét mướt, Thiên ném bỏ sách vở, loay hoay với một khúc gỗ quý. Thêm một đêm giao thừa thức trắng, một đầu khúc gỗ biến thành cái trâm cài tóc. Một đầu gỗ khác, khắc lộng hai trái tim lồng vào nhau và một cái lược thưa, dang dở. Đó là món quà cưới Thiên muốn tự tay hoàn tất để tặng nàng.

Liên tiếp mấy ngày đầu năm, Thiên rình mò chờ cơ hội nhưng không còn dịp may nào được gặp gỡ Trâm. Có nhiều hôm đón đường, chờ chực, Trâm đều bị đi kèm với mấy cô em gái dữ như chằng, cả hai không dám nhìn nhau nữa. Thấy mấy cô em gái của Trâm, Thiên nhớ lại hôm bị xịt nước mắm đầy mình, sượng trân, chỉ còn biết cúi gầm mặt xuống mà đạp xe đi. Lá thư tình bao đêm nắn nót và xếp gọn nằm trong túi.

Mùa Xuân đối với Trâm năm ấy cũng quá kinh khủng. Nhìn cây mai vàng trước sân nở vàng rực bên bể cạn với xác pháo giao thừa còn rơi vãi đầy trên mặt đất, Trâm cảm thấy trái tim mình cũng vỡ vụn, chảy máu như pháo hồng. Chẳng còn bao lâu nữa, Trâm phải về nhà chồng. Lễ giáo mà. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Cha mẹ, vì muốn tống khứ nàng đi, đã gả vội gả vàng cho một người đàn ông mới góa vợ có đứa con nhỏ một tuổi. Cha nàng nói:

"Rứa như răng mi mới ưng. Người ta nhà gia thế, có tới ba bốn căn nhà ở Nguyệt Biều, mi tưởng..."

Nguyệt Biều Trâm hình dung ra được, ngôi nhà cổ rộng mênh mông, âm u, nàng sẽ sống suốt đời với một người đàn ông mình không thể thương yêu, với bàn thờ, linh vị của một người vợ trước lúc nào cũng nghi ngút hương.

Cả ngày đầu năm, người cha nhìn đứa con gái lớn nghiêm khắc:

"Nì, đầu năm mi đừng có thụng cái mặt xuống như rứa chớ. Xui cả năm nghe chừ."

Cái mặt Trâm ra làm sao. Trâm không soi gương, không biết. Nhưng vui mừng hớn hở thì Trâm làm không được rồi. Thôi thì cứ tránh mặt cha cho xong. Cũng may, ngày mùng một, mấy đứa em về chơi bên bà ngoại làng Hương Thúy, hơi xa xôi nên phải ở lại đêm. Cha mẹ rủ hàng xóm qua chơi, để xâm hương. Trâm lo nước nôi mứt bánh xong, kêu mệt xin phép cha đi ngủ sớm.

Nằm thao thức hoài. Cô nhớ lại buổi sáng lúc đưa mấy đứa em đi khuất rồi, Trâm còn ngơ ngẩn đứng ở ngoài ngõ một lát. Cô ngó xuống bến sông và nhớ lại bao nhiêu chuyện. Cô nhác thấy bóng Thiên dưới bến sông. Anh ta ngồi trên hòn đá dùng để giặt quần áo, quay lưng lại. Anh ta ngồi bao lâu như vậy rồi? Đã thành tượng đá chưa?

Tính đốt ngón tay, không còn bao lăm ngày nữa, sân nhà cũng đầy xác pháo như vậy, và Trâm từ giã nơi đây để về nhà chồng. Không được đâu, mình đã có thề với trời đất, lấy chàng mà. Chỉ lấy anh. Lấy anh thôi. Răng chừ lại lấy người ta? Trâm khóc vùi. Tự nhiên muốn làm một chuyện gì thật liều lĩnh, như tìm cái chết chẳng hạn.

Trâm khoác cái áo choàng trắng, có giải thắt lưng rất dài. Không biết sao lại chọn cái áo đó. Nàng trèo cửa sổ ra sau vườn. Đêm lặng lẽ quá, đêm mênh mông giúp nàng trải nỗi buồn rộng lớn thêm. Đây rồi, cành cây này đã lớn, vững chắc quá. Không được, tội mẹ, tội mấy đứa em. Làm sao mẹ còn có thể ở trong căn nhà này, đi ra ngoài khu vườn này. Sẽ là một ám ảnh suốt đời đối với mẹ

"Qua khu vườn hoang kia tề."

Như có ai nói thầm bên tai Trâm. Trâm thẫn thờ bước tới bên hàng rào. Ở phía rào này có nhiều lỗ hổng để chui qua bên kia. Trâm chui qua được một cách thong thả. Tuy vườn mọc đầy cỏ lùng, cây cối rậm rạp nhưng vẫn có những lối mòn do lũ trẻ con hàng ngày trốn vào chơi, hái trái cây, hái rau tập tàng, nhờ vậy mà Trâm đi loanh quanh được một lúc. Không biết có ai đưa đường không mà Trâm đã tới cạnh ngôi mộ hoang, người trong xóm đồn đãi ở dưới mồ có một người con gái chết oan rất thiêng.

Bình thường Trâm sợ ma lắm, nhưng bữa nay tâm trạng bần thần, lại quá đau khổ về tình duyên, còn có ý định tìm cái chết nữa nên Trâm không biết sợ hãi nữa. Mà có lẽ, chỉ có người nằm yên dưới mồ mới hiểu Trâm, mới chịu nghe Trâm tâm sự.

Gió như động hơn trên trời, lay động cành lá ào ào. Tiếng cành khô kêu răng rắc như lời nói của đêm muốn cùng san sẻ với tâm sự của Trâm.

"Chị à, dù sao chị cũng tới trần gian trước tui. Chị lớn tuổi hơn tui, tui kêu chị bằng chị. Xin lỗi tôi không đem nhang để thắp cho chị. Nhưng bữa nay tôi sẽ về dưới bầu bạn với chị. Tôi không muốn sống nữa."

Tiếng cành cây khô lại kêu rắc rắc. Và có một vài tiếng động đâu đây. Trâm nghe như có tiếng chân. Nhìn quanh quất, không thấy bóng ai hết.

"Chị về phải không? Chị đừng đi trước chờ tui với. Tui yêu người ta mà không lấy được, thà tui chết để trọn vẹn với tình... Chị nghe tui nói không?"

Trâm cảm thấy sau ót mình lành lạnh như có bàn tay ai vừa đụng khẽ lên đó. Cô cố lấy hết can đảm, nhìn lên. Trong đêm Xuân một cành cây lớn vươn ra. Thật là lãng mạn. Như một thiên tình sử trong tiểu thuyết, còn hơn nữa là đằng khác. Trâm vừa lẩm bẩm những lời tha thiết đoạn tuyệt với người tình và chuẩn bị cho cái thòng lọng vào cổ rồi thả người xuống. Chỉ tích tắc thôi, không còn thấy đau khổ nữa...

"Bước tới. Leo lên. Leo lên đi..."

Trong đầu Trâm, như có tiếng reo hò thúc giục. Bước lên một bước nữa thôi. Bước nữa, bước nữa...

Rõ ràng Trâm bước tới, nhưng có ai đã kéo Trâm thụt lùi. Thật ra không có ai hết, chính sự sợ hãi đó thôi. Cũng có thể, ai đó, vô hình đang trì kéo bước chân Trâm ngược lại. Không. Không được đâu. Không có can đảm đâu.

"Thiếu tui ba cây nhang đó."

Lùi tới góc vườn, Trâm nghe tiếng nói lùng bùng trong tai. Chắc đó là tiếng hồn ma từ đáy mộ vừa bị Trâm đánh thức. May quá, tới góc vườn nhà rồi. Nhanh như con sóc, Trâm chui qua lỗ hổng sang vườn nhà, rồi đu lên cửa sổ. Vào tới phòng rồi, chăn trùm đầu kín mít rồi, Trâm tiếp tục run nữa.

Bên vườn hoang, có tiếng mèo gào lên, như giận dữ cùng với gió thổi cành rung lá cuồng loạn.

Gió rung cuồng loạn tới cả căn nhà chòi nhỏ sau vườn của chàng thư sinh trọ học. Trong nhà Thiên có sẵn một chai rượu chàng đã mua về từ mấy hôm trước để nhâm nhi ba ngày tết. Nhưng làm gì có Tết, có Xuân nữa. Thôi thì mượn nó quên sầu đời đêm nay.

Một mình độc ẩm. Bụng đói cồn cào, rượu vô lãng đãng. Chàng học trò trong Quảng ra thi trong cơn say, loạng choạng hát một bài tiếng Quảng, múa may cùng hình ma bóng quỷ. Gió bên ngoài đã hú thành tiếng, rên rĩ, bứt lá, bẻ cành. Giữa cơn gió hú, như có tiếng đập cửa, tiếng gọi. Chẳng biết bằng cách nào, cửa mở... giữa cơn mơ hồ, Thiên mở mắt, thấy một cô gái mặt ngọc, tóc dài đã ở bên mình.

"Trâm. Em..."

Đúng là khuôn mặt của Trâm, sao có đôi mắt lạ lùng đang nhìn chàng. Nửa mê, nửa tỉnh, Thiên quỳ xuống ôm ngang qua thân mình nàng. Sao nàng mỏng quá, nhẹ quá, ôm nàng trong tay mà y như có lúc chỉ ôm không khí, ôm hư vô...

"Trâm. Em đã đến, anh mong gặp em biết bao nhiêu."

Cô gái quỳ xuống, mặt đối mặt. Giọng nàng như tiếng thở:

"Anh. Em yêu anh. Em đã đến rồi nì. Đến rồi nì..."

"Anh nhớ em. Anh đau khổ tưởng chết. Có phải thật là em đến không?"

"Chi mô mà khổ. Em tới rồi nì."

Cô gái vò mái tóc của chàng trai trong tay, nâng mặt chàng lên:

"Có phải thật là em đó không?"

"Không thật mô. Em không phải người ta. Anh sợ không?"

"Không sợ. Không sợ."

Chàng học trò bỗng thấy mình như một đại lực sĩ. Chỉ cần một cánh tay, chàng nhẹ nhàng nhấc bổng cô gái lên, mang nàng tới chiếc giường tre. Y trang trút bỏ, cả một khối bạch ngọc lồ lộ chập chờn cùng ánh đèn dầu. Khối ngọc trong vòng tay học trò, khi thì Trâm thẹn thùng, sợ hãi, khi thì là một con bé nghịch ngợm, hung hăng, liều lĩnh. Đêm xuân nồng cháy, chiếc giường tre không ngừng kêu rên át cả tiếng gió ngoài vườn.

Gần sáng, nàng xô chàng ra:

"Em phải về. Về liền kẻo không kịp."

"Em còn đến nữa không. Em đừng bỏ anh... anh chết mất."

Nàng lùa năm ngón tay mềm mại vào tóc chàng:

"Hồi tối em thấy anh múa hát. Đêm mai, anh còn rượu, uống một ly, cất tiếng hát là em tới."

Nàng mặc quần áo, vội vã đến cả không kịp hôn chàng, biến nhanh ra ngoài như luồng gió. Thiên bàng hoàng không biết là mộng hay thực, rồi mệt mỏi thiếp đi. Chàng nằm bẹp hai ngày không dậy nổi. Bà chủ trọ bưng cho bát cháo, Thiên húp vài muỗng rồi bỏ. Vậy mà đêm đó, vừa nghe tiếng gió hú ngoài vườn, anh chàng đã bật dậy.

Chẳng biết sức lực từ đâu tới, sau khi nốc được mấy ly rượu, chàng học trò xứ Quảng lại một mình múa hát tưng bừng. Quả nhiên chỉ lát sau, cô gái đã trở lại. Trâm đã biến thành gái liêu trai từ bao giờ, tóc thả buông lơi không cài không kẹp, hai chân như lướt trên mặt đất. Nàng đẹp hơn nhan sắc mà trước đây chàng đã gặp gỡ, hẹn hò. Mắt nàng như lúc nào cũng pha chất lân tinh, óng ánh gợn sóng tình. Vừa đến, không cần tâm sự nữa, chàng ôm chầm lấy nàng như sợ nàng biến mất.

Vuốt ve, ôm ấp đắm say. Có lúc dưới ánh đèn dầu, nàng nằm nhắm mắt như nàng công chúa ngủ trong rừng, chàng vẫn không thể rời tấm thân nõn nà mà nóng bỏng.

Suốt cả tháng trời, cứ hôm nào chàng uống đủ đô rượu thì nàng đến và hai người quấn quýt lấy nhau tiếp tục truy hoan. Chiếc giường tre cơ hồ chịu không nổi đã xiêu vẹo, van xin, nài nỉ hàng đêm và muốn sụm.

Một hôm, sau cơn hoan lạc, nàng mới nhìn thấy ở góc bàn cái trâm cài tóc và cái lược làm còn dang dở. Nàng cầm lên coi, chàng nói:

"Đã sắp tới ngày em về nhà chồng chưa?"

"Em..."

Cắn môi tới rớm máu. Chàng ôm nàng vào lòng xót xa:

"Đây là vật anh làm để tặng em ngày đi lấy chồng. Và đây là lá thư tình mãi hoài anh không dám gửi."

Nàng cầm lấy, khóc:

"Cũng đã tới ngày em phải xa anh rồi."

Chàng thẫn thờ:

"Em đi lấy chồng anh sống không nổi. Thật đó, anh sống không nổi mô."

Nàng càng khóc lớn hơn:

"Em không còn cách nào khác. Hôm nay là ngày chót em gặp anh. Ngày mai em không tới được nữa..."

"Không em không thể xa anh, không thể bỏ anh. Hay mình trốn đi?"

Nàng gật đầu:

"Anh thề đi. Anh trốn đi với em. Anh thề độc, thề độc địa đi. Anh không bỏ em..."

Thiên sung sướng đưa tay thề liền. Thề độc thề địa nữa. Phải, chàng sẽ sắp xếp một chuyến đi. Cả hai đều trốn khỏi xứ Huế. Vì tình, Thiên có thể phụ lòng mẹ cha, bỏ khoa thi, bỏ tương lai tú tài sắp đoạt trong tay.

"Tối mai em tới, anh sẽ đưa em đi. Mình sống với nhau, em không sợ ai nữa. Em..."

Nàng cười. Nụ cười sao mà xa xôi, bí hiểm quá.

"Tối mai... Không đâu. Tôi mai em hẹn anh ở bến sông. Rồi mình đi."

Thiên mừng rỡ ôm chặt lấy nàng. Cả hai tiếp tục truy hoan cho tới gần sáng.

Tiếng gà gáy canh tư đã thúc giục lắm rồi, nàng mới vội vã bỏ đi. Lúc đó, khu vườn bên ngoài đã lờ mờ hiện trong màn sương.

Sáng hôm sau, Thiên nằm thiêm thiếp, đầu nóng như lửa. Chàng lên cơn sốt nặng. Trùm mền, đắp chăn. Ông bà chủ nhà lo lắm, có giúp Thiên một nồi thuốc xông buổi tối. Xông xong, Thiên có khỏe hơn, nhưng đầu óc còn choáng váng, mắt hoa. Dù vậy, nhớ lời hẹn với người yêu, Thiên thu xếp mấy bộ quần áo, chút tiền bạc dành dụm rồi chờ cho tới hai ba giờ sáng, một mình ra bến sông trước nhà Trâm. Sông nước lấp lánh, nôn nao.

Thiên chưa kịp cảm thấy hơi sương đêm lạnh, nàng đã tới. Vẫn nhẹ như gió, lướt trên mặt đất.

"Anh sợ em không tới. Đi, mình đi."

"Khỏi đi đâu hết ôm em đã. Em lạnh."

Nàng áp cả tấm thân vào người chàng, tự tay cởi áo chàng, áo nàng. Áo quần nào ấm bằng hơi nóng thể xác. Nàng vỗ vập, ôm ấp, đòi hỏi. Và đôi lứa quấn chặt, rơi mình xuống bờ cát bên sông.

Ai bảo sông Hương khúc Kim Long không từng, biết sôi sục?

Vẫn còn mùa xuân để cô gái đi lấy chồng. Đám cưới nhà giàu sẽ làm lớn lắm. Bây giờ không còn ai canh giữ Trâm nữa. Một bữa, cả xóm xôn xao bàn tán có xác chết dưới sông vớt lên chính là xác anh học trò trọ học.

Vậy là câu chuyện liêu trai giữa chàng học trò và ma nữ tiểu thư con quan nằm dưới nấm mồ trong ngôi nhà hoang lập tức được truyền tụng. Tình tiết câu chuyện bàn tán càng lúc càng ly kỳ. Đêm đêm, ma nữ từ dưới mồ lên vào phòng chàng học trò, lôi chàng ta ra bờ sông ân ái. Sau đây là đoạn đối đáp lâm ly giữa ma và người. Giọng ma nữ hẳn nhiên phải nhẹ nhàng như gió thoảng:

"Anh nói là chết vì em, không hối hận?"

"Không hối hận."

"Nếu em là ma, anh có yêu em không?"

"Anh cũng thành ma để yêu em."

"Vậy mình đi nghe."

"Anh yêu em!"

"Anh nhìn em coi, em là ai?"

Chàng học trò mở bừng mắt. Khuôn mặt cúi xuống trên người chàng là một cô gái, mái tóc xõa che khuôn mặt. Lúc đó trời sắp sáng hay có một ánh sáng nào mờ nhạt soi gương mặt người con gái màu xanh. Nàng mỉm cười, đẹp như hằng nga trên cung. Mà sao nụ cười bỗng dại đi, rồi khuôn mặt cũng biến đổi, méo mó, rồi giữa nụ cười nhô ra hai răng nanh...

"Eo ôi." Anh chàng kinh hoảng quá, hét lên và vùng vẫy. Nhưng hai cánh tay ma nữ đã như hai gọng kìm, ôm chặt lấy anh học trò, và cả hai lăn xuống dòng tối đen. Câu chuyện Liêu Trai Huế thường được kết luận vậy.

Hình như phải mấy ngày đêm xác anh học trò mới nổi lên. Người cha của năm cô gái không khỏi bùi ngùi xúc động, ngầm trách mình cứng rắn nhưng cũng thở ra một hơi dài nhẹ nhỏm.

Đúng là anh chàng Thiên chứ ai. Tội chàng quá, Trâm khóc không biết bao nhiêu đêm, nhưng rồi đành chịu cam phận về nhà chồng. Mong chồng, mong cuộc đời mới sẽ giúp nàng nguôi ngoai mối tình tan vỡ, chia ly kẻ âm người dương.

Trước ngày lên xe hoa, Trâm nhớ lại mình còn thiếu nợ hồn ma dưới mồ trong khu vườn hoang kia một nắm nhang. Muốn trả cho xong trước khi về nhà chồng. Trâm mua một bó nhang, chờ cơm chiều xong, trời chạng vạng, một mình lẻn vô sau căn nhà hoang.

Bữa đó trời không một cơn gió. Khu vườn càng lặng lẽ hoang vắng. Ngôi mộ đất lở xơ xác nằm trơ vơ. Trâm bỗng nhìn thấy trên mộ, ai để một phong bì thư cũ mèm và một cây trâm bằng gỗ, phía cán khắc lộng hai trái tim lồng nhau, cắm chặt lá thư xuống đất.

Trâm mở ra xem, mới hay thư của Thiên gửi cho mình lâu rồi. Còn chiếc trâm cài chắc là một quà tặng cho nàng. Trâm đọc xong lá thư, đốt cho mất tang mất tích. Còn cây trâm giữ lại để cài tóc coi như một kỷ niệm.

Đêm đó, Trâm nằm mơ, thấy Thiên cầm tay một người con gái rất đẹp, mớ tóc còn dày và dài hơn tóc thề của Trâm nữa. Thiên không nói gì, nét mặt vui vẻ. Cô gái nói với Trâm:

"Cám ơn em đã cho chị một nắm nhang."

Nói xong cả hai đều biến mất.

Cô gái nào chả có những giấc mơ đêm trước ngày tân hôn. Ngày mai pháo sẽ nổ trước sân. Trâm sẽ có một cuộc đời khác.

Chuyện bốn chục năm sau. Tối đầu năm trong một gia đình Việt Nam. Ở một thành phố khác, cũng có thể ở một đất nước khác. Một ông tóc hoa râm, chén chú chén anh với các bạn già cùng lưu lạc gặp lại. Chủ nhà đã ngà ngà say, nhắc lại chuyện xưa, ông cười.

"Thì rứa, học trò trong Quảng ra thi mà. Hồi trẻ anh nào chẳng có lúc tầm bậy tầm bạ. Thì cũng tính đánh hoa cả cụm, không được thì đánh lẻ. Mà mình cũng mần chi mô. Bảo hát là hát, bảo ôm là ôm, bảo đi là đi. Bà tui bây chừ đó tề... Nì, mạ nó mô hè, lấy chai Remi trong tủ ra nhậu luôn, bữa ni vui..."

"Uống vừa vừa thôi ông ơi: Từ ngày tui lấy ông tới bữa ni, chỉ thấy ông mê rượu."

"Bà đừng noái nữa mà tui kể ra bà hổ ngươi. Chớ không phải nhờ rượu, nhờ hát hay mà hồi đó có con ma nữ liều mạng..."

"Còn nói nữa, không biết dị. Mấy anh biết không, có một chuyện mà kể hoài, làm như oai lắm."

"Để chú ấy kể chuyện Liêu Trai Huế đi, cô Ba". Một ông nói.

Bà chủ nhà ngoe nguẩy, đặt chai rượu xuống trước mặt ông chồng rồi cười cười bỏ vào nhà trong.

Thì ra đầu năm, các ông hoa râm lai rai kể chuyện xưa tích cũ. Chủ nhân có mái tóc hoa râm từng là chàng học trò xứ Quảng ra Huế học thi. Bà chủ được gọi là cô Ba, nghe đâu chính là cô em thứ ba trong đám "ngũ long công chúa" nghịch như quỷ sứ ở Kim Long thuở nào.
 
 
NHÃ CA