Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

MẮT CỌP - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Năm đó, tôi lên Ban Mê Thuột vào dịp Tết. Lý do là vì ở Saigon hoài đâm ra chán ngấy, nhất là Tết mà ở một mình trong thành phố rộng lớn này có lẽ phải buồn dễ sợ. Hơn nữa tôi có nhà một người bạn thân ở thị trấn cao nguyên này, tôi đã từng ở đây một thời gian và dầu cho lang bạt khắp chốn cũng khó lòng quên được những hình ảnh dễ thương, thơ mộng của Ban Mê Thuột, nơi mà người ta thường gọi là xứ Buồn Muôn Thuở.

Hồi ấy, tôi làm phóng viên cho một tờ nhật báo lá cải. Một tờ báo rất bạc đãi đối với bọn săn tin thời sự chính trị, vì nó sống lây lất chẳng qua là nhờ những tiểu thuyết võ hiệp và khiêu dâm đầy tràn ở trang trong. Tôi thường viết những bài phóng sự chiến trường, nhưng không được một ai chú ý đến vì thật ra nó tẻ nhạt như một bản thông cáo tình hình chiến sự. Thường thường tôi đến nơi sau khi súng đã im tiếng, người ta đã thu dọn mọi chuyện và tôi chỉ cắm đầu ghi chép lời của viên chỉ huy quân sự nơi đó, nghe y kể chiến công này nọ và trịnh trọng cầm cây gậy chỉ chỏ vào tấm bản đồ hành quân.

Tóm lại tôi là một người làm biếng, một phóng viên tồi, làm báo chẳng qua là để kiếm chút ít tiền sống qua ngày, và vì đã thất bại với đủ nghề trước khi lao đầu vào nghề này.

Lão chủ nhiệm lại thích tỏ ra mình là người có nhiều sáng kiến và hay ra lệnh. Những ngày gần Tết, bỗng nhiên lão gọi tôi vào văn phòng.

- Trong năm qua tôi thấy anh làm việc có vẻ lơ là quá. Như thế biết bao giờ mới "nổi" được. Làm báo là phải siêng năng, mạo hiểm, chịu khó đi xa, viết những cái gì thật độc đáo không giống với ai cả.

Tôi ngắt lời lão cộc lốc:

- Tôi biết rồi, thưa "xếp".

Lão gật gù nhìn tôi:

- Tết này anh có kẹt gì không, có về thăm gia đình không?

- Không.

- Tốt lắm. Dạo này ở cao nguyên thường có đánh nhau. Người ta chú ý nhiều đến Dakto, Pleime... v.v. Nếu anh chịu khó bay lên đó nằm chơi mấy ngày Tết, viết một cái phóng sự về đời sống của những chiến sĩ nơi tiền đồn rừng rú hẻo lánh, tôi thấy có vẻ ăn khách lắm.

Tôi chửi thề trong bụng. Tôi muốn nói thẳng với lão là cái "sáng kiến" của lão thật lẩm cẩm và chỉ có mỗi một mục đích là hành hạ người ta thôi, nhưng viễn ảnh thất nghiệp đói rách khiến tôi ngậm câm miệng. Tôi cũng gật gù:

- Được rồi. "Xếp" chi tiền một giấy máy bay khứ hồi lên Ban Mê Thuột cho tôi, từ đó tôi xin phương tiện quân sự ra thăm các tiền đồn. Và đừng quên tiền công tác phí là tôi sẵn sàng đi ngay.

Lão chủ nhiệm nhăn nhó khi nghe nói đến vấn đề xuất tiền bạc. Nhưng cuối cùng có lẽ nghĩ đến việc hy sinh một mùa xuân vui chơi của tôi nên lão cũng bằng lòng. Bà vợ lão cố vớt vát bằng cách gởi tiền tôi mua mật ong, cao hổ cốt, thịt nai khô nhân dịp tôi lên Ban Mê Thuột. Bà ta nghe nói trên đó những thứ ấy rẻ lắm.

Thế là có mặt tôi trong một chuyến bay rời khỏi Saigon vào ngày hai mươi tám Tết. Bỏ mặc cái thành phố đang nhộn nhịp những người đi sắm áo quần, mứt bánh, sửa soạn cho một ngày Tết ấm cúng trong gia đình. Nhìn qua khung cửa kính của phi cơ, thành phố nhỏ dần như món đồ chơi. Giờ này, hành khách đang nôn nóng trở về nhà đón xuân. Chỉ có tôi là đang bắt đầu cái công việc vô duyên chán nản nhất. Nhưng sống vất vưởng nay đây mai đó đã quen, tôi cũng không thấy buồn bã gì cả. Cái nghề nghiệp lạ lùng này nó bất cần biết đến ngày nghỉ lễ hay Tết nhứt gì hết. Và muốn sống dai với nó, điều đầu tiên là phải vứt bỏ bớt tình cảm, lòng dửng dưng khô rắn như một khúc gỗ.

*

Vì có đánh điện tín trước nên khi vừa đến phi trường Phụng Dực, tôi đã thấy Bằng đứng đợi sẵn. Hắn la lên, vẫy tay ra hiệu. Cái thằng bạn vui tính này, trước kia học cùng lớp tôi, bây giờ hắn trông nom đồn điền café cho ông bố. Trời Ban Mê Thuột mọi khi đã lạnh nay lại là mùa xuân, gió mưa lất phất rét chết người. Bằng quàng thêm cho tôi chiếc áo ấm rồi kéo tôi ra khỏi phi trường, hắn phóc lên một chiếc xe gắn máy đèo tôi phóng chạy như bay. Phải mập mạp và chịu lạnh quen như Bằng mới dám phóng xe gắn máy từ phi trường về thành phố, gió quật ngược vào người như những ngọn roi đau buốt, nhưng Bằng vẫn cười nói luôn miệng:

- Năm nay về nhà tao ăn Tết. Ở cái xứ đất đỏ này ngày Tết cũng vui ra phết... Năm nay tao...

Tôi gật đầu mặc dầu gió thổi mạnh làm tôi không nghe gì cả, mặc cho Bằng vẫn thao thao nói ba hoa gì đó, chắc là hắn đang phác họa chương trình đi chơi mấy ngày Tết.

Đêm Giao Thừa ở nhà Bằng, tôi mới khám phá mình vẫn mềm yếu như trẻ con. Tiếng pháo bên ngoài đì đạch nổ vài cái, sửa soạn cho những tràng pháo dài tha hồ ròn rã vào lúc mười hai giờ sắp đến. Trong nhà, bà mẹ của Bằng bày biện đồ cúng Tất Niên, những con gà luộc chín bốc khói, cua, trứng và cặp bánh chưng bọc lá chuối vừa vớt từ trong nồi bánh ra, nghi ngút khói. Những đứa em của Bằng co mình trong chiếc áo len mới, đứng sát bên nhau, hau háu nhìn vào đồ cúng. Bằng cũng bệ vệ trong bộ áo quần mới của hắn, hắn lăng xăng khắp nhà để sửa sang cái này cái kia. Bầu không khí ấm cúng đoàn tụ của gia đình Bằng làm tôi tủi thân. Tôi nhớ nhà kinh khủng. Nhà tôi, mẹ và ba đứa em nhỏ bây giờ đang làm gì, năm nay không biết có ai mua pháo và quần áo mới cho chúng, mẹ tôi có gói bánh chưng, bánh tét và làm mứt me dầm như mọi năm không.

Những hình ảnh ấy tôi tưởng chừng đã quên đi rồi, bây giờ bỗng thấm ướt vào người tôi, làm tôi thấy giá lạnh vô cùng.

Tôi bỏ ra khỏi nhà Bằng, trời tối đen, tôi cắm đầu đi về phía phố. Con đường vắng ngắt tối tăm, những dãy nhà đều đã đóng kín cửa, hắt ra từ khung cửa sổ một tí ánh đèn vàng, giờ này mọi gia đình đều đầy đủ quây quần bên nhau chờ đón Giao Thừa. Pháo nổ rải rác đây đó. Ngay trung tâm thành phố, quang cảnh đen ướt hoang vu như một sa mạc chết. Chỉ bơ vơ mấy ngọn đèn đường còn nhà nhà đều câm lặng. Rạp chớp bóng, khu Chợ Mới, những quán ăn ban chiều còn tấp nập, bây giờ bất động quạnh quẽ như một nghĩa địa. Nhưng chỉ là nghĩa địa đối với tôi thôi, còn bên trong những nấm mồ (do tôi tưởng tượng), người ta đang ấm áp bên nhau trong nỗi hạnh phúc ngày xuân.

Tôi nghe tiếng giầy của mình vang lẻ loi đều đều trên đường. Khói thuốc lá không đủ ấm lòng mặc dầu đốt liên hồi làm môi đã khô nóng, co mình trong chiếc áo dạ rộng phùng phình, tôi cắm đầu đi suốt hết con đường Y Yut, rồi rẽ lên phía nhà thờ. Tôi muốn đến suối Bu Ji nhưng trời đã khuya, con suối lại nằm xa tít ở bìa rừng, đường núi gập ghềnh nên tôi không dám đến đó bây giờ. Tôi đành ngồi trên một chiếc ghế đá, đặt ngoài sân nhà thờ. Có bức tượng nhỏ của một ông thánh gì đó làm bằng đá cứng trên bục cao, gần bồn hoa và hồ nước nhỏ. Tôi không biết ông thánh ấy tên gì nhưng đêm nay, ngoài tôi ra, có lẽ ông ta là hình thù giống người duy nhất đang đứng ngoài trời.

Tôi ngủ thiếp đi trên ghế đá. Một khoảng thời gian trôi qua khá lâu, rồi những tràng pháo nổ ầm ĩ làm tôi giật mình thức dậy. Trong bóng tối dày đặc của thành phố, nhấp nháy khắp nơi những ánh lửa, khói thuốc pháo thơm thoang thoảng đâu đây. Không cần có đồng hồ, tôi cũng biết bây giờ là mười hai giờ đêm.

Đêm Giao Thừa của tôi năm nay như thế đó.

*

Ngày đầu tiên của năm mới, nhà của Bằng bận rộn những khách khứa, những lời chúc Tết và bánh mứt, rượu đầy tràn trong phòng khách. Tôi bỏ ra phố một lần nữa. Cả cái thị trấn cao nguyên nhỏ nhoi này dường như vừa khoác một chiếc áo mới. Những thiếu nữ áo len đen và tà áo dài đủ màu rực rỡ, thỉnh thoảng nhiều người Thượng cứng ngắc trong bộ vó sang trọng nhất. Người người đi dạo chơi gần như quanh quẩn ở một đường chính của thành phố. Đường Quang Trung kéo dài từ nhà thờ đến chợ. Mọi quán đều đóng cửa ngoại trừ rạp hát đang đông nghẹt khách, tấm bảng quảng cáo đập vào mắt hình ảnh súng nổ, đấm đá dữ dội của một cuốn phim cao bồi.

Tôi tìm đến một quán café của người Tàu ở góc chợ, điểm tâm bằng một cái bánh bao bốc khói và ly café sữa. Thành phố nhộn nhịp một cách dễ thương bên ngoài, càng làm tôi thấy lẻ loi hết sức.

Ngay trong khi tôi ra sạp thuốc để tìm một thứ thuốc lá quen thuộc, tôi bỗng kinh ngạc đến ngẩn người, người bán hàng thối tiền lẻ lại nhưng tôi vẫn bất động nhìn chăm chăm về phía rạp hát.

Thằng Mắt Cọp, thằng em trai tôi đó sao. Dáng nó cao lêu nghêu, chiếc áo len đỏ chói và quần "Din" xanh làm nó nổi bật hẳn lên trong đám người. Đúng là thằng Mắt Cọp, không thể nào lầm lẫn được. Tôi la lên:

- Mắt Cọp! Mắt Cọp!

Ở đằng kia, Mắt Cọp giật mình ngơ ngác. Khi nhìn thấy tôi, nó la lên một tiếng ngạc nhiên, rồi phóng băng qua đường bất kể xô lấn mọi người. Hai anh em tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ vô cùng, tay tôi giật giật cái gáy tóc rậm rạp của Mắt Cọp.

- Mắt Cọp, mày bây giờ lớn quá rồi. Sao? Làm sao mà mày lại ở Ban Mê Thuột lúc này? Má và tụi nhỏ đâu?

Tôi lo lắng hỏi nó. Mắt Cọp nhe răng cười, đôi mắt nó vẫn to long lanh như mắt con gái, nhưng đôi lông mày rậm thỉnh thoảng nhíu lại với vẻ giận dữ làm nó có biệt danh Mắt Cọp.

- Ở ngoài Qui Nhơn hết chứ đâu. Bà Trân mời nhà mình lên Ban Mê Thuột ăn Tết. Má bịnh nên không đi được, má cho em lên đây chơi một mình. Mấy ngày nay em ở nhà bà Trân, chơi với tụi nhóc con bà hoài cũng chán. Anh biết bà Trân không?

- Biết. Cái bà lúc trước hay hùn hạp làm ăn với má chứ gì?

Mắt Cọp gật đầu, nó nói có vẻ buồn buồn:

- Lúc này bà đó làm ăn phát tài dữ lắm. Còn má thì cứ thua lỗ hoài. Em lên đây chơi một phần, một phần là để mượn tiền bà Trân cho má. Nhà mình lúc này "bết" lắm.

Mắt Cọp làm tôi thấy buồn bã. Thằng Mắt Cọp ngày xưa suốt ngày chỉ lo chơi đùa phá phách bây giờ đã biết lo lắng về chuyện tiền nong gia đình. Mắt Cọp lặng lẽ quan sát tôi, nó e dè hỏi:

- Trông anh ốm quá, anh lúc này ra sao?

- Thì cũng loay hoay kiếm đủ ăn.

Đôi mắt của Mắt Cọp bỗng mềm và buồn như nai tơ, nó nắm lấy tay tôi đặt lên bàn:

- Từ ngày anh bỏ đi, má với tụi em ngày nào khi ăn cơm cũng khóc. Thôi anh về nhà đi, má hết giận anh rồi.

Lời nói của Mắt Cọp như những mũi kim đâm vào bụng tôi đau nhói. Nếu không ngồi trong quán, chắc tôi đã bật khóc như trẻ con, ngày xưa mỗi lần mấy anh em bị mẹ tôi cho ăn roi vì nghịch ngợm, tôi vẫn là một thằng mau nước mắt nhất.

Tôi cố dằn lại bằng cách hỏi Mắt Cọp ăn uống gì, nó gọi một tô hủ tiếu và một chai xá xị. Tôi mỉm cười nhìn cái miệng của Mắt Cọp cuốn thức ăn vùn vụt như một con cá mập đớp mồi. Nó vẫn háu ăn và hồn nhiên như hồi xưa mặc dầu bây giờ đã được mười tám tuổi. Những ngày xưa vô tư của tôi bỗng hiện về trước mắt, rõ ràng như quang cảnh đường phố.

Hồi đó, nhà tôi ở trên bãi biển, mùa hè mấy anh em tôi được nghỉ học, bọn tôi chơi đùa phá phách suốt ngày. Căn nhà và khu vườn có những cây trứng cá đầy bóng mát trở thành miền Viễn Tây máu lửa, nơi xảy ra biết bao cuộc tranh hùng của những bộ lạc da đỏ hiếu chiến. Tôi, thằng anh đầu, lúc đó được mười tám tuổi, là tù trưởng của một bộ lạc với biệt danh là Ngựa Vằn, ông vua của những thung lũng hoang vu. Thằng em trai kế tôi là xếp sòng một bộ lạc thù nghịch, biệt danh là Mắt Cọp, chúa tể của sơn lâm. Cô em gái duy nhất trong nhà, nhất định lấy cái tên là Hươu Cao Cổ, công chúa của rừng xanh. Và thằng em út, hỗn danh là Dế Lửa, chúa tể của lòng đất âm u. Tất cả chia ra làm hai phe trong những trận đụng độ bằng cách ném cát, bắn đạn giấy, đấu kiếm v.v... Mắt Cọp và thằng Dế Lửa một phe, tôi và cô em gái Hươu Cao Cổ một phe. Chúng tôi ẩn nấp, rình rập trong căn nhà suốt ngày để thanh toán nhau bằng những viên đạn giấy bắn bằng sợi dây cao su, khi bị trúng vào ngực hay mông cũng đau điếng người. Hươu Cao Cổ chạy nhanh nên thường được tôi cử đi tiền sát, thám báo. Bên kia, thằng Dế Lửa giỏi chui rúc được chọn làm điệp viên dọ thám.

Mắt Cọp thua tôi hai tuổi, nhưng nó to con và mạnh bạo hơn tôi nhiều. Có lần đấu vật trên bãi biển, nó đè ngửa được tôi, một tay nó siết cổ và tay kia cầm một nắm cát đe dọa nhét vào miệng tôi. Tôi hoảng hồn la lên:

- Thả tao ra, Mắt Cọp!

- Anh phải nói chịu thua, em mới thả.

- Được, tao chịu thua.

- Không được. Chúa tể Ngựa Vằn, anh phải hứa chỉ trong 24 giờ, toàn thể bộ lạc của anh và con Hươu Cao Cổ phải ra khỏi nơi này, nhường hết đất đai lãnh thổ cho Tù Trưởng Mắt Cọp cai trị.

Thằng điệp viên Dế Lửa vỗ tay hoan hô, khoái chí ké vào mấy câu:

- Giang sơn này đã thuộc về ta. Mắt Cọp và Dế Lửa muôn năm!

Tôi phát cáu la lên:

- Mắt Cọp, mày không buông ông ra, chốc nữa đến giờ học ông ra cho mày một bài toán hóc hiểm cho mày bí chết luôn.

Thằng Mắt Cọp chợt nhớ ra tôi là "giáo sư" kèm học trong nhà vào mỗi buổi chiều. Nó ngán tôi lấy uy quyền của ông giáo để trả thù, nên sợ hãi buông tôi ra ngay. Nó đứng dậy xin lỗi tôi rối rít, tôi liền nhanh tay kẹp cổ nó lôi xuống biển nhận nước. Tôi bơi lặn giỏi hơn Mắt Cọp nhiều, cái thằng này chỉ uống vài ngụm nước là sặc sụa xin đầu hàng liền.

... Tôi phá bật cười cùng với lúc Mắt Cọp cũng cười sặc sụa. Hớp nước ngọt trong miệng nó sặc lên mũi văng ra ướt cả mặt. Chắc nó cũng vừa nhớ lại những cuộc tranh tài giữa hai anh em, như tôi đang tưởng nhớ miên man. Tôi châm một điếu thuốc rồi đẩy bao thuốc lá về phía nó.

- Mày bây giờ biết hút thuốc lá chưa?

Mặt Cọp lắc đầu:

- Em chê cái trò này. Chỉ khoái uống cô-ca, xá xị hay đi xi nê.

Trời đã bắt đầu trưa nhưng mùa xuân cao nguyên, mặt trời vẫn nhường chỗ cho mưa bay lất phất, giá lạnh cho những kẻ cô đơn. Tôi cũng sẽ giá lạnh biết mấy nếu không gặp Mắt Cọp buổi sáng nay. Mặc kệ tất cả những chuyện gì rắc rối có thể xảy đến, tôi cũng nhất định cho tôi và Mắt Cọp một  cái Tết thật đẹp. Tôi búng tay gọi chú bồi kêu thức ăn cho buổi cơm trưa. Bữa ăn theo kiểu Tàu với "cơm thố" và đầy thức ăn, gà vịt, heo quay và một cái "cù lao" bốc khói. Tôi và Mắt Cọp, không ai nhường nhịn ai, thi đua ăn một bụng thỏa thích. Chai bia làm bữa ăn thêm ngon miệng, da thịt trở nên ấm áp một chút. Xong xuôi, tôi trả tiền và kéo Mắt Cọp ra khỏi quán.

- Mày về nói với bà Trân là mày sẽ đến ở với tao vài ngày. Tao cũng về dặn thằng bạn cho nó khỏi đợi. Chiều nay hai giờ ra trước rạp Lo Do đợi tao.

Mắt Cọp khoái chí ra mặt, nó cứ nhúc nhích đôi lông mày rậm của nó, dấu hiệu thường thấy mỗi khi nó vui thích điều gì.

- Đi chơi Tết với anh là số dách rồi. Thôi em về anh nghe.

- Mày quên tên tao rồi hả?

Mắt Cọp dừng lại, nhìn quanh quất bốn phía rồi nó hứng chí vỗ bàn tay vào miệng hú lên một tràng dài như mọi da đỏ. Những người đi đường ngạc nhiên nhìn, nhưng nó vẫn tỉnh bơ, đưa hai ngón tay lên mắt ra dấu chào tạm biệt.

- Chào Ngựa Vằn.

- Chào Mắt Cọp. Chiều gặp lại.

Tôi trả lời và nhìn bóng dáng của nó xa dần, cặp giò sếu vườn thoăn thoắt một chốc là biến mất sau một ngả rẽ của thành phố.

Có tiếng pháo nổ dòn tan nghe thật hào hứng.

*

Chiều hôm đó, tôi và Mắt Cọp bắt đầu rong chơi khắp thị trấn. Đi quanh mãi hàng phố nhỏ cũng chán, chúng tôi lê gót đến những nơi xa hơn. Ngôi chùa Khải Đoan làm bằng gỗ đẹp lạ thường, nghi ngút khói hương. Ngoài cổng chùa, trên con đường nhỏ dẫn xuống thành phố, nhan nhản những sòng Bầu Cua Cá Cọp. Tôi thua mất vài trăm bạc ở chỗ này. Mải mê ăn thua tôi lạc mất Mắt Cọp trong đám người chung quanh. Tìm mãi mới thấy Mắt Cọp đang chúi đầu trong một sòng bài ba lá. Tôi phải kéo nó đi để tránh cho nó cái cảnh sạch túi vì thứ bạc bịp này.

Tôi cũng khá rành về Ban Mê Thuột nên tôi dẫn Mắt Cọp vào sâu trong những rừng rẫy xa xôi của người Thượng. Mắt Cọp cứ trố mắt nhìn những bầy con nít đen thui tắm suối. Những ngôi nhà sàn nằm sát nhau trông thật dễ thương trong buôn Thượng. Chúng tôi đi dọc theo dòng suối Bu Ji và suối Đê, gặp trời nắng mà tắm suối thì khoái biết mấy nhưng tiếc là mùa này nước lạnh băng như nước đá. Dưới bóng mát của những cây rừng âm u, lá ướt nằm chất đầy trên đất đỏ. Đến trưa, tôi mua cho Mắt Cọp ăn bằng thích một bung bắp luộc và đu đủ. Những khu vườn ở ngoại ô thành phố vẫn đầy trái cây quanh năm và chủ nhà rất vui vẻ bán cho bất cứ người nào hỏi mua. Mắt Cọp có vẻ thích hợp với rừng núi, từ trước đến nay nó chỉ nhìn thấy đồi núi và cánh rừng xanh trong phim ảnh.

Đến chừng đi rong đã mỏi chân, tôi nói:

- Thôi, mình về phố. Mày có muốn đi xe ngựa không?

- Khoái lắm, em chưa đi bao giờ.

Thế là tôi và Mắt Cọp lắc lư trên một chiếc xe ngựa chạy lóc cóc chậm rãi. Con ngựa già khi leo lên dốc quốc lộ lê từng bước một như muốn sụm đầu gối. Tôi và Mắt Cọp phải nhảy xuống xe, chạy bộ cho qua khỏi con dốc cao. Lát sau, bánh xe lăn đều lạo rạo trên mặt đường, mưa nhẹ đã làm mặt đất đôi chỗ có vài vũng nước và sình lầy. Mắt Cọp ngồi nhai kẹo cao su, nhịp chân bên cạnh lão mã phu, mắt nó mơ màng như tưởng tượng mình là một chiến sĩ da đỏ trên lưng ngựa.

Tôi vỗ mạnh vào vai nó:

- Tụi mày bây giờ còn chơi trò mọi da đỏ nữa không?

- Hết rồi. Từ khi anh đi, ở nhà chán chết. Em bây giờ giữ "gôn" cho đội banh trong trường, bắt dính như keo. Thằng Dế Lửa giờ siêng học ghê gớm, cả ngày cứ lầm lì chúi mũi vào vở, tháng nào nó cũng nhất lớp.

- Mọi da đỏ mà cũng học giỏi thế à. Còn con Hươu Cao Cổ?

Mắt Cọp quay đầu lại, bĩu môi:

- Trời ơi, cái con nhỏ đó. Anh biết nó nói sao không?

- Không.

Mắt Cọp đong đưa cái miệng giả giọng con gái:

- "Em bây giờ lớn rồi, không thèm chơi trò con trai nữa". Nó nói thế đấy. Anh mà thấy nó bây giờ thì phải biết, đi học mặc cái áo dài trắng tinh, trông "điệu" không chịu được.

Tôi bật cười, khuôn mặt của những đứa em hiện ra trong đầu óc, tôi cảm thấy thương nhớ chúng lạ lùng. Cái quá khư nông nổi điên cuồng của tôi lại trở về dẫu tôi muốn quên đi. Thuở đó không biết tôi la cà ở những quán bar đầy gái và bạn bè từ bao giờ. Mẹ tôi la mắng tôi suốt ngày, rồi một sớm mai tôi bỏ nhà đi theo một ả đàn bà hạng xoàng, nhưng hồi đó tôi thấy cô ả tuyệt vời như thiên thần. Nàng bỏ rơi tôi ở Saigon để theo một kép giàu sụ, tôi không dám trở về nhà và phải vật vã chen lấn mãi trong thành phố lạ mặt đó để kiếm sống.

Về đến phố, tôi kéo Mắt Cọp vào tiệm Mỹ Cảnh, hiệu cơm Tây duy nhất trong thành phố này. Tôi đãi nó một trận linh đình. "Bí Tết" thơm phức, bồ câu quay, phó mát trắng và rượu vang đỏ. Tôi ép nó uống một chút và thích thú nhìn bộ mặt đỏ rần của nó sau vài hớp rượu. Nó bắt đầu gật lên gật xuống trông thật khôi hài và đánh rớt dao nĩa mấy lần trong bữa ăn.

No nê, chúng tôi kéo đến thuê một phòng nhỏ ấm áp trong khách sạn, có vườn cây và ở bên cạnh rạp hát. Giọng Mắt Cọp lè nhè:

- Tiền đâu mà anh xài sang vậy?

- Đừng lo chuyện đó, Mắt Cọp. Tao đã đến tuổi không còn chạy rong trong thung lũng nữa.

Trong lúc Mắt Cọp ngủ li bì với cơn say của nó, tôi kiếm giấy bút và hí hoáy viết một bài báo lảm nhảm nhất trong đời tôi. Số tiền công tác phí, tiền gởi mua đồ của bà chủ có vẻ đã gần cạn và tôi không thể bỏ Mắt Cọp ở đây để làm tròn công việc của mình. Tôi không đắn đo viết thêm lá thư ngắn cho ông chủ nhiệm, đại ý:

"Thưa ông,

Trời Ban Mê Thuột gặp bão lớn, chắc là thổi từ Ai Lao qua. Các cơ quan quân sự ở đây từ chối không cấp phương tiện cho tôi ra các tiền đồn, đi máy bay trong lúc trời đang nổi cơn giông bão này theo họ là một cuộc tự sát. Bởi thế, công việc dự định của tôi không thực hiện được.

Để bù lại, tôi gửi ông một bài phóng sự khác rất độc đáo: "Nghề trồng café ở Việt Nam". Ông và tôi đều thích uống café, và tôi tin chắc có hàng triệu độc giả ghiền café, nên loạt bài này sẽ làm tờ báo bán chạy như tôm tươi mà không cần phụ bản đào cải lương in ốp xết bảy màu".

Mắt Cọp ngủ say một giấc cho đến chiều trong lúc tôi nặn óc để viết bài. Lúc nó ngủ dậy, trời bên ngoài nhìn qua khung cửa sổ đã tối đen. Chúng tôi xuống phố kiếm đến một tiệm cháo gà rất ngon ở trước rạp hát. Và mặc dầu rạp hát đang chiếu một cuốn phim cao bồi tôi đã xem rồi, tôi cũng kéo Mắt Cọp vào xem lại, nó say sưa nhảy lên nhảy xuống ghế nệm vì những cảnh phi ngựa rượt bắn trên màn bạc.

Ở rạp hát ra, trong khi hầu hết mọi người đều về nhà, tôi và Mắt Cọp vào một quán nước ở góc phố. Trời lạnh thế này mà nó làm luôn một lúc hai ly kem Chocolat to tướng. Tôi uống bia lai rai cho đến khuya, khách đã về hết, người bồi uể oải sửa soạn đóng cửa quán.

Trên con đường tối đen như hố sâu, có lẽ chúng tôi là hai người duy nhất đang đi trong thành phố. Tôi quàng lấy vai Mắt Cọp cho ấm người, gió rừng cao nguyên vi vu thổi về làm những chiếc lá bay bổng lăn tăn trên vỉa hè. Bây giờ thỉnh thoảng chỉ còn một hai tiếng pháo nổ, nghe xa xăm quá chừng, nhưng tôi không còn thấy lẻ loi nữa.

Buổi sáng, tôi dậy sớm đến Ty Bưu Điện để gởi bài về cho tòa báo. Lúc tôi trở lại khách sạn, Mắt Cọp đã đi đâu mất. Tôi ra đứng trước cổng, nóng ruột chờ đợi để dẫn Mắt Cọp đi chơi, lần này chắc phải ở suốt ngày trong rừng với đầy đủ thức ăn nguội, bánh mì và thuốc lá...

Tôi vui vẻ đưa tay vẫy Mắt Cọp, nó đang từ đàng xa đi lại một cách chậm rãi, bộ mặt có vẻ tư lự khác thường.

- Mày đi uống café một mình sớm thế à?

- Không. Em lại nhà bà Trân, vụ mượn tiền cho má xong xuôi hết rồi. Má lại mới đánh điện tín gọi em về gấp. Chắc mai em về.

Tôi gật đầu, đạp dí tắt điếu thuốc lá còn lại. Mắt Cọp chợt nắm lấy tay tôi, giọng nói của nó van lơn tội nghiệp chưa từng thấy.

- Anh theo em về nhà đi. Anh còn muốn đi lông bông đâu nữa?

Tôi vuốt ve mái tóc lởm chởm của Mắt Cọp, đôi mắt nó chợt ửng đỏ nước mắt khi thấy tôi im lặng. Mái nhà yêu dấu, thành thị xa lạ nhảy múa những tham vọng, tuổi trẻ lang thang với những giấc mơ chinh phục quyến rũ. Tiếng nói của Mắt Cọp vang lên gần như òa khóc:

- Theo em về nhà, đi anh.

Tôi bâng khuâng nhìn về phía cuối đường, trái tim tôi đau nhói. Một cánh chim đen vội vàng bay qua khung trời mưa.


HOÀNG NGỌC TUẤN     

(Trích từ tập truyện ngắn Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, nxb An Tiêm 1972)
 

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

CHÀO VÙNG ĐẤT CAO NGUYÊN - Võ Hồng

 

Chín tháng mười một. Tôi bước xuống xe đò Minh Tân.

Không khí mát lạnh làm đầu óc tôi lâng lâng ngây ngất. Dưới chân tôi vẫn là màu đen quen thuộc của nhựa đường của mọi thành phố, nhưng tôi biết chắc rằng ở dưới tầng sâu là những lớp đất đỏ đặc biệt của miền Cao Nguyên. Đất ẩm ướt nuôi dưỡng những rừng ngo dày, những đám dương xỉ chằng chịt, đất nhu hiền đó bắt đầu từ hôm nay bảo bọc tôi. Đĩa rau làm xanh mát bàn ăn, những quả cam quả mận màu vàng, lọ thúy cúc làm rực rỡ căn phòng, thậm chí ly nước lọc trong suốt mà tôi sẽ uống một hơi dài đều là sản phẩm của đất. Thân ái chào vùng đất Cao Nguyên. Xin cảm tạ sự chở che kín đáo lặng lẽ.

Lần đầu tiên tôi đến Dalat là lúc tôi được bảy tháng. Má tôi bồng trên tay. Lần này tôi đến Dalat với thẻ căn cước bỏ kỹ trong xắc và cái va-li nặng cứ chực trằn xuống. Thời gian vù qua một loáng thật mau.

Tôi vừa đậu xong Tú Tài, mùa hè 72. Khi thi thì mong đậu, đậu xong cảm thấy buồn. Thương ngôi trường nơi tôi cho trôi qua mười hai năm lặng lẽ vô tư. Mỗi ngày khi tôi cặm cụi trong phòng học trên trang sách thì ngoài sân trường những cây phi lao cao vút rầm rì tâm sự với nhau trên từng trời cao. Những thân xoài tựa lá xanh dày mang sức sống tràn trề đang khoe mình với bồn cỏ xanh trải rộng quanh chân. Sống gần chúng hàng ngày trong suốt mười hai năm, những cây cối đó trở thành những người bạn có xúc cảm, có tri giác. Xa các người, tôi buồn lắm, có biết không?

Tôi đã đến thăm trường vào một ngày cuối mùa Hè. Các lớp đóng cửa, sân trường vắng hoe. Tôi im lặng bước, nhón gót đi khẽ, sợ không dám khua động giấc ngủ bình yên của những tĩnh vật. Tôi mường tượng thấy rõ lại tôi, con bé sáu tuổi, xách cái cặp bỏ đầy sách vở và bút và bảng đá thật nặng, cái cặp kéo trì xuống, đập lên đôi chân mảnh của tôi khiến tôi phải ngả người sang bên trái một chút để giữ thăng bằng. Con bé mặc cái áo đầm trắng có lấm tấm những chấm nhỏ màu xanh nhạt, đầu đội mũ kaki trắng rộng vành và chân mang giày trắng. Con bé đi tới lớp bằng xích lô, ngồi chen chúc có khi với hai đứa khác. Chúng ngồi không yên, nói chuyện rinh rả hoặc la ó luôn miệng khiến bác xích lô vui lây bỗng có hôm cong mình nhón gót đạp đua với các xe khác. Lũ nhỏ đứng bật hẳn dậy, vỗ tay dậm chân cổ võ ồn ào. Con bé có những đứa bạn thân như Khánh Trang, như Huyền Châu. Lắm bữa sốt ruột giục bác xích lô đạp nhanh để tới mét với con Huyền Châu rằng cây mận nhà mình đã lấm tấm nở hoa, mét với con Khánh Trang rằng chiều qua mình mới đi cắt tóc và tắm bằng nước nóng. Em bé khi vào lớp và ra lớp đều hối hả sắp hàng, luôn luôn vội vã, luôn luôn háo hức, muốn đọc, muốn viết, muốn nghe, muốn trả lời, bước qua khỏi cửa thì xách cặp chạy thộn vào hộc bàn, bước ra khỏi hiên thì xách cặp chạy vù ra cổng. Con bé hoạt động, luôn luôn táy máy chân tay như một con chó nhỏ.

Buổi xế chiều hôm nay đây, tôi đứng một mình nhìn hành lang heo hút để tưởng nhớ hình dáng của con bé ấy. không còn nữa. chỉ thấp thoáng hiện diện lặng lẽ trong óc tôi thôi bởi chỉ là hình bóng của tôi mười hai năm trước.

Đúng vậy, nó chỉ thấp thoáng hiện diện trong óc tôi, hiện diện rõ ràng hơn phải là trong óc Ba tôi, với từng chi tiết của cử động, của lời nói tiếng cười bởi nhiều lần Ba tôi đưa tôi đến trường, tôi na cái cặp nặng trịch đi vào mãi cuối hàng hiên rồi mà quay lại vẫn thấy Ba tôi còn đứng yên đó dõi mắt trông theo. Tôi mỉm cười và Ba tôi trả lời lại cũng bằng nụ cười. Hoặc có lần Ba tôi đến trường đón, từ trong lớp tôi đã thấy Ba đứng ở cổng nhìn vào. Rồi khi chuông rung tôi xách cặp chạy ra đứng sắp hàng cạnh con Cẩm Thủy, rồi khi chúng tôi ngay ngắn và trật tự bước tới, rồi khi đi quá hành lang chung được phép bỏ hàng ngũ chạy như điên ra cổng trường, tôi thấy Ba tôi chong mắt nhìn. Tia mắt dịu dàng như của một người mẹ.

Như vậy thì chắc chắn là Ba tôi đã nhìn thấy rõ ràng và trọn vẹn hơn tôi. Và khi thời gian lặng lẽ trôi tới để đẩy lùi mỗi ngày mỗi xa lại đằng sau thì người yêu thương hơn hết, nâng niu trân trọng hơn hết chính là Ba tôi vậy.

Về phần tôi thì tôi không chối cãi rằng tôi không yêu cái tôi hiện tại cho bằng yêu . Tôi hôm nay đã có vấn đề để suy nghĩ, để cân nhắc. Chớ thì hồn nhiên tươi tỉnh, gặp cái gì cũng vui cũng thích, thích đọc thích vẽ, thích làm toán thích ăn bánh kem, thích coi xi-nê, thích nghe chị Sen kể chuyện ma, thích rượt nhau chạy trong sân, thích bế con gà, thích mân mê một đóa hoa trong chậu. Thật giống một con chó nhỏ. Con chó nhỏ cũng thích nhảy thích chạy, thích nằm ngửa ra nhai quai guốc, thích châu mỏ mà sủa bá láp vào một cái miệng hũ đen ngòm.

Phải, tôi hôm nay đã có vấn đề để suy nghĩ. Đỗ xong Tú Tài, mọi người học sinh đều bị đặt trước lắm ngả đường. Chọn đi ngả đường nào? Ngả nào cũng lắm người đi, dư ối người đi, kèn cựa nhau mà đi. Thi vào Dược, bảy ngàn lấy đỗ hai trăm. Mà học xong cho được bốn năm, thi đỗ ra, cho thuê cái bằng chỉ được hai mươi ngàn đồng mỗi tháng, không bằng một người đàn bà bán thuốc lá lẻ. Thi vào Phú Thọ thì nghe nói phải chịu khó chạy hàng triệu bạc. Học Văn Khoa, Luật Khoa thì giảng đường chật không có chỗ mà ngồi. Còn Nông lâm súc, Quốc gia Hành chánh, Y Khoa, Kiến trúc, Đại học Khoa học, Đại học Sư Phạm... Không nơi nào ra một dấu hiệu thân ái để người học sinh vui vẻ vẫy tay chào mà hăm hở bước thẳng tới.

Con Chương thi vào Nông lâm súc. Lũ bạn đùa rằng nó sẽ đi chăn bò và lên núi đốn cây. Con Nguyệt muốn vào Y Khoa. Nó nói:

- Ba tao chấm số Tử vi nói có cái Sao gì đó chiếu vào cái Cung gì đó của Số mạng tao. Nên ổng hy vọng là tao học được Y Khoa.

Cách đây ba năm, Nguyệt đã mét rằng trong số tử vi của chị nó cũng có cái Sao gì gì đó chiếu vào cái Cung gì gì đó của chị nó, - Ba nó bảo vậy, - và Ba nó hy vọng là chị nó sẽ thành Bác sĩ. Nhưng rồi sau ba năm trèo lên trượt xuống, vật lộn túi bụi với mấy cái chứng chỉ Lý Hóa Tự Nhiên, Hóa Vô Cơ, Hóa Hữu Cơ, Mô tả... vân vân, cuối cùng chị nó đi làm cho Nam Đô ngân hàng. Con Minh Hà tỏ vẻ tự tin hơn hết:

- Tao học Văn Khoa. Tao yêu tư tưởng. Tư tưởng làm lớn con người.

Tôi định học ở Dalat một năm rồi sẽ xuống Saigon. Giá có thể được học một năm ở Đại học Huế nữa thì tuyệt. Đi nhiều nơi, ở nhiều miền, nghe nhiều giọng nói để thêm yêu thương quê hương và đồng bào mình. Thêm tin tưởng ở năng lực của dân tộc mình.

Nghe tôi chọn Đại học Dalat, hầu hết người nào cũng hỏi lại tôi thật nhanh như một phản ứng:

- Học chính trị kinh doanh hả?

Làm như Đại học Dalat chỉ có ngành học đó.

Tùng Hoa cùng chọn Dalat như tôi. Hai đứa chơi với nhau, hai gia đình quen nhau và những hôm Ba tôi bận không đến trường để đón tôi được thì tôi đi theo luôn xe của ba má Tùng Hoa đến đón nó. Tôi phải xa cách Thanh Thuận, con bạn thân của tôi suốt tám năm trời bởi chúng nó chọn Đại học Saigon. Qua khỏi năm chót của bậc Trung học, chúng tôi thật giống một bầy chim nhỏ, tan tác bay mỗi đứa một phương.

- Những con đường ở Dalat cũng biết suy tư.

Ba tôi có lần đã nói như vậy. Tôi tự hẹn hôm nào thong thả sẽ đi rất chậm rãi tìm xem chúng nó suy tư như thế nào. Và con đường nào có dáng suy tư nhiều hơn hết.

Những ngày đầu tôi với Tùng Hoa còn phải bận lo tìm nhà trọ. Nhiều căn phòng có treo bảng "Cho sinh viên thuê" làm Tùng Hoa và tôi muốn cười rũ ra, mặc dù đứa nào cũng mỏi chân muốn chết. Hãy tưởng tượng đi, một diện tích ba thước nhân với ba thước, mái tôn lạnh lẽo trên đầu. Vách bằng ván thùng gỡ ra đóng lại. Sàn xi măng đen, âm ẩm. Tưởng tượng thêm rằng có một cánh tay lực sĩ nào đó đấm tung một quả thôi sơn vào, cái khối vách gỗ ván thông sẽ tung bay lả tả, những tấm tôn sẽ văng tuốt ra xa và hai kẻ lưu trú sinh viên là Tùng Hoa và tôi sẽ nằm trong giường mà nhìn thấy trăng sao.

Nhưng bà chủ nhà trang trọng:

- Vâng, có căn phòng cho sinh viên thuê đấy ạ... Chúng tôi phải giữ lại cho họ đó... Chết chết, đâu có dám cho ai khác thuê? Bao nhiêu các anh chị cứ đến mãi hỏi mãi. Mà chịu. Đành phải từ chối... Vâng, vâng, trông thì cũng có hơi bé một tí, thế nhưng khi ở thì lại rộng chán vạn, tha hồ tiếp bạn bè... Vâng... Vâng... Tiếp khách thì đẹp... Này, này! Hai cô! Dừng lại tôi bảo này! Nếu hai cô thích quá thì tôi cũng nể nang mà cho hai cô thuê đó.

Hai đứa sợ quá, muốn chạy luôn. Phải làm bộ không nghe và rảo bước.

Hôm nay thì tôi đã có một chỗ trọ ấm, yên và đẹp. Có lối đi rải sỏi và có bồn hoa nở đầy hoa kim châm màu vàng, hoa tử dương màu thiên thanh. Có những thân mimosa lá sáng rực ánh kim khí. Có những gốc anh đào đứng khiêm tốn khi thời tiết chưa sang Xuân. Và đặc biệt là có Tùng Hoa dịu dàng làm những buổi sáng thức dậy thêm ấm áp, làm những đêm mưa dầm tí tách đỡ cô đơn.

Mùa Hè 1972, gia đình tôi bị xé đều ra làm bốn mảnh. Chị tôi ở một thành phố. Anh tôi ở một thành phố khác. Tôi ở một thành phố thứ ba. Ba tôi ở lại thành phố cũ. Như con ốc mượn hồn thò mình ra khỏi vỏ, ngo ngoe những chân mảnh, tâm hồn mỗi người chúng tôi vươn ra những cánh tay dài, thật dài để lần lượt rờ vào ba người thân yêu của mình ở ba thành phố.

Sáng hôm lên đường, tôi cùng ngồi ăn bữa điểm tâm tạm biệt với Ba tôi trước khi ra xe. Ba đẩy bát phở về phía tôi:

- Con ăn đi kẻo nguội.

Ba đặt luôn một ổ bánh mì dài trước mặt.

- Gắng ăn thêm một mẩu bánh mì nữa.

Tôi la lên:

- Ăn gì nổi.

La lên là để dằn xuống nỗi xúc động.

- Hồi xưa Ba ở trọ học, mỗi lần nghỉ lễ đi thăm nhà là ông chủ trọ bắt dậy thật sớm để đủ thì giờ ngồi ăn cơm cho no. Ổng nói: có hột ngọc trong bụng cho nó cản gió cản máy.

Thế là đủ ba lần, Ba tôi kể câu chuyện hột ngọc. Lần đầu tiên khi chị tôi đóng vai chính trong bữa ăn buồn. Lần thứ hai là anh tôi. Bây giờ đến phiên tôi.

Tôi thấy no không muốn ăn khi nghĩ rằng lát nữa cái ghế tôi sẽ trống. Nó sẽ bị bỏ trống nhiều ngày. Sớm nhất là Tết tôi mới được về thăm nhà, được ngồi nơi cái ghế cũ, cạnh Ba tôi. Tôi lẻn đưa mắt nhìn Ba. Ba mặc bộ đồ pyjama Tétron có đường sọc xanh nhỏ do chị tôi tự cắt may hôm Hè chị về nghỉ Hè. Đó là bộ pyjama được cắt may đẹp nhất do từ bàn tay chị. Mọi thứ quần áo, từ cái tablier cho tới cái robe chị đều mầy mò tự nghĩ ra, đo, vẽ, cắt may lấy, không học thầy và cứ coi dãy pyjama của Ba tôi ở tủ áo là biết tiến trình về Y Khoa - khoa may áo - của chị. Đáng thương nhất là cái sơ-mi-zét nylon màu xám mặc ở nhà, chị cắt may hồi mới khai tâm thiếu kinh nghiệm nên cái cổ áo chật quá không cài khuy được và vải lót đặt vụng làm nó cứ thích cong lại. Vậy mà Ba tôi cứ mặc một cách thản nhiên, bình tĩnh và đầy vẻ tin tưởng.

Giờ này ngồi gợi nhớ cái hình ảnh lần đầu tiên Ba tôi mặc chiếc áo sơ-mi-zét cắt may vụng đó, tôi bật cười thành tiếng, không giữ được. Thật là vô duyên. Vì rằng đôi mắt tôi vẫn còn ướt khi, lúc nãy, nghĩ đến cái hoàn cảnh của gia đình tôi bị cắt ra làm bốn mảnh đặt ở bốn thành phố khác nhau mà lòng xúc động khôn cầm.


VÕ HỒNG     

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc giai phẩm Xuân Hồng, 1973)
 

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

NHỮNG CHÙM HOA PHÁO ĐỎ - An Châu Lan

 

 
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
NGUYỄN DU

Hoa pháo nở vào mùa đông, thường trong tiết đông chí. Mầu hoa không hồng cũng chẳng đỏ. Và hoa pháo thật tình cũng chẳng đẹp. Nhưng giữa những ngày lạnh giá cuối đông, giữa cả một vườn cây xanh xao, ủ rũ dưới những cơn mưa dầm kéo dài đôi khi cả tháng, giàn hoa pháo đỏ rực cả một góc vườn, một mái hiên. Giàn hoa pháo ở tại nhà Cẩm nằm ngay mái hiên, leo cao bởi một giàn dây thép do ba nàng đã tốn nhiều công chăm sóc. Tôi không rõ giàn hoa pháo này có tự bao giờ, trồng được bao nhiêu năm. Đã nhiều lần định hỏi Cẩm nhưng lần nào cũng quên. Tôi chỉ thấy, khi tôi đến nhà Cẩm lần đầu vào lúc hoa pháo trổ bông, thân cây hoa pháo dù là thân leo nhưng đã bậm to bằng cổ tay tôi, và trồng rải rác thành một hàng dài nhiều cây chênh chếch về phía phải mái hiên.

Tôi và Cẩm học chung một lớp. Trước đó chưa khi nào hai đứa gặp nhau, biết nhau dù cho ở cùng phố. Chúng tôi học với nhau đã hơn ba tháng nhưng vẫn còn bỡ ngỡ, rụt rè khi thấy nhau ở cổng trường. Trường tôi có hai cổng. Cổng phía trước dành cho giáo sư và nữ sinh. Tụi nam sinh chúng tôi phải vào cổng sau. Và đi quanh qua phòng thí nghiệm, tôi có thể vào lớp rất nhanh. Hình như tôi đã không đi như vậy. Ít ra cũng bốn năm lần trong tháng mười và mười một. Sau khi khóa xe, tôi thường tách riêng bạn bè để men theo dãy bàng đi ngược trở lại hàng dương liễu để vào lớp. Và như vậy tôi đã gặp được Cẩm. Gặp để mà gặp, thế thôi, vì Cẩm thường đi chung với mấy cô bạn cùng lớp hoặc khác lớp. Những lần đi quanh co như vậy, vào lớp tôi lại nghĩ mông lung và trí óc vơ vẩn đâu đâu. Và tôi thường có một hành động: làm bộ rớt nắp viết rồi cúi xuống nhặt lên để nhìn qua phía bên kia, chỗ Cẩm ngồi. Không biết Cẩm đang nghĩ gì, thấy gì, tôi thấy Cẩm vẫn tỉnh bơ nhìn lên bảng. Tôi nhận rõ, về phía cửa sổ bên phải có một đám mây trắng trôi chậm trên bầu trời. Tự dưng tôi thấy mình không còn ngồi trong lớp học nữa, không nghe tiếng giáo sư giảng bài. Tôi bềnh bồng theo đám mây, mơ hồ, rạo rực. Tôi thấy Cẩm cười, thấy rõ cả hàm răng trắng thật đều. Tôi mơ mộng. Trong lớp này có bao nhiêu người đang mơ mộng, tôi không biết. Bên dãy bàn kia Cẩm có đang mơ mộng như tôi không, tôi không biết. Tôi chỉ biết hồn tôi bay theo đám mây, đám mây trắng giữa bầu trời xanh biếc.

Tôi có ý tưởng phải đến nhà Cẩm một lần. Tôi dò dẫm mấy cô bạn của Cẩm để hỏi nhà. Nhà Cẩm ở chợ Cống, đi gần về phía Đập Đá thì rẽ qua phải. Cả một buổi sáng chủ nhật tôi suy nghĩ mông lung. Đến nhà Cẩm phải ăn nói thế nào? Cẩm hỏi đi đâu thì phải nói làm sao cho ổn? Tôi tìm mãi không thấy được một lý do. Buổi chiều tôi đâm liều. Cứ đến rồi hãy hay. Tôi nhớ lời dặn: Cả quãng đường Nguyễn Công Trứ về phía bên trái chỉ có một ngôi nhà có gian hoa Pháo đỏ. Đó là nhà Cẩm.

Nhà Cẩm ở ngay đường, dễ tìm. Muốn vào nhà phải băng qua một sân rộng lát ciment và hai bên trồng nhiều chanh. Sau một phút chần chừ, tôi đi vào. Người tôi gặp trước tiên là một người đàn ông đứng tuổi mà tôi đoán là ba của Cẩm. Tôi hỏi:

- Thưa bác, có chị Cẩm ở nhà?

- Có. Mà cậu gọi hắn có việc chi?

Tôi lúng túng:

- Dạ thưa... dạ thưa, cũng không việc chi quan trọng. Dạ định hỏi chị ấy chút việc  thường.

- Vậy hả. Cậu vô nhà.

Tôi theo ông ta bước lên tầng cấp. Tôi ngẩng mặt nhìn lên. Trên đầu tôi là một giàn hoa pháo đỏ rực, chói chang trong ánh nắng chiều. Màu hoa tươi tắn, rạng rỡ. Rạng rỡ như trái tim vừa lớn của tôi. Như ánh mắt của Cẩm nhìn tôi từ dãy bàn bên của lớp. Như nụ cười bâng quơ, bất chợt lúc gặp nhau ở cổng trường. Tôi vào nhà, ngồi ở chiếc ghế phía trong. Khi Cẩm từ nhà dưới lên thì ba Cẩm bỏ đi ra ngoài. Tôi định nói một câu gì nhưng không nói được. Rất may Cẩm đã nói trước:

- Anh đến chơi. Để Cẩm pha nước anh uống.

Có dịp, tôi mở lời:

- Cám ơn Cẩm, tôi không khát. Đến Cẩm để hỏi chút việc, không biết có phiền không?

- Chuyện chi mà anh rào đón kỹ thế, chưa nói mà đã lo phiền hà.

- Cẩm có vào ban báo chí không?

Cẩm cười:

- Cẩm mà báo với chí. Nếu có lập ban ẩm thực thì Cẩm dong hai tay. Còn báo chí thì cũng dong hai tay nhưng để... xin hàng!

Cả hai chúng tôi đều cười. Tôi thấy thoải mái, vui vui. Tôi nói:

- Cẩm giấu nghề. Nghe nói ở trường cũ Cẩm viết nhiều và hay lắm.

- Thì cũng có nhưng trường cũ của Cẩm nhỏ xí xi. Trong thế giới người mù kẻ chột mắt là vua mà anh. Năm nay vào cái trường lớn như thế này thì mình chỉ còn là cái hạt cát.

- Cẩm quá khiêm nhường. Những hạt cát của Cẩm là những hạt cát làm nên thủy tinh.

Cẩm không nói tiếp. Nàng khoanh tay trước ngực nhìn ra ngoài sân. Ánh nắng buổi chiều yếu dần nhưng vẫn còn những vệt sáng trước hiên và trên giàn hoa pháo. Tôi nghĩ đến những lúc mình mơ mộng trong lớp. Và có lẽ bây giờ đến lượt Cẩm mơ mộng. Một chút màu hồng từ giàn hoa pháo hắt vào làm cho đôi má Cẩm ửng đỏ, dễ thương.

Cẩm duỗi thẳng hai tay nói bâng quơ:

- Trời sắp hết năm mà vẫn còn lạnh. Còn non tháng nữa thì lại Tết.

- Cẩm chắc trông Tết, chờ Tết lắm?

- Anh làm như Cẩm còn bé bỏng lắm không bằng. Chờ Tết để làm chi mới được. Chỉ thấy năm mới bằng con số tuổi chồng chất.

- Mới mười lăm mười sáu tuổi mà nghe đã già đời.

- Mười bảy tuổi ta rồi chứ bộ.

- Mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Dễ sợ!

Cẩm cười mà không nói. Tôi qua chuyện khác:

- Giàn hoa pháo của Cẩm đẹp thật. Cả con đường Nguyễn Công Trứ này chỉ có ngôi nhà của Cẩm là rực rỡ. Không hiểu sao người ta gọi nó là hoa pháo Cẩm nhỉ?

- Vì trông nó giống như cái pháo nhìn từng chùm thì không thấy nhưng nếu tách rời từng cái một thì anh thấy nó giống cái pháo.

- Pháo Tết hay pháo gì nhỉ?

Cẩm giẫy nẩy:

- Anh này rõ hay. Không pháo Tết thì pháo gì. Chả lẽ...

- Ừ, thì đó. Cẩm cũng thấy còn một loại pháo nữa đấy. Pháo vu qui chẳng hạn, phải không?

Hôm đó tôi ra về trong những cảm giác sung sướng nhẹ nhàng. Và từ sau lần đó tôi trở nên bạo dạn, thường tìm cách đến nhà Cẩm. Dĩ nhiên bao giờ cũng có chuyện. Khi thì mượn sách, mượn bài, khi thì hỏi chuyện này chuyện nọ dù đôi lúc có những câu hỏi ngớ ngẩn vô duyên. Cả lớp đã bắt đầu biết chuyện tôi yêu Cẩm. Tụi nó bàn tán chỉ chỏ. Bên nữ sinh những khi gặp tôi thường hay hỏi đùa "người ấy đâu rồi". Bên nam sinh thì tọc mạch hơn, chúng điều tra từng chi tiết nhưng lần nào cũng bị tôi tảng lờ. Nhiều đứa hỏi với giọng bực tức. Tôi yêu Cẩm. Và rất nhiều đứa trong lớp yêu Cẩm. Họ ghen ghét tôi vì họ biết Cẩm cười với tôi nhưng không cười với họ. Cẩm mượn sách vở, bài học của tôi nhưng từ chối những quyển sách rất thơm mùi nước hoa của họ. Tôi biết điều đó. Tôi sung sướng thật tình và cám ơn Cẩm.

Trường tôi nghỉ Tết từ ngày hăm bảy ta. Tôi hẹn Cẩm sẽ đến thăm Cẩm một lần trước khi năm hết. Tôi đã bắt đầu thấy âu lo vì những ngày xa Cẩm. Phải xa Cẩm đến mười ngày Tết. Tự dưng, khi buổi liên hoan tất niên chấm dứt, khi mọi người kéo nhau về, tôi bắt đầu thấy thiếu thốn một cái gì, một cái gì không thấy được, không nắm được, không hình dung được. Hình như là tình yêu. Tôi rất ngại khi phải đến nhà Cẩm dù cho bây giờ tôi đã bạo dạn hơn trước. Tôi sợ ba Cẩm. Ông ta có cái nhìn thiếu sự bao dung trái hẳn với cái nhìn trìu mến của Cẩm.

Tôi đến thăm Cẩm vào chiều hai mươi bảy Tết như đã hứa. Ở đó tôi gặp Trinh, một người bạn thân của Cẩm học cùng trường nhưng khác lớp. Tôi đã gặp Trinh một vài lần nên nói chuyện rất tự nhiên. Tôi, Cẩm và Trinh kéo nhau ra ngồi dưới giàn hoa pháo nói chuyện. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Chuyện nào cũng vui và cả Trinh lẫn Cẩm đều cười luôn miệng, tiếng cười ròn tan, cởi mở. Trong lúc chưa biết phải nói tiếp chuyện gì thì tôi nghe tiếng Trinh hát. Trinh nổi tiếng là hát hay. Trinh hát nhỏ nhưng cũng đủ để hai đứa tôi nghe. Tôi nhớ loáng thoáng Trinh hát một bài hát nổi tiếng của Nguyễn văn Đông.

Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người... lạnh lùng trôi xuôi theo niềm nhớ... Người đi xa xăm phương trời ấy để một người...

Tôi khen Trinh hát hay. Trinh đưa tay chỉ mấy cành bông pháo đang đong đưa trước mặt nói rằng, anh có thấy hoa cười đó không! Hoa cười trong gió đông đấy Cẩm.

Cẩm nhìn lên bầu trời, đôi mắt trông xa vắng lạ thường.

- Cũng không biết nữa. Mà hoa đào của người xưa mới cười trong gió đông, hoa pháo của mình thì cười chi được.

Tôi tiếp lời Cẩm:

- Hình như Cẩm đang nhớ một cái gì phải không chị Trinh. Không chừng chị hát bài vừa rồi bắt Cẩm nhớ "người ấy" đấy.

- Cẩm thì chẳng có ai để mà nhớ. Sao chiều nay Cẩm thấy buồn. Năm cũ đã sắp hết. Cẩm sẽ còn ngồi ở trường với bạn bè bao nhiêu ngày nữa. Hết năm này đỗ hay không rồi cũng phải thôi học. Con gái đầu trong gia đình bao giờ cũng bị thiệt thòi. Cẩm còn cả đàn em trai. Phải hy sinh cho tụi nó, cũng được chừng nào hay chừng đó.

Chúng tôi đều im lặng. Tôi và Trinh cũng buồn lây với ý nghĩ đó của Cẩm. Tôi muốn nói với Cẩm như thế này : mỗi người sinh ra đều có sẵn một cái số. Không ai dám lạc quan cho cuộc sống tương lai của mình nhưng cũng đừng bi quan quá. Không người nào có thể cắp sách mãi đến trường. Một lúc nào đó phải dừng lại. Dừng lại có nghĩa là vào đời. Dừng lại sớm muộn gì cũng thế thôi, biết đâu chừng người ra đời sớm sẽ gặp nhiều may mắn. Tôi muốn nói với Cẩm như vậy nhưng tôi đã không nói. Mỗi năm hoa pháo chỉ có bông một lần, biết đâu vào tiết đông chí sang năm tôi sẽ không còn được ngồi dưới giàn hoa này nữa, vì vậy những lời nói của tôi nếu nói ra có Trinh nghe, Trinh sẽ tưởng giữa tôi và Cẩm đã sắp đặt sẵn một con đường. Tôi chưa có ý định nào. Tất cả chỉ là những mộng tưởng, ước mơ. Tôi sống trong vườn mộng và ươm tơ trong vườn mộng. Vườn mộng, trái mơ nào cũng đẹp, cũng ngon lành, nhưng rất khó hái. Tôi không dám nghĩ về một tương lai cho tình yêu. Con đường trước mặt thăm thẳm, ngút ngàn. Cho đến nay lúc ngồi dưới giàn hoa này với Cẩm tôi chưa lần nào bày tỏ một ý định, một dự tính.

Khi Trinh đứng dậy xin về trước thì tôi cũng về luôn vì trời đã ngả tối. Trong nhà đã bật đèn, ngoài đường cũng vậy. Tôi chào Cẩm và thấy đôi mắt Cẩm rưng rưng. Tôi không biết tại sao.

Giàn hoa pháo nhà Cẩm năm nay lại trổ bông đỏ, cũng những ngày cuối năm sau tiết đông chí. Kể từ ngày đó đến nay tôi không còn được ngồi dưới giàn hoa này thêm một lần nào nữa. Tôi chỉ được ngồi đó một lần trong đời. Chỉ có một lần cho kỷ niệm, cho nhớ thương. Một lần cho những mênh mông vụng dại. Cả một vùng ngọc ngà thơ mộng đã mất đi, mất theo Cẩm từ ngày Cẩm đi lấy chồng năm sau đó. Một thời để mà thương, một thời để mà nhớ, không còn nữa. Mỗi năm hoa pháo nở một lần nhưng tôi không còn được thấy Cẩm. Đám mây trắng bay ngang cửa sổ lớp học ngày nào tưởng đã dừng lại trên giàn hoa pháo thì lại tiếp tục bay xa, xa mãi. Hoa pháo nhà em lại nở, chỉ thiếu đôi mắt ngày nào.


AN CHÂU LAN        
(Huế 12-72)           

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 86, tuần lễ từ 25-1 đến 1-2-1973)

Thứ Sáu, 30 tháng 12, 2022

ÁO LỤA THÁNG MƯỜI HAI - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Căn phòng gỗ nóng bức mệt mỏi với tiếng xe cộ chạy ầm ĩ ngoài đường, những giọt mồ hôi chảy dài trong lưng áo. Bé đến, tươi mát như một miếng kem dâu, mang mùa đông trắng xóa cho căn hầm rực lửa.

Anh bối rối khi muốn tìm một chữ để khen ngợi bé. Người ta đã thường dùng những sáo ngữ nào để ca tụng đàn bà. Cô thật diễm lệ, cô thật lộng lẫy... quyến rũ... Anh phải cố gắng thoát ra ngoài những lời nói quen thuộc và trống rỗng ấy. Cần phải tìm một lời gì gần giống như tiếng chuyện trò của những chim sẻ trên mái ngói. Cô bé, tuổi mười sáu, môi hồng còn run run hơi thở trẻ thơ, lúc nào cũng mặc một chiếc áo lụa trắng trên người, mầu áo thần tiên và cô đơn trong rừng xanh đỏ lập lòe của thành phố.

Căn phòng quá nóng, sợi tóc mai của bé lấm tấm mồ hôi, và anh trộm nhìn thấy một khoảng lưng áo trắng ướt mềm. Bé nhặt lấy một cuốn sách nào đó, quạt lấy vài hơi gió mát. (Suốt đời anh, anh vẫn ao ước viết được một cuốn sách nhảm nhí gì đó để cho bé làm quạt).

Bé ôm lấy cây đàn tây ban cầm. Những ngón tay yếu ớt bấm trên sợi dây đàn, âm thanh mỏng manh vang lên như những giọt mưa phùn. Và bé hát. Bé còn nhỏ nhưng đã sớm biết những bài ca của người lớn rồi. Đôi môi bập bùng con trẻ đã biết nói những nỗi sầu muộn, cô độc, những cuộc tình mất, những đời duỗi rong phiêu bạt. Tiếng hát trong vắt mềm mại như dải lụa trắng, bay trong buổi sớm mai trên cõi thiên đường. 

Anh lắng nghe, sợ hãi. Đó là những lời ca dành cho người đàn bà. Bé thì chưa phải là đàn bà, đúng không? (Bé mà trả lời bằng một cái lắc đầu là anh chết giấc mất). Căn phòng anh ở, gồm toàn một bọn nhạc sĩ và ca sĩ kỳ tài cả, trừ ra anh. Mặc dầu rất yêu nhạc, cóc bao giờ anh có thể mở miệng hát đàng hoàng một bài nào được cả. Anh chỉ thích lảm nhảm những điệu nhạc lộn xôn không biết từ đâu đến bất chợt với anh. Bởi thế, mỗi lần đến đây bé cùng với mọi người say sưa hát hỏng. Anh bị bỏ rơi một mình, chán nản, anh trả thù mọi người bằng cách hút thuốc luôn miệng. Khói thuốc ào ạt trùm khắp căn phòng, có đốm khói thành hình chữ O xinh xắn, nhưng phần nhiều là khói thuốc bay đi rồi tan loãng loạn xạ, không có hình thù gì cả. Hay đó chỉ là làn da của bé, trên cánh tay, trên nụ cười, trong mắt long lanh. Long lanh khi nhìn anh, ánh mắt ấy đã xóa sạch hết cái đầu óc đen tối.

Những lời hát chậm rãi lại, và hết. Bé trò chuyện với mọi người. Áo quần và đồ đạc lặt vặt của họ đã xếp đặt sẵn trong va ly, còn hai ba ngày nữa là Tết, mỗi người đều nao nức trở về bên cạnh gia đình hưởng những ngày xuân đoàn tụ. Trừ ra anh.

Bé nói:

- Tết này, em theo gia đình ra Vũng Tàu ăn Tết một tuần.

Bé quay sang anh:

- Lúc nào anh về nhà?

Anh lắc đầu, nói rằng anh ở lại một mình trong căn phòng này. Rồi đây, những ngày đầu năm đến, anh sẽ lặng lẽ nằm chờ mùa xuân qua, trong thành phố ồn ào lạ mặt. Bé ngạc nhiên hỏi tại sao. Anh trả lời một cách rất tiểu thuyết là anh muốn nếm hương vị chua chát của một cái Tết bơ vơ xem sao. Nhưng thực ra lý do đơn giản nhất là anh đã hết sạch tiền. Số tiền dành để mua tấm giấy vé máy bay đã lần lượt vào những bàn tay của con mẹ bán cà phê đầu đường, con mẹ bán thuốc lá, con mẹ bán vé chớp bóng, bán sách vân... vân... và rất nhiều con mẹ khác mà anh ít có cảm tình, chỉ tiếc là họ giữ trong tay những thứ anh cần có hằng ngày theo thói quen. Bé nhìn anh với đôi mắt có lẽ là tội nghiệp thương xót. Bé nói chiều ba mươi Tết bé sẽ đem lại cho anh một ít quà ngày Tết. Buổi chiều ấy, tất cả mọi người đều đi mất rồi, anh sẽ ở một mình chờ đợi bé. Nghĩ đến điều đó, anh khoái muốn chết. Bé khoe với anh:

- Anh xem này, em chụp với chị Thúy.

Trong tấm hình màu nho nhỏ, trên thảm cỏ xanh như một sa mạc lạ lùng, có hai cô thiếu nữ, áo trắng và áo tím. Anh nhìn quanh quất xem có ai để ý không, trong bụng anh định nhanh tay "chớp" tấm hình cất kỹ vào túi áo. Nhưng bên cạnh anh còn có nhiều người nên anh phải bỏ ngay ý định phi pháp đó.

Trời bên ngoài bớt nắng. Trên đầu của đám người đang lúc nhúc đi chợ Tết ở Sài-gòn, chiều đã lần xuống, buông bóng mát hiếm hoi cho những vỉa hè lát gạch vuông đang rộn rã.

Bé nói với mọi người là bé phải về. Đôi mắt của bé nói với anh rằng bé sẽ trở lại vào buổi chiều cuối năm, và chờ đợi tiền "lì xì" của anh. Điều này làm anh chột dạ, anh nghĩ chắc mình sẽ phải đi đánh cướp ngân hàng như trong xi nê mới được.

Rồi bé đi, cũng như khi bé đến. Chỉ thấp thoáng một mầu lụa trắng, nghe mơ hồ hương thơm dịu dàng của một thứ lá cây sớm rơi khi còn xanh.

*

Buổi trưa nắng, anh không ngủ được. Anh ngồi một mình trên hàng rào bằng "xi măng" đã đổ nát, nhìn thiên hạ lũ lượt đi phố. Căn phòng của anh nằm sát bên đường, ở một góc phố chính của thành phố, nên ban ngày anh cũng ít đi chơi đâu xa, anh chỉ cần mặc áo quần đàng hoàng rồi ra đứng trước cửa phòng, như thế cũng là đi phố rồi.

Một thằng nhỏ trạc chừng mười lăm tuổi, mặt đen đủi dính đầy dầu nhớt xe, đang lúi húi sửa chiếc xe gắn máy. Anh cười với nó và vứt cho nó điếu thuốc lá. Thằng nhỏ cách đây mấy tháng, anh còn thấy nó đứng bên vỉa hè, trước những quán ăn, để giữ gìn và lau chùi những chiếc xe hơi bóng lộn. Không biết nó xoay qua làm nghề sửa xe gắn máy từ lúc nào, anh chỉ nhớ có một đêm nào đó nó vào phòng anh xin gởi hộp đồ nghề, và bây giờ việc đó gần như thành thông lệ.

Điếu thuốc lá thắp đỏ trên khuôn mặt nhỏ dại mệt mỏi của thằng bé. Anh hỏi:

- Mày chưa lo thu dọn đồ nghề, về nhà ăn tết lúc này là vừa rồi.

Thằng nhỏ lắc đầu, hàm răng trắng nhởn của nó vẫn thường nhe ra mỗi khi cười, nay ngậm miệng lại.

- Nhà đâu mà về?

- Mày không có nhà à, sao trước kia tao nghe mày nói...

- Nhà tui ở chợ Ông Tạ. Nhưng tui bỏ nhà "bụi đời" lâu rồi. Về nhà ngán ông già ổng oánh chết.

Anh an ủi nó:

- Ba ngày Tết, ai mà đánh đập làm gì cho xui cả năm. Mày về nhà năn nỉ xin lỗi ông già mày, rồi lo đi học. Bộ mày bỏ nhà đi vất vơ suốt đời được à.

Thằng nhỏ vứt mẩu thuốc lá, mặt già nua như một kẻ phong trần.

- Lớn lên, tui đi lính.

Anh lắc đẩu, mắng nó : đồ điên. Nhưng anh cũng điên đâu kém gì nó, anh cũng vất vưởng lông bông quanh năm suốt tháng, không có một nghề ngỗng trong tay. Xa lạ với thành phố nhộn nhịp, xa lạ với gia đình mà thỉnh thoảng chỉ trở về trong vài ngày ngắn ngủi.

Anh trở vào phòng. Nằm co mình trên chiếc ghế bố, anh thiếp ngủ đi trong giấc mơ mê mệt, đầu óc tràn đầy những hình ảnh quái đản mộng mị, những hình ảnh thường đến với kẻ lạc lõng.

Tiếng động nhỏ của cánh cửa phòng hé mở. Anh giật mình tỉnh ngủ như một con chim sáo khi biết bé đến. Anh khẽ mở mắt rồi nhắm lại, giả vờ ngủ say. Anh tưởng tượng đến cảnh bé đứng nhìn anh, bàn tay bé bỏng của bé e dè sờ trên vầng trán nóng ẩm mồ hôi của anh. Nhưng không, bé để một gói gì đó trên bàn rồi bé đứng ngần ngại một lát và tiến lại phía cửa, định ra về. Anh đành phải vùng dậy. Bé mỉm cười với anh, bối rối nhìn khắp căn phòng không có một ai trừ ra anh với bé.

- Họ về quê ăn Tết hết rồi. Chỉ còn một mình anh.

Bé mím môi lắc đầu làm những sợi tóc thấp thoáng nụ cười.

- Tội nghiệp anh chưa.

- Có gì mà tội nghiệp. Anh sẽ khoái nhất đời nếu có em ở đây ăn Tết với anh.

Bé kêu lên:

- Trời ơi, không được đâu. Mai cả nhà em đi ăn Tết ở Cấp rồi. Có lẽ qua Tết mới về Sài-gòn.

Anh vớt vát:

- Thì còn chiều nay.

- Em phải về nhà liền bây giờ, mấy ngày nay mẹ em bắt em ở nhà suốt ngày lo sửa soạn nhà cửa.

Có lẽ mặt anh lúc ấy buồn bã ghê gớm lắm nên bé vội mở bọc giấy đặt trên bàn.

- Em phải lén cắp mẹ một ít đồ Tết cho anh đấy.

Hai chiếc bánh chưng chín, mầu lá chuối xanh, những ký mứt hạt sen, mứt gừng và một gói lớn hạt dưa đỏ rực trông thật vui mắt.

Rồi bé ngồi trên chiếc ghế, tay lật vẩn vơ một vài trang sách. Vì nhà bé ở gần đây, nên bé vội vàng đến anh trong bộ áo quần vẫn thường mặc ở nhà, đơn sơ tấm áo cánh trắng mỏng. Anh tìm trong hộc bàn cuốn sách mới mua hôm qua để cho bé, nhật ký của Anne Frank.

- Em xem cuốn nầy rồi, tội nghiệp ghê.

Anh gật đầu. Đáng thương cho cô bé Anne, tuổi thơ của cô bé ấy không được chơi lò cò, không được chạy đùa bắt bướm, không được lén lút chuyện trò với bạn trong phòng học. Chiến tranh, thù hận chủng tộc đã chôn kín bé Anne mòn mỏi trong căn gác xép, thời gian dài dặc trốn tránh trong sợ hãi, rồi bỏ mình trong một trại Tập trung.

Bé ôm lấy cuốn sách vào ngực.

- Anh "lì xì" cho em lấy hên đầu năm đi.

May mắn thay, anh còn lại một tờ giấy bạc trăm trong túi, anh viết tên mình và tên mùa xuân năm nay trên đó, rồi cho bé. Bé xếp tờ giấy bạc cất trong tay, tinh nghịch.

- Lúc nào em hết tiền, em lấy bạc này mua bún riêu. Anh có giận không?

- Không. Nhưng nếu bây giờ em về, anh sẽ giận lắm.

Đôi má bé đượm mầu hoa hồng.

- Thế thì em đành phải để anh giận rồi. Mẹ chỉ cho em đi một lát, em còn về nhà sắp xếp mứt bánh cho mẹ, lát nữa là đến Giao thừa rồi.

Căn phòng chỉ có một mình anh với bé, nên bé cứ đòi về hoài, bé mà bỏ về nghĩa là đem mất mùa xuân mới đến cho anh trong vài giây phút, bé có biết thế không?

Cuối cùng, bởi vì anh không phải là tên cai ngục cứng rắn, nên anh phải để cho bé ra về. Bé còn quay lại, khuôn mặt thơ ngây mang nỗi dặn dò bí mật, một ngón tay đưa lên môi ra dáng quan trọng.

- Để em về một mình. Anh cứ ngồi đây, đừng ra khỏi phòng... người ta thấy kỳ chết.

Anh hứa với bé sẽ chôn chân một chỗ mặc dù anh muốn vô cùng theo dõi hình bóng của bé xa dần. Bé đi vội vàng ra khỏi cửa. Anh ngồi yên một lát, rồi anh đành phải quên lời hứa với bé, anh chạy ra khỏi phòng, nhảy đứng trên một hàng rào cao, nhìn thấy bé đang băng qua đường đầy xe cộ chạy ào ạt. Bé dần dần xa mãi, bị che lấp trong đám người, rồi cuối cùng bé mất hút trong dãy phố.

Chiều nay, bé đã đi mất nhưng cũng đã trở về trong tâm hồn anh và nằm êm ái trong đó mãi mãi.

*

Ngày đầu năm, sau khi chia cho thằng bé sửa xe một miếng bánh chưng, anh khóa phòng lại và ra phố. Túi quần anh đầy nhóc mứt hạt sen và hạt dưa, túi áo anh có một bao thuốc lá thơm phức. Như thế là cũng tạm đủ rồi, cho một buổi sáng lang thang ngoài phố.

Trái với thường lệ, đường phố Sài-gòn lặng thinh, vắng và xanh ngắt. Mặt trời nóng bức nấp sau những cụm mây mùa Xuân. Không có mưa phùn như Tết ở Huế, nhưng không khí cũng lạnh một chút cho ra vẻ, như muốn nói rằng ở cái đô thị quay cuồng hỗn tạp nầy, mùa Xuân vẫn đến.

Anh tìm đến một quán quen thuộc ở ngã tư đường. Bên trong khung cửa kính, những bàn ghế và người ngồi hôm nay bỗng dưng ít nói như một người già cả. Mọi khi, quán vẫn tràn đầy tiếng cười đùa, chuyện trò của khách. Nhưng hôm nay, chỉ có ít người ngồi cách xa nhau, gương mặt đăm chiêu trong màn khói thuốc lá. Một khách bỏ jeton vào máy nhạc, tiếng hát khàn khàn như cưỡng ép của người ca sĩ vang lên một lát rồi im bặt, lại trở về không khí im vắng. Người bồi đem lại cho anh một tách trà nóng, rồi lững thững lủi vào một góc quán đọc báo. Trong quán bây giờ, có lẽ đến 80% người là những kẻ xa nhà đang tơ tưởng đến gia đình ở một nơi xa nào đó, 20% số người còn lại, là bà chủ quán đang ngồi ngáp dài, mấy cô nàng bồi quán đang chụm nhau nói chuyện gẫu và những bà già thỉnh thoảng vào quán mời khách mua vé số.

Con đường lặng thinh anh nhìn thấy bên ngoài. Lác đác bụi xe, cột đèn đường đều đặn bật sang màu xanh đỏ, người cảnh sát tư lự chắp hai tay sau lưng, đi lui đi tới thẫn thờ như một thi sĩ.

Đêm đó, thâu góp hết những đồng bạc cuối cùng, anh chun vào một phòng trà nhỏ. Trong bóng tối, lãng đãng bên cốc rượu nồng và khói nhạt, anh hững hờ nghe tiếng hát của những kỹ nữ quên mùa xuân.

*

Mấy ngày Tết rồi cũng qua đi làm anh thở dài nhẹ nhõm. Không biết gia đình bé đã trở về Sàigòn hay chưa. Thỉnh thoảng đi ngang nhà bé, cánh cửa đóng chặt, anh trộm ngước mắt nhìn lên bao lơn, chỉ thấy những bồn hoa thược dược đỏ.

Anh đã rời chỗ cũ. Căn phòng nhỏ quen thuộc vương vãi đầy những vỏ hạt dưa, đã gặp phải một tai nạn đầu năm. Một chiếc xe hơi phóng hết tốc lực, không biết tại sao lại đâm sầm vào căn nhà gỗ, những mảnh gỗ yếu ớt bay tứ tung, căn nhà sập hết một phần lớn, chỉ còn lại một góc nhỏ. Anh kiếm một cây gỗ chống cho phần còn lại của ngôi nhà khỏi sập, rồi vẫn cố thủ ở đó. Nhưng một buổi sáng xấu trời kia, người chủ nhà đến báo tin căn nhà sẽ được phá tung để lấy gỗ bán cho một tiệm thợ mộc. Anh đành cuốn gói ra đường ngơ ngác trên lề đường gọi một chiếc xe gắn máy và nghĩ đến địa chỉ của một người bạn ở ngoại ô thành phố. Từ đó anh chưa bao giờ gặp lại bé.

Buổi chiều, bé học thêm Pháp văn ở trường C.C.F. Ngôi trường màu xanh dễ thương nằm trên con đường có nhiều bóng mát. Anh chỉ ngồi trong một quán trên đường đi của bé, là thế nào anh cũng bắt gặp chiếc áo lụa tháng mười hai ấy.

Anh ngồi chờ suốt hơn một giờ đồng hồ, ly nước đã cạn và bao thuốc rỗng không vò nát trên bàn.

Anh nhìn thấy bé ở bên kia đường. Một chồng sách vở ôm trên ngực. Chiếc áo lụa thay mầu, xanh như bóng lá. Anh vội vã ra khỏi quán. Bé hơi giật mình, và nụ cười luống cuống theo bước chân dừng lại.

- Lâu ngày quá mới gặp em.

Bé bối rối nhìn những người đi đường qua lại. Anh mời bé vào tiệm với anh ngồi chơi một lát, nhưng bé lắc đầu, bé nói đã chiều rồi, mẹ sẽ mắng chết nếu bé về trễ hơn thường lệ.

- Gần thi Cá Nguyệt rồi, em bận học suốt ngày.

- Thế còn ngày chủ nhật... 

- Ngày chủ nhật cũng bận, em lo xem cửa hàng cho mẹ. Anh biết không, ở nhà em là "quản lý" đó.

Anh lắc đầu chán chường, anh nói anh đến thăm bé có được không. Bé lại cười, mái tóc bé tung qua tung lại ngộ nghĩnh.

- Không được đâu anh. Mẹ mắng em chết.

Anh nghĩ rằng bé cũng có lý. Cái bộ vó của anh, với mái tóc rối bù, áo quần bê bối và cái thái độ cố hữu, rất ít có cảm tình đối với những ông bà. Tưởng tượng đến bộ mặt khó đăm đăm của những bà mẹ có được một cô con gái cưng, lúc nào cũng đưa mắt nghi ngờ soi mói nhìn khách lạ. Những thứ đó làm anh nản.

- Thôi để buổi sáng, anh lại trường đón em đi học về nhé.

- Không được đâu anh. Sáng nào ba em cũng đón em về cả.

- Cám ơn em. Nếu em không cho biết, có lẽ anh đã gặp phải một tai nạn lớn nhất trong ngày.

Bé bật cười:

- Anh bây giờ dọn đi chỗ khác rồi phải không?

- Ở khá xa, ngoại ô thành phố, bên kia một cây cầu có nhiều cảnh sát đứng gác.

Bé reo lên:

- Thế anh viết thư cho em nhé.

Anh gật đầu. Bé nhìn anh mỉm cười: thôi em về nhé. Anh không giữ bé lại được. Anh đánh mất bé như những lần khác. Lúc nào cũng vội vàng thoáng qua vài lời ngắn ngủi, rồi bé lại mau chóng trở về nhà. Như một con chim bồ câu nhỏ chẳng bao giờ biết đến khung trời bao la, chỉ tung tăng phút chốc mỗi sớm mai, rồi lại trở về chiếc lồng son thơm mùi hương cũ.

Thế là bắt đầu từ buổi sáng hôm sau, người phát thư già của thành phố này sẽ có thêm một lá thư trong cặp da, lá thư thứ mấy trăm ngàn trong đời lão, chiếc xe đạp lóc cóc nhẫn nhục chạy vào tận những hang cùng ngõ hẹp.

Thật buồn cười khi có hai kẻ cùng ở trong một thành phố, lại phải chuyện trò với nhau qua những lá thư như cách nhau nhiều song sắt ngục tù. Những dòng mực nắn nót của bé, dễ thương nhưng khôn ngoan rào đón. Còn anh thì viết vội vàng, nóng nẩy, thẳng thừng đôi khi gần như cộc lốc. Anh vẫn chán cái trò thư từ nầy lắm. Những lá thư xanh chỉ đem lại tình yêu vào cái thời thế kỷ 17, 18. Thời buổi này, những chữ viết yếu ớt đó vang động thật nhỏ nhoi, thua kém. Anh cảm thấy dần dần xa bé. Bé lúc nào cũng có cái câu thật dễ ghét: Em vẫn nghĩ đến anh luôn, nhưng dạo này em bận học lắm...

Và rồi thư từ thưa thớt dần, mất hẳn lúc nào không hay. Trong khi chờ đợi bé trở thành một nhà nữ bác học danh tiếng, anh đã vô tình kẹt vào một vụ lính tráng vô cùng rắc rối. Anh hết lông bông suốt ngày, đầu tóc anh bị gọt ngắn như một trái gáo dừa. Người ta đeo vào cổ anh hai tấm kim khí ghi rõ tên họ loại máu và một cái số quân dài dằng dặc. Người ta phát không cho anh cả một đống áo, quần, mùng, mền, quân trang đè nặng cả lưng. Và thế là anh đã đi lính, như rất nhiều người khác.

*

Một ngày nào đó anh trở về ghé ngang nhà bé. Chỉ một ngày nghỉ phép ngắn ngủi ở thành phố làm anh can đảm. Anh bước vào nhà bé, bà mẹ ngồi trong ghế đăm đăm mắt tò mò nhìn khuôn mặt cháy đen vì nắng của anh. Bé vừa đi đâu đó về nhà, chiếc áo lụa thay mầu một lần nữa. Bây giờ hình như đó là mầu đỏ quyến rũ của một thiếu nữ đã lớn, chỉ hơn một năm mà đã có thêm trên nét mặt những nét xa lạ kín đáo nào đó.

- Dạo này sao anh đen thế?

- Anh đi lính.

Bé ngạc nhiên:

- Sao thế, anh không được tiếp tục học nữa à?

Anh lúng túng trả lời:

- Có một sự hiểu lầm giữa Bộ Quốc Phòng và anh. Họ không đồng ý với anh ở một vài điểm.

Trong khi anh cảm thấy bầu không khí ngột ngạt nặng như một phiến đá từ những người trong nhà. Bé nhìn anh, bé báo cho anh biết những tin tức mới về bé. Cuối năm nay, bé sẽ xuất ngoại du học và... tháng tới, bé sẽ làm đám hỏi với một anh chàng nào đó (chắc là nhà giàu, học giỏi).

Bà mẹ bé chăm chăm nhìn anh, làm anh đành nhe răng cười nói vài lời chia mừng với bé. Rồi anh chào tất cả mọi người để ra về.

Dĩ nhiên bây giờ, anh rất ít vui. Cho nên thành phố bỗng mang một màu xám chán ngắt và buồn tẻ.

Hơn nữa, tháng mười hai với những con đường mềm mại lá xanh cũng đã qua lâu rồi. Ở Sàigòn cho dù hoàng hôn xuống, trời vẫn còn nóng bức.


HOÀNG NGỌC TUẤN    

(Trích từ tập truyện ngắn CÔ BÉ TREO MÙNG, nxb Trí Đăng 1972)

Thứ Tư, 14 tháng 12, 2022

MƯA MÙA ĐÔNG - Hoàng Ngọc Tuấn

 


Mùa Hạ của phố Huế có nhiều hoa phượng. Trên con đường vắng chạy dọc theo bờ sông, người đi đường đôi khi ngước mắt nhìn lên, bao giờ cũng thấy những dải hoa đỏ rực rỡ kết đầy trên tàng lá cây xanh. Trong lớp học, cô giáo mệt nhọc đọc từng chữ cho học trò chép. Cô bảo sắp đến kỳ thi lên lớp cuối năm rồi, các em phải cố gắng chăm chỉ thêm chút nữa. Thi đỗ là mùa nghỉ hè thênh thang tươi đẹp trao tặng cho các em.
 
Nhưng hầu hết bọn học trò đều ngủ gục trên bàn, hơi nóng gắt gỏng của mặt trời và tiếng ve kêu vang um, không đánh thức được chúng. Tôi cố gắng chống chọi với cơn buồn ngủ để làm một bài thơ. Thủa ấy có lẽ tôi được mười lăm tuổi. Vào tuổi đó, các cậu bé con chỉ có thể làm thơ tả cảnh đầm ấm trong gia đình hoặc làm thơ tình gởi đến cho những cô con gái trong mộng. Tôi làm một bài thơ tình và phải chăm chú nhìn cô giáo để diễn tả nét mặt của cô trong thơ.
 
Cô giáo của tôi tên là Dạ Thảo, đó là một cô gái xuất sắc chưa hề thấy trên đời. Cô dạy môn văn chương nhưng bọn học trò con trai cả năm không biết một tí gì về văn học sử cả, chúng chỉ mê mẩn ngắm thân hình mảnh mai của cô trong những chiếc áo dài mềm mại mà cô mặc thay đổi mỗi ngày. Khi thì áo màu tím, màu xanh, hay màu trắng, màu nào trông cũng thật là quý phái. Mái tóc đen óng ả, làn da trắng, đôi mắt trong và nụ cười thắm của cô, tất cả đều dễ thương quá, nên chẳng có đứa nào sợ cô cả. Lớp học mỗi khi đến giờ cô dạy thật thú vị. Bọn học trò chia ra làm hai hạng: bọn có tâm hồn mơ mộng nhìn cô không chớp mắt, còn bọn có tâm hồn bằng đá, cứ tự do chuyện trò, đọc truyện kiếm hiệp hay chụm đầu chơi ca-rô với nhau.
Tôi thuộc vào bọn thứ nhất. Tôi lại ở trong hạng nhỏ con trong lớp, nên được ngồi ở dãy bàn đầu, chỗ gần với cô giáo nhất. Vì thế tôi thuộc lòng những ý nghĩa trong mắt cô Dạ Thảo. Khi nào cô hài lòng điều gì, đôi mắt cô biến thành màu nâu dịu dàng, khi cô giận dỗi màu nâu ấy đổi sang màu đỏ. Nhưng màu nâu hay màu đỏ đều quyến rũ cả. Mỗi tuần thằng nào làm được bài luận Việt văn cao điểm nhất, cô bảo nó đứng dậy đọc cho cả lớp nghe, rồi cô xoa đầu nó khen ngợi. Cái trò đó quả thật tuyệt vời. Tôi dần dần bỏ bê hết tất cả những môn học nào ngoài môn Việt văn, suốt ngày chúi đầu đọc một lô sách truyện đủ thứ, tiểu thuyết tiền chiến, truyện trinh thám, ái tình, truyện kiếm hiệp... để được “văn chương thấm vào người”, như cô Dạ Thảo nói. Rồi cái ngày thần tiên nhất của tôi cũng đến. Bài luận của tôi, tả một cảnh biệt ly trong gia đình, được chấm nhất lớp. Trong khi đó, tôi bị các ông giáo môn toán chửi mắng thậm tệ, vì tôi luôn luôn bó tay trước bất cứ một bài toán nào, dầu dễ nhất.
 
Cô Dạ Thảo gọi tôi đứng dậy. Tôi lắng nghe tên mình phát ra từ đôi môi dễ yêu của cô, và tôi run run đọc bài luận cho cả lớp nghe. Xong xuôi, cô khen tôi vài lời, nói rằng mong muốn tôi cứ xuất sắc mãi như vậy. Rồi cô ban phần thưởng như thường lệ, nghĩa là dùng năm ngón tay trắng mềm mại xoa lên mái tóc tôi. Hạnh phúc làm người tôi nóng bừng, tôi lén ngước mắt nhìn lên và bắt gặp vội vàng đôi mắt của cô âu yếm lạ thường.
 
Thuở ấy, tôi yêu cô Dạ Thảo vô cùng và tôi quả quyết với bạn bè là cô giáo cũng mê tôi như chết. Nhưng về sau, sự thực đã chứng minh ngược lại, không ai còn nghe được tiếng trách móc và lời giảng bài ngọt ngào của cô nữa. Cô giáo yêu dấu của một thời tuổi thơ đã bỏ trường, bỏ học trò, đi lấy chồng. Ngày đó tôi hậm hực viết đầy trên trang giấy vở những chữ to tướng: Cô giáo phản bội. Những chữ ấy thật ghi đậm dấu vết trong tâm hồn tôi, nhưng giá có người nào đọc được, chắc họ sẽ cười lăn ra chết.
 
Một lần nào đó, cô Dạ Thảo ngạc nhiên khi thấy tôi không làm bài luận nhan đề: “Tả một cảnh êm ấm trong gia đình với cha mẹ và anh em”. Tôi không biết gì về cảnh đó. Tôi không được sống trong mái nhà êm ấm mà trẻ thơ nào cũng mơ ước. Tôi mất cha từ nhỏ, chưa hề thấy mặt người. Mẹ tôi yêu tôi, nhưng bà cũng yêu thêm một người đàn ông khác. Bà sống với một người chồng mới và muốn có tôi bên cạnh, nhưng tôi thích ở với bà ngoại tôi hơn. Trong ngôi nhà cổ kính có vẻ lạnh lùng của bà ngoại, tôi cảm thấy bình yên, vì ở đó không có người lạ. Hồi nhỏ, người ta sợ hãi những người lạ biết bao.

Người ta không yêu Huế vì mùa Hạ. Mùa Hạ nắng chảy trên da người như đè nặng cả một khung trời lửa. Tôi yêu Huế vì mùa Đông mặc dầu mùa Thu là mùa dễ thương nhất. Mùa Thu lá vàng rụng nhiều, làm buồn lòng người phu quét đường còm cõi. Tôi sẽ nhớ mãi hình ảnh mơ màng của mùa Đông ở Huế.
 
Hình như Huế là một thành phố mưa. Bầu trời, mái ngói, những ngọn cây đều là một màu trắng mờ chao động. Mưa kéo dài suốt tuần lễ, có khi suốt tháng trường, thỉnh thoảng mưa tạm dừng lại giây lát cho những cậu bé con chạy ào ra bờ sông, ao hồ để câu cá. Trường học đóng cửa vì “lễ lụt”. Nước ngập cao ở mọi đường, khiến thầy giáo và học trò đều không đến trường được. Nước sông lên cao chôn vùi Đập Đá. Những người đi xe đạp, khi băng qua đập, phải dắt xe chậm chạp từng bước, người nào không cẩn thận sẽ té nhào xuống sông và bị dòng nước cuốn phăng đi mất. Mực nước trong thành phố lên cao mãi. Những nhà cửa đã bị nước tràn vào sân và rồi nước ngập khắp các căn phòng. Bàn ghế, đồ đạc, chồng chất lên nhau, trên chỗ cao nhất đặt một tấm gỗ làm nơi cư trú cho cả gia đình.
 
Ngôi nhà của tôi nằm trên một trũng đất thấp. Nước đã xâm chiếm khắp căn nhà, phá hoại hết khu vườn đầy cây trái và hoa cỏ, chuồng gà sau bếp cũng mất tích theo dòng nước lũ. Người lớn lo âu vì gạo dự trữ sắp hết và không thể đi đâu được. Nhưng trẻ con khoái biết bao, được nghỉ học, được ngồi yên trên một con đò nhỏ và nhờ bác chèo ghe chở đi vòng quanh nhà hay sang nhà hàng xóm mượn vài lon gạo. Tôi thích sang nhà trước mặt nhất, vì nhà ấy có một cô gái tên Bích Câu. Bích Câu lớn tuổi hơn tôi nhiều, nàng học trường  Đồng Khánh nên sáng nào cũng thướt tha điệu bộ đi học ngang qua nhà tôi. Ngày lụt lội, Bích Câu mất hết cái vẻ đài các. Nàng mặc chiếc áo cụt tay thấm đầy nước mưa, quần xắn đến đầu gối để lộ làn da chân trắng nõn. Bích Câu đang mải mê lội nước, tìm những cành cây trôi vật vờ, đem về nhà nhóm bếp, nấu nướng. Tôi bỏ con đò, nhảy xuống nước tìm củi giùm cho Bích Câu. Tôi phải bậm môi cố bíu chặt chân mình trên mặt đất mềm nhũn. Rồi tôi cũng đem đến cho Bích Câu một bó củi to tướng. Nàng cười nói cảm ơn, nàng khen tôi dễ thương và nói rằng tôi khoan về nhà, cứ ở đây kiếm củi cho nàng, đến trưa ăn cơm ở nhà nàng luôn, mẹ nàng cũng mến tôi lắm. Nhưng tiếng kêu của bà ngoại tôi đã vang lên:
 
- Đông ơi, về nhà ăn cơm. Con đi đâu từ sáng đến giờ?
 
Tôi vội vàng quay về ngay, tuy trong bụng tiếc kinh khủng. Bích Câu dặn dò:
 
- Đông cẩn thận kẻo nhào xuống ao nghe. Cứ theo đường thẳng này mà đi là đúng đường, còn hai bên là ao sâu cả đó.
 
- Yên trí. Tôi thuộc lòng vườn nhà tôi mà, cây ổi nào vừa có trái chín là biết ngay, huống gì hai cái ao to tướng. Chỉ tiếc không được ăn cơm ở đây thôi, trưa nay nhà chị ăn cơm với gì đó?
 
Bích Câu cười, nàng đưa tay vén lại mái tóc đen nhánh của nàng, giờ đây đã ướt sũng nước.
 
- Nhà hết thức ăn rồi. Trưa nay mỗi người ăn một chén cơm với nước mắm ớt. Thấy nhà nghèo ghê chưa?
 
- Nghèo gì? Trời lạnh như thế này mà đớp một chén cơm nóng hổi... nghe nói đã chảy nước miếng.
 
- Thế nhà Đông ăn gì?
 
- Có lẽ ăn cơm với mắm cá.
 
- Trời ơi! Tuyệt quá.
 
- Qua tôi ăn cơm đi.
 
- Không được, mẹ la chết. Thôi Đông về đi, chiều qua chơi nghe.
 
Tôi vùng vẫy chân dưới nước chảy xiết, đi khó khăn từng bước một. Tôi cứ quay đầu nhìn Bích Câu mãi, nên suýt chút nữa bị ngã xuống ao. Khi bàn chân đạp trúng ngay bờ ao, tôi sợ tái người và vội vàng hụp cả thân người xuống nước, hai tay hối hả khoát bơi mạnh qua một bên. Áo quần ướt nhèm, dính sát vào da thịt làm tôi lạnh cóng. Tôi đứng run lẩy bẩy như một con gà bị thả vào hồ nước. Mái ngói của ngôi nhà trước mặt mà bây giờ sao thấy quá xa. Tôi bỗng thèm ghê lắm một lò lửa có những thanh củi nổ tí tách.
 
Buổi trưa, cơn bão tố từ đâu kéo về thổi ào ào như muốn nhổ bật cả khu xóm. Tiếng gió réo và tiếng những cành cây gẫy nghe thật bồi hồi.
 
Buổi chiều mưa ngớt hột, một vài chiếc đò chèo đến trước nhà rao hàng. Bà ngoại mua một ít gạo và cá khô để dành cho những ngày sắp đến. Khi bà ngoại quay vào trong nhà, tôi leo lên đứng trên cánh cửa sổ, mực nước bây giờ đã lên ngang bằng cánh cửa. Tôi kêu lên khi người lái đò sửa soạn nhổ cây sào để chèo đi.
 
- Bây giờ bác chèo đi đâu nữa?
 
Người lái đò hất đầu hướng về những mái nhà hàng xóm đang chìm ngập trong biển nước, chiếc nón lá trên đầu của bác ta rách tơi tả dưới cơn mưa.
 
- Còn phải đi bán cho mấy nhà khác, có lẽ tối mới về nhà.
 
- Bác chở giùm tôi qua nhà trước mặt một chút đi. Bác qua bên đó bán cho người ta luôn, họ cũng hết thức ăn rồi.
 
Người lái đò gật đầu, chờ tôi leo xuống đò xong, bác ta mới nhổ cây sào ra khỏi mặt đất và mệt nhọc chống sào xuống dòng nước để con đò trôi chậm từng bước ngắn. Khi đò trôi vào cổng nhà Bích Câu, đã thấy nàng ngồi trên cửa sổ, khuôn mặt nàng không hiểu sao trông thật buồn bã, bàn tay thả những tờ giấy màu xanh rơi lả tả trên mặt nước. Bích Câu ngẩng đầu lên.
 
- Tôi buồn quá Đông ơi!
 
Nàng làm tôi ngạc nhiên, tôi nhìn thấy đôi mắt nàng hơi đỏ vì hình như đã khóc.
 
- Tại sao buồn? Trời lụt được nghỉ học mà còn buồn gì nữa. Bộ nhà hết gạo ăn rồi hả?
 
- Không phải. Tại vì tập thơ của tôi, tôi mất hết tập thơ rồi.
 
Bích Câu nói món đồ nàng quý nhất là tập thơ chép tay của nàng. Nàng đã mua mấy trăm tờ giấy pelure màu xanh, khâu chỉ đóng lại thành một tập dầy, có đóng bìa cứng cẩn thận. Trên những trang giấy đó, nàng đã chép biết bao bài thơ thật hay, trích từ những tờ báo hay sách mà nàng mượn của bạn bè.
 
- Tôi cất kỹ nó trong hộc, lúc bận dọn dẹp đồ đạc, bỗng quên mất nó đi. Đông xem, còn gì nữa đâu, nước ướt hết, rách nát hết rồi... chỉ còn vài tờ.
 
Tôi cầm lấy một tờ giấy màu xanh từ tay nàng, trang giấy ướt mèm nước dơ bẩn, những dòng chữ viết bằng mực tím của nàng, bây giờ trông nhòe nhoẹt, có chữ bị xóa mờ hẳn đi. Một bài thơ nào đó không còn toàn vẹn.
 
Bích Câu cứ ngồi âu sầu một chỗ mãi. Tôi nghĩ rằng có lẽ nàng cứ ngồi lặng yên như thế, cho đến khi biến thành một hòn sỏi lăn xuống nước, và tôi làm thế nào tìm được một hòn sỏi nhỏ bé trong sóng nước mù tịt này. Con gái khi buồn trông thật đáng yêu, tôi muốn mình cao lớn thêm thật nhiều, lớn thêm vài tuổi nữa, để có thể vuốt ve mái tóc dỗ dành nàng. Tôi có một cách riêng để an ủi con gái. Lúc đầu là chọc cho nó giận dỗi thêm để khóc òa, và sau cùng là dỗ dành thực sự cho cô nàng hết khóc.
 
- Thôi đừng buồn nữa. Mùa lụt này có khối người mất hết nhà cửa, ruộng vườn, chị mất một xấp giấy vớ vẩn mà cũng bày đặt buồn.
 
- Đông không có tâm hồn. Đông không biết yêu văn chương gì cả.
 
- Đừng đùa. Trong lớp tôi đứng nhất về môn Việt văn đó.
 
- Vậy tại sao Đông không tiếc giùm tôi? Mấy trăm bài thơ chép cả hai năm nay bây giờ mất hết. Giờ có muốn chép lại cũng cũng không mượn đâu cho có đủ những bài thơ đó.
 
Tôi bắt đầu pha trò của tôi.
 
- Chép lại làm gì cho mất công. Bây giờ lo để dành tiền mua sách về tâm lý đàn ông, tâm lý ái tình mà đọc. Này, nói thật cho chị biết, chị lớn rồi nghe không, lo kiếm chồng là vừa, chứ không phải lúc nào cũng thơ thẩn mãi được.
 
Bích Câu đỏ bừng mặt, nàng kêu lên:
 
- Đông nói gì kỳ cục vậy?
 
- Con gái lớn rồi phải đi lấy chồng, chứ có gì mà kỳ cục. Mấy lúc này thấy có nhiều ông nào lượn quanh nhà chị hoài, chọn đại một ông đi.
 
Bích Câu bĩu môi. Mặt nàng trở nên nghiêm trang, đôi mắt nhíu lại khó chịu nhìn tôi.
 
- Đông vô duyên quá. Khi không để ý vào chuyện người khác làm gì vậy?
 
Tôi đứng sựng lại, mặt nóng bừng vì sượng sùng. Cái chữ “vô duyên” quá nặng nề đối với tôi, và bất cứ một ai nói với tôi câu đó đều làm tôi sợ hãi. Khuôn mặt của Bích Câu bây giờ hết vẻ tội nghiệp, đôi mắt nàng thật xa lạ, lạnh lùng. Nàng đã không khóc như tôi chờ đợi, và trái lại, bây giờ tôi có vẻ là người muốn khóc hơn cả. Tôi đứng yên ngẫm nghĩ về mình và nghĩ rằng có lẽ mình vô duyên thật, điều đó làm tôi buồn bã vô cùng. Bích Câu càng thêm vẻ thờ ơ, nàng không nhìn tôi, không nhìn ra ngoài bầu trời mưa nữa. Nàng đã buông hết những tờ giấy màu xanh xuống nước và nàng dùng những ngón chân của nàng đùa nghịch trong lòng nước sóng sánh.
 
Con đò đã bỏ đi từ hồi nào tôi chẳng hề hay biết. Những hạt nước mưa tuy không còn rơi mạnh mẽ, nhưng cũng thấm ướt trên đầu và thân người tôi từng giọt thật lạnh băng. Hôm nay lại thêm một bữa tắm mưa lạnh gần chết.
 
Tôi quay về nhà, nhìn khuôn mặt mình không còn ra hình dáng gì nữa, dưới làn nước đục ngầu một màu bùn đỏ.
 
Tôi cảm thấy giận Bích Câu lạ lùng. Nếu tôi là người luôn luôn sẵn sàng dỗ dành con gái, thì trái lại, cóc có một cô nào chịu khó dỗ dành tôi cả. Bích Câu không nói thêm một tiếng, nàng thản nhiên nhìn tôi bỏ đi.
 
Cứ mỗi buổi chiều xám nặng nề, nước bao la dưới chân và nhiều gió lạnh, tôi thường nghĩ đến một lò lửa ấm áp. Nhưng rồi khi nằm bên cạnh lò lửa trong nhà, lại mơ tưởng đến bầu trời cao ngoài kia xanh bát ngát.

Ba ngày sau, mực nước xuống nhiều, chỉ còn cơn mưa tầm thường mà bất cứ thành phố nào cũng có thể có. Trời thôi không còn gió bão.  Nước lũ lượt rút đi khỏi ngôi nhà và khu vườn, theo ao và đường cống hai bên đường chảy ra sông. Khu vườn bây giờ là một miếng đất xác xơ, đám ớt xanh, bắp cải, những cây rau quế, rau dền, rau khoai hư nát hết. Vườn hoa hồng và hoa huệ mà sớm mai nào bà ngoại cũng thức dậy tưới nước, bắt sâu, bây giờ ngã rạp nhàu nát trên bùn đất, trông buồn bã như những xác người chết.
 
Tôi thức dậy sớm vì nghe tiếng gọi tên mình từ bên nhà hàng xóm. Thoạt đầu tưởng như tiếng gọi của Bích Câu, nhưng khi vừa dụi mắt mới biết là không phải. Tôi nhận ra khuôn mặt quen thuộc của anh Đào. Anh Đào đang đứng co ro mình trong chiếc áo mưa nhà binh bạc màu, đầu anh đội một chiếc mũ cát-két như những tay thợ săn, chân đi giày ba-ta rách bươm. Tôi chỉ bằng tuổi mấy đứa em của anh Đào, nhưng anh thường rủ tôi chơi với anh trong những vụ tắm sông hay đạp xe lên các lăng tẩm. Anh Đào đưa hai bàn tay trước miệng làm ống loa rồi la lên:
 
- Ê, Đông ơi, thức dậy đi lội nước với tao.
 
- Trời còn mưa nhiều không?
 
- Còn. Mưa mới khoái, mày kiếm cái áo mưa với bộ đồ nào dơ nhất mặc vào rồi qua đây nhanh lên. Đi ra bờ sông coi người ta câu cá.
 
Tôi vùng dậy ngay. Đi chơi lang thang dưới cơn mưa thật tuyệt, dù người tôi đang run lên vì lạnh, tôi cũng không thể nào bỏ qua được. Tôi vội vã tìm ba chiếc áo sơ mi thật dầy, mặc chồng lên nhau vì trời còn lạnh, cổ quấn khăn kín mít. Tôi may mắn tìm được đôi giày ba-ta há mõm nhưng thiếu chiếc mũ thợ săn như của anh Đào. Cuối cùng, tôi đành trùm lên đầu chiếc mũ to tướng của ông cậu tôi. Tôi chạy nhanh ra khỏi cổng nhà, anh Đào đứng chờ trước cửa nhà anh. Anh đang hút thuốc, khi thấy tôi anh nhe răng ra cười để lộ hàm răng thiếu một chiếc ở giữa. Vì sún răng, nên anh có thể làm cái trò rất thú vị là gắn điếu thuốc lá vào hàm răng anh, giữa kẽ hở nhỏ xíu. Tôi bật cười, anh Đào vỗ vai tôi.
 
- Mấy bữa nay mày đi đâu mất tao tìm hoài không thấy?
 
- Qua nhà chị Bích Câu chơi.
 
Anh Đào tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn tôi.
 
- Bên đó có gì vui đâu?
 
- Chị Bích Câu dễ thương lắm.
 
Đôi mắt của anh Đào mở tròn kinh ngạc, anh nhún vai và vứt điếu thuốc xuống đất.
 
- Dễ thương? Cái con nhỏ chua ngoa nhất xóm này mà mày bảo dễ thương? Con nhỏ có bộ mặt dài như ngựa mà lúc nào cũng vênh lên, tưởng mình đẹp ác lắm.
 
Đến lượt tôi ngạc nhiên.
 
- Mặt vậy mà bảo là dài? Chị ấy đẹp quá trời đi, lại văn nghệ ghê lắm. Anh biết không, chị Bích Câu có một tập thơ quý lắm, chép nhiều bài thơ xưa thật hay.
 
- Bộ mày mê con Bích Câu rồi phải không?
 
Tôi gật đầu, tôi không giấu diếm điều gì với anh Đào, nhất là những chuyện tình cảm, bởi vì anh Đào là ông giáo đầu tiên dạy cho tôi những bí quyết chinh phục con gái, dầu tôi không bao giờ thấy anh Đào quen với một cô nào cả. Tôi buồn buồn thú nhận với anh Đào là tính tôi đơn giản đến nỗi yêu hầu hết những người đàn bà nào tôi quen hay chỉ vừa gặp. Tôi lại biết điều khiển giấc mơ của mình thật tài tình. Mỗi đêm, trước khi đi ngủ, tôi dành chừng nửa giờ nghĩ đến người con gái nào là khi thiếp đi, tôi sẽ gặp nàng trong giấc mơ.
 
- Đêm qua mới nằm mơ thấy chị Bích Câu. Nhưng hơi kỳ lạ... thấy chị ấy đi lấy chồng rồi ông chồng nào cũng bị rơi xuống giếng chết đuối cả. Có chừng mười người chết như vậy, nên rốt cuộc không ai dám lấy chị cả. Đến năm 90 tuổi, chị Bích Câu vẫn góa chồng... nhưng thật kỳ cục, già như thế mà nước da chị vẫn trắng như tuyết...
 
Anh Đào bực mình ngắt lời tôi.
 
- Thôi, dẹp chuyện mơ mộng của mày đi. Nếu tao có khá tiền, tao sẽ dẫn ngay mày đến một ông bác sĩ trị bệnh thần kinh.
 
Anh Đào nắm tay tôi lôi đi. Trên mặt đường, nước mưa chỉ còn lúp xúp ngang mắt cá chân, vừa đủ để tôi nhúng đôi chân trong làn nước mát lạnh và đá văng tung tóe những hạt nước văng lên cao. Mưa rơi từng giọt lộp bộp trên đầu nghe thật vui tai. Đôi khi một cơn gió mạnh thổi qua, cành cây nhỏ nào đó rơi trúng vào vai làm tôi giật mình. Tôi với anh Đào đi dọc theo bờ sông Hương. Trên bờ sông, cứ cách một quãng ngắn là một lão già đang đội mưa giăng lưới. Hình như tất cả những cậu bé con của thành phố đã đổ xô ra những bờ sông. Đứa đứng nhìn, đứa vút mạnh lưỡi câu xuống dòng nước. Những đứa nào mới tập tành câu cá thì ra những bờ ao và ruộng cạn, ở đó có rất nhiều cá bống và cá rô, thứ cá dễ ăn mồi nhất.
 
Tôi nhìn thấy những điếu thuốc bốc khói xanh thật đẹp, cứ liên tiếp đốt trên môi anh Đào, tôi xin một điếu nhưng anh không cho. Tôi cố gắng nói và nghĩ rằng nếu tôi không nói lên được, chắc người tôi sẽ chết cóng:
 
- Anh Đào ơi, xin điếu thuốc hút cho ấm bụng.
 
- Nói lớn lên... tao không nghe gì cả, trời mưa lớn quá.
 
Tôi nổi cáu gân cổ lên:
 
- XIN ĐIẾU THUỐC!
 
- Không được. Mày còn nhỏ đừng bày đặt.
 
- Mười lăm tuổi rồi chứ còn nhỏ gì?
 
- Nói lớn lên... tao không nghe gì cả.
 
- MƯỜI LĂM TUỔI RỒI!
 
- Đợi sang năm mười sáu tuổi rồi hút thuốc.
 
Tôi thèm một điếu thuốc lá quá chừng. Tôi lầm lũi đi nhanh, bàn chân bực dọc đá văng tất cả những cành cây gãy gặp phải trên đường. Hai người đi qua cầu Trường Tiền và tôi phải bám chặt vào thành cầu để khỏi bị gió thổi bay xuống sông. Anh Đào đi còng lưng như người già. Anh đưa hai tay giữ chặt chiếc mũ thợ săn và nhăn nhó vì những hạt nước mưa thi nhau quất vào mặt. Anh nói lắp bắp:
 
- Mày thích vô tiệm ngồi cho ấm không?
 
Tôi giả vờ kêu lên:
 
- Nói lớn lên... Trời mưa quá, không nghe gì cả.
 
Tôi nhìn thấy anh Đào há miệng thật lớn, chắc nước mưa đã bay vào đầy cổ họng anh.
 
- THÍCH VÀO TIỆM KHÔNG?
 
- Không. Anh đi một mình đi, tôi về.
 
- Đừng đùa. Mày về một mình rủi nhào xuống sông chết đuối, tao biết nói sao với bà ngoại mày?
 
- Mặc kệ. Tôi về đây.
 
Anh Đào hoảng hốt nắm chặt lấy chiếc áo mưa của tôi, năn nỉ:
 
- Thôi đi với tao vào tiệm rồi tao cho hút thuốc lá.
 
- Nói lớn lên... không nghe gì cả.
 
- THẰNG QUỶ! TAO CHO MÀY HÚT THUỐC, KHỎI ĐỢI ĐẾN SANG NĂM NỮA.
 
Tôi cười sặc sụa vui thích, cùng với anh Đào chạy nhanh qua cầu để đến tiệm cà phê. Chắc anh Đào cũng thèm uống một ly nước gì đó như tôi, vì cả hai vừa hét quá nhiều đến khan cả cổ.
 
Quán ít người, người nào cũng co ro trong chiếc áo đi mưa và một điếu thuốc lá trên miệng. Mưa tạt vào những bàn ghế đặt ngoài quán, nên anh Đào phải tìm một chỗ kín nhất trong góc quán. Anh Đào vẫn đội chiếc mũ thợ săn thật đẹp, còn tôi vội vàng lột chiếc mũ to tướng và lố bịch của tôi ra. Người bồi tiến lại trước mặt anh Đào.
 
- Cho tôi một ly cà phê sữa... còn thằng này, mày uống gì? Một ly chè trái cây hay chè đậu xanh nhé.
 
- Trời ơi, lạnh như thế này mà uống cái thứ dành cho trẻ con đó!
 
Tôi nói với người bồi bằng cái giọng thản nhiên và thành thạo như đã vào quán này cả ngàn lần.
 
- Anh cho tôi một ly cà phê đen với một  “ lon”  Ruby.
 
Anh Đào nhún vai, lắc đầu nhìn tôi rồi nhìn ra ngoài đường. Đường phố mờ mịt trong cơn mưa, một vài người vội vàng đi qua lại. Chiếc máy hát trong quán rè rè chạy một bản nhạc ăn khách nhất lúc này, bài Bambino do giọng hát ma quái của Dalida trình bày. Lát sau, người bồi trở lại với hai ly cà phê bốc khói thật ấm, và một lon sữa bò trong đó đựng năm điếu thuốc lá hiệu Ruby Queen. Tôi châm một điếu trước tiên, khói nóng nặng nề trong miệng và cay xè đến chẩy nước mắt. Trời đã mờ vì mưa, đôi mắt lại bao phủ thêm bằng một vài giọt nước mắt, nên khi tôi nhìn sang bên kia đường, cảnh tượng hết sức mờ nhạt như một khúc phim bị hư. Rạp chớp bóng vừa mới vãn, khán giả chen chúc đi ra đường phố, có những đàn bà mặc áo đi mưa màu xanh, đỏ hay tím, trông thật vui mắt.
 
Đến ngày cuối tuần, cơn mưa hoàn toàn chấm dứt. Nước đã khô trên đất, chỉ còn những ao sâu hai bên đường là vẫn còn đầy ắp dòng nước chảy xiết. Mặt trời đã lâu không ai nhìn thấy, bây giờ hơi ửng một chút hồng hào như má con gái. Và dần dần, tia nắng đỏ rực rỡ trên mái ngói và những cành cây chỉ còn một ít lá xanh. Ban đêm, tôi sang nhà Bích Câu để xin vài viên thuốc cảm. Người tôi bây giờ lúc nào cũng lạnh run từ trong da thịt, vì những vụ đội mưa đi chơi vừa rồi. Tôi chăm chú nhìn khuôn mặt của Bích Câu để xem mặt nàng có dài như mặt ngựa không, nhưng tuyệt không, khuôn mặt nàng vẫn tròn và trắng xanh, che lấp sau mái tóc đen nhánh.
 
- Đông thấy tóc tôi đẹp không? Mới gội đầu với bồ kết đó.
 
- Ừ.
 
- Đông có giận tôi phải không?
 
- Không.
 
- Thế sao mấy ngày này không qua đây chơi?
 
- Bận đi chơi với anh Đào, anh ấy vui vẻ hơn chị nhiều.
 
Bích Câu mở tròn mắt ngạc nhiên, tôi lại nhớ đến nét mặt của anh Đào khi nghe nói về Bích Câu.
 
- Chơi gì với cái thằng răng sún dễ ghét đó?
 
- Đừng nói bậy, anh ấy dễ thương lắm.
 
- Dễ thương? Cái thằng ăn bận như cao bồi, sáng nào tôi đi học cũng bị nó chận lại ở góc đường chọc ghẹo.
 
- Anh ấy đâu có thèm chọc chị làm gì. Chị tưởng chị đẹp lắm sao?
 
Tôi ra về. Bây giờ nước đã cạn khô, con đường gạch đá hay ao sâu đều hiện rõ, nên Bích Câu không dặn dò tôi phải đi cẩn thận nữa. Bích Câu chỉ kêu nhỏ:
 
- Đông có hơi giận tôi phải không?
 
- Phải. Nhưng giận ít thôi.
 
- Vậy làm sao cho Đông hết giận?
 
- Đừng làm gì cả. Cứ để tự nhiên rồi hết.
 
Bích Câu bật cười. Tôi không quay lại, nhưng vẫn thấy rõ ràng trong trí não đôi môi nàng đỏ hồng tươi thắm, trời bây giờ có nắng ấm, nên môi của nàng không còn tái xanh nữa.
 
Đêm khuya, tôi nhìn sang nhà Bích Câu, phòng nàng vẫn còn thắp ánh điện vàng. Chắc nàng đang sửa soạn lại bài vở và ủi chiếc áo dài trắng. Tôi lấy chăn đắp kín người, để đôi mắt mở ra vẫn không nhìn thấy gì cả. Sáng mai, trên đường sẽ có nhiều người đi. Bích Câu sẽ thướt tha trong chiếc áo dài trắng, khuôn mặt nàng sẽ nghiêm trang như thường lệ. Có thể nàng làm lơ khi thấy tôi hay chỉ nhếch mép cười mỉm rất nhanh. Dầu sao tôi cũng mong con đường của nàng đi sẽ đen nhánh, lóng lánh như hột nhãn sau những ngày nước mưa quét sạch bụi bặm. Nếu thỉnh thoảng trên đường có một vài màu xanh lấm tấm, đó là màu xanh của những trái sầu đông đã rơi vội vàng trong mùa mưa bão.
 
Người nữ xướng ngôn viên của đài phát thanh loan báo theo một nguồn tin của Sở Khí tượng, cơn bão lụt ở thành phố Huế đã chấm dứt. Xe buýt đã chạy như thường lệ, và bắt đầu từ sáng thứ hai, học trò sẽ lại cắp sách đến trường.
 
Như thế là cơn mưa mùa Đông trên thành phố này đã qua đi. Khi Huế hết mùa mưa, tôi thấy bớt yêu Huế nhiều hơn.
 
 
Hoàng Ngọc Tuấn
 
(Trích từ tập truyện Học Trò, Vàng Son xuất bản 1973)