Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Hồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Hồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

NHỮNG NỖI KHỔ VỤN VẶT - Võ Hồng

Sự vui vẻ khá ồn ào của ông Chính khi nhận được công lệnh cử đi chấm thi khiến nhiều bạn đồng nghiệp của ông hơi khó chịu. Gặp ai ông cũng vội vàng bắt tay và bô bô hỏi thăm:

- Nào, năm nay anh đi chấm ở “centre” nào? Tôi thì phải đi Đà Nẵng.

Người đối diện đầu tiên của ông là Thương, một giáo sư trẻ. Thương đang có một nỗi buồn riêng nào đó, - chắc là vì tình, vì khi tuổi chưa quá ba mươi thì chỉ có ái tình mới làm cho người ta buồn lâu, buồn một cách thành thật và nghiêm trang, - nên chỉ khẽ nhếch một nụ cười xã giao vừa đủ.

- Dạ, cháu đi Phan Thiết.

- Được đi Phan Thiết hả? Ố là là! Phan Thiết Tổ sư nước mắm! (Đố ai biết Tổ sư nước mắm nghĩa là gì?) Hôm nào về nhớ mang về một chai nước mắm nhỉ ăn chơi nhé? Ngon tuyệt.

- Dạ.

Người giáo sư trẻ muốn được yên nên vội “Dạ” một tiếng chấm câu. Không hứa hẹn là sẽ có chai nước mắm nhỉ với tiếng “Dạ” kiểu ấy.

Sau một cái bắt tay, ông Chính đi vội vã về phía đầu bên kia hành lang. Đôi chân quá ngắn múa thoăn thoắt dưới một cái bụng khá to. Tính ông lại thích diện com-lê - cả ngày giữa mùa hè - nên cái bụng càng được đề cao, no tròn, bề thế. Ở đầu hành lang, đang đứng vẩn vơ một cô giáo. Áo màu tím nhạt có thêu rải rác những vũ nữ xòe váy bằng chỉ trắng. Cô giáo đang nhìn lên đọt cây phượng cao trước sân trường, trên đó ánh nắng xao động giữa những chòm lá. Ông Chính cất tiếng nói to:

- A! Chị Vân Anh.

- Dạ, chào bác.

- Kỳ này tôi phải đi Đà Nẵng đây. Còn chị về “centre” Huế hả? Thích nhé? Một công hai việc…

“Ai bảo với ông ta rằng mình được về Huế?” - Vân Anh nghĩ. Mình phải đi Tuy Hòa cơ mà. Cực chết đi mà. Còn một công hai việc là ngụ ý gì mà có vẻ bất lương thế? Nhưng nể người đồng nghiệp có tuổi, cô Vân Anh nắm hai bàn tay vào nhau trong một tư thế lễ độ, nghiêng mình lí nhí:

- Dạ cháu đi Tuy Hòa.

Tức thì ông Chính đớp lời ngay và reo to lên như chính ông vừa bảo đúng là Vân Anh được về “centre” Tuy Hòa:

- Tuy Hòa! Thú lắm. Thành phố Tuy Hòa đang xây dựng, có sông Đà, có núi Nhạn, có trường Nguyễn Huệ. À, ở Tuy Hòa mùa này có nhiều dưa hấu ngon lắm nhé! Tuy Hòa… (đến chỗ này ông giơ ngón tay chỏ chỉ đúng vào giữa trán và nhíu mày một cái nhưng dường như để lấy điệu bộ chớ không thật phải suy nghĩ gì hết)… Tuy Hòa đi ra Màng Màng, Hòa Đa rồi Tuy An, Chí Thạnh mà. Ồ! Thích quá.

- Cháu chán lắm. Đi xe lửa ra Đại Lãnh cháu sợ lắm. Cháu chỉ muốn được đi Đalat.

Vân Anh định nói thêm “Lẽ tất nhiên nếu Bộ bỏ quên không bắt cháu đi chấm ở đâu cả thì cháu thích hơn”, nhưng chợt nhớ ra rằng người đối diện với mình không đáng được thưởng thức một câu ý nhị như vậy nên Vân Anh không nói nữa.

Giã từ cô giáo Vân Anh, ông Chính đi vào văn phòng ông Hiệu trưởng. Cái lưng ông hơi cong lại một chút khiến cái cổ cũng co rụt bớt vào cổ áo sơ mi. Ông giơ tay ra trước nên phải đưa thêm một tay trái ra theo, mong xóa bớt sự đường đột có phần khiếm lễ đó đối với cấp trên.

- Thưa Cụ, năm nay Cụ lại đi chủ khảo ở một Trung tâm?

Ông Hiệu trưởng đưa mắt chầm chậm nhìn lên ông. Đôi mắt nheo nheo vì vừa từ giã những hàng chữ quá nhỏ. Ông đã có tuổi nhưng không chịu đeo kính lão. Cái ca-vát màu đỏ sẫm nằm ngay ngắn giữa cổ sơ-mi là cứng như cùng ra sức với ông bám sát lấy những tháng ngày thanh niên gượng gạo còn sót lại. Ông rất ghét tiếng “Cụ” già nua nên không thèm giấu một cái cau mày. Người ta có thể biểu lộ sự tôn kính bằng nhiều cách và người trên không ai chối từ sự tôn kính. Nhưng tôn là “Cụ” không có nghĩa khen tặng mến phục gì cả. Sống lâu không phải là một công tích đáng để hãnh diện mà trái lại, hầu hết người ta đều coi đó là một sự ân hận đáng tiếc. Nhất là ông Hiệu trưởng sau mười lăm năm góa bụa vừa cưới một người vợ vừa trẻ vừa đẹp. Chính do những mặc cảm dồn dập đó mà, sẵn nét mặt sa sầm, ông Hiệu trưởng trầm giọng nói:

- Năm nay tôi được nghỉ.

- Ồ! Quí hóa quá… Cụ được Bộ cho nghỉ năm nay cũng phải. Năm nào cũng phải chủ khảo hết thì sống thế nào được.

Ông Hiệu trưởng cúi mặt xuống một trang giấy đánh máy có đóng dấu son. Biết đó là dấu hiệu cáo từ nhưng ông Chính phải cười xã giao một mình.

- Năm nay tôi phải đi Đà Nẵng.

- Thế à?

Ông Hiệu trưởng hỏi mà không ngẩng mặt lên và đầu bút chì đỏ ông cầm ở tay vẫy không ngừng chạy dài, rất mau, trên những dòng chữ đánh máy.

- Thôi xin phép cụ.

- Không dám, chào ông.

Cái bắt tay lạnh nhạt tiếp theo. Ra khỏi phòng ông Hiệu trưởng, ông Chính gặp bác cai trường. Đó là một anh chàng nhỏ nhắn có khuôn mặt láu lỉnh đặc biệt của những chú lính lệ ngày xưa.

Cặp mắt mở thao láo, mi chớp lia lịa nhất là những khi anh đứng trước mặt thượng cấp hoặc những ngày thi cử, ngày nhập học, sân trường, cổng trường đầy những phụ huynh học sinh. Một cái mũi nhỏ nằm trên cái miệng cũng nhỏ. Hình như lúc nào anh cũng bận rộn công vụ. Trên tay luôn luôn có một cái cặp bìa các-tông dày gáy vải và chân bước vội vã, thoăn thoắt từng bước nhỏ. Khi có Thanh tra ở Bộ về khám trường thì anh tăng gia sự mẫn cán trong bộ y phục ka-ki màu xanh dương, kiểu đồng phục Thanh niên. Nhìn anh, người ta tự nhiên phải nghĩ đến một con chim sâu, một cái chong chóng đang quay.

Trên đời anh chỉ biết kính trọng có ông Hiệu trưởng trường anh, các ông giám thị và mấy ông giáo đi ô-tô. Mọi người khác anh đều coi là “anh, chị” hết. Ông Chính không đi ô-tô nhưng lại năng nói chuyện, - nào ai biết là nói chuyện gì, - với ông Hiệu trưởng và ông Giám học nên anh tỏ ý nể. Thấy ông ở phòng Hiệu trưởng đi ra, anh vội vã lớn tiếng chào:

- Xin chào Cụ. Năm nay cụ có đi chấm…

Ông Chính tươi cười liền:

- À chào anh. Năm nay tôi đi Đà Nẵng.

Ông vỗ vai anh một cái thân mật.

- Anh ở lại mạnh khỏe nhé?

- Dạ, cám ơn Cụ. Chúc Cụ đi đường sức khỏe.

Theo cái đà ấy, chỉ hai hôm là cái tin ông Chính đi chấm thi ở Đà Nẵng ai cũng biết. Những giáo sư trẻ ngầm hỏi nhau.

- Ông ấy dở hơi nhỉ? Chấm thi thì thú cái đếch gì? Ba tháng Hè chả được nghỉ.

- Ừ. Trẻ và độc thân như chúng mình thì mới còn lý thú đôi chút chứ lớn như ông ta…

- Hồi mình chưa cưới vợ thì mỗi kỳ nghỉ Hè mình thích đi chấm thi lắm. Vì có đi như vậy mới mong gặp ngày chuyện lạ, chuyện vui ở dọc đường. Những bạn đồng nghiệp, nhất là nữ đồng nghiệp ở từ các tỉnh tụ họp về sống gần gũi mươi ngày nửa tháng rồi giã từ nhau, hẹn năm sau gặp lại. Vui chứ. Nhưng từ ngày mình cưới vợ rồi thì… Lạ thật, đố ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì.

Chẳng ai hiểu ông Chính đang nghĩ gì thật. Có người đoán là ông chán ngấy cảnh ngày hai buổi họp mặt với vợ con. Có người bảo là từ nửa năm nay sao thấy bà Chính bỗng già đi một cách đáng chán. Có lẽ do đó mà ông muốn đi tỉnh xa để ăn chơi cho bõ dăm mười ngày chăng? Có người nghi là ông đang chạy một áp-phe nào đó ở Đà Nẵng. Tính ông tháo vát, lý tài không mấy ai là không biết. Óc lý tài ấy không thể quên việc một người bạn cũ vừa được Chính phủ cử làm một chức vụ hành chánh cao cấp ở đây. Việc ấy chính ông đã bô bô nói cho anh em nghe, một cách lơ đãng thôi nhưng mà với bao nhiêu là cố ý và dàn xếp. Tóm lại mọi ức đoán đều không tốt cho ông Chính. Bởi không ai tin rằng sự hăng hái của ông là do tinh thần trách nhiệm cao cả của một nhà giáo có lương tâm. Trong khi đó thì ông hò hẹn với người này sẽ lên đường ngày ấy tháng ấy, rỉ tai với người kia rằng sẽ cùng thuê một phòng ở khách sạn nọ nhà hàng kia. Ông chạy đi dò hỏi giờ xe lửa đến, xe lửa đi, giờ tàu bay hạ cánh và cất cánh. Vì tất cả là nhà giáo nên không ai bảo ai mà mọi người đều tự nhiên nhớ đến anh chàng Tartarin.

Đột nhiên, một ngày trước ngày lên tàu, ông Chính lăn ra bệnh. Bà Chính cầm giấy chứng nhận của bác sĩ đến phòng ông Hiệu trưởng và nhờ ông gởi ra ông Chánh chủ khảo Hội đồng Đà Nẵng. Bà phàn nàn thay chồng:

- Thưa cụ, nhà tôi thật tiếc quá. Đến ngày đi thì lại ốm. Nhà tôi đã bao nhiêu lần bảo mặc cứ đi, nhưng bác sĩ cản lại không cho đi. Nhà tôi bảo mỗi năm Chính phủ chỉ nhờ mình một lần…

Ông Hiệu trưởng đằng hắng một tiếng khiến bà ngừng nói, đợi chờ ông ban ý kiến. Nhưng sau cái đằng hắng là tiếng gọi “Bác Cai!”, ông gọi thật to, như quát. Và bà vợ người giáo sư mẫn cán xin phép ra về.

Ngày lên tàu, mấy giáo sư tán chuyện gẫu trên sân ga.

- Được đi Đalat sướng mê đi, sao mặt mày buồn thiu như đưa đám ma thế kia? Lên gặp Minh Châu tha hồ mà đi hồ Than Thở.

- Nói nhảm. Minh Châu đi chấm ở Nha Trang. Mình vừa nhận được điện tín xong.

- Còn “bồ” sao cũng không vui?

- Chủ nhà nó đòi nhà lại để nó ở. Hết hạn báo thị rồi mà moa chưa tìm được chỗ nào ưng ý. Bây giờ lại phải đi nửa tháng.

- Chỉ có ông bô Chính thích đi Đà Nẵng thì lại ốm không đi được. Bô ấy ốm gì nhỉ? Mới vừa thấy béo na béo núc ra ấy mà.

- Chả biết ốm gì, nhưng mà để bố ốm cho bõ ghét. Cái mồm cứ mỏng lèo lèo. Lúc nào cũng tinh thần, xung phong, gương mẫu…

Người ta không hiểu ông Chính. Khi phán đoán về ai, người ta thường hoặc quá khắc nghiệt, hoặc quá dễ dãi. Cả hai thái độ đều có chung một nguyên nhân là lòng ích kỷ. Phán người ta nhưng lại vì mình mà phê phán nên ý kiến không đúng với sự thật. Sự thật ở đây chỉ có ông Chính biết mà thôi. Sự thật đó là ông chẳng bệnh tật gì hết mặc dù có giấy chứng của bác sĩ. Sau khi gởi giấy xin phép nghỉ, ông Chính gọi vợ dặn nhỏ:

- Thật ra, tôi chả đau ốm gì. Chỉ vì năm nay thằng Liêm nó thi mà sức học của nó còn kém quá. Tôi phải tìm cách ở lại để lo cho nó thi đỗ.

Bà Chính há hốc mồm nghe rồi lơ đãng để rơi một tiếng “ờ”.

- “Thật vô vị là cái mụ nầy”, ông Chính nhíu mày suy nghĩ. Tưởng vợ tán tụng tài trí và mưu cơ của mình, ai ngờ mụ chỉ đờ đẫn buông thõng một tiếng chán đời ấy. Ông xẵng giọng nói:

- Để mọi người không ai đoán được ý định của tôi, tôi đã đóng kịch hăng hái hàng tuần lễ trước. Thế mà bà có biết đâu.

- Vâng.

- Vâng là cái gì?

Ông quắc mắc nhìn vợ hỏi.

- Nói với bà chán như cơm nếp ấy. Thôi, bà đi xuống.

Bà Chính tuân theo lệnh chồng một cách thản nhiên bình tĩnh. Gần hai mươi năm chung sống, mỗi lần nghe chồng bàn tính công việc, bà chỉ biết dùng chữ “vâng” chữ “ờ” như để chấm câu cho chồng nghỉ hơi. Không phải vì bà khờ nhưng mà vì bà biết chồng mình khôn ngoan lanh lợi mình không thể nào bì kịp. Đưa ra ý kiến nào cũng bị chồng chê là non, là vụng, rốt cuộc bà trở thành e dè, gần như thụ động. Sự thụ động trong tâm hồn đã ảnh hưởng mạnh đến thể xác của bà. Bụng và ngực sệ xuống, dường như những sợi đàn hồi trong các mô liên kết không còn đủ ý chí để thắt gọn lên được nữa. Mắt hay nhìn xuống đất và những khi phải ngó lên thì hai tròng đen nhìn lác hẳn đi. Ngày mới lấy ông Chính thì mắt bà đâu có lác nặng như thế? Giọng nói cũng mỗi ngày một uể oải rụt rè, rụt rè cả ngay khi bà sai bảo đầy tớ.

Hai ngày trước hôm thi, các giám khảo lục tục đến bằng chuyến tàu suốt từ Saigon ra và từ Huế vào. Ông Chính cần mẫn lên ga đón. Đối với những người quen ở trong nghề như ông thì việc nhận ra các giám khảo không phải là điều khó. Họ đi từng nhóm ở toa hạng Nhì xuống. Một chiếc va-li nhỏ trên tay. Trừ vài thanh niên láu lỉnh còn thì họ đều có vẻ mặt ngơ ngác lãnh đạm của người tri thức. Ông Chính xông vào một người đứng tuổi nước da mai mái. Bàn tay chìa ra trước khi tiếng nói theo kịp.

- Chào bác. Năm nay bác về chấm ở đây.

- Vâng ạ, kìa chào bác.

Ông Như, một giáo sư ở trường Trung học Duy Tân, vừa đón tay, vừa mỉm cười trả lời. Tới một địa phương gặp một người quen, không mấy ai là không thích.

- Thế bác không phải đi đâu cả?

- A… Tôi phải đi Đà Nẵng nhưng lại bị ốm hôm lên tàu.

- Ồ! Tiếc quá nhỉ? Trông bác có hơi xanh đi đấy.

Ông Chính giật nẩy mình. Mình xanh thật hay là ông bạn biết rõ bệnh dối của mình mà nói mỉa? Cả hai sự thật đều đáng ngại cả. Ông quay sang các giám khảo đang đứng vây quanh, vẻ mỏi mệt chờ đợi.

- Còn đây là…

Ông Như đỡ lời:

- Xin giới thiệu với bác, các giám khảo ở Phan Thiết ra… Các bạn này ở Đalat xuống… Còn đây…

Ông Chính phá ra cười liền khiến hai con mắt híp lại:

- À, biết rồi. Bạn quen cả mà, anh Hỷ, anh Tùng, anh Thuận. Các bạn vừa ở Nha Trang ra. À, có cả chị Ngọc Lan. Sao? Ở trường Nữ Trung học chỉ có một mình chị ra thôi à?

Người nữ giáo sư tên là Ngọc Lan trả lời quá nhỏ không ai nghe được. Vả lại người ta đang bận bắt tay, những cái bắt tay không hăng hái vì lặp lại quá nhiều.

- Mấy bác đã có chỗ trọ sẵn cả rồi chứ?

Nhiều người trả lời một lượt. Đại khái thì kẻ có người không. Nhiều người định ra phố thuê phòng. Một số ít định ghé lại nghỉ tại trường.

- Phải đó, - lời ông Chính, - chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị. À, xuống ngay trường Cường Để mới nhé? Trường cũ nóng lắm không chịu được. Xích-lô!

Mấy bác xích-lô đứng vây quanh các thân chủ tranh nhau lên tiếng.

- Dạ… Dạ…

- Chở mấy thầy xuống trường Cường Để mới nhé? Biết trường mới không?

Các giám khảo đã an vị trên xe xích-lô, ông Chính xoa tay nói:

- Thế là các bác đã có nơi chốn an ổn hết rồi. Không có bác nào đến ở với tôi cho vui.

Lời mời mọc lộ tính chất hình thức đãi bôi không được ai trả lời. Ông Chính quay lại tìm cô giáo Ngọc Lan. Nhưng lặng lẽ, cô đã lên xích-lô đi đâu mất từ lúc nào.

Khi chuyến tàu suốt ở Huế vào, ông Chính cũng lặp lại sự cần mẫn vừa rồi. Lần này ông không còn ngượng miệng như lần đầu, ông bảo: “Chúng tôi đã cho sắp đặt một phòng học dành cho quý vị”. Vì thật ra sự sắp đặt là do bác cai trường theo một lệnh của ông Tổng giám thị. Vả lại, có gì đâu mà gọi là sắp đặt? Cứ hai cái bàn học kê sát nhau làm một giường nằm, trên tường chăng bốn đường dây kẽm để mắc màn, thế thôi. Giám khảo đến ở tại trường thì ít và phần lớn là những người vô tâm. Họ chỉ cần sự tinh khiết của khoảng rộng.

Ba ngày thi lần lượt trôi qua. Thằng Liêm làm bài chả ra gì mặc dù ông đã bảo nó cứ nhìn sang bài của hai đứa ngồi cạnh. Nhưng ông tháo vát lanh lẹ bao nhiêu thì thằng Liêm hiền lành đờ đẫn bấy nhiêu. Nó sợ thầy giám thị, cô giám thị, sợ ông giám thị hành lang, sợ chủ khảo, sợ cả mấy ông lính mang súng đi đi lại lại ngoài sân trường nên nó chả dám nhìn ai hết. Bài nháp nào đem về đưa cho ông coi ông cũng la rầm lên làm nó càng sợ hơn. Rốt cuộc ông phải gọi giật bà lên để phân bua:

- Đấy, bà xem, nó học dở như thế đó.

- Thì nó học dở từ hồi giờ.

Bà thủng thỉnh trả lời.

- Ai chả biết là nó dở.

Ông nói gần như thét lên.

- Đã biết thế còn bảo tôi làm gì nữa? Nó bé oắt như con mắm thế kia mà ông cứ bắt nó học.

- Thôi dẹp bà đi. Chả bàn bạc được cái gì với bà hết. Nói ngang như cua ấy.

- Chả ngang thì…

Ông Chính đứng phắt dậy, đưa tay quyết tìm một vật gì ném xuống đất để biểu lộ cơn giận. Nhưng trên bàn chỉ toàn những vật có thể vỡ được, chẳng hạn cái tách, lọ mực, bình hoa. Ông đành phải chọn lấy tập báo ném phịch xuống đất rồi la lên:

- Thôi, tôi không nói với bà nữa.

Và ông bỏ vào giường nằm.

Các hội đồng giám thị ở Tuy Hòa, Quảng Ngãi đã tập trung đầy đủ về Trung tâm Qui Nhơn. Ông bắt gặp được anh Độ, một trong những thư ký hội đồng. Ông nói nhỏ:

- Khi rọc phách nhớ coi dùm bài của thằng nhỏ con “moa” một tí nhé? Số ký danh của nó là 612. Phòng 18. Trung tâm Qui Nhơn. Nhớ ghi dùm số phách cho “moa” tí nhé?

Độ nhăn mặt:

- Chủ khảo gắt như mắm…

- Thôi mà - ông Chính vội vỗ vai Độ - giúp dùm cho “moa” một tí mà.

Độ định ừ à cho qua chuyện nhưng thấy ông Chính cứ quanh quẩn ở hành lang nên biết là không giúp không xong. Thà giúp một tiếng còn kín nhẹm hơn là để ông cứ thì thầm nhỏ to với mình khiến chủ khảo thêm nghi ngờ. Vả lại ông khéo xếp đặt quá khiến sự hiện diện của ông ở phòng chấm rất đỗi tự nhiên. Ông gọi anh Cai mang thêm ghế ngồi vào cho các thầy. Ông gọi anh Cai pha thêm nước trà. Ông gọi anh Cai xuống đuổi mấy người thí sinh lảng vảng ở trong cổng trường. Đối với chủ khảo thì ông gợi chuyện một cách rất nhã nhặn:

- Tôi chắc ông phải khó chịu với những khách sạn ở Qui Nhơn?

Ông chủ khảo ngơ ngẩn không biết kẻ đối thoại định nói gì. Nút cà-vạt của ông nằm lệch sang một bên cổ sơ mi. Lưng ông gù hẳn xuống. Sự mệt mỏi đọc dược trên đôi mắt lờ đờ, trên da mặt bóng mồ hôi, trên mái tóc rơi lè phè trước trán. Ông vừa bực mình vì các giám khảo đến phòng họp quá trễ giờ, thích tán chuyện với các cô giáo mà lại muốn công việc chấm thi phải xong trong năm ngày. Họp chấm ngày thứ Hai mà ngót một nửa số giám khảo đã ghi vé máy bay thứ Sáu về. Ông Chính phải lại xoay câu hỏi thăm:

- Thưa ông, ông trọ ở khách sạn nào?

- Dạ, tôi ở khách sạn Khánh Vân.

Vừa trả lời, ông chủ khảo vừa lơ đãng nhìn ra xa. Rồi ông chợt quay lại:

- Xin lỗi ông… - ông đưa tay ra bắt, - … Tôi đang bận quá.

Ông Chính không bị mếch lòng vì thái độ lạnh nhạt hấp tấp của ông chủ khảo. Người có trách nhiệm điều khiển bao giờ cũng đa nghi. Họ tưởng ai cũng rình rập để lợi dụng họ thành ra họ rất bủn xỉn nụ cười và lời xã giao. Ông Phó chủ khảo cởi mở hơn. Vì trách nhiệm có chủ khảo gánh, công việc có thư ký làm. Ông tươi cười đón lời hỏi thăm của ông Chính và nhún vai một cái:

- Khách sạn? Gọi hơi quá, vì chỉ có cái tên là có vẻ khách sạn mà thôi: Bồng Lai, Lan Đình, Đồng Khánh… Đó chỉ là những căn phòng hẹp ở sau những hiệu buôn tạp hóa người ta lợi dụng đem cho thuê…

Ông Chính tán đồng ý kiến ngay:

- Vâng, đúng thế ạ. Ông nhận xét rất đúng.

Gió ở biển phây phẩy thổi vào, mát nhẹ. Ông Phó chủ khảo thích chí nói tiếp:

- Người Bình Định sống trong hoàn cảnh chiến tranh mười năm nên họ biết lợi dụng từng tấc đất một. Không quảng canh được thì họ thâm canh. Biến nhà sau thành khách sạn, đó cũng là không bỏ phí một tấc đất, một cách thâm canh vậy.

Thú vị vì lời nhận xét, ông Chính cười ha hả và vội giơ tay bắt tay ông Phó chủ khảo trong một thế tán đồng thân mật. Vừa lúc ấy bóng anh Độ đi ra, và ông vội cáo từ đi lảng nhanh về phía anh.

Hai người gặp nhau ở cầu thang gác.

- Cụ nhớ ghi số phách quốc văn: Am 26.

- Am 26.

- Pháp văn: Bp 25.

- Bp 25. Còn mấy món kia?

- Tôi chỉ tìm được có hai món.

- Nhờ tìm hết dùm tí, bác (Ông đã thăng Độ lên chức Bác)

- Hai món chính, hệ số 6 rồi còn đòi gì nữa? Con cụ ở lớp đứng thứ mấy?

- Cháu kém lắm. Đứng thứ 48. Gần chót.

Độ vô tình nhún vai tỏ ý chán nản. Nhưng anh vội chữa lại cử chỉ vụng vừa rồi của mình bằng một nụ cười gượng gạo:

- Nhưng được hai món hệ số 6 rồi thì có hy vọng.

- Tội nghiệp mà. Không đỗ nổi đâu. “Bác” gắng giúp thêm tí nữa.

Chợt có tiếng giày ở phòng chủ khảo đi ra, Độ vội vàng bước xuống cầu thang. Bực mình, nhưng anh không thể vô tình với câu khen vuốt đuôi của ông Chính:

- Thôi, gắng giúp “moa” 1 tí nhé, rồi moa làm mai cho toa 2 cô Nhã. Cô Nhã chấm Lý Hóa đó, có mê không? Dạy Cường Để đó. Cả Trung tâm này chỉ có toa là xứng với en 3 thôi.

Được mấy số phách, ông Chính lân la lại các tiểu ban: tiểu ban Toán, tiểu ban Công dân Giáo dục, tiểu ban Pháp văn… Tìm cho biết được bài thi của con mình thuộc về tay ai chấm, thật không phải là dễ. Nhưng ông Chính là một người chịu khó. Đầu tiên ông gặp được xấp Pháp văn có bài con ông rơi vào tay anh Khoa, một bạn đồng nghiệp đã cùng dạy với ông mấy năm ở trường Trần Hưng Đạo. Ông rỉ tai:

- Am 26 là con tôi đó.

- A!…

Anh Khoa mỉm cười lật tìm số Am 26. Đọc qua một lượt, Khoa vỗ đùi đánh “đẹt” một cái, nói to lên:

- Ồ! Kém quá. Kém quá. Làm chả được gì hết. Chia verbe Rendre mà cũng sai.

Ông Chính cảm thấy ruột mình quắn lại khi đưa mắt theo dõi cặp mắt chăm chăm của Khoa nhìn xuống bài làm và tim mình chồm lên khi Khoa vỗ vào đùi. Ông nói nho nhỏ:

- Vu 4 cho cháu nó đủ moi-en 5

- Cho thế nào được?

Khoa quay lại nhìn ông, tròng mắt chao lên nhiều vòng sau lần kính trắng.

- Làm sai hết thế này mà.

- Vu nói nho nhỏ vậy. Thôi vu bớt đi 1, cho cháu nó 9 điểm.

- Không được. Bài đáng 5. Cho thêm 1 là 6.

- Chết! Vu giết moa. Thôi cho cháu 7 điểm rưỡi.

“Thật tai ác là thằng Khoa”, ông Chính nghĩ. Mình cứ tưởng chỗ quen thì dễ nài, hóa ra không hẳn thế. Chả bù với hai vị giám khảo chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục, ông Chính không quen biết lần nào cả nhưng khi kể lể gia cảnh (cần nói láo một chút) và chỉ vào mái tóc có dăm sợi bạc của mình là các vị nới rộng điểm giúp cho ngay. Thật là những người dễ dãi, hào phóng. Cô giáo Lý Hóa, - không phải là cô Nhã, tất nhiên, - trông thế mà cũng nghiệt ra phết. Chỉ “vâng… dạ… đồng ý chấm nới tay…” nhưng nhất định không cho biết là mấy điểm. Chẳng lẽ lại vào ngồi cạnh cô để nài. Bài luận Quốc văn thì biệt tăm không biết do ai chấm. Ông chỉ còn trông chờ ở số vận may. Thằng Liêm lý luận không hay nhưng chữ nó viết đẹp sáng sủa. Ông Chính trông sao cho bài làm của nó rơi vào tay một ông giám khảo nhớ nhà. Ông ta sẽ đọc lại cái nhập đề và cái kết luận. Ông ta sẽ tìm vài lỗi chánh tả để gạch cho đỏ bài nhưng bài không có lỗi chánh tả. Ông Chính thâm hiểu tâm lý của một số giám khảo nên đã dặn con cố viết cái nhập đề và cái kết luận cho thật hay và lưu ý đừng để phạm những lỗi chánh tả. Ông giám khảo nhất định sẽ cho điểm quanh quẩn ở 8, 9, 10. Bài Toán thì vô phúc bị đem ra cho tiểu ban cùng chấm để làm thang điểm. May trúng được hai phần bài. Nhằm bài toán đã làm ở trường rồi thế mà chép lại cũng còn sai lên sai xuống.

Cũng như mọi thí sinh, ngày vô phách cộng điểm, ông Chính thấy sao mà dài thế! Thằng Liêm thì cứ lêu nghêu đi dạo biển và đọc tiểu thuyết, làm như chính ông đi thi chứ không phải nó thi. Ông gọi giật nó, hỏi:

- Sao tao chả thấy mày lo lắng gì cả thế?

- Thì thầy bảo con lo cái gì nữa? Thi đã xong rồi thì chỉ còn đỗ được trượt thôi chứ còn lo gì nữa?

- Mầy nói như… cái con chó ấy. Thật là mẹ con mày một lũ.

Và ông vào thay áo xuống trường.

Phòng họp rộn rịp ồn ào. Chỗ này vô điểm, tiếng rao điểm luân phiên nghe nhịp nhàng như tiếng một cái máy lạ đang chạy. Chỗ kia rầm rì tiếng cộng điểm. Ông Chính lại mượn xem bảng kết quả của phòng 18 trung tâm Qui Nhơn. Những chữ “đậu” ghi rải rác trước những tên thí sinh. Ông lật nhanh đến tên Nguyễn Thanh Liêm số ký danh 612. Ông lặng im đưa mắt nhìn, lẩm nhẩm tính từng cột điểm. Đoạn để tập giấy xuống bàn, ông lặng lẽ bước ra hiên. Nét mặt đăm chiêu, ông nhìn ra bãi bể Gành Ráng. Đôi con mắt nheo lại và môi mím trong vẻ suy nghĩ. Anh Khoa ra uống nước, lại gần hỏi:

- Sao buồn thế bác? Cháu Liêm hỏng rồi à?

Ông lắc đầu không trả lời.

- Tôi cho đủ 7 điểm rưỡi bác yêu cầu mà.

- Vâng, tôi nhớ.

- Thế thì sao mà hỏng được?

- Không. Đâu có hỏng.

Nghe tiếng “hỏng”, vài giám khảo đứng gần đó quay lại hỏi:

- Sao? Con cụ hỏng rồi à?

- Chết chết! Hỏng thật sao?

Mấy giám khảo ngồi trong phòng cũng quay mặt ra. Có cả cô giáo chấm Lý Hóa và hai vị chấm Sử Địa và Công dân Giáo dục dễ tính. Người nào cũng lộ vẻ ái ngại cho người đồng nghiệp tốt bụng của mình. Mọi người, nhất loạt, đều cảm thấy lương tâm rỉa mình khe khẽ vì ai cũng nghi rằng bài của con người bạn đã rơi vào nhằm tay mình. Rồi có người chép miệng:

- Tội nghiệp. Đứa nào cho điểm ác.

- Ông ta có thể xin chủ khảo…

- Cụ ấy người có tuổi, dáng đứng đắn chắc không thèm hạ mình xin xỏ lôi thôi.

Tiếng xì xào im bặt khi ngoài hành lang ông Chính chẩm rãi mà ưu tư nói:

- Thưa các bác, cháu không hỏng ạ.

- Chứ sao?

- Cháu được đỗ ạ.

- Đỗ mà sao cụ buồn thế kia?

- Dạ… Cháu được 142 điểm. Chỉ còn thiếu 14 điểm nữa là được Bình thứ. Tức thế. Phải các bác nới tay cho cháu một chút thì cháu đã đỗ Bình thứ rồi. Bậy quá. Tiếc quá.

 
 (Trích từ tập truyện ngắn Bên Kia Đường)
 --------------------------------
1Tôi, phát âm tiếng Pháp
2Anh, mày (phát âm tiếng Pháp)
3Cô ấy, chị ấy
4Vous: anh, ông
5Moyenne: điểm trung bình

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

LÃNG TỬ BOBBY - Võ Hồng


Khi nghe tôi ngỏ ý muốn tìm nuôi một con chó, Cần vồn vã nói:
 
- Để em tìm cho chị một con.
 
"Xin một con chó?" - Tôi tự hỏi, trong cái xã hội đô thị hôm nay mà còn có chuyện đi xin một con chó? Làm y như ở nông thôn cách đây mươi năm. Ở nông thôn "xin" là một việc bình thường, việc phổ thông, một hình thái sinh hoạt thân hữu. Người ta xin nhau một nắm lá nêm, một cặp thỏ con, một bụi thược dược. Ở đô thị thì tất cả đều phải mua sòng phẳng, dứt khoát. Nhất là một con chó. Lại là một con chó đẹp. Tôi nói:
 
- Nhưng tôi thích một con béc-giê.
 
- Dạ béc-giê chớ sao.
 
- Béc-giê mà đâu có vấn đề xin, người ta nuôi béc-giê để bán, nuôi từng bầy, làm thành một kỹ nghệ.
 
- Đành vậy, nhưng đây là chỗ quen mà.
 
- Dẫu là chỗ quen nhưng anh cần nhớ rằng một con bec-giê giá tới bốn, năm ngàn đồng (1). Với loại chó quý thì giá tới vài mươi ngàn đồng một con là thường. Đó là tôi nói chó con thôi đó. 
 
- Chị cứ tin em đi. Em nói dối với chị làm chi.
 
Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng Cần nói dối. Nhưng vẫn có điều nghi hoặc.
 
- Con chó lớn chưa?
 
- Cao như vầy nè.
 
Cần giơ tay ra dấu. Từ mặt đất lên tới bàn tay của Cần, tôi ước lượng chừng bốn tấc.
 
- Như vậy là chó đã lớn.
 
- Còn con mà.
 
- Màu gì?
 
- Đen.
 
- Đen thui?
 
- Không. Có chỗ đen chỗ trắng.
 
- Chó béc-giê đâu có thứ vá như vậy?
 
- Nhưng rõ ràng là béc-giê mà. Chị cứ tin em đi.
 
Tôi im lặng. Cần nói một mình:
 
- Anh Nhiếp, kỹ sư ở Ty Canh nông hiện đang nuôi nó. Người ta cho ảnh đấy. Nó vui lắm, ưa nhảy giỡn. Mỗi lần em tới là nó nhảy giỡn không biết mệt.
 
"Ưa nhảy giỡn" không phải là tiêu chuẩn để định giá trị một con chó tốt. Cần càng muốn đề cao ưu điểm của nó bao nhiêu thì càng sa lầy một cách tệ hại vào những chi tiết nhảm nhí bấy nhiêu.
 
- Anh Nhiếp thương nó lắm. Chị Nhiếp cũng thương nó nữa.
 
- Con chó người ta đã xin để nuôi rồi thì có lý đâu người ta lại đem cho.
 
- Vậy mà ảnh nói ai xin thì ảnh cho.
 
- Mới nói ảnh thương nó lắm...
 
- Vậy mà ảnh nói hễ ai xin thì ảnh cho.
 
- Thật là mâu thuẫn khó hiểu. Nhưng... hơi  đâu mà lý luận rắc rối - tôi cắt đứt mọi thắc mắc. 
 
- Ừ, nếu xin được một con thì tốt. Bằng không thì tìm mua giùm một con.
 
- Dạ, chị để em.
 
Ba ngày sau Cần dắt con chó tới. Quả đúng là nó đã cao tới bốn tấc và như vậy thì không thể gọi là chó con được. Lông nó đen mun với vài miếng vá trắng nhỏ ở bốn chân, ở dưới bụng. Riêng chót đuôi thì trắng tuyền. Tai nó nhỏ lại cụp xuống nên trông càng nhỏ thêm, y như hai cái vảy. Mặt mũi đen ngòm.
 
- Anh Nhiếp cho mà cứ tiếc. Ảnh nói bởi chị là chỗ quen, chớ không thì... ảnh thương nó lắm.
 
- Thì để ảnh nuôi. Sao lại...
 
Cần vội vã:
 
- Thôi thôi. Ảnh đã vui vẻ cho rồi mà.
 
Thành thật mà nói thì tôi không thích con chó nên tôi rất muốn hoàn nó lại cho chủ nó. Nhất là khi phải nghe Cần lải nhải những "ảnh thương... ảnh tiếc...".
 
Nhưng trả về không phải là không rắc rối nên tôi đành buông xuôi.
 
- Thôi được. Cám ơn anh nhiều.
 
Rõ ràng là càng nhìn kỹ con chó tôi càng tìm thấy những điểm mà tôi không thích. Bắt đầu là đôi mắt. Một khuôn mặt người dẫu đẹp bao nhiêu mà lắp vào hai con mắt xấu thì giá trị giảm đi có đến phân nửa. Ngược lại, một đôi mắt đẹp đủ sức xóa mờ đi bớt những khuyết điểm ở tai, ở mũi, ở môi. Cả đến con vật cũng vậy. Mới nhìn một con gà con nép dưới cánh mẹ thò đầu ra ngoài là ta đã bị chinh phục ngay bởi đôi mắt đen láy của nó. Con chó của tôi thì - thê thảm chưa - có đôi mắt lờ đờ giữa một khuôn mặt đen ngòm. Tất cả những cái gì gọi là linh động, là cá biệt, là hấp dẫn đều chìm đắm trong cái diện tích đen tối mênh mông đó.
 
Tuy vậy nhưng khi đặt tên cho nó, tôi cũng bàn với chị tôi xem nên lựa một cái tên nào cho đẹp. Người ta thì mượn tên danh nhân, chó thì mượn tên danh khuyển. Những tên Mi-nô, Lu-lu đã lỗi thời rồi, chị tôi nhắc đến tên một con chó thời danh và đề nghị:
 
- Mình đặt tên cho nó là Bobby đi.
 
Chị tôi kể những thành tích của con chó ngoại quốc đó và tôi chấp nhận liền. Thật ra thì nếu có đặt tên là Cún, là Mực, là Bô-tô, là Hecto, là Richard... gì đi nữa thì tôi cũng sẵn sàng bằng lòng. Bởi tôi không mong đợi gì bao nhiêu ở cốt cách của một con chó như vậy.
 
Công việc đầu tiên của con Bobby khi đến ở nhà tôi là đi chầm chậm quanh nhà, vừa ghé mũi ngửi vào chỗ này chỗ khác. Chị tôi và tôi lặng lẽ theo dõi. Khó biết nó có ngạc nhiên hay thích thú gì không, bởi vì màu đen nơi khuôn mặt nó nhận chìm hết mọi băn khoăn, háo hức, mừng giận. Thật may mắn hết sức khi những tảng đá còn có được màu xám. Còn có một chút biểu lộ gì đó, nào đó trên một nền màu nhạt. Cho dù là đá câm nín, lạnh lùng.
 
Con Bobby đi lãng đãng như vậy, ngửi vẩn vơ vào cả những tờ giấy vụn, những chiếc lá khô. Rồi chợt đứng ghếch chân đái một trận dồi dào vào cửa cổng. Thật là một lối chấm câu kỳ bí bất ngờ.
 
Đến bữa, Bobby chiếu cố tận tình bát cơm ụ dành cho nó. Không một chút khách sáo. Sau bữa cơm, nó nằm khoanh ở mái hiên đánh một giấc dài. Không có dấu hiệu gì tỏ ra rằng nó đang nhớ ngôi nhà, chủ cũ, nơi nó vừa rời bỏ.
 
Buổi chiều là màn rượt gà vịt trong sân. Lũ gà vịt chạy táo tác, miệng la inh ỏi. Thấy sự thành công dễ dàng, nó lập lại nhiều lần trò chơi này khiến con nhỏ giúp việc - con Thời - phải can thiệp:
 
- Bobby! Đừng rượt nữa. Đánh chết. 
 
Nó đứng dừng lại, nhìn con Thời đang bước tới. Rồi bỗng nó ngoắt đuôi lia lịa vừa nhảy chồm lên mừng. Thái độ thật khó hiểu. Không biết nên phê bình là nó ngu hay khen là nó có tài chiến tranh tâm lý. Sau hai ngày, tôi được nghe tiếng sủa đầu tiên của nó. Cũng chỉ là sủa láo vậy thôi, sủa vào một tàu dừa khô đang không bỗng rơi ào từ đọt cao rớt bịch xuống đất. Duy có điều là tiếng sủa không xấu như tướng mạo của nó, mà đó là tiếng sủa ồ ồ, vang rền dõng dạc. Phải là loại chó sang trọng, có tổ tiên dính líu xa gần chi với họ béc-giê thì mới có được cái giọng uy dũng đó. Chỉ đáng tiếc là Bobby rất hà tiện tiếng sủa và chỉ sủa vào những mục tiêu không cần thiết. Nó lại có tật hay sủa hùa theo những con chó khác ở ngoài đường hay ở các nhà lân cận. Thật là một sự ồn ào vô ích trong khi có kẻ lạ vào nhà thì nó cứ đứng im lìm. Tệ hơn nữa, khi kẻ lạ dõng dạc bước đến gần nó thì nó lại vẫy đuôi mừng. Trời, học kiểu giữ nhà ở đâu mà lạ vậy? Thâm nhiễm thứ triết lý nào mà hành động ngược đời vậy? Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng rằng năm tháng sẽ thay đổi dần cái quan niệm Thiện ác của nó và tôi không thèm để ý đến nó nữa. Con Thời cứ cần mẫn lo cơm nước cho nó và đổi lại, thỉnh thoảng tôi được nghe vài tiếng sủa vô ích giữa ban trưa.
 
Một năm... rồi hai năm trôi qua. Bobby lớn hết tầm của nó, những khuyết điểm về thể xác cũng lớn theo thân hình khiến nó còn xấu xí hơn xưa nữa. Đôi con mắt lờ đờ tạo thành một khuôn mặt khờ dại... Đã thế, một hôm con Thời còn chợt phát giác rằng Bobby miệng méo. Một con chó méo miệng thì quả là một sự lạ, mới nghe tôi không tin, nhưng nhìn kỹ thì quả là cái miệng của nó không ngậm kín lại được, hàm dưới xô lệch sang một bên. Trông nó có vẻ như cười người, khinh đời, ngạo mạn, xấc xược. Quá nhiều khuyết điểm đỏ dồn tập trung vào nó khiến không ai có chút cảm tình nào với nó hết. Thảng hoặc có lúc chị tôi hay tôi biểu lộ một tình thương thì cũng chỉ là một sự hồi tâm có lý luận. Như vậy đó, con Bobby cứ hiện diện giữa gia đình tôi như một cái bóng, - màu đen, - một loại bánh xe thứ năm.
 
Bản tính phóng nhiệm, nó dùng thì giờ luôn luôn nhàn rỗi để đi la cà khắp nơi, ghé nhà này và nhà khác, đi dong chơi suốt con đường Hồng Bàng, rẽ qua Nguyễn Trung Trực, Ngô Đức Kế, Trịnh Phong, Lê Đại Hành. Bước vân du thật không biết giới hạn ở nơi nào bởi ngày cũng như đêm chẳng mấy khi thấy mặt nó. Chỉ có vào đúng bữa ăn là nó nhớ mò về nhà, lẩn quất nơi bếp để đợi phần cơm. Thì ra, dẫu nghệ sĩ đến bực nào, cái dạ dày cũng vẫn cứ còn đó để làm cái máy hãm thực tế và ô nhục. Và hữu hiệu.
 
Lâu lâu Bobby đi về bằng ba chân, cái chân thứ tư què cong lên khập khiễnh. Đó là kết quả của những lần xung trận.
 
- Hẳn là đi giành phần ăn của ai đó - tôi nói.
 
Anh tôi nối lời với giọng cả quyết, như có ý muốn đính chính:
 
- Có đi giành gái với mấy con chó đực khác thì cơ sự mới tồi tệ như vậy.
 
- Một con đực, nếu không cận thị thì sẽ không dại gì mà đi tranh giành với một đối thủ xấu xí như Bobby. Cứ để cho con cái nó tự ý loại bỏ.
 
- Không chắc. Vả chăng, Bobby xấu trai là theo nhãn quan của mình. Còn chó cái có những tiêu chuẩn xấu đẹp riêng của nó.
 
- Lý luận là như vậy. Còn phải nhìn thực tế nữa.
 
- Tao thấy thực tế rồi mà. Hôm đạp xe đi học qua chợ Xóm Mới tao thấy con Bobby đứng tình tự với một cô bạn của nó. Trông cũng xinh.
 
Xin cảm tạ Thượng Đế nhân từ! Đích thực là Thượng Đế không hề ưu đãi một dân tộc Aryen nào hết, không hề bạc đãi một sinh vật da màu nào hết. Thượng Đế không hề quên ban phát Hạnh Phúc cho một giống loài nhỏ hèn mọn nào hết.
 
Từ khi biết rằng trái tm của Bobby cũng được rung động vì tình yêu, tôi sung sướng giùm cho nó mỗi khi chợt nghĩ đến những cuộc viễn chinh lắm bữa quên về của nó. Cuộc sống có đam mê, tình yêu có san sẻ, như vậy còn đòi hỏi chi hơn? Đã thế mà lại tuyệt vô trách nhiệm, khỏi có bổn phận ràng buộc, cơm ăn nước uống đã có kẻ lo sẵn cho. Hãy cứ thử mà làm người đi, xem có dễ mà được hưởng thụ theo kiểu đó không.
 
Rồi bỗng có một dạo Bobby bớt đi ngao du mà hay lẩn quẩn ở nhà. Tìm hiểu nguyên nhân thì tôi được báo cáo rằng ở bên nhà ông Phi-luật-tân sát cạnh nhà tôi có một con chó cái. Con chó này mập mạp, nhanh nhẹn, tiếng sủa dõng dạc và giữ nhà thuộc hạng giỏi. Một kiều nữ xinh đẹp và đảm đang có hạng như vậy chắc chả thèm đi yêu một chàng lãng tử mặt mũi đen thui xấu xí như Bobby đâu, tôi nghĩ. Cũng như loài người, Bobby sẽ chỉ suốt đời yêu đơn phương yêu tuyệt vọng bởi chưng không biết lượng sức mình sức người.
 
Cho đến một hôm bỗng nhiên tôi nghe tiếng chó con cẳng cẳng ngoài vườn sau. Mảnh vườn nhỏ này ăn thông với mảnh vườn nhà ông Phi-luật-tân, tôi đi ra coi thử thì thấy con Ghina, tên con chó cái Phi-luật-tân, - nằm ềnh giữa một bầy con lúc nhúc năm đứa. Những con chó con biểu diễn đủ mọi trò sinh hoạt: bú mẹ, nhảy giỡn, nằm ngủ... Nhiều khi trí óc mệt mỏi vì những bài học quá dài, vì những bài toán quá phức tạp tôi hay ra vườn sau để nhìn lũ chó con ngây thơ vô tội đang sống hồn nhiên. Khi lặng lẽ đứng nhìn lũ chó con, tôi bỗng để ý rằng có một kẻ cũng hay lảng vảng đứng nhìn gần đó: Bobby. Rồi có hồi tôi thấy Bobby đứng giữa, bầy chó con bao vây chung quanh, mà con Ghina thì không có phản ứng gì hết. Đáng lẽ phải lớn tiếng xua đuổi thằng ngoại cuộc, thằng ngoại xâm có thể gây nguy hiểm cho lũ con nó chớ. Còn con Bobby cũng lạ. Có ai đời thân trai bảy thước mà lại la cà đứng chơi với lũ nhỏ mới đẻ, con nhà hàng xóm miệng còn hơi sữa.
 
Một hôm tôi đang đứng nhìn lũ chó như thường lệ thì bị bà vợ ông Phi-luật-tân - một người đàn bà Việt Nam nhan sắc mặn mà - bắt gặp. Hơi ngượng, tôi phải giải thích nguyên do vì sao tôi ưa nhìn lũ chó nô đùa và vì chẳng biết nói chi thêm, tôi nói luôn cái nhận xét như trên. Tức thì bà vợ ông Phi-luật-tân mỉm cười:
 
- Con của nó chớ con của ai mà cô bảo là con nhà hàng xóm.
 
Tôi phản đối mạnh mẽ:
 
- Không có lý. Tôi thấy con Ghina giao du thân mật với con chó xù của ông Hiệu trưởng trường Nha Trang nghĩa-thục.
 
- Tôi biết. Và không phải chỉ bấy nhiêu đó. Nó còn đi lại với con béc-giê lai của bà dược sĩ Chánh. Cố nhiên là có cả con Bobby của cô.
 
- Bà nói đùa...
 
- Thật đấy mà. Cô xem kìa...
 
Bà Phi-luật-tân chỉ một con chó con mặt mũi và mình mẩy đen ngòm y như Bobby:
 
- Chẳng phải con nó thì là con của ai?
 
- Nhìn qua thì thấy giống. Nhưng không thể vì thế mà kết luận mau như vậy.
 
Bà Phi-luật-tân chắc lưỡi:
 
- Khổ quá. Đến thế này mà cô còn nghi ngờ chưa tin. Thì chính tôi... chính tôi thấy tận mắt cơ mà.
 
Thế là tôi chịu thua. Nghĩ cho kỹ thì bà Phi-luật-tân dẫu có thắng tôi nhưng vẫn thua Bobby. Cả Ghina cũng thua luôn. Chỉ có Bobby là kẻ thắng trận.
 
Trong năm con chó con, chỉ có một là đen thui giống hệt Bobby. Hai con khác vàng giống mẹ. Một con trắng, một con loang lổ. Khi biết rằng Bobby là một trong những người cha tốt số, tôi để ý đến liên hệ tình cảm giữa nó và năm con chó con. Tôi thấy rằng Bobby chỉ âu yếm con chó đen thui mà dửng dưng với mọi con khác. Nhiều lần tôi thấy nó đứng ngửi say mê vào đầu vào hông vào mông con chó đen và nhiều lần nó nằm xuống để con chó đen leo lên lưng lên đầu. Mỗi khi con đen leo trèo nghịch ngợm ngã lăn kềnh ra thì Bobby dùng mõm đẩy cho nó đứng dậy, dùng mũi để ngửi (chắc có nghĩa là hôn) dùng lưỡi để liếm lên mặt lên bụng. Mấy con chó khác thấy vậy cũng bắt chước a tới, trèo lên chân, cà vào mông, nhảy vào đùi... đều bị Bobby nhẹ nhàng gạt ra hết. Lúc nào cảm thấy lũ nhỏ làm quá thì chàng đứng dậy bỏ đi ra chỗ khác. Tất cả mọi cử động đều nhẹ nhàng, dịu dàng.
 
Mực con biết Bobby cưng mình hơn mấy đứa khác nên cho dù Bobby có đứng dậy bỏ đi Mực con cứ lẩn quẩn chạy theo. Và hai cha con lại đứng dừng lại, im lặng chơi đùa với nhau, âu yếm nhìn và vuốt ve nhau. 
 
Để xác nhận cụ thể sự phân biệt tình cảm của Bobby với mấy chú chó con, một hôm tôi lấy cái que dài gạt hất lũ chó con. Bobby đứng nhìn thản nhiên. Tôi lấy que gạt hất con Mực con. Bobby gừ lên. Tôi gạt mạnh hơn. Bobby gừ to hơn và dài hơn. Vậy là rõ ràng Bobby đã công nhận Mực con là con chính thức của nó. và bao nhiêu tình âu yếm đều dành cho đứa con thừa tự đó.
 
Từ ngày có con, Bobby cứ quanh quẩn ở khu vườn sau, chơi với con, hoặc có lúc thì đừng ở hiên nhà âu yếm nhìn con. Hết bỏ lang thang đi bụi đời nữa. Bình thường, ở những con vật chỉ có tình mẹ con, bởi con sinh ra chỉ biết có mẹ chăm lo săn sóc. Còn cha là ai đó thì đố có thể biết được. Đó là những kẻ lang thang - những con đực - vui đâu chúc đó, sẵn đâu ghé đó, tình tự một lần rồi khăn gói gió đưa. Thậm chí đến con người trong những xã hội sơ khai cũng không thoát ra khỏi cái luật giang hồ đó. Di tích là chế độ mẫu hệ. Vậy thì việc con Bobby, một tên xấu xí và đần độn chợt thắp sáng trong hồn ngọn đèn của tình phụ từ là một điều làm tôi xúc động. Tình cảm là một cái gì đã trở nên khó tìm ở nơi xã hội loài người. Con người hôm nay đặt lý trí lên trên tình cảm, càng ngày càng bóp chết tình cảm để chỗ cho lý trí phát triển, ngự trị, độc tôn. Bao nhiêu ích kỷ, tàn bạo, bất nhân đều do cái quan niệm nhân sinh đó mà ra cả. Bởi vậy cho nên một cách tự nhiên tôi không còn khinh bỉ sự ngu si của Bobby, mà ngược lại tôi dần dần có tình cảm với nó.
 
Nhưng rồi có một lúc nào, tôi chợt để ý thấy rằng cả mấy ngày nay Bobby không hiện diện để mơn trớn bé Mực nữa. Hỏi chị tôi và anh tôi, hỏi người làm thì ai cũng trả lời như nhau rằng ba bốn bữa nay không thấy Bobby về ăn cơm.
 
Sau một tuần chờ đợi mà vẫn bặt tăm, các giả thuyết được nêu ra:
 
- Chắc mấy tiệm bán thịt chó đã phục kích nó rồi. Ở đầu phố Đống Đa, ở cuối phố Bạch Đằng, ở giữa phố Mê Linh và xa hơn... mọc đầy những tiệm bán thịt chó.
 
- Đúng vậy. Sự giết chóc được diễn thành một trò vui nhộn khi trên tấm bảng hiệu được ghi là "sống trên đời"... "Nai đồng quê"... "Cờ Tây",,, "Mộc tổn"... khi con người giết nhau một cách hăng say, bỏ ra nhiều ngân khoản để nghiên cứu cách giết nhau sao cho thật hữu hiệu, thật lý tưởng... thì việc giết chó chỉ là một trò vui nhộn nhỏ tí. 
 
- Có những người lái xe jeep cố tình cán cho chết những con chó đi băng qua đường. Cán xong vừa bỏ chạy vừa ngó lui coi chừng. Rồi quày xe lại nếu là đường vắng, không có ai bâu quanh xác con chó. Anh ta sẽ xuống xe, xách chiến lợi phẩm đó bỏ lên xe.
 
- Ngoài hông chợ có một tổ chức cứ đêm đêm phục sẵn bao bố để chụp bắt chó chạy rông. Chắc con Bobby là nạn nhân.
 
Mọi giả thuyết đều đi đến kết luận là con Bobby đã tuyệt mạng trên bước đường giang hồ của nó, đúng y cái nghiệp mà nó đã chọn. Bobby ngã xuống âm thầm, bé Mực thành bé mồ côi, Ghina trở nên góa phụ. Xương Bobby, thực khách nhai nuốt không được đành nhả ra, chạy vào thùng rác, hồn Bobby làng vảng đâu đó dật dờ... tất cả đều nhẹ nhàng, đều gọn gàng, không hề gây một tiếng động nào hết, một xáo trộn nào hết trong cái dòng đời hỗn loạn, xô bồ.
 
 
VÕ HỒNG        
 
_________
(1) Thời giá chặng 1973-1974 
 

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

TRÁI NÚI ĐẺ CON CHUỘT - Võ Hồng

 
Không ai ngờ cuộc họp mặt nhẹ nhàng đã chuyển sang một nội dung nghiêm trọng quá sức tưởng tượng: lên án loài người đã tàn bạo dã man đối với loài vật . Chuyện bắt đầu khơi khơi bằng một lời trầm tĩnh của Heo Rừng:

- Cái chân đi cà nhắc hả? Bị sụp bẫy đó. Thì mình đi moi củ mì trộm chớ có làm gì thiệt hại ai đâu? Thấy một củ mì to nằm cạnh bụi é rừng, tưởng ai bỏ quên, mình lại ngoạm, đỡ công đào xới. Ai ngờ có cái bẫy gài đó, sập xuống, kẹp gần đứt ngón chân. May mình rút ra chạy được.

Cáo:

- Bẫy kẹp thì "tui" còn lạ gì. Ngày một. Vì tôi lui tới nhà cửa vườn tược của "tụi nó" thường xuyên. Lén bắt gà ngậm chạy. Còn lén ăn mật đường tại trận nữa. Tôi chưa chết vì bẫy, đồng ý, nhưng tôi thù tụi nó. Cái đuôi bị kẹp đứt một đoạn chót bằng lóng tay, thấy không? Ba cái răng cửa bị gãy vì cần bật đập trúng. May không đui con mắt.

Sóc:

- Moi củ mì của nó, nó bẫy. Lén bắt gà của nó, nó kẹp... cái đó thì cũng được đi. Ðằng này chồng tôi ảnh đang leo lên cây bứa hoang kiếm trái hái ăn. Có động chạm chi tới gia tài của tụi nó? Vậy mà tụi nó cũng nhắm bắn. Bị trúng tên ảnh nhào xuống , tụi nó xách về nhà luộc, xào, nướng, um... Tôi phút chốc thành sương phụ.

Mủi lòng, Sóc khóc thút thít. Nai:

- Ăn thịt còn khá, bởi may ra còn hy vọng gặp đứa ăn chay, không sát sanh. Ðằng này nó còn giết mình để làm thuốc. Chồng tôi chết cũng vì cặp sừng trên đầu. Lũ người nó rình bắn để lấy gạc nấu cao. Uống vô bổ âm bổ dương mồ tổ gì nó không biết mà nó làm cho người ta chồng xa vợ, cha xa con. Lại bắn bằng súng mới hiểm độc. Trúng thứ đạn ria, có trời cũng không thoát.

Heo Rừng:

- Nói tới đạn bắn thì thôi hết đường. Cọp mà tụi nó còn coi như pha. Bắn chết, lột da, nhồi bông để đứng coi chơi, hoặc trải ở phòng khách làm nệm lót chân. Còn xương thì nấu cao hổ cốt.

Cáo:

- To như Voi, da dày như Tê-giác, tụi nó cũng chẳng từ. Bắn Voi lấy ngà, bắn Tê-giác lấy sừng.

Rái cá:

- Bắn, ngó vậy mà còn ít dã man...

Mới nghe nói tới đó, cử tọa đã rào rào. Chồn mướp:

- Chớ sao mới là dã man? Ngó bộ có ăn nhờ tụi nó nên tới đây bênh chầm chập.

Chồn Ðèn:

- Kéo cổ cái thằng Rái cá phản phúc ra nện cho nó một trận.

Rái cá hoảng quá lắp bắp trình bày, nhưng ồn ào không ai nghe được. Heo Rừng phải lấy cục đá gõ gõ nhiều lần xuống cục đá:

- Im lặng! Im lặng! Ðể nghe nó nói. Nói đi!

- Dạ thưa... tôi nói ít dã man là so với ném lựu đạn. Tôi sống dưới nước nên biết rõ, lũ nó ném lựu đạn xuống nước, cá lớn, cá nhỏ, cá con, tôm cua ốc hến, nhện nước, nòng nọc, đỉa mén, đỉa trâu, cung quăng, niềng niềng... chết thôi đặc nước. Rái cá tôi cũng bị lây.

- Ờ... Ờ... Nó nói cũng phải.

Thỏ:

- Như tôi thân hèn yếu đuối, sợ lũ nó đã đành. Ðến Voi to như hòn núi mà nó sai đi tải gỗ, chậm chạp nó đập búa lên đầu.

Cáo:

- Hành hạ động vật bắt làm tôi mọi thì thiếu gì. Con trâu, con bò, con lừa, con ngựa... Cắt cổ ăn thịt thì thiếu gì: con cừu, con dê, con heo, con vịt, con gì... Có ghét là nó còn "triết lý" chữ Nho: "Vật dưỡng nhân", con thú dể nuôi con người.

Một con Sáo Sậu cất gọng lảnh lót:

- Em xin thay mặt toàn thể giống sáo, Cưởng, Mọa mi, Bạch yến, Hồng yến... cực lực lên án lũ nó bắt bớ giam cầm chúng em để nuôi chơi làm cảnh. Chúng còn cố đồng hóa chúng em, bắt một số chúng em học nói tiếng người của chúng.

Cuốc:

- Tiếp lời chị Sáo Sậu, tôi xin nêu thêm một dã tâm của chúng. Chúng bắt con chim bị tù tội đem đặt vào bẫy để nhử chúng tôi. Tưởng đó là con chim tự do, nghe tiếng hót ngứa tai, có đứa chúng tôi nhảy tới đá mà bị sập bẫy. Thảm nhất là có khi bị nghe tiếng đồng loại cất tiếng than thở, chúng tôi bay đến tiếp cứu, thì bị sụp bẫy, chết chùm.

Cáo bứt tai chắt lưỡi:

- Thật độc ác.Thâm độc. Phải trị tội. Không tha tội.

Một con Rắn hổ mang ngoằn ngoèo lết tới, nghểnh đầu lên cao:

- Ðối với loài Rắn chúng tôi, chúng tôi đâu có làm thiệt hại gì tụi nó? Chúng tôi chỉ tự vệ khi bị đe dọa. Vậy mà tụi nó gặp đâu giết đó.

Cáo nghiến răng phẫn nộ:

- Dã man. Thậm dã man.

Một chị Gầm Chì :

- Ðối với loài chim trời bắt được, nó giết ác lắm. Không chịu cắt cổ cho chết liền đâu. Nó cứ để sống mà vặt lông, vặt cho trụi lông rồi bỏ lên lò than đỏ. Có đứa nhổ trụi lông rồi cho chạy chơi. Trời ơi!

Chị bỗng nghẹn ngào khóc hu hu. Cử tọa có nhiều vị ứa nước mắt. Sau đó chị bệu bạo:

- Chính chồng tôi bị hành hình kiểu đó. Chồng chị Cuốc ngồi kia cũng bị hành hình kiểu đó. Lúc ấy tôi núp ở cây cốc rậm rạp.

Cử tọa xúc động, nhiều tiếng xịt mũi. Cáo giơ cao nắm tay:

- Phải trả thù! Phải cho chúng biết tay!

Nhiều tiếng phụ họa:

- Ðúng! Phải trả thù! Phải tổ chức cuộc trả thù.

Cử tọa lao xao, không khí phẫn nộ cao ngút. Bàn thẳng tới phương thức trả thù. Cáo:

- Chúng ta dẫu nhỏ, dẫu yếu nhưng cứ đoàn kết lại là thành lực lượng. Huy động cả họ hàng loài rắn ra thử coi: rắn Lục, rắn Trun, Hổ mang, Hổ lửa, Cạp nong, Thuồng luồng... xông vô mà cắn thì cả làng nó sùi bọt mép ra chết. Chồn, cáo... thì cứ nhè cổ họng chúng mà xé. Quạ, sếu, cò, bìm bịp, ác là, gõ kiến, chìa vôi... thì cứ nhằm con mắt mà mổ. Chào mào, chim sẻ, quành quạch... cứ đập cánh bay loạn xạ vào mắt mũi chúng cho tới tối tăm mày mặt.

Cử tọa thích quá vỗ tay hoan hô hết mình, tưởng như cảnh chiến thắng đang diễn ra trước mắt. Khi yên lặng trở lại, Thỏ xin nói:

- Ðể chỉ huy cuộc tiêu trừ lũ Người, xét không ai hơn anh Cáo.

Cử tọa vỗ tay tán đồng. Cáo đứng dậy:

- Xin cảm tạ bà con. Nhưng tôi không dám nhận vì sức khỏe tôi bất thường lắm. Bị bẫy bị kẹp nhiều quá, ê ẩm xương cốt, mỗi khi trở trời.

Kỳ đà:

- Kính lão đắc thọ, tôi cứ xin rằng là bỏ phiếu cho cụ Heo Rừng.

Heo Rừng lắc đầu lia lịa:

- Tôi tổng quản khu rừng này thì cũng như Tổng Thống. Có hiến pháp nào lại ghi Tổng Thống cầm quân?

Két cất cao gịọng chua lét:

- Xin cử bà Hổ Mang, bả cắn đâu chết đó.

Hổ Mang:

- Tôi không từ chối. Nhưng làm phó thì được. Trưởng thì không. Bởi tôi là phụ nữ.

Chồn Ðèn;

- Trước khi đề cử người, tôi thấy cần bàn đến lương bổng quyền lợi dành cho họ đã.

- Phải! Phải!

Chồn Ðèn tiếp:

- Mỗi chúng ta đẳng đẳng đều nạp một phần mười lương thực mà mình kiếm được hàng ngày. Ðể nuôi Ban chỉ huy.

- Phải.

- Ðược.

- Nghe cũng thông.

Nghe nói được lãnh lương, Cáo chầm chậm đứng dậy:

- Nãy giờ tôi cứ ngồi suy nghĩ hoài. Bà con đã tín nhiệm, lẽ nào mình... Thôi, tôi xin hy sinh một nhiệm kỳ.

- Hoan hô! Hoan hô!

Heo Rừng cũng lại đứng dậy:

- Anh Cáo tình nguyện vậy, chẳng lẽ tôi... Và xét cho cùng thì Hiến pháp nào cũng ghi: Tổng Thống là Tổng tư lệnh quân đội. Vậy tôi xin xung phong.

- Hoan hô! Hoan hô!

Việc cử các ủy viên khác tương đối không khó. Cứ mỗi giới cử một vị, giới bốn chân cử Chồn Mướp, giới có cánh cử Bìm Bịp, giới không chân thì đã có sẵn bà Hổ Mang. Vì có hưởng lương thực nên không vị nào nỡ thoái thác. Hội nghị bế mạc hẹn tuần sau tái nhóm.

Ðêm về nằm gác chân lên trán suy nghĩ, Cáo chợt sợ. Ba hoa tán dóc vậy thôi, chớ lũ Người đâu có dễ tiêu diệt kiểu đó? Hổ mang, Thuồng luồng đâu có bò chật bãi, nó ném cho một trái lựu đạn là tiêu. Còn cái kiểu gì mà chim mổ lủng mắt, cánh chim đập tối mặt? Rồi còn ham dại đồng lương chui đầu xung phong. Bây giờ làm sao?

Ở một hang gần đó, Heo Rừng cũng suy nghĩ tương tự. Ở nhiều hang kế đó các ủy viên khác cũng không suy nghĩ khác hơn. Do vậy mà trong buổi tái nhóm hôm sau, Ban chỉ huy, linh hồn của cuộc họp cứ lửng lơ như kẻ thất tình. Chủ tọa Heo Rừng thì sẵn sàng nói chuyện lạc đề, để lấy cớ hội nghị còn thiếu một vài vị, chủ tọa để cho ai muốn nói gì thì nói. Mụ Chèo Bẻo mách rằng ở Xóm Chùa, sáng nay người ta khiêng chà, gánh bổi dựng che đạp mía. Vậy là tất cả rào rào kể những kỷ niệm lén uống mật mía, kể những kinh nghiệm lén ăn trộm đường. Rồi lão Trút mắt hí kể rằng hôm qua ở giữa xóm làng, nhà thằng cha Tảo bị cháy rụi, chữa không kịp. Vậy là tất cả bàn quanh chuyện củi lửa, tường thuật những vụ cháy rừng mà mình đã chứng kiến, đã nghe nói. Cho đến lúc nhiều cái miệng ngáp dài. Phải đợi mấy mụ có con dại thúc lắm, Heo Rừng mới khề khà khai mạc.

- E hèm... về cái vụ loài Người nó hành hạ chúng ta... e hèm...

Vân vân. Nói quanh co dài dòng. Khi cụt đường hết ngõ dể quanh co, chủ tọa đành phải đề cập đến việc tổ chức cuộc tiểu trừ. Ðề cập chung chung kiểu này:

- Chúng ta sẽ huy động tất cả lực lượng, nhất tề tấn công, tiêu diệt lũ Người.

Thằng Thỏ Ba Chân (một chân bị đá lăn đè, què đi cà nhắc), giọng ranh mãnh:

- Tất cả lực lượng là gồm những ai? Có cả Chồn cái, Heo nái, Cu mái không?

- Có chớ. "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".

Tức thì các cái miệng phụ nữ the thé nổi lên như giặc:

- Giặc nào đến nhà? Mấy ông đem binh đi vấn tội người ta chớ giặc nào mà đến nhà? Có nước nào động viên đàn bà đi lính, ông nói nghe thử?

Vậy là chủ tọa bí, cứ ngồi khịt khịt. Cái viễn tượng loại bỏ phụ nữ ra, khiến lực lượng hết cả "lượng". Trong cuộc họp, phụ nữ đã chiếm đến hai phần ba rồi.

Nhím:

- Các ông định đánh giặc kiểu nào? Tướng bên mình là ông Cáo, ông Heo Rừng xông ra giữa trận tiền, xưng tên họ rồi giao phong với thằng tướng bên địch, đánh 20 hiệp, 30 hiệp... trong khi binh lính đứng hò reo... phải không?

Nghe nói kiểu đánh đó, Cáo hoảng quá, cướp lời, vừa nói vừa lắp bắp:

- Ðâu có chuyện đó? Bây giờ đâu còn lối đánh thời... Xuân Thu Chiến quốc? Bây giờ thì lính ... nhào ra trận, còn chỉ huy... đứng ở... sau, hoặc ngồi ở bàn giấy tham mưu.

Hội nghị lại rào rào:

- Phản đối lối đánh dân chủ đó. Phải đánh lối phong kiến.

Chủ tọa Heo Rừng khịt khịt. Bà Hổ Mang:

- Phận tôi nhi nữ, quần vận yếm mang, mà mấy vị đòi tôi phải xông tên đụt pháo...

Có tiếng vút lên, không biết của ai:

- Chớ bà Phàn Lê Huê và bà Lưu Kim Ðính thì sao?

Chủ tọa Heo Rừng lại khịt khịt.

Ông Bìm bịp:

- E rằng tôi phải xin từ chức. Tôi chỉ giỏi có cái mỏ, mổ rắn thì dư sức, chớ mổ Người thì e...

- Không được. Không được. Ðã bầu rồi, đã nhận chức rồi.

Hội nghị kẹt cứng. Một ông Gà Cồ Rừng:

- Tôi vốn là giống đực, nhưng tôi có chứng hen di truyền. Nói có bà con làm chứng, bữa nào trời động, tôi gáy không ra tiếng.

Câu trầm tĩnh bị bỏ lửng lơ, không ai bàn góp ý kiến. Thỏ Ba Chân:

- Tôi thì sẵn sàng xung phong. Hiềm vì bị thương tật nên không được ra trận.

Cáo rủa thầm: "Cái thằng láu cá! Từ bữa bàn chuyện đánh giặc, nó cố ý nhảy bằng ba chân. Còn khi tranh nhau chạy đi đào khoai trộm thì chạy đủ bốn chân. Nhưng... Thôi, mệt quá. Gây sự với nó làm gì?

Chủ tọa Heo Rừng gằm mặt xuống đất vừa nặng nhọc đứng dậy:

- Hội nghị đã hết ý kiến. Chúng ta có thể giải tán.

Chồn Mướp:

- Rồi bữa nào họp lại? Rồi tổ chức luyện tập ra sao?

Giọng chủ tọa Heo Rừng trắng bệch như đang bệnh nặng:

- Bữa sau... Ờ... Bữa rằm trăng tròn kỳ sau. Bữa đó bàn luôn.

Vậy là thêm một số ngày suy nghĩ bần thần và một số đêm âu lo mất ngủ khiến tinh thần của ban chỉ huy rời rã thêm. Những con vật khác cũng phiền muộn, kể cả phụ nữ, vì dẫu là súc vật, chẳng ai muốn mất chồng mất con. Chỉ trừ thằng Thỏ ỷ y mình có thương tật, chắc chắn được miễn dịch.

Thấm thoát đêm rằm đã đến. Hội nghị lặng lẽ nhóm. Ðịa điểm họp là cái miếu Thổ thần bỏ hoang ở cuối xóm nên không khí càng thê lương hơn. Nhất là trước kỳ họp lại nghe mụ quạ mách tin ở trên xóm lũ người giáo mác, lưới săn, chó săn. Kể cả súng săn hai nòng. Mặc kệ cục đá của chủ tọa gõ lốp cốp, các tham dự viên cứ rầm rì nói chuyện, vẻ mặt lo lắng. Nhiều vị ngồi thộn ra. Ða số mắt la mày lét. Có vị cứ lổn ngổn đứng lên ngồi xuống. Vài ba vị đang không bỗng giật mình, ngó lui ra sau. Tất cả chỉ vì cái tin trên Xóm loài Người huy động dáo mác, lưới săn, chó săn. Chồn Ðèn lộ vẻ xao xuyến bất an hơn hết. Chắc đa số có nhiều kinh nghiệm về chó săn. Két, Sáo thậm chí Quành Quạch, Chìa Vôi cũng hay ngó láo liên, cứ như chực vỗ cánh. Chắc do có nhiều kinh nghiệm về súng.

Trên bàn thờ Thổ thần, chủ tọa loay hoay kiếm cục đá: "Uở, mới để chỗ đây mà! Ðâu rồi? Ðứa nào lấy giỡn, bay? Ðem trả lại đây." trong khi cục đá nắm chặt trong tay. Cáo thì đi đi lại lại miệng kêu gọi trật tự giúp chủ tọa nhưng thật tình là để nghe ngóng. Thấy cô Sóc vần cục đá lớn đang tấn cánh cửa lại gần để ngồi lên, Cáo cũng không buồn rầy la. Lúc khác thì phải biết.

Heo Rừng đằng hắng nhiều lần. Rồi cất tiếng:

- Hôm nay... chúng ta hội... khịt khịt... chúng ta họp... Lũ Người tàn ác với súc vật... à quên... động vật... khịt khịt...

Chợt có tiếng tù và rúc lên. Tất cả nhào xuống, nằm sát đất. Cả chủ tọa. Im thin thít. Ðúng là tiếng tù và tập họp của các tay săn, nhưng ở xa, ở mãi trên Xóm. Hội nghị lồm cồm ngồi dậy. Heo Rừng ngượng cúi mặt xuống, hai chân trước cứ phủi mặt bàn, làm như bây giờ mới thấy nó đầy bụi. Còn ông Cáo? Ổng nhảy đại vô núp chung với lũ Thỏ cái, Chồn cái, Sóc cái... Hồi hoảng kinh không ai chú ý, bây giờ yên lành mấy mụ mắc cỡ, xỉa xói thằng cha Bùi Kiệm.

Trên bàn, chủ tọa tiếp tục chương trình. Qua lời run run, đứt quãng, xa gần, vòng vo, hội nghị hiểu đại để là: Theo nguyện vọng của số đông, chủ tọa đề nghị hoãn cuộc "hưng binh vấn tội loài Người" vào một ngày tương lai.

Hội nghị đa số đồng ý. Có một số chống. Vậy mới rắc rối. Có tiếng hỏi:

- Chớ cái chiến thuật đập cánh vô mắt, ngoạm răng vô cuống họng của ông Cáo sao không áp dụng?

- Ngày Tương lai là ngày nào? Trước ngày Tận thế một bữa chăng?

- Ðời ta không giải cho xong cái ách thì đời con cháu ta cất đầu sao nổi? Vậy tôi xin đề nghị...

Chợt một cơn gió mạnh thổi tới, tiếp theo là tiếng "Rầm" thật lớn. Có ai la: "Súng tấn công". Vậy là cả hội nghị thoát ra bằng hai ngả cửa hông. Chạy bán mạng. Có vị núp sau một bụi cây. Có vị trượt chân trên những hòn sỏi, ngã lăn cù. Nhiều vị chạy tông vào nhau.

"Rầm! Rầm!" tiếp theo.

Vội vã gia tăng tốc độ, chạy bằng bốn chân, chạy cả tám chân.

Quang cảnh miếu Thổ thần vắng hoe vắng ngắt. Chỉ có cái cánh cửa bị chị Sóc vần mất đi hòn đá tấn, cứ từng chặp gió thổi đập vào khung cửa "rầm rầm".

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2026

NGƯỜI BẠN NHỎ TÊN TÔ - Võ Hồng


Tố Phượng ôm con chó đến tặng tôi nhằm lúc tôi đi vắng nhiều ngày. Về nhà nghe kể lại nó nhớ mẹ kêu khóc cả đêm trong buồng tắm. Phải hai đêm kêu khóc tuyệt vọng như vậy, vừa lò dò đi tìm mẹ mà không có lối ra, nó mới chịu im và chịu ăn. Đành giã từ quá khứ, vĩnh biệt quá khứ, quên đi quá khứ để chấp nhận cuộc đời mới trong khung cảnh mới.
 
Đứa con út của chú tôi là người đỡ đầu bồng bế nâng niu nó. Hôm tôi về nhà em bồng nó lên giới thiệu:
 
- Đây, bé Tô.
 
Tôi hỏi:
 
- Ai đặt tên cho nó vậy?
 
- Em đặt.
 
Bé Tô cứ cúi nhìn xuống đất và huơ hai chân  trước tỏ ý muốn xuống đất. Có lẽ chiều cao làm nó không an tâm. Em tôi nâng cằm nó lên bắt nó nhìn tôi vừa bảo:
 
- Đó, cô chủ của Tô đó. Chào đi.
 
Tô ngước nhìn rụt rè rồi lại cúi nhìn xuống đất.
 
Tô thuộc giống chó Nhật nên đã nửa tuổi rồi mà vẫn không cao lớn vạm vỡ bao nhiêu mà thân hình chỉ roi roi thon thon. Thể chất mảnh mai nên hay đau vặt. Thứ nhất là ho. Tôi bế Tô xuống Thú y để được nghe giảng giải:
 
- Nhiều con chó trong thành phố cũng mắc chứng ho như nó vậy. Tại xe xịt thuốc DDT cứ chạy rảo các ngã đường xịt thuốc vào mỗi buổi chiều.
 
- ...
 
- Không có thuốc chi chữa được. Con nào mạnh thì bệnh lướt qua, con nào yếu thì đành chịu chết.
 
Ba tôi không đành tâm để Tô chống cự với bệnh bằng cái khả năng hữu hạn của nó, ông ra tiệm thuốc tây quen, hỏi cô dược sĩ quen:
 
- Thuốc ho thì nhiều thứ lắm, nhưng ông cần thuốc cho người lớn hay cho trẻ con?
 
- Ơ... ơ... cho trẻ con.
 
- Mấy tuổi?
 
- Ơ... ơ...
 
Lại có chuyện rối rắm. Con Tô nặng chừng mười ký thì đáng được xem là trẻ con. Và sáu tháng của nó phải coi như tương đương là sáu tuổi của loài người. Vậy nên ba tôi nói:
 
- Sáu tuổi.
 
Không ngờ cô dược sĩ mở to mắt ngạc nhiên:
 
- Con ông lớn hết rồi mà. Có đứa nào sáu tuổi đâu?
 
Ba tôi bật cười:
 
- Cám ơn cô đã ân cần lưu ý biết rõ gia đình chúng tôi. Thật ra tôi không mua thuốc cho con, mà mua cho con... chó con.
 
Đến lượt, cô dược sĩ cười lên và mấy cô bán hàng, cô ngồi két cũng thích thú cười theo. Sau đó, họ thảo luận về sự tương đồng giữa một con chó sáu tháng với một con người, và cuối cùng họ trao cho ba tôi một chai xi-rô. Tô uống xi-rô trong mươi ngày thì hết ho. Tôi mừng quá ghé lại tiệm thuốc Tây để "thay mặt Tô và nhân danh cá nhân tôi" cám ơn cô dược sĩ.
 
Tám tháng sau Tô lại ho. Lần này cơn ho dài và có kèm nước dãi trắng. Tôi lại hỏi thuốc nơi thú y. Một ông nhân viên lạnh lùng hỏi:
 
- Có cho nó uống thuốc sán lãi chưa?
 
- Dạ... chưa.
 
- Sao nuôi chó mà không cho uống thuốc sán lãi?
 
Tôi bí, không biết nên trả lời sao. Nghĩ lại, người Việt Nam mình cẩu thả thật, đáng bị rầy là phải. Chẳng những nuôi chó không cho uống thuốc sán lãi, đến nuôi con mà cũng không cho uống thuốc sán lãi nữa. Đến chừng thằng con tới tuổi động viên đi Thủ Đức, cha mẹ nó mới chợt nhớ ra rằng mình quên chưa hề cho nó uống thuốc sán lãi một lần.
 
Ông nhân viên thấy tôi đứng bí một cách thật thà, liền gọi cô thư ký bảo lấy cho tôi hai gói thuốc sán lãi.
 
- Mỗi gói uống làm hai lần. Uống trước bữa ăn.
 
Tôi móc ví trả tiền thì ông khoát tay:
 
- Thôi, biếu cô đó. 
 
Như vậy, cứ năm bảy tháng là Tô lại có một chứng đau, lại bỏ ăn đôi ngày khiến tôi có dịp để mà biết các loại thuốc tiêm, thuốc uống dành cho gia súc vừa cả những món thuốc dành cho người mà tôi cứ sẵn sàng xâm lấn vi phạm.
 
Tô nó yếu như vậy nên nó nhát nước, không thích tắm. Mỗi lần muốn tắm cho nó thì tôi phải đích thân bế nó, vỗ về và khi nó nhìn thấy thau nước đổ đầy trước mặt là chân nó cứ run khựng lên. Làm như thau nước đó không phải để tắm mà để luộc nó vậy.
 
Tôi phải xối nước nhè nhẹ, in ít rồi len lén xát xà phòng lên từng phần nhỏ của cơ thể nó, bắt đầu là mông, rồi ngược lên lưng, lên bụng, lên ức. Khi vò tới cái đầu thì mắt Tô biểu lộ đầy vẻ sợ hãi thê thảm.
 
Để tránh sương gió, tôi cho nó nằm ngủ trên một cái ghế bành đặt ở mái hiên. Khi ai vô ý đem di chuyển cái ghế ra xa vị trí thường nhật chừng một thước là Tô không lên nằm nữa. Hoặc cái ghế vẫn đặt ở chỗ cũ nhưng có ai vô tình để lên đó một tấm vải, một tờ báo thì Tô cũng không chịu lên nằm. Tôi coi nó như là biểu trưng của một tâm hồn tế nhị nhạy cảm, thấy ai tỏ một chút gì khác trong một thái độ nhỏ là đã vội ngừa ý xa xôi. Trong khi giữa xã hội loài người càng ngày càng thêm lắm kẻ trâng tráo lì lợm, thô bỉ đến độ phải đợi người khác nặng lời mới nham nhở cười trừ, thì một phong cách như vậy nơi con vật càng khiến tôi quí nó hơn.
 
Bởi cái thể chất mảnh mai của Tô mà mặc dù nó là một con chó đực, tôi vẫn gọi đùa là "con gái", phát âm trìu mến theo giọng miền Nam thì trở thành "con gải". Mỗi lần vỗ về nâng niu nó mà gọi là "con gải" thì nó mừng rỡ rối rít, vẹo mình vẫy đuôi rồi nhảy chồm lên. Bởi sống quen trong nhà nên mỗi khi mở cổng Tô thích được chạy ra đường một chút. Có lần ra đường rồi mải mê nhìn cái gì đó quên vào, người nhà sơ ý không biết cứ đóng cổng lại, vậy là Tô đứng chống chân lên song cửa cổng, ghếch mặt nhìn vào nhà vừa kêu rên khe khẽ ra tuồng sợ hãi lắm.
 
Lần này Tô lại bỏ ăn. Tôi có việc vắng nhà hai ngày, khi trở về nghe kể lại như vậy. Tôi lấy thuốc đau bụng pha với tròng đỏ trứng là món nó thích ăn, nhưng nó chỉ nhìn mà không buồn ngửi. Tôi lấy ống tiêm hút chất thuốc và thức ăn đó rồi nhờ em tôi cạy miệng nó để tôi bơm vào cuống họng. Phải là một người thương nó hết tình và nó tin cẩn hoàn toàn thì mới đủ can đảm mò tay vào giữa hai hàm răng nhọn bén và trắng nhởn đó.
 
Sáng hôm sau tôi pha thuốc với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm vào miệng. Nhưng nửa giờ sau thì Tô mửa ra hết. Cơ sự dường này thì đành phải gõ cửa Thú y để hy vọng có một thứ thuốc tiêm. Tôi mặc áo đi đến Ty Thú y.
 
Mười một giờ trưa. Một cô thư ký ngồi đơn côi giữa một phòng vắng.
 
- Mời cô chiều đến. Chừng ba giờ rưỡi hay bốn giờ... Chứng bệnh mà cô vừa khai, mấy hổm rày tôi nghe nhiều con chó cũng mắc như vậy. Hình như đang có cái dịch... Vâng... vâng, đúng vậy...
 
Ty Thú y biên tên thuốc và chủ nó cầm toa đi mua thuốc.
 
- Cô có biết tên thuốc là gì không?
 
- Tôi không biết. Có cái ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống đặt sau một cái bàn trống, - ông ấy chuyên môn khám chó cho thuốc.
 
- Chiều ông ấy có đi làm không?
 
- Tôi không rõ. Cô cứ đem chó tới.
 
- Con chó tôi nó nhút nhát lắm. Hay là có ông nào đi chữa bệnh tại gia, tôi xin mời. 
 
- Có ông kia, - cô chỉ về một cái ghế trống khác đặt sau một cái bàn trống khác, - nhưng không biết ông ta có...
 
Cô thư ký ngần ngừ.
 
Theo cái điệu này thì không có gì chắc chắn hết. Phải chia mọi động từ vào giả định cách (Subjuntive mood) vào Điều kiện cách (Conditional mood).
 
- Dẫu cô không biết tên thuốc nhưng chắc cô biết thuốc bán ở tiệm nào.
 
- Dạ ở tiệm Thanh Thảo đường Lam Sơn. Số nhà thì tôi quên.
 
Tôi vọt xe thật lẹ tìm đến tiệm Thanh Thảo. Ông chủ tiệm nghe kể bệnh chứng. Nghe đến chữ "đang có cái dịch", ông ngắt lời liền:
 
- Chó dại thì nó bỏ ăn nhưng một điểm nữa là nó sợ nước... Con mắt nó đỏ và bạ ai nó cũng cắn. Vả chăng...
 
Ông say sưa giảng giải về bệnh chó dại. Tôi phải vội vã thưa rằng tôi không mảy may nghi nó bị dại, hoàn toàn bảo đảm là nó không dại, cũng như tôi và ông hiện nay vậy. Tôi kể rằng nó mới ụa mửa hết cả thuốc lần nữa. 
 
- À... - ông lại giơ tay ngắt lời - nguyên là ở trong ruột non có những mao trạng ruột, khi nó đứng dựng lên thì tạo ra sự ụa mửa và nó còn...
 
Nghĩ rằng con Tô đang kiệt sức ở nhà, và những kiến thức về giải phẫu và sinh lý dẫu rất hay nhưng không làm cho nó hết bệnh, tôi cướp lời:
 
- Nghe nói hiện nay có nhiều con chó cũng mắc y chứng đó và Ty Thú y biên toa thuốc ra mua ở tiệm. Tôi hy vọng ông bán cho tôi đúng thứ thuốc đó.
 
- Như vậy thì...
 
Ông đi lại tủ thuốc, ngẩng lên cúi xuống, một ngón tay trỏ chỉ chỉ vào từng hộp thuốc, từng lọ thuốc như người ta điểm danh, rồi chợt kéo ra một lọ.
 
- Lấy lọ thuốc này được. Chích một lần hai xê xê (1). Chích làm ba lần.
 
- Đó là thuốc?
 
- Tétracicline hiệp với Chloromycétine.
 
- Chữa bệnh?
 
- Đau bụng, sưng ruột, ho...
 
Tôi cầm chai thuốc mà không tin tưởng bao nhiêu. Tưởng rằng có một thứ thuốc lịch trị như lời cô thư ký, ai ngờ đây cũng chỉ là một thứ thuốc nào đó, cho một vài trường hợp nào đó.
 
Con Tô có vẻ mệt hơn hồi sáng. Tôi lấy thuốc trụ sinh pha với sữa và cũng dùng ống tiêm mà bơm cho nó. Định xế chiều sẽ trở lại Ty Thú y nên không dùng lọ thuốc tiêm.
 
Bốn giờ chiều. Lần này thì ở văn phòng có thêm một ông nhân viên. Và những cái ghế vẫn trống đằng sau những cái bàn tịch mịch. Ông nhân viên nói y chứng bệnh của Tô: bỏ ăn, chân run... và đoan chắc rằng chỉ cần ba mũi tiêm là dứt bệnh. Có điều cái lọ thuốc thần đó hiện để ở trong tủ mà chìa khóa tủ thì ông cán sự đi công tác mang theo mất rồi.
 
- Ông đi ba bữa nay. Chắc ngày mai ổng về. Cô chịu khó đợi thêm một ngày.
 
Tôi trở về âm thầm. Đi tìm Tô thì thấy nó ra nằm ở sân sau. Thấy tôi, nó cố gắng làm những cử động thường nhật: nghển cổ lên, đứng dậy bước tới... Nhưng chỉ loạng choạng hai ba bước là nó đứng dừng lại, thở dốc rồi nằm gục xuống để cát dính đầy nơi miệng. Tôi lau những hạt cát cho nó. Tôi kê đầu nó để nằm nghiêng trên một cái ghế nhỏ do một xấp báo xếp lại. Nó thở nhọc mệt.
 
Tôi không biết làm gì khác hơn là vuốt ve đầu nó, vuốt ve mông nó. Và nói lảm nhảm:
 
- Gắng lên Tô ơi! Ngày mai có thuốc. Lát nữa Tô uống thêm sữa với thuốc trụ sinh. Sao mày nằm buồn vậy? Dậy mau, có lũ nhỏ lén hái trứng cá đằng trước kìa. Chạy ra rượt!
 
Nhưng mặt Tô thản nhiên như nó không hề nghe tôi nói. Nó chỉ biết thở, những hơi thở gấp gáp nặng nề. Rồi bỗng tôi chợt nhận thấy rằng nó không còn thở nữa.
 
Buổi chiều màu xám. Lá cây ô ma thản nhiên xanh mướt trên cao. Tôi lặng yên ngồi vuốt mắt cho Tô, nắn bóp đôi chân trước thon thon manh mảnh. Tôi đã chứng kiến nhiều cái chết nên lòng tôi hắt hiu hoang vắng lạ thường.
 
Hơn hai năm, Tô với tôi đã thành một người bạn nhỏ. Khi tôi ăn xong là đến lượt nó. Tôi bảo nó:
 
- Xuống kêu cô Hiền lên lấy cơm phần Tô. Cô Hiền đâu?
 
Tô phóng chạy ngay xuống phòng Hiền, đứng ở giữa cửa, ngó lên đợi... Khi xe tôi về tới cửa, Tô nghe tiếng nổ vội chạy ra rồi chạy lui vào để báo hiệu cho người nhà ra mở cổng. Thế mà bây giờ thì nó chết rồi. Nó duỗi thẳng hai cặp chân xếp song song với nhau, như giũ bỏ hết mọi hoạt động, mọi háo hức chạy nhảy, leo trèo. Thôi rồi, không còn xục xạo đi săn lũ chuột, không còn nhảy chồm lên hàng rào để gầm gừ lũ nhỏ đến khoèo trái trứng cá.
 
Tôi sẽ báo tin như thế nào cho ba tôi biết rằng Tô đã chết rồi? Mới bảy giờ sáng nay ba tôi vừa từ giã nhà ra đi sau bốn ngày được về nhà nghỉ lễ Phục Sinh. Trước khi lên xe, ba tôi còn chạy tìm Tô để vuốt ve nó:
 
- Ở nhà uống thuốc cho mau mạnh nghe, con gải. Hẹn sẽ gặp lại, tuần sau.
 
Con gải đã không vẫy đuôi. Con gải chỉ lặng lẽ nhìn.
 
Tôi lo sẽ phải đọc trong bức thư đầu tiên ba tôi gởi từ nơi công tác về nhà có đoạn hỏi thăm sức khỏe của Tô. Chắc là tôi sẽ phải giả vờ quên không nhắc đến nó trong bức thư trả lời. Đợi cho một tháng hai tháng trôi qua. Tôi phải cố gắng hết sức giữ sao cho tâm hồn ba tôi tránh bớt được những dấu vết của sự xúc động, của sự xót thương, của sự buồn bã âm thầm.
 
_________________ 
(1) phát âm chữ cc là chữ centi-litre (phần trăm lít) viết tắt.
 
VÕ HỒNG      
(24-4-1973)     
 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 104, tuần lễ từ 31-5 đến 7-6-1973)
 
 

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

BÊN ĐẬP ĐỒNG CHÁY - Võ Hồng


Đã đến nước cùng rồi, đã đến nước chót rồi, không còn trì hoãn được nữa. Bà con lối xóm đi hết. Vơ vét gạo củi, đùm túm áo quần đi hết. Lùa bò, dắt trâu đi hết. Quẩy lúa gánh đường đi hết. Trên xóm Dương không còn tiếng người nói. Dưới Đồng Dài không có tiếng gà gáy trưa.

    Bà Xự ngồi yên trên ngạch cửa, hai dòng nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má.

    Bỏ nhà cửa mà đi. Bỏ ruộng nương, bỏ vườn tược, bỏ khúc sông và cái bến nhỏ này mà đi. Không, tôi không muốn đi dâu hết. Năm mươi tuổi trên đầu rồi, tôi muốn ngồi yên một chỗ, nằm yên một chỗ mà chết cũng được. Chết là gì? Nhắm hai con mắt lại, nhẹ nhàng buông xuôi hai tay. Khỏi đi cấy, khỏi cần quạt giê lúa. Khỏi gánh nước đổ vào chum, khỏi quơ củi nhay vào bếp. Khỏi làm khỏi ăn khỏi lo khỏi tính. Thôi, cứ để cho tôi chết. Bà con cứ đi đi. Tôi lớn lên ở trên mảnh đất này, bắt đầu ngắt lá táo lá keo bỏ vào mẻ sành mảnh chén làm trò chơi nấu cơm với chị em bạn. Rồi cúi lưng xuống tập quơ cỏ lúa, cầm cái cuốc tập dẫy cỏ bắp. Đội cái thúng đi mót lúa, ôm cái rổ đi mò ốc gạo. Không, không. Tôi muốn chết ở trên mảnh đất này... Sao? Chị nói không được hả, Chết mà cũng không được hả? Sống mới khó chớ chết mà cũng khó à? Chỉ cần nhắm mắt buông xuôi hai tay mà cũng không được? Hồi xưa mẹ tôi chết dễ lắm. Trăn trối với cha tôi rằng: "Thôi anh ở lại nuôi con. Con Lụa nó dại, tánh lùng bùng. Đừng đánh rầy nó tội nghiệp. Anh kiếm dì ghẻ cho nó, nhớ lựa người hiền lành". Rồi mẹ tôi không nói nữa. Mẹ tôi lên nằm trên sườn núi cạnh ông nội bà nội, ông cố bà cố. Cạnh ông Chánh Bát, ông Hương Hai. Cạnh thằng Mẫn con bà Tơ, cạnh con Thìn, con Thu bà Ni. Ai cũng lên nằm trên đó hết. Sao đến đời tôi lại khó khăn vậy? Đi tản cư. Đi đâu bây giờ? Đây là quê tôi, quê chồng tôi cũng là đây. Chỉ có nơi đây là quen thuộc. Bến đò Cây Dừa. Xóm Đường. Chợ Chiếu. Hòa Tú. Núi Một. Đập Đá Hàn... Chị nói đi đâu? Vô quận hả? Vô Phú Tân? À, tôi nhớ rồi, bây giờ quận dời về Phú Tân rồi. Chợ Gành đó mà. Hồi còn con gái, bọn mình hay gánh đường bán chợ Gành. Nhưng bây giờ thì gánh cả gia sản vô ở luôn chợ Gành. Mình đâu có nhà bà con trong đó? Thôi, cám ơn chị. Chị đi trước đi. Để rai rải tôi coi thử đã.

    Bà Xự đưa tay lau dòng nước mắt ngưa ngứa nơi khoé mũi. Chiều xuống nhẹ nhàng. Bóng tối dồn về cây mít đứng sừng sững ở trước sân. Hàng tre im lặng. Chòm nhà bà Kinh, bà Nhuận lẫn vào bóng tối. Ngày thường, vào giờ này có ngọn đèn màu đỏ điểm giữa khung cửa đen sẫm. Bây giờ thì tất cả đều là màu tối loang lổ. Người ta đi hết. Hôm kia bà Kinh gánh trong hai đầu thúng hai đứa cháu nội. Quần áo cũ và mền bạc màu chèn chặt hai đứa bé. Xấp bánh tráng đặt lên đùi mỗi đứa. Ruột nghé gạo quàng vào một đầu gánh. Đầu kia lủng lẳng cái nồi. Bà kĩu kịt gánh cháu đi theo đoàn chạy giặc. Cha lũ nhỏ, thằng Sách đi cày bị trúng mìn. Một khúc ruột lòi ra nơi lỗ bụng bị thủng. Y tá quận băng bó. Không có thuốc tiêm. Nó la hét nhiều lần rồi ngất đi. Máu rỉ qua lần bông băng. Đợi có chuyến công-voa chở ra nhà thương Quy Nhơn. Nhưng nghe nói mới đến Tuy Phước thì chết. Chôn cất thế nào ở ngoài đó, nằm ở nghĩa địa nào, ở đầu núi nào bà Kinh không hề biết, không hề thấy. Nghe chôn ở Hưng Thạnh. Chỉ biết là từ đó bà hay kể lể rằng thằng Sách thường hiện về trong giấc chiêm bao lặng lẽ nhìn mẹ rồi quay lưng thất thểu bước đi. Cái bụng quấn băng dầy cộm như bụng người lính quấn cái mền. Thằng Sách chết thì đôi bò bán đi. Đám ruộng nằm ở vùng bản lề do hai bên kiểm soát nên con vợ thằng Sách không dám tiếp tục ra đó cấy hái. Nó lần mò đi Tuy Hòa kiếm công chuyện làm ăn. Đi ở mướn cho hiệu cao lâu. Cả ngày ngồi ở sân sau rửa chén dĩa. Dĩa chén chất từng chồng, rửa hết lớp này thì đã có lớp khác bưng dồn ra. Ngồi trẹo xương sống. Mỡ và bọt xà bông ăn ngón chân và gan bàn chân nứt nẻ. Đêm nào cũng thức rửa đến mười hai giờ, sau đó lại phải nấu nước pha phèn chua để dầm đôi chân. Cái lưng nhức tưởng chừng như có thể gẫy làm đôi. Mỗi tháng ăn uống xong được lương bốn trăm đồng để gởi về nuôi mẹ chồng, nuôi con. Nhưng rồi nó không cầm cự được lâu. Ở nhà quê dù chân lấm tay bùn nhưng làm và nghỉ có giờ giấc. Cuộc sống rập khuôn theo sức phát triển của cây lúa cây bắp, mà cây cối thì không biết vội vã như máy móc, không làm người ta lúng túng như máy móc. Chậm rãi, trầm lặng, cây cối không kích thích bắt người ta rộn ràng. Hôm con Sách xách va-li về quê thăm, nó mập và trắng ra. Nhà cao lâu thừa thãi đồ ăn dư, ăn tha hồ, những miếng thịt béo ngậy mỡ, những bát canh còn dư cả phân nửa, những đoạn bánh mì người ta mới bóc phần vỏ bên ngoài. Ăn không hết thì đổ vào chậu nước nuôi heo. Con Sách xót xa nhìn những miếng thịt mỡ dày óng ả, những muỗng "xốt" màu vàng, những đùi gà gặm nham nhở, những khúc ruột bánh mì trắng xốp bị lùa rơi tỏng vào thùng nước cơm. Con Sách nhớ tới thằng Tuồng, thằng Triện. Giá có lũ nhỏ ở đây mà sớt cho chúng ăn. Ở nhà, ba bà cháu chỉ cầu có đủ cơm ăn. Thường bữa cơm chỉ có rau muống, rau sam, tương, một đĩa cá liệt kho trắng chởn, lởm chởm xương kỳ nhọn hoắt. Nhiều hôm chúng ngồi chống đũa nhai cơm lạt.

    Nhưng nhọc nhằn quá, con Sách cầm cự không được lâu. Sau chừng ba tháng thì nó đã bỏ cuộc. Nghe nhắn về nói nó đã theo một bà chủ tiệm vàng đi Đà Lạt. Bẵng đi ba bốn tháng không thấy tin tức, bà cháu lây lất với số tiền dành dụm còn lại. Với mấy giạ lúa mót được từ hôm mùa tháng Ba, với số rau cỏ gầy còm mọc ở bờ ruộng, bờ ao. Sự sống xoay quanh cái mâm gỗ đen xỉn bị gặm sứt nhiều mảng. Sự sống thoi thóp đó vẫn không được để yên. Bà cháu đã đùm túm nhau đi tản cư.

    Bây giờ đến lượt mình... Mình đi đâu? Ở nhờ nhà ai? Lấy gì mà ăn? Ở đây còn có thể quơ quào bốn phía nhà kiếm lấy củ mì củ môn, trái dưa trái mít. Nhưng mà không được nữa rồi. Bom thả liên miên. Dãy nhà ngói của ông Tổng Viên bị bom lửa cháy rụi, tiêu sạch. May phước cả gia đình đã dọn đi rồi. Lửa cháy lan đốt thêm nửa xóm. Dưới xóm Đình lớp thì bom, lớp thì súng, lớp bị chết cháy, lớp bị chết đạn. Ở xóm Ngựa, nhà cháy và người chết, trâu bò bị chết thui trong chuồng. Đạn đại bác lâu lâu được dọt ra vài chục trái bất kể đầu hôm hay giữa khuya. Trúng ai nấy chịu. Ông Hương Ngọng ở hàng Dao bị đạn đại bác sập hầm gẫy chân. Thằng cha Bộ ở xóm Mia ẵm con chạy chưa tới hầm thì đại bác nổ tan xác hai cha con. Quân đội ra lệnh đồng bào tản cư nhưng đi tản cư đâu có dễ. Nhà cửa bề bộn đó, cái bàn, bộ ván, bồ lúa con heo, khiêng sao gánh sao cho hết? Biết mang theo cái gì, bỏ lại cái gì, Mỗi vật nhỏ cũng có giá trị của nó. Mua sắm rải rác suốt một đời người, những vật dụng đó gần gũi cạnh mình đến nỗi chúng như có linh hồn.

    Có tiếng chân sột soạt ngoài hiên. Tiếng nói nhỏ:

    - Chị Năm! Có chị Năm ở nhà không?

    - Ờ! Chị Thủ Hai đó hả?

    - Sao? Chị dọn dẹp xong chưa? Nhớ đem theo ít đồ đạc thôi. Bỏ bớt lại. Nặng quá gánh không nổi.

    - Chị ngồi lại đây một chút.

    Hai người đàn bà ngồi bệt dưới nền dất, cạnh nhau.

    - Chị nghĩ thử bây giờ mình đi đâu.

    - Thì cứ theo vô quận đã.

    - Trong đó nước khó gánh, nhà cửa chật chội. Mà mình lấy gì ăn?

    - Kệ nó, tới đâu hay tới đó. Tàu bay thả bom quá, chịu không kham. Thằng Chiến nó chần chừ rồi cũng phải lùa bò đi.

    Tiếng xì mũi của bà Xự.

    - Tai trời ách nước, ai muốn chi vậy. Thôi chị lo dọn dẹp đi. Thắp đèn lên.

    - Sợ đại bác nó ngó thấy.

    Bà Thủ Hai không nín cười được:

    - Chị nói như điên. Đại bác ở tuốt trong quận bắn ra. Bắn ào ào cầm chừng mà thôi, chớ đâu có nhắm ngọn đèn của chị mà bắn. Thôi, để tôi chạy về nhà. Nhớ mờ sáng thì đi. Tôi ghé qua kêu chị luôn.

    Trong xóm không còn sót mấy người. Lần này rủ nhau đi coi như chuyến chót. Thôi kệ tới đâu hay tới đó.

    Bà Xự uể oải đứng dậy thắp đèn. Hai cái bao lát đặt trong hai chiếc thúng để giữa nhà đã chứa đầy những vật bà chọn đem theo. Áo quần. Gạo. Nồi. Bộ lư đèn bằng đồng cỡ nhỏ. Dao rựa, dây dừa, chén bát, võng. Bà cầm đèn đi soi nơi bàn thờ. Nước mắt tuôn ra khi nghĩ rằng nơi bàn thờ này linh hồn chồng bà sẽ vất vưởng cô đơn. Người đàn ông đó đã sống với bà hơn hai mươi năm. Từ một anh nông dân thanh niên khỏe mạnh, người ấy đã lớn, đã già bên cạnh bà. Tính hiền lành mà hay đổ quạu. Hà tiện hà tặn. Qua mùa cày bừa thì làm thêm nghề thợ mộc, thợ đóng cối xay. Không ai thuê mướn thì họ đan lờ, thả câu cắm. Đang làm ăn ngon lành thì ngã ra chết. Thật vô lý, khoẻ như trâu, bắp thịt nổi cuồn cuộn như vậy mà cảm thương hàn mới bốn ngày đã nhập lý, lưỡi đen, măn giường măn chiếu rồi chết. Còn ai lo hương khói? Từ chiều mai bàn thờ này sẽ lạnh tanh. Bà rút một cây hương châm vào ngọn đèn rồi cắm vào bát hương.

    Bức tranh thờ viết chữ Thọ có vẽ hình bông hoa lồng trong nét bút. Hai hàng câu đối chạy hai bên. Bức tranh đã phủ nhiều bụi. Bà cầm đèn đi xuống nhà dưới. Cây cột bằng tre già láng bóng. Bao nhiêu bàn tay mồ hôi đã rờ lên nó. Có nhiều vết dao băm lên thân tre. Đó là vết dao của thằng Xang chơi nghịch băm lên khi nó lên sáu tuổi. Bà chỉ sinh được mình nó. Khi cha nó chết, nó thay cha cầm cày. Tánh tình ít nói. Bà bảo nó:

    - Mày có thương con Bằng, con bà Câu Qua thì nói. Tao nhờ mai mối đi hỏi cho.

    Nó lùng bùng:

    - Ai thương ai nhớ gì mà đi hỏi.

    - Chớ mày thương ai?

    - Không thương ai hết.

    - Bộ mày muốn đi tu hả? Con trai lớn thì phải kiếm vợ. Nhà không ai, mày cưới vợ để đỡ đần chân tay.

    - Mẹ muốn thì mẹ đi cưới lấy.

    Bà la lên:

    - Thằng này nói dại. Tao cưới vợ cho tao làm gì?

    Tuy la lối nhưng bà cảm thấy an tâm. Mười tám tuổi mà không biết mê gái, không biết soi gương vuốt tóc thì nó sẽ là đứa con có hiếu. Mười đứa con bất hiếu thì hết chín là đồ mê gái. Có mê gái mới bỏ mẹ bỏ cha. Bà yên tâm gởi tuổi già vào một thằng con chỉ biết cặm cụi nhà sau đuôi bò, chỉ biết tính toán buổi cày công cấy, chỉ biết vác cuốc dọn bờ hay cầm liềm đi cắt cỏ.

    Tiếng thằng Xang chầm chậm:

    - Sắp sửa đi quân dịch mà còn nói chuyện cưới vợ.

    - Thì mày cưới vợ rồi đi. Để vợ mày ở nhà với tao.

    Xang xì một tiếng:

    - Có đứa con gái nào chịu dại vậy.

    Đến tuổi, thằng Xang đi quân dịch. Đôi bò bán rẻ cho ông Xã Xu. Thôi đợi ngày mãn dịch nó về thì sắm lại đôi khác. Bây giờ không có nó ở nhà thì ai chăn? Bà đi quơ cỏ mướn, cấy thuê kiếm ăn qua quýt đợi ngày con về. Bốn tháng, sáu tháng. Mỗi tháng trông đợi dài bằng năm. Cây xoan trước cổng nở hoa vào lúc nó ra đi bây giờ lại nở hoa. Phải một kỳ nở hoa nữa thì nó về. Con tu hú báo hiệu mùa múi giẻ chín. Phải một mùa tu hú kêu nữa thì nó về. Cây ổi xá lị nó xin giống ở đồng Tròn về trồng năm kia, năm nay đã ra được hai trái. Sang năm nó về thì ổi sẽ chín đầy cành. Tha hồ nó mừng. Để đi hỏi con Bằng cho nó. Muốn hay không muốn thây kệ. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Giao cho vợ chồng nó ở căn nhà ngang. Bắt vợ nó nuôi thêm vài con heo. Bằm rau và chuối cho heo ăn. Rong ở dưới bàu ông Chỉ xanh dờn.

    Giữa lúc bà tính nhẩm ngày về của con, vừa dự toán công việc làm ăn thì có tin thằng Xang bị phục kích chết ở Phù Cát. Chết! Chết! Cái chết đợi con người ở mút đường đi. Có người đi đường dài, người đi đường ngắn. Thời bây giờ lũ nhỏ đi đường ngắn. Đám ma rốt cuộc chỉ có người già khóc lóc đi đưa. Tre khóc măng. Đến chừng tre ngã thì hết nghe tiếng khóc. Con gái làng đến tuổi không còn con trai đi cưới. Chúng tản mát chạy về thành phố kiếm công ăn việc làm và kiếm chồng.

    Những thế hệ nối tiếp nhau nằm an nghỉ trên đầu núi. Tội nghiệp, thằng Xang thằng Sách thiếu mặt. Thằng Sách nằm ở doi núi Hưng Thạnh chẳng biết mặt nhìn ra ghềnh Ráng hay nhìn về An Khê. Thằng Xang của bà thì không khéo mồ mả đã san bằng mặt đất bởi nước lũ mưa ngàn. Những đêm sáng trăng chắc có con cọp ngồi rình mồi bên cạnh hòn đá giằn đầu mộ.

    Ba đứa đó hồi nhỏ chăn bò một gò, tắm bò một bến. Ngồi kết từng cái lá mít chẳm làm mão ông tướng, ông vua rồi tét lá chuối làm râu. Tụi nó mang râu đội mão cầm giáo hát bội, nhảy múa hò hét suốt ngày dưới chòm táo nhơn cạnh nhà ông Hương Trưởng. Tụi nó đánh đáo, đánh mạng, đánh lú dưới bóng cây gạo. Tháng Bảy tháng Tám bông gạo nở đỏ mùi hăng thúi cả vùng. Ba đứa lớn lên, đứng cạnh nhau trên một sân gặt. Những cánh tay giơ cao bó lúa to, đập thình thịch xuống chồ tre, hột lúa tung rào rào, rơi lộp bộp trên nón. Ba đứa thường gặp mặt nhau trên một đám đất, cuốc gốc mía phầm phập, cuốc cỏ bắp sào sạo. Ba đứa thương nhau như ba anh em, kể từ ngày chung nhau bài hát "Tôi có nuôi một con chó. Trông nó to như con bò. Mai nó kêu quấu quấu quấu. Mốt nó kêu quầu quầu quầu", hát trật giọng sai nhịp, cho đến khi lớn, riêng tư mỗi đứa nghĩ về một người con gái. Bây giờ thì ba đứa đó đều ngã xuống hết, mỗi đứa một cách, mỗi đứa một nơi, nhẹ nhàng, gọn gàng như ba thân chuối bị phạt ngang bởi lưỡi rựa bén. Những đứa con trai! Trong thôn không còn những đứa con trai. Gồng gánh đùm túm chỉ có đàn bà và và con nít.

    Tiếng một con ễnh ương gào to lên làm bà Xự giật mình. Bà bưng đèn đi thẫn thờ từ nhà bếp lên nhà trên. Mùi khói nhang nhắc nhở những ngày ấm cúng. Bây giờ thì lạnh lẽo. Ngày mai còn lạnh lẽo hơn nữa. Mỏi mệt ở nơi sống lưng. Mỏi mệt ở hai dầu gối. Bao nhiêu công lao, bao nhiêu nhọc nhằn mới làm nên cái nhà này. Từng gánh đất ruộng gánh đổ chồng chất hàng mấy tháng trời mới làm được cái nền nhà này. Vợ chồng ra công gánh, chiều mát và đêm trăng. Có tiếng con chim sơn ca hát rung rinh ở đỉnh đầu. Có ngọn gió nồm thổi ngã ngọn cỏ. Rồi sau đó chan chát tiếng chàng tiếng đục, cắt cưa bào khoét, cây cột cây kèo, cây xà cây trình. Rồi rui rồi mè, rồi mầm tri rồi rơm nhào với đất bùn, rồi từng tấm tranh chụp lên, rồi sắp nóc. Chồng bà hiện diện ở khắp nơi trên mái, ở dưới nền, mồ hôi chảy thành dòng ở giữa ngực. Bó lạt tre cặp ở lưng quần, chân giẫm nhèn nhẹt vào đất rơm, tay nổi gân siết từng nuột dây, nuột nứa. Bà thì quần xắn đến tận đùi hết gánh đất đến trộn rơm, hết nấu nước pha trà đến quằn vai vác tre khiêng gỗ. Ngày êm ả tiếp theo ngày ngọc nhằn, nằm trong nhà nghe mưa rơi rào rào trên mái, nghe gió rít từng luồng vật vã ở bờ tre.

    Nghĩ đến đây, bà oà khóc thành tiếng.

    Con chim bìm bịp cất giọng trở canh. Tiếng chim vang từ bụi rậm ở bờ ao, lanh lảnh rền xa trong bầu không khí vắng yên mát lạnh. Bà Thủ Hai luồn tay đẩy cánh cổng tre bước vào sân, vào nhà. Sự yên lặng rờn rợn. Bà đi lại gần lay bà Xự.

    - Dậy! Chị. Mờ sáng rồi.

    Mơ hay tỉnh đây! Mình hiện giờ ở đâu? Ở trong quận hay còn ở nhà? Hay đã chết rồi? Ông Xự ơi!

    - Dậy gánh đồ đi chị.

    Gánh đồ đi. Thế nghĩa là nỗi khổ cực đang tiếp tục. Nó bị ngắt quãng bời một giấc ngủ chập chờn, đầy mộng mị, bây giờ nó lại tiếp tục.

    - Mẹ con con Bao và ông Trùm Đẹt đi cùng một chân với mình. Họ ngồi chờ ở ngoài đường.

    - Mời họ vô nhà.

    - Thôi, ăn uống gì mà vô. Đi rửa mặt đi. Chà, gồng gánh gì mà nặng dữ. Cửa ngõ nhà sau đã gài đóng kỹ chưa?

    - Dạ, gài tấn kỹ rồi chị.

    Gáo nước khua lổn cổn vào thành chum. Tiếng nước sóng sánh quen thuộc, lạch tạch rơi xuống đất. Bàn tay vốc nước lã lên mặt. Mỏi mê ở cổ. Cay nơi con mắt.

    Bà Thủ Hai quảy dùm gánh ra sân.

    - Cái nón đâu? Coi còn thiếu món gì không? Đóng cửa gài then lại cho chắc chắn.

    Tiếng cánh cửa gỗ đóng "két", nặng và dài. Chùm lục lạc cột ở khuy cửa khua rủng rẻng. Toàn là những tiếng quen thuộc, những tiếng quen nghe từ hai mươi năm, hai mươi năm nay. Những bụi ớt. Giàn mồng tơi. Đụn rơm. Cây mít còn ôm ấp những mảnh bóng tối. Cây ổi xá lị của thằng Xang. Bà quay mặt đi không dám nhìn nữa. Cái gánh đè lên vai. Thôi tụi bay ở lại. Má đi chắc không về. Tụi bay sẽ héo, sẽ khô không còn ai tưới nước cho tụi bay nữa. Tha hồ những con chim sẻ, những con chim quành quạch đục rỉa tụi bay. Má đi chắc không về nữa.

    Những người ngồi đợi trước cửa làm bà hơi yên lòng. Con mẹ Bao dẫn hai đứa con. Mỗi đứa quàng một ruột nghé. Thằng cu Lớn đội cái mũ lính bằng vải mềm màu phân ngựa. Thằng cu Nhỏ đầu quấn khăn trắng như để tang. Nó bị miếng bom xẹt trúng cách đây một tuần. May không chết. Hai đứa ngáp dài rồi trôm con mắt nhìn bà trân trân. Ông Trùm Đẹt đen và gầy và cong như gốc tre già bị ám khói. Cái miệng móm riết lại, má trũng sâu như hai lỗ đáo. Bộ râu dài lơ thơ, màu đục bẩn. Da thịt khô cằn không nuôi nổi bộ râu.

    - Ông Trùm Sáu cũng đợi bữa nay mới đi?

    Đó là lời chào của bà. Giọng khàn khàn đụt hơi của ông Trùm Đẹt:

    - Tôi đau gần chết chị ơi. Bữa nay mới khoe khỏe một chút. Gắng gượng mà đi.

    - Con mẹ Bao, mày đi Quy Nhơn hay đi đâu?

    - Dạ, cứ lần vô trong quận rồi coi đã.

    Họ gồng gánh lục tục ra đi, kẻ trước người sau trên con đường hẹp. Sương ướt đầm ngọn cỏ quệt vào chân những luồng lạnh. Những ngày đi ra đồng sớm, cỏ cũng quẹt sương vào chân lạnh như vậy. Đi co ro vòng tay trước bụng hay thủ hai tay vô bụng thật dễ chịu. Cỏ mọc lấn ra đường. Vắng người đi lại mới chừng hai tháng mà cỏ đã mọc lấn ra tự do. Không có những mõm háu ăn của lũ bò đi qua thì cỏ và bụi cây tha hồ mọc. Bà Thủ Hai mở lời:

    - Nghe vợ chồng ông xã Chí đã lọt ra Quy Nhơn rồi. Đi theo đoàn xe hành quân.

    - Con ổng làm phó đại diện thì chính phủ phải để ưu tiên - Lời chị Bao.

    - Bà Quảng mẹ ông thư ký quận cũng đi theo công voa.

    - Tôi sợ lắm bà ơi. Thà đi bộ. Lỡ trúng nhằm mìn.

    Ông Trùm Đẹt lầm lũi bước không buồn nói năng. Người đàn ông thường bạo dạn nhưng lại mau thất vọng hơn đàn bà. Ông không vợ, không con. Nhà nghèo không có phương tiện cưới vợ. Quanh năm cứ đôi dép cao su lốp xe và cái rựa làm vật tùy thân để đi làm thuê làm mướn cho người ta. Lúc bình thường vẫn phải vay gạo hàng xóm để nấu. Ra đi tản cư mà chỉ có một cái khăn gói quàng trên vai. Đựng cái gì trong đó? Không thể có nhiều gạo, giấy bạc và áo quần.

    - Vô trong quận kiếm nhà con Thâm ở nhờ, - bà Thủ Hai đủng đỉnh nói. - Nghe nói nó làm ăn khá. Buôn bán có tiền.

    - Không chắc có còn chỗ. Cả xóm mình ai cũng nói vô ở nhờ nhà con Thâm.

    - Không được thì mình kiếm nhà khác. Đồng bào tản cư mà, ai nỡ hẹp bụng.

    - Thây kệ, tới đâu hay tới đó. Mình đã đánh nước liều rồi mà. Mình đâu có muốn đi. Nhà cửa chắc gì còn dư để mình xin ở nhờ. Dân chạy giặc cả một quận, hỏi ở sao cho hết nơi xóm Phú Tân nhỏ bằng bụm tay. Nằm ngủ bờ ngủ bụi rồi cũng bệnh chết.

    Con đường đi trùng xuống, bao quanh bầu ông Chì. Lá ấu và rong đuôi chồn làm mặt nước có màu xanh tối. Những con cò đứng rụt cổ ngủ trên cành tre. Êm ái thanh bình là giấc ngủ. Phải chi lúc nãy chị Thủ Hai đừng đến kêu mình dậy. Lại tiếng con bìm bịp. Một tiếng gọi ồm ồm, hối thúc, giục giã. Một tiếng nhẹ nhàng như tiếng muỗng bột đổ vào khuôn bánh xèo nóng mỡ. Hồi còn con gái mình đi chợ Giả về nghe tiếng "xèo" của con bìm bịp, mình hay nói đùa với con Thiện "Thiện ơi, bước lẹ lên đi mày. Ở nhà đúc bánh xèo chờ rồi đó". Thoáng chốc mà mình đã già rồi.

    - Nè chị Năm, hay là vô Phú Tân rồi mình kiếm xe đò đi Tuy Hòa luôn.

    - Tôi cũng chẳng có bà con nào ở Tuy Hòa.

    - Vô Tuy Hòa còn kiếm cách buôn bán chút đỉnh. Bán bánh mì, bán chè cháo...

    - Già đầu còn đi bán bánh mì.

    - Kệ nó chớ.

    - Tùy ý chị. Tôi thì tản cư ở ít bữa. Liệu yên yên thì mò về.

    Mặt trời lên khỏi rặng núi A Man. Màu nắng vàng yếu ớt và rung rinh. Chắc là tại đêm qua thiếu ngủ. Không có bóng con trâu trên cánh đồng. Hai chiếc máy bay rà sát trên đầu, tiếp sau là tiếng nổ xé tai. Mọi người nhào vào trong bụi. Thằng cu Nhỏ khóc thét lên. Không phải bom nổ mà là tiếng nổ của máy bay. Mọi người lồm cồm bò dậy, phủi quần áo. Lại tiếp tục đi. Lũ nhỏ mỏi chân cứ lạch bạch đi tụt đằng sau. Con đường hun hút xuyên sâu vào giữa hai bờ tre.

    - Gắng chút nữa đi con. Gắng đi tới đập Đồng Cháy rồi má cho nghỉ một lát.

    Tiếng nước chảy lào xào thoáng nghe từ xa dội lại. Đập Đồng Cháy. Bà Xự cảm nghe như một cái nhói trong tim. Còn hai khúc quanh nữa thì tới. Đi qua khỏi quán bà Diễn, đi qua khỏi đám bông của ông Cửu Chín. Bước qua một con lạch. Tiếng nước đổ rào rào. Đi vòng theo một đoạn đê. Lá tre khô nhũn nát dưới bàn chân. Xuống cái dốc hẹp. Đến đây rồi.

    Lũ nhỏ mừng quá chạy lẹ đến gốc cây vông, tháo ném ruột nghé gạo xuống đất. Mọi đòn gánh đều hạ xuống. Ông Trùm Đẹt tụt khăn lau mồ hôi trán rồi cầm nón lên quạt. Chị Bao nắn đùi cho hai đứa con. Bà Thủ Hai lần mở khăn gói trầu. Riêng bà Xự thì thẫn thờ đi lại gần mép nước.

    Những cừ gỗ cao to, đóng lún sâu xuống cát, ôm choàng vào nhau, xoạc chân để chống giữ sức nước. Khoảng giữa đập, nước đổ ào ào, bọt tung trắng ngần. Bọt nước trắng vỡ ra, bị nước cuốn đi, chạy vội vã về những miền xa lạ. Lau sậy hai bên bờ vật vã theo chiều gió cuốn, rung rinh những tua hoa óng ánh tựa kim tuyến. Tiếng nước ào ào tuôn đổ, át hết mọi tiếng động xung quanh. Nước tuôn từng mảng lớn, dày, uốn cong lại, nước ánh như dầu. Nước đổ say mê, mải miết không dừng. Nước réo tưng bừng, sôi sục, vẫy vùng. Tất cả tâm hồn bà Xự như bị cuốn hút theo tiếng nước đổ và đang tưng bừng sống dậy. Không phải là sức sống tàn tạ của tuổi năm mươi mà là sức sống ào ạt của tuổi hai mươi đam mê mãnh liệt.

    Đập Đồng Cháy. Nơi đây bà đã gặp Năm Xự, đã để cho Năm Xự cầm tay lần đầu. Hồi hai người còn đang ở tuổi xuân rụt rè. Thật là một buổi xế chiều êm đẹp. Lụa - tên hồi còn con gái của bà - đang cắt cỏ ở bờ soi mía kia. Gió giữa đồng trống thổi mạnh làm vật vã những thân mía đang tơ. Giỏ cô đã cắt đầy mà trời còn sớm. Lụa bẻ lá rải thành một cái nệm mỏng trên cỏ rồi ngả lưng nằm ngửa mặt nhìn trời. Da trời xanh, cao vút, lảng vảng vài gợn mây mỏng. Mùi nhựa cây, mùi hoa dại pha với mùi đất ẩm tạo thành một mùi thơm nồng, ngây ngất. Tiếng nước đập đổ ồn ào, đều đặn như một điệu ru. Lụa lơ mơ nghĩ vẩn vơ. Mùa gặt sắp hết. Đêm qua đập lúa cả đêm. Thằng Thất hát ghẹo con Hòa. Thằng Được nói chuyện tiếu lâm tục tĩu quá. Thằng mất dạy. Con Cam thương thầm thằng Xự. Mỗi lần bà Bông cáp đôi nó với Năm Xự là nó nhắm tít con mắt lại cười. Năm Xự thì mắc cỡ. Năm Xự hiền, bộ mặt xinh trai. Mùa gặt sắp hết rồi. Không còn những tối đập lúa rộn ràng, những đêm khuya gánh lúa công đi về, đi từng hàng trên bờ ruộng hẹp. Năm Xự có đôi lông mày đen rậm... Mùa gặt...

    Có những lúc nào đó Lụa bỗng quên hết, quên hết, quên hết, tâm hồn lâng lâng nghe mơ hồ tiếng nước đổ ào ào rồi nhỏ đi thành tiếng rì rầm rồi im bẵng mất. Rồi ào ào trở lại.

    Chợt nàng giật mình. Có ai đứng cạnh. Năm Xự.

    - Uở.

    Năm Xự lúng túng:

    - Tôi giắt bò đi tắm. Qua đây...

    Bằng những câu nói gì tiếp theo mà hai người có thể ngồi cạnh nhau để nói cho hết cả buổi chiều, mãi cho đến lúc hoàng hôn gài từng miếng tối vào lùm cỏ rối, vào từng bụi chim chim, bụi quít, bụi găng... Lụa không còn nhớ nữa, chỉ biết là khi sắp chia tay, Năm Xự bạo dạn nắm tay nàng mà nàng không phản đối. Trong sự im lặng ngượng ngùng, nàng hồi hộp nghe tiếng tim mình đập và tiếng nước đổ ào ào như che chở, như rộng lượng bảo vệ. Hai người thương nhau từ đó và nơi hẹn hò thường là chỗ gặp gỡ ban đầu, nơi bờ soi này, bên đập nước đó. Luôn luôn có tiếng nước đập ồn ào hiện diện.

    Bà Xự chợt nhìn xuống lòng nước, soi thấy bóng mình. Hình ảnh cô Lụa tan biến vun vút.

    Hết rồi! Hết rồi! Không! Tôi không đi đâu hết. Tôi đã mất hết cả rồi. Tuổi xuân xanh. Chồng tôi. Con tôi. Chỉ còn đập nước này mà tiếng ào ào tuôn đổ không hề thay đổi. Nó đã nhìn thấy tôi tóc đen mướt và má tròn phúng phính. Nó đã thấy tôi trẻ đẹp và được thương yêu. Chỉ có nó. Nó nhắc nhở đến chồng tôi. Đến hạnh phúc của tôi. Mọi người khác đều nói: "Chiến tranh. Chạy giặc. Súng nổ. Bệnh. Đói. Chết..." Tôi không còn đủ sức để chống chọi. Cho tôi an nghỉ. Tôi sẽ không về ở trên xóm, tôi sẽ về ở cái chòi tranh giữ bắp nhỏ trên doi đất này, nơi đó tôi đã gặp chồng tôi, ngày xưa. Tôi sẽ sống lây lất với củ lang củ mì, với rau má rau dền, với hến với ốc. Thôi bà con đi đi. Chúc bà con mạnh giỏi. Cho tôi ở lại. Không, xin cho tôi ở lại. Tội nghiệp thân tôi. Tôi đã...

    Bà Xự vụt bỏ chạy. Dáng bà chênh vênh chạy loạng choạng trên bờ đê cao. Chân sụp xuống mương. Té nằm xoài xuống. Lồm cồm ngồi dậy. Chạy... Té... Gượng dậy. Chạy... chạy... Không... không...

    Đoàn tản cư về đến quận thì chỉ còn có năm người. Chiều xuống vội vàng khiến họ hối hả vừa đi vừa chạy. Phải đến nơi trước giờ thiết quân luật. Từng đoạn đường dài sâu hun hút phải lặng lẽ chạy qua. Không dám nhìn sang hai bên. Có miệng súng nào đang há tròn chờ sẵn đó chăng? Có cặp mắt thau sáng quắc nào đó của con beo con cọp từ động lớn về rình đó chăng? Bom đạn nổ tan rừng, cọp mò về đồng. Đồng sâu núi thấp ngày trước còn rộn rã chân người, bây giờ vắng hoe nên trở thành giang san của beo của cọp. Mọi người rùng mình. Quang cảnh lúc nãy còn ám ảnh họ: đôi thúng đôi bao còn để đó mà mụ Xự đâu mất. Kêu. Không có tiếng trả lời. Hú. Chỉ nghe tiếng núi vọng lại yếu ớt bên cạnh tiếng đập nước đổ ào ào. Sục sạo tìm kiếm, đập bờ đập bụi. Vẫn im lìm.

    - Coi chừng có mìn gài.

    - Chết coi chừng có mìn gài.

    Mọi người đồng nói như vậy và sự hăng hái bỏ rơi họ. Họ đi lò dò, dáo dác nhìn trước nhìn sau. Lại kêu, hú. Núi đồi lại vang nhè nhẹ tiếng hú mơ hồ. Mặt trời đã lên tận đỉnh đầu. Con đường đi về quận còn dài. Máy bay rà trên đầu, tiếng động cơ ào ạt vụt qua, gầm nổ bưng tai làm kinh hoàng những bầy chim. Chúng bay vụt từng đàn, bay tản mát cánh đập loạn xạ.

    - Chị Năm ơi. Chị Năm Xự ơi!

    - Ớ bà Năm.

    Mắt đổ hào quang và mồ hôi chảy thành dòng. Thằng cu Lớn, thằng cu Nhỏ ngã chúi trên những bờ ruộng mấp mô. Sau một hồi tìm kiếm vô vọng, họ trở về mé đập. Không ai nỡ quyết định bỏ bà Xự ở lại nhưng mọi người đều lặng lẽ quảy gánh lên vai. Phải gấp đi về quận trước buổi chiều. Không ai nỡ nói lên ức đoán của mình nhưng ai nấy đều không cưỡng nổi ức đoán. Sụp xuống một búng nước rồi chăng? Bờ mương con lâu ngày không ai dọn cỏ, cỏ mọc um tùm chẳng còn biết chỗ nào là đất, chỗ nào là nước. Bị ma giấu rồi chăng? Người chết nhiều quá những năm gần đây, lắm xác chết không có người chôn cất. Thỉnh thoảng chó tha một bàn tay, một mảng da có tóc bê bết cát bùn. Hay cọp? Hay beo?

    Đoàn tản cư chỉ còn có năm người, hấp tấp, hồi hộp, im lặng. Sau lưng họ, con đập Đồng Cháy vẫn đổ tuôn từng khối nước lớn, tiếng dội ầm ầm ào ào, bọt tung trắng ngần, vỡ ra, quay cuồng len lỏi chảy giữa những tảng đá to màu xám.