Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2024

XUÂN XƯA - Hoàng thị Đoan Trang

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
tôi ngỡ mùa xuân dịu dàng gọi H
xuân xưa nào yêu dấu trở về đây
tôi ngỡ trời xanh nồng nàn gọi H
gọi cánh chim trời ngoài cõi chân mây

có những chiều chiều trông mây trải lụa
tôi ngỡ còn đây chút hạnh phúc tơ trời
tôi ngỡ còn đây chuyện nàng công chúa
và những mảnh sao mơ ước đầu đời

có những ngày ngày trôi qua rất chậm
nghe bước thời gian quên lãng mịt mùng
nghe bước chân nào chìm trong vắng lặng
trên bến xuân xuân về... sóng nắng rưng...

H đã bỏ khung trời mộng tưởng cũ
lũ chim rừng ngơ ngác hỏi... vì sao...?
bỏ vầng trăng khuya âm thầm nhỏ lệ
và cành hoa trong thần thoại ngày nào

trời cũ còn đây nhưng không còn nữa
một chút nắng hồng những bước chân vui
xuân đã về đây... H không về nữa...
một nhắc nhở thôi lòng mãi ngậm ngùi?

một nhắc nhở thôi âm thầm vang động
của cung ngà rung lại phím tơ xưa
cho thổn thức cánh mi gầy mở rộng
chỉ có nắng đùa... bóng lá chiều đưa...

và rừng xưa chim xạc xào vỗ cánh
những hàng cây vẫn không dứt thầm thì
vẫn xôn xao về... mặt trời thuở trước
biết trả lời sao, tôi biết nói gì!
 
ở một cõi đời không còn chờ đợi
bóng chiều qua qua đã biết bao lần
ở một cõi trời xa xôi vời vợi
H có vui vì... ngày mới sang xuân?
 
                                  HOÀNG THỊ ĐOAN TRANG
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1975)
 

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

ĐỒI CÁT - Nguyễn thị Ngọc Minh

 

Bóng mát biến mất trên mọi đồi cát khi tôi lên đến đỉnh cao nhất. Nắng như muốn bửa đầu tôi ra. Dưới mái tóc dài sẽ cắt là một phiến não bé như con chí mà Kha vẫn ngạo tôi. Nhưng trong con chí, kiêu hãnh và tội nghiệp thay, chỉ có một chữ Kha. Những con chim cát phiêu quen thuộc sà xuống, lẩn quẩn bên vai tóc, rít trong mỏ nhỏ những tiếng nghịch ngợm. Ngó mông ra tứ bề tám hướng. Cát, cát cát... gần như muốn xóa bỏ cái xã hút hút màu xanh này dưới màu vàng của cát. Gió Tết vẫn còn thổi mù mù nên mấy tay nhiếp ảnh chưa dám léo hánh lên đụn cát săn ảnh.

Nhìn hoài nhìn mãi, những chuyến xe ọp ẹp bò rì rì nơi con đường ép sát giữa đồi cát và bãi đá để vào làng. Tưởng như thấy rõ trong xe những thùng dầu lửa đựng mắm, những tỉn nước mắm chằn chằn dây sóng lá, những thúng gánh lỏn chỏn mấy củ sắn cạnh mớ cá mai, ốc gạo, ốc ruốc... tưởng như nghe rõ cái mùi mằn mặn tanh tanh trộn lộn giữa bể khơi và cá mắm, những cái đầu đập lốp cốp trên thành xe khi xe đi ngang Cầu Đá... Những đôi mắt mệt mỏi gật gà gật gưỡng, những nét mặt thất thần khi xe e dè bò trong vùng Ngọc Hội thơm thơm hương rừng dừa bình an mà ngầm chứa đầy bất trắc. Kha sẽ ngồi đâu, trong chuyến xe nào... Nhớ mấy câu ru má thường hát lúc xưa:

Ngó ra ngoài biển mù chong
Thấy người thiên hạ sao không thấy chàng
Tóc dài sao vội cắt ngang
Thả bay trong gió hai hàng lụy sa

Trường hợp Kha và tôi tối mù hơn những điều mà tôi có thể nghĩ. Má tôi dọa:

"Ông ta mà đặt chân vô nhà nầy là má giết con trước rồi tự tử sau. Đừng nói chi đến chuyện ổng đi hỏi mày."

Cho đến cái xóm làng này, những bà già trầu khụ khị, những đứa con nít mới lớn lên choi choi, ngay cả bọn em gái tôi cũng chẳng có một mống nào bênh vực Kha - trừ tôi. Với họ, Ngạc là mặt trời soi tỏ một vùng biển này. (Họ không cần hiểu là nếu bước ra khỏi xứ còn biết bao nhiêu biển lạ, còn biết bao nhiêu mặt trời khác). Với họ, Kha như một người đàn ông kỳ cục, dị thường và... "không biết điều chút nào hết". Với họ, đám cưới của Ngạc và tôi là một đám cưới lý tưởng bên mọi cặp lý tưởng khác. Làm như má tôi sinh tôi ra là để lấy Ngạc và ngược lại...

Là đôi bạn quen nhau từ hồi còn nhỏ xíu, Ngạc thường dắt tôi rong chơi trên những vườn keo, bãi dứa, rừng dương, rẫy dưa hấu... Cạp chung củ sắn bươi được trên vồng đất đỏ, đắp cát ướt trên chân nhau xây nhà lầu đua rồi một! hai! ba! giậm nát, những đêm xách đèn bão lo khom xuống bãi tum bắt còng gió nướng trên kè đá ăn với muối tiêu chanh, cái tình đó đã tưởng như ruột thịt. Chúng tôi lại nằm trong hai gia đình có tiếng tăm về nhiều mặt ở đây, đó cũng là những sợi dây cột siết hơn thân tình có sẵn hồi xưa.

Ba tôi đẹp cứng, xương xóc, gan lỳ. Má đẹp mềm, nhu nhuyễn mà đảm đang. Bà gầy được vựa tre lớn độc quyền ở sông Bàng từ lúc ba đi, dư sức nuôi mấy đứa con nhỏ. Tôi là con đầu. Con đầu là con nhờ, con cậy, con tin, con tưởng. Là tấm gương đứng khửng để bọn em gái nhìn soi, két biết là bao nhiêu!. Má tôi, ba tôi và ba Ngạc xưa kia ở chung một tổ. Má Ngạc chết trong cơn lụt năm Thìn, Ngạc là con một. Tiệm sách duy nhất ở đây của nhà Ngạc mang tên tôi : Quỳnh Như. Anh chàng nói với tôi, giọng tự tin:

"Thấy chưa, ba đã chọn Như vào gia đình anh hồi Như mới lọt lòng".

Cái sự tin của Ngạc đập phải cái sự tin của tôi kêu lốp cốp. Cái óc Ngạc khác tôi, làm như lý tưởng hơn, hướng về đám đông hơn, ôm nhiều hoài bão hơn (con trai mà). Con mắt Ngạc khác mắt tôi, nhìn bao quát mà xa hơn để quên những tiểu tiết dọc đường. Đó cũng là một cái khuyết của anh chàng (và là một tai nạn chung cho hai đứa, có phải?). Trái tim của Ngạc càng khác tim tôi, một trái tim đeo kính viễn thị như anh chàng. Nhìn chung, Ngạc thật tội nghiệp, những tư tưởng thiên tả như là muốn hăng hái nhiệt cuồng hơn cả người trước (ba tôi, má tôi và ba anh) vẫn không làm Ngạc phồng to hơn chút nào đối với tôi.

Từ chối thẳng thừng "Đừng đi cưới hỏi tôi thất công. Làm sao mình có thể sống chung với nhau. Tôi ích kỷ, hẹp hòi. Lại còn những rắc rối. Liệu anh có thể tha thứ tôi được không?"

Ngạc hớn hở gật đầu:

"Anh hứa, sẽ quên, sẽ tha thứ hết."

"Ồ! Anh hiểu lầm rồi, tôi muốn nói về Kha như một nỗi kiêu hãnh chớ không phải là một lời thú tội".

"Anh tha thứ nhưng tôi không tự tha thứ thì sao. Anh quên nhưng làm sao anh tẩy được chữ Kha trong tôi?"

Ngạc kêu lên:

"Nhưng mà Như, anh yêu em."

Tôi xuýt té xuống đất vì cười. Tôi vẫn dặn Kha:

"Bao giờ ông đi tán thiên hạ nhớ đừng bao giờ cầu viện đến ba chữ anh-yêu-em kẻo thiên hạ cười cho vỡ mũi."

Kha hét vao tai tôi:

"Ê nhỏ, tôi ghét em". Tôi nói rất nhỏ. "Em cũng ghét ông."

Chúng tôi phá lên cười, nhìn thấy ngập trong mắt nhau những chùm tình xanh nở ra, thơm ngát. Làm sao Ngạc có thể nói với tôi những lời ẩn dụ vô ngôn như thế mà đòi trói đời tôi, suốt kiếp!

Chuyện thật vô lý thế mà lại xảy ra. Tôi lắc đầu. Mặc tôi khóc mếu. Mặc tôi lẫy cơm. Có sao đâu. Mồng sáu Tết, tốt ngày giờ kiết là giờ Tuất được chọn làm ngày hỏi nhân dịp tôi và Ngạc về thăm nhà dịp nghỉ Tết. Năm đầu đại học, tôi ở Sàigòn. Sau khi một chuyện dài của Kha đăng tải, thiên hạ khôn ranh như tinh, đồn đãi thấu ngoài nầy, năm thứ nhì, má tôi ra Huế, gởi tôi ở nơi nhà nội của Ngạc.

Kha đâu biết, đi đến đâu thiên hạ bắt hát, tôi chỉ hát độc hai câu "Núi cao chi lắm núi ơi, núi che mặt trời chẳng thấy người thương." Kẻ trường sơn thượng, kẻ trường sơn hạ. Cách nhau cả dãy núi dài. Ngự Bình quá thấp. Tà Dôn, Tà Cú quá thấp. Lâm Viên quá thấp. Nhưng leo lên tận đỉnh vẫn thấy những ai ai. Dạo này Kha đi công cán nhiều nơi. Trên đường từ Huế về thăm nhà ghé qua Sàigòn không bao giờ tôi gặp. Nguệch ngoạc vài chữ.

"Mới về. Đến ngay. Không thấy. Đi đâu mà đi hoài vậy. Ghét quá..."

Chúng tôi, như là được xếp đặt trong một trò chơi đọa đày nào. Tựa hai tên chim tội tình. Con chơi vơi núi Bắc. Con lòa lòa bể Đông...

Hai mươi chín Tết, vào Sàigòn cũng không gặp Kha được. Má tôi dư sức biết đi Sàigòn chỉ là một cái cớ nhưng cũng không ngăn. Ngày tháng tốt đã chọn, tôi chỉ có thể từ chối đám hỏi bằng cách bỏ nhà đi luôn là một việc mà bà chắc rằng không thể nào xảy ra với một con bé phách tấu nhưng nặng tình gia đình như tôi. Tôi đứng nói chuyện với Khiết qua khung cửa sổ vì chìa khóa cửa lớn Kha đã mang đi. Thằng bé Khiết con của Kha là đầu mối của mọi quyết liệt của má tôi.

Bà không hề hay rằng chính bà cũng là cái đầu mối đẩy đưa tôi gặp Kha. Bà không thể đoán ra Kha là cái anh chàng trẻ tuổi đứng sựng nhìn bà cách đây hai mươi năm trên sườn núi Láng Bò. Chính má kể tôi nghe. Hai người cách nhau một sạn đạo lửng lơ trên khe suối hẹp sâu. Nhìn nhau độ mươi phút. Không nói lời nào. Anh chàng rồi đi ngược lại lối đến để nhường sạn đạo cho má. Má không để tâm nhưng sau này lúc sắp về thành, người bạn gái có chuyển đến vài bài thơ chép tay ký tên tắt K.N. nhắc nhở lại buổi trưa sững nắng cây im, sạn đạo chênh vênh của Láng Bò và người con gái tóc dài áo bà ba đen với ruột tượng gạo trên vai.

Má tôi tên Nga. Nguyễn thị Túy Nga. K. phải là tên của anh chàng. Tôi đọc thơ K.N. năm lên mười. Lúc đó, chàng trẻ tuổi tên K. đẹp như một nhân vật cổ tích. Phủ thêm cái ánh xanh biếc sáng lạnh của những bài ca u uất của rừng rú và những ngày ba mới bỏ đi, má hát ru chúng tôi giữa những ngặt nghèo túng bấn dập dồn vẫn không nguôi trong trí nhớ tôi những cảnh tượng người vật hào hùng cao cả. Chiều tà hay khuya khoắt, nắng quái hay mưa đêm, tiếng hát lẻ loi buồn lạnh của má cất lên đủ làm con nhỏ chút chun tám, chín tuổi là tôi nghe thấm tận tủy xương một nỗi gợn tê khó tả.

Những "Bà Tư bán hàng..." "Ai qua miền quê binh khói"... và nhất là cái bài "Chiều nay ra đứng bên bờ suối vắng"

Lặng nghe con chim nó kêu lạc đàn.
Núi rừng đó người đâu chẳng có.
Để dấu chân còn cả trên rừng.
Người đi năm xưa chưa mờ bóng dáng.
Người đi năm xưa vẫn chưa trở về.
Suối rợp lá cành khe đá lấp dấu chân người cũ trên rừng.
Gió trên núi rừng lạnh lắm không có lều mà che.
Mưa trong đêm khuya mờ mịt theo ánh sao rọi đường.
Nước suối cầm hơi hỡi anh đi về đâu.
Đánh cái bọn giặc Pháp giữ cái buôn cái làng.
Đi theo cái khe, theo cái suối, theo dấu chân chỉ đường.

Tất cả, ba má tôi, ba má Ngạc, những giai thoại, những khúc nhạc bi tráng cùng gieo trong Ngạc và tôi những mầm hạt kỳ diệu nhưng nếu ở Ngạc nẩy lên được một thân leo muốn vươn hoài vươn mãi với tham vọng nối kết được bao người thì ở tôi chỉ nở rất lẻ loi một nhúm hoa kỳ khôi phất hương lãng mạn...

Năm mười sáu tuổi, tình cờ đọc tập tùy bút "Khói Rừng Hoang Sơ", thấy lại má mình được vẽ bằng văn xuôi, những sợi văn mỏng, và thơ như khói, tôi rớt nước mắt vì vui mừng khi tìm ra tông tích cái anh chàng K. ngộ nghĩnh đó. Cái thư đầu tiên tôi viết cho Kha với cái vẻ lo sợ và hớn hở của một đứa trẻ con trong trò chơi ú tim lạc giữa rừng cây quanh co bỗng khám phá được nơi hang hốc kia một nhân vật cổ sơ còn sống sót. Bọn bạn gái tôi phần đông đều thích văn Kha. Tụi nó thâu thập ở đâu nhiều giai thoại khá ly kỳ quanh Kha. Sau này chúng nó sỉ vả tôi không tiếc lời khi biết được cái giai thoại ly kỳ nhất của Kha ở sát bên cả bọn. Có lần con Phụng quả quyết Kha nói ra Nha Trang ở nhà một người bạn già, ngôi nhà cổ có hàng nhãn trước nhà.

Đậu xong Tú Hai, Kha là người đầu tiên tôi gặp khi bước xuống Sàigòn. Tôi lơ ngơ láo ngáo trước anh chàng cao ốm lêu nghêu.

"Em nhỏ, em lớn hơn tôi tưởng tượng".

Tôi lấy lại bình tĩnh:

"Em lại cứ tưởng ông già khụ râu ria kia chớ".

Kha nắm tay tôi.

"Để tôi dắt em qua đường".

Tôi rưng rưng muốn khóc. Lãng mạn nghĩ rằng: Phải chi Kha là ba tôi, chắc tôi sẽ tha hồ nhõng nhẽo đòi ông dắt đi chơi quanh quất Sàigòn. Hình ảnh đó làm sao tôi quên. Chiếc va-li lục cục dầu tràm, khăn quàng cổ của mẹ, tôi nhét vào khi tối. Cái giỏ đựng nước mắm, mực khô triều cống cho người thím mà tôi phải vào đó ở mấy ngày đầu. Kha giành xách hết. Và tôi. Nhỏ nhẻ bước sau lưng...

Thỉnh thoảng Kha dừng lại cười mỉm khuyến khích nhìn tôi. Đường tối dần. Những chiếc tắc-xi không còn chỗ trống. Bỗng dâng ngộp trong tôi một nỗi lo sợ nào đó. Bây giờ mới biết rõ. Không phải sợ một Sàigòn mới gặp. Phải nói là tôi chưa bao giờ sợ Sàigòn. Rừng rú đã từng xông pha. Sóng bể cũng đã từng nhồi quật. Xá chi cái thành phố chen chúc tội nghiệp này. Nhưng mà Kha mãi mãi với tôi vẫn là một nhân vật cổ tích. Kha đi trước tôi. Bóng đổ mờ mờ. Nhưng tôi vẫn chưa tin là thật. Ba bỏ tôi đi sớm quá. Đủ xui tôi dồn tất cả tình thương cho người-đàn-ông-đúng-nghĩa-đàn-ông đầu tiên mà tôi gặp.

Thằng bé Khiết là một cái khuôn của Kha thu nhỏ. Tóc đó, như rừng, miệng đó, bìu bĩu cao ngạo cô đơn. Kha gởi nó vào nội trú. Chủ nhật, Kha đón Khiết và tôi, đi đến bất cứ chỗ nào có thể đến được. Bạn bè Kha đông đến khiếp, gặp ai cũng khoe.

"Em gái moa đó. Giống không?"

Thế mà có người đòi giới thiệu mới chết chứ. Anh chàng cười cười.

"Có người đi hỏi nó rồi. Bà cụ hăm moa mẻ răng. Bảo phải giữ gìn nó cẩn thận".

Không như những độc giả ái mộ Kha, tôi ít để ý đến chuyện viết lách của anh. Bực nhất là những chuyện thấp thoáng dáng tôi. Tôi không thích nhiều người bết. Sẽ khó sống yên. Cái màn ngăn nhau quá đẹp. Một người xem một người như thánh. Một người xem một người như tiên. Nhưng hãy để mọi người nhìn và quên ta như rơi nhúm cỏ bên bờ cọng hoa dại trên non. Bởi ước ao tôi, đâu ngoài hai chữ cỏ cây. Như cỏ cây, nhờ nắng gió sương mưa tựa nhau lớn mạnh quên đời riêng quên những hệ lụy quanh ta. Kha không nghe lời tôi.

Huế rộng hơn Nha Trang mà ý tứ, xét nét hơn Nha Trang nhiều. Tôi đi dưới mưa long ngong như con còng gió. Một mình. Mình một. Bơ thờ. Tựa cây. Cây ngã. Tựa bờ. Bờ xiêu. Bờ là Kha là Ngạc hay là những ai ai (những người tôi thương và những người yêu tôi) thì cũng là những bất hạnh như những cánh tay sóng chẳng bao giờ buông tha những lâu đài cát. Chỉ một lần đó. Mưa làm tôi nhớ Kha.

Sáng ba mươi, trên chuyến xe về Nha Trang tôi thấy Kha chở thằng bé Khiết phía trước. Một cái đèn đỏ. Kha rẽ trái. Tôi nhoài người ra. Tiếng kêu nghẹn trong họng. Đêm qua, chờ đến gần giờ giới nghiêm tôi phải về không gặp Kha trước giờ giao thừa má dắt tôi qua nhà Ngạc, trong bóng tối vườn dừa, Ngạc nắm tay tôi. Chiều mồng một tôi bận áo đẹp, quần đẹp đi thẳng ra bể cho đến lúc nước lên dần tới mũi. Rồi quẫy lên như một con cá. Phải chi đừng biết bơi lội thuần thục, tôi hẳn đã là món quà Tết không tệ cho bọn cá mập ngoài khơi.

Má úm tôi bằng mền lớn khi tôi ướt nhớt lập rập láo ngáo thất thần về nhà. Ngủ đi con. Má hát cho con nghe đi má. Cái bài "Chiều nay ra đứng bên bờ suối vắng..." đó má. Lũ em tôi đôi mắt đỏ hoe. Chiều hôm sau tôi mới thức dậy. Có tên bạn ghé nhà. Nó ở Qui Nhơn đang học năm cuối ở trường nữ trung học. Kỳ trại cho học sinh toàn tỉnh ở đảo Hạnh Phúc, tôi chú ý mỗi nó. Con bé từ diện mạo đến tính tình rất con trai. Trong lúc bọn con gái e dè đẩy xô nhau rón rén lội lõm bõm vào bờ thì con bé mượn cây chèo thuyền chống xuống nước búng mình vào bờ như lực sĩ nhảy sào rồi phóng chèo trả lại, phủi tay, xốc ba lô tiến vào đảo. Đêm lửa trại trăng sáng ướt, giữa lúc bà con ca hát diễn kịch quanh soong chè, tôi bỏ ra bãi định bứt vài nhánh rong Mơ óng ả một rừng nơi đáy bể gần bờ, để gởi cho Kha thì gặp con bé nằm hát một mình trên đỉnh một đụn cát. Nó choàng dậy xin tôi một cọng rong Mơ và tự giới thiệu.

"Trên giấy tờ tôi là Đông Ngâm nhưng bạn bè ưa gọi ngược lại. Bồ muốn gọi tên nào tùy ý."

Hai cái tên tố cáo con người nó. Vừa lãng mạn vừa ngông bướng, khi nồng nhiệt lúc lạnh lùng, sống có vẻ rong chơi và khá bất chấp...

Ngâm không ngạc nhiên chút nào hết. Nó ngủ lại với tôi đêm đó. Hỏi tỉnh queo.

"Thế nào? Thú không?"

"Sóng nâng tao lên, mới biết mình không nỡ nhẫn tâm như mình tưởng mình có thể. Mày thử chưa?"

"Mới tuần trước. Tao ngồi trên cửa sổ lầu của lớp học. Muốn mọi người nghĩ là một tai nạn nên không nhắm hướng. Bèn bị rơi xuống một tấm chắn của cửa sổ tầng dưới. Hỏng bét. Cũng may là tụi bạn tưởng tao trúng gió".

"Đông Ngâm! Ngó bộ mày hạnh phúc quá chừng mà. Chẳng lẽ cái chuyện bị đuổi vĩnh viễn ra khỏi trường đối với mày quan trọng như vậy sao?"

"Đời nào. Chẳng qua, cơn điên khùng đó đến từ một lúc nào không rõ."

Tôi úp mặt vào gối:

"Tiêm dùm tao chút can đảm của mày."

"Ngược lại, mày can đảm hơn tao nhiều. Nếu là mày thì giờ khắc này có lẽ tao đang ngồi hối hận về một chuyện gì đó rồi. Ngộ nghĩnh nhất là trong thông cáo đuổi tao phổ biến toàn trường cái tội của tao đã được gọi là "vi phạm đạo đức học đường". Riêng nhóm dân Q.N, ở xa, Tết mới về thăm thì xếp mày và tao chung vô một nhóm: Lãng mạn. Tiếu ngạo kể gì chưa. Lãng mạn cũng là một tội lỗi nữa sao. Tội đã gì nặng hơn người đàn bà bị ném đá trên đỉnh Olive. Thì hãy tiếp tục lối đi ngẩng cao phách tấu như lâu nay. Những bàn tay run rẩy bám đầy bụi bẩn chưa rửa sạch làm sao liệng đá thấu mình..."

Những lời của Đông Ngâm càng làm tôi buồn bã, ngậm miệng chua xót hơn. Sáng hôm sau nó về, không hề biết giờ tuất, mồng sáu Tết năm Quý Sửu này lối đi nghinh ngông chỉ còn mỗi nó. Hay nói khác đi đúng vào giờ đó, nó chính là cái bóng của tôi phóng ra ngoài. Phần xác còn lại được trói bởi những ngón tay ướt run của Ngạc. Những bước của đời riêng phải cắt. Ba má của Đông Ngâm đều phóng khoáng, họ tin tưởng đứa con gái út nghênh ngang như con trai đủ khôn ngoan để quyết định mọi chuyện và họ chưa bao giờ thất vọng. Nhưng tôi, tôi còn hai đứa em gái.

"Bộ mày muốn đổi nửa đời hạnh phúc của mày lấy vài năm sung sướng của những người thân sao?"

Má tôi khóc khi nói với tôi:

"Nếu con lấy cái ông hơn con đến mười mấy tuổi đó thì cầm bằng như con giết chết cuộc đời của hai đứa em con. Má thì già rồi. Chỉ mong gả xong ba đứa là yên lòng nhắm mắt."

Những viên đá tứ phương thập hướng thiên hạ liệng đến không làm con nhỏ bướng bỉnh như tôi bị đau nhưng làm sao tôi vui vẻ sống bên Kha khi những người thân của tôi nhào ra hứng đỡ.

Tôi chạy thốc lên ngọn hải đăng bỏ hoang đầu mũi đá. Trước đèn lò những tảng đá khổng lồ từa tựa những cái đầu của đàn bà, trông như một loại vọng phu đặc biệt. Sau hải đăng là nghĩa địa. Những nấm mộ hình hộp chữ nhật dằn đầy đá và vỏ sò, ốc để chặn cát bay. Cổng vào có bốn chữ khắc: "Chờ Ngày Sống Lại." Những lần bướng bỉnh đòi uống cà phê để tim mệt ngất, khi tỉnh lại, tôi tươi tắn trối:

"Lỡ như em có gì gì nhớ nói má chôn em ở ghềnh Đá Hòn Chồng. Nằm đó nhìn trời rộng, mong buồn xa, nghe dương liễu hát và ấp giấc mơ: "Chờ ngày sống lại..."

Bạn bè Kha trêu tôi là ba-bi-lắc. Ly sữa trắng của tôi cạnh ly cà phê đen của Kha có vẻ bố con thế nào ấy. Thằng bé Khiết thì đòi trộn cả hai cho nó.

"Thấy không nhỏ, Khiết cần cả em lẫn tôi."

Tôi cười khúc khích:

"Bảo nó gắng chờ ngày em sống lại."

Tôi đứng ngoài bao lơn của chót hải đăng. Nắng quái tà úa hanh hao. Gió phần phật áo quần. Sóng như chụp rồi tuôn giàn giụa từng dòng trắng xóa trên những kè đá lổn  ngổn dẫn ra đảo nhỏ. Mùa nầy, năm ngoái có một thằng bé chết vì sẩy chân trên đỉnh hải đăng. Dạo đó đèn bỏ hoang, chuột cống lúc ngúc to bằng bắp chân người làm thằng bé hết hồn thối lui đến vấp té nhào xuống thang. Mẹ nó hóa điên. Người ta đổ thừa vì bà định tái giá với ông tàu già nên thằng bé giận mẹ tự tử. Cái con bé Đâm Ngông, như là thích rơi và phiêu chớ không phải là tự tử. Riêng tôi, chắc sẽ không có lần thứ hai. Chết trong đời sống hay sống trong đời chết thì cũng vậy mà thôi...

Rồi Kha đến, như dông như bão. Rồi Kha đến, như mơ như ảo. Đôi tay Kha lỏng lơ:

"Hành lý anh đâu?"

"Em sẽ là."

"Nói kỳ cục chưa. Giờ Tuất nầy là giờ kiết, đám hỏi sẽ cử hành."

"Anh dự được không?"

"Em đâu có quen anh."

"Anh sẽ nhìn người quen của má."

"Không được đâu."

Cơn mưa đổ xuống đầm đầm cát cỏ. Những cọng cỏ kim hình chong chong nhọn hoắt hồi đó mang vào tận Sàigòn cho Kha. Lẫy một chút là anh chàng châm cỏ vào tay tôi đau điếng.

"Em nhỏ, những lời nói của em đâm tôi đau hơn thế nữa."

Kha hét để át tiếng mưa:

"Khiết bệnh từ lúc em đi. Nó đòi anh gọi cô Như về chơi với nó."

Tôi cũng hét cho tiếng mưa nhỏ lại, lần này thì không cười được:

"Anh thấy cái cổng kia không? Biểu Khiết gắng chờ ngày em sống lại."

Mắt Kha long lanh:

"Đứa con đầu lòng gắng sanh con gái nha."

"Chi vậy?"

"Con gái sanh năm Quý tốt, hai đứa mình làm sui gia"...

"Nhảm, em là Quý Tỵ nè, có sung sướng chi đâu. Thôi rán chờ nghe ông bạn lớn của em. Như là má mắc nợ anh chưa trả, đời em cũng chưa trả xong, em sẽ nhờ con gái em trả dùm".

"Anh nói chuyện đứng đắn mà. Nào nghéo tay đi. Để hứa mình sẽ là sui gia."

Ngón tay út Kha móc vào ngón tay út tôi. Cứa hoài không đứt. Phải hạ một đao thật ngọt. Nhầy nhưa nhỏ máu hoài sao. Tôi hạ giọng theo nhịp mưa:

"Anh chờ tối không được đâu. Hình như còn một chuyến xe chiều chót về Phan thôi. Sáng mai di chuyển sáu giờ về sớm Sàigòn kẻo Khiết mong"...

Ngón tay Kha rời. Tôi tần ngần nơi bao lơn. Ngón tay út áp lên cằm. Còn ấm nóng. Chiếc xe cuối dời Mũi Né lăn chậm qua khúc lượn dưới chân đồi cát ẩn hiện sau những hàng dừa. Tôi muốn đứng tim khi xe dừng lại một phút ở Sa Thạch. Nhưng không có chi. Một người đón xe dọc đường. Chiếc xe lại lăn, lắc lư lắc lư như thể một ngón tay cứa một ngón tay, chưa muốn đứt...

Chiều mù. Xe đã khuất. Gió lạnh hơi cát sương. Những bước chân Kha còn in rõ mồn một trên cát ẩm. Bước xoãi dài. Dễ chừng bằng hai bước của tôi. Nhớ bài hát hồi đó má thường ru ngủ:

... "Đặt chân lên dấu chân người đã khuất
Trồng cây hoa lên dấu chân của người
Suối ngừng xối, rừng thôi khoe lá
Để bóng mơ người cũ lại về..."

Tôi đặt bàn chân nhỏ của tôi lên dấu chân to lớn của Kha. Ngạc đứng đó tự bao giờ. Mặt Ngạc xám ngoét, anh lầm rầm trong miệng: "Nhưng anh vẫn yêu em, nhưng anh vẫn yêu em"...

Trên lối về nhà, tôi khóc ngất bên Ngạc. Cái điệp khúc anh-yêu-em cứ được nhắc đi nhắc lại hoài nhưng tôi chẳng còn hơi sức nào để cười anh nữa.


Nguyễn thị Ngọc Minh        

(Trích từ giai phẩm Văn số tháng 8-1973)
 

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2024

ME TÂY - Bình Nguyên Lộc

 

Minh toan mở cửa xe thì một giọng âm ấm sau lưng chàng nổi lên :

- Xin lỗi ông, tôi bắt xe trước !

Chàng quay lại thì thấy một thiếu phụ định qua mặt chàng để giành lấy chốt cửa xe. Chàng nhìn người tài xế, lặng thinh, nhưng hất hàm để hỏi thầm :

- Ai kêu xe anh trước ? Tùy anh quyết định đó.

- Ai kêu thì tôi không biết, nhưng tôi thấy ông ra hiệu nên ghé lại.

Minh mỉm cười nhìn thiếu phụ và cũng cứ nói thầm bằng mắt :

- Cô thấy hay không ? Tôi có quyền.

Thiếu phụ cũng mỉm cười gượng gạo và cũng nói thầm :

- Thôi thì ông lên vậy.

Bỗng người con trai may mắn nầy thừ người ra. Chàng chợt để ý đến thiếu phụ và nhận ra rằng chẳng những nàng đẹp mà thôi, nàng còn hạp nhãn chàng nữa.

Trên đời nầy không thiếu gì người đẹp. Nhưng không phải hễ đẹp là được đàn ông mê đâu. Có nhiều vẻ đẹp, mà mỗi người đàn ông chỉ bị một vẻ đẹp nào đó quyến rũ thôi. Thấy vẻ đẹp ấy, người kia bị lung lay cả thần kinh hệ như là bị sét đánh. Hạp nhãn là như thế ấy.

Minh liền nhớ ra rằng giọng cô nầy ấm, khác xa với giọng trong trẻo của phần đông phụ nữ khác. Cái giọng nói kia mà người ta đặt tên là giọng thổ, và không được hoan nghinh nơi người đàn bà, Minh lại thích. Chàng để ý rằng phụ nữ nào có giọng thổ cũng có bản ngã đặc biệt, luôn luôn vượt ra sự tầm thường.

Do dự một giây, Minh nói :

- Theo phép lịch sự thì tôi phải nhường cho cô, mặc dầu tôi có quyền, nhưng tôi lại gấp đi công việc riêng, nên thôi, xin mời cô cùng lên rồi ta chia hai tiền xe... À anh tài nầy, anh có phản đối hay không ?

Người tài xế cười đáp :

- Bà con đi xe như vậy, riêng tôi, tôi không bị thiệt hại gì hết. Chỉ một đồng nghiệp của tôi là thiệt mất một cuốc xe thôi. Nhưng mà... ế quá thì tôi cũng xin không phản đối.

Minh mở cửa xe đưa tay lặng mời thiếu phụ lên trước.

Chàng đóng cửa xe lại rồi nói :

- À quên, tôi quên hỏi cô đi về đâu ?

- Em về Phú Nhuận.

- Vậy à ! May quá, tôi cũng về đó.

Minh nói láo, chàng chỉ ra chợ Bến Thành thôi, nhưng muốn ngồi gần cho thật lâu với người đàn bà nầy nên chàng không ngại tốn tiền. Không ngại vì đường xa, cũng không ngại vì phải trả bao. Phải, nếu cùng đi tới một nơi với nhau thì chàng trả một mình, đẹp hơn là bắt thiếu phụ chịu phân nửa như đã đề nghị thế cho thiếu phụ an lòng mà nhận lời.

Minh cố lì lắm. Đáng lý ra chàng phải ngồi phía trước với tài xế, trong một trường hợp như vậy. Nhưng chàng giả đò quên chi tiết lịch sự ấy đi.

Người bạn đường của chàng có vẻ là một người đàn bà hơn là một cô gái. Không phải là vì tuổi tác đâu. Lắm cô gái lỡ thì đã ba mươi mà vẫn còn phong độ tươi mát như chiếc áo mới gói cất lâu năm. Cô nầy chắc chưa được hai mươi lăm, nhưng không còn tươi lắm.

- Thưa cô, cô ở Phú Nhuận mà lối nào, xin cho biết để xe chạy cho đúng đường.

- Em xuống nơi nào mà thầy xuống ấy.

- Không, tôi không thể cho cô biết nơi tôi xuống được.

- Như vậy thì xin bỏ em trước nha quận Tân Bình.

- Sao cô không về thẳng nhà ?

- Em cũng không cho thầy biết nơi em xuống.

Cả hai cùng cười, Minh thì cười vì thấy thiếu phụ trả đũa ngay, còn thiếu phụ thì chắc cũng cười vì cách trả thù nhỏ mọn của mình.

Minh đoán rằng chồng cô ta ghen dữ tợn lắm nên cô ta không cho chàng đưa về đến nhà. Nhưng không hiểu sao, chàng lại có linh giác rằng cô ta không có chồng. Ừ, cô ta là đàn bà, đành vậy. Nhưng có khối người đàn bà không có chồng trên đời nầy.

Có lẽ thấy người ta đẹp, chàng mong thầm như vậy thôi chớ có dấu hiệu gì đâu, chứng tỏ là cô ta không chồng, còn trái lại nữa là khác.

Xe chạy sao mau quá, chưa chi đã qua cầu Kiệu rồi. Thôi, chỉ còn độ hai phút nữa thì chia tay, biết bao giờ mới gặp lại nhau.

Minh không cho xe chạy khi giai nữ xuống trước quận Tân Bình. Chàng cố ý đợi xem cô ấy đi về hướng nào. Nhưng cô ta tinh khôn lắm, nên cũng không chịu đi.

Rốt cuộc chàng nhượng bộ, vì đồng hồ cứ nhảy và số tiền cứ tăng lên từng phút một.

Minh ngỡ đây chẳng qua là cuộc gặp gỡ hay hay như bao nhiêu cuộc gặp gỡ khác thôi, rồi một tuần lễ sau là chàng quên mất người ngọc. Nhưng mười ngày qua mà bóng dáng thiếu phụ quen mười phút kia cứ lảng vảng trước mắt chàng.

Chàng đã đi Phú Nhuận mấy lần, không hy vọng gì nơi người đàn bà có chồng kia, nhưng chỉ cần thấy mặt cô ta thôi.

Mấy xóm nhà quanh đó đều bị chàng lục lạo, nhưng vô hiệu quả. Con chim trời bay đi là bay mất biết phương nao mà tìm.

Người ta nói chứng bịnh tương tư chỉ là câu chuyện bịa của bọn văn sĩ ngày xưa thôi, nhưng Minh nghe rõ là bịnh đó có thật. Chàng không nghe đau đớn gì cả, cũng chẳng đau khổ chút nào. Còn buồn thì chỉ thoáng buồn sơ sơ thôi chứ không buồn thấm thía như cái lần đầu mà chàng bị tình phụ.

Nhưng lạ sao, chàng ăn không biết ngon, mà dỗ giấc ngủ lại khó vô cùng. Gặp bạn, họ cho chàng hay là gương mặt của chàng sầu thảm lắm. Không, chàng có buồn nhiều đâu mà đến đổi lộ ra mặt !

Hôm ấy, Minh đi từ phía Quốc Hội để lên hiệu sách Xuân Thu. Một anh thợ nhiếp ảnh đứng thẳng người, nện gót giày kêu cái rụp như kiểu quân nhân chào. Đoạn hắn chìa ra một tấm thẻ. Không thích chụp ảnh vì biết mình không ăn ảnh lắm, nhưng bận lo ra, Minh đưa tay nhận lấy thẻ.

Nhưng anh thợ trẻ măng kia nói :

- Xin lỗi ông, em chụp cô kia.

Cô kia là một người đàn bà đi sau chàng một vài bước, bên hông tay mặt của chàng. Nãy giờ chàng có nghe tiếng giày của cô ta, nhưng không để tâm tới. Từ ngày gặp gỡ, không còn người đàn bà nào trên đời mà đáng kể nữa cả, đối với chàng.

Minh tức giận vì bị việt vị nên toan cự người con trai thợ ảnh. Hắn hoảng sợ nói :

- Nhưng rồi em lại chụp ông.

Nhưng nó không chụp chàng được vì, thấy người đàn bà từ chối tấm thẻ, chàng day lại nhìn cô ta rồi đứng lặng ra, không day mặt trở lại nữa.

Thiếu phụ cũng chưng hửng, nhưng nàng không ngạc nhiên lâu và chào Minh :

- Chào ông, ông mạnh giỏi ?

Minh ngậm câm không nói được một lời. Chính sự ngây người của chàng khiến thiếu phụ cảm động vì nó hùng biện quá nói nhiều hơn lời chào mừng vồn vã nào cả.

Thiếu phụ bỗng hiểu được rằng người con trai nầy đã yêu nàng và đã nghĩ đến nàng luôn từ khi gặp gỡ. Có lẽ hắn đã đi tìm nàng cũng nên. Ấy đờn bà họ tinh tế lắm, đoán hiểu thấu tận đáy lòng mình.

Vì vậy khi Minh mở miệng được là lời nói của chàng linh nghiệm ngay. Chàng mời thiếu phụ đi ăn kem, và cô nầy nhận lời liền.

Minh biết rằng chàng không liều lần nầy thì không còn hy vọng gì cả, vì cô ấy sẽ mất tăm nữa, khó lòng có một dịp may thứ hai xảy đến. Chàng nói :

- Tôi vẫn biết là bất tiện, nhưng tôi thề không ghé thăm cô, tôi chỉ đi ngang nhà thôi, nếu cô cho biết chỗ ở.

Thiếu phụ suy nghĩ giây lát rồi thở dài :

- Ông đừng có hiểu lầm. Em không có chồng mà sợ chồng ghen... nhưng quả là bất tiện. Hay là để em đến thăm ông.

Minh mừng rỡ nói :

- Cũng hay và tạm được.

Rồi chàng đưa danh thiếp ra.

Thật là kỳ dị, chàng nghĩ, sau khi tạm biệt người quen. Nếu câu chuyện xảy ra ở thôn quê, hoặc ở nơi biệt tịch nào thì chàng không khỏi nghĩ đến hồ-ly, những cô gái ma đẹp tuyệt trần đột ngột đến và luôn luôn giữ bí mật về chỗ ở của họ.

Minh còn lầm ở một điểm nữa là thiếu phụ không dễ dãi như chàng mong. Gái đến nhà trai, trai làm sao khỏi nghĩ như vậy. Nhưng cô gái đứng đắn quá, chàng phải nể mà không dám sỗ sàng.

Nàng tên là Hương, Lưu Thị Hương, sống một mình và tự nuôi sống lấy. Minh chỉ biết được có thế thôi, sau một tháng trời kết tình bằng hữu với nhau.

Bí mật phủ lấy đời tư thiếu phụ, đã nuôi nấng sự tò mò của người con trai nầy, và nuôi nấng tình yêu của chàng cho đến đổi chúng trưởng thành lên.

Minh thấy mối tình ngây thơ của chàng biến thành một mối tình lớn, và nếu không lấy được Hương chàng sẽ đau khổ không biết bao nhiêu.

Chàng nghĩ đến nát trí mới tìm được mưu sau đây : thuê một người để theo dấu Hương khi nàng ra khỏi nhà chàng. Người ấy được đưa tiền trước cho có đủ phương tiện : thuê xe, ăn quán v.v... nếu cần.

Và rốt cuộc chàng biết được cô gái ma nầy.

Hôm chàng đến đó, lòng chàng hồi hộp vô cùng. Thiếu phụ ở đường Nguyễn Minh Chiếu. Người theo dấu tả rõ là khi xuống trạm chót của ô-tô vàng thì đi vào hướng phi trường Tân Sơn Nhứt. Vừa ra khỏi nghĩa địa là đến nhà cô ta, ở phía đối diện với nghĩa địa. Số 718/2.

Nghĩa địa ? Nàng là ma chăng ? Minh đi qua nghĩa địa và thấy đối diện với bãi tha ma, một đám đất rộng trên đó người ta trồng cải sà lách son. Người theo dấu dặn rõ ràng là ngõ hẻm nầy.

718/2. Không phải nhà Hương chăng ? Nhà lá tồi tàn quả không xứng đáng với con người đẹp và ăn mặc sang kia. Nhưng rõ ràng là Hương đang ngồi may trước một bàn máy đặt sát vách.

Khi bước vào sân, Minh thấy bạn ngước lên và giật nẩy mình. Hương sợ đến tái mặt lúc Minh vào nhà.

- Tôi xin lỗi cô, Minh nói, tôi quá đường đột vào cấm cung, Nhưng xin cô biết giùm nỗi lòng tôi...

Hương không buồn hỏi vì sao chàng tìm được nhà nầy. Nàng chỉ ngồi thừ ra như là những gì quí báu trong đời nàng vừa đổ vỡ.

Chủ nhà quên bãi buôi với khách, khiến khách phải tìm đầu đề câu chuyện cho đỡ lạnh không khí.

- Thưa cô, cô sống về nghề may ?

Minh hỏi thế vì chàng thấy hàng vải nhiều lắm trên bộ ván sau lưng nàng. Bấy giờ chủ nhà mới tươi tỉnh lại đôi phần và đáp :

- Thưa phải, nhưng em kiếm không đủ ăn. Lãnh đồ trong xóm giá nhẹ lắm. Em phải lãnh thêm đồ ren và đồ thêu tay của hiệu Mỹ Trang ở đường Tự Do mới đủ xây xài trong một tháng.

Minh nhớ ra rằng Hương đã kể đời nàng về mười mấy năm về trước, nàng là nữ sinh trường nhà trắng, nên giỏi việc thêu thùa.

Minh ngó ra sân để nhìn lại cái cây cảnh mà chàng đã trông thấy hồi nãy. Cái sân còn hẹp lắm, nhưng vì chủ nhà trồng có mỗi một cây ấy thôi nên xem nó rộng thênh thang ra.

Cây cao độ một thước. Nói là bụi cây thì đúng hơn, vì thân cây gồm bốn năm cọng mọc chùm với nhau. Thân cây màu tía, có lông, hệt như cây trúc, lá cũng ốm và dài như lá trúc. Nếu không có màu tía, và trông xa người ta sẽ ngỡ đó là một khóm trúc kiểng, tức là thứ trúc nhỏ cây, trồng ở dưới chơn các non bộ.

Minh ngạc nhiên lắm mà thấy gia chủ trang trí sân nhà bằng bụi cây không đẹp đẽ chút nào ấy.

- Cây nầy là cây gì, thưa cô ?

- Dạ, cây me tây.

- Me tây ?

- Dạ. Lá của nó dùng để nấu canh chua, Nó chua như lá me. Còn Tây là tánh người mình hễ cái gì lạ là cho gốc Tây, Tàu cả : Ổi Tây, gà Tàu, xoài Huê Kỳ.

- Me, nhưng không giống me chút xíu nào...

- ... Còn Tây thì cũng phải Tây.

- Chắc cô ưa ăn canh chua lắm ?

- Thưa không !

- Vậy không lẽ cô trồng cây nầy để làm cảnh ?

- Đó chỉ là tượng trưng thôi, để nói rằng me Tây mà không phải me Tây.

Minh còn ngơ ngác chưa hiểu gì thì bỗng chàng thấy một đứa bé da đen độ bốn tuổi, từ đâu đàng xóm chạy vào sân.

Thằng bé đen mông mốc, tóc quăn quíu như một đống ruột gà bằng thép nhuyễn, vừa chạy vô nhà vừa khóc :

- Má ơi thằng Hiệu nó đánh con !

Minh kinh ngạc đến cực độ. Người đàn bà xinh đẹp và có nhiều học thức nầy lại là me Tây? Trời ơi, sao lại có chuyện trớ trêu như vầy ?

Hương ôm con vào lòng, hôn lên tóc quăn của nó, tình thương con của nàng thật và đậm đà vô cùng. Nàng dỗ dành :

- Ừ để rồi má đánh nó. Hận con nè, con không chào ông đây à ?

Bé Hận, cái tên kỳ dị nhỉ, day lại chào khách rất là Việt Nam, rồi lại dông đi chơi nữa.

Mắt của Minh thầm hỏi rất nhiều, Hương nhìn cái lưng đen của thằng bé đang mất hút ngoài xa, rồi bỗng nàng bụm mặt mà khóc òa.

Minh không dám thốt ra một lời nhưng chàng biết rằng sắp được rõ bí mật của đời bạn.

Quả nhiên khi đã bớt hơi, Hương ngước lên phân trần.

- Anh đã thỏa tò mò chưa ? Có ích lợi gì không cái hiếu kỳ của anh ? Bà Hoàng Hậu Trung Hoa thuở xưa khi đau nặng, đã từ chối không cho Hoàng đế vào thăm. Và vị Hoàng đế đó đã biết điều hơn anh.

- Có một khi kia, cô nghèo lắm à ? - Minh đánh bạo hỏi.

- Không. Bao giờ em cũng chỉ nghèo thế nầy thôi chưa đến phải lấy Tây. Nhưng lúc đó em tản cư về quê với má em. Rồi thì anh đã hiểu chuyện gì đã xảy ra trong ấy. Đó là một quân nhân An-giê-ri. Nó hiếp em chỉ có một lần mà để hận cho em đến bạc đầu. Em đã đặt tên nó là Lưu Trường Hận.

Minh nghe đau nhói nơi tim chàng như ai đã chọc một que nhọn vào đó. Giọng run run, chàng nói nghẹn ngào vì xúc động :

- Em... em Hương... anh mặc kệ... anh vẫn yêu em như hôm qua đây và sẽ yêu em mãi mãi.

Hương cười khanh khách và cười dài nghe rất ghê rợn rồi đáp :

- Không, anh lầm. Lòng anh đã gạt gẫm anh trong nhứt thời. Về sau, anh sẽ xấu hổ đến muốn bỏ trốn đi vì cái vết hoen ố trên đời của em, cái vết đen không bao giờ tẩy được. Em thương con em lắm. Lòng mẹ nơi em, đã ngăn em đưa nó vào Cô - Nhi - Viện để em rảnh tay làm lại cuộc đời - điều mà má em luôn luôn đốc xúi lúc má em còn sinh tiền. Như vậy trước mắt anh lúc nào cũng có cái gai chĩa ra. Không, anh lầm...

- Anh thề với em rằng...

- Vô ích, em hiểu lòng người nhiều lắm rồi. Thật là đáng tiếc ! Anh đã vỡ mộng đẹp, nhưng đó chỉ là sự trừng phạt xứng đáng tính tò mò của anh. Còn em có tội gì đâu mà cũng bị trừng phạt ? Em sẽ mất một người bạn đồng tâm hiệp ý, nguồn an ủi độc nhất của đời em...

- Không tình bạn giữa...

- Anh nên về, và đừng bao giờ trở lại đây nữa !

Minh chưa về ngay. Chàng ngồi đó để nhìn bạn khóc, không biết trong bao lâu.

Khi chàng trở ra sân, nhìn lại bụi me Tây, chàng mới hiểu được ý nghĩa tượng trưng của cây kiểng kỳ lạ đó : me Tây mà không phải me Tây, me Tây bất đắc dĩ chỉ bị miệng đời gọi vậy thôi, chớ thật ra...

(Tầm Nguyên, 1957)      
BÌNH NGUYÊN LỘC   

 (Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng) 

Thứ Năm, 11 tháng 1, 2024

CÁI TẨY - Nhất Linh

 

Nếu không có một việc cần bất ngờ, thì có lẽ cả đời không bao giờ Vượng đi tới con đường quê hẻo lánh ấy. Đã thế ôtô đương đi tự nhiên ngừng hẳn lại. Thấy gần đấy có một cái chợ và mấy lớp nhà, Vượng để mặc tài xế chữa xe, đi rẽ xuống một con đường nhỏ tìm quán uống nước.

Chàng vào một cửa hàng tạp hóa, đưa mắt nhìn xem có chai nước chanh nào không. Bỗng chàng ngạc nhiên, kêu:

- Anh!

Một người mặc áo cộc trắng đương ngồi cặm cụi cho lạc rang vào chai, ngửng nhìn Vượng một hồi lâu, rồi đứng thẳng dậy như cái máy, reo một tiếng thật to, và cũng kêu như Vượng:

- Anh!

Vượng còn đương đứng ngẩn người nhìn bạn từ đầu đến chân, thì người bạn đã nhảy xuống đất rồi cứ chân không chạy ra kéo tay Vượng vào:

- Phải, tôi đây. Huy đây! "Huy địa dư" đây!

Vượng không ngờ đâu người bạn học cùng một trường với chàng đã hai lần đi thi tú tài, nay đương ngồi cho lạc vào chai ở một cửa hàng tạp hóa nhỏ, cạnh một chợ quê tiều tụy.

Huy gọi với vào trong nhà bảo pha nước, hỏi chuyện rối rít, làm Vượng không kịp trả lời: tuy vậy, Huy vẫn không quên cho nốt chỗ lạc rang còn thừa vào chai. Chàng lấy một cuốn sổ mỏng gập đôi lại rồi thả lạc trôi dần dần vào chai, và phồng má thổi mạnh cho vỏ lạc bay ra ngoài.

Vượng chưa kịp nói câu gì, vì chưa biết bắt đầu ra sao. Vừa mới nói được một tiếng "anh" thì bạn đã gật lấy gật để đáp ngay:

- Phải tôi.

Vượng gắt:

- Ai chẳng biết là anh. Nhưng anh làm gì ở đây?

Huy đáp:

- Nhà tôi đây... Anh chưa biết à?... Mà anh biết làm sao được. Anh ở Tây về bao giờ?

- Tôi về đã hai năm nay.

- Đỗ gì rồi?

- Đỗ kỹ sư.

- Khá đấy!

Huy khen bạn một cách thản nhiên không mảy may lộ chút thèm muốn, hình như đã lâu lắm chàng không nghĩ đến những sự thi cử, học hành...

Một người đàn bà không đẹp không xấu, mặc áo nâu cài khuy, chân đi guốc ở trong nhà bước ra. Huy nói khẽ:

- Nhà tôi...

Rồi chàng chỉ Vượng giới thiệu với vợ:

- Đây là bác ký Vượng ở trên Thái xuống chơi. Mình bảo nó làm cơm bác xơi.

Vượng lấy làm lạ không hiểu tại sao Huy tại tự tiện cho mình là một ông ký. Chàng mỉm cười ngẫm nghĩ:

- Có lẽ vì trong kỹ sư có chữ kỹ, đổi một cái dấu thì thành ký ngay.

Vượng không hỏi bạn vì lẽ gì, đành tạm cho mình là một ông ký vậy. Chàng từ chối không nhận ăn cơm, lấy cớ chỉ đợi tài xế chữa xe xong, lại phải đi ngay. Huy hỏi khẽ:

- Bác đi ôtô... Ôtô của bác? Thế thì bác bảo tài xế ở ngoài xe đừng vào đây, sợ nhà tôi biết. Rồi tôi sẽ cho bác hiểu vì sao.

Thấy có người vào mua hàng, Huy vội đứng lên:

- Xin lỗi bác...

Chàng tươi cười hỏi khách:

- Chè đầu xuân mới về, tôi vẫn để dành ông một bao đấy.

Chàng rút ra một bao, mở nắp để mũi vào hít ngửi mấy cái, rồi cẩn thận gói đưa cho khách, vừa đưa vừa thân mật hỏi:

- Thế nào, ông đã lo được tiền đăng cai cho cháu chưa?

Vượng để ý nhìn bạn vẫn thấy bình tĩnh như thường, không lộ vẻ khó chịu vì phải nói một câu đãi bôi, trái với ý tưởng. Chàng ngẫm nghĩ:

- Cái học trong bấy lâu thật vất đi cả... Hay là anh đã đổi cả tâm tính đi rồi.

Vượng lắc đầu chán nản, vì chàng nghĩ rằng sự nghèo khổ không nguy hiểm cho người ta bằng sự trụy lạc về tinh thần.

*

Người nhà bưng mâm cơm lên và đặt ngay ở giữa giường.

Đồ ăn tuy nhiều nhưng vì để trong những cái đĩa đàn trên một cái mâm gỗ đã bong sơn, nên trông không có vẻ ngon lành.

Vượng quay mặt cho bạn khỏi ngượng, vì chàng đoán chắc bạn cũng ngượng như chàng. Huy ngồi vào mâm so đũa nhìn mâm cơm, nói với Vượng:

- Hôm nay không phải phiên chợ, bác xơi tạm bữa cơm dưa muối. Thức ăn đã chẳng có gì, mà người nhà lại vụng về.

Nói vậy, nhưng Vượng thấy bạn có vẻ mặt khoái trá của người sắp được dự một bữa tiệc rất sang; chàng thấy bạn so những chiếc đũa sơn cong queo một cách âu yếm, và gượng nhẹ đặt ngay ngắn bên cạnh mâm.

Vượng thấy nét mặt và cử chỉ của bạn có vẻ tự nhiên, là những nét mặt và cử chỉ vẫn thường có hàng ngày chứ không phải tô tạo ra để cốt làm vui lòng một người bạn.

Ăn cơm xong thì trời vừa chiều. Huy rủ Vượng ra hiên sau ngồi uống nước.

Bên cạnh một giàn mướp đầy hoa vàng có để một cái bàn cũ và cái ghế tre dài. Vượng vừa hút thuốc lá vừa nhìn ra: cái cảnh khu cánh đồng bùn lầy, nước đọng phẳng lì đến tận chân trời gieo vào tâm trí chàng một nỗi buồn mênh mang, với những ý tưởng chán nản về cuộc đời sống ở những chốn quê hẻo lánh.

Bên một cái giậu nứa đã đổ nghiêng dưới sức nặng của những cây mồng tơi, một con lợn sề gầy gò, ve vẩy đuôi, lê bụng đi từ từ giữa một đàn lợn con chạy loăng quăng.

Huy ngả người vào lưng ghế, giang thẳng hai tay có vẻ khoan khoái bảo Vượng:

- Cái hiên này, mùa hè đến, mát lắm.

Vượng thấy bạn có vẻ hồn nhiên lạ lùng, hình như từ thủa bé chàng vẫn sống trong cái cảnh này, và chàng còn muốn sống trong cái cảnh đó cho hết đời. Lúc ấy Vượng mới nhận ra rằng mình buồn, mình thương bạn, không phải vì thấy bạn gặp cảnh nghèo, mà thật ra vì thấy bạn không thể nào thoát khỏi cảnh nghèo được, không có sức để cất đầu lên được nữa. Chàng lẩm bẩm một câu bằng tiếng Pháp:

- Thật là hết!

Chàng toan nói cho Huy rõ ý tưởng đó, nhưng chàng biết là vô ích, nên lại thôi. Huy không sao hiểu được nữa.

Hai người ngồi yên lặng một lúc lâu. Bỗng Huy quay lại phía Vượng hỏi đột ngột như đã đoán được ý nghĩ vấn vương trong óc bạn:

- Anh thấy tôi đổi khác trước nhiều có phải không? Bảy tám năm rồi còn gì?

Trời tối hẳn; Vượng và Huy không nhìn rõ mặt nhau, nhưng tiếng nói của Huy vẫn đều đều lọt vào tai Vượng; lúc nói chuyện, hai người cùng sống trở lại những ngày vô tư lự của cái đời học trò chín năm trước. Có tiếng vợ Huy ở trong nhà hỏi:

- Sao mình không thắp đèn lên?

Huy vội ngắt lời vợ:

- Thôi, không cần.

Rồi chàng lại bắt đầu kể chuyện cho Vượng nghe:

- ... Thế là tôi rớt về địa dư và lịch sử, mặc dầu anh em đã gọi tôi là "Huy địa dư".

Vượng nói:

- Anh rớt, có lẽ vì tại anh học thuộc quá, thuộc cả chấm câu, chấm phẩy và số trang.

Huy cười:

- Anh không nhớ có lần làm bài về địa dư, tôi bắt đầu ngay bằng một câu: "Như tôi đã nói ở trang 45, mục 7..." nghĩa là tôi cứ viết theo nguyên văn trong sách. Của đáng tội, trí học của tôi không lấy gì làm sáng suốt cho lắm, tôi chỉ được một cái chăm và học thuộc lòng. Mà chăm như thế, chỉ vì cốt thi đỗ để lấy Liên. Chắc anh đã biết Liên?

- Lạ gì, Liên con cụ Tuần Đạo.

- Chính đó. Nhưng năm đầu tôi rớt, Liên và nhà Liên đành lòng đợi tôi năm sau. Cái mộng được làm một ông tham, lại được lấy một người đẹp, con nhà giầu, cái mộng to lớn nhất trong đời tôi lúc đó, vì thế vẫn còn. Tôi chăm học bằng hai năm trước và học thuộc lòng cũng gấp hai trước... Thế rồi chỉ vì một cái tẩy...

Nói đến đây, Huy cười khẽ một cái, với điếu thuốc lá, đánh diêm châm hút.

- Kỳ thi năm sau, tôi trả lời các bài trôi chảy cả. Chỉ còn địa dư và lịch sử, tôi để lại sau cùng. Lúc vào phòng thi, tôi lo sợ phấp phỏng. Ông giáo chấm thi hỏi tôi câu đầu, tôi đáp ngay được. Ông bằng lòng lắm. Ông tươi cười toan cho nốt, nhưng gió quạt máy cứ chực lật tờ giấy chấm thi. Sẵn có cái tẩy, ông lấy chặn lên một góc giấy. Nhưng cái tẩy không chịu được sức gió, lăn ra ngoài, giấy cuốn cong chạm vào bút; ông hất ra mấy lần không được, đập tay xuống tỏ vẻ khó chịu và bảo tôi ra tắt quạt máy đi.

Ông hỏi sang địa dư... Thấy trán ông lấm tấm mồ hôi, sợ ông vì nóng quá đâm ra gắt gỏng nên tôi ra vặn quạt cho chạy. Ông mỉm cười khen:

- Tốt lắm, con ạ. (Très bien, mon enfant).

"Con" sung sướng lắm, hỏi đâu đáp đấy, trôi như nước chảy.

Ông cầm bút cho nốt và tiện tay lấy cái tẩy chặn lên góc giấy. Tôi lo lắm, chỉ lo tẩy nhẹ quá, gió lại hất giấy vào bút làm ông phát bẳn không cho nốt cao. Hai mắt tôi nhìn đăm đăm vào cái tẩy như bị thôi miên. Cái tẩy khẽ rung động. Tôi lẩm nhẩm:

- Này nó sắp lăn... nó sắp lăn.

Cái tẩy lăn đi một vòng. Tôi nín hơi đợi, nhưng vì lúc đó sức gió yếu, nên nó đứng lại ngay. Cái tẩy lại rung động, tờ giấy lật mạnh; thấy cái tẩy bị hất ra ngoài, sắp lăn xuống đất, tôi nghiêng người toan chạy lại; ông giáo vừa cho xong nốt, nhưng bị tờ giấy hắt vào bút, mực dây cả ra tay.

Ông ngửng nhìn tôi, và thấy tôi đương nghiêng người về đằng trước, chăm chú vào tờ giấy cho nốt, có vẻ khả nghi. Ông đập bàn:

- Được lắm, anh muốn nhìn nốt, tôi sẽ dạy cho anh cách nhìn nốt... Anh vừa gan vừa khéo nịnh... à, tôi nhớ ra... lúc nãy anh vặn quạt máy cốt để giấy lật, anh nhìn nốt cho rõ.

Ông liền xóa nốt cũ đi, cho tôi một con số khác, không phải hình quả trứng thì cũng hình cái gậy.

Lẽ cố nhiên là tôi rớt. Nhà cô Liên và cô Liên lẽ cố nhiên là không đợi tôi và đợi chức tham biện với số lương hơn trăm đồng mong ước kia. Tôi đau, tôi khổ, tôi kêu trời, kêu đất mất gần nửa tháng. Trí tôi không lúc nào không nghĩ đến cái tẩy. Nếu cái tẩy ấy nó nặng hơn một tí, một tí nữa thôi, thì tôi đã đỗ, cô Liên đã lấy tôi, tôi đã sung sướng...

Huy ngừng lại một lúc lâu, rồi nói tiếp một cách chậm rãi như cân nhắc từng tiếng:

- Bỗng một hôm tôi nghĩ ra. Tôi sực tỉnh. Tôi tự bảo: nếu bao nhiêu điều mình mơ ước, nếu hy vọng của cả đời mình chỉ dựa vào cái tẩy bé con, một cái tẩy khốn nạn, vô lý, thì hạnh phúc ở đời mình không thể nào chắc được. Đi đuổi tốn công. Phải làm thế nào cho hạnh phúc ở đời phải ở mình, chỉ ở mình thôi.

Huy nhắc lại:

- Hạnh phúc chỉ ở lòng mình, hạnh phúc chỉ ở sự yên tĩnh của tâm hồn. Khi mình đã có cái bình tĩnh đó, thì không cái tẩy nào làm mất được, thật là chắc chắn, kiên cố. Thế là từ hôm đó, tôi khỏi buồn, người tôi đổi khác hẳn. Tôi lăn lộn rất nhiều nơi, có lúc làm lụng vất vả trong các nhà máy, các hầm mỏ, có lúc giầu, có lúc nghèo... Ngồi bán chè ở cái chốn quê xơ xác này, nhưng chỉ cảnh ngộ đổi khác, còn ở trong vẫn không thay đổi. Nếu cái tẩy làm tôi vất vả thì trái lại nó đã cho tôi thấy hạnh phúc trong tám năm nay.

Một hôm lang thang đến đây tôi gặp nhà tôi, tính ra đến nay đã được hơn một năm. Tôi chưa biết là ở tạm, hay là ở hẳn vì đằng nào cũng vậy. Nhà tôi không rõ quãng đời trước của tôi, tôi phải tự tiện cho anh là một ông ký, vì tôi làm gì có một người bạn kỹ sư, sang trọng, có ôtô nhà như anh.

Huy cười nói thật khẽ:

- Nhà tôi cứ tưởng là tôi cũng dốt như nhà tôi vậy.

Mặt trăng từ từ lên sau mấy thân cau viền trắng; ánh trăng chiếu vào in rõ lên quần áo Huy những bông lá mướp gió lay động. Vượng lại nhìn rõ nét mặt bạn. Nhưng bây giờ chàng thấy bao nhiêu những ý tưởng buồn bã, chán nản về bạn tự nhiên tiêu tan hết.

 
NHẤT LINH         
 
(Trích từ tập truyện ngắn Hai Buổi Chiều Vàng) 
 
 

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2024

TRẢ THÙ - Khái Hưng

 
Vừa nghĩ mưu trả thù, vừa cố dành tiền để thi hành cái mưu sâu ấy, Lưu đã loay hoay, chật vật hơn hai tháng.

Lưu làm việc nhà buôn, trọ và ăn cơm tháng ở nhà một ông thơ ký Sở Công chính. Và Lưu đã chăm chỉ học thêm để sửa soạn dự một kỳ thi gì đó.

Kẻ thù của Lưu là bà chủ nhà, một người đàn bà đảm đang yêu chồng, yêu con, nhịn ăn nhịn mặc để chồng con khỏi thiếu thốn.

Nhưng một mình bà hy sinh, bà cho là chưa đủ. Bà còn muốn người khác hy sinh cho chồng con bà nữa. Người khác ấy là
Lưu.

Lưu ngày hai buổi bận việc bán hàng. Trưa về được rỗi tất phải nghỉ ngơi. Vậy thì giờ học tập chỉ có thể về đêm. Vì thế nhiều khi anh thức tới một hai giờ sáng. Và vì thế bà chủ nhà luôn mồm kêu ca.

Trước bà còn mắng chửi đầy tớ không biết cần kiệm, giữ gìn bếp, lúc nào cũng sáng trưng, phung phí quá, để mỗi tháng bà phải trả tới năm, sáu đồng bạc điện. Sự thực món tiền điện tháng của nhà bà chưa bao giờ lên quá bốn đồng. Lưu hiểu rằng bà phán nói cạnh mình, nhưng anh cũng mặc. Mình cần phải học kíp, biết làm thế nào! Và anh lặng thinh mỉm cười, mỗi lần nghe tiếng bà chủ đứng cửa sổ dưới nhà réo xuống bếp giục đầy tớ tắt đèn, tuy ngoài buồng anh, các buồng khác đều không có một tia ánh sáng.

Về sau bà chủ xoay chiến lược. Bà thân mật khuyên Lưu:

- Ông thức khuya quá, như thế có yếu người đi không? Độ rầy trông ông gầy lắm. Ông ạ, ở đời chả gì bằng sức khỏe, tội gì mà cặm cụi.

Lưu cảm động trả lời:

- Xin cảm ơn bà, nhưng tôi sắp phải thi đến nơi rồi, không thức khuya để học thì không kịp mất.

Nói xa xôi mà không xong, nói tử nói tế cũng không xong, bà phán đành bảo thẳng cho Lưu biết:

- Mấy tháng này, vì ông thức đêm mà tiền điện tăng lên gấp đôi... Hay ông... mua lấy một cây đèn dầu hỏa mà thắp cho đỡ tốn.

Lưu đã toan kháng cự lại, vì anh cho một chục bạc tiền tháng của anh đủ trả rộng rãi hai bữa cơm xoàng và dăm giờ đèn điện. Nhưng chợt nghĩ đến cái đức tính lắm mồm lắm miệng của người đàn bà nội trợ đảm đang, anh lại thôi và chỉ mỉm cười, tức tối, hằn học.

Từ đó Lưu để ý vào việc trả thù.

Và một hôm, anh tìm được ra một mưu. Anh sung sướng với cái mưu ấy đến nỗi nghe bà chủ quát tháo, và nói ý tứ, anh bật lên tiếng hát.

Rồi sau hai tháng nhịn quà sáng, nhịn tiêu vặt, nhịn đi xe, anh có một món tiền để dành đủ mua... các vật liệu để báo thù. Đó là một cái đèn thủy tinh với cái chụp giấy xanh xinh đẹp, và một gói buộc dây rất kín đáo chặt chẽ.

Đi qua nhà dưới, - vì anh ở một phòng nhỏ trên gác - Lưu dềnh dàng và uể oải đặt các thức vừa mua xuống ghế ngựa. Bà chủ chạy ra sửng sốt:

- Ông mua đèn cho ai thế?

Sau cái thở dài mệt nhọc, Lưu đáp:

- Thưa bà, mua cho tôi... để dùng... đấy ạ.

Và trong khi bà chủ cố giấu sung sướng, lặng lẽ đứng nhìn, Lưu nói luôn:

- Từ nay tôi không cần đến đèn điện nữa.

Bà chủ chợt ngượng với khách trọ, ngập ngừng một nói câu đãi bôi:

- Tôi nói thế thì nói, nhưng ông cứ dùng đèn điện chứ tội gì lại thắp đèn dầu...

Chưa cho là đủ, bà còn tiếp thêm:

- Để đèn mười giờ thì có hề gì... có tốn mấy...

Lưu, giọng mỉa mai:

- Thưa bà được ạ, làm việc dưới ánh đèn dầu đỡ hại mắt hơn dưới ánh đèn điện.

Bà chủ nhà bám ngay lấy ý tưởng ấy:

- Thế à? Ông nói tôi mới biết đấy... Thảo nào mà ngày nay người mình nhiều người cận thị. Các cụ mình ngày xưa có ai phải đeo kính cận thị đâu? Thì ra vì đèn điện.

Bắt đầu từ hôm ấy, Lưu giữ lời, không hề mó tới cái vặn đèn điện. Bà chủ nhà không khỏi ngờ vực rằng đêm khuya chờ cho cả nhà ngủ yên, Lưu mới dùng tới đèn điện. Nhưng luôn mấy hôm, lần nào rón rén lên gác nhòm vào phòng Lưu, bà cũng thấy ông khách trọ ngồi trước cây đèn chụp xanh.

Bà cảm động. Và hối hận nữa. Hối hận rằng đã không được nhã nhặn với Lưu. Bà cố ăn ở tử tế kéo lại. Có buổi sáng bà đã mời Lưu dùng điểm tâm với chồng con bà.

*

Nhưng tháng ấy tiền điện lại tăng hơn hết mọi tháng trước.

Bà phán không hiểu sao. Bà buồn bực, khổ sở than phiền và ngờ cho sở điện tính sai hay tính gian. Bà phàn nàn với chồng. Bà phàn nàn với Lưu. Lưu phân trần:

- Thưa bà, quả thực cả tháng tôi không bật qua tới ngọn đèn điện.

Bà chủ vội đỡ lời:

- Vâng tôi vẫn biết thế.

Có một điều bà không biết là cùng với cây đèn Lưu đã mua một cái ấm điện, mà chàng dùng luôn để đun nước uống, nước rửa mặt, và cả nước đổ đi nữa, mục đích chỉ làm tốn thực nhiều điện cho bà chủ nhà cay nghiệt.

Lưu đã trả xong thù và vẫn được tiếng tốt là một người biết điều.
 
 
KHÁI HƯNG     
 
(Trích từ tập truyện ngắn Đội Mũ Lệch)
 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

ÁNH SÁNG - Hoàng Đạo

 

- Phở có nóng không bác?

- Nóng.

- Vậy bác bán cho tôi ba xu.

Cậu bé đặt sáu đồng trinh lên mặt gánh, lặng yên đứng nhìn người bán phở nhấc môi bánh nóng hôi hôi đặt vào bát. Hơi nóng trong nồi nước dùng bay tỏa ra từng đám trắng, gió chiều thổi tạt về đầu phố.

Bằng đứng phía cuối gió, đương thẫn thờ cúi xuống nhìn cỏ, bỗng giật mình ngước mắt lên. Vô tình ngọn gió đã đột ngột đem theo mùi thơm ngào ngạt làm giác quan chàng rung động. Bằng quen tay thò vào túi, và sực nhớ rằng đồng hào cuối cùng chàng đã tiêu hết từ chiều hôm trước, cả gia tài chỉ còn một đồng trinh.

Lại một làn gió thơm đưa tới, nhẹ nhàng vờn mớ tóc rối của Bằng. Như đột nhiên nghĩ đến một việc cần, Bằng hấp tấp rảo bước đi thật nhanh. Qua gánh phở, chàng ngoảnh mặt chăm chú nhìn một bông hồng lách qua giậu sắt, rung rinh trước gió, hình như không nghe thấy tiếng hàng phở chào:

- Mời thầy mua cho một bát.

Thực thì Bằng vẫn nghe rõ lắm. Nhưng chàng không muốn lên tiếng từ chối trong khi lòng chàng rạo rực nôn nao. Chàng đói. Chàng đói lắm: từ sáng đến giờ, chưa có một hột cơm nào trong bụng, mà cứ thế lang thang hết phố này sang phố khác.

Bằng lang thang đi tìm việc làm. Đã hai tháng nay, từ hôm Sở dầu thải hơn sáu chục người làm công, không có ngày nào là Bằng không đi như vậy. Chàng chỉ biết có một nghề đánh máy chữ và tính sổ, mặc dầu cha mẹ chàng xưa kia chuyên nghề làm ruộng. Đáng lẽ như người khác, Bằng bây giờ đã vác cày ra đồng, khó nhọc kiếm lấy miếng ăn dưới ánh nắng thiêu, trong những ruộng lầy. Nhưng thuở nhỏ chàng chăm chỉ và thông minh hơn trẻ khác, nên cha mẹ chàng cố nuôi chàng ăn học, có mấy sào ruộng bán dần đi hết. Bằng vì thế trở nên một thầy ký. Công việc có nhẹ nhàng nhưng cảnh người làm công, cảnh bức bách. Có điều mỗi lúc về quê, họ hàng đối với chàng đều có vẻ trọng vọng tôn kính. Còn chàng chắc cũng an phận, nếu kinh tế không khủng hoảng. Nhưng đã gần một năm nay, sở nào cũng nghe thấy nói đến việc thải người làm. Trong Sở dầu, anh em thường thì thầm bàn đến một cách sợ sệt. Duy ai nấy cũng thầm tưởng, thầm mong rằng có thải cũng không đến mình. Bỗng một hôm, đương lúc mọi người cặm cụi làm việc, người loong toong chạy vào:

- Mời các ông lên quan Đốc gọi.

Trong phòng giấy rộng rãi, sang trọng, ông Đốc đứng nghiêm trang trong bộ áo là nếp thẳng thắn. Ông cám ơn mọi người đã làm hết phận sự, rồi ông tỏ nỗi lòng ông băn khoăn, khổ sở mấy hôm vừa qua:

- Các ông ạ, sự khủng hoảng bắt buộc chúng tôi phải rời các ông, tôi lấy làm tiếc vô hạn. Tôi mong sẽ có ngày kia, kinh tế vững chãi và các ông sẽ lại về làm ở đây.

Nói xong, ông Đốc xem vừa ý lắm, thắt lại cái cà vạt, vuốt lại mái tóc mượt, vẻ mặt sung sướng khoan khoái, ông bước lên xe ô tô hòm giục tài xế đưa đến một khách sạn sang để dự bữa tiệc chiều.

Trong khi ấy, các ông Ký bị thải ngơ ngác nhìn nhau, rồi buồn bã người nào trở về nhà nấy với mâm cơm cà và rau muống luộc.

*

Ngày theo ngày, những ngày dài dằng dặc, những ngày ngồi rỗi với một tâm hồn chán nản, với cuộc tương lai mập mờ bất trắc. Mâm cơm cà và rau muống dần dần cũng không có nữa. Bằng đã tới cái cảnh ngao ngán ấy. Về quê làm nghề nông thì không còn một thửa ruộng - Bằng cũng tự biết không đủ sức cầy sâu, cuốc bẫm - và làm thợ thì không biết nghề gì, Bằng chỉ còn mong tìm được một chân bàn giấy. Chàng tiêu dần hết cả tiền dành dụm, mà không có chút hy vọng nào.

Ngày hôm nay, chàng không còn một đồng xu dính túi. Đã vậy, chủ nhà, bà Cai Đá, lại nhất định đòi tiền thuê nhà, và sau một hồi thuyết lý mỉa mai, bà ta hẹn lại cho Bằng đến sáng mai phải trả, nếu không thì đứng trách.

- Đừng trách!

Bằng nhếch mép cười một cách chua chát, tâm trí đầy rẫy nỗi uất ức, tức giận. Chàng ngẫm nghĩ:

- Dốt nát ngu xuẩn như mụ Cai Đá thì chỉ việc ngồi duỗi mà sống một cách sung sướng đầy đủ, còn mình muốn làm vất vả cả ngày để nuôi thân mà cũng không được. Ông trời bất công thực.

Bằng ngửa mặt nhìn lên không trung. Trời chiều trong xanh như ngọc thạch. Mấy đám mây hồng nhẹ nhàng trôi. Bằng cảm thấy rõ sự vô lý của lòng oán hận một cảnh vật vô tình, thản nhiên...

Bỗng chàng giật mình. Một tiếng còi gắt gỏng, một câu nói bẳn và một cái xe ô tô vụt qua trước mặt chàng. Chỉ chậm một giây nữa thì Bằng bị Ô tô cán phải. Thì ra chàng bước xuống đường nhựa lúc nào không biết.

Sợ hãi, Bằng lùi lên bờ hè, mới hay mình ở trước vườn hoa nha Đốc lý. Mệt nhọc, chàng ném mình xuống một cái ghế dài gần đấy, ôn lại cái nạn vừa xảy ra:

- Thật là chết hụt!

Ngẫm nghĩ, chàng tắc lưỡi:

- Chà! Chết mà lại hay... Sống khổ sở thế này thì cũng chẳng nên sống làm gì.

Thở dài, chàng xua đuổi ý nghĩ chán nản nhìn ra chung quanh. Trời đã nhá nhem tối, những bông cúc trắng rung rinh trong ánh sáng mờ mờ khiến Bằng nhớ đến cảnh xa hoa của tết năm nào.

Có tiếng nói sẽ như đáp lại ý nghĩ của Bằng:

- Lạy thầy dón tay làm phúc.

Trông người ăn mày hốc hác, rách rưới, đứng chĩa tay trước mặt, Bằng nở một nụ cười buồn tênh, lắc đầu ra hiệu rằng mình không có tiền. Người ăn mày vẫn nhẫn nhục đứng lải nhải xin. Bằng đứng dậy móc túi lấy đồng trinh còn lại ném cho, rồi vừa đi vừa nói một mình:

- Thế là hết.

Chàng lần theo những phố đông đúc, trong lòng thấy vui vui vì đã cứu một người nghèo khó hơn mình. Thấy đói và mệt, chàng dừng lại nhìn một cửa hàng bán vàng bạc, tò mò ngắm nghía những chiếc nhẫn dát kim cương lóng lánh bên cạnh mấy đôi xuyến huyền nạm vàng.

- Nếu ta có một chiếc xuyến kia nhỉ?

Bỗng một ý nghĩ bất chính nẩy ra trong trí Bằng. Như muốn tránh sự cám dỗ, chàng ngoảnh nhìn sang một cửa hàng ở dãy bên kia phố. Trong khung kính, mấy miếng xúc xích đương lơ lửng trên vài chiếc bánh tây ngon lành, và những chiếc bánh sữa đương phơi màu vàng ngọt dưới ánh điện sáng trưng. Bằng rùng mình, tưởng tượng ra một bữa tiệc long trọng, những chiếc bánh đặt trong giỏ mây bên cạnh những cốc pha lê trắng muốt, những đĩa thịt thơm thọ Bằng rùng mình, vì ý nghĩ chiếm đoạt tiền của người khác đã hình thành trong óc chàng và xui giục chàng thò tay vào lấy trộm chiếc xuyến.

- Họ có mất chiếc xuyến cũng không sao, mà ta lại được một bữa cơm ngon.

Bằng thò đầu vào cửa hàng bỏ vắng, bỗng chàng nhìn thấy bóng trong gương, mặt mày len lét, bơ phờ. Chàng kêu rú lên một tiếng rồi cắm cổ chạy như tội nhân đi trốn.

Về đến nhà, Bằng mới hoàn hồn, chàng nằm vật xuống phản, thở hồng hộc, như vừa mới thoát khỏi một cái nạn to: thiếu chút nữa, chàng đã thành một thắng ăn cắp. Nhưng nghĩ đến cách sống ngày mai, Bằng càng bối rối. Biết làm gì mà nuôi được thân bây giờ, ngoài việc bất chính? Hay là đi hành khất? Bằng nhớ lại người ăn mày ở vườn hoa Đốc lý, nhớ lại cái nạn ô tô suýt nữa xảy ra. Chàng than thở:

- Nó chẳng đè chết đi cho rảnh chuyện.

Một tư tưởng vụt ra trong trí, khiến chàng thẫn thờ lẩm nhẩm:

- Âu là...

Rồi Bằng ôm mặt nức nở khóc.

*

Mặt trời đã lên cao. ánh nắng êm đềm xiên qua cửa sổ. Bà Cai Đá trỗi dậy, với lấy ống nhổ, gọi con sen:

- Đỏ, mày chạy xuống đòi thầy Bằng tiền nhà đi.

Rồi bà lẩm bẩm:

- Lần này mà không trả thì bà bảo cho. Đã hai tháng của người ta rồi, mà cứ chây ra, người đâu mà trơ đến thế!

Con sen vừa mới bước xuống cầu thang, bà Cai Đá khoác vội cái áo dài, chạy liền theo, nét mặt hầm hầm.

Đến cửa phòng Bằng ở, bỗng bà đứng dừng lại, ngạc nhiên. Bà trông thấy Bằng ngồi trên thành cửa sổ tay gõ dịp xuống tường, miệng hát nghêu ngao...

- Thế nào, thầy trả tiền nhà tôi đi chứ?

Như không nghe thấy câu hỏi của bà Cai, Bằng cúi hẳn người ra ngoài, nhìn chòm lá long não phấp phới rung rinh trước gió, tươi cười như một cô con gái nhí nhảnh. Bằng không hiểu sao mình vẫn còn sống mà ra đây nhìn ánh sáng và chàng lấy làm lạ rằng sao lúc nãy chàng lại cảm thấy một cách đằm thắm hơn mọi khi, cái vui, cái đẹp của đời.

 
HOÀNG ĐẠO         
 
(Trích từ tập truyện ngắn Tiếng Đàn)
 

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2024

NGỰA HÍ ĐẦU NON - Vũ Hữu Định

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mẹ thương con một đời lận đận
Thường thở than : con số long đong
Sinh nhằm tuổi ngọ, đêm vừa hết
Mặt trời lên cất vó chạy rong

Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn
Mẹ gánh con một đầu thúng ngủ vùi
Một đầu thúng lư hương, khoai, sắn
Mẹ gánh vượt đèo, vượt rú gian nan

Khi hai vó con vừa đứng vững
Tiếng hí đời con vừa sửa giọng người
Đã theo mẹ đêm đêm qua xóm
Xách đèn rao khoai sắn cầm hơi

Hai vó ngựa một đời lận đận
Lóc cóc khua vang khắp nẻo thị thành
Cũng không mua nổi cơm và áo
Những ngày đông thương đời mẹ mong manh

Nhớ đêm mưa trong mái nghèo úng nước
Mẹ thức cùng con giọng kể bùi ngùi
- Cha con xưa cũng nhằm tuổi ngọ
Đường gian nan đã chạy suốt kiếp người

Bây giờ ngựa đã phi lên núi
Đời buộc thêm cương chỉ một đường đi
Có những buổi chiều đầu non uống rượu
Nhớ mẹ, thương em, ngựa hí tiếng gì?

                                                Vũ Hữu Định

(Trích từ giai phẩm VĂN số tháng 8-1973)