Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn thị Ngọc Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn thị Ngọc Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

RỒI BỖNG DƯNG ĐÁ KHÓC - Ngọc Minh


Phớt một mầu tím thạch, phớt một mầu túy ngà, những mảng mây cơ hồ chưa muốn thức cũng như tôi bao giờ cũng tiếc rẻ khi phải bỏ biển lên bờ vừa khi mặt trời lên, kẻo người người tuôn xuống, biển sẽ không còn là của riêng ta. Thân thẳng, tay ấp giữa ngực và bụng, sóng vỗ đập vào tai và hai bên sườn nghe óc a óc ách. Hôm bắt gặp tôi nằm trên mặt nước trong tư thế nầy, Y đứng trong bờ hét vọng ra: "Ê! Bộ bồ muốn biểu diễn nguyên lý Archimède hả?" Tưởng tượng hắn như con chồn giả vờ khen con quạ hát hay để ngoạm lấy miếng bánh rớt. Vì nếu ngu ngốc há miệng ra đối đáp với hắn thì có lẽ rồi tôi cũng bị mất thăng bằng vì tức cười. Bèn le lưỡi trêu cho hắn tức rồi xếp mắt.
 
Lúc mới tập cho tôi, anh Diên đã căn dặn: "Nằm trên biển rộng, mặt đối với trời bao la, cũng phải trải rộng óc não, đừng để vướng víu một chút gì, người phải nhẹ tênh không lo nghĩ, và nhất là tâm phải tịnh, xao động một tí là chết chìm chẳng ai thương ra cứu đâu nghe". Rồi anh Diên đẩy tôi ra như đẩy một khúc chuối, bè tre, như một thanh củi rều. Hồi nhỏ anh tập xe đạp cho, đi được một tí là khoái chí cười để bị té hoài. Bây giờ sẹo không để lên chân mà là những ngụm nước biển chui vào. Cái bọn nước biển trong xanh ngọt mắt thế mà nếm vô mặn lè đắng chát.
 
Hốt nhiên, tôi lo lắng nhận ra mình trôi đã khá xa bờ biển vắng. Mặt trời không nương tay chiếu lên thi thể tôi những tia cực kỳ gay gắt. Nước mắt không chịu ứa vì tôi đã gan lỳ dỗ dành: "Coi kìa, một mình, đó không phải là lối nhỏ mà mình muốn lách qua hay sao?"
 
Tưởng ông ta sẽ bực dọc nạt nộ: "Biết mi lớn lối như thế này ta sẽ bỏ mi ngoài khơi cho mi chết luôn" Khi vào đến bờ tôi còn phải nhăn nhó: "Cháu có nhờ bác lôi cháu vào đâu. Cháu dư sức bơi vào mà. Đâu có gì là xa" Nhưng ông ta chỉ vỗ đầu tôi: "Một là muốn tự tử, hai là em mơ màng quá đỗi. Xếp em vô hạng thứ hai đúng hơn. Tôi biết. Vì con trai tôi là bạn của em." Rồi ông ta bỏ đi.
 
Những bài toán sau đó càng khiến tôi cau có thêm từ nỗi bực dọc trên bể. Một cái gì đó không rõ làm óc hơi rối, không bình tĩnh như mọi sáng. Bàn sau, Bạch Huy đá giầy tôi bốc bốc: "Con khỉ! Lúc lắc đầu hoài, nhểu nước lung tung trên vở tao". Nhìn sang phía con trai, cố tìm ra nét tương đồng giữa ông già khi sáng và một ông tướng nào đó. Có lẽ ông ta gạt chơi. Vì lớp đâu có nhiều, 27 tên (thập tứ nữ anh hào và thập tam thái bảo, tụi nó vẫn tự hào xưng như vậy) thân thiết và rành rẽ lý lịch nhau thuộc đến cả tên ba má lận kia.
 
Những tiếng chuông cắt ngang giờ toán thường thì nghe dễ ghét nhưng hôm nay rất mực dễ thương. Cái phòng của 12B3 như là rung rinh cái cửa sổ vì 27 cái miệng cùng hét lên khi vị giám thị Hồng Cao Đoàn (tự 63,6) cho biết nghỉ hai giờ giữa. Cả bọn kéo rốc đi, huyên náo những dãy hành lang qua.
 
Rồi phòng trống kín, tay chắp dưới ót, nhìn những ô xanh bể nhòa nhập trên trần, ngoài ô cửa xanh lá, những chùm còng vàng thòng đầu vào, bầu trời thì lơ thơ, quanh ta là những khoảng xanh ngọt mắt. Nhưng hình như đã nhạt mờ rồi, chút xanh trong lòng ta hồn nhiên một thuở. Cái gọi là kỷ niệm, nhắc, không bao giờ hết, nhớ, chẳng khi nào đủ, và thường, ôi tim nào chứa cho vừa. Từ cái thuở Thất, Lục jupe trắng, mà thắt cho một con bính cho thật dài, tha hồ chơi giành cột, đập banh, tượng đồng biết đi ở khoảng sân gần giếng trúc. Thầy Phạm Thiên Sinh vẫn thường gọi cưng cái lớp Lục Tư của mình là "Bọn Búp Bê của tôi". Mr. Sher "bụng tốt" thì hay đùa với cái tiếng Việt lơ lớ của ông "Tôi thích dạy các cô con gái nhỏ chứ tôi không thích dạy các con heo nhỏ". Bấm nhau cười, cả lớp chui xuống nhặt những bao me, đậu phọng da cá lổn nhổn đầy lớp. Hôm sau thầy thưởng mỗi đứa một cái bánh ngọt. Đệ Tứ, Đệ Tam, vẫn chưa được gọi là lớn. Những chiều mưa đổ ầm ì, cô Quán cho bọn nhà lá tản cư lên những bàn đầu tránh cho nước dột để nghe cô kể chuyện kinh dị của E. A. Poe. Nhớ cô Thoa và những chữ Hán lăng quăng với cái lối đọc rất Tàu của cô. Hè bắt đầu chọn ban và xa cô, hai ba lớp kéo đến ngồi đầy khoảng sân rộng hát ca đến khuya lơ lắc, trăng lên lạnh ướt.
 
Và bây giờ, sắp chính thức rời trường, tôi có thể nói (mà không còn ngại sẽ bị ngộ nhận là ngụy biện để bào chữa) rằng trước khi biến cố đó xảy ra, chỉ có trong tôi một lòng rất thành, cũng như một tình rất chân. Biến cố đó như bàn tay khổng lồ ấn chiếc cổ nhỏ của tôi để mắt không còn mơ mà phải trừng trừng ráo hoảnh đối diện với một sự thật táo bạo. Dạo đó, một mình thu thân xòe mười ngón gầy chống đỡ những cọng gai xương rồng nhức nhối kéo theo những cơn kích ngất, tôi thấm thía hơn bao giờ hết lời dặn dò của anh Diên: "Tâm hồn người không như tâm hồn mình. Nên chân thành thường đồng nghĩa với ngu ngốc, rồi sẽ thấy rõ rằng, không ai thương ta bằng ta. Mọi người tìm đến nhau chỉ vì họ tự thương họ mà thôi". Bove chẳng nói rằng "Mối tình đầu và cuối của chúng ta là yêu mình" đó sao. Anh Tịnh thì nhận xét khác: "Cái vẻ tách bạch, phách tấu một mình của mi chỉ là cái vỏ tội nghiệp. Chẳng qua mi ưa lẫy đó thôi. Mỗi lần gặp bạn bè, mi cười nói huyên thuyên như con nhỏ chưa từng biết thế nào là khóc. Tôi chỉ sống đời riêng. Con người đâu phải lúc nào cũng tạo nên địa ngục cho nhau."
 
Này những tên ngộ nghĩnh dễ thương của ta. Lê Nga trẻ thơ ngổ ngáo. Trần Được mắt xanh núng nính má phị. Thanh Bình gầy như liễu, cái dáng thơ thật thơ mà tâm hồn cứng cỏi. Phương Mai mảnh như hạc, một thời nuôi dưỡng hồn ta. Mỹ Lệ, tên bạn có tính khí ngang tàng rất con trai như cái dáng lẫm liệt của hắn nhưng tình rất chân... Và Nhân, Tài, Triều, Tam, Anh, Sáng, Giang, Minh... Điều bi thảm nhất, chắc không phải là những tiếng khóc, tràng cười chúng ta gây cho nhau, mà có phải là mầm bội bạc quên lãng phôi pha ấp sẵn trong lòng mỗi người tuổi trẻ.
 
Tuổi trẻ có những lúc nhẫn tâm một cách ngây thơ vô tội không trách được. (Nhẫn tâm chớ không bao giờ là ác tâm của tuổi già mưu tính). Chỉ cần vài bày tỏ cảm thông của vị giáo sư triết dịu dàng như bố cũng đủ cho tôi vui và gắng quên mọi cố chấp để tiếp tục đến trường trong những tháng còn lại. Như thế, có phải tôi đã mang nghĩa nặng với một số giáo sư tận tình giúp đỡ và binh vực cùng toàn thể bạn bẻ bên mười hai. Và có phải, tôi cũng phải cảm tạ luôn những vị giáo sư tận tình trừng trị đồng thời gán cho tội trạng tôi cái tên thật hay ho "đã chủ trương một tờ báo có tính cách vi phạm học đường".
 
Trong khoảng thời gian lêu bêu thần trí, long đong tâm não đó, tôi vẫn nghĩ giá như cò Y hẳn mọi sự sẽ dễ thở hơn nhờ những câu tiếu lâm cũng như tiếng hát luôn nằm trên cửa miệng của hắn. Hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng mà tôi còn giữ về Y là một buổi trưa nắng lửa. Từ trường ra xe long dong về ngang cầu Nai có ai gọi tên. Nhìn quanh quất không ai, ngẩng lên mặt trời chói mắt, ngẩng xuống lại chói mắt vì hai đóm mặt trời đen của Y. Tôi hét lên: "Trời ơi làm sao chui xuống cầu tắm được hay quá vậy ta". Hắn huýt sáo một đoạn Hạ trắng, ơi một lần nữa (ơi, lần cuối mà không hay) tên tôi rồi lặn hút xuống sâu.
 
Mộ Y có mọc thứ cỏ tím than, lá hơi thon khúc giữa như hình quạt ba tiêu, bên nhám bên trơn, có thể ấp bên nhám dính chặt lấy áo vải. Cô bé O. nói thế nào em cũng kiếm hoa hồng trồng lên mộ anh Y. Tôi hứa với O. thi xong sẽ ra mũi Né kiếm cho được Huyết Kim Hài cho Y. Bao giờ cả bọn kéo rốc lên đồi cũng nghe hắn nghêu ngao:
 
"Anh sẽ lên trên ngọn Ngọc Lĩnh
Hái cho em một cánh hoa rừng
Thầm khắc tên em vào phiến đá rêu xanh
Và vây quanh bằng trái tim anh..."
 
"Ngọc Lĩnh của Y ở đâu? Xa, xa lắm, Y đang trên đường đi tới. Đến đỉnh Y sẽ làm gì? Tụt xuống dốc bên kia và vòng qua bên này, leo lại! Dễ dàng như chơi cầu tuột rứa thì có chi thú vị mô nà? Dự định thôi, chứ Y lười lĩnh lắm. Sẽ cắm trại khá lâu ở lưng chừng sườn. Bộ Y sợ thất vọng như anh chàng viết lá chúc thư trên ngọn đỉnh trời của Mai Thảo hả? Y đâu có thèm sống và suy nghĩ như những nhân vật giả tạo của tiểu thuyết. Y là Y, rất Y. Câu hỏi chót nghe, tại sao lại là Ngọc Lĩnh, sao không đến Tà Dôn, Tà Cú cho gần? Sao không lên Tần Lĩnh cho oai, tôi nhớ rồi, Ngọc Lĩnh ngọn núi ở giữa rặng Trường Sơn gần Hạ Lào đó mà, đến làm chi nơi đèo heo hút gió? Hỏi ngu chưa? Đó là điều Ngọc không cần Y trả lời".
 
Thật ra tôi không quen thân Y lắm. Hắn quen đâu đó với một trong những người bạn của tôi. Những lượt cắm trại xa, picnic gần thường nghe bạn bè kháo nhau, để gọi Y theo hắn hát cho nghe. Điều tôi ngạc nhiên và tức cười nhất là Y tỏ ra rành rọt về tôi một cách... không đúng chút nào hết. Tôi cười ngất: "Tội quá ông ơi! Toàn là huyền thoại với huyền thoại không hà". Dần dà rồi Y cũng hiểu ra tôi, một con nhỏ vụng về nhất thế giới, suốt đời cứ loay hoay với những phiền lụy tự mình chuốc vào. Ngó bộ tôi và Y hợp nhau trong những trò nghịch ngợm trẻ con. Bờ bể lạ có những tảng đá ốm như cột dựng. Hai đứa nấp hai bên. Một hai ba, tôi ló đầu bên phải, hắn ló đầu bên trái. Thỉnh thoảng lừa nhau để tình cờ gặp, hai đứa phá lên cười như nắc nẻ. Những người bạn đang sửa soạn thức ăn trên đồi hét xuống: "Hay không? Lên phụ một tay một chân mà ăn kẻo bọn tao dọn hết. Đùa như con nít chưa. Già rồi mà không hay sao?"
 
Buổi xế ở đồi Keo Mùa Đông, Y hì hục đào được một cái hố dài. Căn đàn dưới chân, chui vào nằm lấy nhạc che kín người rồi gọi bạn bè đến khóc và tiễn đưa tao xem, chúng mày, để coi chết vui thú như thế nào. Cả bọn như bắt được trò chơi mới, hăng hái diễn tả như thật. Đến khi tôi phát giác chè đã phất mùi thơm, tụi nó mới tuôn đi lấy ca muỗng. Soong chè phân phát gần xong, vẫn chưa thấy Y ngóc dậy, tôi nhảy lon ton tới hỏi: "Bộ định ăn vạ nằm đó hoài sao ông bạn?"
 
Nét mặt Y lúc đó khiến tôi ngạc nhiên bối rối, hắn không thèm nhìn ai, nhìn thẳng lấy trời, mắt long lanh ngấn nước, khuôn mặt sáng rỡ như tắm dưới nguồn ánh sáng hạnh phúc lạ lùng nào. Hắn vẫn không thèm nhìn tôi, không thèm động đậy: "Các bạn khi nãy làm tôi xúc động quá. Bỗng lãng mạn nghĩ rằng chết được ngay lúc đó thật là tuyệt".
 
Rồi hắn ngồi phắt dậy, trở lại cái giọng điệu tinh nghịch như bao giờ: "Làm ơn múc cho miếng chè đi. Xem như cháo lú để ta đầu thai kiếp khác". Lúc hắn nói nhỏ: "Nghĩ mà tội, nghĩ mà thương Minh Ngọc sống chết chẳng biết lúc nào" Tôi giận ra mặt: "Tôi cay đắng ghét những ai thương hại tôi, nhất là những ai đề cập đến chuyện bịnh hoạn đó." Hắn tỉnh bơ gõ muỗng vào ca sắt hát làm nhảm:
 
Nàng nằm đớn dau, tháng năm dài buồn hiu
Nàng cầu cứu tôi giữa cơn bệnh đầy vơi
Nghĩ đến mắt kia lúc lìa trần
Vỡ nát trái tim muôn phần
Giờ còn có nhau, giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau, sớt chia chẳng được đâu
 
Thường thì mọi trò chơi tôi đều lấn lướt giành phần thắng và hình như hắn cũng rất khéo léo giả vờ thua. Giành nhau từng chút đến chuyện chết cũng giành. Như thế, xem như trò chơi cuối cùng này Y đã thắng tôi. Ai mà ngờ được, Y lại là người đi trước.
 
Hôm đưa Y đến khung huyệt thật, tôi không đủ can đảm đi. Nhất là sau khi nói chuyện với chị A. nghe kể Y chết mà mắt không thèm nhắm, mở trừng trừng, tròng đứng như nhìn về đâu, một cõi xa xăm. Bình thường mắt hắn đã to, hiền. Trừ lúc giận ai thì mắt trợn lên, trông dữ khiếp. Chẳng thế mà hắn có biệt danh Petit Soleil vì đôi mắt đó. Tụi bạn còn nhát, thấy Y thường trợn mắt với M. Ngọc nhiều nhất. Quả thế, nhưng hình như có lúc giận thật, có lúc hắn giận giả vờ. Cũng như những lượt trêu phá Y của tôi cũng có lúc đùa, lúc thật.
 
Hơn nửa năm nay, sau cái chết lạ lùng của Y, tinh thần tôi bỗng xuống thấp và đâm ra sợ hãi mọi sự. Những đêm khuya khoắt. Cửa khằn. Nhạc không chỗ thoát nên vương vất tản mạn vướng tường, tôi vẫn giật mình đánh thót khi nghe tiếng gọi thống thiết: "ALINE!". Tiếng ai ngỡ như tiếng bạn cũ. Y giải thích: "Cái tên đó có vẻ liếng lắc và buồn bã, thì chẳng phải là M. Ngọc bất chợt buồn vui đó sao. Cũng đôi khi Y phải thêm vào hai chữ St ở đầu tên những lúc bồ hóa sắt thép như cái ông già Staline râu cong đó".
 
Rồi thế đó, tôi bỗng thường tách xa đám đông vì cái mặc cảm kỳ quái rằng thân thiết với ai rồi cũng đưa đến phiền lụy cho người đó. Một con chim én thì không làm nên nổi mùa xuân nhưng chỉ cần một chim ụt cũng đủ tạo nên mùa đông. Con chim ụt tai ương đó có phải là tôi, mang bất hạnh đến cho mọi người liên hệ dù không muốn, vì đó đã như một định mệnh phải mang... Giờ Đạo Đức học, Amy đã hỏi thầy Tùng về những trường hợp mà kẻ gây đau đớn cho người khác vẫn hồn nhiên, ngây thơ sống với một lương tâm trong lành và không hề hay biết hành động, lời nói mình đã như những phiến nhọn cứa nhầu người khác. Có nên nghi ngờ rằng họ không có cái gọi là ý thức đạo đức hay không? Tôi đã đứng lên, giọng run, bênh vực và xin một chút khoan hồng cho họ, những có phải, cũng là, ta tự giảm tội ta...
 
Tháng này năm ngoái, sao mà nhàn hạ ghê, cái thời gian dài ngoằng để chuẩn bị thi Tú một, cả lớp, thày lẫn trò, đạp xe hàng hàng cây số, tựa một đàn chim thiên di, kiếm những mạn sông mát, nhũng vòm keo rợp bóng, góc chợ quê không người... Năm nay thi trở tay không kịp. Có ngày phải học ở trường chín giờ, nghỉ lễ cũng phải ôm cặp đi, trông như học trò đi cấm túc. Thế mới kịp chương trình. Những giờ Triết học bù, ba lớp dồn cả ở phòng, đôi mắt cứ thả trên những ngọn cau chùa Vạn Thiên nhìn từ cửa lớp. Căn bệnh thường trở vào mùa hạ, trên nỗi lo lắng thi cử, thế có ác không, trái tim kỳ khôi? Nên trưa thường ở lại trường, một mình, nhai bánh mì má lo khi sáng và nhăm sách tím của Vĩnh Để, vì nếu về nhà, mệt ngất là chẳng ai cho lên trường học tiếp buổi chiều. Ba la hoài, nghỉ quách đi con gái, rớt cũng chẳng sao, sức khỏe là trọng. Con gái ở nhà cũng thở ra thở vào, cũng đi ra đi vô, lại còn mắt đỏ, mũi đỏ: "Chẳng lẽ cuộc đời học sinh trung học con lại chấm dứt một cách tức tưởi "ai oán não nùng như ri". Ba nghe rên không thấu, ừ thôi mi đi đâu thì đi, ăn chi mà bướng, nhất định "tử thủ" với lớp học bạn bè đến phút cuối mới thôi.
 
Và những buổi trưa một mình thế này, nghe bọn Bee Gees trong Lonely Days, nhớ ghê gớm bọn amie, amies của ta. Phù vân quá những lượt lãn khóa phi lý nhiệt nồng mà dễ thương của tuổi trẻ, những buổi nhạc thính phòng chiêng trống rập rềnh ta tách đám đông thẩn thơ lên dãy lầu xây dang dở sũng ướt bởi trăng lạnh, người bạn nào trong vũng tối đã yêu Liquer? (hay Ly Cơ: quả tim bệnh hoạn nứt nẻ phân ly như những người bạn ngộ nghĩnh thương yêu). Có phải là lẩm cẩm không khi ta giữ cẩn thận những gì nhận được từ bạn hữu, những con ốc, vỏ sò, chùm trạng nguyên, những mảnh giấy lẩm ca lẩm cẩm chọc nhau chuyền đi trong giờ học, cả những mành giấy Ami bỏ vào hồi nào, ta không hay, chẳng hạn: "Bạn đừng mang giầy đỏ nữa, trông chóe quá". Có phải ta trẻ con không khi ta vội giấu giày mới không dám mang để khi giận lẫy Ami, lại lôi ra, đi lại đi qua, trêu tức. Mà ôi trời, một tháng 30 ngày, ta "xục xịch" với bạn ta có đến 29 ngày rưỡi... Có phải người ta chỉ biết thương yêu khi sắp hay đã mất nhau. Thì có phải: "Chia lìa là phương cách tốt nhất để ướp mãi trong ta những tình cảm tuyệt vời chưa và không thể bày tỏ cho nhau nghe những giờ còn đùa nghịch, lẫy hờn rất đỗi trẻ thơ."
 
Bất đồ tôi run lẩy bẩy khi tìm ra nguyên ủy nỗi bực dọc của tôi khi sáng. Bắt đầu là người đàn ông lạ lùng mà bây giờ tôi mới nhớ ra có cái cằm ương ngạnh của Y. Tại sao không có thể nhớ ra, giữa chúng ta còn có một người đã chết. Điều kinh hoàng hơn nữa, đối với riêng tôi, là hiện tại, tôi không tài nào phác họa ra một Y trong trí nhớ.
 
"Cuộc đời, niềm bí ẩn tàn khốc ấy là gì? Người ta gặp nhau để biệt ly như những chiếc lá mà gió cuốn bay; cặp mắt cố ghi giữ uổng công hình ảnh của khuôn mặt, thân thể hay cử chỉ của người yêu dấu, trong một vài năm nữa, ta không còn nhớ được đôi mắt chàng xanh hay đen. Nó phải được làm bằng đồng, nó phải được làm bằng thép, cái tâm hồn con người! Nó không được làm bằng hư không..." Ơi, Zorba của Nikos mà Y rất mến chuộng.
 
Nếu Y biết hơn nửa năm nay tôi đã không viết thêm cho bất cứ ai những câu thơ kỳ khôi mà Y thường phổ nhạc cũng như những bài văn mà Y nhăn nhó bất bình khi thấy đăng tải. Nếu Y biết trong cái thời gian khá dài đó (so với tuổi trẻ của tôi) tôi đã cố gắng sống vô tri như đá, thì chắc Y sẽ không còn giận dữ và buồn bã nhìn tôi cũng như không còn hất tung tiếng hát trầm khàn quái đản của Y để ngày ngày sóng gió vọng gào lập lại "J'avais dessiné, Sur le sable, son doux visage... J'ai crié... crié... Aline J'ai pleuré, pleuré... Oh! J'avais trop de peins..."
 
Bỗng dưng nghe lạnh lẽo khí âm. Hình như những bức tường thở nhẹ. Hình như nước lăn đâu đó trên má tôi. Y? Tôi đã quên nét mặt của Y thật rồi. Cũng như mọi vật ở Phan, mọi người biết rồi cũng sẽ đẩy bóng nhạt của tôi vào một hốc mờ của quá khứ. Những ngày cuối của niên cuối lụn dần, lụn dần. Sao tôi sợ quá, khi quanh tôi là một bầu không khí cố gượng mà vui, trông mới tội tình làm sao. Thông lệ ngày Liên Nhất đâu như là mai mốt, chẳng biết tôi còn đủ can đảm tham dự không!
 
Cuốn sách xinh dịu dàng của Hồ Văn Hóa mở ra những hình biến đổi. Phép nghịch đảo biến đường thẳng thành vòng tròn, biến vòng tròn thành đường thẳng. Nước vẫn lăn mải miết trên đá lạnh. Đã có những phép lạ biến đổi đá sỏi mềm như si sáp. Còn phép biến đổi đảo này không, hóa si sáp trở lại đá khô. Lối đi một chiều bắt buộc. Trứng học trò tiểu học nở thành nhộng học sinh trung học rồi khoác lên người những chiếc cánh đủ màu để thành bướm sinh viên. (Hay cánh rụng, tản mạn về những phương không tài nào định nổi. Thà yên nghỉ sớm như Y mà hạnh phúc! Tương lai sẽ mở ra với những khoảng trời vòi vọi, hay đưa về những ghềnh đá dựng cheo leo?). Ngày dần úa. Người trôi dạt, lìa nhau. Cho đến khi tôi chợt nhận ra có một nỗi gì đó trong mình mãnh liệt như Cái Chết thì, đồng thời tôi phải đối diện với một sự thực lạnh ngắt cay nghiệt như Nấm Mồ.
 
 
NGỌC MINH      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 102, tuần lễ từ 17-5 đến 24-5-1973)
 

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2025

MỘT CHÚT MƯA BỤI - Ngọc Minh


Hắn gọi tôi bằng chị. "Chị Ngọc! Chị Ngọc! Quay lại đây cho nói cái này một chút". Tôi quay phắt lại. Mắt trợn to. Chú nhỏ muốn chi đây. Ai quen mà gọi tên thân thiết dữ vậy. Tiếng hát cất cao: "Màu nắng hay là màu mắt nâu nâu". Tôi phá lên cười. Cái trò quái quỉ gì mà "dzui dzậy"? Hắn chống đàn xuống đất tựa cằm lên buồn hiu: "Vậy là thua cuộc với tụi bạn rồi. Chẳng biết làm cách nào cho chị chưởi."
 
Sau này thì đã biết rồi, đó là một lối làm quen của hắn. "Chị nghĩ thế nào về việc con trai theo tán con gái?" - "Đừng bày đặt phỏng vấn tôi. Tôi sẽ nói những lời người ta vẫn nói và chẳng bao giờ nói ra được đâu những ý nghĩ kỳ khôi quái đản của mình. Như vậy, tốt hơn hết vẫn là im lặng chứ gì?" - "Chị lách hầu hết những câu hỏi khôn khéo ghê. Nhưng chị cứ lẩn quẩn loanh quanh trốn tránh hoài vậy chắc tờ báo của tụi này phải dẹp quá. Thế chị có đồng ý với Tú không - Hắn xưng tên gọn ơ cũng như đã tỉnh bơ gọi tên tôi bằng cách nhìn bảng tên gắn trên áo - là con trai Phan Thiết rất..." - "Biết rồi, tối qua có mấy anh Trần Hưng Đạo qua đây với vài người không phải học sinh mà có mang võ khí. Họ có vẻ hận ghê lắm khi thấy mấy ông tướng nước mắm nhà này cứ nhởn nhơ theo tán mấy chị Bùi thị Xuân. Nhất là vở hài kịch khi hôm của Bình Thuận đã cho con gái sương mù đi hỏi chồng con trai cá nục. May nhờ thày Kèn, ông già râu của tụi này, ra tiếu ngạo vài câu nên mới im, không thì lộn xộn lắm".
 
"Theo Tú đó là một lối trả thù hạ sách. Thượng sách là phải quen lại mấy chị Bình Thuận. Tự nhiên thấy trong tất cả các tỉnh của Quân Khu Hai dự trại hè này, mấy chị xứ Phan có một cái gì hay hay nhất..." Tôi cười thầm nhưng cố làm nghiêm. Kéo mũ bê rê xuống giả vờ chùi kính nâu để ngắm nghía hắn một xí. "Tôi đoán không ra lớp của Tú" - "Hè năm tới Tú phải thi Bac un". Tôi lè lưỡi. Hắn học bằng tôi. "Nhưng chắc Tú nhỏ hơn tôi. Tôi 17 rồi đó" - "Bằng chứ! Nhưng cơ mà Tú đứng cao hơn chị cái đầu". Một cách tự nhiên hắn so vai với tôi rồi vui thú reo lên: "Thấy không?" Mấy thầy trại trưởng cứ đi ngang nhìn cảnh tượng này mà tủm tỉm cười hoài làm tôi ngượng quá. Bèn xí gạt hắn: "Tôi phải về phòng. Bỏ quên bàn ủi cắm rồi trong đó". Hắn cười trêu nói vói theo những bước chân phóng qua từng hai bậc cầu thang của tôi : "Phải ghi vào phóng sự của tụi này một điều mới khám phá. Là mấy chị Phan Thiết sang ghê đi. Dự trại mà mang theo cả bàn ủi!"
 
Nụ cười làm khuôn mặt trắng trẻo càng sáng sủa hơn, nhưng tiếng hát thì đổ sụp bóng tối hắt hiu lên mặt hắn. Tiếng hát trong sương khuya nhột nhạt tóc dài phủ êm sau lưng dù rằng đằng sau tôi, hắn đứng xa cả thước. Tôi kêu lên: "Đừng nhìn tóc tôi nữa Tú". Hắn phì cười: "Chị hay thế. Như là có đôi mắt sau đầu." Chúng tôi tiếp tục đứng nói chuyện trong tư thế đó. Hắn hướng về gáy tôi. Tôi nghiêng mình tựa trên balcon của dãy lớp học lầu phóng tầm nhìn về thành phố mập mờ ánh đèn trong biển mù sương. Cho đến khi có tiếng loa gọi tất cả trại sinh trở về phòng ngủ trước giờ ấn định. Nghe bặt tiếng hát ru êm trong bóng tối phía sau. Quay lại chỉ thấy phấp phới phiến giấy trắng với một vài nét phác họa dáng tôi tựa nghiêng lả tóc cạnh một khung cửa tròn như một bức tranh Tầu. Hắn vẽ tròng đen của tôi và đánh vào đó thật ngậm ngùi một dấu hỏi.
 
"Có lẽ anh ta thích màu nâu lắm hay sao mà thấy chị cứ bận quần Cigarette với áo gilet màu nâu hoài vậy" - "Anh ta nào"? "Thì cái anh chàng nào nằm trong tròng đen không tưởng của chị mà Tú chưa biết nên thay vào đó các dấu hỏi ấy mà". Tôi cười buồn: "Không có đâu Tú. Trong đó chỉ là cái dấu than." - "Chị có đôi mắt lạ lùng lắm chị Ngọc. Một người có đôi mắt như vậy phải hát hay ghê lắm". Bỗng nhớ đến L.M.H của Phú Yên đã ghi vào sổ nhỏ kêu đã "cảm thương hàn" rồi vì cái giọng ngọt ngào ru ngủ của dân Bình. Phải chăng nước mắm và gió bể thấm đậm thêm chất mặn mà phủ dụ người nghe cho từng âm hưởng của người biển Phan. Trừ tôi! "Tú nghe tiếng vịt đực kêu chưa. Tôi hát còn khàn hơn thế nữa." - "Chị khôi hài quá!" Hắn cười. Hàm răng trắng. Đôi môi đỏ. Cánh mũi mong manh. Lông mi cong dài. Tóc dài phủ gáy và trán. Dễ thương như mấy chú thỏ của tôi ở nhà. Đi đâu hắn cũng lôi theo cây đàn gỗ. Nhưng không ra vẻ một kẻ du ca đâu. Vì hắn còn thiếu rất nhiều những bụi bặm xốc xếch lôi thôi như một du tử...
 
"Tôi có một đứa em gái. Nhỏ hơn một tí xíu thôi. Nhưng đẹp hơn nhiều. Nó chẳng "quê một núi" như tôi đâu". Hắn xịu mặt: "Lẽ ra chị không nên nói như vậy. Chị làm như Tú kêu chị là chị vì cô em của chị đó hở. Tú cũng có một ông anh beau lắm. Nhưng mà Tú có muốn khoe với chị đâu" - "Ơ hay! Không thích thì thôi. Chuyện chi mà Tú hằn học dữ vậy". Tôi vò nát cọng cỏ đứng dậy. Hắn luống cuống: "Chị giận Tú thật sao?". Tôi thản nhiên đi. Đôi chân dài ngoằng phóng tới trước mặt tay dang ra cản đường "Chị phải cười chứng tỏ hết giận rồi mới được đi." Tôi mím môi, dậm chân "Dang chỗ không tôi hét lên bây giờ". - "Tiếc quá không có gương ở đây để chị ngắm mình. Soi tạm trong mắt Tú đi. Chị càng sùng mắt càng to ra lóng lánh sóng giận và dĩ nhiên càng đẹp. Má lại đỏ au, hơn cả dân Đà lạt nữa..." Tôi phì cười. Khó mà giận được hắn. Tiếng Bắc đó lại êm đềm xào xạo vút lời! "Ngẩn ngơ nỗi nhớ ngập tràn mắt đêm" - "Bài hát nào đâu mà dễ thương và lạ thế?" - "Thơ của ông anh Tú. Mới phổ thành nhạc đêm qua sau khi về phòng. Tụi bạn la chói lói vì Tú đàn suốt đêm chẳng đứa nào ngủ được..."
 
"Chị có chơi cái trò lẩm cẩm nầy không. Khắc tên mình và bạn vào gốc thông". Tôi rùng mình. Thung lũng mang tên tình yêu. Gốc cây mang hình tim với mũi tên xuyên qua. Rỉ máu! Thôi chú nhỏ đừng đi xa quá chớ. Để chị Ngọc còn hơi sức mà về Phan. Lúc haut parleur của thầy G. ầm ĩ gọi tập họp để lên xe về trại, tôi còn thấy Tú đứng giữa sườn thung lũng, ra dấu gọi đến. Giữa đám đông tôi cố gắng nhướng cổ lắc đầu khoát tay tỏ vẻ không đến được. Làm thầy G. phạt tôi chạy quanh 100 tên trại sinh Bình 5 vòng. Người giận đáng lẽ là tôi, thế mà đến lúc đi rửa chén với con An tôi bắt được mảnh giấy viết bằng mực nâu của hắn cột trên cành Mimosa vàng cạnh bể nước "Giận chị rồi. Khi sáng kêu đến coi một tác phẩm của Tú mà chị không đến. Tú khắc trên thông đôi mắt chị. Trong hai tròng mắt một là dấu than, một là dấu hỏi. Ghét chị quá đi."
 
Kêu giận kêu ghét nhưng hắn đã cười toe từ xa khi gặp tôi. "Đây là anh Tuấn của Tú. Còn đây là Lộng Ngọc, bạn của Tú". Ỷ có ông anh, hắn hạ tôi từ chị xuống bạn. Ông anh có vẻ sành sỏi khôn lỏi hơn Tú nhiều. Dân CTCT mà. Theo chương trình tối nay là văn nghệ giao hữu giữa các tỉnh và dân Võ Bị. Chiến Tranh Chính Trị lẫn Chính Trị Kinh Doanh (mấy chị Bùi thị Xuân bày tụi tôi đọc trệch VB thành Vỏ Bí hay Vợ Bỏ - CTCT là Cục Tác Cục Tác hay Con Trai Của Tôi - CTKD là Cu Tí Khóc Dai). Anh Tuấn hỏi tôi đủ chuyện đến trả lời không kịp. Nhưng càng nói chuyện tôi lại càng thấy thích cái lối nói chuyện bộc trực hiền hậu còn hơi hướm trẻ con của Tú hơn. Tôi vẫn còn được những người thân xem như còn bé mà. "Quay" con nhỏ vui thú lắm sao, ông anh của Tú. Nói chuyện với người lớn phải suy nghĩ, phải giữ gìn ý tứ mệt ghê cho con nhỏ lười lĩnh như tôi. Chợt nhận ra nãy giờ Tú đứng im lìm không nói lời nào. "Tú sao thế? Tê liệt xương hàm à? Mọi hôm nói chuyện nhiều lắm mà". Hắn đáp cộc lốc: "Mọi hôm khác". Chú nhỏ lại lẫy rồi. Tôi nói nhỏ vào tai hắn: "Sao Tú giống Mi Na của tôi ghê. Nó hay giận lẫy lắm". - "Mi Na là bạn thân của chị phải không?" - "Ừ! Nhưng nó là một con chó". Hắn ôm bụng ngặt nghẽo cười: "Chu choa (hắn bắt chước tiếng của dân miền Trung) bây giờ chị kêu Tú giống chó. Chị còn chơi thân với những con thú nào nữa không?" Hắn chẳng biết nhà tôi là Ty Mục Súc ở cuối đường xuống biển và cha tôi là thầy thuốc của súc vật. Người hay lẫy ơi! Bạn thân đâu thể có nhiều mà đến "những" lận. Và dù cho có lẫy, có hờn, có đàn, có hát, có cười đùa, có lặng thinh... chi thì tôi cũng phóc lên xe GMC vào ngày đó. Trước đó hắn đã cúi xuống cài huy hiệu trường Trần Hưng Đạo lên bê-rê của tôi: "Tú chẳng biết ép hoa như con gái. Chỉ có mỗi cái nầy biếu cho chị". Sân trường đã vắng hoe. Hương phấn huỳnh đàn phả xuống, tôi quay mặt lúng túng: "Trời ơi! Tôi chẳng có cái gì để lại cho Tú hết" - "Tụi nó bầu chị làm người sắt đá nhất vì không ai xin địa chỉ chị được" - "Tôi giải thích nhiều lần rồi. Tại nhà gần bể. Đường gẫy nên không có số. Tôi sống trên cát mà" - "Thế muốn viết thư cho chị phải làm sao?" - "Tú bắt chước câu chuyện trinh thám mười tên mọi da đen đêm rồi tôi kể đi. Bỏ thư vào lọ. Thả xuống suối. Suối chảy ra sông. Sông trôi xuống biển. Sóng sẽ cong tay vớt lấy chuyển đến tôi" - "Lúc nào chị cũng đùa được. Có lẽ mắt chị màu nâu nên không bao giờ chị biết khóc. Nghe có mấy anh hỏi thăm về một cô bé giấu tên trong đám lửa trại đêm rồi, được gọi là Không Tên Số Một trong trò chơi kết thân, Tú biết ngay là chị. Phải chăng tên chị là Hồ Phi Lộng Ngọc nên mọi chuyện với chị đều là bỡn cợt và mãi mãi bay xa." Chắc Tú chưa đọc những câu thơ này của Thanh Tâm Tuyền:
 
tôi biết những người khóc lẻ loi
không nguôi muộn phiền
ôi những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình
em biết không lệ là những viên đá xanh 
những người khóc lẻ loi một mình
Đau đớn lệ là những viên đá xanh...
 
Xe rồi chuyển bánh. "Cho Tú gởi lời thăm cái dấu than trong mắt chị. Có còn chỗ trống nào cho Tú không? Tú làm một cái chấm thôi cũng được". Cám ơn xe đã chạy thật đúng lúc để vớt tôi khỏi trôi ngã bềnh bồng lúng túng ngột ngạt trong cái hố tạo ra bởi những lời vừa thốt của Tú. Xe lướt qua những biệt thự lạnh lẽo như hơi giá bốc lên từ mặt hồ. Đong đưa xa tít xa, trong vườn nhà ai những đóa Hạnh-Phúc Thủy-Tinh xanh mờ như cái ánh trăng xanh ướt của những đêm trại vừa qua đang lùi dần vào quên lãng hệt những cây thông đứng ngủ yên ngậm kín sương mai hai bên đường đèo. Hạnh Phúc ừ thì ngắn ngủi vì chóng vỡ như Thủy Tinh. Những hạt mưa sương lâm châm trên tóc. Nhớ đến một câu thơ của tôi mà Tú đã phổ nhạc: "Chút mưa bụi mùa xuân trong nắng hạ". Vâng! Nắng hạ đã bắt đầu úa. Nhưng mưa đó vẫn là mưa xuân. Nhẹ  nhàng như bụi phấn. Như khói hương thôi. Chưa đủ làm ướt má ai đâu mà hình như chỉ để dịu đi chút gắt gay của nắng mùa hè.
 
Rất đỗi tình cờ, tôi gọi khẽ tên hắn : Vũ Phiêu Tú. Là gì nhỉ? Mưa bay. Gió thoảng và một vì sao nhỏ nhắn như xui nhớ đến Le petit prince. Mãi một đời tôi, quấn quít những địa danh, những bạn thương bạn thiết, những dấu chấm than, chấm hỏi tận đáy mắt tôi hình như tên họ bao giờ cũng bắt đầu bằng những chữ P.T.
 
Tiếng chuông bỗng ngân nga từ tháp chuông của nhà thờ Con Gà thì phải nhưng lại như vẳng vọng từ đâu, một kiếp xa xôi. Nghe mênh mang trong mưa sương những câu thơ của Đ.M.T mà Tú đã hơn một lần ngâm nga cho tôi nghe:
 
Hãy rung lại một tiếng chuông của mọi ngày vàng trong quá khứ
Có thể em sẽ nghe hồn mình run rẩy trong từng mỗi âm thanh...
 
Mưa vẫn bay trên lưng đèo. Hạt bụi nước long lanh không làm ướt đất mà nhuộm mịt mờ cảnh vật, đọng thắm hoa rừng đẹp não nùng hơn. Có ai thấy không nhỉ? Đã có một hạt bụi của mùa xuân trong mùa hạ gõ âm thầm vào mắt tôi tạo thành một điểm và đọng hoài ở đó không tan.
 
 
NGỌC MINH       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 41, tuần lễ từ 9-3 đến 16-3-1972)
 

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2025

VÀ VĨNH VIỄN PHAI XUÂN - Nguyễn thị Ngọc Minh

 

Một trong những lá thư của những người tôi không quen biết, một người đã nhận xét: "Với hai lối trình diễn khác nhau như thế, cô rõ là người mang hai bộ mặt".
 
Hai thôi sao? Ít vậy! Một người lớn khi biết tôi cũng là những bà già Huế, thiếu phụ Bắc, cô gái Nam-kỳ... thường phone tới quấy rầy, ông đã kêu lên khi khám phá ra: "Thay vì thực hiện một show ca nhạc, đề nghị cô lập ban kịch đi, con người muôn mặt kia ơi."
 
Một người lớn khác nghe tôi kể lại đã cười nhạt: "Ông ta nói cay cô đấy". Nói cay, nói đắng, nói ngọt, nói mặn, nói chua... những vị nọ tôi đều đã được nếm, thì có thể tự biện minh được chăng, rằng những chiếc mặt nạ tôi đeo đều có công dụng như những chiếc khiên để chống đỡ và phòng ngừa những mũi tên lời nói nọ bắn ghim vào chút tim trần trụi.
 
Con kỳ nhông đổi sắc theo màu lá để khỏi bị xé bằng nanh, nuốt hút vào bao tử của những con thú thèm thịt nó. Tôi cũng tập tành bắt chước giống cắc kè, kỳ đà nầy.
 
Nhưng lá cây chỉ quẩn quanh đôi màu lục nâu vàng đỏ tím, còn những bộ mặt khác nhau của người đời thiên hình vạn trạng, tôi đuối mệt trong cuộc chơi biến dạng ẩn thân này.
 
Để cuối cùng, phương cách tốt nhất để tự ủi an tìm được vẫn là im lặng nhắm mắt hồi tưởng ; hoặc đôi khi mắt vẫn mở trao tráo mà tai không thu được chút gì những người chung quanh chạo nhạo bàn cãi, và hồn phiêu về một cõi cũ cỏ tơ thơ dại phá phách hồn nhiên không hậu ý diễn trò.
 
Chẳng hạn như nhớ căn nhà ma quái ở miền Nam. Ma trong bụi chuối phần phật bên hè, ba mê hát bội bỏ mấy mẹ con ôm nhau run rẩy thức. Ma vắt vẻo ngồi trên trinh thè lưỡi cuốn lấy đứa nào cành nanh: "Không cho má-cha đi đánh tơ nít, không cho má-mẹ đi chợ mua muối à ơi". Ma dưới gầm giường kéo chân con nhỏ mê giày mới đòi mang cả vớ hoa, giầy bụi, nằm ngủ lăn quay trên tấm ra trắng xóa. Ma hù to giật tóc bé con ra ao rau muống sau nhà thút thít tủi thân vì cả nhà bâu quanh con chuột đỏ hỏn mới về giành hai vú má, giành cả chiếc nôi, giành luôn chai sữa thủy tinh khác đỏ của mình. Ma còn nhốt nhà tắm ai lười đi học đến nỗi má phải thuê một ông phi xe mặt mày đầy sẹo bế liệng vào lòng xe chở thẳng đến trường và ba rút dây nịt ra chực quất. Ấy thế mà trò chơi quỷ nhập tràng do anh Hai bày đầu vẫn được tán thưởng khi ba má vắng nhà cửa đóng tối om dầu tim muốn đứng im khi cây đèn pin trước ngực xoắn anh Bảy chớp tắt và khi chị Năm làm con linh miêu nhảy sang xác của mình.
 
Giả bộ như tôi không có hối lộ mấy khúc bánh mì làm bằng thân lục bình mổ ra nhét thịt khoai đỏ lòm là hoa điệp, hãy nói đi ma, tôi đã giấu nỗi sợ sệt của tôi sau chiếc mặt nạ nào hay chỉ là đôi tay nhỏ như mười con thằn lằn đứt đuôi lẩy bẩy run trên mắt khít sau khi ngọn đèn dầu được thổi phụp, cơn gió vút qua, gai ốc nẩy mọc.
 
Chẳng hạn nữa, nhớ con cá rớt từ ống tre xuống tóc khi tắm suối ở xứ Núi. Nhớ cô bạn hù rằng nếu mày ghi tên tao lên bỗng về tội nói chuyện tao sẽ thư ếm cho xem. Nhớ vườn cà phê đứa canh chừng đứa chui sang hái trộm của mấy bà sơ. Nhớ đồi chà là hoang cách một thung lũng đầy mả hoang sau trường tiểu học mới. Nhớ vị chát đắng bó miệng của trái non khiến chẳng thấy ngon lành khi ăn cơm cũng phải rán nuốt vì sợ má nghi. Nhớ con trâu đen suýt húc sừng vào người ở vườn ương An Mỹ vì lỡ nghịch dại kéo những sợi "râu-đuôi" lắn quắn. Nhớ cái lò sát sinh ở dốc xuống thung lũng trồng rau cải khi đi mua su hào, những hạt lệ óng ánh van vỉ của bọn bò vàng khi cẳng quỵ dưới những trái dái mít sau dãy cư xá của học sinh Sắc tộc, thằng Pu K' Lao dúi cho vài hột muối trắng đục lợn cợn đã bốc lén của ông cai. Ôi ông cai với thúng cơm nhẫy mỡ, cái áo thun đã đen xạm màu khói hóng, cầy cục với hai que tre nồi cơm to bằng thanh hàng rào, sẵn sàng phang lên đầu lũ học trò háu đói. Rồi những giờ học chỉ đợi tiếng trống thùng để ào ra giành chơi với bọn mẫu giáo những cầu tuột, xích đu hình gon gà, con thỏ...
 
Tôi nghĩ mãi chẳng ra chiếc mặt nạ nào tôi đã vẽ trong thời gian xông pha lừng lẫy với bọn thú cầm và mộc thảo ấy... 

Rồi chẳng hạn, nhớ đồi cát ngát, nhớ vòm dứa gai hoang nằm hát một mình rồi ngủ quên làm cả nhà quýnh quáng đi tìm cứ ngỡ con nhỏ bị ma xó nhét cát vào mồm hay kéo chân xuống đầm sen nước ngọt. A, bẩy đồi cát như bẩy chú lùn mà anh Uyên đã gọi là thần dân của tôi. Nhớ tôi không, bẩy ngọn đồi? Đồi Nhạc Tím, đồi Dứa Trăn, đồi Keo Mùa Đông, đồi Gió Đàn, đồi Keo Mùa Thu, đồi Cỏ Kim, đồi Kem Vàng... dấu chân chim cát tôi và anh Uyên đã chạy hụt hơi rình bắt. Khoanh kẹo đỏ hồng của bọn trẻ chăn trâu quẳng cho. Anh Uyên bảo tôi đứng ngang chiều gió để anh chụp ảnh. Tóc phủ mặt thơm nồng gió bể. Tôi phá anh bằng cách le lưỡi, méo mồm. Chị Sáu bảo phải gắn một cái Kiên Nhẫn Bội Tinh cho anh Uyên. Anh dỗ ngon dỗ ngọt tôi tập đàn tranh, tập ngồi nhu mì nghiêng nghiêng đeo móng sắt vào khảy tang tình những bài vỡ lòng chán ngắt như Đăng Đàn Cung, Long Hổ Hội, Thu Hồ, Xuân Phong Long Hổ... Thế em không biết sao, ngày xưa mọi cô công chúa triều Nguyễn đều phải tập những bài nầy. Nhưng em đâu có thèm làm công chúa. Làm công chúa bị cấm trèo cây, cấm leo lên nóc nhà thả diều, cấm đứng trên hải đăng liệng sỏi xuống người ta, cấm ngắt thân khoai mì làm đạn để bắn ná với con trai. Anh Uyên đưa hai tay lên trời. Nhưng chưa chịu thua, anh lại dụ dỗ con nhỏ chịu học đàn bằng cách phô trương tài nghệ.
 
Dưới ngón tay anh lá rung những sợi tơ bay mờ lẩy bẩy. Em cũng lẩy bẩy che mặt. Uyên là tên một thứ chim. Anh bay sang tận Belgique. Vài năm đầu còn liên lạc được. Những bức ảnh, tờ thư tôi xem đã nát. Thường là những tin vui, khoe họ mời anh mang đàn tranh lên truyền hình, khoe huy chương nhiếp ảnh mới đạt ; nhưng cuối thư bao giờ cũng là: "những hôm nhiều gió nghe thông reo mà nhớ sóng biển, nhớ nhà gỗ nâu... và tự hỏi chẳng biết chú-thỏ-lười đã xong bài Một Bàn Tay chưa hay thầy đi lại trả "nốt" cho thầy"... Những năm sau nầy chỉ còn biết tin anh qua những người may mắn được về. Biết được anh có chân trong một tờ báo chỉ có thể chuyền lén nhau đọc. Bây giờ, tin cuối đã rõ, có thể vĩnh viễn anh đóng vai Kinh Kha ở quê người, ngày về không có. Hôm nọ, bác trưởng nhóm ảnh nhờ tôi giúp anh Uyên một vài bức ảnh về hát bội trong luận án đệ trình khi ra trường. Bảy năm rồi còn gì. Chẳng biết, anh có nhận ra tôi cũng là người vẽ mặt bôi bết đỏ xanh trong ảnh đó.
 
Như thế, chim Uyên, làm sao thầy có thể nói cho học trò biết, chiếc mặt nạ nào học trò đã hay sẽ mang với một người sống đó nhưng chẳng sao gặp lại. (Thầy, chớ sao, nhất "nốt" vi sư - bán "nốt" vi sư mà)
 
Và đếm làm sao hết, những bạn cũ đã mất, đã xa, đã nhăn nhó bực bội: "Tụi tao ghét cái trò Na-Mi nhạt nhẽo của mày vì Na-Mi là của thiên hạ, tụi tao chỉ thích mày bởi lẽ mày là một Mi-Na cùng phá cách cùng rong chơi, cùng lê la xẻ chia vui khổ... riêng của tụi tao."
 
Rõ là trò ú tim chưa. Nhắm mắt. Xoay một vòng. Mở ra. Mất hết. Bẩy Tiền đi lính pháo binh ở Hàm Thuận. Phúc Cận đeo nhẫn của người đẹp Tây Đô nào đó. Tuyền An làm cô giáo ở Long Hương một ngày bốn lượt lội qua một giòng sông không đò không cầu. Lão Ngoan Đồng đang chuẩn bị đón đứa con thứ tư. Vĩnh Đoàn cravate nghiêm trang tròng vào cổ nghe đâu lập nghiệp ngoài Phan Rí Cửa. Hiếu Để, Mỹ Lệ đã bay khỏi Việt Nam. Thầy Hát chẳng biết có bớt được rượu không, ở vùng đất trích ấy...
 
Thôi hết những đêm trăng nhòa đồi cát đảo hoang chòng chành thuyền câu đón mặt trời mọc. Tìm đâu ra những thân tình cũ, những ruột gan dốc hết, những tiếng cười hào sảng rụng sao. Chốn này, tôi ngậm trong miệng một tiếng kèn âm âm trong lồng ngực tối. Bạn xưa, dịp nào nữa, nói cho nhau, Mi-Na đã diễn xuất trò gì giữa những tình thân như thế.
 
Bây giờ là chiều của tháng cuối năm, trên sông lạ, ở xứ xa. (Tôi, tôi có coi nơi nào đích thực là quê nhà để nhớ tưởng?), một làn nước gợn đủ xao động hồ tim, đủ nhắc nhở những vân cát bị phá tan bởi bốn bàn chân trần trụi của tôi và Di. Nhưng làm sao tôi còn cất được tiếng cười dòn dã của thuở săm soi ốc sò rong cát xếp thành triều đình, tưởng tượng ra những câu chuyện éo le kỳ bí. Tóc dài phơi phới sau lưng tôi thả. Đôi tay vươn cong chận bước trêu cợt của lũ còng gió. Di tàn bạo dẫm bẹp thân còng để tôi phịu má lẫy hờn cho dù cái dẫm đó cho tôi, vì tôi. Nhưng rồi mình lại làm lành với nhau, không thôi làm sao tối đến một đứa xách đèn bão, một đứa lắn quắn chụp còng cho vào bị, rồi kiếm một hốc đá bật lửa nướng còng nhai với muối tiêu chanh gói theo. Di nhận xét còng gần biển nhà mình cùng họ với cá tra nên béo bùi thơm ngọt chứ không nhạt thếch như Trinh Còng ở Đá Ông Địa để mình lại cãi nhau. Trẻ thơ mau giận mau hờn cũng như nhậy cãi lẫy, nhậy làm quen. Cho đến một ngày nhận ra mắt Di nhìn tôi khang khác để mắt tôi ngỡ ngàng theo. Tôi thoáng hiểu ra tuổi mình vừa lớn và một cụm rong lãng mạn đã vướng chân cậu bé. Nên từ đó tôi lãng xa Di. Để khỏi phải trông thấy trong tay em vỡ òa những hạt tròn của nhánh rong mơ lãng. Bởi cũng như anh Uyên, Di là tên của một thứ chim lạ mà ngày nào tôi đã tỏ ý mong Di thoát bay cao, đừng để chí lớn chìm vào trong những cái tầm thường của lũ còng thấp ẩn sâu dưới lòng đất, đừng để rong rêu quấn quít dấu chim phi.
 
Ở xa, ngày được tin Di chết trẻ, tôi ngồi và lặng lẽ cười khi nhìn và sờ lại hai sợi tóc ngắn dài của Di và tôi trên tờ giấy trắng. Di ơi, tờ giấy quá trắng, trắng rợn, và nước mắt thì làm gì có màu phải không Di.
 
Nếu Di biết với Di tôi quả đã có mang mặt nạ diễn trò ấy là lúc phải giả vờ lạnh lùng nghiến răng cắt đứt mọi quan hệ với Di. Nếu Di biết tôi bây giờ sống khỏe lắm, mãi mãi một mình, không tha thiết nổi điều chi, gắng gỏi theo đuổi những việc làm mình không ham thích, chỉ thở dễ dàng với bọn trẻ thơ như một kẻ già nua. Nếu Di biết ngay cả chú chó Mi-Na cùng tên cùng tuổi với tôi cũng đã bỏ tôi đi. Ừ! Nó chết rồi Di. Bịnh già! Tôi sao thế này. Nhắc đến cái chết hoài trong tiết tàn đông, bung nở trăm hoa. May là mạch sống dửng dưng vươn khỏe một cách tàn bạo của thiên nhiên  chung quanh đã khiến tôi rùng mình ghê sợ.
 
Bởi nếu Di biết tôi đang gắng hết sức mình để luôn được là một thứ Trinh-Còng lang thang đời nhạt thếch còn hơn là biến thể thành loại còng cùng họ với cá tra béo bùi thơm ngọt để giúp vài giây khoái khẩu của một ai.
 
Vì Di à, có một loại người vĩnh viễn ta chẳng còn lừa dối được nữa, mọi thứ đều vô ích, khi họ đã gần thật gần ta như Di (Di hóa thành cái bóng của tôi rồi mà!) hoặc xa quá xa như anh Uyên (anh nhất quyết thành Kinh Kha thật sao?)
 
Và bởi vì nữa, Di ơi, tôi vẫn còn giữ hai sợi tóc ngắn dài của hai ta mà màu đen ngậm ngùi cũ đã khô quắt ngả màu vàng úa héo trên nền giấy trắng rợn...
 
 
NGUYỄN THỊ NGỌC MINH      
 
(Trích Xuân Hồng Tuổi Ngọc, 1975)
 



Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

ĐỒI CÁT - Nguyễn thị Ngọc Minh

 

Bóng mát biến mất trên mọi đồi cát khi tôi lên đến đỉnh cao nhất. Nắng như muốn bửa đầu tôi ra. Dưới mái tóc dài sẽ cắt là một phiến não bé như con chí mà Kha vẫn ngạo tôi. Nhưng trong con chí, kiêu hãnh và tội nghiệp thay, chỉ có một chữ Kha. Những con chim cát phiêu quen thuộc sà xuống, lẩn quẩn bên vai tóc, rít trong mỏ nhỏ những tiếng nghịch ngợm. Ngó mông ra tứ bề tám hướng. Cát, cát cát... gần như muốn xóa bỏ cái xã hút hút màu xanh này dưới màu vàng của cát. Gió Tết vẫn còn thổi mù mù nên mấy tay nhiếp ảnh chưa dám léo hánh lên đụn cát săn ảnh.

Nhìn hoài nhìn mãi, những chuyến xe ọp ẹp bò rì rì nơi con đường ép sát giữa đồi cát và bãi đá để vào làng. Tưởng như thấy rõ trong xe những thùng dầu lửa đựng mắm, những tỉn nước mắm chằn chằn dây sóng lá, những thúng gánh lỏn chỏn mấy củ sắn cạnh mớ cá mai, ốc gạo, ốc ruốc... tưởng như nghe rõ cái mùi mằn mặn tanh tanh trộn lộn giữa bể khơi và cá mắm, những cái đầu đập lốp cốp trên thành xe khi xe đi ngang Cầu Đá... Những đôi mắt mệt mỏi gật gà gật gưỡng, những nét mặt thất thần khi xe e dè bò trong vùng Ngọc Hội thơm thơm hương rừng dừa bình an mà ngầm chứa đầy bất trắc. Kha sẽ ngồi đâu, trong chuyến xe nào... Nhớ mấy câu ru má thường hát lúc xưa:

Ngó ra ngoài biển mù chong
Thấy người thiên hạ sao không thấy chàng
Tóc dài sao vội cắt ngang
Thả bay trong gió hai hàng lụy sa

Trường hợp Kha và tôi tối mù hơn những điều mà tôi có thể nghĩ. Má tôi dọa:

"Ông ta mà đặt chân vô nhà nầy là má giết con trước rồi tự tử sau. Đừng nói chi đến chuyện ổng đi hỏi mày."

Cho đến cái xóm làng này, những bà già trầu khụ khị, những đứa con nít mới lớn lên choi choi, ngay cả bọn em gái tôi cũng chẳng có một mống nào bênh vực Kha - trừ tôi. Với họ, Ngạc là mặt trời soi tỏ một vùng biển này. (Họ không cần hiểu là nếu bước ra khỏi xứ còn biết bao nhiêu biển lạ, còn biết bao nhiêu mặt trời khác). Với họ, Kha như một người đàn ông kỳ cục, dị thường và... "không biết điều chút nào hết". Với họ, đám cưới của Ngạc và tôi là một đám cưới lý tưởng bên mọi cặp lý tưởng khác. Làm như má tôi sinh tôi ra là để lấy Ngạc và ngược lại...

Là đôi bạn quen nhau từ hồi còn nhỏ xíu, Ngạc thường dắt tôi rong chơi trên những vườn keo, bãi dứa, rừng dương, rẫy dưa hấu... Cạp chung củ sắn bươi được trên vồng đất đỏ, đắp cát ướt trên chân nhau xây nhà lầu đua rồi một! hai! ba! giậm nát, những đêm xách đèn bão lo khom xuống bãi tum bắt còng gió nướng trên kè đá ăn với muối tiêu chanh, cái tình đó đã tưởng như ruột thịt. Chúng tôi lại nằm trong hai gia đình có tiếng tăm về nhiều mặt ở đây, đó cũng là những sợi dây cột siết hơn thân tình có sẵn hồi xưa.

Ba tôi đẹp cứng, xương xóc, gan lỳ. Má đẹp mềm, nhu nhuyễn mà đảm đang. Bà gầy được vựa tre lớn độc quyền ở sông Bàng từ lúc ba đi, dư sức nuôi mấy đứa con nhỏ. Tôi là con đầu. Con đầu là con nhờ, con cậy, con tin, con tưởng. Là tấm gương đứng khửng để bọn em gái nhìn soi, két biết là bao nhiêu!. Má tôi, ba tôi và ba Ngạc xưa kia ở chung một tổ. Má Ngạc chết trong cơn lụt năm Thìn, Ngạc là con một. Tiệm sách duy nhất ở đây của nhà Ngạc mang tên tôi : Quỳnh Như. Anh chàng nói với tôi, giọng tự tin:

"Thấy chưa, ba đã chọn Như vào gia đình anh hồi Như mới lọt lòng".

Cái sự tin của Ngạc đập phải cái sự tin của tôi kêu lốp cốp. Cái óc Ngạc khác tôi, làm như lý tưởng hơn, hướng về đám đông hơn, ôm nhiều hoài bão hơn (con trai mà). Con mắt Ngạc khác mắt tôi, nhìn bao quát mà xa hơn để quên những tiểu tiết dọc đường. Đó cũng là một cái khuyết của anh chàng (và là một tai nạn chung cho hai đứa, có phải?). Trái tim của Ngạc càng khác tim tôi, một trái tim đeo kính viễn thị như anh chàng. Nhìn chung, Ngạc thật tội nghiệp, những tư tưởng thiên tả như là muốn hăng hái nhiệt cuồng hơn cả người trước (ba tôi, má tôi và ba anh) vẫn không làm Ngạc phồng to hơn chút nào đối với tôi.

Từ chối thẳng thừng "Đừng đi cưới hỏi tôi thất công. Làm sao mình có thể sống chung với nhau. Tôi ích kỷ, hẹp hòi. Lại còn những rắc rối. Liệu anh có thể tha thứ tôi được không?"

Ngạc hớn hở gật đầu:

"Anh hứa, sẽ quên, sẽ tha thứ hết."

"Ồ! Anh hiểu lầm rồi, tôi muốn nói về Kha như một nỗi kiêu hãnh chớ không phải là một lời thú tội".

"Anh tha thứ nhưng tôi không tự tha thứ thì sao. Anh quên nhưng làm sao anh tẩy được chữ Kha trong tôi?"

Ngạc kêu lên:

"Nhưng mà Như, anh yêu em."

Tôi xuýt té xuống đất vì cười. Tôi vẫn dặn Kha:

"Bao giờ ông đi tán thiên hạ nhớ đừng bao giờ cầu viện đến ba chữ anh-yêu-em kẻo thiên hạ cười cho vỡ mũi."

Kha hét vao tai tôi:

"Ê nhỏ, tôi ghét em". Tôi nói rất nhỏ. "Em cũng ghét ông."

Chúng tôi phá lên cười, nhìn thấy ngập trong mắt nhau những chùm tình xanh nở ra, thơm ngát. Làm sao Ngạc có thể nói với tôi những lời ẩn dụ vô ngôn như thế mà đòi trói đời tôi, suốt kiếp!

Chuyện thật vô lý thế mà lại xảy ra. Tôi lắc đầu. Mặc tôi khóc mếu. Mặc tôi lẫy cơm. Có sao đâu. Mồng sáu Tết, tốt ngày giờ kiết là giờ Tuất được chọn làm ngày hỏi nhân dịp tôi và Ngạc về thăm nhà dịp nghỉ Tết. Năm đầu đại học, tôi ở Sàigòn. Sau khi một chuyện dài của Kha đăng tải, thiên hạ khôn ranh như tinh, đồn đãi thấu ngoài nầy, năm thứ nhì, má tôi ra Huế, gởi tôi ở nơi nhà nội của Ngạc.

Kha đâu biết, đi đến đâu thiên hạ bắt hát, tôi chỉ hát độc hai câu "Núi cao chi lắm núi ơi, núi che mặt trời chẳng thấy người thương." Kẻ trường sơn thượng, kẻ trường sơn hạ. Cách nhau cả dãy núi dài. Ngự Bình quá thấp. Tà Dôn, Tà Cú quá thấp. Lâm Viên quá thấp. Nhưng leo lên tận đỉnh vẫn thấy những ai ai. Dạo này Kha đi công cán nhiều nơi. Trên đường từ Huế về thăm nhà ghé qua Sàigòn không bao giờ tôi gặp. Nguệch ngoạc vài chữ.

"Mới về. Đến ngay. Không thấy. Đi đâu mà đi hoài vậy. Ghét quá..."

Chúng tôi, như là được xếp đặt trong một trò chơi đọa đày nào. Tựa hai tên chim tội tình. Con chơi vơi núi Bắc. Con lòa lòa bể Đông...

Hai mươi chín Tết, vào Sàigòn cũng không gặp Kha được. Má tôi dư sức biết đi Sàigòn chỉ là một cái cớ nhưng cũng không ngăn. Ngày tháng tốt đã chọn, tôi chỉ có thể từ chối đám hỏi bằng cách bỏ nhà đi luôn là một việc mà bà chắc rằng không thể nào xảy ra với một con bé phách tấu nhưng nặng tình gia đình như tôi. Tôi đứng nói chuyện với Khiết qua khung cửa sổ vì chìa khóa cửa lớn Kha đã mang đi. Thằng bé Khiết con của Kha là đầu mối của mọi quyết liệt của má tôi.

Bà không hề hay rằng chính bà cũng là cái đầu mối đẩy đưa tôi gặp Kha. Bà không thể đoán ra Kha là cái anh chàng trẻ tuổi đứng sựng nhìn bà cách đây hai mươi năm trên sườn núi Láng Bò. Chính má kể tôi nghe. Hai người cách nhau một sạn đạo lửng lơ trên khe suối hẹp sâu. Nhìn nhau độ mươi phút. Không nói lời nào. Anh chàng rồi đi ngược lại lối đến để nhường sạn đạo cho má. Má không để tâm nhưng sau này lúc sắp về thành, người bạn gái có chuyển đến vài bài thơ chép tay ký tên tắt K.N. nhắc nhở lại buổi trưa sững nắng cây im, sạn đạo chênh vênh của Láng Bò và người con gái tóc dài áo bà ba đen với ruột tượng gạo trên vai.

Má tôi tên Nga. Nguyễn thị Túy Nga. K. phải là tên của anh chàng. Tôi đọc thơ K.N. năm lên mười. Lúc đó, chàng trẻ tuổi tên K. đẹp như một nhân vật cổ tích. Phủ thêm cái ánh xanh biếc sáng lạnh của những bài ca u uất của rừng rú và những ngày ba mới bỏ đi, má hát ru chúng tôi giữa những ngặt nghèo túng bấn dập dồn vẫn không nguôi trong trí nhớ tôi những cảnh tượng người vật hào hùng cao cả. Chiều tà hay khuya khoắt, nắng quái hay mưa đêm, tiếng hát lẻ loi buồn lạnh của má cất lên đủ làm con nhỏ chút chun tám, chín tuổi là tôi nghe thấm tận tủy xương một nỗi gợn tê khó tả.

Những "Bà Tư bán hàng..." "Ai qua miền quê binh khói"... và nhất là cái bài "Chiều nay ra đứng bên bờ suối vắng"

Lặng nghe con chim nó kêu lạc đàn.
Núi rừng đó người đâu chẳng có.
Để dấu chân còn cả trên rừng.
Người đi năm xưa chưa mờ bóng dáng.
Người đi năm xưa vẫn chưa trở về.
Suối rợp lá cành khe đá lấp dấu chân người cũ trên rừng.
Gió trên núi rừng lạnh lắm không có lều mà che.
Mưa trong đêm khuya mờ mịt theo ánh sao rọi đường.
Nước suối cầm hơi hỡi anh đi về đâu.
Đánh cái bọn giặc Pháp giữ cái buôn cái làng.
Đi theo cái khe, theo cái suối, theo dấu chân chỉ đường.

Tất cả, ba má tôi, ba má Ngạc, những giai thoại, những khúc nhạc bi tráng cùng gieo trong Ngạc và tôi những mầm hạt kỳ diệu nhưng nếu ở Ngạc nẩy lên được một thân leo muốn vươn hoài vươn mãi với tham vọng nối kết được bao người thì ở tôi chỉ nở rất lẻ loi một nhúm hoa kỳ khôi phất hương lãng mạn...

Năm mười sáu tuổi, tình cờ đọc tập tùy bút "Khói Rừng Hoang Sơ", thấy lại má mình được vẽ bằng văn xuôi, những sợi văn mỏng, và thơ như khói, tôi rớt nước mắt vì vui mừng khi tìm ra tông tích cái anh chàng K. ngộ nghĩnh đó. Cái thư đầu tiên tôi viết cho Kha với cái vẻ lo sợ và hớn hở của một đứa trẻ con trong trò chơi ú tim lạc giữa rừng cây quanh co bỗng khám phá được nơi hang hốc kia một nhân vật cổ sơ còn sống sót. Bọn bạn gái tôi phần đông đều thích văn Kha. Tụi nó thâu thập ở đâu nhiều giai thoại khá ly kỳ quanh Kha. Sau này chúng nó sỉ vả tôi không tiếc lời khi biết được cái giai thoại ly kỳ nhất của Kha ở sát bên cả bọn. Có lần con Phụng quả quyết Kha nói ra Nha Trang ở nhà một người bạn già, ngôi nhà cổ có hàng nhãn trước nhà.

Đậu xong Tú Hai, Kha là người đầu tiên tôi gặp khi bước xuống Sàigòn. Tôi lơ ngơ láo ngáo trước anh chàng cao ốm lêu nghêu.

"Em nhỏ, em lớn hơn tôi tưởng tượng".

Tôi lấy lại bình tĩnh:

"Em lại cứ tưởng ông già khụ râu ria kia chớ".

Kha nắm tay tôi.

"Để tôi dắt em qua đường".

Tôi rưng rưng muốn khóc. Lãng mạn nghĩ rằng: Phải chi Kha là ba tôi, chắc tôi sẽ tha hồ nhõng nhẽo đòi ông dắt đi chơi quanh quất Sàigòn. Hình ảnh đó làm sao tôi quên. Chiếc va-li lục cục dầu tràm, khăn quàng cổ của mẹ, tôi nhét vào khi tối. Cái giỏ đựng nước mắm, mực khô triều cống cho người thím mà tôi phải vào đó ở mấy ngày đầu. Kha giành xách hết. Và tôi. Nhỏ nhẻ bước sau lưng...

Thỉnh thoảng Kha dừng lại cười mỉm khuyến khích nhìn tôi. Đường tối dần. Những chiếc tắc-xi không còn chỗ trống. Bỗng dâng ngộp trong tôi một nỗi lo sợ nào đó. Bây giờ mới biết rõ. Không phải sợ một Sàigòn mới gặp. Phải nói là tôi chưa bao giờ sợ Sàigòn. Rừng rú đã từng xông pha. Sóng bể cũng đã từng nhồi quật. Xá chi cái thành phố chen chúc tội nghiệp này. Nhưng mà Kha mãi mãi với tôi vẫn là một nhân vật cổ tích. Kha đi trước tôi. Bóng đổ mờ mờ. Nhưng tôi vẫn chưa tin là thật. Ba bỏ tôi đi sớm quá. Đủ xui tôi dồn tất cả tình thương cho người-đàn-ông-đúng-nghĩa-đàn-ông đầu tiên mà tôi gặp.

Thằng bé Khiết là một cái khuôn của Kha thu nhỏ. Tóc đó, như rừng, miệng đó, bìu bĩu cao ngạo cô đơn. Kha gởi nó vào nội trú. Chủ nhật, Kha đón Khiết và tôi, đi đến bất cứ chỗ nào có thể đến được. Bạn bè Kha đông đến khiếp, gặp ai cũng khoe.

"Em gái moa đó. Giống không?"

Thế mà có người đòi giới thiệu mới chết chứ. Anh chàng cười cười.

"Có người đi hỏi nó rồi. Bà cụ hăm moa mẻ răng. Bảo phải giữ gìn nó cẩn thận".

Không như những độc giả ái mộ Kha, tôi ít để ý đến chuyện viết lách của anh. Bực nhất là những chuyện thấp thoáng dáng tôi. Tôi không thích nhiều người bết. Sẽ khó sống yên. Cái màn ngăn nhau quá đẹp. Một người xem một người như thánh. Một người xem một người như tiên. Nhưng hãy để mọi người nhìn và quên ta như rơi nhúm cỏ bên bờ cọng hoa dại trên non. Bởi ước ao tôi, đâu ngoài hai chữ cỏ cây. Như cỏ cây, nhờ nắng gió sương mưa tựa nhau lớn mạnh quên đời riêng quên những hệ lụy quanh ta. Kha không nghe lời tôi.

Huế rộng hơn Nha Trang mà ý tứ, xét nét hơn Nha Trang nhiều. Tôi đi dưới mưa long ngong như con còng gió. Một mình. Mình một. Bơ thờ. Tựa cây. Cây ngã. Tựa bờ. Bờ xiêu. Bờ là Kha là Ngạc hay là những ai ai (những người tôi thương và những người yêu tôi) thì cũng là những bất hạnh như những cánh tay sóng chẳng bao giờ buông tha những lâu đài cát. Chỉ một lần đó. Mưa làm tôi nhớ Kha.

Sáng ba mươi, trên chuyến xe về Nha Trang tôi thấy Kha chở thằng bé Khiết phía trước. Một cái đèn đỏ. Kha rẽ trái. Tôi nhoài người ra. Tiếng kêu nghẹn trong họng. Đêm qua, chờ đến gần giờ giới nghiêm tôi phải về không gặp Kha trước giờ giao thừa má dắt tôi qua nhà Ngạc, trong bóng tối vườn dừa, Ngạc nắm tay tôi. Chiều mồng một tôi bận áo đẹp, quần đẹp đi thẳng ra bể cho đến lúc nước lên dần tới mũi. Rồi quẫy lên như một con cá. Phải chi đừng biết bơi lội thuần thục, tôi hẳn đã là món quà Tết không tệ cho bọn cá mập ngoài khơi.

Má úm tôi bằng mền lớn khi tôi ướt nhớt lập rập láo ngáo thất thần về nhà. Ngủ đi con. Má hát cho con nghe đi má. Cái bài "Chiều nay ra đứng bên bờ suối vắng..." đó má. Lũ em tôi đôi mắt đỏ hoe. Chiều hôm sau tôi mới thức dậy. Có tên bạn ghé nhà. Nó ở Qui Nhơn đang học năm cuối ở trường nữ trung học. Kỳ trại cho học sinh toàn tỉnh ở đảo Hạnh Phúc, tôi chú ý mỗi nó. Con bé từ diện mạo đến tính tình rất con trai. Trong lúc bọn con gái e dè đẩy xô nhau rón rén lội lõm bõm vào bờ thì con bé mượn cây chèo thuyền chống xuống nước búng mình vào bờ như lực sĩ nhảy sào rồi phóng chèo trả lại, phủi tay, xốc ba lô tiến vào đảo. Đêm lửa trại trăng sáng ướt, giữa lúc bà con ca hát diễn kịch quanh soong chè, tôi bỏ ra bãi định bứt vài nhánh rong Mơ óng ả một rừng nơi đáy bể gần bờ, để gởi cho Kha thì gặp con bé nằm hát một mình trên đỉnh một đụn cát. Nó choàng dậy xin tôi một cọng rong Mơ và tự giới thiệu.

"Trên giấy tờ tôi là Đông Ngâm nhưng bạn bè ưa gọi ngược lại. Bồ muốn gọi tên nào tùy ý."

Hai cái tên tố cáo con người nó. Vừa lãng mạn vừa ngông bướng, khi nồng nhiệt lúc lạnh lùng, sống có vẻ rong chơi và khá bất chấp...

Ngâm không ngạc nhiên chút nào hết. Nó ngủ lại với tôi đêm đó. Hỏi tỉnh queo.

"Thế nào? Thú không?"

"Sóng nâng tao lên, mới biết mình không nỡ nhẫn tâm như mình tưởng mình có thể. Mày thử chưa?"

"Mới tuần trước. Tao ngồi trên cửa sổ lầu của lớp học. Muốn mọi người nghĩ là một tai nạn nên không nhắm hướng. Bèn bị rơi xuống một tấm chắn của cửa sổ tầng dưới. Hỏng bét. Cũng may là tụi bạn tưởng tao trúng gió".

"Đông Ngâm! Ngó bộ mày hạnh phúc quá chừng mà. Chẳng lẽ cái chuyện bị đuổi vĩnh viễn ra khỏi trường đối với mày quan trọng như vậy sao?"

"Đời nào. Chẳng qua, cơn điên khùng đó đến từ một lúc nào không rõ."

Tôi úp mặt vào gối:

"Tiêm dùm tao chút can đảm của mày."

"Ngược lại, mày can đảm hơn tao nhiều. Nếu là mày thì giờ khắc này có lẽ tao đang ngồi hối hận về một chuyện gì đó rồi. Ngộ nghĩnh nhất là trong thông cáo đuổi tao phổ biến toàn trường cái tội của tao đã được gọi là "vi phạm đạo đức học đường". Riêng nhóm dân Q.N, ở xa, Tết mới về thăm thì xếp mày và tao chung vô một nhóm: Lãng mạn. Tiếu ngạo kể gì chưa. Lãng mạn cũng là một tội lỗi nữa sao. Tội đã gì nặng hơn người đàn bà bị ném đá trên đỉnh Olive. Thì hãy tiếp tục lối đi ngẩng cao phách tấu như lâu nay. Những bàn tay run rẩy bám đầy bụi bẩn chưa rửa sạch làm sao liệng đá thấu mình..."

Những lời của Đông Ngâm càng làm tôi buồn bã, ngậm miệng chua xót hơn. Sáng hôm sau nó về, không hề biết giờ tuất, mồng sáu Tết năm Quý Sửu này lối đi nghinh ngông chỉ còn mỗi nó. Hay nói khác đi đúng vào giờ đó, nó chính là cái bóng của tôi phóng ra ngoài. Phần xác còn lại được trói bởi những ngón tay ướt run của Ngạc. Những bước của đời riêng phải cắt. Ba má của Đông Ngâm đều phóng khoáng, họ tin tưởng đứa con gái út nghênh ngang như con trai đủ khôn ngoan để quyết định mọi chuyện và họ chưa bao giờ thất vọng. Nhưng tôi, tôi còn hai đứa em gái.

"Bộ mày muốn đổi nửa đời hạnh phúc của mày lấy vài năm sung sướng của những người thân sao?"

Má tôi khóc khi nói với tôi:

"Nếu con lấy cái ông hơn con đến mười mấy tuổi đó thì cầm bằng như con giết chết cuộc đời của hai đứa em con. Má thì già rồi. Chỉ mong gả xong ba đứa là yên lòng nhắm mắt."

Những viên đá tứ phương thập hướng thiên hạ liệng đến không làm con nhỏ bướng bỉnh như tôi bị đau nhưng làm sao tôi vui vẻ sống bên Kha khi những người thân của tôi nhào ra hứng đỡ.

Tôi chạy thốc lên ngọn hải đăng bỏ hoang đầu mũi đá. Trước đèn lò những tảng đá khổng lồ từa tựa những cái đầu của đàn bà, trông như một loại vọng phu đặc biệt. Sau hải đăng là nghĩa địa. Những nấm mộ hình hộp chữ nhật dằn đầy đá và vỏ sò, ốc để chặn cát bay. Cổng vào có bốn chữ khắc: "Chờ Ngày Sống Lại." Những lần bướng bỉnh đòi uống cà phê để tim mệt ngất, khi tỉnh lại, tôi tươi tắn trối:

"Lỡ như em có gì gì nhớ nói má chôn em ở ghềnh Đá Hòn Chồng. Nằm đó nhìn trời rộng, mong buồn xa, nghe dương liễu hát và ấp giấc mơ: "Chờ ngày sống lại..."

Bạn bè Kha trêu tôi là ba-bi-lắc. Ly sữa trắng của tôi cạnh ly cà phê đen của Kha có vẻ bố con thế nào ấy. Thằng bé Khiết thì đòi trộn cả hai cho nó.

"Thấy không nhỏ, Khiết cần cả em lẫn tôi."

Tôi cười khúc khích:

"Bảo nó gắng chờ ngày em sống lại."

Tôi đứng ngoài bao lơn của chót hải đăng. Nắng quái tà úa hanh hao. Gió phần phật áo quần. Sóng như chụp rồi tuôn giàn giụa từng dòng trắng xóa trên những kè đá lổn  ngổn dẫn ra đảo nhỏ. Mùa nầy, năm ngoái có một thằng bé chết vì sẩy chân trên đỉnh hải đăng. Dạo đó đèn bỏ hoang, chuột cống lúc ngúc to bằng bắp chân người làm thằng bé hết hồn thối lui đến vấp té nhào xuống thang. Mẹ nó hóa điên. Người ta đổ thừa vì bà định tái giá với ông tàu già nên thằng bé giận mẹ tự tử. Cái con bé Đâm Ngông, như là thích rơi và phiêu chớ không phải là tự tử. Riêng tôi, chắc sẽ không có lần thứ hai. Chết trong đời sống hay sống trong đời chết thì cũng vậy mà thôi...

Rồi Kha đến, như dông như bão. Rồi Kha đến, như mơ như ảo. Đôi tay Kha lỏng lơ:

"Hành lý anh đâu?"

"Em sẽ là."

"Nói kỳ cục chưa. Giờ Tuất nầy là giờ kiết, đám hỏi sẽ cử hành."

"Anh dự được không?"

"Em đâu có quen anh."

"Anh sẽ nhìn người quen của má."

"Không được đâu."

Cơn mưa đổ xuống đầm đầm cát cỏ. Những cọng cỏ kim hình chong chong nhọn hoắt hồi đó mang vào tận Sàigòn cho Kha. Lẫy một chút là anh chàng châm cỏ vào tay tôi đau điếng.

"Em nhỏ, những lời nói của em đâm tôi đau hơn thế nữa."

Kha hét để át tiếng mưa:

"Khiết bệnh từ lúc em đi. Nó đòi anh gọi cô Như về chơi với nó."

Tôi cũng hét cho tiếng mưa nhỏ lại, lần này thì không cười được:

"Anh thấy cái cổng kia không? Biểu Khiết gắng chờ ngày em sống lại."

Mắt Kha long lanh:

"Đứa con đầu lòng gắng sanh con gái nha."

"Chi vậy?"

"Con gái sanh năm Quý tốt, hai đứa mình làm sui gia"...

"Nhảm, em là Quý Tỵ nè, có sung sướng chi đâu. Thôi rán chờ nghe ông bạn lớn của em. Như là má mắc nợ anh chưa trả, đời em cũng chưa trả xong, em sẽ nhờ con gái em trả dùm".

"Anh nói chuyện đứng đắn mà. Nào nghéo tay đi. Để hứa mình sẽ là sui gia."

Ngón tay út Kha móc vào ngón tay út tôi. Cứa hoài không đứt. Phải hạ một đao thật ngọt. Nhầy nhưa nhỏ máu hoài sao. Tôi hạ giọng theo nhịp mưa:

"Anh chờ tối không được đâu. Hình như còn một chuyến xe chiều chót về Phan thôi. Sáng mai di chuyển sáu giờ về sớm Sàigòn kẻo Khiết mong"...

Ngón tay Kha rời. Tôi tần ngần nơi bao lơn. Ngón tay út áp lên cằm. Còn ấm nóng. Chiếc xe cuối dời Mũi Né lăn chậm qua khúc lượn dưới chân đồi cát ẩn hiện sau những hàng dừa. Tôi muốn đứng tim khi xe dừng lại một phút ở Sa Thạch. Nhưng không có chi. Một người đón xe dọc đường. Chiếc xe lại lăn, lắc lư lắc lư như thể một ngón tay cứa một ngón tay, chưa muốn đứt...

Chiều mù. Xe đã khuất. Gió lạnh hơi cát sương. Những bước chân Kha còn in rõ mồn một trên cát ẩm. Bước xoãi dài. Dễ chừng bằng hai bước của tôi. Nhớ bài hát hồi đó má thường ru ngủ:

... "Đặt chân lên dấu chân người đã khuất
Trồng cây hoa lên dấu chân của người
Suối ngừng xối, rừng thôi khoe lá
Để bóng mơ người cũ lại về..."

Tôi đặt bàn chân nhỏ của tôi lên dấu chân to lớn của Kha. Ngạc đứng đó tự bao giờ. Mặt Ngạc xám ngoét, anh lầm rầm trong miệng: "Nhưng anh vẫn yêu em, nhưng anh vẫn yêu em"...

Trên lối về nhà, tôi khóc ngất bên Ngạc. Cái điệp khúc anh-yêu-em cứ được nhắc đi nhắc lại hoài nhưng tôi chẳng còn hơi sức nào để cười anh nữa.


Nguyễn thị Ngọc Minh        

(Trích từ giai phẩm Văn số tháng 8-1973)
 

Chủ Nhật, 2 tháng 7, 2023

CHẲNG HIỂU VÌ SAO - Ngọc Minh


Nhà em ở bến Trưng Nhị, nơi con sông Mường Mán bắt đầu làm quen với phố. Nhà hắn ở bến Trưng Trắc, chỗ con sông bắt tay với biển Thương Chánh. Và bọn Lục Diệp, Phỉ Miêu biết em thích thơ cổ nên vẫn thường trêu ghẹo bằng cách ngâm nga:

"Mi" tại Mường giang đầu
"Hắn" tại Mường giang vĩ
Tương tư bất tương "kiến"
Bèn... "go to school"

Bọn nó ấy mà, việc gì mà chẳng trêu được. Chớ giữa hắn và em, đã "có" gì đâu. Nếu không muốn nói là hiện đang "ghét" nhau. Như... nai với thợ săn. Mẹ hắn và ba em hình như là có họ thật xa với nhau vì cùng giòng Nguyễn Phúc với Công Huyền Tôn Nữ chi chi đó. Cả hai gia đình chỉ có độc nhất một mình hắn là khăng khăng phủ nhận cái sợi dây huyết thống thật mỏng manh mơ hồ đó: "Tố Ngoạn đừng tin người lớn. Mình chỉ bà con từ đời bà Âu Cơ và mang chung họ Hồng Bàng..." Hắn phủ nhận là phải, vì nếu không, hắn sẽ phải gọi em là dì, trong khi ấu thời của hai đứa là những trò đùa nghịch như đôi bạn cùng phái.

Đến một lúc nào chẳng rõ, hắn và em chẳng còn tự nhiên như trước nữa. Em chẳng thích thế đâu. Còn hắn nghĩ thế nào về nỗi ngượng nghịu của hai đứa... Ôi chao, em chịu thua! Chằng tài nào đoán được sau đôi kính tối om om, nỗi im lặng ảo mờ sau khói thuốc đó muốn nói lên những gì gì. Thì em vẫn ngang như cua còng, vẫn bướng như con trai, vẫn thích đùa nghịch như trẻ nhỏ, em có muốn thay đổi chi mô. Rứa mà, hắn cứ việc, làm ra cái điều ta đây là "người lớn", bỏ em lúc thúc một mình với những trò chơi mà ngày nào hai đứa đã hết mình tham gia.

Những lượt băng sông ghé thăm em, bây giờ, hắn cứ im lìm như tượng, nhả khói vu vơ, vỗ đàn hát khẽ. Rồi... về! Câm như sò ốc. Xem có dễ ghét chưa! Mãi rồi em cũng cạy được miệng hắn. Nhưng nỗi tức tối đã nhuộm đắng ướp chua vào những lời nói của em. Hắn trả lời lơ đãng như dạ để đâu đâu. Và đôi mắt, ỷ có phiến kính tối mò, cứ tha hồ ngắm em hậm hực.

Những buổi tối hắn sang nhà, với em, thế là đã không còn đem đến nụ cười. Mà sau khi hắn về, mắt dưng không bỗng đỏ. Mẹ đôi lúc có bắt gặp - dù em đã lanh tay che mắt - nên có nói với ba: "Bọn nhỏ bây giờ, chúng nó làm sao sao ấy... " Quả như mẹ nói, nó cứ làm sao! Ghét chẳng ra ghét. Hờn chẳng ra hờn. Dỗi chẳng ra dỗi. Luyến nhớ chẳng thể gọi là luyến nhớ. Dửng dưng càng không thể nói dửng dưng. Như thế, là cái quái quỷ gì thế, hở Ti Ti?

Điều thấy rõ nhất, là tụi em chẳng còn tự nhiên với nhau như một thời thần tiên đã cũ nữa. Em đã chẳng còn dám lay tay hắn để chỉ trỏ nầy nọ: "Thấy chưa, Ti Ti!" Hết dám túm tóc hắn lại: "Ý chà, tóc Ti búi lại được rồi nè". Hết cả chơi đánh cá đủ chuyện để nhéo mũi nhau. Hết luôn những trò đùa như chơi đá gà bằng tay, hắn cứ lừa lừa đập tay em đau điếng để em phồng má hét toáng lên: "Ti Ti ăn gian" mặc dầu nhà em vẫn gán cho em một tước hiệu thật hách xì xằng là "ăn gian chi bảo"...

Em muốn khóc được khi nghĩ rằng đã qua cái thời vô nhiên nghịch đùa thân ái với nhau. Ngày xưa ăn hiếp hắn đôi chút trong những trò chơi. Bây giờ lấn lướt hắn thật nhiều trong khi cãi cọ. Mà đâu thể gọi là cãi nhau được nhỉ. Bởi vì mặc cho em huyên thuyên chọc tức hắn mở miệng, hắn cứ hoài lì lịch nhát gừng. Làm sao hắn biết được, thâm tâm, em có muốn nói đâu, những lời lẽ chua ngoa đó...

Nhiều lúc một mình với mi chớp, mũi chun, môi mím, em nhất quyết sẽ nói thẳng với hắn: "Nếu đến để trêu tức nhau thì đẹp hơn là Ti đừng đến nữa." Hay xòe 5 ngón tay Chơi, Giận, Hờn, Hỷ, Xả để hắn bắt quách ngón xả rồi nghỉ chơi luôn. Cho xong! Nhưng đến khi gặp nhau, ánh mắt đăm đăm vương vít của hắn khiến em bối rối, nhuệ khí tiêu tan. Và cũng hơi run run, vì nhỡ xòe tay ra, hắn chọn ngay ngón "Chơi" thì "quê đậm đà" thêm...

Mùa thi ngày mỗi đến gần, cả hai đều chúi mũi vào sách vở để bù lại ngày tháng nào cứ thơ thẩn rong chơi vì những chuyện rất đỗi vu vơ. Em và hắn cứ như là loài thỏ lười lĩnh trong một truyện ngụ ngôn của La Fontain. (Nên từ hồi nhỏ xíu, em đã bướng bỉnh với anh Đàn rằng em thích thỏ hơn rùa). Kỳ nhỉ, cái năm này sao mà mình cứ đụng đầu nhau côm cốp trong những công tác trên trường. Em đã đến lúc nản đám đông, nhìn thấu được phần nào những bàn tay xảo thuật của người lớn nên quả tình em có muốn nhập cuộc đâu, vào những trò chơi dễ ghét của nhà trường. Nhưng tại Ti cứ thâm trầm xa vắng nên hắn đã vô tình đẩy em vào những lối đi không thích thú.

Một cách không ngờ, ở lối ấy, em lại gặp Ti. Và cũng ở đấy, em biết Ti Ti đã nhiều lúc phiền lòng ghê lắm, vì em! Ôi chao! Sao mà em cứ hết làm Ti phiền lòng từ điều này sang điều khác. Buồn ghê khi nghĩ rằng năm cuối cùng hắn ở đây mà hai đứa cứ chầm chập lẫy hờn, trêu phá, kênh nhau. Đã trôi đâu mất rồi, những săn sóc ngọt ngào thuở nhỏ.

Những đêm, mắt mỏi, ngồi vẽ lăng nhăng khắp vở nhớ lớp với lũ bạn nghịch như sóc, nhớ trường với kính nâu của Ti bên kia bờ cỏ mượt, nhớ vẻ bực tức cố giấu một nụ cười của mấy thầy khi bị học trò con gái trêu ngạo... và thấm thía vô cùng những câu hát nghịch ngợm của Khuê Tảo để trêu em:

"đôi khi thoáng trong gió bay lời Ti hát
đôi khi thấy trong bóng đêm một phiến kính nâu nâu
đôi khi bỗng nghe tiếng xe Gestone rồ đâu đó
đôi khi sóng khua giữa khuya hồn mi bỗng vu vơ..."

Bặt tiếng xe hắn cả tháng. Đến hôm Ti vừa thi xong, anh Đàn trên đường ra Huế trình luận án có ghé nhà, mẹ làm thức ăn ngon thết anh, bảo em gọi hắn sang ăn luôn. Em che mắt đỏ, lắc đầu: "Thôi mạ nhờ ai kêu đi. Con và Phiêu hết..." Câu nói được bỏ lửng vì âm thanh nào bỗng dưng nghẹn lối thoát ra. Hình như, sau đó anh Đàn đi kêu hắn thì phải. Em lấy cớ học thi, nhất định nhịn ăn không thèm ló đầu ra. Nhưng rồi hắn cũng lò dò xuống bàn học của em. Em gằm mặt, giả vờ ê a học bài để đuổi khách. Chẳng ngờ em vớ phải một bài thơ tếu quá. Của ông Tú Vị Xuyên! Nên cái miệng dễ ghét của em bỗng toét ra cười. Cười một mình chớ bộ. Nhưng hắn thì không chịu nghĩ vậy, mà được thể cười theo:

- Tố Ngoạn bây giờ có còn mê thơ cổ nữa không? Có nhớ, hồi anh Đàn về chơi, nơi thềm nhà trên, hai đứa mình ngồi hai bên để nghe anh đọc và giảng một bài thơ của Lý Bạch. Ngoạn lúc đó mới học đệ ngũ mà cứ làm le đòi chép cho bằng được. Nhớ không?

Em nhắm mắt. Nhớ rồi! Cái bài Trường Can Hành ấy mà.

Thiếp phát, sơ phúc ngạch
Chiết hoa, môn tiền kịch
Lang kị trúc mã lai
Nhiều sàng, lộng thành mai
Đồng cư, Trường Can lý
Lưỡng tiểu vô hiền sai
Thập tứ ừ quân phụ
Tu nhan vị thường khai...

- Ti mới kiếm được bản dịch của Khái Hưng. Để đọc cho Ngoạn nghe nha.

Thiếp ngắt hoa trước cửa
Tóc chấm trán vừa buông
Chàng cưỡi ngựa trúc đến
Tung mơ, chạy quanh giường
Làng Trường Can cùng ở
Hai trẻ một lòng thương
Mười bốn về làm vợ
Thiếp e thẹn bẽ bàng
Chúi đầu vào vách tối
Gọi, mãi chẳng quay sang...

Bài thơ còn dài nhưng đoạn sau thì buồn bã lắm. Ở đó nhắc đến nỗi đau đớn nhớ nhung trước sự chia lìa của đôi bạn nhỏ. Cũng như Ti rồi sẽ bỏ Tà Dôn mà đi xa. Dù đỗ đạt hay "ao" để đi lính như cái thằng bé kia...

Mười sáu chàng ra đi
Cheo leo lối mộ đường
Tháng năm ai dám tới
Tiếng vượn kêu thảm thương...

Hắn còn nói nhiều, nhiều lắm. Cơ hồ một đời chỉ có một lần để nói. Nhưng mà em đâu có nghe hết, vì còn mãi "tu nhan vị thường khai". Và cũng như cô bé làng Trường Can, em không dám nhìn hắn. Nhưng mà lo quá, chẳng biết em có còn bướng đến độ "gọi, mãi chẳng quay sang" không. Rồi trong nỗi thẹn thùng, bỗng dưng em muốn khóc, muốn khóc quá chừng chừng mà chẳng hiểu vì sao!


NGỌC MINH       

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 53, tuần lễ từ 1-6 đến 8-6-1972)


Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

TRĂNG HUYẾT - Nguyễn thị Ngọc Minh

 

Biển ngợp ngụa trong màu đỏ của trăng. Tôi ngợp ngụa trong cái thứ nước mặn tanh đó. Đêm lặng gió, sóng nhỏ, những cù lao đen đủi ngoài kia khiêu khích. "Lúc nào buồn, em sẽ bơi ra đó, bứt một nhúm rong mơ rồi quàng lên cổ bơi về". Tôi thường nói câu đó với Huyên nhưng chưa bao giờ tôi thực hiện cả. Bởi mọi sự với tôi chưa có gì trầm trọng để gọi là buồn. Sự lì lợm đã như một món quà Huyên tặng riêng tôi trong những ngày sinh nhật vào mùa trăng huyết tháng tám. Huyên có cái lối trui luyện em gái như tập tục của một giống dân da đỏ ở vùng hàn đới nhúng trẻ sơ sanh vào nước suối và lớn lên một chút, xô nó xuống dòng sông cá sấu ; Nếu nó chịu được lạnh và cá sấu không ăn được thì coi như trời đã nhận. Tôi sẽ không cãi nếu có ai bảo Huyên không biết thương em. Cãi làm gì. Nói ra chẳng ai hiểu đâu. Mà cũng chẳng cần ai hiểu.

Huyên hơn tôi gần mười tuổi nên khi chơi với Huyên, tôi có cái dáng lúc thúc của một con gà con. Đúng hơn là con gà què. Một chuyến lên núi Tà-Cú nhân dịp Trung Thu, cái bánh xe đạp sau quấn nghiến bàn chân tôi. Huyên cõng tôi vào bỏ trong bụng ông Phật nằm dài 49 thước để đi kiếm thuốc. Trăng đêm đó cũng là trăng huyết. Hơi trăng hắt sáng qua khe mắt Phật rọi trên gót chân bầm tím của tôi lạnh như ai rắc băng trong tủy. Sau nầy tôi đi hơi cà nhót. Sao chẳng lúc nào tôi tỏ ý - dù ý thầm - oán giận Huyên. Nhà chúng tôi ở gần một cái đầm nước mặn, dưới chân một đồi cát, kề một nghĩa trang. Bên kia đầm là một vườn rau xanh ngắt ẩn dưới bóng cau rợp lá loáng thoáng thấy được bóng người. Một chỗ nửa chợ nửa quê. Bọc ngoài đồi cát đầy dứa dại táo gai là biển, nơi cung cấp những trò chơi không chán. Ngay trong nhà chúng tôi cũng đã có nhiều thứ để giải trí rồi. Con mèo chột là của Huyên. Con heo vá đen là của tôi. Con nhồng kêu được nhiều tiếng người là của Huyên. Đàn vịt có bệt sơn xanh đánh dấu trên lưng là của tôi. Chúng tôi còn chia nhau nhiều thứ. Cây đu đủ đực, giàn bầu, cụm hoa tử vi, chậu xương rồng hoa trắng muốt... Có một cái mà chúng tôi không thể chia. Đó là má. Cũng chẳng biết được má thương đứa nào nhiều hơn. Đôi lúc thấy Huyên "hành hạ" tôi quá, như là má cũng xót xa, nhưng ít khi nghe bà la anh về việc đó.

Mà mọi sự, rõ ràng là còn sự tự nguyện của tôi, Huyên đâu có ép. Đóng một cái nhà cho con heo sắp đẻ. Dựng thêm giàn cây. Đi quơ cây khô trên đồi về nhà chụm lửa. Khi tôi đang tuổi lớn, Huyên đi học xa. Nên trong một năm đối với tôi mùa hè là mùa thần tiên nhất. Có những chuyến phiêu lưu xa hơn giang san chúng tôi đang ở. Đến rừng dương lăn trên những nệm đá xanh óng ánh như triền suối chảy ở Đá ông Địa. Leo tận đồi mai rừng quanh đồi Lầu ông Hoàng. Chân vẹo xiêu lẽo đẽo theo anh khắp nẻo. Kỳ diệu nhất là đi trên nước biển. Thuở mới tập bơi, tôi đau đớn lùng bùng với cái chân xiêu vẹo. Cuối cùng, Huyên phải rứt tay tôi bám, xô mạnh. Cứ ngỡ chìm mất mình thì Huyên nắm cổ kéo lên.

Thường, cuối một dịp hè, Huyên thường có cái lối chào tạm biệt tôi bằng những cái xô thật bạo tàn mà một đời tôi khó quên. Vì nó thường trùng với mùa trăng sinh nhật của tôi. Lần tập bơi đó là một. Lần thứ hai trong một dịp đi hái dừa vườn hoang với anh. Trời lạnh và đầy sao. Một năm, trăng rằm lớn nhất vào tháng tám, đầy, to, tròn và đỏ như máu nhuộm khắp cảnh vật một màu u uất, tóc tang và hoang dã, đục mờ. Những rằm khác trăng trong thì sao biến đi. Nhưng tháng tám ở đây thì đặc biệt sao đầy dầu đêm rằm. Tháng tám ma quái của tôi! Huyên mang theo một cuộn dây dừa lớn để thòng trái xuống cho tôi tháo. Rồi như thường lệ hai anh em chọn hai gốc cây ngả lưng nói lung tung chuyện hay không nói gì hết. Gió thổi xô đẩy lá dừa rào rào không phân nổi với tiếng sóng ngoài kia. Hai tay tôi chắp sau ót thì Huyên gỡ ra, nói thầm vào tai: "Ngày xưa có thằng cha kia ăn xong trái vườn hoang buộc tiền vào gốc cây trả cho chủ. Bây giờ tao cột mầy vô đây để trả tiền mấy trái dừa". Huyên nói và Huyên làm. Rồi Huyên đi. Tôi định nói thôi em không chơi cái trò kỳ cục nầy đâu nhưng sự lì lợm khớp miệng tôi lại. Tay Huyên trói không chặt nhưng chắc chắn. Cọng dây dừa nhột nhạt cổ tay tôi. Nước mắt tôi chảy ào nhưng răng cắn nhất định không kêu. Có những người đi đánh vó khuya sóng sánh đèn bão ngoài bãi. Từng nhóm tới lui ẩn hiện như ma trơi. Tiếng cười nói lất lây trong cụm lá dừa nầy, bụi cây gai nọ. Sao vẫn nhiều và dầy. Trăng tươm ứa thêm màu máu sẫm. Vẫn còn một chút yên tâm rằng Huyên lẩn quất đâu đó, sẵn sàng ào ra nếu sinh vật nào ăn hiếp em gái anh.

Lần xô thứ ba nầy thì hết hy vọng đó rồi. Sau khi đỗ đầu trong kỳ thi ra trường, Huyên về nhà tuyên bố: "Sẽ lấy vợ trước khi trình luận án và... đi lính". Cái xô dứt tình, dứt nghĩa. Thôi thế là em sẽ bơi ra cù lao đó. Quàng rong mơ lên cổ rồi bơi về. Bơi về rồi làm gì nữa đây. Chị dâu tương lai của tôi quá đẹp. Điều đó khiến tôi hơi ngạc nhiên. Con người Huyên cứng cỏi, không có dấu vết của sự thường tình. Chính cái nhan sắc kia khiến cảm nghĩ đầu của tôi là mình bớt nhìn Huyên cao ngất như xưa. Bớt nhưng không hết. Làm sao hết! Có những ngày tôi không làm gì hết. Tôi nắm khềnh ra trên đệm lá dương khô, ngủ cho no, cho muồi hai mắt. Cũng có lúc thả mình nổi trôi lênh đênh trên mặt nước. Tôi đen như cục đất thó. Tóc cháy vàng chẻ đôi ngọn khô gẫy. Mặc dầu đám cưới chưa cử hành, nhưng tôi tránh đi chơi với Huyên.

Tôi hân hoan khi thấy những đóm buồn trách ẩn hiện trong mắt anh. Sự độc ác, lạnh lùng Huyên truyền thụ cho tôi được tôi thực tập với vài người quen. Nhưng họ hơi đần khiến tôi không còn hứng thú. Đâu dễ gì trời phát cho ta một đối thủ vừa tay. Những buổi đi chơi tay ba bề ngoài có vẻ thật dễ thương. Tần là người mềm mỏng, có cố gắng trong sự chiều chuộng tôi. Sau đó thái độ dửng dưng cửa tôi vẫn không thay đổi gì hết. Nhưng cũng có lúc bất thần nằm dưới vòm keo, nghe tiếng chim líu lo, bỗng dưng tôi xấu hổ với con chim vô danh nào đó. Nên về nhà cố gắng tỏ vẻ thân ái lại với Huyên, sốt sắng phụ tay vào việc dựng thêm một gian nhà mới cho đôi vợ chồng sắp cưới. Huyên cũng cười cầu hòa, chọc thẳng vào vết thương tôi: "Làm gì mấy ngày nay mày phịu mặt thế con nhỏ. Tần sẽ thay mày đi chợ, sẽ cho heo ăn, sẽ chia xẻ gần hết những việc nặng lâu nay của mầy". Tôi nói thầm: "Nhưng tôi đâu có ham. Tôi đâu có cần được như vậy". Huyên chọc thầm: "Rồi bộ mi không lấy chồng sao. Trong đám đó tao ngó bộ có mấy thằng trông được lắm." Nghe Huyên nói giọng buông xuôi chưa. Ngày nào lũ bạn trai của tôi còn khổ sở vì những trò hề của Huyên để trắc nghiệm từng đứa. Bây giờ thì đâm ra dễ dãi như vậy. Tôi bỗng nói to: "Thôi tốt hơn là Huyên đừng nói gì nữa cả thẩy".

Trời mưa bay bay ngoài nghĩa trang. Người xà ích nạt nộ tôi tránh lối cho xe mang gạch hồ vào xây một ngôi mộ mới. Đám ma nầy khi sáng tôi có gặp. Thằng nhỏ chết trạc tuổi tôi. Má nó khóc mùi mẫn. Ba nó mặt lạnh như đá. Như là ông có ngồi trên xe ngựa và ngó châm bẩm tôi. Tôi không nhìn lên nhưng tôi biết. Theo Tần kể, thằng nhỏ tự tử vì bực bội trước mối bất hòa của ba má nó. Tự tử bằng một cây súng của ông. Có vẻ như đó là một người có chức phận và danh vọng. Dĩ nhiên, từ đó sẽ kéo thêm nhiều mối bận tâm khác, phải chăng tôi bị quyến rũ từ đầu bởi nét khổ tâm trong mắt ông và nét quý phái sang trọng nơi người đàn bà vợ ông. Buổi chiều đó, tôi đứng dưới gốc cây đào ngắm người thợ hồ xây mộ và ngắm người đàn ông có nỗi khổ nát lòng ngụt trong hai mắt. Thỉnh thoảng ông có nhìn lại tôi, mắt dịu xuống. Nhưng mắt tôi không hề chớp. Tôi quan sát người cũng như quan sát vật để quên buồn. Vì trời mưa, tôi chưa thấy hứng bơi ra cù lao Hống.

Ngày cưới kề, Huyên đi xa một chuyến lấy cớ để mua một ít đồ cần cho đám cưới. Chắc chắn đó là cái cớ. Tần vẫn đến nhà thân ái dịu dàng với má và tôi. Bỗng tôi thấy tội nghiệp cho cái nhan sắc đó phải về sống ẩn nhẫn giữa chốn đầm lầy hoang lạnh như thế này. Tôi sợ sẽ có lúc chị hối hận. Thì có bao giờ tôi kêu ghét Tần đâu. Nhưng lâu nay thấy dửng dưng. Dịp đi xa của Huyên mới thấy chớm lên chút nào hảo cảm dành cho chị. Tôi nghi ngờ như có một điều gì toan tính giữa hai người.

Sáng mai là ngày Huyên về, Tần đến xin phép má cho tôi đi với chị trong một buổi tiếp tân. Tôi ngồi cho Tần trang điểm. Tần nói nhỏ: "Hải sẽ là người nổi nhất trong đêm nay." Có lẽ, nhờ cái chân cà thọt của tôi. Chị cho tôi mượn cái maxi vàng óng - để phủ che chút chân tật nguyền, phải thế không? - Phải lắc đầu với nhiều người mời ra sân nhảy, tôi nghĩ mình giống một nhân vật cổ tích, con nhỏ công chúa cá thích lên bờ phải đổi cái lưỡi lấy đôi chân người để gặp hoàng tử. Nó phải câm, mất đi tiếng hát tuyệt vời đã làm hoàng tử mê mệt nếu không sẽ biến thành bọt nước. Hình như cuối cùng con nhỏ không ngăn nổi mình vì tựa truyện là Bọt Nước Chung Tình. Như bao giờ, tôi đứng một chỗ riêng. - Ở đâu cũng có một chỗ riêng cho tôi - nhìn ngắm từng người. Ai sẽ là hoàng tử của tôi đêm nay. Chỗ này là chỗ người lớn. Không có lấy một tên nhóc bạn tôi. Nhưng trong mắt nhìn tôi biết những người kia không coi tôi nhỏ. Họ đến từng tốp hai ba người rồi đi. Tôi thích như thế. Thật là thoải mái. Trời trong sáng và đầy sao trên những lùm cây như đêm nào Huyên trói tôi vào gốc dừa. Trăng mới nhú. Kéo lướt thướt cái bóng ngầu đục của nó qua những tàn lá thấp. Phải cám ơn Thể Tần mới được. Ban đầu ngỡ Tần đẹp nhất đêm nay. Nhưng rồi mới thấy. Sang trong quý phái trên tất cả vẫn là bà Hạo, cái người đàn bà ảo não trong đám ma hôm nào. Tôi ngắm bà ta không chớp mắt và buột miệng nói với người đàn ông đứng cạnh: "Trông cái bà trong áo nhung đen kìa. Tôi mê bà ta quá". Có tiếng cười ngắn: "Bà ta là vợ tôi"...

Tôi quay hẳn người lại. Nhìn trừng trừng người đàn ông lạ lùng đó. Mắt ông ta vẫn buồn dù nụ cười còn giữ trên môi. Tôi tự nghĩ người đàn ông nầy dù có nghe những gì người ta xì xầm về vợ chồng ông thì chắc đó cũng chẳng phải là nguyên do khiến ông phải buồn thêm. Nỗi buồn như thấm tự đời thuở nào trong xương tủy ông. Chẳng hiểu vì sao tôi muốn bắt tay ông để chút buồn nhỏ của tôi lẫn hòa trong buồn rộng. Rồi tôi nói về cù lao nhỏ. Ông có bao giờ thấy cù lao đó chưa. Tôi cứ dọa anh tôi bao giờ buồn tôi sẽ bơi ra đó. Hái rong mơ choàng lên cổ rồi về. Ông ta nghiêm trang: "Ngày mai tôi sẽ thực hiện giấc mơ đó giùm cô." - "Sợ ông bơi không nổi" - "Tôi có vẻ bệ rạc lắm sao" - "Không, nhưng ông có vẻ nặng nề vì một nỗi buồn nào đó. Đâu có ai mang khối đá trên lưng mà bơi nổi" - "Thế thì tôi sẽ cất tạm nó ở nhà" - "Tại sao không ném quách đi cho rảnh, ông còn tiếc rẻ lắm sao" - "Đó là một phần của tôi. Không ai cắt bỏ được thịt da mình. Vì nó sẽ nẩy chồi mọc ra cái mới. Trừ khi tôi chết đi."...

Im lặng một lát, đột nhiên tôi hỏi: "Chắc ông yêu bà ghê lắm". Tiếng ông lạnh lẽo: "Cô có cần biết lắm không." Tôi xin lỗi. Có lẽ vì bà ta đẹp quá. Tôi bị mê hoặc bởi bà ta. Và hơi phiền lòng khi thấy họ không được hạnh phúc. La Rumeur! "Cô tin những lời đồn đãi lắm sao?" - "Tôi ghét chúng nhưng dầu gì cũng không chối được là có một chút gì thật trong đó." Ông ta bỗng kéo tay tôi. Mà tại sao ta phải nói về những điều đó trong một đêm thế này. Đi! Tôi mời cô bản nầy. Tôi từ chối. Tôi nói thẳng là vì chân tôi hơi cà nhót. Ông Hạo à à. Ra đó là nguyên nhân nỗi kiêu ngạo của cô. Tửu lượng ông ta làm tôi ngán. Đó là người thứ nhì tôi nể về chuyện nầy, sau Huyên. Họ nhà tôi có máu háo thắng. Nên dễ lì lợm trong mọi trò đùa. Ông Hạo nói tôi chẳng phải vì đùa như ông anh của cô mà uống nhiều đâu. Ông biết Huyên à. Biết chớ. Thằng cha nổi tiếng lì rượu. Năm đầu tiên ra nghề, tôi dạy Huyên. Chúng tôi thuê phòng ở gần nhau. Đêm đầu Huyên đến H, chúng tôi đã uống với nhau những giọt rượu đầu tiên rồi ôm cái mặt nứt nẻ, sau trận đòn của du đãng xứ ấy lết về phòng. Chuyện đó tôi có nghe Huyên kể. Té ra là ông sao. Sao ông có con lớn thế. Tôi lấy vợ sớm, Cẩm Lai học lớp tôi. Dạo còn ở Đ., chúng tôi thường ôm nhau lăn từ những đỉnh cỏ cao mượt mà xuống chân đồi. Mẹ Cẩm Lai hỏi tôi có ba triệu không? Cách đây mười bẩy năm, ba triệu không phải dễ kiếm. Nhưng cuối cùng tôi cũng cưới được Cẩm Lai vì chúng tôi đã có con với nhau. Tôi thường nghe Huyên nhắc về cô. Hải Đường! Té ra chúng ta quen nhau mười lăm năm nay rồi mà không hay. Tôi nhỏ nhẹ: "Hãy gọi tôi là Hải thôi. Tôi không thích phải mang tên thứ hoa đó."

Ông Hạo lái xe đưa tôi về. Cô có vẻ khôn ngoan trước tuổi. Kiêu ngạo, tự tin, lúc nào cũng ở một thế thủ vững chắc. Tự rót uống lấy một mình. Cô chưa uống một giọt rượu tôi mời. Lúc ở trên xe, gió lộng làm tôi nhớ mình chưa cho Tần hay mình về xe ông Hạo. Ông cũng chưa cho bà ấy hay. Thế cô nghe người ta đồn thế nào. Chúng tôi đang ở thời kỳ ly thân. Nghe giọng nói như là ông vẫn còn yêu bà. Tôi nhắm mắt và cảm thấy có một cái gì đó nát tan không cứu vãn nổi. Cái cảm giác của một người bị đẩy truồi từ đỉnh xuống chân một đồi cát. Mình sao thế này. Tôi kêu ông Hạo cho tôi xuống. Ông thắng xe và nắm tay tôi. Cô sao thế. Chẳng sao hết. Sắp đến nhà tôi. Tôi muốn đi bộ một quãng. Ông Hạo khóa xe. Tôi sẽ đi với cô. Những lời nói như truyền lệnh nầy là của Huyên. Huyên mà tôi sắp mất. Thốt nhiên tôi cảm thấy chán nản và rã rời mọi sự. Còn hay mất. Sống hay chết. Đời sống lung linh những nỗi không tưởng. Chúng tôi im lặng đi chậm rãi bên nhau. Như một đôi bạn già. Kỳ dị nhỉ. Sao giờ này tôi lại ở đây. Tiếng ve thống thiết trong những bụi cỏ. Gió hất tóc tôi sang vai ông Hạo. Jupe dài làm vướng víu những bước chân lướt thướt trên cỏ của tôi. Rồi một lúc nào không rõ. Chúng tôi lạc lối đến nghĩa địa. Lẩn quẩn đến ngôi mộ người con ông Hạo. Ông đứng lại một chút. Trăng hắt lênh láng màu đỏ sậm trên mặt ông tỏ lộ một điều gì đó thê thiết khôn tả. Tôi đứng như tượng nhìn một bức tượng khác là ông. Rồi một lúc nào không rõ. Chúng tôi hôn nhau. Nụ hôn nhẹ tưởng như không có. Nhưng mà lâu. Lâu như nỗi buồn. Một pho tượng hôn một pho tượng. Lạnh biết mấy. Sau đó cảm được một chút gì yên tâm và vơi bớt chán nản. Hôn, thay cho bắt tay, như một dấu hiệu chào nhau để nỗi buồn vỡ ra, chảy bớt. Tôi chảy nước mắt. Cô từ đâu đến thế này. Tôi ở đây. Thế sao tôi không biết cô. Vì tôi không biết ông. Chúng ta không biết nhưng cây cỏ biết. Mả mồ biết. Sao trăng biết. Và đứa con tôi sẽ chứng giám rằng... Tôi sẽ thường ra thăm cậu ta. Mong tình cờ gặp lại. Bây giờ nên chia tay ở đây. Lúc nầy người truyền lệnh là tôi. Ông đứng đó. Tôi quay thoắt đi sau những hàng lau sậy dẫn vào nhà. Lọt vào trong nhà mới biết mình đánh rơi đâu đó một chiếc giầy. Như con bé lọ lem chưa. Nhưng nằm ngoài dự liệu của Huyên và Tần, lọ lem không gặp hoàng tử mà lại gặp ông già của hoàng tử. Tần ngồi chờ tự bao giờ. Má tôi đang trách sao để lạc tôi thì tôi vào. Con về đây. Còn nguyên vẹn nè má. Nhưng mất mát rơi rớt theo nhịp chạy rất nhiều. Làm sao má biết. Làm sao má đếm được hồn con. Rồi ngày qua ngày. Sóng làm đôi lúc tôi tưởng điên lên được. Nhưng nước biển làm tôi dịu lại. Tôi vẫn chưa bơi ra cù lao Hống. Chưa có gì trầm trọng mà. Một đôi lần tôi suýt chạm mặt bà Hạo nơi mộ cậu bé. Bộ đồ đen làm tăng thêm vẻ đẹp não nùng của bà. Cẩm Lai! Tên một thứ gỗ quý. Tôi biết ông Hạo còn yêu bà ghê lắm. Chẳng thế mà ông buồn. Mà liên can gì đến tôi. Cô có cần biết lắm không. Ông Hạo đã hỏi. Nếu là bây giờ, tôi sẽ trả lời. Cần lắm. Để làm gì tôi cũng không hiểu nhưng cần lắm.

Có đêm tôi mơ thấy mình bơi ra cù lao. Đó là những hòn đá sắc cạnh màu huyết loang lởm chởm hàu hến. Huyên đứng trên đỉnh tự bao giờ. Anh gỡ tay tôi nhoi lên bám đá, xô hất xuống bể. Đá sắc cào xước một bên ngực, vẫn mạnh bạo như một con kình ngư tôi thong dong bơi vào bờ. Có tiếng ông Hạo gọi sau lưng. Ông ta vừa bơi vừa giơ cao một nhánh rong mơ định trao cho tôi. Nhưng sóng giạt, chẳng bao giờ chúng tôi chụp bắt được nhau. Rồi tôi thấy mình đứng trước một tấm kiếng lớn. Áo toạc ra, tay cầm bông băng định băng vết thương nơi ngực nhưng vết xước đẹp quá khiến tôi cứ đứng ngắm nghía hoài hủy. Máu tươm một đường đỏ chấm dứt ở ở đầu vú trông như một nhánh hồng đầy gai máu. Rồi tôi hôn tôi. Cành hồng đỏ vỡ nhòa. Nụ hôn lạnh lẽo mùi ngấn thủy của gương.

Cũng có lúc lờ mờ tôi thấy cậu con của ông Hạo tìm tôi. Tại sao chị thường đến thăm mộ tôi. Vì tôi mê má cậu và tôi đã hôn ba cậu. Tôi không thích thế, tại sao chị không đến vì chị thích đến với tôi. Thế thì tôi không đến được đâu, cậu bé! Nhưng đó là mơ! Thật ra tôi vẫn đến ngôi mộ ấy thường và lánh mặt mỗi lần thấy người ở đó. Có lần ông Hạo nhìn thấy tôi. Ông đuổi theo nhưng bao giờ cũng lạc lối giữa những hàng lau sậy. Những con chim vịt động ổ bay lên quang quác kêu rợp trời. Lẫn lộn trong đó tiếng kêu trầm, nhỏ, yếu ớt của ông Hạo: "Hải! Hải! Em ở đâu, cho tôi gặp một chút". Không khác tiếng kêu tôi đã nghe trong giấc mơ bao nhiêu.

Bốn chúng tôi, Huyên, Tần, má và tôi vẫn sống êm đềm và có vẻ hạnh phúc. Chúng tôi sắp rời khỏi nơi nầy. Huyên vào lính. Tôi được gởi đi học xa. Thể Tần bị thuyên chuyển về vùng cao nguyên. Má sẽ theo sống với Tần. Những buổi tối tôi ngồi sành soạn những món quà xa ngày xưa của Huyên. Một đốt ngón tay ướp formol. Bàn tay cán mỏng thành hình hoa pensé. Pensé à moi. Điều đó cần thiết chăng. Đêm, gió vẫn hú dài trên những đồi cát hoang dã sau nhà rồi lướt chân vòng qua những bụi bờ lau sậy giữa đầm lầy và nghĩa trang. Rồi sóng, sóng vẫn rên siết những lời tuyệt vọng một cách nhàm chán. Và sao, sao lấm chấm dày đặc âm u. Đã qua mùa trăng huyết cuối cùng của tôi ở P.

May mắn tôi là người rời nhà đầu tiên. Huyên có tổ chức một buổi rượu tiễn. Dành cho tôi bất ngờ, anh có mời ông Hạo. Huyên kiêm luôn chức đầu bếp. Món thịt nướng anh làm thật tuyệt. Đủ cả tỏi, quế, ngũ vị hương, cà ri cay... Mấy chai Mai Quế Lộ được đào lên... Càng về khuya tôi càng sợ hãi trước sự bình tĩnh của Huyên và vẻ mặt ngây ngô của ông Hạo. Dưới sự điều động của Huyên, ông khóc cười như một đứa trẻ. Lòng tôn quý của tôi đối với ông tiêu tan như nỗi buồn không còn đọng vết trong mắt ông. Huyên bấy giờ độc ác như một gã phù thủy. Mắt anh đỏ những đường gân chằng chị, cơ hồ rượu đổ ngụt vào hai cái hố khủng khiếp ấy. Nó vẫn chưa vật ngã anh.

Tôi chịu hết nổi. Chạy vòng ra sau nhà. Thấy Tần ngồi khóc bên đống lông chuột, tôi nghĩ rằng chị đã hiểu lờ mờ. Nhưng tôi thì hiểu thấu suốt mọi sự. Tôi cào nát cổ vẫn không ọi được mớ thịt thơm phức đã nuốt vào khi nãy. Ông Hạo đang chuệnh choạng múa may bước ra cổng và ngã sóng soài giữa bậc đá. Má tôi mang khăn ướt ra lau vết bầm trên trán cho ông. Huyên liệng ra một tấm mền. Tôi ngửng lên. Không phải hai con mắt lửa. Mà đó chính là hai vầng trăng huyết độc ác và thê lương theo đuổi tôi suốt cả cuộc đời. Trong chuyến đi xa ngày mai, tôi sẽ không còn lo phòng những bất trắc. Đánh đổi lại, sẽ là những mảng tình không. Ông Hạo! Ông Hạo! Và những gì sau nầy nữa. Hãy tha thứ cho tôi. Hãy tha thứ cho tôi...


NGUYỄN THỊ NGỌC MINH      

(Trích từ tạp chí Thời Tập số 7, phát hành ngày 31-5-1974)