Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Nguyên Lộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình Nguyên Lộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2026

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐẺ - Bình Nguyên Lộc

 
Hoàng Hậu Ái Mỹ lấy ngón tay uốn nhánh dâu để xem nó đủ sức cứng rắn chưa, đặng chặt về biếu con trai yêu quí của bà, vì cậu Thái Tử tương lai mơ ước một cây cung vừa dẻo dai, vừa bền chắc.


Hoàng Hậu chợt thấy một con bướm rất xấu xí, thân hình toàn một màu trắng mông mốc và yếu đuối như vừa mới nở. Nhưng nó không là mới nở đâu, vì nó đang quằn quại trên một lá dâu, rồi giây lâu, đẻ lên đó một mớ trứng vàng.

Đẻ xong, bướm ta dò dẫm bò chầm chậm ra bìa lá, chớp lia lịa hai cánh yếu mềm, không đủ sức nâng cái thân hình của nó lên không trung.

Bướm nhìn vực thẩm dưới kia, lảo đảo như say rượu, rồi vô tình hay cố ý không rõ, rơi mình xuống vực. Bướm rơi xuôi xị như một lá chết, hai cánh mong manh không thèm cựa quậy nữa.

Bướm chết thật rồi.

Hoàng Hậu ngạc nhiên quá, nhưng bận chặt nhánh dâu, nên không để tâm thêm về cái chết nầy.

Những ngày sau, Hoàng Hậu quên mất con bướm vắn số, nhưng một hôm, ra thăm lại cây dâu, để tìm một nhánh làm cung nữa, thì Hoàng Hậu thấy những trứng vàng đã nở ra những con sâu lông dài màu đen như những con sâu rọm.

Cha nào con nấy, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, sâu nầy yếu đuối không thua gì mẹ nó là con bướm mốc hôm trước.

Hoàng Hậu đoán những vật èo uột nầy, rồi cũng chết mất thôi.

Quả thật thế, hai hôm sau, ra thăm lại thì chúng đã chết sạch, chỉ trừ một con.

Hoàng Hậu than:

- Trời sanh làm chi những kẻ yếu sức như vầy, ích gì cho ai và chính nó cũng khổ.

Bỗng, kỳ lạ thay, có tiếng nói nhỏ nhỏ phát ra từ con sâu:

- Thưa Hoàng Hậu, ban đầu, trời sanh chúng tôi cũng mạnh khỏe như bất kỳ ai. Nhưng chúng tôi phung phí sức nhiều quá để làm việc, thành ra càng kiếp, càng phải ươn yếu như vầy. Không lỗi ở trời đâu.

Hoàng Hậu hơi sờ sợ con sâu sống sót đó, nhưng tánh tò mò mạnh quá, nên bà đánh bạo hỏi:

- Nhưng tại sao giống của mi lại phung phí nhiều sức lực quá như vậy? Trên đời, ai cũng làm việc cả, mà có ai khổ đến thế đâu?

- Thưa Hoàng Hậu, là tại công việc chúng tôi khó khăn quá sức.

- À, ra thế! Nhưng cái kiếp của mi đây, chắc không còn làm gì được nữa. Bị mi yếu quá rồi.

- Không, Hoàng Hậu. Kiếp nầy làm giỏi hơn kiếp nào hết, vì kinh nghiệm của bao đời đã kết tinh nơi đây, miễn là...

- Miễn là gì?

- Miễn là chúng tôi được nuôi dưỡng châu đáo.

- Nhưng mi làm được cái gì?

- Tôi là nghệ sĩ đây.

- Nghệ sĩ là cái quái gì, ta chưa nghe nói đến lần nào.

- Nghệ sĩ là những kẻ làm ra cái đẹp, đẹp lắm.

- Nhưng đẹp để làm gì? Cái đẹp ấy có lợi ích gì chăng mà phải nuôi mi cho uổng công.

- Cái đẹp, riêng lấy nó, cũng đã có ích lắm rồi. Hoàng Hậu nấu bếp mệt, Hoàng Hậu ngồi nhìn giây lát một cái lọ sứ nước men trong, vẻ tranh đẹp, tức Hoàng Hậu hết mệt ngay, chóng hết hơn là chỉ ngồi nghỉ ngơi thường.

Nhưng ngoài vẻ đẹp suông thường ấy, nghệ phẩm cũng còn lợi ích khác, thí dụ, ngôi nhà Hoàng Hậu núp mưa, nắng, đôi giày Hoàng Hậu mang để đỡ đạp gai, đều do nghệ sĩ nghĩ ra kiểu mẫu.

- Nếu quả thế, thì ta nuôi mi đó, mà ta phải làm sao cho mi khỏi chết?

- Thưa Hoàng Hậu, tuy nói thế đó, chớ tôi cũng dễ nuôi. Mỗi ngày Hoàng Hậu cứ chịu khó hái lá dâu này, xắt nhỏ ra cho tôi ăn là được. Chỉ phải cái, tôi ăn nhiều quá. Nhỏ người mà bụng to. Tôi ăn cái khối đồ ăn to bằng mười tôi lận.

Thịt nghệ sĩ chúng tôi mềm lắm, nên con gì cũng thích xơi chúng tôi cả. Hoàng Hậu có nuôi tôi thì nên bảo vệ tôi. Kẻ thù ghê gớm nhứt của tôi là thằn lăn, rắn mối và các loại ruồi.

Tôi lại èo uột như Hoàng Hậu đã thấy. Những khi trở trời, thời tiết đổi là tôi mang bịnh ngay. Tôi sợ lạnh, lại sợ nóng. Lạnh, Hoàng Hậu nhúm lửa sưởi tôi. Nóng, Hoàng Hậu nên mở cửa cho gió quạt tôi.

Tôi lại không chịu nổi mùi gay gắt. Hoàng Hậu có hút thuốc, thì nên xa lánh tôi, không tôi lại say mà chết mất.

- Úy cha chả là con cưng: nuôi mi còn khó nhọc hơn là nuôi Thái Tử. Nhưng ta cũng chịu khó một chút, thử xem mi sẽ làm nên trò trống gì cho biết.

- Hoàng Hậu sẽ khỏi tiếc công.

- Vậy, ta đặt tên là Tằm cho dễ kêu nhé!

- Vâng, đa tạ Hoàng Hậu.

Hoàng Hậu đem Tằm vô cung vào hôm thứ ba, sau khi Tằm nở. Cả hoàng cung đều bu lại xem con vật kỳ lạ biết nói tiếng người.

Các bà Thứ Phi và cung nữ thấy nó dị hợm quá, sợ hãi không dám lại gần. Tằm cười, mà rằng:

- Nghệ sĩ chúng tôi xấu xí như thế, mà hiền lắm, tốt bụng lắm đó, thưa quí bà.

- Mầy như con sâu rọm ấy, gớm chết - Bà Tây Phi nói.

- Vâng, bề ngoài thì như vậy. Nhưng lông tôi chạm phải không ngứa đâu mà sợ.

Hoàng Đế vào xem và cười ngất:

- Nghệ sĩ là cái quái gì, mà tên lạ thế, mà thân thể xấu không thể nói.

Hoàng Hậu chỉ mỉm cười, không đáp, rồi cắt đặt công việc cho đoàn phi tần: nàng Trúc Liên hái dâu, nàng Trúc Đào xắt dâu, nàng Ngọc Khánh canh gác thằn lằn và ong, ruồi, còn nàng Cẩm Nhung thì giữ vai liên lạc báo tin cho Hoàng Hậu biết ý muốn và bịnh tật của Tằm. Thật là cả một tổ chức phục vụ như đối với một vị vương.

Các cung nữ phàn nàn nho nhỏ:

- Cưng gì mà cưng quá trứng mỏng như vầy. Bà Đông Phi còn không được săn sóc châu đáo bằng con sâu quỉ nầy.

Tằm thỏ thẻ:

- Các chị ơi, các chị đừng phiền. Hãy chịu khó với tôi một lúc, các chị sẽ được hưởng công xứng đáng.

- Mi, thì còn có quà gì để thưởng chị em chúng ta?

- Rồi các chị sẽ rõ. Cái thân thể kiều mị của chị đó, tôi mà tô điểm thêm vào thì nó đẹp như hoa. Hoàng Đế sẽ yêu các chị, rồi cất nhắc các chị lên hàng Thứ Phi cho mà coi.

- Mi tô điểm làm sao? Chị em ta không muốn mọc lông sâu rọm như mi đâu.

- Không mà, các chị sẽ đẹp như tiên nữ ấy! Rồi các chị sẽ thấy mà.

Thúy Liễu trề môi dài ba tấc, rồi uể oải nói:

- Thôi, ta đi hái dâu cho con nợ nầy.

- Hãy khoan - Tằm kêu Thúy Liễu lại - Còn sớm lắm. Lá dâu còn ướt sương, mà tôi thì sợ nước. Để trưa một chút cho nắng sưởi ráo lá, rồi chị hãy hái, nếu hái chiều được càng hay.

- Ý ạ! Khó tánh dữ vậy à? Con cưng dữ vậy à?

Trúc Đào ác tâm lắm. Cho bõ ghét, nàng xắt dâu rồi đổ bừa lên nong, phủ bít Tằm lại cho Tằm ngộp thở mà chết cho rồi. Nhưng lạ quá! Tằm không chết ngộp, mà trái lại, ăn rất hăng. Nó nhai lá cứ nghe rào rào như mưa rơi trên mái ngói hay nghe gió trộn lá trên cây. Nó nằm dưới đáy nong, rồi bắt từ đó mà ăn lên. Nó ăn tợn quá và ăn cả ngày lẫn đêm không nghỉ.

Tằm ăn không, ngồi rồi như vậy được ba hôm, kể cả những ngày nó ở ngoài trời, thì Tằm đã lớn được sáu ngày. Hôm thứ sáu ấy, mấy nàng cung nữ có phận sự phục dịch nó, bỗng không nghe tiếng lá cựa lào rào nữa. Họ cúi xuống sát nong, lặng nghe lâu lắm, thì quả nơi đó vắng lặng, không có lấy một tiếng động nhỏ nào.

Ngọc Khánh lật đật bươi lá dâu lên, thì thấy tằm nằm ngay đơ, không cựa quậy. Thôi Tằm đã chết rồi! Đỡ khổ nhé! Chết phức đi để người ta rảnh tay lo việc khác thú vị hơn.

Nhưng cả bọn bỗng sực nhớ lại một điều, rồi kinh sợ hết sức. Ừ, Hoàng Hậu đã giao cho họ săn sóc Tằm. Bây giờ tằm chết thình lình như thế nầy, thì biết ăn nói làm sao cho trôi.

Chưa chi mà họ đã đổ lỗi cho nhau, lộ tất cả hèn nhát của họ trong cơn nguy biến:

- Tại mầy lơ đĩnh để ong nó bay vô, nó đốt Tằm - Trúc Đào đổ thừa không căn cứ.

- Nếu ong vô thì nó đã thịt Tằm rồi - Ngọc Khánh cãi.

- Tao chắc tại con Thúy Liễu nó hái dâu ướt. Còn con Cẩm Nhung nữa, Tằm không lẽ vô cớ mà chết. Chắc nó bịnh. Sao mầy không báo tin cho Hoàng Hậu hay?

Trúc Đào bứt tóc, bứt tai kêu:

- Khổ ơi là khổ. Cái đồ mắc dịch ở đâu é! Sống đã làm tội người ta, bây giờ chết lại gieo họa cho chị em mình. Thôi, ta hãy vào phòng Hoàng Hậu, mà tâu rõ mọi việc.

Hoàng Hậu mắng, khi họ báo tin dữ nầy:

- Chúng bây ăn no, rồi lo có mỗi một việc nhỏ mọn ấy mà cũng không xong. Nào, nó đâu rồi?

Hỏi xong, bà bước qua phòng Tằm, bươi lá lên, xem cho tận mắt.

- Tằm nằm dưới đáy nong, đen thui giữa mớ lá xanh, không cục cựa, nhưng vẫn còn tươi. Hoàng Hậu nói:

- Nó biết nói tiếng người, chắc cũng là một vì tiên mắc đọa chi đây. Thôi để nó đó, ta chôn cất, kẻo tội nghiệp.

Thế rồi ai cũng quên Tằm cả.

Qua hôm thứ tám, Hoàng Hậu đương ngồi uống trà sớm, bỗng con Cẩm Nhung hớt hơ, hớt hãi chạy vào phi báo:

- Tâu Hoảng Hậu, Tằm đã sống dậy, mà lạ quá...

- Nó sống dậy à! Tao đã bảo, nó là tiên mà, có chết được đâu! Đâu mầy kể lại đầu đuôi, ta nghe thử coi.

- Bẩm, hồi nãy con sực nhớ lại, xác Tằm chưa chôn. Con đinh ninh nó đã thúi rồi, hoặc đã bị thằn lằn xơi mất. Con vào buồng nó xem lại cho rõ, thì con kinh khủng hết sức mà nghe nó kêu: "Chị Cẩm Nhung ơi! cho miếng dâu!". Con chạy lại nong dòm kỹ, thì nó cựa quậy và lạ quá...

- Lạ làm sao?

- Nó rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt, đẹp lắm.

- Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một Hoàng Tử.

Hoàng Hậu đi theo Cẩm Nhung để qua buồng Tằm. Bấy giờ cả bốn cung nữ kia cũng vừa đến nơi.

- Đâu các chị ơi, cho tôi miếng dâu, tôi đói lắm - Tằm kêu lên, khi nghe tiếng mở cửa.

Hoàng Hậu bước tới, thì thấy Tằm vàng óng, đẹp quá.

Tằm kính cẩn chào:

- Lạy Hoàng Hậu!

- Mi không chết thật à?

- Bẩm, con có chết đâu. Con ngủ mà. Con ngủ một ngày, một đêm đúng, gọi là ngủ "ăn một" để cổi lốt, rụng bỏ lông đen đi, Hoàng Hậu à.

- Vậy à? Bây ơi, cho Tằm ăn coi nào!

Bây giờ Ngọc Khánh mới dám rớ đến Tằm. Nong cũ đầy dẫy lá dâu xắt héo queo và lông Tằm cũ, trông dơ dáy quá. Nàng nhẹ tay nâng Tằm lên, sang Tằm qua nong khác.

Dâu đã hái về, Trúc Đào xắt nhỏ rải lên nong mới. Tằm ăn còn dữ hơn hôm chưa ngủ và lớn như thổi. Nó thức mà ăn như vậy đến bốn ngày và qua chiều ngày thứ tư, nó kêu mấy nàng cung nữ mà rằng:

- Các chị yêu mến. Bữa trước, tôi quên báo tin các chị biết, làm các chị phải một phen hoảng hốt. Lần nầy, tôi sắp ngủ nữa đây. Tôi ngủ giấc nầy gọi là giấc "ăn hai", cũng một ngày, một đêm, đúng y như bận trước vậy.

- Mầy ăn, ngủ gì mà lạ đời thế? Thức suốt bốn, năm ngày liền, rồi lại ngủ cả ngày, cả đêm.

- Ấy, nghệ sĩ mà, có khi no rồi vẫn thấy cần ăn nữa. Nhiều hành động khác còn bất chấp thiên hạ nữa.

Qua sáng thứ sáu, tức là ngày thứ mười hai, Tằm thức dậy và đòi ăn như séo.

Mấy cung nữ mắng:

- Chỉ được ăn rồi ngủ, chẳng ra cái tích sự gì hết. Mi thật là đồ báo cơm.

- Ấy, nghệ sĩ mà!

- Hễ động là xưng nghệ sĩ. Nghệ sĩ hay gừng sĩ gì cũng phải làm việc chớ có đâu mà ăn no lại nằm.

- Các chị không hiểu. Tôi nằm, tức là tôi làm việc đó.

- Ừ, phải chớ, làm việc nằm... nằm...

- Tôi nằm để tiêu hóa bao nhiêu là tinh anh của trời đất, cũng như nhà luyện thuốc họ nấu thuốc cao vậy mà! Những tinh anh ấy sẽ kết đọng lại, nhờ sự làm việc âm thầm đó. Rồi một ngày kia, tôi sẽ sản xuất ra một viên ngọc, nó là kết tinh của bao nhiêu cái đẹp bên ngoài.

- Mi già mồm, nói nghe như nhà phù thủy, ai mà tin mi được.

Tằm vẫn nóng bức:

- Các chị à, làm ơn mở cửa ra, không tôi chết mất bây giờ.

- Trời chuyển mưa đầu mùa nên nó vậy.

Cửa sổ mở ra, ruồi đánh hơi bay vào.

- Bớ thiên hạ, bớ người ta cứu tôi với!

Tằm kinh sợ hét lên và mấy cung nữ phải lấy quạt mà quạt ruồi. Thật là bực mình.

Bốn ngày sau đó, Tằm lại báo tin rằng, nó sắp ngủ cái giấc gọi là "ngủ ăn ba". Cũng lại một ngày, một đêm nữa.

- Ứ hự!

Mấy cung nữ thở dài, rồi ngâm mỉa mai:

Ai ơi chớ lấy thằng tằm,

Ăn rồi nằm lại ngủ hai, ba...

Ngủ "ăn ba" rồi lại thức bốn ngày. Bốn ngày cũng chỉ ăn rồi nằm.

Hoàng Hậu tới thăm, sốt ruột hỏi:

- Chàng nghệ sĩ ơi, chàng ăn rồi nằm vạ đến bao giờ mới thôi?

- Bẩm Hoàng Hậu, nghệ thuật không hối thúc mà làm được. Nó phải hưởng một thời gian cần thiết, để mà chín mùi. Tôi dám đâu quên ơn Hoàng Hậu và mấy chị cung nữ đã khổ nhọc với tôi. Nếu bây giờ, tôi sản xuất ngay cho vừa lòng Hoàng Hậu, thì e tác phẩm sẽ non nớt, không đẹp như Hoàng Hậu trông mong.

- Thôi được, cứ thong thả, ta bền lòng đợi mi.

Lần thức nầy, trời mưa như cầm chĩnh mà đổ. Tằm kêu lạnh và đòi sưởi nữa.

- Ứ hự - mấy chị cung nữ lại thở dài - y như lão già bảy mươi. Nghệ sĩ gì mà giống như mèo ướt quá.

Chị Trúc Đào nói mỉa:

- Đòi nằm lửa sao mà giống đàn bà đẻ quá vậy?

- Chị nói đúng đấy - Tằm đáp - tôi sắp đẻ đây.

- Đàn ông lại đẻ à?

- Vâng, giống nghệ sĩ chúng tôi, nam, nữ gì cũng đẻ cả. Hổm nay, tôi hoài thai một tác phẩm, cố gắng đến yếu người đi, nên mới lạnh. Và sắp đẻ đây. Các chị ơi, sao mà tôi nghe bần thần trong mình, khó chịu quá.

- Hay là mi sợ trời gầm?

- Ấy, sai bét. Người đời ai cũng ngỡ giống Tằm chúng tôi sợ trời gầm. Nhưng mà như thế nầy. Đầu mùa mưa, thời tiết thay đổi bất thường, nên tôi sanh bịnh. Nhơn có trời gầm, người ta lầm nguyên nhơn. Ngỡ tôi sợ ông thiên lôi đó thôi.

Cuối ngày thứ tư, Tằm báo tin sắp ngủ, giấc ngủ cuối cùng trong đời nó. Nó bảo đó là "ngủ giấc lớn".

Mấy chị cung nữ xôn xao lên. À, lần ngủ đầu, nó bỗng dưng đẹp ra phết, Hoàng Hậu đoán nó là tiên. Biết đâu lần ngủ chót nầy nó sẽ biến ra một Hoàng Tử xinh trai! Ấy, rồi nó sẽ yêu chị cung nữ nào có công nhiều với nó.

Chị Trúc Đào cười duyên, hỏi xem nó có vừa ý những mảnh dâu xắt nhuyễn thơm phức, và quạt ruồi cho chàng Hoàng Tử tương lai.

Nhưng Tằm không để ý đến ai cả, cứ thiếp đi lần lần, lại một đêm, một ngày nữa! Trong suốt thời gian ấy, cả hoàng cung bứt rứt, nóng muốn biết cái gì sẽ xảy ra.

Hoàng Hậu thì tin rằng, vị tiên phải đọa ấy sắp hoàn hạn và lần nầy chắc hiện nguyên hình để về Bồng Lai Thượng Giới. Các cung phi lại đinh ninh, nó là một Hoàng Tử có tiên phong đạo cốt, giả ra con sâu để thử lòng họ.

Kìa, chàng tiên đã thức và mọi người thất vọng hết sức. Chàng tiên ấy vẫn cứ là con Tằm, và cho dẫu là đẹp rồi, cũng chỉ là một loại sâu thôi.

Mà thiển cận làm sao, chú ta vừa thức là đòi ăn như cưỡng đói. Lần nầy chú ăn tợn quá. Bao nhiêu cây dâu trong hoàng thành đều trụi lá, mà chú ta vẫn kêu đói.

Chú nói với các cung nữ.

- Tôi sắp đi xa, nên thức chơi với các chị cho lâu. Ngủ giấc lớn mà. Tôi thức đến bảy ngày rồi mới đi.

- Đi đâu?

Tằm, giọng buồn thảm không tả được, nói:

- Đi xa lắm, và không bao giờ trở lại nữa.

- Mi còn thiếu chị em ta món quà, mi hứa hôm nọ, đi sao được!

- Vâng, tôi nhớ món nợ ấy. Và sắp đẻ nó ra đây.

Tằm ăn no lại nằm, khiến các cung nữ đâm nghi hắn ta là một thằng xỏ lá gạt người để kiếm bữa.

Ăn không lo, của kho cũng phải hết. Dâu chỉ còn ăn độ vài ngày nữa, nếu hắn không bày trò gì hay, thì kệ xác hắn, hắn sẽ đói rã ruột.

Lần thức nầy, Tằm lớn mau lắm. Nhưng lại ít nói năng, cựa quậy gì.

- Hắn tìm mưu để trốn chăng? - Các chị cung nữ hỏi thầm - Quịt hai mươi ngày cơm rồi chuồn! Được, nó mà bò ra khỏi nong, ta bắt vào đánh một trận nên thân!

Qua ngày thứ sáu, lạ quá, đầu Tằm đỏ ửng lên.

- Hỉ tín, hỉ tín! - chị Thúy Liễu reo - Tằm sắp hóa ra Hoàng Tử đẹp trai đây!

Hoàng Hậu nghe tin, đến thăm, và ái ngại hết sức, mà thấy Tằm có vẻ đau đớn lắm. Cái màu đỏ ở đầu Tằm, xem như màu máu, và phía dưới đầu, mình Tằm cũng hơi ửng đỏ. Dường như là Tằm dồn máu lên.

- Tằm ơi, sao thế này?

- Bẩm Hoàng Hậu, con sắp "chộ" đấy!

- Chộ là làm sao?

- Nghĩa là con dồn tất cả tinh hoa đã thâu lượm được hổm nay, dồn lại để sản xuất ra tác phẩm nghệ thuật đấy.

Tằm quằn quại như một bà mẹ chuyển bụng, đau đớn cái nỗi đau của con vật sắp lột da hóa kiếp, khiến Hoàng Hậu thương khôn siết kể.

Qua ngày thứ bảy, Tằm chộ, phân nửa thân mình đỏ ối và càng quằn quại đau đớn hơn bao giờ cả.

Qua ngày thứ tám, toàn thân Tằm đỏ như trái ớt chín cây. Bây giờ Tằm như yên thân và an lòng, vì phần khó nhọc của công việc đã xong.

Hoàng Hậu, Hoàng Đế, các bà Phi, và các đạo binh cung nữ đều tựu đến xem Tằm chín đỏ. Thật là lạ lùng, từ thuở giờ, không ai thấy con sâu nào mà biến dạng mau như thế bao giờ cả.

Tằm mệt nhọc, cố nói:

- Các chị bẻ cho tôi một chà cây.

Không ai nỡ hỏi vặn Tằm nữa, vì Tằm, coi bộ, đuối sức lắm rồi.

Khi chà cây được đặt vào trong nong, Tằm thỏ thẻ:

- Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Hậu và quí bà Phi, thần xin mời tất cả ra ngoài để thần làm một việc không đẹp mắt bao nhiêu.

- Mi cứ làm đi chớ - Hoàng Đế nói - ai mà chấp nhứt mà mi lo.

Tằm ráng sức leo lên chà, rồi nói:

- Tôi tẩy trần đây. Tôi phóng tất cả những thứ ô uế trong người tôi ra, cho người tôi thanh khiết. Khi chỉ còn tinh hoa trong ấy, tôi mới trình bày tác phẩm nghệ thuật được.

Suốt một tiếng đồng hồ, Tằm phóng uế đầy nong. Xong đâu đó nó nói:

- Bẩm Hoàng Hậu, nhớ ơn loài người nuôi nấng tôi, nhớ ơn tri ngộ với Hoàng Hậu, tôi sản xuất tác phẩm đầu tiên và cuối cùng của tôi đây. Tôi cố gắng cho nó hết sức mỹ lệ để đáp ơn mọi người, rồi tôi... rồi tôi...

Tằm nghẹn ngào khóc nức nở, không nói ra lời nữa.

Cả phòng đều ái ngại, hỏi dồn:

- Rồi làm sao, hỡi Tằm ơi!

Khóc cạn nước mắt, Tằm nói:

- Rồi tôi từ giã cõi đời...

- Ồ!

- Trời!...

- Ai lại giết mi? Nhà vua có cả một đạo hùng binh để bảo vệ mi. Không, không ai làm gì mi được đâu!

Tằm tấm tức, tấm tưởi:

- Không ai giết thần, nhưng thần phải chết. Tất cả tâm lực của thần đã đổ vào tác phẩm nầy rồi, thần hóa kiếp chớ không giữ thân thể xưa nữa được. Thần hóa kiếp và tiếp tục sống. Nhưng Hoàng Hậu phải giết thần mới...

- Không, ta không khi nào giết mi.

- Hoàng Hậu phải giết thần, không thời không hưởng được tác phẩm đó. Bây giờ, thần xin trối trăn đôi lời.

- Mi có gì cứ nói ngay ra.

- Bẩm, nơi chà cây nầy, thần sẽ nhả ra một thứ sợi, mường tượng như sợi chỉ bố, mà Hoàng Hậu dệt mặc bây giờ. Sợi của thần bền chắc hơn thập bội, và đẹp hơn muôn phần. Đó là tác phẩm nghệ thuật của thần đó.

Thần đã góp khí thiêng của trời đất, un đúc lại trong ruột thần, để có sợi dây nầy. Hôm nay thần nhả sợi ra lần lần phủ lấy mình thần. Thần tự nhốt trong đó để che cái thân tàn nầy, hầu hóa kiếp khác.

Bó tơ ấy, trong hai ngày, Hoàng Hậu phải bỏ nó vào nồi nước sôi cho thần nóng mà chết đi...

Hoàng Hậu, các bà Phi và cung nữ đêu kêu rú lên khủng khiếp, nói:

- Ai lại nỡ....

- Nếu không làm thế, cái kiếp khác của thần, cái thân thể tàn dại biến ra hình thức khác, sẽ cắn rách nó mà chui ra. Thế là tác phẩm của thần sẽ hỏng. Uổng công thần khó nhọc mà không ai hưởng được cả.

Bỏ vào nước sôi luộc xong, Hoàng Hậu kéo sợi ấy ra, rồi dệt như dệt bố. Nó sẽ đẹp cho Hoàng Hậu xem.

Nói rồi, Tằm bắt đầu nhả tơ ra. Đó là một sợi nước dãi vàng, nước nhả ra thì ướt và mềm, một lát là khô cứng lại. Đầu mối tơ móc trên một cành chà, khiến cả bó tơ như được treo trên đó.

Tằm cứ nhả lần, nhả lần và cả phòng bùi ngùi rưng rưng lệ nhìn Tằm trả nợ dâu.

Bó tơ nhỏ hơn cái trứng gà, vàng óng ánh như con ngỗng con mới nở, ngửi nghe thì thơm phức một mùi mới lạ chưa từng nghe.

Hoàng Hậu hỉ mũi, lau lệ, rồi nói:

- Kệ, hỏng thì hỏng, đừng ai rờ tới bó tơ nầy hết. Tằm nó kén ăn, kén ở lắm, nên ta đặt bó tơ nầy là cái "kén" và quyết để dành làm kỷ niệm.

Nhưng hôm sau đó, chị Cẩm Nhung, tánh tò mò bất trị, lại hay tin nhảm, bèn lượm kén bỏ vào nồi nước sôi. Chị ta đinh ninh rằng, Hoàng Tử đẹp trai muốn nhờ Hoàng Hậu giúp tay để hiện nguyên hình. Hoàng Hậu không làm y theo lời trối, mà nếu không thi hành, e tội nghiệp Hoàng Tử chăng?

Vả lại cũng nên phỗng tay trên thiên hạ, để mua lòng Hoàng Tử. Vậy chị ta làm theo lời Tằm căn dặn.

Xong đâu đấy, chị ta nắm mối tơ mà kéo và quấn quanh một cây que...Khi đường tơ đã dứt, Hoàng Tử đâu không thấy, cho thấy một con bọ dị hợm lắm, chết queo vì phỏng nước sôi.

Hoảng hốt, chị ta tri hô lên, Hoàng Hậu chạy đến cầm con vật lên mà khóc ròng.

Nhưng chuyện đã lỡ rồi Hoàng Hậu nghĩ, nên y theo lời Tằm dặn. Tơ ấy ít quá, nên Hoàng Hậu nuôi thêm vài lứa tằm nữa, để đủ chỉ dệt.

Tấm lụa đầu chỉ có Hoàng Đế, Hoàng hậu và chị thợ dệt xem mà thôi.

Hoàng Hậu vuốt mãi sớ tơ mịn, nghe mát tay như là sờ vào một lọ sứ cổ. Hoàng Hậu kê sát mũi để ngửi mùi tơ thơm ngọt như mùi tàng ong, nghe bắt thèm ăn. Màu vàng óng ánh của xấp lụa đẹp hơn ngũ sắc của tường vân, đẹp hơn mống trời, đẹp hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng Uyển.

Hoàng Hậu sai thợ khéo nhứt nước may cho mình một chiếc áo. Và lần mặc áo ấy vào nội cung, Hoàng Hậu làm cho Hoàng Đế chưng hửng:

- Trời ơi, trông khanh trẻ như một cung phi mới tuyển.

Và từ đó, bà Hoàng Hậu, bốn mươi lăm tuổi, được Hoàng Đế sủng ái và xao lãng các bà Phi.

Hoàng Đế ra lịnh cho thần dân, ai cũng phải trồng dâu để nuôi tằm cả. Và tơ của lứa tằm đầu của toàn quốc được tập trung về trào, dệt lụa, may áo cho toàn thể cung phi, mỹ nữ.

Đêm ấy có dạ hội, các vũ nữ đều mặc xiêm y bằng lụa màu.

Hoàng Đế xem họ múa mà mê, không mê vì vũ khúc hay sắc gái, mà mê những tà lụa óng ánh, dịu như cánh bướm.

Hoàng Hậu cũng có mặt nơi đó, nhưng bà cứ đăm đăm, ngậm ngùi, thương ai không biết.

Hoàng Đế trông thấy hỏi:

- Sao hậu không vui với trẫm?

- Tâu bệ hạ, thiếp nhớ chàng nghệ sĩ mà tội nghiệp hắn hoài.

Hoàng Đế cười ha hả:

- Ối, khéo dư nước mắt. Nghệ sĩ đó chết, là còn nghệ sĩ khác. Cái kiếp của chúng nó là đau khổ rồi chết đi, để lại đồ đẹp cho ta hưởng mà.

Hoàng Hậu không cãi lại, chỉ rưng rưng nước mắt thầm.

(Trích từ tập truyện Ký Thác)
 

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

GIẤC MƠ CỦA BÉ PHƯỢNG - Bình Nguyên Lộc

Cha! Ba mang về nhà một chiếc bíp bự dữ, cỡ gỏ lên đầu anh Dũng một cái, đầu anh Dũng sẽ phải u một cục bằng trái cam.

Ba cứ trầm trồ chiếc bíp trong khi má trề môi mà rằng :

"Chỉ tổ ung khói cho cay mắt cả nhà".

Tuy nói thế chớ má phải nhìn nhận rằng chiếc bíp nầy đẹp.

Còn Dũng và Phượng thì chỉ lo rình để giành cái hộp.

Theo hiệp ước thì Dũng được hưởng những gì mà ba bỏ ra, chẳng hạn như hộp thuốc rời Prince Albert, hộp thuốc điếu 555, hộp đựng cà vạt, hộp xi gà v.v... còn Phượng thì trọn quyền về những món bị má bỏ lạc son, chẳng hạn như lọ nước hoa mà đã hết nước hoa rồi, chẳng hạn như hộp phấn, như hộp kẹo v.v...

Nhưng hôm nay con Phượng ăn gian, quyết xé hiệp ước đó, nhìn cái hộp đựng bíp bằng đôi mắt thèm thuồng nên Dũng phải sẵn sàng để tự vệ.

Ô, cái hộp mới đẹp làm sao chớ ! Phượng sờ tay vào đó, búng thử thì nghe biết rằng cái hộp ấy làm bằng giấy cứng. Vậy mà trông cứ giống như là bằng gỗ, một thứ gỗ màu ngà có vân màu cánh dán, xinh đẹp không thể tả.

Ba đứng lên đi thay áo. Tức thì chiến tranh diễn ra, Phượng yếu hơn anh nên dùng thứ khí giới ghê gớm là dẫy và khóc la, ba phải bỏ việc thay áo, má bỏ nấu nướng để lên họp "Liên hiệp quốc" bàn xử hai nước ương ngạnh nầy.

Phượng có lỗi rõ rệt, đáng lý thì phải đầu hàng ngay, nhưng ba muốn giải thích cho Phượng hiểu bổn phận hơn là bắt ép Phượng tuân lịnh, nên hỏi :

- Phượng, con quên lời giao kết rồi hả ?

Phượng tấm tức tấm tưởi đáp :

- Con nhớ chớ ba ! Mà con xin anh Dũng nhường con một lần.

- Có xin thật à ?

- Dạ, có thật.

- Con xin để làm gì ?

- Dạ, bí mật !

Ba, Má và cả anh Dũng nữa, đều cười ngất. Bé Phượng mới học lớp năm trường Phan Văn Trị, đã biết gì mà bí với lại mật.

Ba, má thấy hay hay nên khuyên anh Dũng.

- Thôi Dũng, con nên nhường cho em lần nầy.

Dũng cũng buồn cười cho Phượng, nên vui lòng làm cái cử chỉ đẹp đó.

Phượng cười với đôi mắt ráo hoảnh, rồi vừa ôm hộp vào lòng, vừa nói : "Cám ơn ba, cám ơn má, cám ơn anh Dũng".

Đêm ấy bé Phượng cất hộp dưới gối mà ngủ, và sáng ra thì ba, má quên mất việc ấy luôn cho đến tối hôm sau, cơm nước xong rồi, cả nhà tụ họp lại, ba lấy bíp ra hút thuốc, má mới sực nhớ đến cái hộp và hỏi :

- À Phượng à, con làm gì với cái hộp ?

Phượng lấm la lấm lét nhìn ba rồi làm thinh.

- Kìa, sao má hỏi, con không trả lời ?

- Dạ, con nuôi con chim Phượng trong đó.

Ba vẫn nghe được câu đáp rất khẽ mà Phượng đã hạ giọng thật thấp để chỉ riêng một mình má nghe thôi.

- Sao con lại nuôi con chim Phượng ? - Ba hỏi.

Phượng hoảng lắm. Nó rất sợ ma nên thường bị ba mắng là không ngoan, là hay tin nhảm chuyện hoang đường. Con chim Phượng đâu bao giờ có, chắc ba sẽ mắng nó nữa. Nhưng không thể không trả lời, nó mếu máo đáp :

- Dạ, vì con thương con chim Phượng : Phượng là tên của con.

Ba cười ồ rồi hỏi :

- Ai bảo con rằng tên của con có nghĩa là con chim Phượng ?

- Má bảo.

Ông Thành thấy vợ lầm, nhưng không đính chánh, không phải sợ vợ mất uy tín trước mặt con, mà sợ Phượng mất ảo tưởng của nó. Ông muốn giải thích : "Không, tên con là một thứ hoa. Con chim Phượng là tên của con trai, con gái phải tên Hoàng, tức là con chim Phượng mái". Nhưng ông giữ miệng kịp.

Phượng sung sướng quá : Ba không mắng nó.

Đêm sau, giữa bữa ăn tối, ba hỏi :

- Con chim Phượng được bao lớn rồi đó a Phượng ?

- Dạ, nó vừa mọc cánh.

- Cho nó ăn gì ?

- Dạ, nó là chim tiên nên không cần ăn gì hết.

Ba, má nhìn nhau mà cười.

Đêm sau nữa, trước bữa ăn, ba lại hỏi :

- Cánh Phượng có đẹp không con, Phượng ?

- Dạ, đẹp.

- Nhưng hộp nhỏ quá, nó đâu có xòe cánh ra được.

- Ừ, tội nghiệp nó quá, để Phượng cho nó bay ngoài vườn cho nó thong thả.

Đêm thứ tư, suốt bữa ăn, Phượng không hề mở miệng nói một lời. Má hỏi :

- Phượng ơi, sao bữa nay con buồn hiu vậy ?

Phượng nấc lên rồi khóc mùi. Lâu lắm nó mới nghẹn ngào đáp :

- Chim Phượng bay mất rồi má à.

Ba mỉm cười, còn má kinh sợ đến buông đũa. Ba hỏi :

- Nó bay đi lúc nào ?

- Dạ, lúc con thả nó ngoài vườn, kẻo nó tù túng ở trong hộp.

- Phượng có giận nó lắm không ?

- Dạ, ơ... hơ... có, mà con vừa hết giận giờ đây. Nó phải được thong thả chớ, phải không ba ?

- Ngoan lắm. Thế Phượng có lo nó đói lạnh không ?

- Dạ không. Nó về cảnh tiên chắc phải sung sướng.

Trên giường, lúc sắp sửa ngủ, má trách ba :

- Anh hay mắng em là chỉ dạy con tin nhảm. Sao nay anh lại nuôi nấng ảo mộng của con Phượng ?

- Em lầm. Chuyện con chim Phượng không phải là tin nhảm. Đó là giấc mơ trẻ thơ. Không một người lớn nào làm nên sự nghiệp gì đáng kể, nếu thuở bé họ không mơ những giấc mơ kỳ thú như Phượng, họ không nuôi nấng những ảo ảnh huyền hoặc nào.
 
 
(Đuốc Thiêng, 1962)
Dựa theo ý của một bài báo bên Pháp
 
(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)     
 

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

CĂN GÁC HỒNG CỦA LÂM - Bình Nguyên Lộc

 
 
Thật ra thì căn gác hồng của Lâm màu xám. Nóc tôn màu xám thì đã đành rồi, mà gỗ và ván màu trắng, màu vàng lợt, cũng muốn màu xám vì nắng táp, mưa tạt chầy ngày.

Nhưng bạn hữu của chàng lại đặt tên gác ấy là "gác hồng" vì một lý do kể ra kể ra rất dài dòng, chớ không phải dịch hai chữ "Hồng lâu" ra đâu.

Lâm là một anh con trai vui tánh. Chắc anh ta cũng có bị những ray rứt hành hạ anh ta chớ chẳng không, ray rứt vì thế sự, vì vận nước, vì tình hoặc vì một chuyện thấp lè tè là chén cơm hằng bữa, nhưng bề ngoài trông cứ như là anh ta yêu đời luôn luôn.

Mà cái gì làm cho một anh con trai yêu đời ? Một người đẹp. Đó là lối suy luận của bạn hữu của Lâm.

Suy luận như vậy, lũ nó tò mò tìm xem người ấy là cô nào. Nhưng anh chàng Lâm cứ lủi thủi một thân trên đường đời.

Đi xi-nê, đi dạo phố, đi ăn uống gì chàng ta cũng chỉ đi một mình, hoặc với bạn trai.

Thế nên rồi mấy thằng bạn "ưu thời, mẫn thế" của Lâm lại suy luận sâu thêm rằng, nếu nó cứ đi ra ngoài cu ky một mình mãi thì hẳn là nó giấu người đẹp trong nhà nó, vì một lẽ gì đó.

Vậy là lũ nó trổ tài thám tử, dò la mãi rồi tìm ra cái tổ uyên ương bí mật của Lâm.

Đó là căn gác xép mà Lâm thuê mỗi tháng một ngàn đồng, chủ nhà ở dưới bao luôn đèn nước.

Căn gác, à không, cà căn nhà nầy, nằm trong một ngõ hẻm ngánh, nghĩa là một ngõ hẻm của một ngõ hẻm, ngõ hẻm chánh, rộng hơn ngõ ngánh một chút, là một con dơi muốn xưng mình là chim hay chuột gì cũng được, vì nó nối liền hai con phố song hành rất gần nhau, phố Phan Đình Phùng và phố Trần Quý Cáp, người trong hẻm có cho địa chỉ, khi thì đề Phan Đình Phùng, khi thì đề Trần Quý Cáp, người tìm phải ráng mà thám hiểm vì số nhà vô trật tự ở khu đó đừng có tin nó mà khổ.

Lũ nó tìm được căn gác hồng của Lâm, nhưng không có người đẹp nào trong đó hết. Ừ, lũ nó cố lì, nằm vạ ở đó mấy hôm, mà ra vào chỉ thấy bộ mặt hề của Lâm thôi, còn bóng hồng thì tuyệt nhiên không thấy dạng.

Nàng về quê ngoại chăng ? Không, nhà không mang lấy một dấu vết cỏn con của một phụ nữ đẹp hay xấu.

Lũ bạn của Lâm đành chịu bí, vì không còn cách nào khác để truy nguyên bí quyết yêu đời của chàng.

Chiều hôm ấy chàng đi chơi, thằng bạn kiên tâm nhứt vẫn còn nằm vạ trên gác xép với hi vọng mong manh khám phá ra cái gì.

Và nó đã khám phá được cái đó.

Bên kia ngõ hẻm ngánh, trước căn gác xám của Lâm là một biệt thự đồ sộ, trổ mặt ra phố Trần Quý Cáp. Vách nhà bếp, day ra đây, sơn đen thui. Ba căn nhà bếp nầy đều có lầu và mỗi căn lầu đều có cửa sổ kiếng mờ, sau trấn song sắt.

Kiếng mờ nầy không phải là loại kiếng trắng đục, mà là kiếng trong, nhuộm màu lục, có gọt bông hoa trên ấy. Trấn song sắt và bông hoa làm cho những gì hiện lên sau đó, hư ảo ghê lắm chớ không phải có đường viền rõ rệt như là sau kiếng trắng đục vậy đâu.

Hồi bảy giờ tối, thằng bạn kiên tâm ấy đứng hóng mát dựa vào bao lơn gỗ nơi hàng hiên gác và thấy đèn sáng lên trong căn lầu giữa của nhà nhà bếp.

Liền sau đó, một bóng người hiện ra. Vì khả năng biến hình của loại kiếng, bóng người ấy giống như một bức chân dung của phái "quy bít" gồm nhiều mảnh người vỡ ra và được ráp lại. Tuy nhiên nó cũng nhận ra được rằng đó là một cô gái.

Cô gái cởi áo ra rồi mặc vào chiếc áo khác.

Thằng kiên tâm chết lặng đi trước một thứ thoát y rất hấp dẫn nầy vì còn chuyện sau sẽ tiếp theo, gợi tò mò ghê lắm chớ không trắng trợn như thoát y vũ trong các hộp đêm, xem vài pha là hết muốn xem nữa.

Tới đây thì The End, mặc dầu đèn bên ấy còn. Cô gái tan nát trong các bông hoa gọt của lớp pha lê dầy màu lục, rồi biến mất.

Thế rồi ngày hôm sau huyền sử về "bí mật của chàng Lâm" được phổ biến sâu rộng ra và bao nhiêu bạn hữu của Lâm đều cũng đổ xô về căn gác của chàng mỗi đầu hôm, để xem Ti-Vi.

Chính Lâm cũng chỉ mới biết có chuyện động trời nầy thôi, nhưng chàng nói sự thật lũ nó không chịu tin, còn trách chàng xấu bụng nữa là khác.

Mỗi đêm, có thêm một trò chơi mới lạ: người đẹp làm gì như là soi gương, luôn luôn có thay áo, còn thay cả y phục thì chỉ thỉnh thoảng mà thôi.

Tất cả những trò công xúc tu sỉ nầy, lũ bạn dịch vật của Lâm chỉ đoán thấy thôi chớ không thấy rõ, vì hình ảnh nát quá và lũ nó rất giận sao chủ nhà không dùng loại kiếng trắng đục, có phải là hình ảnh mê ly hơn không. Qua kiếng trắng đục, họ cũng chẳng thấy gì rõ ràng được, tuy nhiên, đường nét viền quanh một thân thể vẫn nổi bật lên, đen thui.

Từ đây, hễ thằng nào chán đời, tới đây mua vé là được lạc quan.  Ừ, thằng Lâm nó bán vé hẳn hòi, chỉ lấy tượng trưng năm đồng thôi mà nó nói là để trám miệng chủ nhà ở dưới, ông ấy phàn nàn họ làm ồn quá.

Căn gác xám được đặt tên là "Căn gác hồng" kể từ chiều hôm ấy, hồng vì nó giúp những thằng muốn quyên sinh thấy cuộc đời mang màu hồng, cố bám níu vào dương thế để được tiếp tục xem thoát y vũ rẻ tiền.

Nhưng lũ nầy là thi sĩ cả chớ không phải là một bọn thấp lè tè đâu mà chỉ hài lòng mãi với bóng dáng người con gái cởi áo mỗi đầu hôm, bóng dáng ấy nó thô bỉ, không xứng với tâm hồn thơ của lũ nó.

Lũ nó vẽ vời ra : ông chủ nhà là một nhà thầu khoán, cô gái thoát y là con gái thứ tư của ông ấy. Hai người chị của cô ấy được mỗi người hai buồng ở trên kia, còn cô ấy vì còn đi học nên ở riêng sau nhà cho yên tịnh. Tuy là nhà bếp, nhưng thật ra nhà bếp ở dưới là lầu độc lập, mà ba căn lầu nhà bếp là đã quá sang rồi.

Để xem cô ấy tên gì ? Lucie, Hélène, Bích thu. Thúy Liễu ? Cái tên cuối cùng mà cậu nào cũng đồng ý là tên Phù Vân.

Và trời ơi, nàng đẹp không vần thơ nào tả cho đúng mức.

Nàng học ở đâu ? Đệ nhất Trưng Vương, Đệ nhị Gia Long ? Không, như thế thì còn bé lắm vì tâm hồn nàng phải học đại học lận kia.

Bọn thi sĩ cố không xem thoát y vũ nữa mà chỉ đợi đèn tắt để nhìn cái cửa sổ không bao giờ mở ra ấy để mà mơ người đẹp.

Họ cao hơn thường nhơn một bực là chỉ "con người" một vài hôm thôi, rồi đâm ra ghê tởm thú tánh của mình chỉ còn ham ngắm trong tưởng tượng một tâm hồn đẹp mà thôi.

Ừ, hẳn là tâm hồn nàng phải đẹp và để cho xứng với vẻ đẹp tinh thần của nàng, họ tự ý bỏ một trò ngoạn mục vô song.

Lâm không được tiền thu vé nữa, nhưng chàng lại rất hài lòng. Chàng si ghê lắm và đâm ghen, muốn chiếm độc quyền người ngọc.

Giờ, không ai dòm mỹ nhân cởi áo nữa, chàng vẫn chưa hết ghen bởi lũ nó còn mơ giai nữ của chàng, còn tưởng tượng về nàng lúc chúng nó nằm trên sạp ván hàng hiên, mà có lẽ mơ cả những lúc chúng nó đi ăn, đi chơi, về nhà ngủ nữa.

Con người vui tánh nầy đã ít nói cười, mặc dầu thật ra giờ đây chàng mới thật sự yêu đời. Chưa chắc gì là những anh hề lại yêu đời và chưa chắc gì anh chàng có bộ mặt lầm lầm lì lì đang đi ngoài kia, mắt nhìn mặt đường nhựa như để tìm một đồng bạc đánh rơi, chưa chắc gì hắn là kẻ có niềm riêng u uẩn gì đâu. Sự thật thường đi trái ngược lại nữa, mấy thằng hay cười, chỉ cười để che giấu tâm sự não nùng nào, còn mấy thằng có bản mặt buồn buồn lại rất vui bên trong, chúng nó cố mà buồn, sợ người ta biết rồi xin bớt niềm vui của chúng nó chăng ?

"Ôi là nàng đẹp ! Ôi là nàng thanh cao ! Mà hễ nàng thanh cao thì nàng biết trọng sự thanh bần, nàng phục lăn cái thằng ở một căn gác xép, biết làm thơ, cái thằng ấy là nhơn vật thơ mộng của các tiểu thuyết mà nàng thường đọc và chắc chắn ngày kia, nàng sẽ can đảm thủ vai nhơn vật nữ trong loại tiểu thuyết ấy, nghĩa là từ bỏ sự giàu sang của ông cha trọc phú, ông ấy cương quyết gả ép nàng cho một viên kỹ sư chỉ biết những con số, để ra đi xây tổ ấm với người lý tưởng của nàng là chàng.


- "Phù Vân ! Em Phù Vân, em đẹp như một sợi mấy trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh ngắt tháng giêng ta của miền Nam. Có phải là em đang ngồi học bài đó chăng ? Và sau vầng trán của em, hình ảnh anh đang nổi lên ?".

Bao nhiêu thằng cô đơn, bao nhiêu thằng chán đời vì bị tình phụ trong đám bạn hữu của Lâm đều lành tâm bệnh cả, bởi cuộc đời đã mang màu hồng rồi dưới con mắt mới của họ; trong Căn Gác Hồng; trước bức tường sơn đen và khung cửa sổ tối thui không bao giờ mở ra cả.

Đời họ đã có ý nghĩa nào, một chỗ nhằm để cho họ khỏi vất vưởng như những cô hồn lạc lòng, một chỗ dựa tinh thần để lấy hứng mà làm việc.

Cả bọn sống trong hạnh phúc tưởng tượng ấy được chín tháng - thời hạn hoài thai và cưu mang của một bà mẹ - thì một hôm, một biến cố xảy đến cho riêng Lâm.

Một người bà con của của chàng, trong tình cờ câu chuyện, cho chàng biết rằng, một người quen của bác ấy có nuôi một con nhồng (yểng), loại chim nhái tiếng người giỏi nhứt, miễn là có một lớp da xù xì bọc bên ngoài lưỡi của nó. Ông ấy tìm mãi một người biết kỹ thuật lột lưỡi nhồng, nhưng chưa tìm ra.

Lâm biết kỹ thuật đó, không giỏi lắm, nhưng người Sài Gòn không ai biết cả thì chàng có thể vô địch trong thành phố nầy và thà là giúp người ta một cách không toàn bích, còn hơn để vậy thì phí con nhồng của người ta lắm.

Thế nên chàng tình nguyện làm nhà chuyên môn, và được người bà con đưa tới nhà chủ của con nhồng, năm hôm sau đó.

Tới nơi Lâm buồn cười hết sức vì cái nhà ấy không đâu lạ, đó là ngôi biệt thự áng ngữ trước căn gác xép của chàng, cái lâu đài bí mật chứa chấp nàng tiểu thơ kiều diễm mà chàng mơ gần một năm rồi.

Thật là không có sung sướng nào to hơn trong đời của Lâm. Chàng không định mơ suông trọn đời, mà rất mong mỏi một cuộc gặp gỡ tình cờ, và cuộc gặp gỡ ít hi vọng ấy lại tới bất thình lình quá, thật là ly kỳ y như trong tiểu thuyết.

Chủ nhà tử tế không chỗ nào chê, ông ấy thành thật chớ không phải chỉ xã giao để lấy lòng trong một buổi kẻ giúp ông ta đâu, vì chàng xong công việc rồi, ông ấy khẩn khoản mời chàng uống rượu, chàng không uống được rượu, ông ta nài nỉ chàng uống một chén trà ngon, rồi tha thiết khẩn cầu chàng trở lại, càng nhiều lần càng tốt, ông ấy buổi xế luôn có mặt ở nhà.

Nếu không có Phù Vân, chắc Lâm không trở lại đây làm gì, mặc dầu chủ nhà có lòng bao nhiêu đi nữa, bởi một nhà thầu khoán với chàng, hai người xa nhau vạn dặm, không nói chuyện tiền của đâu, mà chỉ nói về cái điểm tâm hồn thôi.

Vậy là chàng đã trở lại. Chủ nhà quả nhiên tử tế thật, vì bây giờ ông ấy không còn cần chàng nữa mà vẫn niềm nở tiếp đón chàng.

Ông phải cái tật lẩm cẩm, hay nói chuyện gia đạo và khoe nhà khoe cửa.

Ông ta đưa Lâm đi xem buồng tắm của ông, trong ấy có đặt bồn tắm sen hồng, giá hai trăm ngàn đồng, ông khoe cây cảnh ở sân sau, và khoe luôn cả kho hàng

Vâng, kho hàng, vì ông ta không phải là thầu khoán mà là nhà xuất nhập cảng.

Ông ta có hai người con trai, người trưởng nam làm kỹ sư cho hãng Esso, người thứ nam đi quân dịch và kỳ lạ chưa, ông ta không còn người con nào nữa hết nghĩa là ông ta không có con gái.

Nhưng cũng chẳng sao, người con gái có thể là cháu của ông, hay cháu của bà. Rất có thể là như vậy, vì là cháu nên nàng chỉ ở phía sau nhà thôi.

Kho hàng của ông xuất nhập cảng nầy là... ba căn lầu nhà bếp ! Trời ơi !

Khi Lâm được đưa lên đó, chàng nghe như quả địa cầu nổ tung ra vì một tai nạn nguyên tử nào khi thấy căn lầu giữa đầy nghẹt hàng hóa, chỉ chừa một chỗ đi nhỏ, trên lối đi ấy đặt một chiếc ghế bố (giường vải) tồi tàn và cái ông chủ lẩm cẩm nầy lại cho biết thêm một chi tiết rất là vô ích và rất tai hại, đó là chỗ ngủ của con sen.

Dưới nhà bếp, là bếp nấu ăn, buồng tắm, buồng vệ sinh và chỗ ngủ của bà bếp với lại thằng nhỏ, con sen hết chỗ nằm, nên được cho lên đây.

Lâm vội xin phép ra về ngay để soát lại vị trí của ngôi biệt thự nầy và vị trí của căn gác của chàng. Quả nhà chàng nhìn thấy nhà kia và cạnh ngôi biệt thự của ông xuất nhập cảng không còn ngôi biệt thự nào khác cả mà có thể bảo rằng chàng lầm lẫn. Hơn thế nữa, cái cửa sổ luôn luôn đóng, chàng đã nhìn thấy bên trong. Nó được trấn song sắt, và được đóng thêm bằng một cửa kiếng làm bằng pha lê gọt bông hoa màu lục.

Ảo ảnh vừa tan biến và giấc mơ chín tháng của chàng chỉ là một giấc mơ.

Lâm đứng tựa lan can gỗ nhắm mắt lại để sống giật lùi trong thời gian, sống lại những xúc động buổi đầu của chàng, sống lại những giấc mơ, những sung sướng của chàng sau buổi đầu ấy.

Những thứ ấy đều thật cả, và quả chàng đã có hạnh phúc.

Chàng bùi ngùi nhớ lại một cô Phù Vân không còn nữa, nhưng sau mấy giờ đau tương tư chàng chợt thấy rằng không cần có cô Phù Vân chàng mới sung sướng được. Một ảo ảnh đã đủ lắm rồi.

Hơn thế nữa, càng không nên có cô Phù Vân nào cả, vì nếu có, thì khi nàng lên xe hoa, chàng sẽ ra sao, hoặc nếu may mắn khó mong, chàng được nàng, rồi chán nàng thì vẻ đẹp của mối tình bông lông sẽ còn gì ?

Không, không nên có cô Phù Vân.

Mãi đến giờ phút nầy, chàng mới hiểu được một đoạn văn của một người bạn của chàng "Đi câu, đối với tôi không phải là để được cá. Đi câu là những giờ rình một tăm cá, những phút hồi hộp, nhìn cái phao chìm lần... chìm lần, nghe đầu cần câu nằng nặng".

Hỡi những anh con trai thất vọng ơi, cô Phù Vân không có, là may mắn cho các anh đó. Cô Phù Vân không có thì giấc mơ niên thiếu, giấc mơ thanh niên của các anh mới có được và mới thọ được cho tới khi các anh đầu bạc răng long. Mà hình như là các anh cần giấc mơ ấy hơn là cần một cô Phù Vân bằng xương bằng thịt.

Lâm giấu luôn sự thật với bạn hữu của chàng, không phải là vì chàng ghen với lũ nó như mấy tháng trước nữa mà vì thương lũ nó. Nếu lũ nó không tìm thấy được cái triết lý về sự cần thiết của ảo ảnh, chúng nó sẽ đau đến đâu và sẽ chán đời đến đâu ?

Cứ để cho lũ nó mơ cô Phù Vân không bao giờ có cho đẹp cuộc đời của lũ nó. Riêng chàng, chàng sẽ đi tìm một ảo ảnh khác, để mà mơ...


(Tuần báo Nghệ Thuật, 1965)     
 
(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)
 

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

NHỮNG ĐỨA CON THƯƠNG CỦA ĐẤT MẸ - Bình Nguyên Lộc


Họ gặp nhau trong mùa nghỉ mát năm ngoái, và hôm trước tết, họ bàn tính với nhau là hết mùa nghỉ mát năm nay, họ sẽ làm lễ thành hôn với nhau. Đời bây giờ mà để ra tới những mười hai tháng để tìm hiểu nhau thì quả cặp Tuấn - Lucie Minh dè dặt có một không hai. Chỉ hơi phiền là hôm lễ Phục sinh hai người đi hai ngả: Lucie Minh lên Đà lạt, còn Tuấn thì đi Vũng tàu. Tại mỗi người, ai đều có hứng riêng của nấy, mà không ai có bổn phận phải chiều ý ai trong một việc không đáng kể như vậy. Vả lại, cả hai, không ai trẻ con cả thì không thể vì thế mà họ giận nhau. Nói "chỉ phiền" là vì đó là nguồn gốc của sự đoạn tuyệt của họ về sau nầy.


Hôm ấy Tuấn ra tới Vũng tàu thì đã bốn giờ chiều. Tắm cái đã rồi hẵng hay. Chàng tắm cho đến năm giờ rưỡi, lên giải khát, xong đâu đó mới đi thuê buồng khách sạn. Không còn buồng nào cả. Nhưng anh con trai nầy không lo, cứ ăn cơm tối cái đã "rồi hẵng hay". "Rồi hẵng hay" là câu châm ngôn cửa miệng của Tuấn, mỗi lần có gì giải quyết không được, chàng dẹp nó lại, làm việc khác hoặc đi chơi, sau khi nói mấy tiếng ấy, nói to lên, hay nói thầm với mình.

Chàng không lo, không phải chàng có thể ngủ trên bãi cát như bao nhiêu người khác. Đó là những người ra đây bằng xe nhà, có thể mang theo những tấm bố lớn để trải ra mà nằm lên đó, chớ chàng thì chàng chỉ có một chiếc va-ly con đựng mu-xoa, một chiếc sà-roong, bàn chải đánh răng, hai chiếc áo tắm, và cái khăn bông. Y phục, chàng chỉ có một bộ trên người may bằng vải không nhầu, như vậy cho nhẹ bưng xách dọc đường. Tuấn không lo vì trong thành phố, ngoài mấy mươi khách sạn mang bảng hiệu và có đóng thuế môn bài, còn mấy mươi biệt thự của tư nhơn, của những ông nhà giàu suy sụp, họ biến thành phòng ngủ lậu ngôi biệt thự của họ, và thế nào chàng cũng sẽ tìm được một buồng, một cách dễ dàng, nhờ bọn trung gian chuyên môn là mấy anh phu xích-lô.

Quả thật thế, ăn cơm rồi, Tuấn thuê ghế dài mà nằm hóng mát cho tới lúc việc tiêu hóa gần xong mới thót lên một chiếc xích-lô đạp, nói lên ý muốn của chàng là anh phu xe "ô-kê" ngay. Mấy anh nầy nhận tiền thưởng phòng ngủ lậu ở đây, nên họ rất thạo tin tức, biết số buồng trống từng giờ, từng phút. Tuy nhiên đó là những kẻ nguy hiểm mà mười lăm phút sau Tuấn mới biết. Anh phu xe nầy đưa chàng tới một nơi rất là bê bối. Đã khuya rồi chàng đành nhận vậy, vả tìm anh phu xe khác, sợ anh ta còn lưu manh hơn anh nầy thì hóa ra chạy ô mồ mắc ô mả.

Cái nhà ngủ lậu nầy ắt hẳn cho hoa hồng nhiều lắm và chắc chắn đã có nhiều người đi nghỉ mát rơi vào cạm bẫy rồi. Đó là một ngôi biệt thự xưa, một trụ cổng xi-măng đổ nát, rất có vẻ hoang tàn, trụ còn đứng vững mang một tấm bảng nhỏ đề chữ "Biệt thự Mỹ Phúc". Tuấn chợt nhớ đến cái nhà mát của hội "bảo vệ luân lý" mà năm xưa chàng leo thang lầu thì cái thang rung rinh mà cả ngôi nhà cũng rung rinh tuốt. Được cái là "biệt thự Mỹ Phúc" không có lầu nên chàng an dạ rằng cho tới ngày về Sài gòn, giò và tay, cổ chàng sẽ còn nguyên vẹn vì khỏi lo nhà sập như cái nhà mát say rượu đằng kia. Ở đây, buồng người ta lấy trăm rưởi mỗi ngày, kể ra thì rất mắc đối với buồng khách sạn có đủ mọi tiện nghi mà chỉ phải trả có hai trăm rưởi thôi. Nhưng thôi cũng được. Sự im lặng hoàn toàn ở đây an ủi Tuấn dữ lắm. Sân rộng có trồng nhãn, các buồng thì đóng cửa kín mít và không nghe tiếng động, nhà lại chỉ cách bãi biển có hơn trăm thước thôi. Bồi phòng là một phụ nữ lai căng, cha Phi châu, mẹ Việt nam, ăn nói văn hoa như tiểu thuyết ba xu, nhưng Tuấn lại nghe hay hay. Không có gì buồn cười bằng một người nước da đen huyền, tóc quăn quíu một cách tự nhiên, đôi môi dày như hai chiếc bánh trôi nước, đôi hàm răng lại trắng như bột, mà nói "Trong trường hợp có gì làm thầy không được thỏa mãn, xin thầy cứ khiển trách em để em sửa sai".

Sáng ra, Tuấn dậy rất trưa, sắp sửa đi tắm và ra khỏi buồng chàng thì chàng thấy rất đông quân nhân Huê kỳ từ nhà nầy đi ra. Sự kiện nầy cắt nghĩa ngay vẻ im lìm đêm rồi. Tuấn rất biết phong tục của người da trắng, họ rất lịch sự ở những nhà chung cư, đóng cửa kín mít và nhất là đi đứng, nói năng thật nhẹ, sợ mích lòng láng giềng.

Thình lình Tuấn nghe xây xẩm mặt mày, rồi chàng choáng váng, lảo đảo muốn ngã. Chàng vội vã trở vào phòng mình nằm. Tuấn bị chứng áp huyết thấp từ mấy tháng nay, nên cơn khó nầy không làm chàng hoảng. Chàng sẽ uống thuốc, uống cà phê đen là khỏi ngay. Tuy nhiên, dầu sao cũng phải nằm cái đã, "rồi hẵng hay".

Lạ quá, ngôi biệt thự lặng lẽ như chùa Bà Đanh từ hồi đầu hôm tới giờ, bỗng nhiên hóa thành một cái chợ, và tiếng phụ nữ nói líu lo ngoài hành lang, gọi nhau, đáp nhau từ buồng này qua buồng khác, khiến Tuấn bực mình quá: đến lúc cần yên tĩnh để nghỉ ngơi thì thiên hạ họp chợ. Chị bồi phòng da đen bưng vào cho chàng một bình trà nóng rồi hỏi:

- Thầy uống cà-phê không, em đi mua cho?

- Đáng lý thì không, tôi sắp sửa đi uống ở ngoài, rồi tắm luôn thể, nhưng giờ, vì một lẽ riêng, tôi lại cần cà-phê đen. Vậy chị mua giùm tôi năm đồng. Đây, lấy mười đồng đây rồi cất luôn tiền lẻ mà ăn bánh.

Tuấn uống thuốc với nước trà nóng, và nằm nghỉ nên năm phút sau thì nghe đỡ. Chị bồi phòng cũng vừa về tới nơi, và ly cà phê đậm nầy sẽ làm cho áp huyết của chàng lên tới mực thường. Chàng khoan khoái ngồi dậy rồi hỏi:

- Ai mà làm ồn như vỡ chợ vậy chị?

- À, mấy cô!

- Mấy cô nào?

- Mấy cô vợ Huê kỳ ấy.

- Có tất cả tới bao nhiêu cô lận?

- Nhà nầy ngăn ra làm mười bốn buồng, mà có tới chín ông Huê kỳ có vợ, mướn tháng.

- Hèn chi! Họ mướn tháng có cao giá lắm không?

- Hai ngàn rưởi.

- Thôi, cám ơn chị, tôi không còn cần gì nữa cả.

Uống hết ly cà-phê, Tuấn ngồi một hơi thì nghe trong người trở lại bình thường. Nhưng chàng lại bực mình hơn. Khi nãy, đi qua các phòng đóng cửa, chàng nghe từ phòng nào cũng vẳng ra tiếng dạy bài học Anh ngữ đọc chậm, của máy thu thanh. Nhưng giờ thì cả chín cái máy thu thanh ấy đều thi đua hét to lên bài ca Vọng cổ trào lộng do nghệ sĩ Văn Hường ca. Tuấn vốn không ưa Vọng cổ vì điệu nhạc ấy buồn thảm quá, mà nhạc buồn lại ca bằng lời giễu cợt thì nó chói tai chàng không biết bao nhiêu. Nhứt là vì các chủ máy thu thanh lại mở hết cường độ, và có lẽ đã mở hết cửa buồng ra, nên nó ồn như chợ Cầu ông lãnh.

Để trốn không khí điên loạn nầy, chàng quyết định đi tắm. Khi Tuấn ra tới đầu hành lang thì một cảnh tượng bắt chàng dừng chơn lại: Chín cô me Huê kỳ đang xúm xít ăn chả giò với lại ăn bánh xèo điểm tâm mà hai chị hàng rong gánh vào nhà lúc nào chàng không hay. Các cô ăn chả giò, cô nào cũng ngốn rau xọp và rau chiết, độn no hai má, y như là loài khỉ, còn các cô ăn bánh xèo thì chảy nước mắt sống với lại le lưỡi vì nước mắm chanh làm riêng để ăn bánh xèo rất cay, cay như cà-ry Ấn độ chứ không phải vừa. Tuấn bật cười, đứng nhìn các me ăn rồi hỏi:

- Có ngon không quí cô?

Không có me nào đẹp cả. Nhưng tất cả đều thạo ma-ky-dê, thạo ăn mặc, nên trông cũng dễ coi. Họ cười đáp:

- Ngon ghê đi. Mời thầy ăn thử.

- Cám ơn quí cô. Nhưng sao quí cô không ăn với các ổng?

- Úy mẹ ơi, ai mà ăn với tụi "nó" cho được. Nó ăn sáng tợn lắm, ăn nhiều nhứt trong các bữa ăn trong ngày, mà chỉ ăn toàn đồ hộp thôi, tụi tui nuốt hổng vô.

- Té ra vợ chồng ăn riêng với nhau?

- Chỉ riêng có bữa sáng nầy và bữa trưa thôi.

- Trưa cũng ăn riêng?

- Ừ, trưa tụi "nó" không về, tụi tôi ăn cơm tháng của chị bồi đen.

Từ nãy giờ, nhiều cô thay phiên nhau mà đáp các câu hỏi của Tuấn, nhưng cô nào cũng gọi chồng bằng "nó" cả.

- Còn buổi tối? - Tuấn hỏi.

- Buổi tối thì tụi nầy buộc lòng phải ăn chung với tụi nó, nhưng cũng nuốt không vô, nên tụi nầy nhõng nhẽo đòi đi ăn tiệm ở ngoài. Đồ tây ở các hiệu ăn thì tạm nuốt được.

Tuấn mặc áo tắm. Vì nhà gần bãi nên chàng ăn mặc như vậy để khỏi mất công thay, không đoán trước được rằng phải ghé lại để nói chuyện với phụ nữ. Nếu như ở ngoài bãi thì không có gì đáng nói, nhưng ở đây, ăn mặc như vậy trước những người đàn bà áo quần kín đáo thì vô lễ lắm. Thoạt tiên, chàng rất ngượng, nhưng vì chàng khinh rẻ me Huê kỳ cũng như đã khinh rẻ me Tây trước đây, nên rồi chàng dễ chịu được như thường. Cả chín cô đều vui vẻ và đều thích nói chuyện với chàng, nên chàng lại hỏi:

- Cả ngày quí cô làm gì? Có buồn lắm không?

- Buồn bỏ mẹ! Đánh tứ sắc để giết thì giờ, nhưng đánh hoài cũng phát ngấy lên.

- Như vậy, chắc quí cô mong đợi các ổng từng giây, từng phút?

- Đâu có, bồ! - Cái cô tương đối đẹp hơn hết trong bọn đáp như vậy - Lũ nó về, tụi nầy còn khổ hơn.

- Chàng về thì chàng cưng mà lại khổ, bồ nói khó tin quá! Không yêu chàng à?

- Bồ không biết, chớ khổ bỏ mẹ đi. Có lũ nó thì sáng với lại tối phải học Ăng-lê đọc chậm...

- Thì phải học mới tâm tình với nhau được chớ!

- Đâu có cần. Tụi nầy chỉ biết bốn tiếng là đủ sức làm ăn.

- Bốn tiếng nào?

- Tiếng Yết, tiếng Nô, và hai tiếng Đô-la, Ô-kê.

- Đô-la Ô-kê là gì?

- Là lu bù thứ. Chẳng hạn: anh có tiền không? Và chẳng hạn: anh cho em tiền được chớ? Bồ dư biết rằng muốn theo các bài đọc Anh ngữ đọc chậm, phải có căn bản tới mức nào đó, chớ tụi nầy mít đặc, làm sao theo được.

- Hình như là bồ chưa kể hết mọi nỗi khổ?

Họ xưng hô với nhau bằng "bồ", Tuấn không buồn thay đổi, và ăn nói theo họ để gây tín nhiệm hầu được họ tâm sự nhiều.

- Ừ, chưa hề. Còn cái nạn đóng cửa nữa. Mình quen ở nhà tranh, nhà lá vách vỉ tre đan, trống trơn rất dễ thở, chúng nó giữ mình trong buồng kín mít, mình sẽ chín như trái cây mất. Mà bồ đừng tưởng là lũ chúng nó ghen, sợ bồ thấy dung nhan cá đắm nhạn sa của tụi tui. Không, tại phong tục của lũ nó như vậy. Lũ nó bảo rằng để cho người ta thấy cảnh sống thân mật của mình là vô lễ mà rủi ro thấy cảnh sống thân mật của ai cũng vô lễ nữa. Bồ có nhớ hay không rằng hồi hôm, bồ tới, quên đóng cửa buồng lại, thằng chồng của con Cúc nó phải đi ngang qua buồng của bồ, nhưng không dám đi, phải đánh một vòng thật lớn để tránh cái cửa mở của bồ.

Quả Tuấn nhớ có nghe tiếng giầy đi tới gần cửa buồng chàng rồi dừng lại, do dự vài giây, đoạn thối lui.

- Ừ, tục đó thì tôi biết. Mà đó là nếp tốt của họ, bồ rán mà theo.

- Ai thèm rán mà theo. Cứ mở banh cửa ra có phải dễ chịu hơn không.

- Còn nỗi khổ nào?

- Lu bù, nói sao cho hết. Khổ nhất là nhạc, phải nghe nhạc của lũ đó. Tụi nầy chỉ mê Vọng cổ của đài Sài gòn thôi, còn lũ nó thì vặn bắt nhạc trời đánh của đài nào không rõ, điếc tai, nhức óc quá trời. Lũ nó ngu ngốc lắm. Sắm ra-dô thì sắm thứ lớn, nhưng mở nghe nhạc thì mở thật nhỏ, làm như là sợ láng giềng nghe trộm hết nhạc của lũ nó.

Tuấn bật cười, rồi cười ha hả rất dài. Thì ra bọn nầy trả thù đây: ăn bánh xèo với nước mắm chanh ớt để trả thù thịt đóng hộp, mở bét cửa ra để trả thù tục bế môn, và cho ra-dô hét to bản Vọng cổ để trả thù sự thầm thì của nhạc đài. Một cô, nãy giờ rất ít nói, không đẹp, nhưng có cái gì đặc biệt vô cùng, rất khó tả ra, bây giờ mới mở lời:

- Thầy có xem cái phim gì mà câu chuyện xảy ra ở Ấn độ trong có động đất dữ dội, có nước lụt, có săn cọp hay không?

- Có, đó là phim "Gió Mùa".

- Trong đó, một kép Huê kỳ hỏi một kép Huê kỳ khác, khi họ nghe một giàn nhạc Ấn độ đại tấu:

- Nhạc gì mà kỳ lạ như vậy?

- Ừ, anh phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc của họ. Ấy, tụi em cũng vậy, chắc phải nghe suốt năm trăm năm mới thưởng thức được nhạc Huê kỳ.

Cơn cười của Tuấn, vốn tiếp tục với một độ thấp hơn, trong câu chuyện của cô nầy, vụt tắt hẳn. Chàng chợt nhớ tới Lucie Minh rồi giật mình, sợ hãi. Những cô me Huê kỳ mà chàng khinh rẻ, nghĩ ra, gần gũi với chàng không biết bao nhiêu. Chàng tìm một tâm hồn bậu bạn, và dĩ nhiên tâm hồn ấy phải là tâm hồn Việt nam. Những cô me Huê kỳ nầy nguyên trước kia là những cô gái cắt cỏ, những cô thợ cấy, thợ gặt, những cô gánh nước thuê, nên trí và lòng họ hoàn toàn bưng bít với những gì ở ngoài vào, và có ăn ở với những ông Huê kỳ hai mươi năm nữa, chắc họ cũng không chịu được nhạc Jazz. Họ là người Việt nam một trăm phần trăm, trước kia, bây giờ, và mười năm nữa. Lucie thì khác hẳn. Lucie đã bị Âu hóa đậm quá đi rồi. Nàng không ngửi được Vọng cổ mà chỉ mê những điệu Blues, điệu Rock mà thôi.

Ngày xưa, ở Hà nội có một nhà trí thức đi tây học từ thuở lên mười. Ông ấy đỗ đạt rất cao, và thấm nhuần văn hóa Tây phương cho đến đỗi khi nghe ai đọc lên tên chàng Ulysse, ông ta rung động sâu xa và cả một quá khứ Hy lạp, La mã, vụt sống dậy trước mắt ông ta, trong khi đó thì ông ta hoàn toàn dửng dưng khi nghe ai ngâm:

"Bến Tầm dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu..."

Văn hóa ảnh hưởng đến con người nhiều quá, nhiều hơn là cuộc sống chung lâu năm chầy tháng nữa. Lucie quả là một con người "Cốt-mô-pô-líc", không ngạc nhiên trước món ăn ngoại quốc nào, trước loại nhạc Âu Tây nào, trước phép lịch sự quốc tế nào cả, chỉ nhờ nàng đã học nhiều quá. Học nhiều quá rất lợi cho người học, mà có thể cho nước nhà của người học nữa, nhưng y khó lòng mà còn nguyên vẹn là y.

Trước đây Tuấn thích Lucie ghê lấm vì Lucie biết thưởng thức bản "Nhạc buồn" của Chopin y như chàng, chàng quên mất rằng chính vì chàng bị Âu hóa nên chàng rất cần một người bạn đời có tâm hồn Việt nam để bù qua, cấn lại, giữ thế quân bình cho con cái chàng đỡ mất gốc phần nào.

Tuấn nhìn lại cô me Huê kỳ vừa nhắc đến phim "Mousson" với điệu nhạc Ấn độ phải nghe năm trăm năm mới hiểu. Chắc chắn nàng là một cô thợ gặt ở Cần thơ hay Sa đéc gì đó; cách đây mười năm, trôi giạt lên Sài gòn, làm sến năm năm rồi thì giờ làm me Huê kỳ. Mười năm chung đụng với văn minh, nàng chỉ thu nhận được có hai món: tóc phi-dê và đôi giày cao gót. Chỉ vì, chỉ nhờ nàng thiếu học chăng? Làm thế nào mà cô me Huê kỳ nầy cảm được văn minh Đia trung hải, cũng như làm thế nào mà Lucie cảm được tứ đức, tam tòng?

"Một cô giáo làng ở một thôn hẻo lánh tỉnh Vĩnh bình có lẽ hợp với mình hơn là Lucie. Cô giáo ấy không dốt như cô thợ gặt me Huê kỳ nầy, nhưng, y như cô nầy, cô ấy là đứa con thương của đất mẹ, giống hệt mẹ cô, mà đó là người bạn mà mình tìm kiếm". Kể từ cái giây phút nầy đây, Tuấn hết khinh rẻ các cô me Tây, các cô me Huê kỳ, họ tuy lăng nhăng thế mà họ vẫn cứ còn là người Việt nam một trăm phần trăm, khác hẳn với các cô nữ sinh thơm phức mà lại thấm nhuần văn minh Địa trung hải, mà lại rung động sâu xa khi đọc Illyade và Odyssée.

Chàng mỉm cười hỏi:

- Nếu có ông Huê kỳ nào cưới cô nào trong quí cô để đưa về bên ấy, các cô làm thế nào mà quen được với...

- À không, tụi em chỉ làm vợ tháng các ổng mà thôi rồi về sau thế nào cũng lấy chồng Việt nam chớ, nếu còn có người Việt nam chịu lấy tụi em làm vợ.

Rồi các cô cười xòa, tỏ vẻ không tin rằng có người Việt nam nào chịu lấy họ, nhưng họ vẫn hy vọng và phát lộ lòng hy vọng của họ ra bằng trận cười yêu đời ấy. Trong giây phút Tuấn nghe mình rất muốn hôn một cô, bất kỳ cô nào trong đám me đó. Cái hôn ấy, nhứt định không do tình yêu, cũng không do nhục dục, mà là cái hôn thương mến của một người mẹ hôn con, những đứa con tuy dốt nát mà không vong gia, vong bổn.

Sau mùa nghỉ hè, Tuấn lại đến với Lucie. Lucie ngỡ Tuấn trẻ con, giận nàng vì cái việc anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Nhưng nàng rất ngạc nhiên mà thấy Tuấn vui vẻ với nàng như trước, mỗi lần hai người gặp nhau. Và nàng càng ngạc nhiên hơn nữa, là thế mà Tuấn lại cứ lờ đi, mỗi lần nàng đá động đến hôn lễ. Thật là mâu thuẫn. Tuấn vẫn nể nàng, nịnh nàng, chiều chuộng nàng không kém trước chút nào. Nàng có biết đâu rằng Tuấn xem nàng là một người bạn tâm đầu ý hiệp, một nhơn tình lý tưởng, nhưng không thể là một người vợ đủ khả năng thực hiện ý chí ký thác truyền thống dân tộc lại cho con cái của chàng.

(Trích từ tập truyện Cuống Rún Chưa Lìa)
  

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

CHIÊU HỒN NƯỚC - Bình Nguyên Lộc

Hai tay nhét vào túi quần. Hà nện mạnh gót giày trên vỉa hè đại lộ Hàm Nghi, miệng ngâm nho nhỏ bài thơ của chính chàng, vừa đăng trên một số báo Xuân năm nay:

Gầy gõ  (1)
Đường đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập chờn
Chiếc bóng phong sương.
Tâm tư lê nặng phố phường,
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ !


Bài thơ dài lắm, nhưng chàng chỉ ngâm tới đó rồi nín thinh để lắng nghe dư âm giọng ngâm của chàng, giọng ngâm mà mấy năm trước đây, đêm nào cũng vang lên trên làn sóng phát thanh của đài Sài gòn, thử xem nó còn được cái phong độ cũ hay không.

Trăng gầy loáng áo
Nàng thơ...
Gặp nhau
Thêm mấy dại khờ hồn si.
Cầm bằng như gió bay đi
Giang hồ, mình lại xa gì với ta!
Em ngùi son phấn phôi pha,
Đời tôi nghệ sĩ tài hoa phong trần!


Thi sỉ đa cảm, đa tình thật! Tất cả những gì chàng ghi trong bài thơ nầy, đều là chuyện tưởng tượng cả: chàng không có gặp cô gái giang hồ đồng tâm nào đang ngậm ngùi cho cảnh phấn lợt hương phai của nàng hết. Thế mà ngâm đến đây, chàng nghẹn ngào mắt rưng rưng lệ.

Thoáng nhìn đã vội bâng khuâng.
Ngược xuôi, đôi kẻ rời chân ngậm ngùi!
Vắng đêm
Lọt nửa tiếng cười
Nhẹ tan trong gió,
Ai người chợt nghe?


Hà không còn ngâm tiếp được nữa. Chàng đã khóc mùi, thương không biết bao nhiêu kẻ "cùng một lứa bên trời lận đận" mà chàng đã bịa ra trong bài thơ.

Chàng dừng chân lại trong lúc khóc để chậm khô nước mắt rồi tiếp tục rảo bước. Một nỗi buồn mênh mông, xa vắng thấm vào đáy hồn chàng.

Thế mà chàng lại thích được buồn thật buồn như vậy. Đằng xa kia, chợ hăm chín Tết vào lúc mười một giờ đêm vẫn cứ ồn ào, có lẽ còn ồn ào hơn lúc đầu hôm nhiều; để rồi tan vào buổi cuối năm vài tiếng đồng hồ sau đó. Đêm mai, tối lại là không còn gì nữa, vì ai cũng bận việc nhà cửa, sau khi rước ông bà về.

Chàng không về nhà mà chịu được, nhưng phải trốn cảnh náo nhiệt, thả bách bộ trên con phố vắng vẻ nầy như chàng đã thường đi trong đêm khuya như vậy ở nhiều phố khác.

Năm nay thi sĩ đã ba mươi tuổi rồi, nhưng chưa yêu thật sự bao giờ cả. Những mối tình hời hợt qua đường, không gọi là yêu được. Chàng cứ mơ gặp một mối tình lớn, một mối tình đáng kể như trong tình sử bất hủ của nhân loại, và kéo lê nỗi buồn về đêm của chàng trên các đường phố vắng để nhìn khói hương trầm qua những cánh cửa nửa khép của các lầu hoa mà chàng biết trong đó đang ẩn trú nhiều bậc giai nhân cũng thèm yêu như chàng.

Tâm tư lặng lẽ phố phường
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ.


Hà lắng nghe tiếng giày của chàng trong đêm vắng, nhìn bóng chàng đang chuồi trên vỉa hè, bóng đen mà đèn đường đang kéo dài ra, trông ốm nhom và rất yếu đuối...

Gầy gõ
Đường đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập chờn
Chiếc bóng phong sương,


Đi thơ thẩn, chàng lạc bước tới góc bến Bạch đằng, bị gió sông lạnh thổi hắt vào mặt, chàng mới hay.

Hà ngước lên nhìn. Bờ sông không còn một bóng người. Bờ sông Thủ thiêm đen thui và bên phải của chàng, bến thương khẩu leo lét vài bóng đèn ngủ gục.

Bỗng tiếng giày của ai vang lên, và người ấy đi trên vỉa hè bờ sông, đã từ hướng cầu quây cũ tiến đến đây. Tiếng giày ấy thưa nhưng lại dòn, nện mạnh lên gạch lề đường nhưng nghe không nặng, người bộ hành ấy chắc còn trẻ, khỏe mạnh, nhứt là đã quen đi giày từ lâu rồi.

A kia, đó là tiếng bước của phụ nữ nó có biệt sắc riêng của nó, biệt sắc ấy có lẽ do cái phần diện tích đế giày đụng chạm với gạch nhỏ quá, nghe rõ là truy nguyên được căn cước ngay.

Hà day lại thì thấy đó là một người đầm... mà không, đó là một người đàn bà Việt mặc duýp se-rê màu ngà với chiếc bơ-lu-dông đỏ ở thân trên.

- Bò lạc giả! Hà nói thầm trong bụng như vậy vì thấy người ấy chỉ đi thong thả, lang thang, không có ý đinh về đâu cả nên chàng nghĩ ngay rằng ả ta là một cô gái ăn sương. Bò lạc giả là tiếng lóng của bọn ăn chơi chỉ hạng gái nầy, đã phân biệt với bò lạc thật là những thiếu nữ ở tỉnh mới lên, còn bơ vơ chưa tìm được nơi nương dựa.

Người đàn bà ấy dong dải cao, dáng điệu rất yêu kiều thanh lịch. Mặc dầu không có ý gì, Hà cũng nhìn thử gương mặt xem ả ta sắc diện đẹp hay xấu.

Bấy giờ ả ta đã đi gần tới bên thi sĩ và Hà thấy đó là một thiếu phụ đã quá xuân, trạc ba mươi, mặt hoa đã héo, mặc dầu giỏi hóa trang. Tuy nhiên dấu vết đẹp xưa vẫn còn thấy bóng dáng lờ mờ trên đó.

Ả ta xăm xăm đi lại trước mặt Hà, chàng vừa toan lắc đầu để xua ả thì giật nẩy mình mà nghe một câu tiếng Pháp rất đúng giọng đầm:

- Xin lỗi ông, ông có lửa hay không ?

Ả vừa hỏi vừa mở xắc lấy thuốc điếu, lấy cả hai điếu mời chàng. Thì ra đó là một me Tây. Buồn cười, Hà móc hộp diêm ra và hỏi đùa cũng bằng tiếng Pháp:

- Có lẽ nhớ các ổng, nhìn bến tàu cho đỡ nhớ à? Thơ mộng lắm!

Chàng vừa đánh diêm trao lửa,vừa ngâm mấy câu thơ của Sa Giang Trần Tuấn Kiệt.

Rải rác mưa tro mờ bến Chương Dương
Ánh đèn đêm yên lặng chơi vơi buồn.
Tôi khép áo mưa, ngồi trên băng lạnh
Trông ngóng những con tàu tha hương.


- Không - người đàn bà miệng ngậm thuốc, chìa đầu điếu ra để đón lửa và đính chính - không, tôi tìm cái khác.

- Khách à?

- Không có gì sai hơn. Nhục nhã thay cho kẻ nào nghĩ quấy.

Hà kinh ngạc đến cực độ. Một me tây, không thể nào biết nổi câu châm ngôn của võ sĩ phái Jarretière hồi thời Trung cổ Pháp ấy, và nói ra rất đúng giọng "Honni soit qui mal y pense".

Ngượng quá, chàng không biết làm sao chữa được sự lỡ lời nên ấp úng nói:

- Tôi xin lỗi bà...

- Không hề gì, nhiều người đã lầm rồi, chớ không riêng gì ông. Xin cám ơn chút lửa nầy.

- Thưa bà, bỏ qua đi cho...

- Đồng ý.

- Và cho tôi hân hạnh được biết quí danh... của ông ở nhà.

- Tên tôi và tên của nhà tôi chắc không nói lên được điều gì bên tai ông. Tôi đang buồn đi lang thang, mà xem ra ông cũng thế, thì ta cùng đi bách bộ một vòng, có lẽ thú hơn.

- Có hân hạnh nào bằng.

- Và xin nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt vậy.

- Càng thích hơn.

Họ băng qua đường để thả trên vỉa hè đá đỏ bên ấy. Người đàn bà hỏi:

- Anh không đi chợ Tết sao?

- Khi nãy có đi mấy vòng với lũ bạn, nhưng tôi lại trốn mà tách riêng ra.

- Tìm hứng hay tìm ai ?

- Không tìm gì cả? Đi bậy cho buồn vậy thôi !

- Quái lạ! Ai lại tìm buồn?

- Chớ chính bà không tìm buồn hay sao mà lại ở chốn nầy. À, khi nãy bà đã bảo rằng bà đang "tìm cái khác". Nếu không phải là chuyện riêng tư, thì cái khác ấy là cái gì?

- Em không biết nói ra có ích gì hay không. Đã trễ lắm rồi!

- Trễ lắm rồi? Tàu chạy rồi à?

- Không, không thế nào anh hiểu được đâu mà hỏi mất công.

Hà thích ghê, nghe câu chuyện có vẻ mơ hờ như là truyện trinh thám trong các phim phóng đãng bí mật, toát mồ hôi lạnh. Nhưng không muốn quá tò mò, phần lại nghi kỵ, cứ còn ngờ vực người đàn bà nầy là một gái ăn đêm, khôn khéo toan lừa chàng vào tròng bằng một thủ đoạn siêu đẳng nào, Hà hướng câu chuyện sang nẻo khác.

- Bà có lạnh không ?

- Bên ngoài thì không.

Chà, ả ta trường trải lắm đây và có học nữa. Nói như thế tức là ngầm bảo rằng ả ta đang lạnh lòng lắm và cần người an ủi. Thằng nào lơ mơ thì chết với ca-líp nầy.

Đang buồn, cần bạn, nhưng bỗng đâm sợ, Hà toan từ giã con hồ ly nguy hiểm để rút đi trước khi tai họa xảy tới. Chàng chợt thấy rằng cả hai đều đến trước vũ trường Mỹ Phụng và cô ả đang quẹo lên Hai Bà Trưng.

- Sao lại quẹo, thưa bà?

- Em ở đường nầy, đằng kia.

- Vậy à, thì ra vô tình, tôi đã đưa bà về nhà, đã trót như vậy, tôi xin đưa bà luôn tới cửa, có bất tiện cho bà không ?

- Không có gì, nếu việc đó chẳng làm nhọc ông.

Hà đoán người nầy có lẽ là nhơn tình dài hạn của một Pháp kiều vì phố Hai Bà Trưng đầu dưới sông thuộc khu người Pháp ngày trước. Như vậy, không còn gì hay ho nữa, và sở dĩ chàng đưa ả ta về nhà chỉ vì lịch sự thôi.

Chàng lặng lẽ đi bên cạnh người ấy, không nói, không rằng, nhưng ả ta lại nói :

- Anh có gia đình chớ?

- Vâng !

- Anh ở trong ngành hoạt động nào?

- Ơ hơ... tôi là tài tử.

- Với nghĩa nào? Cái tiếng Việt ấy có nhiều nghĩa lắm...

- Xin Bà hiểu theo nghĩa artiste.

- Vậy à? Thế thì em đã lầm...

- Bà ngỡ tôi là gì?

- Em không ngỡ là gì hết. Nhưng em đã lầm mà cả quyết rằng anh không thể hiểu cái điều anh hỏi em. Chính chỉ có những người tài tử mới hiểu em được.

- Nhưng rất tiếc là đã trễ ?

Hà hỏi xong, cười to lên, có vẻ nhạo báng ả ta.

- Phải, rất tiếc là đã quá trễ.

Người đàn bà ấy lặp lại lời Hà một cách nghiêm trang như đã ngầm đính chánh ngộ nhận của chàng rằng bà ta chỉ làm bộ bí mật vậy thôi, chớ thật ra thì không có gì cả.

Bấy giờ Hà đã nghe mỏi chơn vì đã đi quá xa và quá mau, đường lại cứ dốc lên mãi. Chàng chợt nhớ ra là người đàn bà nầy đi mau quá sức, chàng chưa thấy gã đàn ông Việt nam nào mà đi mau đến thế. Chàng lại chợt nhận thấy họ đã đến đại lộ Thống nhất rồi mà xem ra ả ta cứ còn muốn đi nữa.

- Hình như là bà ở xa lắm?

- Đằng kia.

- Xa như vậy lại chỉ đi bộ?

- Bên ấy, em chỉ đi bộ nên quen rồi.

- Bên nào, thưa bà?

- Bên Bọt-đô.

- Bà ở Pháp mới về?

- Em ở Pháp mới về.

- Nghĩa là...?

- Nghĩa là em có Pháp tịch, sống bên Pháp và về đây để... tìm cái đó.

Thế là đã rõ. Tác phong của người nầy là tác phong của một cô đầm: dám xin lửa đàn ông ban đêm, đi lang thang một mình trên đường vắng, đi mau quá (theo nhịp sống của Âu châu) và đi bộ giỏi quá (bên Âu châu, những người bậc trung đi bộ trong thành phố hằng năm bảy cây số là thường).

Không còn gì lạ về con người của thiếu phụ nầy, chỉ còn một chút xíu là... cái đó thôi.

Cái đó là cái gì mà ta tìm trong đêm tối, sợ rằng không ai hiểu cả, và đồ rằng chàng hiểu, nhưng tiếc rằng là đã trễ ?

Hà rất hối hận đã chế giễu cái vụ "đã trễ ấy". Chàng lại lặng lẽ mà đi, và giây lát, tò mò quá, chàng hỏi:

- Nhưng sao lại trễ thưa bà?

- Vì mai, em đã lên đường về Pháp, và có thể không bao giờ trở lại đây nữa.

Thiếu phụ đã dừng chân, đưa tay ra cho chàng bắt và nói bằng tiếng Pháp:

- Cảm ơn và vĩnh biệt !

Hà đã thừ người ra lúc nghe câu trước. Rất đa cảm, chàng hay ngậm ngùi trước mọi cảnh chia ly, cho dẫu là với người mới quen sơ. Chàng cầm tay thiếu phụ nghẹn ngào nói:

- Bà đi thật à? Tôi cứ ngỡ...

Thiếu phụ cười dòn dã:

- Anh cứ ngỡ gặp phải kỹ nữ me Tây?

- Xin lỗi bà, ai lại...

- Nầy, hay mời anh vào chơi giây lát. Đêm nay chắc tôi cũng không ngủ.

Hà xem lại thì đó là ngôi nhà chung cư Cửu long. Khi họ lên tới lầu, bà ấy đẩy cửa một căn buồng hẹp té thì Hà ngạc nhiên hết sức mà thấy buồng trang hoàng như một căn nhà bình dân với nào tranh gà, tranh lợn, tranh Tàu trên vách, đặc biệt nhất là một bàn thờ tạm dọn trên chiếc bàn con với gần đủ đồ thờ, bình hương, độc bình, đèn, nhang.

Thiếu phụ cười nói như để xin lỗi:

- Cục cựa không được. Nhưng không làm sao khác hơn. Đến ở mười hôm, không thể mướn nhà.

- Té ra bà chỉ mới về đây thôi?

- Vâng, rồi mai lại đi.

- Sao bà vội thế ?

- Rồi anh sẽ hiểu.

Thiếu phụ trót nước trà từ bình thủy ra hai cái ly bằng lát-tích, thứ rẻ tiền, mua trên vỉa hè hai bên chợ Bến thành. Nàng ngồi trên giường nhường chiếc ghế độc nhất trong buồng cho khách và nói:

- Đáng lý vì ngày mồng một em mới đi, để được nghe tiếng pháo giao thừa, như hồi năm 1958 mà em đã về một lần như vậy, nhưng nghe rằng năm nay cấm đốt pháo nên em lấy vé có lại ngày ba mươi Tết.

- Té ra bà đã về đây một lần rồi?

- Vâng!

- Nhưng bà đã ra đi năm nào?

- Năm 1954.

Hà ngắm kỹ thì quả thiếu phụ nầy đã có một thời đẹp lắm. Hớp từ hớp trà nóng, thiếu phụ cũng nhìn chàng ra nói:

- Anh là người khách đầu tiên và cuối cùng của em. Em mừng lắm.

- Hân hạnh cho tôi.

- Thành thật mà nói thì không có gì hân hạnh cho anh. Em chỉ mừng vì được trò chuyện thân mật với một người Việt nam, chớ không vì cá nhân của anh đâu. Anh đã mua sắm Tết chưa?

- Đã xong cả.

- Có bánh tét, dưa hấu chớ?

- Có. Các thứ hoa cũng đã mua xong. Tôi mua được một cành mai đẹp lắm.

- Mai thui...

- Không, một cành mai mà họ cắt ngang để bán.

Nhưng thiếu phụ không nghe nữa. Nàng nhìn vào khoảng không, rồi say sưa nói to lên một mình: "Mai thui... ba chặt cành mai vào giữa tháng chạp, ba thui cành ấy nơi bị chặt, ba chặt lá, rồi ba cặm trong độc bình có chứa nước...".

"Thế rồi hăm lăm hoa ra nụ và tối ba mươi nó âm thầm nở. Sáng mồng một là bàn thờ vàng óng. Nó bền và đẹp hơn hoa nở sẵn trên cành bị cắt ngang, rồi... rồi ba..."

Bà ta còn nói gì nữa, nhiều lắm, lầm thầm trong miệng rồi nghẹn ngào không tiếp được. Lâu lắm bà ta chấm dứt trễ muộn câu nói nửa chừng ấy bằng một tiếng nấc.

Như là kẻ đóng trò, hay một con mẹ điên, thiếu phụ thình lình ngước lên nhìn khách rồi cười dòn mà rằng:

- Em chưa già mà đã lú lẩn. Em có làm buồn lòng anh lắm không ?

- Không, thưa bà.

- Em đã ba mươi rồi. Không, em chỉ mới ba mươi thôi, nhưng già quá, lòng em héo hắt, bằng cớ là em chỉ sống quay về dĩ vãng thôi. À, anh chắc còn trẻ lắm?

- Tôi cũng ba mươi.

- Tuổi sung sướng! Của anh và của người khác. Trời ơi, sao tôi lại già thế nầy! Tôi chỉ tiếc thương dĩ vãng, không hưởng được những gì đang có trong lứa tuổi tôi. A... ha... ha... em lại lẩn thẩn nữa, xin lỗi anh. Em cám ơn anh, đã đến, đã vào đây. Có lẽ em sẽ nhớ anh trọn đời.

- Tôi tên là...

- Đừng, anh đừng nói tên. Anh là người Việt nam, bao nhiêu ấy là đủ lắm rồi. Em đã gặp một thanh niên Việt nam, không, em đã gặp quê hương Việt nam vào một đêm cuối năm, trong đời em.

- Nhưng, bà đi bên ấy làm gì, và về để tìm bà con hay...

- Ông có gan nghe câu chuyện không hay mà khá dài hay không ?

- Tôi đoán là hay.

- Đoạn đầu rất xoàng. Đoạn sau, chỉ hay đối với em thôi. Đoạn đầu rất cổ điển mà báo chí sách vở ở đây nói đến khá nhiều rồi, về người khác mà trường hợp giống trường hợp em. Năm đó em học ban Trung học Pháp Việt ở Sài gòn. Nhơn kỳ nghỉ hè, em về quê, một làng hẻo lánh kia, rồi bị một nhóm quân nhân Pháp hiếp.

Sợ gia đình em thưa kiện, chúng nó phao vu em rồi bắt em đi. Ra tỉnh bị giam một thời gian thì em được thả, nhưng có còn gì nữa đâu để mà quay về. Vừa lúc ấy thì một sĩ quan Pháp phải lòng em và bao em.

Em bằng lòng theo nó, vì cũng chẳng thiết làm lại cuộc đời, và một năm sau, đạo quân viễn chinh rút lui, em theo y về bên ấy và được y cưới luôn, rồi em xin vào Pháp tịch.

Hai năm đầu em vui được với cảnh lạ, nhưng khi hay tin cha mẹ em qua đời, em bỗng chạnh nhớ quê nhà.

Ban đầu chỉ là một nỗi nhớ nhung nhè nhẹ thôi. Nhưng càng ngày lòng sầu xứ càng sâu đậm, em không chịu nổi nữa nên vào cuối năm 1958 ấy, em có dư chút ít, xin thông hành với tư cách du khách về đây, cũng lúc cuối tháng chạp như năm nay.

Không thế nào mà anh tưởng tượng nổi sự thèm khát quê hương của một kẻ lìa xứ vĩnh viễn không hy vọng trở về như em. Thèm như là thèm một món cá nướng chấm mắm nêm, thèm hương bưởi, thèm tiếng chuông chùa ngân nga vào buổi hoàng hôn, thèm cảnh cấy mạ vào đầu mùa lúa. Thèm chết đi được là vào lúc gần Tết, tức là khoảng đầu năm dương lịch. Nhớ Tết như nhớ nhà, nhớ nước, bởi vì Tết là sum hợp gia đình.

Em chỉ về cho đỡ ghiền vậy thôi, chớ bà con xa gần gì cũng chẳng còn ai, không có lấy một mái tranh để mà vào. Mười hôm lưu lại đất nước nhà năm ấy đã làm cho em thất vọng vô cùng, định không về nữa. Nhưng, rồi lại nhớ và năm nay lại về.

Hà chợt hiểu vì sao mà tranh Tàu bình dân lại treo vách buồng buyn-đin và người thuê buồng lại dọn bàn thờ phiền phức như thế nầy: nàng muốn tạo lại không khí gia đình đầm ấm mà về tới đây, nàng vẫn nghe thiếu.

Hà nghe nao nao buồn khi nhìn khói nhang mà chủ phòng đã đốt lên lúc nãy. Đêm mai, nhà nhà sẽ ngát hương trầm, nhà nhà sẽ đoàn tụ, trong khi đó thì một người sẽ bay trên vạn dặm trùng dương vì không còn lấy một mái tranh để mà vào, thèm mái tranh quyện khói lam chiều ấy mà không bao giờ được hưởng.

- Thì ra cái đó là...

- ... là gì chính em cũng không nói ra cho đích xác được. Một vũng ao tù trong thôn xóm chăng? Một chân trời quen thuộc? Một mùi cá nướng ? Một vài tiếng sáo mục đồng? Hay là tất cả những thứ ấy nó họp lại để làm một linh hồn của quê cha đất tổ mà em ngỡ từ bỏ được, nhưng không thể được.

Mỗi đêm, em đi lang thang như vậy qua hết phố nầy đến phố khác, lắng nghe những tiếng thì thầm bí mật trong không, rình rập mãi một cái gì không biết, nó có thể cho em thoáng thấy cái vô hình mà em tìm, nhưng không gặp.

Bơ vơ quá, đang sống trong thủ đô Việt nam mà em nghe rằng mình chỉ đi bên lề nước Việt thôi, không làm sao mà len vào linh hồn của đất nước được.

- Cây cỏ, núi sông vẫn có linh hồn. Nhưng ta chỉ nắm tay được với linh hồn cảnh vật qua trung gian của một linh hồn khác thôi, linh hồn người. Có lẽ bà tìm một hồn bầu bạn mà không dè.

Thiếu phụ đặt vội ly trà lên nệm, nhìn sững Hà giây lâu rồi nói:

- Ừ, có lẽ đúng, anh nói có lẽ đúng.

- Linh hồn bầu bạn ấy là vật xúc tác của hai linh hồn khác, linh hồn đất nước và linh hồn của chính ta.

- Anh nói có lẽ đúng. Thuở còn con gái, em mơ yêu. Ông Hoàng tử đẹp trai của em là một thanh niên Việt nam, cố nhiên. Rồi rủi ro của số phận đã xô em vào tình cảnh không hay. Giấc mơ thiếu nữ không bao giờ thỏa cả, em chưa được yêu lần nào.

Trong giờ khắc năm tàn tháng lụn, chàng thi sĩ đa tình và trơ trọi nhìn lại người đàn bà mà tấm lòng đi lang thang khắp bốn phương trời, đau xót khôn nguôi cái đau mất gốc! Dấu vết hường nhan ngày xưa của nàng đang lặn hụp chìm nổi trong niềm u uẩn triền miên, trong bóng ngày rơi rớt của buổi chiều tà, bóng nầy bỗng đẹp rực rỡ lên, trong cái bừng dậy cuối cùng của tất cả những gì đang hấp hối.

- Thưa bà, tôi có thể là tâm hồn bầu bạn mà bà đang tìm hay không?

Thiếu phụ mắt sáng lên, môi mấp máy, nhưng rồi nàng lại châu mày mà rằng:

- Cám ơn anh đã có lòng. Nhưng xúc động hời hợt trong một phút của anh rồi không đi đến đâu cả. Không thế nào em đủ thì giờ để đợi anh hỏi lại cặn kẽ lòng anh. Đã trễ quá rồi như em đã nói, và anh đã chế giễu vì không tin.

Nhưng cám ơn, cám ơn không biết bao nhiêu. Trong đời em, đã có một lần em suýt vớ được linh hồn đất nước. Có bị dòng đời lôi cuốn đi, một chút xíu may mắn ấy cũng đủ sưởi ấm lòng em trên đường trôi giạt.

- Ngày mai bà đi?

- Vâng, cám ơn và vĩnh biệt!

- Nhưng bà có thể trở lại...

- Không, chồng em kiếm không được bao nhiêu tiền. Về nước là một xa xí phẩm.

Hồn nước Việt nam đã xuống lầu, ra phố, ngảnh lại nhìn qua cánh cửa sổ khép nửa chừng, những sợi khói nhang trắng đục từ từ bay lên trần.

Hồn mất gốc mở toát cửa ra, lặng nhìn theo quê hương dần xa, trong khi nó sắp bị cuốn vào dòng đời cuồn cuộn chảy.

Trong đêm lặng, bốn cánh tay giơ lên, vẫy tiễn đưa nhau.

Từ đó, đêm đêm Hà nện mạnh gót giày trên vỉa hè đại lộ Hàm nghi, dáo dác đón trong gió lạnh, hồn người bạn một giờ nó như còn lẩn quất đâu đây:

Gầy gõ
Đường đêm
Tiếng giày dạ khách.
Chập chờn
Chiếc bóng phong sương.
Tâm tư lê nặng phố phường,
Lầu hoa cửa khép
Trầm hương mơ hồ !


Chàng hay ngước lên những cửa sổ khép sơ mà trong đó biết đâu lại không có một kẻ đang tìm một linh hồn.

Giang hồ mình lại xa gì với ta
Em ngùi son phấn phôi pha,
Thoáng nhìn đã vội bâng khuâng
Ngược, xuôi đôi kẻ rời chân, ngậm ngùi!


Nhưng từ đó cảm xúc của chàng đã có duyên cớ thật. Nghẹn ngào và lệ thảm của chàng không còn là cái nghẹn, là nước mắt tầm phào của một thi sĩ đa tình và giàu tưởng tượng nữa.

 
(Trích từ tập truyện ngắn Cuống Rún Chưa Lìa) 
--------------------------------
1.Mượn thơ của Hà Liên Tư    

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2025

KHÔNG TRỐN NỮA - Bình Nguyên Lộc


Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa hai hàng sập trong một "phòng chung" của dưỡng đường Chợ Rẫy.

Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi chiếc "bờ lu" ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem ra phía trước, khoanh lại trên ngực.

Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.

Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ thăm bịnh sớm lắm - sớm đến nỗi muốn cho "đâu đó xong xuôi đàng hoàng" những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng, lau gạch, đổ ống phóng và những "thầy khán hộ học trò" mới năm giờ rưỡi sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một đôi giờ - Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết làm gì trong  phòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn - cũng lại rất sớm, dầu người bịnh chưa nghe đói - để cho người giúp việc "xong mọi việc" trước khi hết giờ làm.

Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú. Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.

Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn riêng. Đó là những người "thống nhất mà phân trị" vậy.

Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người "phân trị". Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh "cu li cao su" nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của phòng thi nầy?

Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.

Một anh "cu li" thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham ăn, chớ không phải trả miếng - nói cho đúng là lấy lại miếng - vì anh ta thật không hay hành vi của bạn hồi nãy.

Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau.

Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.

Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi không suy nghĩ thêm nữa cho mệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.

Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.

*

Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.

Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ, thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:

... Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao...

Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn, nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia, đã dậy cùng với mặt trời.

Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ. Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay một tiếng động đến rất đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông ăn trong mơ.

Mấy bà cụ quả quyết rằng "ai" đó là ông thần hộ mạng của mỗi người. Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:

- Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái thèm.

Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.

Một tháng nay, bác sĩ nghe lời "mấy đứa nhỏ" con ông, tản cư vào vùng quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.

Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người "la sét" lần lần biến thành sự thèm cái gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt; chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học, sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.

Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:

- Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng chán.

Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê. "Chuối? Ờ, cái gì cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều, mình qua đó thử coi".

Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán "sấp nhỏ" đã xui dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng "sấp nhỏ" nó cứ nhát: "Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ tù Ba". Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ !

Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:

- Mầy làm gì mà hè hụi trong buồng vậy a Lịch?

- Tao làm "công tác đào đường".

- Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?

Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ hồi nãy rùm lên:

- Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà điều thứ đường khạp làm ở Biên Hòa.

Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.

"Ai mà cần ai hộ mạng chớ", bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền, trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơm với mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ thuật ăn của phái "mắm ruốc đường" được phổ cập khắp các làng. Vả không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.

Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ "ngon tuyệt" bữa đầu thôi. Mấy bữa sau ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.

Bác sĩ triết lý:

- Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là đòi đường.

Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.

"Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ - không hiểu vì một ý bắc cầu nào mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho - mà sao cho bằng "cay xôi cấy", "hà khàu", "phù dùn hại". Cá hấp tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao".

Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông. Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch như màn sắt mà ghê. "Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần".

Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:

- Mà ai cầu ai hộ mạng chớ?

*

Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.

- Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.

- Tôi ram thịt để bán.

- Thịt ram ăn với gì?

- Cuốn bánh tráng.

- Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.

Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.

Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.

- Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?

- Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.

- Tức quá! Tôi thử coi.

Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.

- Phải thịt tươi. Tôi chịu thua bà - Miệng nói răng nhăn miếng mỡ nhỏ xíu vừa mưu mẹo cắn được.

- Cho một tách cà phê bà.

Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.

- Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một bài toán đố khó giải lý.

Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là người quen cũ ở thành.

- Anh giúp ban tuyên truyền?

- Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?

- Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.

Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?

- Ôi tôi già rồi...

Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.

- Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao giờ ăn ngon lạ.

Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương. Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu cái bã đồ ăn đang nhai.

- Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?

Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.

Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:

- Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.

Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.

Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt, anh thè lưỡi liếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái "chách" lên đốc giọng. Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.

Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại.

Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng...

Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.

- Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?

Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.

Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông.

Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.

Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:

- Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà, người mình không tham ăn sao được!
 
(Trích từ tập truyện ngắn Nhốt Gió)