Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

MÙA CŨ NÀO XANH RÊU - Phạm Khánh Vũ



 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
   
anh về nhớ tên bé
và con đường mùa đông
trời có mưa rất nhẹ
rơi mau như tơ hồng

lá vàng trên tháp cổ
bàn tay nào êm mơ
con bướm vàng cánh vỗ
bay về đâu xa xưa

bé của anh còn nhớ
một ngày một buổi chiều
em nhìn anh bỡ ngỡ
anh nhìn em thêm yêu

nên áo vàng từ đó
vào hồn anh rêu phong
một thoáng tình thơ nhỏ
bay trong chiều bâng khuâng

                           PHẠM KHÁNH VŨ

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 27, tuần lễ từ 25-11 đến 2-12-1971)

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2023

CÂU CHUYỆN TRÊN TẦU THỦY - Thế Lữ

 

Nhân nói đến những sự nhũng nhiễu trên tầu thủy, người đàn ông trạc năm mươi tuổi, mặc áo bông đoạn, đeo kính trắng gọng vàng, trông ra vẻ một ông ký về hưu, nằm hút thuốc phiện trong phòng hạng ba của chiếc tầu chạy Hòn Gai, có kể cho tôi câu chuyện như sau.

*

Tôi biết một người kẻ cắp rất giỏi, tên là hai Nhiêu, người Ninh Bình. Bác ta rất thông minh, thiệp nhã, lại "quân tử" nữa. Quân tử trong phường kẻ cắp - cố nhiên. Không bao giờ bác thèm lấy của người nghèo. Ăn cắp đối với bác không phải là một nghề kiếm cơm, đó chỉ là một cách giải trí của tay chơi, hay có thể nói là một... "nghệ thuật". Bởi thế việc lấy cắp càng khó, càng nguy hiểm, hai Nhiêu càng thích. Bác ta khi đã "nhằm" món nào, tất món ấy phải lắm tiền, mà đã cố ý lấy tất không bao giờ hụt.

Từ lúc mới quen nhau do một sự ngẫu nhiên - quen nhau kể đã có trên mười năm nay - hai Nhiêu không giấu tôi cái chí hướng thích ăn cắp ấy. Nằm đối diện bên bàn đèn, bác ta thường đem những "công cuộc hành động" của mình thuật lại với tôi. Nhiều chuyện ly kỳ và lý thú lắm, kể không xiết được. Nhưng tôi chỉ chú ý đến chuyện này, vì nó khác thường hơn; hai Nhiêu thường nhắc lại luôn và gọi đó là một cái khờ đáng tức cười, một sự "thất bại" của mình lần thứ nhất.

Hồi ấy hai Nhiêu đang trổ tài nghệ trong mấy sòng bạc ở Hải Phòng. Bác ta thí nghiệm ngón khôn khéo trên túi ai là cái túi ấy sẽ phải rỗng. Nhưng bác lại có tính máu mê, được đồng nào của con bạc thì lại nướng cho nhà cái hết. Đang lúc lập một mưu "chưa xuất bản" để ăn to, bỗng có tin nhà ra báo cho biết rằng vợ hai Nhiêu ốm nặng.

Là ăn cắp, nhưng cũng là chồng tốt, hai Nhiêu phải đến vay tạm tôi dăm đồng để về thuốc thang cho vợ. Rồi ngay chiều hôm đó đi tầu thủy xuôi Nam. Xuống đến tầu, công việc thứ nhất của bác là đi xem xét mọi nơi: bác ta mong gặp được cái may có thể giúp mình được ít tiền nữa. Nhưng hành khách tuy đông mà không người nào có "máu mặt". Phần nhiều là người buôn bán nhỏ, túi tiền không xứng đáng với tài hoa của bác; hay những người phu mỏ ốm dở trở về. Hai Nhiêu thấy họ lại cẩn thận đề phòng giữ gìn các gói hành lý hoặc đồ đạc và thấy một vài tên ăn cắp quèn lảng vảng trong đám ấy thì bĩu môi ra dáng khinh bỉ. Bác thong thả đến ghế ngồi trên mép chiếu ở gần buồng máy, uể oải mượn cái điếu cầy rít một hơi, rồi ngả lưng dựa vào cái cột sắt ngủ gà ngủ gật cho đến khi trong tầu lên đèn.

Bỗng những tiếng ồn ào gần đó nổi lên. Anh chàng mở độc một mắt ra coi rồi lại nhắm lại. Nhưng tiếng ồn ào lại thành tiếng quát mắng lẫn tiếng van lơn. Bác khó chịu, phải mở cả hai mắt ra thì thấy người mại bản đang xỉa xói một người nhà quê thiếu tiền tàu và nhất định đuổi người ta xuống. Hai Nhiêu bực mình quá, đứng lên can thiệp, thì người nhà quê kia lạy lấy lạy để, vừa nhăn vừa kêu :

- Bẩm ông, con về Nam nhưng thiếu mất một hào. Con nói với chú ấy cho chịu đến khi lên bến, con vay con trả, mà chú ấy không nghe.

Tên Khách thì cứ luôn mồm :

- Cái lày ti tầu, không cố tền thì ti làm gì? Không! Cái lày phải xuống tây, không có lôi thôi.

Người nhà quê lại hết lời nói khéo mà tên Khách vẫn nhất mực không nghe, sau hai Nhiêu phải gắt :

- Thì người ta đến bến là có tiền, việc gì mà phải làm dữ thế. Hay là giữ lấy hành lý của người ta để người ta chuộc sau không được ư?

Tên Khách lườm :

- Cái nị không có piết! Hằng lý ló có cái lày thì lấy làm gì!

Người nhà quê chỉ có một cái lồng gà rỗng, với trong đó một gói mo chừng đựng cơm nắm, và hai cái nồi đất mới, miệng bưng bằng giấy nhật trình.

Hai Nhiêu đã hối hận vì trót dây vào việc này, lại cứ bị người nhà quê bíu lấy kêu nài mãi.

- Ông làm ơn nói với chú ấy hộ. Con thế nào cũng vay trả chú ấy, chứ bắt con xuống bến này bây giờ, thì khổ cho con quá. Con lạy ông.

Còn người Khách thì cứ :

- Lạy ông! Lạy ông! Cái lày cố tền ti tầu thì ti tầu mà không cố thì từng ti... lạy ông cái gì cơ lớ!

Rồi hăm hở toan túm lấy ngực người đàn ông kia lôi đi.

Sự bất bình liền sôi trong máu hai Nhiêu. Bác ta chợt thấy mình là người anh hùng kẻ cả, liền gạt anh Khách ra, rút một tờ giấy bạc quăng vào mặt nó, hách dịch nói :

- Bán một cái vé về Nam Định, giữ lấy một hào của người này nữa, rồi trả lại tiền.

Tên Khách đưa vé xong vừa lẩm bẩm quay đi thì hai Nhiêu giữ vai kéo hắn lại :

- Từ nay phải nhã nhặn với khách đi tầu chút nữa, nghe không?

Nói đoạn, bác ta về chỗ cũ ngồi, làm bộ không thèm để ý đến những câu trầm trồ khen ngợi của mọi người gần đó.

Người nhà quê thì cám ơn đi, cám ơn lại, đưa cái điếu cầy mời Nhiêu hút và xin miếng trầu của một bà ngồi bên cạnh mời Nhiêu ăn. Lại đem nông nỗi làm ăn vất vả kể với Nhiêu để che sự hổ thẹn thiếu tiền tầu lúc nãy. Lúc hai Nhiêu thoát được những lời tử tế thái quá ấy thì người nhà quê lại đem cái lồng gà đến bên như ý gửi mình coi hộ, rồi đi ra đằng lái tầu.

Hai Nhiêu ngồi bật cười một mình, không ngờ đâu người mà ai cũng chê cũng ghét, nay lại là người được người ta yêu trọng đến thế. Bác ta lẩm bẩm nói:

"Giả thử ngài có của nhét chật túi chứ không có mấy cái nồi đất kia, thì có lẽ ngài phải chửi đến mấy đời ông tổ nhà tôi chứ chẳng không".

Rồi nhớ đến những ngón khôn khéo, gian giảo của bác ta từ trước đến nay, bác ta thấy việc vừa rồi làm cho trái tim kẻ cắp của bác hơi cảm động. Không phải là vì bác đã làm được một điều thiện - thiện với chẳng thiện thì Nhiêu có cần gì? - nhưng vì thấy cái cảm giác đầu tiên được những người hiền lành kia tin bác một cách chân thực. Hai Nhiêu nghĩ bụng:

"Hoài của! Giá bọn này nhiều tiền thì chỉ đưa tay một cái cũng lấy được như bỡn, không phải lừa lọc, rình mò".

Đợi mãi người nhà quê không trở lại, hai Nhiêu ngoảnh nhìn bốn phía thì thấy người ấy nằm ngay cạnh đó, đã ngủ một giấc bình yên! Bác ta bĩu môi bật ra một tiếng cười khẽ rồi cũng dẹp chỗ ngủ nốt.

Sáng hôm sau thức dậy, hai Nhiêu đã quên việc tối hôm qua. Tầu tới Nam Định, bác ta vừa bước lên bến, thì người nhà quê tay xách cái lồng gà rỗng, đã đứng chờ đó và mời bác lên xơi với hắn một chén nước cám ơn.

- Đến đây thì chúng tôi đã có nhiều người quen, chúng tôi sẽ trả lại số tiền ông cho giật hôm qua với lại xin ông để chúng tôi đền đáp lại ông một chút.

Hai Nhiêu nóng về Ninh Bình ngay nhưng từ chối thế nào người nhà quê cũng không nghe :

- Chả mấy khi gặp người tử tế như ông, nếu ông không cho tôi được trả ơn, thì tôi ân hận mãi... Nào, mời ông, xin ông đừng từ chối, phụ lòng tôi.

Thấy vẻ chân thực của người nhà quê và biết không khi nào họ để cho mình đi ngay, hai Nhiêu phải ưng theo vậy.

Người nhà quê mừng rỡ :

- Thế thì quý hóa quá! Chúng tôi chẳng dám phiền giữ ông lâu...

- Nào có gì mà bác phải bày vẽ ra...

- Không, nếu không có ông thì hôm qua chúng tôi bị rày rà lắm.

Câu lễ phép đi, câu lễ phép hơn đáp lại; cứ thế đến chừng năm phút, khi hai người bước tới hàng cơm gần đó thì câu chuyện kết luận bằng một câu không lễ phép mấy, nhưng nghe cũng vui tai :

- Bà hàng đâu, bà dọn cho tôi một mâm rượu thực tươm tất ấy nhé, mà làm mau lên, ông quý khách của tôi vội.

Hai Nhiêu ngạc nhiên, bụng bảo dạ:

"Có lẽ nào một người đi tầu thiếu tiền mà lại dám tiêu rộng rãi đến thế, hay là họ lại định nhờ khéo mình thêm một bữa cơm nữa đấy?".

Nhưng thấy bà hàng ra chiều quen thuộc người nhà quê, nên Nhiêu ta cũng yên bụng. Uống xong một bát nước, người nhà quê bỗng gọi bảo một người nhà quê khác đứng chờ đó, đưa cho hắn cái lồng đựng gói mo cau với hai cái nồi đất :

- Chú Ba về làng trước, đưa cái này cho bu nó cất đi, tôi còn bận một chút, xong về ngay.

Rồi quay lại bảo hai Nhiêu :

- Nào bây giờ mời ông vào hàng, xơi với tôi chút cơm rồi tôi lại xin tiễn ông lên đường không dám giữ.

Cơm rượu xong, thấy người nhà quê mở hầu bao ra chi tiền cơm, hai Nhiêu không hiểu ra sao, toan hỏi nhưng sợ bất tiện. Đến lúc đưa chân ra ga, người kia lại nhất định nài lấy vé cho mình. Hai Nhiêu lại càng kinh ngạc. Người nhà quê thấy vậy mỉm cười và thong thả nói :

- Thưa ông, ông lấy làm lạ cũng phải. Nhưng việc thiếu tiền hôm qua, chỉ là một mẹo đấy thôi. Tầu Chấn Dinh này có tiếng là lắm kẻ cắp. Chúng tôi có tiền mang theo mà không làm thế, thì giữ sao được của mình?

- Vâng, nhưng tôi thấy ông chỉ mang có hai, ba đồng thì tội gì phải thế?

- Nếu hai, ba đồng thì cất đâu chẳng được. Đây tôi lại dồn một món tiền lớn về để mua cái phó lý cho tôi, lo cưới vợ cho thằng cháu, lo khao, lo vọng...

- Ồ thế ra...

- Vâng, tôi về chuyến này đem những ngót năm trăm bạc, mà để kẻ cắp biết, thì tôi có khi cũng không về được tới nhà.

- Nhưng... ông giắt trong mình thì...

- Chết! Giắt trong mình nguy hiểm lắm. Tôi phải bỏ vào một cái nồi đất trong cái lồng chú nó đem về ban nãy đó.

Rồi vừa cười, người nhà quê vừa tiếp :

- Cái lồng gà với mấy cái nồi, mà lại của một anh nhà quê không có lấy một hào để trả tiền tầu... ông tính còn kẻ cắp nào để ý đến nữa. Nếu tôi không nghĩ đến kế ấy thì ngủ yên sao được... mà nếu không làm thế thì sao tôi được gặp người quý hóa như ông.

Xe lửa về đến ga, hai Nhiêu bước lên toa ngồi mà vẫn còn choáng người đi vì tiếc của. Bác ta tìm hết tiếng độc địa để rủa cái trí khôn ngu ngốc của mình và tự hứa rằng lần sau đi tầu, không nên coi thường những cái lồng gà trong đựng có hai cái nồi đất.

 
THẾ LỮ

(trích từ tập truyện ngắn Bên Đường Thiên Lôi)

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2023

MỘT THUỞ BIẾT BUỒN - Nguyễn Sơ Khanh

 

Sau khi mạo chữ ký của lão giám thị để ký vào tờ giấy phép ma tôi đọc lại lần nữa trước khi nhờ thằng bé trực mang giấy đi: Kính giáo sư. Xin giáo sư cho phép học sinh Ngô thị Hoàng Phố đến văn phòng có việc cần gấp, khi đi nhớ mang theo sách vở. Giám thị. Xong tôi ngồi xuống trên bực xi măng cầu thang và đường hoàng rút thuốc ra châm lửa hút mặc dù luật lệ ở đây cấm học sinh không được hút thuốc lá trong trường. Khói thuốc sẽ giúp tôi có đủ can đảm khi đứng trước mặt em, và tôi mỉm cười một mình khi nhớ đến buổi chiều hôm qua. Buổi chiều thật đẹp và sau khi tan học tôi đã đưa Hoàng Phố về nhà trên con đường ngập đầy lá me với những lời tình tự thì thầm và câu nói bất hủ của nàng: Em ghét anh lắm, thi sĩ của em ạ! Lúc ấy tôi chỉ muốn cho chiều ngừng lại hẳn, còn tôi, tôi sẽ nằm xuống mà chết cứng trong đôi mắt đẹp vô ngần của nàng. Nhưng tiếc rằng tôi không phải là Thượng Đế để có đủ phép mầu chiều chuộng nàng nên phải buồn bã mà nhìn thấy nhà nàng đã hiện ra ở cuối con đường. Nàng ngước mắt nhìn tôi và tôi biết rằng đã đến lúc chia tay. Song tôi không muốn trả chiếc cặp táp của nàng tí nào cả. Tôi nắm một đầu còn nàng nắm một đầu, chiếc cặp bắt đầu rên rỉ! Có lẽ nó thấy sợ những buổi chiều và ghét hai kẻ yêu nhau này lắm. Tôi chỉ muốn giữ nàng lại một tí nữa thôi đủ thì giờ để tôi có thể nói một câu hơi thừa nhưng chắc chắn là sẽ làm cho nàng sung sướng: Em đẹp lắm, ly cà phê sữa của anh ạ! Nhưng nàng nhăn mặt, giận dỗi buông chiếc cặp và chạy vào nhà mặc tôi đứng ngớ ngẩn nhìn theo với một dáng dấp khôi hài không chịu được. Tôi lắc đầu đem chiếc cặp đặt trước nhà nàng rồi lủi thủi ra về. Có lẽ nàng giận tôi thật rồi, buổi trưa Hoàng Phố đi học với đám bạn của nàng, nàng không thèm nhìn tới tôi nữa! Tôi thấy  bứt rứt không ít và tôi chỉ còn có một cách liều lĩnh gọi nàng ra lúc này để ra xin lỗi mà thôi.

Tôi đứng dậy quay lưng về phía cầu thang, một tay thọc vào túi quần, một tay kẹp điếu thuốc đang cháy dở khi có tiếng guốc bắt đầu gõ đều đặn ở phía trên. Tiếng lộp cộp càng lớn thì tim tôi càng đập mạnh, tôi hồi hộp tưởng chừng có thể vỡ lồng ngực ra mà chết được. Mặt tôi nóng ran và chân tay hình như nổi gai ốc cả lên. Tôi cố lấy lại bình tĩnh trước khi những bước chân của Hoàng Phố dừng lại ở nấc thang cuối cùng. Nàng yên lặng và tôi cũng vậy. Dù không giao ước trước tôi và nàng cũng biết rằng hai đứa đang chơi trò ú tim! Trò chơi khá hồi hộp và thú vị. Nàng tin tưởng là nàng sẽ thắng còn tôi, tôi không có một hy vọng nào hết trơn! Hình như với nàng tôi luôn luôn là kẻ thua cuộc. Tôi thấy hạnh phúc ở những lần như vậy và lần này tôi cũng đành thua nàng một keo nữa. Bằng tất cả sức mạnh tôi xoay người lại ngập ngừng cười với nàng. Hoàng Phố bỗng phá ra cười, tiếng cười trong veo như những viên đá đập vụn trên chén chè đậu xanh đánh ở quán Phượng. Tôi như bị thôi miên bởi cái nốt ruồi đen độc đáo của nàng, đôi má hồng hào, ngon lành như những quả mận đầu mùa. Nàng thôi cười hóm hỉnh nhìn tên "bại tướng" một lúc rồi hỏi:

- Anh gọi Phố phải không?

Tôi cười, nụ cười như một lời tự thú mà kẻ đối diện dù có dốt đến đâu đi nữa vẫn hiểu được đầy đủ ý nghĩa. Nàng lườm tôi nũng nịu:

- Vậy mà làm "người ta" hết hồn.

- "Người ta" cho anh xin lỗi đi.

Nàng lắc đầu nguầy nguậy:

- Xin lỗi suông vậy à?

- Một chầu ciné ở Hưng Đạo vậy?
 
Nàng ngần ngừ:

- Phim gì?

- Chuyện tình Roméo và Juliet.

Nàng bĩu môi:

- Chả thèm!

- Thèm đi, phim này hay lắm. Nó được rút ra từ một vở kịch nổi tiếng của Shakespeare mà. Anh đã coi một lần rồi mà vẫn thèm coi lại.

Tôi đã nói dóc. Phim chẳng hay tí nào cả tuy đoạn cuối khá bi thảm và hai tài tử đóng vai chính khá dễ thương. Nhưng điểm mà tôi thích nhất trong phim này là rất nhiều lần thằng Roméo và con Juliet ôm nhau hôn dữ dội, dữ dội đến nỗi rung chuyển cả màn bạc. Điều này cũng có nghĩa là tôi muốn nói với Hoàng Phố rằng, khi người ta yêu nhau không phải người ta chỉ ngồi nhìn nhau, xách cặp táp cho nhau, hoặc nói với nhau những câu chuyện tầm phơ... mà người ta còn tặng một "món quà" rất lịch sự và đầy đủ ý nghĩa cho nhau. Dĩ nhiên là "món quà" đó không thể chứa nổi trong những tiếng "anh yêu em" hay "em yêu anh". "Món quà" đó có giá trị vượt bực và thánh thiện vô cùng mà đã nhiều lần tôi muốn tặng nàng nhưng nàng chưa đồng ý.

Thấy nàng im lặng mãi, tôi gọi khẽ:

- Hoàng Phố!

- Gì?

- Hôm nay trông Phố đẹp như một cánh hoa champa.

Hoàng Phố làm mặt giận nhưng tôi thừa biết là nàng đang sung sướng thầm. Không có một cô gái nào lại không muốn con trai khen mình đẹp trừ phi cô gái ấy không đẹp tí nào hết và lời khen có tính cách mai mỉa. Hoàng Phố thì khác, nàng quá xứng đáng để tôi không phải thẹn với chính mình khi thốt ra một câu nịnh đầm hơi quá lố.

Tôi nhắc lại một lần nữa:

- Đi nha cô bé!

Tôi thường hay gọi những đứa con gái mà tôi đã gặp là cô bé, Hoàng Phố có vẻ không bằng lòng, hẳn nàng thích làm người lớn. Hình như tất cả những cô con gái vừa đến tuổi dậy thì đều nghĩ rằng mình đã ra người lớn.

Nàng nhìn tôi ngần ngừ:

- Bỏ học à?

Tôi buồn buồn nhìn nàng:

- Hoàng Phố không chiều anh sao?

- Em sợ lắm.

- Sợ gì?

- Có gì anh chịu nha.

Tôi đáp bừa:

- Ừ! Có gì anh chịu hết.

Thế là tôi dụ được nàng bỏ học để đi ciné với tôi. Trời chiều hôm nay bỗng dưng đẹp lạ lùng, tôi dắt nàng ra khỏi trường và hai đứa thả bộ theo đường Hoàng Diệu. Tôi yên lặng như sợ tiếng nói làm mất đi những rung động thần tiên... Nắng còn ở trên cao, cô đọng trên những cánh điệp vàng cuối mùa, con đường lát sỏi và tôi cố đi chậm lại để nhìn rõ dáng dấp nàng nổi bật dưới những tàn lá cây loang lổ, tà áo trắng nhẹ nhàng vờn trong gió, hai bím tóc xanh xanh lắc lư theo nhịp. Ở nàng thoát ra một vẻ liêu trai kỳ lạ và tôi như ngụp lặn trong những cảm giác nôn nao tưởng chừng có thể chắp cánh bay tít lên không gian vô tận...

Nàng bỗng quay lại cười hỏi tôi:

- Sao anh đi chậm vậy?

- Tôi bước lên nhìn nụ cười làm nốt ruồi đen như hạt đậu của nàng ở dưới cằm rung rinh, Hoàng Phố thẹn thùng cúi đầu tránh ánh mắt của tôi. Tôi hỏi:

- Phố còn giận anh?

Nàng nhìn tôi bằng đuôi mắt:

- Khó mà giận anh lâu được.

- Cả đêm anh không ngủ được!

- Thế thì làm gì?

- Hút hết hai bao Bastos luxe.

Tôi đã nói láo, đêm hôm sau khi đã uống hết chai Soda tôi đã làm một giấc ngon lành cho đến sáng bét, tôi cảm thấy ngượng khi phải nói dối với nàng ; đó là một điều bất đắc dĩ mà chắc chắn rằng không phải chỉ có một mình tôi thực hành. Tuy nhiên Hoàng Phố vẫn tin, bằng chứng là nàng đã nhăn mặt gắt khẽ:

- Nhiều quá vậy? Anh không sợ bị ung thư à?

Tôi đưa một ngón tay lên trời:

- Anh sẽ bỏ.

Tuy nói thế nhưng lúc ngồi trong rạp hát tôi vẫn lôi thuốc ra hút tì tì, em nói mặc em, thuốc lá bỏ thế nào cho được! Nếu có ai hỏi tôi ở đời ghét cái gì nhất và yêu cái gì nhất tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng tôi ghét nhất những ai bảo tôi bỏ thuốc và yêu nhất những đứa con gái dễ thương như Hoàng Phố chẳng hạn.

Rạp hơi vắng nên tôi có thể yên trí sẽ không gặp những đứa bạn tò mò của nàng nhưng rồi kết cuộc tôi chỉ ngồi yên hút thuốc, còn nàng cứ gục đầu xuống đất vì cuốn phim mà nàng cho rằng mang nặng tính chất công xúc tu sỉ. Những dự tính của tôi lúc nãy đều theo khói thuốc mà loãng dần, có lẽ tôi không có ngón nghề lợi dụng mặc dù tôi rất muốn. Có lẽ tôi đã bất lực rồi trước đôi mắt của Hoàng Phố. Mãi cho đến khi cuốn phim gần chấm dứt tôi mới dám cầm tay nàng và gọi nhỏ:

- Hoàng Phố!

- ......

- Anh hôn em nhé?

Hoàng Phố im lặng và tôi không cần biết là nàng có bằng lòng hay không tôi cũng bắt chước thằng Roméo cúi xuống trên mặt nàng. Khi tôi ngẩng đầu lên tôi mới khám phá ra một điều rằng: môi con gái nhất là môi Hoàng Phố có hương vị ngòn ngọt lẫn đăng đắng và nóng hôi hổi như hương vị của ly café đen mà tôi đã uống ban sáng.

Buổi sáng ở tỉnh lỵ thật là buồn bã, nhất là ở cái buổi sáng mà tôi phải tiễn Hoàng Phố lên xe rời thành phố. Nàng đi đâu? Hẳn là không xa lắm nhưng tôi cảm thấy lờ mờ rằng tôi sẽ xa nàng vĩnh viễn. Tự dưng mắt tôi trĩu nặng và lòng tôi cay cay ; trời nắng ráo song hồn tôi lạnh lẽo vô chừng, tôi đốt cả ba điếu thuốc nhưng đối với cái lạnh lạ lùng này thuốc là trở nên vô dụng! Hoàng Phố ra đi là mặc nhiên với tôi thành phố cũng đi luôn, đi hết, không còn con đường mỗi chiều tôi đưa nàng về nhà, căn nhà có giàn hoa giấy đỏ như màu chiếc xe sắp chở nàng đi ; không còn trường học, lão giám thị để tôi có thể trốn học ra Quán Phượng ngồi tìm bóng nàng trong khói thuốc. Tôi đã mất tất cả rồi: tay tôi, chân tôi, mắt tôi, đầu tôi, tim tôi, ruột tôi... Thậm chí đến cả một mớ chữ nghĩa góp nhặt hằng bao năm trời tôi cũng đã trót gởi vào đôi mắt mơ huyền của nàng cả rồi. Tôi buồn, buồn quá đỗi! Hoàng Phố đã hiện ra cho tôi một thuở mới biết yêu, mới dám dắt con gái đi chơi mà khi hôn còn ngớ ngẩn hỏi trước ; rồi Hoàng Phố biến mất cho tôi một thời biết nhớ, một thuở biết buồn.


NGUYỄN SƠ KHANH      

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc Xuân Hồng 1973)

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023

NHỮNG MẨU THUỐC LÁ - Mường Mán

 
 - Anh ơi, Thục buồn!

- Khi không rứa bơ kêu buồn?

- Dạ, buồn lạ lùng.

- Hì hì... Buồn trông con nhện giăng tơ, nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai à?

- Không, buồn trông chênh chếch sao mai, sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

- Buồn tầm bậy, vớ
vẩn. Chừ là buổi chiều, sao mai ở mô mà trông?

- Chiều hả! Rứa thì chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

- Thôi đừng trông, đừng thèm đau nữa.

- Vẫn đau, thích đau.

- Kệ chó em.

- Kệ mèo anh.

- Ơ hay! Thục định cãi nhau à?

- Dạ.

- Ngon lành chưa! Mỗi lần cãi nhau anh khô cả cuống họng.

- Thục sẽ mua cà rem cho anh mút.

- Cãi nhau đói bụng lắm.

- Thục mua bánh mì cho anh gặm.

- Gặm như chuột rứa à?

- Dạ.

- Em nghĩ anh thuộc loài gặm nhấm hay răng?

- Anh là chuột. Tim Thục là củ khoai lang, trước khi gặp anh tim Thục lớn hơn quả trứng gà, chừ anh gặm tim Thục chỉ nhỏ bằng hột xí muội.

- Tim Thục vẫn còn lớn hơn tim con muỗi.

- Thục đền anh.

- Ừ, để vài bữa anh mua cho Thục một trái tim nhân tạo to bằng quả dừa.

Hai người cười. Tiếng cười gã con trai tròn tròn, tiếng cười người con gái nhòn nhọn, thanh thanh. Buổi chiều gầy dần theo những chiếc lá lìa cành bối rối tìm chỗ đậu. Có cỡ mười chiếc lá rơi nằm trên mặt bàn, cạnh 2 ly nước dừa. Rất nhiều chiếc bàn kê rải rác dọc bãi cỏ, dưới hàng cây không rõ tên. Dòng sông chiều không có nắng để rực rỡ nữa, lặng lẽ trôi trong một thứ màu trầm, thanh tịnh, não nùng.

Gã con trai và người con gái ngồi cách xa những cặp trai gái khác nên, câu chuyện trao đổi giữa họ chỉ có những chiếc lá quanh chỗ ngồi nghe thấy. Họ nói chuyện không đầu không đuôi gì cả, hình như là hơi vô duyên nữa, vì thế những chiếc lá không thèm lên tiếng góp chuyện, chúng nằm im, xa lạ.

- Thục làm xong chiếc áo gối cho anh chưa?

- Sẽ xong!

- Sẽ là răng?

- Nghĩa là Thục chỉ mới bắt đầu làm từ hôm qua.

- Răng dám hứa với anh cách đây cả nửa tháng?

- Ờ ờ, tại vì nghĩ hoài, Thục vẫn chưa tìm ra chữ chi, câu chi để thêu trên mặt gối.

- Chừ nghĩ ra chưa?

- Dạ rồi.

- Câu chi?

- Thục định thêu câu: "Chúc anh ngủ ngon, nhưng cấm mơ thấy người khác".

- Eo ơi chi mà dài như toa xe lửa xuyên lục địa rứa?

- Dài mới đủ nghĩa.

- Cắt bớt câu "nhưng cấm..." đi, dở ẹc.

- Trời ơi, Thục tính nối thêm, anh lại bảo cắt bớt.

- Nối thêm nữa à? Thêm câu chi nữa?

- Nối thêm cả câu như ri: "Chúc anh ngủ ngon, nhưng cấm mơ thấy người khác ngoài em, anh mơ bậy là chết".

- Dễ sợ chưa. Làm răng anh  kiểm duyệt được giấc mơ của anh?

- Không biết, kệ chó anh.

- Anh hối hận ghê.

- Hối hận chi?

- Hối hận đã nói Thục thêu cho anh cái áo gối.

- Thôi hí, Thục xé nghe.

- Bậy nà. Để anh nghĩ coi. Thục cấm mơ thấy người khác, nhưng lỡ anh mơ thấy ông già, bà già anh thì được chứ?

- Dạ được.

- Mơ thấy ông hàng xóm?

- Được.

- Mơ thấy cô láng giềng?

- Không, không được.

- Mơ thấy bà già bán xôi mỗi buổi sáng?

- Được. Thôi, anh đừng ví dụ nữa, định chọc tức em há? Nói tóm lại, anh chậm hiểu ghê, cho anh mơ thấy ông già, bà già tóc bạc răng long líp ba ga, nhưng cấm anh mơ thấy mấy con choai choai, tụi con gái cỡ tuổi Thục.

-Anh hối hận ghê.

- Lại hối hận chi nữa, anh lắm chuyện ghê.

- Hối hận đã quen Thục, yêu Thục.

- Đây khó rứa đó. Ai có chán thì nghỉ dài hạn đi.

- A, ngon lành!

- ...

- Ủa, khóc à? Anh xin lỗi, xin lỗi.

Đúng là vô duyên ỏm. Nói chuyện gì đâu đâu rồi khóc. Mặt gã con trai nom thật buồn cười. Hắn nhìn chăm người bạn gái môi hơi he hé nửa ngạc nhiên nửa sùng bái, đôi mắt hết nhìn bạn lại nhìn 2 ly nước dừa và những chiếc lá vàng đượm cong cớn trên mặt bàn. Nãy giờ không ai uống nước, những cục đá bềnh bồng sững sờ trong ly, trắng lốp mấy lát dừa tươi mỏng dính. Hai ly nước trông tinh khiết một cách lẻ loi, tội nghiệp. Gã con trai chợt mỉm cười rất bâng quơ. Cùng với môi cười, hắn quẹt diêm châm một điếu thuốc. Gói thuốc vừa rút từ túi áo ra đặt nằm kênh trên bàn, kê ép lên 2 chiếc lá. Gói thuốc màu đỏ sậm, hiệu Dunhill. Phần dông con gái không ưa người tình hút thuốc lúc ngồi với mình (để rồi lúc xa lại quay quắt nhớ mùi khói gây gây "hắn" nhả ra một cách khoái trá, đáng ghét). Hẳn là cô Thục cũng chẳng ưa gã bạn trai hít khói thở phì phì như ống khói tàu lửa. Cô khẽ cau mày, ngầm cho rằng sự hút thuốc của hắn là một hành vi khiêu khích, vả lại ta đây đã cấm rồi mà, không nhớ sao?

Nếu ví bàn tay của Thục nãy giờ nằm im lìm trên mặt bàn là một bông sen ngủ, thì lúc này bông sen ấy chợt cựa mình thức dậy, xòe cánh ra vươn tới cầm lấy gói thuốc, mở nắp và, với sự tiếp sức đắc lực của bàn tay còn lại, những điếu thuốc tội tình bị bẻ gãy làm đôi. Người con gái tỉ mỉ sắp xếp những mẩu thuốc gãy thành vòng tròn như thể tự bày cho mình một trò chơi mới lạ, dĩ nhiên trò chơi nhuốm màu âm thầm ảm đạm vì gã con trai không hề tham dự.

- Tối nay về nhà, Thục nên uống thuốc an thần trước khi đi ngủ.

- ...

- Hoặc thức luôn tới sáng, đừng ngủ.

- Răng rứa?

- Nếu ngủ thì nhớ đừng mơ.

- Mặc kệ, cứ mơ.

- Thục sẽ mơ thấy những điếu thuốc hiện hồn về đòi mạng.

- Còn anh, đêm nay anh mơ thấy chi?

- Mơ thấy hàng trăm ông già bà lão tóc bạc răng long, chống gậy lụm cụm.

- Không thèm mơ thấy em phải không?

- Có, có chứ. Anh sẽ nhất định bắt anh phải mơ thấy Thục.

- Mơ thấy Thục khóc hay cười?

- Thục mếu, Thục xõa tóc, mặc áo chùng đỏ, tay cầm đũa thần gõ chết hết những đứa con gái cỡ tuổi Thục trên khắp mặt địa cầu. Cuối cùng chỉ còn anh và Thục, mình sẽ làm một túp lều tranh thờ 2 trái tim vàng khè. Chịu chưa.

- Thục hối hận ghê.

- Hối hận chi?

- Hối hận vì đã không chịu ở lì trong bụng mạ, sinh ra đời làm chi để chừ gặp anh, yêu anh, nghe anh nói toàn chuyện tào lao.

- Anh đề nghị mỗi lần nghe anh nói xong Thục nên rửa tai kẻo bị nhiễm trùng.

- Trùng chi?

- Trùng tào lao.

Hai kẻ trẻ tuổi yêu nhau nói chuyện thật kỳ dị. Một người nào khác nghe chuyện họ hẳn là không hiểu mô tê chi hết. Người con gái bây giờ mắt ráo hoảnh, trong vắt, sáng choang, cô đã quên trước đây mấy phút cô khóc. Cơn khóc bị đuổi về miền nào thật xa hun hút trong trí tưởng. Họ đang ngồi bên bờ sông, dưới gốc cây như dưới bóng hạnh phúc. Và, mỗi câu đối thoại trao đổi như là mỗi miếng hạnh phúc ngon ngọt đưa mời nhau. Nếu họ chụm đầu sát nhau hơn chút nữa chắc tuyệt vời hơn vì, người ta sẽ lầm tưởng (họ) là 2 con chim đang mớm mồi nuôi nhau. Không ai để ý tới buổi chiều, chiều tủi thân, chiều vơi mau. Đêm đem mục xạ tới quét lên đầu cây lá. Người con gái xóa vòng tròn thuốc lá trên mặt bàn, đến lúc gã con trai tham dự trò chơi, hắn dồn những mẩu thuốc gãy vụn vào cái bao rỗng, nhét vào túi áo chemise, cười thinh lặng.

- Mai anh vượt đèo, về Huế.

- Đừng nhắc, em buồn.

Sau câu nói yếu ớt của người con gái, không khí vụt chùng hẳn xuống.

Gã con trai không dưng nhắc nhở đến sự rời xa của hắn, ngày mai. Dưới mắt người con gái từ phút ấy 2 ly nước dừa, những chiếc lá khô nở trên mặt bàn chợt khoác thêm một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp buồn bã của giã từ.

Gió mênh mông đuổi bắt nhau trong cuộc tìm kiếm không cùng. Gió thổi buốt qua trí tưởng người con gái làm bật lên hình ảnh ngọn đèo ngày mai gã con trai phải vượt để trở về quê quán hắn. Khuôn mặt gã con trai nghiêng lệch qua khoảng sáng hắt chếch từ ngọn dèn ngoài lộ vào là có thực, người con gái vẫn nhìn thấy hắn hết sức thần thoại, nàng tưởng chừng khuôn mặt ấy sẽ vụt tan biến đi. Nàng bỗng ước ao hắn biến thành một vật gì đó thật nhỏ, một chú bé tí hon chẳng hạn, để nàng cầm giữ chắc trong tay, không cho hắn thoát.

Chiếc răng khểnh, hai lúm đồng tiền : duyên trời cho người con gái. Đường ngôi rẽ thẳng tắp thả chùng hai lọn tóc mơ mòng. Gã con trai đờ dẫn chiêm ngưỡng nhan sắc cô bạn. Hắn muốn uống nhan sắc ấy thật no, để dành cho những ngày sắp tới.

- Về thôi em.

Người con gái rời chỗ ngồi mang theo một chiếc lá trên tay. Hai chiếc bóng nương tựa nhau trôi khoan thai trên mặt lộ.

Chiếc lá ngậm chặt giữa hai bờ môi người con gái, chắn giữ tiếng khóc của nàng.

Gã con trai lấy gói thuốc, cứ mười bước hắn lại thả rơi một mẩu thuốc vụn xuống đường. Con đường từ bờ sông dẫn tới khu Duy Tân, tới ngõ nhà nàng rải rác những mẩu thuốc lá. Người con gái nhủ thầm tinh sương sớm mai nàng sẽ theo dấu thuốc lá ra bờ sông - buồn nhớ một mình.


MƯỜNG MÁN      

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số  60)


Thứ Năm, 23 tháng 11, 2023

BẮT ĐẦU - Thạch Lam

 

- Chị nhung ơi, ra đây em bảo cái này.

Nhung vẫn cúi nhìn trên mũi kim, không ngửng lên. Nàng chỉ bảo:

- Loan bảo gì?

- Cái này hay lắm. Chị cứ ra đây rồi em nói cho mà nghe.

- Thế thì thôi. Tôi còn bận khâu áo mới cho em Bích đây.

Loan không nghe, nhất định gọi:

- Chị cứ để đấy ra với em, câu chuyện hay lắm cơ. Ði chị!

Nhung hơi bực mình về tính nũng nịu của em. Nàng bỏ chiếc áo mới xuống thúng đi ra:

- Nào xem cô em nói gì mà cần thế.

Loan quay ghế lại nhìn chị, nhoẻn cười, hai mắt long lanh sáng:

- Chị xuống đây, gió mát lắm chị ạ.

Trên mảnh vườn, nắng lóe qua các hàng cây. Nhung dẫm trên cỏ mềm, đến ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh em. Thấy Loan có vẻ tinh nghịch nàng nghiêm giọng bảo:

- Chuyện gì thì nói đi. Ðừng có đùa mà chết với tôi đấy.

Hai mắt Loan vẫn long lanh, nàng vội làm mất nụ cười sắp nở trên môi, ghé lại sát tai chị, má hơi đỏ vì thẹn:

- Chị... này chị, bao giờ... anh Minh xuống chơi, chị nhỉ?

Nhung bật cười, tát sẽ vào má em:

- Thế mà ngỡ gì, cô chỉ làm tôi bỏ giở công việc. Anh ấy xuống chơi bao giờ thì hỏi anh ấy chứ hỏi gì tôi.

Nhung toan đứng dậy bỏ đi, nhưng Loan vội nắm lấy áo chị, năn nỉ:

- Không, chị hẵng ngồi đây một chút đã. Sáng nay em thấy mẹ nói rằng ngày mai cậu Bình sẽ xuống.

Lần này đến lượt Nhung đỏ hồng má. Chị gắt với em:

- Cô chỉ hay được cái nói bỡn thôi.

- Không, em nói thật đấy. Mẹ nói với thầy rằng... rằng muốn cho chóng xong việc thì bảo cậu Bình xuống, và thầy đã viết giấy rồi.

Nhung lặng yên một lát rồi hỏi em:

- Vậy cậu ta xuống một mình à?

- Chắc thế. Nhưng cậu Bình thì còn cần ai nói giúp nữa. Cậu ta cũng như người nhà rồi còn gì.

- Ai biết đâu đấy!

Loan nắm lấy tay chị, cãi lại:

- Chả phải thế là gì, chị lại còn chối.

Nhung yên lặng không đáp.

Loan cũng thôi nói. Nàng thong thả và dịu dàng nghĩ ngợi, vì nhắc đến tên Bình nên hình ảnh Minh thân yêu – Minh của nàng - lại hiện ra trước mắt, hình ảnh một người thiếu niên tinh nhanh, hai mắt sáng, luôn luôn đưa tay vén lại mái tóc xõa trên trán. Con người đáng yêu quá! Loan e thẹn nhớ lại những lúc chàng sẽ lén cầm tay nàng, bên góc vườn. Tim nàng đập mạnh lên và một cảm giác êm dịu tràn lấn vào người.

Buổi chiều đã đến. Nắng xiên ngang sát mái nhà đến phớt trên ngọn cỏ. Cả một chùm lá cây liễu to đứng giữa sân đúng vào ánh nắng, tơ liễu buông chùng sẽ rung động vì gió nhẹ. Những lá mảnh và dài trong như lụa mỏng và sáng như mi của các cô thiếu nữa vui tươi.

Hai chị em Loan ngồi nhìn cảnh vườn ruộng bày ra trước mặt. Cây cối xanh tươi và um tùm bao bọc lấy mấy căn nhà gạch của trại nàng. Chiều nào hai chị em cũng bắc ghế ra ngồi trên thảm cỏ trước thềm nhà xem sách hay nói chuyện để đợi cơn gió mát ngoài cánh đồng đưa vào. Nhưng buổi chiều nay đối với hai người êm dịu hơn mọi buổi chiều.

Loan đưa mắt nhìn đưa mắt nhìn trộm Nhung, nàng thấy chị có vẻ tự lự nghĩ ngợi; đôi lông mày dài và đen sẽ nhíu lại một cách Loan đã trông quen, khiến nét mặt Nhung hơi nghiêm trọng. Nàng đoán chị đương nghĩ việc gì quan trọng - việc cậu Bình, chắc thế. Loan kính trọng sự suy nghĩ của chị, lặng yên hít thở mạnh không khí trong theo gió tràn vào; ngực nàng nở lên, sút nhẹ vào lụa mỏng và mát của tấm áo; một cảm giác ấm cúng lan dần khắp thân thể nàng, dẫn nàng vào một sự êm dịu dễ chịu. Loan muốn ôm lấy một người nào - một sự quấn quít trong sạch và lành thôi; nàng nghĩ đến Minh rồi mỉm cười.

Bỗng nhiên Loan quay lại; mẹ nàng đã đến bao giờ mà nàng không biết. Loan nghe thấy chiếc ghế kêu răng rắc dưới sức nặng của mẹ vì bà phán người to béo, rồi nét mặt hiền từ và quen thuộc của mẹ làm thân mật cuộc hội họp. Mắt bà phán cũng long lanh sáng. Mẹ nàng đang rối trí lắm, Loan nghĩ thế. Chắc bà có điều gì muốn nói.

- Mẹ không vào trong phố chơi à?

Bà phán để tay lên đùi, nhìn về phía nàng:

- Chả vào nữa. Hôm nào các bà ấy cũng dắt đánh tổ tôm đến sáng mệt quá.

Nhung nói chen :

- Mẹ hay thức khuya thế mệt người lắm.

Bà phán nhìn chị lặng yên. Loan muốn nói chuyện nữa, nhưng bỗng nàng hiểu rằng ngồi đây là thừa. Bà phán có vẻ đợi nàng đứng dậy đi ra chỗ khác để nói câu chuyện quan hệ hơn. Loan nhìn chị, Nhung cúi mặt xuống chân, lông mi dài phớt bóng má hơi ửng đỏ. Nhung cũng đang chờ đợi câu chuyện gì quan trọng. Ồ, thế ra chỉ có nàng là không quan trọng thôi ư? Loan có cảm tưởng xưa nay mẹ và chị Nhung vẫn coi nàng như con trẻ, chỉ những chuyện nhỏ nhặt và ngọt ngào mới để nàng nghe.

Hơi phật ý một chút, Loan thu gọn giầy ở dưới chân nói chữa ngượng:

- Gió mát quá! Ra cánh đồng chơi một tí mới được.

Nàng đứng dậy uyển chuyển trong tấm áo lụa mảnh. Ðến đầu vườn, Loan quay lại: quả nhiên chị Nhung với mẹ đang chụm đầu vào nhau. Lại chuyện nhân duyên của chị Nhung chớ gì. Làm sao mà phải bí mật thế. Hai người cứ việc lấy nhau có được không? Thật là giản dị quá, mà hình như không ai nghĩ ra.

Loan vừa đi vừa rứt lá trong vườn, nghĩ ngợi. Thái độ chị Nhung khiến Loan lấy làm lạ. Ít lâu nay chị thành ra đứng đắn nghiêm trang. Chị không cười đùa luôn với Loan nữa. chỉ tại cái việc lấy chồng thôi. Cậu Bình cũng đáng yêu đấy chứ. Lấy Nhung thì thực xứng đôi. Loan cũng biết mang máng rằng từ ngày nhà cậu Bình nghèo, thì bà Phán không muốn gả Nhung cho cậu nữa, tuy có lời giao ước cũ. Loan thấy bất bình cho cậu và giận mẹ; nghèo thì nghèo chứ làm sao. Nhưng mẹ làm thế chẳng vì chị Nhung đó ư? Loan còn nhớ một hôm, nghe thấy mẹ nói với thầy:

- Bây giờ lấy nó chị con Nhung sẽ khổ. Mình làm cha mẹ phải liệu cách thương con chứ.

Chuyên người nhớn thực rắc rối! Loan chẳng hiểu ai phải cả, chỉ thương chị Nhung hình như chị suy nghĩ nhiều về việc ấy. Chị yêu cậu Bình lắm thì phải. Cũng như Loan yêu Minh.

Loan bước ra cổng. Cánh đồng lúa xanh rờn hiện ra trước mắt. Trên giời, giải quạt hồng tím xòe rộng từ phương đông sang phương tây. Trong sương mù xuống, tiếng ếch nhái vang vang từng dịp một, nhẹ nhàng lên cao trên không. Giá có Minh ở đây, để cùng đi chơi thì Loan sung sướng quá, Loan ngồi xuống vệ cỏ bên đường, táy máy rút chiếc cỏ may. Minh cũng nghèo như Bình, chả khác gì. Loan mơ màng nghĩ: sau này mẽ cũng ngăn cấm không cho Loan lấy Minh ư?

Nhưng ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua, Loan chỉ thấy yêu mà thôi. Tâm hồn nàng nẩy nở đón tình yêu như cái cây non đón nước mưa. Nàng yêu Minh như đứa trẻ mới bắt đầu yêu, say sưa và lóa mắt vì chính cái tình yêu của mình. Loan thở dài nhẹ, bao giờ Minh xuống đây. Anh ấy đã hẹn kỳ nghỉ này thế nào cũng về chơi nhà Loan. Hai người lại len lỏi trong vườn như mọi khi, dưới con mắt vui vẻ của thầy mẹ, Loan nhớ lại nét mặt hồng hào của Minh lúc quay lại đưa tay vuốt tóc xõa trên trán. Tình yêu mến thần tiên!

Trong nhà đã lên đèn, Loan mới trở về. Nét mặt chị Nhung và mẹ làm sao ấy, khác với ngày thường. Một vẻ quan trọng còn phảng phất trong dáng điệu hai người. Loan đoán chắc có chuyện gì xẩy ra. Mắt chị Nhung hơi đỏ, như vừa mới khóc, nhưng có một tia sáng sung sướng khi chị nhìn mọi người. Bà Phán có vẻ nghĩ ngợi, ngồi thần người đến nỗi Loan đến gần bên mà cũng không biết. Loan bực tức vì bị để ra ngoài một câu chuyện quan trọng. Nàng bước đến bàn uống nước, rót nước vào chén và giơ cao vòi ấm lên cho nước kêu to, mà cũng không ai để ý.

Ðến lúc mang đèn vào phòng đi ngủ, Loan liếc mắt nhìn chị, chờ đợi một câu nói. Nhưng Nhung không hé miệng, hai môi mím chặt một dáng quả quyết. Mặc không chú ý đến nữa, Loan lên giường nằm. Nàng kéo cái chăn mỏng lên cằm, khoan khoái ruỗi chân tay trên đệm. Lần thứ hai ngực nàng căng nở dưới vải mịn mỏng manh; một cảm giác thấm thía đê mê dâng lên ngập cả người ngàng vào trong đó, như lúc tắm bể. Loan ngậm miệng vào vành chăn, ruỗi hai chân thẳng ra, rồi yên lặng nhìn tấm màn trắng dịu màu sữa dưới ánh đèn. Nàng trông thấy Minh mỉm cười với nàng trên đó. Gian phòng ấm cúng trở nên tịch mịch quá... Một tiếng nấc sẽ; Loan lắng tai nghe: chị Nhung. Nàng nghiêng mình nhìn sang giường chị. Nếp màn vẫn rủ yên, và hơi thở Nhung vẫn đều đều, Loan nghe nhầm chăng? 

- Chị Nhung, chị Nhung...

Tiếng nàng Loan nghe lạ hẳn. Không có tiếng trả lời; hơi thở Nhung vẫn đều. yên bụng, Loan trở lại với cái mộng xinh đẹp của mình. Sung sướng, nàng nhắm mắt, để cho bóng tối đến, mát và rực rỡ, bao bọc cả tâm hồn, thân thể nàng.

Nửa đêm, Loan sực thức dậy; nàng bâng khuâng mở mắt nhìn; đèn sáng hơn và căn phòng như đầy cái hoạt động kín đáo của người. Loan nghĩ ngay đến chị Nhung, chị Nhung đâu? Nàng chống tay lên trông ra ngoài: chị Nhung ngồi cúi mình trên bàn, trước ngọn đèn. Bóng chị mênh mang chiếu trên tường; Loan tung chăn ngồi dậy. Nhung như chợt nghe thấy tiếng động vội cúi xuống nữa, nghiêng mặt đi.

- Chị Nhung, chị làm gì thế?

Yên lặng; Loan nhô hẳn người ra ngoài màn nhìn: lạ chưa, chị Nhung... Loan tưởng nhầm chăng? Nhẹ nhàng nàng bước đến sau lưng chị, đặt hai tay lên vai Nhung, cúi đầu xuống má chị, cảm động:

- Chị, chị khóc đấy ư? Làm sao chị khóc?

Nhung không trả lời. Một lát, chị đưa khăn lên lau, đặt tay lên tay Loan, rồi ngửng lên nhìn em, một nụ cười qua nước mắt:

- Chị có làm sao đâu. Em chưa ngủ ư?...

- Em...

Loan chẳng nói nữa. Tâm sự chị Nhung, em biết làm sao? Nàng ngồi xuống bên chị, âu yếm:

- Chị cũng đi nghỉ đi thôi, đêm khuya rồi.

Ánh ngọn đèn trở nên dịu và thân mật. Mắt chị Nhung còn long lanh ướt qua mấy sợi tóc rối trên trán. Hai chị em nhìn nhau, và Loan thấy yêu kính và thương chị quá.

Chị Nhung buồn khổ cái gì? Loan nghĩ đến câu chuyện quan trọng giữa mẹ với chị Nhung ban nãy, vẻ bần thần nghĩ ngợi của mẹ... Nàng tự nhiên mỉm cười, tưởng tưởng thấy hình ảnh Minh và nói:

- Em vừa mới nằm mê xong thì chị dậy.

Nhung thở dài sẽ, quay mặt đi, rồi bảo em.

- Thôi, đi nghỉ đi.

Hai chị em lặng bước vào màn.

Loan vừa kéo chăn lên đầu, hé trông sang bên, thấy chị Nhung đương buông nếp màn xuống, tay vẫn để yên, mắt nghĩ ngợi nhìn em. Loan vội vàng rụt đầu vào, chùm chăn lên ngủ.

Chị Nhung sắp về nhà chồng rồi.

Thế là xong: mẹ đã bằng lòng cho chị lấy cậu Bình. Hôm nhà trai dẫn đồ lễ đến, Loan sung sướng quá, chạy đi tìm chị. Nhưng Nhung đang ngồi khâu áo như mọi khi ở trong buồng; Loan đến gần ngay cạnh, nhí nhảnh nói:

- Em xin mừng cho chị và cho anh Bình đấy!

Nhung bồng em lên trên lòng, hôn vào má. Mắt nàng long lanh sáng:

- Em tôi chỉ được cái thế thôi!

Loan áp người vào chị, nói đùa:

- Từ giờ thế là chị hết khóc nữa nhé.

Nhung nhìn ra xa, ửng đỏ hai gò má; Loan thấy trong cái vui của chị có lẫn một chút buồn, một nỗi e ngại xa xa, như một chút sương mờ lúc bình minh. Nàng biết chị Nhung sắp đi đến một tương lai gần gụi, một thế giới khác; chị sắp dự vào một cuộc đời mới, chính tay xây đắp lấy hạnh phúc hay đau khổ riêng. Hai chị em rồi sẽ xa nhau. Loan quàng tay lên vai chị âu yếm. Sự thân mật rất lâu.

Hôm nay ngày đón dâu; Loan vui vẻ lắm, vì trong nhà tấp nập kẻ ra người vào rộn rịp. Nhà cửa trang hoàng lộng lẫy, dẫy bàn phủ khăn giải trắng mới nguyên, đầy giỏ hoa đủ các màu. Tất cả họ hàng trong nhà đều có mặt; Loan nhanh nhẹn đi trong đám người ấy. Thỉnh thoảng nàng lắng nghe các bà cụ nói đến chị Nhung, rồi thì thầm nói đến nàng, tay chỉ kín đáo.

Nhưng trong lòng Loan đang hân hoan một sự chờ đợi vô cùng: Loan đợi Minh, vì hôm nay thế nào chàng cũng về ăn cưới chị. Nàng mong đợi từng chuyến tầu. Sao Minh mãi chưa đến?

Bỗng tự nhiên đang trong câu chuyện với bà cô Loan yên hẳn người lại: chàng đã vào. Có lẽ chàng đang bỏ mũ, mớ tóc xòa trên trán, mắt đưa nhanh, hơi ngượng nghịu, lúng túng... Loan không quay lại, không nhìn ra. Nàng nghe thấy mẹ nói: "- A cậu Minh, cậu đã xuống... mời cậu vào..." và tiếng Minh trả lời khe khẽ; Minh ngồi xuống ghế. "Chàng đang nhìn mình", Loan thấy thế. Nàng lại tiếp nốt câu chuyện với bà cô. Bấy giờ trong nhà đông quá; nhưng ý nghĩ ấy không làm nàng nóng ruột, cả các người chung quanh, cả những câu thừa tiếp với bà cô. Những cái đó không làm Minh xa nàng, Loan vẫn cười nói, vẫn nghe, vẫn đối đáp, như trong một giấc mộng; nàng thức ở lòng nàng và ở trong lòng Minh.

Sung sướng, Loan đi tìm chị Nhung ở trong buồng, má hồng trong áo mới, giữa đám các cô phù dâu. Chị Nhung trông đẹp quá, đẹp thần tiên, cao quý. Loan lại gần nhí nhảnh toan đùa bỡn chị, nhưng nụ cười nàng dịu đi và nàng cắn môi lại, vì chị Nhung vừa mới nhìn Loan, một cái nhìn hơi nghiêm trang, thoáng buồn. Loan thấy trong lòng man mác, như lờ mờ hiểu một sự mà Loan không biết là sự gì. Nàng yên lặng đứng bên chị, nghe giọng cười nhỏ của các cô phù dâu.

Một lát bà Phán vào, Loan thấy mẹ có vẻ bằng lòng và sung sướng, cười vui vẻ trước dáng điệu lễ phép của các cô phù dâu. Mẹ nhìn chị Nhung âu yếm, hiền lành; nhìn các cô Lan, Hồng, Thu Bích, rồi nhìn Loan nói đùa:

- Còn con bé này nữa. Sang năm tôi gã chồng cho em, các chị lại về ăn cưới nhé!

Bốn cái miệng xinh thưa, bốn nụ cười tươi quá: Vâng ạ.

Loan chợt nghĩ đến Minh, thẹn quá ửng đỏ cả hai gò má, rồi chạy với ra ngoài.

Ðêm đến, trong nhà lại yên tỉnh hẳn. Chị Nhung về nhà chồng rồi... không biết bay giờ chị đang làm gì? Loan nhìn sang bên giường chị, chiếc chiếu thường giải vẫn ngay ngắn, một cái gối cũ trơ vơ. Giường nàng ấm cúng hơn. Minh đã trông thấy chưa? Loan thử đoán xem chàng thức hay ngủ, hay ngồi xem sách bên ngọn đèn... Nàng hồi hộp. Lúc chiều, nghe thấu mẹ mời Minh ở lại, Loan mừng quá, vờ cúi mặt xuống tráp trầu. Vì thế bây giờ Minh mới ở gần bên mà nghĩ đến nàng.

Sung sướng, Loan đưa mắt trong các đồ vật bầy trong phòng, các đồ vật đã quen sự có mặt của chị Nhung, Loan thấy các thức ấy có một vẻ vui tươi và vô lý của những đồ vật mà nàng trông ngày còn nhỏ kỳ nghỉ hè. Nàng đến bên cửa sổ, nhìn ra vườn. Bóng trăng xanh rót qua vòm mảnh lá cây chiếu vào. Gió thổi hiu hiu mát hai bên cổ nàng, tóc phất phơ. Loan nhớ đến mái tóc xõa của Minh khi chàng quay lại gọi nàng, ngày nào, ở trong vườn. Dưới làn áo vải mịn, thấm thía... Ngực Loan nở ra, nàng thở mạnh, tay nắm chặt chấn song cửa. Chị Nhung đâu? Ðộng phòng hoa chúc, bốn tiếng ái ân, bên cậu Bình mà chị yêu; chị đang bắt đầu cuộc đời mới, đầy hoan lạc, nhưng sao mắt chị nghiêm trang?

Bóng trăng chếch soi tỏ vào trong buồng. Loan ngửi thấy các mùi hương thơm ngoài vườn càng đậm thêm, man mác. Loan cũng yêu, yêu say sưa, sung sướng. Bóng tối dưới vòm cây thân mật, như giục gọi; lối đi trong vườn quen thuộc giữa hai bên là lối đi nhỏ ấm cúng vô cùng.

Loan sẽ thở dài. Nàng rung động, dùng dằng dưới tiếng gọi quyến rũ. Rồi Loan rón rén, vuốt lại mái tóc; nàng nhẹ nhàng đi ra, đứng lại ở cửa, nghe tiếng tim đập mạnh dưới làn áo. Một bước, một bước nữa, bực thềm thấp xuống ngoài hiên; cỏ vương trên bàn chân hơi lành lạnh vì sương...

- Em Loan...

Nàng đã đến giữa vườn rồi, bàng hoàng nhìn quanh như trong mộng. Minh đã chờ ở đấy từ bao giờ... Hai cánh tay chàng sẽ ôm lấy người Loan, miệng chàng ghé lại gần, Loan sung sướng quá, nhắm mắt lại.

... Nàng tỉnh dậy bên cạnh Minh, bên người chàng, dưới bóng cây mát Loan muốn nói nhưng không biết nói gì. Nàng mở lòng ra đón một sự hân hoan lạ, một thế giới khác nàng mới bước vào.
 
 
THẠCH LAM      
 
(Trích từ tập truyện Nắng Trong Vườn)
 

Thứ Hai, 20 tháng 11, 2023

VAI PHỤ - Thanh Nam

 

Bây giờ, mỗi lần đi coi hát, nhìn thấy những diễn viên thủ những vai phụ, tôi lại chợt nhớ đến Liêm. Tôi nhìn lên những diễn viên đó (những diễn viên mà suốt một vở tuồng chỉ xuất hiện vào khoảng độ mười phút trở lại) lòng se sắt một nỗi buồn. Hình ảnh của họ là hình ảnh của Liêm mười năm về trước. Cũng những vai trò tầm thường ấy, cũng những câu nói ngắn ngủi ấy, có khi là một vai lính hầu suốt buổi hát chỉ chờ để “dạ” một tiếng thật lớn, có khi là một vai tướng cướp, một tên côn đồ hung dữ mà vở tuồng chưa qua khỏi màn đầu đã bị giết chết. Tôi nhìn họ, nghĩ đến những chiếc tầu nằm ở những ga hẻo lánh, suốt đời chỉ giữ có mỗi một nhiệm vụ là đẩy giúp những con tầu chính lên khỏi một đoạn đèo dốc. Ngày xưa, đã có lần tôi ví Liêm là chiếc đầu tầu xe lửa đó.

Liêm với tôi quen nhau hết sức tình cờ. Ngày ấy tôi đi theo một đoàn hát cải lương lưu diễn quanh năm tại các tỉnh miền
Bắc. Tôi giữ vai trò cũng không lấy gì làm quan trọng lắm trong đoàn hát này. Suốt ngày, tôi chỉ có một nhiệm vụ là cùng với một anh soạn giả chính trong đoàn, sáng tác những vở mới. Công việc thật nhàn hạ. Cốt tuồng thì đã có anh soạn giả nhà nghề nghĩ ra, cả đến lớp lang và những bản ca trong vở, tôi càng không phải nghĩ đến. Tôi chỉ có việc viết đối thoại hoặc sửa lại những bản ca cho nó có vẻ… văn chương một chút. Những lúc rảnh rang, tôi thường la cà đi thăm những diễn viên trong đoàn. Phần nhiều tất cả đều ở ngay rạp hát. Bên dưới các bục gỗ dùng làm sân khấu của rạp là những gia đình tài tử hạng trung. Còn những người phụ diễn, những tài tử chỉ cần có mặt mười phút trong một đêm thì ở ngay trên sân khấu. Khi khán giả đã về hết rồi và những chiếc đề-co đã được dỡ đi thì họ kê lên đó những chiếc ghế bố.

Cứ như vậy mà ngủ, không mùng, không chăn. Vào những tháng lạnh, họ ngủ chung với nhau, ba bốn người đắp chung một chiếc chăn. Cuộc sống của họ không hơn gì những người phu sân khấu, những công nhân khuân dọn đề-co. Còn đào kép chính lẽ dĩ nhiên là đời sống sáng sủa hơn. Họ được ở trong những phòng riêng, ăn uống cũng riêng biệt. Liêm thuộc vào hạng tài tử phụ, bởi vì anh chuyên môn đóng những vai lính hầu, người ở và đôi khi trong một vài vở tuồng huyền bí anh được thủ những vai quái vật. Cả bộ mặt đẹp trai của anh bị vẽ xanh đỏ lòe loẹt và phần nhiều bị che giấu sau những chiếc đầu ác thú gớm ghê. Sở dĩ tôi chú ý tới Liêm giữa số hàng chục diễn viên phụ của ban hát là vì anh không giống như những người kép hát khác.

Cuộc sống của anh không hùa theo đa số. Có nhiều người sau khi vãng hát là kéo nhau đi ăn uống hoặc xà vào một tiệm hút nào đó nằm cho tới sáng, buông trôi cái đời mà họ cho là nghệ sĩ, song Liêm thì thật là khác hẳn. Tôi đã để ý nhiều lần và thấy ở Liêm có nhiều nét đặc biệt, nổi bật lên giữa đám người sống trà trộn đó. Ngay cả từ dáng dấp đến cách nói năng, mỗi thứ ở người Liêm đều biểu lộ ra sức sống phong phú mãnh liệt. Khi được nói chuyện với Liêm rồi, tôi lại càng thấy sự nhận xét của tôi là đúng và không khỏi ngạc nhiên về sự có mặt của anh ở trong đoàn hát này. Nhất là sự có mặt ấy lại chẳng có vinh dự gì. Tôi nghĩ, một người như anh với trình độ học thức tương đối khá, anh có thể dễ dàng kiếm được một chân thư ký ở ngoài, vừa có tiền vừa đỡ cực nhọc, mà tại sao anh lại lao đầu vào đi theo đoàn hát để tự đày đọa, rẻ rúng cái thân mình như vậy? Cũng vì sự thắc mắc đó mà chúng tôi chóng trở nên thân thiết với nhau, Liêm cho tôi biết qua về gia cảnh của anh.

Cha mẹ buôn bán, những người anh của Liêm đều có một địa vị xứng đáng trong xã hội. Nghĩa là gia đình anh thuộc vào hạng trung lưu nếu không muốn gọi là giàu có. Tôi biết là khi nói về gia đình mình Liêm đã hết sức thành thật. Tôi hỏi tại sao anh không trở về với gia đình hoặc là theo đuổi việc học, hoặc là tìm một việc làm gì hợp với khả năng hơn thì anh chỉ im lặng rồi nói lảng sang chuyện khác. Từ khi biết Liêm, tôi bao trùm lấy con người anh. Có lúc, tôi đoán là Liêm đã thi trượt mảnh bằng Tú Tài nên phẫn chí mà tự làm hư hỏng cuộc đời hoặc giả anh là một người có tâm hồn phiêu đãng thích cuộc sống giang hồ nay đây mai đó. Cũng có khi tôi lại khoác cho anh một bộ mặt si tình. Tôi nghĩ đến câu chuyện một anh học sinh vì mê một cô đào hát mà bỏ gia đình để đi theo đoàn hát làm một chân khuân vác đề-co và thấy rằng rất có thể Liêm đang đóng vai trò của anh học sinh kia.

Song, bằng ấy giả thuyết đưa ra, tôi vẫn chưa thấy hài lòng. Cuộc sống của Liêm ví như những con sóng ngầm ở dưới đáy đại dương, sự luân lưu của nó không bao giờ hiện lên mặt. Liêm vẫn có vẻ mãi mãi là một con người bí mật đối với tôi, nếu câu chuyện mà tôi sắp kể lại dưới đây không xảy ra.

Cuối năm đó, đoàn hát của chúng tôi về diễn ở một tỉnh duyên hải miền Bắc. Bà chủ gánh có yêu cầu chúng tôi viết cấp tốc một vở tuồng mới để kịp diễn trong buổi đầu năm. Đây là một dịp để cho đoàn hát thâu tiền mạnh nhất trong năm, nếu có được một vở tuồng mới ăn khách.

Anh soạn giả chính của đoàn đã bàn luận với tôi suốt cả một đêm về cốt truyện để viết. Tuồng La Mã, Nghìn Lẻ Một Đêm, loại ca vũ nhạc diễm huyền, loại phiêu lưu, loại xã hội, v.v… được nêu lên để thảo luận. Sau cùng, chúng tôi đồng ý đưa ra một vở tuồng “xã hội, tâm lý, ái tình” thuộc các loại “Lan và Điệp.” Bởi vì chúng tôi nghĩ rằng các loại đó bao gồm đủ cả ái tình và nước mắt cũng như những trận cười hoan hỉ, rất hợp với thị hiếu của đa số khán giả. Công việc bắt đầu. Lần này, nhiệm vụ của tôi nặng hơn. Tôi vừa phải nghĩ cốt chuyện lại vừa phân cảnh, soạn lớp và viết luôn đối thoại. Anh bạn soạn giả chính vì còn mắc viết tiếp vở tuồng mới khác nên chỉ giúp tôi công việc soạn lời ca. Trong thời gian tôi viết vở tuồng mới này không lúc nào là Liêm không có mặt bên cạnh tôi.

Về sau, anh ta biến thành một thư ký riêng của tôi. Viết xong trang nào tôi lại giao cho Liêm đánh máy thành nhiều bản để tiện kiểm duyệt và trao cho các tài tử tập dượt. Để cho vở tuồng có được kết quả chắc chắn về mặt diễn xuất, tôi yêu cầu họ tập luôn từng màn đã xong trong khi tôi đang viết màn tiếp. Lẽ dĩ nhiên, cũng như bao nhiêu vở trước, hai vai chính đều giao cho hai tài tử chính của đoàn. Hai người này tôi phải nói rằng, đối với họ tôi không có cảm tình cho lắm, mặc dù họ là những cây tiền của đoàn hát. Vở tuồng của tôi nếu có thành công hay không một phần lớn trông cậy vào họ. Nhưng nói về diễn xuất thì họ là những kẻ bừa bãi nhất. Những giờ tập dượt ít khi được họ tôn trọng.

Đã vậy, họ lại ỷ vào cái tài “cương” của họ mà không chịu học vở đến nơi đến chốn. Chỉ có bài hát là họ bắt buộc phải học kỹ vì họ biết khán giả thích nghe họ hát hơn là xem tài diễn xuất của họ. Tuy biết vậy, song tôi cũng đành chịu, không dám động đến họ. Có một điều lạ là trong vở tuồng, Liêm chỉ đóng một vai rất nhỏ trong màn đầu, nhưng tất cả những buổi tập anh đều có mặt và rất chăm chú theo dõi cách thức của các tài tử. Những lúc đó tôi thấy anh như một nhà đạo diễn ngồi coi các tài tử diễn thử. Anh ngồi vào hàng ghế góc rạp trong làn ánh sáng nửa vời, nét mặt linh động lạ thường. Tôi nghĩ đến giấc mơ của tất cả những diễn viên phụ. Chắc Liêm cũng đang ước mơ một ngày nào đó sẽ được thủ những vai như tài tử chính trong đoàn.

Nghĩ vậy tôi càng thấy thương Liêm hơn. Buổi tối, hôm tập xong màn chót vở tuồng, tôi rủ anh sang một tiệm cà-phê gần đó và muốn cho anh thấy rằng dù anh chỉ là một kép phụ, rất phụ, trong đoàn tôi vẫn coi anh như một nghệ sĩ, tôi liền ngỏ ý muốn anh cho ý kiến về vở tuồng. Lúc đầu thì tôi nghĩ rằng hỏi anh là để cho có chuyện mà thôi, nhưng sau tôi đã vô cùng kinh ngạc khi thấy anh đưa ra những nhận xét xác đáng lạ thường. Ngoài một vài chỗ yếu của vở tuồng mà tôi đã phải đồng ý với anh, anh lại còn có những nhận xét thật là tế nhị về sự diễn xuất của các vai. Anh không hề bỏ qua một cử chỉ nào của mỗi diễn viên. Anh phê bình cặn kẽ đến nỗi mà trong một lúc, tôi thấy vở tuồng hoàn toàn hỏng về mặt diễn xuất. Tôi không hiểu Liêm đã học những kinh nghiệm diễn xuất ấy ở đâu. Trong sách vở hay qua kinh nghiệm của những năm tháng đi theo đoàn hát.

Sau buổi nói chuyện đó tôi càng thấy quý mến Liêm hơn. Và dù không thể nào làm theo ý kiến của anh để sửa đổi lại hoàn toàn vở tuồng, tôi cũng đã cố gắng can thiệp để cho các tài tử phải sửa đổi vài đoạn diễn xuất trong vở.

Thế rồi, ngày diễn vở tuồng đó tới. Một việc không may xảy ra. Trước hôm diễn một ngày, Lộc vai chính trong vở bị khản đặc tiếng. Cả đoàn chỉ trông cậy vào vở này. Nếu Lộc khản tiếng thì vở tuồng coi như phải bỏ vì không có một nam diễn viên nào có thể thay Lộc được. Bà chủ gánh cuống quýt. Chúng tôi thi nhau đi tìm thuốc cho Lộc. Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lộc vẫn không thể nào nói được thành tiếng chứ đừng tính đến chuyện hát nữa. Chết một nỗi là đoàn hát đã quảng cáo rùm beng từ một tháng trước vở tuồng này và lại là dịp đầu năm không thể nào tìm vở khác thay được.

Sau cùng, tôi chợt nghĩ đến Liêm, không hiểu tại sao lúc đó tôi lại cho là Liêm có thể thay Lộc được và, táo bạo hơn nữa, tôi lại đem ngay ý kiến đó đề nghị với bà chủ gánh và anh bạn soạn giả kiêm đạo diễn của đoàn. Lúc đó thì mọi người cùng tưởng là tôi nói đùa, về sau thấy bộ mặt quả quyết của tôi thì mọi người lại nghĩ là tôi điên. Nhưng, dù muốn dù không cũng là một cách giải quyết cuối cùng.

Mọi người cho gọi Liêm tới. Như tôi đã nói, mặc dù chỉ là một kép phụ, nhưng Liêm là một tài tử đẹp trai nhất đoàn, nên cái khuôn mặt của anh cũng đã gây được một phần tin cậy cho bà chủ gánh hát. Đến lúc tôi bảo anh đọc thử một đoạn trong vở thì đề nghị của tôi được chấp thuận ngay. Thế là cả ngày hôm sau mọi người lại bắt đầu tập dượt lại vở tuồng cho ăn khớp với nhau.

Điều mà không ai ngờ tới là Liêm thuộc vở một cách nhanh chóng lạ lùng. Chỉ có một đêm mà anh đã thuộc gần hết đối thoại trong vở. Bà chủ gánh bấy giờ mới thấy yên tâm và chỉ còn tiếc là giọng ca của Liêm bị yếu quá, không thể nào làm cho khán giả quên Lộc được. Buổi tập hôm đó, tôi thấy Liêm sung sướng ra mặt. Chưa bao giờ tôi thấy nét mặt của anh tươi sáng như thế. Chỉ có một điều đáng buồn là cô đào chính khi thấy mình bị đóng với Liêm, một kép phụ tầm thường, thì liền biểu lộ sự bất mãn ra bằng cách thờ ơ trong việc tập dượt. Chúng tôi phải dùng đủ mọi cách để khuyến khích nàng song tình thế chẳng thay đổi được một chút nào. Trong khi tập, nàng không chịu đứng cạnh Liêm lấy cớ bị mệt, ngồi trên chiếc bàn nhỏ và nói:

– Tôi quen quá rồi, khỏi cần dượt thêm cho tốn công. Chỉ ngại anh Liêm chưa đóng vai chính bây giờ mới cần phải tập thôi.

Rồi tới những đoạn hai người tình tự với nhau, trong khi Liêm để hết tinh thần vào sự diễn tả từ điệu bộ cho đến lời nói thì nàng… vừa… ăn nho vừa diễn một cách gượng gạo. Tôi thấy mặt Liêm tái đi. Mồ hôi lấm tấm trên trán vì tức giận. Ngay đến tôi cũng thấy khó chịu và chướng mắt vì cử chỉ đó. Tôi biết là Phượng – cô đào chính – đã mang sẵn một thành kiến không tốt đẹp đối những anh kép phụ như Liêm. Có lẽ nàng nghĩ rằng đóng với một diễn viên không có tên tuổi như Liêm thì cái danh tiếng của nàng sẽ bị mất hết.

Tuy nhiên, buổi tối hôm đó, vở tuồng cũng được khai diễn. Người coi đông như nêm cối. Mới tám giờ mà vé đã bán hết phải bán lố tới vé ngày hôm sau. Trước giờ mở màn, Liêm gọi tôi ra một góc sân khấu, nói khẽ:

– Bao nhiêu năm trời tôi chờ đợi phút này.

– Liêm có cảm động không?

– Có, nhưng ít thôi. Anh nên đứng nhắc vở giúp tôi. Tôi sợ một vài đoạn chưa được thuộc lắm.

Tiếng chuông reo báo hiệu giờ khai diễn. Nhạc bắt đầu nổi. Tôi thấy Liêm đứng sau một tấm cánh gà, nhẩm lại vở. Trông anh lúc bấy giờ thật là đẹp. Chưa bao giờ tôi thấy một diễn viên nào tôn trọng vở tuồng bằng anh. Còn Phượng thì hình như không để ý gì tới buổi diễn cả. Nét mặt nàng buồn như đến nhà có tang. Nàng đủng đỉnh thay áo, vẽ mặt và hầu như không hề chú ý – dù chỉ một giây ngắn ngủi – tới Liêm. Tới lúc vở tuồng bắt đầu, Phượng bước ra sân khấu như một cái máy. Nàng đã đóng sai lạc hết cả ý nghĩa vai trò của nàng nhưng khán giả vẫn cứ hoan nghênh như thường. Tôi đặt hết tin tưởng vào Liêm và hy vọng nhờ vở tuồng này, anh sẽ bước lên một địa vị khá hơn trong làng sân khấu.

Giờ phút nghiêm trọng đã tới. Liêm xuất hiện trên sân khấu giữa tiếng ổn ào của khán giả từ dưới vọng lên:

– Kép mới, kép mới!

Tôi nghe tim mình như ngừng đập và không ngớt cầu mong cho Liêm trấn áp được những tiếng ồn ào kia. Đúng như ý tôi muốn, Liêm tỏ ra bình tĩnh. Đứng trong hậu trường nhìn ra, tôi không khỏi khen thầm cho tài diễn xuất già dặn của anh.

Hết màn thứ nhất. Tôi thở ra một hơi dài như vừa trút được gánh nặng. Liêm chạy đến nắm tay tôi:

– Tất cả sự thành công của tôi đêm nay là nhờ anh.

Tôi khuyến khích Liêm mấy câu rồi chạy lại chỗ Phượng gợi chuyện:

– Chị thấy Liêm đóng sao? Khá đấy chứ?

Giọng Phượng lạnh lùng đến tàn nhẫn:

– Khá? Tôi mong khán giả cũng nghĩ như anh.

Biết nàng không bao giờ có thể đồng ý với mình được, tôi bỏ đi chỗ khác. Ít nhất, trong tôi lúc đó cũng chớm nở một niềm kiêu hãnh vì đã khám phá ra một tài năng mới của sân khấu. Và tôi yên tâm chờ đợi màn thứ hai. Lần này cũng như màn trước, theo sự nhận xét của tôi, Liêm vẫn đóng trọn vai trò của mình. Tôi nhìn thấy tương lai của anh bắt đầu mở rộng từ phút này. Và, tôi nghĩ đến những vở tuồng sắp viết để cho Liêm có thể trổ được hết tài nghệ diễn xuất. Từ trong sân khấu, tôi ném cho Liêm một cái nhìn trìu mến. Liêm cũng trả lời tôi bằng một nụ cười tin tưởng.

Nhưng, bỗng nhiên từ dưới sân khấu, tiếng rì rầm mỗi lúc một lớn và chuyển thành những lời phê bình ầm ỹ mà đến nỗi đứng trong hậu trường, tôi cũng nghe thấy rõ hết:

– Diễn gì mà chỉ toàn thấy nói từ đầu tới cuối thế này! Sao không thấy hát gì cả.

– Văn Lộc đâu? Văn Lộc? Kép chánh đâu?

Những tiếng Văn Lộc, kép chánh được truyền từ miệng người nọ sang người kia, phút chốc vang lên như một lời đòi hỏi cương quyết. Tôi thấy Liêm bắt đầu bối rối không còn tự nhiên như trước nữa. Anh đã cố gắng để trấn áp những tiếng ồn ào kia, nhưng lần này thì hoàn toàn thất bại.

Một vài tiếng huýt sáo nổi lên.

Rồi đến tiếng ghế lọc xọc báo hiệu một vài khán giả đứng dậy bỏ về. Bà chủ gánh mặt cắt không còn hột máu chạy lại cạnh tôi:

– Làm thế nào bây giờ hả ông? Họ mà đòi vé bây giờ thì thật chết hết!

Tôi cố tìm một vài câu nói để cho bà vững dạ nhưng chính tôi lúc bấy giờ, tôi cũng đã bắt đầu lo sợ. Cũng may là màn hai đã hết. Liêm bước xuống. Liêm bước vào, ngã ngồi ngay xuống một chiếc ghế gần đó, không nói không rằng. Còn Phượng thì nét mặt sa sầm, nặng chĩu, nói một câu còn đau đớn hơn cả những tiếng ồn ào của khán giả:

– Thật các người đã giết tôi. Tôi đã nói ngay từ đầu mà không ai chịu nghe tôi cả, đi bắt tôi đóng chung với một anh kép không có tên tuổi như thế thì khán giả hoan nghênh làm sao được.

Liêm bỗng chồm dậy nhìn Phượng định nói một câu gì đó, song không hiểu nghĩ sao, anh lại ngồi xuống ghế rũ ra như tàu lá héo.

Chúng tôi không còn biết làm thế nào hơn là ra xin lỗi khán giả và hứa sẽ diễn lại vở tuồng này khi nào kép Văn Lộc khỏi bệnh.

Màn thứ ba mở lên. Bên dưới, khán giả chỉ còn một nửa. Và cứ thế khán giả lần lượt bỏ về gần hết khi biết tin là kép Văn Lộc bị khản tiếng. Khi vở tuồng chấm dứt, một không khí nặng nề bao phủ hậu trường. Tôi biết là nếu có mặt ở đó thì chắc chắn sẽ phải nghe một câu nói không đẹp đẽ gì của bà chủ gánh hát, bèn bỏ ra ngoài và có ý định rủ Liêm đi chơi đêm đó để an ủi anh. Nhưng, cả đêm hôm đó, tôi không thấy mặt Liêm ở đâu.

Ngày hôm sau, chương trình bắt buộc phải đổi lại. Chúng tôi phải diễn một vở tuồng Tàu để chờ cho Văn Lộc khỏe lại mới có thể diễn tiếp được vở mới. Và, như vậy có nghĩa là Liêm lại trở về vai trò cũ của mình trong đoàn hát, anh không hề có một ý kiến gì về chuyện này. Nét mặt anh già hẳn đi sau đêm diễn xuất thất bại. Tôi ít gặp anh và có cảm tưởng rằng anh muốn trốn tránh tất cả mọi người, ngay cả tôi nữa.

Một tuần sau, Văn Lộc khỏi bệnh, chúng tôi lại bắt đầu chương trình quảng cáo cho vở tuồng được diễn tiếp. Đêm đầu tiên của buổi trình diễn lại này, khán giả vẫn đông nghẹt rạp. Và khi Văn Lộc bước ra sân khấu từng hồi vỗ tay nổi lên. Tôi nhìn sang phía Liêm. Lúc ấy anh đang ngồi phụ với người kéo màn. Mặt anh gục lên hai bàn tay. Toàn thân anh rúm ró lại như chiếu bị rách, mỗi lần từ dưới sân khấu vọng lên những tràng vỗ tay khen thưởng Văn Lộc.

Hết màn hai, tôi không thấy Liêm đâu nữa. Vì còn vướng nhắc tuồng nên tôi không thể đi tìm Liêm ngay lúc đó được. Tôi biết mỗi một tiếng vỗ tay khen thưởng Văn Lộc lúc đó là một nhát dao chém vào người Liêm. Tôi thấy anh bỏ đi như vậy là hợp lý. Vì nếu còn ngồi lại, Liêm sẽ còn khổ tâm hơn nữa khi thấy từng xấp bạc từ dưới ném lên sân khấu để thưởng cho tài diễn xuất của Văn Lộc và nghe thấy từng tiếng suýt soa, rên rỉ của khán giả vẳng lên khi Văn Lộc vào sáu câu vọng cổ quá mùi.

Thấy vở tuồng ăn khách, bà chủ quyết định cho diễn mười đêm liền. Và quả nhiên như dự tính của bà, chín đêm sau đêm nào cũng chật rạp!

Một tháng sau khi xảy ra câu chuyện trên thì Liêm đã rời khỏi đoàn hát. Anh bỏ đi một cách hết sức kín đáo đến nỗi hai ngày sau người ta mới khám phá ra sự vắng mặt của anh.

Người kép phụ đó như bao nhiêu người kép phụ khác đều chịu chung một số phận hẩm hiu: có mặt hay không, ở sân khấu hay ở trong hậu trường, chẳng ai cần để ý tới. Thiếu Liêm, đoàn hát vẫn không có một chuyện gì thay đổi. Một anh công nhân đề-co được chọn vào thay thế cho Liêm.

Người ta làm việc bình thản như khi ta thay bức ảnh cũ trên tường. Tất cả mọi người không còn một ai nhớ đến Liêm nữa. Chỉ có tôi. Tôi không sao quên được Liêm. Hình ảnh của anh đè nặng trong tôi. Cho mãi tới bây giờ, tôi đã rời xa đoàn hát cũ, không còn làm cái nghề soạn tuồng cải lương nữa, và đã mười năm rồi, mỗi lần đi coi hát nhìn những vai trò không quá mười phút trong một vở tuồng, tôi lại nhớ tới Liêm, nhớ đến những con tầu suốt đời làm cái việc đẩy những con tầu khác vượt khỏi những đoạn đèo dốc…
 

THANH NAM