Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2020

ĐÊM GIÁNG SINH XƯA Ở ĐÀ LẠT - Trần văn Nghĩa

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
cùng em đi lễ đêm này
đêm nhân gian ấm nhờ tay đôi mình
phố dài khoe áo em xinh
chân nhau khắng khít như hình bóng nhau

chân giầy thấp, chân guốc cao
đường qua mấy dốc đèo cao cũng gần
đi cho thân sát vào thân
kẻo mai xa lạnh lại cần nhau hơn

đời anh có lắm vui buồn
còn gì đâu, chút tình còn trong em
thế gian lắm kẻ thấp hèn
anh, con vụ mãi lăn, nên mệt nhoài

bao phen thất chí, thở dài
công danh như chiếc bóng ngoài, nhá nhem
bao phen đối mặt trước đèn
sờ râu tóc, nhớ thời niên thiếu mình

tủi lòng bao chuyện lênh đênh
thèm tay ai dỗ chút tình mọn, kia
thèm đời ai đến sớt chia
những buồn vui, chuyện bên lề oan khiên

yêu em, với chút tình quèn
biết khi nào đến lượt em phũ phàng?
đêm nay đêm của trần gian
cùng nhau xới ngọn lửa tàn chung vui

dẫu đời sống quá ngậm ngùi
cũng xin gắng gượng mà cười, đắng cay
cùng em đi suốt đêm này
đi cho quên, những đọa đày quanh ta

                                        TRẦN VĂN NGHĨA

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 150, ra ngày 18-12-1974)

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2020

TÌNH THƯ GIÁNG SINH - Ngọc Thùy Khanh

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 (Tặng VÂN NGA)
 
Có biết anh về ngày cuối đông
sao em chia nước chảy hai dòng
bỗng dưng nắng cũng vàng yêu dấu
hiu hắt niềm thương đến Đạo Long

Thầm giữ ngàn năm tình của ta
thầm yêu ngày tháng theo âm ba
chiều nao tóc rũ bên đồi cát
từ ấy bây giờ thật thiết tha

Nên ở trời xa nhớ thật gần
yêu thương một nỗi nên phân vân
lời em còn vọng trong hồn trí
và biết sao quên phút ngại ngần

Trời khiến anh về vui với em
nên hoa theo gió xuống bên thềm
nên mây đem nhọc vào lời nói
anh ngỡ bây giờ ôi rất quen

                        NGỌC THÙY KHANH

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 31, tuần lễ từ 23-12 đến 30-12-1971)

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

MÁNG CỎ CỦA CU TÝ - Duyên Anh

 

Cu Tý học trường Lasan Taberd từ lớp hai. Và ngay từ lớp hai, cu Tý đã được các sư huynh dạy giáo lý. Tâm hồn tuổi thơ là tâm hồn thánh. Tâm hồn ấy học những lời thánh thiện thì nhớ mãi và chỉ muốn làm những điều Chúa khuyên răn. Bố cu Tý không theo tôn giáo nào. Ông tự cho mình sung sướng và thích nói: "Hồn lưu lạc thờ chưa riêng một Chúa". Nhưng ông đã không thích cu Tý để hồn nó lưu lạc. Trẻ con cần thiết có niềm tin. Chúa bảo mọi người là anh em, mọi người phải thương yêu nhau, mọi người làm việc lành, tránh điều dữ. Cu Tý tuân lời Chúa và rất buồn bã nếu bố cu Tý cứ đi đánh bài. Cu Tý nghĩ rằng bố thua thì mẹ khổ, bố thắng thì mẹ những đứa trẻ khác khổ. Gây khổ cho người ta là phạm tội. Hễ ai phạm tội, chết sẽ bị xuống địa ngục. Cu Tý tưởng tượng ra một địa ngục toàn lũ quỷ độc ác sẽ đánh đập bố. Đôi bận bố vui vẻ, cu Tý hỏi bố những câu hát liên hệ tới Chúa, bố trả lời tử tế, cu Tý quả quyết bố sẽ lên thiên đường.

- Bố ơi, tại sao Chúa thiên tòa lại giáng sinh thấp hèn?

- Vì Chúa sinh ra đời ở máng lừa. Chúa không được đặt trên một chiếc nôi êm ái. Chúa không được bú sữa Guigoz. Bấy giờ nhằm mùa đông, trời đầy tuyết. Con biết tuyết chưa? Giống lớp bông mỏng trong ngăn đá tủ lạnh và lạnh như đá.

- Ai đã sưởi ấm Chúa?

- Những vì sao trên trời. Đó là mắt của Thượng Đế.

- Ai đã nuôi Chúa?

- Đức Mẹ.

- Nuôi bằng gì?

- Tình thương. Tất cả những bà mẹ đều nuôi con bằng tình thương. Ai được nuôi bằng tình thương, lớn lên sẽ biết thương yêu ông bà, cha mẹ, họ hàng, bạn bè, người tàn tật, người gặp hoạn nạn, người giúp việc và cả trâu bò, lợn gà, chim muông... Và biết tha thứ mọi người, tha thứ cả kẻ định giết mình.

- Rồi Chúa có đi học không?

- Bố không thấy nói trong kinh Cựu Ước.

- Kinh Cựu Ước là gì ?

- Là sách viết truyện cuộc đời Chúa. Để bố nói tiếp: Chúa là con nhà nghèo. Người ta thường đối xử không tốt với những người nghèo. Chắc thuở bằng tuổi con, Chúa cũng đi học và bị bạc đãi. Nên Chúa mới phó thác cho các sư huynh, các nữ tu lo việc giáo dục cả trẻ con có đạo lẫn ngoại đạo và làm cho trẻ con bình đẳng bằng cách mặc đồng phục. Ở sân trường, Chúa muốn thế, trẻ con nhìn bạn bè mình giống mình thì chúng không tủi thân, không buồn bã. Con nên nhớ rằng, Chúa đã có thời thơ ấu nghèo nàn, khổ sở.

- Chúa có chơi đùa không?

- Có.

- Chúa có đánh lộn không?

- Chắc chắn không. Chúa chỉ bị đánh chứ không đánh lại. Nên Chúa dạy: Kẻ nào tát ta má bên trái, ta chìa má bên phải cho nó tát thêm.

- Con là con tát lại liền.

- Vì vậy mới có một Chúa. Ngay cả một số linh mục bị người đời bình phẩm còn hằn học phẩm bình lại người đời, nữa là con.

- Bị bắt nạt, hẳn Chúa buồn lắm, bố nhỉ?

- Tuổi thơ của Chúa buồn như tuổi thơ Việt Nam. Chúa không muốn tuổi thơ buồn bã. Chúa muốn tuổi thơ hồn nhiên, sung sướng. Ngày sinh của Chúa đã là ngày vui của trẻ con. Và người vâng lệnh Chúa đem niềm vui đến cho trẻ con trong ngày Giáng Sinh là ông già Nô en.

- Ông già Nô en bao nhiêu tuổi?

- Một tuổi.

- Bố kỳ quá, ông già mà một tuổi !

- Đó là tuổi vui. 

- Bố ơi !

- Ơi...

- Có phải Chúa ở khắp mọi nơi, Chúa thương hết mọi ngườị

- Ừ, Chúa ở khắp mọi nơi nhưng Chúa chỉ thương người thành thật, nghèo khổ. Chúa ghét bọn giầu sang.

- Sao bố biết ?

- Cu Tý thấy cái lỗ kim khâu áo rồi chứ ?

- Dạ.

- Cu Tý thấy con lạc đà chưa ?

- Ở ti vi, bố ạ ! Nó to gồ ghề.

- À, Chúa nói, con lạc đà có thể chui qua cái lỗ kim (vì nó hiền lành thành thật, chịu khó làm việc) nhưng bọn nhà giầu thì khó lên thiên đường (vì ham ăn diện và lo cách bóc lột nhà nghèo).

- Bố tin Chúa ở khắp mọi nơi không ?

- Con tin không ?

- Tin.

- Vậy bố tin con.

- Chúa đang ở trên đầu con, Chúa đã nghe hết chuyện bố kể về Chúa cho con nghe, bố hén ?

- Ừ

- Chúa sẽ thương con.

- Cu Tý sẽ lên thiên đường.

Câu chuyện về Chúa của bố con cu Tý khác hẳn những câu chuyện về Chúa của các linh mục. Và không giống kinh sách. Điều ấy, cu Tý chẳng cần hiểu. Cu Tý chỉ biết Chúa là chúa tể của muôn loài, muôn vật. Chúa đủ quyền uy, phép Tích. Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa thương người nghèo và không ghét người giầu. Chúa thương nhất trẻ con. Thuở thơ ấu, Chúa nghèo hèn, cô đơn. Chúa ra đời ở máng lừa, khóc chào đời trên cỏ khô. Chúa thương người nghèo nên cu Tý thương người nghèo. Cu Tý theo mẹ đi lễ ở nhà thờ thường bỏ vào hộp tiền "cứu giúp người nghèo" mười đồng. Mẹ cu Tý ngoại đạo. Đến nhà thờ nào cũng dâng hoa cung kính Đức Mẹ và xin đủ ân huệ. Cu Tý thì không xin gì. Chỉ mong được lên thiên đường. Đó là những năm tháng cu Tý học lớp hai, lớp ba, lớp tư. Năm nay, cu Tý học lớp năm. Vẫn bé nhỏ, loắt choắt, khờ khạo và có vẻ... nghệ sĩ. Vì có vẻ nghệ sĩ, thành thử, tâm hồn thường đi đá cầu, đá dế, đá cá, quên lời mẹ dặn, bị đánh đòn hoài. Cu Tý bị đánh đòn hay kêu cầu cứu bố thảm thiết lắm. Nhắc lại, năm nay, cu Tý học lớp năm, đứng hạng bình liên tiếp bốn tháng. Trường của cu Tý tổ chức cuộc thi làm máng cỏ. Sư huynh giám học bảo máng cỏ nào đẹp nhất sẽ được phần thưởng và máng cỏ được bầy trong tủ kính ở văn phòng nhà trường. Cu Tý dự cuộc thi liền. Dự thi với niềm tin trúng giải một cách ngây thơ và với hy vọng nhìn máng cỏ của mình bầy trong tủ kính và các sư huynh khen giỏi và Chúa mỉm cười trìu mến.

Mê Chúa vô cùng nhưng, buổi tối, khi vào giường ngủ, cu Tý quên cầu nguyện. Có lẽ, cu Tý mệt với bài vở. Trường Lasan Taberd bắt trẻ con học thật nhiều. Tiểu học, học buổi chiều, đến trường lúc hai giờ trưa. Tối về thường làm thêm, ít nhất, hai bài toán. Nhiều hôm, cu Tý loay hoay với bài làm ở nhà tới mười một giờ đêm. Nên vào giường, cu Tý lăn ra ngủ. Hai đứa em của cu Tý chăm chỉ cầu nguyện hơn cả trẻ con có đạo. Con Ki và cu Đốm học trường nữ tu Công giáo. Con Ki cầu nguyện Chúa giúp mẹ ngủ được, hết bệnh, hết càu nhàu. Cu Đốm nghiêng tình thương về bố, cầu nguyện Chúa giúp bố... đánh bài "ăn" và muỗi đừng đốt chân cu Đốm vì cu Đốm sợ chân có sẹo. Bây giờ mới là mười hai tháng chạp. Miền Nam không có mùa đông. Nhưng tuyết đang rơi trong tâm hồn cu Tý. Hễ hai em cầu nguyện trước giờ ngủ, cu Tý vội bỏ bài vở, vô cầu nguyện với em. Và nó cầu Chúa giúp nó làm cái máng cỏ đẹp nhất. Cu Tý đã nhớ cầu nguyện. Vì cái máng cỏ.

Mỗi ngày, bố cho cu Tý hai chục uống nước. Cu Tý uống chai xá xị mất mười đồng. Từ hôm "ghi tên dự thi" làm máng cỏ, cu Tý nhịn uống. Cu Tý dành tiền mua "vật liệu" kiến trúc cái máng cỏ đầu tiên trong đời cu Tý. Trước hết là những tấm hình in rô nê ô về sự tích Giáng Sinh bán ở nhà sách trong trường. Cu Tý "thanh toán" bài vở rất nhanh để loay hoay tô mầu lên hình Chúa và các thánh. Cu Tý hỏi bố cách tô mầu. Bố dốt về mầu sắc. Cu Tý hỏi mẹ. Cu Tý có cái tật đáng ghét ghê đi. Là làm hỏng cái gì thì ngồi khóc, ngồi khóc. Cu Tý cắt hình bị lẹm, ngồi khóc. Y như cu Tý làm bài, học bài. Bố cu Tý hỏi han, rõ chuyện phải an ủi :

- Con làm đi làm lại nhiều lần mới đẹp. Giải thưởng thường về tay những người kiên nhẫn. Nước chảy đá mòn, cu Tý ạ !

Cu Tý lau nước mắt. Hôm sau, mua về một xấp hình. Cu Tý ngỏ ý nhờ bố mẹ tô mầu giúp. Bố nói:

- Bố tô cũng được và sẽ đẹp nhưng con sẽ bớt vinh dự nếu máng cỏ của con trúng giải nhất. Hãy tự con làm một máng cỏ đẹp nhất như tự bố, bố đã làm lấy cuộc đời bố .

- Chúa có giúp con không ?

- Con cứ giúp con trước đã, Chúa sẽ giúp sau.

Cu Tý học lớp năm, sắp lên trung học rồi, nên hiểu lời bố. Cu Tý không nhờ vả bố mẹ nữa. Cu Tý thức khuya tô mầu hình Chúa và các vị vua từ phương Đông. Hỏng. Xé bỏ. Khóc. Nín. Tô hình mới. Cuối cùng cu Tý đã có những tấm hình có chân dán tô mầu thật đẹp, cắt thật hay, cần thiết cho sự trang trí bên trong máng cỏ. Cu Tý hài lòng. Cu Tý cười nói huyên thuyên. Để đền ơn hai em không phá nghịch, cu Tý mua xí muội tặng cu Đốm và đậu phụng da cá tặng con Ki. Đã đến lúc cu Tý lo cái nền máng cỏ. Cu Tý nhờ bố bắc thang leo lên gác xép kiếm miếng gỗ mỏng. Cu Tý lục lọi tung cả gác xép. Bị mẹ cho ăn roi. Mông cu Tý nổi hình con lươn đỏ. Bố vắng nhà không "can thiệp" kịp. Cu Tý giấu chuyện ăn đòn. Chờ bố về, cu Tý tán bố:

- Bố ạ, nhà mình chẳng có miếng gỗ mỏng nào. Đằng sau cái khung ảnh của con là miếng các tông dầy cộm, con lén mẹ gỡ ra làm cái nền máng cỏ được không hả, bố :

- Rồi lấy gì thay thế ?

- Dự thi xong con đem về, gỡ ra, lắp vô như cũ.

- Con sẽ trúng giải nhất mà.

Cu Tý ngây người ra giây lát. Bố xoa đầu cu Tý :

- Thì gỡ đi. Bố nhận tội giùm con.

Cu Tý cười:

- Con chịu nổi năm roi, bố ạ !

Cu Tý tháo miếng các tông sau khung ảnh chụp cu Tý đứng ở bãi biển Vũng Tầu làm cái nền máng cỏ. Cu Tý cuốc bộ lên Tân Định mua giấy bạc làm hang đá, mua cỏ nhuộm nhân tạo làm cỏ máng lừa nơi hang Bê lem. Cu Tý mua cả cây "sa panh" nhỏ xíu lốm đốm tuyết trắng. Cu Tý "sáng tác" thêm cái cột trên nóc hang đá và cột thêm nhiều cành để máng sao và các thiên thần do cu Tý vẽ và tô mầu. Bố cu Tý ngạc nhiên:

- Hang đá và máng cỏ của con lạ thật.

Cu Tý nói :

- Con làm theo bài hát, bố ơi : "Nghe trên không trung, tiếng hát thiên thần vang lừng..."

Bố khen máng cỏ đẹp, mẹ không có ý kiến. Con Ki chê dở ẹt. Cu Đốm bảo máng cỏ sẽ chiếm giải bét ăn bánh tét. Cu Tý buồn lắm. Khi cu Tý bảo mẹ:

- Con sẽ chiếm giải nhất, mẹ ạ !

Mẹ xua tay:

- Con sẽ chả được cái giải gì đâu.

Cu Tý càng buồn hơn. Và càng buồn thì buổi tối cu Tý cầu Chúa càng lâu hơn. Cu Tý tin tưởng máng cỏ của cu Tý sẽ nhất. Bố đã nói lời Chúa dạy với cu Tý: "Kẻ nào có niềm tin bằng hạt cát sẽ di chuyển được trái núi từ chỗ này qua chỗ khác". Cu Tý có niềm tin to bằng cái máng cỏ của cu Tý.

Trước ngày đem máng cỏ nộp sư huynh giám học, cu Tý hỏi ý kiến bố :

- Bố nói thật đi, máng cỏ của con xấu lắm phải không bố ?

Bố gật đầu:

- Máng cỏ của con không đẹp.

- Con thôi dự thi nhé ?

- Con nên đem dự thi. Bố có thể nhờ thợ làm hay đi đặt cho con một cái máng cỏ thật đẹp, thật đắt tiền, thật lộng lẫy; bố cũng có thể làm giúp chon chiếm giải. Nhưng bố đã nói với con về cuộc đời ấu thơ của Chúa. Chúa đâu có ra đời ở chỗ giầu sang lộng lẫy. Mà Chúa ra đời ở chỗ thấp hèn, ở cái máng cỏ đơn sơ hơn cái máng cỏ của con. Cu Tý, nhà mình không theo đạo Công giáo nhưng mẹ con và các em đều thờ phụng Chúa. Và con đã làm cái máng cỏ đúng ý Chúa nhất. Con đã làm cái máng cỏ bằng tấm lòng của con, bằng cả sự... chịu đòn vọt. Con đã học giáo lý, đã biết Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa đã ở nhà ta, đang ở nhà ta. Chúa đã nghe bố con mình nói về Chúa, đã theo dõi con làm cái máng cỏ kỷ niệm sinh nhật Chúa, đã thấy con khóc khi tô mầu hình Chúa, đã thấy con cười khi cắt hình Chúa, đã thấy con bị đòn đau vì tâm hồn con để hết vào cái máng cỏ. Cuối cùng, Chúa thấy một điều làm Chúa sung sướng là, đứa trẻ ngoại đạo làm cái máng cỏ đơn sơ tặng Chúa, đồng thời, nó biết làm sáng danh Chúa. Và bố tin chắc cái máng cỏ của con sẽ chiếm giải nhất. Chúa phát giải cho con.

Cu Tý mở tròn mắt, há hốc miệng nghe bố nó. Cu Tý ngồi bất động. Tâm hồn cu Tý bay lên trời cùng với chiếc máng cỏ. Tâm hồn cu Tý gặp thiên thần. Và các thiên thân dẫn cu Tý mang quà sinh nhật dâng lên Chúa. Chúa xúc động. Chúa khóc...

13-12-72          

DUYÊN ANH     

(Trích tuyển tập truyện ngắn Đêm Thánh Vô Cùng)

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

ĐÔNG CA - Tôn Nữ Thu Dung

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
không còn nắng cho loài chim hò hẹn
em nói đi, đông buốt giá đã về
trong ánh mắt đêm vô cùng thăm thẳm
như tiếng gọi mời từ vực hôn mê
 
em đã thấy ngày bắt đầu hoang dại
khi rừng cây trút bỏ lớp áo vàng
vài con suối đầu non mưa quằn quại
mưa rộn ràng cho vạn vật tan hoang
 
và gió núi cũng bay về nhập cuộc
rủ sa sương từ tám hướng giăng mù
năm tháng ấy trở thành năm tháng cũ 
khi đông về lên tiếng gọi thiên thu

                                     TÔN NỮ THU DUNG

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 81, tuần lễ từ 15-12 đến 22-12-1972)

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

MƯA TRÊN HÀNG CÂY XANH - Đỗ thị Hồng Liên

 

Cơn mưa bất ngờ đổ xuống thành phố đã giữ chân Hạ lại nơi đây. Con đường nhỏ nằm khuất dưới những hàng cây lớn âm u. Hạ đứng nép dưới mái hiên nhỏ của một ngôi nhà bỏ không, trong vườn hoa lá đều úa tàn, tơi tả dưới cơn mưa. Thành phố trong phút chốc bỗng trở nên mơ hồ ảm đạm. Trời buồn quá. Hạ nhủ thầm, vén lại mái tóc rối bời và ngẩng nhìn sang bên kia. Nhà Vũ nằm chênh chếch bên đó, giàn ti-gôn đỏ thắm nước mưa. Sân trước ngập nước, có vẻ buồn đìu hiu. Thật tình, Hạ cảm thấy bối rối. Từ đó, Vũ có thể nhìn sang trông thấy Hạ và lúc này thì Hạ chẳng muốn gặp Vũ tí nào. Hai đứa giận nhau từ một tuần nay, thời gian đi chậm quá. Hạ vẫn luôn luôn muốn khóc mỗi lần nhớ đến Vũ.
Nước mưa đục ngầu dưới chân, mấy cọng rác trôi lều bều trong đó. Hạ sốt ruột ngó ra đường lớn, con đường thẳng tắp. Mưa vẫn đổ ào ào không ngớt, cây lá nghiêng ngả trong gió. Vái trời cho Vũ đừng mở cửa sổ trông ra vườn để tình cờ trông thấy Hạ. Hạ vừa đi bỏ thư về xong. Hai bên đường bưu điện chỉ toàn là cây xanh ngát. Cơn mưa đuổi theo Hạ vội vã, Hạ chỉ kịp quẹo vào con đường nhà Vũ không suy nghĩ. Những hạt mưa bất khuất đầu tiên tuy vậy cũng bám đầy vào tóc, vào áo Hạ. Hạ rùng mình liên tiếp, mắt vẫn trông chừng sang nhà Vũ. Nhớ đến buổi chiều tuần trước. Hạ đến chơi nhà Vũ, áo dài trắng và tóc thả dài. Vũ đang làm gì trong nhà không hiểu, sai nhỏ em ra tiếp Hạ. Cô bé với giọng nói ríu rít như chim gi làm Hạ quên buồn được trong chốc lát. Mãi thật lâu Vũ mới ra, cũng chả thèm cười với Hạ. Mắt Hạ đỏ hoe muốn khóc.

- Vũ bận gì đó?

- Vũ đang làm dở bài toán. Hạ chờ lâu không?

- Không. Nhưng đáng lẽ Hạ phải về từ khi nãy mới phải.

Hai đứa ngồi nhìn nhau bâng quơ, Vũ hôm nay xa lạ làm sao, bàn tay Hạ mân mê hoài cuốn sách nhỏ mang theo. Vũ vẫn gọi đó là thói quen đáng yêu mà Hạ thì chẳng bao giờ ý thức được việc làm đó. Buổi chiều về làm nhạt màu hồng trên má, sự thinh lặng rơi xuống đột ngột. Hạ đứng dậy ra về lòng nặng trĩu ưu tư. Đi ngang qua cây thanh lan nở hoa tím nhạt Vũ ngắt cho Hạ một cánh. Mắt Vũ cũng buồn như mắt Hạ nhưng hai đứa lỡ giận nhau mất rồi. Hạ về và suốt một tuần không ghé thăm Vũ.

Càng gần đến ngày thi của Vũ trời càng mưa nhiều. Vũ chắc bận học chẳng có thì giờ nào đến thăm Hạ đâu. Hạ thấy lòng mình rưng buồn. Vũ có nhiều bạn quá. Hạ ghen với người bạn thân nhất của Vũ. Hạ vẫn biết có nhiều buổi rảnh rỗi Vũ thường đến nhà Hòa hơn là đến thăm Hạ. Đôi khi Hạ đâm ra ghét Vũ. Vũ xem tình yêu nhẹ quá Vũ ạ. Có bao giờ Vũ biết vì thế mà nó vuột khỏi tay Vũ hay không?

Nhưng rồi giận thì giận Hạ vẫn không thể nào bắt lòng đừng nhớ Vũ. Hạ nhớ mặt Vũ cười nồng nàn và màu áo quen thuộc của Vũ mỗi khi đến thăm. Ở nhà buồn Hạ vặn nhạc tối ngày. Vũ thích bài Hoài Cảm ghê lắm. Hạ nghe và chỉ muốn khóc. Để hôm nào hết giận nhau rồi Hạ sẽ chép cho Vũ đọc bài thơ này: "... Khi chim nhớ rừng, khi rừng nhớ gió. Anh nhớ em như miệng nhớ môi hôn. Và hàm răng đay nghiến mãi nỗi buồn xa cách..." hẳn là Vũ sẽ thích lắm, mà biết bao giờ hai đứa mới hết giận nhau? Tuần sau là Vũ thi xong rồi. Vũ rỗi và Hạ cũng vậy. Ngày tháng chẳng mấy chốc qua đi vậy mà tụi mình cứ giận nhau mãi. Hạ thở dài nuối tiếc. Vậy là hết những buổi ngóng chờ nhau với lòng náo nức vui rồi đó. Hạ ở nhà và không mong gì Vũ tới, cố nhủ lòng mình quên Vũ. Hạ không còn những nụ cười tươi trên môi, chân sáo tung tăng như loài chim vô tư. Mắt Hạ mơ màng và lòng thì buồn hiu. Hôm qua chị Hải nhắc sao không thấy Vũ đến chơi, Hạ đã lầm lì trả lời:

- Em làm sao biết được.

Chị Hải ranh mãnh:

- Cô cậu giận nhau rồi phải không? Hèn chi mà...

Chị Hải cười rúc rích làm Hạ thấy nhột nhạt.

- Rồi có làm sao đâu mà chị nói?

- Đâu có gì. Chỉ có cái mặt của cô nương bí xị ra như bánh tráng nhúng nước chứ sao.

Hạ nổi khùng hét lớn:

- Kệ em. Em ghét mặt hắn lắm.

Rồi Hạ bỏ vào phòng riêng của mình vùi mặt xuống gối, nước mắt ấm trên môi. Hạ giận Vũ thêm một mách nữa. Người đâu mà kỳ cục vô cùng. Buổi tối chị Hải lại đem chuyện đó ra nhắc.

- Chắc Vũ nó học chăm lắm phải không Hạ?

Hạ nhớ đến buổi chiều hôm nào đến nhà Vũ, bất chợt bĩu môi giận dỗi:

- Quá chăm nữa là khác.

- Cu cậu sợ rớt quê với Hạ đó.

Hạ buông thõng:

- Rớt thì đi lính, đã chết ai đâu nào.

Chị Hải kêu lên:

- Cô này hôm nay lạ quá, giận nhau thật đấy à? Sao tụi mi trẻ con quá vậy hả?

- Em đâu có giận ai.

- Sao mấy hôm nay mi buồn quá vậy?

- Em đâu có buồn.

Hạ cười gượng gạo, Hạ đang cười thật đấy mà chị Hải. Cả Vũ nữa. Vũ thích thấy Hạ cười ghê lắm mà.

Mưa đã ngớt nhiều, Hạ giơ tay hứng những hạt mưa nhỏ bé tần ngần nhìn mãi nhà Vũ, nhà sao vắng quá đi. Hạ thấy cái cửa lớn khéo kín, sảo cửa nhỏ phòng học Vũ chỉ khép hờ. Vũ đang học bài nơi đó chắc. Hạ nhớ mắt Vũ buồn quá chiều hôm ấy. Biệt thự gần bên nhà Vũ rộng quá, những ngọn cây như muốn vươn lên mãi chở che cho nóc nhà trắng mái cong cong. Hạ tưởng tượng đó là tòa lâu đài riêng của nàng công chúa nhỏ trong truyện. Không hiểu là mỗi chiều có cô bé nào mở cửa sổ phòng mình để nhìn qua bên nhà Vũ không? Hạ bỗng dưng cảm thấy buồn cười. Vũ phải nhớ cười cho mỗi mình Hạ nghe thôi đấy nhé, môi cười ngát cả hương. Hạ nói đùa một mình và bất giác nhẹ cắn mấy đầu móng tay bé tí.

Đi chứ? Hạ nhủ lòng mình như thế. Mưa chỉ còn nhẹ chỉ đủ làm vương vai áo. Vũ có thể mở cửa sổ và trông thấy Hạ đứng đây. Ướt át run rẩy? Hạ cảm thấy quê quê khi nghĩ đến đó nhưng đôi bàn chân vẫn ngập ngừng di di trên thềm gạch loáng nước. Hay là ghé thăm Vũ một chút? Hạ lắc đầu như đứng trước một cái gì tuyệt vọng. Chẳng bao giờ Hạ đến trước đâu Vũ ạ.

Hạ lại quẹo ra con đường chính đi nương dưới hàng cây muồng xanh ngát. Mưa cũng có mùi thơm ngát Vũ ạ. Từ giã Vũ nhé. Từ giã con đường nhà Vũ ngủ ngoan dưới cơn mưa.
 
 
ĐỖ THỊ HỒNG LIÊN    

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 80, tuần lễ từ 7-12 đến 14-12-1972)


Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

HAI QUÍ ÔNG HÀO HIỆP TRONG NGÀY LỄ TẠ ƠN - O' Henry

 

 Đó là ngày của chúng ta, ngày mà tất cả những người Mỹ đều trở về ngôi nhà thân thuộc của mình để cùng nhau dự một bữa tối long trọng. Ngày Chúa ban phước lành hàng năm, Tổng thống cho phép mọi người được nghỉ việc.
 
Đôi khi, Tổng thống có nói về những người đã đặt ra ngày Lễ Tạ ơn đầu tiên. Họ là một nhóm người Thanh giáo đổ bộ lên vùng bờ biển Đại Tây Dương thuộc nước Mỹ. Còn chúng ta, thực tình cũng chẳng nhớ rõ về lai lịch của họ. Có điều bởi những người tiền bối đã dùng một loại lông vũ lớn có tên là gà tây trong bữa ăn ngày Lễ Tạ ơn, nên chúng ta cũng buộc phải mua một chú gà tây để ăn vào ngày đó – nếu như chúng ta còn đủ tiền để mua. Đó là một truyền thống.
 
Nói đúng ra, ngày Lễ Tạ ơn là Ngày của những người Mỹ nghèo. Và giờ đây là một câu chuyện minh chứng để bạn thấy rằng, chúng ta có những truyền thống lâu đời ngay trong một đất nước còn non trẻ. Những truyền thống ấy trở nên xưa cũ rất nhanh, còn nhanh hơn cả những truyền thống trong các quốc gia có từ lâu đời. Bởi lẽ đất nước chúng ta rất trẻ và đầy sức sống đã mau lẹ tiếp nhận đủ mọi thứ.
 
Stuffy Pete đã ngồi định vị trong công viên thành phố New York. Nếu từ Quảng trường Liên bang bạn đi vào từ hướng đông thì đó là ghế thứ 3 về bên phải. Đã chín năm qua, cứ vào buổi chiều ngày Lễ Tạ ơn bao giờ anh ta cũng ngồi ở đó. Và lần nào cũng vậy, mọi điều đến với anh ta bao giờ cũng tuyệt vời. Những điều dễ chịu đã làm cho trái tim anh ta tràn ngập niềm vui; đồng thời cũng đổ đầy sự sung sướng vào một bộ phận cơ thể nằm ở phía dưới trái tim anh ta.

Vào ngày Lễ Tạ ơn những năm trước, anh ta rất đói. (Thật lạ lùng! Những người giàu đều có mong muốn được giúp đỡ người nghèo. Nhưng đa phần trong số họ cứ nghĩ rằng, dường như người nghèo chỉ đói khát vào ngày Lễ Tạ ơn). Còn vào Lễ Tạ ơn năm nay thì Pete không đói. Anh ta vừa xơi một bữa tối sang trọng đến nỗi không có một ma lực nào có thể đẩy anh ta rời khỏi bàn ăn. Bộ mặt của anh ta đã xám ngoét bởi ăn quá no, nhưng ánh mắt thì vẫn lóe lên nỗi tiếc nuối chút thức ăn còn sót lại trên bàn. Anh ta thở ậm ạch, cơ thể bỗng nở ra quá lớn so với cỡ áo quần như muốn xé tung bộ đồ đang mặc. Mà đúng là chúng đã rách thật. Bạn có thể nhìn thấy da của anh ta qua khe rách áo sơ mi trước ngực. Cơn gió lạnh kèm theo mưa tuyết đối với anh ta xem chừng chỉ mang lại cảm giác mát mẻ? Bởi nhiệt lượng phát ra từ những đồ ăn làm cơ thể anh ta quá nóng bức.
 
Một bữa ăn quá nhiều thức ăn – với Stuffy – dường như gồm tất cả gà tây và những thứ thực phẩm có được trên trái đất này. Thật là một bữa tối không dám trông đợi.

Pete đã đi ngang một ngôi nhà rộng gần đầu một đường phố rất lớn có tên là Đại lộ thứ 5. Đó là một ngôi nhà của hai người đàn bà đã già nua thuộc một dòng họ lâu đời. Hai con người già cả ấy có một tình yêu sâu nặng với truyền thống. Vào buổi trưa ngày Lễ Tạ ơn, họ thường sai người hầu đứng đón ngoài cửa ra vào. Người hầu chờ kẻ lang thang đói khát đầu tiên đi qua để dẫn vào nhà, rồi cho người đó ăn một bữa thỏa thuê đến nỗi không thể nhồi nhét thêm một chút đồ ăn nào thêm nữa. Trên đường đi tới công viên, Pete cũng đã được mời vào nhà. Truyền thống đó vẫn được tiếp tục duy trì.

*
 
Pete ngồi ngay đuỗn trong công viên nhìn thẳng về phía trước đã chừng mươi phút. Anh ta gắng sức từ từ xoay cổ sang hướng khác một cách mệt mỏi. Đôi mắt dần trở nên man dại và hơi thở như tắc nghẹn. Bàn chân xỏ trong đôi giày rách toác tới cẳng chân quờ quạng trên mặt đất.
 
Cùng lúc đó có một người đàn ông già đang cắt đường vượt qua Đại lộ thứ 4 đi về phía Pete ngồi. Đã chín năm nay, vào ngày Lễ Tạ ơn, ông ta đều đến tìm Pete ở chỗ này. Đó là việc làm mà người đàn ông già cố gắng thực hiện theo truyền thống. Sau phút gặp gỡ ban đầu, bao giờ ông cũng dẫn Pete đến một tiệm ăn và sung sướng ngắm nhìn anh ta ăn một bữa thỏa thuê.
 
Những người Mỹ yêu truyền thống tự nguyện làm những việc như thế còn dễ dàng hơn người sống trong những quốc gia già đời giống như nước Anh. Họ làm vô tư mà chẳng hề nghĩ ngợi về những việc mình làm. Thế nhưng, trong một quốc gia còn trẻ, chúng ta buộc phải suy nghĩ về điều đó. Ấy là khi quyết định tạo lập một truyền thống cho mình, chúng ta phải lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian lâu dài. Người đàn ông yêu đất nước của mình. Ông tin rằng chính ông đã góp phần tạo dựng nên truyền thống Mỹ cao cả, và ông đã thực hiện điều đó thật tuyệt vời. Chín năm liền ông làm điều đó là một quãng thời gian đâu ngắn của một đời người!
 
Người đàn ông già tiến bước, đầu ngẩng lên một cách tự hào hướng tới cái truyền thống mà ông đã và đang xây dựng. Thực ra mỗi năm cho Stuffy ăn một lần cũng chẳng phải là một truyền thống gì quan trọng. Ở xứ này, nó chỉ mới bắt đầu xây dựng. Điều đó chỉ chứng tỏ rằng, một truyền thống ít nhất cũng có thể có ở nước Mỹ.
 
Ông già ấy 60 tuổi, người cao và gầy gò. Ông mặc bộ đồ đen và đeo kính lão. Năm nay tóc ông đã bạc và thưa hơn, bước đi cũng dường như không nhanh nhẹn như năm trước.
 
Khi người đàn ông tốt bụng đến gần Stuffy cũng là lúc anh chàng ngắc ngoải và nhịp thở trở nên ngắn hơn. Anh ta ước gì có thể vụt bay biến đi lúc này, nhưng thực tế anh ta không thể nhúc nhích nổi thân xác.
 
“Xin chào”. Người đàn ông già đã lên tiếng. “Tôi rất vui sướng khi thấy những buồn phiền của năm tháng đã không làm tổn thương đến anh. Anh vẫn sống khỏe mạnh bởi được Chúa ban phước, chúng ta sẽ cùng tỏ lời cảm ơn Người trong ngày Lễ Tạ ơn. Nếu anh đi cùng ta, con trai ta ạ, ta sẽ đãi con một bữa tối mà chắc chắn đấy là dịp để thể xác và tinh thần con cảm nhận đã được Chúa ban ơn”. Đã chín năm nay, ông đều nói những lời như vậy. Tự thân những lời nói ấy hầu như đã là truyền thống.
 
Những năm trước, lời nói của ông luôn là khúc nhạc êm ái trong tai Pete. Nhưng bữa nay anh ngước mắt nhìn trực diện vào mặt ông, và nhận thấy hai dòng nước mắt trào ra từ khóe mắt ông. Những bông tuyết đậu trên da mặt nóng bừng của ông nhanh chóng tan ra thành nước. Ông rùng mình vì lạnh, rồi xoay lưng về phía gió thổi. Và dường như muốn tránh ánh mắt của Stuffy.
 
Stuffy luôn phân vân: Tại sao người đàn ông già kia dường như buồn bã mỗi khi anh hỏi chuyện. Anh đâu có biết ông luôn ao ước có được một đứa con trai. Để khi ông từ giã thế gian này, nó sẽ đến bên ông để vĩnh biệt. Nó sẽ đứng thẳng trang nghiêm nói lời tưởng nhớ người cha yêu quý của mình. Đó mới đích thực là truyền thống.
 
Người đàn ông già không có gia đình. Ông sống trong một căn phòng của một trong những chiếc nhà cũ kỹ nằm gần công viên. Vào mùa đông, ông trồng một vài khóm hoa cạnh phòng ở. Mùa xuân, ông dạo bộ trên Đại lộ thứ 5. Mùa hè, ông sống trong lều trại trên những ngọn đồi ngoại ô New York. Ông hay kể về một loài sâu lạ lùng phá rau màu mà ông hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm ra chúng. Vào tiết cuối thu, ông mời Stuffy đi ăn một bữa tối. Những việc đó phần nào lấp đi nỗi cô đơn trống trải trong cuộc đời ông.
 
Pete ngước nhìn ông chốc lát và không cầm lòng nổi, anh ta cảm thấy hối hận, vì đã có ý nghĩ khước từ lời mời của ông già. Và đôi mắt người đàn ông già sáng lên tỏ vẻ hài lòng. Nét mặt ông già đi nhiều so với những năm trước, nhưng quần áo rất sạch và còn mới tinh. Rồi Pete cũng đã gắng sức phát ra được một âm thanh thều thào rất lạ. Tuy vậy, cũng như chín năm đã qua, ông đã quen nghe và ông hiểu. Ông biết rằng Stuff đã chấp nhận lời đề nghị của mình.
 
“Cảm ơn ông! Tôi đang rất đói”.
 
Thực ra, Stuffy đã no cứng bụng, nhưng anh ta hiểu rằng mình là một bộ phận của truyền thống. Sự thèm khát ăn uống vào ngày Lễ Tạ ơn không phải là anh ăn vì mình mà là vì người đàn ông tốt bụng kia. Nước Mỹ quả là tự do. Nhưng ở đó cũng có những điều nhạy cảm bắt buộc lương tâm phải làm.
 
Ông già dẫn Suffy tới một nhà hàng, tiến lại chiếc bàn quen thuộc mà cả hai đều biết rõ qua những lần họ đã từng đến.
 
“Ông già đã đến kia rồi – cái ông thường mua những đồ ăn để thết đãi anh chàng vô tích sự một bữa vào ngày Lễ Tạ ơn hàng năm ấy!”. Một người hầu bàn thông báo.
 
Người đàn ông già ngồi xuống cạnh bàn và quan sát. Những người hầu bàn đã mang ra vô số các đồ ăn. Và Suffy bắt đầu ăn.

Chưa bao giờ có một người lính chiến vĩ đại và nổi tiếng nào chiến đấu dũng mãnh đến như thế với kẻ thù. Gà tây và tất cả mọi thực phẩm biến khỏi mặt bàn nhanh chóng như chúng vừa xuất hiện. Suffy đã nhìn thấy vẻ hạnh phúc trên gương mặt ông già. Anh ta quyết định tiếp tục giữ vững tốc độ ăn.

Một giờ trôi qua và trận đánh đã kết thúc.
 
“Cảm ơn ông! Cảm ơn vì đã cho ăn bữa tối Lễ Tạ ơn”. Suffy lắp bắp. Rồi anh ta nặng nề đứng dậy loạng choạng bước chệch hướng cửa ra vào. Một người hầu bàn giúp xoay người anh ta cho đúng hướng.

Ông già cẩn thận đếm tiền trả, và bo cho người hầu bàn 15 xu. 

Cũng như những năm trước, họ nói lời tạm biệt và chia tay cạnh cửa ra vào. Ông già đi về phía nam còn Pete đi về hướng bắc.
 
Stuffy loanh quanh mãi ở góc phố đầu tiên. Sau đó đứng sững lại chừng một phút rồi đổ gục xuống. Người ta đã tìm thấy anh ta và đưa tới một bệnh viện. Họ đặt anh ta lên giường bắt tay vào việc chẩn đoán nhằm cố gắng phát hiện căn bệnh kỳ lạ nào đã quật anh ta gục ngã. 
 
Một giờ sau, ông già cũng được đưa tới cùng bệnh viện với Stuff. Họ đặt ông lên một giường bệnh khác và cố gắng tìm xem căn bệnh của ông là gì.
 
Sau chừng ít phút, một bác sĩ của nhóm hội chẩn gặp một bác sĩ khác vừa tới và họ trao đổi với nhau:
 
“Đằng kia có một ông già thật tốt bụng, tử tế”. Người bác sĩ nói. “Anh có biết ông ta mắc sai lầm gì không? Ông ấy đã suýt chết vì nhịn đói. Một người già rất đáng kính trọng, tôi nghĩ thế. Ông ấy kể với tôi rằng đã ba ngày nay ông ấy không hề ăn một tí gì”.
 

Truyện ngắn. O.Henry (Mỹ)     

Đinh Đức Cần (dịch)