Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2023

NGƯỜI ÁO VÀNG PHỐ NHỎ - Kim Tuấn

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Người áo vàng phố nhỏ
giữ dùm ta cuộc đời
dòng sông rồi nước cuốn
cuộc tình rồi xa khơi
người đi còn ngó lại
chiều mây giăng cuối trời

Người áo vàng phố nhỏ
khi về mang theo em
cánh hoa quỳ mới nở
trên vùng khô đất cằn
trên vùng cây nhớ gió
trên vùng ta ăn năn
trên nỗi buồn còn lại
sợi tóc che môi cười
ngậm dùm ta nước mắt

Người áo vàng phố nhỏ
ta về qua sông xưa
nghe tình ta chậm lại
con nước chia mấy dòng
đời ta chia mấy bãi
cát phơi hồn nắng trưa

Người áo vàng phố nhỏ
khi về em nhớ ai
nắng vàng trên khóm lá
hoa vàng trên tay quên
gõ bước trên hồn đá
một đời người lênh đênh

(Trích từ tạp chí Văn số tháng 3-1975)

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2023

VÁCH ĐÁ CHEO LEO - Nguyễn Mộng Giác

 


Cu Tý chờ không được nữa, lên tiếng giục:

"Mặt trời sắp lặn rồi nội. Mình về thôi".

Ông lão không trả lời đứa cháu nhỏ, cố nheo mắt nhìn vào lùm cây rậm bên bờ suối. Thằng bé không chịu thua:

"Nội không chịu về thì con về trước. Mai con không theo nội nữa đâu".

Ông lão gắt:

"Mày đi theo chỉ làm rối ông chứ được ích gì. Để yên cho ông tìm sợi mây cột bó củi đã. Nội mới tìm được có một sợi thôi.

Cu Tý chộp được cơ hội chứng tỏ mình cũng là người hữu ích, chạy đến lay tay ông nội:

"Để con chỉ cho. Chỗ lùm cây này không có sợi nào đâu. Chỗ phía trên gành có nhiều mây lắm".

Ông lão gật gù, lầm bầm điều gì trong mồm, vui vẻ theo chân đứa cháu nhỏ. Hai ông cháu vừa làm việc vừa kháo nhau chuyện bán củi hôm qua. Cu Tý bảo:

"Mình bán đủ củi cho lò bánh xong, thì đi chặt bổi bán cho lò gạch".

Ông lão nhận xét:

"Ừ, tao chặt trụi hết cả rừng dày, mà chưa lấp nổi mấy cái lò háu ăn".

Cu Tý không hiểu, hỏi lại:

"Nội nói cái gì?"

"Tao nói mấy cái lò háu ăn, hiểu không?"

Vừa nói ông lão vừa chỉ vào miệng cu Tý đang há hốc ra kinh nhạc. Ông lão giải thích thêm:

"Tụi bay ăn dữ quá, một bữa năm sáu chén cơm đầy, làm cho nội chặt trụi cả cây rừng đem bán vẫn chưa đủ tiền mua gạo".

Rồi ông lão trầm ngâm, lời nói giống như một tiếng thở dài:

"Đáng lẽ tới tuổi này, tao chỉ ngồi vuốt râu uống nước trà, chờ cha tụi bay nuôi. Nhưng Trời không chiều lòng người, biết làm sao giờ".

Cu Tý mãi nghe, không chịu kéo mạnh dây mây để siết chặt lưng bó củi. Ông lão nhắc:

"Con kéo mạnh cho nội chứ. Miệng nói, tai nghe, nhưng tay đừng quên làm".

Cu Tý cười, giúp ông nội bó củi còn lại. Để chữa lỗi, nó lăng xăng chạy lấy cây đòn xóc đem lại cho nội, phụ với ông cắm mạnh đầu nhọn cây đòn vào phía dưới dây buộc. Hai ông cháu vừa làm việc vừa cười đùa. Xong đâu đấy, ông lão hỏi cháu:

"Bây giờ cháu muốn gì? Vác rựa cho ông, hay là đi tay không để nhặt đá cuội về chơi ô làng?"

Cu Tý phụng phịu:

"Hôm qua con mất công đem về, tụi nó khóc la giành hết của con. Bữa nay con không thèm nhặt nữa. Để con vác rựa cho nội".

"Vậy càng tốt. Đem về bỏ lăn lóc thêm dơ nhà. Nào, chúng mình về".

Ông lão chậm chạp khom lưng xuống, kề vai vào dưới đòn xóc, bậm môi lấy gân nhấc gánh củi đứng dậy. Sức nặng đè lên đôi vai già làm cho ông lão xiểng tảng một chút, nhưng ông gắng gượng giữ được thăng bằng. Ông đứng yên một chỗ nhún nhún vài cái cho quen vai, rồi vịn một tay vào bờ đá bắt đầu bước.

Cu Tý chạy trước ông nội, đôi chân nhỏ chuyền liếng thoắng trên các mỏm đá như con sơn dương hí hửng. Tự nhiên nó thấy hồn rộn rã. Nó quên mất gánh nặng của nội. Đến lúc nhớ lại thực tế, nó hốt hoảng khi quay nhìn sau lưng không thấy cái dáng chậm chạp khắc khổ của nội đâu cả. Cu Tý chạy ngược trở lại, qua khỏi một khoảng truông rậm quanh co, mới thấy ông nội đang ngồi bệt bên đường, gánh củi đặt sát bờ đá. Cu Tý hỏi:

"Nặng quá phải không nội?"

Ông lão chưa kịp trả lời, đứa bé đã nói tiếp:

"Con đã bảo bấy nhiêu đủ rồi, không cần chặt thêm nữa. Nội không nghe. Nội cứ sợ người ta chê ít, mai không mua của mình. Gánh củi của bác Ba ít chứ đâu có nhiều như gánh củi mình. Mà lò bánh họ có nói gì đâu. Con..."

Ông lão ngắt lời:

"Không phải đâu. Đừng lải nhải nội bực lắm. Gánh củi này thấm gì. Nhưng mắt nội hơi yếu. Nội vấp hòn đá. Sợ móng chân cái tróc ra mất".

Cu Tý sợ hãi ngồi sà xuống trước mặt ông nội. Ông nội đã nói thật. Ngón chân cái bên phải của ông lão đầy cả máu, và mỗi lần ông lão ấn ngón trỏ vào móng, thì máu lại trào ra. Cu Tý cuống quít không biết làm gì, cứ hỏi:

"Làm sao hở nội? Làm gì bây giờ hở nội?"

Ông lão hơi bực gắt đứa cháu:

"Mày làm gì mà la nhặng lên thế? Đi rừng vấp chân chảy máu là thường chứ có gì đâu. Vạch quần đái lên chân ông nội cho sát trùng, rồi chờ cầm máu mình lại gánh củi về".

Cu Tý không dám nói gì thêm, vâng lời ông lão, đi tiểu lên chỗ bị thương. Thấy bụi đường văng lên chỗ lở, nó nhắc:

"Ông để chân lên hòn đá cho sạch".

Ông lão thấy cháu nói có lý, dời bàn chân đau lên chỗ mặt đường có tảng đá phẳng. Cu Tý hơi khom người xuống để nước tiểu rơi nhẹ lên ngón chân, cho nội khỏi đau. Ông lão thấy cháu có ý tứ, cảm động, vỗ vỗ lên vai cu Tý:

"Sao con biết nội bị vấp mà quay lại?"

Cu Tý nói dối:

"Con cứ chạy một quãng lại nhìn trông chừng, sợ nội theo không kịp".

Khi cu Tý tiểu xong, ông lão bảo:

"Thôi, được rồi. Để nội ngồi yên một chút cho máu hết chảy, mình lại bắt đầu đi. Con không thích lượm đá cuội nữa sao? Ông nói đùa, ông không la đâu. Lại chỗ lòng suối kia tìm mấy viên nhỏ và tròn đem về chia bớt cho mấy em".

Cu Tý đi rồi, ông lão nhìn lại ngón chân cái của mình. Tuy hơi rát, nhưng máu đã bớt chảy. Đầu móng chân bị vẹt đi một chút, để lộ mảng thịt hồng. Ông lão dáo dác nhìn quanh, tìm lại viên đá đã làm cho chân ông đau. Nó nằm cách đó không xa. Ông lão nghiêng mình với tay nhặt lên. Viên đá nhỏ xù xì, đầy góc nhọc sắc chẳng kém mũi dao. Lòng tự nhiên tức giận, ông lão cầm viên đá giơ lên cao, lấy đà, định ném thật xa cho rơi tõm xuống khúc suối nước đục. Nhưng vào phút cuối, ông lão dừng lại. Ông nhìn hòn đá chăm chú một lần nữa. Viên đá mầu mỡ gà, nhưng chằng chịt những đường chỉ đỏ như gân mái trong lòng mắt người già. Ông lão nghĩ: Trong thân thể mình, chắc cũng có những đường máu chằng chịt như thế này. Nhờ thế khi bị vấp, máu chỉ rịn dần dần chứ không tuôn xối xả. Ông lão tự nhiên thấy viên đá trở thành quyến luyến. Ông cảm thấy, mơ hồ, trên cái dáng xù xì lồi lõm, bằng những mầu sắc hỗn tạp chỗ vàng chỗ trắng chỗ xám chỗ đỏ, một gương mặt chập chờn. Chỗ nhô ra này có thể giống với chóp mũi con chó nhỏ, nhưng chỗ lõm này lại giống cái miệng người. Ông tìm đôi mắt. Tuyệt nhiên không thấy đâu. Chỉ thấy các đường gân máu trên má trắng. Ông chợt nhớ viên đá đã làm cho ông chảy máu chân, nên săm soi tìm kiếm xem còn dính đâu đây không. Vẫn tuyệt nhiên không thấy đâu. Hay là mình lầm với một viên đá khác. Mình có vấp vào một viên đá, nhưng có thể viên đá này vô tội. Tay ông mân mê viên đá xù xì, dần dần cảm thấy hơi ấm mặt trời chuyền từ viên đá qua tay mình. Khám phá ấy làm cho ông lão xúc động, ngồi lặng trầm ngâm. Sức sống của mặt trời truyền vào tấm thân tàn tạ này, giữa lúc hoạn nạn và trong bóng chiều ủ dột khiến ông nôn nao. Ông nhìn thẳng trước mặt, chỉ thấy màu lục chập chờn, không khi gió lay động chòm râu bạc, từng sợi từng sợi phất phơ. Nếu đứa cháu không trở lại, chắc ông lão còn ngồi trân như vậy lâu lắm. Cu Tý khoe:

"Con chọn được 25 viên cuội trắng. Mỗi đứa được năm viên. Con chỉ sợ thằng Mãnh lại đòi phần của con Lý".

Thấy ông nội vẫn còn ngơ ngác, cu Tý hỏi:

"Đau lắm phải không nội? Đã hết chảy máu chưa nội?"

Ông lão giật mình, trả lời lấy có:

"Hết rồi con".

"Nội vấp vào chỗ nào đâu?"

Ông lão nghe cháu hỏi, vội giấu viên đá đang cầm nơi tay trái vào lòng.

Cu Tý không chú ý, tiếp tục hỏi:

"Đã hết chảy máu chưa nội. Để con coi thử. À, hết rồi. Máu đã khô. Nhưng sao tay nội còn dính đầy máu thế này?"

Ông lão cuống quít định đưa tay trái lên xem, nhưng cu Tý đã chụp lấy bàn tay phải của ông. Cháu ông nói đúng. Mấy ngón tay phải của ông còn dính đầy máu. Từ nãy đến giờ mãi lo săn sóc cái chân, ông quên cái tay. Ông đưa tay lên chùi vào vạt trước, nhưng sợ giặt không đi, nên ngập ngừng dừng lại ở khoảng lưng chừng. Ông nhìn quanh quất. Cu Tý hốt hoảng:

"Tay của nội cũng bị thương nữa sao nội?"

Ông lão trấn an đứa bé:

"Không phải đâu. Đừng lo. Ông lấy tay nặn cho máu bầm chảy ra hết, nên bị dính phải. Để nội chùi sạch cho con coi. Không bị thương chỗ nào hết".

Ông lão vừa nói vừa tiếp tục tìm thứ gì chùi máu trên bàn tay. Chợt ông chú ý đến lớp rêu khô bám trên mặt đá vệ đường. Mặt đá quay về hướng bắc, và lớp rêu một mùa gió mưa năm trước bây giờ chỉ còn lại một mảng khô mầu thẫm. Ông lão đứng dậy, tiến về phía mặt rêu:

"Nội chùi vào đây cho sạch tay, rồi mình còn về".

Lớp rêu khô mịn như mặt nhung. Máu dính lên lớp rêu, để lộ lớp da nhăn chai đá trong lòng bàn tay lão tiều. Nhưng một vài cọng rêu héo bám theo bàn tay, nằm rải rác trên năm ngón gầy. Ông lão tìm khoảng rêu khác chùi mạnh tay một lần nữa, cẩn thận lau sạch máu bầm trên từng ngón đen đúa. Chính lúc đó ông mới chú ý dưới lớp rêu khô héo còn có một lớp rêu non mới nhú. Ông lão thích thú lấy ngón tay trỏ rẽ nhẹ khắp mặt rêu. Đâu đâu cũng có một tầng rêu xanh ẩn nấp, chờ sẵn sương đêm. Cu Tý giục:

"Đã xong chưa ông nội. Trời tối qua mương không kịp đâu".

Ông lão quay lại nhìn cháu, thấy mái tóc dài phủ gần kín vầng trán thơ ấu, trong khi đôi mắt cu Tý mở lớn một vùng trời hy vọng, mơ ước. Ông lão chợt nghĩ đến việc so sánh cọng rêu xanh và đôi mắt đen láy này, lòng xôn xao khác thường. Bấy giờ nắng chiếu qua ngọn cây, tung tăng bên bờ đá phía bên kia suối. Côn trùng chim chóc bắt đầu hoạt động trong các bụi rậm, nhộn nhịp ríu rít. Ông lão muốn ôm cháu vào lòng để tỏ niềm trìu mến, nhưng khi đưa hai bàn tay lên ông mới nhớ mình còn cầm viên đá xù xì ở tay trái. Cu Tý tò mò:

"Nội cũng lượm đá về chơi ô làng hở nội?"

Ông lão vội vã cải chính:

"Tao chừng này tuổi đầu mà còn chơi ô làng hay sao? Đem về cho mẹ tụi bay đằng thạp dưa cải".

Cu Tý cũng không vừa:

"Nội lầm rồi. Đằng dưa cải thì phải chọn mấy hòn đá tròn láng mới được. Hôm trước con cũng đem về một viên đá lớn cho mẹ, nhưng mẹ chê xù xì quăng đi. Mẹ muốn nhờ nội tìm cho một viên thật lớn, nhưng sợ nội yếu nội mệt..."

Lời đứa cháu làm ông lão suy nghĩ. Ừ, ông chưa yếu, nhưng không còn mạnh mẽ. Không biết bao giờ ông yếu đến độ không thể đi củi được nữa, và đến lúc đó, liệu gánh dưa cải của người dâu nhỏ ốm có đủ nuôi cả gia đình? Vợ ông mất từ lâu. Từ hồi thằng Đình mới có mười tuổi. Một cha một con sống âm thầm bên rẫy, ngày hai lần nhìn mặt trời mọc lên từ bên kia đỉnh Chóp Vàng và lặng mất đằng sau đỉnh Chóp Vung. Thằng Đình lớn lên như cây cối, cho đến lúc ông lão thấy phải dời nhà xuống đồng cho con lập gia đình, ông nhớ núi, ngày ngày ngồi bó gối nhìn ngọn cao sừng sững bên kia đồng lúa trì. Nhưng ông còn nhiều việc để làm cho tạm nguôi nhớ. Cu Tý ra đời. Rồi lần lượt con Lý, thằng Sư, thằng Mãnh, con Miên. Đình mạnh khỏe và tháo vát, ngược xuôi chu cấp cho cả gia đình đông đúc. Lúc Đình phải nhập ngũ, ông lão tưởng đời sống sẽ bị hoàn toàn đảo lộn, nhưng lúc nào Đình cũng lanh như con sóc. Nó xin làm việc ngay tại chi khu, gần gũi gia đình. Sự đảo lộn chỉ thật sự bắt đầu lúc cây cầu bắc ngang qua suối do Đình canh giữ bị giật sập. Ông lão không còn có quyền ngồi bó gối gửi nhớ nhung về đỉnh Chóp Vàng. Ông phải trở lại nghề cũ nuôi cháu. Ông biết sức khỏe mình ngày càng kém. Gối đã run, tay đã yếu. Mắt đã hấp hem trên bước chân nam chân xiêu khó nhọc. Nhưng ông lão còn rán được. Ông tin mình còn đủ sức kéo lết cuộc đời qua ngày đoạn tháng. Cơn ho trở mùa chưa tới, đó là một điềm lành.

Nghĩ tới đó, tự nhiên cổ ông ngứa, và dù cố gằn, cơn ho dữ dội vẫn ào ạt ập đến. Ông lão ngồi rũ bên gánh củi, gập người lại cố lấy hết ý chí cưỡng lại bệnh tật. Cu Tú quăng cả mấy viên cuội đẹp trên tay, chạy đến vuốt ngực ông:

"Nội ho trở lại phải không nội? Chắc sương chiều đã xuống rồi. Khí núi lạnh lắm. Mẹ nói hơi núi độc hơn cả gió bấc. Mình về nhanh lên nội".

Lời thằng bé giúp ông lão nhận thức được hoàn cảnh. Phải, có lẽ khí núi lạnh khi mặt trời đã lặn bên kia Chóp Vung làm cho phổi ông lão yếu đi. Phải về gấp, ông bước đến gần gánh củi, khom lưng kê vai vào đòn xóc. Ông lấy hết sức đứng dậy, nhưng sức lực ông tiêu tan đâu mất hết. Ông không nâng nổi gánh củi lên khỏi mặt đất. Thấy Cu Tý theo dõi mình, ông lão giả vờ bảo:

"Trời còn sáng mà cháu. Để ông ngồi một chút cho hạ đàm, rồi về cũng không muộn. Khi nào nắng hết chiếu trên đỉnh Chóp Vàng, mình mới sợ".

Cu Tý không biết nội quá yếu phải ngồi dưỡng thương, vui mừng đề nghị:

"Nếu thế nội chờ con đi nhặt lại mấy hòn cuội. Lúc nội ho rũ, con sợ quá, quăng đi mất hết".

"Ừ, con đi nhặt đi, nội chờ".

Lúc cu Tý chạy đi rồi, ông lão thử bậm môi nhấc gánh củi lần nữa. Nhưng nước mắt ông tự nhiên trào ra, đầu gối run lẩy bẩy. Ông ngồi phệt lên mặt sỏi, lo lắng, rồi sợ hãi. Chắc cơn ho làm cho mình yếu đi, hoặc máu chảy nhiều làm cho gân cốt mềm lại. Hãy chờ một chốc nữa. Có tiếng sột soạt trong bụi rậm gần đó. Một con rắn mối ló đầu ra khỏi mớ cây dại thấp, dáo dác nhìn quanh, rồi đăm đăm nhìn ông lão. Bốn chân rắn bám vào mặt đất, trong khi cái đầu không thôi ngơ ngác. Ông lão nhặt một hòn đá nhỏ, quăng vào bụi rậm để gây tiếng động. Con rắn sợ hãi quay đầu chạy trở lại đường cũ. Cu Tý nghe tiếng đá rơi, chạy lại hỏi:

"Cái gì vậy nội?"

"Không có gì đâu. Nội nhát con rắn mối".

"Nó đâu rồi, để con quăng cục đá cho bẹp đầu quách".

"Không nên. Nó chạy mất rồi. Bốn cái chân lăng quăng lê cái mình nặng. Tội nghiệp".

Cu Tý cười:

"Nó có bốn chân mà thua mình hai chân. Mình nhảy vài cái, là về tới nhà liền".

Câu nói của cu Tý làm ông lão suy nghĩ. Viên đá nằm lơ đễnh bất động trên lối đi. Mảng rêu bám vào vách núi, chờ gió chờ sương của mùa đông cũ. Con rắn mối khó nhọc bám chặt mặt đất lồi lõm. Gánh nặng cuộc đời đè nặng lên đôi vai, cũng dán chặt đời ông thân ông vào đồng lầy, sườn non, luống rẫy. Nhưng ông còn hai chân bước. Đầu gối ông chỉ cần khẽ gấp, là bàn chân có thể nhổ lên khỏi mặt đất. Và bàn chân này đặt xuống là bàn chân khác lại nhấc lên, bước tới. Đất không đủ sức chôn chặt chân ông. Và thân hình ông đứng thẳng, mắt ông nhìn xa. Ông chưa đến nỗi nào. Trừ khi cuộc đời và tháng năm bẻ cong lưng ông xuống, trừ khi cái chết ép sát thân ông vào mặt đất, ông vẫn còn có thể tiến tới. Ông còn đứng dậy được. Ông muốn tự đặt mình trước một sự đã rồi. Ông bảo cu Tý:

"Thôi. Ông cháu mình về".

Cu Tý đồng ý:

"Phải đó nội. Nắng đã hết chiếu trên đỉnh Chóp Vàng rồi".

Lão tiều khom người xuống, hai chân dạng ra theo thế tấn. Ông nghiêng vai. Đôi vai hơi mỏi. Ông bậm môi nhấc gánh củi lên. Gánh củi không nhúc nhích. Ông lão hít mạnh một lần nữa, trí nghĩ đến cái nhục của loài bò sát. Miệng ông bảo cháu:

"Nó bốn chân, nhất định phải thua mình hai chân. Mình vươn vai một cái, đã đứng thẳng lên ngay".

Trong khi lấy gân đứng dậy, ông lão đứng dậy được. Gánh củi hơi chòng chành. Nhưng tay ông lão kịp giữ lại cho nguyên thế thăng bằng.

Rồi cu Tý đi trước, bước chân nhảy nhót như chân sóc. Và lão tiều theo sau, bước chân đằm vững theo nhịp thở. Hai ông cháu về tới nhà, thì trời mới tối hẳn.
 
 
NGUYỄN MỘNG GIÁC       
 
(Trích trong tập truyện ngắn Bão Rớt, NXB Trí Đăng 1973)
 

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

TỪ NGÀY MẸ CHẾT - Nam Cao

 

Hôm nay mưa rét. Mỗi khi trời mưa rét Ninh lại nhớ đến bu. Hồi bu còn sống, những ngày mưa rét, không ra vườn hái trầu, bóc mía hay làm cỏ được, bu hay mang cái bị giẻ và một ôm quần áo rách vào ổ rơm ngồi vá. Bu Ninh khéo vá lắm. Những miếng vá đặt rất phẳng phiu, không răn rúm. Những mũi kim nhỏ, đều đặn và thẳng tắp. Người vô ý trông không biết là áo vá. Mà bu Ninh vá thật không biết gì là sốt ruột. Ai đâu mà ngồi đến tê cả mông, mờ cả mắt cũng không thôi. Những lúc đau lưng quá, bu Ninh chỉ ngừng kim một lát, vươn vai hoặc bẻ lưng vào cái cạnh giường kêu răng rắc, rồi lại cúi đầu xuống vá, vá hết cái này sang cái khác. Bao nhiêu là quần áo rách! Những cái quần trắng, áo cánh trắng của thầy, đầy nhựa chuối. Những cái váy bạc phếch của bu. Những cái váy bằng vải to nhuộm sồng với nhuộm bùn, dày cồm cộp. Trông cái váy, người ta tưởng như nó bền đến thiên niên vạn đại ấy thế mà cũng rách. Tội nghiệp, thì ra nó đẫm nhiều nước tiểu của thằng Đật quá. Về mùa rét, cậu Đật ta đêm nằm cứ tuồn hai chân vào lòng mẹ. Chả thế thì nó ấm mà! Nhưng tính cậu ta lại đái dầm, càng rét càng khỏe đái. Ấy thế là cứ mỗi đêm ba bốn lần, cậu rót tồ tồ vào váy mẹ. Chẳng sáng nào, mẹ không phải thay váy đem ra ao giặt. Còn gì mà chẳng mục? Không mục có họa là bằng gỗ lim!... Nhưng nhiều nhất là những quần áo của Ninh, của Đật. Cái nhuộm son, cái giãi nâu, cái để trắng. Nhưng chẳng cái nào còn giữ trọn vẹn được cái mầu của nó. Bởi vì cái thì mốc xanh, cái thì mốc vàng, cái thì lấm tấm hoa bèo, cái thì trạt những nhựa chuối, những tương, những mắm, mũi dãi cùng đất cát. Vò đến sái tay cũng không còn sạch được. Mà cái thì mất cúc, cái thì xoạc nách, cái thì xoạc túi, cái thì rách lưng, cái thì rách vai, cái thì rách ống tay. Chỉ tại nó nghịch quá. Không thể chưa đến nỗi. Nhiều cái vải còn dai lắm, xé kêu xoàn xoạt. Chúng nó mặc hại quần áo lắm. Cứ gọi là vừa mặc vừa xé áo. Bu Ninh tay vá, miệng chửi cho không còn tai nào mà nghe...

Đật và Ninh chiếm mỗi đứa một bên cạnh mẹ. Chúng nó nằm phục vị, đều chúi vào đít mẹ, Ninh kêu bên Ninh ấm, Đật cãi bên Đật ấm, hai đứa cãi nhau chí chóe. Mẹ đùa con, bảo:

- Có im, không thì tao đánh cho một cái... tha hồ ấm.

Chị em cười khành khạch rồi cãi nhau bô bô. Ninh mồm mép quá, Đật không nói kịp. Đật òa khóc. Mẹ ngừng kim, cốc vào đầu con gái. Ninh rụt cổ lại, ôm đầu cười hí hí. Mẹ Ninh bật cười. Ấy thế là Ninh sằng sặc cười thật to, khiến Đật đang khóc cũng khanh khách cười... Chao ôi! những ngày mưa rét hồi ấy vui quá nhỉ?

*

Bu chết đã ngót ba năm. Thầy bảo thế. Thì ra ba năm cũng dài lắm nhỉ. Ninh cứ tưởng bu Ninh chết đã lâu lắm. Nhưng trách gì!... Xưa kia, những ngày bu đi chợ tỉnh, độ gần tối chưa về Ninh đã thấy mong. Ấy là mới vắng bu có một ngày. Mà nào đã hết cả ngày. Bây giờ vắng bu bằn bặt những ba năm. Bao nhiêu ngày tháng! Ninh thấy lâu là phải. Biết bao giờ mẹ lại về với con? Ninh bâng khuâng cả người. Y như là nằm mơ ấy là Ninh đã nguôi nguôi đấy. Hồi mẹ Ninh mới chết, cứ nghĩ đến mẹ là Ninh khóc. Ninh khóc ằng ặc như người nuốt phải ngụm gì đắng quá, nó quánh vào cổ họng. Khóc đến lặng hẳn người đi, không còn ra tiếng nữa. Chẳng ngày nào không thế. Mỗi ngày hai, ba lần.

Bây giờ thì Ninh không khóc nữa. Nhưng Ninh vẫn còn buồn lắm. Buồn rũ rĩ. Ninh ngơ ngẩn như mất vía. Có lúc Ninh làm gì mà cũng không biết nữa. Ninh vừa cất con dao hay cái chổi, giá thầy Ninh có hỏi, Ninh đã lại chẳng biết đâu mà lấy. Thầy Ninh cũng hiểu Ninh nhớ mẹ, nên không nỡ mắng. Thầy rân rấn nước mắt. Bố nhìn con, con nhìn bố. Hai bố con cùng cúi đầu lẳng lặng. Bố thở dài và con thở dài...

Mẹ Ninh chết sau ngày giỗ ông nội Ninh có hai ngày. Ninh nhớ rõ thế, bởi vì ngày giỗ ông năm ấy, hai mẹ con đã khóc lóc với nhau từ non trưa cho đến tối. Sáng dậy thầy Ninh hâm thuốc cho bu Ninh uống rồi thầy quét nhà, quét sân, giặt quần áo cho bu. Rồi lại còn phải lấy gạo thổi một niêu cơm để đấy cho Ninh nữa. Xong đâu đấy thầy cõng Đật đi ăn giỗ. Ninh phải ở nhà coi mẹ. Thầy Ninh bảo: "Con chịu khó ở nhà với bu kẻo bu buồn, thầy cho em đi một lát, lúc về thầy lấy phần cho một nắm xôi, vài miếng thịt, tính con thịt mỡ chỉ ba miếng là chán ứ. Đi, con cũng chả ăn được mấy, mà ở nhà thì thầy cũng đem về cho con. Đằng nào con cũng được ăn, nhưng bu con ốm thế, để bu ở nhà một mình thì thầy lo lắm". "Con ở nhà với bu...". Việc gì mà thầy phải nói nhiều đến thế? Ninh có đòi đi đâu? Thịt mỡ thì Ninh không thích thật. Nhưng dù có thích, Ninh cũng không đi cơ mà! Đi cũng khó mà nuốt được. Ninh thương bu lắm. Ninh thích ở nhà với bu. Thầy Ninh còn phải cúng ông, thì thầy Ninh phải đi. Thằng Đật còn bé, dở người, không cho nó đi thì nó khóc. Chẳng lẽ Ninh to đầu rồi mà cũng bắt chước em? Có mà đồ hư? Không, Ninh không đi đâu, thầy ạ. Ninh không muốn đi đâu, thầy ạ! Thầy cứ cõng thằng Đật đi kẻo muộn. Ninh ở nhà thích lắm. Thầy đừng thương Ninh...

Nhưng thấy Ninh cứ nhìn theo thầy cõng thằng Đật đi ra ngõ, bu Ninh lại tưởng Ninh muốn đi ăn giỗ lắm, nhưng sợ bố mà không dám đòi đi. Bu Ninh thương hại. Bu gọi Ninh vào mà bảo:

- Con muốn đi thì cứ đi cũng được. Hôm nay bu dễ chịu.

Ôi! Không!... không!... Ninh không muốn... Ninh lắc đầu hăng hái:

- Không! Con ở nhà.

- Sao thế?

- Chẳng sao cả, nhưng con không thích...

- Nhưng ngộ bà không thấy con, bà lại hỏi...

Hỏi gì! Bà biết thừa là bu ốm nặng. Ninh phải ở nhà để bu sai vặt chứ!... Ninh nghĩ thầm như vậy, nhưng không nói. Ninh chỉ hơi lắc đầu. Nhưng có lẽ bu cũng hiểu. Bu nhìn Ninh âu yếu. Mắt bu ầng ậc nước. Bu chửi yêu Ninh:

- Bố mày!

Rồi bu lại bảo Ninh:

- Không đi thì ngồi xuống đây... Bóp tay cho bu một lúc. Tay bu buồn lắm.

Ninh nắm lấy cái bàn tay bu, chỉ còn rặt những xương, mà lạnh giá. Nó lỏng la, lỏng lẻo. Những ngón trông rõ từng đốt, từng đốt một. Những đường gân xanh nổi thày lày lên. Ninh bóp tay bu nhẹ nhẹ. Ý hẳn bu thích lắm. Mắt bu lim dim và đôi môi nhợt nhạt của bu hé mở như chực cười. Rồi tay bu nắm lấy tay Ninh chứ không phải Ninh bóp tay cho bu nữa. Bu vừa bóp vừa hỏi:

- Sao lớp này con gầy thế?

Ninh không đáp được. Bu Ninh soi tay Ninh lên trước mặt nhìn rồi bảo:

- Chết thôi, con ạ! Tay mày đầy những mụn. Không khéo ghẻ...

Ninh cúi mặt. Bu căng từng kẽ tay Ninh ra xem, rồi kêu lên:

- Bỏ bố mày! Đích thị mày ghẻ rồi, con ơi! Yên, tao xem nào.

Bu ngồi hẳn lên. Mắt bu tỏ ra vẻ sợ hãi. Bu vén ống tay áo Ninh lên. Cổ tay Ninh sây sứt. Bu lắc đầu:

- Bố con! Con bẩn quá! Cái cổ tay gồ lên những ghét... Hèn nào mà chả ghẻ?

Bu bắt Ninh đi múc nước. Bu rửa cho Ninh lâu lắm. Vừa rửa bu vừa bảo:

- Sẩy mẹ ra một cái là khổ ngay, con ạ. Ấy là mới rời tao ra hơn một tháng... Chúng mày đã gầy giơ xương, mình mẩy, chân tay thì ghẻ gún. Ngộ tao chết thì có lẽ chúng mày rã xương ra được. Này, cái cổ tay... có khác gì cái cẳng gà hay không?

Ngừng một lát, bu lại thở dài mà bảo:

- Mẹ mà chết thì các con đi ăn mày mất! Đàn ông chả mấy người biết thương con cái. Cha chết thì ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá dọc đàng. Mẹ mà chết đi thì... con ơi!...

Ấy thế là nước mắt bu chảy ra ròng ròng. Ninh cũng khóc. Hai mẹ con cứ ngồi trông nhau mà khóc đến tận lúc thầy Ninh với Đật đi ăn giỗ về. Thầy đem về một nắm xôi đỗ con với một cái đùi gà toàn những thịt. Bà thương Ninh nên bảo chặt để lại cho Ninh đấy. Nhưng Ninh thương bu quá, ăn cũng chả còn biết gì là ngon...

Ồ! Ninh cứ bảo: bây giờ nghĩ đến bu, Ninh không khóc nữa... Không khóc mà lại có nước mắt, nước mũi Ninh đang chảy ra đây này... Đật! Đật ơi! Ô hay! cái thằng Đật chạy đi đâu rồi?

*

Đàn ông chả mấy người biết thương con cái... Thật thế ư? Không có lẽ. Thầy Ninh thương chị em Ninh lắm chứ!... Hồi bu mới chết, thằng Đật khóc suốt ngày. Nó gào bu. Nó đã hiểu là thế nào đâu. Nó cứ đòi gọi bu về với nó. Thầy phải cõng nó ra chợ mua bánh. Thầy mua cho nó nhiều bánh lắm. Thầy mua cả cho Ninh nữa. Thầy với Ninh bày cỗ chơi với Đật. Thầy làm cho Đật những con quay bằng những quả bưởi con, những cái giường, những cái ghế tràng kỷ bằng cây chót. Trông thích lắm. Nhờ vậy Đật mới không khóc nữa.

Đêm, Đật và Ninh ngủ với thầy. Ninh nằm trong cùng. Đật nằm giữa. Thầy nằm ngoài. Thầy bảo Đật luồn chân vào lòng thầy cho thầy ủ. Khi nó đã ngủ mệt rồi, thầy vươn tay qua người nó để sờ Ninh. Thầy kéo Ninh nằm sát vào với Đật. Thầy co chăn, co chiếu về phía Ninh thật nhiều, sợ Ninh giãy, trật ra ngoài, bị rét. Mùa bức thì thầy đặt hai đứa nằm cách nhau xa cho mát. Thầy ngồi quạt. Quạt cho đến tận lúc nào con ngủ mệt, thầy mới chịu ngả lưng xuống giường. Nhưng nằm thì nằm, thầy có ngủ đâu. Ninh thấy thầy quạt rất khuya. Có đêm, ngủ được một giấc dài, tỉnh dậy, Ninh vẫn còn nghe phành phạch. Thầy thở dài luôn ấy. Có khi sụt sịt. Thì ra đêm đêm thầy vẫn khóc. Thầy nhớ bu...

Ấy, cái hồi bu mới chết thì thế đấy. Nhưng ít lâu nay, hình như thầy đổi tính. Thầy vẫn thương Ninh và Đật. Thỉnh thoảng thầy vẫn cho mỗi đứa vài xu ăn quà. Nhưng thầy vắng nhà luôn. Thầy phải gửi gạo bên nhà bác Vụ để thổi cơm cho Ninh và Đật. Bởi thầy đi từ sáng cho đến tối. Có khi tối cũng không về. Có khi đi luôn hai, ba ngày. Chị em Ninh phải ăn nhờ, ngủ nhờ nhà bác Vụ. Đi đâu vậy? Nào ai biết! Bác Vụ bảo thầy đến nhà cô Miện, thầy phải lòng cô ấy. Nhưng chắc là chả phải. Nếu phải, sao cô Miện lại đi lấy lẽ ông ký Bản? Đám cưới vừa đi qua đây hôm nọ. Ninh cõng Đật ra tận đường, đứng xem. Từ hôm ấy thầy lại càng khỏe đi. Đi suốt ngày suốt đêm. Mưa rét thế này, chả biết thầy đi làm gì cho khổ? Chả biết có được ăn gì hay không? Hay là nhịn đói luôn ba, bốn ngày...

*

Lại còn cái ông Đật nữa! Đi đâu mà mãi thế này? Ý dáng lại lẩn sang nhà bác Vụ. Còn sang làm gì? Gạo của thầy gửi đã hết từ đời nào. Bác ấy phải cho ăn lận nhà bác ấy năm, sáu bữa. Nhà bác ấy cũng túng. Chồng chết đi, để lại đẫy bốn con. Bốn đứa cũng lúc nhúc như Ninh và Đật. Bác ấy nuôi được chúng nó cũng đến điều vất vả. Còn lấy gì mà nuôi cả Ninh và Đật nữa? Bác ấy đã phải bảo Ninh: "Cháu về mà đi tìm thầy, nhà bác cũng hết gạo rồi, nếu thầy không đưa thêm cho bác thì bác lấy gì thổi cho chúng mày? Các anh cũng đói...". Thế là Ninh đủ hiểu. Bác ấy muốn bảo: "Chúng mày liệu sao thì liệu, đừng ăn rình nhà tao mãi!". Ninh đưa em về. Tìm thầy, thì biết đâu mà tìm được? Ninh chẳng tìm. Không có ăn thì nhịn! Ninh nhịn từ bữa chiều hôm qua. Đật khóc, Ninh đi moi được một củ dong về nướng. Đật một nửa. Ninh một nửa. Ninh bảo Đật ăn cho đỡ đói thôi, còn cố nhịn, đợi thầy về, ăn nữa. Nhưng Đật không nhịn được. Đật chạy sang nhà bác Vụ. Bác ấy phải lấy trộm nắm cơm tối của thằng cu Chúc nhà bác ấy, đưa cho Đật, Đật mới ăn được một miếng thì Chúc biết. Chúc chạy vào nhà tìm nắm cơm của nó. Thấy mất, nó biết là nắm cơm của nó đương ở trong tay Đật. Nó chạy theo, giằng lại. Đật mất ăn, mếu xệch mồm đi, chạy về. Ninh đứng ở hè bên này, trông rõ cả. Ninh tức lắm. Chẳng biết tức Chúc hay tức Đật. Chỉ biết Ninh nghẹn ngào cả cổ. Vừa thấy Đật, Ninh nhảy xổ lại, tát đen đét vào má Đật. Đật òa lên khóc. Ninh òa khóc theo.

Một lát sau, Ninh nghĩ thương em quá, Ninh lại đi tìm dong, nhưng hết. Ninh moi luôn một củ ráy. Ráy nước, ăn ngứa lắm. Nhưng đói còn biết gì là ngứa? Ninh đem về nướng. Ninh gọi Đật về, lau nước mắt cho nó, rồi chị em ăn ráy nước. Đật ăn tợn lắm, chẳng thấy kêu ca gì cả. Ninh rơi nước mắt. Ninh dặn em: "Từ giờ đừng ăn cơm nhà thằng Chúc nữa". Đật gật đầu. Thế mà hôm nay nó lại lần sang nhà bác Vụ. Có bực mình hay không?

*

Ninh reo lên:

- A bà! 

Đấy là bà ngoại Ninh. Bà ở xa xôi lắm. Hôm nay, tiện ra mạn này lấy thuốc, bà tạt vào chơi với cháu.

Bà đưa cho cháu một đùm xôi lạc.

- Bố mày đi đâu?

- Con không biết.

- Đi từ bao giờ mà mày không biết?

- Đi lâu lâu là rồi.

Bà ngồi xuống ngưỡng cửa, mặt hầm hầm như giận dữ. Ninh hơi ngượng. Bà chíp chíp mồm luôn ba, bốn cái rồi bảo cháu:

- Có phải bố mày bán nhà rồi không?

- Con không biết.

- Bán rồi! Thua xóc đĩa... Thua đâu những ngót ba trăm bạc...

Đật chạy về. Nó vồ lấy bà, nhưng trông thấy đùm xôi ở tay Ninh, lại bỏ bà ra để vồ lấy đùm xôi. Ninh hất tay nó ra, mắng:

- Làm gì thế?

Nhưng bà bảo:

- Cởi ra, chị em ăn với nhau. Để làm gì?

Đật giằng lấy đưa cho bà cởi. Bà chia cho mỗi đứa một nửa. Hai cháu ăn. Đật ngồm ngoàm. Ninh thong thả. Bà nhìn cháu mà ái ngại. Bà chép miệng:

- Đến chết đói thôi, các cháu ạ! Bố chúng mày không ra giống người...

Một tiếng thở dài tiếp theo...

*

... Buổi sáng hôm ấy trời ấm áp. Có nắng hanh. Nắng luôn mấy hôm rồi, nên vườn khô ráo... Đật và Ninh đã chạy tung tăng được...

Bỗng một bọn năm, sáu người, kẻ cầm lạt, kẻ cầm dùi đục, tuốn vào đầy sân. Mồm họ nhai trầu. Họ nói chuyện toang toang như một bọn đồ tể đi bắt lợn. Mấy người trèo lên nóc nhà nhà Ninh. Họ dỡ tranh quẳng xuống sân rào rào. Ninh chạy về...

- Ô hay! Sao các ông phá nhà tôi?

Một người chít khăn mỏ rìu, nhe những cái răng cải mả ra cười mà bảo:

- A! Thầy mày thuê chúng tao phá đi để làm nhà tây đấy mà.

Một người nữa cười ìn ịt như con lợn, bảo:

- Chả cái này bé quá!... 

Và người nữa:

- Thầy mày thích làm nhà tây kia... Làm nhà bên Tây - Trúc ấy mà, mày biết không?

Cả bọn cười ầm lên. Trông người nào cũng dữ. Họ nói như quát vậy. Ninh sợ hãi Ninh chạy bình bịch sang nhà bác Vụ. Ninh định cầu cứu bác. Vừa bước vào nhà bác. Ninh sửng sốt. Thầy Ninh ở đấy. Thầy Ninh nằm thườn thượt trên một cái giường, hai tay chít lại bên dưới gáy. Ninh mếu máo:

- Thầy ơi! Thầy…

Rồi Ninh nghẹn ngào, không nói được nữa. Nước mắt ứa ra. Thầy Ninh ngồi dậy, bảo:

- Việc gì mà khóc? Thầy bán cho người ta đấy. Bán lấy tiền mua vài phiến lim về xẻ. Chuyến sau, ta làm một cái nhà toàn lim!

Thầy nhếch mép ra cười. Cái cười vạch hai nét nhăn trên đôi má hõm. Thầy cười thế, trông già sọm. Có lý nào thầy chóng già đi quá thế? Ninh trố mắt lên nhìn thầy...

Bỗng từ bên nhà đưa sang những tiếng dùi đục kêu chan chát. Nghe ghê rợn lắm. Ninh đã được nghe những tiếng dùi đục ấy một lần rồi, vào cái ngày mẹ chết: người ta đóng cả chiếc săng của mẹ... Vết nhăn trên má thầy Ninh sâu thêm, rộng thêm ra. Trông như thầy Ninh mếu. Ninh òa lên khóc...

- Bu ơi là bu ơi!...

 
NAM CAO       
 

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2023

CÔ ÁO LỤA HỒNG - Thạch Lam

 

Hiệp đi thong thả trong phố, mũ đội lệch, miệng ngậm thuốc lá. Chàng vừa đi vừa nhìn đám người qua lại tấp nập dưới bóng nắng ấm của sáng mùa thu. Thỉnh thoảng, Hiệp đứng dừng lại trước một cửa hiệu bán đồ trang sức, anh ta sung sướng ngắm nghía những cái mũ phớt mềm mại, những dây lưng đẹp đẽ và những cà vát lụa nhiều màu rực rỡ. Tuy không có tiền để mua những thứ đó, nhưng trông ngắm không cũng đủ cho Hiệp hưởng mấy cái vui thú của những cuộc đi chơi phiếm.

Nhất là những cuộc đi chơi của Hiệp lại còn có một mục đích khác nữa. Cứ mỗi buổi sáng chủ nhật, anh ta thắng bộ, nói là đi chơi mát, nhưng chính thực ra chỉ cố để trông ngắm các thiếu nữ Hà thành. Sự kinh nghiệm đã bảo cho chàng biết rằng chủ nhật là cái buổi ở trong phố có lắm các tiểu thư nhất. Giờ các cô đi sắm sửa quần áo và phấn sáp, nước hoa, một công việc mà Hiệp cho là hợp với tính cách người thiếu nữ hơn cả. Chính cái sung sướng của Hiệp là được trông thấy một cô thiếu nữ xinh xắn đứng chọn các hàng mẫu để may áo kiểu mới, hay là chọn các thứ phấn và nước hoa đựng trong những cái hộp đẹp đẽ.

Có khi chàng đứng lặng hàng giờ, hay suốt cả buổi sáng trước một cửa hiệu bán tơ lụa để nhìn các cô thiếu nữ mua hàng. Chàng nhìn những mái tóc đen nhánh che lấp vành tai hồng hồng và xinh xắn, những sợ tóc mai lơ thơ trên má phơn phớt, những tấm thân mềm mại hay những tà áo màu tha thướt. Nếu có một cô nào tươi đẹp đi ra là Hiệp đi theo liền... Đi theo xa xa thôi, mà đi theo một cách kín đáo, không cho thiếu nữ biết. Có khi cứ như thế đi hết phố nọ sang phố kia, rồi đến khi thiếu nữ vào nhà, Hiệp ta còn đứng tẩn ngẩn ở ngoài hè... Nhưng rồi anh ta cũng thấy cái vô vị của sự đứng như thế không có lợi gì. Vì thiếu nữ có biết anh ta theo đâu, mà dầu có biết nữa, chắc cô ta cũng không để ý.

Nhiều lần, theo sau một cô thiếu nữ xinh xắn một thôi đường cũng khá mỏi chân, Hiệp chỉ muốn tiến lên tìm cách làm quen hay nói chuyện với thiếu nữ. Nhưng cái tính rụt rè làm cho Hiệp, khi sắp sửa nói, lại ngượng nghịu, tự thấy câu mình sắp nói không có ý nghĩa gì hết. Thành thử, dưới đôi con mắt ngạc nhiên của thiếu nữ, Hiệp lúng túng rồi lại lùi xuống giữ cái địa vị đi theo như cũ.

Đã nhiều lần Hiệp tự tức mình về cái tính rụt rè ấy. Chàng thấy những anh bạn tự nhiên gợi chuyện với một thiếu nữ chưa từng quen biết ở ngoài phố một cách rất dễ dàng, chàng lẩm bẩm tự cho mình là hèn, nhát, và nhất định lần sau thì sẽ can đảm và mạnh bạo hơn nữa.

Nghĩ như vậy, Hiệp thổi sáo ở giữa phố để lấy cái vẻ dung dị, không cần gì ai, mà chàng thấy các anh em bạn vẫn có, rồi rảo bước đi mạnh về phía bờ hồ. Chợt chàng đứng dừng ngay lại: một thiếu nữ rẽ đầu xuống phố hàng Gai ra, vừa gặp Hiệp đưa mắt lên nhìn. Một luồng điện như truyền khắp từ đầu đến chân, Hiệp không nhìn thấy gì nữa, chỉ thấy đôi mắt đen nhánh của thiếu nữ và cái màu hồng của tấm áo. Thật chưa bao giờ Hiệp thấy một cô thiếu nữ xinh đẹp như thế! Anh ta cứ bàng hoàng đứng ngẩn người ra như phỗng, quên mất cả cái lễ phép tránh sang một bên để nhường lối cho thiếu nữ đi. Đến khi cô kia đưa cặp mắt ngạc nhiên nhìn anh ta lần nữa, mỉm cười như có ý chế nhạo rồi quay đi, Hiệp mới hoàn hồn, bước theo sau thiếu nữ.

Tấm áo lụa hồng phấp phới bay theo chiều gió, thiếu nữ có một cái dáng điệu mềm mại, khiến Hiệp lấy làm sung sướng rằng đã được gặp một người đẹp. Chàng nhất định lần này không để lỡ mất dịp tốt, vừa theo vừa nghĩ kế làm quen với thiếu nữ.

Có lẽ thiếu nữ cũng biết anh ta theo, nên thỉnh thoảng nàng quay lại nhìn Hiệp mỉm cười. Qua phố hàng Ngang, hàng Đường, chợ Đồng Xuân... thiếu nữ rẽ qua hàng Lược, rồi đứng dừng lại trên hè, ngơ ngác nhìn hai dãy phố như người tìm số nhà.

Cố thu hết can đảm trong người, Hiệp bước rảo đến trước mặt thiếu nữ. Chàng ngả mũ chào rất lễ phép:

- Thưa cô... thưa cô...

Thiếu nữ ngẩng lên nhìn Hiệp, lặng yên đứng đợi.

- Thưa cô... thưa cô...

Tự nhiên cái can đảm của Hiệp đi đâu mất cả, Hiệp thấy bối rối, mặt nóng bừng, quên mất không nói câu gì nữa...

Thấy cái vẻ lúng túng của Hiệp, thiếu nữ như có ý thương hại. Đột ngột nàng hỏi :

- Anh Tân đấy à?

Hiệp đứng ngây người ra một lát. Nhưng một ý nghĩ thoáng qua trong óc Hiệp, một cách có thể thoát khỏi cái thời khắc ngượng nghịu, Hiệp liền liều trả lời :

- Vâng... chính tôi...

Thiếu nữ bỗng có vẻ vồn vã, ân cần, bước lại gần Hiệp, nói :

- Chết chửa! Thế mà tôi không nhận ra đấy. Trông bây giờ anh khác hẳn trước kia, nhớn hơn nhiều...

Rồi nàng chúm chím đôi môi đỏ :

- Mà từ độ ấy đến bây giờ, làm gì anh chẳng nhớn... thưa anh, hai cụ nhà ta vẫn được mạnh giỏi đấy chứ?

Đã chót thì phải chét, Hiệp ngập ngừng trả lời:

- Vâng cám ơn cô, thầy mẹ tôi vẫn được bình thường...

Hiệp hơi lo, chỉ sợ cô ta biết là nhầm không phải, thì thật là bẽn. Nhưng thiếu nữ như không để ý đến cái vẻ lúng túng của Hiệp, cứ điềm nhiên nói tiếp :

- Từ độ anh thôi học trở về, bà tôi vẫn có ý nhớ, thường nhắc đến anh luôn và cứ mong anh ra chơi. Chắc anh ở nhà quê cũng bận lắm đấy nhỉ?

Lần này Hiệp không còn lo nữa. Anh đoán già rằng chắc cậu Tân nào đó trước có ở trọ học nhà cô này, rồi về quê nghỉ, mà nghỉ cũng lâu nên bây giờ cô ta mới nhận nhầm được. Chàng vững dạ, mỉm một nụ cười rất xinh rồi nói :

- Vâng, khi ở nhà quê tôi cũng bận công việc lắm, chẳng đi đến đâu được. Nhớ bà và nhớ... cô quá, lắm lúc muốn ra hỏi thăm nhưng không sao mà rứt ra được...

Thiếu nữ đưa đôi mắt đen lánh nhìn Hiệp rồi thân mật trách :

- Anh thật tệ quá! Lên Hà Nội mà cũng không đến thăm em. Anh không nhớ đến em sao? Hay anh quên em rồi?

Thiếu nữ cúi xuống mỉm cười. Hiệp cảm động trong lòng, âu yếm và lấy giọng dịu dàng :

- Không, tôi không quên em... à, quên cô đâu... không bao giờ tôi quên được...

Chàng cảm động thật, cảm động vì đôi mắt trong của thiếu nữ, đôi mắt tình tứ ngây thơ. Càng trông Hiệp càng thấy thiếu nữ đẹp, nhất là cái miệng xinh xắn, có duyên, chúm chím như tinh nghịch.

Hai người vừa đi vừa nói chuyện. Câu chuyện mỗi lúc thêm thân mật, như hai người bạn cũ gặp nhau. Hiệp đóng vai anh Tân nào đó thật là hoàn toàn, trả lời một cách kín đáo... Có khi Hiệp cũng ngập ngừng về một câu nói, nhưng thiếu nữ hình như vui mừng gặp người cũ, không để ý đến gì cả.

Đến lúc chia tay, anh ta đã biết rõ thiếu nữ là Lan, lưu học sinh trường nữ sư phạm. Anh ta lại biết cả số nhà ở hàng Lược và lại được cô hẹn đến chủ nhật sau đến cửa trường học đón cô đi chơi.

Lúc trở về, Hiệp thấy bước chân nhẹ nhàng như người bay. Anh sung sướng tự khen mình đã bỏ được cái tính rụt rè và cảm ơn thầm cái anh Tân nào đó đã cho anh cái dịp làm quen với một thiếu nữ xinh đẹp như thế.

Nhưng Hiệp vẫn có một điều lo: chàng chỉ sợ Lan biết chàng không phải là Tân thì thật rầy rà, chàng lo sợ nghĩ đến lúc Lan mời đến nhà chơi, tuy trong những lúc nói chuyện, Hiệp không thấy Lan đả động gì đến việc ấy cả.

Tuy vậy, Hiệp cũng nhất định nói thật cho Lan biết, một phần vì chàng biết trước không giấu được mãi, một phần vì chàng chắc rằng Lan đối với chàng cũng sẽ tha thứ cho cái sự giả dối bất đắc dĩ ấy.

Hôm ấy gặp Lan, Hiệp cảm động, hồi hộp, cầm tay Lan rồi lưỡng lự nói:

- Em Lan, anh có câu chuyện muốn nói với em...

Lan nhìn Hiệp, chớp mắt nhanh, như nghĩ ngợi một chút, rồi mỉm cười cũng nói:

- Anh Tân, em cũng có câu chuyên muốn nói với anh...

- Chuyện gì, em cứ nói đi.

- Không, anh nói trước.

Hiệp lại ngập ngừng:

- Câu chuyện của anh... em tha thứ cho nhé. Hôm ấy, anh đã nói dối em, vì anh... không phải là Tân!

Lan cười ròn vui vẻ, đáp:

- Em cũng không phải là Lan!

Thấy Hiệp mở to đôi mắt, ra dáng không hiểu, nàng tiếp thêm:

- Em không phải là Lan của anh Tân, mà của anh cơ! Nghĩa là... em biết anh không phải là Tân.

- Em biết?

- Vâng.

Hiệp ngơ ngác; chàng hỏi :

- Thế là làm sao? Anh không hiểu.

Lan lấy tay che miệng, giảng :

- Có gì đâu. Hôm ấy em thấy anh cứ lúng túng mãi, nên em mới giả vờ hỏi thế cho anh đỡ ngượng, chứ có anh Tân, anh Tiếc nào đâu. 

Hiệp chợt hiểu, vui vẻ cười. Một lát, Hiệp sung sướng hỏi :

- Thế em biết anh? Em yêu anh?

- Lan đưa đôi mắt đen láy, ngây thơ nhìn Hiệp :

- Không, em chỉ biết anh theo em, chứ không quen biết anh bao giờ, nhưng em thấy anh cứ ấp úng mãi không nói được câu gì, em thương hại.

 
THẠCH LAM      
 
(Trích từ tập truyện ngắn Gió Đầu Mùa) 
 
 

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2023

HAI CẢNH TRỤY LẠC - Khái Hưng

 

Hải cùng một ng­ười làng đã hai l­ượt đi suốt phố Hậu Giang mà không sao tìm thấy nhà em. Tìm nhà người quen ở một tỉnh nhỏ vẫn là một sự khó khăn. Ngờ là chủ đi lùng bắt con nợ, những ng­ười bị hỏi thăm chỉ có một câu trả lời vắn tắt "không biết" dù họ biết mười mư­ơi mặc lòng.

Chán nản, mỏi mệt, hai ng­ười ngồi nghỉ chân ở một hàng nước bên hè, định bụng sẽ cố tìm một lần cuối cùng nữa.

- Bác Giác ạ, hay chú nó dọn nhà đi phố khác ?

Ng­ười nhà quê mình bao giờ cũng t­ưởng như­ ng­ười khác, nghĩa là chẳng tư­ởng gì hết.Trí thức l­ười biếng không nghĩ ngợi để có một ý kiến riêng.

- Chẳng nhẽ lại chịu trở về làng.

Bà hàng n­ước đon đả mời chào, rồi hỏi :

- Thưa, các ông ra tỉnh có việc quan ?

- Không, chúng tôi ra tìm ng­ười em.

Giác đỡ lời, hỏi :

- À bà có biết ông Hai ở đâu không ?

Bà hàng ngửa mặt, đôi mắt nhăn nheo hấp háy như­ cố tìm trong trí nhớ. Giác lại tiếp luôn :

- Ông hai Bản, ông ấm Bản... ông ấm Hai... Tên tục ông là Hai Niu ấy mà... Bà có biết không ?

Hai ng­ười nhìn chòng chọc vào cặp môi cắn chỉ của bà hàng n­ước để chờ câu trả lời.

- Bà làm ơn bảo giùm.

- Ông Hai Niu ? Ông ấm...

- Phải, ông Hai Niu, ông ấm Bản, ông Hai Bản.

- Thư­a hai ông, thế thì tôi không biết.

Giữa lúc ấy ở đằng xa trên con đ­ường nắng rát, loang loáng trong bóng lá nhẹ nhàng rung động của cây soạn tây mới thấp thoáng điểm hoa t­ơi đỏ, một ng­ười đàn ông kéo cái xe bò đang đi lại. Trên xe một ng­ười đàn bà ngồi bên đống thuổng, cuốc, quang, thúng, nghêu ngao ngâm kiều :

Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Ng­ười kéo xe luôn luôn quay lại hỏi chuyện, không nghĩ gì đến cái nóng một buổi trư­a hè im gió, oi ả, nặng nề khó thở.

Giác phe phẩy chiếc quạt rách trỏ xe bò bảo Hải :

- Ông ấm ạ, ai như­...

- Ờ... ờ ai như­...

Cả hai cùng không dám nói đến tên ng­ười kéo xe. Như­ng Hải không sao giữ nổi lời cảm động buột miệng gọi :

- Hai !... chú Hai Bản !

Bản dừng lại :

- Ai gọi tôi ?

Hải buồn rầu nhìn Giác. Chàng không ngờ em chàng đ­ương sống trong cảnh trụy lạc ấy.

Như­ng Bản nhận ra đ­ược thì vui mừng đặt vội càng xe bò xuống hè :

- Ồ quý hóa quá ! Bác ra chơi... Sao bác không lại đằng nhà ?

Hải bẽn lẽn không đáp. Giác mỉm c­ười ngư­ợng nghịu :

- Ấy chúng tôi đi tìm nhà ông mãi mà không thấy. Ông ở phố Hậu Giang ?

- Vâng, phố này chính là phố Hậu Giang.

Ng­ười đàn bà chắp tay chào :

- Lạy bác ạ.

- Không dám, chào thím.

- Mời bác về nhà chơi.

Hải và Giác đứng dậy ngần ngại, do dự, nhìn nhau một ìần nữa. Bà hàng nhắc khéo tiền trầu n­ước :

- Bác phó hãy để hai ông ngồi chơi. Hai ông vừa sơi đ­ược mỗi ng­ười một miếng trầu, một bát n­ước.

Bản c­ười vui vẻ :

- Thôi, bà để bác cháu về nhà nghỉ chẳng bác cháu mệt, đây tiền trầu n­ước.

Bản xỉa ba trinh vào thành chõng nhà hàng, rồi thản nhiên ra nâng càng xe bò, và giục :

- Mời bác đi.

Hải ngắm nghía em: cái áo cộc màu xanh bạc, cái quần vải thô màu cháo lòng, hai bàn chân vôi cát bám đầy trong đôi guốc quai cao su gót mòn gần hết. Ðối với Hải đó là những biểu hiệu trụy lạc của một đời ng­ười, và Hải nghĩ thầm "Ta tuy cũng nghèo kiết, như­ng chẳng bao giờ chịu tự hạ như­ thế kia. Vả con quan, ai lại tự hạ đi kéo xe bò... Hừ ! Thà chết đói còn hơn..."

Hải vụt nhớ đến tình cảnh nheo nhóc của mình. Vợ chàng ngược xuôi nhì nhằng, dệt vải làm gạo, chơi ống, chơi ph­ường để cố nuôi sống một gia đình bảy tám miệng ăn, như­ng dầu sau, chàng cũng không đến nỗi bê tha, lụi xui quá như­ em. Dầu sao chàng cũng chân giấy chân dép, khi ra đình, khi đến nhà đám, nhà chay, chàng không để ai có thể khinh nhờn được; "Chà, thằng Bản, t­ưởng nó bỏ làng ra tỉnh làm v­ương làm t­ướng gì ? Thật là bêu diếu ông cha Bản ạ !"

Cái tên Bản bỗng nhắc Hải nhớ lại cả một thời kỳ giàu có sang trọng. Em chàng tên là Bản vì ra đời ở huyện Vụ Bản, cũng như­ cha mẹ chàng đặt tên chàng là Hải, vì sinh chàng ở huyện Tiền Hải...

Mấy năm sau, vì việc r­ượu, cha chàng bị cách, rồi buồn quá mắc bệnh mà chết. Từ đó, ba mẹ con vẫn sống trong cảnh phong lưu như­ x­ưa, vẫn kẻ hầu, ng­ười hạ, vẫn ăn tiêu phung phí và chẳng thèm nghĩ tìm kế sinh nhai. Chỉ có một việc là bán. Tr­ước còn bán ruộng v­ườn, sau bán đến đồ đạc. Làm ma cho mẹ xong, gia tài hai anh em khánh kiệt.

Gia tài khánh kiệt, nh­ưng Hải vẫn sống theo cảnh cũ. Tuy chẳng còn tiền của đâu mà tiêu rộng rãi, song cái tính đài các chững chạc, Hải vẫn giữ đ­ược. Ðến nỗi trong làng chẳng ai dám t­ưởng rằng chàng xơ xác.

Nào ai biết đâu rằng nhiều bữa vợ chồng con cái xúm nhau vào nồi cơm ngô khoai và đĩa muối. Nào ai biết đâu rằng mấy con đi nhặt rau sam rau dền về luộc cho cả nhà ăn. Ng­ười ta chỉ trông thấy ông ấm vận quần áo lành sạch, mỗi khi ông ra đình hay đến chơi nhà ai, ng­ười ta chỉ trông thấy ông ngồi chễm chệ trên sập, ung dung xoay ván bài tổ tôm, hay gật gù nhấp giọng chén chè tàu liên tâm, ng­ười ta chỉ trông thấy bà ấm đem bát đĩa con phư­ợng và các mâm đồng ra rửa ở đầu cầu ao mỗi khi có khách quý đến chơi nhà, và những ng­ười láng giềng tỏ ý thèm muốn khi đứng ngắm nghía con chim họa mi của ông ấm nhảy, hót trong cái lồng cao, quang dầu, treo bên bụi hồng đầy hoa.

Giấu giếm che đậy, nhẫn nại, chịu khổ, chịu đói để giữ thanh danh, lúc nào Hải cũng không nhãng nghĩ đến điều đó, và năm tr­ước, chẳng dung đư­ợc, chàng đã nhận chức đại bái và tiêu vào việc ấy hết nửa bát ống của vợ. Những ý t­ưởng phức tạp lộn xộn, rối tung trong óc Hải lại đư­ơng bực về nỗi em chàng làm cho chàng mất thể diện ở tr­ước mặt một ng­ười làng, câu hỏi của em dâu càng làm cho chàng bực tức thêm :

- Các cháu vẫn chơi đấy chứ, bác ?

Lạnh lùng, chàng đáp :

- Phải ?

*

Một lát sau, mấy ng­ười về tới nhà Bản, căn nhà gạch một gian ngăn đôi bởi bức phên liếp dán giấy nhật trình. Vợ chồng Bản mời anh và ông khách ngồi chơi, rồi đi theo một cái cổng chung cho cả dãy nhà để cất xe bò vào sân.

Hải đã đỡ ngư­ợng với ng­ười làng, vì nhà em cũng sáng sủa và bài trí cũng dễ coi : Một cái ghế ngựa quang dầu, trên tường mấy tờ tranh quảng cáo của hiệu dầu hỏa. Hải đư­ơng ngắm nghía cái đồng hồ rỉ để trên bàn tre, và thầm ao ­ước kiếm đ­ược vài đồng mua một chiếc, thì Bản đã rửa mặt rửa chân tay và thay quần áo sạch sẽ, từ trong nhà b­ước ra :

- Bác đi chân hay đi xe đấy ?

- Tôi đi xe chú ạ, có ba hào.

- Ờ rẻ nhỉ.

Kỳ thực, hai ng­ười đã kéo bộ ra tỉnh, nh­ưng quen tính giữ gìn, Hải đã nói dối, nói dối với cả em và tuy có ng­ười làng làm chứng cho sự nói dối ấy đứng ngay bên cạnh.

- Cái nhà này chú thuê bao nhiêu tiền ?

- Th­ưa bác ba đồng. Chả nói giấu gì bác, tr­ước kia tôi thuê một gian nhà và ở chung với ba ng­ười nữa, thành thử chỉ mất có bảy hào thôi. Về sau, nhà tôi tìm đ­ược mấy cậu học sinh ăn cơm trọ mới thuê cái nhà này. Kể cũng kiếm đ­ược đủ ăn. Tôi thì đi làm, để cháu ở nhà nấu bếp, như­ng đã hơn tháng nay, các cậu ấy về nghỉ hè cả, thành thử cái nhà này rộng quá. ấy chả nói giấu gì bác...

Bản ngừng lại, quay ra bảo Giác :

- Mời bác vào rửa mặt mũi chân tay cho mát rồi xơi cơm.

Giác biết rằng anh em Hải muốn nói câu chuyện riêng, liệng lảng ra sân sau. Bản hạ giọng nói tiếp :

- Chả nói giấu gì bác, tôi không muốn để nhà tôi ăn không ngồi rồi, nên đã đi xin tạm cho một chân phu hồ ở chỗ tôi làm việc.

Hải trợn mắt :

- Phu hồ ! Chú để thím là phu hồ ?

- Vâng, bác tính chẳng gì cũng kiếm đ­ược hào r­ưỡi hào tám mỗi ngày, mà công việc có khó nhọc là bao.

Hải chép miệng lắc đầu :

- Giá ở xa tận đâu thì chả nói làm gì nh­ưng ở ngay tỉnh nhà, mà chú thím luộm thuộm thế, bê tha thế, tôi e lắm.

Bản c­ười như­ng không đáp. Chàng chẳng lạ gì tình cảnh của anh và tánh nết anh, chàng cũng thừa biết. Chàng nghĩ thầm, cầm hết thứ nọ đến thứ kia, hết v­ườn ruộng đến đồ đạc nhặt từng cái dĩa, cả ba chén trà đem đi bán để chạy bữa ăn, như­ thế anh mình không cho là luộm thuộm, bê tha. Còn vợ chồng mình, chỉ làm việc, làm việc bằng tay chân...

Hải thở dài ứa lệ bảo em :

- Chú ạ, nhà ta sa sút chóng đến thế ! Lúc thầy còn làm quan, thì chúng ta sung s­ướng biết bao, mà bây giờ, bây giờ.

Bản c­ười :

- Bác nghĩ thế, chứ tôi, tôi lại nghĩ khác. Chúng ta sinh tr­ưởng ở nơi giầu sang thì thuở bé mới đ­ược ăn, mặc, chơi bời sung sướng. Nếu là con nhà khó thì chúng ta cũng đã nghèo đói khát. Ngày nay chúng ta không còn ở cảnh giàu sang thì chúng ta đừng thiết nhớ đến thời x­a nữa có hơn không.

- Ðành thế, như­ng chú bê tha quá.

Bản ngắt lời :

- Ở đời chỉ có sự l­ười biếng, sự ỷ lại là bê tha. Còn như­ em, em không làm việc bằng trí thức, mà em làm việc bằng tay chân, thế thôi. Có gì là bê tha đâu ? Không biết bác thế nào, chứ em thì không sự gì làm cho em đau lòng bằng ngắm cảnh một người không còn sung túc mà cứ muốn có cái hào nhoáng của một ng­ười sung túc. Sự giả dối ấy...

- Như­ng thanh danh nhà mình ?

- Nghèo khác, thanh danh khác. Yên phận nghèo làm việc để sống, sao thanh danh ông cha ta lại vì thế mà mất hay bị tổn hại đ­ược ? Em nhận ra điều ấy ngay hôm em quả quyết bán một ít v­ườn ruộng, phần gia tài của em, kiếm ngót lấy trăm bạc vốn rồi đư­a vợ con ra đây, theo anh em đi làm thợ. Ngày nay không bao giờ phàn nàn một điều gì nữa. Vì em đã vui lòng nhận mình là một ng­ười thợ nề chính thức sống bằng công việc chân tay, cái đời cậu ấm của em chỉ còn phảng phất trong giấc mộng xư­a. Nếu may ra, nay mai em trúng độc đắc vì em có mua số thì em lại sống theo cái đời ng­ười có hàng vạn, chứ sao ! Phải không bác ?

Hải c­ười g­ượng, giọng mỉa mai :

- Phải !

Lúc đó, vợ Bạn b­ưng ra một mâm gỗ trên có bát canh, khói thơm bốc lên ngào ngạt, Bản hỏi :

- Ðẻ thằng Ðá có mua thêm cái gì ăn không ?

- Thầy thằng Ðá ạ, tôi đã mua thêm ba xu đậu với ba xu xáo bò rồi đây.

Bản phá lên c­ười :

- Bác coi, chúng em có hoàn toàn là một cặp vợ chồng thợ thuyền không ?


KHÁI HƯNG     

(Trích trong tập truyện ngắn Dọc Đường Gió Bụi)

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

CUỐN SÁCH BỎ QUÊN - Thạch Lam

 

Thành đi lại trên sân ga, thong thả và lơ đãng. Gió mạnh dán chặt quần áo vào người chàng, khiến cái lạnh thêm thấm thía và ẩm ướt. Tuy trời không mưa, nhưng Thành tựa như thấy trong lòng mưa bụi, buồn rầu và chán nản, một mối buồn không sâu sắc, nhưng êm êm làm tê liệt cả tâm hồn.

Chàng không muốn nhớ lại, hình như muốn để quên đi với nỗi thất vọng ấy. Câu trả lời của ông Xuân, nhà xuất bản, vẫn nhắc lại bên tai Thành một nhịp trầm và khó chịu:

– Sách của ông không được ai hoan nghênh cả.

Thành mím môi lại, giữ vẻ tự nhiên, điềm đạm như người đã thường nghĩ đến điều ấy rồi. Chàng để tay lên bản thảo cuốn “Mơ xưa”, vuốt cong đầu giấy lại, không trả lời. Ông Xuân nói tiếp:

– Thật vậy. Hai nghìn cuốn “Người bạn” in ra mà bây giờ chưa bán được hai trăm. ấy là không kể gửi đi biếu các báo đã mất non dăm chục rồi. Tôi chưa in ra cuốn sách nào khó bán như thế.

Ông chép miệng nhìn Thành, có ý bảo chàng hiểu rằng cái vốn hai trăm bạc ông bỏ ra chưa thâu được hết. Tuy vậy, Thành cứ cố; chàng run run tay cầm bản thảo cuốn “Mơ xưa” lên; xốc lại hai đầu định sắp sửa cho vào cặp, khẽ hỏi:

– Thế còn cuốn này, ông…

Câu trả lời đón trước đến ngay, quả quyết không có gì lay chuyển nổi:

– Ồ, ông còn định xuất bản quyển này nữa hay sao? Tôi xin chịu, ông có các vàng tôi cũng không dám in ra nữa.

Thành không hiểu tại sao chàng lại mỉm cười tuy chàng không muốn. Chính chàng cũng khó mà nói rõ được cái ý nghĩa của cái cười đó. Chàng cầm mũ với cặp, đứng dậy, nắm cái bàn tay mềm và uể oải của ông chủ rồi đi ra.

Đến ngoài đường, lúc bấy giờ Thành mới nhận thấy nỗi thất vọng của mình, và để nó tràn lên cả tâm hồn, không chống cự. Chàng có cái cảm giác bị hụt chân chết ngập trong mối buồn và thấy một nỗi thương thấm thía vô hạn cho chính mình.

Trong những đêm không ngủ ở nhà quê, chàng vẫn mơ tưởng một sự thành công rực rỡ xứng đáng với tài năng. Những lúc đó, Thành sung sướng như nhấp chén rượu mạnh mà hơi men làm say sưa dần dần. Chàng tưởng sách của chàng đã được thiên hạ hoan nghênh nhiệt liệt, các báo đua nhau tán thưởng, và bán chạy hết ngay trong tháng xuất bản. Ông Xuân sẽ để một tập bạc trên bàn, tiếp chàng niềm nở và nói nịnh:

– Sách của ông bán chạy quá. Thật, tôi chưa từng thấy nhà văn nào được hoan nghênh như ông.

Thành sẽ cười nhã nhặn và kín đáo, nhận lời khen ấy như một người không quan tâm đến sự nhỏ mọn về danh vọng ấy. Chàng sẽ đưa trình cuốn “Mơ xưa”, sẽ được ông Xuân trân trọng đỡ lấy và vui vẻ nhận xuất bản ngay.

Nhưng sự thực… Môi Thành sẽ nhếch hơi chua chát, và chàng tự hỏi không biết có nên chế giễu mình không. Chàng không nghĩ đến đi chơi trong Hà Nội nữa, thuê ngay xe ra ga lấy vé. Thành muốn rời bỏ ngay cái tỉnh lãnh đạm này, mong lại thấy căn phòng nhỏ ấm áp của chàng, cái bàn viết có bóng cây trong vườn lung lay trên mặt, mỗi khi ánh nắng chiếu ngang.

Thành ngửng nhìn đồng hồ: ba giờ… chuyến tàu dễ không bao giờ đến chắc! Con đường sắt về Nam song song thẳng tắp dưới trời u ám, như làm xa vắng rộng rãi thêm nỗi buồn. Tất cả những mơ ước tha thiết của tuổi trẻ, của tâm hồn nghệ sĩ, những mộng đẹp xây lên trong lúc say văn, tất cả đều theo gió lạnh tan dần. Tâm hồn Thành trơ trọi như một cánh đồng thấp mà lúa đã gặt rồi.

Khi tàu đến, chàng chỉ còn là một kẻ chán nản bước lên xe. Chàng đi xuống hạng ba, mở cửa toa bước vào. Thành dễ chịu khi thấy trong toa vắng không có ai, ngoài một người gác tàu ngồi thu hình trong một xó, không buồn ngửng lên trong khi chàng đi qua. Thành cũng gieo mình trên chiếc ghế, kéo cổ áo lên che gáy – cái lạnh thấm thía quá! – rồi lặng yên để cho tiếng rộn rịp của chuyến tàu ru mình.

*

Ngoài xa, cánh đồng chuyển lần sau làng mạc. Dòng tư tưởng của Thành cũng chảy xuôi, một sự yên tĩnh đến thay chỗ cho nỗi buồn, Thành lại thấy mình thiết tha và hy vọng. Thật ra, sách không bán chạy chưa phải chứng tỏ rằng chàng không có tài; nhiều nhà văn nổi tiếng khắp hoàn cầu lúc mới đầu chẳng bị thiên hạ bỏ quên và hững hờ là gì. Sự lãnh đạm của công chúng nhiều khi là cái dấu hiệu của một tài năng xuất chúng, không được người ta hiểu, vì vượt ra ngoài khuôn sáo thường. Thành tự an ủi khi nghĩ mình có thể là một tài năng ấy. Chàng ôn lại những quãng sách đã đọc qua, trong đó nhiều nhà văn lão luyện đã khuyên nhủ: người nghệ sĩ phải không cần đến sự hoan nghênh của công chúng, bởi tự mình đã được hưởng cái thú thần tiên của sự sáng tác; được hoan nghênh nhiều khi chỉ làm hại cho nghệ sĩ, vì khiến cho nghệ sĩ tự mãn và nô lệ cái sở thích của người đọc.

Thành thấy những tư tưởng ấy đúng là thâm thúy. Không có thứ nào say sưa và chìm đắm bằng cái thú của chàng cảm thấy mỗi khi cầm bút diễn tả lòng mình, thấy các nhân vật chàng đặt ra trở nên linh hoạt trên trang giấy. Chàng đã có sự rung cảm ấy, đã có trời mây, ánh nắng và hoa cỏ, tất cả vạn vật đang sống chung quanh. Những đám mây thấp bay trên cánh đồng lúa xanh kia là một bài thơ bất tuyệt và đằm thắm. Thành cúi nhìn ra ngoài xe, mê mải ngắm phong cảnh qua làn khói trắng mà gió đánh tạt về bên đường. Lòng chàng dịu dần, và cảnh vật trước mắt lại thấy tươi vui, tuy lúc đó trời bắt đầu mưa bụi. Thành đứng hẳn dậy, cúi mình nhìn qua cửa kính, để gió lạnh lùa vào mái tóc và táp vào da.

*

Xe đỗ. Một cái ga nhỏ, bên mấy nếp nhà tranh chơ vơ. Tiếng người lên xuống ồn ào vang động. Thành thoáng thấy bóng một thiếu nữ bước lên xe. Tự nhiên chàng quay lại: người thiếu nữ vừa lách cửa toa, một luồng gió ùa vào, manh áo dài bay lên để lộ cái áo len màu đỏ. Thiếu nữ đưa mắt nhìn khắp lượt, thấy trong xe chỗ nào cũng đã chật, hơi lưỡng lự một chút, rồi đến ngay chiếc ghế trước mặt Thành để hành lý xuống: mấy gói bọc giấy và một cái va li nhỏ bằng nan mây. Thành mỉm cười vì có sự gần gũi ấy; chàng chăm chú nhìn thiếu nữ: một khuôn mặt trái xoan, một vẻ đẹp thường thường. Quần áo ra lối nửa tỉnh, nửa quê. Học sinh? Buôn bán? Thành không thể đoán rõ được.

Thiếu nữ cũng ngửng mặt lên nhìn chàng, rồi cúi đầu xuống, hai bàn tay xinh xẻo lần mở va li với một chiếc khóa con kền sáng. Thành không rời mắt, chàng có cái cảm giác thú vị sắp được đi vào trong đời thân mật của thiếu nữ. Nắp va li hé mở. Thành thoáng thấy mấy nếp quần áo xếp gọn ghẽ, cái khăn mặt bông trắng và bánh xà phòng thơm mới nguyên. Bỗng chàng rung động từ đầu đến chân như có luồng điện chạy; thiếu nữ vừa mới lấy ra một cuốn sách, chính là cuốn “Người bạn” của chàng. Quyển sách còn mới nguyên, hình như vừa mua chưa xem đến. Thành thấy màu xanh của bìa sách, dòng chữ tên sách và tên tác giả – chính là tên chàng – nhảy múa trước mắt khi thiếu nữ để sách trên đùi, lấy con dao con cẩn thận rọc từng trang một.

Thành không thể nói rõ cái cảm giác của chàng lúc ấy thế nào. Chàng bàng hoàng, nửa như e sợ, nửa như sung sướng. Thiếu nữ đã giơ sách lên trước mặt, dựa người vào thành ghế chăm chú xem. Thành ngắm nhìn cái bàn tay xinh xắn cầm lấy sách, chàng chăm chú nghe tiếng giấy mới sột soạt mỗi lần một trang giấy giở. Thành thấy như thiếu nữ một lần giở trang giấy của tâm hồn mình, gần gũi và thân mật hơn. Chàng hồi hộp nhận xét trên nét mặt người đọc, ảnh hưởng của văn chàng, tựa như thiếu nữ đang đọc những ý nghĩ sâu xa của chàng vậy. Mà chàng không có cách nào giảng giải nó thêm! Thành muốn kêu lên chính chàng là Văn Sơn, là tác giả. Chàng ước ao giá bây giờ có người bạn nào đến gặp chàng, người bạn vỗ vai hỏi: “Kìa anh Văn Sơn? Thế nào, cuốn “Người bạn” của anh có bán chạy không?”. Thành tưởng tượng sẽ nhũn nhặn trả lời: cũng khá, và thiếu nữ, ngạc nhiên, sẽ hạ quyển truyện xuống, mở to mắt nhìn chàng kính phục và sung sướng. Chàng sẽ thấy thiếu nữ ấp úng, má hơi đỏ, kiều mị, khẽ thưa: “Em xin lỗi vì sự đường đột, nhưng có phải ông là Văn Sơn không ạ?”.

Ồ may quá! Rồi nàng xin chữ ký của chàng đề trên cuốn sách, sẽ vụng về lúng túng một cách đáng yêu, khen chàng là nhà văn… có tài.

Nhưng mà… không có người bạn nào cả, ngoài thiếu nữ với chàng; thiếu nữ vẫn chăm chú xem, và chàng thì nóng nảy, bứt rứt, xoay xỏa trên ghế. Chỉ một người đọc văn mình cũng đủ làm cho chàng cảm động thế ư? Thiếu nữ bỗng trở nên có duyên lạ, môi đỏ thắm, đôi mắt dưới làn mi cong và dài, theo từng dòng chữ, êm nhẹ như nhung, như vuốt ve trên lòng chàng. Bao nhiêu nỗi buồn bực thất vọng của Thành vì những lời nói của ông chủ nhà xuất bản đều tiêu tan mất cả. Trong cái lạnh lẽo của tâm hồn chàng, thiếu nữ kia đã đem lại sự đầm ấm, nâng niu, ít ra cũng đã có một người hiểu chàng. Thành đoán chắc thiếu nữ này, khi ở thôn quê, dưới bóng đèn, hay buổi chiều dưới rặng hoa lý, đã từng mơ màng những chuyện nàng đọc, và trái tim nàng đã từng rung động vì thân thế của người trong truyện.

*

Thiếu nữ hạ quyển sách xuống, hơi nhếch mắt nhìn ra ngoài. Dãy nhà ngoại ô tỉnh Nam đã trông thấy đằng xa. Thiếu nữ lại hé mở va li thử lại ổ khóa và sửa soạn hành lý khác. Chàng thở dài: chàng biết thiếu nữ sẽ xuống ga này, còn chàng, chàng phải đi vài ga nữa mới về tới nhà. Hồi hộp, Thành thấy từ nãy đến giờ chàng chưa tìm được cách nào cho thiếu nữ biết tên, hay làm quen với nàng. Nhiều lúc, chàng muốn gợi chuyện với thiếu nữ, nhưng không hiểu tại sao, mỗi lần chàng ngượng nghịu lại thôi. Những câu nói định sẵn không muốn nói ra khỏi miệng khiến chàng bực tức cho mình. Thành đứng lên, ngồi xuống, băn khoăn; thiếu nữ đưa mắt nhìn Thành, một tay để trên va li, một tay vén lại tà áo cho gọn ghẽ.

Tầu bắt đầu đi chậm, vào ga. Thành luống cuống đứng dậy ra đầu toa tựa vào bên cửa nhìn xuống, như chú ý lắm đến cảnh tấp nập ở dưới đường. Khi thiếu nữ khệ nệ xách va li đi qua trước mặt, Thành nép người vào bên. Mái tóc người thiếu nữ khẽ phớt qua ngực chàng, mái tóc đen che vành tai hồng và cái cổ tròn xinh. Chàng cúi xuống nữa, ra hẳn ngoài tầu, nhìn theo thiếu nữ đi lẫn vào đám đông người. Lâu chàng còn nhận thấy đôi vai mảnh và thon của thiếu nữ trong đám hành khách cho đến khi thiếu nữ khuất vào ga.

Thành có cảm tưởng như đã mất một người bạn thân yêu quá.

Chàng buồn nản thong thả trở về chỗ cũ. Bỗng nhiên Thành đứng lại, và mắt chàng mở to ra: trên ghế, chỗ thiếu nữ ngồi, cuốn “Người bạn” của nàng vừa mở nằm yên. Thành cầm vội lấy, cúi nhìn ra ngoài. Chàng tưởng còn kịp gửi trả người thiếu nữ. Nhưng tầu đã chạy rồi. Gió lạnh bắt đầu thổi mạnh lên. Thành gieo mình xuống ghế, tay mân mê cuốn sách, giở đi giở lại các trang: hình như còn một chút đầm ấm gì của người thiếu nữ ấy vương lại trong trang giấy. Nhưng đột nhiên, như có mũi kim xuyên thẳng vào tim chàng: ngộ không phải là thiếu nữ bỏ quên chăng? Biết đâu nàng chẳng bỏ lại vì cuốn truyện tồi khiến nàng không vừa lòng? Biết đâu nàng không rõ chính chàng là tác giả và cố ý bỏ sách lại để tỏ sự nhạt nhẽo của nàng?

Thành khẽ thở dài. Những ý nghĩ ngờ vực đó xôn xao trong óc chàng. Thành mân mê cuốn sách tựa như có thể tìm được trong ấy câu trả lời. Rồi thẫn thờ, chàng để sách xuống lòng, áp trán vào cửa kính nhìn ra ngoài. Mưa bụi đã tạnh từ lâu và nền mây xám tách ra, để lọt một tia nắng vàng dịu lướt nhẹ trên ruộng mạ xanh non, trong trẻo và mong manh quá như sắp tắt. Thành thấy cái vui trong lòng chàng cũng trong sáng và mong manh như thế, chỉ một chút nghi ngờ, một chút lạnh lẽo cũng đủ làm cho tan đi. Thành không muốn nghĩ nữa; chàng khe khẽ khép cuốn sách lại, và ngồi yên lặng như mơ màng.
 
 
 Thạch Lam          
(Trích từ tập truyện Nắng Trong Vườn)

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2023

ĐƯỜNG NÀO RA BIỂN - Hoàng Ngọc Tuấn


Lãng bước xuống khỏi chiếc xe lam. Ở một ngã ba đường phố chợ ồn ào, nóng bức và lạ mặt. Lãng bâng quơ nhìn những hàng quán và bến xe đò, rồi bước đi trên một con đường nào đó. Lãng không có vẻ gì đặc biệt. Anh như những người khác, tầm thường, còn trẻ, khoảng hai mươi ba tuổi. Cái tuổi nếu không ở đại học hay làm một công chức quan trọng thì có lẽ đã đi lính. Và anh ở vào trường hợp thứ ba, nghĩa là đã đi lính. Tuy nhiên anh chưa phải là một người lính thực sự, mà là một người lính quân trường, mặc áo trận màu xanh chỉ mới được vài tháng.

Thành phố Nha Trang thật mới mẻ và xa lạ với anh. Đã lâu rồi anh quen thuộc với Saigon. Một buổi sáng nào đó anh không biết trước được, anh cùng những người khác nối đuôi nhau ôm bọc quân trang leo lên một chiếc máy bay quân sự khổng lồ, bay đến miền biển nầy. Từ một nơi đầy nắng lộng lẫy của phố phường hay nắng thơm của đồng lúa vùng ngoại ô, đến một nơi nắng mang theo cát và vị mặn của biển cả. Từ một quân trường này đến một quân trường khác. Vẫn mồ hôi, súng đạn và những tiếng hô một hai. Có khác chăng là ở đây đen thêm một chút, mồ hôi thấm ướt áo hơn một chút. Bởi vì bây giờ là mùa hạ, ở miền núi non không một bóng mát cây xanh, mặt trời tung hoành quá, chói chang quá.

Đi ngang qua mặt tủ kính của một tiệm sách, Lãng nhìn thấy trong thoáng chốc hình ảnh của mình. Sao vẫn thấy là lạ. Tóc tai bớt ngắn ngủn, nón đội sụp xuống che kín mắt, trên ngực áo gắn hai miếng vải trắng ghi tên và danh số của mình, những thứ để phân biệt anh và đám người khác trong doanh trại.

Trời khô, hơi thuốc lá nóng. Rạp chớp bóng làm điếc tai mọi người bằng tiếng nhạc gào la từ máy phóng thanh. Phố chợ lao xao người ngợm trông mệt mắt, những thứ ấy làm anh nản. Cái đặc biệt của một thành phố duyên hải dĩ nhiên chỉ có thể là biển. Trại lính của anh nằm sát bãi biển, mỗi ngày mang ba lô, súng đạn ra bãi học, biển đã quen thuộc với đôi mắt anh. Nhưng bây giờ, anh vẫn thèm nhìn thấy biển, say một chút dịu dàng với màu nước xanh bát ngát, trời cao và tiếng sóng gọi rì rào.

Những đường phố chạy theo nhiều ngả khác nhau. Anh không biết sẽ đưa anh đến đâu, dãy nhà cao che lấp mất biển cả. Anh loay hoay giữa những con đường lạ và người lạ, thỉnh thoảng nhìn thấy một vài gái miền biển khá ngộ nghĩnh, làn da rám nắng và đôi mắt trong, da thịt có lẽ chắc nịch sau làn áo mỏng.

Một thiếu nữ khá xinh, có lẽ là người đẹp cuối cùng dạo phố sáng chủ nhật này, đứng trước một sạp bán sách báo. Áo dài nàng màu xanh, có lẽ dệt bằng lụa mềm. Lãng đi lại gần. Nàng cũng có làn da rám nắng và đôi mắt trong, chỉ có thế, không lấy gì làm xuất sắc lắm. Bàn tay nàng đang lật chậm rãi vài trang sách, một cuốn thơ cũ của Nguyễn Bính. Anh tiến lại gần nàng thêm chút nữa, gần đến nỗi nếu có một người khách bộ hành vội vã nào đó đụng phải người anh, anh sẽ té nhào vào lòng áo mềm của thiếu nữ. Đó thật là một điều may mắn, nhưng ít xảy ra quá, và anh chờ hoài vẫn không thấy xảy ra.

Sau cùng anh lên tiếng, với tất cả sự thành thật của một lữ khách tìm đường nơi phố lạ.

- Xin lỗi cô... làm thế nào để đi ra bãi biển được?

Thiếu nữ giật mình quay lại, ngạc nhiên, dường như không hiểu tại sao lại có một gã thanh niên ngơ ngáo dường ấy. Nàng nhướng mắt:

- Xin lỗi, tôi không nghe rõ anh nói gì ạ.

Lãng khổ sở nhắc lại câu nói của mình, lần này dài dòng hơn, với bộ mặt cố làm ra vẻ đứng đắn:

- Thưa cô, bây giờ tôi đang đứng ở đây...

- Dĩ nhiên rồi.

- Nhưng... Tôi muốn đi ra bãi biển thì phải theo con đường nào... nghĩa là... có con đường nào ra biển, cô vui lòng chỉ giúp.

Thiếu nữ nhìn anh. Bây giờ nàng có vẻ hiểu và tin ý định thành thực của anh, nhưng vẫn còn đôi chút ngạc nhiên. Nàng bặm môi, đưa tay chỉ một con đường trước mặt và nói rằng anh hãy đi theo con đường này, rồi rẽ sang trái, sang phải, sang trái... v.v... Cuối cùng sẽ đến đường Duy Tân, anh sẽ nghe tiếng sóng vì đó là con đường chạy dài theo bãi biển.

- Anh nhớ chưa?

- Nhớ, nhưng mà có vẻ rắc rối quá nhỉ.

Nàng rời khỏi sạp sách, miệng có lẽ thoáng mỉm cười.

- Bộ anh chưa đến Nha-Trang lần nào sao, anh không quen ai ở đây sao?

- Không có ai cả. Ở đây tôi là "con bà phước"".

Nàng có vẻ chú ý, với một ít tò mò.

- "Con bà phước"?

- À. Cô không hiểu cái chữ này đâu. Phải ở trong quân trường mới biết được. Đại khái có nghĩa là tôi không có thân nhân nào ở đây, suốt cả mấy tháng chẳng có bà con họ hàng nào đến thăm cả. Như thế gọi là "con bà phước" đấy.

Nàng có vẻ hiểu một cách thích thú. Bây giờ nàng quan sát bộ áo lính hơi nhăn nheo và bạc màu của anh. Mặc áo lính ở đây là một chuyện rất thường. Thành phố này mỗi sáng chủ nhật đầy nhóc lính tráng đủ thứ. Không quân, Hải quân, lính rằn ri của Lực lượng đặc biệt, lính Đồng Đế...

- Tôi hiểu rồi. Chắc anh ở một nơi nào xa, mới đến đây học chứ gì, cái trường gì đó ở cuối bãi biển...

Lãng đưa tay chỉ về hướng quân trường của mình. Phố Đồng Đế, dưới chân núi Hòn Khô, che lấp trong những hàng cây dương xanh ven biển, gần gũi bên vườn dừa của thôn Ba Làng.

Rồi hình như thiếu nữ thấy mình đã làm xong bổn phận từ thiện chỉ đường cho Lãng rồi, nên nàng mỉm cười chào anh. Điều này thật đáng buồn. Anh lúng túng cầm chân nàng lại bằng những lời vòng vo dài dòng, và biết được nhà nàng ở gần bờ biển. Như thế thật tuyệt, nếu nàng là một hướng dẫn viên cho anh biết đường ra biển. Và không hiểu tại sao nàng lại bằng lòng.

Hai người rời con phố chính, theo những con đường nhỏ khá dễ thương, nhiều bóng mát, những cây bàng vệ đường lá ngả sang màu vàng úa hay đỏ sẫm, thỉnh thoảng vài ngọn lá rơi theo cơn gió mát.

Con đường cuối cùng nằm ven biển. Hàng dừa xanh lao xao chạy dài. Trên bãi cát lấm tấm màu xanh đỏ của những chiếc áo tắm. Lãng nhìn một lượt qua những quán nước nằm sát cạnh nhau trên bãi biển, bàn ghế đặt ngoài sân, che phủ trên cao là những tàn lá dừa rậm rạp.

Lãng mời thiếu nữ vào một quán nào đó. Nàng ngập ngừng, nhưng không có vẻ gì bối rối. Anh phải nói thêm một ít lời khách sáo, một ít lời tả oán của một anh lính xa nhà, đã lâu không có một người quen để chuyện trò trong chốc lát. Thiếu nữ bằng lòng. Thật dễ chịu. Có lẽ nàng đã hết cái thời nữ sinh làm dáng rụt rè. Anh rất ghét phải tốn hơi sức để mời mọc một cô gái điệu bộ. Cũng may mà nàng khá tự nhiên, có lẽ đã đi làm việc rồi. Có thể là một cô giáo kèm học trò tiểu học, hay cũng có thể kèm tiếng Việt cho một gã lính Mỹ nào đó, trong bài học vỡ lòng, đại khái như: "Anh yêu em. Anh sẽ cho em mỗi tháng 100 dollar nếu em yêu anh" có nghĩa là: "I shalll give you 100 dollars monthly if you love me". Lãng sẽ chán chết nếu nàng kèm trẻ theo kiểu này, và anh biết rằng ở đây rất nhiều người làm cái công việc đó.

Vào một quán số 3, số 4 hay số 5 gì đó, ngồi vào chiếc ghế đặt ngoài cùng để nhìn thấy cả một khoảng biển chạy dài từ Hòn Chồng đến cửa bể. Anh gọi cho thiếu nữ một ly nước dừa, và anh một ly cà phê. Nàng ngạc nhiên:

- Sao anh không uống nước dừa, tôi thấy thường thường những người lạ đến đây, họ thích uống nước dừa lắm.

Lãng mỉm cười, mơ màng:

- Bây giờ tôi không thấy thèm. Cô biết không, hôm qua còn ở trong trường, tôi đã được uống một ly nước dừa ngon nhất thế giới. Lúc đó hơn 12 giờ trưa, ở một bãi tập dưới chân núi, không một ngụm gió, trời nóng chảy mỡ, mồ hôi, mệt nhoài... bọn tôi lẻn vào làng Đường Đệ, ở quán cóc gần biển, trái dừa và những viên đá lạnh thô sơ. Ngon lành tuyệt trần, uống xong nằm đong đưa trên võng, giá chết ngay cũng được.

Nàng bật cười, có vẻ một ít thích thú và một ít tội nghiệp cho Lãng. Anh nói:

- Này cô Bích Tiên.

Nàng ngạc nhiên:

- Kìa, tên tôi đâu phải thế.

- Ồ, có sao đâu. Gọi tạm như thế cũng được. Cô có vẻ là một nàng tiên xanh lắm. Bích Tiên có nghĩa là nàng tiên xanh.

Nàng tỏ vẻ không bằng lòng cái tên mới này. Trái lại, anh rất thích thú. Cha mẹ nàng làm sao đặt tên hay cho con bằng anh được. Lãng định mở đầu một câu chuyện khác, nhưng anh dừng lại.

Quán nước nhiều lính tráng ngoại quốc và những gái diêm dúa ăn mặc rẻ tiền. Chiếc máy hát ồn ào những bài ca thời trang kệch cỡm, rồi bỗng dưng thay đổi. Một bản nhạc mơ mộng lênh đênh của Đoàn Chuẩn nhẹ nhàng vang lên, Gửi gió cho mây ngàn bay... Lãng dựa người dài theo ghế, thoải mái lạ thường.

- Anh kể chuyện về quân trường anh đi, chắc có nhiều chuyện lạ lắm, Ở đó có khổ lắm không?

- Cô nào cũng thế, cứ làm như là chuyện cổ tích. Cũng đâu có gì lạ. Những mệt nhọc, nỗi khổ người ta quên đi mau lắm. Bây giờ ngồi đây, tôi cảm thấy khoan khoái, như thế là đủ rồi.

Nàng lặng thinh. Anh đã uống hết ly cà phê, gọi thêm một ly khác. Thêm một chút đá lạnh vì trời bắt đầu nóng. Nàng nhíu mày:

- Anh uống cà phê, hút thuốc gì nhiều thế. Coi chừng đau gan, mất ngủ cho mà xem.

- Ồ, cái gì chứ về vụ cà phê, tôi là một thiên tài. Một ngày uống bao nhiêu ly cũng được.

Nàng bật cười vì chữ cuối cùng của anh.

- Bích Tiên biết không, hồi còn ở Saigon, tôi có gia nhập một hội thiên tài. Bạn bè tôi toàn là những bậc thiên tài cả. Thiên tài cà phê thuốc lá, thiên tài ăn diện đẹp, thiên tài nhịn đói, thiên tài không học cũng thi đỗ, thiên tài đi phòng trà không tốn tiền, thiên tài đi hội thảo...

- Còn ở đây?

- Ồ, trong quân trường lại còn nhiều thiên tài hơn nữa. Thiên tài "mang bình hơi", thiên tài khai bịnh, thiên tài đánh giày, thiên tài "chà láng", thiên tài ghi sổ câu lạc bộ, thiên tài ngủ gục... Bích Tiên biết không, có thằng đi giữa trời nắng chang chang mà vẫn ngủ được ngon lành.

Nàng nói có vẻ trách móc:

- Anh thích nói đùa lắm nhỉ.

Anh lắc đầu. Những điều anh nói không có gì là đùa nghịch cả, anh thực tình tin rằng đó là những thiên tài vững chắc nhất, không một nhà phê bình nào hạ bệ được cả.

Hai người cứ ngồi nói chuyện vẩn vơ, chung quanh là nhạc đệm vô tình, có bài hay bài dở. Giọng nói của nàng mơ hồ:

- Mình nên về, ngồi lâu quá rồi.

- Ồ, có sao đâu. Tôi cũng là một thiên tài ngồi lì quán nước nữa. Tôi có thể ngồi quán suốt ngày chỉ với một ly trà đá uống cầm chừng.

Lãng cũng hơi buồn. Tóm lại, anh là một bậc thiên tài về những điều vô ích.

- Biển ban đêm đẹp lạ lùng lắm, anh sẽ thấy...

- Tiếc thật, đến bốn giờ chiều là tôi phải trở vào trại rồi, chậm một chút là "chết thảm".

- "Chết thảm"?

- À, đó lại là tiếng hay dùng trong quân trường nữa. Đại khái là nếu tôi "chết thảm", có nghĩa là bị "quây" mệt bở hơi tai. Đeo ba lô, súng đạn, nón sắt lên trình diện dã chiến. Nhảy xổm, hít đất, song phi vào thế chừng trăm cái cho mệt lả người. Rồi có thể được lịnh chạy hồng hộc đi xin chữ ký của một thằng bạn chuyên môn trốn biệt vào một câu lạc bộ bí mật nào. Hay có thể thơ mộng hơn, chạy nước rút vòng quanh sân để làm thi sĩ đếm xem có bao nhiêu cây bàng trút lá. Xong rồi lại được lịnh trong hai phút phải cởi ngay bộ đồ trận để mặc may ô, xà lỏn chạy ra, rồi lại chạy vào thay bộ đồ đi phép có thắt cà vạt đàng hoàng, rồi lại thay bộ đồ trận...

- Vui nhỉ.

- Trời ơi, cô bảo thế là vui sao?

Con gái nhiều khi vô tình thế đấy, hay cười nghịch ngợm những lúc mình khổ muốn chết. Nhưng anh nghĩ lại có lẽ đó là những kỷ niệm đáng nhớ. Lãng nhắm mắt lại, mường tượng đến những ngày qua. Sáu ngày nhọc mệt đổi lấy tám giờ phép ở thành phố. Bây giờ ngồi đây chân tay muốn duỗi dài, buông lìa hết mọi chuyện.

Quân trường cách biệt bên ngoài bằng một hàng rào kẽm gai, nhưng đã cách quá xa. Giấu mình kín đáo trong những hàng cây dương, là trại lính, là một thế giới lạ lùng. Ào ạt suốt ngày đêm như con thác nước. Những thân người thanh niên rám nắng, ướt nhầy mồ hôi, đeo đầy quanh người súng đạn. Những hơi thở dốc trên triền đồi cao, nắng cháy lênh láng trên da những buổi trưa đường xa mù mịt. Tiếng chân chạy, tiếng hô rầm rập quay cuồng. Ăn ngồm ngoàm trong mồ hôi nhỏ giọt, ngủ lăn lóc trên đất cát, trong rừng cây. Có sớm mai tỉnh dậy thấy tóc tai và chăn ướt mềm sương muối mà đêm qua vẫn ngủ mệt mê. Thèm những điều bé nhỏ tầm thường nhất. Thèm một hơi thuốc đen dưới bóng cây, thèm một ngụm nước lã khi mặt trời đốt khô cuống họng, thèm buổi trưa được ngã mình dăm ba phút dưới bóng mát một bụi cây rừng, thèm một tách cà phê đen thong thả buổi sớm. Có đêm khuya đi hoài trong rừng xa, lại thèm được nhìn thấy chiếc giường của mình trong doanh trại.

- Bích Tiên biết không, tôi rất thèm ngủ dậy được thấy mặt trời.

Nàng ngạc nhiên không hiểu, Lãng giải thích cho nàng. Từ nhiều tháng nay, sớm nào tiếng chuông báo thức cũng lôi đầu anh dậy từ lúc bốn giờ, trời tối đen như mực. Đã lâu không được cái thú mở mắt là nhìn thấy ánh nắng tràn đầy vào phòng.

Nắng lên cao, biển chói chang màu sáng bạc. Trời đã trưa, những người đi tắm biển lần lượt về nhà hay vào nằm dưới những chiếc dù xanh đỏ. Bích Tiên nhìn anh, đôi mắt thoáng buồn, nàng nói rằng nàng phải về nhà, cuộc dạo phố ngày chủ nhật giờ đây đã chấm dứt. Lãng đòi đưa nàng về nhưng nàng từ chối, anh hẹn tuần sau nhưng nàng nói không hứa chắc được. Thật đáng buồn, thời buổi gì mà ít oi thì giờ quá. Cái gì cũng vội vàng gấp gáp. Gặp gỡ chuyện trò, chưa kịp tiến tới đâu cả thì đã chấm dứt. Như một giọt nước mưa rơi quá nhanh, mới buông mây mà đã vỡ tan trên đất.

Áo lụa Bích Tiên xanh mềm, anh thích được gần màu áo ấy. Nếu gặp nhau vào thời nhàn hạ hơn, biết đâu sẽ có dịp cầm tay nàng, đầu óc dư thừa lãng mạn để nói đôi câu tình yêu. Tóc thiếu nữ sẽ buông thả trên tay anh, và đôi môi tươi màu nắng biển, anh sẽ biết.

- Thôi em về ạ. Chiều anh nhớ vào trại cho đúng giờ kẻo bị phạt nhé.

Bích Tiên bỏ đi. Lãng cũng bỏ đi. Thôi đã qua một buổi sáng dễ thương. Ở một nơi chỉ quen thuộc với mệt nhọc và khô cạn như một tảng đá núi, mà tình cờ lông bông ngoài phố, quen được một thiếu nữ như Bích Tiên, có được một khoảng thời gian chuyện trò êm ái, nghe tiếng nói con gái reo vui bên tai. Như thế cũng là một nỗi hạnh phúc lớn lắm rồi, hiếm khi bắt gặp được.

Và Lãng bỗng ngẩn ngơ. Anh có gặp một thiếu nữ nào sáng hôm nay đâu. Anh chỉ ngồi quán nước một mình lặng lẽ, đâu có nàng Bích Tiên nào bên cạnh, với đôi mắt trong và làn da rám nắng. Anh nhìn lại quanh mình, chỉ có biển cả và anh. Anh không còn hiểu gì hết.

Hay như trên cõi sa mạc hoang vắng, ta thường mơ thấy mình được gục đầu trong một lòng suối mát. Con suối cạn tầm thường, ở một nơi chốn như thế đã ngon tuyệt vời như trái cấm địa đàng. Những điều tầm thường, nhưng nhiều khi chỉ là giấc hư ảo.

Buổi chiều xuống, màu đại dương sậm hơn. Những cánh buồm no gió kêu gọi mộng hải hồ.


HOÀNG NGỌC TUẤN    

(Trích từ tập truyện ngắn Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, nxb An Tiêm 1972)