Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2023

SÔNG KỸ NỮ - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Huế, mỗi lần muốn đi chơi bời thường phải xuống ngủ đò. Nhà chứa trên bộ, như những xóm và đường hẻm ổ nhện kiểu Saigon, ở đây hiếm có lắm. Bởi vì thành phố nhỏ quá, mọi người điều biết rõ mặt mũi nhau. Đi đâu, làm gì dầu trong góc ngõ tối nào, dầu có đề phòng chu đáo đến đâu thế nào cũng bị mọi người thấy được.

Và khi bị bắt được đang đi tìm cái chuyện đó thì, thôi không đường cứu chữa. Bao nhiêu phong tục cổ kính, danh giá, đạo đức truyền thống thi nhau ập xuống nạn nhân như một màn lưới khắc nghiệt.

Bởi thế ngủ đò là kín đáo nhất. Tôi là người kín đáo nên vào một đêm nào đó... Chiều mới tắt ánh nắng, gió mát dịu dàng, buồn nản quá mà lòng thì rạo rực. Tôi đi nhanh vào bóng tối âm u dưới những lùm cây che đậy rộng rãi, xuống bến Thương Bạc.

Mụ Xép đang ngồi trên chỏng tre, chỗ tạm trú để rước khách của mụ đặt cách bờ sông một quãng. Đò cắm sào nằm san sát bên nhau, mù mù ánh đèn dầu.

Mụ Xép lấy điếu thuốc Cẩm Lệ đang bẹp dí trên miệng :

- Chà, lâu lắm mới thấy ‘‘thầy’’ đi chơi.

- Ờ...ờ. Tiền đâu mà đi chơi hoài được. Còn đò nào trống không ?

- Còn cả lô đó. Mà thầy có bạn bè gì không?

- Không tôi đi chơi một mình,

Mụ Xép gục gặc đầu. Mụ kêu một thằng nhỏ dẫn đường cho tôi, bước trên tấm ván bấp bênh nối liền bến sông với khoang đò. Tôi nằm dựa người trên sàn gỗ, hút thuốc lá thong thả chờ đợi. Lát lâu, mụ Xép mới xuống đò, mụ ra mui trước, nhổ sào. Tiếng chèo róc rách quậy dưới nước, đò từ từ tách bến. Giọng nói của mụ Xép pha thêm tiếng cười cợt từ khoang trước vọng ra :

- Thầy ngủ ‘‘chay’’ hay ngủ ‘‘mặn’’?

- ‘‘Mặn’’. Ngủ suông không có cô nào thì thà nằm nhà còn hơn.

Giọng mụ oang oang kêu lớn :

- Con ơi !

Có tiếng ‘‘dạ’’ đâu đó rồi trong thoáng chốc, một chiếc ghe loại thật nhỏ, nhẹ, lướt thoăn thoắt tài tình giữa một đống đò nằm chật chội bên nhau. Cô gái, con của mụ Xép, cập ghe nhỏ của cô vào mạn đò. Cô không hút thuốc Cẩm Lệ như mẹ nên tôi không cảm thấy nồng nặc khó chịu khi cô gần bên tôi, mỉm cười :

- Bữa nay thầy kêu cô nào ?

- Tôi đâu nhớ hết ai. Kêu giùm ai cũng được...

Và tôi níu đò của cô gái lại, bông đùa :

- Nếu có ai đẹp bằng một chút xíu của cô thì tốt lắm.

Cô gái nghiêm nét mặt lại. Mặt cô hơi ửng đỏ nhưng vì giận dỗi hơn là e thẹn. Rồi cô chèo đò vút nhanh đi mất hút trong bóng đêm.

Tôi nhìn theo, nhưng chẳng còn thấy được gì. Cô gái thật lạ lùng, công việc rước gái về cho khách làng chơi của cô dĩ nhiên không được đứng đắn lắm, nhưng tôi thấy chẳng có khách nào cợt nhã chọc ghẹo gì cô được một tiếng.

Trong thế giới lạc thú rã rượi của những con đò trên sông, cô có vẻ như là một cánh sen trong bùn. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, tôi không biết cô còn giữ được người thanh sạch cho đến bao giờ, trong khi mẹ cô là một bà chủ đò kiêm chủ chứa, vây bọc chung quanh cô mỗi ngày mỗi đêm là những ả gái điếm dày dặn thô lỗ.

Thế rồi, không lâu lắm, trước khi gió nhè nhẹ làm tôi buồn ngủ, cô gái chở đến cho tôi một ả gái điếm. Tôi không nhìn thấy mặt và cũng chẳng cần nhìn thấy mặt cô nàng này.

Mụ Xép chèo đò ra xa hơn chút nữa. Tách khỏi những con đò nằm chật chội, chiếc đò mang tôi và ả gái điếm từ từ trôi trên sông. Chỉ ra thêm một chút thôi, để cách xa với tiếng nói cười ồn ào của những con đò đồng nghiệp khác, rồi mụ Xép cắm sào, buộc đò dừng lại. Thời này đâu còn có thể cho con đò mặc tình buông lơi tha hồ trên dòng sông trôi suốt đêm cho đến tận cầu Bạch Hổ hay ngược về phía Cồn Hến.

Ả gái điếm xin tôi điếu thuốc lá, tôi thắp lửa cho cô nàng để thêm một chút thân mật. Tôi ôm ả nằm xuống khoang đò, da thịt vuốt ve sơ sài lấy lệ cho một chút cảm giác lơ mơ. Tôi không thấy khoái lắm. Đi chơi điếm mỗi lúc mỗi thấy chán, nhưng còn có cách nào khác hơn đối với người độc thân, vì đó là cách thỏa mãn nhanh nhất và rẻ tiền nhất, và do đó, thật vô vị trống rỗng nhất sau một chút sướng khoái ngắn ngủi.

Nhất là gái điếm ở Huế. Thành phố cổ kính phong phú này không xuất sắc về mục đó. Dân địa phương ít người dám làm nghề này, và gái điếm ở đây hầu hết là những cô nàng đã xơ xác ế ẩm ở những động rẻ tiền từ Saigon, phải lưu lạc đến tận chốn này tha hương cầu thực,

Cô nàng rúc đầu vào ngực tôi nghịch ngợm, rồi vùng dậy ôm lấy mặt tôi định hôn. Tôi cũng ôm chặt lấy mặt ả nhưng cốt chỉ để không cho cô nàng hôn được. Miệng tôi đầy khói thuốc lá, thôi cũng được đi. Nhưng thêm một cái miệng đầy thuốc lá đủ hiệu : thuốc thơm Mỹ, thuốc Ăng Lê, thuốc đen gốc Pháp, thuốc Cẩm Lệ... của cô nàng thì không được một chút nào.

Cô ả ỏng ẹo :

- Sao anh không hỏi tên em ?

- Ờ... ờ... Em tên gì đó ?

- Lệ Hoa.

- Ờ. Đẹp như hoa. Rồi sao nữa ?

Cô nàng thở dài :

- Trước kia em đâu có như thế này. Anh biết không, hồi đó ..

Tôi biết nàng sắp tâm sự về quá khứ ly kỳ của nàng như thường lệ. Nhiều khách chơi thường thích lắng tai nghe dĩ vãng của các cô nàng, thường thắc mắc ra điều ái ngại hỏi han tại sao em lại ra đến nông nỗi này, bao lâu rồi và em hãy hoàn lương trở về.. v.v... Những ông khách đó kể ra cũng nhiều tình cảm thật, mặc dầu thỉnh thoảng là vì họ bí đề tài, nếu họ là những thi sĩ và văn sĩ.

Tôi ngăn lại. Cô nàng có vẻ bực bội vì không được kể lể cho sướng miệng, và cằn nhằn dục tôi :

- Thôi, vào ‘‘đi’’ lẹ cho rồi, anh.

Tôi gật đầu, vén tấm màn vải chui trước vào khoang đò. Một tấm chiếu đã được mụ Xép trải sẵn đó, thêm với ánh sáng từ ngọn đèn dầu trên bàn. Cô gái điếm hành động như một cái máy, ả đem chiếc thau nhỏ ra múc nước sông đem vào để ở một góc. Rồi ả kéo tấm màn vải đóng lại. Một khoảng trời đêm cao vời đột ngột bị che kín. Ả cầm lấy cây đèn dầu, hỏi tôi :

- Anh thích để đèn sáng hay tối.

- Tối.

Tôi định nói thêm ‘‘… đối với em’’ nhưng thấy như thế thì tàn nhẫn quá nên kịp ngừng lại. Có những cuộc ái ân cần phải để ánh sáng rực rỡ chói lòa cho mình hưởng trọn da thịt nồng nàn kỳ diệu của đàn bà, không bỏ sót một chút nào, kể cả mắt say sưa nhìn ngắm thân thể mình và người khác nối liền tan hòa với nhau, nhịp nhàng đồng điệu. Nhưng đối với ả gái điếm này, ánh sáng chỉ đem lại cảm giác chai lì trân tráo. Phải mù mới có thể làm tình với cô nàng được.

Trong bóng tối đen đặc của khoang đò. Tôi và cô gái điếm, làm cái chuyện thông thường. Có lẽ cô nàng đang nghĩ đến số tiền năm trăm đồng chốc nữa sẽ lấy của tôi. Tôi thì đang nghĩ đến năm trăm đồng mình sắp mất. Và cứ thế, cả hai cứ gấp rút cho xong chuyện. Đâu còn cái thời những nàng kỹ nữ với tiếng hát truân chuyên bên tiếng đàn tiếng phách và nhịp trống chầu. Kỹ nữ ngày xưa còn biết dùng dằng lưu luyến khách ở lại cùng em thêm chút nữa...

Thời nay, những nàng ấy sa sút quá rồi, chỉ còn là thúc hối, vội vàng, càng nhanh càng tốt. Như cô gái đang nằm trong tay tôi. Áo đầy mùi mồ hôi, quần đen rộng thùng thình, lại chỉ được buộc bằng một thứ giải rút gì mà tuột ra nhanh quá.

Nỗi ngất ngây đắm đuối của tình ái, bí nhiệm của thân xác người nữ, xúc cảm lớn lao và sâu đậm của hoan lạc... Những điều tuyệt vời ấy ngày nay đã dần dần mòn mỏi, mất mát. Những nhà nghệ sĩ lớn nhất của thời đại là những kẻ đem hết đời mình để cứu vãn điều ấy. Tôi muốn sát cánh bên họ... Nhưng đêm nay, tha lỗi cho tôi, tôi lập lại một cách nhàm chán hành động tẻ nhạt đó.

Xong xuôi. Cô gái chồm dậy, lại gần thau khoát nước rửa sơ sài. Rồi ả vén màn, ra trước mui đò, đổ thau nước xuống sông. Một chút nước tan mất lẹ làng, không một dấu vết trong dòng sông đang lềnh bềnh với những khóm lục bình trôi nỗi. Sông Hương, dòng sông ban đêm man mác huyền hoặc, soi sóng sánh dưới làn nước đen thẩm, là hình ảnh vỡ nát của bộ mặt phấn son cười gượng gạo.

Dòng sông. Ban ngày thì thắm thiết một màu xanh, sóng nước gợn nhẹ lung linh trong ánh nắng.

*

Giọng mụ Xép vẳng ra từ mui trước :

- Con ơi !

Lần này không có tiếng trả lời mau lẹ như trước.

- Sương ơi, Sương...

Bây giờ tôi mới biết có con gái mụ Xép tên Sương. Mập mờ trong bóng đêm, có lẽ từ bến nước, con đò nhỏ của cô lại lầm lũi tiến ra thoăn thoắt.

Ả gái điếm véo vào tai tôi ra dấu từ biệt, cô nàng xuống đò nhỏ, và còn nheo nhéo thêm vài câu với tôi, vài lời gượng tình tứ một cách giả lả. Tôi vẫy tay chào, thắp cho nàng thêm điếu thuốc. Lúc đó, tôi bỗng bắt gặp đôi mắt của cô Sương nhìn tôi. Tôi không thấy rõ lắm vì mặt cô cúi gằm xuống nhưng hình như ánh mắt cô ấy có một dấu hiệu gì tỏ vẻ buồn rầu. Điều này làm tôi đau lòng, như vừa phạm tội trước một người chứng nghiêm khắc. Tôi cũng hơi ngạc nhiên nữa, một người chuyên chở gái về cho khách như cô Sương, đáng lẽ cô phải thản nhiên lạnh lùng lắm đối với những cảnh màu mè gai mắt như thế này.

Nhưng rồi tôi không biết thêm điều gì cả. Con đò của cô Sương, mang theo một gái giang hồ, đã quay đi và lùi xa dần, mất hẳn trong một xó tối bí mật nào.

Cách một tấm ván che ngăn đôi khoang đò ra làm hai, tiếng mụ Xép vọng ra :

- Vui vẻ không thầy ?

- Ờ, cũng tạm được.

- Lát nữa có ghe bán đồ ăn chèo qua, thầy kêu vài hột vịt lộn ăn cho chắc bụng rồi ngủ cho khỏe,

- Ờ. Mà cô Sương...

Giọng mụ Xép có vẻ hãnh diện :

- Con nhỏ đó hả ? Nó siêng năng lắm, thầy. Còn đi đây đi đó đến nửa đêm rồi về đây ngủ với tôi.

Tôi ngần ngại :

- Cô ấy cũng còn nhỏ. Ban ngày không đi học hay làm gì à?

- Thôi, thôi. Tốn tiền lắm, có được một đứa gái lớn, nó phải lo chợ búa nấu nướng giặt gịa. Ban đêm, mời khách giúp đỡ tôi chút chớ.

Mụ Xép chợt yên lặng. Có lẽ mụ đang nghĩ ngợi đến đứa con gái độc nhất của mụ. Không biết mụ có lo nghĩ phải kiếm cho con mình một tấm chồng tử tế, hay cứ để nó tiếp tục sống đều đặn ở bến đò đêm này mãi, bên cạnh những loại vạc ăn sương và mình thì lẻ loi rũ rượi như một con chim cú.

Có lẽ bây giờ đã đến nửa khuya, nhưng tôi không buồn ngủ. Ả gái điếm đã đi khỏi, giờ đây chắc cũng đang lập lại những động tác quen thuộc trong một khoang đò khác. Gợi chuyện, tâm sự kể lể, hôn hít, múc thau nước sông, cởi áo quần, tắt đèn... thắp đèn, đổ thau nước xuống sông, nhét tiền vào ngực áo... rồi đi đò khác. Tôi kinh hoàng vì những công việc chai lì máy móc như thế. Nhưng cô nàng biết làm sao hơn.

Một chiếc ghe nhỏ không mui, ngọn đèn le lói trong bóng tối tiến lại gần. Không phải là của cô Sương. Đây là chiếc ghe bán hàng rong như lời mụ Xép đã nói. Bà già chèo đò tấp sát lại, mời ăn, những món ăn ngon lành dành chờ khách chơi khuya thường hay đói bụng. Nồi bún bò bốc khói đặt khéo léo trong lòng ghe, lúc nào cũng giữ cân bằng thật tài tình, và hột vịt lộn, khô mực, đùi gà vịt, vài lon bia hộp, nước đá đã chặt thành từng thỏi chứa trong bao.

Tôi chỉ mua một chai bia lạnh. Rồi tôi dựa người trước mui đò. Trời tối. không phải mùa thu hay ngày rằm để có trăng. Đêm bỗng im bặt, lặng thinh. Chân cầu Trường Tiền xa xa lầm lì, những ánh đèn của thành phố trên kia tụ lại thành một đốm sáng, hay rải rác nhỏ nhoi dọc theo bờ sông. Trên bờ, cả thành phố đang say ngủ. Những cô trinh nữ đang yên giấc trong cánh cửa đóng kín, mộng hiền hòa dưới vầng trán phẳng chưa một nếp nhăn, mà đôi môi biết có vô tình thầm thì lời mời gọi nào.

Chỉ có những con đò là lặng yên nằm an phận khép nép dưới bến riêng, như một đảo hoang nằm bên ngoài thế giới. Mỗi con đò cũng có sơ sài chiếu mền, như một mái nhà, nhưng làm sao được như một mái nhà. Đò bềnh bồng trôi nổi, mảnh mai trong mùa đông có nhiều đêm mưa bão. Dưới chân, chung quanh, thiếu đất đai vững bền ấm áp để có thể ươm vài loài cúc tím hay trong một luống khoai xanh lá. Mọi thứ đều đổ xuống dòng sông, mà dòng sông thì luân lưu, trôi đi, trôi xa bất tận...

Có tiếng chạm nhẹ vào mạn đò làm tôi giật mình. Cô Sương cột chiếc ghe nhỏ của cô sát vào đò của mẹ. Cô sửa soạn dọn dẹp mấy mái chèo. Tôi gợi chuyện

- Cô Sương không đi ngủ à, khuya rồi.

Có gái ngạc nhiên ngước nhìn tôi :

- Sao ông biết tên em ?

- Lúc nãy, mẹ cô mới kêu đó.

Cô hơi mỉm cười ra vẻ chợt hiểu, cô vấn mái tóc mình ra đàng sau, cột lại bằng một mảnh vải nhỏ. Áo ngắn tay đen, làm nổi hẳn làn da trắng khi cô cúi xuống vốc nước rửa mặt một cách tự nhiên. Tôi thấy khuôn mặt cô thơ dại quá, có lẽ vừa mới đến tuổi hai mươi là cùng.

- Cô Sương mệt lắm không,?

- Không, ông à. Quen rồi, đêm nào cũng chèo đi chèo lại thế này mà.

Khi cô Sương níu vào mạn đò để bước qua, tôi đưa tay định dìu cô cho khỏi ngả nhưng cô tránh đi.

Cô hỏi :

- Ông còn cần gì nữa không ? Ông chưa ngủ đi, khuya rồi đó.

Tôi lắc đầu. Cô bước vào khoang thuyền dành cho khách, và đêm nay tôi là người thuê. Cô thản nhiên cuộn chiếc chiếu bẩn lúc nãy tôi và cô gái điếm đã nằm lên, và thay một chiếc chiếu khác.

Chiếc ghe của bà già trở lại, lấy tiền và vỏ chai bia. Tôi hỏi cô Sương có uống gì không nhưng cô cứ lắc đầu từ chối mãi. Cuối cùng, tôi vẫn mua một lon nước cam còn khá lạnh. Khi ghe của bà bán thức ăn đã bỏ đi, cô Sương chợt mỉm cười. Mắt cô long lanh, một chút tinh nghịch như trẻ con :

- Em chở cô Hoa đến cho ông. Ông thích lắm nên thưởng một chai nước cam phải không ?

Tôi cũng cười nhưng không biết nói gì. Hình như có tiếng thở dài của cô Sương, rồi giọng cô ngập ngừng:

- Mấy ông thiệt sướng. Lúc nào muốn vui, lại xuống đò ngủ một đêm, rồi sáng mai, đi đâu, đi miết. Và ban ngày chắc lại còn nhiều thứ nữa.

Tôi chờ cô uống một ngụm nước. Rồi tôi nói :

- Chán lắm.

- Em mới là chán. Ngày nào cũng như ngày nào, cứ ở mãi đây.

- Chứ Sương thích đi đâu ?

Cô Sương đưa lon nước cam cho tôi. Tôi vốn ghét nước cam nhưng nhìn thấy môi cô mướt ươn ướt vì mới uống xong một chút, tôi uống trọn một hơi dài. Và nghe cô nói

- Em không biết... Nhưng ông thấy ở đây vui không?

- Buồn chết

- Em mới là buồn, ông à.

Tôi lặng thinh giây lâu. Cô Sương cởi sợi dây buộc tóc cho mái tóc xỗ dài xuống vai, rồi cô nói:

- Thôi, em đi ngủ. Mai chắc ông dậy đi sớm?

Tôi gật đần nói thêm :

- Nhưng tối mai tôi sẽ xuống đây lại.

Cô Sương đi nép bên mui đò từng bước để ra khoang trước, nơi mụ Xép không biết đã ngủ hay chưa mà nãy giờ không thấy lên tiếng gì cả. Cô quay đầu lại:

- Ông xuống đây mãi mà làm gì, tiền thuê đò, tiền ‘‘này nọ’’ tốn lắm. Sao ông không ngủ nhà?

Tôi nói đùa :

- Ở trên đất chán lắm.

- Không đâu...

Mắt cô hình như mơ màng nhìn lên hàng cây chập chờn ven đường.

- Trưa nào em cũng thấy mấy cô học trò tan trường về, đứng đầy bến đò, trắng cả bờ sông... vui lắm...

Và cô Sương đã ra đến khoang trước, giọng cô thoảng lại nhỏ nhoi và xa vắng trong đêm tối.

-Em không được như họ...

Tôi đứng yên nhìn theo hoài nhưng cô Sương đã vào trong khoang đò với mẹ. Lát sau, tôi cũng vào nằm, không ngủ được nhưng vẫn tắt đèn.

Bên kia vách ván. Có tiếng trở mình nặng nề làm đò hơi chao đi. Tôi nghe chập chờn giọng hai mẹ con nói chuyện:

- Ông khách ngủ chưa con ?

- Lâu rồi.

- Tối nay khá không ? Con đưa được mấy đò?

- Gần mười.

- Ờ. Được rồi. Thôi ngủ đi, sáng sớm nhớ giặt mấy chiếc chiếu, mấy bao gối cũng đã dơ lâu lắm rồi.

- Mẹ khỏi dặn... Này mẹ...

- Gì đó nữa ?

- Thôi... không gì hết, con buồn ngủ rồi, Thôi...

Và hoàn toàn im lặng. Tôi chờ đợi lúc lâu vẫn không nghe thêm lời nào nữa. Cô Sương, cô định thốt lên lời băn khoăn nào, cô sắp sửa cầu xin mẹ một điều gì... nhưng sao tiếng tỏ bầy ước mơ chưa trọn, đã nhẫn nhục câm nín, như nghìn đêm đã âm thầm qua trên dòng sông quen của cô.

Sáng mai, bầy nữ sinh kiều diễm của Huế sẽ rộn ràng khắp đường đi, qua mấy nhịp cầu, qua đò sang sông, thả tay giỡn nước. Áo lụa trắng, cặp da đen và đôi má tơ đào, mắt trong xanh như mùa lá mới.

Ở một góc bến xa hơn, cô Sương sẽ ngồi trước mui đò, giặt những chiếc chiếu bẩn đêm vừa qua. Dòng sông không phải đối với ai cũng êm đềm thơ mộng.

 
HOÀNG NGỌC TUẤN      
 
(Trích từ tập truyện ngắn Chuyện Hai Người) 
 

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2023

TIẾNG GIÓ THÁNG HAI - Nhã Uyên

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Vậy là hết,  chưa gì đã hết Tết

Tết vội qua như ngày tháng vội qua

Hoa mới nở nay rụng khắp sân nhà

Bạn bè cũ nay nói lời  tạm biệt


Chỉ vài tuần  mà tưởng chừng  thân thiết

Mỗi ngày vui  quen những tiếng rao hàng

Trong phố phường  nhộn nhịp bước lang thang

Thành kỷ niệm theo thời gian năm tháng


Trời bên nay mưa  xuân vào buổi sáng

Nhẹ rơi  đều trong tiếng gió  tháng hai

Không gian lạnh  chừng như muốn kéo dài

Những rét mướt của mùa đông năm cũ


Cánh hoa xuân nay đã tàn héo rũ

Mà người đi đi mãi vẫn chưa về

Một mùa xuân chưa tỉnh giấc u mê

Khi người đi... đã đi vào dĩ vãng...



                                  Nhã Uyên
 

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2023

NGÀY NÀNG TRỞ LẠI - Nhật Tiến

 


Chiều hôm ấy, khi vừa đi làm  về thì Huy nhận được điện thoại của anh Hải. Giọng của anh vẫn rổn rảng như hồi nào, từ hơn hai năm trước, thời  kỳ mà Huy còn  chia một phòng trong  căn nhà ấm cúng của anh chị ấy:

– Huy đấy hả? Hải đây.

– A! anh Hải. Lâu lắm rồi mới  được nghe lại giọng của anh. Anh chị vẫn bình thường cả chứ ?

Hải cười hề hề:

– Thì vẫn vậy.  Còn cậu thì sao? Dễ đến sáu tháng nay mình không gặp nhau rồi đấy nhỉ? Cậu có gì  vui không hay là vẫn sô lô vò võ một mình.

– Gớm, nghe anh nói mà tôi cứ tưởng mình đang rũ dần rũ mòn. Cuộc sống sô lô nó cũng có những cái thuận lợi riêng của nó chứ. Nhưng mà này, chắc anh điện thoại cho tôi không phải chỉ vì tấm lòng ưu ái quan tâm đến chuyện độc thân tại chỗ của tôi đấy chứ.

– Cũng chưa thể nói là đúng hay  là sai một cách vội vã được. Cái đó cũng còn tùy.

Huy la lên:

– Gớm! Sao mà hồi này anh lại sinh tật úp úp mở mở, hồi trước đâu có thế.

– Thì chuyện đâu vẫn còn đó. Thôi  này, nghe tôi hỏi, cậu còn nhớ Quỳ không?

– Cô Quỳ cũng chia một căn phòng trong nhà anh chị ấy à?

– Còn ai  vô đấy nữa.  Hiện nay, cô  ấy vẫn còn  ở đây. Cuối tuần này, chúng tôi tổ chức mừng sinh  nhật Quỳ nên mới điện thoại mời cậu đây.

Huy ngớ người  ra như không tin ở  lỗ tai của mình. Phải  lặng đi một giây, chàng mới lên tiếng hỏi, giọng còn đầy vẻ ngạc nhiên:

– Anh nói cái gì? Tổ chức sinh  nhật cho cô Quỳ đấy à? Chuyện lọa ở đâu ra mà động trời như vậy.

Ở bên đầu dây, Hải  cười rất thích chí:

– Thì thế mới  mất công điện thoại cho cậu.  Nào, có nhận lời hay không thì nói quách đi cho rồi. Cấm hỏi han gì lôi thôi.

Huy láu táu:

– Được chứ. Chỉ nội một cái sự lọa  ấy cũng đủ để cho tôi hy sinh một buổi chiều cuối tuần rồi.

Sau khi  hỏi lại ngày  giờ buổi tổ  chức sinh nhật,  Huy cúp điện thoại xuống mà lòng chưa hết xốn xang. Có thể  nói, đối với  Huy, Quỳ là  một nhân vật  khá kỳ lạ.  Nàng không còn trẻ lắm, ước chừng ngoài ba mươi, không đẹp nhưng khuôn mặt khả ái với nước da trắng mịn màng và một mái tóc óng ả, buông xõa tới ngang lưng. Nàng rất ít nói, lại càng không hay cười, hầu như trong một thời gian gần một năm trời ở chia phòng tại nhà anh chị Hải, chưa một lần  nào Huy bắt gặp một nụ cười của nàng trên vành môi lúc nào  cũng ửng mầu hoa đào. Nàng có một tâm sự u uẩn, điều này hiện rõ  trong đôi mắt đen láy, khá to, ẩn dưới đôi lông mày tuy không được chăm sóc nhưng cũng rất cong, và dài, đôi  mắt đượm vẻ  thờ ơ như  phản chiếu một  tâm hồn lúc nào cũng chìm đắm  trong một thế giới riêng biệt,  không quan tâm đến bất cứ một sự việc gì đang xẩy ra ở chung quanh.

Hôm đầu tiên đến  thuê phòng ở nhà anh chị Quảng,  chị ấy đã giải thích:

– Nếu anh cần sự  yên ổn thì ở đây là lý  tưởng. Chúng tôi chỉ có hai vợ  chồng, không con  cái, ở một  phòng. Một phòng  nữa đã có người thuê từ hai năm nay. Rất kín đáo, rất ít lời, không bao giờ làm phiền ai….

Hải thật thà xen vào:

– Nói thế thì cũng không đúng hẳn. Cũng phải cho anh ấy biết kẻo sau này lại  trách là mình không nói trước. Người thuê căn phòng bên cạnh là một phụ nữ rất kín đáo, điều đó đúng, nhưng cô ta sống bằng  nghề may thuê. May tối ngày, sáng đêm, bẩy  ngày một tuần, bất  kể là ngày thường hay thứ  bẩy, chủ nhật.  Tuy nhiên, tiếng máy chạy cũng không ồn lắm đâu. Tôi đã dành một phần cái gara cho cô ấy sử dụng.

Điều này, đối với Huy cũng không  có gì phiền hà lắm. Một vài đêm đầu dọn  tới ở, giấc  ngủ của Huy  thường được ru  bằng tiếng máy chạy rù rì. Nhiều hôm thức giấc vào quá nửa đêm, Huy vẫn còn nghe thấy tiếng máy chạy. Có lần Huy tò mò hỏi Hải:

–  Cô Quỳ sống độc  thân, có gì phải lo mà sao  cô ấy làm việc dữ vậy. Suốt gần một  tháng ở đây, tôi chưa thấy lúc  nào cô ấy nghỉ ngơi hay giải trí.

Hải cười:

– Người ta xây dựng tương lai đấy. Quả là một người kiên trì số một.

Rồi Hải hé cho Huy biết sơ qua một chút về đời sống riêng tư của nàng. Quỳ  sang đây đã  hơn ba năm. Diện tỵ nạn  vì nàng đã vượt biển cùng với gia đình chỉ gồm có  một bà mẹ và một em gái. Bà mẹ không may đã  chết vì kiệt sức trên  biển. Cô em gái thì  đã lấy chồng và rời đi một tiểu bang  khác. Thế là nàng chỉ còn sống đơn phương có  một mình. Tuy  nhiên niềm hy  vọng của nàng  trước sau không bao giờ thay đổi. Bởi vì  nàng còn có người hôn phu còn kẹt lại ở Việt Nam. Hai người tuy chưa chính thức đính hôn, nhưng Quỳ vẫn tự cho là mình đã gắn bó và tất cả niềm vui cũng như năng lực của nàng, bây giờ là dành cho những dự định tương lai. Kiếm một số vốn rồi trở  về Việt Nam làm hôn lễ. Đó là  lý do nàng đã sống trong suốt  mấy năm trời  cuộc đời của  một chinh phụ  chờ chồng. Không ra  ngoài. Không bạn bè. Không giao tiếp với  ai. Mục tiêu duy nhất của nàng  ở cái xứ sở xa lạ này  là kiếm tiền bằng những giờ cặm cụi may vá. Thật là một mẫu người phụ nữ tuyệt hảo trong lãnh vực trung thành với tình yêu.

Vậy mà hôm nay Hải lại mời chàng  đến dự một buổi sinh  nhật của Quỳ, thì làm sao chàng không thể ngạc nhiên cho được. Hẳn là phải có một sự thay  đổi gì rất lớn lao mà Huy  tò mò muốn biết. Chàng sẵn sàng hy sinh một buổi tối cuối tuần để tìm hiểu xem chuyện gì đã xẩy ra cho con người thầm lặng và trung kiên như thế.

Buổi họp mặt không đông đảo như  Huy dự tưởng. Cả thẩy chỉ có sáu người. Anh chị Hải, Quỳ, Huy và  thêm một cặp vợ chồng già, những người đã đến thuê  căn phòng mà trước đây Huy đã  dọn đi. Chỉ cần điểm mặt sơ qua, Huy đã thấy  ngay được dụng ý của Hải. Anh chàng này chắc toan  tính làm chuyện môi giới gì  đây. Điều này làm Huy có ý nghĩ vui và khiến chàng chú ý đến Quỳ một cách đặc biệt hơn.

Hôm nay nom Quỳ hoàn toàn khác  hẳn với hình ảnh mà Huy vẫn mường tượng  trong đầu.  Trước hết  là ở việc trang  điểm, một điều mà trước đây chưa bao giờ Huy được  thấy nơi nàng. Với nước da trắng và mịn màng, chỉ cần thoa phớt lên một lớp phấn hồng, và đôi lông mày tô  hơi đậm hơn  lên một cách  kín đáo cũng  đủ khiến cho Quỳ lộng lẫy hẳn lên. Thêm vào đó, y phục của nàng cũng hoàn toàn đổi khác. Một chiếc áo sơ mi lụa mầu đen có điểm những nụ lấm tấm hoa vàng, mái  tóc chải kỹ  hơn, xõa  xuống  hai bờ vai  tròn trịa và buông lơi  vài lọn xuống  cổ áo phía  trước để lộ  ra một làn  da trắng nuốt nổi lấp lánh một sợi dây có gắn một mặt nạm đá quý mầu xanh biếc. Một mùi nước hoa  bay thoảng trong căn phòng chật hẹp, rất nhẹ  nhàng, phảng phất nhưng  cũng đủ khiến cho  Huy cảm thấy ngất ngây.  Lòng Huy chợt  rộn lên một  niềm xao xuyến  khó tả và chàng tự  trách thầm rằng  một đóa hoa  quý như thế  mà sao trong suốt hơn một năm trời sống ngay ở kế bên mà chàng nhìn không ra.

Quỳ đón  tiếp Huy bằng một  nụ cười. Hai mắt  của nàng linh động, lấp lánh. Nàng cất tiếng nhỏ nhẹ:

– Cám ơn  anh Huy đã  tới. Tôi  tưởng  anh không còn  nhớ đến mọi người ấy chứ.

Huy ấp úng, và thấy rõ mình không kiểm soát được mình:

– Sao…. Sao  mà tôi quên được.  Cô là một mẫu người siêng năng hiếm có.

Quỳ bật lên cười:

– Suốt ngày cắm cúi vào cái máy may bất kể mọi người chung quanh phải không?

– Vâng…  chính điều đó làm  tôi ngạc nhiên. Tôi  không bao giờ nghĩ rằng lại có một buổi như hôm nay.

Vừa nói, Huy vừa  đặt bó hoa hồng lên mặt bàn.  Chàng có cảm giác mình đang lấy lại sự thoải mái tự tin thường ngày:

– Thật đấy chứ! Ngay  cả lúc tôi vào tiệm mua bó  hoa này, mà vẫn ngỡ như mình nằm mơ!

Chị Hải cười ròn rã xen vào:

– Thôi xạo  vừa chứ ông  ơi. Chứ không  phải ông mới  chỉ bắt đầu thấy mình mơ từ lúc vừa bước chân vô phòng này à?

Huy mỉm  cười tự nhủ,  cái nhà bà  này lúc nào  cũng đầy vẻ  tinh quái:

– Ôi, chị  Hải ơi, chị  đừng có tố  cáo tôi như  thế cho tôi được phận nhờ chứ.

Trong một thoáng ngắn ngủi, Huy thấy ánh mắt của Quỳ chợt lóe lên và hai má của nàng hơi ửng hồng. Tự nhiên, chàng có cảm giác ngọt ngào như vừa được nhấp một chút hơi men. Buổi tiệc sinh nhật diễn ra trong bầu không khí hết sức cởi mở và thân tình. Sau  phần cắt bánh và mọi người  ngồi nhấm nháp với ly trà đượm ngát hương sen, chị Hải nói:

– Trà này cô Quỳ đem  từ Việt Nam qua đấy. Đúng là trà sen thứ thiệt.

Anh Hải giơ tay coi đồng hồ và nói:

– Mới hơn chín giờ, kể là còn sớm. Tôi đề nghị cậu Huy lái xe đưa cô Quỳ đi dạo mát một vòng.

Huy chưa kịp phản ứng thì Quỳ đã nói:

– Kể ra anh chị thật đã hết sức tận tình. Thì đi một vòng có sao. Cái đó chỉ còn tùy ở anh Huy thôi.

Huy vội nói:

– Thật không có điều gì hân hạnh cho tôi bằng.

Thế là chỉ trong vòng không đầy  hai mươi phút sau, Hải và Quỳ đã rời trung tâm thành phố  để đi  dọc theo con đường  chạy ven bờ biển. Một bên là những hàng cây  cao in bóng từng tàng lá rậm rạp xuống mặt đường để lại những lốm  đốm sáng lay động qua ánh trăng của một đêm chưa qua hạ tuần. Một bên là khoảng trống bao la, tầm mắt có  thể phóng tới  tận chân trời, ở đó biển như một tấm màn nhung xanh  thẫm thỉnh thoảng  lại nổi lên  một vài sánh  đèn lấp lánh của những con tầu nhỏ đang  buông neo hay di chuyển chậm rì.

Khung cảnh  hoàn toàn yên  tĩnh và  Huy  có cảm giác  như đang đi trong một giấc mơ huyền ảo. Chàng hết sức  gượng nhẹ đến cả từng hơi thở để không làm khua động Quỳ lúc đó đang ngả đầu trên thành ghế và  dõi cặp mắt  đăm đăm nhìn  ra phía ngoài  xa. Nét mặt của nàng rất bình thản, hầu như nàng đã rũ bỏ được mọi nỗi phiền muộn trong đời sống để tận hưởng những  giây phút hiếm hoi êm ả, thanh tịnh và vô tư như bây giờ.

Chiếc xe của Huy vẫn trôi  đi trong êm ái,  nhẹ nhàng. Con đường trước mặt tuy quanh co nhưng càng  lúc càng xa thành phố nên bóng cây thưa dần và đã đi sát vào mé biển. Trong không gian yên tĩnh, hai người  đã bắt đầu có thể nghe thấy tiếng sóng rì rào vỗ lên ghềnh đá. Đến một khúc quanh mở rộng, có khoảng đất  trống đủ để  làm chỗ đậu  cho nhiều xe  cộ nghỉ ngơi, chợt Quỳ nói:

– Mình ngừng ở đây đi anh. Ở đây khung cảnh có  vẻ giống như bãi Dâu ở Vũng Tàu.

Huy lẳng lặng lái xe vào chỗ đậu và tắt máy. Bây giờ thì chàng có đủ thời  giờ để quay sang nhìn ngắm khuôn mặt của Quỳ một cách chăm chú hơn. Trong ánh sáng trăng mờ nhạt, đôi mắt của Quỳ đen và sâu  thăm thẳm. Quỳ có vẻ không né tránh  cái nhìn của chàng. Thái độ ung dung của nàng biểu lộ  một vẻ đầy tự tin như thể nàng ý thức rất  rõ mình đang  đi đến đâu,  muốn làm gì. Rồi nàng cất tiếng:

– Tôi biết là anh có điều băn khoăn từ chập tối. Hẳn là anh muốn biết tại sao  tôi lại có thể hoàn  toàn thay đổi lối sống  nếu so tôi bây giờ với thời kỳ anh còn ở chung căn nhà với anh chị Hải.

Huy mỉm cười:

– Nếu cô không lên án là tôi tò mò thì xin  thú thật, quả là tôi hết sức băn khoăn, thắc mắc về chuyện đó.

– Thế thì để tôi giải thích cho  anh nghe. Hẳn anh cũng rõ, trước đây tôi có một vị hôn phu còn sống ở Việt Nam.

– Vâng. Tôi có nghe anh Hải nhắc tới.

– Anh ấy là  lẽ sống của đời tôi  trong suốt những năm dài  kể từ khi tôi đặt chân lên đất Mỹ. Đối  với tôi, hồi đó, chỉ có một mục tiêu duy nhất.  Đó là làm việc thật  cật lực để gây dựng  một cái vốn và trở về làm đám cưới. Hồi đó tôi sống ở đây, mà hồn lúc nào cũng chìm đắm  trong giấc mơ trở về quê  hương. Không hẳn tôi chỉ có nhớ thương  một mình anh ấy, mà  nỗi nhớ của tôi bao  trùm lên mọi thứ. Tôi nhớ  căn nhà tôi đã ở. Nhớ con  đường tôi đã đi. Nhớ từ những  viên sỏi bên  vệ đường cho  đến những sợi  khói bay tản mạn trên  từng đống lá khô  đang bị đốt cháy.  Quê hương, đối với tôi, càng đi xa càng thấy nhớ quay quắt, từng giờ, từng phút trôi qua  trong một  ngày, từng  tiếng nói,  giọng cười  không chỉ của người thân  mà cả những hình  ảnh chợt đến, chợt  đi trong ý nghĩ của tôi. Đầu óc  của tôi, lúc nào cũng chỉ bám  chặt một ước muốn không rời: “Trở về. Trở về. Trở  về”. Nói như thế để anh thấy, tại sao tôi không màng gì tới bất cứ  một sinh hoạt nào ở bên đây, kể cả việc  giao thiệp, bạn bè,  hay những buổi giải  trí cuối tuần. Không phải tôi  muốn xa lánh mọi người ở  đây. Nhưng chính là tôi muốn rút ngắn thời gian mòn  mỏi nơi xứ người  bằng cách hối hả, cặm cụi làm việc để kiếm tiền.

Huy chen vào:

– Và cô đã thực hiện được điều ước muốn của mình.

Quỳ mỉm cười:

– Vâng! Tôi đã dành  dụm được đủ số tiền dự trù  và gần hai tháng trước tôi đã thực hiện được chuyến về Việt Nam.

– Tuyệt diệu!

– Cứ cho là như  thế đi. Bởi vì tôi đã làm  được một công việc mà tôi đã dự tính trong nhiều năm.

Huy hấp tấp hỏi:

– Kể cả chuyện cô định làm đám cưới chứ.

Quỳ nhìn Huy  không đáp, nàng chỉ khẽ lắc  đầu. Huy như người hụt hẫng:

– Vậy thì… vậy thì anh ấy đã không chờ cô.

Mắt Quỳ chợt sáng lên. Nét mặt của nàng đột ngột biến đổi như tâm hồn của nàng vừa kéo qua một đám mây buồn bã, u uẩn:

– Không phải vậy đâu. Anh ấy vẫn chờ tôi. Và cả hai chúng tôi đều có đầy đủ điều kiện để thực hiện một cuộc sống chung.

– Thế thì thực tình tôi không hiểu chuyện gì đã xẩy ra.

Quỳ bật lên cười:

– Chính tôi cũng đã nhiều ngày, nhiều  đêm tự đặt ra cho mình câu hỏi y như vậy, nhưng chưa bao giờ tôi tìm được câu trả lời cho nó thỏa đáng cả.

Huy hăm hở:

– Tôi nghĩ rằng  mấu chốt của vấn đề  nó nằm ở đâu đó  mà cô chưa nhận diện được nó đấy thôi. Tôi hy vọng là tôi có thể giúp cô nếu cô không cho là quá tọc mạch vào chuyện riêng tư.

Quỳ lắc đầu:

– Không… Không… tôi chẳng có điều  gì thấy cần phải giấu giếm ai cả. Chỉ  sợ cứ nói mãi về  cái tôi của mình… e mất thì giờ của anh.

Huy quay hẳn người qua phía Quỳ  để hai người trực diện với nhau. Bây giờ thì chàng  nhận thấy đôi mắt của Quỳ mở  to hơn trước, và chàng đọc được ở đó một nét  buồn phảng phất, nó khiến cho vẻ mặt của nàng bỗng xa vắng  đi. Tuy nhiên, chỉ một thoáng giây sau, nàng lấy lại được vẻ linh động qua một nụ cười hết sức hồn nhiên. Nàng đổi giọng vui vẻ:

– Này nhé,  khi trở về  quê nhà, chính anh ấy đã  đón tôi ở  phi trường bằng chiếc xe hơi mà anh ấy đã đi thuê, với cả tài xế lái nữa. Điều  này dễ hiểu, vì khung cảnh chèo kéo, giành giật hành khách ở ngoài vòng rào phi trường nó sô bồ, phức tạp lắm.

– Cảm nhận đầu tiên lúc cô trong thấy anh ấy là  như thế nào. Cô có thấy anh ấy thay đổi gì nhiều không, về mặt hình thức thôi.

Quỳ suy nghĩ rồi trả lời:

– Có lẽ không có gì quan trọng. Gần bốn năm trời trôi qua rồi, ai cũng phải có điều đổi khác chứ. Tôi không thấy mình quan tâm chút nào khi  gặp lại thấy  anh ấy có  già dặn đi  hơn một chút, phong trần, từng trải hơn một chút, mà có lẽ anh ấy cũng tìm thấy ở tôi những nét như vậy.

– Điều quan trọng là anh ấy vẫn yêu cô. Và anh ấy đã biểu lộ tình yêu đó một cách nồng nàn ngay từ phút đầu gặp lại cô chứ?

Quỳ mỉm cười:

– Chúng tôi đã ôm nhau ngay ở cửa phòng đợi của phi trường. Chúng tôi vô cùng xúc động ghì lấy vai của nhau. Tôi chỉ không cho anh ấy hôn tôi trước mặt mọi người thôi.

Ngừng lại một giây, chợt giọng của Quỳ trầm hẳn xuống:

– Tại giây phút đó, tôi chợt bị  rơi vào một cảm giác khác lạ khi tôi phát giác ra rằng, anh ấy đeo một chiếc đồng hồ có vẻ rất đắt tiền với một sợi dây bằng vàng ối. Điều này hoàn toàn bất ngờ đối với tôi.

Huy hơi mỉm cười, vẻ riễu cợt:

– Chắc cô thắc mắc về sự anh ấy đã không giữ  lại cái đồng hồ kỷ niệm nào đó  mà cô đã trao tặng  anh khi hai người chia  tay phải không?

Quỳ lắc đầu lia lịa:

– Không… không… tôi  chẳng tặng anh ấy một  chiếc đồng hồ nào cả. Vấn đề là ở chỗ, trong suốt  thời gian cặm cụi làm việc ở Mỹ, tôi vẫn đinh ninh là anh ấy rất nghèo.

Huy kêu lên:

– Ô! Thế thì  bất ngờ là phải. Nhưng trong  suốt thời kỳ xa nhau, anh ấy không thư từ trò chuyện gì  với cô về công việc làm ăn của anh ấy hay sao.

– Tôi vì tế nhị nên không hỏi,  sợ anh ấy tủi thân. Và ngược lại, anh ấy cũng không hề đả động  gì đến chuyện đời sống riêng tư cả. Do đó,  thư từ trao  đổi với nhau  chỉ toàn chuyện  nhớ thương và cùng nhắc lại những kỷ niệm êm đềm cũ.

– Nhưng chuyện anh ấy có nghèo  đi, hay giầu có lên, thì đâu có phải là nguyên nhân để cô trở thành bất như ý.

– Dĩ nhiên! Anh ấy đâu có lỗi  gì. Tôi không bao giờ trách anh ấy về chuyện này cả. Nhưng thành thực mà nói, kể từ lúc phát hiện ra cái đồng hồ, tự nhiên tôi như bị khựng lại. Tôi thấy rõ bao nhiêu năm cặm cụi, chắt  chiu từng đồng ở bên này, với  ý nghĩ là để sẽ lo lắng cho anh ấy. Tôi luôn luôn tự hào về những sự vất vả triền miên nhưng có  mục tiêu rõ rệt. Nay  thì cái niềm tự hào  đó bỗng tan như mây khói.  Tôi cứ bị dằn vặt về ý  nghĩ chẳng lẽ mình ích kỷ đến độ cứ muốn cho anh ấy  nghèo rớt mùng tơi để cho mình được lo lắng hay sao.

Huy chen vào:

– Tôi hiểu được cái tâm trạng ấy của cô. Nhưng điều đó không phải là tất cả. Chỉ trừ phi tâm tình của anh ấy cũng lại thay đổi theo nhịp độ giầu có lên của mình.

Quỳ kêu lên:

– Không! Tuyệt đối không! Anh ấy vẫn nhã nhặn, hồn nhiên, và nồng nàn như  ngày nào. Chứ mà đổi tính kiêu căng,  phách lối thì còn nói làm gì. Tôi biết anh ấy không phải loại  người như vậy.

– Sau đó thì….

– Có lẽ  là tại tôi  hết. Như tôi  đã vừa nói  với anh là tôi bị khựng lại. Cái khựng lại rõ ràng, cụ thể nhất là tôi đã không còn muốn đưa cho anh ấy cái đồng hồ điện tử mà tôi mua tặng anh trước khi trở về. Tôi  có cảm giác như đem tặng anh ấy một cái đồng hồ trung bình, chỉ trị giá có vài chục đô la ở bên này trong khi anh ấy đã  có một cái  đồng hồ đắt  tiền như thế,  thì là chuyện khôi hài. Mặc dù cái đồng hồ của tôi  mua nó có tính chất của lòng yêu thương, gắn bó, dĩ nhiên.

Huy thở dài:

– Thế thì “vấn đề” nó đã khởi sự ngay từ cái lúc ấy rồi.

Quỳ gật đầu:

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Bởi vì  những ngày sau đó, tự nhiên giữa tôi và ảnh có một khoảng cách  mà tôi không thể hình dung rõ ràng ra được. Phải chi mà  anh ấy vẫn nghèo như xưa thì tôi đã hồn nhiên và vui sướng biết bao. Anh biết không? Ngay tối hôm đó, anh ấy đã dẫn tôi đi nhà hàng để  chào mừng ngày hai đứa đoàn tụ. Một bữa ăn khá  tốn tiền và đượm vẻ  mầu mè, trong khi tôi  cứ ước ao rằng giá hai đứa ngồi phệt xuống  vỉa hè cùng húp sì sụp bát cháo nóng hay bát bún  riêu thì hạnh phúc sẽ tuyệt vời  hơn. Mà ý nghĩ này tôi cũng không dám nói ra, có lẽ đấy cũng là lần đầu tiên tôi không thể nói ra  với anh ấy về những ý nghĩ  của mình. Trước kia thì đâu có thế, tôi tin anh ấy  tuyệt đối, và bao giờ tôi cũng có thể nói ra bất cứ điều gì.

– Cô vừa dùng hai chữ mầu mè để diễn tả bữa ăn đoàn tụ. Cô có thể tả thêm một vài chi tiết được không?

Quỳ ngả đầu  trên ghế. Hai mắt nàng hơi  nhắm lại. Nàng hồi tưởng đến những giây phút đã trải qua như một khúc phim quay chậm:

– Anh có thấy một tiệc đoàn tụ thay vì chỉ có hai đứa để cùng thủ thỉ tâm sự lại đi mời cả đám bạn  bè tới dự thì có phải là mầu mè không. Đành rằng tôi cũng là người  biết tôn trọng bạn bè của anh ấy, nhưng rõ ràng hôm đó không phải là lúc. Anh có đồng ý như vậy không?

Thấy Huy không lên tiếng trả lời, Quỳ nói tiếp:

– Trong bữa tiệc, dĩ nhiên tôi vẫn là cái đinh để mọi người trò chuyện và thăm  hỏi. Nhưng sau đó, bao giờ cũng liên hệ tới việc làm ăn, buôn bán và vị hôn  phu của  tôi lại nhiệt thành nhất trong chuyện đó. Đến  nỗi tôi đâm ra có mặc cảm  về sự chẳng biết gì về cái xứ  Mỹ xa lạ này mỗi khi được hỏi  về một chuyện nào đó và tôi giấu biến  cái chuyện tôi đã miệt mài chỉ với mỗi một cái máy may trong suốt bao nhiêu năm trời.

Rồi Quỳ kêu lên:

– Trời ơi! Tôi không thể tưởng tượng được ra rằng giữa tôi và anh ấy lại cách xa nhau đến thế,  chỉ trong khoảnh khắc không đầy hai ngày sau khi tôi đặt chân về Việt Nam. Cái khoảng cách này còn xa thêm nữa khi  nhìn thấy anh ấy móc  túi chi ra hàng xấp  giấy bạc khi trả nhà  hàng. Anh có biết là bao  nhiêu không? Gần hai triệu đồng tức là  xấp xỉ hai trăm đô  la, bằng lương suốt một  tuần lễ tôi cặm cụi ngồi may từ sáng đến nửa đêm. Sau bữa ăn đó, tôi cảm thấy mình  bắt đầu trở  nên thừa thãi  trong cuộc đời của anh ấy rồi.

Huy vẫn ngồi yên lặng, hết sức chú tâm ngồi nghe tâm sự của nàng.

Còn giọng của Quỳ thì mỗi lúc một trầm xuống, đều đều:

– Ngày hôm sau, nhân lúc  rảnh rỗi, tôi  mới mở va li để lấy ra những món quà tôi mua tặng thân  nhân, bạn bè. Anh có biết không,có nhiều món  dự định tặng anh ấy nhưng tôi đã không mở  ra. Tôi giấu biến đi và đem  trở lại ra ngoài này. Đó là những thứ vặt vãnh, không đáng tiền, nhưng rõ ràng  là tôi chắt chiu nó như một người vợ yêu thương và săn sóc chồng. Cũng phải thú thực với anh, có nhiều món tôi đã mua ở các tiệm rẻ tiền, hay các lần ở tiệm họ đại hạ giá. Khi mua những món đó, trong đầu tôi vẫn mang hình ảnh ở nhà mọi thứ đều hết sức thiếu  thốn của những năm gần cuối thập niên tám mươi. Vào  thời kỳ đó quả là cái gì  cũng quý hết. Nhưng nay thì mọi sự đổi khác hết rồi, chỉ có tôi là hết  sức lạc hậu đối với tình hình trong nước thôi.

Tiếng nói của Quỳ cứ mỗi lúc  như một thay đổi, như thể nàng đang trải qua một  cơn nghẹn ngào mà cường  độ cứ mỗi lúc một  lên cao hơn:

– Sau hôm đó, tôi vẫn cứ cố  đinh ninh trong lòng rằng cái chuyện quà cáp đó chẳng qua cũng chỉ là những  thứ linh tinh, vặt vãnh, không nên để nó dằn vặt mình. Và tôi đã xếp đặt một chuyến đi thơ mộng ở vùng quê  để có dịp cùng nhau ôn lại  kỷ niệm cũ. Lòng tôi phơi phới trở lại khi nhìn cánh đồng xanh tươi bát ngát trước mặt có những cánh cò trắng phau xoải cánh bay dưới ánh nắng lấp loáng của một  ngày đẹp trời. Biết  bao nhiêu kỷ niệm  êm đềm chợt sống dậy trong lòng  tôi trước khung cảnh êm đềm,  thanh khiết đó. Vậy mà anh biết không,  anh ấy đã phá vỡ dòng suy  tưởng của tôi bằng cách cứ kéo tôi về đời sống thực tại qua những câu hỏi mà những hôm trước đông người, anh ấy không có dịp  nêu ra. Chẳng hạn như khả  năng kiếm  tiền của  tôi ở  bên đó, vấn đề lương bổng hàng tháng, vấn đề chi tiêu hay dành dụm. Tôi thực tình vừa lúng túng, vừa  sượng sùng.  Làm sao  tôi có  thể làm  cho anh  ấy tin  được rằng may một bộ cầu vai tôi chỉ được trả có mười xu trong khi chỉ tiền thuê phòng để trú ngụ tôi  đã phải trả tới ba trăm đồng. Cho nên khi anh ấy đưa ra một con  số ước lượng về số tiền tôi có thể dành dụm được trong ngần ấy năm  trời thì tôi rụng rời. Tôi không còn hào hứng gì để kéo dài chuyến đi. Tôi đã lấy cớ nhức đầu đòi quay về. Và tôi thấy rất rõ vị trí của tôi đối với anh ấy lúc đó. Tôi không còn  là con người mà anh  ấy thực sự đang kỳ  vọng nữa. Cái cảm nhận này không phải là  tôi tưởng tượng ra, mà tôi đã đọc được rất rõ trong  ánh mắt đầy thất vọng của anh  khi tôi trả lời bằng một nụ cười hết sức gượng gạo: “Với số tiền đó, em có đi làm cả đời cũng  chưa có được lấy một phần”.  Điều băn khoăn, day dứt nhất của tôi, không phải là tôi  đã bắt anh ấy phải trực diện với sự thực, nhưng  chính là nỗi e sợ  rằng anh ấy không tin  lời tôi nói. Tôi  đã chống chỏi  lại cơn e  sợ đó bằng  cách cố gắng giải thích và giãi bầy tấm lòng thành  khẩn của mình. Nhưng anh ấy chỉ đáp ứng lại  bằng cái nhìn lạnh lùng và  những nụ cười chua chát, nửa miệng. Chính  ở chỗ đó mà tôi  cảm thấy sự đổ vỡ  giữa tôi và anh khó có thể hàn gắn lại được.

Ngừng lại một  lát như để nỗi lòng được  lắng sâu xuống sau những giây phút bị khua động, Quỳ lại nói tiếp bằng một giọng bùi ngùi:

– Có những lúc ngồi nghĩ lại, tôi  lại thấy mình có nhiều điều tự mâu thuẫn. Nếu tôi đã mang cảm  giác chim bị tên sợ cành cây cong mỗi khi nghe  có ai nhắc nhở đến chuyện  lương bổng của mình, thì chính tôi cũng lại phiền lòng khi gặp lại đám bạn bè cũ, trong đó có nhiều người rất  thân thiết nhưng họ lại giữ ý quá đáng về sự giao tiếp với tôi. Cứ như thể họ sợ vi phạm vào lòng tự trọng khi bầy tỏ  tình cảm một  cách nồng nhiệt,  đối với kẻ  đi xa trở về. Dẫu sao thì tôi cũng bị mang dấu ấn của một Việt kiều trở về thăm quê hương.

Chợt Quỳ bỗng thở một hơi dài:

– Nhưng nghĩ cho cùng, nếu tôi ở  địa vị của họ thì tôi cũng hành xử như vậy. Trong những ngày ở Sài Gòn, tôi đã gặp không thiếu gì những khuôn mặt vênh váo, nghênh ngang của  những con người mang tâm trạng áo gấm về làng. Chính họ cũng góp  phần không nhỏ vào công cuộc tạo dựng nên những khoảng  cách chua xót đã xẩy ra. Quê hương không  bao giờ hắt  hủi ai, nhưng  đời sống là  như thế đó. Mỗi con người dù  ở trong hay ở ngoài cũng đều  góp phần theo một cung cách nào đó  để trở nên nhìn nhau xa lạ  nhưng âm thầm không ai muốn  nói ra. Riêng về phần tôi, anh có thể tưởng tượng nổi không, khi  đi lại giữa  đường phố Sài  Gòn, tôi đã  mang một cảm giác bất an. Sự bất an không phải  vì mình lo sợ ai hà hiếp mình, bởi vì tình hình an ninh khá tốt đẹp, nhưng là nỗi bất an của một kẻ chỉ sợ mình hành xử vụng về sơ xẩy một điều gì trong cung cách giao dịch, ứng xử với đời sống  chung quanh, bắt nguồn từ sự mình không thấu hiểu những qui luật nẩy  sinh trong đời sống đó mà chỉ người trong cuộc mới nắm vững. Còn tôi, như chỉ đứng bên lề.

Huy góp ý:

– Ngày xưa, những người đi du học  năm bẩy năm khi trở về, đâu có ai mang cái cảm giác đó.

– Thế là anh đã bắt đầu hiểu vấn  đề rồi đó. Tôi thì tôi cho rằng quả là đã  có sự thay đổi về  tâm tình, ở cả hai  phía mới gây ra những nỗi cách biệt này. Riêng đối với tôi, tôi cũng tự cảm nhận thấy sự  thay đổi trong thế giới suy tưởng của mình. Chẳng hạn hằng đêm, trước khi nhắm mắt ngủ, tôi mơ ước được trở về, đi trên con đường  cũ, hít thở  bầu không khí  cũ, ngắm nhìn  những khung cảnh cũ. Nhưng lạ lùng thay, cũng vẫn con đường đó, vẫn những viên sỏi đó, vẫn  những mùi ngai ngái của từng lớp  lá khô bị đốt cháy bốc khói lên thoang thoảng  trong bóng chiều đang gần xế đó, vậy mà tôi  không bắt được cái cảm giác  thiết tha, trìu mến, day dứt như những cảm giác nó khiến tôi nhớ nhung trằn trọc hàng đêm. Như thể là tôi bị rơi vào  một niềm thất vọng không tên đang khởi sự nhen nhúm trong lòng tôi, thế có đau đớn cho tôi không chứ…

Hai người không ai bảo ai, đột  nhiên cùng im bặt. Họ như vừa đưa nhau đến một  khúc quanh hiểm nghèo của sự  phức tạp khó đo lường trong lãnh vực  suy tưởng. Không của riêng Quỳ,  mà hầu như đã có khá nhiều  người đã từng  trải qua. Điều  này, Huy đã  thấy được, và chàng lên tiếng  để giải thích về ý nghĩa của  sự thất vọng mà Quỳ vừa nói ra:

– Tôi  cũng đã  được nghe  nói về  tâm trạng  phức tạp này. Nhiều người đã  háo hức trở  về để tìm  lại những kỷ niệm, những quang cảnh, những con đường trên quê hương. Nhưng cảnh ấy, người ấy, kỷ niệm ấy  thì vẫn còn nguyên  đó, nhưng không phải  là những gì mà người ta mơ ước  gặp lại. Có bao giờ cô để  công phân tích xem là tại sao không?

Quỳ đáp:

– Có chứ sao không. Bởi vì điều này nó đã xẩy ra thiết thân với chính tôi, đã làm cho tôi tiêu tan cái hy vọng, cái ước mơ mà tôi gây dựng nó từng giờ, từng phút  ở nơi xứ người. Nhưng tôi chỉ có thể trả lời bằng một cách tóm gọn là khi tâm trạng con người thay đổi, thì dù  đứng trước cảnh cũ, người xưa,  con người cũng không bao giờ còn tìm lại được những cảm nhận cũ nữa mà thôi.

Huy trầm ngâm rồi gật đầu:

– Đó cũng là một cách giải thích. Nhưng theo tôi thì, ở đây, nơi xứ người, người ta đã đi tìm quê hương ở trong trí nhớ. Chính tại vùng trời suy tưởng đó, mà điều gì xẩy ra cũng tốt đẹp, cũng bình an, cũng êm đềm, cũng đầy những chi tiết gợi cảm. Một ly nước mía trong tâm tư bao giờ cũng mát rượi và ngọt ngào hơn là trong thực tế. Mọi  hình ảnh, kỷ niệm  khác cũng cùng chung  một số phận như thế.

Quỳ xoay người một lần nữa để đổi lại thế ngồi. Lần này, nàng đặt bàn tay lên vai áo của Huy và nói bằng một giọng xúc động:

– Rất cám ơn anh đã đưa ra một lời giải thích mà bao lâu nay tôi chỉ cảm nhận thấy mà không biết cách diễn tả nó  ra. Tôi đã trực diện với cái tâm  trạng này khi trở lại gặp bạn  bè thân hữu ngày xưa. Chúng  tôi đã đi  lại trên những  con đường đầy kỷ niệm cũ, trong một  khung cảnh của  những buổi chiều  nhạt nắng, đúng  cái khoảng không  gian và thời  gian mà tôi  đã im đậm  nét trong trí tưởng tượng của mình, vậy mà tôi thấy lòng mình sao trống rỗng lạ thường. Những cảm  giác đầy ắp yêu thương mỗi  lần ở bên đây nhắc nhở đến,  nay bỗng tan  biến đi đằng  nào. Anh Huy  ạ. Chỉ có một cách  giải  thích  được  là  tôi  đã  không  còn là chính tôi lúc trước. Phải vậy không?

Huy gật đầu:

– Tôi cho  là đúng như vậy. Và cũng không phải  chỉ riêng có một mình cô có  sự thay đổi đó. Trong  địa hạt suy tưởng của  mỗi con người, khi bước  chân ra khỏi vùng đất của  quê hương, dù là bằng cách nào, thì  mỗi người cũng đã đều ghi gói thêm những hình ảnh mới, những  kỷ niệm mới, những  băn khoăn, thao thức  mới. Tất cả những cái  gọi là mới  này đã choán  chỗ đầu óc  của ta trong đời sống thiết thân hằng ngày và đẩy  những hình ảnh của quê hương đã được thêu  dệt lên, đan kết  lại, in đậm nét  trong tâm tưởng của mỗi người.  Và như thế người  ta đã sống với  quê hương trong trí nhớ với tất cả những cảm giác được  tô vẽ lên chứ không  phải là quê hương bằng xương, bằng thịt với những vật thể sờ sờ có thể va chạm tới được. Đó  là nguyên do đổ vỡ một khi  người ta lên đường trở lại chốn cũ để  đi tìm lại  những cảm xúc chất chứa đầy ắp trong tâm hồn của mỗi người trong những ngày sống xa xứ. Tôi nhớ có một người  bạn trở về thăm quê  nhà, lúc lại ra đi,  ngồi trên máy bay  cất cánh, anh ta  thấy mình bay bổng  như vừa vượt thoát được lần thứ  hai, nhưng lần này là sự  vượt thoát khỏi những cơn nhung nhớ dằn vặt triền miên  trong suốt bao nhiêu năm lang thang trên xứ người…

Quỳ kêu lên:

– Nhưng anh ta cũng vẫn phải còn quê hương chứ!

– Còn chứ!  Nhưng bây giờ, quê hương đối với anh  ta, chỉ còn là quê hương trong trí nhớ.

Quỳ ngồi trầm ngâm rất lâu rồi cất tiếng:

– Trong  bao nhiêu  năm ở  đây, tôi  cũng đã  đắm chìm triền miên trong những cơn nhớ nhung, dằn  vặt không một phút nào nguôi. Vậy mà  bây giờ,  sao tôi  cảm thấy  hết sức  bình tĩnh  để toan tính chuyện  tương lai,  mặc dù  trong lòng  tôi bây  giờ hiện  ra một khoảng trống rất lớn, cái khoảng  trống tôi không cắt nghĩa được, chỉ biết  là nó đã  hiện diện và  chắc chẳng bao  giờ tôi có  thể khỏa lấp được.

Huy tiếp nối dòng tư tưởng của Quỳ:

– Có lẽ đấy cũng là tâm trạng của một số người  khi trở ra, bỗng lại tê liệt  mọi ý nghĩ mỗi khi  nghe nhắc đến hai chữ Việt Nam. Hình như  họ bị ruồng  rẫy bởi chính  họ. Căn bệnh này, dĩ nhiên không phải là  kéo dài bất tận, nhưng họ  vẫn cần một khoảng thời gian thật dài để tìm lại sự  quân bình. Nói cho cùng, dù hội nhập ở xứ này đến đâu, trước sau gì họ cũng là người Việt Nam.

Quỳ hỏi  ngang:

– Anh có nghĩ là họ sẽ quân bình được không.

– Cái đó cũng còn tùy người, tùy  hoàn cảnh, tùy môi trường mà họ đang sinh hoạt. Có người đi tìm sự quân bình  bằng cách lao vào đời sống của xã hội Mỹ. Nhưng Mỹ  là Mỹ, Việt là Việt, làm sao có thể lấy  cái này bù  đắp cho cái  kia. Rút cục  thì cũng lại  hụt hẫng,  bơ vơ,  thiếu nền  tảng, mất  điểm tựa,  một thứ vong thân thực sự nơi xứ người.

Quỳ bùi ngùi:

– Như thế thì buồn quá anh nhỉ.

Huy chợt quay sang phía Quỳ và bắt gặp ánh mắt của nàng cũng đang nhìn về phía  mình. Hai  người đối  diện với  nhau, lòng đầy cảm thông và cùng cảm  thấy hết sức gần gũi. Chợt Huy  khẽ giơ tay ra nắm lấy  bàn tay ấm  áp, mịn màng  của Quỳ. Chàng  cất giọng trầm ngâm:

– Rất đáng buồn ấy  chứ. Nhưng vấn đề chính là ở  chỗ phải có can đảm đứng dậy  để toan tính chuyện tương lai, chuyện trước mặt, ở ngay đây, trên xứ sở xa lạ này. Đó có phải là nguyên  do của sự thay đổi sâu xa mà cô định giải thích với tôi từ đầu đấy không.

Quỳ không trả  lời câu hỏi của chàng, và nàng cũng không rút bàn tay của mình  lại. Có một niềm vui  đang len khẽ vào tâm  hồn của nàng như một tia nắng ấm chợt  loe lên sau một mùa đông lạnh giá. Nàng khẽ ngước mắt nhìn ra phía đại dương bao la trước mặt. Trăng càng về đêm càng sáng hơn  lên, những gợn sóng lăn tăn, qua ánh trăng phản chiếu trở thành  những vẩy bạc lấp lánh. Nàng chợt khẽ mỉm cười khi  nhận thấy Huy vẫn cầm giữ bàn  tay của mình, và bây giờ thì chàng đang nắm xiết lại….

 

NHẬT TIẾN               

( trong QUÊ NHÀ, QUÊ NGƯỜI) 

 (Nguồn : https://nhavannhattien.wordpress.com)

 

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2023

MỘT CÀNH Ô-KIM-ĐAN TÍM - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Nhân loại đối với tôi chỉ chia làm hai hạng. Hạng người tôi yêu và hạng người tôi ghét. Nhuệ Giang dĩ nhiên hạng thứ nhất bởi vì  tôi chẳng bao giờ thuộc vào loại mất công nói về những người tôi ghét.

Muốn biết ai là Nhuệ Giang giữa cả triệu người chen chúc nhau ở Sài-gòn cũng thật dễ dàng. Bất cứ ở đâu, lúc nào nàng cũng đem theo một nụ cười đi trước. Khi tôi cảm thấy vừa có một cô gái nào, trong một giây, đã làm cho tôi êm ái chỉ bằng với mầu môi âu yếm của nàng, thì chắc chắn cô gái đó là Nhuệ Giang. Nàng thỉnh thoảng cũng có khóc, ai mà lại không bao giờ khóc được, nhưng tôi tin rằng những giọt nước mắt đó chỉ phụ giúp cho nụ cười của nàng mỗi ngày một thêm phong phú thôi. Tóm lại, mỗi khi gặp nàng, tôi sung sướng lắm.

Bây giờ nhà nàng ở xa tít, gần cổng trường đua Phú-thọ (nhưng may mắn thay, nàng không có máu đen đỏ). Chả bù với hồi trước, lúc nào nàng cũng ở gần bên tôi. Hồi trước, ngày xưa, thủa ấy... Sao mà tôi hay dùng những chữ đó quá. Chẳng lẽ ngày nay tôi không có chuyện gì đáng nói sao? Và còn những ngày mai nữa?

Hay có lẽ bây giờ là một thời đại cuốn hút nhận chìm con người đến bơ phờ trong hiện tại, và đóng chặt mọi cánh cửa mở đến tương lai. Như thế, người ta chỉ còn toàn quyền đối với quá khứ. Mọi người đều trở thành những bà lão ưa kể chuyện cổ tích. Có lẽ tôi cũng thế chăng?

Nhưng chuyện của Nhuệ Giang không phải là chuyện cổ tích huyền hoặc đâu. Các em bé có thể đi ngủ là vừa, chứ đừng trông đợi những bà tiên đầy phép thuật xuất hiện ở đây cả. Và cũng xin mời các người lớn đi ngủ nốt, chẳng có Sexy Show, tiền bạc hay máu đổ gì hết ở đây.

Đây chỉ là câu chuyện của một loài hoa.

Đó là hoa Ô-kim-đan. Chắc chắn là chưa bao giờ có ai nghe đến cái tên này. Tôi mới đặt ra cách đây không lâu. Nếu người ta có thể gọi Washington là Hoa - thịnh - đốn, Paris là Ba - lê thì tại sao tôi lại không thể gọi hoa Orchidée là hoa Ô-kim-đan. Cái tên nghe cũng có vẻ mềm mại xinh xắn đấy chứ. Ít người thích hoa Ô-kim-đan, vì nó trông có vẻ yếu đuối gầy guộc quá. Chỉ một cành mỏng manh, lấm tấm vài bông hoa nhỏ mầu tím, hình như có thêm bông mầu trắng nữa. Chỉ có thế. Giữa chợ hoa, bên cạnh những khóm hoa hồng lộng lẫy tươi tắn, những bó glaieul rực rỡ, những cánh anh đào trẻ trung, những bông cúc vàng thơ mộng, hoa Ô-kim-đan thật thua sút rõ rệt. Một bó chỉ chừng vài chục đồng, và mỗi chiều ế khách, hoa nằm tơi tả héo úa trông thật tội nghiệp.

May mà đến một đêm kia, như nhờ một phép mầu, hoa Ô-kim-đan bỗng trở thành một loài hoa yêu kiều, đẹp tuyệt vời nhất trong tất cả các loài hoa. Đêm đó, không hiểu sao Nhuệ Giang mua một cành Ô-kim-đan đem về cắm trong chiếc bình nhỏ, đặt trước mặt nàng. Và đơn giản chỉ có vậy, thế mà, thị trường buôn bán hoa ở đường Nguyễn Huệ bị đảo lộn kinh khủng. Hoa Ô-kim-đan trở thành loài hoa chúa tể, hoa hoàng hậu, đắt giá nhất, gấp ngàn lần những bông hồng nhung màu đen hay cả một chậu mai vàng trong ngày Tết. Người ta tới tấp lên Đà-lạt đặt hàng, hãy gởi về thêm nhiều hoa Ô-kim-đan hơn nữa, hãy trồng thêm nữa. Thế là những nhà trồng tỉa đua nhau dẹp bỏ những vườn bắp cải, xà lách để dành đất trồng hoa Ô-kim-đan.

Cả nước lên cơn sốt, đúng hơn là lên cơn say ngây ngất vì hoa. Đất đai thay vì để dành xây cất bin-đinh cho Mỹ mướn, người ta phá nhà, tống cổ đô la đi để dành hết cho việc vun trồng hoa Ô-kim-đan, lúc này đã lên giá một cách khủng khiếp và các chuyên viên về kinh tế tiên đoán rằng nền kinh tế quốc gia cỏ thể nhảy vọt cường thịnh nhờ kỹ nghệ hoa Ô-kim-đan, như kỹ nghệ trái cây ở một vài quốc gia nam Mỹ. Dân chúng sẽ giàu có, chiến tranh đương nhiên sẽ chấm dứt. Những bãi chiến trường trở thành những vườn thanh bình trồng toàn là hoa Ô-kim-đan. Ô-kim-đan, Ô-kim-đan... lúc bấy giờ khắp mọi nơi người ta chỉ nghe nói đến ba chữ Ô-kim-đan mặc dầu chẳng ai chịu biết rằng tôi là tác giả của cái tên đó.

Tại sao hoa Ô-kim-đan lại một sớm một chiều lên tận chót đỉnh vinh quang như thế?

Như tôi đã nói trước rồi, hoa Ô-kim-đan không lấy gì là đặc sắc cả. Vậy phải có một lý do nào khác chứ... Để tôi cố nhớ lại xem... Phải rồi. Một đêm kia, nàng khoe tôi mới đem về một cành Ô-kim-đan tím, sau vài chai bia tôi mơ màng nhìn thấy hoa đã cài lên mái tóc nàng, tôi mới chợt nhận thấy nhánh hoa ấy thật tuyệt vời. Tất cả những cái gì gần gũi bên cạnh nàng đều trở nên tuyệt vời, kể cả tôi nữa nếu tôi chịu khó không bao giờ rời xa nàng một phút.

Nhưng đáng tiếc thay, đã có một khoảng thời gian dài tôi xa nàng nhiều quá.

*

Công việc của Nhuệ Giang thật đẹp.

Trước đó nàng làm thư ký đánh máy cho một cơ sở rất thường quên trả tiền lương cho nàng mỗi tháng. Nàng không thể nhắc nhở hoài chuyện tiền bạc đó được. Một ngày kia nàng vứt cả bàn đánh máy chữ lẫn giấy pelurestencil ra khỏi cửa sổ.

Từ đó nàng làm "két-xe" cho một quán cà phê nhỏ nhưng không khí ở đây rất tưng bừng vui vẻ. Mỗi đêm, nàng chỉ việc ngồi sau một chiếc bàn con, bên cạnh là khung cửa sổ mở hướng ra phía đường, thế là những anh chàng nào đêm đêm đi lang thang ngoài phố sẽ sững sờ khi nhìn thấy đằng xa một cái quán nhỏ tối tăm mù mù, nhưng ánh đèn vàng cũng đủ hắt ra từ cửa sổ soi sáng khuôn mặt mờ mờ ảo ảo của nàng. Chằng mấy chốc, mọi con đường đều dẫn đến quán có cô Nhuệ Giang.

Mọi người đến đây nhấm nháp một chút cà phê, nghe âm nhạc lơ mơ bên tai từ chiếc máy cũ, thật ra họ ngồi đây vì có nàng. Chỉ trừ ra tôi. Tôi có mặt thường xuyên ở quán này vì một lý do đơn giản, tôi là một nhân công thường xuyên trong quán, không thể vắng mặt bất cứ vì lý do gì được.

Chỗ tôi làm việc sát bên cạnh nàng nhưng tôi đâu có được ngồi mơ mộng với một cành hoa Ô-kim-đan tím như nàng. Tôi phải đứng đến mỏi cả chân với một lô dụng cụ nhà bếp, nào là bình thủy, lò lửa nấu nước sôi, hàng chục "phin" cà phê, ly tách, muỗng dĩa, nước đá chặt liên tiếp mỏi dừ cả tay, dư được phút nào là lo rửa ly tách bẩn ngay cho kịp.

Quán càng đông khách càng làm tôi cuống cuồng mệt nhọc thêm vì tôi là tên chuyên viên nhà bếp duy nhất của quán. Cứ tưởng tượng cả một bầy người đứng chen chúc trước quầy, gân cổ thi nhau thúc hối tôi phải làm thỏa mãn họ... Tôi xoay như chong chóng, ngậm một điếu thuốc trước môi mà không có thì giờ hút. Tôi đâm ra cáu kỉnh có tính. Thỉnh thoảng một tên khách nào đó sốt ruột la lên:

- Cho tôi một ly cà phê đen đi ông đầu bếp ơi.

- Hết nước sôi rồi, ráng đợi chụm lửa nấu bình khác nghe bồ.

- Còn cà phê của tôi, sao không có đá?

- Nước đá còn cả cây để sau bếp, bồ cứ việc ra chặt lấy vài miếng uống.

- Trời ơi, còn chai co-ca của tôi, tôi đợi cả giờ rồi.

- Hết cả rồi. Ráng chờ lấy lại vỏ chai đem ra tiệm đổi thêm đã.

- Ly đá chanh của tôi sao không pha thêm chút rượu Rhum?

- Hết rượu rồi.

- Đâu được... phải cho thêm chút rượu, tôi muốn say mà.

- Thế thì dễ quá. Khỏi cần rượu gì cả, bồ cứ nhìn vào mắt cô Nhuệ Giang một lát, bồ sẽ say sưa quay cuồng ngay.

Cứ thế, cảnh tượng trong quán diễn ra một cách luộm thuộm, vô tổ chức từ đâm này qua đêm khác, mỗi ngày lại càng lộn xộn bê bối thêm vì ly tách bị làm vỡ hay đánh mất gần hết.

Tôi phải làm việc đến toát mồ hôi, chẳng có thì giờ đâu mà nghe một bản nhạc hay nói với Nhuệ Giang một câu gì. Chỉ có nàng là sung sướng nhất, và tôi cũng đồng ý nàng rất xứng đáng với niềm sung sướng đó. Công việc của nàng thật đẹp, mỗi chiều nàng ra phố mua một cành hoa, tỉa bớt cành lá và cắm rất khéo tay trong chiếc bình để trở thành một món trang sức lộng lẫy cho chính nàng và cả quán. Rồi nàng chỉ ngồi yên một chỗ, thỉnh thoảng thay một băng nhạc mới, dư thì giờ nàng mỉm cười với mọi người và nụ cười của nàng dễ thương đến độ ai cũng tưởng là nàng chỉ cười riêng cho mình. Hồi đó tôi cũng trót dại tưởng thế mới chết chứ. Đến khuya, khi khách đã về hết, nàng tính toán tiền trong sổ sách xong rồi thảnh thơi về nhà. Tôi lại phải mượn một chiếc xe gắn máy để chở nàng về, chạy thật nhanh vì còn trở lại quán dọn dẹp bàn ghế này nọ.

Khi đứng trong bóng tối trước cổng nhà, nàng chỉ nói với tôi một câu cám ơn ngắn và hẹn đến đêm mai. Như thế, công việc của nàng trong một đêm đã chấm dứt. Còn của tôi thì không, ngay trong giấc ngủ tôi cũng mơ thấy cả trăm người vây chặt lấy tôi, kêu gào van xin những ly cà phê, những ly nước đá với giọng lải nhải tru tréo đến rợn người.

*

Tiếng nói của Nhuệ Giang thật đẹp

Nàng là dân Bắc-kỳ, tỉnh Hà-đông. Giọng nói của nàng có đủ tất cả những quyến rũ dụ dỗ nhất đặc biệt của người gốc Bắc, nhưng lại không hề có thêm một chút gì chua ngoa đanh đá cả. Nên tôi thích lắng tai nghe nàng nói lắm. Tôi trở thành một người tò mò hay thắc mắc nhất thế giới, tôi phải luôn luôn có đủ thứ câu hỏi để chờ nghe nàng trả lời. Cả đến những câu hỏi vô duyên nhất.

Ví dụ như:

- Giang có chồng chưa?

- Hỏi nhảm. Biết là chưa rồi mà.

- Thế có người yêu chưa?

Câu sau này thật nhảm nhí hơn nữa vì một thiếu nữ dễ yêu như nàng làm sao mà chưa có người yêu được. Tôi đoán nàng phải có ít nhất là một trăm người yêu nàng và nàng yêu lại họ theo tỷ lệ cao nhất là 10 phần trăm. Vậy nếu tôi dại dột xếp hàng vào người thứ một trăm lẻ một, chắc nàng sẽ khó lòng tính toán lắm, 10% của một trăm lẻ một người là bao nhiêu? Là 10,1. Mười người thêm với một phần 10 của người cuối cùng. Như thế hóa ra nàng chỉ yêu 1/10 của toàn thể con người tôi, là chỉ mớ tóc bờm xờm trên đầu, còn lại 9/10 của tôi đều bị nàng ghét hết hay sao?

Cứ như thế, suốt ngày nàng liên miên trả lời những câu hỏi đặt ra không ngớt của tôi. Nàng không biết trong lúc trả lời một cách vô tình, những lời nói đó của nàng đã biến thành âm điệu êm đềm thánh thót và tôi hết lòng ngây ngất đón nhận.

*

Tuổi tác của Nhuệ Giang thật đẹp

Bởi vì thật ra nàng là người đàn bà không có tuổi. Năm tháng, chẳng ảnh hưởng tí nào đối với nàng cả. Hoặc đôi lúc nàng đi ngược chiều với thời gian, nghĩa là hồi nàng còn bán ở quán cà phê, nàng được khoảng 18 tuổi, thế mà hơn hai năm sau, khi gặp lại nàng, với chiếc áo đầm trắng, môi hồng đào, da bồ quân, tóc xanh... nàng lại trông có vẻ chỉ như mới mười sáu tuổi. Không gặp nhau lâu quá nàng mừng rỡ (cứ cho là như thế đi) ôm chầm lấy tôi ngay khi tôi vừa lớ ngớ trên vỉa hè. Mọi người đang đông đảo chung quanh, sao mà không tan biến hết đi, tìm chỗ khác chơi hết đi để cho tôi có thể yên lòng thưởng thức da thịt êm đềm của nàng tựa sát bên vai tôi.

Tôi cũng vui mừng sung sướng quá đỗi, định ôm lấy người nàng tỏ nỗi nhớ nhung thân ái, nhưng nàng đã mau lẹ đẩy tôi ra. Khuôn mặt của tôi chắc trông có vẻ mau già dặn quá, lại thêm một chút nham nhở nào nên nàng vội đứng cách xa tôi đến nửa gang tay. Nàng huyên thuyên hỏi về đủ chuyện, ra sao thế nào, ở đâu, tại sao lâu ngày... vân vân... Tôi chỉ kịp trả lời vắn tắt cho nàng biết lâu nay tôi như một người đã tật nguyền không xương sống vì thiếu vắng nàng. Tôi hỏi nàng đến bao giờ nàng mới chịu trở về làm chiếc xương sườn của tôi. Nhưng nàng cười, cho rằng tôi nói đùa. Tôi hay đùa nghịch quá nên có khi tôi nói những lời thành thật đứng đắn nhất, nàng vẫn cứ nghĩ là tôi đang làm trò khôi hài. Nàng không biết tôi là tên hề vĩ đại nhất của đời nàng, kẻ vẫn thường dệt những tấm thảm đan đầy nụ cười cho nàng, bằng những sợi tơ đau buồn rút ruột.

Nhưng thật khó mà giải thích cho nàng điều ấy. Nàng làm tôi quên ngay mọi chuyện khi kéo tôi vào, giới thiệu cho tôi một cái quán cà phê mới mở. Quán sang trọng, màu mè và rất đáng chán. Không có một cành Ô-kim-đan nào cắm trong bình. Đây là ngày khai trương, tôi được ăn uống "chùa" mấy chai bia và bánh ngọt, nàng dúi thêm vào tay tôi một trái ổi xanh giống như nàng thường dúi mấy điếu thuốc lá lẻ cho tôi, vào ngày xưa (trời ơi! lại "ngày xưa" nữa!)

Rồi người ta nhờ nàng thay mặt quán mới đứng lên nói vài lời tuyên bố khai mạc. Nàng lí nhí nói gì đó tôi cũng không nghe rõ micro như là dáng điệu tung tăng như một cánh bướm đêm của nàng đã lấn áp tất cả mọi thứ. Tôi chỉ thoáng nghe đoạn cuối để kết luận, nàng nói rằng là muốn mời tôi lên "nói vài lời" cảm tưởng về cái quán nầy, với tư cách là cựu đầu bếp của một cái quán cà phê khá nổi danh đã dẹp tiệm từ lâu.

Trời ơi! Nàng không biết tính tôi ít khi thích nói trước đám đông người hay sao? Nói với mọi người cũng là một điều khá khó khăn đối với tôi rồi, thông thường tôi chỉ nói một mình với tôi, như một kẻ quẫn trí chỉ thích độc thoại vì tin tưởng rằng trên đời nầy chỉ có một thính giả hiểu biết nhất của mình, là chính mình. Tôi bèn xin lỗi nàng cho tôi được phép im lặng như thường lệ, vì tôi cóc có ý kiến cảm tưởng gì ráo. Tôi vui là tôi vui, tôi yêu là tôi yêu. Làm thế nào mà dám đứng trên bục gỗ, oang oang giọng phát biểu: Thưa quý vị, tôi xin trình bày cùng quý vị vài cảm tường về tình yêu của tôi: Tại sao lại yêu? Yêu như thế nào? Yêu ra làm sao Yêu cho ai? Yêu có ích lợi gì?... vân vân...

Cuối cùng, tôi chỉ nói:

- Sớm mai, tôi sẽ mua một cành Ô-kim-đan tím cho quán nầy.

Nhưng đó là lời hứa cuội. Chẳng có đêm mai nào cả, chẳng bao giờ nữa. Không phải lúc nào, không phải bất cứ một nơi nào cũng xứng đáng được cắm một cành Ô-kim-đan. Hoa Ô-kim-đan tuy được trồng trên đất thô và phân bón quê mùa thật đấy, nhưng tôi yêu hoa mất rồi, khi hoa được ca ngợi bằng trái tim tình tự chân thành nhất, là hoa phải được, chỉ được cắm trên một trái tim đồng điệu khác. Xin thiên hạ đừng lạm dụng những cành Ô-kim-đan yếu đuối ấy.

*

CHIẾC QUẦN DÀI ĐEN LÁNG CỦA NHUỆ GIANG THẬT ĐẸP

Thôi... tôi không dám nói nhiều về điều nầy đâu, nàng có thể cho tôi là người không đứng đắn.

*

TÓM LẠI NHUỆ GIANG THẬT ĐẸP VỀ TẤT CẢ CÁC THỨ.

Điều nầy nếu ai còn nghi ngờ xin cứ tự mình thử thách tìm hiểu. Tôi đã cho biết địa chỉ của nàng rồi, nhưng nhớ đừng đi lạc vào trường đua Phú-thọ, ở đấy người ta chỉ nhìn thấy và ca ngợi sắc đẹp của những con ngựa về nhất.

*

ĐÁM CƯỚI CỦA NHUỆ GIANG THẬT ĐẸP.

Điều nầy chỉ có ý nghĩa trong một ngày mai sắp đến. Tôi biết nàng đã quá chán những lời ba hoa tán tỉnh, nàng đã quá thừa những vụ đưa đón mời mọc rồi.

Hỡi những người đàn ông lịch sự nhất thế giới, đừng đòi xin bàn tay của nàng nữa, mà phải âu yếm cầm lấy tay nàng và đeo chiếc nhẫn cưới thiêng liêng gắn bó nhất của đời mình vào ngón tay áp út của nàng.

Và phải nhanh chân lên mới có hy vọng được tên tuổi nằm trong đoạn cuối cùng của câu chuyện này: Đám cưới của Nhuệ Giang.

Khi sách được xuất bản, tôi sẽ điền thêm tên của bạn vào chỗ này đó.

Nhưng nhớ là trong cuộc chạy đua nước rút này, bạn phải hết sức nhanh nhẹn và thành thật mới được. Nếu tất cả mọi người đều chậm chạp và giả dối, e rằng chính tôi sẽ về nhất đấy...


1971                      
HOÀNG NGỌC TUẤN       

(Trích từ tập truyện ngắn CÔ BÉ TREO MÙNG, nxb Trí Đăng 1972)