Thứ Ba, 24 tháng 1, 2023

MÙA XUÂN CUỐI CÙNG (I) - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Ðồn điền cao su của ông bà Trân ở cách thị trấn Ban Mê Thuột khoảng mười cây số, gần phi trường Phụng Dực. Khi máy bay sà thấp sửa soạn xuống phi đạo, tôi nhìn thấy đồn điền ở xa xa, hàng cây cao su trồng thẳng tắp với nhau, từ trên cao nhìn xuống những chóp lá trông như những cây nấm.

Từ một nơi nắng cháy người như Sài Gòn, chỉ trong hai giờ bay ngắn ngủi là đến Ban Mê Thuột, đột ngột như rơi vào một ngọn núi tuyết, lạnh ngắt, không khí trong trắng mát rượi ùa vào cơ thể, chung quanh mình chỉ toàn màu xám xanh trùng điệp của núi rừng. Nụ cười thật xinh của cô tiếp viên hàng không mặc áo xanh bỏ dần sau lưng. Từ trên bực thang bước ra khỏi chiếc máy bay bốn động cơ đã tắt máy, tôi nhận ra Thùy rất dễ dàng. Cô bé dầu đã lớn nhanh và cao lêu nghêu như cây sào, nhưng khuôn mặt hồng hào đang tươi tắn với nụ cười vẫn không thay đổi. Quần jean xanh, áo len cao cổ màu đen rộng phùng phình và tóc rơi lòa xòa ít sợi trước ngực, cả mái tóc thả tung bay phía sau vì những ngọn gió miền núi. Cô bé vẫn ồn ào như con chim két, nó chạy sà xuống nắm cả hai bàn tay tôi, vừa nói vừa cười ầm ĩ, nhưng tôi không nghe gì hết vì tiếng loa từ phòng khách đang phát ra những tiếng nói rè rè loan báo chuyến bay từ Sài Gòn vừa đến Ban Mê Thuột, và mời hành khách đi Huế sửa soạn lên phi cơ. Thùy lôi tôi chạy nhanh theo nó vào phòng khách phi cảng.

- Chạy mau vào trong này, anh. Nhìn anh run lập cập trông buồn cười lắm, lạnh ghê hả? Coi chừng anh bị cảm thì Tết này có gì vui nữa.

Tôi định nói vài lời hỏi thăm Thùy và ba má của Thùy là ông bà Trân, nhưng cô bé gạt phăng đi, nó giật lấy chiếc xắc tay trên tay tôi, rồi một tay nắm chặt lấy cổ tay của tôi, hai chân nó thoăn thoắt như một con thỏ.

- Về nhà rồi nói chuyện, anh. Vô đây, em kêu cho anh một ly cà-phê uống cho ấm bụng đã.

Ðến khi đã ngồi vào chiếc ghế bành êm ái, trong căn phòng ấm hơi người và đông đảo hành khách qua lại trò chuyện nhốn nháo, tôi mới có dịp quan sát Thùy. Nhưng cô bé đã không cho tôi ngồi nhìn, nó cầm tách cà-phê đen bốc khói ấn vào tay tôi. Ban Mê Thuột là một miền cao nguyên đầy dẫy những đồn điền cà-phê, tách cà-phê đậm đặc màu đen lóng lánh như hạt nhãn, có lẽ được pha bằng thứ cà-phê thượng hạng. Tôi mường tượng như thấy những trái cà-phê chín vừa hái trên cây, xay nhỏ thành bột mịn và giờ đây cho tôi một tách cà-phê nóng hổi thơm ngát mùi hương hoang dã của núi rừng.

- Tuyệt ngon.

Thùy cười hớn hở, nó uống một chai cam vàng, nhưng nuốt nước miếng có vẻ ngon lành nhìn tôi hớp từng chút cà-phê. Cô bé thích thú khoe khoang.

- Chốc nữa về nhà anh mới thấy cà-phê bán ở đây chưa ngon tuyệt đâu, ở nhà em còn cho anh uống thứ cà-phê ngon ác liệt hơn nữa.

- Cà-phê ở đây cũng ngon lắm rồi, so với thứ cà-phê “bít-tất” của Ba Tàu anh hay uống ở Sài Gòn.

Một lát sau, chúng tôi đứng dậy. Thùy cầm chiếc xắc tay của tôi, nó hỏi tại sao nhẹ quá, tôi nói không đem gì nhiều theo, chỉ hai bộ áo quần, một chiếc áo len cũ mua ở Khu Dân Sinh và một cái bàn chải đánh răng. Tôi chỉ sửa soạn được chừng ấy thứ và chạy vôi vàng đến hãng Hàng Không Việt Nam ở Sài Gòn, chen lấn toát mồ hôi để mua một vé máy bay đi Ban Mê Thuột vào ngày hai tám Tết.

- Anh có nhận được thư của em không?

- Có chứ. Anh như bắt được vàng. Anh tưởng Tết năm nay anh đi chơi lang thang với một lũ bạn cũng xa nhà như mình ở Sài Gòn thì buồn quá. May mà ba má em rủ anh lên đây ăn Tết, ở đây chắc vui lắm, anh cũng mê phong cảnh ở cái đồn điền cao-su này nữa.

- Lâu rồi anh không lên Ban Mê Thuột phải không?

Tôi gật đầu, cái thị trấn nhỏ nhoi thật dễ yêu nầy bỗng dưng hiện ra rất rõ trước mắt tôi. Ngày xưa, tôi đã sống được một thời nhỏ vui tươi nhất ở đây, một khoảng thời gian tuyệt đẹp nhưng ngắn ngủi.

- Lâu rồi, từ khi ba anh mất...

Thùy nắm chặt lấy bàn tay tôi.

- Em xin lỗi, đừng nhớ chuyện đó nữa.

- Ừ. Thôi đừng nhớ.

Tôi khoác tay lên vai Thùy, cánh tay nhỏ nhắn của cô bé thật ấm trong vòng tay tôi. Chúng tôi rời xa dần sân phi cảng, đi bộ chậm rãi trên con đường quốc lộ dài hun hút. Hai bên đường là hàng cây cao-su trồng đều đặn, song song với nhau và có những cây ở xa nhất chỉ trông thấy được lờ mờ, không biết nó được trồng trong một góc rừng sâu nào đó.

Tôi mở xách tay tìm chiếc áo len mặc vào người và châm một điếu thuốc lá. Da thịt tôi lạnh cóng, khói thuốc chạy một luồng ấm áp như nắng mặt trời tràn vào thân thể. Thùy nói:

- Mình đi bộ khoảng một trăm mét, rồi rẽ sang tay trái một quãng là đến nhà rồi. Anh còn nhớ đường không?

- Nhớ chứ, rẽ sang tay trái, đi qua một đám cây cỏ dại gì đó rồi đến tấm bảng gỗ đóng trên một thân cây cao su to tướng, tấm bảng viết nguệch ngoạc mấy chữ sơn màu nâu “Ðồn Ðiền Y Nol”... phải không?

Thùy nắm lấy cánh tay tôi, cô bé nói với giọng sung sướng.

- Anh nhớ rõ lắm. Tấm bảng đó hồi trước anh vẽ chứ gì, em còn nhớ ba chê anh viết chữ tháu như mèo. Mấy người bạn của ba nói ba nên treo một tấm bảng khác, thuê thợ vẽ sơn đàng hoàng, nhưng đến giờ ba vẫn còn treo tấm bảng viết như... mèo của anh đó.

Tôi cười, lòng nôn nao theo từng bước chân. Lát nữa tôi sẽ vào đồn điền Y Nol và nhớ lại nhiều kỷ niệm thuở nhỏ. Những ngày xuân của tôi sắp tới sẽ ở trong đó. Năm nay tôi đi tìm một chút không khí gia đình trên miền cao nguyên xa, trong nhà ông bà Trân và bên cạnh Thùy.

Mùa Xuân trong mái ấm gia đình là một thế giới thần thánh mà tôi đã đánh mất từ lâu. Vì thế mỗi khi xuân về, tôi đau xót như một con sói rừng cô độc.

*

Ông Trân di cư từ Bắc vào Nam sau ngày hiệp định Genève ra đời. Hồi đó ông là một thanh niên gần ba mươi tuổi, lên Ban Mê Thuột lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Nhờ tánh tháo vát, chăm chỉ và có một lối xử thế làm hài lòng nhiều người, ông Trân được một tay chủ đồn điền người Pháp thu dụng làm thư ký trong đồn điền. Dần dần ông chiếm được cảm tình của chủ nhân. Ít lâu ông Trân trở thành quản lý đồn điền, được người chủ hoàn toàn tin cậy, giao phó hết mọi công chuyện. Rồi lão chủ nhân người Pháp từ giã Việt Nam, trở về nước với một sản nghiệp vĩ đại bằng tiền mặt, sau khi bán hết dãy nhà buôn của lão ở thành phố Ban Mê Thuột. Ðồn điền cao-su của lão cũng bán đi hai phần ba. Còn một khoảng đất nhỏ trồng toàn cây cao-su non, phải đợi năm bảy năm sau mới lấy mủ được, lão chủ biếu không cho ông Trân gọi là để thưởng công mấy năm làm việc đắc lực cho lão. Ðồn điền Michel từ đó đổi chủ, mang một tên mới là Y Nol, tên đứa con trai nuôi người Thượng của ông Trân đã chết lúc lên năm.

Sở dĩ tôi biết rõ về ông Trân vì ông là một người bạn tốt, thân thiết nhứt của cha tôi. Hai người đã từng cộng tác với nhau trong vài cuộc kinh doanh, nhưng chẳng may đều bị thất bại. Từ khi ông Trân làm chủ đồn điền Y Nol, cha tôi thường dẫn tôi đến đồn điền nghỉ ngơi thỏa thích. Có khi vài ba ngày, có khi kéo dài suốt tuần lễ. Và những ngày đó thú vị. Trong khi cha tôi suốt ngày bàn bạc đủ mọi thứ chuyện với ông Trân, tôi cùng dạo chơi khắp đồn điền với Thùy, cô con gái của ông Trân mới mười hai tuổi, thuở đó tôi là một cậu học sinh trung học, mười tám tuổi đầu nhưng không được lớn xác cho mấy. Cứ sau bữa cơm tối, cha tôi và ông Trân khề khà ngồi nhậu thật dai trong phòng khách, cụng ly nhậu nhẹt với nhau cho đến khuya, tôi và Thùy rủ nhau ra khoảng xi-măng trước mái hiên nhà, nhờ một đèn vàng treo trên cao chúng tôi chơi cờ ca-rô, lô-tô, đô-mi-nô với nhau. Thùy là một cô bé dễ thương hoàn toàn. Nó không thích đến trường học, chỉ thích quanh năm suốt tháng rong chơi trong đồn điền, dẫn theo một chú chó đi lên rừng lên rẫy làm quen với mấy người đàn bà Thượng. Cô bé cũng bận tâm với chuồng gà của nó hơn bất cứ thứ gì trên đời, thêm với một hộp giấy nhốt đầy những chú dế lửa đá nhau rất ác liệt, và một vườn bắp sau nhà mà chính tay nó đã gieo hột, vun xới chăm nom cho đến ngày kết trái.

Nếu không có gì thay đổi thì cho đến bây giờ và có lẽ suốt đời, tôi vẫn chôn chân mãi ở Ban Mê Thuột, tôi rất yêu thành phố này. Những ngày vui của đời học sinh và một cô bạn nhỏ rừng xanh. Thuở đó tôi thật không ao ước gì ngoài những điều tôi có. Nhưng một đêm kia, chiếc xe jeep do cha tôi cầm lái đã đâm đầu vào một tảng đá bên sườn núi, ở giữa ngọn đèo nằm trên quốc lộ 21 đi từ Ban Mê Thuột đến Ninh Hòa. Ngọn đèo ấy không có gì nguy hiểm, cha tôi là một tay lái vững, không bao giờ uống rượu khi lái xe. Thế mà tai nạn đã xảy ra. Ông Trân đến báo cho tôi biết khi tôi ngồi trong lớp học. Cha tôi chết cháy cùng với chiếc xe, lúc ấy đêm khuya đường vắng, mãi đến gần sáng người ta mới khám phá ra tai nạn.

Tôi mất mẹ đã lâu, nay thêm cái chết đột ngột của cha tôi, dĩ nhiên trở thành một kẻ mồ côi cha mẹ. Một kẻ mồ côi vào năm 18 tuổi, nếu là con gái có lẽ đã đi làm gái điếm, còn trai thì trở thành một thằng đi lang thang.

Tôi trở thành một thằng đi lang thang. Bỏ thành phố Ban Mê Thuột, bỏ đồn điền Y Nol, bỏ lời khẩn khoản mời ở lại của ông Trân, và nhất là bỏ cái hình ảnh rạng rỡ những tiếng cười đùa của Thùy. Tôi xuống Sài Gòn, ở tạm nhà người bà con vài tuần lễ, rồi vất vưởng từ phòng trọ này sang phòng trọ khác, từ nhà người bạn này sang nhà người bạn khác...

Ông Trân đứng đợi trên thềm nhà khi tôi và Thùy về đến. Ông mừng rỡ la lên. Lúc thấy tôi con chó berger trông thật dữ tợn chạy theo ông sủa vang ầm ĩ. Năm nay ông Trân đã trên bốn mươi lăm tuổi rồi nhưng trông vẫn còn khỏe mạnh, rắn chắc như một thanh niên. Mái tóc có một ít sợi bạc lấm tấm, chiếc áo len màu xám, chiếc quần nỉ màu nâu may bằng một thứ vải đắt tiền và đôi giày trắng làm dáng dấp ông thật trẻ trung. Trên miệng ngậm một ống vố hiệu Chacom và mùi thơm của khói thuốc “79” bay ngào ngạt trong không khí. Ông Trân ôm choàng lấy tôi rồi nắm chặt lấy vai tôi, ông lặng lẽ quan sát tôi chăm bẳm, ánh mắt ông có vẻ gì thật thân yêu làm tôi cảm động.

- Trời ơi cháu mau lớn quá, trông khác hẳn đi. Nếu con Thùy không dẫn cháu về thì tôi đã không nhìn ra.

Tôi quay sang Thùy, cô bé có lẽ đang thích thú nhìn cái cảnh gặp gỡ thật ngộ nghĩnh giữa một ông già và một người trẻ tuổi.

- Hơn bốn năm rồi mà bác, chỉ có bác là không thay đổi, càng ngày lại càng trẻ ra. Thùy nó lớn nhanh như thổi đấy bác.

Ông Trân xoa đầu con gái.

- Ừ Tết này nó được mười sáu tuổi rồi, thế mà vẫn còn nghịch như con nít.

Thùy bĩu môi trêu tôi rồi nó cầm lấy chiếc xắc tay của tôi chạy biến vào trong nhà. Ông Trân ân cần hỏi han về chuyến đi của tôi và về những ngày tôi sống ở Sài Gòn, ông vẫn trách tôi không chịu lên đây ở với ông. Ông nhắc lại tình bạn giữa ông và cha tôi và nói rằng ông đủ sức nuôi nấng cho tôi đến ngày tôi ăn học thành tài. Thật đã quá lâu rồi tôi mới nghe được những lời nói chân tình như thế. Trời cao nguyên lạnh nhưng cảnh đón tiếp của ông Trân làm tôi ấm lòng như vừa uống một cốc rượu quý. Ông Trân dẫn tôi vào nhà.

- Tôi đã dọn sẵn một phòng dành riêng cho cháu. Con Thùy ngày nào nó cũng ra phi trường đón cháu. Tôi tưởng cháu ham vui với bạn bè không lên đây được thì Tết năm nay chúng tôi buồn chết.

- Bác gái đâu rồi bác?

- Chỉ tiếc là nhà tôi năm nay kẹt một vài công chuyện làm ăn ở dưới Sài Gòn. Nhưng không sao, Xuân năm nay, tôi, con Thùy và cháu, ba đứa tụi mình tha hồ ăn cái Tết tưng bừng nhất. Bốn năm rồi, từ khi cháu đi Sài Gòn, chưa có cái Tết nào làm con Thùy quên cháu, nó nhắc cháu mãi.

Tôi lặng yên, bồi hồi nhìn ngôi nhà quen thuộc, nơi tôi đã sống một thời kỳ tươi đẹp, một thời tưởng rằng mùa xuân sẽ đến với mình vĩnh cửu. Ngôi nhà làm bằng những thân cây cổ thụ đen bóng có nhiều đường vân, ngôi nhà trông có vẻ mảnh mai nhưng thật ra đứng vững chải từ biết bao năm tháng. Một kiến trúc sư người Pháp đã coi sóc việc xây cất ngôi nhà này từ hồi đồn điền còn mang cái tên Michel. Tôi còn in trong trí não tầng gác trên, sàn nhà bóng loáng như tảng băng, bộ bàn ghế mây đặt trên bao lơn, trên bàn mấy chai rượu Martel ba sao, cha tôi và ông Trân ngồi đu đưa trên ghế, mỗi người một chiếc cốc thủy tinh lóng lánh rượu vang. Hồi trước tôi vẫn khoái nhìn cha tôi mỗi khi ông nhậu nhẹt, mặt ông tái xanh lấm tấm mồ hôi trông thật buồn cười và ông nói chuyện to tướng gần như la hét.

Tôi được ông Trân đưa vào một căn phòng nhỏ trên gác, có cánh cửa sổ nhìn ra rừng cây. Thùy đang ngồi trên một chiếc ghế mây, cô bé lục tung quần áo của tôi trong chiếc xắc tay rồi làm ra vẻ hờn giận.

- Anh không đem gì cho em cả, ở Sài Gòn có thiếu khối gì đồ đẹp.

Ông Trân mắng yêu cô gái rồi la lên khi thấy mấy bộ áo quần của tôi.

- Trời ơi, cháu chỉ đem chừng ấy thôi sao, mấy cậu con trai bây giờ thật lười biếng. Thôi được rồi, cháu tha hồ chọn quần áo của tôi để dưới nhà, toàn là thứ mới may mà tôi chưa có dịp nào mặc hết.

Tôi định nói với ông Trân là không phải tôi làm biếng nhưng quả thật vặt vãnh mấy bộ quần áo đó. Nhưng tôi im lặng. Căn phòng nhỏ nhắn, ấm cúng thật thích hợp với tôi. Tấm lịch tài tử màn bạc treo trên tường, bên cạnh bức hình chụp tòa lâu đài cổ nước Ðức màu sắc tuyệt mỹ, có lẽ cắt từ một tờ báo ngoại quốc. Một chiếc giường nệm mới trong thấy đã muốn lăn ra làm một giấc say sưa. Thùy có vẻ đang thích chí nhìn bộ mặt ngớ ngẩn của tôi, cô bé nói:

- Em phải nhường phòng của em cho anh đó.

Tôi mỉm cười nhìn cô bé, nó không còn là trẻ con nữa nhưng dầu sao tôi vẫn nhìn thấy nó dưới một hình bóng nhỏ dại vô cùng. Ông Trân vỗ vai tôi.

- Cháu xuống nhà tắm nước nóng cho khỏe, nghỉ ngơi một lát rồi dùng cơm tối. Trời cũng bắt đầu chiều rồi.

Ông Trân bắt tay tôi rồi trở xuống dưới sau khi nói đùa với Thùy và tôi.

- Tết này, cho cháu “trưng dụng” con Thùy, cháu cần gì cứ “sai bảo” nó làm cho.

- Tuân lệnh ba. Nhưng ông Xếp mới của con trông hiền quá, con chẳng sợ đâu.

Tôi khoan khoái nằm dài ra giường, hai tay vòng sau gáy, tôi nhìn qua cánh cửa sổ. Hình như trời đang mưa nhẹ, ngày mùa Xuân trời sớm u tối buồn hơn thường lệ, rừng cây đang xanh bỗng dần dần chìm trong một màu xám tro trông thật buồn bã. Tôi trùm chăn lại che kín người, chỉ có chiếc đầu thò ra ngoài, thân thể tôi co ro trong chăn như một con sâu cuốn chiếu.

Thùy đứng bên cạnh, khuôn mặt cô bé lo lắng.

- Chết cha. Không khéo anh bị cảm lạnh, rồi sốt rét cho mà xem. Ráng đừng bệnh đi anh, để Tết này em dẫn anh đi chơi khắp đồn điền, em cho anh xem khu vườn em mới trồng đủ trái cây.

- Yên trí. Anh không bệnh tật gì đâu, nhưng anh buồn ngủ quá. Lâu rồi không được vừa nhìn trời mưa ngoài cửa sổ vừa ngủ. Lạnh quá, ngủ lúc này là tuyệt... thật tuyệt.

Mắt tôi dần dần nhắm lại. Tôi mơ màng nhìn thấy hình bóng Thùy mỗi lúc mỗi mờ nhạt, chao động như lớp sóng biển. Hình như Thùy nói nhỏ bên tai tôi là nó sẽ xuống nhà pha cho tôi một tách cà-phê đậm như đã hứa. Hình như cô bé hỏi tôi hút thuốc lá gì để nó nhờ người giúp việc đi xuống phố mua. Hình như nó bảo cứ ngủ ngon đi, chốc nữa đến giờ cơm sẽ thức tôi dậy, tối hôm nay có thịt heo rừng nướng thơm ghê lắm và có cả rượu chát thứ ngon nhất sẽ dành cho tôi trong bữa ăn. Hình như... Tôi không còn nghe rõ hết.

Tôi thiếp đi trong giấc ngủ vắng lặng bình an mà lâu nay không hề tìm thấy. Tất cả, tất cả đều hứa hẹn những ngày xuân tràn đầy diễm ảo sắp đến với tôi. Tất cả đều tươi đẹp quá làm tôi bỗng muốn khóc vì quá đỗi xót xa. Tại sao tôi phải tìm kiếm mùa xuân nơi gia đình của người khác. Tại sao tôi chỉ tìm được một chút hạnh phúc trong nỗi hạnh phúc lớn lao của người khác.

Phải chăng mùa Xuân trong tôi đã chết.

*

Sáng mồng một Tết, phong pháo dài loằng ngoằng treo lên cành cây phát nổ từng loạt giòn tan, khói thuốc tỏa ra xanh ngắt như một đám mây nhỏ, mùi thơm làm rộn ràng mọi người. Thùy đập cửa phòng tôi ầm ĩ rồi chạy ào vào. Cô bé mặc chiếc áo đầm trắng xếp từng nếp và một chiếc áo len màu hồng. Không cần đi đâu xa, tôi nhìn thấy cả một mùa xuân trên khuôn mặt hồng hào của nó, đôi môi tái xanh nhưng khi cười trông rực rỡ như có thoa son môi.

- Ðầu năm mới chúc anh được mọi chuyện như ý, có vợ đẹp con khôn làm ăn phát tài ạ...

Tôi bật cười, nhìn cái dáng làm ra vẻ nghiêm trang của cô bé.

- Trời ơi, để dành mấy câu đó mà chúc Tết ba. Em nên chúc anh mỗi tuần đều trúng số độc đắc là anh khoái nhất.

Thùy trề môi, nó ngồi xuống ghế, lấy một chiếc gối ôm vào ngực.

- Anh tham lam lắm. Như thế thì anh thành triệu phú rồi còn gì, anh mà giàu thì anh ham chơi mãi ở Sài Gòn, đâu có thèm lên chơi ở xứ mọi nầy nữa. Nghe cho rõ đây: Em chúc cho anh nghèo suốt đời, buồn suốt đời. Nếu anh không lên Ban Mê Thuột thăm em một lần, em chúc anh bị cảnh sát bắt bỏ tù cho bõ ghét.

Quả đó là những lời chúc dễ sợ làm tôi thấy hơi ngại ngại trong bụng. Biết đâu những lời chúc đầu năm nầy lại trở thành sự thực. Tôi nổi cáu.

- Chúc gì ghe vậy, đầu năm mà ăn nói gì kỳ cục, độc địa thế?

Tôi nạt Thùy với giọng nóng nảy, tôi cảm thấy giận cô bé này ghê gớm vì tôi vốn là một thằng hay tin dị đoan. Thùy ngồi lặng im, mặt buồn xo, cuối cùng cô bé làm hòa.

- Thôi em xin lỗi, đừng giận em nữa. Này, đem đủ đồ để diện cho anh đây. Một bộ complet của ba may ở Sài Gòn, hàng Pháp may ở tiệm sang nhất đấy. Giày da đánh bóng loáng, đi kêu cộp cộp nghe oai lắm. Còn cà-vạt, măng-sét nữa này. 
 
Tôi bối rối nhìn bộ quần áo sang trọng mới toanh đặt trên giường. Tôi nói với Thùy hãy đem trả lại cho ba kèm theo lời cám ơn của tôi, vì tôi không quen mặc những đồ trịnh trọng này. Trong bộ quần áo quen thuộc của tôi, tôi cảm thấy dễ chịu, nó cứ nì nài tôi phải mặc đồ Tết, làm như tôi là một cậu bé con. Giằng co mãi một lúc lâu, cuối cùng tôi chỉ mượn tạm chiếc áo vét để mặc cho ấm. Bộ dạng tôi trông thật buồn cười vì lạ mắt. Giày da đã sờn trầy trụa, đế mòn mỏng vì những ngày lê la ngoài phố. Chiếc quần velour màu nâu bạc màu, nhất là ở chỗ hai đầu gối, mình mặc chiếc áo len dày cộm cũ mèm, bên ngoài lại quàng một chiếc áo vét đắt tiền mầu tím sẫm. Thùy bụm miệng nín cười nhìn tôi, chắc bộ dạng tôi lúc này chẳng ra cái gì cả, trông quái gỡ ghê lắm.

- Chê anh xấu phải không. Anh cóc thèm đi chơi đâu nữa, anh nằm ngủ lì trên này suốt ba ngày Tết.

Thùy lắc đầu lia lịa, những lọn tóc óng ả của nó trông dễ thương làm sao. Cô bé cầm lấy tay tôi gần như lôi ra khỏi phòng chạy vội xuống cầu thang.

- Không, anh độc đáo nhất nhà rồi. Xuống chúc Tết ba đi rồi đi chơi với em.

Trong phòng khách, một đám người đang kéo nhau đến chúc Tết ông Trân. Ông tươi cười cám ơn, chúc Tết lại họ và lì xì tiền cho những đứa trẻ con. Ðám khách phần đông là nhân dân trong đồn điền: một vài người Việt làm thư ký, tài xế nhân viên lo giao dịch mua bán, những người đàn ông đàn bà Thượng làm thợ cạo mủ cao-su. Trông mọi người đều bảnh bao trong những bộ quần áo nhiều màu sắc. Nhất là những anh chàng người Thượng, đầu tóc chải bằng nước hoa bóng láng, áo ny-lông màu đỏ hoặc vàng, bên ngoài đóng một bộ veston láng mượt, người ngợm trông như những khúc gỗ.

Khi nhìn thấy tôi, ông Trân đứng dậy rời đám khách, đi lại bắt tay tôi và nói những lời chúc Tết nồng nhiệt nhất. Tôi lúng túng tìm những câu chúc và thành thật mong rằng tất cả những điều tốt đẹp nhất đều dành riêng cho ông Trân vì ông là người xứng đáng được hưởng. Khi những “thủ tục” đầu xuân vừa xong, tôi xin phép với ông Trân cho tôi dẫn Thùy đi dạo chơi một lát trong vườn cây. Ông Trân mỉm cười nhìn bộ y phục của tôi.

- Cháu thật khác với ba cháu. Ba cháu là một nhà kinh doanh, còn cháu thì có dáng của một nghệ sĩ.

Tôi đỏ mặt sung sướng. Tôi cũng khoái làm một gã nghệ sĩ nhưng hình như tôi chỉ có được bộ vó bên ngoài, còn ngoài ra tôi không có một tài năng gì về nghệ thuật cả.

Tôi nắm tay Thùy dẫn ra khỏi nhà. Cô bé dụi đầu vào vai tôi, nó thấp hơn tôi một cái đầu nên khi nói chuyện với tôi, nó phải ngước đôi mắt to tròn trong vắt của nó nhìn lên.

- Này anh, anh đừng làm nghệ sĩ. Em ghét mấy ông nghệ sĩ lắm. Tháng trước, em về Sài Gòn, có một bà chị bà con dẫn em đi nghe ngâm thơ. Ðó là lần đầu tiên em thấy mấy ông thi sĩ, họ cũng là một... loại nghệ sĩ phải không anh?

Tôi gật đầu. Không ngờ cô bé này lại biết nhiều chuyện ở ngoài cái đồi rừng xanh của nó.

- Thấy mà khiếp... mấy ông nghệ sĩ. Tướng nào trông cũng có vẻ lừ đừ, khật khùng, có vẻ tàng tàng như người khùng, tóc tai dài bù xù thấy mà ghê, lại gân cổ đọc thơ gì nghe chán muốn chết.

- Ðừng nói bậy, em còn nhỏ. Nghệ thuật là dành riêng cho người lớn.

Thùy đành phải im lặng trước bộ mặt làm ra vẻ nghiêm nghị của tôi.

Ði xuống hết những bực thềm của ngôi nhà gỗ, băng qua khoảng sân ngắn được bao quanh bằng một hàng rào cây, chúng tôi bắt đầu đi vào vườn cây cao-su.

Ðây là ngày đầu tiên của tháng Giêng âm lịch. Những chiếc lá cuối cùng vẫn thường rơi vào mùa thu nay đã rơi xuống đất hết rồi, làm thành một lớp lá chết xào xạc dưới mũi giày. Mùa xuân cao nguyên trời lạnh còn hơn mùa đông ở miền đồng bằng. Rất ít khi được thấy mặt trời toàn vẹn đỏ rực trong bầu trời ảm đạm. Những áng mây xám giăng kín trên bầu trời như thế không biết đã bao lâu, như một tấm chăn êm ấm áp ru ngủ mặt trời, mặt trời hình như không bao giờ thức dậy nữa.

Hạnh phúc cho tôi. Hạnh phúc cho kẻ nào một sớm mai kia, bỗng dưng thấy mình rời xa hết những sinh hoạt ồn ào cuồng nộ, những phiền toái của một đô thị tranh giành hối hả. Một sớm mai bỗng dưng thấy mình đứng co ro trên miền cao nguyên xa xôi bên cạnh cô bé gái thơ ngây, thịt da giá lạnh bên ngoài nhưng sao trong tim nồng ấm. Tâm hồn chợt vô tư như một con chim sơn ca múa hót suốt ngày. Trí óc chợt rảnh rang, yên bình và trắng xóa như một nắm tuyết mùa đông Giáng Sinh.

Một bàn tay trần của tôi giấu kín trong túi quần bàn tay kia bận cầm một điếu thuốc lá. Ðôi môi lạnh run lẩy bẩy của tôi cứ thèm hoài những hơi thuốc lá. Tôi hút điếu này liên tiếp sang điếu kia. Tội nghiệp cho Thùy, cô bé không biết hút thuốc. Tôi phải phà những đám khói xanh bao bọc hơi ấm cho cô bé.

- Em lạnh không, Thùy?

- Không, em quen với mùa lạnh ở đây rồi. Chỉ anh không quen.

- Quen gì nổi. Anh lạnh chết được. Ðáng lẽ đi dạo chơi thế này phải trùm thêm cái chăn bông.

Thùy có vẻ tội nghiệp cho tôi, tay cô bé ôm chặt lấy cánh tay tôi như muốn cho tôi hơi thở nóng ấm. Những lọn tóc mềm của cô bé chảy lòa xòa trên cánh tay tôi quàng qua vai nó.

Chưa thấy mặt trời đâu cả. Bầu trời xám xuống thấp gần như vòm nhà thờ. Những thân cây cao-su màu nâu sù sì, đôi chỗ có một vài vệt mủ trắng chảy dài, đông cứng. Nhìn lên cao, những tàn lá nhỏ xanh ngắt tẩm ướt sương hay nước mưa đêm qua, trông mềm nuột như miếng chè đông sương mát lạnh, ngọt ngào trong miệng.

- Anh biết không, trời lạnh như thế này không thấm gì so với mùa đông. Anh biết không... mùa đông ở đồn điền... nếu anh ôm một ly cà-phê nóng trong người, vài phút sau anh sẽ được uống... một ly cà-phê đá.

Bàn tay tôi nắm lại, cốc nhẹ một cái lên đầu Thùy.

- Em chỉ tổ xạo.

Có tiếng pháo nổ dòn tan xa xa vang lại, từ ngôi nhà của Thùy và có lẽ cũng từ những dãy nhà thấp nằm rải rác trong đồn điền, nơi cư ngụ của nhân công. Bây giờ là ngày xuân, mọi người đều nghỉ việc nên tôi không được trông thấy cái cảnh hoạt động vui mắt mỗi sáng mai khi mặt trời chưa lên. Thùy chạy ào từ nhà ra ngoài sân, trên tay cầm cái kẻng đánh kêu vang rộn rã. Những người thợ cạo mủ cao-su không biết từ trong xó xỉnh bụi rậm nào, bỗng lục tục kéo ra nhộn nhàng như một đoàn quân.

Tôi không cần giữ gìn gì đôi giày cũ mèm gần há mõm của tôi, tôi đá tung tóe những cành cây gãy vụn rơi vãi trên đất, những chiếc lá già ngả sang màu nâu, bị dẫm nát dòn tan dưới bước chân tôi và Thùy. Chúng tôi lững thững đi từ gốc cây này sang gốc cây khác, thỉnh thoảng rẽ sang một ngã khác rất vô tình, những hàng cây trồng đều đặn tạo ra những con đường mòn thật giống nhau như đoàn lính mặc đồng phục, không tài nào phân biệt được.

Và chúng tôi như muốn nhắm mắt đi trong bãi sa mạc bình yên, không cần biết sẽ đến đâu và cũng chẳng bận tâm quay đầu nhìn lại nơi khởi hành.

Tôi hít đầy vào trong buồng phổi không khí trong lành tươi tắn của một buổi sáng chốn rừng xanh. Không khí của thiên nhiên có một chút hương thơm hoang dại của cây lá và hoa cỏ, có một chút hương thơm cao cả của trời xanh. Tất cả chan hòa với nhau cùng với bàn tay bé thơ ấm áp trong tay, tạo nên một hương thơm tuyệt vời ngây ngất, thật chẳng có thứ nước hoa đắt tiền nào so sánh nổi.

Hình bóng của cha tôi bấy lâu nay chất chứa thật xót xa trong trí não tôi, giờ đây trong một thời khắc ngắn ngủi đã dần dần tan loãng. Nếu cha tôi đọc thấy tâm hồn tôi trong lúc này, chắc người cũng tha thứ cho tôi. Người đâu có muốn đứa con mình cứ bị những ám ảnh khắc nghiệt của quá khứ đè nặng suốt cà thời tuổi trẻ. Rừng cây vẫn còn mờ mịt trong màn sương. Thấp thoáng ở đàng trước mặt hay bên cạnh chúng tôi, những thân cây và dãy núi khi ẩn khi hiện, một giây lát trông thật rõ ràng rồi một giây lát nữa bỗng biến mất trong vùng sương trắng xám. Tôi không thể nắm lớp sương trong tay, không thể sờ nhẹ lên chúng nhưng màn sương như một tấm áo mềm vô hình bao bọc chung quanh. Thùy thả bàn tay tôi ra, cô bé khẽ nhẹ nhàng lách sang một bên và bỗng dưng tan biến đi đâu mất. Tôi đứng một mình giữa rừng cây. Trước tôi chừng hai thước, mái tóc đen của Thùy chợt hiện ra, thân hình của cô bé chìm mất gần hết trong đám sương bồng bềnh như khói. Khi cô bé biến mất trở lại, tôi nghe mơ hồ tiếng cười tinh nghịch của nó văng vẳng như hồi chuông. Thùy trở nên một ảnh tượng mơ hồ không thực, mảnh mai và dễ tan biến như một hạt bong bóng nước. Tôi sợ hãi kêu lên. Bàn tay trần lạnh giá của tôi chợt ấm lại. Thùy đã đứng bên cạnh tôi, cô bé cười thích thú, bàn tay nó nắm chặt lấy bàn tay tôi rồi lại buông thả ra như muốn kéo dài suốt ngày cái trò chơi ú tim trong màn sương dày đặc.

Tôi giữ chặt lấy bàn tay Thùy, không bao giờ muốn bỏ ra nữa như sợ rằng sẽ đánh mất nó đi. Tôi cũng sợ mùa xuân vừa đến với tôi trong một hai ngày thật thần tiên nhưng biết đâu sẽ chết non vội vàng.

Trong đầu óc tôi văng vẳng những điệu nhạc rộn ràng mê đắm làm tôi lặng người, nghe rõ ràng từng giọt âm thanh ngân vang nhè nhẹ trong tâm hồn. Bài hát một đôi làn tôi đã nghe trong những quán vắng ở Sài Gòn. Tôi vô tình khẽ hát những lời ca không còn nhớ toàn vẹn, nghe đứt đoạn như hơi thở bồi hồi vì cơn giá lạnh miền rừng núi.

Một đàn chim tóc trắng bay về qua trần gian...
báo tin rằng có nàng Giáng Hương.
Nàng ngồi trên cung vắng, trong một đêm đầu
trăng, phá then vàng bước vào vườn hoang...


Thùy ngước mặt:

- Một bài hát?

- Dĩ nhiên rồi.

- Nghe “được” lắm đấy, ai làm ra nó thế?

Phạm Duy là một nhạc sĩ danh tiếng từ thời tiền chiến, nhưng cái tên này hoàn toàn vô nghĩa đối với Thùy. Tôi gật đầu bừa.

- Của anh. Anh viết bài hát đó đấy.

Thùy gật gù, cô bé sung sướng thưởng cho tôi nắm mứt gừng. Tôi nhai ngấu nghiến những miếng mứt cay thơm, ngọt ngào tan trong miệng.

- Anh số một đấy. Tướng anh lừ đừ thế mà giỏi thật. Chốc nữa em sẽ về khoe với ba, ba sẽ rất hân hạnh được quen biết với một nhạc sĩ.

- Ðừng, em. Ba không thích âm nhạc đâu.

- Ba thích lắm chứ. Anh chưa nghe ba đàn dương cầm, hay không thua gì mẹ.

- Anh đã bảo là đừng. Em nghe không?

Thùy buồn rầu gật đầu: em nghe. Tôi thoáng một chút hối hận vì đã nói dối. Những bước chân của tôi chợt nhẹ thênh thang như đi trong một cơn mộng du. Bài hát từ một nơi nào sâu kín trong người, chợt nổ bùng ra như một bông hoa mai vàng nở trong đêm giao thừa. Bài hát tuôn trào mỗi lúc một vang vọng, khắp nơi hình như có tiếng dương cầm lướt theo thánh thót.

Bỗng có tiếng chuông xe đạp reo vang ở đâu đây làm tôi giật mình. Từ trong vùng sương mù mịt hai thằng bé người Rhadé đèo nhau trên một chiếc xe đạp phóng ngang trước mặt chúng tôi dường như chúng mới ở rừng xanh chui ra. Thùy kêu lên:

- Ê!

Chiếc xe đạp dừng lại. Hai thằng bé đen đủi như than hầm, bốn con mắt to mở ra sáng quắc, chúng nhe hàm răng trắng toát cười với Thùy rồi bỗng ngậm ngay miệng lại e dè nhìn tôi với những ánh mắt sợ sệt, không có chút cảm tình nào cả.

Thùy tiến lại nói với chúng một tràng tiếng Thượng, nghe lơ lớ thật kỳ quái, hai tay cô bé múa ra dấu phụ thêm cho lời nói. Thằng bé nhỏ nhất đưa chiếc cần câu cá làm bằng tre và chiếc giỏ mây khoe với Thùy. Thùy nói lắp bắp thêm vài tiếng gì nữa rồi thằng bé lớn nhất gật đầu, nó xuống xe đưa ghi-đông cho Thùy. Thằng nhỏ nhất đưa luôn cho Thùy cả chiếc cần câu và giỏ mây. Thùy dúi vào tay thằng bé mấy tờ giấy bạc mới tinh, nhưng thằng bé lắc đầu, nó chỉ chớp lấy gói mứt trên tay Thùy bỏ vào miệng nhai ngon lành như một tay thỏ rừng. Chúng bỗng chỉ tay vào tôi, thi nhau nói những tràng tiếng bí mật rồi lủi đi, mất dần hẳn sau những thân cây cao-su.

Thùy cười vui thích, cô bé đưa cho tôi chiếc xe đạp.

- Em mượn của chúng nó, sáng nay tụi mình xuống hồ câu cá, mình ráng trưa nay cho ba ăn món cá nướng dầm nước mắm ớt.

- Thằng nhóc đó nói gì anh thế?

Thùy bật cười. Cô bé leo lên ngồi trên yên sau của chiếc xe đạp. Tay tôi nắm chặt ghi-đông, chân ấn mạnh vào bàn đạp và bánh xe bắt đầu lăn chậm chạp trên nền đất gồ ghề những đám lá, cành cây gãy và lỗ trũng đầy nước bùn.

- Tụi nó nói em phải coi chừng anh ăn cắp chiếc xe đạp của tụi nó. Ba má chúng làm trong đồn điền, phải dành dụm cả năm mới mua được chiếc xe đó.

Tôi chửi thề.

- Mẹ tụi nó! Ðã nói thế lát nữa mình ném cha chiếc xe cà tàng này chìm xuống hồ luôn. Mặt mũi anh thế này mà thèm ăn cắp xe đạp hả?

- Ðừng đùa, anh. Ngày Tết chúng kéo nhau đến nhà mình đòi tiền, khóc ròng thì mình xui cả năm.

Theo bàn tay chỉ đường của Thùy, tôi đạp xe đi băng qua rừng cao-su, rẽ sang trái, sang phải, leo lên dốc rồi lại xuống dốc, đi trên những con đường mòn loằng ngoằng chẳng biết sẽ đưa đến đâu. Một lúc sau tôi như lạc hẳn đi trong rừng. Chung quanh chỗ nào cũng là những thân cây, khóm lá, những bông hoa màu tím lấm tấm khắp nơi trên cỏ dại. Tôi mù mịt lối đi, chỉ mong Thùy còn nhớ được lối trở về. Hai chân tôi hoạt động không ngừng trên bàn đạp nên tôi cảm thấy mạch máu bắt đầu chảy ấm áp trong thân thể. Miệng tôi phì phà một điếu thuốc lá. Thùy ngồi ôm quàng cánh tay vòng quanh bụng tôi, cô bé cắn hạt dưa luôn mồm. Ðôi môi của chúng tôi cử động liên hồi nên bớt lạnh phần nào.

Thùy bỗng kêu lên: Sắp tới rồi. Tôi đạp xe lên một con dốc thật cao, hơi thở từ miệng tôi bay ra như khói. Từ trên cao tôi nhìn thấy hồ nước nhỏ dưới thấp. Những cây cổ thụ nằm bên cạnh hồ, vươn những cành cây và tàn lá rậm rạp che gần kín hết mặt hồ nước. Tôi hăng hái ấn mạnh chân vào bàn đạp, chiếc xe chạy bay xuống dốc, nhanh nhẹn lách qua lách lại để khỏi đâm đầu vào một gốc cây to tướng nào đó. Thùy chợt ôm chặt lấy tôi, cô bé kêu lên.

- Trời ơi! Em quên nói với anh là hồi nãy thằng bé bảo xe chúng nó không có thắng.

Tôi hoảng hồn đưa hai chân rà trên đất để kìm bớt tốc độ lại, nhưng vô ích. Con đường dốc quá cao nên những bánh xe vẫn lăn vun vút, thỉnh thoảng trúng vài mô đất, chiếc xe nhảy lên nhảy xuống lóc cóc, như ngựa phi nhưng là một con ngựa rừng không còn biết nghe lời chủ. Chiếc xe nhắm thẳng hồ nước lao đầu xuống, tôi đã nghĩ đến cái cảnh tôi và Thùy rơi tõm xuống mặt nước lạnh chết người. Tôi đảo mắt tìm một thân cây nào có vỏ mềm mại nhất để húc vào đó nhưng rồi ngần ngại không dám. Bỗng bánh xe vấp phải một cây rừng nằm chắn ngang lối đi, tôi văng ra khỏi xe. Tôi nằm dài trên đất, chiếc xe đạp quái quỉ đè trên bụng. Tôi sợ hãi nhìn tìm Thùy nhưng cô bé đang đứng cười sặc sụa, tỉnh táo như không có gì xảy ra cả.

- Em nhảy khỏi xe liền. Anh có bị sao không?

Tôi mỉm cười lồm cồm ngồi dậy, phủi đất ướt và lá bám đầy người.

- Không sao. May mà không nhào xuống hồ hay vào vũng bùn.

Lát sau chúng tôi ngồi trên một tảng đá nằm bên bờ suối. Thùy cầm chiếc giỏ mây, vẻ mặt háo hức như tin chắc rằng chốc nữa sẽ đem về nhà một đống cá tươi lăn lóc. Tôi ngồi nhìn chiếc phao câu nổi vật vờ trên mặt hồ, cạnh những xác lá. Ðôi giày và ống quần của tôi bây giờ đã thấm ướt nước suối và những hoa cỏ may lấm tấm đeo đầy trên lớp vải.

Trời lạnh như thế này chắc cá đi ngủ hết trơn rồi. Nhưng chúng tôi kiên nhẫn chờ đợi. Mùa xuân đôi khi vẫn đem lại bất hạnh cho một ai đó. Biết đâu sẽ có những chú cá tung tăng dạo chơi mừng xuân dưới giòng nước, sẽ có một vài chú tham ăn đớp lấy con tôm ngon lành giấu kín bên trong chiếc lưỡi câu sắc nhọn. Và bữa nay đây, không chừng trong ngọn lửa hồng dưới bếp, tôi và Thùy sẽ chảy nước miếng hít thở mùi cá nướng thơm phức.

Giọng của Thùy đột ngột reo lên.

- Trời ơi! Có rồi kìa...

Tôi giựt mình, giật mạnh cần câu lên cao nhưng con tôm làm mồi vẫn còn nguyên vẹn trên lưỡi câu, chẳng thấy một con cá nào dính mồi cả.

Thùy ngước mắt lên.

- Không, em không nói có cá. Có mặt trời... mặt trời bây giờ lên rồi kìa.

Tôi cầm hờ hững chiếc cần câu, nhìn lên trời cao. Mặt trời cố gắng lan những tia nắng đỏ hồng ra khỏi đám mây nhưng ánh nắng vẫn còn yếu ớt. Rồi phút chốc, đám mây xám như rã tan trốn chạy. Mặt trời đỏ ối hồng hào, chiếu sáng hùng vĩ trên nền trời xanh. Làn nắng ấm khỏe mạnh cũng rơi chan hòa như cơn mưa giông, tắm đẫm rực rỡ trong rừng cây, reo vui trên bọt nước hồ, xuyên qua những kẽ lá trên cành cây xanh làm thành những đốm sáng rọi xuống mặt đất. Những giọt sương rơi đêm qua còn đọng trên lớp cỏ dại, trên lá cây rừng như những hạt kim cương nay đã dần dần lấp lánh thêm một giây phút ngắn ngủi rồi tan biến.

Thùy bỗng giằng mạnh chiếc cần câu trên tay tôi, sợi giây cước rút nhanh lên cao. Một con cá vảy bạc trắng xóa nhảy nhót dưới ánh nắng, vùng vẫy trên chiếc lưỡi câu. Tôi chạy ào xuống hồ chụp bắt trong tay con cá tươi lạnh ngắt. Thùy chợt không còn thích thú như tôi tưởng, đôi mắt cô bé buồn rầu có vẻ tội nghiệp cho chú cá. Tôi cũng thấy buồn theo.

Và đó là con cá duy nhất mà chúng tôi câu được trong suốt buổi sáng ngày đầu xuân. Một cuộc đi câu cá mà có lẽ trong lòng hai người thợ câu, kẻ nào cũng thầm mong chẳng có cá nào mắc nạn.

Tôi, và có lẽ cả Thùy, chúng tôi không muốn hạnh phúc ngày xuân chỉ đến cho người, mà cho cả đàn cá dưới lòng suối, côn trùng trong những gốc cây mục và cho bầy chim rừng đang hót vang trên khóm lá.

Buổi sáng mồng một Tết chấm dứt khi con cá bạc được Thùy thả xuống hồ nước.

(Xem tiếp PHẦN II)
 

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

MẮT CỌP - Hoàng Ngọc Tuấn

 

Năm đó, tôi lên Ban Mê Thuột vào dịp Tết. Lý do là vì ở Saigon hoài đâm ra chán ngấy, nhất là Tết mà ở một mình trong thành phố rộng lớn này có lẽ phải buồn dễ sợ. Hơn nữa tôi có nhà một người bạn thân ở thị trấn cao nguyên này, tôi đã từng ở đây một thời gian và dầu cho lang bạt khắp chốn cũng khó lòng quên được những hình ảnh dễ thương, thơ mộng của Ban Mê Thuột, nơi mà người ta thường gọi là xứ Buồn Muôn Thuở.

Hồi ấy, tôi làm phóng viên cho một tờ nhật báo lá cải. Một tờ báo rất bạc đãi đối với bọn săn tin thời sự chính trị, vì nó sống lây lất chẳng qua là nhờ những tiểu thuyết võ hiệp và khiêu dâm đầy tràn ở trang trong. Tôi thường viết những bài phóng sự chiến trường, nhưng không được một ai chú ý đến vì thật ra nó tẻ nhạt như một bản thông cáo tình hình chiến sự. Thường thường tôi đến nơi sau khi súng đã im tiếng, người ta đã thu dọn mọi chuyện và tôi chỉ cắm đầu ghi chép lời của viên chỉ huy quân sự nơi đó, nghe y kể chiến công này nọ và trịnh trọng cầm cây gậy chỉ chỏ vào tấm bản đồ hành quân.

Tóm lại tôi là một người làm biếng, một phóng viên tồi, làm báo chẳng qua là để kiếm chút ít tiền sống qua ngày, và vì đã thất bại với đủ nghề trước khi lao đầu vào nghề này.

Lão chủ nhiệm lại thích tỏ ra mình là người có nhiều sáng kiến và hay ra lệnh. Những ngày gần Tết, bỗng nhiên lão gọi tôi vào văn phòng.

- Trong năm qua tôi thấy anh làm việc có vẻ lơ là quá. Như thế biết bao giờ mới "nổi" được. Làm báo là phải siêng năng, mạo hiểm, chịu khó đi xa, viết những cái gì thật độc đáo không giống với ai cả.

Tôi ngắt lời lão cộc lốc:

- Tôi biết rồi, thưa "xếp".

Lão gật gù nhìn tôi:

- Tết này anh có kẹt gì không, có về thăm gia đình không?

- Không.

- Tốt lắm. Dạo này ở cao nguyên thường có đánh nhau. Người ta chú ý nhiều đến Dakto, Pleime... v.v. Nếu anh chịu khó bay lên đó nằm chơi mấy ngày Tết, viết một cái phóng sự về đời sống của những chiến sĩ nơi tiền đồn rừng rú hẻo lánh, tôi thấy có vẻ ăn khách lắm.

Tôi chửi thề trong bụng. Tôi muốn nói thẳng với lão là cái "sáng kiến" của lão thật lẩm cẩm và chỉ có mỗi một mục đích là hành hạ người ta thôi, nhưng viễn ảnh thất nghiệp đói rách khiến tôi ngậm câm miệng. Tôi cũng gật gù:

- Được rồi. "Xếp" chi tiền một giấy máy bay khứ hồi lên Ban Mê Thuột cho tôi, từ đó tôi xin phương tiện quân sự ra thăm các tiền đồn. Và đừng quên tiền công tác phí là tôi sẵn sàng đi ngay.

Lão chủ nhiệm nhăn nhó khi nghe nói đến vấn đề xuất tiền bạc. Nhưng cuối cùng có lẽ nghĩ đến việc hy sinh một mùa xuân vui chơi của tôi nên lão cũng bằng lòng. Bà vợ lão cố vớt vát bằng cách gởi tiền tôi mua mật ong, cao hổ cốt, thịt nai khô nhân dịp tôi lên Ban Mê Thuột. Bà ta nghe nói trên đó những thứ ấy rẻ lắm.

Thế là có mặt tôi trong một chuyến bay rời khỏi Saigon vào ngày hai mươi tám Tết. Bỏ mặc cái thành phố đang nhộn nhịp những người đi sắm áo quần, mứt bánh, sửa soạn cho một ngày Tết ấm cúng trong gia đình. Nhìn qua khung cửa kính của phi cơ, thành phố nhỏ dần như món đồ chơi. Giờ này, hành khách đang nôn nóng trở về nhà đón xuân. Chỉ có tôi là đang bắt đầu cái công việc vô duyên chán nản nhất. Nhưng sống vất vưởng nay đây mai đó đã quen, tôi cũng không thấy buồn bã gì cả. Cái nghề nghiệp lạ lùng này nó bất cần biết đến ngày nghỉ lễ hay Tết nhứt gì hết. Và muốn sống dai với nó, điều đầu tiên là phải vứt bỏ bớt tình cảm, lòng dửng dưng khô rắn như một khúc gỗ.

*

Vì có đánh điện tín trước nên khi vừa đến phi trường Phụng Dực, tôi đã thấy Bằng đứng đợi sẵn. Hắn la lên, vẫy tay ra hiệu. Cái thằng bạn vui tính này, trước kia học cùng lớp tôi, bây giờ hắn trông nom đồn điền café cho ông bố. Trời Ban Mê Thuột mọi khi đã lạnh nay lại là mùa xuân, gió mưa lất phất rét chết người. Bằng quàng thêm cho tôi chiếc áo ấm rồi kéo tôi ra khỏi phi trường, hắn phóc lên một chiếc xe gắn máy đèo tôi phóng chạy như bay. Phải mập mạp và chịu lạnh quen như Bằng mới dám phóng xe gắn máy từ phi trường về thành phố, gió quật ngược vào người như những ngọn roi đau buốt, nhưng Bằng vẫn cười nói luôn miệng:

- Năm nay về nhà tao ăn Tết. Ở cái xứ đất đỏ này ngày Tết cũng vui ra phết... Năm nay tao...

Tôi gật đầu mặc dầu gió thổi mạnh làm tôi không nghe gì cả, mặc cho Bằng vẫn thao thao nói ba hoa gì đó, chắc là hắn đang phác họa chương trình đi chơi mấy ngày Tết.

Đêm Giao Thừa ở nhà Bằng, tôi mới khám phá mình vẫn mềm yếu như trẻ con. Tiếng pháo bên ngoài đì đạch nổ vài cái, sửa soạn cho những tràng pháo dài tha hồ ròn rã vào lúc mười hai giờ sắp đến. Trong nhà, bà mẹ của Bằng bày biện đồ cúng Tất Niên, những con gà luộc chín bốc khói, cua, trứng và cặp bánh chưng bọc lá chuối vừa vớt từ trong nồi bánh ra, nghi ngút khói. Những đứa em của Bằng co mình trong chiếc áo len mới, đứng sát bên nhau, hau háu nhìn vào đồ cúng. Bằng cũng bệ vệ trong bộ áo quần mới của hắn, hắn lăng xăng khắp nhà để sửa sang cái này cái kia. Bầu không khí ấm cúng đoàn tụ của gia đình Bằng làm tôi tủi thân. Tôi nhớ nhà kinh khủng. Nhà tôi, mẹ và ba đứa em nhỏ bây giờ đang làm gì, năm nay không biết có ai mua pháo và quần áo mới cho chúng, mẹ tôi có gói bánh chưng, bánh tét và làm mứt me dầm như mọi năm không.

Những hình ảnh ấy tôi tưởng chừng đã quên đi rồi, bây giờ bỗng thấm ướt vào người tôi, làm tôi thấy giá lạnh vô cùng.

Tôi bỏ ra khỏi nhà Bằng, trời tối đen, tôi cắm đầu đi về phía phố. Con đường vắng ngắt tối tăm, những dãy nhà đều đã đóng kín cửa, hắt ra từ khung cửa sổ một tí ánh đèn vàng, giờ này mọi gia đình đều đầy đủ quây quần bên nhau chờ đón Giao Thừa. Pháo nổ rải rác đây đó. Ngay trung tâm thành phố, quang cảnh đen ướt hoang vu như một sa mạc chết. Chỉ bơ vơ mấy ngọn đèn đường còn nhà nhà đều câm lặng. Rạp chớp bóng, khu Chợ Mới, những quán ăn ban chiều còn tấp nập, bây giờ bất động quạnh quẽ như một nghĩa địa. Nhưng chỉ là nghĩa địa đối với tôi thôi, còn bên trong những nấm mồ (do tôi tưởng tượng), người ta đang ấm áp bên nhau trong nỗi hạnh phúc ngày xuân.

Tôi nghe tiếng giầy của mình vang lẻ loi đều đều trên đường. Khói thuốc lá không đủ ấm lòng mặc dầu đốt liên hồi làm môi đã khô nóng, co mình trong chiếc áo dạ rộng phùng phình, tôi cắm đầu đi suốt hết con đường Y Yut, rồi rẽ lên phía nhà thờ. Tôi muốn đến suối Bu Ji nhưng trời đã khuya, con suối lại nằm xa tít ở bìa rừng, đường núi gập ghềnh nên tôi không dám đến đó bây giờ. Tôi đành ngồi trên một chiếc ghế đá, đặt ngoài sân nhà thờ. Có bức tượng nhỏ của một ông thánh gì đó làm bằng đá cứng trên bục cao, gần bồn hoa và hồ nước nhỏ. Tôi không biết ông thánh ấy tên gì nhưng đêm nay, ngoài tôi ra, có lẽ ông ta là hình thù giống người duy nhất đang đứng ngoài trời.

Tôi ngủ thiếp đi trên ghế đá. Một khoảng thời gian trôi qua khá lâu, rồi những tràng pháo nổ ầm ĩ làm tôi giật mình thức dậy. Trong bóng tối dày đặc của thành phố, nhấp nháy khắp nơi những ánh lửa, khói thuốc pháo thơm thoang thoảng đâu đây. Không cần có đồng hồ, tôi cũng biết bây giờ là mười hai giờ đêm.

Đêm Giao Thừa của tôi năm nay như thế đó.

*

Ngày đầu tiên của năm mới, nhà của Bằng bận rộn những khách khứa, những lời chúc Tết và bánh mứt, rượu đầy tràn trong phòng khách. Tôi bỏ ra phố một lần nữa. Cả cái thị trấn cao nguyên nhỏ nhoi này dường như vừa khoác một chiếc áo mới. Những thiếu nữ áo len đen và tà áo dài đủ màu rực rỡ, thỉnh thoảng nhiều người Thượng cứng ngắc trong bộ vó sang trọng nhất. Người người đi dạo chơi gần như quanh quẩn ở một đường chính của thành phố. Đường Quang Trung kéo dài từ nhà thờ đến chợ. Mọi quán đều đóng cửa ngoại trừ rạp hát đang đông nghẹt khách, tấm bảng quảng cáo đập vào mắt hình ảnh súng nổ, đấm đá dữ dội của một cuốn phim cao bồi.

Tôi tìm đến một quán café của người Tàu ở góc chợ, điểm tâm bằng một cái bánh bao bốc khói và ly café sữa. Thành phố nhộn nhịp một cách dễ thương bên ngoài, càng làm tôi thấy lẻ loi hết sức.

Ngay trong khi tôi ra sạp thuốc để tìm một thứ thuốc lá quen thuộc, tôi bỗng kinh ngạc đến ngẩn người, người bán hàng thối tiền lẻ lại nhưng tôi vẫn bất động nhìn chăm chăm về phía rạp hát.

Thằng Mắt Cọp, thằng em trai tôi đó sao. Dáng nó cao lêu nghêu, chiếc áo len đỏ chói và quần "Din" xanh làm nó nổi bật hẳn lên trong đám người. Đúng là thằng Mắt Cọp, không thể nào lầm lẫn được. Tôi la lên:

- Mắt Cọp! Mắt Cọp!

Ở đằng kia, Mắt Cọp giật mình ngơ ngác. Khi nhìn thấy tôi, nó la lên một tiếng ngạc nhiên, rồi phóng băng qua đường bất kể xô lấn mọi người. Hai anh em tôi ôm chầm lấy nhau mừng rỡ vô cùng, tay tôi giật giật cái gáy tóc rậm rạp của Mắt Cọp.

- Mắt Cọp, mày bây giờ lớn quá rồi. Sao? Làm sao mà mày lại ở Ban Mê Thuột lúc này? Má và tụi nhỏ đâu?

Tôi lo lắng hỏi nó. Mắt Cọp nhe răng cười, đôi mắt nó vẫn to long lanh như mắt con gái, nhưng đôi lông mày rậm thỉnh thoảng nhíu lại với vẻ giận dữ làm nó có biệt danh Mắt Cọp.

- Ở ngoài Qui Nhơn hết chứ đâu. Bà Trân mời nhà mình lên Ban Mê Thuột ăn Tết. Má bịnh nên không đi được, má cho em lên đây chơi một mình. Mấy ngày nay em ở nhà bà Trân, chơi với tụi nhóc con bà hoài cũng chán. Anh biết bà Trân không?

- Biết. Cái bà lúc trước hay hùn hạp làm ăn với má chứ gì?

Mắt Cọp gật đầu, nó nói có vẻ buồn buồn:

- Lúc này bà đó làm ăn phát tài dữ lắm. Còn má thì cứ thua lỗ hoài. Em lên đây chơi một phần, một phần là để mượn tiền bà Trân cho má. Nhà mình lúc này "bết" lắm.

Mắt Cọp làm tôi thấy buồn bã. Thằng Mắt Cọp ngày xưa suốt ngày chỉ lo chơi đùa phá phách bây giờ đã biết lo lắng về chuyện tiền nong gia đình. Mắt Cọp lặng lẽ quan sát tôi, nó e dè hỏi:

- Trông anh ốm quá, anh lúc này ra sao?

- Thì cũng loay hoay kiếm đủ ăn.

Đôi mắt của Mắt Cọp bỗng mềm và buồn như nai tơ, nó nắm lấy tay tôi đặt lên bàn:

- Từ ngày anh bỏ đi, má với tụi em ngày nào khi ăn cơm cũng khóc. Thôi anh về nhà đi, má hết giận anh rồi.

Lời nói của Mắt Cọp như những mũi kim đâm vào bụng tôi đau nhói. Nếu không ngồi trong quán, chắc tôi đã bật khóc như trẻ con, ngày xưa mỗi lần mấy anh em bị mẹ tôi cho ăn roi vì nghịch ngợm, tôi vẫn là một thằng mau nước mắt nhất.

Tôi cố dằn lại bằng cách hỏi Mắt Cọp ăn uống gì, nó gọi một tô hủ tiếu và một chai xá xị. Tôi mỉm cười nhìn cái miệng của Mắt Cọp cuốn thức ăn vùn vụt như một con cá mập đớp mồi. Nó vẫn háu ăn và hồn nhiên như hồi xưa mặc dầu bây giờ đã được mười tám tuổi. Những ngày xưa vô tư của tôi bỗng hiện về trước mắt, rõ ràng như quang cảnh đường phố.

Hồi đó, nhà tôi ở trên bãi biển, mùa hè mấy anh em tôi được nghỉ học, bọn tôi chơi đùa phá phách suốt ngày. Căn nhà và khu vườn có những cây trứng cá đầy bóng mát trở thành miền Viễn Tây máu lửa, nơi xảy ra biết bao cuộc tranh hùng của những bộ lạc da đỏ hiếu chiến. Tôi, thằng anh đầu, lúc đó được mười tám tuổi, là tù trưởng của một bộ lạc với biệt danh là Ngựa Vằn, ông vua của những thung lũng hoang vu. Thằng em trai kế tôi là xếp sòng một bộ lạc thù nghịch, biệt danh là Mắt Cọp, chúa tể của sơn lâm. Cô em gái duy nhất trong nhà, nhất định lấy cái tên là Hươu Cao Cổ, công chúa của rừng xanh. Và thằng em út, hỗn danh là Dế Lửa, chúa tể của lòng đất âm u. Tất cả chia ra làm hai phe trong những trận đụng độ bằng cách ném cát, bắn đạn giấy, đấu kiếm v.v... Mắt Cọp và thằng Dế Lửa một phe, tôi và cô em gái Hươu Cao Cổ một phe. Chúng tôi ẩn nấp, rình rập trong căn nhà suốt ngày để thanh toán nhau bằng những viên đạn giấy bắn bằng sợi dây cao su, khi bị trúng vào ngực hay mông cũng đau điếng người. Hươu Cao Cổ chạy nhanh nên thường được tôi cử đi tiền sát, thám báo. Bên kia, thằng Dế Lửa giỏi chui rúc được chọn làm điệp viên dọ thám.

Mắt Cọp thua tôi hai tuổi, nhưng nó to con và mạnh bạo hơn tôi nhiều. Có lần đấu vật trên bãi biển, nó đè ngửa được tôi, một tay nó siết cổ và tay kia cầm một nắm cát đe dọa nhét vào miệng tôi. Tôi hoảng hồn la lên:

- Thả tao ra, Mắt Cọp!

- Anh phải nói chịu thua, em mới thả.

- Được, tao chịu thua.

- Không được. Chúa tể Ngựa Vằn, anh phải hứa chỉ trong 24 giờ, toàn thể bộ lạc của anh và con Hươu Cao Cổ phải ra khỏi nơi này, nhường hết đất đai lãnh thổ cho Tù Trưởng Mắt Cọp cai trị.

Thằng điệp viên Dế Lửa vỗ tay hoan hô, khoái chí ké vào mấy câu:

- Giang sơn này đã thuộc về ta. Mắt Cọp và Dế Lửa muôn năm!

Tôi phát cáu la lên:

- Mắt Cọp, mày không buông ông ra, chốc nữa đến giờ học ông ra cho mày một bài toán hóc hiểm cho mày bí chết luôn.

Thằng Mắt Cọp chợt nhớ ra tôi là "giáo sư" kèm học trong nhà vào mỗi buổi chiều. Nó ngán tôi lấy uy quyền của ông giáo để trả thù, nên sợ hãi buông tôi ra ngay. Nó đứng dậy xin lỗi tôi rối rít, tôi liền nhanh tay kẹp cổ nó lôi xuống biển nhận nước. Tôi bơi lặn giỏi hơn Mắt Cọp nhiều, cái thằng này chỉ uống vài ngụm nước là sặc sụa xin đầu hàng liền.

... Tôi phá bật cười cùng với lúc Mắt Cọp cũng cười sặc sụa. Hớp nước ngọt trong miệng nó sặc lên mũi văng ra ướt cả mặt. Chắc nó cũng vừa nhớ lại những cuộc tranh tài giữa hai anh em, như tôi đang tưởng nhớ miên man. Tôi châm một điếu thuốc rồi đẩy bao thuốc lá về phía nó.

- Mày bây giờ biết hút thuốc lá chưa?

Mặt Cọp lắc đầu:

- Em chê cái trò này. Chỉ khoái uống cô-ca, xá xị hay đi xi nê.

Trời đã bắt đầu trưa nhưng mùa xuân cao nguyên, mặt trời vẫn nhường chỗ cho mưa bay lất phất, giá lạnh cho những kẻ cô đơn. Tôi cũng sẽ giá lạnh biết mấy nếu không gặp Mắt Cọp buổi sáng nay. Mặc kệ tất cả những chuyện gì rắc rối có thể xảy đến, tôi cũng nhất định cho tôi và Mắt Cọp một  cái Tết thật đẹp. Tôi búng tay gọi chú bồi kêu thức ăn cho buổi cơm trưa. Bữa ăn theo kiểu Tàu với "cơm thố" và đầy thức ăn, gà vịt, heo quay và một cái "cù lao" bốc khói. Tôi và Mắt Cọp, không ai nhường nhịn ai, thi đua ăn một bụng thỏa thích. Chai bia làm bữa ăn thêm ngon miệng, da thịt trở nên ấm áp một chút. Xong xuôi, tôi trả tiền và kéo Mắt Cọp ra khỏi quán.

- Mày về nói với bà Trân là mày sẽ đến ở với tao vài ngày. Tao cũng về dặn thằng bạn cho nó khỏi đợi. Chiều nay hai giờ ra trước rạp Lo Do đợi tao.

Mắt Cọp khoái chí ra mặt, nó cứ nhúc nhích đôi lông mày rậm của nó, dấu hiệu thường thấy mỗi khi nó vui thích điều gì.

- Đi chơi Tết với anh là số dách rồi. Thôi em về anh nghe.

- Mày quên tên tao rồi hả?

Mắt Cọp dừng lại, nhìn quanh quất bốn phía rồi nó hứng chí vỗ bàn tay vào miệng hú lên một tràng dài như mọi da đỏ. Những người đi đường ngạc nhiên nhìn, nhưng nó vẫn tỉnh bơ, đưa hai ngón tay lên mắt ra dấu chào tạm biệt.

- Chào Ngựa Vằn.

- Chào Mắt Cọp. Chiều gặp lại.

Tôi trả lời và nhìn bóng dáng của nó xa dần, cặp giò sếu vườn thoăn thoắt một chốc là biến mất sau một ngả rẽ của thành phố.

Có tiếng pháo nổ dòn tan nghe thật hào hứng.

*

Chiều hôm đó, tôi và Mắt Cọp bắt đầu rong chơi khắp thị trấn. Đi quanh mãi hàng phố nhỏ cũng chán, chúng tôi lê gót đến những nơi xa hơn. Ngôi chùa Khải Đoan làm bằng gỗ đẹp lạ thường, nghi ngút khói hương. Ngoài cổng chùa, trên con đường nhỏ dẫn xuống thành phố, nhan nhản những sòng Bầu Cua Cá Cọp. Tôi thua mất vài trăm bạc ở chỗ này. Mải mê ăn thua tôi lạc mất Mắt Cọp trong đám người chung quanh. Tìm mãi mới thấy Mắt Cọp đang chúi đầu trong một sòng bài ba lá. Tôi phải kéo nó đi để tránh cho nó cái cảnh sạch túi vì thứ bạc bịp này.

Tôi cũng khá rành về Ban Mê Thuột nên tôi dẫn Mắt Cọp vào sâu trong những rừng rẫy xa xôi của người Thượng. Mắt Cọp cứ trố mắt nhìn những bầy con nít đen thui tắm suối. Những ngôi nhà sàn nằm sát nhau trông thật dễ thương trong buôn Thượng. Chúng tôi đi dọc theo dòng suối Bu Ji và suối Đê, gặp trời nắng mà tắm suối thì khoái biết mấy nhưng tiếc là mùa này nước lạnh băng như nước đá. Dưới bóng mát của những cây rừng âm u, lá ướt nằm chất đầy trên đất đỏ. Đến trưa, tôi mua cho Mắt Cọp ăn bằng thích một bung bắp luộc và đu đủ. Những khu vườn ở ngoại ô thành phố vẫn đầy trái cây quanh năm và chủ nhà rất vui vẻ bán cho bất cứ người nào hỏi mua. Mắt Cọp có vẻ thích hợp với rừng núi, từ trước đến nay nó chỉ nhìn thấy đồi núi và cánh rừng xanh trong phim ảnh.

Đến chừng đi rong đã mỏi chân, tôi nói:

- Thôi, mình về phố. Mày có muốn đi xe ngựa không?

- Khoái lắm, em chưa đi bao giờ.

Thế là tôi và Mắt Cọp lắc lư trên một chiếc xe ngựa chạy lóc cóc chậm rãi. Con ngựa già khi leo lên dốc quốc lộ lê từng bước một như muốn sụm đầu gối. Tôi và Mắt Cọp phải nhảy xuống xe, chạy bộ cho qua khỏi con dốc cao. Lát sau, bánh xe lăn đều lạo rạo trên mặt đường, mưa nhẹ đã làm mặt đất đôi chỗ có vài vũng nước và sình lầy. Mắt Cọp ngồi nhai kẹo cao su, nhịp chân bên cạnh lão mã phu, mắt nó mơ màng như tưởng tượng mình là một chiến sĩ da đỏ trên lưng ngựa.

Tôi vỗ mạnh vào vai nó:

- Tụi mày bây giờ còn chơi trò mọi da đỏ nữa không?

- Hết rồi. Từ khi anh đi, ở nhà chán chết. Em bây giờ giữ "gôn" cho đội banh trong trường, bắt dính như keo. Thằng Dế Lửa giờ siêng học ghê gớm, cả ngày cứ lầm lì chúi mũi vào vở, tháng nào nó cũng nhất lớp.

- Mọi da đỏ mà cũng học giỏi thế à. Còn con Hươu Cao Cổ?

Mắt Cọp quay đầu lại, bĩu môi:

- Trời ơi, cái con nhỏ đó. Anh biết nó nói sao không?

- Không.

Mắt Cọp đong đưa cái miệng giả giọng con gái:

- "Em bây giờ lớn rồi, không thèm chơi trò con trai nữa". Nó nói thế đấy. Anh mà thấy nó bây giờ thì phải biết, đi học mặc cái áo dài trắng tinh, trông "điệu" không chịu được.

Tôi bật cười, khuôn mặt của những đứa em hiện ra trong đầu óc, tôi cảm thấy thương nhớ chúng lạ lùng. Cái quá khư nông nổi điên cuồng của tôi lại trở về dẫu tôi muốn quên đi. Thuở đó không biết tôi la cà ở những quán bar đầy gái và bạn bè từ bao giờ. Mẹ tôi la mắng tôi suốt ngày, rồi một sớm mai tôi bỏ nhà đi theo một ả đàn bà hạng xoàng, nhưng hồi đó tôi thấy cô ả tuyệt vời như thiên thần. Nàng bỏ rơi tôi ở Saigon để theo một kép giàu sụ, tôi không dám trở về nhà và phải vật vã chen lấn mãi trong thành phố lạ mặt đó để kiếm sống.

Về đến phố, tôi kéo Mắt Cọp vào tiệm Mỹ Cảnh, hiệu cơm Tây duy nhất trong thành phố này. Tôi đãi nó một trận linh đình. "Bí Tết" thơm phức, bồ câu quay, phó mát trắng và rượu vang đỏ. Tôi ép nó uống một chút và thích thú nhìn bộ mặt đỏ rần của nó sau vài hớp rượu. Nó bắt đầu gật lên gật xuống trông thật khôi hài và đánh rớt dao nĩa mấy lần trong bữa ăn.

No nê, chúng tôi kéo đến thuê một phòng nhỏ ấm áp trong khách sạn, có vườn cây và ở bên cạnh rạp hát. Giọng Mắt Cọp lè nhè:

- Tiền đâu mà anh xài sang vậy?

- Đừng lo chuyện đó, Mắt Cọp. Tao đã đến tuổi không còn chạy rong trong thung lũng nữa.

Trong lúc Mắt Cọp ngủ li bì với cơn say của nó, tôi kiếm giấy bút và hí hoáy viết một bài báo lảm nhảm nhất trong đời tôi. Số tiền công tác phí, tiền gởi mua đồ của bà chủ có vẻ đã gần cạn và tôi không thể bỏ Mắt Cọp ở đây để làm tròn công việc của mình. Tôi không đắn đo viết thêm lá thư ngắn cho ông chủ nhiệm, đại ý:

"Thưa ông,

Trời Ban Mê Thuột gặp bão lớn, chắc là thổi từ Ai Lao qua. Các cơ quan quân sự ở đây từ chối không cấp phương tiện cho tôi ra các tiền đồn, đi máy bay trong lúc trời đang nổi cơn giông bão này theo họ là một cuộc tự sát. Bởi thế, công việc dự định của tôi không thực hiện được.

Để bù lại, tôi gửi ông một bài phóng sự khác rất độc đáo: "Nghề trồng café ở Việt Nam". Ông và tôi đều thích uống café, và tôi tin chắc có hàng triệu độc giả ghiền café, nên loạt bài này sẽ làm tờ báo bán chạy như tôm tươi mà không cần phụ bản đào cải lương in ốp xết bảy màu".

Mắt Cọp ngủ say một giấc cho đến chiều trong lúc tôi nặn óc để viết bài. Lúc nó ngủ dậy, trời bên ngoài nhìn qua khung cửa sổ đã tối đen. Chúng tôi xuống phố kiếm đến một tiệm cháo gà rất ngon ở trước rạp hát. Và mặc dầu rạp hát đang chiếu một cuốn phim cao bồi tôi đã xem rồi, tôi cũng kéo Mắt Cọp vào xem lại, nó say sưa nhảy lên nhảy xuống ghế nệm vì những cảnh phi ngựa rượt bắn trên màn bạc.

Ở rạp hát ra, trong khi hầu hết mọi người đều về nhà, tôi và Mắt Cọp vào một quán nước ở góc phố. Trời lạnh thế này mà nó làm luôn một lúc hai ly kem Chocolat to tướng. Tôi uống bia lai rai cho đến khuya, khách đã về hết, người bồi uể oải sửa soạn đóng cửa quán.

Trên con đường tối đen như hố sâu, có lẽ chúng tôi là hai người duy nhất đang đi trong thành phố. Tôi quàng lấy vai Mắt Cọp cho ấm người, gió rừng cao nguyên vi vu thổi về làm những chiếc lá bay bổng lăn tăn trên vỉa hè. Bây giờ thỉnh thoảng chỉ còn một hai tiếng pháo nổ, nghe xa xăm quá chừng, nhưng tôi không còn thấy lẻ loi nữa.

Buổi sáng, tôi dậy sớm đến Ty Bưu Điện để gởi bài về cho tòa báo. Lúc tôi trở lại khách sạn, Mắt Cọp đã đi đâu mất. Tôi ra đứng trước cổng, nóng ruột chờ đợi để dẫn Mắt Cọp đi chơi, lần này chắc phải ở suốt ngày trong rừng với đầy đủ thức ăn nguội, bánh mì và thuốc lá...

Tôi vui vẻ đưa tay vẫy Mắt Cọp, nó đang từ đàng xa đi lại một cách chậm rãi, bộ mặt có vẻ tư lự khác thường.

- Mày đi uống café một mình sớm thế à?

- Không. Em lại nhà bà Trân, vụ mượn tiền cho má xong xuôi hết rồi. Má lại mới đánh điện tín gọi em về gấp. Chắc mai em về.

Tôi gật đầu, đạp dí tắt điếu thuốc lá còn lại. Mắt Cọp chợt nắm lấy tay tôi, giọng nói của nó van lơn tội nghiệp chưa từng thấy.

- Anh theo em về nhà đi. Anh còn muốn đi lông bông đâu nữa?

Tôi vuốt ve mái tóc lởm chởm của Mắt Cọp, đôi mắt nó chợt ửng đỏ nước mắt khi thấy tôi im lặng. Mái nhà yêu dấu, thành thị xa lạ nhảy múa những tham vọng, tuổi trẻ lang thang với những giấc mơ chinh phục quyến rũ. Tiếng nói của Mắt Cọp vang lên gần như òa khóc:

- Theo em về nhà, đi anh.

Tôi bâng khuâng nhìn về phía cuối đường, trái tim tôi đau nhói. Một cánh chim đen vội vàng bay qua khung trời mưa.


HOÀNG NGỌC TUẤN     

(Trích từ tập truyện ngắn Nhà Có Hoa Mimosa Vàng, nxb An Tiêm 1972)
 

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

CHÀO VÙNG ĐẤT CAO NGUYÊN - Võ Hồng

 

Chín tháng mười một. Tôi bước xuống xe đò Minh Tân.

Không khí mát lạnh làm đầu óc tôi lâng lâng ngây ngất. Dưới chân tôi vẫn là màu đen quen thuộc của nhựa đường của mọi thành phố, nhưng tôi biết chắc rằng ở dưới tầng sâu là những lớp đất đỏ đặc biệt của miền Cao Nguyên. Đất ẩm ướt nuôi dưỡng những rừng ngo dày, những đám dương xỉ chằng chịt, đất nhu hiền đó bắt đầu từ hôm nay bảo bọc tôi. Đĩa rau làm xanh mát bàn ăn, những quả cam quả mận màu vàng, lọ thúy cúc làm rực rỡ căn phòng, thậm chí ly nước lọc trong suốt mà tôi sẽ uống một hơi dài đều là sản phẩm của đất. Thân ái chào vùng đất Cao Nguyên. Xin cảm tạ sự chở che kín đáo lặng lẽ.

Lần đầu tiên tôi đến Dalat là lúc tôi được bảy tháng. Má tôi bồng trên tay. Lần này tôi đến Dalat với thẻ căn cước bỏ kỹ trong xắc và cái va-li nặng cứ chực trằn xuống. Thời gian vù qua một loáng thật mau.

Tôi vừa đậu xong Tú Tài, mùa hè 72. Khi thi thì mong đậu, đậu xong cảm thấy buồn. Thương ngôi trường nơi tôi cho trôi qua mười hai năm lặng lẽ vô tư. Mỗi ngày khi tôi cặm cụi trong phòng học trên trang sách thì ngoài sân trường những cây phi lao cao vút rầm rì tâm sự với nhau trên từng trời cao. Những thân xoài tựa lá xanh dày mang sức sống tràn trề đang khoe mình với bồn cỏ xanh trải rộng quanh chân. Sống gần chúng hàng ngày trong suốt mười hai năm, những cây cối đó trở thành những người bạn có xúc cảm, có tri giác. Xa các người, tôi buồn lắm, có biết không?

Tôi đã đến thăm trường vào một ngày cuối mùa Hè. Các lớp đóng cửa, sân trường vắng hoe. Tôi im lặng bước, nhón gót đi khẽ, sợ không dám khua động giấc ngủ bình yên của những tĩnh vật. Tôi mường tượng thấy rõ lại tôi, con bé sáu tuổi, xách cái cặp bỏ đầy sách vở và bút và bảng đá thật nặng, cái cặp kéo trì xuống, đập lên đôi chân mảnh của tôi khiến tôi phải ngả người sang bên trái một chút để giữ thăng bằng. Con bé mặc cái áo đầm trắng có lấm tấm những chấm nhỏ màu xanh nhạt, đầu đội mũ kaki trắng rộng vành và chân mang giày trắng. Con bé đi tới lớp bằng xích lô, ngồi chen chúc có khi với hai đứa khác. Chúng ngồi không yên, nói chuyện rinh rả hoặc la ó luôn miệng khiến bác xích lô vui lây bỗng có hôm cong mình nhón gót đạp đua với các xe khác. Lũ nhỏ đứng bật hẳn dậy, vỗ tay dậm chân cổ võ ồn ào. Con bé có những đứa bạn thân như Khánh Trang, như Huyền Châu. Lắm bữa sốt ruột giục bác xích lô đạp nhanh để tới mét với con Huyền Châu rằng cây mận nhà mình đã lấm tấm nở hoa, mét với con Khánh Trang rằng chiều qua mình mới đi cắt tóc và tắm bằng nước nóng. Em bé khi vào lớp và ra lớp đều hối hả sắp hàng, luôn luôn vội vã, luôn luôn háo hức, muốn đọc, muốn viết, muốn nghe, muốn trả lời, bước qua khỏi cửa thì xách cặp chạy thộn vào hộc bàn, bước ra khỏi hiên thì xách cặp chạy vù ra cổng. Con bé hoạt động, luôn luôn táy máy chân tay như một con chó nhỏ.

Buổi xế chiều hôm nay đây, tôi đứng một mình nhìn hành lang heo hút để tưởng nhớ hình dáng của con bé ấy. không còn nữa. chỉ thấp thoáng hiện diện lặng lẽ trong óc tôi thôi bởi chỉ là hình bóng của tôi mười hai năm trước.

Đúng vậy, nó chỉ thấp thoáng hiện diện trong óc tôi, hiện diện rõ ràng hơn phải là trong óc Ba tôi, với từng chi tiết của cử động, của lời nói tiếng cười bởi nhiều lần Ba tôi đưa tôi đến trường, tôi na cái cặp nặng trịch đi vào mãi cuối hàng hiên rồi mà quay lại vẫn thấy Ba tôi còn đứng yên đó dõi mắt trông theo. Tôi mỉm cười và Ba tôi trả lời lại cũng bằng nụ cười. Hoặc có lần Ba tôi đến trường đón, từ trong lớp tôi đã thấy Ba đứng ở cổng nhìn vào. Rồi khi chuông rung tôi xách cặp chạy ra đứng sắp hàng cạnh con Cẩm Thủy, rồi khi chúng tôi ngay ngắn và trật tự bước tới, rồi khi đi quá hành lang chung được phép bỏ hàng ngũ chạy như điên ra cổng trường, tôi thấy Ba tôi chong mắt nhìn. Tia mắt dịu dàng như của một người mẹ.

Như vậy thì chắc chắn là Ba tôi đã nhìn thấy rõ ràng và trọn vẹn hơn tôi. Và khi thời gian lặng lẽ trôi tới để đẩy lùi mỗi ngày mỗi xa lại đằng sau thì người yêu thương hơn hết, nâng niu trân trọng hơn hết chính là Ba tôi vậy.

Về phần tôi thì tôi không chối cãi rằng tôi không yêu cái tôi hiện tại cho bằng yêu . Tôi hôm nay đã có vấn đề để suy nghĩ, để cân nhắc. Chớ thì hồn nhiên tươi tỉnh, gặp cái gì cũng vui cũng thích, thích đọc thích vẽ, thích làm toán thích ăn bánh kem, thích coi xi-nê, thích nghe chị Sen kể chuyện ma, thích rượt nhau chạy trong sân, thích bế con gà, thích mân mê một đóa hoa trong chậu. Thật giống một con chó nhỏ. Con chó nhỏ cũng thích nhảy thích chạy, thích nằm ngửa ra nhai quai guốc, thích châu mỏ mà sủa bá láp vào một cái miệng hũ đen ngòm.

Phải, tôi hôm nay đã có vấn đề để suy nghĩ. Đỗ xong Tú Tài, mọi người học sinh đều bị đặt trước lắm ngả đường. Chọn đi ngả đường nào? Ngả nào cũng lắm người đi, dư ối người đi, kèn cựa nhau mà đi. Thi vào Dược, bảy ngàn lấy đỗ hai trăm. Mà học xong cho được bốn năm, thi đỗ ra, cho thuê cái bằng chỉ được hai mươi ngàn đồng mỗi tháng, không bằng một người đàn bà bán thuốc lá lẻ. Thi vào Phú Thọ thì nghe nói phải chịu khó chạy hàng triệu bạc. Học Văn Khoa, Luật Khoa thì giảng đường chật không có chỗ mà ngồi. Còn Nông lâm súc, Quốc gia Hành chánh, Y Khoa, Kiến trúc, Đại học Khoa học, Đại học Sư Phạm... Không nơi nào ra một dấu hiệu thân ái để người học sinh vui vẻ vẫy tay chào mà hăm hở bước thẳng tới.

Con Chương thi vào Nông lâm súc. Lũ bạn đùa rằng nó sẽ đi chăn bò và lên núi đốn cây. Con Nguyệt muốn vào Y Khoa. Nó nói:

- Ba tao chấm số Tử vi nói có cái Sao gì đó chiếu vào cái Cung gì đó của Số mạng tao. Nên ổng hy vọng là tao học được Y Khoa.

Cách đây ba năm, Nguyệt đã mét rằng trong số tử vi của chị nó cũng có cái Sao gì gì đó chiếu vào cái Cung gì gì đó của chị nó, - Ba nó bảo vậy, - và Ba nó hy vọng là chị nó sẽ thành Bác sĩ. Nhưng rồi sau ba năm trèo lên trượt xuống, vật lộn túi bụi với mấy cái chứng chỉ Lý Hóa Tự Nhiên, Hóa Vô Cơ, Hóa Hữu Cơ, Mô tả... vân vân, cuối cùng chị nó đi làm cho Nam Đô ngân hàng. Con Minh Hà tỏ vẻ tự tin hơn hết:

- Tao học Văn Khoa. Tao yêu tư tưởng. Tư tưởng làm lớn con người.

Tôi định học ở Dalat một năm rồi sẽ xuống Saigon. Giá có thể được học một năm ở Đại học Huế nữa thì tuyệt. Đi nhiều nơi, ở nhiều miền, nghe nhiều giọng nói để thêm yêu thương quê hương và đồng bào mình. Thêm tin tưởng ở năng lực của dân tộc mình.

Nghe tôi chọn Đại học Dalat, hầu hết người nào cũng hỏi lại tôi thật nhanh như một phản ứng:

- Học chính trị kinh doanh hả?

Làm như Đại học Dalat chỉ có ngành học đó.

Tùng Hoa cùng chọn Dalat như tôi. Hai đứa chơi với nhau, hai gia đình quen nhau và những hôm Ba tôi bận không đến trường để đón tôi được thì tôi đi theo luôn xe của ba má Tùng Hoa đến đón nó. Tôi phải xa cách Thanh Thuận, con bạn thân của tôi suốt tám năm trời bởi chúng nó chọn Đại học Saigon. Qua khỏi năm chót của bậc Trung học, chúng tôi thật giống một bầy chim nhỏ, tan tác bay mỗi đứa một phương.

- Những con đường ở Dalat cũng biết suy tư.

Ba tôi có lần đã nói như vậy. Tôi tự hẹn hôm nào thong thả sẽ đi rất chậm rãi tìm xem chúng nó suy tư như thế nào. Và con đường nào có dáng suy tư nhiều hơn hết.

Những ngày đầu tôi với Tùng Hoa còn phải bận lo tìm nhà trọ. Nhiều căn phòng có treo bảng "Cho sinh viên thuê" làm Tùng Hoa và tôi muốn cười rũ ra, mặc dù đứa nào cũng mỏi chân muốn chết. Hãy tưởng tượng đi, một diện tích ba thước nhân với ba thước, mái tôn lạnh lẽo trên đầu. Vách bằng ván thùng gỡ ra đóng lại. Sàn xi măng đen, âm ẩm. Tưởng tượng thêm rằng có một cánh tay lực sĩ nào đó đấm tung một quả thôi sơn vào, cái khối vách gỗ ván thông sẽ tung bay lả tả, những tấm tôn sẽ văng tuốt ra xa và hai kẻ lưu trú sinh viên là Tùng Hoa và tôi sẽ nằm trong giường mà nhìn thấy trăng sao.

Nhưng bà chủ nhà trang trọng:

- Vâng, có căn phòng cho sinh viên thuê đấy ạ... Chúng tôi phải giữ lại cho họ đó... Chết chết, đâu có dám cho ai khác thuê? Bao nhiêu các anh chị cứ đến mãi hỏi mãi. Mà chịu. Đành phải từ chối... Vâng, vâng, trông thì cũng có hơi bé một tí, thế nhưng khi ở thì lại rộng chán vạn, tha hồ tiếp bạn bè... Vâng... Vâng... Tiếp khách thì đẹp... Này, này! Hai cô! Dừng lại tôi bảo này! Nếu hai cô thích quá thì tôi cũng nể nang mà cho hai cô thuê đó.

Hai đứa sợ quá, muốn chạy luôn. Phải làm bộ không nghe và rảo bước.

Hôm nay thì tôi đã có một chỗ trọ ấm, yên và đẹp. Có lối đi rải sỏi và có bồn hoa nở đầy hoa kim châm màu vàng, hoa tử dương màu thiên thanh. Có những thân mimosa lá sáng rực ánh kim khí. Có những gốc anh đào đứng khiêm tốn khi thời tiết chưa sang Xuân. Và đặc biệt là có Tùng Hoa dịu dàng làm những buổi sáng thức dậy thêm ấm áp, làm những đêm mưa dầm tí tách đỡ cô đơn.

Mùa Hè 1972, gia đình tôi bị xé đều ra làm bốn mảnh. Chị tôi ở một thành phố. Anh tôi ở một thành phố khác. Tôi ở một thành phố thứ ba. Ba tôi ở lại thành phố cũ. Như con ốc mượn hồn thò mình ra khỏi vỏ, ngo ngoe những chân mảnh, tâm hồn mỗi người chúng tôi vươn ra những cánh tay dài, thật dài để lần lượt rờ vào ba người thân yêu của mình ở ba thành phố.

Sáng hôm lên đường, tôi cùng ngồi ăn bữa điểm tâm tạm biệt với Ba tôi trước khi ra xe. Ba đẩy bát phở về phía tôi:

- Con ăn đi kẻo nguội.

Ba đặt luôn một ổ bánh mì dài trước mặt.

- Gắng ăn thêm một mẩu bánh mì nữa.

Tôi la lên:

- Ăn gì nổi.

La lên là để dằn xuống nỗi xúc động.

- Hồi xưa Ba ở trọ học, mỗi lần nghỉ lễ đi thăm nhà là ông chủ trọ bắt dậy thật sớm để đủ thì giờ ngồi ăn cơm cho no. Ổng nói: có hột ngọc trong bụng cho nó cản gió cản máy.

Thế là đủ ba lần, Ba tôi kể câu chuyện hột ngọc. Lần đầu tiên khi chị tôi đóng vai chính trong bữa ăn buồn. Lần thứ hai là anh tôi. Bây giờ đến phiên tôi.

Tôi thấy no không muốn ăn khi nghĩ rằng lát nữa cái ghế tôi sẽ trống. Nó sẽ bị bỏ trống nhiều ngày. Sớm nhất là Tết tôi mới được về thăm nhà, được ngồi nơi cái ghế cũ, cạnh Ba tôi. Tôi lẻn đưa mắt nhìn Ba. Ba mặc bộ đồ pyjama Tétron có đường sọc xanh nhỏ do chị tôi tự cắt may hôm Hè chị về nghỉ Hè. Đó là bộ pyjama được cắt may đẹp nhất do từ bàn tay chị. Mọi thứ quần áo, từ cái tablier cho tới cái robe chị đều mầy mò tự nghĩ ra, đo, vẽ, cắt may lấy, không học thầy và cứ coi dãy pyjama của Ba tôi ở tủ áo là biết tiến trình về Y Khoa - khoa may áo - của chị. Đáng thương nhất là cái sơ-mi-zét nylon màu xám mặc ở nhà, chị cắt may hồi mới khai tâm thiếu kinh nghiệm nên cái cổ áo chật quá không cài khuy được và vải lót đặt vụng làm nó cứ thích cong lại. Vậy mà Ba tôi cứ mặc một cách thản nhiên, bình tĩnh và đầy vẻ tin tưởng.

Giờ này ngồi gợi nhớ cái hình ảnh lần đầu tiên Ba tôi mặc chiếc áo sơ-mi-zét cắt may vụng đó, tôi bật cười thành tiếng, không giữ được. Thật là vô duyên. Vì rằng đôi mắt tôi vẫn còn ướt khi, lúc nãy, nghĩ đến cái hoàn cảnh của gia đình tôi bị cắt ra làm bốn mảnh đặt ở bốn thành phố khác nhau mà lòng xúc động khôn cầm.


VÕ HỒNG     

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc giai phẩm Xuân Hồng, 1973)
 

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2023

NHỮNG CHÙM HOA PHÁO ĐỎ - An Châu Lan

 

 
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
NGUYỄN DU

Hoa pháo nở vào mùa đông, thường trong tiết đông chí. Mầu hoa không hồng cũng chẳng đỏ. Và hoa pháo thật tình cũng chẳng đẹp. Nhưng giữa những ngày lạnh giá cuối đông, giữa cả một vườn cây xanh xao, ủ rũ dưới những cơn mưa dầm kéo dài đôi khi cả tháng, giàn hoa pháo đỏ rực cả một góc vườn, một mái hiên. Giàn hoa pháo ở tại nhà Cẩm nằm ngay mái hiên, leo cao bởi một giàn dây thép do ba nàng đã tốn nhiều công chăm sóc. Tôi không rõ giàn hoa pháo này có tự bao giờ, trồng được bao nhiêu năm. Đã nhiều lần định hỏi Cẩm nhưng lần nào cũng quên. Tôi chỉ thấy, khi tôi đến nhà Cẩm lần đầu vào lúc hoa pháo trổ bông, thân cây hoa pháo dù là thân leo nhưng đã bậm to bằng cổ tay tôi, và trồng rải rác thành một hàng dài nhiều cây chênh chếch về phía phải mái hiên.

Tôi và Cẩm học chung một lớp. Trước đó chưa khi nào hai đứa gặp nhau, biết nhau dù cho ở cùng phố. Chúng tôi học với nhau đã hơn ba tháng nhưng vẫn còn bỡ ngỡ, rụt rè khi thấy nhau ở cổng trường. Trường tôi có hai cổng. Cổng phía trước dành cho giáo sư và nữ sinh. Tụi nam sinh chúng tôi phải vào cổng sau. Và đi quanh qua phòng thí nghiệm, tôi có thể vào lớp rất nhanh. Hình như tôi đã không đi như vậy. Ít ra cũng bốn năm lần trong tháng mười và mười một. Sau khi khóa xe, tôi thường tách riêng bạn bè để men theo dãy bàng đi ngược trở lại hàng dương liễu để vào lớp. Và như vậy tôi đã gặp được Cẩm. Gặp để mà gặp, thế thôi, vì Cẩm thường đi chung với mấy cô bạn cùng lớp hoặc khác lớp. Những lần đi quanh co như vậy, vào lớp tôi lại nghĩ mông lung và trí óc vơ vẩn đâu đâu. Và tôi thường có một hành động: làm bộ rớt nắp viết rồi cúi xuống nhặt lên để nhìn qua phía bên kia, chỗ Cẩm ngồi. Không biết Cẩm đang nghĩ gì, thấy gì, tôi thấy Cẩm vẫn tỉnh bơ nhìn lên bảng. Tôi nhận rõ, về phía cửa sổ bên phải có một đám mây trắng trôi chậm trên bầu trời. Tự dưng tôi thấy mình không còn ngồi trong lớp học nữa, không nghe tiếng giáo sư giảng bài. Tôi bềnh bồng theo đám mây, mơ hồ, rạo rực. Tôi thấy Cẩm cười, thấy rõ cả hàm răng trắng thật đều. Tôi mơ mộng. Trong lớp này có bao nhiêu người đang mơ mộng, tôi không biết. Bên dãy bàn kia Cẩm có đang mơ mộng như tôi không, tôi không biết. Tôi chỉ biết hồn tôi bay theo đám mây, đám mây trắng giữa bầu trời xanh biếc.

Tôi có ý tưởng phải đến nhà Cẩm một lần. Tôi dò dẫm mấy cô bạn của Cẩm để hỏi nhà. Nhà Cẩm ở chợ Cống, đi gần về phía Đập Đá thì rẽ qua phải. Cả một buổi sáng chủ nhật tôi suy nghĩ mông lung. Đến nhà Cẩm phải ăn nói thế nào? Cẩm hỏi đi đâu thì phải nói làm sao cho ổn? Tôi tìm mãi không thấy được một lý do. Buổi chiều tôi đâm liều. Cứ đến rồi hãy hay. Tôi nhớ lời dặn: Cả quãng đường Nguyễn Công Trứ về phía bên trái chỉ có một ngôi nhà có gian hoa Pháo đỏ. Đó là nhà Cẩm.

Nhà Cẩm ở ngay đường, dễ tìm. Muốn vào nhà phải băng qua một sân rộng lát ciment và hai bên trồng nhiều chanh. Sau một phút chần chừ, tôi đi vào. Người tôi gặp trước tiên là một người đàn ông đứng tuổi mà tôi đoán là ba của Cẩm. Tôi hỏi:

- Thưa bác, có chị Cẩm ở nhà?

- Có. Mà cậu gọi hắn có việc chi?

Tôi lúng túng:

- Dạ thưa... dạ thưa, cũng không việc chi quan trọng. Dạ định hỏi chị ấy chút việc  thường.

- Vậy hả. Cậu vô nhà.

Tôi theo ông ta bước lên tầng cấp. Tôi ngẩng mặt nhìn lên. Trên đầu tôi là một giàn hoa pháo đỏ rực, chói chang trong ánh nắng chiều. Màu hoa tươi tắn, rạng rỡ. Rạng rỡ như trái tim vừa lớn của tôi. Như ánh mắt của Cẩm nhìn tôi từ dãy bàn bên của lớp. Như nụ cười bâng quơ, bất chợt lúc gặp nhau ở cổng trường. Tôi vào nhà, ngồi ở chiếc ghế phía trong. Khi Cẩm từ nhà dưới lên thì ba Cẩm bỏ đi ra ngoài. Tôi định nói một câu gì nhưng không nói được. Rất may Cẩm đã nói trước:

- Anh đến chơi. Để Cẩm pha nước anh uống.

Có dịp, tôi mở lời:

- Cám ơn Cẩm, tôi không khát. Đến Cẩm để hỏi chút việc, không biết có phiền không?

- Chuyện chi mà anh rào đón kỹ thế, chưa nói mà đã lo phiền hà.

- Cẩm có vào ban báo chí không?

Cẩm cười:

- Cẩm mà báo với chí. Nếu có lập ban ẩm thực thì Cẩm dong hai tay. Còn báo chí thì cũng dong hai tay nhưng để... xin hàng!

Cả hai chúng tôi đều cười. Tôi thấy thoải mái, vui vui. Tôi nói:

- Cẩm giấu nghề. Nghe nói ở trường cũ Cẩm viết nhiều và hay lắm.

- Thì cũng có nhưng trường cũ của Cẩm nhỏ xí xi. Trong thế giới người mù kẻ chột mắt là vua mà anh. Năm nay vào cái trường lớn như thế này thì mình chỉ còn là cái hạt cát.

- Cẩm quá khiêm nhường. Những hạt cát của Cẩm là những hạt cát làm nên thủy tinh.

Cẩm không nói tiếp. Nàng khoanh tay trước ngực nhìn ra ngoài sân. Ánh nắng buổi chiều yếu dần nhưng vẫn còn những vệt sáng trước hiên và trên giàn hoa pháo. Tôi nghĩ đến những lúc mình mơ mộng trong lớp. Và có lẽ bây giờ đến lượt Cẩm mơ mộng. Một chút màu hồng từ giàn hoa pháo hắt vào làm cho đôi má Cẩm ửng đỏ, dễ thương.

Cẩm duỗi thẳng hai tay nói bâng quơ:

- Trời sắp hết năm mà vẫn còn lạnh. Còn non tháng nữa thì lại Tết.

- Cẩm chắc trông Tết, chờ Tết lắm?

- Anh làm như Cẩm còn bé bỏng lắm không bằng. Chờ Tết để làm chi mới được. Chỉ thấy năm mới bằng con số tuổi chồng chất.

- Mới mười lăm mười sáu tuổi mà nghe đã già đời.

- Mười bảy tuổi ta rồi chứ bộ.

- Mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Dễ sợ!

Cẩm cười mà không nói. Tôi qua chuyện khác:

- Giàn hoa pháo của Cẩm đẹp thật. Cả con đường Nguyễn Công Trứ này chỉ có ngôi nhà của Cẩm là rực rỡ. Không hiểu sao người ta gọi nó là hoa pháo Cẩm nhỉ?

- Vì trông nó giống như cái pháo nhìn từng chùm thì không thấy nhưng nếu tách rời từng cái một thì anh thấy nó giống cái pháo.

- Pháo Tết hay pháo gì nhỉ?

Cẩm giẫy nẩy:

- Anh này rõ hay. Không pháo Tết thì pháo gì. Chả lẽ...

- Ừ, thì đó. Cẩm cũng thấy còn một loại pháo nữa đấy. Pháo vu qui chẳng hạn, phải không?

Hôm đó tôi ra về trong những cảm giác sung sướng nhẹ nhàng. Và từ sau lần đó tôi trở nên bạo dạn, thường tìm cách đến nhà Cẩm. Dĩ nhiên bao giờ cũng có chuyện. Khi thì mượn sách, mượn bài, khi thì hỏi chuyện này chuyện nọ dù đôi lúc có những câu hỏi ngớ ngẩn vô duyên. Cả lớp đã bắt đầu biết chuyện tôi yêu Cẩm. Tụi nó bàn tán chỉ chỏ. Bên nữ sinh những khi gặp tôi thường hay hỏi đùa "người ấy đâu rồi". Bên nam sinh thì tọc mạch hơn, chúng điều tra từng chi tiết nhưng lần nào cũng bị tôi tảng lờ. Nhiều đứa hỏi với giọng bực tức. Tôi yêu Cẩm. Và rất nhiều đứa trong lớp yêu Cẩm. Họ ghen ghét tôi vì họ biết Cẩm cười với tôi nhưng không cười với họ. Cẩm mượn sách vở, bài học của tôi nhưng từ chối những quyển sách rất thơm mùi nước hoa của họ. Tôi biết điều đó. Tôi sung sướng thật tình và cám ơn Cẩm.

Trường tôi nghỉ Tết từ ngày hăm bảy ta. Tôi hẹn Cẩm sẽ đến thăm Cẩm một lần trước khi năm hết. Tôi đã bắt đầu thấy âu lo vì những ngày xa Cẩm. Phải xa Cẩm đến mười ngày Tết. Tự dưng, khi buổi liên hoan tất niên chấm dứt, khi mọi người kéo nhau về, tôi bắt đầu thấy thiếu thốn một cái gì, một cái gì không thấy được, không nắm được, không hình dung được. Hình như là tình yêu. Tôi rất ngại khi phải đến nhà Cẩm dù cho bây giờ tôi đã bạo dạn hơn trước. Tôi sợ ba Cẩm. Ông ta có cái nhìn thiếu sự bao dung trái hẳn với cái nhìn trìu mến của Cẩm.

Tôi đến thăm Cẩm vào chiều hai mươi bảy Tết như đã hứa. Ở đó tôi gặp Trinh, một người bạn thân của Cẩm học cùng trường nhưng khác lớp. Tôi đã gặp Trinh một vài lần nên nói chuyện rất tự nhiên. Tôi, Cẩm và Trinh kéo nhau ra ngồi dưới giàn hoa pháo nói chuyện. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện. Chuyện nào cũng vui và cả Trinh lẫn Cẩm đều cười luôn miệng, tiếng cười ròn tan, cởi mở. Trong lúc chưa biết phải nói tiếp chuyện gì thì tôi nghe tiếng Trinh hát. Trinh nổi tiếng là hát hay. Trinh hát nhỏ nhưng cũng đủ để hai đứa tôi nghe. Tôi nhớ loáng thoáng Trinh hát một bài hát nổi tiếng của Nguyễn văn Đông.

Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người... lạnh lùng trôi xuôi theo niềm nhớ... Người đi xa xăm phương trời ấy để một người...

Tôi khen Trinh hát hay. Trinh đưa tay chỉ mấy cành bông pháo đang đong đưa trước mặt nói rằng, anh có thấy hoa cười đó không! Hoa cười trong gió đông đấy Cẩm.

Cẩm nhìn lên bầu trời, đôi mắt trông xa vắng lạ thường.

- Cũng không biết nữa. Mà hoa đào của người xưa mới cười trong gió đông, hoa pháo của mình thì cười chi được.

Tôi tiếp lời Cẩm:

- Hình như Cẩm đang nhớ một cái gì phải không chị Trinh. Không chừng chị hát bài vừa rồi bắt Cẩm nhớ "người ấy" đấy.

- Cẩm thì chẳng có ai để mà nhớ. Sao chiều nay Cẩm thấy buồn. Năm cũ đã sắp hết. Cẩm sẽ còn ngồi ở trường với bạn bè bao nhiêu ngày nữa. Hết năm này đỗ hay không rồi cũng phải thôi học. Con gái đầu trong gia đình bao giờ cũng bị thiệt thòi. Cẩm còn cả đàn em trai. Phải hy sinh cho tụi nó, cũng được chừng nào hay chừng đó.

Chúng tôi đều im lặng. Tôi và Trinh cũng buồn lây với ý nghĩ đó của Cẩm. Tôi muốn nói với Cẩm như thế này : mỗi người sinh ra đều có sẵn một cái số. Không ai dám lạc quan cho cuộc sống tương lai của mình nhưng cũng đừng bi quan quá. Không người nào có thể cắp sách mãi đến trường. Một lúc nào đó phải dừng lại. Dừng lại có nghĩa là vào đời. Dừng lại sớm muộn gì cũng thế thôi, biết đâu chừng người ra đời sớm sẽ gặp nhiều may mắn. Tôi muốn nói với Cẩm như vậy nhưng tôi đã không nói. Mỗi năm hoa pháo chỉ có bông một lần, biết đâu vào tiết đông chí sang năm tôi sẽ không còn được ngồi dưới giàn hoa này nữa, vì vậy những lời nói của tôi nếu nói ra có Trinh nghe, Trinh sẽ tưởng giữa tôi và Cẩm đã sắp đặt sẵn một con đường. Tôi chưa có ý định nào. Tất cả chỉ là những mộng tưởng, ước mơ. Tôi sống trong vườn mộng và ươm tơ trong vườn mộng. Vườn mộng, trái mơ nào cũng đẹp, cũng ngon lành, nhưng rất khó hái. Tôi không dám nghĩ về một tương lai cho tình yêu. Con đường trước mặt thăm thẳm, ngút ngàn. Cho đến nay lúc ngồi dưới giàn hoa này với Cẩm tôi chưa lần nào bày tỏ một ý định, một dự tính.

Khi Trinh đứng dậy xin về trước thì tôi cũng về luôn vì trời đã ngả tối. Trong nhà đã bật đèn, ngoài đường cũng vậy. Tôi chào Cẩm và thấy đôi mắt Cẩm rưng rưng. Tôi không biết tại sao.

Giàn hoa pháo nhà Cẩm năm nay lại trổ bông đỏ, cũng những ngày cuối năm sau tiết đông chí. Kể từ ngày đó đến nay tôi không còn được ngồi dưới giàn hoa này thêm một lần nào nữa. Tôi chỉ được ngồi đó một lần trong đời. Chỉ có một lần cho kỷ niệm, cho nhớ thương. Một lần cho những mênh mông vụng dại. Cả một vùng ngọc ngà thơ mộng đã mất đi, mất theo Cẩm từ ngày Cẩm đi lấy chồng năm sau đó. Một thời để mà thương, một thời để mà nhớ, không còn nữa. Mỗi năm hoa pháo nở một lần nhưng tôi không còn được thấy Cẩm. Đám mây trắng bay ngang cửa sổ lớp học ngày nào tưởng đã dừng lại trên giàn hoa pháo thì lại tiếp tục bay xa, xa mãi. Hoa pháo nhà em lại nở, chỉ thiếu đôi mắt ngày nào.


AN CHÂU LAN        
(Huế 12-72)           

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 86, tuần lễ từ 25-1 đến 1-2-1973)