Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

VUA ĐẠI NGUYÊN HÃN VỚI CUỘC CHU DU (VI)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


- Chao ôi! Tôi chẳng làm gì cả. Anh không nhớ câu bôn ba chẳng qua số mệnh sao?

Chợt Hai Đạo nhớ ra những lời bàn cũ, liền nói:

- Tôi chợt nhớ ra hồi trước chúng ta bàn về câu chuyện số mạng. Bây giờ chúng ta thử đến anh chàng Tứ Cảnh xem hắn ta đã dùng miếng chì của anh làm gì?

Sơn bằng lòng. Hai người cùng tìm đến cửa hiệu cũ của tôi.

Đến nơi, thấy cửa hiệu đóng cửa kín mít, hai người lạ lắm, liền dò hỏi hàng xóm láng giềng xem gia đình tôi ra sao.

Một người hàng xóm nói:

- Tứ Cảnh bây giờ đâu còn như xưa nữa. Ông ta bây giờ sống trong cảnh giầu sang nhất thành phố này.

Hai Đạo ngạc nhiên hỏi:

- Làm cách nào mà anh ta giàu có như vậy?

Người kia đáp:

- Ông ta vẫn làm nghề đóng giầy. Nhưng bây giờ ông ta là chủ nhân của rất nhiều tiệm đóng giầy nổi tiếng trong nước. Một mình ông ta điều khiển hàng ngàn thợ, danh tiếng vang lừng ai cũng biết.

Hai Đạo và Sơn trong lòng hoang mang không biết tôi làm giàu bằng cách nào mà chóng như vậy. Họ liền bàn nhau đến gặp tôi để hỏi cho rõ chuyện.

Dọc đường, Hai Đạo nói:

- Bây giờ tôi mới biết Tứ Cảnh là một người dối trá. Hắn đã nói dối là mất hai lần những số tiền mà tôi giúp để sau này khỏi phải trả ơn!

Sơn không đồng ý, nói:

- Anh đừng nghi oan cho hắn. Biết đâu hắn làm giàu bằng cách khác.

Hai Đạo mỉa mai:

- Thế anh tưởng là Tứ Cảnh làm giàu bằng cục chì của anh hay sao?

- Rồi chúng ta sẽ biết sự thật. Nhưng tôi tin là Tứ Cảnh luôn luôn thật thà.

Khi hai người tới chỗ tôi ở, trông lên thấy một tòa biệt thự đồ sộ thì thắc mắc không dám gọi cửa.

Hai Đạo bàn:

- Để xem sao đã, kẻo chúng ta lầm dinh quan thì mang tội.

Sơn nói:

- Sợ gì điều đó. Nếu quả tình lầm thì sẽ trở ra, nào ai bắt mà sợ.

Sau một lúc suy nghĩ, Hai Đạo tới bên cổng gõ ba tiếng. Người làm trong nhà tôi chạy ra mở cổng.

Hai Đạo hỏi thăm:

- Người ta chỉ cho tôi đây là nhà của ông Tứ Cảnh. Nếu không đúng thì ông bạn cho biết để tôi lui ra.

Tên người nhà tôi đáp:

- Thưa quí khách, quả đúng là nhà chủ nhân tôi, xin mời hai ngài vào.

Rồi hắn đánh một tiếng kiểng gọi tên gia nhân ăn mặc quần áo chỉnh tề ra đón.

Hai Đạo và Sơn được dẫn vào một căn phòng khách sang trọng nhất trong biệt thự, có sẵn hai mươi tên nô lệ đứng hầu.

Hai vị ân nhân liền trao tấm thiếp cho tên nô lệ mang vào.

Tôi nhận được tin mừng rỡ mặc quần áo trịnh trọng ra tiếp đón.

Thấy hai vị ân nhân, tôi liền quì xuống lạy.

Hai Đạo và Sơn cùng chạy lại đỡ tôi dậy và nói:

- Ông bạn đừng làm như vậy. Chúng tôi có gì mà ông bạn  quí trọng như thế.

Tôi mời khách ngồi xuống ghế nhưng hai người nhất định buộc tôi là chủ phải ngồi trước.

Tôi năn nỉ:

- Thưa hai ngài, sở dĩ có ngày nay là tôi đã nhờ ơn hai ngài. Tôi vẫn luôn luôn kính trọng hai ngài là ân nhân hiếm có trong đời tôi. Vậy mời hai ngài ngồi trước thì tôi mới dám hầu chuyện.

Hai người nghe tôi nói vậy mới bằng lòng ngồi.

Tôi kính cẩn ngồi trên một chiếc ghế thấp ở phía sau, rồi sai nô lệ pha trà dâng lên.

Hai Đạo mở đầu câu chuyện:

- Anh Tứ Cảnh ơi! Tôi rất vui mừng vì thấy anh trở nên giàu có. Nhưng tại sao anh lại lừa dối tôi như vậy? Xưa nay tôi giúp ai có mong trả ơn đâu mà anh nỡ nói dối là mất cắp bốn trăm đồng vàng?

Sơn vội nói:

- Anh Hai Đạo đừng vội vã nói như vậy. Anh có biết chắc là ông bạn Tứ Cảnh đã làm giầu bằng bốn trăm đồng tiền vàng của anh không mà nói như vậy?

Hai Đạo nói:

- Anh thử nghĩ xem, ngoài số tiền tôi giúp anh Tứ Cảnh ra, làm sao anh ta có thể làm giàu bằng cục chì của anh?

Tôi phân vân rồi đáp lời Hai Đạo và Sơn:

- Thưa hai ngài, nếu tôi không nói thì mang tiếng nói dối, mà nói ra sợ giữa hai ngài có chuyện xích mích làm giảm tình bạn cao quí.

Sơn ngắt lời:

- Ông bạn Tứ Cảnh ơi! Ông cứ thành thật mà kể lại câu chuyện cũ cho chúng tôi rõ. Sau đó, ai muốn tin hay không tùy ý.

Tôi liền kể lại cặn kẽ tôi đã dùng cục chì để làm giầu ra sao.

Hai Đạo nghe xong, không giận mà còn vui vẻ nói:

- Bây giờ tôi mới tin bôn ba chẳng qua thời vận. Tôi rất mừng thấy ông bạn sung sướng như ngày nay.

Tuy Hai Đạo nói vậy nhưng tôi vẫn sợ ông ta chưa tin nên trong lòng áy náy lắm.

Trời vừa tối, hai người đứng dậy định ra về.

Tôi tha thiết nói:

- Tôi thành khẩn rước hai ngài nghỉ lại một đêm để tôi được hầu tiếp. Xin ân nhân đừng từ chối.

Hai người nhận lời. Tôi liền sai gia nhân dọn tiệc trọng thể. Trong khi chờ đợi, tôi dẫn hai người đi xem các phòng trong biệt thự. Chỗ nào cũng được hai người ngợi khen không ngớt.

Xem xong, tôi nói:

- Thưa ân nhân, tuy làm ra ngôi biệt thự này để ở di dưỡng tuổi già, nhưng nó không được yên tĩnh cho lắm. Vì vậy, tôi đã tậu một ngôi nhà nghỉ mát ở đồng quê để hàng tuần mang vợ con về đó. Ngày mai, xin mời hai ngài bỏ chút thì giờ đi với tôi tới đó ngoạn cảnh, thêm nữa, để tôi được đền đáp một chút ân sâu mà hai ngài đã ban cho tôi khi nghèo đói.

Hai ân nhân tôi nhất định từ chối, tôi phải năn nỉ mãi mới nhận lời.

Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong, tôi hướng dẫn hai người du ngoạn bằng đường thủy.

Gia đình tôi cũng đi theo cho vui. Tất cả xuống một chiếc thuyền trang hoàng lộng lẫy, neo chèo ra giữa sông để được thuận tiện ngắm cảnh.

Thuyền xuôi thuận gió nên ít phút sau chúng tôi đến nơi.

Tôi dẫn hai người đi ngắm cảnh chung quanh nhà. Những vườn cây ăn quả trái chín trĩu nặng, có vườn ao thả cá sau nhà.

Hai Đạo và Sơn vui vẻ xem xét khắp nơi, tấm tắc ngợi khen về sự giàu có của tôi.

Trong khi tôi đang bận tiếp khách, lũ con tôi chạy nhẩy tung tăng. Chúng tìm gậy dài, rồi bắt tên nô lệ cõng chúng lên cao để thọc tổ chim.

Thật là điềm lạ: con tôi mang từ trên cây xuống một chiếc tổ chim được lót bằng một chiếc khăn mà ngày xưa tôi đã trùm trên đầu rồi bị mất cắp ngoài chợ.

Tôi vội mang gói khăn tổ chim đó ra khoe với hai vị ân nhân và nói:

- Đây là chiếc khăn mà tôi đã bị mất cắp cũng như số tiền vàng ngoài chợ. Tôi cầm trong tay thấy nặng như thế nầy thì chắc là số tiền đó vẫn còn.

Vừa nói, tôi vừa mở bọc khăn tròn ra.

Quả nhiên, gói tiền vàng vẫn còn! Tôi đếm lại thì thấy đủ số đã mất là một trăm chín mươi tám đồng.

Hai Đạo cầm tiền lên xem, cũng công nhận chính đó là loại tiền ngày xưa ông đã giúp tôi.

Nhưng Hai Đạo nói:

- Tôi công nhận số tiền hai trăm đồng vàng mà tôi giúp lần đầu là anh không nói dối. Nhưng còn hai trăm đồng giấu trong chậu cám thì sao, tôi vẫn thắc mắc chuyện đó.

Tôi trả lời:

- Dù ân nhân vẫn còn nghi ngờ nhưng dù sao tôi cũng đã giải được một phần nào sự nghi ngờ đó.

Hai Đạo hỏi thêm:

- Nhưng tôi thắc mắc là tại sao túi bạc bị cắp giật lại nằm trong tổ chim?

Sơn nói:

- Tất cả đều do tạo hóa sắp đặt, chúng ta không thể ngờ được những chuyện đã xẩy ra. Có lẽ một ngày kia, chúng ta sẽ được nghe tiếp câu chuyện của tên ăn cắp kể lại về túi bạc này.

Câu chuyện tới đó xếp lại, chúng tôi trở vào nhà  dùng cơm tối.

Sau đó, tôi đưa hai vị ân nhân về Bá Đa bằng đường bộ.

Chúng tôi thắng yên ba con ngựa tốt để dong ruổi ngắm cảnh dọc đường.

Lúc đó, trăng đã bắt đầu ló dạng.

Về tới thành Bá Đa thì vừa lúc ba con ngựa đói lả. Tôi không biết tại sao nô lệ lại bất cẩn không cho ngựa ăn no lúc khởi hành.

Mang ngựa vào chuồng, tôi liền sai gia nhân lấy thóc cho chúng ăn. Nhưng tiếc thay, thóc trong kho vừa cạn.

Một tên nô lệ vội chạy đi mua một chậu cám ngoài hiệu chạp phô mang về. Hắn trút cả chậu vào máng ngựa.

Chợt một gói giẻ lộ ra phía đáy chậu cám. Tên nô lệ cầm lên thấy nặng trĩu, liền trao cho tôi.

Tôi lại được một lần ngạc nhiên nữa vì gói vải đó tôi đã dùng để gói món tiền mà Hai Đạo đã trao cho tôi lần thứ hai.

Tôi đưa cho Hai Đạo xem và mở gói ra.

Quả nhiên, số tiền một trăm chín chục đồng vàng vẫn còn nằm nguyên trong bao vải.

Bấy giờ Hai Đạo đã hết thắc mắc, vui vẻ nói với Sơn:

- Bây giờ tôi hoàn toàn tin lời anh bàn luận dạo trước. Con người ta có số mạng.

Tôi mời hai vị ân nhân ngủ lại một đêm nữa trước khi chia tay.

Sau đó, tôi luôn luôn tới lui thăm viếng hai vị ân nhân để tỏ lòng nhớ ơn họ đã ban cho vận may.

Muôn tâu thánh thượng, câu chuyện đời tôi chỉ có thế, tôi đã kể hết về sự may mắn của số mạng và sự chăm chỉ đường lối kinh doanh của tôi trước khi trở nên giầu có như ngày nay.

Vua Đại Nguyên Hãn nghe chuyện xong vui vẻ đứng dậy ra lệnh bãi chầu. Ngài truyền cho lão hành khất, anh chàng cưỡi ngựa và người thợ giầy ra về.

*

Mỹ Thanh Loan kết thúc câu chuyện thì trời vừa sáng. Mỹ Thanh Liên luyến tiếc nhìn chị.

Mỹ Thanh Loan dịu dàng nói:

- Những chuyện chị kể từ trước đến nay vẫn chưa hứng thú lắm. Nếu hoàng thượng gia ân cho chị sống thêm, chị sẽ kể biết bao câu chuyện hay khác mà em không thể tưởng tượng được.

Vua Sa-Hy-A đã bị những câu chuyện của Mỹ Thanh Loan chinh phục nên ngài lưỡng lự, chưa muốn giết người đẹp vội.

Do đó, Mỹ Thanh Loan vẫn sống, và nàng lại tiếp tục kể chuyện từ đêm này qua đêm khác.


Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

VUA ĐẠI NGUYÊN HÃN VỚI CUỘC CHU DU (V)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Bà vợ lại lủi thủi ra đi không dám cãi lại chồng. Dù sao bà ta cũng chắc chắn trong lòng là chỉ mất công vô ích.

Tới nhà tôi, bà lão đập cửa gọi khiến tôi đang mơ màng ngủ phải choàng thức giấc.

Tôi ra mở cửa. Bà lão hỏi:

- Nhà tôi thiếu một thoi chì để buộc lưới. Bây giờ trời tối nên không có cửa hàng nào bán. Vậy nếu ông có, làm ơn cho xin một miếng chì.

Tôi chợt nhớ ra thỏi chì của Sơn cho buổi sáng liền lấy ra đưa cho bà lão. Vì tôi nghĩ cục chì đó giữ trong nhà cũng chẳng ích gì, chi bằng cho lão chài còn được ơn.

Bà lão được cục chì thì mừng rỡ cám ơn tôi rối rít.

Tôi nghĩ thầm : “Tuy mình không cần vật vô dụng kia nhưng có người cần đến thì nó lại trở nên quí”

Trước khi ra về, bà lão nói:

- Thật là may mắn được ông cho cục chì. Sáng mai, chúng tôi sẽ dành số cá ở mẻ lưới đầu tiên để biếu ông bà.

Rồi bà lão tất tả ra về.

Lão chài được vợ mang về cho cục chì mừng rỡ quá, thấy vợ hứa biếu mẻ lưới đầu tiên cũng bằng lòng ngay.

Hôm sau, từ sáng sớm, lão chài đã mang lưới đi đánh cá.

Lưới lần đầu, rủi thay, chỉ được có một con cá dài hai gang tay.

Những lần sau thì lại lưới được nhiều cá, nhưng không có con cá nào to bằng lần lưới đầu tiên.

Khi trở về, lão chài đi ngang nhà tôi vui vẻ ghé vào, nói:

- Ông bạn tốt ơi! Ông đã giúp tôi gặp nhiều may mắn vì miếng chì đêm qua. Đây là con cá ở mẻ lưới đầu tiên mà chúng tôi đã hứa biếu ông.

Rồi ông lão bắt ra con cá lớn nhất, giơ lên cao, nói:

- Không hiểu sao mà mẻ lưới đầu chỉ có một con cá này thôi. Cảm phiền ông bạn nhận lấy món quà nhỏ mọn đó cho chúng tôi vui.

Tôi đáp lời:

- Chỗ hàng xóm láng giềng giúp đỡ nhau là chuyện thường, ông bạn làm chi mà phải biếu xén như vậy. Vả lại, cục chì có đáng là bao!

Ông lão nói:

- Chúng tôi luôn luôn giữ đúng lời hứa. Chỉ tiếc là mẻ lưới đầu chỉ có một con cá sợ ông bạn không đủ dùng một bữa nhậu.

Thấy ông lão chài nói tha thiết như thế, tôi đành phải nhận con cá.

Được trả ơn rồi, ông lão tất tưởi ra về.

Tôi mang con cá xuống bếp bảo vợ:

- Đây là món hàng đổi bằng cục chì của ông Sơn. Như vậy cũng đáng giá quá rồi. Mình hãy mang làm món nhậu ngay đi.

Vợ tôi mừng rỡ vì thấy việc đổi chác cục chì thật là lợi. Chưa bao giờ gia đình tôi được ăn một con cá dài như vậy.

Vợ tôi hỏi:

- Làm cách nào để nấu nướng được con cá to thế này?

Tôi đang dở tay khâu đôi giầy nên đáp:

- Mình muốn làm thế nào cũng được. Có nhậu là được rồi.

Vợ tôi liền đánh vẩy cá rồi mổ bụng, moi ruột.

Chao ôi! Trong ruột cá có chứa một viên kim cương to, chiếu sáng chói lòa.

Vợ tôi vốn không biết gì về những loại đá quí như kim cương, tưởng đó là một viên thủy tinh nên giữ lại để cho trẻ con chơi.

Sau đó, gia đình chúng tôi được ăn nhậu bữa cá no nê.

Buổi tối, đứa con tôi mang viên “thủy tinh” ra chơi. Từ mặt thủy tinh chiếu ra muôn ngàn ánh sáng rực rỡ hơn cả ánh đèn.

Tôi nhặt lên xem xét, cho đó là một thứ thủy tinh lạ, vẫn không hề biết đó là kim cương.

Tôi có sáng kiến dùng nó làm đèn ban đêm cho nhà cửa được sáng sủa.

Tôi khen ngợi:

- Một cục chì của ông Sơn mà đổi được con cá to ăn một bữa, rồi lại có ngọn đèn thắp đêm chẳng tốn một cắc dầu nào.

Từ đó, mỗi đêm tôi đặt viên kim cương giữa bàn để ánh sáng tỏa ra khắp phòng, ai cũng có thể làm việc được.

Còn lũ con tôi thì được ngắm viên kim cương sáng chói, chúng reo hò như được đi xem hội. Đêm nào chúng cũng ngủ muộn.

Vì vậy mà người hàng xóm sát vách nhà tôi đã không ngủ được yên giấc. Ông ta là người Do Thái, làm thợ bạc, tiền của dư dật. Đêm đêm, muốn ngủ yên giấc, vợ chồng người Do Thái lại bị tiếng cười đùa của lũ con tôi làm nhức óc.

Người thợ bạc sai vợ sang cảnh cáo nhà tôi.

Bà ta nói:

- Mấy đêm nay lũ trẻ con ông đã nô đùa ầm ĩ làm cho vợ chồng tôi không lúc nào chợp mắt được.

Vợ tôi xin lỗi rồi phân trần:

- Quả thật lũ trẻ con nhà tôi quấy phá quá. Chỉ tại viên thủy tinh có ánh sáng đẹp mắt quá nên đêm đến chúng nó không chịu ngủ, cứ reo hò làm rộn ông bà.

Muốn chứng tỏ là mình nói thật, vợ tôi đưa viên kim cương cho bà ta xem.

Vợ người thợ bạc cầm viên kim cương lên xem biết đó là một loại ngọc quí giá nên mừng rỡ trong lòng. Tuy nhiên, bà ta giả vờ thản nhiên nói:

- Viên thủy tinh nầy cũng đẹp đấy chứ. Này, bà hãy để lại cho tôi, tôi sẽ đưa bà chút tiền cho các cháu.

Lũ trẻ con sợ mất món đồ chơi xinh đẹp kia nên ôm lấy mẹ khóc lóc, nói:

- Mẹ đừng bán tội nghiệp! Để chúng con chơi thích hơn!

Thấy con khóc lóc van xin, vợ tôi không muốn bán. Bà ta phải thất vọng ra về.

Về tới nhà, bà ta liền kể lại cho chồng nghe giá trị của viên kim cương.

Lão thợ bạc nghe vợ nói thì mắt sáng lên. Lão đã đánh hơi thấy món lợi lớn. Tuy nhiên, theo mánh khóe buôn bán, lão ta không cần ra mặt. Lão dặn vợ rằng:

- Bà hãy tới lui trả giá cho tới khi mua được viên kim cương đó. Nếu rẻ được thì càng hay, mà mắc quá cũng phải mua cho bằng được.

Bà vợ nghe lời chồng, lại sang ngay nhà tôi.

Lúc đó tôi vắng nhà. Bà ta nói với vợ tôi:

- Bà Tứ Cảnh ôi! Bà giữ viên thủy tinh đó làm gì. Hãy bán cho tôi với giá hai mươi đồng vàng đi.

Vợ tôi mới đầu sung sướng vì được món lợi như vậy.

Nhưng vốn tính cẩn thận, vợ tôi nghĩ : “Bán được giá quá như thế nầy, mình phải hỏi lại cha lũ nhỏ mới được”.

Khi tôi về đến nhà, vợ tôi thuật lại câu chuyện. Tôi nghĩ thầm : “Vợ chồng thằng cha thợ bạc có bao giờ cho ai một đồng kẽm nào đâu. Nay lại dám trả giá viên thủy tinh này những hai mươi đồng vàng thì thật là quá sức tưởng tượng. Chắc hẳn nó phải có giá trị ghê gớm lắm”.

Vì nghĩ như vậy, tôi dè dặt trả lời mụ thợ bạc:

- Tôi không bán đâu.

Bà ta trả lên:

- Năm mươi đồng vàng có được không?

Thấy giá tăng lên không ngờ, tôi biết ngay là mình đang giữ một bảo vật quí giá.

Bà ta thấy tôi chưa kịp trả lời đã vội trả tiếp:

- Tôi trả một trăm đồng vàng đó! Nếu không bán thì thôi chứ tôi không trả thêm nữa đâu. Nhà tôi dặn chỉ trả đến giá đó là cùng.

Tôi chợt nẩy ra ý nghĩ : “Chồng bà ta dặn thì chắc là viên thủy tinh này được giá cao lắm đây”.

Tôi cầm viên thủy tinh trong tay, ngắm nghía rồi nói:

- Nhất định phải một trăm ngàn đồng vàng. Nếu không, tôi đem bán cho tiệm kim hoàn khác.

Vợ người thợ bạc sợ mất, vội trả một tiếng năm chục ngàn.

Tôi sửng sốt vì bà ta trả một giá kinh khủng như vậy. Nhưng được thế, tôi vẫn làm cao không chịu bán.

Bà ta thất vọng hỏi:

- Với giá đó mà ông vẫn không bán sao?

Tôi cương quyết đáp:

- Không.

Thế là vợ người thợ bạc ra về. Bà ta dặn lại:

- Ông đừng bán cho ai cả, hãy đợi tôi về hỏi chồng tôi xem đã. Chiều tôi sẽ lại.

Buổi chiều, lão Do Thái sang nhà tôi. Lão ta đòi xem viên kim cương. Khi thấy ánh sáng chói từ viên kim cương tỏa ra khắp nhà, lão ta cũng gật gù cho là báu vật hiếm có.

Cuối cùng, lão ta nói:

- Chỗ láng giềng quen biết với nhau, tôi trả ông thêm hai chục ngàn nữa là bẩy chục ngàn đồng vàng. Ông đừng giữ cao giá nữa.

Tôi vẫn giữ quyết định cũ, nói:

- Tôi đã nói đúng giá như vậy rồi, ông bà đừng trả bớt vô ích. Nếu không tôi bán cho tiệm kim hoàn khác.

Lão thợ bạc vốn tính bủn xỉn, trả giá lên xuống một lúc rồi mới chịu giá một trăm ngàn đồng vàng.

Nhưng người thợ bạc thú thật với tôi là ông ta không đủ tiền trong nhà. Nên xin giao trước hai chục ngàn đặt cọc, mấy hôm sau sẽ giao nốt số còn lại.

Tối hôm đó, y lời hẹn, người thợ bạc mang sang nhà tôi hai túi bạc nặng, mỗi túi đựng mười ngàn đồng.

Hai hôm sau, ông ta giao nốt số còn lại. Và tôi giao viên kim cương cho ông ta. Công việc mua bán đã xong hoàn toàn.

Cầm tiền trong tay rồi, tôi sung sướng muốn điên lên. Tôi nghĩ đến miếng chì vô dụng đã tạo cho tôi tài sản vĩ đại nầy. Thật là đời có số mạng.

Tôi lo lắng không biết nên tính toán việc làm ăn như thế nào với số tiền đó.

Vợ tôi bàn:

- Đời mình đã sống trong cảnh nghèo khó rồi. Bây giờ có tiền phải may mặc, tậu nhà, mua ruộng cho bõ những ngày khổ cực vừa qua.

Tôi không đồng ý, nói:

- Đàn bà không biết lo xa mà chỉ biết phô trương. Nếu làm như vậy thì chẳng mấy chốc tiền muôn bạc vạn cũng tiêu tan vào mây khói chứ đừng nói gì đến một trăm ngàn. Mình phải dùng nó để sinh sôi nẩy nở ra thêm những món tiền khác.

Và bắt đầu từ ngày hôm sau, tôi khuếch trương nghề nghiệp. Tôi thuê một ngôi nhà lớn ngoài phố để mở cửa hiệu, rồi mướn thợ hàng chục người, mua nhiều da tích trữ. Tôi có thể tự hào là cửa hiệu của tôi tập trung được tất cả những tay thợ giỏi trong thành phố! Tôi đối xử với họ rất hậu hĩnh, trả lương sòng phẳng.

Một thời gian sau, cửa hiệu của tôi sản xuất nhiều kiểu giày tuyệt đẹp và bán giá cao. Tuy vậy nhưng số giày sản xuất ra cũng không đủ bán, tôi phải đặt các chi nhánh ở các tỉnh, cho quản lý trông coi giúp. Tôi còn thuê các hiệu giày đồng nghiệp làm thêm.

Tiếng tăm tôi vang dội khắp nơi. Những đôi giày do hãng sản xuất được dùng khắp trong nước.

Của cải tôi mỗi ngày một nhiều.

Vợ tôi bàn:

- Chàng ơi! Đời chúng ta đã đổ mồ hôi nước mắt ra gầy dựng cho có ngày nay. Ít ra chúng ta phải hưởng sự sung sướng kẻo tuổi già, kẻo tới chết lúc nào không hay. Dù chúng ta có tiêu quá tay cũng không thể hết được tài sản. Chàng hãy nghĩ xem lời tôi nói có phải không?

Tôi cũng đã nghĩ đến tuổi già phải an hưởng nên cho lời vợ tôi nói là hợp lý.

Ít lâu sau, tôi mua một tòa nhà bỏ hoang, phá đi rồi xây một biệt thự rộng rãi. Vợ con tôi cùng dọn về đấy để hưởng sự sung sướng mà bao nhiêu năm ngóng đợi.

Tâu bệ hạ, đó là tòa biệt thự mà bệ hạ đã trông thấy khi dạo phố!

Còn hai ông Hai Đạo và Sơn đã quên hẳn câu chuyện cũ.

Một hôm, bất chợt Hai Đạo gặp Sơn đang hấp tấp đi ngoài phố, liền nắm lấy tay hỏi:

- Anh Sơn ơi! Làm gì mà vội vã thế? Lâu nay vắng mặt, anh đã làm gì?

Sơn đáp:

_______________________________________________________________________ 
Còn tiếp
 

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

VUA ĐẠI NGUYÊN HÃN VỚI CUỘC CHU DU (IV)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Tôi bỗng nghĩ ra một kế, bỏ túi tiền lên chiếc khăn trùm đầu là có thể yên trí ngày đêm giữ nó bên mình. Tôi chỉ lấy ra mấy đồng trong bọc tiền để sắm sửa cho vợ con ít đồ lặt vặt.

Nhà có một mình, tôi thong thả nằm suy nghĩ cách kinh doanh. Trước hết, bỏ tiền ra mua hết da mang về chất trong kho để đóng giầy dần và nếu giá cao sẽ bán lấy lời.

Nghĩ ra được đường lối kinh doanh rồi, tôi sung sướng nhổm dậy, đi ra chợ mua một cân thịt bò về để gia đình nhấm nháp cho thỏa những ngày đói rách.

Khi trở về, tôi hấp tấp vì sợ muộn giờ cơm. Một tay tôi xách miếng thịt, một tay giữ chiếc khăn trên đầu cho khỏi rơi.

Bỗng ở đâu một tên kẻ cắp nhảy ra, giật chiếc khăn trùm đầu của tôi rồi chạy biến trong đám đông. Tôi sợ hãi kêu cứu thất thanh, vừa đuổi theo bóng kẻ cắp. Nhưng vô ích! Vì nó đã biến mất, chẳng thấy tăm hơi đâu cả.

Tôi chẳng còn biết gì, ôm mặt lăn ra đất khóc than vì tiếc của.

Về tới nhà, vợ tôi và đám bà con hàng xóm thấy vẻ mặt buồn rầu của tôi thì hỏi thăm.

Tôi thành thật kể lại chuyện bị mất cắp hai trăm đồng vàng.

Ai nấy nghe chuyện đều cười rộ có vẻ chế nhạo. Có người nói:

- Cha! Anh thợ giày Tứ Cảnh nghèo quanh năm mà cũng đặt điều nói xạo. Có tiền rừng bạc bể gì mà kêu mất cắp những hai trăm đồng vàng. Thật là chuyện khôi hài!

Vợ tôi cũng không tin chuyện đó có thật. Nàng nói:

- Nhà mình nghèo khó ai cũng biết rõ. Anh đặt điều nói dối như vậy chẳng những không có lợi mà còn làm cho ai cũng khinh ghét mình.

Tôi cảm thấy uất ức vì không ai tin lời. Một mình tôi chịu cảnh đau đớn, đêm nằm không ngủ yên.

Nhưng rồi câu chuyện uất ức cũng chẳng đi đến đâu. Tôi phải cố gắng lo công việc hàng ngày để kiếm cơm nuôi gia đình.

Những lúc nghĩ đến món tiền to tát đó, tôi chỉ tự an ủi:

- “Bôn ba chẳng qua thời vận. Thượng đế đã bắt mình sống như vậy thì đành chịu”.

Tôi còn giữ được một chiếc khăn mới đội đầu.

Tôi bắt đầu băn khoăn về chuyện của hai người bạn tốt kia. Tôi sẽ phải nói với họ sao để họ tin là chuyện có thật. Nếu không, họ sẽ nghi ngờ lòng tốt của họ bị tôi lợi dụng, mang tiền đi tiêu bậy.

Hai tháng sau, một bữa kia Hai Đạo và Sơn đi dạo phố.

Hai Đạo bảo Sơn:

- Chúng ta ghé qua tiệm giầy của Tứ Cảnh xem anh ta đã dùng hai trăm đồng vàng vào công việc gì?

Sơn nói:

- Ừ, chúng ta thử ghé thăm anh ta xem hai trăm đồng vàng của anh có giúp anh ta thực hiện được câu : “Có tiền mua tiên cũng được” không?

Đôi bạn cùng hăng hái đến cửa hiệu của tôi. Lúc đó, tôi đang cắm cúi làm việc.

Sơn chỉ vào tôi và bảo Hai Đạo:

- Này anh! Sao Tứ Cảnh coi bộ vẫn như cũ, quần áo rách bươm. Có chiếc khăn trùm đầu là mới hơn cả.

Hai Đạo cũng ngạc nhiên, đến bên tôi hỏi:

- Chào ông bạn! Hai trăm đồng vàng của tôi ông bạn dùng vào việc gì rồi? Có phát đạt không?

Tôi hối hận, sợ hãi và ngượng ngập nói:

- Tôi đã có lỗi nặng với ân nhân. Vì tôi đã gây ra một chuyện rủi ro. Xin ân nhân cho tôi được kể lại câu chuyện đó.

Rồi tôi kể lại rành mạch câu chuyện đã xẩy ra.

Hai Đạo cắt ngang lời tôi, nói:

- Đừng lừa dối tôi làm gì. Ông bạn hãy thú thật là đã dùng tiền phung phí cho thỏa thích đến nỗi quên cả chuyện làm ăn đi. Tôi chỉ buồn là ông bạn không biết sử dụng đồng tiền nên suốt đời mới nghèo khổ như vậy.

Tôi cúi đầu run run nói:

- Thưa ân nhân, tôi không dám cãi vì tôi có lỗi với ngài lắm. Nhưng sự thực là tôi oan uổng, không dám đặt điều để lừa dối ân nhân. Xin ngài hãy hỏi những người biết chuyện này xem tôi có nói dối không. Tuy câu chuyện khó tin nhưng có thật.

Sơn ngồi suy nghĩ một lúc rồi góp chuyện:

- Tôi chắc là câu chuyện này xẩy ra đúng như lời ông bạn Tứ Cảnh đã thuật lại. Ở ngoài phố vẫn thường xẩy ra nhiều chuyện cướp giựt lắm. Hơn nữa, tôi thấy tính ông bạn đây vốn thực thà, nỡ nào lại đặt điều nói dối làm chi.

Hai Đạo đã tin lời tôi nói, lại móc trong túi ra hai trăm đồng tiền vàng nói:

- Tôi giúp ông bạn lần thứ hai, vậy ông bạn hãy cố gắng giữ gìn, đừng dể xẩy ra chuyện đáng tiếc đó nữa. Chúc ông bạn may mắn.

Tôi kính cẩn đỡ lấy hai trăm đồng vàng trên tay Hai Đạo rồi cảm tạ rối rít.

Chờ cho hai vị ân nhân ra khỏi cửa, tôi vội vã đóng kín các cửa lại, vào phía trong. Thấy vợ con đều đi vắng cả, tôi liền lấy ra mười đồng vàng để trong túi, còn bao nhiêu bọc trong chiếc áo cũ, định kiếm nơi kín đáo để giấu.

Tìm kiếm một lúc, tôi thấy chỉ có chậu cám là có thể cất giấu được, liền mang bọc tiền vùi xuống đáy chậu. Sau đó, tôi mang chậu cám để dưới gầm giường. Tôi tin rằng vợ tôi chẳng bao giờ mó tới chậu cám đó.

Kkhi vợ tôi trở về, tôi bảo nàng coi nhà để tôi mua một ít chỉ về khâu giầy.

Tôi vừa vắng nhà một lúc thì có lão bán đồ đá đi qua.

Vợ tôi vẫn thường kêu nhà thiếu cối đá để giã bột nên khi thấy lão bán đồ đá thì vui mừng gọi lại:

- Ông lão ơi! Có cối đá bán cho tôi một cái.

Lão bán đồ ngừng gánh, nói:

- Hàng của tôi loại nào cũng tốt hết, bà khỏi lo mua phải thứ xấu.

Rồi lão bán hàng chọn một cái cối đá đưa cho vợ tôi. Nàng ngắm nghía món đồ đó với con mắt thỏa mãn. Nhưng chợt nghĩ ra không có tôi ở nhà để đưa tiền nên nàng nói:

- Ông làm ơn chờ chồng tôi về trả tiền có được không?

Lão bán đồ đá không muốn chờ đợi nên quảy gánh ra đi.

Vợ tôi vì muốn mua chiếc cối đá đó quá nên chợt nhìn thấy chậu cám dưới gầm giường bèn gọi ông lão lại, bảo:

- Ông có bằng lòng đổi chiếc cối đó lấy chậu cám không?

Lão bán hàng gật đầu:

- Cũng được! Nhưng nếu cám xấu thì tôi không đổi đâu.

Vợ tôi vui mừng, vội bưng chậu cám ra cho lão bán hàng coi. Thấy thứ cám thuộc loại tốt, lão ta bằng lòng đổi chiếc cối đá cho vợ tôi.

Sau đó, lão bán hàng quảy gánh ra đi.

Khi tôi mua chỉ trở về nhà, để bó chỉ xuống giường thì bỗng thấy chậu cám đã biến đâu mất rồi.

- Trời ơi! Sao lại có sự lạ như thế?

Tôi sợ hãi vội gọi vợ tôi lại hỏi nguyên do. Vợ tôi vui vẻ kể lại là đã đổi chậu cám lấy chiếc cối đá.

Tôi tưởng như trời đất muốn sụp xuống đầu tôi lúc đó. Tôi ôm đầu khổ sở.

Vợ tôi thấy thế ngạc nhiên không hiểu chuyện gì. Nàng nói:

- Đổi chậu cám lấy chiếc cối đá như vậy là mình được lợi quá rồi, cớ sao chàng lại buồn. Chậu cám nào đáng giá bao nhiêu mà tiếc của.

Tôi nói:

- Nàng ơi! Nàng không biết gì cả. Tôi không tiếc chậu cám mà tiếc một trăm chín mươi đồng vàng đựng trong đó.

Vợ tôi nghe xong tiếc của, khóc lóc thảm thiết rồi trách tôi:

- Đó là lỗi tại chàng. Sao có tiền mà chàng nỡ giấu không cho thiếp biết?

Tôi tức giận hét lên:

- Tại sao tôi có lỗi? Ai đã mang đổi chậu cám lấy cối đá mà lại đổ cho tôi?

Vợ chồng tôi đều tiếc của nên cãi nhau dữ dội. Sau cùng, cả hai chúng tôi đều ngồi khóc.

Một lúc sau, vợ tôi nói:

- Thôi, khóc than cũng chẳng có ích gì. Chúng ta cùng đi tìm ông lão bán cối mà lấy lại chậu cám là hơn.

Tôi cho là phải liền chia nhau mỗi người đi tìm một ngả đường. Cuối cùng, chúng tôi chẳng thấy ông lão bán cối đâu cả, đành lủi thủi ra về.

Thấy tôi buồn rầu vì tiếc của, vợ tôi dịu dàng khuyên nhủ:

- Thôi, số mình nghèo thì đành chịu vậy. Trời còn cho ta đủ hai bữa cơm là may mắn hơn nhiều người khác rồi. Giầu có cũng chẳng có ích gì hơn. Đến lúc già thì ai cũng chết cả.

Tôi cũng đành phải chịu theo số phận rủi ro như vậy mà không biết có cách nào cứu vãn. Ngày ngày lại tiếp tục công việc kiếm cơm.

Rồi hai tháng qua đi.

Một hôm, Hai Đạo và Sơn lại đến chơi cửa hàng tôi.

Hai Đạo nói với Sơn:

- Anh có thể đoán được là Tứ Cảnh hiện giờ trở nên giầu có hay vẫn nghèo như cũ?

Sơn trả lời:

- Tôi không đoán được chuyện đó. Ở đời ai cũng có số, khi chưa tới lúc giàu thì bôn ba lắm cũng chỉ mệt thân.

Khi hai người bước vào cửa hàng, tôi ngước mắt lên thấy bỗng run sợ không biết phải đối đáp ra sao.

Tôi muốn chui xuống đất trốn cho khỏi phải tiếp hai vị ân nhân đã hết sức giúp đỡ.

Hai Đạo đến bên tôi, nói:

- Ông bạn ơi! Chúng tôi tới chia vui cùng ông bạn đã làm ăn phát đạt hôm trước đây.

Tôi buồn rầu nói:

- Thưa ân nhân, đời tôi vẫn như cũ, chỉ vì tôi đã phụ lòng tốt của ngài. Xin ngài hãy mắng chửi thế nào cũng được. Tôi cam chịu mọi lỗi lầm đã gây ra,.

Tôi liền kể lại câu chuyện đổi chậu cám lấy chiếc cối đá cho hai người nghe, rồi than thở:

- Thưa ân nhân, vì thấy chậu cám để cả năm mà không ai sờ đến nên tôi cho cất tiền ở đấy là kín đáo nhất. Tôi giấu cả vợ tôi vì sợ nó có tính bộp chộp mà nói lộ ra cho người ngoài biết. Không ngờ, vì lẽ đó mà vợ tôi đã vô tình làm hại tôi. Ôi thôi! Tại sao tôi lại ngu như vậy, biết làm thế nào?

Hai Đạo lặng thinh không nói một lời.

Sơn ôn tồn nói với Hai Đạo:

- Tôi đã từng nói với anh là bôn ba chẳng qua thời vận. Tôi biết rõ rằng Tứ Cảnh không bao giờ nói dối cả. Câu “có tiền mua tiên cũng được” của anh chưa chắc đã đúng.

Hai Đạo than thở:

- Trời ơi, nếu vậy thì dùng thứ gì có thể mua được sự giầu sang, phú quí bây giờ?

Lúc đó, Sơn đang cầm một cục chì trong tay, đưa cho Hai Đạo xem rồi nói:

- Anh thấy cục chì này tôi vừa lượm được chứ? Bây giờ tôi cho Tứ Cảnh để anh ta mua phú quí giầu sang.

Hai Đạo vỗ đùi cười vang:

- Ôi thôi! Một cục chì rẻ mạt kia làm gì được mà anh nói tới. Có bốn trăm đồng vàng mà không làm giầu được nữa là một cục chì! Xin anh đừng mơ tưởng những chuyện vô lý như thế!

Sơn lẳng lặng trao cục chì cho tôi rồi nói:

- Ông bạn ôi! Đừng tưởng đây là chuyện đùa! Hãy cầm lấy cục chì này và cất kỹ. Sẽ có ngày ông bạn cần đến nó. Bao giờ chúng tôi trở lại, ông bạn hãy kể cho chúng tôi nghe là đã dùng nó vào việc  gì.

Tôi cho là Sơn chế nhạo tôi bằng câu nói đó. Nhưng dù sao tôi cũng mang ơn hai người nên cầm lấy cục chì bỏ vào túi để cho ân nhân được hài lòng trước khi ra về.

Rồi tôi lại tiếp tục công việc như thường lệ. Khi đi ngủ, tôi chợt nhớ cục chì bỏ trong túi áo, bèn lấy ra vứt vào một góc nhà.

Tôi có một người láng giềng làm nghề chài lưới. Đêm đó, lão xem lại lưới thì thấy mất một thoi chì. Định đi mua thoi chì đó nhưng các quán đều đóng cửa nên lão chài không  biết làm cách nào.

Lão bảo vợ:

- Sáng mai phải đi sớm mà lại thiếu mất một thoi chì, biết làm cách nào bây giờ?

Bà vợ nói:

- Tại ông lười không chịu xem lại từ chiều. Bây giờ khuya rồi có ai bán hàng mà mua.

Lão chài bỗng nghĩ ra, liền bảo vợ:

- Có lẽ các nhà láng giềng gần đây có thoi chì đó. Bà hãy chịu khó đi hỏi xem.

Bà vợ bất đắc dĩ phải đi hỏi khắp nơi. Cuối cùng, chẳng nơi nào có thoi chì đó cả.

Lão chài vẫn còn thắc mắc, hỏi vợ:

- Bà đã hỏi hết mọi nhà chưa?

- Tôi đã đi hỏi tất cả rồi!

- Thế còn Tứ Cảnh, bà đã hỏi hắn ta chưa?

Bà vợ tỏ vẻ chê bai, nói:

- Chao ơi! Nhắc đến anh ta làm gì. Thử hỏi rằng anh ta đã giúp ai được gì đâu mà nhờ.

Lão chài mắng vợ:

- Bà thật là vô tích sự. Hãy đi hỏi ngay đi. Trăm bó đuốc biết đâu không vớ được con ếch. Tuy hắn thiếu thốn quanh năm nhưng nếu hắn có thoi chì để trong nhà thì sao?

_______________________________________________________________________ 
Còn tiếp

 

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

VUA ĐẠI NGUYÊN HÃN VỚI CUỘC CHU DU (III)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Lại có kẻ lưu manh muốn bắt lén tôi. Nhưng ông chủ tôi cũng biết âm mưu đó nên hết sức đề phòng.

Tôi cứ sống như vậy cho đến một hôm, có một lão bà tới mua hàng, thấy tôi ngồi ở góc nhà thì bà ta nhìn chăm chú.

Khi ra về, bà lão vẫy tay gọi tôi.

Tôi có cảm tưởng tốt đẹp với bà lão nên nghĩ:

- “Ta cứ thử liều theo bà lão này xem đời ta đi tới đâu. May ra ta sẽ được hưởng sung sướng hơn”.

Nghĩ vậy nên tôi chạy theo bà lão.

Đến đầu phố, bà lảo dừng lại bảo tôi:

- Mi biết theo ta là khôn lắm!

Tới một căn nhà, bà lão mở cửa bước vào. Bà cất tiếng gọi:

- Con đâu rồi? Ra đây xem mẹ mới mang một con chó lạ về. Mẹ chắc nó là người bị biến hình.

Một thiếu nữ nghe mẹ gọi chạy ra. Tôi chăm chú nhìn nàng, thấy sắc đẹp của nàng lộng lẫy như cánh bướm mùa Xuân.

Nàng nhìn tôi rồi nói:

- Đúng như lời mẹ đoán. Nhưng mẹ lo việc người khác làm gì thêm bận.

Bà lão dịu dàng nói:

- Mẹ thấy con chó này là người bị nạn nên có ý muốn cứu. Từ trước ta vẫn cứu giúp những kẻ hoạn nạn, lẽ nào lại làm ngơ cho được.

Tôi cảm động chạy đến bên chân bà lão phủ phục xuống như van xin.

Bà lão bảo con gái:

- Con hãy giúp người này cho xong việc.

Thiếu nữ liền múc một chén nước, làm phép rồi vẩy vào người tôi.

Nàng hô to:

- Hãy thành hình người mà khi trước Thượng Đế đã ban cho ngươi.

Chỉ phút chốc, tôi đã hiện thành hình người như cũ. Điều đầu tiên là tôi quì xuống tạ ơn hai mẹ con bà lão.

Thiếu nữ hỏi tôi:

- Anh hãy kể cho tôi biết lý do anh mắc nạn?

Tôi thật tình kể lại câu chuyện vợ tôi hóa phép cho tôi thành kiếp chó và những hành động bí mật của nàng.

Thiếu nữ gật đầu nói:

- Nếu vậy thì tôi biết vợ anh. Vì Ái Liên trước kia cùng học với tôi một thầy. Nhưng tôi không kết bạn với nàng vì nàng tỏ ra độc ác.

Tôi sửng sốt nghĩ:

- “Nếu vậy thì nàng này cũng là giống ăn thịt người như vợ ta hay sao?”

Tuy vậy, tôi chỉ rụt rè hỏi:

- Thưa ân nhân, vợ tôi có phải là loài ma lai hiện hình người để hành hạ tôi không?

Thiếu nữ nói:

- Không phải vậy. Khi trước tôi và Ái Liên có học nghề phù phép chứ không phải nàng là ma đâu.

- Vậy sao vợ tôi lại giao tiếp với ma lai và…

- Và ăn thịt người, có phải anh định nói thế không?

- Vâng, chính mắt tôi được chứng kiến cảnh đó.

Thiếu nữ nói:

- Chỉ những kẻ tà đạo mới sai khiến loài ma quái mà thôi. Nhưng có nói chắc anh cũng không hiểu nổi nghề phù phép đâu. Còn Ái Liên cũng là người nhưng nàng đã luyện phép để hại người nên phải chịu ăn thịt người chết cho phép được linh. Không phải bất cứ ai học phép cũng làm vậy đâu, chỉ có những kẻ độc ác gian tà như Ái Liên mới hành động dã man như thế.

Tôi nghe nàng giải thích như vậy thì thất vọng hỏi:

- Vậy bây giờ tôi biết làm sao để vợ tôi khỏi hại tôi?

Thiếu nữ mỉm cười nói:

- Tôi đã nghĩ ra kế này để anh có thể trả thù lại vợ anh được. Tôi sẽ cho anh một chai nước. Lúc này vợ anh đi vắng, hãy lẻn về đợi sẵn. Khi nào vợ anh về thì hãy mở nút chai vẩy nước vào mặt nàng. Nàng sẽ hoảng sợ chạy trốn. Anh phải tiếp tục chạy theo, hét : “Đây là phần thưởng của kẻ độc ác như ngươi”. Như vậy anh không sợ vợ anh trả thù nữa.

Tôi định hỏi thêm, nhưng thiếu nữ ra lệnh cho tôi đi về nhà ngay kẻo lỡ công việc.

Tôi liền nghe lời nàng, vội vã mang chai nước về nhà.

Lúc đó Ái Liên đi vắng, đúng như lời thiếu nữ nói. Tôi tìm một chỗ nấp kín.

Chỉ một lát sau, Ái Liên trở về.

Chờ cho nàng vào đến cửa, tôi nhảy ra tưới chai nước vào mặt nàng.

Ái Liên hoảng sợ chạy ra cửa. Tôi đuổi theo bén gót, vừa đổi, vừa vẩy nước vào người nàng và la hét : “Đây là phần thưởng của kẻ độc ác như ngươi”.

Bỗng nhiên tôi thấy nàng hóa thành con ngựa cái. Tôi vội nắm lấy bờm ngựa dắt vào nhà. Nó không hiền lành mà nổi xung hất, đá lung tung.

Tôi phải rán sức mới kéo nổi ngựa vào chuồng.

Sau đó, tôi ra phố mua một bộ yên cương mang về thắng lên lưng ngựa.

Mỗi buổi chiều cưỡi trên lưng ngựa, tôi lại giận dữ đánh vào người nó túi bụi để trả thù.

- Tâu bệ hạ, người đàn bà như vợ tôi là một kẻ dã man, tàn ác hiếm có trên đời. Dù có dùng hình phạt như vậy cũng chưa đủ để nàng đền tội.

Mong bệ hạ thông cảm nỗi đau đớn của người chồng bạc phước này mà tha thứ cho.

Vua Đại Nguyên Hãn trầm ngâm nghĩ ngợi rồi phán bảo:

- Tuy tính vợ ngươi có tàn ác nhưng ngươi đã hành hạ nàng nhiều rồi. Vậy ta truyền cho ngươi phải mang vợ ngươi tới xin thiếu nữ kia giải phép đi.

Cát Chân có vẻ không bằng lòng, tâu:

- Muôn tâu, nếu nàng trở lại hình người thì tôi sẽ không còn sống chung với nàng được nữa.

- Được, ta cho phép vợ chồng ngươi bỏ nhau, nhưng không được hành hạ nhau.

Cát Chân bái mệnh lui ra.

Vua Đại Nguyên Hãn lại quay sang hỏi người thứ ba:

- Bữa qua ta thấy một tòa lâu đài lộng lẫy nhân cuộc du hành bất ngờ. Hỏi ra mới biết là của ngươi. Trước kia ngươi là một tên thợ giầy, vậy vì nguyên cớ nào mà bỗng chốc ngươi trở nên giầu có như vậy?

Người thợ giầy cung kính sụp lạy trước bệ rồng rồi tâu:

- Muôn tâu thánh thượng, sở dĩ hạ thần giầu có như ngày nay cũng là do một câu chuyện ly kỳ. Nếu bệ hạ cho phép, hạ thần xin kể hầu câu chuyện đó.

Vua gật đầu:

- Được, ngươi hãy thật tình kể cho ta nghe. Ta sẽ không dung tánh mạng nếu ngươi bịa đặt để lừa dối ta.

Người thợ giầy vâng lệnh, cúi đầu kể:


CUỘC ĐỜI MAY RỦI CỦA NGƯỜI THỢ GIẦY


Tâu bệ hạ,

Trước khi nói về câu chuyện đời tội, xin bệ hạ cho phép được kể đến hai người bạn, cũng là hai vị ân nhân, đã giúp tôi gây nên sự nghiệp ngày nay. Một người tên Hai Đạo và một người tên Sơn. Bây giờ họ đối với tôi thân tình như ruột thịt và cũng đang sống ở thành phố này.

Hai Đạo có gia sản rất lớn, vì vậy cuộc sống sang trọng và hào nhoáng. Còn Sơn thì gia cảnh thanh bạch, đủ ăn đủ mặc hàng ngày. Tuy vậy, đôi bạn vẫn chơi thân với nhau như anh em một nhà.

Đôi bạn thường bàn bạc với nhau về lẽ đời.

Trong một buổi bàn luận, Hai Đạo nói:

- Theo tôi xét thì ở đời kẻ sung sướng vốn là kẻ giàu có, không bị lệ thuộc vào ai.

Sơn bất đồng ý kiến, nói:

- Tôi cho như vậy là không đúng. Vì không chắc những kẻ ngồi trên đống bạc mà cho là sung sướng được. Theo tôi biết, cuộc sống của con người bình thản, đủ ăn, mới là sung sướng.

Hai Đạo không bằng lòng, nói:

- Đúng vậy. Nhưng anh thử nghĩ xem, con người mà không có tiền bạc thì cuộc sống bình thản làm sao được. Anh không biết câu : “Có tiền mua tiên cũng được” hay sao?

Sơn nói:

- Anh đừng tưởng có tiền mua tiên cũng được đâu. Bao nhiêu người có tiền mà vẫn không làm nên được sự gì cả, chứ anh đừng tưởng đồng tiền là vạn năng đâu.

Hai Đạo không vừa ý, nói:

- Tôi cho rằng con người vốn nghèo là vì thuộc giòng giống nghèo, khi mới sanh ra cha mẹ đã nghèo nên họ không thể giầu được. Cũng có trường hợp cha mẹ để lại tiền bạc cho con nhưng hắn không biết dùng đồng tiền nên phí phạm hết của cải. Nếu xét cho cùng thì khi người ta có đồng tiền trong tay mà biết dùng đúng chỗ thì thế nào cũng phải giầu có.

Sơn vẫn một mực giữ ý kiến của mình. Chàng cho là con người ta bôn ba chẳng qua thời vận.

Do hai ý tưởng khác nhau đó nên đôi bạn đã tranh luận với nhau rất sôi nổi.

Một buổi chiều kia, khi đôi bạn đang cùng nhau dạo mát, bỗng để ý thấy tôi đang chăm chú vá đôi giày cũ cho khách hàng.

Tôi vẫn sống với gian hàng cũ từ đời ông tổ tôi để lại. Cuộc sống của tôi vẫn không lấy gì làm sung túc cho lắm, chỉ đủ ngày hai bữa cơm.

Vì vậy mà quần áo tôi chỉ có một bộ tồi tàn.

Lúc đó, đôi bạn thấy tôi đang vá giầy với vẻ cực nhọc, mồ hôi ướt đẫm áo, thì ái ngại. Hai Đạo nói với Sơn:

- Anh Sơn ơi! Anh hãy nhìn kỹ xem hoàn cảnh anh thợ giầy kia có đúng là đang trong tình trạng nghèo nàn không?

Sơn gật đầu:

- Đúng như vậy. Chắc chắn là anh ta nghèo rớt mồng tơi!

Hai Đạo nói:

- Anh đã từng nói bôn ba chẳng qua thời vận. Muốn biết chắc hay không, ta hãy cùng tới hỏi thăm sẽ rõ.

Rồi hai người bạn cùng dắt nhau vào cửa hàng, hỏi tôi:

- Ông bạn ơi! Hãy ngừng tay cho chúng tôi hỏi vài điều. Chẳng hay tại sao mà ông bạn sống trong cảnh nghèo nàn như vậy. Nhưng trước hết, ông bạn hãy vui lòng cho biết danh tánh.

Tôi ngước mắt nhìn lên, trả lời:

- Tôi tên là Tứ Cảnh, từ bao nhiêu đời nay đã sinh sống bằng nghề này.

Hai Đạo bàn:

- Tôi tưởng rằng nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Sao ông bạn sống chết với nghề này mà không để dành vốn liếng mà phát triển nghề nghiệp có hơn không?

Tôi buồn rầu trả lời:

- Tôi vẫn hằng mong mỏi như vậy. Nhưng làm thế nào mà để dành được tiền. Vì nếu ngài biết rằng tôi phải làm quần quật suốt ngày mới có đủ miếng cơm manh áo. Gia đình tôi gồm có một vợ năm con nheo nhóc, không giúp đỡ được gì. Chắc ngài cũng biết rằng một gia đình đông con tiêu pha tốn kém biết là chừng nào. Hoàn cảnh tôi có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, cũng chẳng kêu ca vào đâu được.

Hai Đạo nghe tôi nói xong thì tỏ vẻ hài lòng và nói:

- Đó, anh có thấy tại hoàn cảnh nghèo nên người thợ giầy nầy mới không phát triển nghề nghiệp để làm giầu được. Nếu có sẵn vốn, lại có óc làm ăn thì thế nào mà chẳng khá giả.

Sơn vẫn không vừa lòng, nói:

- Chưa hẳn có tiền mà đã làm ăn khá giả được đâu. Có khi nghèo vẫn hoàn nghèo.

Hai Đạo hỏi:

- Trong trường hợp nếu người thợ giầy có vài trăm đồng để kinh doanh, liệu họ có còn nghèo nữa không?

Sơn cười chế nhạo:

- Đã chắc đâu là họ sẽ giầu.

Hai Đạo bảo tôi:

- Ông bạn ơi! Tôi biết hoàn cảnh ông bạn túng lắm, vậy tôi giúp ông bạn hai trăm đồng vàng đây, ông bạn hãy dùng nó để gầy dựng cơ nghiệp cho ngày một phát triển.

Tôi nghi ngờ hỏi:

- Chắc ngài nói đùa cho vui câu chuyện. Với hoàn cảnh quẫn bách của tôi, nếu tôi được một số tiền nhỏ hơn cũng đủ để khuếch trương cơ sở và làm giầu đứng vào bực nhất nhì thành Bá Đa này.

Hai Đạo vui vẻ lấy rtong túi ra hai trăm đồng vàng trao cho tôi rồi nói:

- Tôi hân hoan giúp ông bạn số tiền nầy làm vốn. Xin Thượng đế phò hộ cho ông bạn làm ăn phát đạt. Anh em chúng tôi lúc đó sẽ vui mừng là giúp được một người thành công.

Tôi cảm động quá, ứa nước mắt, vội đỡ túi tiền trên tay Hai Đạo rồi quì xuống lạy tạ hai người.

Sau đó, Hai Đạo và Sơn dắt nhau ra khỏi cửa hàng của tôi, thản nhiên tiếp tục cuộc dạo mát.

Trong suốt quãng đời tôi, chưa bao giờ tôi được cầm trong tay một túi tiền nhiều như hôm đó. Lòng tôi xao động, băn khoăn và chợt nghĩ ra là không có chỗ cất tiền. Vốn sống trong cảnh nghèo, không cần đề phòng trộm cướp nên khắp nhà tôi đều trống trơn, chẳng có chỗ nào kín đáo.

_______________________________________________________________________ 
Còn tiếp