Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

CÂU CHUYỆN MỞ ĐẦU (II)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Hai hôm sau vua nước Ba Tư cùng em và đoàn tùy tùng ra khỏi hoàng thành, tiến về một khu rừng xa rồi truyền hạ trại.

Sa-hy-A nai nịt gọn gàng xong liền gọi một viên đại thần đến nói:

- Vì có việc cần, trẫm phải giao quyền quản thủ cho khanh để đi xa, khanh hãy truyền cho tất cả ở đây cấm không cho một ai rời xa đây.

Nói xong ngài liền lên ngựa cùng em tìm đường tắt lặng lẽ trở lại hoàng cung.

Hoàng hôn buông xuống cảnh vật một bóng tối mờ ảo, vườn thượng uyển chập chờn trong bóng hoa, ánh trăng non buông xuống nét vàng lợt.

Vào đến cung điện của mình, vua nước Ba Tư và em là Sa-hy-Na suốt đêm không thể nào chợp mắt được. Thỉnh thoảng họ lại nhìn qua cánh cửa sổ tối đen bên kia nơi đã diễn ra cảnh dâm ô lần trước.

Gà đã gáy sang canh, màu sữa loãng của ánh trăng ngả sang màu sáng, sự vắng lặng vẫn bao trùm cảnh vật.

Trong lúc hai người đương nóng lòng thì đột nhiên một tiếng động nhẹ rồi cánh cửa bí mật của thâm cung hé ra, hoàng hậu Ba Tư dẫn đầu, theo sau là hai mươi cung nữ mỉm cười bước ra. Từ trên cây, tên Ma-Zu tuột xuống cùng với các tên nô lệ, rồi cảnh tượng ấy diễn ra sau khi xiêm y trút bỏ, mọi việc đều xảy ra như hôm nọ.

Sa-hy-A thấy thế chết điếng ngồi trân như một pho tượng gỗ. Một lúc sau hoàn hồn, ngài liền thốt ra những lời giận dữ, cay đắng:

- Thượng đế ơi! Nhục nhã và ghê tởm quá. Ai có thể ngờ được một bậc mẫu nghi thiên hạ, một hoàng hậu của một cường quốc nhất thế gian lại có một hành động bỉ ổi đến thế. Trên đời này làm thế nào có một người đàn ông còn dám tự phụ là mình chiếm trọn vẹn tình yêu của vợ mình nữa.

Quá đau đớn, Sa-hy-A ôm em vào lòng bảo:

- Em ạ, thật  ta không còn muốn sống một phút nào ở nơi cung son gác tía, thôi chúng ta hãy tìm đến một nơi xa hẳn loài người đen bạc đi.

Sa-hy-Na tuy không còn buồn khổ song thấy anh quá đau đớn thì không dám khuyên can, chỉ khẽ bảo:

- Thưa anh, em rất vui lòng theo anh đến một nơi nào đó, nhưng em xin phép giao ước với anh một điều.

Sa-hy-A hỏi:

- Em muốn nói điều gì?

Vua Thát-Đát mỉm cười nói:

- Em muốn xin anh một điều kiện là khi nào chúng ta gặp một kẻ kém may mắn hơn chúng ta thì ai sẽ về nước người đó mà giữ gìn giang sơn.

Sa-hy-A đồng ý nên gật đầu nói:

- Anh xin hứa sẽ bằng lòng nếu gặp kẻ bất hạnh hơn hai ta, nhưng anh tin em sẽ thua vì sẽ không có một ai vô phúc hơn hai chúng mình.

Sa-hy-Na mỉm cười nói:

- Em thì em tin chắc là chúng ta chỉ đi ít hôm thôi vì trên đời này còn bao nhiêu giống đàn bà trắc nết như vợ em và hoàng hậu Ba Tư.

Hai người khoác áo lên ngựa ra khỏi hoàng thành lúc trời còn tờ mờ sáng, theo con đường tắt họ đi đến khu rừng nơi quan quân đang chờ đợi họ.

Ngày hôm ấy, hai ông vua đi mãi trong rừng vắng, lên thác xuống ghềnh để mau đến nơi.

Đến giữa trưa, vì quá mệt mỏi với cuộc hành trình của hai ngày liền, họ bèn nghỉ lại dưới một cây đại thọ, nơi một gốc cây to lớn.

Hai ông vua ngồi nói chuyện về lòng dạ của đàn bà cho qua cơn mệt nhọc. Họ đang mải mê câu chuyện thì nghe ngoài bể khơi vang dội rất khủng khiếp. Liền đó, nước biển rẽ ra làm hai, một làn khói đen bốc lên ngùn ngụt.

Hai người rất kinh hãi vội leo lên cây cao để núp.

Giữa làn nước rẽ ngoài khơi, một bóng đen to lớn tiến vào theo làn khói đen nghịt cả một vùng.

Hơn một phút, vầng khói đen dần dần tan, trên mặt biển hiện ra một hình thù dị tướng, mặt đen như trôn chảo, mắt đỏ như máu, thân hình cao nghệu, trên đầu ông thần cổ quái kia đội một chiếc hòm thủy tinh trắng toát, trên nắp có khóa bằng bốn cái khóa to lớn.

Hung thần tiến về phía cánh đồng, đến gốc cây cổ thụ trên có hai ông vua đang núp, ông ta đứng lại.

Hai người chân tay run rẩy, ôm lấy cành cây nhìn đăm đăm vào thân hình vị hung thần.

Có lẽ vô tình không nhìn thấy hai người đang núp, hung thần thản nhiên đặt chiếc hòm thủy tinh xuống dưới gốc cây, rồi móc trong lưng ra một xâu chìa khóa, mở hòm kéo ra một cô gái ăn mặc thật lộng lẫy khêu gợi, bày một thân hình tuyệt mỹ, vẻ mặt thiếu nữ đẹp như một đóa hoa.

Khẽ bế cô gái ra khỏi hòm kính, hung thần đặt nàng ngồi một bên, âu yếm nói:

- Người đẹp ôi! Nàng là người đẹp nhất trần gian, là chúa tể của mọi sắc đẹp. Ta may mắn cướp được nàng giữa đêm tân hôn và ta sẽ không để một ai có thể đụng đến người nàng. Hôm nay ta hơi mệt, vậy nhân dịp qua đây, có gió mát, vậy nàng hãy để ta ngủ bên nàng để lấy lại sức khỏe, để yêu nàng nhé.

Hung thần nói xong không kịp để cho cô gái kia bằng lòng liền nằm gối đầu lên chân nàng, mê mệt trong giấc ngủ, tiếng ngáy lớn như sóng biển.

Người con gái ấy ngồi một mình có vẻ buồn nên đưa mắt nhìn chung quanh. Chợt mắt nàng bắt gặp hai người đang run rẩy ép mình vào cành lá.

Người đẹp mỉm cười đưa tay ra hiệu cho hai người bảo leo xuống.

Hai ông vua nhìn vị hung thần bằng đôi mắt sợ sệt rồi tỏ ý xin mỹ nhân tha cho mình.

Nàng lắc đầu khẽ nói:

- Hãy im lặng và xuống cho mau, nếu không các người khó toàn mạng vì ta sẽ gọi hắn dậy.

Hai ông vua không biết làm sao liền cùng nhau leo xuống. Người đẹp nhẹ tay nhấc đầu vị hung thần xuống rồi từ từ bước đến cùng hai người kéo tay dắt vào một bụi cây ép buộc giao hoan.

Hai ông vua hết sức lo sợ, một mực chối từ nhưng mỹ nữ cất lới hăm dọa nên cả hai đành phải chiều theo để khỏi chết.

Sau khi thỏa mãn, mỹ nữ nhìn thấy tay hai người đều có đeo nhẫn, liền bảo cởi ra để đưa nàng làm kỷ niệm.

Hai người vội vàng vâng lời, liền cởi hai chiếc nhẫn ra trao cho nàng.

Mỹ nữ tiếp lấy rồi cho tay vào túi lấy ra một chiếc hộp nhỏ, mở ra, trong đó đựng một xâu nhẫn đủ các loại.

Nàng mỉm cười nhìn cả hai hỏi:

- Các người biết ta lấy các vật này ở đâu không?

- Thưa không.

Mỹ nữ tiếp:

- Của các tình nhân ta tặng đó, tất cả ta có chín mươi tám chiếc rồi, nay có hai chiếc nữa là đủ một trăm.

Cô ta cười khúc khích rồi tiếp:

- Các người trông, ta có tất cả một trăm tình nhân, mặc dù lão hung thần cẩn thận kia luôn luôn nhốt ta vào hòm thủy tinh giấu tận đáy biển. Các ngươi có hiểu thế nào lá ý muốn của người đàn bà chưa? Khi họ thích thì dù cho có chồng hay tình nhân cũng không sao cản nổi. Vậy các ngươi không nên để trái ý đàn bà, như thế mới thực là khôn.

Nói xong, mỹ nữ cho cả hai chiếc nhẫn vào xâu, cất vào hộp bỏ túi rồi bước đến gần chỗ hung thần đang nằm ngủ sau khi ra dấu cho hai vua bảo đi trốn, xong liền đặt lại đầu vị hung thần lên gối mình như lúc nãy.

Hai ông vua vừa hồi hộp, lo sợ, lặng lẽ trở về đường cũ. Ra khỏi nơi đó, đức vua Sa-hy-A bật cười xòa nói với em mình:

- Câu chuyện vừa rồi em thấy thế nào, có thú không? Ta hết cả buồn bực khi thấy cái chung tình của vợ lão hung thần. Thực là mưu trí của đàn bà dù cho đến một ông thần cũng còn bị lầm. Xảo quyệt thay cho lòng dạ đàn bà em nhỉ?

Sa-hy-Na cũng cười tiếp:

- Sao, bây giờ chắc anh đồng ý với em rồi nhỉ. Vị hung thần kia còn bất hạnh hơn ta gấp bội, dù cho có khóa vào hòm chôn xuống biển cũng không thoát khỏi ý muốn phản bội của họ, vậy nếu anh bằng lòng ta hãy về triều vì điều ta muốn ta đã tìm được rồi.

Vua Ba Tư gật đầu, hai người cùng vui vẻ lên ngựa về trại.

Quan quân đã chuẩn bị sẵn sàng để đón tiếp hai người bằng một bữa tiệc thịt rừng săn được ở đấy.

Ăn uống no nê, hai ông vua hạ lịnh nhổ trại để về triều.

Vừa về đến hoàng cung, vua đi thẳng vào phòng hoàng hậu, sai quân bắt trói lại, rồi ra lệnh cho quan đại thần đem ra xử trảm.

Vị quan già ngơ ngác nhưng trước lệnh của đức vua, ngài đành miễn cưỡng vâng theo mà trong lòng hết sức phân vân, ngơ ngẩn không hiểu hoàng hậu bị tội gì.

Giết xong đứa dâm phụ, đức vua Sa-hy-A vẫn chưa hết cơn giận, còn tự tay chém đầu cả đám cung nữ theo hầu hoàng hậu và bọn nô lệ kia.

Sau khi vua Ba Tư trừng phạt, vua Thát-Đát biết anh mình hết cả nỗi buồn liền cáo từ về nước.

Để trả thù đàn bà và cũng để khỏi bị phụ tình, đức vua Ba Tư liền sai quan đại thần chọn mỹ nữ để tuyển cung rồi cứ mỗi đêm vua sai đem đến cho ngài một nàng thật lộng lẫy, xinh đẹp, rồi sau một đêm ân ái, sáng ra ngài hạ lịnh giết chết dù cho người đẹp có quyến rũ đến đâu.

Quan nhứt phẩm đại thần rất đau lòng nhưng không biết làm sao cãi lệnh vua nên đành gạt nước mắt mỗi hôm chém một tuyệt sắc giai nhân vô tội.

Xứ Ba Tư từ đó cứ mỗi ngày có một tội nhân bị hành quyết và mỗi đêm có một tân hoàng hậu.

Chánh sách hoàng hậu một đêm của nhà vua làm chấn động cả dân trong nước. Những giọt lệ khóc con, em của dân thành Ba Tư tràn ngập khắp nơi tưởng chừng như không thể chấm dứt.

Vị quan đại thần bị buộc cưới vợ mỗi đêm cho đức vua và chém hoàng hậu buổi sáng rất lo sợ cho hai cô con gái của ngài.

Ông ta hết sức buồn rầu khi thấy chiếu chỉ còn ban ra, ông ta hồi hộp khi nghĩ đến lúc đức vua truyền tấn cung hai cô con gái yêu quý xinh đẹp của mình khi nước hết mỹ nữ.

Cả hai con gái của quan nhứt phẩm đại thần đều xinh đẹp, tuổi lại đến tuần cập kê.

Người chị tên là Mỹ Thanh Loan, người em là Mỹ Thanh Liên, cả hai đều xinh đẹp, tánh lại hiền từ, thùy mị, xa gần đều mến phục.

Riêng phần Mỹ Thanh Loan, ngoài những đức tính tài năng khuê các, nàng lại có tài học hỏi để tìm hiểu những chuyện hay lạ về tích xưa cũng như giỏi về văn thơ, và tài ăn nói cao siêu hơn các bậc triết lý gia.

Vì thế quan nhứt phẩm đại thần rất quý mến, cưng chiều nàng như một hòn ngọc quí, không để phật ý đứa con tài hoa kia bao giờ.

Hôm ấy, sau khi quan nhứt phẩm đại thần đang lo buồn vì vừa chém xong một người con gái xinh đẹp thì thấy con gái yêu là nàng Mỹ Thanh Loan đến gần nói:

- Thưa cha, cha có thương con không?

Nhất phẩm đại thần nhìn con trìu mến nói:

- Sao con lại hỏi thế? Cha yêu hai con nhất trên đời.

Mỹ Thanh Loan mỉm cười nói:

- Nếu thế xin cha cho con xin một điều, chắc cha bằng lòng chứ?

Nhất phẩm đại thần bảo con:

- Con cứ nói, nếu điều đó có lý cha sẽ bằng lòng ngay.

Mỹ Thanh Loan nhìn cha với đôi mắt biết ơn, xong nói:

- Thưa cha con muốn cứu cho những cô gái đẹp trong nước thoát khỏi cơn giận dữ của nhà vua Ba Tư.

Quan đại thần mỉm cười hiền từ nói:

- Ý định của con tuy tốt thật song hơi táo bạo đấy. Con có biết cha đã bao lần cùng với bá quan, van xin đức vua hãy thương những người vô tội, nhưng ngài vẫn một mực thi hành ý định tàn bạo kia. Con có phương thuốc mầu nhiệm nào mà dám định khuyên can ngài?

Mỉm một nụ cười thật tươi, Mỹ Thanh Loan nói:

- Mỗi đêm đức vua thay một hoàng hậu, con muốn thưa với cha để xin được làm hoàng hậu một đêm kia.

Quan nhất phẩm đại thần nghe con nói thật lạ lùng, đôi mày dựng lên như ngạc nhiên cực điểm, hỏi lại:

- Trời ơi! Con đã mất trí rồi sao chứ? Ai lại nghĩ việc khinh khủng có thể nguy hiểm đến tính mạng thế? Con có biết đức vua đã nhất định chỉ có một đêm chăn gối thì phải đem chém ngay dù cho cô gái ấy xinh đẹp như tiên nga đi nữa sao?

Hé vành môi mọng, Mỹ Thanh Loan nhìn xuống, nói:

- Thưa cha điều đó con đã rõ, chính vì thế mà con mới nghĩ đến để xin cha cho con hy sinh tính mạng để cứu các nàng mỹ nữ của nước ta. Xin cha cứ cho con đi, con đã có một kế để thi hành, nếu chẳng may con có bị chết đi thì cái chết đó là cái chết danh dự, còn nếu con may thoát được thì sẽ giúp nước nhà một lợi ích to lớn.

Quan đại thần nhất định không bằng lòng. Ngài nói:

- Cha không bằng lòng, nhất định không dù con đã nhất định hy sinh không kể cái chết, nhưng còn cha, cha phải bảo toàn giọt máu của cha chứ, cha đâu để cho con chết một cách vô lý như thế, khi chính tay cha nhúng vào giòng máu của cha khi đưa gươm vào cổ con.

Mỹ Thanh Loan vẫn một mực van xin:

- Thưa cha, dẫu cha có giết đứa con ngu dại nầy thì con xin cha cũng hãy mủi lòng chấp thuận cho, vì chỉ có điều nầy mới cứu nổi non sông và lòng con mới an.

Thấy con vẫn khăng khăng nài nỉ, quan nhất phẩm đại thần giận dữ nói:

- Tại sao con cứ ngoan cố thế? Nếu con cứ coi thường nguy hiểm nhất định chui đầu vào cái chết thì đã chẳng được như con lừa kia, con lừa tài khôn mà phải mang tội vào thân.

- Thưa cha, câu chuyện tài khôn của con lừa đó ra thế nào xin cha kể cho con nghe.

- Ừ, ta sẽ kể để con thấy cái dại của con lừa đó, nó giống con ở điểm nào.

Cha còn nhớ cha đã xem trong một quyển sách hay kia có một người phú thương giàu có, có nhà cửa to lớn ở khắp miền quê.

Ông ta lập trại nuôi súc vật và đưa gia đình về trú ngụ nơi đó vì chán cảnh phồn hoa đô thị : tự tay ông ta săn sóc, chăn nuôi cho thú vật và trang trại.

Ông ta có một thuật lạ là nghe được tiếng nói của loài vật và ông ta hay thơ thẩn đi tìm nghe những điều lạ kia, nhưng có điều nếu ông ta kể lại cho ai nghe, ai nghe ông ta nói gì thì sẽ bị thiệt mạng.

Tại một chuồng trong trại có đôi súc vật, một thật ngu dại và một tinh ranh, đó là con bò và con lừa.

Hôm ấy nhân dịp rảnh rổi ông đi đến gần chuồng đó thì nghe con bò nói với con lừa.

- Nầy anh lừa, anh sung sướng quá, được nghỉ cả ngày không phải làm việc lại được chủ nhân săn sóc từ miếng ăn giấc ngủ, tắm rửa mỗi ngày. Còn tôi sao mà khổ thế, từ nửa đêm đã phải thức dậy để mang ách vào cổ, để rồi suốt ngày cày bừa, người ta lại cứ theo sau để đánh đập khi tôi bước chậm, khi về lại phải ăn toàn cỏ khô, cây mục, đêm lại phải ngủ trên phân. Nếu đem so sánh thì tôi không thể nào tránh khỏi phàn nàn.

Lừa im lặng chờ bò nói xong, liền mỉm cười đáp:

- Anh quá giản dị nên bị người ta lợi dụng tài năng và sức khỏe cũng phải, vì anh dễ dãi nên họ cho ăn sao đành chịu vậy. Còn đôi sừng của anh để làm gì, sao anh không dùng nó khi người ta mang ách vào cổ, tròng dây vào mũi? Còn chân anh để làm gì tại sao anh không dậm mạnh lên khi người ta đánh anh? Nếu anh không thèm ăn cỏ khô, dây khô thì ai người ta bắt anh ăn được. Anh nhu nhược thế, để cho người ta xỏ mũi như thế, thảo nào người ta chẳng có câu : ngu như bò là phải.

Nghe lừa nói xong, bò có vẻ hiểu nên cám ơn rối rít, mừng rỡ nói:

- Tôi sẽ tuân lời anh dạy.

Vị phú thương nghe thế nhưng vẫn thản nhiên trở về. Đúng như lời bò nói, sáng hôm sau, khi người chăn mang ách cho bò như lệ thường liền bị nó húc cho mấy cái nên thân, người thợ cày đành chịu thua bỏ đi làm việc khác.

Tối hôm ấy, khi đem cỏ khô cho bò thì thấy máng vẫn còn nguyên cỏ và bò thì nằm im thở thực mạnh.

Tưởng bò bị bịnh, người thợ cày vội thưa với phú thương. Nghe lời người thợ cày nói, ông phú thương chỉ mỉm cười bảo:

- Hãy đem lừa ra cày thế cho bò trong khi còn ốm và nhớ đánh thật đau nếu nó cưỡng lại.

Người thợ cày thấy chủ bảo lạ đời là đem lừa đi cày nhưng cũng không dám cãi và vì lừa không quen làm việc nặng nhọc nên luôn bị ngọn roi vút lên đầu cổ, theo lời dạy của phú thương.

Suốt trọn ngày đó lừa làm việc mệt nhoài lại còn bị đòn đau khi bò nằm trong chuồng thảnh thơi nhai cỏ tốt, dành cho lừa vì người đi cày ngỡ nó đau phải cho an ngon, nó thích thú lắm và định bụng chờ lừa về sẽ cám ơn.

Khi lừa về đến chuồng, bò đến bên cung kính cảm ơn dạy bảo và xin lừa chỉ bảo thêm những kế hoạch khôn khéo hơn.

_______________________________________________________________________
Còn tiếp

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

CÂU CHUYỆN MỞ ĐẦU (I)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Câu chuyện mở đầu


Ngày xưa cách đây đã lâu lắm rồi, tại xứ Ba Tư vô cùng rộng lớn kia, có các vị vua tranh nhau mở mang bờ cõi và nới rộng giang san của mình. Suốt một vùng sông “Gan” chạy dài đến sát biên giới nước Trung Hoa, cộng với tất cả những hòn đảo lô nhô mọc theo ven bờ biển.

Vào lúc đó, có một ông vua vô cùng minh mẫn và oanh liệt, tiếng tăm vang lừng khắp nơi, với tài kinh bang tế thế, ông ta trị dân rất giỏi, đem lại cho đất nước và toàn dân cảnh thái bình thịnh vượng vô cùng hoan lạc, thần dân trong nước, ai ai cũng tôn kính và mến phục ông vua tài ba đó.

Đức vua có hai vị hoàng tử rất khôi ngô tuấn tú và vô cùng anh dũng, hoàng tử anh tên là Sa-hy-A, và hoàng tử em tên là Sa-hy-Na. Hai vị hoàng tử rất yêu thương và quí mến nhau, không bao giờ họ xa nhau đến nửa bước.

Nhà vua tuổi trời mỗi ngày một cao, sau khi người băng hà, để theo đúng luật lệ trong nước từ trước, ngai vàng liền được trao cho hoàng tử anh là Sa-hy-A để tiếp tục thay thế vua cha trị vì bờ või.

Như chúng ta đã biết ở trên, hai vị hoàng từ rất yêu thương nhau, vì thế khi hoàng tử Sa-hy-A được lên ngôi vua thì lại càng thương yêu em vô cùng. Hoàng tử nghĩ không lẽ hai anh em ăn cùng một mâm, ngủ chung một giường từ nhỏ đến lớn mà nay mình trỏ thành một vị hoàng đế quyền uy vô cùng rộng lớn mà lại nỡ để em vẫn là kẻ tầm thường như trước ; nghĩ thế, hoàng tử liền cắt một phần đất của phụ vương để lại nhường cho em mình cai trị.

Sa-hy-Na là một vị hoàng tử rất biết điều, không vì thấy anh mình quyền cao tước trọng mà tỏ vẻ ganh tị hoặc ghen ghét, vẫn tìm một mức sống bình thường, cũng không trách thân than phận, hoặc buồn cho địa vị hẩm hiu của mình. Vì thế khi thấy anh có ý định nhường cho mình một phần đất đai thì Sa-hy-Na biết là anh mình thật lòng thương yêu mình mới có ý định như thế. Sa-hy-Na không dám từ chối, sợ buồn lòng anh, chàng liền nhận lời ngay.

Thế là từ đó, hai anh em Sa-hy-A và Sa-hy-Na thành hai vị quốc vương : vua anh là hoàng đế nước Ba Tư còn vua em là hoàng đế nước Thát Đát. Hai kinh đô xa cách nhau hàng mấy ngàn dặm và mỗi người đều phải lo nhiệm vụ của mình, vì thế họ ít khi được gặp mặt nhau để hàn huyên tâm sự như ngày còn thơ ấu.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhưng không vì thế mà tình anh em ruột thịt của hai ông vua đó phai nhạt. Ngược lại càng tăng thêm sự nhớ nhung của hai anh em họ Sa với bao nhiêu nỗi buồn xa lìa cách trở.

Hơn mười năm qua, hai anh em nhớ nhau quá, nhưng vua anh đang trị vì một nước, quyền bính trong tay rất mạnh mẽ, quân với tướng hàng trăm vạn, tất cả thần dân đều trông cậy và tin tưởng vào mình. Vì thế mặc dù hết sức nhớ nhung người em thân yêu đã bao năm cách biệt mà vua anh cũng không thể nào trao quyền nhiếp chính cho người thân thuộc để đi thăm em được. Vì thế vua Ba Tư liền sai một viên quan đại thần mang thơ sang nước Thát Đát để mời em về kinh đô Ba Tư hội ngộ cho thỏa tình mong nhớ bấy lâu.

Vua em nhận được thơ của anh thì vui mừng vô hạn liền cho trọng đãi sứ thần của anh mình và yêu cầu sứ thần nghỉ ngơi ở nhà quán ít lâu để cho mình lo liệu thu xếp mọi việc cần thiết trong cung, cử người trông coi việc nước thay mình ít lâu trước khi lên đường theo sứ giả sang Kinh đô Ba Tư để hội kiến vua anh.

Sau khi đã chọn một viên quan đại thần đáng tin cậy để trao quyền nhiếp chính thay mình coi việc ít lâu, nhà vua liền từ giã hoàng hậu, rồi sửa soạn cùng mấy viên quan hộ giá cùng sứ giả lên đường.

Ra khỏi kinh đô chừng mười dặm, trời ngả hoàng hôn, vua liền truyền lệnh hạ trại nghỉ và tổ chức một bữa yến tiệc linh đình để khoản đãi sứ giả của anh một lần nữa, cũng để chia tay các vị đại thần có lòng quyến luyến đi theo tiễn chân mình.

Đêm đó thật là một đêm hoa đăng mở hội, vua tôi chén tạc chén thù vô cùng thân mật. Lần lượt các quan đại thần, sứ giả rồi quân lính đề thi nhau say mềm, chỉ còn một mình nhà vua vì trong lòng muốn gặp anh ngay nên thấp thỏm không mấy yên dạ. Thấy tất cả mọi người đã ngủ say, nhà vua một mình thơ thẩn đi dạo mát, đếm bước dưới ánh trăng soi sáng để tưởng tượng cảnh hội ngộ vô cùng cảm động sắp tới với anh mình, rồi suy nghĩ miên man hồi lâu, nhà vua chợt nhớ đến hoàng hậu ở nhà, người vợ trẻ mà nhà vua yêu dấu, sẽ phải xa cách mình một thời gian khá dài trong thâm cung hiu quạnh và nghiêm nhặt. Càng nghĩ nhà vua càng lấy làm thương hoàng hậu, thấy đêm nay còn dài, nhà vua liền quyết định lên ngựa trở về hoàng cung để từ biệt hoàng hậu một lần nữa, an ủi nàng ít lời cho trọn nghĩa vợ chồng.

Vừa bước vào hoàng cung, lòng ông vua đa tình rộn lên một niềm vui khôn tả, ngài yên trí hoàng hậu sẽ vô cùng vui sướng và xiết bao cảm động trước sự trở về đột ngột của mình. Ngài sẽ ôm nàng trong vòng tay để nỉ non tâm sự, để an ủi vỗ về và để dặn dò cặn kẽ, ngài sẽ hứa với nàng dù xa cách ngàn trùng nhưng luôn luôn lúc nào ngài cũng sẽ mãi mãi chung thủy với nàng và nhớ đến nàng! Ngài sẽ…

Nhưng…

Cánh cửa phòng hoàng hậu vừa được nhà vua mở hé ra thì giấc mộng đẹp trong lòng ông vua trẻ đa tình nọ cũng tan theo mây nước! Một sự phũ phàng hiển nhiên hiện ra trước mặt ngài. Trên một chiếc giường khảm ngọc vô cùng lộng lẫy mà từ trước đến giờ chỉ có một mình ngài và người vợ trẻ thân yêu đặt mình lên đó! Thì hỡi ôi, trước mắt ngài, dưới ánh đèn mờ ảo, người vợ thân yêu của nhà vua, người đàn bà mà ngài đặt hết lòng tin tưởng và tha thiết yêu thương, hay nói một cách khác, vị hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ được tất cả thần dân trong nước tôn kính đang nằm trong tay một chàng trai trẻ khỏe mạnh, một viên võ tướng trẻ tuổi, cả hai đang âu yếm ôm nhau nằm ngủ ngon lành, vai kề má dựa như đôi vợ chồng chính thức.

Nhà vua đứng chết lặng người ra một hồi lâu trước sự thật phũ phàng đó. (Ngài thầm cầu mong đó là một ảo tưởng. Vì ngài không tin ở nhãn quan của mình. Ngài không dám tin đó là sự thật đang hiện ra trước mắt!) Thật thế, ngài không thể nào ngờ được người thân yêu của mình, người mà ngài đặt hết tin tưởng, chỉ mới cách xa ngài một sớm một chiều đã nỡ đem lòng phản trắc như thế!

Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Dù nhà vua có muốn khác đi nữa cũng không thể nào được như ý! Qua phút sững sờ, cơn thịnh nộ của đấng quân vương bắt đầu bùng dậy. Nhà vua giận đến run người lên. Ngài không thể nào dằn được cơn giận nữa. Lập tức ngài rút kiếm ra, bước lại bên giường đôi gian phu dâm phụ.

Lưỡi gươm sáng loáng của nhà vua hạ xuống, hai chiếc đầu lập tức lìa khỏi cổ ; không thể nhìn lại hai xác của hai kẻ phản phúc, nhà vua lặng lẽ chùi lưỡi gươm đẫm máu vào tấm riềm cửa rồi tra gươm vào vỏ, ngài lặng lẽ lên ngựa trở về chỗ đóng trại.

Sáng hôm sau xa giá tiếp tục lên đường, chiêng trống dộng lên vang trời, tiền hô hậu ứng, thật là rầm rộ, lòng mọi người cảm thấy hân hoan khôn tả trước cuộc du ngoạn kỳ thú đó, chỉ riêng có lòng nhà vua là rối loạn tơi bời, ngài không còn một chút tâm trí hưởng thú vị trong cuộc hội ngộ với người anh thân yêu sắp tới.

Đến kinh đô nước Ba Tư, vua Sa-hy-A cùng quần thần ra thật xa để đón em. Cuộc tiếp đón được tổ chức vô cùng long trọng. Hai anh em vừa thấy nhau đã cùng chạy lại ôm lấy nhau cảm động, lặng lẽ kể những tâm sự cũng như nỗi buồn nhớ nhung trong bao năm trời xa cách.

Tình thương của hai anh em trong bao năm trời xa cách trỗi dậy mãnh liệt. Quốc vương Ba Tư cùng em sóng đôi ngựa chậm rãi bước vào thành trước sự hoan hô nồng nhiệt của dân chúng. Nhà vua cho dọn một gian phòng cực kỳ tráng lệ, sát với phòng mình cho vua em ở. Rồi tiếp theo đó, mỗi ngày một đại hội tưng bừng, nào là yến tiệc, đàn ca, hát xướng cùng tất cả các trò vui hoan lạc và lạ mắt nhất đều được vua Sa-hy-A cho tổ chức để vua em thưởng thức suốt đêm ngày, gần như không bao giờ chấm dứt.

Hai vua bỏ cả lễ nghi phiền phức, luôn luôn sát bên nhau như thuở còn thơ ấu ; nỉ non tâm sự biết bao nhiêu ngày mà cũng chưa hết. Mấy hôm đầu tiên, vì sự vui mừng được gặp lại người anh khả kính cùng những cuộc vui mà vua anh tổ chức cũng làm cho vua Sa-hy-Na khuây khỏa được nỗi buồn riêng trong lòng một phần nào. Nhưng dần dần hình ảnh người vợ thân yêu nằm gọn trong tay viên võ quan trẻ tuổi hiện ra trước mặt nhà vua mỗi lúc một rõ ràng, nó ám ảnh nhà vua từng giây từng phút, làm cho người cố quên đi nhưng không được. Lâu dần nỗi buồn mỗi ngày một tăng thêm, khiến cho vua Sa-hy-Na mất ăn mất ngủ, quên cả vui đùa, nói năng.

Vua anh vẫn không hiểu rõ được nỗi buồn của em. Ngài nghĩ rằng trước cảnh huy hoàng tráng lệ, với cung điện nguy nga, lầu các của mình khiến cho em chàng chạnh lòng nghĩ đến quê hương, thần dân và hoàng hậu, vì thế vua anh lại càng cố tổ chức nhiều trò vui thật hấp dẫn và lạ mắt hơn để mong em sẽ vui lòng khuây khỏa nỗi buồn cố quận.

Nhưng sự thật đâu phải vậy, vì thế, mặc dầu biết bao trò vui lạ mắt, vua Sa-hy-Na vẫn không sao quên được nỗi buồn riêng trong lòng mình.

Vua Sa-hy-A vẫn hiểu lầm và nghĩ rằng có lẽ những cuộc vui rộng lớn bao quát ngoài thiên nhiên may ra mới có thể làm vơi được phần nào nỗi nhớ quê hương trong lòng em mình. Nghĩ thế, nhà vua liền lập tức cho tổ chức một cuộc săn bắn nơi một cánh rừng có nhiều dã thú nhất, cách kinh đô khá xa và ngoài ra còn có nhiều cảnh lạ thiên nhiên hiếm có.

Nhưng nỗi buồn trong lòng Sa-hy-Na là nỗi buồn của tâm bệnh, vì thế ngài còn thiết gì đến cuộc săn bắn, chỉ thêm uể oải thể xác. Ngài bèn thoái thác và tìm cách chối từ cuộc đi săn của anh tổ chức.

Nhưng cuộc đi săn đã tổ chức xong, ngoài ra còn có nhiều viên quan trong triều được mời tham dự. Vì thế Sa-hy-A không muốn các quan sẽ phật ý về em mình, và cũng không muốn ép uổng em, ngài phải buộc lòng để Sa-hy-Na ở nhà và đi săn một mình cùng các vị quan trong triều.

Sẵn trong lòng đang buồn rầu, Sa-hy-Na chỉ thích được yên tĩnh, vì thế khi ở nhà một mình, vua em thấy dễ chịu hơn. Nhà vua liền lần bước đi dạo vườn thượng uyển của anh để ngắm cảnh hoàng hôn, mong sẽ nguôi được phần nào nỗi buồn đang canh cánh bên lòng. Mặt trời xế bóng, nắng vàng cũng gần tàn rụng sau cánh hoa, ngọn lá. Nỗi buồn của Sa-hy-Na lại theo cảnh vật mà tăng lên. Ngài vừa toan trở lại phòng riêng để suy nghĩ đến thói đời đen bạc, thế thái nhân tình, thì bỗng ngài giật mình vì thấy cánh cửa trong phòng vua anh hé mở. Rồi từ đó, bước ra một đám cung nữ, tất cả đều ăn mặc lộng lẫy, xiêm y rực rỡ, mặt che mạng rất đài các. Tất cả đều hớn hở bước lần ra giữa vườn thượng uyển.

Ra đến giữa vườn, bọn người nọ liền lần lượt trút bỏ xiêm y và bỏ luôn cả khăn che mặt.

Núp sau một lùm cây, Sa-hy-Na ngạc nhiên xiết bao khi thấy đám người đó tất cả không phải là cung nữ trong triều. Chúng gồm có mười một nàng con gái da trắng và mười tên da đen lực lưỡng, ăn mặc giả làm cung nữ. Tất cả đều trần truồng như nhộng. Rồi mỗi tên da đen liền ôm lấy một cô gái da trắng mà hôn hít, trửng giỡn.

Điều làm cho Sa-hy-Na ngạc nhiên hơn nữa là trong mười một nàng con gái nọ lại có cả hoàng hậu, vợ vua anh. Bà ta cũng trút bỏ hết cả xiêm y trên mình và lõa lồ như tất cả những kẻ khác.Nhìn bọn người đang say mê nô giỡn, hoàng hậu mỉm cười tỏ vẻ hài lòng lắm. Nhìn quanh quất một hồi lâu xong, bà ta liền nhẹ vỗ hai tay vào nhau ba tiếng liền rồi cất tiếng gọi : “Ma-Zu! Ma-Zu!”

Hoàng hậu vừa dứt lời, tức thì từ trên một cành cây sát vách bờ tường của hoàng thành, một tên da đen lực lưỡng khác nhanh nhẹn tụt xuống. Hắn chạy lại ôm gọn hoàng hậu vào lòng mà nựng nịu, mơn trớn.Bọn người trong vườn thượng uyển cũng say đắm trong niềm ái ân hoan lạc, bất chấp cả mọi vật chung quanh.

Có lẽ hoàng hậu và bọn cung nữ dâm dật và đám thanh niên da đen kia tưởng lầm là nhà vua và em đã đi săn thật xa nên càng yên trí cười đùa, nô giỡn. Họ cùng đê mê trong những cuộc giao hoan cuồng loạn, chạy đuổi, rượt bắt nhau dưới ánh trăng khi mờ khi tỏ. Họ yên trí rằng giờ phút đó chỉ có mình họ biết với nhau và chứng kiến cùng nhau quang cảnh dâm ô đó. Chứ có ngờ đâu, có một người đang theo dõi từng cử chỉ của họ.

Cuộc vui sa đọa của hoàng hậu và đám người kia kéo dài đến quá nửa đêm. Sau khi đã chán chê, thỏa thích, họ liền rủ nhau cùng nhảy xuống hồ nước để tắm rửa và trửng giỡn một hồi lâu nữa dưới làn nước bạc mát rượi rồi mới chịu từ giã nhau!

Hoàng hậu và đám cung nữ cùng mười tên da đen lại mặc quần áo vào và lấy mạng che mặt lại như cũ, xong lặng lẽ kéo nhau trở về hoàng cung ; còn tên da đen “Ma-Zu”, nhân tình của hoàng hậu thì lại theo lối cũ chuyền cành cây và nhảy ra khỏi hoàng thành.

Ông vua bất hạnh Sa-hy-Na chứng kiến cảnh tượng man rợ đó ngay từ phút bắt đầu đến hồi kết cuộc, lòng buồn rười rượi. Không biết bao nhiêu là ý nghĩ vui, buồn, giận, ghét nhảy múa trong lòng vị vua trẻ tuổi, từ chỗ buồn chán cho thân phận hẩm hiu của mình rồi lại nghĩ đến anh đường đường là một vị đương kim hoàng đế quyền uy tột bực, trong tay quân hàng trăm vạn, dưới trướng bao kẻ hầu người bẩm mà cũng không hơn gì mình! Cuối cùng Sa-hy-Na tự biện luận rằng có lẽ đó là một cái tai nạn chung của tất cả các ông chồng trên thế gian này và nếu tất cả mọi người đều đã bị cùng một cái nạn như nhau thì còn buồn chán làm gì một cách phi lý như vậy nữa! Càng nghĩ, Sa-hy-Na càng cảm thấy lý luận của mình là đúng. Và cuối cùng ông vua trẻ tuổi đó liền tự nhủ lòng nhất quyết gạt bỏ mọi nỗi ưu phiền sang một bên, coi như đó chỉ là một câu chuyện thường tình như trăm ngàn câu chuyện khác. Nhờ đó, Sa-hy-Na liền cảm thấy lòng tươi vui trở lại là không còn vương vấn một chút gì buồn bực trong lòng nữa! Nhà vua lại cảm thấy yêu đời trở lại ; ông nắt đầu ăn thấy ngon, ngủ được yên giấc và không còn một chút ưu tư trên nét mặt!

Ít hôm sau, vua nước Ba Tư đi săn trở về. Sa-hy-Na vui vẻ ra tận ngoài thành một quãng khá xa để đón anh. Sa-hy-A vô cùng ngạc nhiên khi thấy nét mặt em mình đã rạng rỡ trở lại, không còn ủ ê, dàu dàu như trước nữa! Trong lúc xa vắng em, ông tưởng khi trở về em mình sẽ còn buồn bã nhiều hơn nữa vì chỉ có một mình thui thủi ở nhà, nào ngờ em mình đã trở nên vui vẻ như cũ.

Sa-hy-A ôm chầm lấy em, thổn thức nói:

- Anh em chúng ta biết bao ngày xa cách nhau, giờ mới được tái ngộ! Mấy hôm nay thấy em luôn luôn buồn rầu, lòng anh thật bứt rứt không yên.

Nói xong, hai anh em vui vẻ nắm tay nhau đi vào cung. Vua Ba Tư lập tức ra lệnh cho quân hầu tổ chức một bữa yến tiếc thật linh đình để ăn mừng em đã hết ưu tư. Trong bữa tiệc vui vẻ, Sa-hy-A ân cần hỏi em:

- Anh rất ngạc nhiên không hiểu tại sao mấy hôm trước em buồn phiền quá vậy, và nhờ lý do nào em đã được vui tươi trở lại. Phải chăng có kẻ nào đã làm em không hài lòng chăng? Hoặc có lý do uẩn khúc nào khác?

Sa-hy-Na nhìn anh mỉm một nụ cười chua chát và đáp:

- Nếu vì một lý do riêng, em có thể nào im lặng và không trả lời câu hỏi của anh được không?

Vua Ba Tư ngạc nhiên hỏi em:

- Từ khi anh em chúng ta lớn lên đến giờ, chưa bao giờ chúng mình giấu nhau bất cứ một điều gì, dù là chuyện riêng của nhau, hoặc là chuyện tâm tình. Sao em lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy? Em hãy nói ngay cho anh được rõ.

Vị vua em nhìn anh buồn rầu nói:

- Anh nói rất phải, anh em mình chưa hề giấu nhau bất cứ một chuyện gì ; nhưng đây là một trường hợp đặc biệt, nếu em có nói ra cũng chỉ làm cho anh tức giận và buồn phiền thêm chớ không ích gì!

Thấy thái độ kỳ quặc của em, vua nước Ba Tư càng trở nên tò mò thêm. Ông quả quyết nói:

- Không! Em đừng e ngại gì cả. Em phải nói cho anh rõ ngay kẻo anh bứt rứt có thể chết được! Anh xin thề trên tình anh em thiêng liêng của chúng ta là anh có đủ can đảm để nghe câu chuyện của em kể, dù là chuyện đó tày trời đến đâu chăng nữa, em cũng đừng nên e ngại gì cả!

Ông hoàng Sa-hy-Na qua một phút ngập ngừng lưỡng lự, sau cùng, biết không thể giấu được câu chuyện dâm ô kia liền đem chuyện tên nô lệ Ma-zu và hoàng hậu Ba Tư kể lại cho anh nghe không sót một chi tiết nào.

Sa-hy-A nghe xong câu chuyện, mồ hôi vã ra như tắm, nét mặt luôn thay đổi, từ giận dữ đến u buồn.

Thấy anh mình thất sắc, Sa-hy-Na an ủi:

- Thưa anh, câu chuyện thường tình đó đối với em không có gì quan trọng, chả hơi đâu mà anh bận lòng. Có lẽ đó chính là một tai nạn mà các người chồng đều phải chịu khi có một người vợ thiếu đoan chính.

Vua nước Ba Tư có vẻ không tin lời em mình kể lại nên ngồi im, vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Có lý nào, hoàng hậu một cường quốc lại có thể quên địa vị của mình làm điều nhơ nhuốc đến thế, anh không thể nào tin được nếu không thấy tận mắt.

Sa-hy-Na quả quyết nói:

- Nếu anh muốn nhìn thấy cảnh tượng ấy cũng không có gì khó khăn, anh hãy tổ chức thêm một chuyến săn bắn khác rồi thừa lúc mọi người lầm tưởng anh đang mê mải với con mồi, anh hãy quay về hoàng thành, núp vào đây, anh sẽ tìm ra sự thật.

Sa-hy-A khen phải và nhất định thi hành.

______________________________________________________________________
Còn tiếp

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

NGÀN LẺ MỘT ĐÊM



Trước khi vào chuyện


Bộ truyện thần thoại Á-rập “Ngàn lẻ một đêm” này gần như là một truyện truyền kỳ, là một bộ truyện cổ không biết có tự bao giờ và tác giả là ai. Nó lưu truyền trong nhân gian và được hầu hết mọi người say mê, ưa thích. Ngoài ra nó còn được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, cũng như ở đây, trước tôi, cũng có nhiều vị khác đã dịch thuật và cho ấn hành nhiều lần.

Vì thấy nó là một bộ truyện kỳ thú, và có tính cách giá trị vĩnh cửu, bất kể cả thời gian tính, chúng tôi không quản là kẻ “làm sau, làm muộn” cố gom góp những tài liệu xác thực cần thiết và có giá trị ở những bản dịch của ngoại quốc đáng tin cậy cùng các bản dịch của thuật gia đã ấn hành trước chúng tôi, để tạo thành một bản dịch mới nhất, đầy đủ nhất.

Chúng tôi tin rằng bản dịch này sẽ làm cho các bạn hài lòng vì đây là một câu chuyện vô cùng hấp dẫn đã thu hút hàng triệu độc giả trên thế giới và chính dịch giả thuở thiếu thời cũng đã say mê cốt truyện nầy vô cùng ; nó là một câu chuyện trong đó chứa hàng ngàn câu chuyện khác nhau, điểm đặc biệt nhất là mỗi câu chuyện lại có một tính chất riêng của nó, không hề có chuyện nào giống hoặc trùng chuyện nào! Quả thật là một tác phẩm hết sức phong phú và giá trị. Lần giở vào những trang sắp tới, dịch giả mong rằng các bạn sẽ vô cùng thích thú với những câu chuyện thần thoại đó, những câu chuyện kỳ thú do một giai nhân kể lại làm cho một vị quốc vương nghe qua “Một ngàn một đêm lẻ”. Nhờ đó đã cứu sống được “Một ngàn lẻ một nàng cung nữ tuyệt sắc khỏi bị rơi đầu trước lòng vị kỷ của một ông vua căm thù lòng dạ đàn bà”.

Qua một ngàn lẻ một đêm đó, với những câu chuyện liên miên và vô cùng hấp dẫn, từ chuyện này bắt sang chuyện khác, hết sức liên tục và vô cùng mạch lạc đã làm cho bao gia đình khỏi bị tan nát chia lìa. Chắc là các bạn sẽ lạ lùng mà hỏi rằng : “Ồ, sao lại có chuyện gì kỳ lạ thế?”. Vậy, thì đây, mời các bạn hãy lần lượt giở tới những trang trong và hãy tưởng tượng rằng bên tai mình đang có một giọng oanh thỏ thẻ và một nàng mỹ nữ tuyệt sắc thì thầm kể lại… Và đây, những trang sau đây bắt đầu là Câu chuyện mở đầu của truyện “Ngàn lẻ một đêm”.


CÔ LỆ HOA          
Đầu thu Nhâm Dần 1962.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

MỘT NGƯỜI YÊU SÁCH ĐÃ RA ĐI


Kỷ niệm 10 năm ngày mất của ông Khai Trí

Sau 1975, ông Khai Trí vẫn di chuyển bằng xe đạp như trước.

TT - Ông tên là Nguyễn Văn Trương (bút hiệu Nguyễn Hùng Trương) nhưng mọi người vẫn quen gọi ông là ông Khai Trí. Cả trước và sau 1975, sau đến 30 năm, đến bây giờ người ta đều quen gọi ông như thế. Mặc cho nhà sách Khai Trí uy tín bậc nhất miền Nam thuở ấy đã không còn nữa...

Ở tuổi 80 sự ra đi ấy không là quá sớm, nhưng sao với ông, cái chết ấy vẫn đến vội quá. Vội vàng quá với một người chưa thực hiện được ước mơ cuối cùng của đời mình: gầy dựng lại một nhà sách. Mười mấy năm rồi ông mơ giấc mơ ấy.

Năm 1991 ông đi đoàn tụ với vợ con ở Mỹ. Nhưng chưa đi ông đã biết mình sẽ trở về và ông cũng chỉ ở nơi xứ lạ quê người được năm năm. Năm 1996 xin hồi hương, ông mang về nguyên vẹn giấc mơ của mình. Nhưng tiền thì vẫn thiếu, ông vẫn chỉ có sách là nhiều. Thì ông tạm làm người biên soạn sách, những cuốn sách không đặc sắc nhưng chứa đựng được tâm nguyện của một người luôn coi sách là một bài học (Quê em mến yêu, Làm con nên nhớ, Chánh tả dành cho người miền Nam, Những bài thơ hay trong văn chương VN, Danh ngôn hạnh phúc, Danh ngôn tình bạn, Danh ngôn tình yêu...). Giấc mơ cũ không thấy ông nhắc lại nữa. Những nhà sách lớn nhỏ, không phải của ông, cũng đã đua nhau mọc lên rồi.

Con cháu ông kể lại những ngày cuối cùng trong bệnh viện, trong cơn hôn mê, ông cứ tìm sách. Hỏi tìm cuốn sách này rồi lại hỏi tìm cuốn sách kia, chỉ đến khi đặt được bàn tay mình trên cuốn sách, ông mới yên tâm nhắm mắt. Ông tìm sách như tìm một hơi ấm. “Biết rằng ngày mai tôi mất, hôm nay tôi vẫn còn phải học, biết đâu chút nữa, chiều nay hoặc tối nay, việc học có thể giúp ích phần nào cho tôi và cho những người xung quanh tôi”, một lần, hơn 20 năm trước, ông đã viết như vậy. Bởi với ông, làm sách, biên soạn sách hay đọc sách không chỉ là một cách kinh doanh, đó còn là một cách để học. Năm 1952, từ khi mở nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn, ông cũng đã sống đúng như vậy. Có lẽ ông chỉ không biết ngay cả lúc sự sống đã sắp rời xa ông, cái ông muốn níu kéo vẫn lại là những cuốn sách mà ông đã yêu quí trong cả cuộc đời mình.

Có ai đó đã từng hát “nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghita”. Nhưng với riêng ông, không chắc ông Khai Trí đã muốn điều đó. Ông sẽ không muốn mang sách theo mình, ông chỉ muốn những cuốn sách được ở lại, giúp người, giúp đời…

THÚY NGA

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

CHIM HỌA MI VÀ BÔNG HỒNG



Oscar Wilde sinh tại Dublin ngày 15 tháng 10 năm 1856, mất năm 1900. Ông tốt nghiệp đại học đường Oxford, thông thạo ngữ học Hy Lạp và đọc sách rất rộng.

Với trí tưởng tượng của giòng Ái-nhĩ-Lan, thêm những kỷ niệm về sách vở đọc thật nhiều, và những cuộc du lịch qua Mỹ, Ý-đại-lợi, Hy-lạp, Pháp, ông viết những truyện thần thoại kiểu Andersen. Ông chịu ảnh hưởng của Flaubert, Adalbert de Chamisso, Prosper Mérimée, Théophile Gautier, Stevenson...

Ngoài các vở kịch (NGƯỜI ĐÀN BÀ TẦM THƯỜNG, SALOMÉ, NGƯỜI CHỒNG LÝ TƯỞNG) và các thi ca, phải kể các truyện thần thoại và các truyện ngắn : ÔNG HOÀNG SUNG SƯỚNG, TỘI LỖI CỦA NHÀ QUÝ TỘC ARTHUR SAVILE, BÓNG MA Ở CANTERVILLE, CHÂN DUNG ÔNG W.H., CHÀNG CÂU CÁ VÀ LINH HỒN CHÀNG, CHÀNG KHỔNG LỒ ÍCH KỶ v.v...

Nàng nói sẽ khiêu vũ với ta nếu ta mang lại tặng nàng những bông hồng đỏ”  chàng Sinh viên nói  “nhưng khắp trong vườn, không có một bông hồng đỏ nào”.

Ở trong ổ, chót vót trên cây Sến xanh tươi, chim Họa mi nghe thấy tiếng chàng Sinh viên, nó nghển nhìn ra ngoài cành lá và suy nghĩ.

Chàng Sinh viên lại kêu : “Không có một bông hồng đỏ nào trong vườn ta!” và mắt rướm lệ. “Ôi! Thế ra hạnh phúc tùy thuộc vào những điều nhỏ nhặt! Ta đã đọc tất cả những trang sách của các triết gia và thấu triệt cả triết lý, vậy mà, chỉ thiếu có một bông hồng đỏ, đời ta sẽ bị khổ sở!”

Chim Họa mi nói:

- Đây mới thật là một kẻ si tình chân chính. Đêm này qua đêm khác, ta vẫn ca hát tán tụng chàng, mặc dầu ta không biết chàng ; đêm đêm, ta vẫn kể lể câu chuyện của chàng cho các vì sao, và nay ta mới trông thấy chàng. Tóc chàng đen như hoa dạ hương, môi chàng đỏ như cánh bông hồng chàng ước ao ; nhưng tình yêu biến sắc mặt chàng nhợt nhạt như ngà và nỗi ưu phiền đã in vết trên vầng trán.

Chàng Sinh viên thì thầm nói:

- Tối mai, Vương tước sẽ tổ chức cuộc khiêu vũ, và người yêu của ta có trong số khách mời.Nếu ta tặng nàng một bông hồng đỏ, nàng sẽ nhẩy với ta đến rạng đông. Nếu ta mang tặng nàng bông hồng đỏ, ta sẽ ôm nàng trong cánh tay, và nàng sẽ ngả đầu trên vai ta, và tay nàng sẽ xiết chặt trong tay ta. Nhưng không có bông hồng đỏ nào trong vườn, như vậy, ta sẽ ngồi lẻ loi một mình, và nàng đi qua gần, không lưu ý đến và lòng ta sẽ tan nát.

Chim Họa mi nói:

- Đó mới là người si tình chân thật. Ta ca hát, chàng đau đớn ; điều gì vui với ta, lại là sầu khổ với chàng. Quả thật, tình yêu là một điều kỳ diệu. Nó quý hơn những viên ngọc bích, đắt giá hơn những viên ngọc miêu trong sáng. Những ngọc trai và những thạch lựu không thể đem mua tình yêu được, vì nó không có bầy bán ở chợ, không thể mua tình yêu nơi những khách thương, nó cũng không thể lấy cân vàng để đo lường được.

Chàng Sinh viên nói:

- Các nhạc sĩ ngồi trên khán đài và đánh các nhạc cụ, và người yêu của ta sẽ nhẩy theo âm điệu thụ cầm và vĩ cầm. Nàng nhẩy nhẹ nhàng đến nỗi gót chân không chấm đất, và những kẻ tán tỉnh nàng, mặc quần áo tươi đẹp, xúm xít quanh nàng. Nhưng nàng không nhẩy với ta, vì ta không có bông hồng đỏ tặng nàng – rồi chàng nằm vật xuống thảm cỏ, vùi mặt vào lòng bàn tay và khóc.

Một con thằn lằn xanh nhỏ, đuôi cong, chạy qua gần chàng và hỏi:

- Tại sao chàng khóc?

Một con bướm, bay đuổi một tia nắng cũng nói:

- Tại sao thế?

Một bông cúc thì thầm hỏi bạn láng giềng, tiếng nhẹ nhàng và êm ái:

- Tại sao thế?

Chim Họa mi đáp:

- Chàng khóc vì một bông hồng đỏ.

Tất cả nhao nhao kêu lên:

- Vì một bông hồng đỏ! Kể cũng kỳ cục! – Và con thằn lằn nhỏ, vốn tính nhạo báng, bật cười sằng sặc.

Nhưng Họa mi hiểu rõ nỗi ưu tư thầm kín của chàng Sinh viên, nên đứng yên lặng trên cây Sến, và suy nghĩ về nỗi u uẩn của tình yêu.

Bỗng nó mở đôi cánh nâu và bay, bay bổng lên tận trời cao. Nó vượt qua hoa viên như một chiếc bóng, và như chiếc bóng, nó lướt ngang thửa vườn.

Ở giữa thảm cỏ hình vuông có trồng một cây Hồng tuyệt đẹp, và trông thấy, nó bay lại và đậu lên một cành hồng.

Nó kêu:

“Cho ta một bông hồng đỏ, ta sẽ hát cho mi nghe những bài ca êm dịu nhất của ta”.

Nhưng cây nhỏ lắc đầu và trả lời:

“Những bông hoa của ta trắng, trắng toát như bọt biển, trắng hơn tuyết trên đỉnh non. Nhưng anh hãy tìm anh ta, mọc xung quanh nhật quỹ cổ xưa, và có thể anh ta sẽ cho mi vật mong muốn”.

Chim Họa mi liền bay đến cây Hồng, mọc dưới cửa sổ của chàng Sinh viên.

Nó kêu:

“Cho ta một bông hồng đỏ và ta sẽ hát bài êm dịu nhất của ta cho mi nghe”.

Nhưng cây nhỏ lắc đầu và đáp:

- Những bông hồng của ta đỏ, đỏ như chân bồ câu, và đỏ thắm hơn cả những cánh san hô lớn, bập bềnh và chuyển động trong hang dưới đại dương. Nhưng tiết lạnh đã làm đông đặc những tĩnh mạch, sự giá rét đã tỉa những mầm non và bão bẻ gãy cả các cành của ta, thành ra ta không có bông hồng nào suốt năm nay.

Chim Họa mi kêu:

- Ta chỉ muốn có một bông hồng đỏ, một bông thôi! Có cách nào giúp ta một bông hồng không?

Cây nhỏ đáp:

- Có một cách, nhưng nó ghê gớm quá, nên ta không dám nói.

Chim Họa mi nói:

- Cứ nói cho ta biết, ta không sợ.

Cây nhỏ trả lời:

- Nếu mi muốn có một bông hồng đỏ, cần phải dệt bằng nhạc, dưới ánh trăng, và nhuộm bông hoa chính bằng máu tim mi. Mi phải hát cho ta nghe, ngực áp vào một chiếc gai hồng. suốt đêm mi phải hát cho ta nghe và gai hồng sẽ đâm thủng tim mi, và máu huyết mi sẽ chẩy vào trong các tĩnh mạch của ta và biến thành máu huyết ta.

Chim Họa mi kêu:

- Cái chết là giá nặng đối với một bông hồng đỏ và đời sống đối với bất cứ ai đều thật quý. Thật êm ái, ngồi trong rừng xanh và trông ngắm vầng đông trong chiếc xe vàng và Hằng Nga trong chiếc xe ngọc. Hương hoa sơn trà thật ngát dịu và êm dịu thay những bông phong lệnh, mọc ẩn náu dưới thung lũng và cây thạch thảo đầy hoa trên đồi. Vậy mà, Tình yêu vẫn hơn là Đời sống, và trái tim một con chim có nghĩa lý gì, so với trái tim con người?

Nó liền mở cánh tung bay, và bay bổng lên không trung. Nó lướt qua thửa vườn như một chiếc bóng, và như một chiếc bóng, nó là là bay trên hoa viên.

Chàng Sinh viên trẻ vẫn nằm trên thảm cỏ, nơi chim Họa mi vừa rời chàng, và nước mắt chưa ráo trong cặp mắt đẹp của chàng.

Chim Họa mi kêu:

“Hãy vui vẻ, hãy vui vẻ! Chàng sẽ có một bông hồng đỏ. Ta sẽ dệt nó bằng nhạc, dưới bóng trăng và nhuộm nó bằng chính máu huyết tim ta. Tất cả điều ta đòi hỏi lại chàng, là chàng phải là một người yêu thành thật, vì Tình yêu khôn ngoan hơn Triết lý, mặc dầu Triết lý có khôn ngoan và cường mạnh hơn Mãnh lực. Màu lửa là màu cánh và màu lửa cũng là màu của thân thể thần Tình ái. Đôi môi thần êm dịu như mật và hơi thở của thần tựa hương ngát”.

Chàng Sinh viên, mắt đang cúi xuống thảm cỏ, vội ngẩng lên ; nhưng chàng không rõ chim Họa mi nói gì, vì chàng chỉ hiểu những điều viết trong sách.

Nhưng cây Sến hiểu và buồn về ý định này, vì nó rất yêu chim Họa mi nhỏ, đã làm tổ trên cành lá của nó.

Nó thì thầm:

“Hát cho ta nghe bản hát cuối cùng ; khi mi đi rồi, ta cảm thấy cô đơn lắm”.

Chim Họa mi liền hát cho cây Sến nghe và giọng hát của nó tựa như tiếng nước thoát ra ở một bình bạc.

Khi chim Họa mi hát xong, chàng Sinh viên đứng dậy, rút ở túi ra một quyển sổ tay và một chiếc bút chì.

Chàng nhủ thầm và rời đi, qua hoa viên:

“Nó có hình thức, điều đó không thể chối cãi được ; nhưng nó có tình cảm không? Ta e ngại rằng không. Nói tóm lại, nó giống như hầu hết các nghệ sĩ : tất cả chỉ là văn từ, không chút thành thực. Nó không hy sinh cho người khác. Nó chỉ nghĩ tới âm nhạc và mọi người đều hiểu rằng nghệ thuật rất ích kỷ. Nhưng, phải công nhận rằng trong giọng hát của nó có vài âm điệu hay. Thật tiếc rằng những âm điệu đó không có nghĩa lý gì, không giúp được một điều lợi ích thiết thực nào!” Rồi chàng đi vào phòng, nằm lên chiếc giường nhỏ, lại bắt đầu nghĩ đến mối tình của mình ; và một lúc sau, chàng ngủ thiếp đi.

Và khi vầng Trăng soi tỏ trên trời, chim Họa mi bay đậu lên cành Hồng, áp ngực vào một chiếc gai. Suốt đêm, chim ca hát, ngực áp vào chiếc gai và vầng Trăng lạnh giá, trong sáng như pha lê cúi xuống nghe chim hát. Suốt đêm, chim ca hát và chiếc gai càng đâm sâu mãi vào ức chim, máu huyết của đời sống từ thân thể nó thoát ra.

Thoạt đầu, chim ca hát mối tình chớm nở trong lòng trai, gái. Và trên cành cao, cây Hồng nở một bông tuyệt đẹp, cành hoa này nở tiếp cành khác, theo nhịp bản ca, bản này nối bản nọ. Bông hoa trước nhợt nhạt, như làn sương treo lơ lửng trên giòng sông – nhợt nhạt như chân trời buổi sớm mai, và bàng bạc như ánh bình minh. Giống như một hình bóng một bông hồng trong tấm gương bạc, tựa như hình bóng một bông hồng trong làn nước lặng lẽ, đó là bông hoa nở trên cành cao cây Hồng nhỏ.

Nhưng cây nhỏ thôi thúc chim Họa mi ghì chặt hơn vào chiếc gai.

Cây nhỏ kêu:

“Bám chặt hơn vào, chim Họa mi nhỏ, kẻo ngày đã tới mà bông Hồng chưa hoàn tất”.

Chim Họa mi liền ghì chặt thêm vào chiếc gai và tiếng ca hát, mỗi lúc càng lớn mạnh, vì nó tán tụng mối tình trong tâm hồn người thanh niên và thiếu nữ.

Và một màu hồng thanh nhã tràn lan trong khắp cành hoa, tựa như sắc mặt hồng hào của người chồng khi hôn cặp môi người vợ. Nhưng chiếc gai chưa đụng vào trái tim chim Họa mi, nên tim hoa còn trắng, vì chỉ riêng có máu huyết chim Họa mi mới nhuộm đỏ được tim hoa.

Và cây nhỏ lại thúc dục chim Họa mi ghì chặt thêm vào chiếc gai.

Cây nhỏ kêu:

“Chim hãy ghì chặt thêm, kẻo ngày sắp tới mà bông hồng chưa hoàn tất”.

Chim Họa mi liền ghì chặt thêm vào chiếc gai và chiếc gai đụng vào trái tim chim và nó cảm thấy nhức nhối, cay đắng. Cay đắng thay nỗi đau đớn và mỗi lúc càng tàn khốc tiếng hát của chim, vì nó tán tụng mối Tình trở nên hoàn toàn do cái Chết, mối Tình không bao giờ chết được trong mồ.

Và bông hồng trở nên thắm đỏ, như ánh đỏ trời đông. Những cánh hoa đỏ thắm và tim hoa cũng đỏ rực như viên hồng ngọc.

Nhưng tiếng chim Họa mi yếu dần và đôi cánh nhỏ bắt đầu đập, mắt như có tấm màn che mờ. Mỗi lúc tiếng hát mỗi nhỏ và chim cảm thấy có gì nghẹt thở trong cuống họng.

Nó thoát ra một nhạc điệu cuối cùng. Vầng Trăng bạc nghe rõ, và nàng quên cả buổi bình minh, vẫn nấn ná trên bầu trời xanh. Bông hồng nghe rõ và nàng rùng mình, mở những cánh hoa ra không khí giá lạnh buổi ban mai. Nàng tiên “Tiếng Vang” mang tiếng ca cuối cùng này của chim Họa mi về hang động rực rỡ trên núi và đánh thức bọn mục đồng đang đắm say trong cơn mộng mị. Nàng phất phơ trên những hàng lau sậy bên giòng sông và những cây lau sậy xào xạc chuyền thông điệp của nàng ra biển cả.

Cây nhỏ kêu:

“Hãy nhìn, hãy nhìn! Bông hồng nay đã hoàn tất” ; nhưng chim Họa mi không đáp lại lời nào, vì chim đã chết, lăn trên thảm cỏ cao, trái tim bị chiếc gai đâm thủng.

Và buổi trưa, chàng Sinh viên mở cửa sổ và nhìn ra ngoài.

Chàng kêu lên:

“Ồ! Dịp may tuyệt diệu! Kìa, một bông hồng đỏ! Suốt đời ta chưa bao giờ trông thấy một bông hồng như thế này. Bông hoa thật đẹp, ta chắc nó phải có một tên la-tinh dài lượt thượt”. Và chàng cúi xuống hái.

Rồi chàng đội mũ và hấp tấp chạy lại nhà vị giáo sư, tay cầm bông hoa.

Ái nữ vị Giáo sư ngồi dưới cửa cổng, đang quấn băng lụa xanh vào cuộn, và con chó nhỏ nằm dưới chân nàng.

Chàng Sinh viên kêu:

“Nàng nói sẽ khiêu vũ với tôi, nếu tôi mang tặng nàng một bông hồng đỏ. Đây là bông hồng thắm đỏ nhất trên đời. Tối nay nàng cài nó trên trái tim, trong khi chúng ta cùng nhẩy, bông hoa sẽ thổ lộ lòng tôi yêu nàng đến mức độ nào”.

Nhưng thiếu nữ cau mày và trả lời:

“Tôi xem như bông hoa không hợp với áo tôi ; vả nữa, cháu ông Thị thần đã gửi tặng tôi những đồ trang sức thật, và ai cũng hiểu rằng đồ nữ trang giá đắt hơn những bông hoa nhiều”.

Chàng Sinh viên tức giận nói:

- À! Thật nàng bạc tình quá – và chàng ném bông hồng ra ngoài đường phố, lăn rơi xuống một rãnh nước và bị bánh xe bò đè nghiến.

Thiếu nữ đáp:

- Bạc tình à? Tôi nói để chàng rõ : Chàng thật vô phép ; và nói cho cùng, chàng là ai? Chỉ là một Sinh viên . Thế nào? Tôi tưởng rằng giầy chàng cũng chẳng có những khóa bằng bạc như người cháu ông Thị thần – nàng đứng dậy và đi vào nhà.

Chàng Sinh viên nói và đi:

“Ái tình thật là ngu độn! Nó không đáng một phân nửa hiệu năng của Luận lý học, vì nó không chứng minh điều gì, và luôn luôn nó nói đến những việc không bao giờ xẩy ra, và làm cho bạn tin những điều xác thực. Nói tóm lại, nó không có gì thiết thực, và trong thời buổi chúng ta, cần nhất là phải thiết thực, ta lại trở lại với Triết học và nghiên cứu Siêu hình học vậy”.

Và chàng quay  về phòng, rút một quyển sách lớn đầy bụi và bắt đầu đọc.