Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2025
BỜ SUỐI - Phạm Thiên Thư
Thứ Ba, 8 tháng 4, 2025
TRỞ VỀ - Võ Hồng
- Hôm trước ở Sài Gòn ra bị kẹt máy bay, phải đi xe đò. Khi xe tới Phan Rang, một bà hành khách hỏi người tài xế: “Đường từ đây ra Nha Trang còn mấy trăm cây số nữa ông?” Tôi đố anh, ông tài xế trả lời thế nào?
Tôi ngẫm nghĩ chưa trả lời. Luy hay đặt những câu hỏi bất ngờ, tưởng dễ mà hóa khó và nhiều khi tưởng khó tôi loay hoay moi óc tìm lời giải đáp thì câu trả lời lại quá đơn giản, gần như hiển hiện ra trước mắt. Luy cười xòa, thấy tôi đang nhíu mày.
- Thôi, tha cho anh kỳ này. Ông tài xế trả lời rằng: “Đường còn năm mươi cây số nữa”.
Tôi phản ứng:
- Đường Phan Rang - Nha Trang tới một trăm mười cây số mà.
- Đồng ý. Nhưng ổ gà lỗ thủng chiếm mất sáu mươi cây.
Luy quay mặt gần tôi cười thú vị và tôi cũng thích thú cười theo. Những nhận xét thông minh kích thích niềm vui của tôi như rượu và thuốc lá. Tôi yêu vẩn vơ anh tài xế thông minh đó.
Hồi sáng, khi mang hành lý ra xe, tôi để cái vét-tông ra ngoài, định lên đèo Ngoạn Mục là choàng vào. Luy nói:
- Đưa đây tờ báo. Mau lên.
- Làm gì? - tôi hỏi.
- Gói cái áo này lại. Gói kỹ. Anh không thể tưởng tượng con đường sẽ bụi bặm đến mức nào. Cái sơ mi của anh sẽ vàng. Cái áo vét-tông của anh sẽ mốc.
Khi đến Mỹ Ca, xe chúng tôi phải nối đuôi một cái xe chở dầu mười bánh dài ngoẵng do một quân nhân Mỹ lái. Mỗi lần phải tránh một chiếc xe đi ngược chiều, chiếc xe Mỹ đi sát vào lề đường và bụi tung lên mù trời. Chiếc xe đi ngược chiều cũng lái sát lề và cũng tung bụi phần nó. Tha hồ tung bụi, chẳng ai cấm ai. Cứ chừng mười phút là gặp một đoàn công-voa. Tiếng còi thét. Những chiếc xe nhà binh cao nghễu nghện mở đèn giữa ban ngày như dọa thân xe nhỏ nhắn của chúng tôi. Qua màn bụi dày, lờ mờ hình dáng những người lính ngồi trầm ngâm nhìn ra hông xe, nhìn ra sau xe, tay khư khư ôm súng.
Chiến tranh đã gặm nát đến cả con đường quốc lộ, con đường giao thông chính, đại động mạch của miền đất này. Ở các thôn xóm xa, sau lớp cây xanh lặng yên, sau những dãy núi trùng điệp nằm dán sát chân trời, chiến tranh ra sức tàn phá. Nhìn qua kính xe thấy có ba chiếc phản lực cơ đi thành hàng về một nẻo xa ở chân trời phương Tây. Ba chiếc tách rời ra rồi luân phiên nhào xuống. Chết chóc ở nơi đó. Sự chết từ trên cao rơi xuống, theo chiều ngang tràn xuyên qua, từ dưới đất vọt lên.
Có những đoạn đường đang được vá víu lại. Ở mỗi chặng như thế có chừng năm, sáu người phu. (...Kiểm duyệt bỏ…) Những người đàn bà và những đứa con nít đó làm việc chậm chạp âm thầm.
Trước mặt chúng tôi, chiếc xe chở dầu vẫn lầm lũi chạy. Luy định lách chạy trước nhưng cứ mỗi lần chuẩn bị thì đều thấy ở đằng trước một chiếc xe lùi lũi chạy lại. Cuối cùng anh nói:
- Thây kệ. Để cho nó chạy trước dò đường dùm mình. Cứ nhìn nó là đủ biết đoạn đường nào lồi lõm cần chạy chậm
Luy có những sáng kiến bất ngờ như vậy. Có nhiều đoạn chiếc xe chở dầu nhảy chồm chồm lên. Khi chạy lại gần, chúng tôi thấy con đường lở lói dày đặc, không có chỗ tránh. Phải chạy chậm lại. Thân xe run rẩy vật vã. Luy lẩm bẩm:
- Ổ gà tập trung về đại hội ở đây. Chết chết, chỗ kia nữa. Đại hội ổ gà nữa.
Có những đoạn con đường nhựa uốn lên lượn xuống như đợt sóng. Như mặt tôn dợn sóng dùng để lợp nhà. Nhờ chiếc xe chở dầu báo trước, Luy lại cho xe chạy chậm.
- Tay lái nào chạy ẩu qua đây thắng không kịp dám gãy sườn xe lắm - tôi nói - Nên mình càng biết ơn chiếc xe nhà binh chở dầu đó.
Ba Ngòi. Kinh đô của bụi. Bụi vàng. Bụi đỏ. Gió thổi cuốn bụi xoay thành cột, di chuyển trên cánh đồng. Những trại lính. Những sân máy bay. Xe ủi đất. Xe vận tải, tám bánh, mười bánh. Trên cánh đồng mênh mông khô cháy, cứ chỗ nào có bụi cuốn lên là y như có một chiếc xe nặng nhọc lầm lũi chạy. Quán giải khát chạy thành dãy dài. Kiểu nhà giống nhau, vách dựng bằng tôn màu xanh. Quán nào cũng trống vắng. Tấp nập chỉ dành về đêm, các cô chiêu đãi viên chắc giờ này còn ôm nhau ngủ. Những hộp giấy, những lon nước giải khát màu lòe loẹt bỏ vãi từng đống. Di tích sinh hoạt của những quân nhân Mỹ.
Xe phải qua nhiều trạm kiểm soát. Trên bảng đề là “kiểm soát tài nguyên”. Xe du lịch được đi thẳng, xe đò phải ngừng lại trình danh sách hành khách có ghi số thẻ kiểm tra. Thế là chỉ kiểm soát người. Người có thể được coi như là tài nguyên. Trong một nước bị tàn phá thì tài nguyên còn sót lại là con người, con người với hai bàn tay. Thỉnh thoảng có tấm bảng đề: ICE SELL HERE hoặc HERE ICE, hoặc hình vẽ một bàn tay có ngón chỉ về chữ ICE. Một người đàn bà héo hắt ngồi bên cái thùng gỗ cạnh tấm bảng. Có tấm bảng đề VEHICULES WASHING. Một hai người đang xịt vòi nước rửa xe. Người quân nhân Mỹ, - ý hẳn là tài xế, - ngồi hút thuốc bên cạnh. Khói bay lên ở nơi này, nơi kia. Luy nói:
- Tụi Mỹ nó có cái tật hay đốt. Chẳng biết đốt cái gì mà cứ ngày nào cũng có chuyện để đốt. Hễ thấy Mỹ là thấy khói đốt.
- Giấy bọc, hộp bìa cứng. Chắc chắn không phải là những tài liệu cần hủy bỏ.
- Anh có nói tôi mới nhớ. Việc thủ tiêu tài liệu cũng đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật khoa học. Hãng thầu của tôi đã có lần được giao phó việc xây những cái hầm tinh vi để đặt lò đốt tài liệu. Tài liệu vừa là giấy, vừa là phim. Hàng tấn tài liệu như vậy, không phải dễ mà đốt cho cháy tiêu, đốt cho thật mau, đốt cháy tan tành không còn chút dấu vết.
Xe qua trạm kiểm soát của quân đội Mỹ và quân đội Đại Hàn. Những con mắt dò hỏi. Căn cứ theo tiêu chuẩn nào mà tin để cho qua hay nghi để giữ lại? Những người lương thiện cũng hồi hộp. Nếu người lính canh đó bắt xuống xe, giữ lại chỉ một mình mình ở giữa miền hoang vu này thì mình sẽ đối phó làm sao? Giải thích trình bày bằng thứ ngôn ngữ nào?
Tháp Chàm. Đầy dẫy những Snack bar và tiệm giặt. Tên cửa tiệm là những tên Hoa Kỳ: Mickey bar, Melody bar, Ohio laundry service… Chữ viết nhiều kiểu, nhiều màu lòe loẹt chói chang: xanh dương, xanh lá cây, đỏ, da cam, vàng. Mỗi song cửa một màu, mỗi lá sách một màu. Người Mỹ thích màu lòe loẹt hay người Việt ta tưởng vậy? Tôi nghĩ đến những cái chuồng bồ câu sơn phết nhiều màu, vẽ vời rằn ri để dụ những con chim.
Đi qua con đường quốc lộ số 11, tâm hồn tôi chợt thấy âm u. Con đường kỷ niệm. Những thôn xóm yên lặng nằm hai bên đường như chưa bao giờ biết đến sự đổi thay. Mái nhà xám đen và vách đất cũng xám đen. Đồng Mé. Luy nói:
- Miền này hồi nhỏ tôi có ở, nhưng ở mãi trong xóm sâu kia. Xung quanh là người Thượng. Ở đây đặc biệt có những khoảng đất mọc đầy cà chua. Tha hồ hái, hái không hết. Lại có những khoảng đất mọc đầy ớt. Người Thượng họ không hái trái ớt đem về nhà mà họ nhổ luôn cả cây ớt. Lấy lá ớt làm rau ăn luôn.
Thật là những người sung sướng - tôi nghĩ.
- Vùng này có nhiều trăn. Hồi đó ông già tôi hay đặt mua trăn để lột da gửi xuống Sài Gòn. Người Thượng bắt trăn đem đến bán. Khi tập trung chừng được mươi con mới mổ một lần.
- Mổ lấy da rồi còn thịt làm gì?
- Thịt cho đồng bào Thượng. Họ đem về chặt khúc phơi khô ở trụ hàng rào. Tha hồ ruồi và ong đến bâu, đục khoét, xâu xé.
Cầu Tân Mỹ. Chòi canh cao bay phất phơ lá cờ. Một người lính ngồi ôm súng nhìn không gian chập chùng đồi núi. Lô cốt. Trại lính. Hai mươi năm trước đi ngang qua đây cũng đã thấy chòi canh, lô-cốt và trại lính. Người dân không có thì giờ nghỉ ngơi. Hai mươi năm đủ để đào tạo một thế hệ. Người lính đang ngồi trên chòi canh đó có thể là con của người lính tôi đã gặp hai mươi năm trước, đứng canh gác cầu này. Các thế hệ kế tiếp nhau đã chuyền cho nhau tiếng nói và cây súng. Nước chảy dưới cầu. Những đồi cát nằm im giữa lòng sông.
Luy chợt hỏi:
- Đã mấy năm nay anh không lên Đà Lạt bằng đường ô tô?
Tôi lẩm nhẩm làm con tính trừ.
- Sáu năm.
- Sáu năm! - Luy la to lên, ngạc nhiên như anh vụt thấy một con tê giác đi nghênh ngang giữa đường Lê Lợi.
Luy sẽ ngạc nhiên đến mức nào nữa nếu tôi nói đúng sự thật? Sự thật là: không phải sáu năm mà đã mười năm rồi. Mười năm là khoảng thời gian đủ để biến đổi một đời người. Từ ngày Bảo mất đi, tôi không muốn trở lại thành phố này. Những con đường, những đồi thông sẽ nhắc đến những ngày cũ. Luy nói:
- Sắp đến Krong Pha. Quãng đường này ít bảo đảm hơn hết.
Krong Pha. Giang san của củi rừng. Chỗ nào cũng có cành cây. Củi khô nằm ngổn ngang. Tự nhiên thấy thèm một mồi lửa. Những cành củi đó sẽ cháy rần rật tỏa ra một sức mạnh khủng khiếp. Những cây dầu nhỏ mọc rải rác. Lá to như tai voi. Krong Pha, ải địa đầu của ánh nắng nhiệt đới. Từng nhóm ba, bốn người phu lục lộ sửa đường ngồi tụ họp trên những thân cây ngã, trên những đống củi. Màu áo nâu mốc và màu da khô sạm, hòa hợp với màu lá, màu vỏ cây khô. Từng đoàn xe xuôi ngược vút qua và cuộc đời những người ngồi đó như đứng dừng lại một chỗ, buồn và tối. Những vùng đời không có lối chảy tựa hồ những vũng nước tù hãm.
Xe leo lên đèo. Những vòng cua liên tiếp. Cuộc leo đèo nhẫn nại trì chậm. Không khí bắt đầu mát ở ngoài xe, tôi giơ cánh tay ra ngoài, thò đầu ra ngoài. Cây thông đầu tiên! Những bụi dương xỉ xanh tươi đầu tiên. Mũi xe uốn lượn theo con đường quanh co. Đèo Ngoạn Mục. Thông mọc dày hơn. Rừng tranh cao. Đơn Dương. Hồ nước Đa Nhim. Thành phố không thay đổi bao nhiêu. Những khu vườn rau nhỏ lắp vào khe thung lũng hẹp. Giàn su-su xanh mát. Con đường này, những ngày đầu kháng chiến tới nay tôi hay đi. Tôi còn nhớ rõ những đoạn đường tắt xuyên qua sườn núi.
Trạm Hành. Hiệu buôn của người Hoa kiều vẫn một màu trắng bẩn, cũ kỹ như ngày tôi gặp nó đầu tiên. Chắc chắn cái quầy hàng vẫn nằm im chỗ cũ, vẫn những hộc đựng thuốc Bắc, những ngăn tủ bày cao đan hoàn tán, nhang và giấy tiền vàng bạc, mì bún, xà phòng, bóng đèn, guốc dép… Cảnh và vật chịu đựng với thời gian dai sức hơn người. Nhà bà Bohner! Còn đâu nữa những ngày tôi ngồi ở ban công nhìn xuống rừng núi chập chùng dưới tầm mắt mình. Nơi đây tôi đã sống những ngày buồn. Bao nhiêu năm tháng đã trôi qua. Tôi muốn tìm một cái gương để soi nhìn bóng mình. Tôi muốn nhìn lại bóng dáng mình bước những bước cô đơn trên con đường heo hút này, trên lối đi trải đầy lá ngo rụng này, trong khu vườn nhỏ mọc rải rác những bụi cà phê, những thân hoa anh đào, hoa hương mộc. Xa lạ và cách biệt biết bao giữa hai bức ảnh đó.
Cầu Đất. Đồi chè nối tiếp. Những bụi chè tròn trịa xanh mướt nằm khoảng cách đều đặn. Con đường lại lên xuống quanh co. Rừng thông và rừng thông. Những ngôi nhà bằng ván. Má phúng phính màu hồng rám nắng của những cô gái. Áo len choàng trên vai những người đàn bà. Con đường vui vì tấp nập. Nhà liên tiếp và người đông đảo.
Trại Mát. Chợ, xe ba bánh, cửa hàng tạp hóa. Nhiều người tập trung trước một hiệu buôn gạo, tay cầm thẻ gia đình. Nếp sống đặc biệt của thành phố. Thành phố đã bắt đầu. Đại lộ Trần Hưng Đạo: Biệt thự. Biệt thự. Dấu vết sáng tạo của người Pháp, khung cảnh của Auvergne, Gascogne. Người Pháp đã kịp thời xây dựng một thành phố Đà Lạt trước khi ra đi. Không một thành phố ở trung châu nào nhắc nhở đến họ mạnh mẽ cho bằng Đà Lạt.
Luy có việc phải đi thẳng Sài Gòn. Nhàn mừng rỡ khi tôi gõ cửa bước vào nhà.
- Anh mới lên hả? Sao không đánh điện cho cho em biết để em đi đón? Anh đi bằng Air Việt Nam hả?
Hoa cắm ở bàn xa-lông, ở bàn ăn. Màu tím của hoa lai ơn gói những nỗi buồn đậm. Nhiều rèm ở khung cửa sổ. Da mặt Nhàn trắng mát khi tôi đứng lại gần cầm bàn tay nàng đưa ra bắt. Nhàn là bạn của tôi và của Bảo.
- Trông anh trẻ ra so với hồi em xuống thăm anh năm ngoái.
Tôi cười:
- Nếu cảm tưởng đó không vì xã giao mà có thì là vì khí hậu của miền cao nguyên. Khí hậu cao nguyên làm cho người ta trẻ đi. Thắt ca-vát và mặc com-lê vào thì con người có hy vọng đẹp thêm vài chục phần trăm.
- Em không xã giao đâu. Cái lý do thứ hai có lẽ đúng.
Năm ngoái, Nhàn xuống miền nhiệt đới thăm tôi. Mồ hôi và ánh nắng làm mệt nhoài con người, làm tóc râu bơ phờ, làm tia mắt lơ đãng. Tôi hỏi:
- Hữu đâu?
- Ở với vợ hai. Em cho Hữu tự do ở với vợ hai.
- Mấy đứa nhỏ?
- Cho ở nội trú hết. Em ở một mình. Thong thả như một con chim.
Không phải là một con chim có hạnh phúc, tôi nghĩ vậy. Gia đình này tan rã chỉ vì giàu, giàu gấp gáp, vội vã, bất ngờ. Đang buôn thua bán lỗ, tôn sắt chất đống nghẹt kho thì chợt vật giá lại cao vọt lên, hàng họ khan hiếm. Tha hồ kiếm tiền. Tiếp theo sau, tiền đẻ ra tiền và cặp vợ chồng này trở thành mười lần triệu phú. Hữu chạy theo đàn bà, bao gái nhảy, chiếm đoạt vợ người khác. Khi thành công được trong địa hạt tài chánh, người đàn ông thường tăng thêm tự tin để xông xáo vào các địa hạt khác. Có người thì nhảy ra làm báo. Có người thì chợt thấy mình có nhiều kiến thức chính trị nên nhất định ứng cử vào Hội đồng Tỉnh, vào Quốc hội. Những tấm danh thiếp được lật đật in lại, ghi thêm chức vụ mới. Địa hạt ái tình thì dành chung cho mọi người. Đồng tiền làm cho họ đẹp đẽ và hoạt bát. Đàn bà cũng vậy. Nhàn có mặt trong những buổi tiếp tân, những party và Nhàn có nhiều nhân tình. Họ bình đẳng với nhau trong việc hưởng thụ và đồng ý xé nát gia đình ra làm hai mảnh.
Nhàn nhường phòng cho tôi ngủ đêm hôm đó.
- Để em ngủ bên phòng kia. Cho anh ngủ trong một phòng đàn bà để lấy hên. Có lẽ anh sẽ mau lấy vợ, nhờ đó.
Quả thật tôi đã khó ngủ trong một căn phòng đàn bà, có cái gì dịu ngọt, mê ảo làm xao xuyến tâm hồn tôi. Hàng dãy áo dài treo trên mắt. Thắt lưng, áo eo lại làm tôi nghĩ đến một vòng tay đang siết chặt. Những bộ pyjama màu hồng, màu vàng cổ viền đăng ten hay thêu những cành hoa, đóa hoa trên ngực. Bàn phấn thấp và mặt gương sáng dọi lại hình tôi. Chi chít những lọ nước hoa trên bàn. Tôi mở lọ nước hoa oeillet. Mùi thơm quen thuộc. Ngày trước, trên lối đi trước sân nhà tôi thích nhất là những cành oeillet màu hồng. Oeillet có nhiều màu: trắng, vàng, tím, hồng. Đẹp nhất là hoa màu tím chen từng nét trắng, ở miền trung châu trồng được và được gọi tên là hoa cẩm nhung hay cẩm chướng. Nhưng chỉ có hoa màu hồng là thơm. Một lọ nước hoa nhỏ xíu đã bong mất nhãn hiệu. Mùi thơm cay. Tôi nhớ đến mùi hoa linh lan. Lọ phấn. Thỏi son. Lược và bàn chải tóc. Giày mule màu trắng. Xắc tay.
Màn hoa kéo ở khắp cửa sổ. Mùi phấn thơm nơi gối. Đèn giường tỏa ánh sáng ấm. Tôi lắng tai nghe tiếng động xung quanh, ngoài đường. Chỉ có sự im lặng. Những vật gần gũi với tôi: áo, chăn, rèm cửa, lọ nước hoa thì rộn ràng cất tiếng, thứ tiếng nói lặng lẽ, tiếng khơi động, tiếng thúc giục, tiếng an ủi. Tôi lăn qua trở lại trên giường. Tôi nằm úp mặt xuống gối. Những dáng người, những khuôn mặt lẫn lộn quay cuồng trong óc khiến tôi không thể nhắm mắt. Tôi đứng dậy ra đập cửa phòng Nhàn:
- Em cho anh ngủ một phòng trần trụi đơn sơ hơn. Anh quen như vậy rồi.
Nhàn khoát tay:
- Không được. Không được. Thói quen đó đã hại anh. Phải tập cho quen trở lại không khí đàn bà. Anh về phòng đi. Bonne nuit.
Nhàn mỉm cười vừa khép cửa. Trong bộ áo ngủ màu vàng, nàng đầy đặn như một đóa hoa thược dược.
Sáng hôm sau khi ngồi điểm tâm, tôi hỏi:
- Em đề nghị anh đi thăm ai trước?
- Quý và Tân.
- Tân đổi đi Pleiku rồi mà?
- Vừa được cho về Đà Lạt.
Tôi đến thì Quý và Tân đi lễ chưa về. Huyền chạy ra mừng:
- A! Cậu mới lên. Tháng trước cháu viết thư cho cậu, cậu có nhận được không?
- Được.
- Sao cậu không trả lời cháu?
- Quên mất. Vả lại, cậu định lên Đà Lạt thì viết thư trả lời làm gì cho dư việc?
Huyền không kịp đợi tôi hỏi thăm kết quả học hành, đã vội xoắn hỏi tôi về những điều nó thắc mắc trong thư.
- Cậu nghĩ xem cháu có nên yêu thằng Ninh như nó đợi chờ không?
- Cứ để mặc cho nó đợi chờ, cậu nghĩ vậy.
- Nhưng cháu sợ nó không đợi chờ lâu được. Lũ con trai thường không nhẫn nại.
- Nếu nó không nhẫn nại được thì càng là một cớ để mình đừng yêu.
Câu trả lời xem chừng không làm cho Huyền bằng lòng. Tôi chậm rãi bật diêm đốt thuốc vừa liếc nhìn nó loay hoay ngồi không yên trong chiếc xa-lông rộng.
- Huyền chỉ có một mình thằng Ninh?
- Không. Cháu có khối thằng. Thằng Đức sinh viên văn khoa. Thằng Tri sinh viên kinh tế. Thằng Duyệt sinh viên trường võ bị. Ba thằng chia nhau những ngày nghỉ lễ của cháu.
- Sao lắm thế.
- Cháu cũng không biết nữa. Tại tụi nó đó. Cháu không ưa hẳn thằng nào nên cháu phải đi chơi cả ba đứa. Lắm lúc thấy cũng mỏi.
- Đã thế lại còn tuyển thêm một thằng thứ tư?
- Để thỏa mãn tính kiêu ngạo. Thằng Ninh bảnh trai và nhà giàu. Bố nó có lần làm Tổng trưởng dưới thời ông Nguyễn văn Xuân hay ông Trần văn Hữu gì đó.
Nó có nhiếu bồ đẹp và quý phái lắm ở bên Grand Lycée. Đi chơi với nó cũng là một lối trang sức.
Câu chuyện không làm tôi thoải mái. Huyền mới học seconde (1). Tôi nghĩ rằng thành phố này phải trí thức hơn cái lối làm tình ái ồn ào đẫm mồ hôi của những đô thị lớn, của những tỉnh miền nóng. Ở những nơi đó người ta mặc áo hở cánh tay, hở cổ; da lưng, da bụng hiện qua lớp vải mỏng trong suốt và thịt nổi cuồn cuộn làm bật tung những chiếc khuy áo. Ở những thành phố xô bồ đó, không khí sặc mùi da thịt. Người ta sống gần nhau quá, sát vách sát rào, chung chia từng mảnh sân hẹp từng khối không khí đứng theo chiều cao. Đà Lạt không khêu gợi dục vọng. Áo che kín đáo. Da tươi mát không đẫm mồ hôi. Không hiểu bị ám ảnh nào mà tôi có thành kiến rằng mồ hôi hay khơi dậy dục vọng. Tôi xoay mình gián tiếp tỏ một sự mệt mỏi và bảo Huyền:
- Còn quá sớm để nói chuyện đó với Huyền. Huyền mới mười sáu tuổi. Phải mọc thêm năm phân chiều cao nữa.
- Cậu lạc hậu cũng như ba cháu. Thời bây giờ không thể sống theo quan niệm của ông Khổng tử. Ông Khổng tử có lý vào thời của ông ta. Nửa thế kỷ trước, Maurice Dekobra đã mặc áo pull over cho ông Khổng tử rồi. Nửa thế kỷ! Bao nhiêu là cách biệt. Nhưng được, thôi để nói chuyện về cậu. Má cháu có để dành cho cậu một cô đẹp lắm.
- Tên?
- Phương Lan.
- Nghề?
- Tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh. Hiện làm ở tòa Đô sảnh.
- Tuổi?
- Ba mươi hai. Đẹp. Hiền lành.
- Cám ơn má cháu, nhưng cậu không tin tưởng lắm. Đây không phải là người đầu tiên mà má cháu để dành cho cậu. Vả lại, tháng Năm không phải là tháng hạp để nói chuyện hôn nhân. Có lẽ chúng ta đi một vòng quanh hồ thì dễ chịu hơn.
Hồ hắt từng hơi gió lạnh. Dãy cây bách không lớn hơn bao nhiêu. Lá nhọn hay trái nhọn, cành non bọc vảy chi chít như thế nào, tôi cũng vẫn không lưu ý nhìn kỹ. Tôi chỉ nghĩ rằng chúng đã đứng ở đó ngày xưa và bây giờ chúng vẫn còn đứng đó, xoa dịu một nỗi bồi hồi nào trong hồn tôi và sự hiện diện của chúng làm tôi yên tâm. Những người đã cùng tôi thường đi trên đường này và những người tôi hay nghĩ đến khi đi thơ thẩn trên đường này bây giờ còn ai? Bảo từ trần đã mười năm. Chị Mai theo người yêu tập kết ra Bắc. Phương lấy chồng hiện làm quận trưởng quận… quận gì? Đức Trọng? Khánh Dương?… Những tên quận nhiều quá, lẫn lộn. Thérèse làm cô giáo ở một tu viện. Thời gian bôi những nét xám trên khuôn mặt của họ.
Tôi bảo Huyền:
- Đây là cầu ông Đạo. Đố Huyền biết vì sao gọi là cầu ông Đạo không?
Huyền lắc đầu.
- Vì ngày xưa chỗ góc kia là Tòa Quản đạo. Bây giờ Tòa Quản đạo bị phá đi để chỗ làm con đường vào chợ, để chỗ xây những dãy nhà dù đó. Nơi chợ mới, trước kia là vườn rau của đồn lính khố xanh.
- Cậu thuộc kỹ lịch sử của thành phố này quá.
- Đâu có được như vậy? Đó mới chỉ là một giai đoạn. Thành phố này chỉ già bằng một đời người. May ra còn lại một vài cụ già đã từng lên đây khai phá theo chân ông Yersin.
Chợ bày bán nhiều hoa. Trên tầng lầu tấp nập theo kiểu chợ Bến Thành. Những người đi lượn trong đó xa cách với tôi quá. Họ ồn ào, vui vẻ, hoạt động. Họ đang làm chủ cái thành phố này. Và tôi có cảm tưởng lạc lõng giữa họ. Một người đàn bà giẫm lên chân tôi và xuýt xoa xin lỗi. Tôi chỉ mỉm cười vừa phải, thiếu hẳn nhiệt tình mà tôi có thể trao cho một người đàn bà đẹp và lịch sự như thế trong một trường hợp tương tự. Cái cảm tưởng lạc lõng đó không rời tôi khi tôi đi theo những con đường quanh chợ. Các con đường đều đã thay tên. Không còn nữa, những tên đường Thống chế Foch, đường Lacaze, đường Annam, đường Cầu Quẹo. Vài hiệu buôn còn sót lại từ ngày xưa: Vĩnh Chấn, Chic Changhai, Phúc Thái Lai…, nhưng sự rộn rịp và người đứng bán hàng đều đã thay đổi.
Huyền cười chào những thanh niên đi ngược chiều. Họ mặc quần chật, tóc lòa xòa và đeo gương lớn. Aùo len thùng thình. Huyền giới thiệu sau khi họ đi qua. “Thằng Hợp sinh viên Văn khoa… Thằng Lý sinh viên Sciences Po…(2)
Đà Lạt có một món trang sức mới: trường Đại học. Chữ “sinh viên” làm đẹp câu đối thoại. Mọi người đều có phương tiện để vươn lên. Ai cũng có, hoặc một người con “sinh viên”, hoặc một người quen “sinh viên”, một người khách hàng “sinh viên”. Bắp sú, xà-lách-xoong, cà-rốt, hoa mõm sói không làm cho người ta hãnh diện.
Đêm Đà Lạt mời mọc nghỉ ngơi. Đóng kín cửa lại, cắt đứt mọi giao thiệp với cảnh vật bên ngoài. Tôi mở cửa ra ban-công. Sương xuống ướt sũng sàn xi măng. Sương từng giọt từ mái bếp tôn lộp độp rơi xuống mặt đất. Giọt nước mắt của Đêm. Những người buồn chắc sẽ đỡ cô đơn khi đêm tối cùng chung chia giọt nước mắt với họ.
Mười giờ tối đêm trước, khi ngồi uống cà phê ở hiệu Cà phê Tùng, Nhàn hỏi:
- Anh không có ý định trở về sống ở Đà Lạt?
Tôi gạt tàn thuốc để có thì giờ suy nghĩ.
- Ở chỗ nào rồi cũng như nhau, tôi trả lời. Cũng bất tiện như nhau. Anh đã chán ngấy cái thành phố của anh nhưng không vì thế mà dễ lên ở đây được. Những chán ngấy như những lớp bụi. Chúng nó chụp lên ta mỗi ngày một ít, cho đến một ngày nào đó ta sẽ đồng hóa với bụi.
Nhàn cười:
- Bọn em ở đây thì đồng hóa với sương mù, sương mù làm lạnh con người.
- Đó không phải là trường hợp của em. Trong em có một lò lửa dữ dội. Coi chừng những đám cháy.
Nhàn đập vào vai tôi và tôi gọi bồi tính tiền. Đi trong đêm lạnh thấy vừa vui vừa buồn. Thành phố như một bức tranh treo trước mắt. Nhà ở từ lũng sâu leo từng bực từng bực lần lên tới đồi cao. Ánh đèn dăng theo, chi chít. Đêm không nghe tiếng súng. Ở dưới miền xuôi khó có thành phố nào mà đêm không nghe đại bác nổ ì ầm và súng máy lạch tạch hàng tràng dài. Con đường uốn cong theo chân đồi. Cây, lá, cỏ. Tôi vụt cười vì một ý nghĩ vừa trở lại trong óc. Nhàn hỏi:
- Anh cười gì?
- Vì một chuyện nhảm nhí thô tục không tiện nói ra.
- Anh cứ làm bộ mãi.
- Ừ thì nói. Hồi chiều đi trên đường Hùng Vương anh chợt có ý nghĩ: ở Đà Lạt đi đường nào cũng có thể tiểu bậy được. Sẵn sàng có bụi cây và lá cỏ đồng lõa với mình.
Nhàn “xì”:
- Đàn ông các anh… Nhảm nhí hết sức.
- Đúng. Vừa cao siêu vừa nhảm nhí. Nhưng phải lang thang trên những con đường của các thành phố miền xuôi: Sài Gòn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng… mới thấy những bụi cây lá cỏ, những khúc quanh liên tiếp của con đường Đà Lạt là quí.
Những ngày tiếp theo, tôi lùng tìm các bạn cũ còn sót lại. Chị Ngưỡng tiếp tôi trong một căn phòng ngổn ngang đồ đạc. Câu chuyện không rứt ra khỏi giai đoạn vợ chồng chị bị Pháp lùa bắt ở Karom. Bây giờ chị đã có bốn đứa con lớn, đứa đầu thi Math Elem. Do lời mách của chị, tôi đến tìm thăm anh Năm Hiển. Một cái biệt thự bằng gỗ xám có nhiều cánh cửa sổ mục nát. Cỏ dại mọc rối ngoài sân. Một tấm bảng ghi chữ “coi chừng chó dữ” và hình vẽ một con chó đang nhe răng thè lưỡi. Vài đứa nhỏ đang cãi nhau dưới hiên. Nghe tôi hỏi, một đứa chỉ xuống bờ hồ: “Ổng ngồi câu cá dưới đó”.
Năm Hiển gặp tôi không mừng rỡ. Mặt dài và móp lại. Trông mắt lờ đờ như làm bằng thủy tinh. Tình cảm nơi anh chết rồi chăng? Anh không còn mang một chút di tích quá khứ nào cả. Không còn anh Năm Hiển nghệ sĩ của những ngày xưa, cầm đầu ban nhạc và ăn chơi hết mình. Trước mắt tôi là một khuôn mặt mệt mỏi, một thân người chống chọi đã đuối sức. Tôi lỏng lẻo bắt tay anh, hẹn sẽ trở lại nhưng tôi biết chắc là tôi đang nói dối. Tôi không đủ can đảm gặp lại anh.
Tôi buồn bã đi ngược lên con đường Rue de France. Có vài ngôi nhà mới cất. Có vài đoàn người đi trên đường này. Ngôi nhà ngày xưa tôi ở bây giờ cho Mỹ kiều thuê. Hàng cây mimosa lớn trội che khuất mái bếp. Không ai thèm hiểu cái gì đang đè nặng trên hồn tôi. Mười năm dĩ vãng có trọng lượng của nó. Tôi đang đi trong sự thờ ơ vô tình của cảnh vật và của người xung quanh. Chỉ còn có Nhàn. Nhàn bảo tôi:
- Anh còn nhớ thằng Sách không? Trong đoàn chạy giặc của tụi mình, nó bé nhất bọn đấy.
- À, nhớ rồi. Hồi chạy xuống Gò Đền nó cũng phải giã gạo thuê. Tội nghiệp, nó nhỏ người, nặng đâu lối ba bốn mươi ký lô, leo đứng trên cần cối, cần cối chẳng thèm nhúc nhích.
Nhàn cười ngon lành.
- Bây giờ nó biến đổi ra thế nào?
- Vẫn cứ bé oắt như xưa. Có vợ rồi. Hai con. Làm dưới sở Địa dư.
- Anh Duy?
- Anh Duy thì ngon lành. Làm đến đại tá. Nhưng lại bị liên lụy vào một vụ đảo chính hụt, bị xử tử vắng mặt hay khổ sai chung thân gì đó, em không nhớ rõ. Nhà cửa bị tịch biên.
- Chưa đến nỗi nào. Làm chính trị thì cốt giữ sao cho khỏi bị cắt mất cái đầu. Còn tù tội thì cứ tha hồ.
- Thằng Đinh tội nghiệp hơn. Nó mới chết ở mặt trận An Lão. Lấy vợ trễ, sáu đứa con còn nhỏ.
Chỉ những người chết là bị thiệt thòi hơn hết. Hay ngược lại, là được thong thả hơn hết. Hôm mới lên, người mà tôi lẳng lặng đến thăm đầu tiên là ông Tự. Tôi tìm đến dãy nhà gỗ tối tăm. Ông Tự làm cai Lục lộ chuyên sửa ống nước. Tôi hỏi một em nhỏ đứng chơi gần đó:
- Gia đình ông Tự có còn ở đây không em? Em có biết ông Tự không?
- Dạ có biết. Nhưng gia đình ông đã dọn đi lâu rồi.
- Em biết hiện giờ ông ở đâu không?
- Dạ. Dọn về Phi Dàng. Ông Tự chết ba năm nay rồi. Vợ con ông dọn về ở Phi Dàng.
Tôi cám ơn em nhỏ và lủi thủi ra về. Bao nhiêu hăng hái rụng xuống khi cuộc đi thăm đầu tiên không có kết quả. Sau chừng mười năm xa cách, câu hỏi thăm có thể được trả lờigọn lỏn bằng chữ “chết”. Tôi đem nỗi buồn đó ra nói với Nhàn. Nhàn bảo:
- Ông Tự bị điên phải đem đi Biên Hòa. Tại uống rượu nhiều quá. Bà Tự lại ngoại tình, có con với người khác.
- Sau khi ông chết?
- Không. Ngay lúc ông còn sống.
Tôi nhớ lại khuôn mặt của người đàn bà ấy. Ngoại tình hay chính chuyên, khuôn mặt ấy không mang dấu hiệu rõ rệt. Tôi nhớ bà mê đánh bài tứ sắc, ngày nào cũng có một sòng bài thường trực trong nhà. Có thể con đường ngoại tình xuất phát từ sòng bài. Nhưng cũng không bảo đảm lắm.
Những buổi chiều ở Đà Lạt thật buồn. Mùi nhựa ngo cháy thơm trong bếp pha với hơi sương lạnh nhắc tôi nhớ đến những ngày hồi cư, những ngày chạy giặc phiêu lưu ở Cầu Đất. Trạm Hành. Mùi nhựa ngo dính liền với buổi chiều, với sương mờ đục, với hơi lạnh ẩm ướt.
Hôm giã từ Đà Lạt, Nhàn ra tận bến xe tiễn. Sương ướt ngọn cỏ.
- Anh về gấp quá. Đáng lẽ phải ở chơi cả tháng. Chả mấy khi lên.
- Anh sẽ lên, nghỉ Hè sau.
- Nghỉ Hè! Một năm nữa.
Tôi giật mình. Một năm nữa! Sao tôi có đủ can đảm đợi chờ một năm nữa? Làm như cuộc đời người dài hàng sáu trăm, bảy trăm lần khoảng thời gian đó. Tôi sẽ làmgì trong khoảng thời gian đợi chờ? Sống thật? Sống bơ phờ qua ngày? Tôi nhìn ánh mắt sáng của Nhàn và tự nhiên thấy thêm nghị lực.
- Anh sẽ lên, sớm hơn. Vào dịp lễ Quốc khánh, vào dịp Nô en hay vào dịp Tết.
Khi tôi ngồi yên trên nệm xe đưa mắt nhìn ra thì thấy Nhàn lau nước mắt.
Xe rồ máy, chạy chầm chậm. Nhàn đứng yên đó. Chúng tôi không còn ở tuổi vẫy tay. Dãy cây bách. Bờ hồ. Tôi quay lại nhìn, tôi quay ra xa. Bóng Nhàn nhỏ dần. Loang loáng cảnh vật chạy lui. Biệt thự. Biệt thự. Những bồn hoa. Khi xe vượt quá đầu dốc, khi Đà Lạt khuất khỏi tầm mắt nhìn, tôi ngồi yên như một người cam chịu số phận.
Tiếng máy nổ dòn. Nệm xe nhún nhịp nhàng qua những chỗ lồi lõm. Bóng tôi hiện ra trên mặt kính cửa. Áo nỉ màu tối. Nét mặt đăm chiêu. Nghỉ Hè năm sau! Tôi chợt nhớ đến một hình ảnh quen thuộc, một hình ảnh trong cuốn phim Amour d’espionne mà tôi đã xem, cách đây lâu lắm. Chuyện xảy ra trên một toa xe lửa chạy về miền biên giới Pháp - Đức. Một cô nữ sinh được cha đón về quê để nghỉ lễ Pâques (3). Cùng ngồi trong toa, nàng để ý một người đàn ông đứng tuổi nét mặt nghiêm trang ngồi đăm đăm nhìn ra cảnh vật bên ngoài cửa sổ. Tay ông ôm bó hoa huệ trắng bọc trong giấy bóng. Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày này, cô lại thấy người đàn ông đó ngồi chung toa xe với mình, ngồi đúng vào chỗ cũ, cũng ôm bó hoa đó, cũng nét mặt nghiêm nghị buồn đó, cũng cái mũ dạ, cũng bộ quần áo nỉ màu tối. Cô gái tò mò hỏi cha ý nghĩa có một sự xuất hiện lặp lại đúng kỳ như vậy. Người cha thì thầm kể chuyện cho con nghe và những hình ảnh quá khứ hiện lên màn ảnh lần lượt theo câu chuyện kể.
Người đàn ông đó, trước đây là một sĩ quan do thám người Anh. Ông sang hoạt động tại Đức, cố đánh cắp một bản đồ tham mưu của Hoàng đế Uy-liêm. Một nữ phản gián Đức được chỉ định theo dõi ông ta. Họ lừa nhau, họ dò xét nhau, họ quyết tâm đánh bại nhau. Nhưng đồng thời, bằng những bước nhỏ âm thầm, tình yêu đã đến với họ. Trong những giây phút quyết liệt cuối cùng, người đàn bà phải chọn lựa. Hoặc phải thanh toán người mình yêu, hoặc chịu chết để giúp cho chàng thoát. Nàng đã chọn giải pháp thứ hai.
Chiến tranh kết liễu. Hận thù xóa đi. Người đàn ông còn sống sót, hàng năm cứ đến ngày lễ Pâques đáp tàu từ Anh quốc vượt qua bể Manche, lên tàu lửa đi về biên giới đến viếng mộ nàng, một bó huệ trắng trên tay. Bao nhiêu xúc cảm bồi hồi, bao nhiêu êm đềm xót xa đã ghi trên nét mặt u buồn đó khiến cô nữ sinh phải lưu ý.
(Trích từ tập Truyện ngắn Bên Kia Đường)
| 1 | Lớp đệ nhị |
| 2 | Khoa chính trị học |
| 3 | Lễ Phục Sinh |
Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2025
MỚI LỚN - Vương Chu Tuyết
Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025
ĐÈN CẦN GIỜ - Bình Nguyên Lộc
Tặng Huỳnh Bửu Ngà
Hôm nay Sơn buồn lắm. Trên đèn có tất cả sáu người
giúp việc mà hết năm đã vào bờ rồi. Anh chàng yêu hụt, nghe cô đơn từ
mấy tháng nay, và bây giờ thì thấy mình thật cô độc một trăm phần trăm,
giữa cảnh trời nước bao la nầy.
Đèn Cần Giờ cất trên một cồn cát ngầm, gần giữa sông, trệch vào
hữu ngạn một chút, Nhà đèn hình bát giác, rộng bằng hai căn nhà phố, nằm
chinh chông trên những cẳng sắt mảnh mai, xa trông giống như một lồng
bồ câu. Trên nóc nhà là ngọn đèn sông, nhỏ hơn hải đăng nhiều, nhưng
cùng một công dụng với đèn rọi biển. Sáu người giúp việc trên đó có phận
sự lau đèn, vô dầu và canh gác về đêm sao cho đèn cháy đều mãi mãi để
giúp tàu bè qua lại khỏi rướn lên cồn cát.
Hôm nay ông xếp đèn có việc nhà cần kíp nên phải vào bờ, một
người đi chợ, một người đi nhà thương, hai người nữa lại phải chèo ghe
đưa tất cả những người đó. Thành ra Sơn phải ở lại có một mình. Theo
phép thì họ không được vắng mặt cả đám như vậy, nhưng đây là trường hợp
đặc biệt, và cũng đang ban ngày, không có công việc gì. Miễn là chiều
tối họ về thì thôi.
Sáng sớm, mặt trời đổ bạc xuống nước, chim bay cũng nhiều, ghe thuyền qua lại cũng bộn, thế mà Sơn thấy cảnh hiu quạnh lạ kỳ.
Người con trai nầy đã yêu mà không được yêu lại nên chàng thất
tình, nhìn thấy cái gì cũng đen, cũng xám cả. Lúc mới bị hất hủi, chàng
định tự tử, nhưng không dám. Chàng lại định đi tu, nhưng ngại phải ăn
chay. Rốt cuộc chàng xin một chân phu lau đèn ở đây. Nguyên một người
cậu bà con xa của chàng làm xếp đèn từ lâu rồi, từ thời Pháp thuộc lận.
Chàng bỗng nhớ sực lại người đó trong một hôm bí lối, và nghĩ cây đèn
Cần Giờ có thể là nơi ẩn náu tốt để mà quên. Lương bổng, chàng không cần
vì chàng là con nhà khá giả, sắp vào thơ ký ngạch nhà nước kia mà.
Bên tả ngạn, từ trong bờ một hàng cột đáy chạy dài tới cửa sông,
rung rinh dưới sức xô đẩy của sóng mạnh, ghe thuyền qua một cái lạch
tương đối hẹp giữa nhà đèn và cây trụ đáy bìa, để mà qua lại. Thành ra
người trên ghe nói gì, Sơn nghe rõ mồn một.
Họ nói thì ít mà hát điệu chèo ghe thì nhiều. Hát rằng:
Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung,
Anh thương em tha thiết vô cùng.
Biết ba với má có bằng lòng hay chăng ?
Nghe hát, Sơn cứ muốn mình được như anh trai trong câu hát đó.
Nếu chỉ có ba với má là chướng ngại vật thôi thì chàng đỡ khổ biết bao !
Bất quá là hái đứa cùng trốn đi một lúc, rồi trở về xin tha thứ. Đằng
nầy trong trường hợp của chàng, chính nàng lại không bằng lòng, thế mới
chết cho.
Lại hát rằng:
Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn ghe nhỏ nhìn thấy rõ mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao
Để cho phận gái má đào gởi thân ?
Eo ơi, Sơn than thầm, con gái băn khoăn như vậy là chánh đáng.
Nhưng lòng chàng không bừng sáng được mỗi đêm như cây đèn Cần Giờ để cho
con gái nó thấy thanh cao mà chọn, nên chi Lệ nó đã chọn người khác cho
chàng phải đau.
Chàng yêu Lệ và cũng được Lệ có cảm tình trở lại. Nhưng Nam, một
người con trai khác, có bề ngoài hào hiệp hơn, lại đến và xáo trộn cả
dự tính sắp thành công của chàng.
Lệ do dự rất lâu giữa hai người và rốt cuộc đính hôn với Nam.
Trốn trong sự bạo lực, Sơn nguôi được đôi phần rầu. Nhưng cảnh ở
đây lại gợi tình, thành ra vết thương cứ "làm miệng" trở lại mãi. Nhứt
là trong vòng tuần nầy, là tuần nghỉ hè Phục Sinh. Tàu đò chở người đi
nghỉ mát qua lại dập dìu, nhắc nhở Sơn chốn cũ là nơi mà mối tình đầu
của chàng đâm mộng, khiến Sơn nhớ Sàigòn vô chừng, nhớ người Sàigòn như
là nhớ một điếu thuốc về đêm. Bị bỏ tù giữa sông lớn, chàng thường phải
thèm thuốc, những ngày ghe của nhà đèn không đi chợ. Hai nỗi nhớ nầy sao
mà minh mông và sâu thẳm như khúc sông Cần Giờ từ ngoài cửa vào tới đây
!
Mỗi khi một chiếc tàu đò chạy qua, trên ấy lố nhố người ta, Sơn
nhìn trân trối đám hành khách với ảo vọng tìm ra con người chàng giận
nhưng chưa quên được. Áo xanh, áo trắng, áo tím, áo hường, tất cả những
màu áo ấy lũ lượt đi qua, nhưng Sơn không hề thấy dáng Lệ lần nào cả.
"Chắc chồng cưới người ta rồi, và người ta đang hưởng tần trăng mật ở đâu đó". Sơn lẩm bẩm như vậy mỗi lần thất vọng.
Bạn ghe đã thôi hát. Ghe nào cũng vội vàng chèo mau để qua khỏi
lạc hẹp, hầu tránh tàu, vì sóng lớn do chân vịt quậy lên sẽ xô đẩy ghe
họ tròng trành khó chịu lắm. Ừ, đằng xa, hướng ngoài cửa, còi tàu hú
vang rền.
Tàu đi, nên thơ lắm vì nó gợi hình ảnh những cuộc viễn du kỳ
thú. Còn tàu về thì như là một cuộc đời sắp tàn. Nên chỉ riêng Sơn,
chàng không bồn chồn lắm, mà chỉ vui ngắm cảnh rộn rịp tránh tàu.
Nhưng cái bận rộn của bạn ghe thật vô ích. Đó chỉ là một chiếc
tàu đò nhỏ, chiếc Hát Giang, chở hành khách nghỉ mát trở về Sàigòn.
Hôm nay, ngày cuối cùng của hạn nghỉ Phục Sinh, nên tàu chở khẩm
lừ. Tàu đen đúa lại tróc sơn xem rất xấu xí, nhưng hành khách vẫn nhiều
màu rực rỡ trông rất đẹp và người ta có ấn tượng nhìn một hộp thiếc cũ
đựng một mớ bướm mà cánh nhuốm đủ cả các màu.
Chiếc Hát Giang chạy sát hàng đáy quá, không hiểu vì sao. Người
tài công quên rằng có hàng cột đáy ở đó chăng? Không rõ. Nhưng khi tàu
qua lạch thì suýt rướn lên cây cột đáy ngoài bìa.
Đi sai đường như vậy, không hại ai cả, hay nói cho đúng, chỉ hại
chủ đáy chút ít thôi: một trụ đáy sẽ ngã, lôi theo vài trục kế cận, thế
là thôi.
Nhưng người tài công lại quýnh lên, lái mạnh để xuyên tạc đường
tàu một cách đột ngột hết sức. Chiếc tàu bỗng day mũi mau lẹ rồi nghiêng
triềng. Hành khách trên tàu, gồm rất đông đờn bà và con trẻ đâm hoảng,
chạy đổ dồn qua bên be cao, một là họ sợ rơi xuống nước, hai là họ hy
vọng làm thế để lật cho tàu được thăng bằng trở lại. Vì vậy tàu thình
lình lại nghiêng về phía hành khách mới đổ dồn qua. Lần nầy nó nghiêng
quá 45 độ, vì sức chạy của hành khách tăng thêm sức nặng của họ. Họ vẫn
hoảng nhưng không kịp chạy trở lộn về nữa vì tàu đã kể như lật rồi. Vả
sân tàu bây giừ gần đứng sững, còn chạy đi đâu được nữa.
Người nào bám níu kịp vào cột, vào lan can thì còn miễn cưỡng ở lại được trên tàu, còn thì rơi xuống nước cả.
Tiếng kêu la inh ỏi của đàn bà, tiếng khóc của trẻ con, cộng với
tiếng kêu gọi nhau trên các ghe kế cận làm vang dậy một khúc sông.
Nhìn những chiếc ghe vội vàng trở mũi về chỗ tàu lật để cứu vớt
nạn nhân, Sơn cũng toan góp phần vào việc cứu cấp nầy. Nhưng chàng bỗng
nhớ sực lại là ghe của nhà đèn đã đi chợ nên chàng cụt hứng.
Tàu lật thì mau chóng mà chìm thì chậm lắm. Sơn bất lực, đứng
ngắm mặt nước nuốt lần khối sắt tầm phổng ấy, chơn bứt rứt khó chịu cỡ
muốn chạy bay đến nơi ấy.
Khi hông tàu là là mặt nước, con tàu bỗng như do dự giây lát, rồi như đánh liều nhắm mắt, nó chìm mau xuống đáy sông.
Nước chỗ ấy hủng một lỗ to, và sức nặng của con tàu hút nước
chung quanh, khiến ghe thuyền đang chèo về, bị thu mau lẹ lại nơi đó.
Sau khi lỗ hủng được lấp bằng như có ai vùi nông xác tàu lại,
thì nhiều chấm đen bỗng nổi trở lên mặt nước. Đó là những chiếc thùng,
những xe hơi, những đầu kẻ biết lội và cả đầu những kẻ tuy không biết
lội mà may mắn bám được vào những vật nổi.
Ghe thuyền trên sông đã sốt sắng làm tròn phận sự. Nhưng số ghe
thì ít, mà người chết đuối lại đông quá, nếu họ vớt kịp cũng không chắc
đủ chỗ chứa. Mà nào có kịp đâu! Vớt một người biết lội, mất đến mười
phút ! Trong khi đó những người không biết lội đủ ngày giờ sút tay chìm
lỉm, hay bị sóng lớn đẩy đi xa và sợ quá hóa dại, buông thùng.
Cuộc cứu cấp kéo dài lâu quá. Có người tự lực lội vào bờ, nhưng
sông quá rộng, mà họ là dân thiếu tập luyện nên đuối sức giữa đường. Có
người ôm cột đáy mãi, la hét om sòm mà không ai vớt cho.
Sơn nóng ruột quá và rất mừng mà nhớ thình lình rằng mình có một chiếc di-lê nổi.
Lúc định ra đây, chàng nghĩ tới sông lớn mà phát sợ lên, nên đã
mua chiếc áo hộ thân đó. Lâu rồi, không có dịp dùng tới nên quên phứt nó
đi.
Sơn lật đật mở rương lấy áo tròng vào mình rồi bỏ quần ngoài chỉ
giữ quần đùi thôi, chàng đứng trên nhà đèn, chấp tay lại trên đầu rồi
nhắm mặt nước mà phóng xuống.
Lúc đó nước ròng, thành ra cẳng nhà sàn cao nghệu như nhón lên
để mà nhìn cảnh chìm tàu. Sơn lông rông một cái và giây lâu nổi lên cách
nhà sàn tám thước. Chàng lội giỏi lại có áo nổi nên lượn trên mặt sông
như rái.
Chẳng bao lâu, chàng đã đến nơi tai nạn xảy ra. Vừa tới là Sơn
được chứng kiến cảnh tượng lạ kỳ: hai nạn nhơn đang giành nhau một cái
thùng, vì thùng nhỏ, hai người đeo nó muốn chìm nên ai cũng cố chiếm cho
được thùng ấy cho mình.
Một nạn nhơn, tóc rủ phủ mặt, xem ra là đờn bà. Người nầy không
chắc kém sức hơn nạn nhơn đờn ông kia, nhưng lại buông cái thùng, như
chán nản lắm.
Người ấy còn đủ sức lội, vừa lội thong thả, vừa đưa một bàn tay lên vén tóc và vuốt mặt.
Sơn kêu lên một tiếng kinh ngạc: "Lệ!"
Rồi chàng bươn bả lội riết lại người con gái mà trong giây phút nầy chàng quên mất rằng ả ta đã bỏ rơi chàng.
Lệ cũng nhận ra Sơn. Nhưng nàng bình thản nói lớn:
- Anh cứu giùm anh Nam, ảnh không biết lội.
Sơn nhìn theo hướng ngón tay của Lệ chỉ thì mới hay anh chàng giành thùng là Nam.
Vì không biết lội, nên mặc dầu được thùng, Nam vẫn trầm luân.
Hai cánh tay chới với, hắn níu lấy cái thùng nhỏ, đầu trồi lên hụp xuống
không ngớt.
Trong vài giây, trí Sơn bị nhiều ý nghĩ làm bận rộn. Chàng bỏ mặc cho chúng chèo kéo nhau trong đó, bơi riết đến Lệ.
Tới nơi, chàng đưa một cánh tay, rồi nói xẵng:
- Níu lấy, tôi đưa vô!
Lệ không kịp nói gì đành phải níu tay Sơn.
Sơn lội một tay, đưa người bạn cũ vài phút là tới nhà sàn. Chàng nói:
- Cô ôm chưn sắt nầy mà leo lên. Nếu không được, đợi tôi trở lại.
Rồi không thèm ngó Lệ, chàng lại trở ra ngoài khơi. Biết tâm lý
hoảng sợ và hay níu bậy của những người không biết lội. Sơn lại gần phía
Nam sau lưng, rồi thình lình choàng tay qua ôm trái người sắp chết
đuối. Lưng Nam cạ vào hông của Sơn, mặt hắn đưa ra ngoài, thành thử hắn
sợ bao nhiêu, cũng chẳng níu được.
Sơn như lôi xểnh hắn vào nhà đèn, và khi tới nơi, chàng nói: "Ôm cột mà leo lên".
Bấy giờ, Lệ đã trên nảnh hường. Và bấy giờ hết sợ, nàng mới biết mắc cỡ vì áo quần dính sát vào da nàng.
Lệ ngồi co ro bó gối nhìn Sơn leo lên, và nhìn Nam lót tót bò lên theo.
Sơn nói:
- Nhà chỉ có một buồng, buồng của cậu mợ tôi làm trưởng đăng ở
đây. Cô cứ vào đó, có quần áo tôi trong ấy. Nếu cô không ngại, cô thay
đỡ kẻo cảm lạnh, bằng ngại thì cô vắt y phục cô cho thật ráo mà mặc lại.
Nói xong, và không thèm đếm xỉa đến Nam, Sơn lại lông rông đi nữa.
Tàu chìm hồi chín giờ sáng mà mãi đến gần mười một giờ trưa mới vớt hết nạn nhơn.
Chỉ có sáu chiếc ghe, trên mỗi chiếc có hai người bạn chèo. Một người giữ chèo một người vớt, nên họ hì hục lâu lắm.
Sơn phụ với họ và đưa người lên ghe họ thôi chớ không dám rủ
khách về thêm nơi nhà giữa sông của chàng, vì gạo trên đó chỉ có hạn. Và
lên đó rồi, còn phải đưa họ vào bờ nữa, lôi thôi lắm.
Khi chàng về đến nơi thì thấy Lệ đã nấu cơm xong. Nàng cười nói:
- Em vô phép làm như là nhà của em. Mà nếu em không nấu, chắc anh cũng phải nấu. Em lại vô phép nấu cho ba người ăn.
- Cô làm rất phải, cũng không vô phép gì hết. Cô giúp giùm tôi bữa nấu nầy, tôi cám ơn.
Lệ xụ mặt xuống mà rằng:
- Em chắc anh không mỉa mai, nhưng tiếng cám ơn của anh lịch sự quá, em nghe sao mà lạnh lẽo...
- Tôi quen miệng rồi...
Sơn nhìn lại thì thấy Nam mặt sượng ngắt: dễ thường hai người không trao đổi nhau lời nào lúc chàng vắng mặt.
Nhưng chàng không nghe lòng mình ghét Nam. Nhờ Nam giành thùng,
nhờ nam không biết lội cho nên chàng mới cứu tình địch của chàng, chàng
mới có thể tỏ ra mình thanh cao. Sơn bằng lòng mình lắm nên không ghét
Nam được.
Lệ hỏi:
- Anh ở đây có một mình, lâu lâu có tàu ra tiếp tế gạo phải không? Buồn không anh?
- Không, ở đây đến sáu người. Họ có việc đi vô bờ hết, tối họ
lại ra. Vài ngày thì chúng tôi đi chợ lấy một bữa. Chúng tôi có ghe
riêng, của sở hàng hải phát cho.
- Mấy anh nấu nướng lấy mà ăn hả?
- Cậu tôi có vợ. Mợ tôi lo cơm nước giùm.
Gió sông lồng lộng thổi, đánh đưa những cánh cửa sổ kêu ken két và đằn ngọn lửa nấu cơn nằm dài xuống.
Họ đang ngồi giữa buồng chung to lớn và trống trơn. Đây vài
thùng dầu, kia một đống dây đỏi. Bếp là 2 chiếc cà ràng nơi một xó nhà.
Sơn giở nắp một cái khạp nhỏ, lấy ra một con khô rồi nói:
- Nhà chỉ có cá khô để đãi quý khách, xin... cô tạm dùng đỡ.
Chàng do dự hơi lâu trước tiếng cô, ý muốn nói đến cả hai người
khách, mà không biết phải kêu người kia bằng gì. Vả Sơn cũng hơi hờn
hắn, muốn bỏ hắn ra rìa, không nói tới cho đáng kiếp, nên do dự rồi rốt
cuộc chỉ trao đổi với Lệ mà thôi.
- Cả đời phải kham khổ một ngày có sao đâu. Em ngại cho anh kia chớ. Nhưng tại sao anh lại ở đây?
Sơn không đáp, ngồi bó gối trên sạp gỗ nhẵn và lên nước vì mấy
mươi năm được người chà lết trên đó. Mặt chàng tuy buồn hiu mà nói lên
rất nhiều về nỗi đau thầm của chàng.
Chắc Lệ đã hiểu nên không hỏi gì thêm. Nàng lui cui ghế cơm, đoạn nướng khô.
Sơn thì đi lấy chén đũa đặt lên chiếc đệm vừa được trải ra giữa
nhà. Chàng nhìn cả hai người khách rồi hỏi, để đánh tan nỗi khó chịu:
- Cô đã thành hôn với... anh bạn đây chưa?
- Vẫn còn là vị hôn thê, vị hôn phu với nhau. Nhưng sao anh lại kêu em bằng cô? Cứ kêu như xưa xem có phải thân hơn không!
- Vâng, thưa chị, nếu chị cho phép như vậy. Thôi mời anh chị dùng cơm.
Ai cũng đói, nên không ai để mời hai lần. Trong bữa ăn, đã mấy
lần Nam toan mở miệng nói, nhưng lại thôi. Anh chàng ấy vốn lắm lời, và
cũng cần phải nói cái gì để đỡ trơ, nhưng anh ta lại xẻn lẻn quá, khó mà
ra khỏi sự im lặng được. Thái độ anh lúc chìm tàu, anh ý thức rõ rệt là
nó hèn, và không thể tha thứ được vì lẽ gì hết.
Lệ hỏi cho có chuyện:
- Nước uống anh lấy ở đâu?
- Lẽ cố nhiên là từ trên bờ đem ra, mỗi lần đi chợ về. Vì nặng nên chỉ đem được một khạp đường thẻ nầy thôi.
Vừa nói, Sơn vừa chỉ khạp nơi góc nhà, rồi tiếp:
- Nước ngọt ở đây quý lắm, hệt như trên một con thuyền ngoài
khơi. Mặc dầu chúng tôi có ghe sẵn, không lẽ đi lấy nước ngày mấy mươi
bận được.
- Nếu cả nhân viên ở đây đều có vợ con thì sao?
- Chưa xảy ra chuyện ấy bao giờ. Trừ người trưởng đăng, còn thì ai cũng trẻ tuổi cả, và vì thấy bất tiện nên họ không cưới vợ.
Không dám hỏi về chuyện âm tình riêng của bạn, sợ gợi buồn cho Sơn. Lệ cụt hứng. Thành ra bữa ăn buồn như là Sơn ở một mình.
Gần cuối bữa, Nam mới mở miệng được và hỏi:
- Rồi làm sao chúng tôi về?
- Đưa anh chị vào đây, tôi quên nghĩ đến chuyện về. Vả lại, nếu
để họ đưa vào bờ, anh chị cũng đến khổ vì bơ vơ trong làng mạc, xa
đường giao thông. Nhưng cũng dễ thôi. Ngày mai, tôi đón ghe cửa. Cậy họ
chở anh chị trở ra Bến Đình hoặc Rạch Dứa. Ở đó rồi đi đâu cũng được.
Ăn cơm xong, Nam kêu mệt, xin một chiếc chiếu rồi lăn ra mà ngủ.
Anh chàng ngủ dễ dàng quá, mới đặt lưng xuống chừng mươi phút là
ngáy pho pho, tiếng ngáy muốn át cả tiếng gió gào và tiếng sóng đánh
vào chân sắt nhà sàn.
Sơn hạ gàu xuống sông kéo nước lên để rửa chén. Nhưng anh khỏi
phải nhọc vì công việc sau, Lệ đã giành lấy mà làm! Sơn không cản.
Bấy giờ chàng mới để ý thấy Lệ không thay đổi y phục. Quần áo
nàng nhàu nát cả và lấm dơ hết. Nhờ gió nhiều, mau khô, nên Sơn mới
không nhớ đến vụ nàng ướt.
- Chị coi chừng, nếu ngày mai chị bắt đầu nhảy mũi là trúng cảm rồi đó.
- Thật ra em không lạnh... bên ngoài. Mà bên trong lòng cũng
chỉ mới vừa lạnh đây. Anh... anh lạnh đã từ bao lâu còn không sao kia
mà...
Lệ nghẹn ngào, nói đứt khúc từng đoạn. Sơn lơ đi và cứ tiếp tục
kéo nước, mặc dầu nước rửa chén đã dư dùng. Kéo lên, rồi đổ xuống rửa
mấy tấm sạp quanh đó mãi. Có lẽ chàng giấu xúc động của mình, hơn nữa
dấu ngấn lệ nó không đẹp gì nơi con mắt của con trai.
Lệ sắp chén đũa rửa xong vào sóng, rồi hỏi lại câu hỏi ban sớm:
- Nhưng tại sao anh lại ở đây?
- Chắc chị cũng đoán biết rồi, còn hỏi làm chi.
- Em ngỡ anh can đảm hơn...
- Chị ít tình cảm lắm, mới ngỡ như vậy.
- Sao anh biết em ít tình cảm?
- Việc chọn lựa của chị có vẻ lý trí quá, y như thái độ của một người đàn ông có cá tính mạnh mẽ.
- Em lấy chồng, em chọn chồng, chớ có chọn nhơn tình đâu mà phải theo tình cảm.
- Ấy thế. Chị dám lấy chồng theo lý trí thì là ít tình cảm rồi đó.
Sơn nói câu nầy không phải nói lẫy. Chàng tin như thế, mặc dầu
vừa thấy Lệ xúc cảm mạnh khi nãy. Chàng nghĩ rằng xúc cảm ấy chẳng qua
là xúc cảm vì hối hận thôi, chớ không vì thương một người bạn không may
mắn.
Lệ thở dài, làm thinh giây lâu rồi tự phê bình: và vì vậy mặc nhiên nhận Sơn nói đúng.
- Nghĩ ra theo lý trí cũng chưa chắc gặp đường tốt nẻo ngay anh à. Em chán nản đến muốn chết đi được.
- Vậy à? Từ bao lâu rồi?
- Chỉ mới từ khi sáng đến giờ.
Sơn nghe Lệ bảo chán nản thì hy vọng lắm. Nhưng ba tiếng "từ khi sáng" lại làm cho chàng khó chịu vô cùng.
"Thì ra nàng chỉ mới chán đây thôi. Còn thì mấy tháng nay nàng
vẫn yêu vị hôn phu như thường và chắc không bao giờ nàng nhớ đến mình!" Ý
nghĩ thầm đó xui chàng ghen tức lên. Chàng yêu Lệ quá nên ngỡ mình có
quyền ghen tức ngay một phút sau khi Lệ chán người khác.
Lệ tiếp:
- Vụ giành thùng giữa sông làm em xấu hổ với anh quá. Lòng tự
ái của em bây giờ nó không còn dám ló mặt ra mà nhìn ai nữa, nhứt là
nhìn anh. Có một vị hôn phu hèn đến thế thì mình cũng đến bị nó lôi theo
xuống bùn.
Nhưng nếu nó chỉ hèn vì tham tiền, vì sợ quyền thế thì cũng tạm
quên được đi, và tạm che mặt lại mà sống. Đằng nầy nó lại có thái độ như
trẻ con, tối ngủ giành hết mền một mình thì còn lòng nào mà thương yêu
được.
Sơn thích lắm, nhưng vẫn làm bộ binh vực cho dịu bớt bực tức của
Lệ. Chàng có ẩn ý làm cho Lệ phục chàng thêm trước thái độ thanh cao
của chàng:
- Bản năng tự tồn mà... Trong trường hợp đó, ai cũng thế cả.
- Anh nói mới vô lý chớ. Em đã thấy nhiều cuộc hy sinh khiến em
khiếp phục và nhớ mãi, mà kẻ hy sinh lại là những người kém Nam về học
thức, về tiền của nhiều lắm. Em chắc anh cũng đã thấy như vậy ít lắm là
một lần.
Sơn thở dài cho hợp với không khí nầy, trong khi Lệ phát lên cười dài:
- Cũng may cho em lắm. Nếu không có cuộc thử lửa nầy thì làm sao em biết...
- Thử nước chớ, Sơn sửa lời của bạn để đùa chơi.
- Ừ thì thử nước. Thì làm sao em biết được thâm tính của Nam!
Sơn rất muốn hỏi Lệ xem bây giờ nàng tính sao, một khi chân tướng
của Nam đã bị lộ tẩy. Nhưng chàng tìm mãi mà không ra một lối hỏi cho có
vẻ không mong mỏi gì hết trong vụ đó.
Rốt cuộc, chàng tạm dùng phương pháp do đường sau đây, không được khéo lắm, không được kín đáo lắm:
- Nhưng sao anh chị chậm làm đám cưới dữ vậy. Anh gác đèn như tôi sẽ được mời uống rượu hay không?
Kể cả khi sửa lời hồi nãy, Sơn nói đùa lần nầy là hai lần. Nhưng Lệ không vui đáp lễ bận nào cả.
Nàng làm thinh ngó mông lên vuông trời xanh lơ ở ngoài cửa sổ.
Một bầy quạ như viết chữ nhỏ đậm đen lên tờ giấy xanh ấy. Trong giây
phút cả đôi bạn đều có ấn tượng như mình đang ngồi trong khoang thuyền
và thuyền đang bình bồng giữa biển khơi.
Họ làm thinh như vậy lâu lắm rồi Lệ mới nói:
- Như ai thì sau vụ giành thùng nầy là đoạn tuyệt rồi. Trắng đen
đã rõ, có gì phải do dự lâu. Nhưng em lại quyết định giữ nguyên tình
trạng cũ. Xấu hổ với mình lắm rồi, nên cũng không buồn chọn lựa nữa làm
chi. Vả lại biết ai "lòng dạ thanh cao" bây giờ. Em ngỡ đã chọn kỹ, lại
trúng nhằm một cậu giành thùng thì còn biết sao nữa. Thôi thì phận gái
mười hai bến nước, rủi mắc phải bến đục cũng đành cam anh ơi!
Thoáng thấy vẻ phản đối trên mặt Sơn, Lệ nói:
- Nhắm mắt đưa chơn như vậy cũng bậy lắm, em đồng ý với sự phản
đối ngầm của anh. Nhưng xin anh biết cho rằng em chán nản lắm rồi... Anh
ấy à? Phải, nếu cần chọn một người khác, em sẽ không phải bận tâm trí
lâu. Người đó là anh, hẳn rồi. Nhưng em còn mặt mũi nào mà yêu anh cho
khỏi xấu hổ với chính lòng em.
- Ai cũng có lúc lỡ lầm, có gì mà xấu hổ.
- Em biết anh thương em nhiều và vẫn còn thương như trước. Anh sẵn lòng đón em, chắc chắn như vậy. Nhưng em mắc cỡ với em quá!
Thôi anh à, việc thương yêu chỉ là việc nhỏ thôi. Đừng nên rắc rối với nó. Cứ suông sẻ mà đi thì tốt hơn.
- Chị thật là thiếu tình cảm.
- Có thế ấy nhiều lắm cũng chẳng làm gì. Nếu em tình cảm nhiều
có phải là em đã nhào trở xuống sông rồi chăng? Anh muốn như vậy lắm à?
- Không, nào tôi có muốn như vậy đâu, nhưng...
- Để cho tình cảm anh nó thơ mộng thêm, em xin thú với anh là trước kia em đã yêu anh...
- Chị ơi, chị, trời ơi chị, tại sao đợi đến ngày nay tôi mới được nghe lời ấy !
Sơn nấc lên nơi mấy tiếng chót, và lần nầy chàng không thèm giấu mặt nữa, để cho lệ tự do ràn rụa ra.
- Không, không có gì anh phải hối tiếc. Trước kia em đã yêu anh, và bắt đầu từ hôm nay em lại yêu anh, và sẽ yêu anh mãi mãi.
- Thật không chị. Chị đừng đùa tội nghiệp. Sao hồi nãy chị bảo cam chịu cái bến đục ấy?
- Thì như thế. Em cam chịu lấy chồng như vậy, nhưng em thấy
không thể thương một người chồng như vậy được. Nhưng trong đời em nếu em
có yêu ai, thì người đó là anh.
Sơn sung sướng cực điểm. Chàng đưa tay toan nắm lấy tay Lệ,
nhưng bỗng nghe một tiếng của nàng, khiến chàng hoảng sợ lấy tay lại
ngay. Lệ nói:
- Không, anh đừng hiểu lầm...
Nàng vừa nói thế, vừa thò tay ra cho Sơn nắm. Sơn kinh ngạc hết sức, chỉ nhìn bàn tay ấy trân trân mà không dám cử động gì.
- ... thì anh cứ nắm lấy đi, và chỉ có thế thôi, lần đầu và lần chót. Đây là quà kỷ niệm muôn đời mà em yêu mến tặng anh đó.
Sơn ngập ngừng tay giây lâu mới dám cầm tay bạn, trong khi ấy Lệ tiếp lời:
- ... Và anh đừng hiểu lầm. Em yêu anh tận đáy lòng em, nhưng
điều đó không có nghĩa là em ngoại tình với anh. Chỉ có thái độ mới tỏ
được sự to lớn của tấm tình em đối vớt anh, anh là người có quyền chiếm
được em trước hết, hay là không bao giờ cả.
Sơn siết chặt lấy tay Lệ và khóc như trẻ con:
- Chị... em... ơi, thà là em đừng nói gì hết, chớ còn như thế nầy, làm sao mà anh quên được.
Rỗi bỗng chàng buông tay Lệ ra, ngồi thẳng lên mà nói lớn:
- Anh sẽ giết nó, con người không xứng đáng tấm tình của em, và cũng không đáng sống trên đời nầy nữa.
Sơn bấy giờ hối hận hết sức đã cứu Nam. Khi sáng, chàng cũng có
nghĩ đến việc để Nam chết chìm luôn cho rồi, nhưng muốn làm bảnh cho Lệ
phục và hối hận thôi, nên bây giờ chính chàng lại phải ăn năn.
Chàng thấy rõ Nam là chướng ngại vật độc nhứt. Lệ đã yêu chàng,
đang yêu chàng, đang khinh vị hôn phu. Chỉ vì nàng chán nản không muốn
phiêu lưu thêm trong tình ái, nên mới quyết lấy một người chồng như vậy
thôi. Bây giờ thủ tiêu người đàn ông đó là xuôi chuyện ngay.
Lệ nhận rõ tình thế nguy hiểm nên hoảng sợ hết sức. Nàng nghiêm nét mặt lại, vịn tay Sơn mà rằng:
- Anh đừng có rối trí mà làm nhăng. Nếu anh giết anh ấy thì hóa
ra anh cũng hèn nốt. Vậy thì làm sao em yêu anh được nữa mà mong. Vô
ích lắm!
Hai người mải mê chuyện với nhau mà quên lửng người thứ ba đang ngủ cạnh đó.
Người ấy ngáy ầm nhà và đáng lý vì sự im lặng thình lình nơi
chiếu ngủ khiến đôi bạn chú ý mới phải. Đằng nầy họ quên mất, mải cho
đến khi Nam cựa mình họ mới hay.
Lệ vội buông tay Sơn ra. Cả hai tuy không làm gì nên tội, vẫn bẽn lẽn, sượng sùng. Thái độ ấy không lọt mắt Nam được.
Từ sáng đến giờ, Nam tưởng Sơn chỉ là người quen thường của Lệ
thôi. Việc họ ngồi gần nhau trò chuyện trong lúc chàng ngủ cũng chẳng có
gì khả nghi. Nhưng cái vẻ bẽn lẽn của hai người thật đáng ngờ.
Mặt hầm hầm, Nam đứng lên đi lại cửa sổ dòm ra ngoài.
Sơn cũng uể oải đứng dậy, xách thùng dầu rồi leo lên chiếc thang sắt để vô dầu cây đèn trên nóc nhà.
Lệ hỏi vị hôn phu:
- Anh ngủ có mệt lắm không? Ở đây bức quá !
Phải, cả nhà đều bằng kim khí: cột sắt, vách tôn, nóc cũng lợp tôn. Trong ấy nóng như trong lò lửa.
Nam làm thinh giây lâu rồi day lại nói, giọng quạu quọ:
- Bức lắm. Nhưng thằng gác đèn nói chuyện nghe êm như gió thoảng nên cũng đỡ phần nào.
Lệ khổ đến muốn cắn lưỡi mà chết. Nếu hắn chỉ ghen bóng ghen gió
thì nàng có thể khinh hắn để an ủi lòng. Đằng nầy nàng lại có lỗi phần
nào, thì không khinh hắn được. Mà lỗi đâu có nặng cho cam, nhưng ai biết
cho mình; thành ra cũng chẳng gây được với hắn để tự bào chữa.
Nàng ôn tồn nói:
- Người ấy là người ơn của ta, anh cũng nên nhẹ lời mà đừng gọi thằng nầy thằng kia.
- Binh hả? Được, tôi sẽ để hai đứa ở đây mà gác đèn, rồi trả ơn cho nó.
Lệ chỉ biết thở dài.
Thấy Sơn tuột xuống, Nam chấp tay sau mông, đi qua đi lại trên
sàn, mặt hầm hầm. Anh ta nện mạnh gót trên ván, đi rất mau, đó là dấu
hiệu tức giận và nhứt là đang nghĩ nhiều.
"Anh ta đang toan tính gì trong trí?" Lệ lo sợ và tự hỏi như vậy.
Một đàng quyết thủ tiêu tình địch, một đàng ghen tức muốn đập chết người tình nghi. Thế nào họ cũng choảng nhau!
Lệ hối hận hết sức. Cũng vì nàng không khéo léo mới ra nông nỗi
ấy. Nàng lại tức mình quá lẽ. Đã muốn suông sẻ đường đi, không rắc rối
gì cả, mà lại chuốc lấy cái lo hôm nay và biết đâu không chuốc lấy bao
phiền bực vì cái án mạng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào!
Trời càng xế càng nóng lạ. Dưới là nước, trên là gió, nhưng ở khoảng giữa nầy lại như đống than hồng.
Sơn dẹp thùng dầu rồi cũng đi lại nữa để mà ngó mông như Nam hồi nãy.
Nam dừng chơn lại, nhìn lưng Sơn. Bấy giờ anh chàng gác đèn bất
đắc dĩ, không biết thấy cái gì dưới nước mà nhón gót rồi chồm ra ngoài
để nhìn xuống dưới ấy.
Một ý nghĩ thoáng qua làm Lệ kinh sợ hết sức: Nam sẽ nhảy đến
nắm lấy hai cái chơn kia. Vì gót đang nhón, nên Sơn sẽ bị đỡ hổng lên dễ
dàng. Rồi Nam sẽ đẩy mạnh chàng ra ngoài, không sức lực nào mà chống
nổi với cái đẩy thình lình và rất đắc thế nầy.
Nàng liếc mắt ngó vị hôn phu của nàng và thấy Nam cũng đang nhìn
trừng trừng vào hai cái cẳng của Sơn. Chắc chắn trong đầu anh chồng
ghen nầy một cuộc toan tính cũng đang nổi lên.
Nhưng sao Nam lại xây lưng, bỏ dự định để đi đi lại lại như
trước? Có lẽ hắn nhớ đến hai cánh tay cứng rắn của Sơn, và nghĩ rằng khó
ăn nên thôi. Sơn mà cố níu bệ cửa được rồi, rồi co duỗi chơn một lúc là
hắn sẽ đuối sức, và chừng đó tình thế bị thay đổi ngay.
Lệ thở ra nhẹ nhõm.
Nàng tức sao Sơn không đề phòng gì cả, làm như không biết là Nam đang ghen tức và có thể giết người.
Sơn cứ bình tĩnh đứng đó mà dòm ghe qua lại. Độ chừng tàn một điếu thuốc, Nam lại dừng chơn khiến Lệ phải một phen hồi hộp nữa.
Nàng nín thở xem Nam làm gì bận nầy. Anh chàng chết đuối hụt
bước lại một góc nhà, cúi xuống cầm lên một thanh sắt đã han rỉ. Thanh
sắt to bằng ngón chơn cái và dài độ một thước. Hắn ngắm nghía một hồi
rồi quả quyết bước lại chỗ Sơn đứng.
Khủng khiếp, Lệ kêu lên một tiếng thất thanh.
Sơn giựt mình day lại thì thấy Nam đang vụt thanh sắt ra một cửa sổ gần đó, vừa vụt vừa nói:
- Mẹ! Bay gần quá, chọi thử coi có trúng không.
Sơn hỏi:
- Gì đó chị Lệ?
- Trời ơi, em thấy con chim lớn nó xớt con chim nhỏ.
Sơn dòm ra thì không thấy chim đâu cả. Nhưng chàng không ngờ gì
hết, vì cả Nam và Lệ đều có lý, cả hai đều có thể thấy chim, một đàng
toan chọi con chim bay gần, một đàng sợ con chim xa nào xớt con chim nhỏ
nào đó.
Lệ thì bối rối trông thấy.
Nàng tìm công việc gì làm cho dịu bớt sự rộn óc, và sực nhớ lại đã gần chiều. Nàng nói với Sơn:
- Anh cho em mượn cái hộp quẹt coi.
Sơn không phản đối việc Lệ nấu cơn lần thứ nhì và trao hộp diêm
cho nàng. Vừa quẹt lửa, Lệ vừa dòm chừng hai người con trai. Bấy giờ Sơn
cũng chấp tay sau mông, đi đi lại lại như Nam.
"Hai đứa nó đang âm thầm toan tính đập nhau đây?" Lệ nghĩ thầm.
Thật là buồn cười. Hai người con trai, đi qua đi lại mãi trong
một buồng hẹp, không nói với nhau một lời, bộ tịch bứt rứt như hai con
khỉ bị nhốt chung chuồng.
Lệ mong chiều xuống, trời mát sẽ làm cho họ bớt hăng. Nhứt là
bữa cơm sẽ khiến họ nặng nề ra, chỉ tính chuyện nghỉ ngơi mà quên dự
định làm điều hung dữ.
Cơm đã chín, khô đã nướng xong mà hai gã nầy vẫn đi không biết
mỏi. Lệ trải đệm dọn bữa xong xuôi, kêu họ, họ mới chịu dừng bước.
Khi cả ba đều ngồi lại, Lệ mở lời liền cho không khí bớt lạnh.
Nàng hỏi Sơn:
- Có một ngọn đèn nhỏ xíu mà tại sao phải đến sáu người phục dịch?
- Sáu người là còn ít đa. Là vì chúng tôi phải thay phiên nhau
thức đêm để canh đèn, sáu người mà hết hai người khỏi thức, vị chi còn
có bốn.
- Ai khỏi thức?
- Hai anh chèo ghe.
- Đèn sao lại phải canh?
- Sợ nó tắt thình lình.
- Nó hay tắt lắm à?
- Trên thực tế, đèn nầy chưa tắt bao giờ cả từ mấy mươi năm
nay. Nhưng theo lý thuyết thì đèn nào cũng có thể tắt cả nên phải canh
chừng.
Vả lại quanh đèn có lồng kính. Hơi ẩm phủ lồng kính ấy về đêm,
khiến đèn hay mờ, cứ độ nửa tiếng đồng hồ là phải lau kính một lần.
- Khổ quá hớ ! Nhưng có gì nguy hiểm không anh?
- Đèn nầy nhỏ nên không sao. Cây hải đăng ngoài Vũng Tàu sáng
hơn gấp một trăm lần. Nên chi lão lau kính phải mù về sau, chỉ vì lão
nhìn ánh sáng dữ dội mỗi đêm.
- Chiều tối rồi mà họ không về, rồi anh một mình làm sao cho kham?
Lệ hỏi điều đó và rất băn khoăn về nó. Từ hồi nấu cơm đến giờ,
nàng trông đứng trông ngồi những người đi vắng. Cứ chốc chốc nàng liếc
ra các cửa sổ xem coi có chiếc ghe nào xáp lại gần nhà đèn hay không.
Họ mà về thì thoát: Nam chắc chắn không dám dở trò gì bậy bạ, còn Sơn thì cũng không ra tay cược.
Sơn tuy cũng mong thế, nhưng biết bạn không dám ở đêm trên bờ nên ít hy vọng lắm. Chàng đáp:
- Thế nào rồi họ cũng về
- Có bao giờ họ không về chăng?
- Chưa bao giờ.
- Em cứ lo đêm nay là đêm đầu mà thủ tục nhà nầy bị sai chạy.
Ăn cơn xong, Sơn cũng kéo nước cho Lệ rửa chén như khi sáng. Nam
thì ngồi nhăn mặt một lát rồi kêu đau bụng. Giây phút sau, hắn đi cầu
tiêu liên tiếp.
Suốt mấy ngày nghỉ mát, Lệ và Nam ăn rất nhiều hải vị. Đó là
thức ăn nhuận trường mạnh, lắm khi có tánh chất tẩy rửa, nên Nam bị như
vậy không ai ngạc nhiên hết.
Bóng tối đã phủ lên lai bờ sông. Chỉ còn dòng nước là còn lóng lánh ánh sáng thừa của ngày hấp hối.
Sơn căn dặn Lệ:
- Đêm hôm tăm tối, nếu cô có sợ thì đóng kín cửa bên trong.
Khóa kiên cố lắm, cô có thể tin cậy nơi nó được. Có gì cô kêu lớn lên là
có tôi.
- Anh ở đâu?
- Tôi ngồi trên đài suốt đêm nay... nếu họ không về.
Lệ rùng mình khi nghe Sơn nói đến sự có thể ấy: họ không về.
Nhưng nàng yên lòng được đôi chút mà biết Sơn sẽ không ngủ chung với Nam
ở buồng ngoài.
Nói xong, người gác đèn trẻ tuổi đi lại chiếc thang sắt, Lệ bước theo bạn, nói nho nhỏ:
- Anh coi chừng đêm nay!
Không, nàng không bất công, "lo cho chồng thì ít, lo cho trai thì nhiều". Nhưng nàng tin rằng chỉ có Sơn là bị hăm dọa.
Sơn leo chậm rãi. Lệ ngước nhìn theo cho đến khi phân nửa thân trên của chàng chun vào lồng sắt trên ấy, nàng mới rời nơi đó.
Vừa lúc ấy Nam ở trong cầu tiêu bước ra. Cầu tiêu chiếm một xó nhà. Nó hẹp quá nên không ai thấy đó là một cái buồng.
Lệ hỏi:
- Anh làm sao vậy?
- Đau bụng lắm. Nam đáp xẳng lè.
- Khổ quá, không có thuốc men gì hết. Tuy vậy, có gì anh cũng kêu em.
Rồi nàng cũng vào buồng vệ sinh, cẩn thận thế cho xong đâu đấy, hầu tối khỏi ra ngoài, nơi mà nàng sợ sệt.
Bóng tối đã dày đặc khi Lệ trở ra và vào buồng riêng của mợ Sơn.
Sơn đã lên đèn trên kia. Nhưng đó là một cây đèn nhỏ và bất động, nên ánh sáng không đi xa.
Ngoài kia, ngọn hải đăng trên nổng bên tả của Vũng Tàu giống như
cây chổi trong tay một đứa trẻ nghịch ngợm, cứ quay tròn và quét chân
trời ở bốn phương tám hướng.
Phường đóng đáy đã treo trên đầu cây cột đáy bìa một lồng đèn
cho ghe thuyền thấy mà tránh. "Chắc là đèn bão", Lệ nghĩ thế, và lấy làm
lạ không biết ngày xưa, ta chưa nhập cảng đèn bão thì treo bằng đèn gì
để chịu nổi gió nầy.
Cây đèn lắc lư như có ai huơi để làm ám hiệu trong đêm tối, khiến Lệ nhớ tới câu hát, và ngâm nho nhỏ:
Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.
Càng về khuya gió càng thổi mạnh. Trong nhà tất cả cái gì kêu
được đều kêu lên: mái tôn, cánh cửa, ngọn sóng đánh vào cẳng nhà sàn.
Ngôi nhà đèn nhiều khi như bị lay chuyển và đứng không vững nữa.
Lệ nằm xuống chiếc chiếu trải ngay trên sàn gỗ, tai lắng nghe động tịnh bên ngoài. Nàng nhận thấy Nam thưa đi cầu lần lần.
Đến một khi kia, rình rất lâu mà không nghe tiếng bước của Nam,
nàng đâm lo. Việc đi cầu của Nam như là một ngọn đèn hiệu, chỉ rõ hắn
đang làm gì. Bây giờ im lìm, thì còn biết hắn ở đâu.
Ngồi lâu, Sơn chán và mỏi mệt quá, nên ngủ gục mấy lần. Lần chót
chàng đang mơ thấy mình cưới được Lệ thì tiếng còi tàu vang rền đánh
thức chàng dậy.
Sơn vội lau lia lau lịa lồng kính, và dòm ra ngoài. Một chiếc
tàu lớn đen thui, lù lù tiến tới. Trong khối đen ấy trổ ra vài cái lỗ
tròn và sáng.
Sơn tự hào là mình đang thủ một vai quan trọng, cứu mạng hàng
ngàn người trên đó. Nếu đèn tắt, tàu sẽ rướn lên cồn, và sẽ có bao nhiêu
người tử nạn?
Tàu qua khỏi đó rồi, chàng không dám ngồi nữa, sợ ngủ quên. Lồng
sắt nhỏ quá, chàng phải thòng chơn xuống đứng trên một nấc thang.
Bỗng chàng nghe một tiếng kêu kinh hãi dưới kia, rồi gì như là
một vật nặng rơi xuống nước. Giọng kêu là giọng phụ nữ, thì còn ai khác
hơn là Lệ nữa.
Sơn nhảy một cái thì rớt xuống sàn gỗ một cái đụi. Chàng bấm đèn
ló rọi quanh thì thấy Nam đang nằm ngủ. Nhảy một cái tới cửa buồng, Sơn
vặn cửa thì thấy không khóa.
- Thôi chết rồi. Chàng kêu lên rồi không thèm rọi trong đó, Sơn nhảy lại cầu tiêu.
Chàng bước vào cầu, một tiếng rơi đánh đùng xuống nước!
Đêm dày mà mặt sông vẫn sáng. Sơn thấy Lệ đang lội lại chơn sắt, vội hỏi nàng:
- Em có sao không?
Lệ chỉ làm thinh mà lội. Sơn bắt kịp bạn nơi chơn nhà sàn và nói:
- Để anh cõng em lên.
Lệ hất tay chàng, và tự lực ôm chân sắt mà lên. Lên tới trên, Sơn lại nói:
- Em phải lấy quần áo anh mà thay mới được, đừng làm như khi sáng nữa.
Lệ vẫn ngậm tăm, ngoe nguẩy đi vào buồng và khóa chặt cửa lại.
Sơn tần ngần đứng nơi cửa rất lâu, đoạn thở ra rồi lững thững trở lại thang sắt.
Gió mạnh về khuya thổi vùn vụt vào quần áo ướt mèm của chàng mà
Sơn không nghe lạnh. Chàng bận lo Lệ giận chàng và hy vọng mong manh của
chàng khi xưa sẽ tan ra như bèo gặp bão.
Sơn ngồi đó lâu lắm, đâu có hơn một tiếng đồng hồ. Thèm một điếu thuốc, chàng lau sơ lồng kính rồi tuột thang mà xuống.
Anh sáng đèn trên soi mờ mờ gian buồng dưới. Nam vừa thức giấc
nghe động dòm lên thì thấy hai ống quyển của Sơn thòng xuống. Một tia
sáng xẹt ra trí hắn. Lẹ như chóp, hắn bước nhẹ lại góc buồng cầm lên một
thanh sắt y hệt thanh sắt khi chiều, rồi nhắm nhíu kỹ lưỡng, hắn nhảy
tới đập ngang vào nhượng của Sơn. Vố đập mạnh hết sức người, Sơn dầu
xương thịt bằng sắt cũng phải sụm.
Nhưng lạ quá, tiếng động lại nghe như hai cây sắt chạm nhau chớ
không phải tiếng sắt chạm vào thịt. Nam đau tức nơi tay đến điếng người
và khủng khiếp hết sức mà thấy Sơn nhảy xuống một cái đụi như không có
việc gì xảy ra.
Hắn có dè đâu bên ngoài và cạnh cái thang, còn một cột sắt nhỏ
đứng lên để chống lồng sắt của cây đèn. Thanh sắt hắn đập vướng phải cột
kia nên Sơn không bị thương như hắn tiên đoán.
Sơn lẹ làng nhảy đến chụp tay Nam và vặn mạnh. Đang bị đau tức,
bây giờ bồi thêm cái vặn nầy, Nam la oái một tiếng rồi buông khí giới.
Nhưng hắn vẫn còn tỉnh táo. Hắn co giò tống cho Sơn một đạp thật
mạnh. Bị đạp thình lình, Sơn té ngửa xuống sàn. Nam nhảy tới đứng đè
lên bụng tình địch.
Trong giây phút đau điếng, Sơn thất thần. Nhưng sau một lúc ngắn
chàng hoàn hồn lại. Chàng nắm lấy hai cườm chưn của Nam mà xô đi. Nam
ngồi xuống thật mạnh cốt dùng sức nặng của tốc độ ngồi để làm ngất địch
thủ. Nhưng sức Sơn còn bền, bụng đau muốn chết mà vẫn chưa việc gì.
Chàng ngóc dậy níu lấy Nam và lần nầy xô được.
Hai người con trai bây giờ nằm đè lên nhau, ôm nhau mà vật. Khi
người nầy nằm trên, khi kẻ kia lấn thế, nhưng không ai dám buông ai ra
cả.
Sơn dang thân mình phía dưới ra được, rồi co đầu gối lên thúc mạnh vào đì của Nam một cái.
Anh chàng giựt thùng kêu lên một tiếng lớn rồi buông xụi tay chơn.
Biết Nam chỉ đau quá mà ngất đi trong giây phút thôi, Sơn lật đật ngồi dậy lấy thanh sắt mà Nam bỏ rơi hồi nãy.
Chàng giương oai đưa khí giới lên toan đập xuống một cái cho nát đầu người nằm đó thì bỗng nghe sau lưng Lệ kêu:
- Hãy khoan!
Sơn hạ tay xuống nhìn Lệ mà nói:
- Chắc em đã thấy cuộc đánh nhau nãy giờ. Anh chỉ tự vệ thôi.
- Tự vệ bấy nhiêu đó là đủ rồi.
Sơn không buông cây sắt, bước lại trước mặt bạn mà nói:
- Em Lệ, anh phải giết nó, vì nó là chướng ngại trong cuộc tình
duyên của đôi ta. Em cứ nhắm mắt đi cho anh hạ thủ, em không có tội gì
đâu cho dầu đối với lương tâm của em.
- Vô ích, đã trễ quá rồi!
- Sao lại trễ em. Em yêu anh mà chỉ vì còn nó. Một khi nó trôi
lềnh bềnh trên sông Cần Giờ nầy rồi, thì ta sẽ xuôi chèo mát mái với
nhau.
- Trễ quá rồi. Anh mà hạ sát Nam hồi chiều chắc tôi cũng chẳng
cho. Nhưng nếu lỡ như thế thì tôi cũng còn có thể lấy anh được, còn bây
giờ thì...
- Thì sao?
Sơn lo lắng vì thấy Lệ không xưng em nữa, mà chỉ xưng tôi thôi.
- ... thì đã trễ như tôi đã nói. Anh đã lộ chơn tướng như Nam rồi.
- Lộ chơn tướng? Chơn tướng anh làm sao?
- Nó cũng hèn như chơn tướng của Nam vậy.
Sơn rụng rời thả rơi thanh sắt cầm tay.
- Hèn, anh hèn ?
- Phải. Nếu anh giết Nam trong một chiến đấu oanh liệt như bây
giờ thì đó là chuyện khác. Đằng nầy, trước đó, anh đã âm mưu ám hại, ám
sát Nam một cách không đường hoàng như người quân tử.
- Tôi ám sát Nam?
Tới phiên Sơn cũng xưng tôi trả lại tiếng tôi của Lệ.
- Phải, anh ám sát Nam, nhưng ám sát hụt. Tôi hỏi anh tại làm
sao mà ván lót trong cầu tiêu lại bị mở con vít? Tôi bước vào đó là bị
sụp hầm, cả ba tấm ván đều di động như cái đu đòn bẩy.
Sơn tái mặt đi, thả rơi mình xuống sàn gỗ. Thì ra Lệ đã biết.
Hèn chi nàng không hề trả lời lấy một tiếng khi Sơn nhảy theo vớt nàng,
lúc nàng sụp cầu tiêu.
Quả Sơn có gài bẫy để cho anh chàng không biết lội té xuống nước
mà chết luôn. Như thế ổn hơn, Lệ và pháp luật có thể tin rằng đó là tai
nạn rủi ro.
Rủi quá là người chột bụng lại ngủ quên, còn người đáng lý không dám ra lại bị sụp hầm.
Số là Lệ lo lắng quá nên bị chứng buồn tiểu tiện láo nên mới lọt vào bẫy của Sơn.
Giây lâu Sơn mới nói được, giọng ngượng nghịu:
- Cho dẫu thế, tôi cũng không đến đỗi hèn như đứa giành thùng.
- Y như nhau. Nam còn tha thứ được hơn anh vì hắn bị bản năng
tự tồn sai khiến. Còn anh, sao anh không đánh nhau đường hoàng với người
ta mà lại làm chuyện mờ ám như vậy.
- Tốt! Cô sẽ làm vợ thằng giành thùng. Tốt lắm!
- Tôi sẽ không làm vợ ai cả. Tôi chán bọn con trai các anh lắm
rồi. Các anh giành thùng, giành ăn trong cơn nguy, y như con thú. Các
anh chết vì một người đàn bà, các anh giết nhau vì một người đàn bà,
trời ơi, vô lý và trẻ con hết sức! Lại giết nhau một cách ám muội nữa!
Ngày mai, tôi sẽ quá giang ghe thương hồ mà đi riêng một mình, và không bao giờ gặp các anh nữa.
Bấy giờ đã ba giờ khuya. Ghe ai qua đó, và để đỡ buồn ngủ, một anh bạn chèo ghe hát lên rằng:
Hò... ơ...
Đèn Cần Giờ đêm đêm sáng tỏ,
Ghe lớn, ghe nhỏ nhìn thấy rõ - mà vào,
Biết ai lòng dạ thanh cao...
Không bao giờ câu hò chèo ghe ấy lại thấm thía nơi lòng Lệ bằng
đêm nay. Và ngọn đèn Cần Giờ soi sáng đêm trường từ mấy mươi năm rồi,
hôm nay lại soi sáng cả lãnh vực sâu thẳm nhứt của lòng người.




