Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2016

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP


Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những thắt lưng dài đỏ hoe, những đôi dép cong nho nhỏ. Những cảnh ấy vốn có thực. Nhưng dầu sự thực không có thì nhà thơ sẽ tạo ra, khó gì. Mặc cho những nhà khảo cổ cặm cụi tìm nguyên do câu chuyện hai vị thần dành nhau một nàng công chúa, thi nhân cứ cho là có thực và người thấy khi Thủy Tinh đã bắt quyết gọi mưa để khoe tài, thì Sơn Tinh chẳng chịu thua, liền:

Vung tay niệm chú: Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm cổm bò
Chạy mưa.

Sáng hôm sau, Thủy Tinh cưỡi rồng vàng đến xin cưới:

Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai,
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.

Nhưng chậm mất rồi. Sơn Tinh đã đến trước. Tức quá, Thủy Tinh liền ra lệnh cho bọn đồ đệ dương oai:

Cá voi quác mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng.
Càng cua lởm chởm giơ như mác;
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.

Ai xem những cảnh ấy mà không buồn cười. Thi nhân cũng chỉ muốn thế: kiếm chuyện cười chơi. Cũng có khi người cười những nhân vật chính người tạo ra, như cái cô bé đi Chùa Hương trong thiên ký sự chép những câu thật thà:

Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giầu.

Có khi chẳng còn biết người muốn cười ai. Sau khi tả cái đẹp của Mỵ Nương, người thêm một câu:

Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ,

Người vờ ngơ ngẩn để kiếm cớ diễu mình chơi, hay người muốn diễu những kẻ đứng trước gái đẹp bỗng thấy hồn thơ lai láng?

Lại có khi không diễu mình không diễu người, thi nhân cũng cười: cười vì một cảnh ngộ. Như khi Sơn Tinh và Thuỷ Tinh cùng đến hỏi Mỵ Nương, Hùng Vương sung sướng nhìn con:

Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng cũng hơi nhiều.

Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Suất, Tú Xương, đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Những cảnh, những người đã khiến thi nhân cười cũng là những cảnh, những người thi nhân mến. Người mến cô bé đi Chùa Hương và cùng cô bé san sẻ nỗi ước mơ, sung sướng, buồn rầu. Người mến nàng Mỵ Nương. Lúc Mỵ Nương từ biệt cha đi theo chồng, người thấy:

Lầu son nàng ngoái trông lần nữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.

rồi:

Nhìn quanh khói tỏa buồn man mác,
Nàng kêu: "Phụ Vương ôi! Phong-châu!"

Một điều lạ là những câu tình tứ như thế ghép vào bên cạnh những câu đến buồn cười mà không chút bỡ ngỡ. Cái duyên của Nguyễn Nhược Pháp là ở đó.

Chắc Nguyễn Nhược Pháp không chịu ảnh hưởng A. France, nhưng xem Ngày Xưa tôi cứ nhớ đến cái duyên của tác giả Le livre de mon ami. Phải chăng Nguyễn Nhược Pháp cũng hay diễu đời và thương người như A. France? Không, nói diễu đời e không đúng. Nguyễn Nhược Pháp còn hiền lành hơn. Nguyễn Nhược Pháp chỉ muốn tìm những cảnh, những tình có thể mua vui. Dầu sao, tôi thấy Nguyễn Nhược Pháp già lắm, khác hẳn người bạn chí thân của người là Huy Thông. Người nhìn đời như một ông già nhìn đàn trẻ con rất ngộ nghĩnh mà cũng rất dễ yêu, mặc dầu người vẫn còn trẻ lắm. Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ. 

(Trích Thi nhân Việt Nam)    
 HOÀI THANH - HOÀI CHÂN   

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

"HÒN VỌNG PHU" RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO?



LÊ THƯƠNG (Nhạc sĩ)

Thuật lại việc sáng tác ba bài Hòn Vọng Phu, tôi phải kể những bước luân lạc liên tiếp tại xứ dừa Bến Tre, và những rung cảm có lúc êm đềm, có khi ghê rợn gần như tuyệt vọng, đã giúp tôi chắp nối tình tiết thành một truyện ca xuất bản ròng rã từ 1945 đến 1948 tại Sài Gòn.

Nếu tôi sống sót ngày nay tới một cao niên đáng kể cũng là mệnh số, và một phần lớn nhờ sự che chở của những ân nhân dân dã miền Nam “ anh Tư Giồng Sầm, các ông bà đầu tộc đạo, hai cô Chồn, cô Cheo, anh chị Ba gần đó, và riêng hai em Ánh và một người quên tên đã là bạn đường đi ca hát kháng chiến mấy tháng thu 45 sang xuân 46.


THÂN PHẬN CÁC NGƯỜI ĐÀN BÀ HÓA ĐÁ

Truyện người đàn bà chờ chồng hóa đá là một vết tích của lòng đau xót vì chiến tranh liên miên suốt bao đời tại Đông Á nên có nhiều đá vọng phu.

Việt Nam có từ lâu đời mấy câu ca dao:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Nàng Tô Thị là vợ Dậu Thảo đi chinh chiến tại phương Bắc. Tượng nàng đã được mọi người nói tới khi thăm vùng Lạng Sơn.

Miền Trung có đá vọng phu vùng Phú Yên gần đèo Cả, một chốn núi non cheo leo, hiểm trở.

Hà Tiên, trong vịnh Thái Lan có Vọng Phu thạch, chỉ là mấy hòn đảo có đá đứng sừng sững.

(Ông Võ Long Tê đã viết một tập ký sự bằng tiếng Pháp kể nhiều hòn vọng phu khác, chua thêm thơ văn chữ Hán theo bộ sách Đại Nam nhất thống chí rất đầy đủ, mà chúng tôi xin được miễn kể lại).

Gần Việt Nam nhất có Vọng Phu thạch ở bên phần đất nhượng địa của Trung Quốc cho Hồng Kông là Cửu Long. Bà này đứng trên sư tử Đầu sơn, và cõng con trên lưng theo cách thức Trung Hoa chính cống.

Còn nhiều đá vọng phu khác mà tôi không rõ…


TRUYỀN KỲ DÂN GIAN MIỀN TRUNG

Ngày xua, có hai anh em nhà kia vì tao loạn nên sống xa nhau. Lớn lên không còn biết nhau là ai nên đã kết duyên với nhau, rồi có một đứa con đang tuổi bế bồng.

Ngày kia, lúc chồng gội đầu cho vợ, đã khám phá ra một cái sẹo nhỏ trên đầu vợ, hỏi ra mới biết là chính chàng đã gây ra nó hồi hai người còn bé. Như vậy, chàng đã lấy lầm em gái mình.

Không nói cho nàng biết, chàng ra đi biền biệt không về. Người vợ thương tiếc chồng cứ ngày ngày lên đầu non đợi chồng rồi lâu ngày hóa đá Vọng Phu.

Tích truyện dân gian là thế.


CHINH PHỤ NGÂM KHÚC

Cảm mến thân phận người chinh phụ qua Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn thị Điểm, lại đang sống trong khí thế cửa thời cuộc năm 1945, tôi tìm lối thoát ra ngoài tâm sự truyền kỳ tích cũ bằng cách thêm hào khí cho cuộc ra đi của người chồng (chinh phu).

Trong các khúc của Chinh phụ ngâm có sẵn những yếu tố rung động tha thiết, đẹp như lời tình ca. Thí dụ :

Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?...

Tiếp theo có các địa danh : Man Khê, Tiêu Tương và các điển tích khác…

Quả thật không có gì đẹp hơn để chuyển cuộc ra đi của người chồng vì mối tình ngang trái thành ra đi vì đại nghĩa non sông, và người đàn bà cũng đúng thêm là người chinh phụ.

Thân phận đàn bà từ trước đến sau vẫn phải ôm lấy hạnh phúc nhỏ bé của mình mà chịu các lời ăn tiếng nói của người đời có đôi lúc bất công. Đã đến lúc trả lại cho họ cái chức phận thiêng liêng, cao quí của lòng tiết nghĩa.

Nàng đã thành đáđợi chồng, chứ không phải đương nhiên mà thành đá. Thành đá đây là thành chứng quả tình thâm : tình vợ chồng chưa toại lòng nhau đã cách biệt, tình cha con chưa tròn ôm ấp đã chia ly, tình đồng loại chưa sum vầy đã xa cách.

*

Đến đây tôi tự hỏi : làm sao nói lên được bằng ca khúc các suy nghĩ mông lung, diệu vợi đó?

Chỉ giàu tình cảm và tưởng tượng, đồng thời nắm được một số kinh nghiệm viết nhạc, tôi “liều thân” viết Ngày ra đi tức Hòn vọng phu I  vào năm 1945.

Lúc đó tôi đang sống bên bờ con kênh Chạc Sậy nối liền sông Đại (một nhánh của công Cửu Long với sông Bến Tre).


HÒN VỌNG PHU I (NGÀY RA ĐI)

Còn trong phong khí lời thơ Chinh phụ ngâm, tôi tả cuộc ra đi của người chinh phu:

Lênh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường…

Sau một câu mô tả cuộc tiễn đưa có chén ly bôi và tiếng nhạc, tôi dùng thẳng địa danh như điển tích mà ngày xưa các cụ quen dùng như của chung văn hóa phương Đông tượng trưng, xa xôi cách biệt, không cần chính xác về địa lý như ngày nay.

Qua Thiên san kìa ai tiễn rượu vừa tàn…
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng
Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con

Phiên khúc 2 (bài 1) mô tả bằng hình ảnh khác cuộc chia ly đã thành ngày vĩnh biệt của đôi vợ chồng trẻ:

Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con.

Hòn Vọng Phu I : một bức tranh với vài nét tiêu sơ theo một nhạc điệu quân hành, tôi đã thực hiện và gửi cho cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước trước ngày 23-9-1945.

Đó cũng là ngày Pháp cướp lại Sài Gòn – Chợ Lớn từng màng một. Và thanh niên đã kháng cự bằng tầm vông vạt nhọn.

N.S. Lê Thương (1914-1996)
Cuộc phân tán lực lượng đã bắt đầu. Nhiều cửa hàng đóng cửa, gia đình khăn gói di tản. Đêm đến, Thanh niên Tiền phong nấp sau những cây sao lớn kiểm soát việc qua lại.

Vài ngày sau có cả lính của tướng Gracey, cốt để giải giới quân Nhật, lính Pháp cũng len lỏi đi khắp nhiều nhà vùng quận Một.

Những ngày tao loạn sắp lan tràn…

Hòn Vọng Phu 2Hòn Vọng Phu 3 chuẩn bị hình thành…


Nghe bài hát "Hòn Vọng Phu I" xin mời bấm dưới đây:

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

DÙ AI NÓI NGỬA NÓI NGHIÊNG


MỘT KỶ NIỆM ĐẸP VỀ CA SĨ THANH LAN

Dù ai nói ngửa nói nghiêng

Trích nhật ký của LÊ GIANG (Nhà thơ)

● Ngày 17-1-1990

Tôi thở phào, vậy là hôm nay đã xong phần thu hình chương trình Dân ca Nam Bộ chào mừng Tết Canh Ngọ.

Ngoài nỗi vui bồi hồi, nỗi hồi hộp phập phồng chờ ngày Đài Truyền hình Thành phố phát sóng, hình như còn một cái gì đó khiến lòng mình nhơ nhớ, nghe mới lạ, xen lẫn trong những bài dân ca được đài chăm chút khá hơn mọi lần, may mắn lọt vào tuổi con Ngựa của mình.

Đó là mình đang có cảm tình với Thanh Lan.

Trong chương trình này, Thanh Lan hát hai bài. Không phải chọn ngôi sao để câu khách cho một chương trình dở, mà mình đã ưng bụng, có rắp tâm từ lâu, khi xem Thanh Lan hát bài Mưa rơi, dân ca Xá, do nhạc sĩ Nguyễn văn Tý biên soạn.

Dù chưa quen, chưa một lần nói chuyện với Thanh Lan (mà đối với nghệ sĩ tài năng thì chuyện này không phải là quan trọng!), nhưng mình hình dung được cô ấy sẽ xử sự ra sao với điệu Hát sắc bùa rất thâm thúy, mang hơi hướng nghi lễ cầu chúc sự phát tài. Nàng sẽ ứng phó đẹp mắt bài Chèo thuyền đưa em đi chơi và nàng sẽ đón những tráng sĩ Đua ghe Ngo trong bài dân ca Khmer nổi tiếng, tươi mát, trẻ trung biết bao. Kết quả ấy đã lồ lộ khi mình nhắm mắt lại mường tượng.

Bữa thu tiếng, Thanh Lan có mặt tại phòng thu đúng “bon” giờ hẹn, nhưng sự trễ nải của nhiều người vẫn là căn bệnh trầm kha của cái xứ này.

Hình như Thanh Lan không lạ gì cái kiểu chín đợi mười chờ này, nàng tìm chỗ, nằm dưỡng sức trên chiếc ghế xếp sắt ở góc phòng thu, coi đồng hồ như “cơm sôi gạo nhảy, lửa cháy phừng phừng”. Bỗng nàng bật dậy:

- Em phải đi ngay, đã mười giờ đúng hẹn tới trường quay.

- Em nán một chút – Mình hy vọng mỏng manh.

- Không được, mấy chục người đợi em. Em mà đến trễ, họ nhìn em như con quái vật.

Thoạt tiên, mình bị sốc mạnh, bất giác nhìn thẳng Thanh Lan, nghĩ bụng : “Nàng như vậy  mà ai nỡ gọi nàng như con quái vật, nói nặng quá”. Nhưng mình thấy thấm dần sự so sánh khắt khe ấy, với một nghệ thuật “hợp đồng tác chiến” của ngành điện ảnh.

Thanh Lan cương quyết trang điểm lại và đường bệ nện gót giày cao gót, vẫy chào vui vẻ những người vốn có thói quen kiên nhẫn ngồi chờ…

Nàng lại trở lại đúng hẹn vào ba giờ chiều hôm đó. Tươi tắn, trẻ trung, sẵn sàng bước xuống… thuyền cho anh chèo đi chơi. Nhưng, thuyền lại mắc cạn tới… chạng vạng. Chờ “nước lớn”, mặt trời lặn rồi, Thanh Lan mới được cất tiếng thổ lộ tâm tình. Hát đi hát lại, nghe đi nghe lại. Ai ai cũng nghe hay rồi, trữ tình rồi, thành phố đã lên đèn rồi, thở phào rồi ; vậy mà Thanh Lan chưa chịu, bất ngờ năn nỉ ngược nhạc sĩ chỉ huy dàn nhạc và người phụ trách thu thanh, cho hát lại. Cái tạng của mình rất hạp với người có nết trách nhiệm với khán giả cao như vậy, mình bèn nảy sinh lòng yêu quý Thanh Lan khôn cùng, muốn hun một miếng liền.

Mình làm ngay một bài tính rợ, không sợ trật toán chút nào:

Thanh Lan = Đúng giờ + nghiên cứu kỹ bài hát + chim đầu đàn trong những hợp ca + không kỳ kèo kén chọn người hát với mình + rất trân trọng những bài dân ca được sinh ra trên mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.

Đáp số : làm nghệ thuật có trình độ văn hóa.

Nghĩ về một ngôi sao ca nhạc nhẹ, mình thấy khán giả yêu quí Thanh Lan là đúng, rất đúng. Không phải chạy theo thị hiếu mắc rẻ gì hết.

Em thật là dễ cưng trong lĩnh vực mà chị đang tiếp xúc với em, Thanh Lan ạ!

Và, cả ngày thu hình. Nhạc sĩ Phan Thao, người biên tập chương trình, chạy “sút móng”, mặt còn bằng hai ngón tay tréo, lúc thì không có áo xẩm, lúc lại thiếu một khăn đóng ; khi thì cái bộ áo Xtiêng giống đồ “disco” quá… Một trăm thứ thiếu, mượn không ai cho, mướn thì không có đồng lúi nào. Các tác giả thì cổ họng đắng nghét, chắt tới chắt lui cái bình nước bằng nhôm nhẹ như tờ giấy. Các ca sĩ tập họp đông đủ, ai cũng có lý do chồng khờ con dại xin thu hình trước, giận tới giận lui.

Còn Thanh Lan thì sao? Nàng tỉnh bơ ngồi kết tuội các bông hoa dại cho bài Chèo thuyền. Đội lên gỡ xuống, ngắm nghía bộ tóc giả thiếu nữ Khmer. Tẩn mẩn vuốt ve hoài mái tóc kiều diễm của cô gái Việt Nam trong bộ lễ phục khăn đóng áo dài mừng xuân. Chẳng đòi ai lo cho nàng. Nàng biết bài hát cần gì, đòi gì, người hát tự lo mới vừa ý bài hát.


Thanh Lan đã đứng trước máy thu hình. Tay vẫn không rời kiếng soi, vuốt cái tóc, di di cái má hồng, ngắm cái mắt, cái mũi, cái mi mắt chớp chớp… cho tới tiếng tích tắc đầu tiên hiệu lệnh của đạo diễn, nàng mới vội giấu cái kiếng soi dưới chậu kiểng, và “tung tăng” trước máy thu hình với một “ngoại hình” hết sức tự tin, với một nghệ thuật làm hấp dẫn người xem rất “siêu”.

Mình thấy đó là sự tồn tại, là bí quyết kéo dài sự tồn tại cho một say đắm của một đời người.

Mình cũng đang khát vọng sự tồn tại bằng những làn điệu đầy tình người của ông cha. Những gương mặt của ngày hôm nay trong phòng thu : Bích Phượng, Bảo Minh, Huyền Thanh, Vĩnh Thành, Ngọc Sơn, Đào Đức, Ái Xuân, Lý Bạch Huệ. Rồi Nhã Phương, Kim Yến, những hoàng hậu, công chúa của nhạc nhẹ, rồi vua hề Bảo quốc, rồi các cháu “Dây Leo Xanh” của mình, cứ hiện ra, cười với mình. Và, Thanh Lan! Nàng đang nện gót giày cao gót…




Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG CẢ ĐỜI VÌ SÁCH



Tôi được dịp biết bác Nguyễn Hùng Trương từ thuở còn là sinh viên trường Đại học Luật Khoa Sàigòn, trước năm 1975. Vào dạo đó, cứ mỗi cuối tuần bọn sinh viên các trường đại học quanh vùng thủ đô Sàigòn thường đến nhà sách Khai Trí của bác để tìm sách cho mình. Lúc đó, thật sự tôi và một số bạn sinh viên không rõ được tên thật của bác là Nguyễn Hùng Trương như những trang báo, phân ưu rõ mồn một tên thật của bác bây giờ. Chúng tôi chỉ biết người Sàigòn thời đó gọi bác là “ ông Khai Trí”.

Theo một số người am hiểu về bác Nguyễn Hùng Trương thì : Sở dĩ người Sàigòn gọi bác là “ông Khai Trí” vì bác là chủ nhân nhà sách Khai Trí, nhà xuất bản lớn nhất Sàigòn trước năm 1975. Bác là người say mê sách hiếm có, lúc nào cũng sưu tầm những sách hiếm quí. Bác quí sách còn hơn cả tính mạng của Bác. Đến khi ngã bệnh, nằm hôn mê mà miệng Bác lúc nào cũng nhắc đến sách!

Bác Nguyễn Hùng Trương ( tức ông Khai Trí) sinh ngày 4 tháng 7 năm 1926, tại Thủ Đức tỉnh Gia Định. Thuở nhỏ học trường tiểu học Thủ Đức và trường Trung học Pétrus Ký Sàigòn. Năm 1952 lập gia đình với bà Phùng Thị Bông. Có tất cả 4 con trai và 4 con gái, 8 cháu nội và 2 cháu ngoại.

Bác là một tấm gương sáng về khởi nghiệp, xuất thân từ nhà nghèo, tự thân lập thân từ hai bàn tay trắng!

Bác là một người căn cơ, kiên trì cần mẫn, nhiều sáng kiến về sách! Bác sống rất giản dị! Hồi nhỏ đi học, Bác thường nhịn ăn sáng, lấy tiền mẹ cho đi mua sách, báo đọc. Bác thích những sách mở mang kiến thức, sách học làm người! Đến khi giàu có, nhiều bửa ăn sáng, Bác chỉ ăn vài củ khoai lang, trong khi nhân viên của Bác lại thích ăn phở! Các con của Bác cũng chỉ cho học trường Việt bình thường ở Việt Nam chứ không học trường Tây, đi Tây như những nhà giàu khác!

Trước 30 tháng 04 năm 1975 Bác có cơ nghiệp rất lớn, ngoài hiệu sách lớn nhất miền Nam và cả Đông Dương là Hiệu Sách Khai Trí ở số 60-62 đường Lê Lợi tức Bonard cũ, Bác còn là giám đốc nhà xuất bản lớn với hàng trăm đầu sách có giá trị cùng nhà in lớn ở đường Chi Lăng Gia Định và hàng chục kho chứa sách hàng triệu cuốn tại đường Lê Lợi, Pasteur, Công Lý và Nguyễn Minh Chiếu…

Nhớ lại từ thập niên 40 trở về trước, cả Nam Bộ mới có 2 trường trung học Công Lập bậc Tú Tài dành cho người Việt là trường PéTrus Ký dành cho con trai và nữ sinh áo tím dành cho con gái ở Sàigòn và 2 trường trung học chỉ học đến lớp đệ tứ ( lớp 9 bây giờ) ở Cần Thơ và Mỹ Tho. Ngoài ra còn có trường trung học tư thục là Lê Bá Cang và trường Nguyễn Khuê ở Sàigòn. Trường trung học Chasseloup Laubat dành cho con em người Pháp hay người có quốc tịch Pháp.

Số người đọc sách nhất là sách về kiến thức, không nhiều, mới thấy công lao của Bác trong việc khai trí! Hiệu sách qui mô lớn ở Sàigòn chỉ có 2 nhà sách Pháp chuyên bán sách Pháp là nhà sách Albert Portail và nhà sách Ardin đều tọa lạc ở đường Catinat. Nhà sách Việt Nam chỉ có mấy nhà rất nhỏ vừa bán sách vừa bán thuốc cao đơn hườn tán. Sách chỉ để trong tủ kính. Nên việc nâng cao dân trí , phổ biến tri thức từ thập niên cho người Việt như là những bức xúc, tâm huyết của Bác Nguyễn Hùng Trương! Bác là một trong những người khai phá, đi tiên phong!

Bác bắt đầu bằng nghề mua sách cũ có giá trị của những người Pháp về nước bán lại và đặt mua sách quí từ bên Pháp về gởi bán cho các nhà sách ở Sàigòn kể cả nhà sách lớn của Pháp hay các quán sách báo ở lề đường hay những người bán sách báo dạo cho người nước ngoài ở mấy nhà hàng như Continental, Majestic! Bác xây dựng nhà sách người Việt lớn đầu tiên và sau lớn hơn cả những sách của người Pháp ở Sàigòn hay cả Đông Dương theo cung cách mới.

Có thể nói, nhà sách Khai Trí là nhà sách đầu tiên ở Việt Nam bán hàng theo kiểu tự chọn, khách có thể đứng đọc tại chỗ hàng giờ rồi đi ra không cần phải mua, thậm chí đọc hết cả cuốn sách cũng không cần phải trả tiền. Nữ nhân viên bán hàng mặc đồng phục, lúc nào cũng vui vẻ ân cần, trông nom một cách kín đáo…

Đến với nhà xuất bản, Bác Trương cũng thích xuất bản những sách có giá trị, phong phú cho nền văn học Việt Nam. Một trong những thú chơi đặc biệt của Bác Trương là sưu tầm sách báo. Bác cũng đã giúp rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu trước năm 1975 bằng cách mua những bản thảo có giá trị mà lại khó bán hay chưa có thể xuất bản ngay được . Có khi là hình thức giúp đỡ, bằng thể thức ứng tiền trước cho nhà văn. Bác là người bảo trợ cho Tập San Sử Địa (1966- 1975) rất có giá trị cho nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn chủ trương, do ông Nguyễn Nhã làm chủ nhiệm. Bác còn là chủ nhiệm tuần báo Thiếu Nhi và xuất bản khoảng 300 đầu sách về thiếu nhi, nhi đồng. Sau năm 1975, Bác không còn bán sách, xuất bản. Bác tiếp tục sưu tầm chọn lọc viết thành nhiều sách như Tư Tưởng Về Tình Yêu (1974), Tình Yêu Trong Danh Ngôn Và Thi Ca (1993), Thơ Tình Chọn Lọc (1993), Danh Ngôn Tình Yêu (1993), Thơ Tình Việt Nam Và Thế Giới Chọn Lọc (1998), Quê Em Mến Yêu (2001), Làm Con Nên Nhớ (2002), Chánh Tả Dành Cho Người Miền Nam (2003), Dưỡng Sinh Và Sức Khỏe (2003), Danh Ngôn Hạnh Phúc (2003), Danh Ngôn Tình Bạn ( 2003), Danh Ngôn Đàn Ông Đàn Bà ( 2003), Thơ Tình Thế Giới Chọn Lọc ( 2003), Huế Mến Yêu (2004). Sắp xuất bản : Những Bài Thơ Hay Trong Văn Chương Việt Nam. Bác Nguyễn Hùng Trương mất đi còn nhiều mộng ước về sách, còn đang dang dở! Yêu sự truyền bá kiến thức cho giới trẻ . Bác tâm đắc hai chữ khai trí cho người dân ! Nhiều người yêu sách, yêu thơ, yêu văn nhất là giới văn nghệ sĩ thương tiếc Bác, một người hào hiệp đối với văn nghệ sĩ.!

Cuộc đời vì sách, lập nên sự nghiệp lớn, hạnh phúc vì sách mà mất cơ nghiệp, khổ cũng vì sách! Con người suốt đời đam mê sách, tận tụy cho việc khai trí dân tộc Việt Nam thật sự không còn nữa. Bác Nguyễn Hùng Trương hay ông Khai Trí không còn nữa. Xin Vĩnh biệt Bác Nguyễn Hùng Trương! Vĩnh Biệt “ ông Khai Trí” ông vua sách Việt Nam của thế kỷ 20.

Theo HÀ ĐÌNH HUY