Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2023

DÌ HẢO - Nam Cao

 

Dì Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ của dì chết đã lâu. Mẹ đẻ dì là bà xã Vận, một người đàn bà bán bánh đúc xay, ngon có tiếng khắp làng Vũ Đại. Tôi biết bà là vì hồi còn bé tôi rất ưa ăn bánh đúc. Có lẽ lúc sinh tôi ra, ông trời đã định sẵn cho tôi một cái kiếp chẳng giàu sang, nên phú sẵn cho tôi cái tính thích những món ăn rẻ tiền của những người nghèo túng. Lúc có tôi thì nhà tôi chẳng còn nghèo. Thế mà tôi cứ thấy ăn cơm gạo đỏ, thổi khô khô, với rau muống luộc chấm tương ngon hơn cơm tám với thịt đông; mà cái bánh đúc xay nấu khéo còn đậm vị gấp nghìn lần cái bún tuy trắng, tuy mềm nhưng nhạt bép. Mỗi sáng, tôi cầm hai xu mẹ phát cho, theo con ở đi ra hàng: - hàng là một cái chợ nhỏ của làng tôi, họp ở ngay mặt đường, mỗi sáng chỉ họp độ một giờ là tan - từ đằng xa, tôi đã thấy những người đàn bà váy bạc phếch xúm xít quanh mẹt bánh đúc của bà xã Vận. Bà thái không kịp bán. Tuy vậy mới trông thấy tôi bà đã ngừng dao, nhặt bốn tấm bánh gói gọn ghẽ vào lá chuối, tươi cười đưa cho. Không phải bà thấy tôi ngộ nghĩnh đáng yêu. Vì bà không thể quên rằng bà còn nợ bà tôi mấy chục bạc. Cháu ngoại của một người chủ nợ kể cũng đáng cho người ta quý trọng. Tôi đưa hai xu, ôm bốn tấm bánh về. Bà bán đúng một trinh một tấm, mua nhiều hay ít thì cũng thế. Tấm bánh chẳng lấy gì làm to, so với bánh người khác có phần hơi đắt. Nhưng mà ngon hơn. Cái bột xay rất nhuyễn, vôi bỏ vừa, mịn chắc đấy, nhưng không nồng một tí nào, bẻ ra ăn với cá bống kho ráo nước cho đến cong lên, dầm vào một tí tương cua thì thật tuyệt! Về sau, ngọn gió đời đưa đẩy tôi trải qua rất nhiều cảnh huống: vất vả nhiều, nhưng cũng có lúc phong lưu, có lúc tôi có thể thừa cách mà hưởng tất cả các cao lương mỹ vị, nhưng chưa bao giờ tôi gặp một món ăn không thể làm tôi quên được cái vị thanh đạm mà vẫn đậm đà của bánh đúc ăn với cá bống dầm tương, nghĩ đến bây giờ mà tôi cũng còn muốn nuốt nước bọt.

Mà cứ nghĩ đến bánh đúc là phải nghĩ đến bà xã Vận. Chồng bà chết đi để lại cho bà một trai một gái, con chị hơn thằng em ba, bốn tuổi. Như thế chị có thể dắt em đi chơi để mẹ kiếm gạo. Nhưng một hôm bà xã bỗng nhận thấy rằng thằng cu đã có thể đi chơi một mình; hơn nữa nó có thể tha thẩn ngoài sân với con chó để coi nhà được. Con chị hóa ra thừa. Cũng phải cho nó đi ăn, đi ở với người ta để kiếm manh quần tấm áo. Chả gì cũng bớt miệng ăn. Phần cơm của nó, để em nó ăn thêm; như thế em nó được no thêm một tí nữa. Bà đã để ý nghe ngóng xem nhà nào có cần nuôi đứa ở bế em chăng. Chưa có ai buồn hỏi đến, thì một hôm bà lại nghĩ về người chồng đã chết. Khốn nạn! Khi ông đã nằm xuống đấy thì bà chẳng còn một đồng nào. Bà chạy ngược chạy xuôi van lạy hết người nọ đến người kia, mới vay được non chục bạc. Non chục bạc thì chỉ nộp lệ làng, may cho con mỗi đứa một cái áo tang và cho bà một cái mấn, rồi biện miếng trầu, bát nước cho làng xóm cũng đã không đủ rồi. Thành thử bà chỉ dám mua cho ông cỗ áo quan có non ba đồng. Rõ nghĩ mà thương! Nó vừa mỏng, vừa mọt, mộng trẽo trà trẽo trợt, giá chỉ bóp mạnh cũng răng rắc được. Của ấy được mấy nỗi mà nát? Bấm đốt ngón tay đã được sáu năm trời rồi. Cũng phải cố biện bát cơm, bát canh để thay cho ông ấy cái áo mới, chứ để thế thì tội nghiệp. Nhưng làm sao bây giờ?

Bà dẫn Hảo đến cho bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi, ngoan đạo như những người vừa biết Chúa, thích nuôi trẻ ngoại đạo, rửa tội rồi nuôi làm con nuôi. Đó cũng là một cách để con cái Đức Chúa lời ngày một thêm đông. Bà xã bằng lòng cho con gái bà đi đạo.

Bà tôi còn nhân đức, giả đăn đắt để trừ nợ dăm sáu đồng. Thành ra bà xã chỉ còn được lấy có bảy đồng bạc thôi. Nhưng hơn chục đồng còn nợ lại, từ đấy bà cứ lần khân mãi, có gặp bà tôi, cũng chỉ van lạy khất, chứ không chịu trả. Bà tôi có bực mình cũng chỉ mắng té tát mấy câu, chứ không chửi bới tàn tệ hay bắt bớ. Ấy cũng bởi bà tôi là một người đi vay.

Những khi vui chuyện, người thường kể lại với chúng tôi rằng: ngày xưa, khi ông thua bạc bỏ nhà đi, người còn phải trả hơn trăm đồng bạc nợ. Người làm lụng vất vả, chiều hôm ban mai, một nắng hai sương, quanh năm chẳng có phút nghỉ ngơi, mà không bao giờ đủ tiền nộp lãi. Vì thế, hơi bước ra khỏi nhà là lủi trốn, giá có cái áo hơi lành hay nắm gạo ăn cũng sợ người ta bắt mất. Có lần người đong được một hào gạo dúm vào vạt áo và mua cho mẹ tôi - hồi ấy mới lên ba, một nắm xôi, đã cố lẩn lút, mà thế nào cũng bị một chủ nợ tinh mắt trông thấy, con mẹ ấy có tiếng là khe khắt. Bà tôi sụp ngay xuống lạy và khóc lóc xin khất nó. Nó chẳng rằng, chẳng nói, giằng lấy dúm gạo, nắm xôi đổ vào trong nón rồi ngoắt đi. Cũng may, người phu quét chợ trông thấy thế, nghĩ tức lây, bảo nó rằng:

- Bà có bắt thì bắt của người ta nắm gạo đã là cùng lắm. Còn xu xôi người ta mua cho con người ta thì phải để cho con người ta chứ? Con người ta chịu đói, khóc có bong bóng mũi ra, từ sáng đến giờ, mà bà bắt của người ta thì nó chết. Bà cũng có con mà bà nỡ đang tâm thế à?

Con mẹ kia ngoa ngoắt, tớn môi lên:

- Ai khiến nhà bác chõ mồm vào đấy thế? Rõ khéo con tiều! Bác thương nó thì mua cho nó.

Người phu quét chợ bực mình quăng ngay cho bà tôi hai hào:

- Đây này! Tôi cho nhà chị vay bao giờ kiếm được thì trả tôi; chúng nó giàu mà coi đồng xu bằng cái mẹt!

Vì thế người ta đồn rằng người phu quét chợ phải lòng bà tôi. Nhưng bà tôi quả quyết với chúng tôi rằng: từ hôm cho bà tôi vay tiền, có gặp bà tôi ông ta chỉ lảng đi như không trông thấy nhưng chỉ mấy hôm bà tôi cũng cố tìm tiền đem trả cho ông phân minh tử tế; hai người chẳng bao giờ nói với nhau những lời có thể gọi là trai lơ. Về sau, khi bà tôi sạch nợ, và có chút tiền, mà ông tôi vẫn biệt tăm, có nhiều đám muốn hỏi bà tôi làm vợ, toàn những đám danh giá cả nhưng bà tôi từ chối hết. Bà tôi bảo: "Nếu tôi không nhất định thờ chồng, làm lụng nuôi con, thì tôi lấy người phu quét chợ ngày xưa rồi".

Một người đã khổ sở vì tiền, tất phải quý đồng tiền. Nhưng không phải vì thế mà bà tôi nỡ bắt những con nợ của người phải chịu những nỗi khốn nạn mà trước kia người đã phải chịu. Đối với bà xã Vận, người tỏ ra dễ dàng. Nhưng sự dễ dàng ấy, một phần nữa, cũng vì cô Hảo, được người nhận làm con nuôi.

Mới đầu, dì Hảo khóc lóc đến mười hôm: dù có được ăn no, mặc lành đi nữa, người ta cũng không thể phút chốc mà quên cái lều hôi hám là nơi mình đã đói rách, khổ sở với em và mẹ. Nhưng rồi dì cũng khuây dần. Dì theo mẹ tôi đi nhà thờ học kinh và "các lễ" cầu cho được rỗi linh hồn. Dì thấy đi đạo cũng vui. Dần dần người ta dạy cho dì biết có một Đức Chúa lời dựng lên trời đất, muôn vật và loài người ta, Đức Chúa lời có ba ngôi và ngôi thứ hai ra đời lấy tên là Giêsu; Đức Chúa Giêsu chịu đóng đanh trên cây thánh giá để chuộc tội cho thiên hạ... Ai tin những điều ấy thì được rỗi linh hồn, bằng ai chẳng tin, thì phải xuống địa ngục đầy lửa sinh, lửa diêm, có tiếng khóc lóc và nghiến răng. Tiếng khóc lóc và nghiến răng ken két, thì dì không sợ lắm. Hồi còn ở nhà, em dì khóc nhè nhè suốt ngày; những hôm nó nóng đầu, thì đêm ngủ nó nghiến răng ken két; quen đi thì cũng không sợ gì, nhưng dì sợ lửa sinh, lửa diêm nó thiêu đốt người ta đời đời kiếp kiếp. Có là thánh cũng không chịu nổi! Nghe nói đến địa ngục là dì lè lưỡi ra. Và dì tin. Dì trở nên rất ngoan đạo nữa. Dì và tôi đọc kinh và hát vãn với nhau suốt ngày.

Dì bắt đầu muốn xa lánh hẳn cái lều tối tăm đầy những ma cùng quỷ; thực tình, dì rất ít khi muốn về thăm mẹ ở nhà, và mỗi lần có phải về thăm mẹ, dì thấy hơi rờn rợn khi đến gần cái bàn thờ lúc nào cũng âm u như che đậy bao nhiêu là bí mật. Và đây mới thật là cái buồn não nuột: dì thấy ghê ghê ngay mẹ dì. Bà xã Vận bỗng thành người đồng bóng; những ngày rằm, mồng một, bà thường khăn chầu, áo ngự, đến điện nhà cô đồng ốc để hầu. Dì dùng những lời rất khinh bỉ để nhạo báng bà, bà nhạo lại dì, mẹ con dần dần chẳng muốn nhìn mặt nhau làm gì cho thêm bực.

Chao ôi! Nào có cứ gì phải là những người tư tưởng! Ngay ở những người không tư tưởng cũng đã có sự chia rẽ tư tưởng rồi!

Bây giờ, dì Hảo chỉ biết có mẹ nuôi; dì rất mến mẹ tôi, và yêu tôi hơn tất cả những người dì yêu cháu. Dì chỉ có một việc suốt ngày theo gót chân tôi. Kể ra, tôi đã đủ lớn để không cần ai giữ nữa. Nhưng bà tôi chỉ được có mẹ tôi, mẹ tôi lại mới được mình tôi; trong một nhà có của mà lại hiếm người như thế, lẽ tất nhiên tôi cũng có quyền bé bỏng lâu hơn những con nhà khác. Dì Hảo cũng tưởng tôi còn bé lắm. Dì tìm đủ mọi cách để nuông tôi, có lần dì không ngại trèo sang vườn hàng xóm ăn cắp ổi để cho tôi vừa ý. Những lúc đi đâu khí xa xa, vừa thấy tôi loạng choạng bước chân, dì đã đòi cõng tôi, "kẻo chân cháu dì giẹo mất". Thật là buồn cười và thảm hại. Ngồi trên lưng dì, hai chân tôi thò xuống có dễ dài hơn chân dì. Dì ngoẹo đầu đi, mặt đỏ bừng, nước mũi chảy ra, lệch xệch vác tôi đi. Thế mà tôi có đòi đứng xuống dì cũng nhất định không chịu đấy!

Sự tận tâm của dì cảm động lòng tôi. Mãi đến lúc tôi đã đi học, dì đã ngồi trên khung cửi, chúng tôi còn quyến luyến nhau. Tôi học bài bên cạnh khung cửi dì. Dì thúc giục tôi. Nghe những bài học lủng củng như "ếch kêu, chó cắn", - tôi đã học sang vần trắc - dì khen tôi giỏi quá, khó như thế mà nhớ được! Rồi tưởng những tiếng âm vô nghĩa ấy là những câu thần chú gọi cái khôn của loài người, dì cố nhẩm theo, và lâu dần thuộc lòng tất cả các bài tôi học; có lúc tôi ấp úng dì nhắc cho tôi đọc nữa; lại đến lượt tôi phục dì! Khi bài tôi đã thuộc, tấm vải của dì được ra rồi dì giũ váy mấy cái cho lông vải bay hết, rồi lại ôm tôi vào lòng mà vuốt hai cái trái đào của tôi. Những lúc ấy, tôi thấy êm ái chẳng khác gì nằm trong lòng mẹ.

*

Dì Hảo ơi! Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một buổi chiều có sương bay. Người ta đã đến đón dì vào lúc tờ mờ tối. Cũng chẳng lấy gì làm đông lắm, bên nhà trai đâu có lẻ tẻ mươi người. Về đằng nhà gái, bà tôi chỉ có dăm ba người chị em đi đưa dì, chính tôi cũng chẳng được đi. Mẹ tôi bảo: "Không có cỗ đâu: nhà người ta có trở, chỉ biện cơi trầu, bát nước". Nhưng nào tôi có đòi đi để được ăn cỗ! Tôi chỉ theo dì Hảo của tôi: từ trước đến nay, có bao giờ dì đi đâu mà để tôi ở nhà? Người ta giữ tôi lại. Tôi tức, khóc òa lên, tôi tức bà tôi, tôi tức thầy mẹ tôi, tôi tức cả dì Hảo nữa! Tôi tự hỏi sao dì cứ phải đi lấy chồng? Và ngay bây giờ nữa, dì Hảo hỡi! Có lúc tôi vẫn ân hận vì dì đã đi lấy chồng. Nếu dì cứ ở nhà, nếu dì cứ là một người dì của tôi mãi mãi, thì có lẽ khỏi khổ, ít ra, dì cũng đỡ khổ hơn bây giờ.

Nhưng mà sự ấy đã không thể đừng được. Dì Hảo đã đi lấy chồng, mang theo cho người ấy tất cả lòng yêu vẫn để cho tôi. Và người ấy đã nhận tấm lòng yêu ấy, nhận lấy mà chẳng làm gì cho đáng nhận.

Người ấy không yêu dì. Thật mà! Người ấy chẳng yêu dì Hảo đâu. Mà lại còn khinh dì là khác nữa. Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng cháu giống, tuy rằng nghèo xác. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy: dì làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa con. Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.

Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm, người ta vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu. Hắn chửi số kiếp hắn. Và sau cùng thì chửi vợ. Ồ! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu, rồi tình cờ có một bữa rượu say.

Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ dì bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc mới hăm hai. Cái cơ nghiệp của người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo ốm đau mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.

*

Nhưng rồi bệnh dì cũng qua đi. Nó qua như một thằng quái ác chán không muốn hành hạ một kẻ kiên nhẫn quá. Dì Hảo lại đi làm, lại có tiền, lại muốn có chồng để mỗi ngày ăn năm xu và hắn dùng một hào còn lại đi uống rượu. Thì quả nhiên hắn về. Hắn về với một cái quần đen, một cái áo tây vàng, túi xóc xách tiền và một người vợ theo trơ tráo. Thoạt đầu thì người vợ chính ngạc nhiên. Rồi thì tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại; phải, nhẫn nại là hơn; nếu hắn không về thì cũng thế.

Nhưng mà hắn đã về, hắn lại làm chủ cái lều và ba sào vườn ông cha để lại. Và làm chủ cái lều và ba sào vườn của ông cha để lại, hắn tưởng có quyền chẳng làm gì mà chỉ uống rượu ăn cơm. Và uống, ăn rồi, nó cười sặc sụa.

Cái con vợ bé ấy trơ tráo lạ! Nó chẳng biết làm gì cả. Nó hát những câu tục tằn. Nó uống rượu tựa đàn ông, hút thuốc tựa đàn ông, búi tóc ngược, mặc quần áo trắng tựa đàn ông. Nó sẽ lôi chồng dì vào đáy sâu địa ngục thôi! Cheo leo thay cho cái linh hồn của chồng dì!

Thế mà chồng dì say mê nó lắm. Chồng dì gọi nó là "mợ mình", và mua cho những hộp sữa bò sáu hào bảy khi nó ốm hay làm ra vẻ ốm.

Còn dì, dì biết phận dì. Dì cố nhắm mắt để khỏi trông thấy chúng. Dì chẳng hé răng nói nửa lời, nhưng dì khóc ngấm ngầm khi chúng cười vui, dì nhịn quắt ruột khi chúng ăn phung phí. Dì héo hắt đi, dì còm cõi, đúng như một con mèo đói. Nhưng nếu dì còn được như thế mãi!

Một buổi sáng, chừng như chúng nó đã cạn tiền và cạn cả lòng yêu. Dì đoán thế vì luôn hai, ba hôm, dì không thấy chúng uống rượu và cười sặc sụa. Con vợ bé vừa nhổ bọt vừa nói cằn nhằn. Anh đàn ông hõm má vào và lõ mũi ra. Hắn vừa khoằm khoặm mắt vừa văng tục. Con kia mặt sưng lên, cứ nói một câu lại choai người lên một cái và vỗ đùi đồm độp. Chúng nó nhẩy xổ vào nhau. Rồi đấm đá, cắn cấu lẫn với những tiếng gào thét ầm ĩ quá. Chẳng biết làm sao, để mặc chúng, dì bỏ đi làm. Cũng như dì đã mặc những phút mặn nồng của chúng.

Chiều hôm ấy, nhà có vẻ đám ma. Dì không thấy con vợ bé đâu. Cả chồng dì cũng thế. Nhà cửa, đồ đạc thì bừa bộn. Mấy cái nồi đất và đôi lọ xách nước tan ra từng mảnh. Lấy tiền đâu mà sắm sửa lại bây giờ. Trời ơi! Nhưng kìa hắn đã về. Hắn về có một mình, một chai rượu trong tay và những tia giận bừng bừng trong mắt. Hắn uống, rồi lại uống, uống lẳng lặng như chưa bao giờ hắn uống. Hắn uống cả chai. Rồi hắn đập chai ra, và chửi. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi số kiếp hắn. Hắn chửi đàn bà. Hắn chửi con vợ bé. Dì Hảo cắn chặt răng để cho khỏi khóc. Nhưng cứ khóc. Hôm sau hắn ra đi không biết đi đâu. Dì Hảo ngạc nhiên. Rồi tức tối. Sau cùng thì dì nhẫn nại. Phải, nhẫn nại là hơn: nếu hắn cứ ở nhà thì cũng thế.

Tháng 9-1941     

NAM CAO      


In trong tập Nửa đêm

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2023

NIỀM VUI, NHƯ SỰ THẬT - Võ Tấn Khanh

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
như hơi bấc lạnh khô đầu tháng chạp
nụ đang ươm làm mộng lúa bồi hồi
không gian tưởng nở hoa cùng khắp
ta cũng nghe lòng rộn rã rất xa xôi

ta bỗng nghe lòng thật thà như đất
đời đáng yêu, đừng vội tưởng ta buồn
có ai hãy cùng ta múa hát
một đời người dễ được phút hân hoan?

và một đời ta, đây, lần thứ nhất
nghe từng hồi chuông hạnh phúc rung dòn
cái bướm cái ong ngậm vàng nhả mật
lũ côn trùng hò reo tiếng khóc của con

con của ta, hãy ra đời, khôn lớn
ngọt ngào như câu hát mẹ bên nôi
cha của con đã một đời lận đận
một đời ta khóc nợ áo cơm người

con hãy lớn như rừng, không khuất phục
nhưng dịu dàng như mắt mẹ, bao dung
(thuở thơ ấu ta cũng đôi lần được khóc
mà cuộc đời buồn nên phải gánh lao lung)

mẹ của con, đẹp những ngày xưa, con gái
gặp ta lang thang như một kẻ giang hồ
bởi hạnh phúc đâu có ai chờ đợi
nên đã đem lòng thương, kết tóc se tơ

trời đất nhỉ, ta vừa chợt biết
hương vị ngọt ngào của tự trái tim ta
và ân sủng thiên nhiên là có thật
như nỗi vui mừng đang rạng rỡ trên da

con của ta, vì đâu ta khóc
giọt lệ mừng sau một nửa đời người
ta bỗng muốn gào thay tiếng hát
kêu gọi người hãy đến, nắm tay vui

như ngọn suối tới mùa cơn nước lũ
cuốn trôi phăng những lau lách ven bờ
ta chợt thấy giữa muôn nghìn rực rỡ
một bông hồng, búp nụ, rất nên thơ

                                           cho con đầu lòng
                                      VÕ TẤN KHANH

(Trích từ tạp chí Bách Khoa số 417)

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2023

BÃI SẬY VƯỜN CAM - Khái Hưng

 

Chiếc thuyền nan nhỏ đến quãng sông Thương ấy thì trời vừa sáng. Hùng nhớn nhác trông trước trông sau, tìm nơi trốn tránh. Vả vết thương ở bắp chân đau trội lên làm cho Hùng đuối sức không sao cầm chắc mái chèo mà bơi được nữa.

Ở ven hữu ngạn, một làn sậy cao và rậm lạt sạt đầy gió lạnh mọt buổi sáng mùa đông.

Hùng lách thuyền ẩn vào đó rồi cởi áo tơi ra dùng làm chăn trùm kín đầu nằm ngủ.

Suốt đêm chạy trốn nên thân thể chàng mỏi mệt như dần. Chàng vừa đặt mình là ngủ liền tuy chiếc thuyền nan tròng trành mỗi khi luồng gió thổi bạt thân cây sậy, tuy vết thương chàng buộc sơ sài bằng mảnh áo lót càng nhức tê tái hơn lên, vì máu đọng ở vai đã khô cọ vào thịt đã sưng phồng làm cho buốt như bị đâm bởi trăm ngàn mũi dùi nhọn hoắt.

Lúc Hùng mở mắt nhìn lên hai bờ sông cao và thẳng như hai bức tường thì mặt trời đã đứng ở ngọn một khu rừng rậm trên đồi. Hùng ngồi dậy ; một sự thống khổ mạnh hơn làm cho chàng quên hẳn chỗ đau ở bắp chân. Chàng vừa đói vừa khát, nhất là khát.

Nước sông Thương xanh như rêu và đục lờ lờ nhưng Hùng cũng cúi xuống toan dùng bàn tay vốc uống. Bỗng mắt chàng đăm đăm nhìn mấy miếng vỏ cam trôi giạt bên gốc sậy. Chàng chợt nhớ ra, khi sắp trở thuyền rẽ vào nơi ẩn núp, chàng đã thoáng trông thấy ở phía trên một vườn trồng toàn cam.

Quanh vùng vắng ngắt. Hùng không nghe thấy một tiếng người, một tiếng vật. Chàng lẩm bẩm nói một mình : "Liều" ! Liền kéo từng cây sậy lần lần cho thuyền vào sát bờ. Một con đường dốc hẹp lẩn trong đám cỏ tranh um tùm. Chừng đó trước kia là một bến đò ngang, mà người ta đã thuyên đi nơi khác.

Hùng lom khom cố bò lên bờ. Nhưng vết thương quá nặng chàng lại quá dùng sức để trèo dốc, nên khi tưới đỉnh con đường khấp khểnh chàng ngất đi nằm phục mê man bất tỉnh ở ngay bên hàng giậu nứa đan mắt cáo có rào những cành tre gai...

Tiếng chó sủa, Hùng nghe qua giấc mộng.

Bỗng chàng thấy lành lạnh ở trán và ngửi phảng phất có mùi dầu bạc hà. Chàng mở bừng mắt nhìn lên. Ðứng bên cạnh chàng, một thiếu nữ làn tóc vấn sơ sài rối lòa xòa hai bên tai; và chân không tất đi đôi dép Nhật bản chéo quai. Ðương băn khoăn mong đợi, thấy Hùng tỉnh dậy, nàng bất giác mỉm cười :

- Ông còn đau lắm không ?

Hùng lim dim cặp mắt đáp lại bằng một cái gật se sẽ.

- Sao ông lại đến đây ?

Không thấy người lạ trả lời, thiếu nữ yên lặng đứng bóc một quả cam Bố hạ đưa cho chàng.

- Ông ăn cho đỡ khát.

Hùng ngước nhìn lên, đôi mắt long lanh, cặp môi nhếch một nụ cười sung sướng. Rồi chàng đỡ lấy những múi cam bỏ vào miệng nhai vội vàng. Ăn như thế một lúc hết ba quả, Hùng đã thấy tỉnh táo, dễ chịu. Chàng ngồi dậy thở khoan khoái thì thầm :

- Cám ơn cô.

- Ông ở đâu đến đây ?

Hùng cúi nhìn sông, nhìn khóm sậy :

- Cô làm phúc dắt hộ tôi xuống thuyền.

- Nhưng tôi không thể để ông đi như thế này được. Bổn phận tôi phải cứu giúp người gặp tai nạn.

Hùng lại ngước mắt ngắm thiếu nữ. Hai giọt lệ cảm động từ từ rơi trên gò má.

- Cô để tôi đi thôi... Tôi không thể ở lại nhà cô được.

Thiếu nữ chau mày ngẫm nghĩ :

- Sao vậy ?

Hùng không đáp, đứng dậy toan đi, nhưng lại ngã gục xuống ôm chân rên rỉ. Thiếu nữ lắc đầu :

- Ðấy ông coi, ông đau nặng lắm. Ông nên ở lại ấp tôi, rồi ngày mai hay ngày kia, bệnh ông thuyên giảm, ông sẽ đi cũng được chứ sao.

Dứt lời, nàng toan chạy gọi người nhà đỡ Hùng vào trong trại. Nhưng Hùng vội gạt đi, vẻ mặt lo lắng, buồn bã. Thiếu nữ như đoán hiểu chàng thuộc vào hạng người nào :

- Nếu ông không muốn để ai biết, thì cũng dễ. Tôi xin thân đưa ông qua cổng sau vào nằm nghỉ trong nhà thóc. Ở đó sẵn có cái ổ rơm. Chìa khóa thì riêng tôi giữ... Xin nhắc lại rằng đối với tôi ông chỉ là một người khổ sở gặp tai nạn, mà bổn phận tôi bắt phải cứu giúp.

Hùng sung sướng vịn tay thiếu nữ lần từng bước đi vào trong vườn.

Ba hôm sau, nhờ sự săn sóc chăm nom của Trang - tên thiếu nữ - vết thương ở chân Hùng đã đỡ nhiều.

Căn cứ những mẩu chuyện giữa hai người, Hùng biết rằng cha mẹ Trang, chủ cái ấp này, cùng về chơi Hà Nội, để một mình nàng ở lại coi nhà, rằng nàng đã học hai năm ở trường sư phạm, nhưng nàng chỉ thích nghề làm vườn ruộng, nên đã bỏ học về giúp cha mẹ.

Không khí nơi thôn dã đã nhuộm nước da Trang một màu hồng hào, sự cử động chân tay đã làm cho thân thể Trang trở nên đều đặn và nở nang, nhan sắc Trang là thứ nhan sắc quê mùa rắn rỏi.

Chính nàng đã thú thật với Hùng rằng nàng chỉ muốn là một cô gái quê, sống cái đời đồng áng, vườn tược, rồi nếu có thể sẽ đem chút kiến văn, học vấn của mình ra truyền bá cho các bạn gái nơi thôn dã.

Sáng hôm nay, Hùng ngồi trong nhà thóc nhìn qua khe cửa ra vườn, cái ý kiến viển vông lãng mạn của Trang còn làm cho chàng phải mỉm cười.

Giữa lúc ấy, bóng Trang đi đi lại lại bên những cành cam mềm mại, nặng trĩu quả, màu áo nhung đen thấp thoáng lẫn trong sắc da cam đỏ thắm. Có lẽ Trang biết Hùng đang ngắm nghía mình, nên dáng đi, điệu đứng nàng cố giữ dịu dàng uyển chuyển, nên cái cười tươi và kín đáo như bông hoa đào luôn hé nở trên cặp môi nàng. Sau cùng Hùng thấy nàng chọn cắt mấy quả cam, rồi thong thả đi lại phía mình. Chàng vội vàng lại ổ rơm nằm, mở quyển tiểu thuyết Trang cho mượn ra đọc, làm như là không để ý nhìn trộm nàng trong khi nàng nhởn nhơ ngoài vườn vậy.

Trang gõ cửa rồi mở khóa bước vào ngả đầu chào. Hùng ngồi nhỏm dậy :

- Cô lại cho cam ư?

- Thưa ông, ông đã hết đau chưa ?

- Thưa cô, đỡ nhiều lắm rồi. Tôi đã đi được như thường.

- Phòng chứa chật chội quá, chỉ sợ ông cuồng cẳng.

Hùng mỉm cười :

- Tôi là tù nhân của một nàng tiên.

Trang vẻ mặt nghiêm nghị, bảo chàng :

- Tôi cũng đoán rằng ông bực bội khó chịu nên đây tôi đưa chiếc chìa khóa để phòng những khi ông muốn ra vườn dạo chơi.

- Cám ơn cô, nhưng tôi cũng sắp phải từ biệt cô để đi rồi.

Trang buồn rầu hỏi :

- Thưa ông, ông đi đâu ?

- Thưa cô, tôi cũng chưa biết đi đâu nhưng thế nào cũng phải đi ngay.

Trang ái ngại nhìn Hùng !

- Thưa ông, có bao giờ ông lại nghĩ tới một cuộc đời yên lặng... kín đáo không ?

Câu hỏi của Trang có sức mạnh phác họa ra trước mắt Hùng một cảnh tượng êm đềm, bằng phẳng : một khu vườn rộng trên hàng nghìn gốc cam, gốc quít, đỏ ối những quả, một nếp nhà gạch, không nguy nga đồ sộ, nhưng sáng sủa, rộng rãi và trong nhà một người vợ xinh đẹp, âu yếm săn sóc đến sự ăn ở của mình, dùng hết lòng thương yêu để gây nên một cuộc hạnh phúc chung chắc chắn, vững vàng...

Một luồng gió mạnh lọt qua khe cửa đưa vào tâm hồn chàng hương vị của cả cuộc đời phiêu bạt giang hồ.

Nàng mỉm cười tiếp :

- Chắc ông cho câu hỏi của tôi tò mò, mà hơi lạ lùng nữa ?

Hùng đăm đăm nhìn Trang trả lời vơ vẩn :

- Thưa cô, không.

Thực ra, Trang đã rọi một tia do dự vào tâm hồn chàng.

Nhưng đêm hôm ấy, Hùng bỏ ra đi.

Chàng vội vàng xa lánh một cảnh êm đềm, cũng như chàng đã vội vàng xa lánh một xã hội, mà ở trong lúc quá điên cuồng chàng đã trót phạm tội sát nhân.

 
KHÁI HƯNG      
 
(Trích trong tập truyện ngắn Dọc Đường Gió Bụi)
 

Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2023

HAI THẰNG KHỐN NẠN - Nguyễn Công Hoan

 

Năm 1926, nước to, đê vỡ tứ tung, nhân dân bêu rếch, khổ sở. Nhất là khi nước đã rút rồi, trông cảnh tượng mới lại càng đáng ngậm ngùi nữa.

Cỏ tàn khắp cánh đồng xa,
Bên làng hoang hủy mấy nhà lơ thơ,
Đầu đường mẹ bế con thơ,
Người tìm sang Bắc, kẻ đưa về Đoài.

Bởi thế, bác Lan luôn mấy tháng, nào nhà đổ, nào trâu chết, nào đất bán, nào ruộng cầm. Gia tài tuy chẳng được là bao, nhưng đến cái cảnh tai bay vạ gió mà sạch sành sanh, thì dẫu ông vua đời xưa mất nước, hay thằng bé bây giờ mất tiền, cái tâm lý cũng đau đớn ngang nhau vậy.

Không những thế, vợ bác lại mới chết về bệnh dịch, để cho bác một đứa con trai mới biết ngồi. Cái cảnh gà sống không còn mồi mà nuôi con mới đáng đau lòng. Bác Lan thực là một thằng khốn nạn vậy.

Đêm hôm trước, bác ngồi nghĩ mà rớt nước mắt. Của chìm của nổi đã không còn gì, nhịn cơm từ sáng nhường con đã lả cả dạ dày. Nếu mai cũng thế này nữa, thì bố chết đói, con chết đói. Âu là trong nhà còn một thứ của nổi nữa, đem bán nốt đi chăng?

Bác Lan nghĩ thế thì làm thế. Bác xin được cái thúng sứt cạp bện đôi quang và chẻ cái đòn gánh. Sáng sớm, gánh thằng bé con đi. Một bên quang là một tảng gạch để thăng bằng thúng hàng bên kia. Một bên quang là một cái thúng đựng hàng. Trên cái thúng, tùm hum manh chiếu rách che hàng cho đỡ nắng.

Bác đi lang thang làng này, làng khác, qua chợ nọ, chợ kia. Nhưng chỉ thấy có người xem, mà không thấy có người mua.

Bác Lan đói quá, mắt đã mờ. Thằng bé con trần truồng trong thúng, nằm ngả ra, mồm miệng bê bết những dãi, mũi và vỏ khoai lang. Đi đường, bác gặp toàn bọn khóc dở mếu dở như bác cả. An ủi nhau cũng chỉ có một câu:

- Này, bác đến nhà ông nghị Trinh, may ông ấy hiếm hoi, thì ông ấy mua cho.

Đi lần mãi mấy làng, bác mới đến nhà ông nghị Trinh. Trời đã sắp xẩm tối. Đứng ở cổng, trông vào trong nhà, bác thấy gạch tây đánh bóng lộn, sập gụ, tủ chè, gương đứng, giường tây, thật có vẻ đỉnh chung sung sướng.

Bác Lan đánh liều gọi cổng. Anh bếp ở trong chạy ra:

- Nhờ cậu vào bẩm với ông bà rằng có người bán con đương ở cổng.

Cậu bếp hỏi han một vài điều ra dáng tử tế, săn sóc, nhanh nhẹn lắm, rồi mới đi vào.

Bác Lan, vì cái đói khát cấp bách quá, nên tưởng tượng ngay độ dăm phút nữa thì bụng sẽ được no đầy. Nhưng tưởng tượng thế là lầm. Độ một giờ sau, bác thấy một người mặt mũi phương phi, cổ rụt, bụng phệ môi trề mà không râu, mặc quần áo lụa, phe phẩy cái quạt, ra vườn chơi.

Bác đoán là ông Nghị, bèn đánh tiếng. Thì quả là ông Nghị thực. Vì nghe giọng nói hách dịch lắm:

- Sao không giật chuông gọi người nhà nó vào bẩm?

Bác Lan kể nỗi cơ cực, và ngỏ ý dạm bán đứa con. Ông Nghị nhìn qua bác, nhìn qua đứa bé, rồi nói:

- Ừ, để rồi tao nói chuyện với bà sẽ hay. Chờ đây, tao ra ngay.

Nghe câu ấy, bác Lan tuy trong bụng lép kẹp, nhưng thấy như được no một nửa vậy.

Hơn nửa giờ nữa, ông bà Nghị mới ra.

Bác Lan chào, rồi cũng những câu khi nãy, bác nói với bà Nghị. Bà Nghị ra ý cảm động. Bà bế đứa con vào lòng, ngắm nghía mãi.

Ông Nghị thấy bà có vẻ vừa ý, bèn hỏi giá:

- Mày định bán bao nhiêu, nói cho thực.

- Bẩm tùy ông bà cho.

Người bán không nói giá, người mua không biết giá, thì làm thế nào? Độc giả các ngài đánh giá hộ đi? Một người như chúng ta đấy, khéo nuôi, khéo dạy, thì chưa biết chừng, vĩ nhân cũng nên đấy. Một trăm nhé! Hai trăm nhé! Năm trăm nhé!

Ông Nghị thấy bác Lan lưỡng lự, không muốn nói giá, thì đương ngồi xổm ở trước cái thúng, bỗng ông đứng phắt dậy:

- Đáng lẽ anh cho không tôi, tôi cũng không lấy, vì tôi phải nuôi nó cho anh. Nhưng thôi, việc phúc đức, tôi cho anh ba hào, cầm lấy!

Vừa nói, ông vừa móc túi lấy tiền đưa. Bác Lan gãi tai thở dài. Có lẽ không ngờ đâu cái giá trị một thằng bé con có thế mà thôi.

- Thưa ông...

- Tôi không nói lôi thôi. Ông với ênh gì! Tôi không quen mặc cả. Ba hào không bán thì thôi!

Nói xong ông quay lưng vào, gọi bà đi, và đóng cổng lại.

Bác Lan vơ vẩn nghĩ ngợi mãi. Chờ mãi cũng không thấy có người ra trả thêm xu nào.

Nửa giờ sau, bác không thể nào nhịn nổi được cái dạ dạy rỗng tuếch từ hôm trước. Thôi thì ba hào thì ba. Con mình được chỗ ấm no nương tựa, còn hơn là bố con bêu rếch, xó chợ đầu đường. Nghĩ vậy, bác giật chuông. Một lát, ông Nghị ra.

- Thế nào? Anh có định bán như thế không mà gọi?

- Thôi, lạy ông, ông thương phận nào, con nhờ phận ấy.

- Thương là thế nào! Nói cho dứt khoát. Bằng lòng bán ba hào không?

Bác Lan mỉm miệng, gượng cười một cách rất chua chát:

- Vâng!

Ông Nghị đưa bác vào trong nhà. Làm giấy má xong, ông còn xem xét đứa bé rất kỹ càng. Khi thấy sau lưng nó có nhiều nốt ruồi quá, thì ông có ý không bằng lòng, chê bai mãi rằng xấu. Xấu thì phải bớt tiền. Cho nên khi trả, ông không cho bác cả ba hào, mà phạt hai xu nốt ruồi!

Bác Lan lạy van mãi. Nhưng bác nghĩ, nếu cố nằn nì hai xu, thì chưa chắc đã được, mà không khéo thì bị trả tiền lại. Nghĩ nực cười, mình đã khốn nạn, lại gặp phải một thằng khốn nạn hơn, thì thôi, chịu cầm hai hào tám vậy.

Bác bế đứa con lần cuối cùng, hôn hít, dặn dò mãi, mới dứt. Khi ra ngoài cổng, bác đi không nỡ, tình cha con vướng vít, bác nghĩ muốn trả lại hai hào tám mà lấy con về.

Bác đứng lại, quay nhìn trong nhà ông Nghị, thì thấy kẻ bưng chậu nước, người lấy xà phòng, người tìm khăn mặt. Bà Nghị thì tự tay tắm cho đứa bé, ra dáng âu yếm, nâng niu. Bác nhìn mà cũng hả tấm lòng, nỗi đau đớn cũng như tiêu tan vậy.

Còn ông Nghị, hai mắt vẫn nhìn cái lưng nốt ruồi, nét mặt còn như tiếc món tiền tiêu vô ích khi nãy. Một chốc, ông ra ý hối hận, nói với vợ:

- Bà ạ, hoài của, giá bớt hẳn năm xu, nó cũng phải chịu.

- Sao ông nghiệt thế! Tiền hàng vạn lo nghị viên không tiếc, mà mấy xu này lại tiếc hay sao?

Ông Nghị đang tức hơi, phát gắt mà rằng:

- Tiêu những món đáng tiêu thì còn tiếc cái gì! Thằng bếp đâu! Mày chạy đi tìm thằng bán con ban nãy, bảo nó giả tiền tao mà lấy lại con lập tức!

Bác Lan giật nẩy mình, co cẳng, ù té chạy bán sống bán chết, vừa chạy vừa đếm:

- Một, hai. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám...

 
Viết 7-6-1930              
NGUYỄN CÔNG HOAN      
 

(Trích Annam tạp chí số 12, 1930)

 

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2023

NƯỚC CHẢY ĐÔI DÒNG - Nhất Linh

 

Nước xuôi dòng, buồm thuận gió. Hai bên bờ sông hai dãy đồi dài, sương buổi chiều đã lờ mờ phủ chân đồi; trên ngọn đồi vài rặng thông như mấy vết mực nhạt... trời lạnh và trăng trong...

Sinh ngồi ở ngoài khoang thuyền kéo cổ áo lên che cho khỏi lạnh, quay ra phía sông vơ vẩn nhìn cảnh nước trôi, trăng giải. Chàng lặng yên để tâm trí phiêu lưu, không nghĩ gì, không vui, không buồn, có cái thú bình tĩnh vô tư.

Sinh lên chơi người quen ở Phả Lại, khi trở về, nhân có chiếc thuyền nâu cũng xuôi nên xuống thuyền, bao giờ đến nhà thì đến, vì chàng không vội gì. Mà Sinh cũng không bao giờ biết vội. Chàng là con quan, nhà giàu có, nên sống một cuộc đời nhàn nhã, cứ để năm tháng đi qua hết ngày nọ đến ngày kia... đi qua như dòng nước chảy xuôi.

Sinh đương ngồi vơ vẩn, bỗng nghe trong khoang có tiếng cười nói rất thanh tao. Sinh lấy làm lạ, vì lúc xuống thuyền chỉ có hai vợ chồng người lái đò đã già. Sinh quay lại thấy một người con gái trạc độ mười tám tuổi, mặc chiếc áo tứ thân vá vai đã cũ, chiếc khăn vuông đã bạc màu, tóc rũ xuống mà rối bời, nhưng nét mặt xinh đẹp tuyệt trần, hai con mắt trong và sáng, trông thanh tao có vẻ con nhà khuê các. Sinh ngạc nhiên, giương mắt nhìn. Người con gái không để ý, không chút e lệ, ngây thơ nhìn Sinh, hơi mỉm cười, sẽ nói:

- Mời ông vào xơi nước.

Trên chiếc chiếu trắng, Sinh thấy có để ấm nước và khay gỗ đựng mấy chiếc chén sứt miệng. Người con gái rót nước vào chén, hơi lên nghi ngút, mời Sinh uống, rồi lại lui về khoang cuối thuyền, vừa cầm lái vừa đun bếp. Sinh cầm chén nước lên nhưng không uống, vẫn đăm đăm nhìn theo: dưới ánh lửa, hai con mắt người con gái lại càng sáng, đôi má lại càng hồng.

Sinh ngẫm nghĩ:

- Quái, không lẽ hai vợ chồng lái đò cục kịch thế kia lại có người con gái thanh tao như vậy. Cái thân kia phủ tấm áo đã bạc rách, nghĩ kể cũng đáng thương, đôi má kia nỡ nào để chịu gió sương mà hai tay kia tháng ngày dầm nước lạnh, mó cá tanh, sao cho xứng đáng.

Sinh đến gần chỗ đun nước, bảo người con gái:

- Trên thuyền có củi, cô cho mấy thanh củi to để tôi ra sưởi; đi thuyền không quen, chân tay tôi giá lạnh giá cả.

Người con gái rút ở dưới khoang thuyền mấy thanh củi, rồi nói:

- Thưa ông, ông chịu khó ngồi róm lửa lấy mà sưởi, cháu còn mắc cầm lái.

Sinh tò mò hỏi chuyện:

- Cô ngồi cả đêm thế không lạnh sao?

- Thưa ông, quen đi... vả lại cháu chỉ ngồi đến nửa đêm, thầy cháu đi ngủ sớm, nửa đêm lại ra thay.

Sinh nói đùa:

- Cô có lạnh vào mà sưởi, để tôi ra cầm lái cho.

- Ông cầm không quen, đâm vào bờ thì chết!

Cô nói xong cúi mặt, mỉm cười. Sinh giơ hai tay lên sưởi, nói:

- Thuyền này to mà sao ít người thế cô?

- Chuyến về, xuôi nước thuận gió, chúng cháu không phải lấy thêm người chở đò.

- Làm nghề này về mùa rét vất vả lắm nhỉ?

- Chúng cháu quen đi...

- Cô xuống làm dưới thuyền này được bao lâu?

Người con gái ngửng lên, hình như lấy làm lạ cho câu hỏi vẩn vơ nhưng cũng trả lời:

- Chúng cháu làm nghề này từ thuở bé; thầy u cháu đã già, tuy nghề vất vả nhưng vẫn phải làm, vì không làm không có cái ăn.

Sinh nhìn kỹ tay người con gái, thấy tay tuy nhỏ nhắn, xinh xắn nhưng làm lụng nhiều nên đã sàm sạm đen, nhiều chỗ thành chai, tự nhiên đem lòng thương; tự sự thương một người con gái đẹp đến sự yêu tưởng không xa lắm. Sinh nhìn vào mặt người con gái hỏi vẩn vơ:

- Cô cả đời ở dưới thuyền chắc buồn lắm nhỉ?

Bấy giờ ngoài mặt sông bóng trăng rọi xuống như sắc hoa bạc trên làn sóng... còn ngoài xa thì sương đêm mờ mờ, chiếc thuyền như đi trong một thế giới mơ mộng, mà trong cái cảnh như thực hư ấy, Sinh tưởng chừng đương ngồi đối diện một người tiên nữ trá hình làm người con gái chở đò...

- Cô vào ngồi đây sưởi cho đỡ lạnh, bây giờ đương ở giữa sông thì bẻ lái thẳng mặc cho thuyền nó đi.

Người con gái nghe lời, vào ngồi bên lửa giơ tay sưởi. Sinh để tay lên tay người con gái nói:

- Tay cô lạnh giá cả, tội nghiệp quá!

Nhìn đến cô bé thì cô bé vẫn điềm nhiên như không, cho Sinh sờ tay mình là tự nhiên, cười nói một cách ngây thơ:

- Ngồi đây ấm quá nhỉ, nhưng ấm quá chốc nữa ra lại lạnh.

- Ấy cứ ngồi bên tôi là ấm.

Người con gái lại cười một cách ngây thơ. Sinh âu yếm hỏi:

- Cô em năm nay bao nhiêu tuổi?

- Mười tám hay mười chín tuổi, tôi cũng chẳng nhớ.

- Thế cô em tên gọi là chi?

- Tên tôi là Duyên.

Sinh ngạc nhiên:

- Tên cô là Duyên à?

- Vâng tên tôi là Duyên, có gì mà ông lạ.

- Lạ vì tên tôi là Kim, tên hai người chắp lại thành Kim Duyên.

Người con gái như không hiểu, hỏi:

- Kim Duyên nghĩa là thế nào?

- Là cô với tôi có duyên với nhau.

Cô bé cười ... nhưng vẫn cái cười ngây thơ như trước.

Sinh nói mấy câu ngụ ý, người con gái đều không hiểu cả, chỉ trả lời bằng mấy câu mộc mạc, hay cười một cách ngây thơ. Sinh càng nhìn người con gái càng thấy xinh đẹp, cái vẻ đẹp lộng lẫy dẫu ai trông thấy cũng phải cảm, huống chi như Sinh ngồi đối diện tha hồ ngắm nghía, trên trời dưới nước, riêng mình một tuyệt thế giai nhân.

Nhưng Sinh lấy làm chán nản vì không ngờ tấm linh hồn chất phác, mộc mạc ấy lại có thể ẩn dưới cái hình sắc đẹp đẽ đến như thế, khác nào chiếc áo nâu bạc rách bao phủ lấy tấm thân ngà ngọc, tuyệt mỹ kia.

Sinh ngồi sát vào người con gái: cô con gái không nói gì, vẫn một nét mặt thản nhiên, hai con mắt xinh đẹp vẫn một vẻ vô tình. Sinh nắm lấy tay người con gái, nhìn thẳng vào mặt, âu yếm hỏi:

- Cô Duyên...

Cô bé, khẽ hất tay ra, gọi to:

- Thầy ơi, sắp đến đống mía rồi, thầy ra mà kéo dây.

Sinh đứng dậy lùi vào trong khoang, vờ cầm chén uống nước - nhưng mãi cũng không thấy ông cụ lái đò ra. Sinh biết người con gái lúc nguy cấp vờ gọi cha cầu cứu, lại toan đến gần chỗ người con gái ngồi, nhưng chép miệng nói một mình:

- Vô ích! Ra làm gì? Ích lợi gì? Một người con gái xinh đẹp đến thế mà ta không thể nào yêu được, mà người đó cũng không thể nào yêu ta, không biết yêu là cái gì! Còn làm xiêu lòng người để mua vui một lúc thì không nỡ... thôi chỉ thế này thôi, chỉ thế thôi để gọi là giữ cái kỷ niệm một đêm đông trên thuyền cùng người con gái đẹp. Rồi sau đây... cuộc đời mỗi người đi về mỗi ngả...

Sinh giở chăn đắp, ngủ một giấc, tờ mờ sáng hôm sau mới dậy. Lúc bấy giờ thuyền vừa đến làng Sinh. Sinh từ giã hai vợ chồng lái đò và người con gái lên bờ. Người con gái còn đứng trên mũi thuyền trông theo, gió trên sông đưa mấy tà áo nâu bạc phất phơ... Sinh lát lát quay cổ trông với lại để thu vào trong trí nhớ cái hình ảnh của một người con gái đẹp chắc không bao giờ Sinh lại còn thấy một lần nữa.

*

Nhưng một sự tình cờ lại làm cho Sinh gặp người con gái ấy một lần thứ hai... từ lần gặp gỡ trước đến bây giờ đã mười năm.

Trong mười năm ấy Sinh đã lấy vợ, đã có con, cuộc đời vẫn đi như dòng nước chảy.

Sinh một hôm, bận chút việc phải đi đò liền gọi một chiếc thuyền đánh cá thuê chở. Một người đàn bà, bế con ở trong khoang thò đầu ra hỏi:

- Ông muốn thuê thuyền...

Sinh nhìn kỹ người đàn bà, sửng sốt buột miệng nói:

- Cô Duyên!

Người đàn bà cũng ngạc nhiên:

- Ông biết tên tôi?

- Cô không nhớ sao... Cô không nhớ người đi đò từ Phả Lại mười năm về trước...

Sinh nhìn người đàn bà thì người ấy vẻ mặt ngẩn ngơ như không hiểu, không nhớ ra mà Sinh thì không thể lầm được.

Người đàn bà không để ý đến Sinh, quay mặt vào trong khoang nói:

- Thầy cháu ra có ông khách hỏi thuê thuyền.

Người chồng đi ra, đầu quấn chiếc khăn nâu, mình mặc áo cộc nâu, quần vuông lá tọa, vẻ mặt xấu xí, nói:

- Mời ông xuống, chúng cháu chở...

Sinh ngồi xuống ở mũi thuyền, nhưng vẫn nhìn đăm đăm vào người đàn bà; mười năm đã qua, mà trông vẫn phảng phất như người con gái năm xưa. Tuy đã đứng tuổi nhưng vẫn một vẻ đẹp lộng lẫy, tươi tắn như khi còn là con gái. Sinh nhìn người đàn bà, nhìn đến người chồng, đến đứa con trong lòng mẹ, nghĩ đến cái mơ mộng của mình mười năm về trước, thở dài lẩm bẩm:

- Cuộc đời! Cuộc đời người ta như thế đấy! Mà chỉ có thế! Ta tưởng người con gái đẹp thì không thể nào sống trong cảnh nghèo hèn được, ta ái ngại, ta thương... nhưng người con gái đẹp mà ta thương đây không biết mình là khổ, không bao giờ nghĩ đến xem mình có khổ không, vô tình thản nhiên sống theo cảnh đời họ... như dòng nước sông kia chảy trong lòng sông.

Sinh bùi ngùi, cúi mặt ngắm dòng nước, ngắm mấy cái rác, tan tác mỗi cái trôi về một phía... khác nào hình ảnh cuộc đời của Sinh với cuộc đời của người con gái chở đò, mỗi bên đi về mỗi ngả, không bao giờ gặp nhau.

Người đàn bà không để ý đến Sinh, vẻ mặt thản nhiên như không biết mình vui hay khổ, không biết mình là xinh đẹp, như không bao giờ nghĩ đến rằng người đẹp như mình có xứng đáng với cái cảnh đời ấy không... vô tình khẽ cất tiếng hát ru con:

... Nước chảy đôi dòng...
... Con sông Thương... nước chảy đôi dòng...


Ngày 22 tháng 12 năm 1932    
NHẤT LINH           
 
(Trích từ tập truyện ANH PHẢI SỐNG)

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

MƯA NƠI XỨ LẠ - Phạm Quang Phước

 

Chuyến đi xa không được chuẩn bị hay sửa soạn trước khiến tôi hơi ngập ngừng khi năm giờ sáng, thức giấc để soạn đồ đạc vào va-li.
 
Trước đây mấy ngày tôi không hề vẽ vời hay tưởng tượng đến bất cứ một cuộc vui chơi nào cho vụ hè năm nay. Do đó tôi đã nhận lời với Vinh cùng chung sức mở một lớp luyện thi. Nói là chung sức, chứ thực ra Vinh đã lo hết cả. Mỗi ngày gặp nhau tại phòng giải lao của trường, Vinh vui vẻ báo cho tôi biết những điều anh đã thực hiện được. Có hôm Vinh bảo đã thuê được một phòng học rộng đủ cho bốn chục học trò. Ngày khác Vinh nói giấy phép đã được bộ chấp thuận. Có nghĩa là sau ngày nghỉ hè một vài tuần, chúng tôi đã có thể bắt đầu vì học trò theo học phần đông là học trò có giờ do tôi và Vinh phụ trách, đã được thông báo trước về lớp luyện thi này. Trong lúc Vinh nói bằng giọng vui vẻ về số học sinh ghi tên mỗi lúc mỗi đông, thì tôi chỉ nhìn công việc mình sắp sửa phải tham dự một cách hết sức thờ ơ. Vinh không nói nhưng có vẻ ngạc nhiên về sự thờ ơ của tôi lắm. Anh tưởng một công việc có lợi trong vụ hè sắp tới ít nhất cũng làm cho tôi thay đổi một phần nào cái vẻ lạnh nhạt của mình từ lâu nay. Nếu Vinh biết tôi coi những giờ dạy thêm ngoài nhiệm vụ của mình chỉ như một cách loại bớt thời gian dài nghỉ ngơi buồn chán, thì tôi chắc anh sẽ không ngạc nhiên gì nữa. Ba tháng dài nếu không tiếp tục bắt mình làm việc thì tôi sẽ làm cái khỉ gì đây cho qua thì giờ chứ? Dĩ nhiên là thời gian sẽ dài ra nếu tôi không tìm ra được thú vui nào khác ngoài việc lui tới hoài hoài mấy cái piscine hay tham dự một cách kẻ cả và miễn cưỡng vào những cuộc họp mặt do bọn học trò tổ chức. Nghĩ như thế nên dù biết rằng trong lúc mọi người nghỉ ngơi ở một bãi biển hay chân núi nào đó, mà mình lại phải tiếp tục cái công việc từ chín tháng qua là một chuyện không vui thú gì, tôi cũng mặc kệ cho Vinh muốn làm chi đó thì làm. Một cái cớ cho qua thì giờ vậy mà.
 
Ngày dạy cuối, trước khi chia tay nhau Vinh bảo tôi hãy cố vui chơi thật nhiều trong một tuần lễ rồi sau đó bắt tay vào việc. Tôi nghĩ tới những giờ dạy buồn nản sắp đến nên bỗng nhiên giận mình và đã tìm đủ cách để sử dụng mấy ngày nghỉ ngắn ngủi vào nhiều việc mà tôi nghĩ nếu không vì lớp dạy hè thì chưa chắc tôi đã làm. Kể ra có một vài ngày sống thảnh thơi theo ý mình cũng là một điều thú vị. Những bộ quần áo để lâu trong tủ được tôi lôi ra ủi cho thẳng thớm mặc mỗi lần xuống phố. Váy maxi váy mini cũn cỡn, kính đeo mắt to bản. Trông tôi không còn chút xíu nét đạo mạo như mỗi lần áo dài, tóc vấn cao tới trường. Tôi dễ chịu với ý nghĩ này nên thời gian lang thang ngoài đường chiếm gần hết một ngày. Tôi bỏ cơm nhà để ra tiệm khi thì một mình, khi thì mời theo một vài người bạn vẫn còn lui tới trường để kiếm thêm chứng chỉ. Những bữa ăn thường vui vẻ bởi những lời nhắc nhở của bạn bè như giúp tôi sống lại thời đang còn là một sinh viên. Đi ăn một mình hay với bạn bè, trong mỗi bữa tôi đều uống một vài ly rượu manh. Con gái mà uống rượu mạnh trông cũng chướng. Nhưng cần quái gì. tôi cứ nhờ men nồng tưới cho nồng thêm nỗi sống trong tôi thì đã sao nào. Tôi nghĩ giá đang lúc tôi say sưa như thế mà ông hiệu trưởng già hay lũ học trò bắt gặp chắc họ sẽ chết giấc vì ngạc nhiên. Không, họ sẽ gán thêm cho tôi một lố những tĩnh-từ-thời-thượng nữa. Những ly rượu uống ban ngày hay lon bia uống giữa khuya làm tôi hao hụt như đứng trên một nỗi bất trắc vô hình. Tôi mơ hồ tìm gặp một vài điều thay đổi nơi mình. Gì thế này? Không biết, tuy thế tôi vẫn tiếp tục ngoài phố và may sắm thêm một mớ quần áo đắt tiền nữa (mai mốt đi dạy, những bộ quần áo hoa hòe sẽ nằm yên trong một góc tủ cùng với đời sống thật lúc nào cũng phải giấu kín). Trong những ngày sống tạm gọi là khoái trá như thế tôi cố quên Vinh đi, cố quên cái lớp học chỉ còn đâu vài ngày nữa là tôi phải bắt tay vào dạy. Bởi nghĩ đến, tôi lại lẩn thẩn tự hỏi sao lúc nào mình cũng như tìm cách đẩy mình vào những phiền toái do mình tạo ra? Cũng có lúc tôi muốn bỏ mặc Vinh, để kéo dài thêm chuỗi ngày rong chơi. Nhưng ý muốn này cũng chỉ thoáng qua thôi, bởi tôi biết, qua tuần lễ thứ hai tôi sẽ lại chán ngấy những thứ mình đang có.

Một ngày, khi tôi sửa soạn rời nhà thì nhận được thư Tập. Không cần nhìn tên người gửi tôi cũng biết ngay là của Tập vì từ lâu nay đâu có còn ai thân thích đến độ phải liên lạc thư từ với tôi, ngoài Tập. Hơn nữa từ lúc mỗi đứa mỗi nơi với đời sống riêng của mình, hè năm nào Tập cũng gửi thư vào để gọi tôi ra nơi Tập ở "... Năm nay không dạy thêm, ở một mình buồn chết được. Nhé, Niệm ra với mình, nhé. Một căn phòng có cửa sổ nhìn ra biển dọn sẵn chờ Niệm từng năm một. Hè Sàigòn nóng nực có chi quyến rũ mà năm nào Niệm cũng chẳng thèm ra đây?..." Thư của Tập năm nào cũng mang những lời mời gọi có vẻ chân thành như vậy. Nhét phong thư vào ví tôi ra đường tự nhủ sẽ đọc trong một cái quán nào đó, dưới phố.

Như những ngày đã qua, tôi mua tờ báo đọc để kéo dài bữa ăn sáng chờ tới chín giờ hồ tắm mở cửa vào bơi lội một chập. Chừng hơn một giờ, chân tay mỏi nhừ vì vùng vẫy nhiều nhưng da dẻ thơm mát, tôi rời hồ tắm tới nhà một người bạn nằm trên con đường đưa tới quán ăn quen. Từ trong quán ăn, với điếu thuốc trên tay, đi ra tôi gặp Vinh. Chẳng hiểu ly bia mới uống hay câu chuyện nghe lỏm được của một cặp tình nhân trong quán ăn (họ bàn tính về chuyện đi nghỉ hè) mà tôi thấy sao Vinh bỗng có vẻ lôi cuốn quá đi. Vinh đứng sững lại trên lề đường, nhìn tôi như chưa bao giờ thấy cảnh một người con gái hút thuốc giữa hè phố. Mắt anh có nhiều vẻ ngạc nhiên sau lần kính trắng, dù rằng hồi còn đi học. Vinh đã từng sống phóng túng uống rượu hút thuốc như đàn ông rồi. Nhưng ở tôi, việc gì cũng khiến cho Vinh chú ý và ngạc nhiên được bởi anh đang yêu tôi mà. Chia tay với người bạn, tôi đứng lại cùng Vinh ngay bên chiếc xe anh dựng dưới đường. Vinh nhìn tôi và nói anh tìm tôi ở nhà mà không gặp. Anh thêm:

- Tìm mấy lần đều không gặp. Niệm đi đâu hoài thế?

Tôi búng mẩu thuốc ra xa trong một cử chỉ hết sức đàn ông rồi khoa tay một vòng cười đáp:

- Đi như thế này này.

- Nghĩa là sao?

- Nghĩa là đi ăn, đi chơi, đi sắm đồ. Đi để khỏi nằm ở nhà. Anh không như tôi sao?

Vinh lắc đầu, anh nói tôi còn phải lo cho lớp học.

Bao nhiêu khoái trá vì hơi men, vì lần gặp Vinh bất ngờ giữa lúc không ngờ, bỗng tiêu tan hết vì câu nói của Vinh. Đang lúc tôi muốn quên, anh lại nhắc cho tôi nhớ đến cái lớp học đáng ghét kia (lớp học hay sự đồng ý của tôi đều đáng ghét như nhau), khi mở xách tay, soi mặt vào tấm gương nhỏ trên nắp, tôi thấy phong thư của Tập. Tôi cười nhạt à, lớp học. Thế nào rồi? Vinh bối rối vì nụ cười của tôi và chắc cũng vì anh thấy tôi cũng chỉ thờ ơ. Anh nói tôi đang định gặp Niệm về việc này đây. Thứ hai tới mình cho khai giảng. Để tôi đưa chương trình cho Niệm. Vinh quay về chiếc xe chắc là để lấy chương trình như anh nói. Tôi gọi giật giọng:

- Anh Vinh.

- ...?

- Tôi... tôi không dạy đâu.

- Niệm đùa đấy à?

- Không, tôi nói thật. Anh tìm người khác thế vào đi. Tôi không dạy được.

Tôi im lặng nhìn Vinh chăm chú như thưởng thức sự bối rối của Vinh khi nghe tôi có một quyết định đột ngột như vậy. Thật tình tôi cũng đang bối rối hết sức. Chưa chắc gì tôi đã nhận lời mời của Tập để ra cái thành phố ven biển kia. Vậy tôi sẽ làm gì khác nơi đây sau khi từ chối cùng Vinh dạy lớp học hè? Sau một lát bối rồi, Vinh phàn nàn với tôi đủ điều và mong tôi nghĩ lại. Tôi cười thầm trong lòng vì những khó khăn Vinh vừa nêu ra nếu tôi không dạy. Nào là khó tìm người thay thế, nào là có thể học trò sẽ nghỉ nếu người dạy không phải là giáo sư quen biết. Vinh che giấu một cách tài tình về điều duy nhất anh không nói ra nhưng tôi lại biết rất rõ. Chờ cho Vinh nói một hơi, tôi mới ngỏ ý xin lỗi về sự từ chối đột ngột của mình. Tôi bịa đặt ra lý do của chuyến đi làm như chuyến đi đã được sửa soạn từ lâu lắm rồi. Thật ra mới sau câu nhắc về lớp học của Vinh thôi.

Khi biết chắc là không thể nào giữ tôi ở lại được nữa, Vinh mời tôi đi chơi buổi chiều. Tôi nhận lời sau khi nhờ anh đưa tôi ghé vào bưu điện gửi hỏa tốc cho Tập một bức điện tín nói đón tôi ở bến xe, ngày mai.

Vài tiếng đồng hồ để sửa soạn, vẽ vời cho một chuyến đi xa. Gấp rút như thế mà lúc này, xếp quần áo, đồ đạc vào va-li tôi cũng chỉ dửng dưng chứ không hề háo hức như vẫn nghĩ. Tôi mang đủ vật dụng cho thời gian sắp tới sống ở biển. Vài bộ quần áo mùa hè, vài bộ áo tắm khêu gợi mới mua hồi chiều khi đi cùng với Vinh vào thương xá Tax. Bảy giờ, Vinh sẽ đem xe tới đưa tôi ra bến xe như lời anh nói buổi chiều. Soạn xong va-li, mới hơn sáu giờ, tôi lấy bộ đồ sẽ mặc trong chuyến đi treo sẵn lên móc rồi tắt đèn, cởi đồ nằm chờ sáng. Bức thư của Tập vẫn còn nằm ì trong ví vì chiều qua bận đi với Vinh tôi không có thì giờ để đọc. Cũng chẳng cần đọc lắm, thì có gì lạ đâu ngoài những câu viết như bức thư tôi nhận được vào mùa hè năm trước.

*

Chiếc xe nhỏ gồm bảy người kể cả tài xế, rời bến đậu bắt đầu cho cuộc hành trình dài trên bốn trăm cây số. Buổi sáng, bến xe chộn rộn với kẻ đi người ở, với những hàng quà bánh rao inh ỏi. Xe chạy chậm vì chưa ra khỏi khu vực hạn chế. Tôi lục xách tay lấy kính đeo lên mắt không nghĩ rằng Vinh đứng đâu đó trong dòng người đưa tiễn kia có lẽ sẽ buồn một chút nếu thấy tôi bình thản dựa ngửa trên ghế như sửa soạn một giấc ngủ. Cũng có thể là Vinh đã bỏ về ngay sau khi tôi chui vào lòng xe, ngồi yên ổn ở một chiếc ghế bên cạnh cửa, hàng thứ nhì. Buổi sáng, Vinh đưa tôi ra bến xe. Anh đem tôi vào một tiệm phở nài ép tôi cố ăn một chút gì đó cho đỡ mệt mỏi vì đoạn đường dài. Để làm vui lòng Vinh mà cũng chẳng biết phải làm gì hơn trong quán đông người lúc đó, tôi ăn được một tô phở nhỏ cùng nửa ly sữa. Lúc này, tôi cảm thấy dễ chịu vì những thứ đã ăn uống trong khi chờ Vinh đi lấy vé xe. Trưa nếu đói, tôi có thể yêu cầu bác tài ngừng lại một quán ăn dọc đường. Điều này có thể được vì là chuyến xe đặc biệt giá mắc hơn những xe khác.
 
Tôi nhìn trong xe. Ngay trên băng trước, cạnh tài xế là một cặp tình nhân còn rất trẻ, họ đang trao tay nhau những món quà và thì thầm với vẻ âu yếm. Nhìn lên tấm kính chiếu hậu phía trần xe, tôi thoáng thấy vẻ tươi tắn của hai cô gái ngồi sau lưng tôi, băng sau cùng. Và bên cạnh, cùng một hàng là gã con trai cứ liếc tôi hoài từ lúc gã vào chỗ tới giờ. Xem chừng gã đang muốn bắt chuyện với tôi nhưng vẫn tỏ vẻ chần chừ vì sau cặp kính to bản đen đặc gã chẳng hiểu tôi thức hay ngủ.
 
Hết xa lộ, qua một vài trạm kiểm soát, xe tăng tốc độ, khi đã bắt đầu ra ngoại ô. Hai bên đường không nhà cửa khiến tôi nhìn được đến suốt chân trời nơi đất trời gặp nhau bằng một đường chỉ nhỏ không rõ nét. Khung cảnh rộng thênh thang làm tôi thèm ngừng xe đi bộ một đoạn và cũng cùng lúc bất chợt này tôi thấy chuyến đi hình như được mở đầu bằng những dấu hiệu yêu đời. Tôi nhắm mắt tưởng tượng đến nơi mình sẽ đặt chân xuống chiều nay. Nếu có Tập ra đón ở bến, tôi sẽ để nguyên vẻ mệt mỏi sau đoạn đường dai rủ Tập xuống phố uống một thứ gì đó. Một trái dừa chẳng hạn. Rồi mới về nhà. Nếu điện tín chưa tới, không có Tập ra đón, tôi cũng đi kiếm thức uống để sửa soạn những câu trả lời sự s8an đón của Tập. Chắc chắn là Tập sẽ mừng rỡ, sẽ hỏi han tíu tít. Tôi cũng đang bồi hồi tưởng tới lúc gặp Tập. Giữa hai chúng tôi dù không phải là chị em ruột thịt nhưng chúng tôi đã dành cho nhau những lối đối xử còn hơn ruột thịt nữa. Một lẽ thật dễ hiểu : cả hai đứa đều không còn ai thân thích. Hồi tưởng về quá khứ là một việc làm tốn rất nhiều thì giờ cũng như sự mỏi mệt cho tâm trí, nên ít khi tôi nhìn lui quãng ngày tôi và Tập gặp nhau, hồi hai đứa còn bé xíu. Thôi hãy cứ biết rằng hai đứa đang thương nhau như ruột thịt. Nhìn về quá khứ làm chi cho mất công. Vả lại biết đâu sau mỗi lần nhớ lại của mỗi đứa vì một lẽ gì đó lại chẳng khiến chúng tôi nghi ngờ về tình thương vẫn dành cho nhau.

Xe ngừng lại một nơi tôi không rõ tên gọi, có những quán hàng nằm liền nhau ở hai bên đường. Tôi xuống theo mọi người dù chẳng muốn đi đâu hết giữa một xứ lạ như thế này. Gã con trai ngồi cạnh đang bắt chuyện với hai cô gái băng sau. Một lát tôi thấy cả ba vui vẻ đưa nhau vào một quán cơm. Tôi cười thầm, đi loanh quanh cho chân tay đỡ mỏi rồi cũng vào quán. Tôi gọi một con cua biển bự, ăn những miếng thịt rất ngọt cùng với hớp bia lạnh. Cô gái chủ quán nhìn tôi như không tin rằng một người con gái lại có thể thản nhiên bưng bia uống nom có vẻ ngon lành. Mà ngon thật. Tôi ăn gần hết con cua bự, chỉ còn dư lại mấy cái ngoe. Trả tiền xong, tôi mua một bao thuốc rồi mồi hút vài hơi cho đỡ tanh miệng khi ra phía nhà sau đi tiểu. Lên xe, tôi ngủ gà ngủ gật suốt trên quãng đường còn lại trong lúc gã con trai ngồi cạnh quay đầu xuống phía dưới nói chuyện với hai cô gái mới quen. Có lúc chập chờn giữa hai giấc ngủ tôi nghe nhiều tiếng cười vui chung quanh mình.

Không biết ai đó đã thức tôi dậy khi xe vào bến đậu, tắt máy. Trong lúc mọi người rời chỗ, tôi mở xách tay lấy khăn lau mặt rồi chải sơ lại mái tóc rối bù vì gió. Xong, tôi mở cửa bước xuống đường. Chiều trời nắng gay gắt mà sao nước đọng từng vũng trên mặt nhựa. Có lẽ đã có một cơn mưa ở đây khi xe chưa đến. Đặt chiếc va-li xuống cạnh chân tôi ngơ ngác nhìn quanh và đứng nguyên một chỗ hy vọng Tập sẽ nhìn thấy. Bến xe cũng chộn rộn như nơi tôi vừa bỏ đi lúc sáng. Một lát chẳng thấy Tập đâu, tôi còn đang chần chừ chọn một trong nhiều quán nước phía bên kia để vào thì một người đàn ông tới gần cúi đầu chào rất lịch sự:

- Thưa, có phải cô là Niệm?

Tôi nhìn lên và gật đầu vì đang bận tự hỏi giữa một thành phố lạ hoắc chưa một lần đặt chân đến tại sao lại có người biết tên mình? Chừng như hiểu được sự ngạc nhiên nơi tôi nên ông ta giải thích:

- Tôi là chồng của Tập. Nhà tôi đi Sàigòn rồi.

- ... !

- Chị không nhận được thư của Tập gửi sao?

Nhớ đến phong thư của Tập chưa đọc còn nằm gọn trong ví tôi nói có nhận được nhưng chưa đọc. Và tôi nói thêm tôi đã gửi cho Tập một cái điện tín hôm qua mà.

Người đàn ông chỉ tay về một chiếc xe đậu gần đó và bảo mời chị về nhà đã. Chắc đi xa chị cũng mệt rồi. Nói xong ông ta cúi xuống xách giúp tôi chiếc va-li rồi đi về phía xe trong lúc tôi im lặng lẽo đẽo phía sau than thầm vì sự không may của mình. Vừa lái xe chầm chậm qua nhiều con đường đông đúc, người đàn ông vừa giải thích cho tôi rõ những điều tôi đang thắc mắc. Thì ra trong bức thư chưa đọc. Tập nói sẽ về Sàigòn làm một vài việc cần rồi đón tôi cùng ra. Còn bức điện tín tôi gửi, ông ta mới nhận được lúc trưa, khi Tập đã về Sàigòn được hơn một ngày. Dù chưa biết mặt nhưng ông ta cũng ra đón ở bến xe vì không muốn tôi phải lạc lõng trong thành phố này.

- Tôi nghe Tập nói chị chưa hề đến đây lần nào?

- Vâng, và đây là lần đầu. May quá,  nếu không có ông đón tôi cũng chưa biết cách nào để tìm được nhà.

- Tôi tên Hiệp. Có người gọi là Hiệp lặn.

- Hẳn là ông lặn rất cừ.

- Vâng, tôi hiện đang phụ trách một lớp huấn luyện về săn cá.

- Tội nghiệp cho những con cá sinh sống trong vùng nào có ông sống.

Những câu nói đùa sau đó giúp chúng tôi vượt qua được sự rào đón lúc đầu. Khi xe về đến nhà, ở gần biển, tôi vui vẻ nhận lời mời đi ăn với Hiệp ngay buổi tối đầu tiên này.

*

Đúng như lời Tập viết trong nhiều lá thư, căn phòng có cửa sổ trông ra biển gió thổi lồng lộng. Ngay đêm đầu tiên dù mệt mỏi sau đoạn đường dài, khi đi ăn với Hiệp về, tôi cũng mở tung cửa để đứng nhìn xuống biển đêm với nhiều màu sắc rực rỡ nom như những chùm đèn nhiều mau của một đêm hoa đăng. Lúc ấy tôi nhớ là đã tự nhủ sẽ lưu lại nơi này suốt mùa hè để kéo dài nỗi thích thú mỗi đêm tựa cửa nhìn xuống bãi. Đêm đầu, tôi ngủ ngon trong căn phòng lạ, với Hiệp nằm ở phòng bên cạnh, rộng hơn. Tập từ Sàigòn về sau bốn ngày tôi đến. Bốn ngày không có Tập, tôi đi ăn đi nhảy đi tắm nhiều lần với Hiệp để cùng lúc sợ hãi vì khám phá ra sức lôi cuốn nơi Hiệp. Anh hay lấy ca-nô của sở làm để đưa tôi ra tuốt những hòn đảo ở thật xa. Chẳng hiểu Hiệp nghĩ sao khi đưa tôi đến những bãi vắng như thế, nhưng lúc nào trông anh cũng có vẻ dửng dưng, ngay cả khi lần đầu thấy tôi trong bộ áo tắm hai mảnh lóp ngóp từ dưới nước đi lên. Mỗi lần từ đảo trở về thường là quá chiều, gió thổi mạnh. Ca-nô mở hết máy như lướt trên mặt những con sóng lớn. Tôi ngồi nép vào một góc tránh gió và nhìn lên Hiệp dũng mãnh trong những động tác khiến tôi yên tâm và có cảm tưởng như được che chở.

Rồi Tập trở về. Tôi ham hố trong các cuộc chơi tay đôi tay ba như người nhịn đói lâu ngày ngồi trước bàn ăn thịnh soạn. Gần một tháng qua tôi không hề nhớ về chốn cũ và tôi tự hài lòng mình.

Căn nhà của vợ chồng Tập nằm lẻ loi ở cuối bãi nên buổi sáng còn lại một mình tôi không biết làm gì hơn là nằm trên bouée để trôi bềnh bồng trên nước chờ một trong hai người trở về. Hiệp thường xuyên ở ngoài khơi nơi mấy hòn đảo vắng, anh bận bịu với lớp săn cá. Còn Tập, mở một lớp luyện thi cùng với vài người bạn nữa. Từ ngày có tôi, Hiệp đi nhờ xe của một người bạn tới sở làm. Còn chiếc xe anh nói, để tôi lui tới cho đỡ buồn những lúc một mình ở nhà. Những sáng trời lạnh, không tắm được, tôi lấy xe chạy lòng vòng nhiều lần trên con đường ven biển rồi tiện thể xuống trường đón Tập về khi hết giờ. Buổi tối, chúng tôi gặp nhau trong bữa cơm ở nhà, đồ ăn là những con cá rất tươi Hiệp săn được trong lúc đưa học viên đi thực tập. Tôi đối diện cùng lúc sự lôi cuốn của Hiệp và nỗi thương mến của Tập.

Buổi sáng này, cũng vẫn một mình. Hiệp đưa Tập ra bến xe để nàng đi dự một buổi hội thảo kéo dài hai ngày ở tỉnh Đ. Có lẽ anh đã tới sở và giờ này đang ngoài đảo xa. Hơn một giờ ngâm mình dưới nước, tôi trở lên tắm lại bằng nước ngọt. Nhìn mình trong gương, da tôi đen trắng từng đoạn trông buồn cười nhưng bù lại thân thể cân đối như đi làm massage mỗi tuần. Trở về phòng kiếm chiếc váy khêu gợi nhất mặc lên người với ý định xuống phố một lát thì có tiếng còi xe trước nhà và Hiệp trở về. Chúng tôi gặp nhau ngoài thềm.

- Anh không đi làm?

- Bữa nay biển động nên nghỉ. Chị định đi đâu thế?

- Tôi đang tính xuống phố.

- Để tôi đưa chị đi. Mình ăn trưa ngoài tiệm luôn.

- Vâng, anh đợi tôi một chút.

Về phòng, tôi lấy ví và kính đeo mắt, khi trở ra Hiệp đã trở đầu xe xong. Tôi bảo Hiệp anh để tôi lái cho, rồi ngồi vào chỗ Hiệp nhường, nhẹ nhàng đưa xe tới lề đường. Buổi sáng trời mát, bãi tắm tuy sóng lớn cũng khá đông người. Xe chạy hết con đường ven biển tôi vào phố chính và ngừng lại trước một tiệm bán hải sản với ý định vào mua ít món về tặng cho vài người bạn. Hiệp theo tôi vào tiệm nhưng lẳng lặng nghe tôi trầm trồ. Vỏ ốc và san hô chưng đầy trong nhiều tủ kính lớn, tôi nhìn không chán mắt chẳng biết nên mua thứ gì. Nhưng sau cùng tôi cũng mua được hai cái vỏ ốc có gắn bóng đèn phía trong, một con sao biển màu xanh da trời và nhiều xâu chuỗi bằng vỏ ốc nhỏ xíu nom rất xinh. Hiệp bưng hộp giấy ra bỏ ở băng sau của xe trong lúc tôi trả tiền, cò kè bớt một, thêm hai với người chủ tiệm. Tôi đang có một buổi sáng vui vẻ nói cười luôn miệng. Hiệp nói:

- Chị còn mua gì nữa không?

- Chắc là còn mua nhiều nữa. Nhưng mình đi kiếm gì ăn đã chứ?

- Chị muốn ăn ở đâu?

- Đâu cũng được. Xa phố một tí.

Cho xe chạy, Hiệp bảo mình đi xuống H. ăn mực tươi. Tôi nhìn lên trời. Có lẽ hôm nay biển động thật vì qua vuông cửa nhỏ tôi thấy bầu trời màu xám giống như màu áo của vị tu sĩ. Tôi nói điều này với Hiệp. Anh mỉm cười vì sự ví von của tôi. Anh bảo không khéo trời mưa mất thôi. Nhưng nếu trời mưa ăn mực với uống bia lại rất thú. Chị uống được bia chứ? Tôi gật đầu, nhớ tới những ly bia mình đã uống ở đầu mùa hè (những ly bia, những điếu thuốc, phải chăng đều là những lưỡi dao rất sắc tôi cần tới chúng để chặt đứt vòng đai đời sống đang thắt chặt quanh mình?)

Xe đang chạy trên một con đường hai bên là biển và từng khoảng dừa rậm rì. Hiệp mở máy thu thanh. Tiếng nhạc phát ra bập bùng xen lẫn trong tiếng gió thổi ù ù hai bên tai. Khung cảnh giống như một đoạn phim nào đó tôi đã xem qua. Lúc đó tôi là khán giả và giờ này chắc tôi cũng chỉ là một khán giả tội nghiệp. Khi đèn bật snag1 thế nào cũng có đôi chút nuối tiếc vì đoạn phim mới xem. Tôi kín đáo thở dài rồi liếc sang Hiệp. Anh vẫn chăm chú với đoạn đường trước mặt. Tôi bỗng nói lớn:

- Sao anh đưa tôi đi xa quá thế?

- Tới rồi. Kia kìa.

Nhìn theo tay chỉ, tôi thấy một xóm nhà năm cheo leo trên lưng chừng một ngọn đồi thấp. Hiệp đem xe tới gần, leo lên một con dốc ngắn. Anh tìm chỗ đậu xe, tắt máy và chúng tôi bước xuống đường.

Những quán hàng vắng người. Liếc xuống bãi cát ngay dưới chân cũng vắng. Tôi và Hiệp có lẽ là những người lẻ loi tới đây chơi trong buổi sáng xấu trời như thế này, giữa trưa mà không nắng bởi trời vãn xám màu chì và biển thì sóng lớn. Vào quán, chúng tôi chọn một bàn gần cửa sổ có thể nhìn suốt bãi hình chữ C không một bóng người. Hiệp kêu hai chai bia, mực luộc cùng những thứ để ăn thay bữa trưa như đã định khi còn ở dưới phố. Trong lúc chờ đợi, tôi ăn những hột đậu phong đựng trong đĩa nhỏ và uống chậm rãi từng hớp bia. Hiệp bưng ly lên môi, anh nhìn tôi qua màu vàng óng của chất bia và nói tôi có nghe tập nói nhiều về chị. Nhưng tôi chỉ tin được một phần nào. Anh tin gì? Đời sống chị ấy mà. Hiệp nói mơ hồ nhưng tôi hiểu hết ý. Tôi cười làm vẻ buồn bảo tôi có một vài đời sống chứ không chỉ quanh quẩn ở một đời là nghề dạy học. Bây giờ tôi đang có một thời gian ngắn để sống đích thực đời sống của mình.

Không phải tôi muốn giải thích hay tâm sự gì với một người chưa thân thích lắm. Nhưng giọng tôi có vẻ là giọng tâm sự nên Hiệp tỏ vẻ săn sóc tôi hơn khi thức ăn được mang lên. Mực luộc còn nóng hổi chấm với muối tiêu chanh ăn ngọt từng miếng. Tôi ăn đủ các món do Hiệp gọi nên khi xong bữa cảm thấy tức bụng muốn đi lại một lát. Hiệp trả tiền rồi đứng dậy nói đúng như ý tôi muốn, anh đề nghị đi xuống bãi một vòng.

Con dốc thẳng đứng bên hông quán nhìn xuống bãi thấy chóng mặt. Có lẽ tôi đã uống nhiều bia nên say chăng? Trong lúc Hiệp đã xuống tới chân dốc tôi vẫn còn loay hoay chưa biết làm thế nào để đừng bị trượt chân lăn xuống như một viên sỏi. Níu vào những thân cây thấp tôi lần xuống. Gió thổi tung tà váy khiến tôi phải đưa một tay giữ cho khỏi bay nên suýt té nhiều lần. Hiệp nhìn lên. Tôi thấy tôi trong mắt nhìn mở lớn của anh nhưng vẫn thản nhiên. Khi tôi đã đứng vững vàng bên cạnh, Hiệp nói lúc chị đi xuống tôi trông giống như lúc Tập lặn lần đầu dưới biển, cũng e dè như nhau. Tôi không nói, hướng mắt ra xa khơi, nơi có những hòn đảo nằm rải rác và hình như được phủ một lớp khói mỏng. Vài cánh buồm đang trên đường về bến. Có lẽ mưa ngoài đó. Tôi nghĩ cũng đã đến lúc mình trở về, vì nếu tiếp tục cuộc chơi rồi tôi cũng sẽ lao đao như con thuyền ra khơi ngày biển động.

Cầm giầy trên tay, tôi theo Hiệp đi dọc mé nước. Được một quãng thì trời đổ mưa nhỏ. Không bảo nhau chúng tôi đều đi quặt lên một bãi đá lớn lởm chởm chồng lên nhau với hy vọng tìm một chỗ trú. Mưa nặng hạt khi cả hai chui vào một hốc đá kín đáo, nhờ nhờ bóng tối. Tôi nghe hơi thở mình bỗng nhiên rộn ràng như mưa đổ xuống bên ngoài mỗi lúc mỗi hung hãn. Trong bóng tối chập choạng của hốc đá tôi thấy mắt Hiệp ánh lên một vẻ rất lạ. Tôi thì thào:

- Anh Hiệp, mưa lớn quá.

- Vâng, mưa lớn thật. Có lẽ mình phải trú còn lâu.

- Ở đây đang mùa nắng mà sao lại mưa nhỉ?

- Lạ thật. Cũng chẳng hiểu tại sao mưa trái mùa như thế. Nhưng rồi cũng sẽ tạnh mà.

- Vâng sẽ tạnh. Và khi ấy tôi trở về.

- Chị nói gì thế?

- Không, tôi có nói gì đâu.

Không dưng giọng tôi nghe bùi ngùi như vừa nói một câu giã từ trong buổi tiễn đưa nào đó. Hiệp không hỏi gì thêm, anh khum tay mồi thuốc nhả khói thơm đầy chỗ hai người.

Khi cơn mưa dứt, ra khỏi hốc đá tôi cũng bị ướt chút ít ở mặt và cảm thấy mắt mình cay không duyên cớ. Tôi bước hụt hẫng trên nền cát ẩm ướt để tới chân con dốc đưa lên chỗ đậu xe. Nhìn Hiệp lẹ làng trên con dốc đứng tôi nghĩ giá anh đưa tôi lên thì chắc là sẽ tới đích một cách mau chóng. Nhưng tôi phải leo một mình, khá chật vật vì đường trơn sau cơn mưa.


Phạm Quang Phước       

(Trích từ giai phẩm VĂN số tháng mười 1973)