Thứ Tư, 14 tháng 12, 2022

MƯA MÙA ĐÔNG - Hoàng Ngọc Tuấn

 


Mùa Hạ của phố Huế có nhiều hoa phượng. Trên con đường vắng chạy dọc theo bờ sông, người đi đường đôi khi ngước mắt nhìn lên, bao giờ cũng thấy những dải hoa đỏ rực rỡ kết đầy trên tàng lá cây xanh. Trong lớp học, cô giáo mệt nhọc đọc từng chữ cho học trò chép. Cô bảo sắp đến kỳ thi lên lớp cuối năm rồi, các em phải cố gắng chăm chỉ thêm chút nữa. Thi đỗ là mùa nghỉ hè thênh thang tươi đẹp trao tặng cho các em.
 
Nhưng hầu hết bọn học trò đều ngủ gục trên bàn, hơi nóng gắt gỏng của mặt trời và tiếng ve kêu vang um, không đánh thức được chúng. Tôi cố gắng chống chọi với cơn buồn ngủ để làm một bài thơ. Thủa ấy có lẽ tôi được mười lăm tuổi. Vào tuổi đó, các cậu bé con chỉ có thể làm thơ tả cảnh đầm ấm trong gia đình hoặc làm thơ tình gởi đến cho những cô con gái trong mộng. Tôi làm một bài thơ tình và phải chăm chú nhìn cô giáo để diễn tả nét mặt của cô trong thơ.
 
Cô giáo của tôi tên là Dạ Thảo, đó là một cô gái xuất sắc chưa hề thấy trên đời. Cô dạy môn văn chương nhưng bọn học trò con trai cả năm không biết một tí gì về văn học sử cả, chúng chỉ mê mẩn ngắm thân hình mảnh mai của cô trong những chiếc áo dài mềm mại mà cô mặc thay đổi mỗi ngày. Khi thì áo màu tím, màu xanh, hay màu trắng, màu nào trông cũng thật là quý phái. Mái tóc đen óng ả, làn da trắng, đôi mắt trong và nụ cười thắm của cô, tất cả đều dễ thương quá, nên chẳng có đứa nào sợ cô cả. Lớp học mỗi khi đến giờ cô dạy thật thú vị. Bọn học trò chia ra làm hai hạng: bọn có tâm hồn mơ mộng nhìn cô không chớp mắt, còn bọn có tâm hồn bằng đá, cứ tự do chuyện trò, đọc truyện kiếm hiệp hay chụm đầu chơi ca-rô với nhau.
Tôi thuộc vào bọn thứ nhất. Tôi lại ở trong hạng nhỏ con trong lớp, nên được ngồi ở dãy bàn đầu, chỗ gần với cô giáo nhất. Vì thế tôi thuộc lòng những ý nghĩa trong mắt cô Dạ Thảo. Khi nào cô hài lòng điều gì, đôi mắt cô biến thành màu nâu dịu dàng, khi cô giận dỗi màu nâu ấy đổi sang màu đỏ. Nhưng màu nâu hay màu đỏ đều quyến rũ cả. Mỗi tuần thằng nào làm được bài luận Việt văn cao điểm nhất, cô bảo nó đứng dậy đọc cho cả lớp nghe, rồi cô xoa đầu nó khen ngợi. Cái trò đó quả thật tuyệt vời. Tôi dần dần bỏ bê hết tất cả những môn học nào ngoài môn Việt văn, suốt ngày chúi đầu đọc một lô sách truyện đủ thứ, tiểu thuyết tiền chiến, truyện trinh thám, ái tình, truyện kiếm hiệp... để được “văn chương thấm vào người”, như cô Dạ Thảo nói. Rồi cái ngày thần tiên nhất của tôi cũng đến. Bài luận của tôi, tả một cảnh biệt ly trong gia đình, được chấm nhất lớp. Trong khi đó, tôi bị các ông giáo môn toán chửi mắng thậm tệ, vì tôi luôn luôn bó tay trước bất cứ một bài toán nào, dầu dễ nhất.
 
Cô Dạ Thảo gọi tôi đứng dậy. Tôi lắng nghe tên mình phát ra từ đôi môi dễ yêu của cô, và tôi run run đọc bài luận cho cả lớp nghe. Xong xuôi, cô khen tôi vài lời, nói rằng mong muốn tôi cứ xuất sắc mãi như vậy. Rồi cô ban phần thưởng như thường lệ, nghĩa là dùng năm ngón tay trắng mềm mại xoa lên mái tóc tôi. Hạnh phúc làm người tôi nóng bừng, tôi lén ngước mắt nhìn lên và bắt gặp vội vàng đôi mắt của cô âu yếm lạ thường.
 
Thuở ấy, tôi yêu cô Dạ Thảo vô cùng và tôi quả quyết với bạn bè là cô giáo cũng mê tôi như chết. Nhưng về sau, sự thực đã chứng minh ngược lại, không ai còn nghe được tiếng trách móc và lời giảng bài ngọt ngào của cô nữa. Cô giáo yêu dấu của một thời tuổi thơ đã bỏ trường, bỏ học trò, đi lấy chồng. Ngày đó tôi hậm hực viết đầy trên trang giấy vở những chữ to tướng: Cô giáo phản bội. Những chữ ấy thật ghi đậm dấu vết trong tâm hồn tôi, nhưng giá có người nào đọc được, chắc họ sẽ cười lăn ra chết.
 
Một lần nào đó, cô Dạ Thảo ngạc nhiên khi thấy tôi không làm bài luận nhan đề: “Tả một cảnh êm ấm trong gia đình với cha mẹ và anh em”. Tôi không biết gì về cảnh đó. Tôi không được sống trong mái nhà êm ấm mà trẻ thơ nào cũng mơ ước. Tôi mất cha từ nhỏ, chưa hề thấy mặt người. Mẹ tôi yêu tôi, nhưng bà cũng yêu thêm một người đàn ông khác. Bà sống với một người chồng mới và muốn có tôi bên cạnh, nhưng tôi thích ở với bà ngoại tôi hơn. Trong ngôi nhà cổ kính có vẻ lạnh lùng của bà ngoại, tôi cảm thấy bình yên, vì ở đó không có người lạ. Hồi nhỏ, người ta sợ hãi những người lạ biết bao.

Người ta không yêu Huế vì mùa Hạ. Mùa Hạ nắng chảy trên da người như đè nặng cả một khung trời lửa. Tôi yêu Huế vì mùa Đông mặc dầu mùa Thu là mùa dễ thương nhất. Mùa Thu lá vàng rụng nhiều, làm buồn lòng người phu quét đường còm cõi. Tôi sẽ nhớ mãi hình ảnh mơ màng của mùa Đông ở Huế.
 
Hình như Huế là một thành phố mưa. Bầu trời, mái ngói, những ngọn cây đều là một màu trắng mờ chao động. Mưa kéo dài suốt tuần lễ, có khi suốt tháng trường, thỉnh thoảng mưa tạm dừng lại giây lát cho những cậu bé con chạy ào ra bờ sông, ao hồ để câu cá. Trường học đóng cửa vì “lễ lụt”. Nước ngập cao ở mọi đường, khiến thầy giáo và học trò đều không đến trường được. Nước sông lên cao chôn vùi Đập Đá. Những người đi xe đạp, khi băng qua đập, phải dắt xe chậm chạp từng bước, người nào không cẩn thận sẽ té nhào xuống sông và bị dòng nước cuốn phăng đi mất. Mực nước trong thành phố lên cao mãi. Những nhà cửa đã bị nước tràn vào sân và rồi nước ngập khắp các căn phòng. Bàn ghế, đồ đạc, chồng chất lên nhau, trên chỗ cao nhất đặt một tấm gỗ làm nơi cư trú cho cả gia đình.
 
Ngôi nhà của tôi nằm trên một trũng đất thấp. Nước đã xâm chiếm khắp căn nhà, phá hoại hết khu vườn đầy cây trái và hoa cỏ, chuồng gà sau bếp cũng mất tích theo dòng nước lũ. Người lớn lo âu vì gạo dự trữ sắp hết và không thể đi đâu được. Nhưng trẻ con khoái biết bao, được nghỉ học, được ngồi yên trên một con đò nhỏ và nhờ bác chèo ghe chở đi vòng quanh nhà hay sang nhà hàng xóm mượn vài lon gạo. Tôi thích sang nhà trước mặt nhất, vì nhà ấy có một cô gái tên Bích Câu. Bích Câu lớn tuổi hơn tôi nhiều, nàng học trường  Đồng Khánh nên sáng nào cũng thướt tha điệu bộ đi học ngang qua nhà tôi. Ngày lụt lội, Bích Câu mất hết cái vẻ đài các. Nàng mặc chiếc áo cụt tay thấm đầy nước mưa, quần xắn đến đầu gối để lộ làn da chân trắng nõn. Bích Câu đang mải mê lội nước, tìm những cành cây trôi vật vờ, đem về nhà nhóm bếp, nấu nướng. Tôi bỏ con đò, nhảy xuống nước tìm củi giùm cho Bích Câu. Tôi phải bậm môi cố bíu chặt chân mình trên mặt đất mềm nhũn. Rồi tôi cũng đem đến cho Bích Câu một bó củi to tướng. Nàng cười nói cảm ơn, nàng khen tôi dễ thương và nói rằng tôi khoan về nhà, cứ ở đây kiếm củi cho nàng, đến trưa ăn cơm ở nhà nàng luôn, mẹ nàng cũng mến tôi lắm. Nhưng tiếng kêu của bà ngoại tôi đã vang lên:
 
- Đông ơi, về nhà ăn cơm. Con đi đâu từ sáng đến giờ?
 
Tôi vội vàng quay về ngay, tuy trong bụng tiếc kinh khủng. Bích Câu dặn dò:
 
- Đông cẩn thận kẻo nhào xuống ao nghe. Cứ theo đường thẳng này mà đi là đúng đường, còn hai bên là ao sâu cả đó.
 
- Yên trí. Tôi thuộc lòng vườn nhà tôi mà, cây ổi nào vừa có trái chín là biết ngay, huống gì hai cái ao to tướng. Chỉ tiếc không được ăn cơm ở đây thôi, trưa nay nhà chị ăn cơm với gì đó?
 
Bích Câu cười, nàng đưa tay vén lại mái tóc đen nhánh của nàng, giờ đây đã ướt sũng nước.
 
- Nhà hết thức ăn rồi. Trưa nay mỗi người ăn một chén cơm với nước mắm ớt. Thấy nhà nghèo ghê chưa?
 
- Nghèo gì? Trời lạnh như thế này mà đớp một chén cơm nóng hổi... nghe nói đã chảy nước miếng.
 
- Thế nhà Đông ăn gì?
 
- Có lẽ ăn cơm với mắm cá.
 
- Trời ơi! Tuyệt quá.
 
- Qua tôi ăn cơm đi.
 
- Không được, mẹ la chết. Thôi Đông về đi, chiều qua chơi nghe.
 
Tôi vùng vẫy chân dưới nước chảy xiết, đi khó khăn từng bước một. Tôi cứ quay đầu nhìn Bích Câu mãi, nên suýt chút nữa bị ngã xuống ao. Khi bàn chân đạp trúng ngay bờ ao, tôi sợ tái người và vội vàng hụp cả thân người xuống nước, hai tay hối hả khoát bơi mạnh qua một bên. Áo quần ướt nhèm, dính sát vào da thịt làm tôi lạnh cóng. Tôi đứng run lẩy bẩy như một con gà bị thả vào hồ nước. Mái ngói của ngôi nhà trước mặt mà bây giờ sao thấy quá xa. Tôi bỗng thèm ghê lắm một lò lửa có những thanh củi nổ tí tách.
 
Buổi trưa, cơn bão tố từ đâu kéo về thổi ào ào như muốn nhổ bật cả khu xóm. Tiếng gió réo và tiếng những cành cây gẫy nghe thật bồi hồi.
 
Buổi chiều mưa ngớt hột, một vài chiếc đò chèo đến trước nhà rao hàng. Bà ngoại mua một ít gạo và cá khô để dành cho những ngày sắp đến. Khi bà ngoại quay vào trong nhà, tôi leo lên đứng trên cánh cửa sổ, mực nước bây giờ đã lên ngang bằng cánh cửa. Tôi kêu lên khi người lái đò sửa soạn nhổ cây sào để chèo đi.
 
- Bây giờ bác chèo đi đâu nữa?
 
Người lái đò hất đầu hướng về những mái nhà hàng xóm đang chìm ngập trong biển nước, chiếc nón lá trên đầu của bác ta rách tơi tả dưới cơn mưa.
 
- Còn phải đi bán cho mấy nhà khác, có lẽ tối mới về nhà.
 
- Bác chở giùm tôi qua nhà trước mặt một chút đi. Bác qua bên đó bán cho người ta luôn, họ cũng hết thức ăn rồi.
 
Người lái đò gật đầu, chờ tôi leo xuống đò xong, bác ta mới nhổ cây sào ra khỏi mặt đất và mệt nhọc chống sào xuống dòng nước để con đò trôi chậm từng bước ngắn. Khi đò trôi vào cổng nhà Bích Câu, đã thấy nàng ngồi trên cửa sổ, khuôn mặt nàng không hiểu sao trông thật buồn bã, bàn tay thả những tờ giấy màu xanh rơi lả tả trên mặt nước. Bích Câu ngẩng đầu lên.
 
- Tôi buồn quá Đông ơi!
 
Nàng làm tôi ngạc nhiên, tôi nhìn thấy đôi mắt nàng hơi đỏ vì hình như đã khóc.
 
- Tại sao buồn? Trời lụt được nghỉ học mà còn buồn gì nữa. Bộ nhà hết gạo ăn rồi hả?
 
- Không phải. Tại vì tập thơ của tôi, tôi mất hết tập thơ rồi.
 
Bích Câu nói món đồ nàng quý nhất là tập thơ chép tay của nàng. Nàng đã mua mấy trăm tờ giấy pelure màu xanh, khâu chỉ đóng lại thành một tập dầy, có đóng bìa cứng cẩn thận. Trên những trang giấy đó, nàng đã chép biết bao bài thơ thật hay, trích từ những tờ báo hay sách mà nàng mượn của bạn bè.
 
- Tôi cất kỹ nó trong hộc, lúc bận dọn dẹp đồ đạc, bỗng quên mất nó đi. Đông xem, còn gì nữa đâu, nước ướt hết, rách nát hết rồi... chỉ còn vài tờ.
 
Tôi cầm lấy một tờ giấy màu xanh từ tay nàng, trang giấy ướt mèm nước dơ bẩn, những dòng chữ viết bằng mực tím của nàng, bây giờ trông nhòe nhoẹt, có chữ bị xóa mờ hẳn đi. Một bài thơ nào đó không còn toàn vẹn.
 
Bích Câu cứ ngồi âu sầu một chỗ mãi. Tôi nghĩ rằng có lẽ nàng cứ ngồi lặng yên như thế, cho đến khi biến thành một hòn sỏi lăn xuống nước, và tôi làm thế nào tìm được một hòn sỏi nhỏ bé trong sóng nước mù tịt này. Con gái khi buồn trông thật đáng yêu, tôi muốn mình cao lớn thêm thật nhiều, lớn thêm vài tuổi nữa, để có thể vuốt ve mái tóc dỗ dành nàng. Tôi có một cách riêng để an ủi con gái. Lúc đầu là chọc cho nó giận dỗi thêm để khóc òa, và sau cùng là dỗ dành thực sự cho cô nàng hết khóc.
 
- Thôi đừng buồn nữa. Mùa lụt này có khối người mất hết nhà cửa, ruộng vườn, chị mất một xấp giấy vớ vẩn mà cũng bày đặt buồn.
 
- Đông không có tâm hồn. Đông không biết yêu văn chương gì cả.
 
- Đừng đùa. Trong lớp tôi đứng nhất về môn Việt văn đó.
 
- Vậy tại sao Đông không tiếc giùm tôi? Mấy trăm bài thơ chép cả hai năm nay bây giờ mất hết. Giờ có muốn chép lại cũng cũng không mượn đâu cho có đủ những bài thơ đó.
 
Tôi bắt đầu pha trò của tôi.
 
- Chép lại làm gì cho mất công. Bây giờ lo để dành tiền mua sách về tâm lý đàn ông, tâm lý ái tình mà đọc. Này, nói thật cho chị biết, chị lớn rồi nghe không, lo kiếm chồng là vừa, chứ không phải lúc nào cũng thơ thẩn mãi được.
 
Bích Câu đỏ bừng mặt, nàng kêu lên:
 
- Đông nói gì kỳ cục vậy?
 
- Con gái lớn rồi phải đi lấy chồng, chứ có gì mà kỳ cục. Mấy lúc này thấy có nhiều ông nào lượn quanh nhà chị hoài, chọn đại một ông đi.
 
Bích Câu bĩu môi. Mặt nàng trở nên nghiêm trang, đôi mắt nhíu lại khó chịu nhìn tôi.
 
- Đông vô duyên quá. Khi không để ý vào chuyện người khác làm gì vậy?
 
Tôi đứng sựng lại, mặt nóng bừng vì sượng sùng. Cái chữ “vô duyên” quá nặng nề đối với tôi, và bất cứ một ai nói với tôi câu đó đều làm tôi sợ hãi. Khuôn mặt của Bích Câu bây giờ hết vẻ tội nghiệp, đôi mắt nàng thật xa lạ, lạnh lùng. Nàng đã không khóc như tôi chờ đợi, và trái lại, bây giờ tôi có vẻ là người muốn khóc hơn cả. Tôi đứng yên ngẫm nghĩ về mình và nghĩ rằng có lẽ mình vô duyên thật, điều đó làm tôi buồn bã vô cùng. Bích Câu càng thêm vẻ thờ ơ, nàng không nhìn tôi, không nhìn ra ngoài bầu trời mưa nữa. Nàng đã buông hết những tờ giấy màu xanh xuống nước và nàng dùng những ngón chân của nàng đùa nghịch trong lòng nước sóng sánh.
 
Con đò đã bỏ đi từ hồi nào tôi chẳng hề hay biết. Những hạt nước mưa tuy không còn rơi mạnh mẽ, nhưng cũng thấm ướt trên đầu và thân người tôi từng giọt thật lạnh băng. Hôm nay lại thêm một bữa tắm mưa lạnh gần chết.
 
Tôi quay về nhà, nhìn khuôn mặt mình không còn ra hình dáng gì nữa, dưới làn nước đục ngầu một màu bùn đỏ.
 
Tôi cảm thấy giận Bích Câu lạ lùng. Nếu tôi là người luôn luôn sẵn sàng dỗ dành con gái, thì trái lại, cóc có một cô nào chịu khó dỗ dành tôi cả. Bích Câu không nói thêm một tiếng, nàng thản nhiên nhìn tôi bỏ đi.
 
Cứ mỗi buổi chiều xám nặng nề, nước bao la dưới chân và nhiều gió lạnh, tôi thường nghĩ đến một lò lửa ấm áp. Nhưng rồi khi nằm bên cạnh lò lửa trong nhà, lại mơ tưởng đến bầu trời cao ngoài kia xanh bát ngát.

Ba ngày sau, mực nước xuống nhiều, chỉ còn cơn mưa tầm thường mà bất cứ thành phố nào cũng có thể có. Trời thôi không còn gió bão.  Nước lũ lượt rút đi khỏi ngôi nhà và khu vườn, theo ao và đường cống hai bên đường chảy ra sông. Khu vườn bây giờ là một miếng đất xác xơ, đám ớt xanh, bắp cải, những cây rau quế, rau dền, rau khoai hư nát hết. Vườn hoa hồng và hoa huệ mà sớm mai nào bà ngoại cũng thức dậy tưới nước, bắt sâu, bây giờ ngã rạp nhàu nát trên bùn đất, trông buồn bã như những xác người chết.
 
Tôi thức dậy sớm vì nghe tiếng gọi tên mình từ bên nhà hàng xóm. Thoạt đầu tưởng như tiếng gọi của Bích Câu, nhưng khi vừa dụi mắt mới biết là không phải. Tôi nhận ra khuôn mặt quen thuộc của anh Đào. Anh Đào đang đứng co ro mình trong chiếc áo mưa nhà binh bạc màu, đầu anh đội một chiếc mũ cát-két như những tay thợ săn, chân đi giày ba-ta rách bươm. Tôi chỉ bằng tuổi mấy đứa em của anh Đào, nhưng anh thường rủ tôi chơi với anh trong những vụ tắm sông hay đạp xe lên các lăng tẩm. Anh Đào đưa hai bàn tay trước miệng làm ống loa rồi la lên:
 
- Ê, Đông ơi, thức dậy đi lội nước với tao.
 
- Trời còn mưa nhiều không?
 
- Còn. Mưa mới khoái, mày kiếm cái áo mưa với bộ đồ nào dơ nhất mặc vào rồi qua đây nhanh lên. Đi ra bờ sông coi người ta câu cá.
 
Tôi vùng dậy ngay. Đi chơi lang thang dưới cơn mưa thật tuyệt, dù người tôi đang run lên vì lạnh, tôi cũng không thể nào bỏ qua được. Tôi vội vã tìm ba chiếc áo sơ mi thật dầy, mặc chồng lên nhau vì trời còn lạnh, cổ quấn khăn kín mít. Tôi may mắn tìm được đôi giày ba-ta há mõm nhưng thiếu chiếc mũ thợ săn như của anh Đào. Cuối cùng, tôi đành trùm lên đầu chiếc mũ to tướng của ông cậu tôi. Tôi chạy nhanh ra khỏi cổng nhà, anh Đào đứng chờ trước cửa nhà anh. Anh đang hút thuốc, khi thấy tôi anh nhe răng ra cười để lộ hàm răng thiếu một chiếc ở giữa. Vì sún răng, nên anh có thể làm cái trò rất thú vị là gắn điếu thuốc lá vào hàm răng anh, giữa kẽ hở nhỏ xíu. Tôi bật cười, anh Đào vỗ vai tôi.
 
- Mấy bữa nay mày đi đâu mất tao tìm hoài không thấy?
 
- Qua nhà chị Bích Câu chơi.
 
Anh Đào tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn tôi.
 
- Bên đó có gì vui đâu?
 
- Chị Bích Câu dễ thương lắm.
 
Đôi mắt của anh Đào mở tròn kinh ngạc, anh nhún vai và vứt điếu thuốc xuống đất.
 
- Dễ thương? Cái con nhỏ chua ngoa nhất xóm này mà mày bảo dễ thương? Con nhỏ có bộ mặt dài như ngựa mà lúc nào cũng vênh lên, tưởng mình đẹp ác lắm.
 
Đến lượt tôi ngạc nhiên.
 
- Mặt vậy mà bảo là dài? Chị ấy đẹp quá trời đi, lại văn nghệ ghê lắm. Anh biết không, chị Bích Câu có một tập thơ quý lắm, chép nhiều bài thơ xưa thật hay.
 
- Bộ mày mê con Bích Câu rồi phải không?
 
Tôi gật đầu, tôi không giấu diếm điều gì với anh Đào, nhất là những chuyện tình cảm, bởi vì anh Đào là ông giáo đầu tiên dạy cho tôi những bí quyết chinh phục con gái, dầu tôi không bao giờ thấy anh Đào quen với một cô nào cả. Tôi buồn buồn thú nhận với anh Đào là tính tôi đơn giản đến nỗi yêu hầu hết những người đàn bà nào tôi quen hay chỉ vừa gặp. Tôi lại biết điều khiển giấc mơ của mình thật tài tình. Mỗi đêm, trước khi đi ngủ, tôi dành chừng nửa giờ nghĩ đến người con gái nào là khi thiếp đi, tôi sẽ gặp nàng trong giấc mơ.
 
- Đêm qua mới nằm mơ thấy chị Bích Câu. Nhưng hơi kỳ lạ... thấy chị ấy đi lấy chồng rồi ông chồng nào cũng bị rơi xuống giếng chết đuối cả. Có chừng mười người chết như vậy, nên rốt cuộc không ai dám lấy chị cả. Đến năm 90 tuổi, chị Bích Câu vẫn góa chồng... nhưng thật kỳ cục, già như thế mà nước da chị vẫn trắng như tuyết...
 
Anh Đào bực mình ngắt lời tôi.
 
- Thôi, dẹp chuyện mơ mộng của mày đi. Nếu tao có khá tiền, tao sẽ dẫn ngay mày đến một ông bác sĩ trị bệnh thần kinh.
 
Anh Đào nắm tay tôi lôi đi. Trên mặt đường, nước mưa chỉ còn lúp xúp ngang mắt cá chân, vừa đủ để tôi nhúng đôi chân trong làn nước mát lạnh và đá văng tung tóe những hạt nước văng lên cao. Mưa rơi từng giọt lộp bộp trên đầu nghe thật vui tai. Đôi khi một cơn gió mạnh thổi qua, cành cây nhỏ nào đó rơi trúng vào vai làm tôi giật mình. Tôi với anh Đào đi dọc theo bờ sông Hương. Trên bờ sông, cứ cách một quãng ngắn là một lão già đang đội mưa giăng lưới. Hình như tất cả những cậu bé con của thành phố đã đổ xô ra những bờ sông. Đứa đứng nhìn, đứa vút mạnh lưỡi câu xuống dòng nước. Những đứa nào mới tập tành câu cá thì ra những bờ ao và ruộng cạn, ở đó có rất nhiều cá bống và cá rô, thứ cá dễ ăn mồi nhất.
 
Tôi nhìn thấy những điếu thuốc bốc khói xanh thật đẹp, cứ liên tiếp đốt trên môi anh Đào, tôi xin một điếu nhưng anh không cho. Tôi cố gắng nói và nghĩ rằng nếu tôi không nói lên được, chắc người tôi sẽ chết cóng:
 
- Anh Đào ơi, xin điếu thuốc hút cho ấm bụng.
 
- Nói lớn lên... tao không nghe gì cả, trời mưa lớn quá.
 
Tôi nổi cáu gân cổ lên:
 
- XIN ĐIẾU THUỐC!
 
- Không được. Mày còn nhỏ đừng bày đặt.
 
- Mười lăm tuổi rồi chứ còn nhỏ gì?
 
- Nói lớn lên... tao không nghe gì cả.
 
- MƯỜI LĂM TUỔI RỒI!
 
- Đợi sang năm mười sáu tuổi rồi hút thuốc.
 
Tôi thèm một điếu thuốc lá quá chừng. Tôi lầm lũi đi nhanh, bàn chân bực dọc đá văng tất cả những cành cây gãy gặp phải trên đường. Hai người đi qua cầu Trường Tiền và tôi phải bám chặt vào thành cầu để khỏi bị gió thổi bay xuống sông. Anh Đào đi còng lưng như người già. Anh đưa hai tay giữ chặt chiếc mũ thợ săn và nhăn nhó vì những hạt nước mưa thi nhau quất vào mặt. Anh nói lắp bắp:
 
- Mày thích vô tiệm ngồi cho ấm không?
 
Tôi giả vờ kêu lên:
 
- Nói lớn lên... Trời mưa quá, không nghe gì cả.
 
Tôi nhìn thấy anh Đào há miệng thật lớn, chắc nước mưa đã bay vào đầy cổ họng anh.
 
- THÍCH VÀO TIỆM KHÔNG?
 
- Không. Anh đi một mình đi, tôi về.
 
- Đừng đùa. Mày về một mình rủi nhào xuống sông chết đuối, tao biết nói sao với bà ngoại mày?
 
- Mặc kệ. Tôi về đây.
 
Anh Đào hoảng hốt nắm chặt lấy chiếc áo mưa của tôi, năn nỉ:
 
- Thôi đi với tao vào tiệm rồi tao cho hút thuốc lá.
 
- Nói lớn lên... không nghe gì cả.
 
- THẰNG QUỶ! TAO CHO MÀY HÚT THUỐC, KHỎI ĐỢI ĐẾN SANG NĂM NỮA.
 
Tôi cười sặc sụa vui thích, cùng với anh Đào chạy nhanh qua cầu để đến tiệm cà phê. Chắc anh Đào cũng thèm uống một ly nước gì đó như tôi, vì cả hai vừa hét quá nhiều đến khan cả cổ.
 
Quán ít người, người nào cũng co ro trong chiếc áo đi mưa và một điếu thuốc lá trên miệng. Mưa tạt vào những bàn ghế đặt ngoài quán, nên anh Đào phải tìm một chỗ kín nhất trong góc quán. Anh Đào vẫn đội chiếc mũ thợ săn thật đẹp, còn tôi vội vàng lột chiếc mũ to tướng và lố bịch của tôi ra. Người bồi tiến lại trước mặt anh Đào.
 
- Cho tôi một ly cà phê sữa... còn thằng này, mày uống gì? Một ly chè trái cây hay chè đậu xanh nhé.
 
- Trời ơi, lạnh như thế này mà uống cái thứ dành cho trẻ con đó!
 
Tôi nói với người bồi bằng cái giọng thản nhiên và thành thạo như đã vào quán này cả ngàn lần.
 
- Anh cho tôi một ly cà phê đen với một  “ lon”  Ruby.
 
Anh Đào nhún vai, lắc đầu nhìn tôi rồi nhìn ra ngoài đường. Đường phố mờ mịt trong cơn mưa, một vài người vội vàng đi qua lại. Chiếc máy hát trong quán rè rè chạy một bản nhạc ăn khách nhất lúc này, bài Bambino do giọng hát ma quái của Dalida trình bày. Lát sau, người bồi trở lại với hai ly cà phê bốc khói thật ấm, và một lon sữa bò trong đó đựng năm điếu thuốc lá hiệu Ruby Queen. Tôi châm một điếu trước tiên, khói nóng nặng nề trong miệng và cay xè đến chẩy nước mắt. Trời đã mờ vì mưa, đôi mắt lại bao phủ thêm bằng một vài giọt nước mắt, nên khi tôi nhìn sang bên kia đường, cảnh tượng hết sức mờ nhạt như một khúc phim bị hư. Rạp chớp bóng vừa mới vãn, khán giả chen chúc đi ra đường phố, có những đàn bà mặc áo đi mưa màu xanh, đỏ hay tím, trông thật vui mắt.
 
Đến ngày cuối tuần, cơn mưa hoàn toàn chấm dứt. Nước đã khô trên đất, chỉ còn những ao sâu hai bên đường là vẫn còn đầy ắp dòng nước chảy xiết. Mặt trời đã lâu không ai nhìn thấy, bây giờ hơi ửng một chút hồng hào như má con gái. Và dần dần, tia nắng đỏ rực rỡ trên mái ngói và những cành cây chỉ còn một ít lá xanh. Ban đêm, tôi sang nhà Bích Câu để xin vài viên thuốc cảm. Người tôi bây giờ lúc nào cũng lạnh run từ trong da thịt, vì những vụ đội mưa đi chơi vừa rồi. Tôi chăm chú nhìn khuôn mặt của Bích Câu để xem mặt nàng có dài như mặt ngựa không, nhưng tuyệt không, khuôn mặt nàng vẫn tròn và trắng xanh, che lấp sau mái tóc đen nhánh.
 
- Đông thấy tóc tôi đẹp không? Mới gội đầu với bồ kết đó.
 
- Ừ.
 
- Đông có giận tôi phải không?
 
- Không.
 
- Thế sao mấy ngày này không qua đây chơi?
 
- Bận đi chơi với anh Đào, anh ấy vui vẻ hơn chị nhiều.
 
Bích Câu mở tròn mắt ngạc nhiên, tôi lại nhớ đến nét mặt của anh Đào khi nghe nói về Bích Câu.
 
- Chơi gì với cái thằng răng sún dễ ghét đó?
 
- Đừng nói bậy, anh ấy dễ thương lắm.
 
- Dễ thương? Cái thằng ăn bận như cao bồi, sáng nào tôi đi học cũng bị nó chận lại ở góc đường chọc ghẹo.
 
- Anh ấy đâu có thèm chọc chị làm gì. Chị tưởng chị đẹp lắm sao?
 
Tôi ra về. Bây giờ nước đã cạn khô, con đường gạch đá hay ao sâu đều hiện rõ, nên Bích Câu không dặn dò tôi phải đi cẩn thận nữa. Bích Câu chỉ kêu nhỏ:
 
- Đông có hơi giận tôi phải không?
 
- Phải. Nhưng giận ít thôi.
 
- Vậy làm sao cho Đông hết giận?
 
- Đừng làm gì cả. Cứ để tự nhiên rồi hết.
 
Bích Câu bật cười. Tôi không quay lại, nhưng vẫn thấy rõ ràng trong trí não đôi môi nàng đỏ hồng tươi thắm, trời bây giờ có nắng ấm, nên môi của nàng không còn tái xanh nữa.
 
Đêm khuya, tôi nhìn sang nhà Bích Câu, phòng nàng vẫn còn thắp ánh điện vàng. Chắc nàng đang sửa soạn lại bài vở và ủi chiếc áo dài trắng. Tôi lấy chăn đắp kín người, để đôi mắt mở ra vẫn không nhìn thấy gì cả. Sáng mai, trên đường sẽ có nhiều người đi. Bích Câu sẽ thướt tha trong chiếc áo dài trắng, khuôn mặt nàng sẽ nghiêm trang như thường lệ. Có thể nàng làm lơ khi thấy tôi hay chỉ nhếch mép cười mỉm rất nhanh. Dầu sao tôi cũng mong con đường của nàng đi sẽ đen nhánh, lóng lánh như hột nhãn sau những ngày nước mưa quét sạch bụi bặm. Nếu thỉnh thoảng trên đường có một vài màu xanh lấm tấm, đó là màu xanh của những trái sầu đông đã rơi vội vàng trong mùa mưa bão.
 
Người nữ xướng ngôn viên của đài phát thanh loan báo theo một nguồn tin của Sở Khí tượng, cơn bão lụt ở thành phố Huế đã chấm dứt. Xe buýt đã chạy như thường lệ, và bắt đầu từ sáng thứ hai, học trò sẽ lại cắp sách đến trường.
 
Như thế là cơn mưa mùa Đông trên thành phố này đã qua đi. Khi Huế hết mùa mưa, tôi thấy bớt yêu Huế nhiều hơn.
 
 
Hoàng Ngọc Tuấn
 
(Trích từ tập truyện Học Trò, Vàng Son xuất bản 1973)

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2022

NGƯỜI BẠN TRẺ - Thạch Lam


Anh Bình!

Tôi đang mải ngắm một cửa hàng, vội vàng quay lại, ngơ ngác nhìn xem ai gọi. Trên bờ hè phía bên kia, một người nhỏ bé, bận quần áo ta, miệng cười và giơ tay vẫy. Tôi chưa nhận rõ là ai. Người đó, đợi cho mấy chiếc xe tay đi khỏi, rồi tất tả chạy qua đường đến gần tôi, tay giơ ra vui vẻ.

- À, anh Bào.

Chúng tôi mừng rỡ. Bào nắm chặt lấy tay tôi, lay đi lay lại:

- Anh chưa quên tôi à?

Tôi đáp:

- Quên thế nào được một người bạn học cũ. Nhất là anh thì tôi lại càng nhớ lắm.

Một tia vui thoáng qua trong mắt Bào. Anh thong thả nói:

- Lâu lắm rồi anh nhỉ. Thấm thoát thế mà đã hơn bảy, tám năm đấy. Anh trông tôi có khác trước lắm không?

Tôi nhìn Bào từ đầu đến cuối, rồi đáp:

- Không khác mấy, chỉ có hơi gầy đi một chút. Nhưng cái vẻ "con gái" của anh thì vẫn vậy, không khác tí nào!

Hai chúng tôi cùng cười. Khi còn học ở trường, anh Bào vẫn có cái huy hiệu là"con gái" do anh em tặng. Vì hồi ấy, anh mới có mười ba tuổi - chúng tôi học ở lớp nhất - hai má anh hồng hồng và vẻ mặt anh nõn nà trông xinh xinh như một cô con gái thật. Mà tính tình anh cũng ngây thơ nữa.

Mới đầu còn gọi đùa, sau cái tên ấy thành quen, các bạn học ai cũng gọi anh Bào như thế. Chúng tôi thường trêu anh bằng cách gọi anh lại gần, xoa đầu anh mái tóc anh rất đẹp hôn đùa vào má rồi bảo: "Cô gái bé tôi xinh chửa", hoặc một câu khác tương tự. Anh Bào cố sức giang tay chúng bạn ra, mặt anh thẹn đỏ lên, trông lại càng đáng yêu và càng giống cô con gái lắm.

Sự nhắc lại những kỷ niệm chung ấy làm chúng tôi trở nên thân mật như xưa. Tôi khoác tay Bào vừa đi vừa nói chuyện.

- Tôi nghe hình như anh đang học ở ban thành chung Nam Định cơ mà. Sao bây giờ anh lại lên đây?

Bào buồn rầu đáp:

- Tôi bị đuổi rồi anh ạ. Từ đầu năm ngoái.

Anh kể lại cho tôi nghe cái duyên cớ: anh đang học năm thứ tư sắp thi ra, thì xảy ra việc các học trò để tang một nhà chí sĩ. Cả lớp cùng bị đuổi. Sau ít lâu, mọi người lại lục tục xin vào và được phép trở về học. Chỉ có anh và mấy người nữa, mà không biết kẻ nào đã vu cáo là cầm đầu cuộc bỏ học bị đuổi hẳn. Anh không minh oan được. Cả cha anh ở bên Thái cũng sang, vào nói với ông đốc, nhưng vô hiệu.

- Từ độ ấy, thầy tôi giận tôi lắm. Nhà tôi nghèo, anh cũng biết, mà tôi lại là hy vọng độc nhất của cả gia đình, các em tôi thì còn bé. Thầy mẹ tôi khổ sở lắm mới nuôi tôi ăn học đến thế. Vậy mà đột một cái bị đuổi.

Ngừng một lát, anh Bào tiếp:

- Tôi về nhà không chịu được. Thầy tôi cứ uống rượu say, rồi chửi mắng tôi là đứa con bất hiếu phụ công cha mẹ, không nghĩ gì đến nhà cửa, chỉ đua đòi anh em đến nỗi bị đuổi. Thầy tôi bắt phải ra Hà Nội tìm việc làm, bảo nếu không được thì đừng về trông thấy mặt nữa.

Anh Bào khẽ thở dài:

- Nếu không có công việc thì thật tôi cũng không dám về. Thầy tôi nghiêm lắm anh ạ.

- Sao anh không xin đi làm?

- Không được. Tôi bị cấm suốt đời không được làm việc trong các sở của nhà nước.

Anh Bào trở nên yên lặng. Một lát, tôi hỏi:

- Còn các nhà buôn? Các sở tư?  

- Ấy, tôi cũng chỉ còn hy vọng ở những chỗ ấy. Nhưng cũng khó lắm, ít người dám mượn một người học trò bị đuổi và bị cấm. Đi đến đâu, họ cũng biết. Với lại tôi cũng không có các giấy chứng chỉ, vì có đi làm bao giờ.

Chúng tôi thôi nói, lặng đi rảo bước trên hè phố. Đến chợ cửa Nam, Bào giằng tôi ra, bảo:

- Tàu điện 80 đến rồi, tôi phải về nhà không họ đợi.

- Anh ở đâu?

Bào nở một nụ cười buồn trên miệng, trả lời:

- Tôi ở trọ một hàng cơm nhỏ ở dưới ô Cầu Giấy. Không dám mời anh xuống chơi.

- Thì anh đến chơi đàng tôi. Anh nhớ số nhà rồi chứ?

Bào nhảy vội lên xe điện, giơ tay chào.

Tôi nói thêm:

- Thế nào anh cũng đến chơi nhé.

Xe chạy khuất vào chỗ rẽ phố hàng Đẫy. Tôi thong thả trở bước về nhà, trong óc miên man nghĩ ngợi. Sự gặp gỡ này vớt lại bao nhiêu kỷ niệm về quãng đời học sinh của tôi ở tỉnh Thái. Những nét mặt bạn cũ đã quên lại hiện ra trong trí nhớ, với những buổi học vui vẻ, những cuộc nô đùa vô tư lự. Bao nhiêu ngày sung sướng của tuổi trẻ!

Nghĩ đến Bào tôi đem lòng thương hại. Cậu bé con xinh xinh giống con gái ấy, với cái vẻ ngây thơ, hồi ấy làm cho chúng bạn yêu mến. Tôi thường theo anh đến nhà chơi, một căn nhà lá ở đầu tỉnh. Hai người ngồi trên chiếc chõng tre nói chuyện, bên cạnh, bà mẹ anh Bào tráng bánh trứng và thổi xôi để đem bán. Thỉnh thoảng tôi mới gặp thầy anh ta; ông có vẻ nghiêm nghị lắm, và hình như lúc nào cũng ung dung không làm gì.

Không nhớ là mấy tháng sau, anh Bào đến chơi tôi. Trông anh khác hẳn, người gầy đi một chút, và xanh xao như ốm. Anh hình như đã đi bộ nhiều ở ngoài đường, nên quần áo và giầy đầy những bụi.

Tôi mời anh ngồi, ân cần hỏi:

- Anh đã tìm được công việc làm chưa?

Bào lắc đầu:

- Chưa, anh ạ. Suốt trong mấy tháng nay, tôi đi khắp các nơi ở Hà Nội mà chẳng tìm được việc gì. Đến đâu người ta cũng từ chối.

Anh nghĩ một lát, rồi nói thêm:

- Người ta thật là bất công và vô lý quá. Tôi đã làm nên tội lỗi gì đâu!

Lời nói nghẹn ngào trong cổ họng anh. Anh ngồi thừ người ra, không buồn uống chén nước chè của tôi mời. Tôi cũng yên lặng, không biết nói gì. Những lời an ủi lúc bấy giờ, tôi thấy hình như vô ích.

- Anh cứ chịu khó đợi ít lâu nữa xem. Để cái chuyện ấy người ta quên đi đã.

- Cũng đành phải chờ, chứ biết làm thế nào. Nhưng cũng phải có tiền để trả tiền trọ chứ.

Anh Bào cố mỉm cười. Cái cười thật đáng thương và ái ngại. Tôi nhìn kỹ anh: chiếc áo lương anh mặc đã cũ bạc, vá kín đáo một vài chỗ. Trên mặt anh có bao nhiêu nốt lấm chấm đỏ dày đặc cả hai má. Vô tình, tôi hỏi:

- Anh bị muỗi đốt dày cả mặt kia kìa.

Anh Bào có vẻ thẹn:

- Chỗ tôi không có màn và không được thoáng. Có khi muỗi đốt cả đêm không sao ngủ được.

Thấy người nhà tôi sửa soạn dọn cơm, anh đứng dậy cáo từ. Tôi tiễn anh ra ngoài cửa. Con đường về ô Cầu Giấy thẳng tăm tắp và bụi mù. Anh bắt tay tôi, toan quay lại đi thì tôi hỏi:

- Anh không đợi xe điện mà về à?

 Bào lắc đầu, vỗ vào túi:

- Không, hết cả tiền rồi.

Tôi ái ngại, giữ anh lại: "Anh hãy đợi tôi một chút". Rồi vào nhà lấy mấy hào chỉ còn lại trong túi, ngượng nghịu đưa cho anh: "Anh cầm tạm mà đi xe".

Bào không nhìn đến tiền, bỏ vào túi rồi nắm chặt lấy tay tôi khẽ nói:

- Cám ơn anh.

Anh quay ra. Tôi nhìn theo cho đến khi anh lẫn vào đám người đi làm về.

Một tuần sau, tôi đang qua chợ cửa Nam, bỗng nghe thấy tiếng gọi. Một chiếc xe tay dừng lại sát hè. Tôi nhận thấy anh Bào, nằm ngay trên xe, bên cạnh có một người đàn bà đã đứng tuổi. Anh cố ngóc đầu dậy bảo tôi:

- Tôi về Thái đây, anh Bình.

Tiếng nói phều phào như người hết hơi. Mặt anh đỏ gay, hai mắt sáng lên một cách khác thường. Tôi sợ hãi hỏi:

- Chết chửa, anh làm sao thế?

- Tôi ốm, anh ạ. Bà chủ trọ sợ tôi chết ở nhà bà nên nhờ bà này đưa tôi về. Xin chào anh nhé.

Tôi sửng sốt, yên lặng. Người đàn bà nhìn tôi nói, như định phân trần:

- Cậu ấy sốt cả bảy tám hôm nay rồi. Bà Hai cũng đã sắc cho cậu ấy mấy chén thuốc nhưng bệnh không đỡ, nên mới nhờ tôi đưa cậu ấy về vậy. Ông cũng biết, nhà người ta làm ăn buôn bán, cần phải kiêng giữ.

- Nhưng anh đương ốm thế này thì về làm sao?

Anh Bào nhìn tôi không trả lời, có vẻ mệt nhọc lắm. Tiếng còi xe hỏa bỗng vang động ở phía ga. Người đàn bà giục anh phu xe:

- Thôi đi nhanh lên kẻo nhỡ.

Tôi nắm tay anh Bào. Bàn tay anh nóng rực như lửa. Tôi thấy lòng tôi thắt lại khi xe anh quay đi.

Hơn một năm đã qua. Từ hôm ấy, tôi không nhận được tin tức gì về anh Bào nữa. Hình ảnh anh mờ dần trong trí tôi.

Rồi một buổi chiều, tôi đang ngồi xem báo dưới bóng đèn thì cửa bỗng mở. Hai cậu bé mặc áo thâm thập thò ở ngoài rồi rụt rè bước vào. Tôi ngạc nhiên. Cậu nhớn úp cái mũ trắng trên ngực, lễ phép hỏi:

- Thưa ông, có phải đây là nhà ông Bình không ạ?

- Phải, tôi đây. Hai cậu hỏi gì?

Cậu bé yên lặng thò tay vào trong người lấy ra một cái gói con bọc giấy để trên bàn trước mặt tôi, rồi nói:

- Thưa ông, chúng tôi là em anh Bào.

- À... Thế anh Bào đâu?

Cậu bé sẽ trả lời:

- Anh chúng tôi tự tử rồi ạ.

Tôi bàng hoàng cả người, nhìn hai cậu bé. Tôi nhận thấy hai cái mũ trắng đều có quấn băng tang. Thế ra thực ư, anh Bào tự tử? Cái chán nản, đau khổ gì đã xui anh chết trong lúc còn trẻ trung chưa đầy hai mươi tuổi.

Hỏi chuyện, tôi mới biết anh Bào ở trên này về cứ ốm liên miên mãi. Rồi anh ở nhà không đi đâu nữa. Một buổi chiều đầu tháng vừa rồi, bà mẹ đi chợ về đến buồng thì đã thấy anh treo cổ trên xà. Người nhà vội khiêng đến nhà thương cứu chữa. Anh tỉnh lại một chốc, rồi đến mười một giờ đêm thì mất.

Cậu bé kể xong, tiếp thêm:

- Trước khi chết, anh tôi có gọi hai chúng tôi lại bảo: "Anh chỉ có một người bạn tốt là ông Bình. Các em nhớ đem cái gói này đưa lên cho ông ấy".

Tôi giở ra, thấy có hai cái ảnh đã cũ. Một bức chụp chung cả lớp học, hồi còn học ở Thái. Tôi nhận thấy tôi đứng bên cạnh Bào. Còn bức kia là tấm ảnh nửa người của anh. Nhìn thấy cái vẻ xinh trai và ngây thơ của người bạn cũ, lòng tôi thấy nao nao thương tiếc. Nước mắt tràn lên mi, tôi thấy nghẹn ngào như muốn khóc.

Hai cậu bé cũng lặng lẽ, buồn rầu, đưa mắt nhìn tôi. Hai đứa trông giống anh Bào quá, cũng đôi mắt thông minh và cái vẻ kháu khỉnh ngây thơ như thế. Tôi chợt nghĩ đến sự nghèo nàn của nhà anh, đến hai đứa trẻ kia không có chỗ nương tựa để ăn học, thật là đáng thương.

Tôi xếp hai cái ảnh cũ lại rồi ngọt ngào bảo hai đứa ngồi xuống ghế. Tôi kêu khẽ:

- Hai em có thương anh ấy không?

Hai cậu cùng yên lặng. Cậu bé nhất bỗng ôm mặt khóc, hai vai nấc lên dưới tấm áo vải thâm đã cũ.

THẠCH LAM     
 

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2022

MỘT BỮA NO - Nam Cao

 

Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi.

Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì?

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ.

Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

*

Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn được ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi.

*

Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay.

Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu người ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khỏe mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt:

- Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế?

Bà lão quay lại mỉm cười móm mém:

- Bẩm bà đi chợ về!…

Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi:

- Bà đi đâu thế?

Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen).

- Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá!

- Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn?

Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo:

- Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cố tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!…

Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo:

- Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận…

- Nó không được rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!…

Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra…

Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi:

- Bà đi đâu đấy?

- Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm.

Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa…

- Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế?

- Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết.

- Lớp này bà ở cho nhà ai?

- Chẳng ở với nhà ai.

- Thế lại đi buôn à?

- Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm.

- Thế thì lấy gì làm ăn?

- Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn!

Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi:

- Nó bế em đi đâu rồi?

Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo:

- Bà giữ nó hộ con một tí.

Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà…

- Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi!

Tiếng bà phó giục:

- Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm.

- Vâng!

Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả:

- Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi!

- Vơơơng!…

Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo:

- Bà xuống dưới này mà ăn cơm.

Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn được. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về…

Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên:

- Mời bà phó…

Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát:

- Thôi, bà ăn đi! Đừng mời!

Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt:

- Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy!

Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi người khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu:

- Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho.

Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi:

- Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn!

À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu:

- Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?

- Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?

Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thỏa thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!…

Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:

- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!…

    
NAM CAO        
 

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

VĨNH BIỆT PHỐ - Hoàng Ngọc Tuấn

 


Nếu chiếc đồng hồ tay của anh có ghi lịch ngày tháng, anh sẽ nhìn thấy con số : 23 tháng 8. Suốt đời anh sẽ không bao giờ quên nó được, vì từ ngày ấy cuộc đời anh đổi trắng thành đen trong phút chốc, như bàn tay lật úp mau lẹ của một người da đen.
 
Sài Gòn, không biết anh đến đấy từ bao giờ, vì những lý do nào, chỉ biết có một lúc nào đó, anh bị chôn kín êm ái trong thành phố này, giống như những đợt sóng trong đại dương. Những tòa nhà cao ngất vĩ đại, những xóm nhà lá lụp xụp bẩn thỉu bên dòng sông đen, ánh đèn màu trác táng của ban đêm, con đường vắng hun hút hai hàng cây xanh lá... Tất cả, tất cả đều tràn đầy bên cạnh anh làm thành một thế giới quen thuộc và thân thiết.

Bởi vì anh thất nghiệp, nên anh là người rảnh rang nhất thế giới, thật tuyệt vời khi không có việc gì phải làm cả, anh nghĩ thế. Buổi sáng, anh thức dậy muộn, mặt trời đã đỏ rực trên rừng người đang bận rộn với công ăn việc làm. Nhưng đối với anh, mặt trời ấm áp như một chiếc đồng hồ reo đánh thức anh dậy. Nơi anh cư ngụ, một ngôi nhà bỏ hoang nằm ngay lòng con phố nhộn nhàng. Anh rửa mặt như một con mèo tam thể, cơn mưa nhẹ đêm qua đã rơi một ít nước trong chiếc thùng đặt trước hiên nhà. Anh mặc áo quần vội vàng. Tỉnh táo, yêu đời. Cánh cửa phòng bật tung. Thành phố đột ngột hiện ra như cuốn phim màu đập mạnh vào mắt một người khán giả nãy giờ ngủ quên trong rạp hát. Những thằng bạn nào đó đang ngồi trong một tiệm cà phê vẫy tay chào anh. Thằng nhỏ mặt bám đầy bụi, đang lúi húi lau xe hơi nhe răng chào anh. Và cả những thằng bé đánh giày, cô gái bán thuốc lá ở đầu đường... anh đưa tay chào tất cả mọi người. Chào mừng hừng đông của buổi sáng mai, chào mừng một ngày mới, tờ lịch quên chưa xé sang một trang khác.

Anh vào một tiệm cà phê quen, ở chiếc bàn đặt ngoài cùng trên vỉa hè. Từ đó, tất cả đàn bà đẹp và xấu của thành phố diễn qua trước mặt anh như trong một cuộc thi hoa hậu. Gã bồi bàn trong quán đã quen mặt anh, chiếc khăn lau bàn nằm trên cánh tay gã, mái tóc chải tém mượt đen bóng như chiếc nơ thắt ở cổ áo. Gã chạy lại anh, cầm theo một tấm thực đơn to tổ bố mà một người nào đó, nếu muốn bỏ hết cả cuộc đời để ăn từ món số 1 đến món cuối cùng cũng không hết được. Anh biết gã chờ đợi anh kêu thức ăn điểm tâm : hủ tiếu bò kho, hột gà "ốp la", trứng tráng... Nhưng sáng nay, anh rất nhớ số tiền nằm trong túi anh, cho nên anh chỉ kêu vài tiếng khiêm nhường:

- Cho tôi một ly cà phê đen nhỏ.

Gã bồi xịu mặt xuống, gã bỏ anh rồi chạy lăng xăng quanh những bàn có khách sang, đang ngồm ngoàm những bữa điểm tâm vĩ đại. Lát sau, trên bàn anh có một vài điếu thuốc lẻ, tách cà phê bốc khói và một tờ nhật báo mới tinh. Như thế, sáng nay trời khá đẹp.

Ngay khi ấy, đàn chim sẻ nhỏ bé từ những lùm cây xanh bỗng rộn rịp bay sang mái ngói đỏ. Anh nhìn thấy nàng. Thiếu nữ mặc chiếc áo đầm xanh, hơi cũ, lâu ngày nàng cao dần lên nên chiếc áo ngắn lại, cho thấy một ít đầu gối của nàng. Nàng đưa tay giữ lấy mái tóc khỏi bay tung, chờ đợi, khi cột đèn đường bật sang màu đỏ làm xe hơi bỗng dưng thắng gấp, nàng vội vàng qua đường. Có lẽ nàng đi về nhà nếu không thấy anh, và anh vội đưa tay lên cao vẫy vẫy, kêu tên nàng thật lớn làm tất cả khách trong quán đều giật mình.

Thiếu nữ mỉm cười chào anh. Anh quen biết khá thân với nàng. Nàng là thư ký đánh máy cho một hãng tư ở gần đây. Một hôm vào tìm người bạn cùng làm trong sở ấy, hắn giới thiệu nàng với anh... Thiếu nữ đang cúi đầu trên chiếc máy đánh chữ, tiếng lóc cóc nghe đều đặn buồn ngủ. Người bạn chạy vào trong phòng vì tiếng chuông điện thoại reo. Bỏ lại một mình anh với nàng, anh dư thì giờ ngắm nàng một cách thong dong. Mái tóc ngắn, đen nhánh như những người đàn bà đẹp khác. Nước da nàng ngăm ngăm, như vỏ trái cây bồng quân, mắt sáng tinh nghịch vô cùng và nụ cười thật dễ thương, lại có một chiếc răng khểnh bé bỏng.

- Mời cô đi dùng điểm tâm một lát, ở cái quán gần đây có món hủ tiếu bò kho thật tuyệt.

- Cám ơn ông, tôi ăn sáng ở nhà rồi. Bây giờ hãy còn no.

- Thế thì uống một tách cà phê vậy, một thứ cà phê gọi là Robusta, ngon lắm.

- Cám ơn ông, tôi không biết uống cà phê.

- Thế mời cô đi dùng cơm trưa. Ở gần đây, có cái quán nhỏ với món canh chua cá lóc ngon nhất thế giới.

- Cám ơn ông. Tôi phải về nhà ăn cơm, mẹ tôi đợi.

- Lâu lâu cho mẹ cô đợi một lần có sao.

Nàng chợt ngửng đầu lên, đôi lông mày nhíu lại vì câu nói bất lịch sự của anh. Anh lúng túng xin lỗi.

- Chiều nay mời cô đi xem phim Những ngày chủ nhật ở phố Avray... Một cuốn phim tuyệt vời, cô bé ấy cũng có đôi mắt như cô.

- Cám ơn ông. Chiều nay tôi bận làm việc, cuốn phim ấy tôi đã xem lâu rồi, trong đó... hình như có một người đàn ông hơi khật khùng... như ông, phải không?

Anh giận dỗi mở tung cánh cửa phòng ra về, rồi lại mở cửa thò đầu nhìn nàng một lần cuối cùng. Nàng bỗng bật cười, như tiếng chuông nhà thờ rộn rã.

Rồi lần lần anh cũng quen thân với nàng, nhờ người bạn làm trung gian trong sở. Thỉnh thoảng, nếu gặp anh ngồi ở tiệm cà phê buổi sáng, nàng ghé lại uống một ly gì đó với anh trước khi vào sở làm. Cũng như sáng nay, nhưng bây giờ đã gần trưa, có lẽ nàng vừa xong việc, sắp sửa về nhà.

Nàng ngồi vào ghế bên cạnh anh một cách tự nhiên. Anh hỏi thăm nàng vài câu thường lệ. Trông khuôn mặt nàng hơi mệt nhọc và xanh xao một chút, có lẽ tại vì suốt ngày ngồi trong căn phòng ngột ngạt hơi người và cả một đống giấy tờ. Anh đưa tay kêu người bồi, anh không cần hỏi nàng dùng gì vì anh đã biết thói quen của nàng.

- Cho một ly sữa tươi và... một hộp tăm.

Nàng bật cười, đưa những ngón tay của nàng bấu mạnh vào cánh tay anh.

- Lúc nào anh cũng đùa được. Sáng nay không có việc gì làm sao, anh ngồi uống cà phê từ đêm qua đến giờ à.

- Từ cả năm nay, ngồi lì quán nước là công việc tuyệt vời nhất của một tên thất nghiệp.

Lát sau, anh nhìn nàng nhấm nháp từng chút sữa tươi như một con thỏ con. Khi nàng đã chán uống sữa, nàng không biết làm gì, nàng buồn buồn bẻ gãy vụn những cây tăm, rồi vẽ trên đốm nước thành những hình thù đầy tràn trên bàn. Nàng đã bẻ gãy hết tất cả những cây tăm trong hộp. Chưa hết đâu, nàng bật cháy từng que diêm để anh nhìn ngọn lửa đỏ rực trong một lát rồi tắt ngúm. Nàng cứ ngồi quẹt diêm rồi thổi tắt hoài. Một hộp diêm nhỏ bây giờ giá lên đến mười đồng, nàng làm anh sốt ruột muốn chết. Anh phải phá tan không khí lặng thinh.

- Sau hộp diêm là đến cái gì nữa, anh phải cởi áo ra cho em đốt nhé.

- Em chưa đến nỗi điên thế đâu.

Anh định châm điếu thuốc nhưng một thằng bé bán báo đi ngang qua làm anh giật mình nhớ lại. Anh lục lại tờ báo lá cải của anh có đăng kết quả xổ số kiến thiết. Một tuần lễ, ngày bận rộn duy nhất của anh là ngày thứ ba, buổi sáng mua một tấm vé số và buổi chiều dò kết quả.

Anh say mê nói với nàng:

- Em chờ anh một lát, anh đưa em lên Đà Lạt chơi trên một chiếc Fiat trắng tinh.

- Anh cứ làm trò phù thủy gì đi, em chờ.

Anh nóng nảy lật tìm trang tư tờ báo. Nàng ngồi im lặng hơi mỉm cười. Một lát sau, nàng cũng hồi hộp ghé đầu qua vai anh để theo dõi. Một tấm vé đã trật lất, anh xé tan, còn một tấm vé cuối cùng.

Anh thoáng nhìn nàng. Thiếu nữ tuổi đôi mươi ấy mỗi ngày cứ đến 12 giờ trưa nóng bức, nàng chen lấn trên xe buýt để về nhà. Căn nhà nhỏ hẹp của nàng ở một vùng ngoại ô thành phố xa tít. Nàng sẽ vội vã ăn cơm qua loa với bà mẹ, rồi khi mọi người đang ngủ trưa, nàng sẽ mệt nhọc ra đón một chiếc xe buýt khác trở lại thành phố. Ngày nào cũng như thế, căn phòng kín mít của sở làm, những tên thư ký trẻ tuổi mắt liếc ngang liếc dọc, lão chủ mập phì với chiếc cà vạt đỏ to tướng trên cổ áo, mặt làm ra vẻ nghiêm trọng nhăn nhó như một quả dừa khô, khi thì nở dãn ra căng phồng như trái banh vào lúc cần tán tỉnh o bế.

Ở tuổi nàng, đôi mắt còn trong của nàng, anh muốn nhìn thấy nàng ngồi trong lớp học, môi cắn bút làm một bài Luận Văn hóc hiểm. Nhưng nàng đã phải lìa bỏ hình ảnh đẹp ấy. Nàng bị cuốn hút trong thành thị, mệt nhọc bơ phờ vì số lương nhỏ nhoi giúp đỡ cho gia đình mỗi tháng.

- Chờ anh một lát. Anh sẽ trúng 4 triệu. Anh sẽ mua cho em một ngôi nhá quét vôi gạch hồng ở Đà Lạt, trong nhà có lò sưởi và ống khói mỗi chiều bốc lên vài hơi ấm áp. Ngoài hiên nhà, sẽ có khu vườn rộng bao quanh. Em sẽ là cô chủ của một quán cà phê, khách ngồi uống rải rác dưới mái hiên, bên cạnh những khóm hoa hồng đủ màu rực rỡ.

Nàng cảm động, giọng của nàng ẩm ướt:

- Thế anh không có gì sao?

- Có chứ. Anh sẽ lấy độ 2 triệu, anh chạy một cái giấy chứng nhận bất lực vĩnh viễn, khỏi đi lính suốt đời. Rồi anh tà tà đi rong chơi quanh năm suốt tháng. Lúc nào anh hết tiền, anh sẽ đến thăm em, em nhớ pha cho anh một tách cà phê ngon nhất để đãi anh. Nếu em chưa hà tiện, em nhớ khui một chai rượu vang và xé phay một con gà mái tơ cho anh nhậu, em nhé.

Nàng sung sướng gật đầu. Giấc mơ quá đẹp đối với anh và nàng, và anh tin tưởng sắt đá may mắn sẽ đến với mình chắc chắn trong vài giây nữa. Anh nôn nao nhìn những con số trên báo. Những con số của hạnh phúc, dần dần anh bỗng thấy chúng xa lạ, chẳng dính dấp gì, chẳng có vẻ gì giống như những con số trên tấm vé số của anh cả.

Cuối cùng anh biết mình thất bại như thường lệ. Có lẽ không có may mắn nào đến cho kẻ ôm gốc cây đợi trái táo rơi. Anh ném mẹ cả tờ báo lẫn tấm vé số. Anh buồn quá đỗi, thế giới như địa ngục đối với kẻ thất vọng. Nàng cũng buồn, nàng đeo cặp kính nâu lên mắt để anh khỏi nhìn thấy ý nghĩ của nàng, một cánh chim hải âu trắng cao vời của mộng tưởng.

- Thôi mình đi, anh. Em còn phải mua cho ba vài trăm grammes cà phê rồi về nhà.

Anh gọi bồi tính tiền rồi cả hai đi khỏi quán. Anh không quên lượm theo tờ báo mới để đọc tin tức qua loa cho đỡ buồn. Cũng như thường ngày : Tin tức chiến sự, hiếp dâm, trộm cắp, vật giá leo thang, kêu gọi hòa bình, thay đổi nội các, tăng giờ giới nghiêm, biểu tình xuống đường, ẩu đả trong quốc hội, chạm súng ngoài chiến trường... lụt lội đói rét, tham nhũng hối lộ... vân vân ... Những thứ ấy làm anh chán ớn người, như muốn nôn mửa ra hết một bụng rượu bia và thịt mỡ.

Anh lật sang trang trang tư để xem những cột chia mừng đám cưới, chia buồn với người chết, người tử trận, bán giá rẻ máy bơm Dove và Soutien Automatique bơm ngực, khánh thành ngân hàng, đại nhạc hội Sexy - Show ... vân vân ...

Anh sẽ thích thú ghê lắm nếu bất ngờ đọc thấy tên anh trang trọng trong một khung cáo phó viền đen:

Đau đớn báo tin ;

Ông Nguyễn - Văn - X

Nghề nghiệp : thỉnh thoảng là sinh viên.

Đã từ trần tại Sài Gòn ngày ... vì bệnh tê liệt ở quán cà phê. Hưởng thọ 23 tuổi. (Tính theo trong căn cước thì trẻ hơn một chút).

Nhưng dĩ nhiên là không thấy tên anh. Anh vẫn còn yêu đời chán vì còn có nàng. Nụ cười ái ngại ấy, đủ làm cuộc đời tươi đẹp vô cùng.

Anh đứng chờ nàng trước một tiệm bán cà phê J. Martin. Phố đã trưa, xe cộ chen lấn nhau ồn ào trên con đường đầy bụi khói. Bất ngờ anh gặp Hải trong đám người hối hả ấy. Trước đây hắn là bạn học anh, bạn tốt, dễ tính và thực tế nên lúc nào cũng có khá tiền trong những vụ làm ăn gì đó. Chiếc xe Vespa của hắn thắng gấp lại, miệng cười vui vẻ.

- Lâu lắm sao không gặp mày. Sao? Học hành, làm ăn bây giờ ra sao?

Hắn cười, ra dáng bằng lòng:

- Cũng khá. Vẫn đỗ đều đều để được hoãn dịch, tiền bạc cũng lai rai, tao đang lo chạy mua hàng cho ông già. Còn mày?

- Vẫn tà tà.

- Tà tà là nhất rồi, nhưng có kẹt tiền không?

- Thỉnh thoảng... đôi khi... nhiều khi... thường trực.

- Bây giờ?

- Kẹt.

Hắn cười dễ dãi, hắn dúi vào túi áo anh mấy trăm bạc. Anh chưa kịp nói gì, đèn đường đã bật sang màu xanh. Hắn chỉ kịp la lên một tiếng đại khái là tạm biệt, rồi phóng xe chạy nhanh.

Anh quay đầu nhìn vào trong tiệm. Nàng đang đứng chờ người bán hàng xay những bột cà phê màu nâu thoảng ra mùi thơm ngát, nàng bắt gặp cái nhìn của anh và nàng mỉm cười. Anh bỗng bỏ chạy dọc theo những hiệu bán sách báo, rồi rẽ vào hàng bán hoa ở đường Nguyễn Huệ. Hoa ở đây được chở từ Đà Lạt về nên giá bán khá đắt. Anh chọn mua vài bông hoa hồng chưa nở nhiều lắm, hai trắng và một hồng. Anh trở lại khi nàng vừa ôm gói cà phê ra khỏi tiệm, nàng đang dáo dác nhìn quanh để tìm anh. Anh gọi tên nàng, nàng nhìn những bông hoa một cách tự nhiên. Anh đưa tặng nàng bó hoa hồng dễ yêu còn ướt vài giọt nước. Môi nàng cắn vào nhau, đôi mắt nàng có lẽ đang âu yếm nhìn anh, nàng lí nhí nói:

- Anh là người đầu tiên mua hoa cho em.

Anh hãnh diện trả lời:

- Có lẽ anh là người thông minh nhất.

Trên vỉa hè, anh đứng lặng người sát bên nàng, nhìn những ngón tay nàng mơn man trên cánh hoa mỏng, vì nàng khéo tay nên chẳng có cây gai nào làm da nàng nhỏ máu. Người nàng thơm ngát như vừa ngủ dậy trên một đám trái cây cà phê rang chín, gối là những bông hoa hồng. Anh quàng vai dìu nàng sang đường, anh nói nhỏ trong âm thanh hỗn độn của đường phố:

- Môi em thơm mùi cà phê. Anh lại là cái thằng rất thích uống cà phê.

Nàng đỏ mặt, hai ngón tay mềm của nàng véo vào tay anh đau điếng người. Nàng hay làm thế mỗi khi nàng mắc cỡ vì anh đùa nghịch gì đó hơi quá đáng. Nhưng lần này anh biết không đi quá lố, anh đang đi trên con đường cỏ êm riêng tư của anh. Anh cứ nhìn mãi nàng để chờ đợi một nụ cười, và nàng cười cho anh thấy, nhưng anh chưa hài lòng. Anh gỡ cặp kính nâu khỏi mắt nàng để nhìn thấy thấu suốt, cho tận cùng khung trời yêu thương trong đôi mắt ấy. Không phải chỉ cười ở đôi môi, mà nỗi tươi thắm toàn vẹn còn nằm trên mái tóc bay lòa xòa, những sợi tóc mai, làn da đượm chút ửng hồng và đôi mắt chân thật không che giấu. Thân hình nàng sát bên mình anh, anh bỗng dưng nghe tiếng nói của mình, say sưa như một người tỉnh táo sau khi say rượu:

- Em có muốn thấy ở trang tư của tờ nhật báo, tên tụi mình nằm cạnh nhau, trong cái khung nhỏ tựa đề là Chia Mừng Lễ Thành Hôn... ở dưới là lời cầu chúc của bạn bè.

Cả anh và nàng tự dưng đứng lại trên đường, dưới bóng mát của một tòa nhà cao ngất. Thành phố vẫn không im lặng cho hai người. Tiếng còi xe, tiếng tu huýt của cảnh sát ré lên, tiệm bán dĩa hát cũ trên vỉa hè đang phát thanh rên siết một bài Tân Cổ Giao Duyên, xe phóng thanh trước chợ gân cổ quảng cáo quý vị hãy dùng kem Hynos mỗi ngày hai lần...

Đôi mắt nàng hình như ứa lệ, không biết vì khói xe hay vì trái tim đang đập những nhịp bồi hồi, thành phố vẫn la hét inh ỏi. Cái thành phố gà chết này, rộng lớn thế này mà không còn chỗ nào để đặt một dĩa nhạc tình ái trình tấu bằng đàn vĩ cầm.

Đáng lẽ bây giờ phải có mặt trời hồng hào trên tháp chuông nhà thờ, tà áo trắng như tuyết cho nàng, tiếng thánh nhạc, tiếng chuông đổ rộn ràng, những phím dương cầm ngân vang thánh thót, bầu trời bay đầy bông hoa rực rỡ... Anh sẽ âu yếm nắm tay nàng, đứng chờ đợi trước một ông Cố Đạo bệ vệ. Ông Cố Đạo sẽ trịnh trọng đọc rì rầm những câu kinh bí mật, rồi sẽ nghiêm trang hỏi cái câu vô duyên dư thừa nhất đời:

- Ông X, ông có bằng lòng lấy cô Y làm vợ không...

Anh sẽ trả lời cộc lốc:

- Bằng lòng là cái chắc.

Rồi ông Cố Đạo sẽ quay mặt đi để cho chúng ta hôn nhau. Nụ hôn của một đời gắn bó và thương yêu tuyệt vời. Đáng lẽ phải có những thứ ấy liền bây giờ bên cạnh cho nàng và anh. Nhưng không, còi ban trưa hụ vang, nắng đổ lửa, nàng phải trở về để ăn cơm vội vã, và chiếu sẽ tiếp tục chết ngất đi trong công việc thường lệ của nàng.

Anh đành đưa nàng đến bến xe buýt, khuôn mặt nàng hiện ra trong khung cửa xe, hướng về đôi mắt anh.

- Lúc nãy em có nghe anh nói gì không.

- Có. Em sẽ nghĩ đến anh hoài.

- Cám ơn em. Có lẽ em là người đàn bà duy nhất có lòng nghĩ đến anh, ngoại trừ những bà chủ nợ.

Nàng cắn môi để khỏi bật cười, nàng vói tay để véo vào tay anh cho bỏ ghét như thường lệ. Nhưng vì đang ngồi trên xe nên nàng đưa tay không tới, nàng bậm môi lắc đầu phụng phịu giận hờn. Anh đành phải xăng tay áo đưa cánh tay trần lên cho nàng. Những móng tay bấu nhè nhẹ trên da thịt, hơi đau nhưng làm sung sướng muốn chết.

Anh đứng lại một mình ở bến xe, lòng rộn rã, ngứa chân đá văng tung một cái lon sữa bò.

*

(Ta quyết định lột xác hoàn toàn, thay đổi hẳn cuộc đời ta. Ta sẽ chấm dứt những ngày tháng vất vưởng lông bông, vô tích sự, đáng xấu hổ này. Ta sẽ thôi không ngồi dằng dai suốt ngày từ quán cà phê này sang quán khác. Quán cà phê, những cuộc tán gẫu với bạn bè, với cuộn băng nhạc dịu dàng những bài hát tình ái của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Cung Tiến nghe cũng hay thật đấy, như muốn dìm ta chết cóng trên ghế, làm tệ liệt ta trong cái thế giới âm thanh quyến rũ của nó. Nhưng ta cóc muốn chết uổng đời như thế. Ta muốn sống, muốn nhảy nhót tưng bừng trong lòng cuộc đời như một con sóc rừng xanh.

Ta sẽ chấm dứt luôn cái kiếp làm người thất nghiệp. Ta phải chọn lựa giữa Khổng Tử, Heidegger và một công việc có số lương kha khá hàng tháng. Ta bỏ chơi, ta bỏ học. Ta vác cái đơn xin việc làm lê gót đến hàng trăm sở làm trong thành phố này để đào ra một chỗ làm, sẵn sàng nhào vào bất cứ thứ nghề ngỗng nào có thể kiếm ra tiền.

Bạn bè chắc sẽ cười chê ta, nhưng ta cóc cần. Ta cóc làm một người chịu chơi, một kẻ tà tà nữa. Ta sẽ là một anh công chức hay tư chức chân chỉ hạt bột, sớm vác ô đi tối vác  về. Ban đêm đi kèm cho trẻ con, ngày chủ nhật nếu cần, mượn xe gắn máy đi chở khách. Ta sẽ chịu đựng mọi nhọc nhằn như con lạc đà tải hàng qua sa mạc. Ta sẽ dành dụm từng đồng bạc, gởi vào Trương Mục Tiết Kiệm. Rồi ngày nào đó, một số vốn nhỏ đủ đưa ta và nàng ra khỏi thành phố này, đến bất cứ một miền đất khô cằn xa vắng nào. Nàng nuôi gà vịt trong sân, ta ra đồng cày ruộng, lên núi săn thịt rừng. Vĩnh biệt thành phố, vĩnh biệt giấc mộng làm thiên tài nhịn đói, ta với nàng chỉ là đôi tình nhân rất tầm thường, rất thua sút mọi người về chuyện vật chất. Nhưng trái tim, tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn vũ trụ).

Nhưng nếu tất cả ước mơ của anh đều thành tựu thì cuộc đời đã là thiên đàng. Và vì cuộc đời không phải là thiên đàng cho nên một buổi chiều thứ bảy (anh nhớ rõ : ngày 23 tháng 8), anh cặm cụi cuốc bộ đến sở làm (Anh đã kiếm được một chân Thầy cò sửa morasse tối tăm mặt mày trong nhà in).

Chiều thứ bảy. Thiên hạ từ khắp nơi, ăn diện bảnh bao, dắt díu vợ chồng con cái lũ lượt kéo về trung tâm thành phố để dạo chơi mua sắm. Cảnh sát thật tội nghiệp, họ đứng từng hàng dài ở chân cầu để khám xét những người khả nghi. Tiếng cói tu huýt ré lên lanh lảnh, anh tiếp tục bước nhanh, tiếng còi rú lên nghe ghê rợn hơn làm anh giật mình quay lại, nhưng người cảnh sát giận dữ chỉ tay vào anh và một người hồng hộc chạy đến anh, tay đặt trên báng súng.

- Giấy tờ đâu? Đưa xem.

Anh lạnh người. Có những chuyện ghê gớm anh cố quên đi nhưng chúng không buông tha anh được.

- Có cái này thôi sao? Giấy Hợp Lệ Quân Dịch của anh đâu?

- Thưa ông... tôi không thể có.

Người cảnh sát trẻ tuổi, mặt búng ra sữa, gật gù có vẻ khoái trá, tay vỗ vỗ mấy cái vào cán súng "ru lô".

- Hà hà... Trốn quân dịch mà chiều thứ bảy cũng đi dạo phố hả, chịu chơi dữ. Thôi đứng đây cha nội, lát nữa tụi tui lo cho cha nội đi lính "mút mùa" luôn!

Viên cảnh sát bỏ giấy tờ anh vào túi, mặt khoái chí đưa tay ngoắc ngoắc những đồng nghiệp của mình. Đường phố bỗng nổi lên tiếng động ồn ào, nghe thật nhộn nhịp tưng bừng như ngày hội. Xe hơi nối đuôi nhau chạy phăng phăng. Da trời chiều nay không hề báo hiệu gì về cơn mưa, xanh ngắt như tà áo xanh của những thiếu nữ thướt tha trên đường. Hai hàng cây cao tàn lá xanh dịu dàng. Buổi chiều, thành phố, hàng cây, những tà áo dài, tất cả đều xanh thắm một màu tươi đẹp.

Anh chợt thấy tuổi trẻ mình tái xanh như một con chim họa mi chết nô lệ trong lồng.
 

(1970)      

(Trích từ tập truyện ngắn Lời Cầu Hôn, nhà xuất bản Trẻ 1989)