Thứ Tư, 7 tháng 12, 2022

MỘT BỮA NO - Nam Cao

 

Bà lão ấy hờ con suốt một đêm. Bao giờ cũng vậy cứ hết đường đất làm ăn là bà lại hờ con. Làm như chính tự con bà nên bây giờ bà phải đói. Mà cũng đúng như thế thật. Chồng bà chết từ khi nó mới lọt lòng ra. Bà thắt lưng buộc bụng, nuôi nó từ tấm tấm, tí tí giở đi. Cũng mong để khi mình già, tuổi yếu mà nhờ. Thế mà chưa cho mẹ nhờ được một li, nó đã lăn cổ ra nó chết. Công bà thành công toi.

Con vợ nó không phải giống người. Nó có biết thương mẹ già đâu! Chồng chết vừa mới xong tang, nó đã vội vàng đi lấy chồng ngay, nó đem đứa con gái lên năm giả lại bà. Thành thử bà đã già ngót bảy mươi, lại còn phải làm còm cọm, làm mà nuôi đứa con gái ấy cho chúng nó. Hết xương, hết thịt vì con, vì cháu, mà nào được trông mong gì?

Nuôi cháu bảy năm trời, mãi cho đến khi nó đã mười hai, bà cho nó đi làm con nuôi người ta lấy mười đồng. Thì cải mả cho bố nó đã mất tám đồng rồi. Còn hai đồng bà dùng làm vốn đi buôn, kiếm mỗi ngày dăm ba xu lãi nuôi thân. Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm nổi mỗi ngày mấy đồng xu. Sung sướng gì đâu! Ấy thế mà ông trời ông ấy cũng chưa chịu để yên. Năm ngoái đấy, ông ấy còn bắt bà ốm một trận thập tử nhất sinh. Có đồng nào hết sạch. Rồi chết thì không chết nhưng bà lại bị mòn thêm rất nhiều sức lực. Chân tay bà đã bắt đầu run rẩy. Người bà thỉnh thoảng tự nhiên bủn rủn. Đang ngồi mà đứng lên, hai mắt cũng hoa ra. Đêm nằm, xương cốt đau như giần. Đi đã thấy mỏi chân. Như vậy thì còn buôn bán làm sao được? Nghĩ đến nắng gió bà đã sợ.

Tuy vậy mà bà vẫn phải ăn. Chao ôi! Nếu người ta không phải ăn thì đời sẽ giản dị biết bao? Thức ăn không bao giờ tự nhiên chạy vào mồm. Có làm thì mới có. Nhưng bây giờ yếu đuối rồi, bà không còn kham được những việc nặng nề, cũng không còn chịu đựng được nắng sương. Bà phải kiếm việc nhà, việc ở trong nhà. Ở làng này, chỉ có việc bế em, như một con bé mười một, mười hai tuổi. Mới đầu còn có nhiều người muốn thuê. Ai cũng nghĩ rằng: những bà già tính cẩn thận và chẳng bao nhiêu, bữa lưng bữa vực thế nào cũng đủ no; mà đã không no các cụ cũng chỉ lặng im, không ấm ức như những đồ trẻ nhãi, hơi một tí cũng đem chuyện nhà chủ đi kể với đủ mọi người hàng xóm… Nhưng thuê bà được ít lâu, tự nhiên người ta chán. Người ta nhận ra rằng: thuê một đứa trẻ con lại có phần thích hơn. Trẻ con cạo trọc đầu. Những lúc tức lên, có muốn cốc nó dăm ba cái thì cứ cốc. Chẳng ai kêu: ác! Nhưng bà lão đầu đã bạc. Người ta tức bà đến gần sặc tiết ra đằng mũi cũng không thể giúi đầu bà xuống mà cốc. Cũng không thể chửi. Mắng một câu, đã đủ mang tiếng là con người tệ. Mà bà thì lẩm cẩm, chậm chạp, lì rì. Bà rờ như thể xẩm rờ. Tay bà, đưa bát cơm lên miệng cũng run run. Cơm vương vãi. Tương mắm rớt ra mâm, rớt xuống yếm bà, rớt cả vào đầu tóc, mặt mũi, quần áo đứa bé nằm ở lòng bà. Rồi hơi trái gió, trở trời, bà lại đau mình. Suốt đêm bà thở dài với rên rẩm kêu trời. Có khi bà lại khóc lóc, hờ con. Nghe rợn cả người. Như vậy thì chịu làm sao được? Ấy thế là người ta lại phải tìm cớ tống bà đi. Bà lại phải gạ gẫm ở cho nhà khác… Không đầy một năm trời bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi tháng năm hào. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. Đến nước ấy mà cũng chẳng ma nào chịu được. Một hôm, người chủ cuối cùng sai bà xách hai cái lọ đi kín nước. Bà bào: bà chỉ có thể mang một lọ. Y đã lấy sự ấy làm khó chịu, nhưng cố nhịn. Nhưng một lọ cũng không xong. Bà xách một lọ nước đầy, ở dưới cầu ao bước lên bờ, chẳng biết bẩy rẩy thế nào mà ngã khuỵu xuống, vỡ tan cái lọ và què một bên tay. Nghe tiếng bà kêu, chủ nhà phải chạy ra đỡ bà về. Không ai có thừa cơm nuôi báo cô bà. Y bèn đãi bà năm hào cho bà về hưu trí. Từ ngày ấy đến nay tính ra đã hơn ba tháng rồi.

*

Hơn ba tháng, bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc. Mới đầu, còn được ngày ba tấm. Sau cùng thì một tấm cũng không có nữa. Tiền hết cả. Mỗi sáng, bà ra chợ xin người này một miếng, người kia một miếng. Ai lấy đâu mà ngày nào cũng cho như vậy? Lòng thương cũng có hạn. Mấy hôm nay bà nhịn đói. Bởi thế bà lại đem con ra hờ. Bà hờ thê thảm lắm. Bà hờ suốt đêm. Bà khóc đến gần mòn hết ra thành nước mắt. Đến gần sáng, bà không còn sức mà khóc nữa. Bà nằm ẹp bụng xuống chiếu, nghĩ ngợi. Có người nói: những lúc đói, trí người ta sáng suốt. Có lẽ đúng như thế thật. Bởi vì bà lão bỗng tìm ra một kế. Bà ra đi.

*

Cứ đi được một quãng ngắn, bà lại phải ngồi xuống nghỉ. Nghỉ một lúc lâu, trống ngực bà mới hết đánh, tai bà bớt lùng bùng, mắt bà bớt tối tăm, người tàm tạm thôi quay quắt. Bà nghỉ tất cả năm sáu quãng. Thành thử đến tận non trưa, bà mới tới nhà mình định tới: ấy là nhà bà phó Thụ, nuôi cái đĩ. Bà quen gọi như vậy, ngay từ khi nó còn nhỏ; cái đĩ tức là đứa con của anh con trai đã cướp công bà để về với đất, yên thân mà mặc tất cả những gì còn lại. Anh con trai chẳng còn phải khổ sở như bà ngày nay.

Bà nghĩ đến con, để mà ghen với nó thêm lần nữa, trong khi ngồi nghỉ ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ. Ngoài đầu ngõ nhà bà phó Thụ, có một cây sung lớn. Bà tựa lưng vào gốc. Từ đầu ngõ vào đến nhà, còn những hai lần cổng. Có gọi thật to, ở trong nhà mới nghe tiếng. Mà bà thì còn hơi sức đâu mà gọi? Tiếng bà bải hải. Hơi nói to một chút, nó đã ra đằng lỗ tai. Vả lại, chó nhà giàu dữ lắm. Nhà bà phó Thụ có những hai con chó đẫy đà, lực lưỡng. Lúc thiến, người ta rắc mảnh chai tán nhỏ vào. Vết thiến lành dúm mảnh chai ở bên trong gây cho con vật một nỗi đau ngứa ngáy, suốt đời không khỏi. Nỗi đau làm tội nó. Nó bứt rứt, khổ sở, cáu kỉnh, nên bạ thấy người nào lại nào cũng lăn xả vào chân, hoặp một miếng, ray thịt người ta cho hả giận. Trời ơi! Những con chó nhà bà phó Thụ, chúng dữ ghê gớm lắm. Bà lão nghĩ đến chúng còn chết khiếp. Cái lần bà đưa cái đĩ vào, một người nhà phải cầm một cái gậy to tướng ra đe. Ấy thế mà cả ba con cũng hồng hộc chạy ra. Chúng vây lấy bà già rách rưới. Con nào cũng uốn cong cái lưng xuống, hếch cái mõm đen thui lên, nhe ra những chiếc răng trắng hơn hớn và nhọn sắc. Bị cái gậy của người nhà cản lại, chúng càng tức tối. Chúng lồng lộn chung quanh. Chúng nhảy chồm lên. Chúng ngoạm những cái cột giậu, kêu sồn sột. Chúng lay thật mạnh, hục hặc như muốn bẻ gãy cái cột, để lao vào đầu người ta… Bà lão với đứa cháu cứ rúm cả tay chân lại. Cháu nép vào bà, bà nép vào người bà phó Thụ. Chị người nhà thì luôn tay vụt cái gậy bên này, bên nọ, đằng sau, đằng trước, và quát mắng. Ấy thế mà một con chó còn xông vào được, và chỉ một tí nữa nó xơi chân bà một miếng. Nhưng chị người nhà đánh kịp. Nó mới đấm được mõm vào cái bắp chân gầy đét của bà lão thôi. Hú hồn!… Bây giờ dám gọi sao? Chó thính tai mà lại rất mau chân. Chúng xộc cả ra thì khốn. Ấy thế là bà lão đành ngồi đợi dịp. Cái đĩ bế em ra ngõ chơi chẳng hạn… Hay là có người nào trong nhà đi đâu… Hay là có người đàn ông khỏe mạnh nào đến nhà bà phó Thụ, để cho bà đi ghẹ… Bà ngồi rỗi, tưởng tượng ra đủ mọi cái may mắn tương tự thế. Chỉ còn mỗi một cái bà chưa nghĩ đến: ấy là lúc chính bà phó Thụ ra, hoặc đi đâu về. Thì chính bà phó Thụ đi chợ về. Mới thoạt trông thấy bà lão, bà tưởng là một con mẹ ăn mày. Bà hơi cau mặt:

- Ai kia? Ai ngồi làm gì kia? Chó nó ra, nó lôi mỡ ra cho đấy. Sao mà bạo thế?

Bà lão quay lại mỉm cười móm mém:

- Bẩm bà đi chợ về!…

Bà phó Thụ mở to đôi mắt đỏ ngầu, nhìn kĩ hơn một chút. Bà nhận ra bà cái đĩ ở. Tức thì mặt bà nguỷu xuống. Bà lão này còn muốn quấy quả gì nữa đây? Để vòi tiền thêm chăng? Bà lão rên một tiếng và chống tay lên đầu gối, bẩy rẩy đứng lên. Bà phó hỏi:

- Bà đi đâu thế?

Bà lão lại rên tiếng nữa để mở đầu câu nói (bà rên cũng như một vài người khác bạ lúc nào cũng thở dài. Cái ấy thành thói quen).

- Bẩm bà, con lên chơi với cháu. Lâu lắm, cháu không được về, con nhớ cháu quá!

- Úi dào ôi! Vẽ cái con chuột chết! Nó phải làm chứ có rỗi đâu mà bà chơi với nó? Nhà tôi không có cơm cho nó ăn để nó cứ nồng nỗng nó chơi. Bà muốn chơi với nó thì đem ngay nó về nhà, tìm cơm cho nó ăn, bà cháu chơi với nhau vài ba tháng cho thật chán đi, rồi hãy bảo nó lên. Tôi không giữ. Bà tưởng nó đã làm giàu làm có cho tôi rồi đấy, hẳn?

Bà cần phải nói ráo riết ngay để chặn họng, không cho bà lão mở mồm vòi vĩnh. Bà lão bị những lời tàn nhẫn ấy hắt vào mặt quả nhiên không còn nói sao được nữa. Bà cúi đầu, như một con mẹ ăn cắp lúa, bị tuần sương tóm được. Bà phó chiếp chiếp mồm luôn mấy cái, rồi vác mặt lên trời mà bảo:

- Chơi với bời! Cái lúc nó mới đến, trông như con giun chết, cạy gỉ mũi còn chưa sạch thì không thấy chơi với bời. Người ta nuôi mãi, bây giờ mới trơn lông đỏ da một tí, đã phải đến mà giở quẻ. Tưởng báu ngọc lắm đấy! Tưởng người ta đã phải giữ khư khư lấy đấy!… Úi chào! Có phải mả tổ nhà người ta đâu mà người ta giữ? Muốn bắt nó về, cho nhà nào nó nuôi làm bà cố tổ nhà nó nó thì cứ bắt. Ai người ta thiết? Cứ trả lại tiền người ta!…

Bà lão rưng rưng nước mắt. Khốn nạn, bà có ý quắt quéo thế đâu? Bà lão mếu máo:

- Bẩm bà, bà dạy thế thật oan cho con quá. Trời để con sống bằng này tuổi đầu, con còn dám lừa lọc hay sao? Thật có trời trên kia làm chứng, nếu con quả định đến đây để dỗ dành cháu về để đem cho người khác thì trời cứ vật chết con đi! Con chỉ xin bà cho được trông thấy cháu, bà cháu chơi với nhau một lúc. Cũng chẳng còn mấy chốc nữa mà con chết, con cũng tưởng đi chơi dối già một bận…

- Nó không được rỗi mà chơi với bà. Chẳng chơi bời gì cả! Bà đã trót lên thì vào đây, tôi cho một bữa cơm. Bận sau thì đừng vẽ con khỉ nữa. Nhà tôi không có thói phép cho chúng nó như thế được. Con tôi đi học tận Hà Nội, dễ tôi cũng phải nay ra chơi, mai ra chơi với nó đấy! Đã đi ở mà còn không biết phận… Chơi với bời!…

Môi bà lại chiệp chiệp và xìa ra…

Cái đĩ vừa trông thấy bà, mừng rối rít. Nó cười rồi nó khóc chẳng biết vì sao cả. Nhưng đôi mắt khoằm khoặm của bà phó Thụ dội nước vào lòng nó. Nó tự nhiên ngượng nghịu. Nó không dám xoắn xuýt bà nó nữa. Nó cúi đầu, khẽ hỏi:

- Bà đi đâu đấy?

- Bà đến xin bà phó một bữa cơm ăn đây! Bà đói lắm.

Câu nói rất thật thà ấy, bà lão dùng giọng đùa mà nói. Như thế người ta gọi là nửa đùa nửa thật. Một cách lấp liếm cái ý định của mình bằng cách nói toạc nó ra. Cái đĩ bế em, dắt bà ra đầu chái, để không bị ai nhìn nữa…

- Da bà xấu quá! Sao bà gầy thế?

- Chỉ đói đấy thôi, cháu ạ. Chẳng sao hết.

- Lớp này bà ở cho nhà ai?

- Chẳng ở với nhà ai.

- Thế lại đi buôn à?

- Vốn đâu mà đi buôn? Với lại có vốn cũng không đi được. Người nhọc lắm.

- Thế thì lấy gì làm ăn?

- Chỉ nhịn thôi chứ lấy gì mà ăn!

Bà cháu mới kịp trao đổi với nhau từng ấy câu thì bà phó đã the thé hỏi:

- Nó bế em đi đâu rồi?

Ấy là dấu hiệu bà sắp gọi. Cái đĩ vội đặt em xuống đất, bảo:

- Bà giữ nó hộ con một tí.

Nó cởi dải yếm lấy ra một cái túi rút con con. Trong túi xóc xách mấy đồng trinh. Nó rút ra, đếm lấy hai xu, giúi cho bà…

- Con biếu bà để bà ăn bánh đúc. Bà về đi!

Tiếng bà phó giục:

- Cái đĩ đi đâu rồi? Đem em về đây, rồi quét nhà, dọn cơm.

- Vâng!

Nó tất tưởi bế em chạy về. Bà lão hãi chó, lẽo đẽo đi theo cháu. Bà phó trông thấy mà lộn ruột. Bà xa xả:

- Bà đừng theo đít nó thế. Bà cứ ngồi một chỗ rồi mà ăn cơm, Khiếp thật thôi!

- Vơơơng!…

Bà lão “vâng” thành một tiếng rên. Bà vào nhà, ngồi xón vén vào một xó ngay xuống đất. Bà phó cất lấy con. Cái đĩ lụt cụt chạy xuống nhà dưới. Một lát sau, tiếng đũa bát bắt đầu lạch cạch… Bà phó bảo:

- Bà xuống dưới này mà ăn cơm.

Bà bế con ra. Bà lão theo sau. Tiếng khung cửi đã ngừng. Mấy cô dệt cửi đều là con gái hoặc con nuôi bà phó Thụ, đang tới tấp, cô xới cơm, cô bỏ rau, cô sẻ mắm, chung quanh cái mâm gỗ đặt ngay trên mặt đất. Cả nhà quây quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai phải bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa. Trông bà so đũa mà ngứa mắt! Bà phó muốn giật xoét lấy làm thật nhanh cho đỡ bực. Nhưng bà nhịn được. Bà chỉ chép miệng và lừ lừ đôi mắt, tỏ ý khó chịu. Cái đĩ hiểu nên chỉ nhìn xuống đất. Nó giận bà nó lắm. Nó đã bảo bà nó về đi mà bà nó không chịu về…

Bà phó chẳng nói nửa lời, bê lấy bát cơm ăn. Mặt bà vẫn hầm hầm. Lũ con gái, con nuôi, con ở, biết hiệu, vội vàng cũng làm theo. Chậm một tí, bà chửi cho phải biết! Có khi bà hắt cả bát cơm vào mặt. Bà lão nhìn vòng quanh một lượt, rồi cũng cất bát cơm lên:

- Mời bà phó…

Nhưng bà vừa mới há mồm ra thì bà phó đã cau mặt quát:

- Thôi, bà ăn đi! Đừng mời!

Bà lão vội vàng ăn ngay. Nhưng họ ăn nhanh quá. Mọi người đều lặng lẽ, cắm cúi, mải mốt. Đôi đũa này lên lại có đôi khác xuống. Liên tiếp luôn như vậy. Cứ tăm tắp tăm tắp. Tay bà lão lờ rờ, không biết lợi dụng lúc nào để gắp rau vào bát mắm. Lập cập quá, bà đánh rơi cả mắm ra ngoài bát. Bà phó lại cau mặt, gắt:

- Sẻ riêng cho bà ấy một bát mắm, để ra cạnh mâm cho bà ấy!

Một cô vội làm ngay. Từ đấy, bà lão dễ xoay xở hơn một chút. Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất. Chỉ một thoáng sau, mọi người khác cũng thôi. Họ thôi gần đều một lượt. In như bà mẹ ra hiệu cho họ vậy. Thật ra thì lệ mỗi người chỉ được ăn có ba vực cơm thôi. Mà phải ăn nhanh để còn làm. Nhưng bà lão nhà nghèo, đã quen sống vô tổ chức, làm gì hiểu trong những nhà thừa thóc, thừa tiền, lại có sự hạn chế miệng ăn như vậy? Bà đoán rằng họ khảnh ăn. No dồn, đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no mãi, người ta có cần ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật. Cái đĩ ngượng quá, duỗi cổ ra, trợn mắt, nuốt vội mấy miếng cơm còn lại như một con gà con nuốt nhái. Rồi nó buông bát đũa. Bà bảo cháu:

- Ăn nữa đi, con ạ. Nồi còn cơm đấy. Đưa bát bà xới cho.

Nó chưa kịp trả lời thì bà phó đã mắng át đi:

- Mặc nó! Nó không ăn nữa! Bà ăn bằng nào cho đủ thì cứ ăn!

À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói. Còn cơm mà thôi ăn thì khí tiếc. Vả đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà làm khách. Bà cứ ăn như không biết gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Chỉ còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi. Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng, nhìn, và bảo con bé cháu:

- Còn có mấy hột để nó khô đi mất. Tao vét cho mày ăn nốt đi kẻo hoài, đĩ nhé?

- Khô mặc kệ nó! Bà có ăn được hết thì ăn đi, đừng bảo nó. Nó không ăn vào đâu được nữa. Ăn cho nó nứt bụng ra thì ăn làm gì?

Bà phó vội gắt gỏng bảo thế. Ừ, thì bà ăn nốt vậy! Bà cạo cái nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rấm nốt. Ái chà! Bây giờ thì bà no. Bà bỗng nhận ra rằng bà no quá. Bụng bà tưng tức. Bà nới thắt lưng ra một chút cho dễ thở. Bà tựa lưng vào vách để thở cho thỏa thích. Mồ hôi bà toát ra đầm đìa. Bà nhọc lắm. Ruột gan bà xộn xạo. Bà muốn lăn kềnh ra nghỉ, nhưng sợ người ta cười, cố gượng. Ôi chao! Già yếu thì khổ thật. Đói cũng khổ mà no cũng khổ. Chưa ăn thì người rời rã. Ăn rồi thì có phần còn nhọc hơn chưa ăn. Ôi chao!…

Xế chiều hôm ấy, bà lão mới ra về được. Bà bảo: về muộn cho đỡ nắng. Thật ra thì bà tức bụng, không đi nổi. Mà bà uống nhiều nước quá. Uống bằng nào cũng không đã khát. Bà chỉ càng thêm tức bụng. Đêm hôm ấy, bà lăn lóc rất lâu không ngủ được. Bà vần cái bụng, bà quay vào lại quay ra. Bụng bà kêu ong óc như một cái lọ nước. Nó thẳng căng. Bà thở ì ạch. Vào khoảng nửa đêm, bà thấy hơi đau bụng. Cơn đau cứ rõ thêm, cứ tăng dần. Chỉ một lúc sau, bà đã thấy đau quắn quéo, đau cuống cuồng. Rồi bà thổ. Rồi bà tả. Ôi chao! Ăn thật thì không bõ mửa. Bà tối tăm mặt mũi. Đến khi bệnh tả dứt thì bà lại sinh chứng đi lị. Ruột bà đau quằn quặn. Ăn một tí gì cũng đau không chịu được. Luôn nửa tháng trời như vậy. Rồi bà chết. Bà phó Thụ, nghe tin ấy, bảo: “Bà chết no”. Và bà dùng ngay cái chết ấy làm một bài học dạy lũ con gái, con nuôi:

- Chúng mày xem đấy. Người ta đói đến đâu cũng không thể chết nhưng no một bữa là đủ chết. Chúng mày cứ liệu mà ăn tộ vào!…

    
NAM CAO        
 

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2022

VĨNH BIỆT PHỐ - Hoàng Ngọc Tuấn

 


Nếu chiếc đồng hồ tay của anh có ghi lịch ngày tháng, anh sẽ nhìn thấy con số : 23 tháng 8. Suốt đời anh sẽ không bao giờ quên nó được, vì từ ngày ấy cuộc đời anh đổi trắng thành đen trong phút chốc, như bàn tay lật úp mau lẹ của một người da đen.
 
Sài Gòn, không biết anh đến đấy từ bao giờ, vì những lý do nào, chỉ biết có một lúc nào đó, anh bị chôn kín êm ái trong thành phố này, giống như những đợt sóng trong đại dương. Những tòa nhà cao ngất vĩ đại, những xóm nhà lá lụp xụp bẩn thỉu bên dòng sông đen, ánh đèn màu trác táng của ban đêm, con đường vắng hun hút hai hàng cây xanh lá... Tất cả, tất cả đều tràn đầy bên cạnh anh làm thành một thế giới quen thuộc và thân thiết.

Bởi vì anh thất nghiệp, nên anh là người rảnh rang nhất thế giới, thật tuyệt vời khi không có việc gì phải làm cả, anh nghĩ thế. Buổi sáng, anh thức dậy muộn, mặt trời đã đỏ rực trên rừng người đang bận rộn với công ăn việc làm. Nhưng đối với anh, mặt trời ấm áp như một chiếc đồng hồ reo đánh thức anh dậy. Nơi anh cư ngụ, một ngôi nhà bỏ hoang nằm ngay lòng con phố nhộn nhàng. Anh rửa mặt như một con mèo tam thể, cơn mưa nhẹ đêm qua đã rơi một ít nước trong chiếc thùng đặt trước hiên nhà. Anh mặc áo quần vội vàng. Tỉnh táo, yêu đời. Cánh cửa phòng bật tung. Thành phố đột ngột hiện ra như cuốn phim màu đập mạnh vào mắt một người khán giả nãy giờ ngủ quên trong rạp hát. Những thằng bạn nào đó đang ngồi trong một tiệm cà phê vẫy tay chào anh. Thằng nhỏ mặt bám đầy bụi, đang lúi húi lau xe hơi nhe răng chào anh. Và cả những thằng bé đánh giày, cô gái bán thuốc lá ở đầu đường... anh đưa tay chào tất cả mọi người. Chào mừng hừng đông của buổi sáng mai, chào mừng một ngày mới, tờ lịch quên chưa xé sang một trang khác.

Anh vào một tiệm cà phê quen, ở chiếc bàn đặt ngoài cùng trên vỉa hè. Từ đó, tất cả đàn bà đẹp và xấu của thành phố diễn qua trước mặt anh như trong một cuộc thi hoa hậu. Gã bồi bàn trong quán đã quen mặt anh, chiếc khăn lau bàn nằm trên cánh tay gã, mái tóc chải tém mượt đen bóng như chiếc nơ thắt ở cổ áo. Gã chạy lại anh, cầm theo một tấm thực đơn to tổ bố mà một người nào đó, nếu muốn bỏ hết cả cuộc đời để ăn từ món số 1 đến món cuối cùng cũng không hết được. Anh biết gã chờ đợi anh kêu thức ăn điểm tâm : hủ tiếu bò kho, hột gà "ốp la", trứng tráng... Nhưng sáng nay, anh rất nhớ số tiền nằm trong túi anh, cho nên anh chỉ kêu vài tiếng khiêm nhường:

- Cho tôi một ly cà phê đen nhỏ.

Gã bồi xịu mặt xuống, gã bỏ anh rồi chạy lăng xăng quanh những bàn có khách sang, đang ngồm ngoàm những bữa điểm tâm vĩ đại. Lát sau, trên bàn anh có một vài điếu thuốc lẻ, tách cà phê bốc khói và một tờ nhật báo mới tinh. Như thế, sáng nay trời khá đẹp.

Ngay khi ấy, đàn chim sẻ nhỏ bé từ những lùm cây xanh bỗng rộn rịp bay sang mái ngói đỏ. Anh nhìn thấy nàng. Thiếu nữ mặc chiếc áo đầm xanh, hơi cũ, lâu ngày nàng cao dần lên nên chiếc áo ngắn lại, cho thấy một ít đầu gối của nàng. Nàng đưa tay giữ lấy mái tóc khỏi bay tung, chờ đợi, khi cột đèn đường bật sang màu đỏ làm xe hơi bỗng dưng thắng gấp, nàng vội vàng qua đường. Có lẽ nàng đi về nhà nếu không thấy anh, và anh vội đưa tay lên cao vẫy vẫy, kêu tên nàng thật lớn làm tất cả khách trong quán đều giật mình.

Thiếu nữ mỉm cười chào anh. Anh quen biết khá thân với nàng. Nàng là thư ký đánh máy cho một hãng tư ở gần đây. Một hôm vào tìm người bạn cùng làm trong sở ấy, hắn giới thiệu nàng với anh... Thiếu nữ đang cúi đầu trên chiếc máy đánh chữ, tiếng lóc cóc nghe đều đặn buồn ngủ. Người bạn chạy vào trong phòng vì tiếng chuông điện thoại reo. Bỏ lại một mình anh với nàng, anh dư thì giờ ngắm nàng một cách thong dong. Mái tóc ngắn, đen nhánh như những người đàn bà đẹp khác. Nước da nàng ngăm ngăm, như vỏ trái cây bồng quân, mắt sáng tinh nghịch vô cùng và nụ cười thật dễ thương, lại có một chiếc răng khểnh bé bỏng.

- Mời cô đi dùng điểm tâm một lát, ở cái quán gần đây có món hủ tiếu bò kho thật tuyệt.

- Cám ơn ông, tôi ăn sáng ở nhà rồi. Bây giờ hãy còn no.

- Thế thì uống một tách cà phê vậy, một thứ cà phê gọi là Robusta, ngon lắm.

- Cám ơn ông, tôi không biết uống cà phê.

- Thế mời cô đi dùng cơm trưa. Ở gần đây, có cái quán nhỏ với món canh chua cá lóc ngon nhất thế giới.

- Cám ơn ông. Tôi phải về nhà ăn cơm, mẹ tôi đợi.

- Lâu lâu cho mẹ cô đợi một lần có sao.

Nàng chợt ngửng đầu lên, đôi lông mày nhíu lại vì câu nói bất lịch sự của anh. Anh lúng túng xin lỗi.

- Chiều nay mời cô đi xem phim Những ngày chủ nhật ở phố Avray... Một cuốn phim tuyệt vời, cô bé ấy cũng có đôi mắt như cô.

- Cám ơn ông. Chiều nay tôi bận làm việc, cuốn phim ấy tôi đã xem lâu rồi, trong đó... hình như có một người đàn ông hơi khật khùng... như ông, phải không?

Anh giận dỗi mở tung cánh cửa phòng ra về, rồi lại mở cửa thò đầu nhìn nàng một lần cuối cùng. Nàng bỗng bật cười, như tiếng chuông nhà thờ rộn rã.

Rồi lần lần anh cũng quen thân với nàng, nhờ người bạn làm trung gian trong sở. Thỉnh thoảng, nếu gặp anh ngồi ở tiệm cà phê buổi sáng, nàng ghé lại uống một ly gì đó với anh trước khi vào sở làm. Cũng như sáng nay, nhưng bây giờ đã gần trưa, có lẽ nàng vừa xong việc, sắp sửa về nhà.

Nàng ngồi vào ghế bên cạnh anh một cách tự nhiên. Anh hỏi thăm nàng vài câu thường lệ. Trông khuôn mặt nàng hơi mệt nhọc và xanh xao một chút, có lẽ tại vì suốt ngày ngồi trong căn phòng ngột ngạt hơi người và cả một đống giấy tờ. Anh đưa tay kêu người bồi, anh không cần hỏi nàng dùng gì vì anh đã biết thói quen của nàng.

- Cho một ly sữa tươi và... một hộp tăm.

Nàng bật cười, đưa những ngón tay của nàng bấu mạnh vào cánh tay anh.

- Lúc nào anh cũng đùa được. Sáng nay không có việc gì làm sao, anh ngồi uống cà phê từ đêm qua đến giờ à.

- Từ cả năm nay, ngồi lì quán nước là công việc tuyệt vời nhất của một tên thất nghiệp.

Lát sau, anh nhìn nàng nhấm nháp từng chút sữa tươi như một con thỏ con. Khi nàng đã chán uống sữa, nàng không biết làm gì, nàng buồn buồn bẻ gãy vụn những cây tăm, rồi vẽ trên đốm nước thành những hình thù đầy tràn trên bàn. Nàng đã bẻ gãy hết tất cả những cây tăm trong hộp. Chưa hết đâu, nàng bật cháy từng que diêm để anh nhìn ngọn lửa đỏ rực trong một lát rồi tắt ngúm. Nàng cứ ngồi quẹt diêm rồi thổi tắt hoài. Một hộp diêm nhỏ bây giờ giá lên đến mười đồng, nàng làm anh sốt ruột muốn chết. Anh phải phá tan không khí lặng thinh.

- Sau hộp diêm là đến cái gì nữa, anh phải cởi áo ra cho em đốt nhé.

- Em chưa đến nỗi điên thế đâu.

Anh định châm điếu thuốc nhưng một thằng bé bán báo đi ngang qua làm anh giật mình nhớ lại. Anh lục lại tờ báo lá cải của anh có đăng kết quả xổ số kiến thiết. Một tuần lễ, ngày bận rộn duy nhất của anh là ngày thứ ba, buổi sáng mua một tấm vé số và buổi chiều dò kết quả.

Anh say mê nói với nàng:

- Em chờ anh một lát, anh đưa em lên Đà Lạt chơi trên một chiếc Fiat trắng tinh.

- Anh cứ làm trò phù thủy gì đi, em chờ.

Anh nóng nảy lật tìm trang tư tờ báo. Nàng ngồi im lặng hơi mỉm cười. Một lát sau, nàng cũng hồi hộp ghé đầu qua vai anh để theo dõi. Một tấm vé đã trật lất, anh xé tan, còn một tấm vé cuối cùng.

Anh thoáng nhìn nàng. Thiếu nữ tuổi đôi mươi ấy mỗi ngày cứ đến 12 giờ trưa nóng bức, nàng chen lấn trên xe buýt để về nhà. Căn nhà nhỏ hẹp của nàng ở một vùng ngoại ô thành phố xa tít. Nàng sẽ vội vã ăn cơm qua loa với bà mẹ, rồi khi mọi người đang ngủ trưa, nàng sẽ mệt nhọc ra đón một chiếc xe buýt khác trở lại thành phố. Ngày nào cũng như thế, căn phòng kín mít của sở làm, những tên thư ký trẻ tuổi mắt liếc ngang liếc dọc, lão chủ mập phì với chiếc cà vạt đỏ to tướng trên cổ áo, mặt làm ra vẻ nghiêm trọng nhăn nhó như một quả dừa khô, khi thì nở dãn ra căng phồng như trái banh vào lúc cần tán tỉnh o bế.

Ở tuổi nàng, đôi mắt còn trong của nàng, anh muốn nhìn thấy nàng ngồi trong lớp học, môi cắn bút làm một bài Luận Văn hóc hiểm. Nhưng nàng đã phải lìa bỏ hình ảnh đẹp ấy. Nàng bị cuốn hút trong thành thị, mệt nhọc bơ phờ vì số lương nhỏ nhoi giúp đỡ cho gia đình mỗi tháng.

- Chờ anh một lát. Anh sẽ trúng 4 triệu. Anh sẽ mua cho em một ngôi nhá quét vôi gạch hồng ở Đà Lạt, trong nhà có lò sưởi và ống khói mỗi chiều bốc lên vài hơi ấm áp. Ngoài hiên nhà, sẽ có khu vườn rộng bao quanh. Em sẽ là cô chủ của một quán cà phê, khách ngồi uống rải rác dưới mái hiên, bên cạnh những khóm hoa hồng đủ màu rực rỡ.

Nàng cảm động, giọng của nàng ẩm ướt:

- Thế anh không có gì sao?

- Có chứ. Anh sẽ lấy độ 2 triệu, anh chạy một cái giấy chứng nhận bất lực vĩnh viễn, khỏi đi lính suốt đời. Rồi anh tà tà đi rong chơi quanh năm suốt tháng. Lúc nào anh hết tiền, anh sẽ đến thăm em, em nhớ pha cho anh một tách cà phê ngon nhất để đãi anh. Nếu em chưa hà tiện, em nhớ khui một chai rượu vang và xé phay một con gà mái tơ cho anh nhậu, em nhé.

Nàng sung sướng gật đầu. Giấc mơ quá đẹp đối với anh và nàng, và anh tin tưởng sắt đá may mắn sẽ đến với mình chắc chắn trong vài giây nữa. Anh nôn nao nhìn những con số trên báo. Những con số của hạnh phúc, dần dần anh bỗng thấy chúng xa lạ, chẳng dính dấp gì, chẳng có vẻ gì giống như những con số trên tấm vé số của anh cả.

Cuối cùng anh biết mình thất bại như thường lệ. Có lẽ không có may mắn nào đến cho kẻ ôm gốc cây đợi trái táo rơi. Anh ném mẹ cả tờ báo lẫn tấm vé số. Anh buồn quá đỗi, thế giới như địa ngục đối với kẻ thất vọng. Nàng cũng buồn, nàng đeo cặp kính nâu lên mắt để anh khỏi nhìn thấy ý nghĩ của nàng, một cánh chim hải âu trắng cao vời của mộng tưởng.

- Thôi mình đi, anh. Em còn phải mua cho ba vài trăm grammes cà phê rồi về nhà.

Anh gọi bồi tính tiền rồi cả hai đi khỏi quán. Anh không quên lượm theo tờ báo mới để đọc tin tức qua loa cho đỡ buồn. Cũng như thường ngày : Tin tức chiến sự, hiếp dâm, trộm cắp, vật giá leo thang, kêu gọi hòa bình, thay đổi nội các, tăng giờ giới nghiêm, biểu tình xuống đường, ẩu đả trong quốc hội, chạm súng ngoài chiến trường... lụt lội đói rét, tham nhũng hối lộ... vân vân ... Những thứ ấy làm anh chán ớn người, như muốn nôn mửa ra hết một bụng rượu bia và thịt mỡ.

Anh lật sang trang trang tư để xem những cột chia mừng đám cưới, chia buồn với người chết, người tử trận, bán giá rẻ máy bơm Dove và Soutien Automatique bơm ngực, khánh thành ngân hàng, đại nhạc hội Sexy - Show ... vân vân ...

Anh sẽ thích thú ghê lắm nếu bất ngờ đọc thấy tên anh trang trọng trong một khung cáo phó viền đen:

Đau đớn báo tin ;

Ông Nguyễn - Văn - X

Nghề nghiệp : thỉnh thoảng là sinh viên.

Đã từ trần tại Sài Gòn ngày ... vì bệnh tê liệt ở quán cà phê. Hưởng thọ 23 tuổi. (Tính theo trong căn cước thì trẻ hơn một chút).

Nhưng dĩ nhiên là không thấy tên anh. Anh vẫn còn yêu đời chán vì còn có nàng. Nụ cười ái ngại ấy, đủ làm cuộc đời tươi đẹp vô cùng.

Anh đứng chờ nàng trước một tiệm bán cà phê J. Martin. Phố đã trưa, xe cộ chen lấn nhau ồn ào trên con đường đầy bụi khói. Bất ngờ anh gặp Hải trong đám người hối hả ấy. Trước đây hắn là bạn học anh, bạn tốt, dễ tính và thực tế nên lúc nào cũng có khá tiền trong những vụ làm ăn gì đó. Chiếc xe Vespa của hắn thắng gấp lại, miệng cười vui vẻ.

- Lâu lắm sao không gặp mày. Sao? Học hành, làm ăn bây giờ ra sao?

Hắn cười, ra dáng bằng lòng:

- Cũng khá. Vẫn đỗ đều đều để được hoãn dịch, tiền bạc cũng lai rai, tao đang lo chạy mua hàng cho ông già. Còn mày?

- Vẫn tà tà.

- Tà tà là nhất rồi, nhưng có kẹt tiền không?

- Thỉnh thoảng... đôi khi... nhiều khi... thường trực.

- Bây giờ?

- Kẹt.

Hắn cười dễ dãi, hắn dúi vào túi áo anh mấy trăm bạc. Anh chưa kịp nói gì, đèn đường đã bật sang màu xanh. Hắn chỉ kịp la lên một tiếng đại khái là tạm biệt, rồi phóng xe chạy nhanh.

Anh quay đầu nhìn vào trong tiệm. Nàng đang đứng chờ người bán hàng xay những bột cà phê màu nâu thoảng ra mùi thơm ngát, nàng bắt gặp cái nhìn của anh và nàng mỉm cười. Anh bỗng bỏ chạy dọc theo những hiệu bán sách báo, rồi rẽ vào hàng bán hoa ở đường Nguyễn Huệ. Hoa ở đây được chở từ Đà Lạt về nên giá bán khá đắt. Anh chọn mua vài bông hoa hồng chưa nở nhiều lắm, hai trắng và một hồng. Anh trở lại khi nàng vừa ôm gói cà phê ra khỏi tiệm, nàng đang dáo dác nhìn quanh để tìm anh. Anh gọi tên nàng, nàng nhìn những bông hoa một cách tự nhiên. Anh đưa tặng nàng bó hoa hồng dễ yêu còn ướt vài giọt nước. Môi nàng cắn vào nhau, đôi mắt nàng có lẽ đang âu yếm nhìn anh, nàng lí nhí nói:

- Anh là người đầu tiên mua hoa cho em.

Anh hãnh diện trả lời:

- Có lẽ anh là người thông minh nhất.

Trên vỉa hè, anh đứng lặng người sát bên nàng, nhìn những ngón tay nàng mơn man trên cánh hoa mỏng, vì nàng khéo tay nên chẳng có cây gai nào làm da nàng nhỏ máu. Người nàng thơm ngát như vừa ngủ dậy trên một đám trái cây cà phê rang chín, gối là những bông hoa hồng. Anh quàng vai dìu nàng sang đường, anh nói nhỏ trong âm thanh hỗn độn của đường phố:

- Môi em thơm mùi cà phê. Anh lại là cái thằng rất thích uống cà phê.

Nàng đỏ mặt, hai ngón tay mềm của nàng véo vào tay anh đau điếng người. Nàng hay làm thế mỗi khi nàng mắc cỡ vì anh đùa nghịch gì đó hơi quá đáng. Nhưng lần này anh biết không đi quá lố, anh đang đi trên con đường cỏ êm riêng tư của anh. Anh cứ nhìn mãi nàng để chờ đợi một nụ cười, và nàng cười cho anh thấy, nhưng anh chưa hài lòng. Anh gỡ cặp kính nâu khỏi mắt nàng để nhìn thấy thấu suốt, cho tận cùng khung trời yêu thương trong đôi mắt ấy. Không phải chỉ cười ở đôi môi, mà nỗi tươi thắm toàn vẹn còn nằm trên mái tóc bay lòa xòa, những sợi tóc mai, làn da đượm chút ửng hồng và đôi mắt chân thật không che giấu. Thân hình nàng sát bên mình anh, anh bỗng dưng nghe tiếng nói của mình, say sưa như một người tỉnh táo sau khi say rượu:

- Em có muốn thấy ở trang tư của tờ nhật báo, tên tụi mình nằm cạnh nhau, trong cái khung nhỏ tựa đề là Chia Mừng Lễ Thành Hôn... ở dưới là lời cầu chúc của bạn bè.

Cả anh và nàng tự dưng đứng lại trên đường, dưới bóng mát của một tòa nhà cao ngất. Thành phố vẫn không im lặng cho hai người. Tiếng còi xe, tiếng tu huýt của cảnh sát ré lên, tiệm bán dĩa hát cũ trên vỉa hè đang phát thanh rên siết một bài Tân Cổ Giao Duyên, xe phóng thanh trước chợ gân cổ quảng cáo quý vị hãy dùng kem Hynos mỗi ngày hai lần...

Đôi mắt nàng hình như ứa lệ, không biết vì khói xe hay vì trái tim đang đập những nhịp bồi hồi, thành phố vẫn la hét inh ỏi. Cái thành phố gà chết này, rộng lớn thế này mà không còn chỗ nào để đặt một dĩa nhạc tình ái trình tấu bằng đàn vĩ cầm.

Đáng lẽ bây giờ phải có mặt trời hồng hào trên tháp chuông nhà thờ, tà áo trắng như tuyết cho nàng, tiếng thánh nhạc, tiếng chuông đổ rộn ràng, những phím dương cầm ngân vang thánh thót, bầu trời bay đầy bông hoa rực rỡ... Anh sẽ âu yếm nắm tay nàng, đứng chờ đợi trước một ông Cố Đạo bệ vệ. Ông Cố Đạo sẽ trịnh trọng đọc rì rầm những câu kinh bí mật, rồi sẽ nghiêm trang hỏi cái câu vô duyên dư thừa nhất đời:

- Ông X, ông có bằng lòng lấy cô Y làm vợ không...

Anh sẽ trả lời cộc lốc:

- Bằng lòng là cái chắc.

Rồi ông Cố Đạo sẽ quay mặt đi để cho chúng ta hôn nhau. Nụ hôn của một đời gắn bó và thương yêu tuyệt vời. Đáng lẽ phải có những thứ ấy liền bây giờ bên cạnh cho nàng và anh. Nhưng không, còi ban trưa hụ vang, nắng đổ lửa, nàng phải trở về để ăn cơm vội vã, và chiếu sẽ tiếp tục chết ngất đi trong công việc thường lệ của nàng.

Anh đành đưa nàng đến bến xe buýt, khuôn mặt nàng hiện ra trong khung cửa xe, hướng về đôi mắt anh.

- Lúc nãy em có nghe anh nói gì không.

- Có. Em sẽ nghĩ đến anh hoài.

- Cám ơn em. Có lẽ em là người đàn bà duy nhất có lòng nghĩ đến anh, ngoại trừ những bà chủ nợ.

Nàng cắn môi để khỏi bật cười, nàng vói tay để véo vào tay anh cho bỏ ghét như thường lệ. Nhưng vì đang ngồi trên xe nên nàng đưa tay không tới, nàng bậm môi lắc đầu phụng phịu giận hờn. Anh đành phải xăng tay áo đưa cánh tay trần lên cho nàng. Những móng tay bấu nhè nhẹ trên da thịt, hơi đau nhưng làm sung sướng muốn chết.

Anh đứng lại một mình ở bến xe, lòng rộn rã, ngứa chân đá văng tung một cái lon sữa bò.

*

(Ta quyết định lột xác hoàn toàn, thay đổi hẳn cuộc đời ta. Ta sẽ chấm dứt những ngày tháng vất vưởng lông bông, vô tích sự, đáng xấu hổ này. Ta sẽ thôi không ngồi dằng dai suốt ngày từ quán cà phê này sang quán khác. Quán cà phê, những cuộc tán gẫu với bạn bè, với cuộn băng nhạc dịu dàng những bài hát tình ái của Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Cung Tiến nghe cũng hay thật đấy, như muốn dìm ta chết cóng trên ghế, làm tệ liệt ta trong cái thế giới âm thanh quyến rũ của nó. Nhưng ta cóc muốn chết uổng đời như thế. Ta muốn sống, muốn nhảy nhót tưng bừng trong lòng cuộc đời như một con sóc rừng xanh.

Ta sẽ chấm dứt luôn cái kiếp làm người thất nghiệp. Ta phải chọn lựa giữa Khổng Tử, Heidegger và một công việc có số lương kha khá hàng tháng. Ta bỏ chơi, ta bỏ học. Ta vác cái đơn xin việc làm lê gót đến hàng trăm sở làm trong thành phố này để đào ra một chỗ làm, sẵn sàng nhào vào bất cứ thứ nghề ngỗng nào có thể kiếm ra tiền.

Bạn bè chắc sẽ cười chê ta, nhưng ta cóc cần. Ta cóc làm một người chịu chơi, một kẻ tà tà nữa. Ta sẽ là một anh công chức hay tư chức chân chỉ hạt bột, sớm vác ô đi tối vác  về. Ban đêm đi kèm cho trẻ con, ngày chủ nhật nếu cần, mượn xe gắn máy đi chở khách. Ta sẽ chịu đựng mọi nhọc nhằn như con lạc đà tải hàng qua sa mạc. Ta sẽ dành dụm từng đồng bạc, gởi vào Trương Mục Tiết Kiệm. Rồi ngày nào đó, một số vốn nhỏ đủ đưa ta và nàng ra khỏi thành phố này, đến bất cứ một miền đất khô cằn xa vắng nào. Nàng nuôi gà vịt trong sân, ta ra đồng cày ruộng, lên núi săn thịt rừng. Vĩnh biệt thành phố, vĩnh biệt giấc mộng làm thiên tài nhịn đói, ta với nàng chỉ là đôi tình nhân rất tầm thường, rất thua sút mọi người về chuyện vật chất. Nhưng trái tim, tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn vũ trụ).

Nhưng nếu tất cả ước mơ của anh đều thành tựu thì cuộc đời đã là thiên đàng. Và vì cuộc đời không phải là thiên đàng cho nên một buổi chiều thứ bảy (anh nhớ rõ : ngày 23 tháng 8), anh cặm cụi cuốc bộ đến sở làm (Anh đã kiếm được một chân Thầy cò sửa morasse tối tăm mặt mày trong nhà in).

Chiều thứ bảy. Thiên hạ từ khắp nơi, ăn diện bảnh bao, dắt díu vợ chồng con cái lũ lượt kéo về trung tâm thành phố để dạo chơi mua sắm. Cảnh sát thật tội nghiệp, họ đứng từng hàng dài ở chân cầu để khám xét những người khả nghi. Tiếng cói tu huýt ré lên lanh lảnh, anh tiếp tục bước nhanh, tiếng còi rú lên nghe ghê rợn hơn làm anh giật mình quay lại, nhưng người cảnh sát giận dữ chỉ tay vào anh và một người hồng hộc chạy đến anh, tay đặt trên báng súng.

- Giấy tờ đâu? Đưa xem.

Anh lạnh người. Có những chuyện ghê gớm anh cố quên đi nhưng chúng không buông tha anh được.

- Có cái này thôi sao? Giấy Hợp Lệ Quân Dịch của anh đâu?

- Thưa ông... tôi không thể có.

Người cảnh sát trẻ tuổi, mặt búng ra sữa, gật gù có vẻ khoái trá, tay vỗ vỗ mấy cái vào cán súng "ru lô".

- Hà hà... Trốn quân dịch mà chiều thứ bảy cũng đi dạo phố hả, chịu chơi dữ. Thôi đứng đây cha nội, lát nữa tụi tui lo cho cha nội đi lính "mút mùa" luôn!

Viên cảnh sát bỏ giấy tờ anh vào túi, mặt khoái chí đưa tay ngoắc ngoắc những đồng nghiệp của mình. Đường phố bỗng nổi lên tiếng động ồn ào, nghe thật nhộn nhịp tưng bừng như ngày hội. Xe hơi nối đuôi nhau chạy phăng phăng. Da trời chiều nay không hề báo hiệu gì về cơn mưa, xanh ngắt như tà áo xanh của những thiếu nữ thướt tha trên đường. Hai hàng cây cao tàn lá xanh dịu dàng. Buổi chiều, thành phố, hàng cây, những tà áo dài, tất cả đều xanh thắm một màu tươi đẹp.

Anh chợt thấy tuổi trẻ mình tái xanh như một con chim họa mi chết nô lệ trong lồng.
 

(1970)      

(Trích từ tập truyện ngắn Lời Cầu Hôn, nhà xuất bản Trẻ 1989)

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2022

SÀI GÒN, XƯA VÀ NAY - Trần thị Phương Lan

 

Lâu lâu đi đường bắt gặp những trụ đèn xoay sọc xanh đỏ treo hai bên hông tiệm uốn tóc, lòng tôi lại bồi hồi nhớ về Sài Gòn ngày tháng cũ... Người ta đã xài những đèn trụ xoay (barber’s pole) này từ hồi tôi còn học tiểu học, mà giờ đây họ vẫn sử dụng lại.Té ra cũng còn nhiều dân Sài Gòn hoài cổ như tôi.

Ngoài ra, cũng còn vô số những món đồ cổ từ đời ông Bành Tổ mà bây giờ lại được tái chế, phục hồi, để trở thành thời thượng, như các loại xe Velo Solex, Mobylette, Suzuki 67, Honda dame, và nhất là Vespa, Lambretta... Trước đây ba tôi có một chiếc xe Vespa cũ rích, để tuốt trong nhà chưa có dịp bán ve chai, thì một hôm đã có người nằng nặc đòi mua để về tân trang lại! Có cả những câu lạc bộ tập hợp những người chung sở thích, chí hướng để vào những ngày cuối tuần cùng đi dã ngoại, hoặc chụp hình hóa trang thành dân Sài Gòn xưa với những chiếc xe cổ lỗ sĩ ấy, nhưng giờ đây giá đã được hét tới trời!

Có lần nhà tôi dọn dẹp nhà cửa nên đã thải bớt một số những cánh cửa lá sách cũ, đã tháo rời ra từng thanh, để giúp phu hốt rác dễ xoay sở, nhưng buồn cười làm sao, tôi chỉ vừa gom chúng thành một đống trên vỉa hè, gần như chúng chưa kịp chạm đất, thì đã có người đi đường dừng xe và a lê hấp, chúng đã bị nuốt trọn "trong vòng ba nốt nhạc". Những cánh cửa ấy sẽ được sơn phết lại đủ màu sắc để làm vật trang trí cho quán cà phê, làm phông nền cho các cảnh quay trên TV... để mô tả Sài Gòn xưa.

Nói tới quán cà phê, tôi mới nhớ đến phong cách quán xá ở Sài Gòn xưa và nay khác nhau một trời một vực. Thời buổi này, bắt chước Tây, màu sắc được ưa chuộng nhứt là màu đen ! Chắc họ bị khùng tập thể rồi, vì quán cà phê, phòng karaoke... lại sơn đen thui, nhìn vào tối thui, đen ngòm như hang động thời tiền sử. Cả trong đám cưới, cô dâu tân thời cũng mặc màu đen. Và dàn tiếp tân đứng hai bên lối vào sảnh đón chào khách tới tham dự cũng vận cùng một màu đen tuyền. Có một dạo người ta còn tô son môi màu đen, dù chưa tới Lễ Ma Halloween (Có lẽ bây giờ mà không "chơi" màu đen đời không nể?). 

Khi xưa màu đen bị coi là màu tang, và chỉ có các góa phụ hoặc khi dự đám tang, người ta mới bị bắt buộc sử dụng mà thôi. ( Scarlet O'Hara trong Cuốn Theo Chiều Gió mặc trang phục đen để tang chồng đã được Rhett Butler xúi xả tang bằng cách mua cho váy áo và cả những phụ kiện như giày, bóp cùng màu xanh biếc để phù hợp với màu mắt  của cô, thay cho bộ đồ tang đen mà Rhett dèm pha là trông như con quạ) Giờ đây, hầu như mọi người, nhất là giới trẻ, đều mặc màu đen từ đầu tới đuôi. Cả những đứa con nít vẫn còn được bồng ẵm trên tay cũng bị cha mẹ diện cho màu đen! Thế giới đã đảo lộn rồi chăng?

Nay vậy, còn phong cách xưa thì sao nhỉ? Hồi tôi còn nhỏ xíu, thanh niên có phong trào mặc áo par-dessus, đàn vác vai, và cả áo khoác nữa, cũng vắt trên vai trông thật phong trần, lãng tử. Hình như trông họ cũng giống thám tử người  Anh Sherlock Holmes? Vì số lượng hình minh họa cho phép bị giới hạn, nên bạn nào muốn biết phong cách này thì hãy google hình chân dung nhạc sĩ Thăng Long (sáng tác nhạc phẩm Mưa Về Sáng), hoặc hình bìa ca khúc Anh Về Một Chiều Mưa của Duy Khánh và Anh Thy nhé. 

Nói về phong cách của các thiếu nữ, sinh viên, học sinh Sài Gòn xưa, chắc bây giờ bạn sẽ bị người ta gọi là "hư cấu", hay khéo tưởng tượng. Các chị ấy thật nhỏ nhẹ, lịch sự, một điều Dạ hai điều Thưa, cứ như tiểu thơ con nhà khuê các,  kín cổng cao tường, y hệt như những câu thơ của Phạm Thiên Thư, đã được Phạm Duy phổ nhạc: Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ. Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay...

Các thiếu nữ của tp. HCM ngày nay, trái ngược tới 180 độ,  tomboy hơn đàn chị khi xưa nhiều, và vì là sinh ngữ, hay ngôn ngữ sống động, không phải là tử ngữ, nên họ dùng thứ ngôn ngữ thời đại mới bảo đảm dân Sài Gòn xưa cứ tưởng mình đang nghe một thứ ngôn ngữ KHÔNG PHẢI là tiếng Việt, như vãi chưởng (có ai hiểu nổi không ạ?), quả đầu (kiểu tóc), quả xe, con xe (chiếc xe),  quả ảnh (tấm hình), đi phượt (đi du lịch ) quẩy lên nào (quậy lên)...

Xin thay lời kết cho bài viết này So sánh Sài Gòn xưa và nay bằng câu kết của Đệ Nhất Sài Gòn Ca, một sáng tác của nhạc sĩ Y Vân Sài Gòn , một nhạc phẩm có 1-0-2: Một tình yêu mến ghi lời hát câu ca Để lòng thương nhớ bao ngày vắng nơi xa. Sống mãi trong tôi bóng hôm nay sẽ không phai Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Trần Thị Phương Lan     
(Bút nhóm Hoa Nắng)