Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

CHƯƠNG 7, 8, 9_TAY NGỌC


7


Ngày 28 tháng 10

Thưa mẹ khả kính,

Đề tài Luận Quốc văn của chúng con do ma soeur Juliette ra cho làm trong tuần này đã gây sự sôi nổi của cả lớp: "Chị hãy tả một buổi đi thăm viếng một viện cô nhi và cho biết chị có dự tính gì để có thể xoa dịu nỗi khổ đau của các em bé mồ côi đó". Đọc xong cái đầu bài do ma soeur viết trên bảng, con rưng rưng cảm động đến ứa nước mắt. Như thế là các soeur đã luôn luôn theo dõi việc làm của con. Và con thấu hiểu rằng sự cho ra một đề luận như vậy, tức là các soeur đã gián tiếp giúp đỡ mọi người. Sáng kiến đó thật là hữu hiệu. Con thấy tất cả các chị nhao nhao lên bàn tán sôi nổi. Một số người phản đối một cách hăng hái, viện cớ chưa bao giờ trông thấy một Viện cô nhi ở đâu cả. Nhưng bà Juliette đã ra một thời hạn là hai tuần lễ để làm bài. Trong thời gian ấy, họ bắt buộc phải đi tìm tài liệu cho bài viết của mình. Mặc dầu vậy, có nhiều chị vẫn cho rằng bà Juliette thật là ác. Họ tranh luận với nhau om xòm suốt lúc xếp hàng để chờ vào phòng ăn. Đến giờ ngủ trưa hôm đó, sau khi bà Cécile xách cái roi mây đi ra khỏi phòng là họ lại nhao nhao lên bàn tán. Một chị la to:

- Ê! Thu Thủy! Bồ dự tính cái gì để xoa dịu nỗi khổ đau của trẻ mồ côi?

Thu Thủy lúng túng:

- Em... em chưa nghĩ ra cái gì cả.

- Còn chị Mỹ Dung?

- Em cũng thế!

- Vậy ai có sáng kiến gì xin đưa ra để mọi người xài chung.

Chị Diễm Hương tung cái mền nhỏm dậy:

- Tôi!

Mọi người đồng thanh:

- Hoan hô chị Diễm Hương! Có ý kiến gì cho tụi em "cóp" với.

Chị Diễm Hương tủm tỉm cười rồi đáp:

- Muốn xoa dịu nỗi khổ đau của trẻ mồ côi thì em dùng dầu Khuynh Diệp Bác Sĩ Tín.

Cả bọn ồ lên một lượt, và trong số đó có một chị lợi dụng cơ hội hét lên một tiếng thật to. Tiếng hét của chị ta làm mọi người xanh mặt. Tất cả đều chồm về chỗ của mình và luồn ngay vào tấm mền nằm im thin thít. Nhưng may quá, lần này không thấy có soeur nào chạy vào. Cánh cửa thông sang hành lang vẫn khép kín. Sự tĩnh mịch của buổi trưa im vắng không thấy vang lên tiếng gót giầy chạy lóc cóc một cách vừa vội vã, vừa giận dữ của  một soeur nào cả. Nằm yên nghe ngóng một lát các chị lại tung cái mền và nhỏm dậy đồng loạt. Lần này chị Diễm Hương đổi lại kiểu nói của mình:

- Nói đùa vậy thôi chứ muốn có sáng kiến thì phải hỏi chị Hạnh. Chị Hạnh chủ nhật nào cũng vô thăm Viện Cô Nhi.

Cả bọn liền đổ dồn mắt về giường của con. Chị Mỹ Dung nói:

- Phải đấy! Chỉ có chị Hạnh là có thẩm quyền nói về lũ mồ côi. Bài luận quốc văn làm thế nào hả chị?

Con trả lời:

- Dễ lắm! Chị nào muốn chứng kiến tận mắt thì chủ nhật này đi theo em, ở trong Viện mồ côi có bao nhiêu là idée để về làm bài.

Chị Mỹ Ái nói:

- Thôi thì chị cứ kể đi. Tụi em chỉ cần nghe nói là cũng có idée rồi.

- Em sợ như thế bài làm của chị sẽ bị kém điểm. Vì theo lời ma soeur giảng, những bài luận về narration phải chứng kiến tận mắt thì văn viết mới lưu loát, mới hay được.

- Nhưng eo ơi, cả tuần có mỗi một ngày chủ nhật để về với gia đình lại phải đi quan sát mà làm bài thì còn nói gì nữa. Với lại tuần này em phải ở nhà sửa soạn lễ ăn mừng sinh nhật. Không thể nào đi được rồi.

- Thật đáng tiếc!

- Vậy thì chị kể giùm cho em nghe đi. Trong viện mồ côi có những cái gì.

- Có toàn là trẻ con mồ côi. Với lại các chị người làm và y tá săn sóc thuốc men.

- Thế thôi à?

- Thế thôi!

- Kỳ nhỉ. Em tưởng ở trong ấy chắc là ghê tởm lắm.

- Tại sao lại ghê tởm?

Chị Mỹ Ái lúng túng:

- Thì... thì tại toàn là một lũ mồ côi. Chúng nó dơ bẩn, chúng nó chẳng có ai dậy dỗ, răn bảo nên dữ dằn, mất dậy...

- Thế thì chị nhầm. Dơ bẩn thì có phần nào, chứ dữ dằn, mất dậy thì không. Chúng nó rất ít nói và cả ngày chỉ ngồi buồn hiu một mình.

- Chắc là chúng nó nhớ bố, nhớ mẹ.

- Chưa chắc! Trừ một vài đứa mới được nhận vào còn khóc kêu, nhưng phần đông thì được nuôi từ thuở nhỏ nên chúng nó cũng không ý thức được cái sự thiếu bố, thiếu mẹ của mình.

- Ủa! Vậy mới đẻ ra đã phải vào Viện cô nhi rồi à? Thế bố chúng nó đâu, mẹ chúng nó đâu?

- Bố mẹ chúng nó cho chúng nó vào đấy.

- Tại sao thế? Họ không nhớ, không thương con họ sao?

- À... Tại bởi vì họ nuôi không nổi, hoặc giả họ không muốn nuôi.

- Vô lý! Ai mà đẻ con ra rồi lại không muốn nuôi con.

- Thì thật sự như vậy đó. Có nhiều đứa được bố mẹ gửi vào rồi đi thẳng một mạch, không bao giờ ngó đến. Nghiễm nhiên chúng trở thành một đứa mồ côi.

- Thế thì chắc chúng nó khóc dữ lắm.

- Rồi cũng quen đi.

- Ở trong trại mồ côi chắc là khổ lắm nhỉ. Đói, rét...

- Trái lại, chúng nó sống khá đầy đủ. Thực phẩm, quần áo không thiếu thốn là bao. Có nhiều cơ quan, đoàn thể và tư nhân gửi vào tặng đều đều...

- Ý! Nếu vậy thì mồ côi đâu có khổ.

- Khổ lắm chứ, nhất là về tinh thần. Có những đứa bé suốt ngày chẳng được ai ngó ngàng tới. Nó nằm nhìn cái quạt trần suốt ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác...

- Khiếp!

- Thật đó!

- Vậy mọi người đâu sao không bế nó?

- Đông như vậy ai mà bế cho xuể.

- Tội nghiệp! Em sẽ gửi tặng cho nó một con búp bê.

- Một con búp bê chỉ làm vui được cho một đứa. Còn cả trăm đứa khác...

- Vậy thì phải làm thế nào?

- Một mình thì chẳng làm gì hơn được. Cần có sự tham gia của toàn thể mọi người.

- Vậy em sẽ cổ động cho mọi người cùng tham gia. Má em rỗi, em sẽ "bắt" má em tham gia cùng với em nữa.

- Hoan hô chị Mỹ Ái!

Mỹ Ái nhoẻn một nụ cười thật xinh xắn và hồn nhiên rồi bỗng quay sang phía Thu Cúc lúc đó đang ngồi chầu hẫu nghe chuyện và hỏi:

- Ê! Con Thu Cúc. Thu Cúc có tham gia không?

Cúc nhún vai, dè bỉu:

- Tôi đấy à? Còn lâu!

Mỹ Ái nhăn mặt về câu trả lời sống sượng của Cúc. Nhưng rồi chị ta cũng gượng cười và hỏi:

- Tại sao vậy?

- Tại vì tôi ghét làm những cái gì mà tôi không chủ tâm nghĩ tới. Trẻ mồ côi! Hừm, bộ chỉ có viện cô nhi nhà các cô mới có trẻ mồ côi thôi hay sao. Chòm xóm nhà tôi thiếu giống!...

Mỹ Ái ngạc nhiên:

- Ủa? Thế chúng nó không vô Viện cô nhi hay sao?

- Vô để mà ăn cái giải gì ở trong đó. Ở ngoài chúng nó tự do hơn.

- Nhưng mà ai nuôi?

- Chả ai nuôi thì làm lấy. Đi ăn mày, đi cướp giật, đi làm tất cả những cái gì cho ra tiền thì thôi...

- Thế thì là du đãng chứ đâu có phải mồ côi.

Cúc phá lên cười:

- Mồ côi với du đãng đâu có khác gì nhau. Giả dụ bây giờ cô thử bị mồ côi bố mẹ coi. Chỉ ít ngày là thành du đãng  gấp!

Mỹ Ái đỏ mặt:

- Khiếp! Ví với von gì mà kỳ cục vậy.

Nói rồi Mỹ Ái nằm vật xuống đệm tung mền lên chùm kín mít. Trong khi ấy, Cúc rúc rích cười. Con trách Cúc nhẹ nhàng:

- Sao đằng ấy lại nói thế... Chạm tự ái của người ta.

Cúc gân cổ lên cãi:

- Thì tao nói thế có đúng không nào?

- Không đúng!

- Tại sao không?

- Thì chính tao đây này. Tao không có bố lại mồ côi mẹ, tại sao tao không trở thành du đãng?

- À, mày thì lại khác. Mày có bà Félicité đỡ đầu, như thế còn sướng hơn là không mồ côi nữa!

- Nói tầm bậy!

- Thiệt chứ! Nhiều khi tao muốn mồ côi như mày mà không được. Mày tự do, mày muốn làm gì thì làm chẳng ai cấm cản cả. Còn tao, không có thì giờ nào là của tao cả. Ở trường thì mấy bà soeur già bắt ne bắt nét, còn ở nhà thì hơi một tí là đã bị đánh, bị chửi rồi...

- Tại mày không ngoan, không vâng lời.

- Sao mày biết tao không vâng lời?

- À... tao... tao đoán thế.

- Đúng! Tao không vâng lời thật. Nhưng mày có biết tại sao không?

- Không.

- Vì toàn là những lời dở ẹc thì làm sao tao vâng được.

- Chết! Sao lại nói bố mẹ như thế?

Cúc gân guốc:

- Tao cứ nói! Tao cứ nói! Tao ghét mẹ tao. Tao thù bố tao. Tao không nhận tao là con của "họ".

Câu chuyện có thể sẽ còn kéo dài một cách vô vị như thế, nếu không có chuông reo báo hiệu chấm dứt giờ ngủ trưa. Tất cả mọi người đều sửa soạn lên phòng học bài và làm bài. Cúc giấu một xấp bản nhạc trong cặp vào lớp. Từ bao lâu nay, Cúc tỏ ra rất say mê ca nhạc. Tuy vậy chưa bao giờ Cúc trình bày trọn vẹn một bản nhạc cho ai nghe. Thỉnh thoảng cao hứng, con chỉ thấy Cúc hát một vài đoạn ngắn lúc vắng người. Giọng của Cúc rất trong và Cúc ngân được rất dài. Trong mọi môn học ở trường, xét ra chỉ một môn ký âm pháp là Cúc chịu để ý nghe giảng bài và làm bài nhất. Nhưng trái lại, giờ tập hát Cúc lại ngồi ỳ ra, để mắt mơ mộng đi tận đâu đâu. Có lần con hỏi Cúc thì nó bảo:

- Giọng bà Madeleine như ống bơ rỉ. Bà ấy chỉ dậy được một lũ chuột biết hát cho đều. Như thế có khó gì. Ngọn roi mây dùng để vừa đánh nhịp, vừa quất vào mông những con chuột ưa hát sẽ làm cho chúng nó hát đều một cách dễ dàng.

Sau giờ học bài đến giờ làm bài Cúc không giải toán mà mở nhạc ra chép. Việc làm của nó bị soeur Cécile bắt được. Bà xách ngay một bên tai của Cúc bắt nó rời khỏi hàng ghế ra để đứng lên bục. Trước cặp mắt ngơ ngác của toàn thể mọi người, bà lớn tiếng hỏi:

- Chi Thu Cúc! Chị đang làm gì?

- Thưa ma soeur con đang chép nhạc.

- À! Chị có vẻ yêu nghệ thuật lắm đó. Nhưng giờ này học trò phải làm gì, Thanh Thủy!

Chị Thanh Thủy vội đứng phắt dậy, khoanh hai tay trước ngực và trả lời:

- Thưa ma soeur, giờ này... giờ này...

Bà Cécile trừng mắt nhìn khiến chị ta vội vã:

- Dạ giờ này học trò phải làm bài cho buổi học sáng mai.

- Chị đọc Emploi du temps cho tôi nghe.

- Dạ, ngày mai chúng con có Version Francaise, Morale và Géométrie.

Bà Cécile lẳng lặng xé đôi xấp nhạc mới tịch thu được và tuyên bố lạnh lùng:

- Một ngày rapas sec!

Nói rồi bà lặng lẽ đi ra. Trong khi ấy Cúc nhún vai nhìn theo bà rồi đi về chỗ ngồi. Con đẩy qua cho Cúc tờ giấy nháp bài Hình học đã giải xong để cho Cúc chép nhưng nó đã từ chối sự giúp đỡ ấy một cách hắt hủi:

- Toán ấy à? Tao học toán để mà làm gì. Tao đâu có mộng làm professeur! Tao chán đi học lắm rồi. Tao chán cả cái không khí kỷ luật ở đây. Thật là kỳ cục khi mình cứ phải làm mãi một công việc mà mình chẳng thích thú tí nào.

- Mày không thích học thì sau này mày sẽ làm cái gì?

Cúc nói:

- Tao sẽ soạn nhạc và trình bầy những bài nhạc của tao.

Con dương đôi mắt tròn xoe lên nhìn Cúc. Cúc đáp lễ lại bằng một cái nhìn ngang nhiên không kém. Một lát nó hỏi:

- Bộ mày lạ lắm sao? Thời buổi bây giờ ca sĩ cũng là một nghề. Một nghề thú vị bằng mấy cái ước vọng trở thành cô giáo như mày.

Con cãi:

- Tao đâu có thích làm cô giáo.

- Thế mày thích làm gì?

Con ngần ngại giây lâu rồi nói:

- Làm văn sĩ! Mày thấy tao làm văn sĩ có được không?

Cúc ngẩn ngơ một lúc, rồi ấp úng:

- Cái đó thì tao không biết. Việc viết văn, viết báo chẳng có mức gì mà đo lường được cả. Tao thấy nó kỳ kỳ...

- Tại sao lại kỳ...

- Vì tao không thể tưởng tượng được lúc mày làm văn sĩ thì nó ra thế nào.

- Thì cũng như thường chứ làm sao.

- Không thể như thường được. Ở Việt Nam, cứ hễ nói đến văn sĩ thì người ta hay nghĩ đến các ông hơn là các bà. Các ông đầu bù tóc rối, quần áo xốc xếch và nghiện oặt sà lai...

- Còn ở ngoại quốc thì sao?

- Ờ... Ở ngoại quốc lại khác. Nói đến dame écrivain tao lại hình dung đến những bà thật là đẹp, có dáng điệu quí phái và duyên dáng. Tao tưởng tượng George Sand, Madame de Sévigné chắc giống như một bà công tước...

- Ừ, tao cũng nghĩ như thế và tao sẽ viết được văn như các bà ấy...

- Thế thì ước vọng của mày thật là to tát. Tao sợ giống cái cảnh con nhái muốn to bằng con bò.

- Tao cũng lo sợ  thế nhưng tao không thấy thích thú gì khác hơn. Tao sẽ trình bầy ý nghĩ ấy với bà Antoinette.

Thu Cúc tròn xoe mắt lên, ngạc nhiên hỏi:

- Mày dám nói với mẹ bề trên về cái chuyện viển vông ấy hả?

- Sợ gì?

- Chẳng sợ gì nhưng thật là táo gan đấy. Bởi vì các bà chằn ấy không mong muốn gì hơn là các học trò của các bà trở thành bác sĩ, luật sư, giáo sư hay tu sĩ như các bà.

- Ai bảo mày thế?

- Chẳng ai bảo nhưng về điều đó thì tất cả mọi người đều một duộc như nhau. Má tao ca tụng những bà bác sĩ hết mình, còn ba tao thì lại phục các bà trạng sư. Nhưng cả hai ông bà đều không tin tưởng tao làm nên được cái trò trống gì hết.

- Vậy thì sao mày không cố học để cho ba má mày thấy tài năng của mày?

Cúc kêu lên:

- Ui!... Thấy tài năng để làm gì? Tao không bao giờ chịu khổ công để làm vui lòng người khác. Tao chỉ làm những cái tao thích làm. Và ý thích độc nhất của tao là trở thành một ca sĩ rồi một nhạc sĩ.

- Như thế trước hết mày phải có giọng thật hay.

Cúc nhún vai:

- Giọng hay chưa đủ. Trước hết cần phải đẹp!

Con tròn xoe mắt lên nhìn:

- Quan niệm cái gì kỳ cục. Nghệ thuật là nghệ thuật chứ.

Cúc mỉm cười:

- Thế thì mày còn ngây thơ lắm. Trước mắt đám khán giả, người ca sĩ không có vẻ đẹp thì nghệ thuật trình diễn coi như yếu đi một phần rồi. Tao cho rằng đó là một trở lực lớn lao nhất. Tuy vậy tao cũng không đến nỗi xấu xí lắm phải không.

Thưa mẹ bề trên, cho đến lúc đó con mới chú ý thực sự ngắm bề ngoài của Cúc. Trong suốt ngần ấy năm sống dưới sự bảo trợ bao dung và nhân ái của ma soeur Félicité, không bao giờ con biết phán đoán kẻ khác qua bề ngoài của họ. Chính vì điều đó mà con không hay để ý đến nhan sắc của một ai. Có lẽ đây là lần đầu tiên con ngắm cái bề ngoài của kẻ khác. Cúc năm nay mười sáu, nhưng trông nó cao lớn và già dặn như mười bẩy, mười tám. Thân hình nẩy nở, cân đối, nước da mịn màng, cặp mắt to và đen như mắt bồ câu. Mái tóc của Cúc biếng chải xõa xuống hai bên bờ vai tròn trĩnh, trông Cúc còn lộng lẫy hơn nhiều chị khác ở đây. Chỉ tiếc cho Cúc nhất là nụ cười. Nụ cười không có vẻ hiền hòa êm ái, không có tính chất khoan dung, cởi mở, mà khi Cúc cười, khuôn mặt của Cúc trở nên chua chát, chán chường, khinh mạn. Nhưng chính nụ cười ấy lại biểu lộ tâm tình của Cúc nhiều hơn hết. Tính Cúc xưa nay vẫn chua chát, chán chường và khinh mạn như thế.

Sau giờ làm bài, chúng con thả bộ trên những lối sỏi trong vườn hoa để chờ giờ tập họp đi ăn cơm. Vào mùa này, những cây bàng lớn đang úa và rụng đầy lá vàng trên nệm cỏ. Trời có gió thoảng. Những cơn gió mang theo hơi lạnh của mùa thu hiu hắt. Bồn hoa chạy dài theo bốn bờ tường ở mé vườn sau bắt đầu trổ những bông hoa đầu mùa. Hoa màu đỏ thẫm, hao màu tím nhạt, còn cả trăm loài kỳ hoa dị thảo khác thi nhau phô sắc rực rỡ trên những bồn cỏ xanh mướt hay trong những lẵng hoa treo trên bờ tường, trong những lùm cây. Khung cảnh ở đây thật là lý tưởng cho những tâm hồn mơ mộng. Trong lòng con cũng rộn ràng những mơ ước. Con mơ đến một ngày nào đó bé Thục sẽ lớn lên trong những nụ cười tươi sáng và hồn nhiên của nó. Con cũng mơ đến một ngày mà ở đó tất cả mọi người đều yêu thương nhau, đều đem đến cho nhau những nguồn an ủi và khích lệ. Để cho ai nấy đều có thể dễ dàng vượt qua những nỗi khó khăn trong cuộc đời của mình. Và con mơ ước sẽ viết được thật nhiều để ca tụng lòng yêu thương và nhân ái đó của nhân loại. Chắc chắn tác phẩm đầu tiên của con khi mới ấn hành sẽ thơm phức mùi mực mới và giấy mới. Con sẽ dành nét bút đầu tiên, ý nghĩ đầu tiên để ký tặng mẹ và soeur Félicité, những người đã dậy cho con biết ý nghĩa của tình yêu thương, chí phấn đấu và nghĩa vụ làm người.

HẠNH



8


Đêm 8 tháng 11...

Thưa mẹ,

Ngày chủ nhật hôm nay là một trong những chủ nhật sung sướng nhất trong đời con. Từ chiều hôm trước con đã nhận được lời căn dặn của rất đông các chị cùng lớp. Mỹ Ái nói:

- Sáng mai bồ cho tôi cùng đi tới Viện cô nhi. Papa dặn sẽ đón ra sớm để đi ăn sáng rồi coi ciné. Nhưng tôi sẽ nói cho papa biết sự bận bịu của chúng mình. Chắc papa vui lòng đưa hai đứa mình đi, và không chừng papa đi theo mình vào trong đó nữa.

Chị Thu Dung thì nói:

- Sáng mai chị Thu Hương sẽ vào đón em đi chọn vải may đồ. Nhưng lui lại tuần sau cũng không muộn gì. Chị cho em vô  viện cô nhi một lần. Biết đâu em chả giúp chị được một tay vào những công việc ở đó.

Còn Thu Cúc thì nói:

- Ngày mai tao sẽ không về nhà. Tao đi với mày, mày bằng lòng không. Chắc ba má sẽ nổi cơn tam bành mà rủa tao cho đến chừng nào ông bà ấy kiếm được một đứa khác chia bài ngày chủ nhật.

Rồi Cúc mỉm cười:

- Thà vô cái viện mồ côi bẩn thỉu, hôi hám của mày còn hơn là phải nhìn mãi, ngắm mãi những bộ mặt khách khứa quen thuộc ở nhà tao. Tịnh một thứ khách khứa nửa người nửa ngợm, cờ bạc như ranh và nói tục thì không ai bằng.

Tổng số tất cả có mười bốn chị tham dự vào chuyến thăm viếng ngày chủ nhật. Chúng con kéo đến chật ních cả một hành lang ngay từ sáng sớm. Vào giờ đó quan khách thường xuyên của Viện Cô nhi chưa có một ai tới cả. Ông lão làm vườn vừa mới quét xong mé sân đằng trước và mở cánh cổng lớn để lấy lối xe ra vào. Vừa trông thấy chúng con, ông ta đã la lên:

- Này! Thôi! Tôi xin các cô. Chỗ trong đây không phải chỗ để các cô tới, các cô bầy...

Con ngạc nhiên:

- Ai tới đây mà bầy ở đâu!

- A! Cô Hạnh đó hả. Vậy cô chịu trách nhiệm giùm tôi, chớ cái kiểu đoàn thể đoàn thung ào tới phá phách một hồi rồi rút êm như tuần trước là tôi không có thể nào chịu nổi nữa rồi đó.

- Ông cứ yên chí đi, tụi cháu tới đây làm giúp mà.

- Thiệt hôn?

- Dạ, thiệt chớ!

- Vậy còn mé sân đằng sau, các cô làm nốt giùm đi.

Con la lên:

- Ý! Việc quét sân là việc của ông mà. Chúng cháu chỉ đến săn sóc lũ nhỏ thôi.

Ông lão giận dữ:

- Ai biểu với cô quét sân là việc của tôi? Trời ơi! Tôi mà có lấy đồng xu lương nào ở đây, tôi cứ đi bằng đầu.

- Vậy làm sao ông sống?

- Sống bằng tiền ở cái chỗ chết đói này đó hả? Có bộ mà khùng! Đàn bà nhà tôi mà không buôn bán, chạy ngoài thì chết đói nhe răng ra từ hồi nào còn gì.

- Thế mà cháu cứ tưởng ông làm rồi lãnh lương ở đây.

- Không có đâu.

- Vậy chúng cháu phụ ông một tay nhé.

- Ờ! Các cháu giúp ông đi. Bây giờ có tuổi rồi, mới quét được ba lát chổi đã muốn sụm cả lưng.

Vừa nói ông ta vừa đặt cái chổi xướng đất và lấy ở bên túi bành tô kaki ra một xị rượu ngửa cổ tu ừng ực. Hơi rượu vào làm mặt ông ta đỏ gay. Những cọng râu dựng lên trông lởm chởm. Cặp mắt đục lờ đờ của ông nổi lên những tia máu đỏ ửng. Nuốt ực xong ngụm rượu cuối cùng, ông khà lên một tiếng khoái trá, rồi vừa run run đậy nắp cái xị rượu vào, ông vừa nói:

- Ráng mần sạch nghe các cháu. Qua còn nhiều việc phải làm lắm đó...

Con nhặt cái chổi lên rồi nói:

- Ông cứ yên chí đi. Chỉ một loáng là xong thôi mà.

Ông lão vừa ý, gật gù cái đầu nhìn suốt một loạt mấy chị lúc đó đang ngẩn ngơ nhìn ông như nhìn một vật lạ rồi ông khật khưỡng quay đi. Chị Thanh Thủy bật lên tiếng nói trước tiên:

- Thấy ghê quá à!...

Một chị khác tiếp:

- Ông ấy làm chết khiếp!

Chị Diễm Hương pha trò:

- Ấy! Trẻ mồ côi trong đây toàn thứ đó cả đấy thôi các "bà" ạ.

Con vội vàng trấn tĩnh tinh thần mọi người:

- Không phải vậy đâu. Ông ấy là người làm vườn ở đây. Tuy nghiện rượu nhưng tính nết tốt lắm. Em vẫn giúp ông ấy hoài.

Chị Thu Dung nói:

- Em thì em thích săn sóc trẻ mồ côi hơn.

- Em cũng thế!

- Vậy thế không có ai chịu quét sân giùm ổng hay sao. Chị nào tình nguyện ra sân sau làm chuyện đó nào?

Chẳng có ai lên tiếng nhận lời. Mãi về sau Thu Cúc mới giơ tay:

- Thôi để đấy cho tôi.

- Hoan hô chị Thu Cúc. Chừng nào quét xong chị đem trả cây chổi xuống dưới nhà ngang rồi lên phòng tìm em nhé!

Thu Cúc không đáp, cúi xuống nhặt cây chổi rồi lững thững đi về mé đằng sau. Cả bọn liền tiếp tục kéo nhau bước lên dẫy hành làng của tòa nhà chính giữa. Vào giờ đó mấy chị giúp việc đang bế từng đứa trẻ ba, bốn tuổi từ trên lầu hai xuống và đặt chúng nó ngồi dựa lưng trên những băng ghế dài ở dọc quanh hành làng. Đó là một thông lệ của Viện cô nhi này vào những ngày chủ nhật. Một lát nữa các quan khách tới viếng thăm Viện, họ có thể lựa chọn đứa nào mà họ ưa nhìn hay thương hại để ngồi chơi với nó đến trưa, cho nó ăn kẹo, bánh, hay đồ chơi. Và cũng chính ở chỗ này thường xẩy ra những cảnh rất mủi lòng, đó là lúc chủ và khách chia tay nhau ra về. Những cô cậu tí hon nhất định không rời các bà khách, ông khách, để cứ níu chặt lấy áo họ mà khóc um lên. Đứa này mở đầu, đứa kia bắt chước, rồi các quan khách cũng mủi lòng sụt sịt khóc theo tạo nên một khung cảnh rất ngỡ ngàng và bi thảm. Trong lúc chúng con đứng lố nhố ở hành lang thì các chị giúp việc đã bế xuống được năm, sáu đứa. Quần áo của chúng nó hôm nay có vẻ tươm tất hơn mọi ngày. Mỗi đứa bận một bộ quần áo trắng đã ngả mầu nước dưa, phẳng phiu nguyên nếp, và bên ngoài là một chiếc áo ấm dệt bằng sợi mầu lam.

Thấy người đông đảo, cả bọn trẻ cùng dương cặp mắt ngơ ngác lên nhìn. Có đứa đang bắt đầu đu đưa thân hình còm cõi của nó theo một nhịp điệu mà nó đã tự tạo thành cố tật từ bao lâu nay. Chị Yến đã có lần giải thích về điều đó, nghĩa là đứa trẻ không có trò chơi gì khác ngoài sự chơi với chính mình hết ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác. Và vì thế mỗi đứa đã phát sinh một cố tật: có đứa lên ba, lên bốn chỉ biết bò chứ không biết đứng, có đứa suốt ngày chỉ nghiêng mặt qua bên trái để hiếng mắt nhìn vào chỗ có nhiều ánh sáng. Đặc biệt trong số mấy đứa này, có một em bé gái bị câm từ hồi nhỏ mà mãi lên năm tuổi người ta mới phát giác ra. Bởi vì từ trước không có ai để ý đến việc tạo cho chúng nó những cơ hội để nói, cười hay đi đứng cả.

Chúng con gặp chị Yến ở ngay cửa ra vào phòng trực. Chị ấy nhìn đám đông lố nhố của chúng con rồi la lên như đã quen thuộc cả bọn từ lâu lắm:

- Trời ơi! Tôi đang cần các cô đây, mời các cô vô cả trong này.

Rồi như chợt nghĩ ra, chị lại nhìn cả bọn một lượt rồi hỏi:

- Các cô đến chơi hay đến giúp chúng tôi đấy?

Con trả lời:

- Chúng em đến giúp chị đây.

Chị Yến gật đầu hài lòng, rồi nói bằng giọng sốt sắng như ra lệnh:

- Nếu vậy thì phải nhanh nhẹn lên. Trời ơi! Cái nhà cô kia bỏ hai cái tay ra khỏi túi áo giùm tôi nào. Con gái con đứa gì mới đổi khí trời một chút mà đã lụ khụ như bà lão. Còn cô kia nữa, cởi bỏ cái áo len trắng ra giùm. Các cô xắn tay lên cho gọn ghẽ coi nào. Lần sau có vô đây thì đừng có đóng bộ như cô dâu mới về nhà chồng như thế kia nữa. Ngứa mắt tôi lắm!...

Cả bọn chúng con líu ríu tuân theo. Những cổ tay trắng nõn nà được xắn tay áo lên cao. Chị Yến phân công một cách rất nhanh chóng, gọn gàng: Ba cô xuống bếp nhóm lửa nấu những thùng nước sôi để luộc chăn mùng, năm cô đi moi móc rác rưởi ở tất cả mọi phòng rồi phun thuốc diệt ruồi, muỗi và rệp, bốn cô phụ giúp các chị trong viện cho trẻ sơ sinh ăn bữa sáng, và mấy cô còn lại phải chia nhau săn sóc cho lũ trẻ ngồi ở băng ghế ngoài hàng hiên hay trông nom những đứa lớn chạy nhẩy ở trong vườn. Rồi chị kết luận:

- Hôm nay tảo thanh hết cho sạch sẽ. Đó là lệnh của bác sĩ. Tuần vừa qua bên Viện Dục Anh có triệu chứng sốt kỳ lạ. Tốt hơn hết cứ cẩn thận là hơn.

Cả bọn chúng con răm rắp tuân theo. Bầu không khí trong Cô Nhi viện bỗng như nhộn hẳn lên. Lần đầu tiên các chị Diễm Hương, chị Thanh Thủy, chị Mỹ Ái, chị Thu Dung... phải bắt tay vào những công việc nặng nhọc, các chị có lẽ lấy làm thú vị. Ở dưới bếp, tiếng nồi soong va chạm vào nhau kêu loảng xoảng. Phía trên lầu, tiếng giường ghế kê dọn thình thịch, ngoài hành lang và dưới sân cỏ, mấy chị tập hợp bọn trẻ lại thành những vòng tròn rồi bầy ra những trò chơi hay tập hát, tiếng hát trong trẻo vang lên trong nắng ấm của một ngày cuối thu.

Những đứa nhỏ chưa biết hát thì được các chị ấy lần lượt cho dò từng bước trên những chiếc xe tập đi. Đối với toàn thể các chị thì đây là một trò giải trí mới lạ và thích thú. Trên những khuôn mặt thông minh và khả ái, những nụ cười trong trẻo và hồn nhiên như rạng rỡ thêm lên. Thời gian trôi qua một cách nhanh chóng và cho tới hơn mười giờ con mới chợt nhận ra là vắng bóng Thu Cúc từ buổi sáng sớm. Con hốt hoảng đi tìm chị ấy ở trên lầu, ở dưới bếp và ngoài sân cỏ. Nhưng không biết chị ấy tham gia vào nhóm làm việc nào. Mãi tới khi con xuống dẫy nhà ngang của ông lão làm vườn, mới thấy Thu Cúc đang ngồi bên mé phản hí hoáy viết giùm một lá thư cho bà cụ già. Bà cụ ngồi bên một chiếc ghế gỗ thấp ngay bên cạnh Thu Cúc. Mái tóc ngả mầu  muối tiêu, thân hình gầy còm, nước da nhăn nhúm. Trên gò má hốc hác, hai hàng nước mắt chẩy lăn tăn xuống từ đôi mắt đỏ hoe. Trong khi ấy, ông lão đã say khướt và nằm nằm nói năng lảm nhảm trên phản gỗ.

Lúc con bước vào Thu Cúc ngước lên nhìn rồi nói:

- Trời ơi! Nhà văn sĩ chẳng đến giúp giùm. Có mỗi một lá thư mà đây loay hoay mãi không xong.

- Thư viết cho ai đấy?

- Cho con trai bà cụ đang đi lính ở cao nguyên.

Con liền cúi xuống đọc những dòng chữ viết theo kiểu bay bướm cố hữu của Thu Cúc:

     Xê con,

Mẹ đã nhận được thư của con viết hồi tháng trước. Có cả cái mandat con gửi tiền về mua áo tặng mẹ. Về phần mẹ thì mẹ chẳng cần may sắm cái gì. Mẹ để dành tiền ấy chừng nào trăm tuổi thì xin một miếng đất dưới chùa mà chôn cất. Còn vợ của con thì từ ngày nó bỏ đi buôn, nó cũng chưa ghé về nhà lần nào. Nghe đâu nó lặn lội ra tận miền Trung làm ăn buôn bán gì đó. Không biết tại sao nó cũng chẳng thư từ gì cho con cả. Mẹ lấy làm lạ. Để rồi mẹ đi dò hỏi lũ bạn bè của nó rồi sẽ tin cho con hay sau. Độ này mẹ cũng bình an như thường. Cha con thì mỗi ngày một tệ. Uống rượu suốt ngày, chẳng nhờ cậy được cái gì cả. Con rán giữ gìn, đừng liều mạng vô ích mà uổng thân. Đến tết này cố xin lấy cái giấy phép mà về thăm mẹ. Mẹ cầu trời cho mau chóng thanh bình, gia đình đoàn tụ như xưa...

- Văn viết như thế là gọn ghẽ lắm rồi còn gì nữa...

Bà cụ nói:

- Nhờ các cô đọc lại cho tôi nghe một lần.

Thu Cúc cầm cái thư lên đọc lại. Tới đoạn nói về người con dâu, ông lão cất giọng lè nhè, vừa văng tục, vừa nói:

- Còn dò hỏi cái con chó gì nữa! Nhờ cô viết giùm cho nó hay là con vợ nó bỏ đi lấy chồng khác rồi.

Bà cụ la lên:

- Ô hay! Cái ông này kỳ cục không. Ông biết nó lấy chồng khác bao giờ mà xía vô?

- Sao không biết. Một đời thằng này kinh nghiệm tới hai thứ tóc mà sao không biết. Đàn bà con gái bây giờ mà, đợi đó rồi nó chờ chồng...

- Thôi im đi! Nhậu cho đã rồi nói càn!

- Chèn ơi! Tôi mà nói càn với bà tôi xin đi bằng đầu. Thiệt tình đó!... Các cô cứ viết thế giùm tôi...

Bà cụ thở dài rồi đưa mắt ra hiệu cho Thu Cúc. Cúc trao lá thư cho bà rồi đứng dậy. Hai đứa chúng con rủ nhau ra ngoài. Tới sân cỏ, Cúc nói:

- Số mình xui quá. Đi đâu cũng gặp cái cảnh gia đình khốn khổ. Có điều mỗi gia đình lại có một cách khốn khổ khác nhau...

- Đừng nghĩ tầm bậy, nó ảnh hưởng vào đầu óc rồi làm cho méo mó hết.

Cúc cười rúc rích:

- Ấy, tao thì tao lại ghét cái gì bình thường. Ở đời này, chân chỉ lắm thì chỉ có thiệt thôi cưng!

- Mày nói như một bà cụ già triết lý từng trải.

- Thiệt đó! Rồi mày coi! Tao thề sẽ không bao giờ thèm sống một đời bình thường. Một là tao sẽ chôn vùi xuống tận bùn đen, hai là tao sẽ chói lọi như một vì sao sáng, nhất định chỉ có thế mà thôi.

Vừa nói mặt Thu Cúc vừa đanh lại. Con vụt thấy ý nghĩ của Cúc đã bỏ đi rất xa tầm tuổi tác của nó. Và do đó, con thấy những lời nói của Cúc chẳng phải là những lời nói suông trong một lúc bốc đồng. Từ trước đến nay, Cúc vẫn sống trung thành với những ý nghĩ của nó. Nghĩa là Cúc chỉ làm những gì mà nó thích. Chính vì thế mà trong Livret tháng vừa rồi, ma soeur Juliette đã phải hạ bút phê một chữ ngắn ngủi: Incorrigible! Phải chi những chị khác đã ôm mặt khóc sướt mướt, nhưng trái lại, Thu Cúc đã mỉm cười và thản nhiên nói:

- Observation parfaite!

*

Chúng con ở lại Viện Cô Nhi cho tới hơn mười hai giờ. Khi chia tay, chị Yến hỏi tất cả mọi người:

- Các cô đã thấy chán cái trò giải trí này chưa?

Chị Diễm Hương mỉm cười:

- Có lẽ chúng em mê chị nên tuần sau sẽ trở lại nữa.

Chị Yến la lên:

- Trời ơi! Tôi mà các cô mê ở điểm nào kia chớ. Thiếu điều tôi xách cái roi rượt các cô làm biếng, vừa làm vừa nô như giặc!

- Chị càng la chúng em càng thích. Em khoái cái kiểu chỉ huy nóng như Trương Phi của chị.

- Thiệt không?

- Dạ thiệt!

- Vậy thì tuần sau cứ tới đây đi. Được sai các tiểu thư làm tôi cũng khoái nữa. Các cô có biết may vá gì không?

- Dạ biết sơ sơ!

- Biết là biết chứ không thể nói là biết sơ sơ. Nữ sinh của trường bà phước thì phải nói là giỏi. Tôi có cả trăm bộ đồ, cái thì tuột chỉ, cái thì đứt cúc, bây giờ tôi khoán cho các cô đó, được không?

Cả bọn đồng thanh:

- Thế thì dễ, chúng em làm được.

-Vậy thì tuần sau nhé. Nhớ mang theo cả kim chỉ chớ trong này tôi chẳng có cái gì hết ráo.

Cả bọn chúng con từ giã chị ra về. Trên đường đi, chị Thu Dung phát biểu cảm tưởng trước:

- Bài luận quốc văn của em kỳ này sẽ mở đầu bằng câu: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn, hôm nay tôi đã được quan sát tại chỗ thêm rất nhiều điều ngoài những cái  Phabitude mà tôi...

Chị Diễm Hương ngắt lời:

- Nếu vậy thì trước hết chị phải viết như thế này: Lundi, le hai mươi bốn octobre... Luận Vietnamienne...

Mặt Thu Dubg đỏ bừng lên. Chị ta cãi:

- Thì đấy là người ta mới đọc bronillon cho mà nghe. Đến khi viết ra bài sẽ phải kiếm những mots équivalents mà thế chứ.

- Cũng chả cần Thu Dung ạ. Ma soeur nhà mình đâu có dốt.

- Thôi em chả chơi với chị nữa. Chị chọc em hoài...

Diễm Hương quay mũi dùi châm chọc về phía người khác:

- Còn chị Mỹ Ái, chị nghĩ thế nào về chuyến du hí hôm nay?

Mỹ Ái cãi:

- Em thì em không cho là du hí. Em coi là bổn phận.

- Ái chà! Tinh thần cao!

- Chứ sao! Ít ra thì chị cũng phải đồng ý với em như thế chớ.

- Đồng ý! Đồng ý hoàn toàn! Phát biểu ý kiến nốt đi.

- Hôm nay về em sẽ nói với papa annuler cái lễ mừng sinh nhật của em đi. Em sẽ đem số tiền đó đi mua thêm mấy cái xe tập đi cho lũ nhỏ. Chị có thấy rằng mấy cái xe của tụi nó thảm hại quá rồi không? Cái thì gẫy trục, cái thì mất bánh, hay mục rách cả vải làm chỗ ngồi. Mà theo lời chị Hạnh thì nếu không tập cho chúng nó đi luôn luôn chúng nó sẽ bị tê liệt phải không?

- Phải rồi! Bây giờ đã có đứa được thả xuống đất là chân nó co rúm lại, không chịu đứng (con đáp lời chị Mỹ Ái như thế).

Chị Mỹ Ái bùi ngùi:

- Trước những hoàn cảnh như thế, mình ăn tiêu du hí cái gì cũng là phí phạm cả, phải không các chị.

Tất cả mọi người đều im lặng không ai trả lời. Đó là sự im lặng mang ý nghĩa của sự biểu đồng tình. Mãi một lát sau Diễm Hương mới lại cất tiếng nói:

- Ê! Còn bồ Thu Cúc. Hôm nay bồ làm được những cái gì và ý kiến của bồ ra làm sao?

Thu Cúc nháy một bên mắt rồi mỉm cười trả lời:

- Bí mật quân sự! Để hôm trả bài rồi các bồ sẽ biết. Nói trước để cá bồ cọp giê ý kiến của người ta ấy à!...



9


Ngày 10 tháng 11

Thưa mẹ bề trên,

Nếu ngày chủ nhật vừa qua đem lại cho con niềm phấn khởi trong công tác từ thiện ở Viện Cô Nhi bao nhiêu, thì chính ngày hôm đó cũng là ngày gây ra những nguyên nhân khiến cho con hối hận, ray rứt bấy nhiêu.

Nạn nhân là Thu Cúc, người bạn bướng bỉnh, gan góc và cũng là thân thiết và thành thực nhất của con.

Trưa hôm chủ nhật, sau khi cả bọn chúng con chia tay nhau ra về thì Thu Cúc chùn ở lại và nói với con:

- Tao mời mày đi ăn cơm rồi đi chơi với tao nốt buổi chiều chủ nhật hôm nay.

Con nhìn Cúc ngần ngại và đang định kiếm lời từ chối thì Cúc đã nói:

- Tao đang buồn. Rất buồn. Nếu phải về nhà giờ này để trông thấy ông cụ, bà cụ và đám khách bài bạc của họ thì tao đến chết mất. Đi ăn cơm rồi đi ciné. Ít ra cũng phải có một buổi chiều dành cho chính mình.

- Nếu vậy để tao vào xin phép ma soeur Félicité trước đã.

Ma soeur đi vắng. Con dặn dò lại chị Hai làm công trong trường rồi đi ra với Cúc. Hai đứa chúng con đi lang thang gần khắp thành phố mới kiếm được một chỗ ngồi ăn vắng vẻ và kín đáo. Bữa cơm thanh đạm nhưng thích thú vô cùng. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày má con mất, con ăn một bữa cơm ở quán ăn ngoài phố. Chúng con vừa dùng bữa vừa thủ thỉ tâm sự với nhau về đủ mọi thứ chuyện trong đời sống. Như con đã trình bầy cho mẹ biết, mẹ của Cúc chỉ là dì ghẻ của nó, và con với nó cùng một cảnh ngộ mồ côi. Điều đó khiến con thấy thương Cúc hơn và thấu hiểu một phần nào những tư tưởng oán ghét gia đình của Cúc. Niềm mơ ước của Cúc là mong cho chóng đến tuổi trưởng thành để có thể thoát ly gia đình và tự lập. Từ đây đến đó, Cúc chỉ để hết tâm trí vào việc trau giồi khả năng về âm nhạc để cho ước mơ đi vào thế giới âm thanh của mình được thực hiện. Cúc có một ông anh họ xa làm nhạc sĩ. Hồi hè năm ngoái ngày nào Cúc cũng đến nhà anh ta trau giồi lý thuyết về ký âm pháp. Ông ta cũng luyện tập cho Cúc về nghệ thuật xướng âm. Cúc tiến bộ rất mau chóng, nhưng chỉ tiếc lớp học không kéo dài được quá hai tháng. Vào buổi học hôm đó, trời đổ cơn mưa tầm tã. Thành phố như thu nhỏ lại trong những làn mưa trắng xóa. Tiếng đàn và giọng hát bị giam lỏng trong căn phòng chật hẹp và ấm cúng mà chính ở đó, trong giây phút sự êm đềm của ca nhạc xen lẫn với cơn phẫn nộ tầm tã của bầu trời, Cúc đã bị người anh họ xa ôm ghì vào lòng để đặt lên môi nó cái hôn đầu tiên trong cuộc đời. Cúc không nhớ được những gì xẩy ra sau đó, nhưng hình như Cúc đã trải qua một cơn phẫn nộ còn dữ dội hơn cả trời đất và nó đã tung cửa chạy ra bất chấp đường phố lụt lội và cơn mưa tầm tã. Thế là Cúc đã mất đi một chỗ học tập cần thiết cho việc xây dựng ước mơ của mình. Từ ngày đó, Cúc không học thêm một cours ký âm pháp nào. Những ngày cuối cùng của mùa hè còn lại, Cúc chịu khó ngồi tập đặt lời ca cho nhũng bản nhạc classique mà Cúc ưa thích. Nhưng những bản này Cúc không giữ lại được, trong một cơn giận dữ của ba Cúc, ông đã đập nát cây đàn guitare cũ kỹ và thủ tiêu tất cả những  bản nhạc mà ông tìm thấy trong bàn học. Sau những biến cố xẩy ra, Cúc coi như mình đã trải qua một mùa hè buồn thảm. Và khi cắp sách trở lại nhà trường vào mùa thu bắt đầu chớm lạnh, Thu Cúc đã ghi lại những cảm nghĩ của mình vào một đoạn nhạc ngắn:

Mùa thu trở về bầu trời trĩu nặng kỷ niệm buồn thê lương.

Mùa thu trở về, lòng người man mác nhìn cánh chim trời tha hương.

Cuộc đời tha hương nào ai có trông chờ.

Bầu trời, lòng người mãi mãi tê tái hững hờ.

Thu Cúc hát lại bản nhạc này khi hai đứa sau bữa cơm trưa dừng chân trên một thảm cỏ xanh trông ra một con đường đất đỏ ngập bùn vì trận mưa mấy ngày trước. Từng lốt bánh xe nặng nề in dấu nhằng nhịt trên nền đất. Con đường dẫn qua một vùng đồng ruộng có mạ lúa xanh rì. Thấp thoáng ở đằng xa, một vài túp lá ngả màu rêu xám đang nhả từng đợt khói xanh lơ trên nền trời êm ả. Thật khó mà tưởng tượng được rằng quê hương xinh đẹp và hiền hòa như vậy mà lại đang chìm đắm trong khói lửa. Hồi buổi sáng chị Yến trong Viện cô nhi đã bàn tán với ông y tá về việc bà giám đốc tính sửa sang dẫy nhà sau để lấy thêm chỗ thâu nhận trẻ mồ côi. Ba đứa hài nhi do Viện nhận vào hồi đầu tuần trước là sản phẩm của sự kết hợp giữa hai dòng máu da vàng và da đen. Hai đứa do mẹ chúng đem gửi vào Viện, một đứa do người ta nhặt được trong bãi rác, khi đem nó vào viện, nó chỉ còn thoi thóp và do đó nó chỉ sống được có hai ngày. Sẽ còn nhiều và thật nhiều, ông y tá Bình nói thế, và ông còn cho biết rằng đó là chưa kể đến những trẻ mồ côi vì cha mẹ thân nhân của chúng đã chết đi trong chiến tranh. Loại trẻ mồ côi này phần lớn được nuôi dưỡng trong những trại riêng biệt mới thành lập. Một số trốn ra ngoài sống lang thang chui rúc như những con chuột trong thành phố. Cuộc sống của những trẻ thơ là sản phẩm của chiến tranh này sẽ còn cần nhiều đến những bàn tay nhân ái của toàn thể mọi người. Con rất vui mừng và sung sướng khi lôi cuốn được sự tham dự của một số chị em cùng lớp vào công tác sã hội ở Viện Cô Nhi lúc buổi sáng. Nhưng sự thích thú của con đã bị Cúc làm cho cụt hứng. Cúc nói:

- Đừng có tin tưởng vào tụi chúng nó. Chúng nó không thể yêu thương được người nếu chúng nó chưa cực khổ. Cái sốt sắng, nhanh nhẩu lúc buổi đầu chỉ là sự sốt sắng, nhanh nhẩu vì được tham dự vào một trò giải trí mới lạ. Một lũ a dua! thế thôi!

Con cãi lại:

- Mày quá nghi ngờ mọi người. Không ai có thể cầm lòng được trước những cái đau khổ, thiếu thốn của lũ trẻ mồ côi cả.

Cúc giơ tay lên vuốt vào má của con rồi mỉm cười:

- Tội nghiệp cô bé ngây thơ, dễ tin người. Nhưng hãy coi chừng kẻo có ngày bị thất vọng sâu xa!

Lạy Chúa! Xin Chúa hãy chẳng để sự cám dỗ hay đe dọa nào có thể làm lung lạc mọi đức tin nơi các con Chúa. Xin Chúa biết giữ lòng thánh thiện, để mọi vết nhơ sẽ được xóa bỏ, mọi tội lỗi sẽ được dung tha, mọi đau khổ sẽ được xoa dịu và nhân loại sẽ tạo dựng được địa vị trong sáng lúc ban đầu.

Hai đứa chúng con tha thẩn đi chơi ở vùng ngoại ô thành phố mãi đến sáu giờ chiều mới chia tay, con trở về lưu xá. Còn Thu Cúc, theo lời Cúc kể lại vào ngày hôm sau, thì Cúc chưa chịu trở về nhà ngay. Nó ngán ngẩm khi nghĩ đến phải trở về cái không khí nặng nề của gia đình. Cúc lại đi lang thang trên khắp vỉa hè thành phố, dán mũi vào những tủ kính rực rỡ bầy biện đủ thứ đồ dụng cụ xa xỉ. Và cuối cùng, Cúc vào ngồi nghe nhạc ở một phòng trà gần bờ sông. Quán thật là vắng vẻ. Khi mới bước vào, Cúc chỉ nhìn thấy một thanh niên đang ngồi trầm ngâm trước một ly cà phê và gói thuốc lá. Theo lời Cúc tả thì chàng ta có vẻ mang nhiều nghệ sĩ tính. Mái tóc bồng bềnh biếng chải, khuôn mặt như bị nuốt mất bởi cặp kính lấp lánh sáng ngời. Bộ quần áo cũ kỹ mang nhiều dấu vết nhầu nát phù hợp với đôi giầy tây mòn vẹt có đôi vớ gần tụt hết vào tận bên trong. Tuy vậy, Cúc lại thấy chàng ta có nụ cười một mình vừa ngạo nghễ, vừa hồn nhiên trông đầy vẻ tự tin. Nói chung bề ngoài của anh ta thật đã chinh phục cảm tình của Cúc hoàn toàn. Khi đĩa nhạc trên giàn phono vừa chấm dứt, Cúc nói với người bồi bàn để yêu cầu cho chạy một đĩa classique. Bản Tristesse của Chopin. Anh chàng vụt nhìn sang phía Cúc biểu lộ một vẻ mặt đồng tình. Cúc nheo mắt đáp lại sự đồng tình đó. Khi bản nhạc chấm dứt, anh chàng kéo ghế đứng dậy, tiến về phía bàn của Cúc và nói bằng giọng dịu dàng:

- Tôi đang có tâm sự buồn. Chắc cô cũng thế. Nếu có thể được, cô cho phép tôi được hầu chuyện trong giây lát.

Cúc mỉm cười bằng lòng. Anh chàng giới thiệu tên mình là Sơn. Sơn mới tốt nghiệp Viện Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ, ngành Đạo diễn Thoại kịch. Nhưng ngành Thoại kịch ở nước nhà chưa phát triển mạnh mẽ nên chàng thất nghiệp và xin được một chân vẽ phong cảnh cho một gánh hát. Thì ra ngoài nghề đạo diễn, chàng còn là một họa sĩ tài hoa. Sơn thổ lộ tâm sự rằng chẳng có ai dại dột và điên khùng như chàng cả. Lao tâm khổ trí, chật vật trong ba năm liền để chỉ thu lượm được một mảnh bằng vô dụng, không thể nuôi sống nổi được chính mình. Nhưng Cúc an ủi chàng:

- Đó là bản chất của nghệ sĩ. Chỉ có nghệ sĩ mới chỉ làm những điều gì theo ý thích của mình.

- Nhưng làm nghệ sĩ ở xứ ta thật là thiệt thòi...

Cúc mỉm cười:

- Ồ! Nếu còn biết tính toán thiệt hơn thì đâu còn là nghệ sĩ nữa...

Hai người thân thiết nhau ngay. Họ đã trải qua một buổi tối êm đềm dưới bầu trời có những vì sao lạnh lẽo và sáng long lanh như những hạt ngọc. Dấu chân của họ đã in trên những con đường hun hút chạy dài dưới những lùm cây. Thời gian trôi qua như gió thoảng, và không gian huyền ảo như một giấc mơ. Một giấc mơ êm đềm và tha thiết đến độ làm Thu Cúc ngơ ngẩn suốt cả một buổi sáng ngày thứ hai trong giờ học và mặc dầu Cúc đã bị trải qua một trận đòn mê tơi ngay sau khi từ giã Sơn, trở về nhà lúc gần khuya hôm trước. Sau giờ tan học, Cúc kéo con vào phòng rửa mặt và lật ngược tà áo cho con nhìn. Con giật mình hốt hoảng. Trên làn da mịn màng và mềm mại của Cúc, những lằn roi hiện ra tím bầm chi chít những mạch lươn. Rồi Cúc thản nhiên chép miệng:

- Đó là kết quả của sự đánh đổi lấy một ngày tự do đầy hứng thú. Nhưng nếu cần tao sẽ đi nữa... đi nữa... đi hoài! Roi vọt chỉ đẩy tao xa gia đình thêm nữa mà thôi.

Chừng đó con chỉ biết ôm chầm lấy Thu Cúc mà khóc nức nở. Con hối hận vô cùng vì đã gián tiếp làm cho Cúc đau đớn như vậy. Nếu có một phép lạ nào khiến cho con chịu sự đau đớn thay cho sự đau đớn của Cúc thì con sẽ quỳ xuống xin ơn trên ban cho con phép lạ ấy. Đối với con, sự đau đớn bằng thể xác không khổ sở bằng sự ray rứt và hối hận trong tâm hồn. Nhìn vẻ mặt chua xót, vừa băn khoăn ray rứt của con, Thu Cúc an ủi:

- Đừng băn khoăn thắc mắc gì cả. Tao có thấy đau đớn gì đâu. Đó là những vết thương êm đềm...

Nói rồi Cúc cười hồn nhiên. Nụ cười như xuất phát từ một tâm hồn đang chắp cánh bay lên thật cao.

Suốt ngày hôm đó, Thu Cúc như chìm đắm trong một giấc mơ. Có khi Cúc thẫn thờ nhìn qua khung kính ngắm không chớp mắt những cành cây lả ngọn đu đưa trong nắng ấm. Một đôi khi Cúc chợt mỉm cười một mình. Bị người khác bắt gặp, Cúc tỏ ra bối rối, đôi má đỏ au nóng bừng. Vào buổi tối, sau giờ học bài, chúng con dẫn nhau ra thềm đá của tòa nhà sau, ngồi nhìn xuống sân cỏ. Không gian êm ả lạ lùng. Bầu trời xanh đen, thưa thớt mấy vì sao ướt. Ngoài bồn cỏ, tiếng nước róc rách chẩy trong bể phun nước tạo thành những âm thanh thánh thót. Cúc ngồi dựa lưng vào thành tường. Mái tóc đen dài, xõa xuống che khuất nửa khuôn mặt. Dưới ánh sáng mờ ảo của từng ngọn đèn treo lơ lửng trên những cột cao, đôi mắt của Cúc trở nên long lanh và đượm vẻ buồn man mác. Cúc ngồi suy nghĩ bâng khuâng như vậy rất lâu rồi bỗng Cúc cất tiếng hát, giọng hát trầm đủ để hai đứa nghe thấy. Âm thanh của bản nhạc Tristesse buồn da diết như thấm sâu vào tâm hồn mỗi người. Cả một kỷ niệm thời ấu thơ hiện ra trong ý nghĩ của con. Con nhớ đến ngày xưa, khi mẹ con chưa lìa đời, chủ nhật nào bà cũng đón con ra khỏi lưu xá. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau ở ngoài cổng sắt. Bà ghì chặt lấy con trong vòng tay mềm mại của bà. Rồi vành môi êm ái của bà hôn lên mắt, lên cổ con. Sau đó, hai mẹ con đưa nhau đi chơi suốt ngày chủ nhật, có khi ngồi xem lá bàng lả tả rụng trên ghế đá ở vườn hoa, có khi ngồi nhìn từng đám mây vẩn đục nặng trĩu của bầu trời mùa thu xám ở ven hồ, hoặc ngắm những cánh buồm nâu trôi trên mặt nước đỏ ngầu, gợn sóng ngoài bờ sông. Rồi mẹ con hát cho con nghe những bài hát nhẹ nhàng. Giọng của bà trầm, buồn phảng phất một nỗi niềm u ẩn không nguôi. Trái lại, con lại hát cho bà nghe những bản nhạc vui tươi do các soeur đã dậy. Bản La vie en rose, bản Au clair de la lune, bài Chantons, mes Rossignoles v.v... Rồi đến tối khi trở về nhà, sau bữa cơm tối, hai mẹ con thủ thỉ nằm trò chuyện trong chăn ấm. Nếu vào mùa hạ, có trăng lên, thì bà sẽ ngồi vào cây đàn dương cầm để dạo những nốt nhạc thật thánh thót. Bản nhạc lúc đầu bao giờ cũng tươi vui nhưng rồi bà chuyển sang những bài buồn thảm từ lúc nào, để trên đôi mắt u sầu của bà cuối cùng bao giờ cũng ngấn hai giọt lệ long lanh. Những hình ảnh ấy tuy đã qua đi lâu rồi bỗng nhiên vùng sống trở lại trong lòng con một cách mãnh liệt. Con thấy như mới chỉ xẩy ra ngày hôm qua, mới vụt đến ngày hôm nay, và cặp mắt của bà, giọt lệ ngấn long lanh trong riềm mi dài cong vút của bà như còn thấp thoáng ở đâu đây, trong lùm cây, trên bóng đèn sáng, trước bồn hoa im lìm êm ả. Cho đến khi tiếng hát của Thu Cúc chấm dứt thì khuôn mặt của con cũng đầm đìa nước mắt.

_________________________________________________________________ 

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

CHƯƠNG 4, 5, 6_TAY NGỌC


4


Ngày 6-10...

Thưa mẹ,

Sáng chủ nhật vừa qua con đã đến Viện Cô Nhi từ lúc trời còn sớm. Vào giờ ấy người phụ trách hãy còn đang bận rộn quét dọn những đám lá rụng xơ xác trên khắp mặt sân sỏi. Bầu không khí mùa thu gây lạnh bao trùm khắp cảnh vật với những cơn gió heo may đầu mùa và những khóm lá ẩm ướt. Con chạnh nhớ đến những ngày đã qua trong kỷ niệm. Vào những ngày nghỉ như hôm nay, giờ này, bao giờ bóng dáng của mẹ con cũng thấp thoáng bên cánh cửa sắt ngoài cổng trường. Bà bận quần đen, áo đen đầu choàng một cái khăn voile cũng màu đen nữa. Ở giữa một đám đông các phụ huynh gồm đầy đủ các màu sắc rực rỡ, lòe loẹt của các tà áo, bóng dáng của bà hiện ra như một biểu hiệu của sự trang nghiêm, trầm lặng nhưng cô đơn và lạnh lẽo. Trong lúc đứng chờ để được gọi tên, con đã nhìn thấy bà nhưng bà không nhìn thấy con. Khuôn mặt bà thật buồn. Cặp mắt sâu, đen và xa vắng. Con mong bà nở một nụ cười với bất cứ kẻ nào đứng cạnh bà. Nhưng bà không nói, không nhìn ai cả. Chỉ đến lúc con thoát được ra ngoài cánh cổng sắt, xô lại tưởng như muốn bay bổng tới ngay phía bà, thì khuôn mặt của bà mới vụt tươi lên, nụ cười vụt hé nở trên đôi môi mộc mạc không phấn son, và bà đã giang cả hai cánh tay ra ghì chặt lấy thân hình bé bỏng của con như ghì lấy tất cả sự sống.

Ôi, thưa mẹ bề trên, con không hiểu tại sao con đã vô tình khơi lại những kỷ niệm cũ của con trong lá thư này. Có lẽ những giây phút này, ngồi trong bàn làm việc, mắt nhìn qua khung cửa kính trông xuống khoảng sân trường vắng lặng xác xơ rụng đầy lá vàng, mọi hình ảnh quen thuộc êm đềm ngày xưa đã sáng lên rực rỡ trong tâm tư của con. Nào con có còn lại gì đâu ngoài những hình ảnh ấy, kể từ khi mẹ con đã mất. Cho nên nếu con có làm mất đôi chút thì giờ quí báu của mẹ bề trên, con cũng xin mẹ vui lòng tha thứ.

Con xin nhắc lại từ lúc con đến Viện Cô Nhi thì cổng ngoài còn đóng im ỉm. Hai tay con lủng củng nhiều đồ lề. Đó là những món quà của các bạn cùng lớp con quyên tặng. Con đã kéo cái chuông bên bờ tường với tâm trạng của "một người lớn". Ồ, con không là người lớn sao, khi con đi đến chốn này với nhiệm vụ chứ chẳng phải rong chơi hay đùa nghịch. Giống như hồi đêm hôm qua, lúc con dạo một bài dương cầm cho ma soeur Félicité nghe trước khi đi ngủ, ma soeur Félicité đã ôm con vào lòng, hôn lên mắt con và nói:

- Tiếng đàn đã khá lắm rồi. Những âm thanh này là những âm thanh của một người lớn.

Con đã rúc vào ngực bà nói nũng nịu:

- Thưa ma soeur, nhưng con bao giờ cũng là con bé bỏng của ma soeur.

Và con đã ngoan ngoãn như một đứa trẻ lên năm, đi theo bà để bà dìu về phòng ngủ.

Ông già gác cửa nghe tiếng chuông kêu đã vứt cái chổi và chạy ra với bộ mặt cằn nhằn:

- Làm gì mà gọi rối lên thế. Hôm nay chín giờ mới mở cửa cho vào thăm.

Con đáp:

- Thưa ông cháu không phải người ngoài. Cháu đến giúp việc.

- Ai mướn cô?

- Chẳng có ai mướn cả. Cháu tự ý thôi.

Ông già nhìn con từ đầu xuống đến chân rồi nói:

- Vậy ra cô tình nguyện. Tốt lắm chúng tôi đang cần người.

Đoạn ông tra cái khóa vào ổ và mở cửa cho con vào. Sau khi cầm giúp con mấy món đồ lặt vặt, ông lại nói:

- Cô chịu làm tất cả mọi việc đấy chứ?

- Dạ chịu, miễn là vừa sức của cháu.

- Tốt lắm. Cô đi xuống dưới này, tôi còn một nửa cái sân chưa quét, lá rụng đến úa mục cả ra, cô làm nốt hộ.

Nói rồi ông lão ấn ngay vào tay con cái chổi mà ông ta đang quét và vừa quay đi vừa nói:

- Chừng nào xong, cô trao lại chổi cho tôi ở buồng xép phía sau.

Con vui vẻ nhận lời và cúi xuống chăm chỉ làm việc. Mãi đến nửa giờ sau công trình của con mới hoàn tất. Người con lấm tấm mồ hôi, mặc dầu có những trận gió lành lạnh thổi xao xác trong các khóm lá.

Lúc con gặp lại ông ta, thì ông ta lại trao cho đầy đủ thứ việc: rửa một chậu đầy bát đũa, ly chén sặc sụa mùi rượu trắng, thu dọn lại cái bếp nhỏ ngập ngụa những lá bánh, vỏ trái cây và xương xẩu gặm nham nhở vứt đầy trên nền đất, cuối cùng là công việc xách những thùng đổ đầy một cái lu lớn.

Mãi đến gần chín giờ mới xong việc, nhìn quanh thì ông lão đã bỏ đi từ bao giờ. Con thu dọn đồ lề rồi lên lầu tìm gặp chị Yến. Chị ta nhìn con và bĩu môi:

- Tôi biết mà! Rồi chỉ trong hai, ba kỳ nữa cô tới đóng cái cổng ngoài giùm chúng tôi lúc hết giờ là vừa vặn.

Con tức mình cãi:

- Đâu có! Em tới từ lúc trường hãy con sương mù.

- Vậy cô đi đâu suốt từ lúc đó đến bây giờ?

- Em giúp ông lão coi vườn làm việc. Quét sân này, rửa bát này, dọn bếp này, xách nước này...

- Có phải cái ông già có hàm râu cá chốt ở cằm này không? Có phải cô dọn dẹp ở mé nhà đằng sau không?

- Phải.

Chị Yến phá lên cười:

- Cái lão già mắc dịch đã đánh lừa cô rồi. Việc ấy là việc riêng của lão, ai bảo cô rỗi hơi đi làm. Hồi hôm, lão say rượu rượt vợ chạy có cờ. Hôm nay ở nhà chỉ có một mình lão, lão lợi dụng bắt cô làm đó!...

Nói xong chị Yến kéo con vào lòng tỏ vẻ thương hại và yêu mến. Đó là cử chỉ rất đặc biệt mà chưa bao giờ con thấy chị biểu lộ  ra với ai. Những lần trước gặp chị, bao giờ con cũng thấy chị cau có, gắt gỏng, như thể ở trên đời này, không có việc nào, không có con người nào hợp được với ý thích của chị vậy.

Sau đó con đã giúp chị cho lũ trẻ ăn sữa và bánh mì buổi sáng. Chị Yến trao cho con một khúc bánh mì và một ly sữa nhưng con từ chối và nói:

- Thôi để cho chúng nó, em không đói chị ạ.

Mặt chị đang tươi bỗng lại sầm xuống và chị gắt gỏng:

- Bộ tưởng cô ăn hết phần của chúng nó sao. Ê hề ra kia kìa. Được cái đồ ăn ở đây thì không thiếu. Một hãng bánh mì đã tặng không cho viện mỗi ngày một sọt!

- Nhưng em không có thói quen ăn sáng.

- Về ăn uống thì chẳng có ai quen cả. Đã làm thì phải ăn. Có ăn thì mới làm được, cô còn giở thói ra nữa thì tôi không chịu nổi cô nữa đâu.

- Vậy em xin một chút thôi nhé.

Chị Yến phá lên cười:

- Một chút à? Cô cứ thử cầm cả khúc này coi. Tôi coi cái mồm huếch ra thế kia cô lại không vật bay ba khúc nữa ấy chớ!

Nói rồi, chị ta trao cho con nguyên cả một cái bánh. Lời nói lỗ mãng nhưng đượm lòng yêu thương của chị mang lại cho con một nguồn vui mới lạ bởi vì trong những ngày sống bên cạnh má con hay dưới sự chăm sóc của Soeur Félicité, con chưa  bao giờ được ai tỏ lòng yêu thương bằng tính cách "quyết liệt" đến như thế.

Ăn sáng xong, con phụ giúp chị Yến đi rửa ráy cho lũ trẻ rồi đặt chúng nó ngồi trên một tấm ghế dài. Con hỏi:

- Làm sao cho chúng nó nói? làm sao cho chúng nó cười?

Chị Yến nhún vai:

- Tôi đố cô đấy. Nhưng tôi cấm cô không được bế một đứa bé nào lên tay quá năm phút. Nó mà quen thói đi thì rồi chính nó khổ.

Nói rồi chị kéo cái ghế đưa lại gần phía cửa sổ và cắm cúi đan. Còn về phần con, con đã bầy ra trước mặt mỗi đứa một món đồ chơi và hỏi han từng đứa. Nhưng vẻ mặt của chúng bình thản đến độ như không thể có một nỗi cảm xúc nào lộ ra được. Nhất là Thục, đứa em nuôi của con lại còn tệ hơn nữa. Mặt nó rầu rầu, cặp mắt lờ lững, vành môi khô héo không muốn nhúc nhích ngay cả khi có những con ruồi chạy nhẩy ở trên đó. Con cầm lấy tay Thục và làm điệu bộ khôi hài với nó. Nó nhìn con rồi lầm lũi quay đi. Bỗng một ông y tá mặc áo trắng đi qua, ông ta đứng dừng lại ở ngay mé đằng sau con và nói:

- Hà hà... bất hợp tác hả?

Thấy con quay lại, ông ấy lại tiếp:

- Tôi giúp cô nhé!

Nói rồi ông ấy trợn mắt lên nhìn Thục. Cái miệng ông ngoác ra, cái lưỡi ông thè ra thật dài, hàm răng của ông mọc bừa bãi, lổn nhổn. Bộ mặt ấy làm Thục hết hồn. Nó vừa trừng mắt lên nhìn ông với vẻ sợ hãi thì vừa vặn ông lại phát cho nó một cái vào mông đau điếng. Thục chóe lên khóc. Con vội ôm chầm lấy nó. Hai tay nó níu lấy cổ của con thật chặt như cầu xin một sự che chở. Thật là kỳ diệu. Chỉ trong vòng không đầy một nháy mắt, con đã mua chuộc và làm rung động được vùng tình cảm khô khan của con bé. Con nhìn ông y tá bằng một cái nhìn cảm tạ nồng nàn, nhưng bóng dáng cao lêu đêu của ông đã khuất sau cánh cửa, chỉ còn để lại một tiếng cười dài.

Sự ồn ào ấy làm chị Yến ngửng đầu lên. Mặt chị đỏ rần, cặp mắt long lanh sáng, chị dẩu mồm nhìn theo ông ta và cất tiếng chua ngoa:

- Thừa cơm rửng mỡ chưa? Khi không cũng đến cấu nó một cái cho nó khóc.

Nhưng chị không hiểu được nỗi vui mừng của con lúc ấy. Lợi dụng tiếng khóc của Thục, bất cần luật của chị đặt ra, con đã bế thốc Thục chạy về cuối dẫy hành lang để vào tìm khăn lau mặt cho nó. Con bé nín khóc. Trong ánh mắt của nó đã rạng lên một niềm vui yếu ớt. Lợi dụng được cơ hội ngàn vàng này, con đã hỏi han chuyện trò được với Thục. Mặc dầu nó không trả lời con, nhưng trông nét mặt và ánh mắt của nó, con biết nó đang đi gần tới sự thông cảm, lòng yêu thương mà con đặt vào nó. Một lát sau thì nó cười. Nụ cười tuy héo hắt nhưng làm rạng rỡ hẳn khuôn mặt buồn hiu mọi ngày, như thể trong một bầu trời u ám của những ngày mưa ròng rã bỗng vụt hiện lên những tia sáng yếu ớt của vừng thái dương sắp ló dạng.

Một lát sau con mới bế Thục trở lại. Lúc này ông y tá đã lại xuất hiện ở bên khung cửa sổ đối diện ngay với cái ghế mà chị Yến đang ngồi. Chị đang có vẻ giận dữ, kỳ kèo về cử chỉ lúc vừa qua của ông ta. Còn về phần ông thì ông chỉ đáp lại bằng nụ cười, tiếng cười hể hả dễ dãi phô ra một hàm răng lổn nhổn và to như răng ngựa. Chị Yến nói:

- Sao ham cười quá vậy? Mình cười để bắt con người ta khóc mà chịu được hả?

Ông y tá đáp:

- Vậy thôi nhé. Từ nay tôi không cười nữa. Về nhà má tôi có hỏi, tôi đổ thừa cho cô nhé.

- Ông có má hả? Vậy tôi sẽ mách má ông về tội ông bắt nạt trẻ con cho ông coi.

- Thế thì tôi xin chắp hai tay vái cô mười cái, cô mà mách má tôi thì tôi chết.

Chị Yến bật cười:

- Bộ ông sợ má lắm hả. Bả chắc là dữ đòn.

- Dữ thì không dữ nhưng bả bắt tôi cưới vợ. Eo ôi! Tôi thiết tưởng tôi mà phải cưới vợ thì tôi chít.

- Sao mà "chít"?

- Tại tôi chưa gặp một người nào hợp với ý muốn của tôi. Nhưng tôi thiết tưởng rằng tôi sắp gặp rồi đó.

Mặt chị Yến bỗng đỏ rần. Chị ném cuộn len xuống ghế và chạy lại bế một em nhỏ đang ngồi lên.

Thật là một sự lạ, trái với nguyên tắc khó khăn mọi ngày do chính chị đặt ra. Đó là không có bế ẵm một đứa nào lên tay cả.

Lúc ông y tá đi rồi chị Yến vẫn còn có vẻ bồi hồi. Sự bối rối biểu lộ bằng niềm vui bất ngờ hiện trên nét mặt của chị mà chị muốn giấu cũng không được. Suốt buổi ấy, hai chị em nô đùa vui vẻ với lũ trè con.

Trên dẫy hành lang mọi ngày lặng lẽ và buồn tẻ, bỗng rộn rã những tiếng cười hồn nhiên và vô tư.

Thưa mẹ, con nghĩ rằng đó là tiếng cười phát xuất từ nguồn tình cảm bắt đầu bởi sự yêu thương. Chỉ sự yêu thương mới xóa bỏ được hết nỗi ưu tư và nhọc nhằn của tất cả mọi người.

Con nguyện sẽ vì tình yêu thương đó mà tận tụy hết lòng.

HẠNH    



5


Ngày 10 tháng 10.

Thưa mẹ,

Đáng lẽ ra, để khỏi làm mất thì giờ quí báu của mẹ, con chỉ được tường trình với mẹ về công tác từ thiện mà con đang làm để thực hiện lời con hứa nhân ngày kỷ niệm thánh Antoinette, vị thánh bổn mạng của mẹ. Nhưng qua những lá thư mà con đã gửi mẹ, bỗng nhiên con tìm thấy một con đường vụt mở rộng trước tương lai của con. Con đường mà con thấy đầy hoa thơm cỏ lạ, ở đó thời gian được làm ngừng lại, muôn ngàn sự việc kết tinh thành những ý nghĩ thuần khiết, và con sẽ đem những ý nghĩ ấy kết thành từng trang giấy để gửi mẹ. Cũng con đường ấy, con cảm thấy càng đi sâu vào, tâm hồn con càng xao xuyến nhiều nỗi niềm rung động. Con đã nghe thấy tiếng nhựa sống chuyển mình trong thân cây, tiếng thở dài của một chiếc lá úa nằm phơi mình trên nệm cỏ hay những lời lẽ âm thầm chuyển đi qua tiếng chuông nhà thờ ngân nga vào những buổi chiều sắp tắt. Con đường mà con tin chắc rằng nó sẽ dẫn con đi tới một thế giới kỳ lạ, ở đó cảnh vật hòa lẫn với ý nghĩ, chỉ cần tâm niệm và gìn giữ cho ý nghĩ của mình trong sáng thì bầu trời cũng sẽ trở nên quang đãng, cây cỏ trở nên tốt tươi và số phận hẩm hiu của những cuộc đời khốn khó cũng được chiếu sáng bằng ánh sáng của tình thương yêu và nhân ái. Con đường ấy là sự gợi lên tiếng nói của yên lặng bởi vì chỉ có sự yên lặng mới hàm chứa đầy đủ mọi âm thanh gây ra bởi những việc làm tốt đẹp cũng như xấu xa. Sự kỳ diệu này chứng tỏ trong đoạn văn của Georges Duhamel viết về đoạn Quang cảnh Ba Lê nhìn từ tháp nhà thờ Notre Dame mà con mới đọc được trong một cuốn sách giáo khoa.

"Có một lúc im lặng kéo dài. Người ta nghe thấy từ dưới đất vọng lên những âm thanh, không phải là tiếng ồn ào hỗn tạp mà là cả ngàn tiếng động, cả ngàn tiếng riêng rẽ và khác biệt. Người ta nhận ra từng tiếng xe chạy, tiếng vó ngựa từng con, tiếng giầy của mỗi kẻ đi đường, tiếng rao của người bán hàng, tiếng gọi của một bà mẹ, tiếng còi của bộ máy, tiếng cọt kẹt của một cánh cửa, tiếng vĩ cầm than thở, tiếng chuông ngân nga, có lẽ cả tiếng động của một đồng bạc cắc, và bỗng nhiên có tiếng trong trẻo của của bọn trẻ đang chơi đùa trong sân Tòa Giám Mục, tiếng chúng reo hò, ca hát, nói năng, gần như nghe thấy cả hơi thở của chúng...

- ... Bởi vậy mà em tin là Chúa ở trên cao phải nghe thấy tiếng động của trần gian, chắc Chúa cũng như chúng ta trong giây phút này, phân biệt được lời than van của người này, tiếng kêu la giận dữ của kẻ kia, tiếng ca vui của người nọ. Giá mà thính tai thêm một chút nữa thì em có thể nói: Có một người thọt cũng đang đi, có một công nhân đang tất tả vì sợ bị đuổi, và có một thằng bé đang nói dối lần đầu tiên".

Thưa mẹ, con tin rằng chỉ những nghệ sĩ đi theo con đường mà con đang trình bày với mẹ mới có thể thấu suốt được vạn vật một cách sâu xa và kỳ diệu đến như thế.

Bởi vì chính con đường ấy đã biến nghệ sĩ thành sứ giả, thông ngôn lại tiếng nói thầm kín ẩn sâu trong những ước vọng của con người, để đem đến cho cuộc sống một sự thấu hiểu và cảm thông.

Con đường ấy còn là lối thoát mở cửa cho những tâm hồn hèn mọn như tâm hồn của con, cho những cuộc sống thấp kém như những cuộc sống của chúng con được có cơ hội nhìn lên cao, sung sướng, thẳng thắn và hãnh diện.

Thưa mẹ bề trên,

Con đường ấy chính là sự sáng tạo, là lãnh vực của những người cầm bút, là xứ sở do những ngôi sao sáng từ lâu đã trị vì, xứ sở của Alphonse Daudet, Anatole France, của những tác giả mà con được các ma soeur cho phép đọc trong tủ sách của thư viện nhà trường.

Con xin được làm một thần dân bé nhỏ và mới mẻ của những vị vua sáng chói ấy. Nhưng khác một điều, là bạn bè của con, những nhân vật của con, những sự việc mà con sẽ nói tới sẽ mãi mãi chỉ là những tuổi thơ đau khổ mà chính nhờ ở mẹ, con đã được biết tới, cảm thông và quyết phơi bày lên trang giấy. Con sẽ không có cao vọng in những hàng chữ thô sơ này  thành sách, con cũng không có cao vọng mong tất cả mọi người sẽ cùng đọc lên những ý nghĩ thầm kín của con mà con tự hứa sẽ chăm chỉ viết hàng ngày một cách đều đặn. Con chỉ xin coi việc làm đó như ý nghĩa của một sự tự nói chuyện với mình, một cách du ngoạn trong thế giới kỳ ảo của nghệ sĩ và con chỉ xin tường trình những điều đó dưới cặp mắt khả kính của mẹ. Chỉ cầu xin mẹ chấp nhận cho con điều đó là con đã đủ thấy lòng vô cùng sung sướng một cách trọn vẹn lắm rồi.

Thưa mẹ,

Đã có lần con trình bày với mẹ về trường hợp của Cúc, cô con gái có khuôn mặt trái soan, nước da đen ngâm ngâm, cái trán bướng bỉnh và đôi mắt lúc nào cũng mang vẻ hận thù. Thu Cúc là con của một gia đình không lấy gì làm nền nếp lắm. Ba của Cúc có vẻ không thương yêu gì đứa con gái mang số phận hẩm hiu này. Bởi vì Cúc là con của người vợ trước. Mẹ Cúc mất đi từ năm Cúc lên tám, cho đến bây giờ thì Cúc đã mười bẩy. Chín năm trời sống thiếu thốn tình thương, hoàn cảnh biến Cúc thành một cô gái quá quắt, ích kỷ, cô đơn và đôi khi còn độc ác một cách rất bình thản nữa. Trong lớp Cúc học hành một cách lơ đãng, không bao giờ Cúc chịu tìm hiểu những điều hay trong giáo lý, không bao giờ chịu khuất phục hoàn toàn trước bất cứ một ma soeur nào ở đây cả. Sự vâng lời của Cúc bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa bị đè nén, áp bức và tia mắt của Cúc luôn luôn phát ra cái ánh sáng của sự oán hờn hay thù hận. Như thế, tất nhiên những thái độ của Cúc chẳng thể nào chiếm được lòng tin yêu của các soeur trong Thánh Mẫu học đường. Tuy vậy các bà vẫn để cho Cúc yên ổn với sự cô độc của nó, miễn đừng phá phách hay lôi cuốn những người khác vào vòng tối tăm, mờ ám đang ám ảnh tâm hồn của Cúc. Một đôi khi có giận dữ lắm thì bà Madeleine chỉ hét lên thật lớn:

- Đổ quỷ dữ! Đồ quỷ dữ định phá phách cái gì ở đây chứ!

Rồi bà vùng vằng bỏ đi, khuôn mặt đỏ rừ, làn môi mỏng của bà tái lại và trở nên run run. Mỗi lần như thế Cúc đều bị phạt ăn cơm với muối trắng. Và bao giờ Cúc cũng lại phản đối bằng thái độ không ăn uống gì cả rồi tìm cách thủ tiêu lọ muối trắng vào bất cứ một xó xỉnh nào mà có khi cả tháng sau do một sự tình cờ người ta mới tìm ra.

Một lần trong bữa ăn, bốn chị bị phạt repas sec. Đó là chị Nguyệt Hồng, chị Lucie, chị Thanh Thảo và Thu Cúc. Bốn người được dọn riêng một bàn và có bà Cécile trông coi. Bà đứng nghiêm trang như một viên cảnh sát đắc lực, cặp kính trễ xuống tận sống mũi để lộ ra hai con mắt lạnh lẽo một cách dữ dội lúc nào cũng gườm gườm nhìn các chị như sẵn sàng vồ lấy một chị phạm lỗi để quất vào mông chị ta đau điếng. Điều đó khiến Nguyệt Hồng, Thanh Thảo và Lucie len lét như cố thu nhỏ lại trên mặt ghế. Các chị ấy cố gắng nhai những miếng cơm khô khan bằng một vẻ hết sức uể oải. Chỉ có Cúc là vẫn giữ nguyên vẻ bình thản. Nó gẩy từng hạt cơm vào miệng một cách rời rã, không chú ý trong khi đó cặp mắt của Cúc nhìn miệng ba người kia với ánh tinh nghịch. Hình như Cúc có vẻ khoái về sự có bạn đồng hành trong hình phạt của các soeur giáng xuống. Nhưng bà Cécile đã không để cho Cúc được ngắm người ta lâu hơn. Ngọn roi của bà đã chĩa vào đúng ngay giữa cằm của Cúc và đẩy từ từ cho cái đầu của nó ngay lại. Vừa làm bà vừa nói:

- Hãy lo lấy phần của mình. Phải vừa ăn vừa suy nghĩ về tội lỗi của mình đã gây ra. Như thế lần sau mới nhớ mà chừa đi được.

Cúc buông ngay đôi đũa xuống bàn và nói:

- Thưa ma soeur con đã suy nghĩ rồi và con thấy con không có lỗi gì cả!

Căn phòng đang rì rào tiếng nói nho nhỏ bỗng im phăng phắc. Tất cả mọi người đều ngừng tay và hướng về phía Cúc với một vẻ hồi hộp. Con bé gớm thật! Chỉ có một mình nó là dám ngang nhiên nói lên những điều mà nó đang nghĩ. Còn tất cả ở đây không một ai có đủ can đảm để làm công việc ấy, cho dù ai cũng tự cho rằng mình bị thọ hình một cách oan uổng cả.

Lời nói của Cúc làm bà Cécile giật thót người lên. Ngọn roi hạ từ cằm xuống vai của Cúc một cách sững sờ. Trong khi đó cặp môi hồng và mỏng của bà Cécile bắt đầu tái lại và trở nên run run. Bà xốc lại cái gọng kính cho khỏi tụt xuống trễ trên sống mũi rồi bằng tất cả sự cố gắng để nén cơn tức giận của mình bà ráng sức nở một nụ cười, nhưng trong hoàn cảnh ấy, phù hợp với vẻ mặt ấy, nụ cười như bị méo đi, kéo hai bên mép của bà nhếch lên làm làn da ở má đã rúm ró lại càng trở nên rúm ró. Vì thế trông bà đầy vẻ dữ dội, sự dữ dội hàm chứa một vẻ thâm trầm, nguy hiểm. Cười xong mặt bà Cécile vụt lạnh băng lại và lần này thì bà cất tiếng nói, đủ to để cho tất cả mọi người nghe thấy:

- Các soeur không xét xử ai oan uổng bao giờ. Nhưng nếu Thu Cúc thấy là mình bị oan uổng thì tôi cho phép cô trở về bàn ăn chỗ mọi ngày và tôi tuyên bố là hình phạt repas sec hôm nay còn có ba người.

Rồi bỗng nhiên bà đổi giọng:

- Thế nào, chị Nguyệt Hồng, chi Lucie, chị Thanh Thảo, các chị có thấy rằng mình bị oan uổng không?

Cả ba người vội vàng líu ríu nói:

- Thưa ma soeur không... chúng con xin nhận tội và xin hứa xin chừa...

Mặt bà Cécile tươi lên, bà "à" lên một tiếng thích chí, vành môi đang mím lại chợt trễ xuống, và hàm dưới của bà bỗng lúc lắc khiến cho khuôn mặt của bà như có vẻ được dài thêm ra. Nhưng cái nét tươi tắn bí hiểm ấy vụt tắt ngay như ánh sáng của một vì sao rụng, và trong chớp mắt vẻ mặt của bà càng trở nên lạnh lùng, dữ dội bằng mấy lần lúc trước. Bà chiếu ngay cái nhìn về phía Thu Cúc, ở đó bà bắt gặp khuôn mặt thản nhiên gần như chai đá của con bé liều lĩnh. Nó không đứng dậy, không đổi thế ngồi, cũng không cả biểu lộ một vẻ gì gọi là bối rối. Sự im lặng của nó khiến bà Cécile phải cất tiếng:

- Thế nào, cô học trò gương mẫu. Cô không phải chờ tôi mời cô lại một lần thứ hai nữa đấy chứ?

Thu Cúc vụt nhìn bà bằng cặp mắt oán hận rồi từ từ kéo ghế đứng dậy. Cả phòng ăn nín thở nhìn theo điệu bộ của cô bé bướng bỉnh. Cúc rời khỏi chỗ ngồi và lẳng lặng đi về phía giữa phòng. Khi qua mặt bà Cécile, Cúc sầm mặt xuống, và nó giữ vẻ hiên ngang không kém sự hiên ngang của bà. Bỗng nhiên bà Cécile dùng cái đầu roi gõ ngay lên vai Cúc và gọi giật lại:

- Cúc!

Cúc lẳng lặng đứng lại rồi quay mặt về phía bà. Bà Cécile ngắm lại Cúc một lần nữa từ đầu đến chân rồi hỏi:

- Hôm nay ai phạt cô?

- Thưa ma soeur, soeur Juliette!

- Về tội gì?

- Thưa ma soeur con không biết!

Bà Cécile cười "khạch" một tiếng thật kêu rồi với lấy tập hồ sơ để ở gần cửa sổ. Bằng điệu bộ thật chậm rãi và cố tình làm ra vẻ quan trọng, bà giở từng trang, dò từng dòng, truy từng tên, rồi một lát thật lâu, bà mới đọc lớn:

- Lưu Thu Cúc, cours troisième, phạm lỗi vì không nghe giảng giáo lý, không thuộc bài, bướng bỉnh lý sự, đề nghị hai ngày cơm muối trắng và chép phạt năm mươi lần lời tiên tri của Isaia!

Đọc đến đây bà Cécile bỗng ngừng lại và ngẩng lên nhìn. Bà bắt gặp ngay chị Ái Mỹ đang nháy nhó bằng cặp mắt láu lỉnh với chị Bích Hồng. Lập tức bà lớn giọng:

- Thế nào, chị Ái Mỹ! Chị thuộc lời tiên tri của Isaia đó chứ?

Mặt chị Ái Mỹ đang tươi tỉnh bỗng xám ngoẹt lại. Chị đứng dậy với đầy vẻ bối rối, hai bàn tay chị xoắn lấy cái mép khăn giải bàn. Đầu chị cúi xuống. Hai vành tai dần dần đỏ ửng lên. Bà Cécile lại bật lên một tiếng cười khô khan và ngắn. Bà ngắm chị như ngắm một món hàng quí báu rồi thốt nhiên bà đập ngọn roi xuống mặt bàn và nói bằng giọng giận dữ:

- Trong sáu  mươi người ở đây những ai thuộc thì đứng dậy cho tôi coi.

Tất cả mọi người đều buông đũa, đứng dậy đều một loạt. Bà Cécile mỉm một nụ cười hài lòng. Bà vẫy bàn tay ra hiệu cho ngồi xuống rồi nói với chị Thanh Thủy ngồi gần đó nhất:

- Hãy đọc cho mọi người nghe lại một lần nữa lời tiên tri của Isaia.

Chị Thanh Thủy chưa kịp ngồi hẳn xuống đã lại vội vàng đứng dậy. Hai tay chị khoanh chéo vào nhau. Mắt chị ngước lên trần như những lần trả bài cho bà Juliette. Và chị bắt đầu đọc liến thoắng:

- Trong sách Sấm Ngôn, tiên tri Isaia nói rằng: "Một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai đặt tên là Emmanuel nghĩa là Thiên chúa ở cùng chúng tôi. Hãy dọn đường tới Chúa, hãy san lối cho phẳng, lấp hố sâu cho đầy, núi đồi hãy bạt cho thấp, đường ngõ quanh co phải uốn cho phẳng, mọi người sẽ được nhìn thấy Chúa Cứu Thế. Luật của Chúa sẽ ban từ Sion, lời của Chúa sẽ phán từ Jérusalem. Người sẽ thống trị các quốc gia và phán xử các dân tộc. Khi đó người ta sẽ lấy gươm rèn lưỡi cầy, lấy giáo đánh thành liềm hái, các quốc gia không còn đâm chém lẫn nhau và tất cả cùng chỗi dậy đi tới ánh sáng của Đấng toàn năng..."

Bà Cécile "à" lên một tiếng mãn nguyện nữa rồi nói:

- Đáng khen! Tất cả nữ sinh của Thánh Mẫu học đường đều phải đáng khen như thế. Thế còn chị Ái Mỹ. Chị trả lời tôi làm sao về sự bê bối của chị đây?

Ái Mỹ lắp bắp trả lời:

- Thưa ma soeur con xin nhận lỗi. Con hứa. Con chừa!

- Chép phạt năm mươi lần và nạp cho tôi vào giờ cầu nguyện buổi tối ngày mai.

Chị Ái Mỹ lẳng lặng ngồi xuống. Mồ hôi vã ra ướt đẫm cả mảnh lưng áo trắng của chị. Tất cả mọi người vẫn đều im lặng và bây giờ bà Cécile lại chĩa mũi dùi về Thu Cúc:

- Còn chị nữa. Nếu chị kêu oan thì chắc là chị có thể đọc lại cho tôi nghe một lần nữa, nhanh nhẩu như thế, trơn tru như thế và dễ dàng như thế chứ?

Thu Cúc khẽ nhún vai:

- Thưa ma soeur không thể được!

- Tại sao không thể được?

Thu Cúc dằn giọng:

- Bởi vì thưa ma soeur, con là kẻ ngoại đạo!

Cả phòng "ồ" lên một tiếng bất ngờ, và bầu không khí bỗng náo nhiệt hẳn lên. Lập tức bà Cécile đập đen đét cái roi xuống mặt bàn, mặt bà đỏ rừ lên, môi của bà vừa run vừa tái, bà hét lớn:

- Im! Im hết! Các cô định giở cái trò dơ dáy gì ra đây mà ồn ào như vậy chứ?

Sự ồn ào bị cắt đứt ngay lập tức và tất cả ai nấy đều tìm lại vẻ nghiêm trang bình thường. Nhưng cặp mắt của bà Cécile không vì thế mà giảm đi vẻ long lanh giận dữ mà ai cũng đều cảm thấy đang ở mức quá độ. Cặp mắt của bà trừng lên nhìn từng khuôn mặt một cách dữ dội, và tia mắt đó đi tới đâu là làm cho từng ấy chị phải cúi gầm xuống, nín thinh đến một con ruồi bay qua người ta cũng nghe thấy.

Sau khi đã đàn áp được tinh thần của lũ "quỉ dữ" chúng con rồi, bà mới biểu lộ một vẻ vô cùng mệt mỏi, quay lại phía Thu Cúc và nói:

- Cho chị về chỗ, chúng ta không còn gì để bàn luận với nhau thêm nữa!

Nói rồi bà nặng nề đi ra khỏi phòng. Tấm áo trắng còn nguyên nếp hồ cọ vào nhau kêu loạt soạt và sợi dây tràng buộc cây Thánh giá bằng gỗ có gắn tượng Đức Chúa thọ hình lúc lắc theo từng nhịp bước. Trong khi đó, Thu Cúc thản nhiên trở về chỗ ngồi.

Buổi chiều hôm đó, sau giờ cầu nguyện, con có nắm tay Cúc đi quanh sân trường và thủ thỉ:

- Tại sao hồi trưa mày dại dột như thế? Dầu sao, ở đây cũng không bao giờ nên thú nhận một cách thật thà vậy. Các ma soeur rất ghét kẻ ngoại đạo.

Cúc nhún vai mỉm cười:

- Tao biết. Nhưng tao thích làm thế. Đó là một cách trả thù hay ho nhất.

- Hay ho nhưng chẳng có lợi gì cả. Ở trong này không nên để cho các soeur ghét bỏ.

- Để cho các bà ấy yêu thương thì mới là một cái thân tội. Tao không bao giờ và cũng không thể nghe lọt tai được bất cứ một lời giảng giải nào về tôn giáo. Ở nhà má tao cũng soen soét nói chuyện ăn chay và làm việc phúc đức nhưng chưa bao giờ tao thấy bà ấy thực hành cả.

- Má mày khác và các soeur khác.

Một duộc! Tao không tin ai ngoài tin tao cả. Tao ghét lý thuyết không đi đôi với thực hành. Tao ghét cả Chúa lẫn Phật.

- Quỷ dữ! Đừng có nói tầm bậy!

- Vậy thì tốt hơn là mày đừng giao du với tao nữa. Hãy làm như tụi nó. Bây giờ chúng nó coi tao như là hủi. Dính với hủi thì sẽ có ngày phải chép phạt và ăn những bữa repas sec.

- Trái lại, tao không sợ. Tao ghét tính a dua của chúng nó. Thà ăn những bữa cơm muối trắng còn hơn là làm những công việc không vừa ý mình.

Mặt Cúc tươi lên. Nó nắm lấy tay con rồi gật đầu:

- Đúng vậy đó. Thà ăn cơm với muối trắng còn hơn là làm những công việc không vừa ý mình.

Con vội cãi:

- Không phải thế, không phải ý tao muốn nói như thế.

Cúc ngạc nhiên:

- Thì tao nhắc lại nguyên văn lời nói của mày.

- Đành vậy. Nhưng ẩn sau một lời nói, có nhiều ý nghĩa khác nhau. Kẻ phát biểu này hiểu theo nghĩa này, kẻ phát biểu kia hiểu theo nghĩa kia.

- Chẳng có sự nào khác biệt cả. Tao nói rõ hơn, là tao thích làm theo ý của tao dù tao có bị ăn cơm với muối trắng. Mày cũng vậy.

- Không thể vậy được. Bởi vì ý muốn của tao khác và ý muốn của mày khác. Tao muốn khép mình vào một trật tự chung và sống như thế, bởi vì cuộc sống đã xếp đặt như thế rồi. Còn mày, mày phá phách, hằn học, sự phá phách hằn học chỉ thỏa mãn lòng ích kỷ của mày mà thôi.

Cúc trừng mắt lên nhìn:

- Ích kỷ? Thế nào là ích kỷ?

Con đáp:

- Kẻ ích kỷ là kẻ chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính mình.

Cúc "à" lên một tiếng khoái trá rồi nói bằng giọng chanh chua:

- Phải rồi! Kẻ ích kỷ là kẻ chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính mình. Nhưng Hạnh ơi, mày có bao giờ thấy tao chỉ biết vơ quyền lợi về cho chính tao không? Không thuộc giáo lý, kinh bổn có phải là ích kỷ không? Nói thẳng những ý nghĩ thành thực của mình cho người khác biết có phải là ích kỷ không? Nếu đúng như thế thì tao sẽ còn ích kỷ hoài hoài bởi vì tao không muốn giấu giếm những ý nghĩ hằn học với kẻ khác. Tao không muốn giữ gìn những lời rủa thầm kẻ đối diện trong khi bề ngoài vẫn làm ra vẻ thân ái và thán phục. Tao không muốn đóng kịch.

Nói rồi Cúc lại cười khẩy tiếp:

- Kỳ thật! Tao thấy các bà ở đây chỉ chú trọng đến bề ngoài. Và các bà ấy có vẻ hài lòng một cách dễ dãi về cái bề ngoài giả dối ấy.

Thưa mẹ bề trên,

Thật lạ lùng. Không hiểu tại sao con lại thấy những lời của Cúc có vẻ hợp lý mặc dầu con đã hết sức nhủ thầm: "Đừng tin Cúc, đừng bao giờ tin Cúc cả. Nó chỉ là một cây cỏ hoang, lớn lên một cách vô trật tự, thiếu săn sóc, vun trồng".

Cả ngày hôm đó con cứ băn khoăn thắc mắc về những lời của Cúc. Tư tưởng của Cúc như một luồng gió lạ làm xáo trộn tâm hồn bấy lâu nay vẫn phẳng lặng hiền hòa của con. Con bỗng thấy run sợ và mất hẳn niềm tin tưởng. Chính vì thế mà con viết thư đến cầu cứu ở mẹ. Xin mẹ bề trên ban cho con một lời khuyên nhủ. Con xin nguyện rằng dù lời khuyên đó đứng về bất cứ lập trường nào, con cũng sẽ vâng theo triệt để. Bởi vì con biết chỉ có mẹ mới là người dẫn dắt được con bước đi những bước ngay ngắn và vững chãi trong cuộc đời.

Con xin đón chờ lời khuyên bảo vàng ngọc của mẹ.

HẠNH    



6


Ngày 20 tháng 10...

Thưa mẹ,

Mặc dầu trí óc của con nhiều khi rất bận rộn về những sự ám ảnh bởi tâm trạng của Cúc, nhưng con cũng không xao lãng nhiệm vụ chính yếu mà con đã tự nguyện phải thi hành bằng được. Đó là nhiệm vụ biến đổi em Thục trở thành một người bình thường.

Bắt chước phương pháp làm việc của các y sĩ, con thiết lập một bản nhận xét về tình trạng của Thục để tiện bề theo dõi như sau:

HỒ SƠ VỀ EM THỤC

Thiết lập ngày 18 tháng 10.

Họ và tên : La thị Thục

Con Ông : La văn Tích

Và Bà : Trần thị Nở

Sinh ngày : 15 tháng 7 năm 19...

Nhập viện ngày : 26 tháng 3 năm 19...

Hoàn cảnh gia đình :

- Cha là nạn nhân của chiến cuộc (trúng đạn tử nạn khi đang làm đồng)

- Mẹ làm thợ hồ ở Sàigòn (có thể đã chết trong nhà thương thí - Lần cuối cùng vào thăm Thục, bà ta đang xin vào nhà thương chữa bệnh lao).

- Mẹ đỡ đầu hiện tại : Bà Lê thị Ánh, giám đốc Viện Cô Nhi Viện An Hòa.

Tình trạng sức khỏe :

- Ốm yếu xanh xao, bị chứng giun sán trầm trọng.

Điểm đặc biệt :

- Câm.

- Ưa nằm sấp nhiều hơn ngồi. Chưa biết đi, chân đứng không vững vì nằm nhiều.

- Không bao giờ cười, không bao giờ nhếch mép.

- Mắt không linh động, không thay đổi cách nhìn.

- Sợ sệt tất cả mọi thứ.

Công việc sẽ phải đạt tới :

- Tập nói.

- Tập đi.

- Tập biểu lộ tình cảm bằng cử chỉ.

Thưa mẹ,

Đấy mới chỉ là sự phác họa những điều hiểu biết và dự tính của con về Thục. Dự tính thật là khó khăn và nặng nề. Nhưng con nghĩ rằng yếu tố của lòng yêu thương sẽ chữa khỏi bệnh cho Thục. Và con sẽ hết sức đem lại cho Thục lòng yêu thương đó. Trong những ngày vừa qua, con đã tiến được một bước nhỏ trong nhiệm vụ này. Bây giờ Thục đã biết giơ tay cho con bế mỗi khi con xòe hai tay ra trước mặt Thục. Trong ánh mắt của nó, có thoáng qua một sự vui mừng chen lẫn ngần ngại, con thông cảm với nó về sự ngần ngại này. Chị Yến đã kể cho con nhiều về số phận hẩm hiu của nó và những nguyên nhân đã làm cho nó lãnh đạm thờ ơ với mọi người. Đó là bởi vì nó xấu, lại tật nguyền, hầu hết các quan khách đến thăm cô nhi viện đã bỏ rơi nó một cách thản nhiên. Có một lần nó giơ tay ra vừa khóc vừa đòi theo một bà sang trọng đang đứng ở trước dẫy nôi ngủ của nó. Nhưng bà ta khước từ. Bà còn mải đi tìm một đứa xinh xắn hơn, kháu khỉnh hơn. Và đó là tật xấu, thiên vị và bất công của một số người. Thục quen dần sự từ chối chua xót ấy. Dần dần nó hiểu ra được cái thân phận hẩm hiu của nó. Lâu ngày, nó không đòi theo ai, và cũng không khóc nữa. Nó nằm yên một mình giương cặp mắt thản nhiên nhìn mọi người đi qua. Cái bụng ỏng của nó ép sát xuống mặt giường. Ông y tá Bình bảo nằm như thế, nó ít bị giun hành hạ. Chị Yến cũng thương hại nó, nhưng chị lại bận quá nhiều việc. Trong Cô nhi viện này có gần một trăm đứa mà chỉ có bốn chị trông coi. Chính vì thế mà mỗi ngày, chị chỉ rờ đến nó những lúc chị nhét cái núm ở bình sữa vào miệng nó. Hai tay Thục phải ôm chặt lấy bình. Chiếc bình được treo dốc ngược lên bằng một sợi dây buộc lủng lẳng trên cái xà ngang ở đầu giường. Khi bú hết, Thục buông tay ra và bình sữa đu đưa ngay trên mũi của nó. Những giọt sữa hấp dẫn lũ ruồi đến một cách đông đảo. Từng đàn ruồi bò ở quanh miệng bình, trên chiếc núm cao su rồi nhẩy múa trên đôi mắt lờ đờ của Thục. Con bé nằm chán rồi thiu thiu ngủ. Hiển nhiên nó đã lớn lên một cách vô tình như một cọng cỏ dại.

Thưa mẹ, con không dám có ý nghĩ làm một việc phi thường. Nhưng quả thật tình cảnh của Thục đã gây cho con một xúc động sâu xa hơn những đứa trẻ khác. Chính vì thế mà con đã dành tất cả tâm lực của con vào công việc săn sóc Thục. Tất nhiên, ở quanh đó còn nhiều hoàn cảnh của các em bé mồ côi cũng đáng thương tương tự. Con hy vọng rồi sẽ có những bàn tay ngọc của các thiếu nữ khác góp phần vào công việc xoa dịu những nỗi thống khổ của chúng nó. Sự kêu gọi các bạn nội trú cùng phòng tuy làm con thất vọng nhưng không vì thế mà con nản chí. Con tin tưởng vào tâm hồn trong sáng và toàn thiện của các chị ấy. Chưa thúc đẩy được họ, ấy chỉ vì lời kêu gọi của con chưa được khéo léo đấy thôi. Con tự hứa một ngày kia, khi Thục đã hoàn toàn quý mến và tin cậy con rồi, con sẽ xin phép bà giám đốc Viện cô nhi và mẹ bề trên cho con được đón Thục vào thăm Thánh Mẫu Học Đường một lần. Biết đâu sự thăm viếng của Thục sẽ là một hình thức tốt để lôi cuốn sự chú ý của các chị vào mục đích tốt đẹp ấy. Lòng con đầy tin tưởng là con sẽ tiến tới được kết quả như ý muốn. Con xin mẹ hãy cầu nguyện Chúa cho con gìn giữ mãi được lòng tin ấy.

Bây giờ con xin kể cho mẹ nghe một vài mẩu chuyện vui về sự liên lạc giữa con và Thục. Tuần qua, nhờ 6 cái bon points về các môn Histoire, Géographic và Conjugaison des verbes con đánh đổi được lấy một quả cam. Con cất đi để dành tới chủ nhật đem vào cho Thục. Chị Yến hét lên:

- Tầm bậy tầm bạ! Cô không nhìn thấy cái bụng giun của nó đấy sao. Cái gì cô cũng chiều nó thì chỉ làm hại nó đấy thôi.

Con cãi:

- Nhưng cam lành!

- Ai bảo cô rằng lành?

- Các bác sĩ!

- Tầm bậy tầm bạ! Chả có bác sĩ nào cho phép đứa bụng giun sán ăn của ngọt cả.

- Nhưng ngọt kẹo khác mà ngọt cam khác.

- Ngọt cam còn tệ hơn là ngọt kẹo. Bởi vì cam có nước. Trẻ con uống nước ngọt vào có khác gì tống thuốc bổ cho giun ăn không? Tuần trước đó, cô không nhớ sao, con Nguyệt bên salle số 4 chỉ có uống nước sirop vào mà đi tiêu chẩy hai ngày liền.

- Sirop khác mà cam khác chớ!

- Chẳng có gì khác cả! Tôi cam đoan với cô như vậy. Về bệnh tật của chúng nó tôi biết quá mà. Dầu gì tôi cũng trông nom chúng nó cả năm, sáu năm liền...

Ông y tá Bình lúc đó đang xức thuốc lở cho mấy đứa ở cuối phòng, bỗng tự nhiên xen vào:

- Á à, thế là cô Yến định cướp nghề của tôi đó nhen.

Chị Yến đỏ mặt quay về phía ông ta trừng mắt nhìn:

- Việc gì đến ông mà ông xía vô công chuyện của người khác.

Ông Bình cười huếch hoác:

- Sao lại không. Tôi phải phản đối cái cách kiêng cữ vô lý của cô chớ. Cô Hạnh ơi, tôi thiết tưởng cô cho nó ăn cam được. Cam lành!...

Chị Yến giận dữ:

- Đừng có tuyên bố ẩu. Tôi mách bác sĩ trực bây giờ đó.

- Cô mách ai tôi cũng chẳng sợ, chỉ trừ mách má tôi...

Chị Yến cố giữ sự nhịn cười:

- Cái nhà ông này hay nhỉ! Cái gì ông cũng giở má ông ra. Đã thế tôi mách má ông thiệt cho coi.

Ông Bình dẫy nẩy lên:

- Ấy chớ! Tôi tấu cô. Tôi lậy cô. Cô mà mách má tôi thì tôi "chít"!

Chị Yến bật cười:

- Có mỗi một câu "tôi chít" mà cứ nói hoài.

- Chớ sao! Tôi thiết tưởng làm người ai mà không sợ chết.

Chị Yến mỉm cười tinh nghịch:

- Bộ ông sợ chết lắm hả?

- Sợ lắm chớ. Nhất là hồi này...

- Tại sao lại "Nhất là hồi này"...

Ông Bình nhìn chị bằng cặp mắt long lanh sáng ngời:

- Vì... vì... Hừm, vì gì thì cô cũng biết đấy.

- Ơ hay! Làm sao tôi biết được. Tôi có là ông đâu mà tôi biết.

- Thế thì bí mật quân sự. Nói ra thì... tôi chít...

- Cái nhà ông này hay thiệt. Thử "nhín" một lần coi?

Ông Bình làm bộ ngơ ngác:

- "Nhín" cái gì kia?

- Thì nhín cái câu đó.

Ông ta cười ranh mãnh:

- Bộ cô không thích tôi nói câu đó hay sao? Vậy thì tôi xin rút lại, tôi thề sẽ ném nó vô lò hấp, không bao giờ xài nữa.

- Thối chửa! Ông nói mặc ông chớ tôi can dự gì vô đó.

Ông Bình la lên:

- Trời! Cô nói chi đau lòng tôi quá vậy. Tôi thiết tưởng...

Chị Yến mỉm cười:

- Ông "thiết tưởng" cái gì...

- Tôi chả nói nữa...

- Tại sao định nói rồi không nói nữa...

- Tại tôi sợ!

- Sợ ai?

- Sợ cô!

- Tại sao sợ tôi?

- Vì tôi mà nói ra thì một là cô nổi giận lôi đình tống tôi một cái văng qua cửa sổ này mà hai là cô độn thổ chui xuống đất.

Mặt chị Yến đỏ rừ lên, chị la lối:

- Tầm bậy tầm bạ! Thôi tôi chẳng thèm nghe ông nói năng tầm bậy tầm bạ đâu...

Nói rồi chị bỏ đi một cách cuống quít và vội vã như không chịu đựng nổi cái nhìn thương mến của ông Bình chiếu thẳng vào đôi mắt long lanh của chị.

Lúc chị ấy đi rồi, con mới hỏi ông ta:

- Cháu cho nó ăn cam được không?

- Không được!

- Ủa, sao lúc nãy ông bảo được?

- Nãy khác, bây giờ khác.

- Sao kỳ cục vậy?

- Tại nãy cam nó ngọt bây giờ thì cam nó chua! Chua là không được!

- Vô lý! Làm sao ông biết quả cam này chua?

- Sao không biết. Tôi là tay tổ về chọn cam mờ! Hồi chưa có chiến tranh, tôi có cả một vườn cam. Cứ nhìn cái vỏ màu xanh ngăn ngắt, lại dầy tụp, lại có gân vàng, lại lấm tấm trứng quốc thế kia là chắc đến chín phần mười cam chua.

- Thiệt không?

- Không tin cô thử bóc ra coi.

Con nghe lời ông Bình, bóc ra nếm thử. Và, thưa mẹ, quả nhiên quả cam chua loét khiến con rùng mình và ê cả răng. Ông Bình cười ha hả, hai hàm răng của ông nhe ra như răng ngựa:

- Chịu thầy chưa?

- Chịu thầy!

- Vậy chia cho tôi một nửa. Tôi khoái ăn của chua. Giá bây giờ có khế mà gặm thì phải biết!

- Cháu biếu ông cả quả. Cháu sợ nhất ăn chua.

- Cô dở ẹc. Con gái mà không thích ăn quả chua thì cóc phải là con gái. Họ nhí nhót tầm ruột chấm muối ớt suốt ngày.

Vừa lúc ấy chị Yến đi vào, ông Bình bèn hỏi ngay:

- Phải không cô Yến?

- Phải cái gì?

- Tầm ruột đó, khế đó, cô thích không?

- Chèn ơi! Ông nói làm tôi nhễu nước miếng.

- Vậy đây! Mời cô nửa trái. Thứ cam này chua ác.

Chị Yến ngạc nhiên:

- Ủa! Thế không phải cam ngọt à?

Con bẽn lẽn:

- Dạ không, cam chua!

- Vậy mà các người xúi nhau cho trẻ nít nó ăn thì có chết người ta không.

Ông Bình la lên:

- Ai xúi?

- Còn ai nữa! Chính ông chứ ai.

- Tôi mà xúi trẻ nít ăn cam chua thì tôi chết!

Chị Yến cau mày giận dữ:

- Tầm bậy tầm bạ! Gì cũng thề, gì cũng thề... phỉ phui đi!...

Nói xong biết mình lỡ lời, chị lắc đầu quầy quậy và giơ hai bàn tay che kín khuôn mặt mắc cỡ của mình. Trong khi ấy ông Bình phun phì phì ra chung quanh và nói lia lịa:

- Phỉ phui! Phỉ phui!...

Cử chỉ của ông càng làm cho chị Yến mắc cỡ thêm. Hai tai chị đỏ ửng. Hai chân chị rẫy rụa dưới đất. Con có cảm tưởng như chị ấy muốn độn thổ, chui xuống nền nhà ngay lúc bấy giờ.

Một lát sau, khi ông Bình  đi khỏi thì chị Yến cũng vừa thay xong cho em Thục một bộ quần áo sạch sẽ và tươm tất. Con xòe tay ra đón Thục. Nó nhìn con như để đo lường mức độ tình cảm con đối với nó thế nào. Rồi bỗng nó giơ tay ra, cặp mắt nó sáng lên một nguồn ánh sáng linh động, vui mừng. Con sung sướng ôm chầm ngay lấy nó rồi bế nó ra đứng ở cửa sổ. Một nhánh Ngọc Lan xòe rộng với cành lá tươi tốt trải một màu xanh êm dịu dưới ánh nắng của một ngày cuối thu. Gió xào xạc trong vòm cây. Có tiếng chim truyền cành kêu chiêm chiếp nhỏ nhẹ như tiếng nói của những tâm hồn vô tư và trong sáng. Xuyên qua kẽ lá, thấp thoáng phía đằng xa là đường phố rộn rã của một buổi sáng chủ nhật đẹp trời. Trên vỉa hè, những tà áo mầu của những thiếu nữ bay rực rỡ như từng cánh bướm. Bầu trời xanh lơ thấp thoáng sau khóm lá có những cụm mây trắng bồng bềnh. Con giơ tay chỉ một con chim vành khuyên có bộ lông xanh mướt cho Thục nhìn thấy. Con chim ở ngay trong tầm tay với. Hai chiếc giò non của nó xinh xắn như hai cây tăm yếu đuối biết nhẩy nhót. Mắt Thục sáng lên nhìn. Nó ngắm con chim một cách chăm chú. Vẻ lờ đờ trong ánh mắt nhường chỗ cho một tia sáng tinh anh. Con rất sung sướng nhận thấy vùng cảm giác chai lì của nó đang bắt đầu giao động. Từ ngày con biết Thục, con chưa thấy Thục cười. Ô! Nụ cười của nó đối với con thật là đáng giá, thưa mẹ. Con nhất tâm sẽ tìm bằng được nụ cười ấy, cho dù có phải tổn hao nhiều tâm trí. Vì đó là nguồn vui của con. Ma soeur Félicité vẫn thường nhắn nhủ chúng con: "Hãy tìm kiếm cho cuộc đời của mình một chuẩn đích rồi hăng hái mà đi tới tận tình. Cuộc đời mà không có chuẩn đích thì khác nào con tầu đi giữa đại dương bão tố mà không có người lèo lái".

HẠNH    

____________________________________________________________________ 
Xem tiếp CHƯƠNG 7, 8, 9