Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2025

TRẬN ĐÒN HÒA GIẢI - Võ Hồng

Thấm thoát mà bốn năm đã trôi qua, kể từ ngày má mất. Năm nay Thủy đã lên bảy tuổi, Hào được mười tuổi còn tôi lên mười ba. Chúng tôi thương yêu nhau trong cái gia đình bé nhỏ, nhưng từ một năm trở lại đây nghĩa là từ khi Thủy bắt đầu đi học, sao giữa chúng tôi hay có sự lục đục. Thật ra, sự lục đục thường chỉ xảy ra giữa Thủy và tôi mà thôi. Hào thì vô tâm thượng hạng, không làm mếch lòng ai bao giờ nên nó như người đứng ngoài cuộc. Chỉ có Thủy và tôi là hay va chạm nhau. Chúng tôi là con gái khiến tôi cứ muốn vội vàng kết luận: con gái hay lắm chuyện. Tôi cũng cố tìm những lẽ để giải thích vì sao Hào nó có thể dễ dàng ăn ở hòa thuận với chúng tôi. Lẽ quan trọng, theo tôi nghĩ chắc là ngoài những giờ học ở lớp là nó ở ngoài đường nhiều hơn là ở nhà. Bạn của nó do đó mà đông lắm. Thằng Ánh láng giềng bên phải, thằng Mộc thằng Tâm láng giềng bên trái, một chuỗi những thằng Đức, thằng Kha, thằng Thạnh láng giềng ở trước mặt. Tùy thời tiết mà những thú chơi của nó thay đổi. Khi mưa, nước đọng ở vũng trước nhà, thì chúng ném đá và tạt nước vào nhau. Khi nắng to thì ngồi dưới bóng dừa kể chuyện phim Ấn Độ. Tháng ba tháng tư thì đứa nào cũng loảng xoảng những lon, những hộp, bắt dế, nuôi dế, đá dế. Tháng chín tháng mười thì rủ nhau ra ao bắt cá, những con cá bằng nửa que diêm - những con cá còn bú mẹ, như lời ba tôi nói đùa - đem về nuôi ở lon sữa và dàn ra từng hàng ở ngoài vườn dưới bóng cây ổi. Khi nghe tiếng xe ba nổ ở đầu phố thì nó lật đật chạy ù một mạch về nhà ngồi trước một quyển sách đã để thường trực ở bàn hoặc chạy tuốt ra sân sau giả vờ mới vừa đi tiểu. Tiếp theo, chị Hai dọn ăn và nó đi rửa tay một cách chăm chỉ, ngồi ăn ngon lành và nghiêm trang như một người rất xứng đáng. Thú chơi của nó không những không động chạm gì đến tôi mà ngược lại, nó còn làm cho tôi ham thích nữa. Tôi cũng bắt chước nó đá dế, bắn cung, bắn bi, gài bẫy dông...

Đối với Thủy thì không thế. Trước đây, khi Thủy còn bé thì tôi yêu Thủy lắm, nhưng sao Thủy như vẫn ít thân mật với tôi. Thủy có vẻ sợ tôi. Điều này tôi không muốn, nhất là ba thì càng không muốn lắm. Mỗi lần ba đi đâu về mà thấy vắng bóng Thủy là ba đã vội kêu "Thủy đâu rồi? Thủy ơi?". Tôi nhớ có một lần nghe ba gọi thế thì chị Hai, chị ở, vội thưa:

- Thưa thầy, Thủy mắc học với cô Hằng.

Ba bước thẳng lại phòng học, mở cửa nhìn vào. Thủy ngồi cạnh tôi, trrước một quyển vở để mở. Ba nói:

- Thủy nghỉ đi. Chiều rồi.

Nhưng Thủy vẫn im lặng. Tôi nhớ rõ đôi mắt ba chầm chậm nhìn sang tôi. Giọng nhẹ nhàng:

- Thôi, để cho em nó nghỉ.

Rồi ba dìu Thủy đứng dậy. Thủy bấu tay vào bàn không chịu dậy. Ba phải bế giật Thủy ra và nói đùa:

- Thôi mà, sao học chăm thế?

Tôi biết ý ba không vui lắm khi thấy Thủy sợ tôi. Tôi không bao giờ quên lời ba dặn riêng tôi:

- Đừng làm cho em sợ. Nên thương em nhiều hơn.

Tôi có nghĩ rằng ba thương Thủy hơn tôi và Hào. Tôi không ganh tị với Thủy điều này vì mọi người đều cho rằng cha mẹ cưng con nhỏ hơn con lớn. Con nhỏ cần sự âu yếm của cha mẹ hơn. Tội nghiệp, má mất hồi Thủy mới có ba tuổi. Tôi muốn nghĩ rằng ba thương Thủy hơn chúng tôi vì nó có nét giống má, còn Hào và tôi thì giống ba. Nhưng dù chủ quan đến đâu, tôi cũng phải công nhận là về hình thức thì ba rất công bằng. Có đồ ăn đồ chơi ba chia đều cho ba đứa. Nếu để tôi đứng chia thì thế nào ba cũng lấy phần của ba sớt thêm cho phần Thủy và phần Hào. Để khỏi làm mếch lòng tôi, ba nói:

- Để chia thêm cho em. Ba lớn, ba không thèm nữa.

Biết tính ấy của ba nên Hào và Thủy thỉnh thoảng cũng lợi dụng, nhất là những khi tôi vắng mặt. Vào bữa ăn, khi có tôi cùng ngồi thì hai đứa ngoan ngoãn lắm. Kỳ nghỉ hè vừa rồi, một mình tôi về thăm quê mười ngày. Lúc vào, tôi nghe chị Hai bảo:

- Không có chị trong nầy, Hào và Thủy ăn hiếp ba dữ lắm. Hai người nói chuyện liến thoắng trong bữa ăn và những món nào ngon là ăn vã kỳ hết.

Sợ tôi kịp tỏ một thái độ bất lợi cho hai đứa, ba gọi cả hai lên phòng ba.

Có lẽ vì biết ba có biệt nhãn đối với mình nên Thủy thỉnh thoảng cứng đầu với tôi. Đọc bài lí nhí mà bảo đọc to thì không chịu nghe nếu tôi nói hơi xẵng giọng. Tôi tức, nhắc lại đôi lần và Thủy tự ái, Thủy cứ ngồi lì, mặt sụ xuống. Tôi cáu, tát cho một cái là Thủy òa ra khóc, khóc kéo dài đợi cho đến lúc ba về. Kể cũng nặng nhọc khi, có lần nhìn đồng hồ còn những một giờ rưỡi nữa ba mới về. Tôi đâm ra thương hại Thủy, ngồi dỗ cho Thủy nín nhưng Thủy vẫn không nín. Lúc ba về, ba đưa mắt nhìn cái quang cảnh mệt mề bất ổn ấy rồi lặng lẽ vào phòng riêng khóa cửa lại. Tôi muốn ba lên tiếng rầy la tôi đi để tôi có dịp trả xong món nợ, để cho Thủy hài lòng mà im tiếng thút thít. Đằng nầy ba im lặng là làm khổ cho cả hai đứa chúng tôi. Tôi lo không biết ba sẽ có một lối phạt nào nặng hơn tiếng ba rầy. Chắc Thủy cũng lo vì ba không tỏ ra tán thành Thủy lắm. Lúc ngồi lại bàn ăn, ba lặng lẽ ăn. Chừng được nửa bữa, trái với sự dự đoán của chúng tôi, ba quay sang Thủy:

- Bữa sau con đừng khóc nhè như vậy nữa. Anh chị có đánh mắng cũng chỉ vì thương em, muốn dạy dỗ em. Chị Hằng thương con bao nhiêu con có biết không? Con đâu có biết được rằng những ngày đầu ở Đà Lạt, khi ba má mới hồi cư, chị Hằng phải bế con khi nhà chưa thuê được người ở. Lúc bấy giờ con còn nhỏ con đâu có biết sự trìu mến nhọc nhằn của chị đối với con. Đáng lẽ con phải thương chị trở lại và cám ơn chị mãi. Đằng này con làm trận với chị là ý con muốn ba đánh mắng rầy la chị. Sao con nỡ như vậy?

Nghe năm chữ sau cùng được nói với một giọng trầm trầm chậm rãi, tôi cảm động và thấy mình có lỗi hơn là em tôi. Ba khéo sắp đặt để cho lời khuyên đứa này còn có thể gián tiếp khuyên đứa kia. Ngừng lại một giây, ba tiếp:

- Chính Thủy hay nhắc đến lời khuyên của má khuyên ba đứa con: "Chị em phải thương yêu nhau". Má biết má sắp mất bỏ lại ba đứa con bơ vơ nên má mới khuyên ba con đùm bọc nhau như vậy.

Dường như cảm động, ba không nói nữa. Tôi muốn chạy ôm ba tôi để xin lỗi, hôn em tôi để làm lành nhưng tôi vẫn ngồi im. Tôi đọc trong những quyển sách tập đọc, tôi xem trong những phim, thấy vào những trường hợp tương tự, một người con gái Âu Mỹ sẽ làm như vậy.

Việc xảy ra như thế làm êm dịu không khí giữa chị em tôi trong đôi tuần. Sau đó, thế nào chúng tôi cũng có những dịp để không hài lòng nhau. Tính tôi cũng dễ cáu. Có lẽ là do cái không khí cô đơn trong đó chúng tôi sống. Ngoài những lúc đi làm vắng mặt, còn khi về nhà ba hay im lặng. Muốn làm vui chúng tôi, ba chỉ có thể kể chuyện, kể chuyện linh động gần như đóng kịch, vào những giờ ăn. Tôi biết đó là một sự cố gắng lớn vì sau một buổi làm việc, trông ba có vẻ nhọc lắm. Ba biết những câu chuyện mà chúng tôi thích. Thích nhất là chuyện ngày xưa của chúng tôi. Ba kể khi tôi còn nhỏ chị ở tên là Rau bế lại trường má tôi dạy. Tôi thấy má, mừng quá hét to lên khiến mấy anh chị học sinh ngạc nhiên quay lại. Ba kể khi chị Rau bế tôi làm té, má chạy lại ôm lấy tôi vừa xoa vừa khóc nức nở khiến tôi đang ngơ ngác không biết việc gì mới xảy ra nhưng thấy má khóc cũng vội khóc theo. Những kỷ niệm xưa, tôi nghe kể mà thèn thẹn một cách lý thú êm dềm. Thèn thẹn vì ba kể hết những nỗi khổ của thời giặc giã mà không giấu giếm. Êm đềm vì tôi cảm thấy sự âu yếm mà ba má đã dành cho tôi. Trong những kỷ niệm về tôi ba phải nhắc đến má. Giọng vẫn bình tĩnh nhưng thỉnh thoảng tôi thấy mắt ba nhìn ra xa. Rồi giữa lúc đang nói bỗng ngừng lại không nói nữa khiến chúng tôi ngạc nhiên. Tôi đoán biết lý do nên cúi xuống chén cơm mình. Thằng Hào dại hơn, lên tiếng giục:

- Rồi sao nữa ba, nói tiếp đi.

Thủy thế mà tinh ý. Thủy nói:

- Chắc ba nhớ má...

Khi Hào đòi ba kể chuyện ngày xưa của nó, ba kể lúc má dời nhà lên Trung Lương. Hào đi theo mấy người học sinh của má, nào là chị Thỏa, chị Lang đi chăn bò. Nhưng để thay đổi không khí, đối với Hào ba hay kể chuyện tương lai. Ba kể một ngày kia thằng Hào mặc bộ com-lê, mang giày da đen và hút xì-gà. Nó đi nghênh ngang bước vào nhà miệng huýt sáo. Tức thì con nó nhảy bổ ra và reo lên "Ba về! Ba về".

Nghe đến những đoạn này, Hào như bị người cù vào nách không chịu được phải bật cười, cười lý thú vì những chi tiết ba kể thường nịnh theo cái mộng hiên ngang của nó. Ba ít nói đến những kỷ niệm về Thủy. Tôi nghĩ mãi mới tìm ra lý do. Những kỷ niệm về Thủy thường tôi và Hào đều biết. Khi ba gợi đến thì thường ba để cho tôi và Hào giành nhau nói tiếp. Buổi tối, ba chơi với Thủy và Hào một lát rồi vào phòng riêng. Chỉ những ngày nghỉ rỗi rãi là bốn cha con quây quần lâu hơn ở xa lông. Ba coi tôi như đã lớn nên khuyên dạy nhiều hơn chơi đùa với tôi. Đó là một lý do khiến tôi thấy mình cô đơn. Tôi mất đi một phần lớn tuổi thơ. Nhưng dù vậy, so với cái cô đơn của ba, tôi thấy tôi còn được sung sướng hơn nhiều. Quả tình ba đã hy sinh cho chúng tôi. Điều này tự tôi không biết, phải có nghe những người khác nói mới biết được.

Kỳ nghỉ hè trước ba cho chị em chúng tôi về quê ở Phú Yên chơi. Khi trở lại Nha Trang, ba hỏi:

- Các con có vui được nhiều không?

- Vui lắm. Vui lắm.

Chúng tôi đứa nào cũng lật đật trả lời và tranh nhau kể những thú vui. Những thú vui gần giống nhau: được thấy con sông, cái cầu ván, bầy bò và thằng chăn bò, vườn chuối, bờ tre, cây đa... mà chúng tôi thường đọc trên những trang sách nhưng không tưởng tượng ra được.

Tôi nói:

- Nhưng phiền một nỗi là con đi đâu họ cũng hỏi ba đã...

-... lấy vợ chưa. Phải không?

Ba tôi ngắt lời và mỉm cười nhìn chúng tôi. Chúng tôi cũng mỉm cười gật đầu. Ba tiếp:

- Ba biết trước những câu người ta đã hỏi các con. Đại khái như thế này: Sao ba không về thăm?... Ba đã lấy vợ chưa? Sao không bảo ba lấy vợ?... Lương ba mỗi tháng bao nhiêu? Ba đã giàu chưa? Con có nhớ má không?...

Thật đúng y những điều người ta vẫn hỏi tôi. Có một điều nữa tôi chắc chắn là ba biết nhưng ba không nói. Đó là, thế nào rồi cuối cùng người ta cũng chép miệng:

- Tội nghiệp má con hồi xưa...

Người nào cũng thương yêu quí mến má. Có nhiều bà lấy khăn chặm nước mắt. Tôi sung sướng muốn nói lời cảm ơn bà. Ba tôi tiếp:

- Sang năm, các con về nghỉ hè, người ta cũng sẽ hỏi lại những câu đó. Vậy ba sẽ thuê in sẵn những câu trả lời để khi gặp ai bắt đầu hỏi: "Sao ba con... " thì con hãy giơ tay ngăn lại vừa móc túi lấy tờ giấy in trao lại cho họ vừa thưa: "Con đã biết rồi. Xin ông (hay bà) đọc những lời phúc đáp dưới đây".

Biết ba nói chơi nhưng tôi vẫn hỏi:

- Ba phúc đáp những gì?

- Dễ lắm. Sẽ in như thế này:

1) Ba con bận quá không về quê được.

2) Ba con chưa lấy vợ.

3) Vừa đủ tiêu thôi.

4) Còn túng lắm.

5) Nhớ lắm ạ, nhất là những khi nhìn lũ con người ta có má săn sóc vuốt ve hay dẫn đi phố, đi xi-nê.

Mùa hè thong thả êm đềm, chúng tôi quây quần bên cạnh nhau. Tôi không bị những bài học khó làm quấy rầy. Thủy cũng vậy, nên chúng tôi không có gì để hục hặc nhau. Đã thế ba lại có nhiều thì giờ để săn sóc chúng tôi hơn nên chúng tôi cảm thấy cuộc sống vui vẻ dễ chịu. Nhưng mùa hè nhẹ nhàng trôi qua và chúng tôi bận rộn trở lại. Mùa học bắt đầu. Thủy và tôi bắt đầu va chạm nhau. Những nguyên nhân thật hết sức vẩn vơ. Hoặc tôi giật mạnh quyển sách, hoặc tôi cau mày (lỗi này tôi thường mắc nhất) khi bảo Thủy làm gì. Thế là Thủy hờn dỗi. Có khi ba về kịp lúc Thủy đang hờn dỗi, có khi ba về chậm hơn mãi đến khi tôi đã lỡ đánh rồi. Thật là phiền khi ngững sự việc đáng tiếc này xảy ra rồi tôi mới thấy là đáng tiếc. Vô ích hết sức là những cơn giận dỗi như vậy. Và tôi khó chịu khi thấy rằng cơn giận nào cũng giống nhau, giống đến mức nó làm cho tôi ghê tởm vì sự nhàm của nó. Lần này Thủy mới bắt đầu khóc thì ba về. Tôi biết thế nguy vì mới khóc Thủy còn dư năng lực để khóc to. Tôi lo xa, ngồi thủ thế ở góc giường, tay cầm quyển sách. Ba thay áo xong bình tĩnh lại đứng bên Thủy dỗ. Phải mất năm phút sau Thủy mới nín. Ba đưa Thủy lại thau rửa mặy rồi dắt Thủy lên phòng. Bữa cơm trôi qua im lặng, ai lo phần nấy. Sau bữa cơm, ba lên giường. Một lát sau, tôi nghe tiếng cửa tủ mở và ba lục lọi gì trong ấy lâu lắm. Buổi xế khi ba đi làm rồi, tôi lẻn vào phòng ba để tìm xem động tĩnh nhưng chẳng có gì lạ, có gì thay đổi. Vẫn cái khung cảnh quen thuộc của giường, của bàn, của tủ sách, của tủ áo. Chỉ có sự lộn xộn của những chồng sách đặt trên bàn là không khi nào giống nhau. Chiều đó, ba bước xuống phòng tôi tay cầm một ảnh khổ 6x9. Ba để dựng lên bàn học của tôi vừa êm đềm nói:

- Con giữ ảnh này, để luôn luôn trên bàn này.

- Ảnh gì đó ba? - Tôi lật đật hỏi.

- Con xem sẽ biết.

Nói xong, ba đi ra. Hào và Thủy nghe nói có ảnh nhảy bổ vào xem.

- Chị cho em xem thử.

- Cho em xem với, chị Hằng.

Ba chị em châu đầu vào bức ảnh. Đó là bức ảnh chụp mộ má. Ba ngày sau khi chôn cất má xong, ba đặt cho thợ xây mộ. Khi mộ hoàn thành ba đưa chị em ra thăm. Hôm đi, có cả ông vừa ở Phú Yên vào. Một bức ảnh được chụp để ba gởi đến các bà con phía má. Trong ảnh, ba đứng một bên mộ, ông đứng một bên. Hào đứng cạnh ông, tôi đứng cạnh ba. Thủy nhỏ quá, ba phải bế đứng lên thành mộ, gần bên ba. Ba chị em đều mặc áo tang. Màu trắng của áo quần tang nổi lên nền đen của ngọn núi đàng sau. Mặc áo tang vào, trông đứa nào cũng lụng thụng, thật đáng thương hại. Nhất là khi quen mắt với quần áo mặc hàng ngày là kỹ, thẳng nếp. Đã thế, mặt đứa nào cũng đờ ra. Hào đứng thẫn thờ buông xuôi hai tay như người chán đời. Thủy cúi nghiêng mặt để tránh mặt trời chói. Còn tôi thì tóc bay phờ phạc trước trán như một đứa trẻ ốm dậy. Thấm thoát mà thời gian qua mau làm sao. Tưởng chừng má mới mất khoảng mấy tháng nay thôi, sự đau xót còn thấm thía như một vết thương chưa lành kịp. Ấy thế mà bốn năm đã trôi qua. Nhìn lại bức ảnh mới thấy ba chị em bé bỏng đến tội nghiệp, đến buồn cười. Giá mà nhìn thấy ảnh này, chắc má ôm chầm lấy ba chị em mà òa ra khóc.

Có tiếng giày của ba xéo trước hiên, rồi ba bước vào phòng. Hào nhanh nhẩu hỏi:

- Cái ảnh này ba cất ở đâu bấy lâu nay, hở ba?

- Ba cất trong tủ.

Rồi vội vàng như sợ một đứa nào trong chúng tôi đưa ra những câu hỏi vẩn vơ, ba nói:

- Có nhìn vào bức ảnh, ba đứa con mới nhớ rằng mình cùng chung một nỗi đau khổ lớn, nỗi đau khổ mất mẹ. Người nào cũng khổ, khổ như nhau, thế mà mình còn tìm cách để làm khổ thêm anh chị em mình, nghĩ thật là vô lý. Thương yêu nhau bao nhiêu, đùm bọc nhau bao nhiêu cũng đã bù lại được chưa, tình yêu của người mẹ mà các con thiếu?

Ba ngừng nói, đi đi lại lại trong phòng.

- Trí nhớ của chúng ta vốn rất bạc bẽo. Các con lớn lên, nên vai nên vế, mỗi người có bạn bè riêng tư, có mối lo lắng và vui vẻ riêng tư... nên các con dần dần quên nghĩ đến nhau. Mối đau khổ chung của ngày mất mẹ xóa nhóa dần đi, lòng ích kỷ lớn lên...

Tôi sửa soạn cất tiếng cãi; "Không phải! Mối đau khổ không xóa nhòa được đâu, lòng ích kỷ... " nhưng ba đã vội giơ tay ngăn lại:

- Con cứ yên tâm đừng vội cãi. Cứ nghe rồi suy nghĩ đã. Ba đặt bức ảnh nơi đây để nhắc nhở mấy con, nhất là con, mỗi khi có điều gì đáng giận nhau thì hãy nhìn vào trước khi giận. Các con sẽ thấy lại một em Thủy bé bỏng, một em Hào ngơ ngác và một chị Hằng thẫn thờ, cả ba đều chịu chung cảnh mồ côi má từ thuở thơ ngây đó cho đến suốt đời. Cả ba đều khổ. Hãy thương yêu nhau.

Ba nhẹ nhàng bước ra. Còn lại ba chị em, chúng tôi im lặng, không nói gì với nhau được một lời. Bức ảnh để trên bàn tôi hơn một tuần. Quả tình mỗi lần nhìn nó, lòng xót thương của tôi đối với má, đối với hai em, đối với ba và cả đối với tôi nữa, nhức nhối như một vết thương vật chất. Sau một tuần, vì thấy bàn học tôi lộn xộn sách vở, sợ để mực giây bẩn vào ảnh nên tôi lẻn đem bức ảnh đặt lên bàn ba. Ba không phản đối.

Không khí hòa bình kéo dài có lẽ chừng một tháng, Thủy và tôi lại xung đột nhau. Tính Thủy hay hờn dỗi mà một khi đã hờn dỗi rồi thì nói thế nào cũng không chuyển. Cứ đứng lì như một bức tường. Tức quá tôi "bốp" cho một cái thì òa ra khóc. Hào cũng bắt đầu tỏ ý khó chịu về tính lì của Thủy nhưng Hào chỉ đứng nhíu mày nhìn rồi khinh khỉnh bỏ đi. Chỉ có một mình tôi là thỉnh thoảng hay "bốp" mà thôi. Những vụ xung đột nhỏ, ba phải giải quyết vào bữa ăn. Khi tự bào chữa, tôi hay đem Hào ra làm chứng:

- Ba hỏi thằng Hào coi. Tại Thủy nó lì quá, con bảo không được.

Ba quay sang Hào:

- Sao? Thủy nó lì hả?

Hào gật đầu.

- Gật đầu là cái gì? Hoặc là có, hoặc là không, phải nói cho ba biết với chớ.

Bị chạm tự ái bất ngờ, Hào tịt luôn không nói. Thành ra đáng lẽ rầy chứng lì của Thủy ba lại quay sang rầy chứng lì của Hào.

Một buổi sáng, ba dậy trễ vì đêm trước có khách nói chuyện khuya. Ba phải vội vã rửa mặt và vừa ăn sáng vừa thay áo. Khi ba hỏi đến Thủy thì thấy Thủy đứng im ở hiên, không cho chị Hai chải tóc và không chịu ăn sáng để đi học. Nguyên nhân chỉ vì khi cắt bánh mì chia phần, tôi không đặt tử tế trước mặt Thủy mà chỉ ném sang. Mẩu bánh mì rơi xuống ghế, Hào phải nhặt lên. Thế là Thủy không ăn nữa. Đến giờ đi làm, ba bước qua phòng ăn vừa dặn với vào:

- Hằng dỗ em một chút cho em ăn rồi nhớ đưa em đi học. Coi chừng chớ trễ giờ rồi đấy.

Trưa về, ba vội vàng hỏi:

- Thế nào? Sáng nay Thủy có bị trễ giờ không?

Không ai dám trả lời. Hào và tôi mỗi đứa cầm một quyển sách ngồi trước bàn. Thủy đứng gần ở cửa sổ. Mãi sau cùng chị Hai lên tiếng:

- Thưa thầy sáng nay Thủy không đi học. Chải tóc Thủy không cho, đưa bánh Thủy không ăn.

Tôi đợi chờ cơn giận của ba vì việc Thủy nghỉ học không xin phép sẽ gây cho ba nhiều sự quấy rầy, nhà trường sẽ viết thư hỏi lý do, ba sẽ phải trả lời trực tiếp hoặc bằng thư. Nếu lấy cớ bệnh thì phải có giấy chứng nhận của bác sĩ, chứng nhận bệnh khi nghỉ và chứng nhận mạnh nếu muốn đi học lại. Phiền nhiễu thế mà một mình ba thì đâu có đủ thì giờ để lo cho khắp.

Tôi lắng nghe tiếng chân ba giận dữ bước xuống phòng chúng tôi:

- Cũng tại con Hằng hết. Biết tính em nó vậy, sao còn hay chọc em làm gì?

- Con đâu có chọc? Con lỡ tay làm rớt mẩu bánh mì. Ba cưng nó thành ra động một tí là nó làm trận với con.

- Ba không cưng đứa nào hết.

- Ba cưng rõ ràng. Thằng Hào nó cũng biết.

- Hào, mày nói nghe. Ba có cưng con Thủy không?

Hào ngồi im không nói. Tôi lại phải lên tiếng:

- Thằng Hào bây giờ cũng ghét con Thủy rồi. Thứ gì mà động một chút là đã làm bộ. Thằng Hào nó đã tẩy chay không thèm chơi với con Thủy nữa.

Ba quay lại hỏi Hào:

- Phải vậy không?

Hào vẫn im lặng không nói. Tôi tiếp:

- Trước kia ba cũng biết, thằng Hào nó thương con Thủy nhất nhà. Đi đâu nhặt được cái gì nó cũng đem về cho Thủy. Ăn món gì cũng nhớ để phần cho Thủy. Bây giờ nó ghét rồi, nó ghét rồi.

- Như thế này thì quá thật.

Giọng ba run lên:

- Thủy.

Tiếng ba gọi to làm ai nấy giật mình, và ba đi lại chỗ Thủy đứng, nắm lấy tay Thủy. Tôi vẫn giận dữ nói tiếp:

- Ba không bao giờ đánh nó nên nó dễ ngươi. Ba chỉ đánh con và đánh thằng Hào. Thằng Hào nó trông cho ba đánh con Thủy một lần cho nó coi thử.

- À!

Tiếng ba gằn xuống. Ba lại gọi to:

- Thủy.

- Dạ.

Giọng Thủy vẫn lanh lảnh như thường ngày, không tỏ một chút cảm động nào khác.

- Con ăn ở xấu xa nên chị Hằng và anh Hào đều ghét. Ai cũng muốn cho ba đánh con. Vậy ba phải đánh. Chị Hai đâu, bẻ cho tôi con roi. Chị Hai "dạ" nhưng nấp mãi ở đâu không thấy đem roi lên. Ba đi thẳng ra bờ giếng bẻ phăng một cành chùm ruột rồi vội vã đi vào.

- Ăn ở xấu đến nỗi chị cũng muốn đánh, anh cũng muốn đánh như thế là đã quá lắm rồi. Thủy!

- Dạ.

- Nằm xuống giường.

Thủy ngước nhìn ba với đôi mắt tròn, không biết ba nói thật hay nói đùa.

- Nằm xuống.

Ba nhắc lại. Thủy leo lên giường, nằm ngửa ra, nhìn ba. Môi nhếch lên, phác một dáng cười gượng. Ba giơ cành chùm ruột quất một roi mạnh. Mặt Thủy lộ vẻ ngạc nhiên. Ba giáng thêm liên tiếp hai roi nữa. Đau quá, Thủy bật khóc ồ lên, khóc to, khóc ngon lành. Ba vừa quất vừa nói:

- Phải đánh thật đau cho con chừa. Cho anh chị con bằng lòng.

Mỗi lần giáng xuống, roi gãy cụt một đoạn vì cành chùm ruột trông sù sì dễ sợ nhưng giòn lắm. Cuối cùng, ba vất mẩu roi còn lại ra sân rồi bước lên xa-lông. Thủy vẫn nằm ngửa khóc to, nước mắt chảy ràn rụa. Chị Hai đứng ở khe cửa ái ngại nhìn vào, hai giọt nước mắt lăn trên gò má. Thủy được chị yêu nhất trong ba chúng tôi. Thường ngày chị săn sóc Thủy chu đáo trìu mến như con của chị. Lặng lẽ, chị vào bế Thủy dậy và đưa ra thau rửa mặt.

Lần đầu tiên Thủy bị đòn! Tôi nghĩ thương hại hết sức khi ba bảo Thủy nằm xuống, Thủy ngây thơ tưởng là nằm ngửa như khi nằm ngủ. Thủy đã biết đâu là khi nhận đòn người ta phải nằm sấp xuống. Tội nghiệp nữa là Thủy tưởng là ba nói đùa, đến chừng roi giáng xuống đau quá mới bật khóc và mới biết rằng thật. Có tiếng xì mũi bên cạnh. Tôi quay sang thì thấy Hào nước mắt lưng tròng. Tôi hỏi nhỏ: "Sao mày khóc?" nhưng nó lắc đầu không nói. Một lát sau, tiếng xì mũi mạnh hơn và khi quay lại, tôi thấy mặt nó đã có hai dòng nước mắt chảy dài. Nó lẳng lặng bước ra hiên, lưng rung rung vì những tiếng nức nở nó cố giữ cho khỏi buông ra. Đôi chân nó kéo lệch xệch trên đất. Nó đi men theo mép tường, sát quá và bước chậm quá nên khiến tôi có cảm tưởng là nó bò lên mặt tường. Khi nó đã ra ngồi trước hiên rồi thì tôi nghe rõ tiếng khóc ri rỉ. Tiếng khóc đã làm ba lưu ý. Tôi nghe ba lăn trở trên giưòng và cuối cùng tiếng giép của ba kéo lê đi từ giường lại chiếc cửa sổ tròn trổ ra hiên. Đứng ở đó một lát ba đi vòng qua xa lông mở cửa trước. Ba đứng trước mặt nó hỏi:

- Sao? Ba đánh Thủy như vậy con có bằng lòng chưa?

Hào không nói.

- Hay là con chưa bằng lòng?

Hào òa ra khóc lớn, tiếng khóc ấm ức. Ba lặng nhìn một giây rồi đi trở vào, lại nằm xuống giường.

Trong khi đó, chị Hai đã bế Thủy lại ngồi ở ghế trước mặt tôi. Mặt Thủy qua cơn kinh ngạc đau đớn đã trở lại bình tĩnh. Tuy vậy, còn có một vẻ gì phảng phất bâng khuâng. Tiếng khóc tỉ tê của Hào ở mái hiên vọng lại khiến Thủy quay đầu lắng nghe. Tôi để ý nhìn vành tai và mái tóc nơi ót của Thủy quay về phía tôi. Chợt tôi bàng hoàng như mình vừa trông lầm: quả là vành tai và mái tóc của má tôi ngày xưa. Vành tai đầy đặn trắng và cái ót trắng, phất phơ bay những sợi tóc mịn màu nâu. Tôi nhớ tôi đã ngồi nhìn mãi không biết chán cái tai ấy, cái ót ấy khiến có lần má quay lại hỏi:

- Con nhìn gì chăm chăm thế?

Tôi ngượng nghịu trả lời:

- Con yêu cái tai và cái ót của má quá.

Má tôi cười, ôm tôi hôn và nói:

- Chỉ yêu có thế thôi à? Chắc là mặt má, mũi má con ghét...

- Không, không. Con yêu hết, con yêu...

Câu nói của tôi tắt nghẽn vì má của má áp ngay vào môi tôi.

Lạ thật, mãi hôm nay tôi mới để ý đến vành tai và cái ót của Thủy. Tôi đưa mắt nhìn sang đôi má trắng hồng bầu bĩnh của Thủy, nhìn vào đôi môi đôi mắt. Quả Thủy có những nét giống má, quả Thủy là hình ảnh của má gợi lại cho chúng tôi. Thế mà tôi lại đi hành hạ cái hình ảnh thân yêu ấy. Thật vô lý. Vô lý.

Tôi lắc đầu như cố phủ nhận những hành động sai lầm của tôi trước đây. Tôi hối hận. Tôi muốn kêu lên:

- Má ơi!

Và hai giọt nước mắt không biết từ lúc nào trào ra khỏi mi tôi, chầm chậm lăn trên má tôi, tôi không buồn lấy tay lau đi nữa.

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2025

XE LỬA MỸ BUNG VÀNH - Bình Nguyên Lộc

 
Mùa mưa thì cố nhiên là ngày nào cũng có mưa. Nhưng Hoạt lại tức mình sao hôm nay trời lại mưa. Chàng lẩm bẩm: "Cũng có những ngày tạnh ráo hiếm hoi trong mùa, tại sao hôm nay lại không là một ngày hiếm hoi đó ?".

Hoạt tức là vì hôm đó là một ngày buồn rầu đối với chàng. Mưa càng làm cho nỗi buồn ấy thấm thía hơn.

Chàng vừa rời bến đò và hình ảnh những đò ngang chèo tay, hình ảnh đò máy, hình ảnh con sông Cửu Long dậy sóng, hình ảnh lờ mờ của khối cây xanh trên cù lao Rồng, tất cả những thứ ấy đều mang vẻ gì thân mến nhưng chàng lại phải rời nó mà đi xa.

Chàng đi dưới cơn mưa lấm tấm để đến cửa nhà ga cách đó năm mươi thước.

Mấy anh phu xích-lô đổ khách xuống, còn ngồi chơi trước ga, nhìn chàng cười và nói:

- Chuyến chót phải không thầy ? Thôi vĩnh biệt !

Hoạt bị xúc động mạnh trước cuộc giã từ đùa cợt ấy, y như là nghe người thân quyến tiễn biệt chàng. Mấy anh phu nầy, ngày nào chàng cũng thấy mặt, không nghĩ gì về họ cả. Nhưng hôm nay...

Những tiệm phở, tiệm cà-phê bên kia phố, trước ga, với những cô chiêu đãi viên xinh xinh cũng dường như vẫy tay nói vĩnh biệt.

Hoạt thở dài lẩm bẩm:

- Chuyến chót ! Chuyến chót của đời mình !

Chàng sẽ được thuyên chuyển đi miền Trung để tiếp tục soát vé, nhưng đời chàng, chàng nghe rõ rệt là đã mọc rễ trên đường xe lửa Mỹ nầy rồi.

Hoạt bước vào ga. Ga trống như sa mạc ! Người ta không biết chuyến chót trong đời xe là mấy giờ, sợ hỏng chuyến mà thất công, nên đi xe hơi đò cả rồi.

Thầy bán vé ngồi ngáp vặt, trong khi vợ con thầy thu dọn đồ đạc riêng, để về vườn hay để nhờ con tàu cuối cùng chở lên Sài Gòn ?

Hoạt vào cửa trong để ra xe. Chiếc xe hôm nay vắng khách mà dài làm sao ! Bao nhiêu vật liệu cần được chở đi Sài Gòn kia mà !

Mấy thằng bé bán kẹo, bán bánh, không tìm ra khách hàng, rượt bắt nhau từ goong này qua goong khác, rổ quà khiêu vũ trên tay chúng một cách tài tình.

- Chuyến chót tụi bây ơi, giỡn cho đã thèm ta !

Bãi trường, dọn nhà, đấy là những nỗi buồn của chàng thuở bé lúc rời trường làng, lúc rời trường tỉnh, lúc rời quê.

Chàng nhìn con sông Cửu Long qua cửa sổ rất lâu, để ghi hình ảnh đại giang với những chiếc ghe thương hồ ấy vào trí nhớ của chàng.

- Chuyến chót !

Ai cũng nói như thế cả, từ những nhân viên xe lửa đến mấy người hành khách lẻ loi. Mấy người nầy nhìn cái kết của chàng như để đoán những ý nghĩ ẩn núp sau đó. Họ như hỏi: "Thầy soát vé nầy buồn hay vui, sẽ thất nghiệp chăng ?"

Đây là những hành khách quen, vài công chức, và quân nhân. Hoạt tin chắc là họ cũng nao nao buồn, nhưng họ chỉ buồn vậy thôi, vì họ là khách qua đò. Người chèo đò mới nhớ cây đa bến cũ.

Hoạt nhìn quanh chàng. Những nhà cửa, đường rầy, hàng rào, đã mấy mươi năm thuộc vào chân trời nầy, ngày kia sẽ không còn nữa. Chàng có trở lại đây cũng sẽ không tìm thấy một dấu vết cỏn con nào của nhà ga nầy cả.

Hàng me ngoài hàng rào ủ rủ sầu như kẻ ở khóc người đi, mà người đi này lại không bao giờ hy vọng trở lại cả.

Bây giờ mưa đã dứt hột. Vài người lưa thưa từ đâu phía trong đổ ra sông. Đây là những người hiếu kỳ và đa cảm, đến đó xem chuyến xe cuối cùng ra sao, và để cảm động chơi, vì buồn cũng thú vị lắm thay !

Tuyn... tuyn... tuyn...

Xe chuyển mình bò tới chậm chậm. Tự nhiên, không ai bảo ai, từ nhân viên trên xe, đến hành khách đều đưa tay ra khỏi cửa sổ để vẫy giã từ những người đứng bên kia phố. Những người nầy cũng khoát tay từ biệt.

Mấy thằng bé bán quà, nhảy xuống xe hát điệu Tạm biệt, bởi vì chúng không có điệu Vĩnh biệt để mà hát cho đúng cảnh.

Kho bạc, Hải quân, dinh Tỉnh trưởng, tất cả những thứ ấy lui lại sau lần lần.

Hồ nước ngọt, rồi đến những xóm nhà lụp xụp rồi cánh đồng...

Thôi vĩnh biệt !

Hoạt cầm cây kềm cắt vé, đứng ngó mông ra cánh đồng trơ trọi mà hôm nay chàng thấy là đẹp và lưu luyến hơn bao giờ hết.

Chàng biết rằng lát nữa đây, chàng sẽ buồn đứt ruột khi đi ngang qua trạm X.

Gần một năm nay cái trạm xép nghèo nàn ấy đối với chàng là cả một bầu trời thơ mộng. Trạm cất bằng gỗ, lợp lá, vách tre đan, quét cứt trâu. Trạm ngăn làm hai căn, một căn để bán vé, còn căn kia thì dùng làm nhà ở cho trạm trưởng và gia quyến của y. Vợ trạm trưởng là một bà vợ tháo vát, nên chi bà ta đã biến căn nhà thành ra một tiệm chạp phô, trong chưng bày vài tỉn nước mắm, vài bao nhang, mấy chai nước ngọt và dầu hôi, xà-bông, lăng nhăng mấy thứ nữa.

Trạm trưởng là một người đàn ông lối năm mươi, đầu bới tóc như bất kỳ đờn ông nào ở thế hệ trước. Bà vợ ăn trầu, xỉa một cục thuốc sống to bằng trái cau tươi.

Nhưng cô con gái của họ lại xinh đẹp như không phải con của hai người nhà quê đó. Chỉ ăn mặc bà ba lèn xèn thôi, nhưng cô ta có vẻ gái chợ chớ không phải thôn nữ chút nào.

Sáng nào cô cũng chở hàng bông lên chợ An Đông cả. Xe ngừng nơi trạm đó chỉ có hai phút thôi mà cô bé phải đưa lên xe hàng chục giỏ đồ nặng, nên hôm nào cô ta cũng vội vàng và hì hục, lên xe xong gò má cô ta đỏ lơ đỏ lửng, vì mệt, trông như má trẻ con còn bú, cứ thấy muốn cắn vào đó.

Sắp các giỏ hàng ngay hàng thẳng lối rồi, cô bé đứng thở một hơi cho hết mệt, rồi bắt đầu nói chuyện huyên thiên. Mà cô ta ăn nói có duyên quá nên mắt ai cũng cứ nhìn dính vào hai cái môi hơi dầy của cô ta.

Tất cả nhân viên trên xe đều phạm lỗi với sở hỏa xa để giúp cô gái. Thầy xếp tanh thì thổi còi hiệu cho xe chạy trễ vài mươi giây cho cô bé kịp đưa hàng lên, mấy nhân viên khác nhảy cả xuống đất để phụ bà trưởng trạm mà đỡ hàng, còn Hoạt thì cố nhiên tính tiền ba-ga nới tay lắm.

Họ không làm thế không được, vì cô bé ngày nào cũng la bài hãi:

- Thầy xếp ơi, đừng có hại em, khoan thổi tu hít đã !

Nàng vừa đỡ hàng vừa nhìn mấy nhơn viên mà trách móc:

- Mấy anh đứng khoanh lay mà ngó cho đành à ?

Còn ai từ chối được trước những lời than không có gì ấy nhưng do một cái miệng chiếm hồn thốt ra, nên lời than hóa thiết tha tuyệt vọng ?

Lên xe, Hoạt cứ theo đúng luật mà lấy tiền chở hàng. Nhưng cô bé mếu máo mà rằng:

- Trời, thầy cho em kiếm chút ít lời, nuôi con chớ !

Thật là cô bé quá quắt. Nó còn son như trái chuối cau mới hườm hườm trên buồng, mà nó dám cả gan nói láo là có con.

- Mấy đứa ? Hoạt cười hỏi.

- Thưa thầy em mới được nửa chục có đầu thôi. Còn nói theo lối thầy soát vé người miền Bắc thì là em mới được nửa tá con.

Cả goong cười ồ lên. Thế rồi Hoạt đưa vé theo giá bằng hữu.

Mà bằng hữu thật đó. Trên xe chỉ có Hoạt là trẻ nhứt, là "có đường tương chao" nhứt, nên ngày nào cô bé cũng tặng chàng vài trái mận to bằng nắm tay và ngọt không kém gì lê, lý.

Ân huệ mà Hoạt ban cho nàng mỗi chuyến xe, đáng kể hơn ân huệ của người khác nhiều. Đỡ tiền ba-ga tức là được lời nhiều hơn.

Nên chi họ thông cảm nhau dữ lắm và rù rì với nhau mãi từ trạm lên tới Sài Gòn.

Nhưng tuy có "đường tương chao" mà Hoạt chẳng xơ múi được gì. Con bé tự vệ rất khôn ngoan. Thành trì của nó không kiên cố lắm để cho kẻ xung phong nản chí bỏ đi, nhưng vừa đủ bền vững để đánh lui một cách nhè nhẹ mọi cuộc hãm thành, mà nó đánh bằng cái nắm tay sắt có bọc gòn, êm ả vô cùng, nhưng đoán được là ghê gớm lắm khiến Hoạt phải nể không dám bạo quá.

Con bé có tấm thân như tượng đúc ấy, vì vậy giống một cái bánh ngọt để trong tủ kiếng, thấy được mà khó lòng chiếm.

Thế nên Hoạt lại càng thèm, càng mê.

Chàng đếm ngày qua như anh hà tiện mỗi đêm mỗi đếm lại gói bạc. Sáu tháng nữa là chàng đủ tiền lập gia đình. Chàng sẽ xin cưới cô hàng, và sẽ an phận với nghề soát vé mãi cho tới già vì được một người vợ như vậy là hạnh phúc nhứt đời rồi.

Một ngày qua, hai ngày qua, ba ngày qua...

Nhưng tai họa bỗng xảy đến bất thình lình. Đường xe lửa bị bỏ, chàng sẽ được thuyên chuyển lên miền Trung.

Hôm qua vắng khách, chàng đánh bạo đặt tay lên vai con bé mà kêu:

- Em !

Con bé ngước lên, mặt buồn dàu dàu, mắt rưng rưng lệ.

- Em sẽ nhớ anh chớ ? Chàng hỏi.

- Sao lại không.

- Buồn chết đi em ơi !

Con bé òa lên khóc giây lâu mới nói được:

- Ba em cờ bạc làm nợ tới mấy chục ngàn. Nếu còn con đường xe lửa nầy thì trong sáu tháng em trả dứt nợ ấy. Nhưng tình thế đã như vậy thì...

Chàng căn dặn:

- Mai nầy chuyến xe sớm, em lên hàng không gặp anh. Anh soát mấy chuyến khác, có cả chuyến xe cuối, đi qua trạm em vào lúc chiều. Em nên có mặt để anh nhìn giây lát nhé !

- Dạ, em không quên đâu.

Qua khỏi Trung Lương một đỗi, xe ngừng tại trạm cây da bến lòng của Hoạt.

Từ một nhà lá lụp xụp kia, tiếng ai hát ru con:

Ù ơ, Chừng nào xe lửa Mỹ bung vành,

Tàu Tây lủng đáy anh mới đành xa em.

Lời thề của một anh tình nhân ngày xưa, bây giờ đã thực hiện. Trời ơi, nhưng chàng có thề đâu mà phải mắc lời thề ?

Đường xe lửa nầy đã lâu đời lắm nên người ta mới chỉ nó mà thề thốt, mỗi khi yêu đương, cho đến thành ca dao, thành câu hát. Xe lửa Mỹ và tàu Tây kiên cố như thế sao lại bung vành làm chi cho người ta phải đứt ruột ?

Tiếng hát lại tiếp:

Ù ơ. Đại mộc lưu giang bất đắc hồi cố dã.

Cây ngã trôi sông

Đâu còn mong trở lại

Anh thuận gió xuôi buồm...

Hoạt cảm giác như chính con bé đang hát lời ấy để kêu than. Anh lẩm bẩm cãi: "Không, thế nào anh cũng trở lại để cưới em".

Bác trưởng trạm mặc một chiếc áo bành tô bằng nỉ đã lủng lỗ nhiều nơi, tay thọc vào túi áo cho ấm, thẫn thờ bước ra ngó lên xe để tìm người quen.

Từ anh chụm lửa đến anh lái xe và người tiếp tanh ai cũng gọi:

- Bác xếp ơi, ở lại mạnh giỏi nhé !

Họ thì thuyên chuyển đi nơi khác còn những ông trưởng trạm nầy, lương hướng ít quá, nên quyết ở lại làng mạc để sống nhờ nghề khác.

Trưởng trạm rưng rưng lệ, rút tay ra vẫy và nói lớn:

- Anh em đi mạnh giỏi nha !

Bỗng từ đằng sau tiệm chạp phô, bóng thiếu nữ xinh đẹp hiện ra, thiếu nữ mà ai cũng mong đợi được nhìn lần chót.

Nhưng thiếu nữ lại ẵm một đứa bé độ bảy tám tháng, con của nhà hàng xóm nào chắc. Mọi trái tim đều hồi hộp, mọi trí não đều cố tìm một câu giã từ cho đậm đà.

Hoạt thì quyết làm thinh, chỉ nhìn nàng một cách đắm đuối thôi, và chắc nàng sẽ hiểu tất cả đau thương thầm lặng của anh qua cái nhìn hùng biện ấy.

Thiếu nữ ra sân trạm, tươi cười như ngày nào. Khi nàng đến sau lưng một người con trai cởi trần đang đứng nhìn xe, nàng nói:

- Ba nó ẵm con cho em nói chuyện chút !

Trời ơi ! Mọi người đều kêu thầm lên tiếng đó. Riêng Hoạt chàng nghe sàn gỗ của goong xe như làm bằng sáp và đang mềm, đang lún xuống dưới chơn chàng.

Người con trai đỡ lấy đứa bé xong, thiếu nữ vẫy tay cố cao giọng mà la vói lên:

- Từ biệt quý thầy nha, quý thầy đi mạnh giỏi nha.

Nàng cười, nhưng môi hơi máy động vì một cảm xúc dầu sao cũng không khỏi có. Nàng ở lại sống vui với chồng con, nhưng không khỏi nao nao buồn giùm nỗi thất vọng của những người mà nàng nuôi ảo mộng từ bao lâu nay bằng sự giấu nhẹm tình trạng gia đình.

Bỗng đôi mắt nàng bắt gặp đôi mắt không hồn của Hoạt, hắn đang ngó nàng mà ý nghĩ ở đâu đâu. Nàng buồn nét mặt lại và cái nhìn của nàng dường như nói thầm:

- Em xin lỗi anh !

Không, nàng không có lỗi gì cả. Có ai hỏi nàng có chồng có con chưa bao giờ đâu và nàng có trả lời lần nào đâu mà bảo rằng nàng nói láo để gạt gẫm ai.

Tại ai cứ đinh ninh là thế thì bây giờ phải vỡ mộng ra ấy chớ. Hôm qua nàng có khóc thật đó. Nhưng nàng khóc vì sầu món nợ của cha mẹ nàng chưa trả được, ai bảo cứ tưởng nàng khóc hận chia ly ?

Chiếc xe dài thậm thượt mang rất nhiều vật liệu và dụng cụ ấy lại chuyển mình. Nó khởi hành mau lẹ chớ không bịn rịn kẻ ở lại làng quê. Anh lái xe hình như cũng thất vọng nên hậm hực cho đoàn xe giựt chạy mau.

Chuyến xe cuối cùng của nửa thế kỷ băng đồng mang theo trên các goong những ấn tượng nặng nề về một thôn nữ tinh ranh đã cho họ uống cầm thực nay một giọt, mai một giọt, cái thứ nước cam lồ tình ái viển vông, để nàng buôn bán dễ dàng hầu nuôi nửa tá con dại.

Bỗng Hoạt cười. Đây không phải là chuyến xe cuối cùng nữa, mà là chuyến xe đầu tiên mà nhờ nó chàng đã học được một mớ kinh nghiệm ở đời Chuyến-xe-đời trước nhứt này đã cho chàng chạm trán với sự thực không quá nên thơ như chàng ngỡ. Tai nạn đụng chạm này - may quá - chỉ gây thương tích nhè nhẹ thôi, không một nạn nhân nào bị chở đi dưỡng đường hết. Tất cả đều là ảo ảnh.

Ngày mai mọi vết thương sẽ lành,và trên đường Trung Việt, chàng sẽ gặp nhiều cô gái khác, có lẽ tinh ranh hơn. Nhưng chàng chỉ yêu họ vừa vừa thôi, sẽ đắn đo, dè dặt. Chàng sẽ không nhắm mắt đâm đầu mà yêu nữa, nó sẽ bớt thú vị biết bao nhiêu, nhưng đỡ bị thương khi nào có tai nạn đụng chạm.

Ngày mai ! Biết đâu trên một ga hẻo lánh như ga Mường Mán chẳng hạn, chàng sẽ không gặp một sơn nữ thơm phức hương vị của núi rừng ? Chàng sẽ không gặp một cô gái Hời mà nỗi hờn vong quốc dường như còn quyện trong đôi mắt huyền bí như rừng sâu xa thẳm bên đường rầy ?

Hoạt thò đầu ra cửa sổ, nhìn về hướng trạm X. Trạm chỉ còn là một cái chấm nhỏ. Cô gái ẵm con đã mất dạng đâu rồi, mưa lấm tấm rơi, nhưng Hoạt lại hết buồn. Chàng kêu lên khe khẽ:

- Em ! Bà thầy dạy ái tình của anh ơi !

Rồi chàng cười lên ha hả và lẩm bẩm một mình:

- Thế là còn hơn nó son rỗi ! Mình ra đi, không còn luyến tiếc gì nữa cả !

Rồi xăng xái chàng bước qua goong khác. Tất cả bạn cùng xe gặp nhau đều lặng cười không ai nói với ai điều gì, nhưng họ ngầm hiểu nhau nỗi thất vọng vừa qua.

Bác xếp-tanh ngâm:

Ra đường thiếp hãy còn son
Về nhà thiếp đã một con với chàng.


- Mà lạ, sao mình không thấy chồng nó bao giờ ?

- Chắc hắn đi làm đâu, thỉnh thoảng mới về một lần.

- Đố các cha, nó được mấy đứa ?

- Cái thứ đó thì dầu có sáu lứa vẫn còn son như thường. Có thứ đờn bà hình như là đã được ai cho thuốc trường xuân.

(Trích từ tập truyện ngắn Diễm Phượng)
 

Thứ Hai, 12 tháng 5, 2025

VĨNH BIỆT CÂY TRỨNG CÁ - Võ Hồng

Nhà văn Võ Hồng bên cạnh cây trứng cá năm 1969

Ăn tối xong, tôi thấy ba tôi ngồi hì hục tháo những vòng dây dừa dài. Tôi hỏi:

- Ba định làm gì đó?

- Để chặt cây trứng cá.

Tôi kêu lên hớt hãi:

- Sao lại chặt nó?

- Nó héo rồi. Nó cỗi rồi. Nó sắp chết.

- Nhưng nó chưa chết.

- Nó sắp…

Ba tôi không nói hết câu. Chắc tiếng “chết” làm ông nghẹn lời.

Cây trứng cá ba tôi trồng cho chúng tôi đó. Nó đứng ở trước sân, hiện diện từ lúc còn là một thân tơ lá to xanh mướt, gốc lớn bằng ngón chân cái. Da nó láng, có lấm chấm từng điểm mốc. Cao độ một thước là nó đã lấm tấm nở hoa, những đóa hoa năm cánh trắng mỏng. Khi hoa rụng, trái thành hình, trái lớn thật mau, tròn trĩnh, màu xanh lục. Rồi đến một ngày nào màu xanh chuyển sang vàng, màu vàng chuyển sang đỏ. Ba vin cành xuống cho đứa con út là tôi hái trái đầu tiên. Trái thứ hai dành cho anh tôi. Trái thứ ba dành cho chị tôi. Từ trái thứ tư thì mạnh ai nấy hái.

Trời ơi, mới đó mà đã mười lăm năm rồi. Cây trứng cá được mười lăm tuổi và hôm nay là ngày chết của nó.

Tôi bật ngọn đèn trước sân. Ánh sáng nê-ông xanh mát soi rõ tàng cây ủ rũ. Những lá nhỏ, héo tạo những khoảng trống thưa thớt giữa các nhánh. Khi cây đang sung sức, lá đan dày kín trên cao, phủ bóng mát xuống sân, phủ bóng mát xuống hiên, vừa khoe khoang vừa giấu kín những trái chín đỏ. Từng bầy dơi bay rần rật đảo qua lượn lại vào giờ này. Chúng bay vút qua sân, bay xuyên qua tàng lá nhanh và thẳng như những mũi tên màu đen.

Bây giờ thì tất cả đều im lặng. Cây đứng chơ vơ một mình buồn bã ốm yếu. Những chiếc lá nhỏ lay động uể oải theo từng cơn gió nhẹ.

Tôi cố gắng thuyết phục ba tôi:

- Chúng ta thử chờ xem cây nó có hồi sinh được không?

Ba tôi lắc đầu:

- Ba đã ra công tưới nó suốt cả tuần rồi. Hôm đi Sài Gòn về, ba để ý thấy lá nó sao chợt nhỏ lại và không còn màu xanh đậm nữa. Ba sợ nó thiếu nước nên mỗi tối ba chăm chỉ tưới nước cho nó. Nhưng nó không khá hơn. Qua một cơn mưa giông dồi dào, ba thấy tình thế vẫn không biến chuyển. Coi như nó đã kiệt lực rồi.

- Nhưng thà để cho nó chết hẳn đã. Chớ chặt nó khi nó còn thoi thóp thở…

- Phải đành lòng vậy. Cảnh tượng một thân cây đứng chết dần từng ngày từng giờ trông buồn hơn.

Từ một thân cây to bằng ngón chân, cây trứng cá đã lớn lên hết mức, mọc tẻ ra hai nhánh thẳng hình chữ V. Lúc nhỏ anh tôi và tôi hay ngồi ở chạng cây để nói chuyện vẩn vơ, nói đủ thứ chuyện, để nhìn ra dãy xe cộ chạy ngoài đường hoặc nhìn sang những sân nhà trước mặt. Khi ba tôi đi làm, chị tôi đi học thì ở nhà chỉ còn có ba người là anh tôi, tôi và chị giúp việc tên Bốn. Anh tôi lúc đó lên sáu tuổi. Đáng lẽ đã phải đi học rồi, nhưng ba sợ tôi ở nhà một mình cô đơn nên ba bắt anh ở nhà luôn. Ba giao cho anh tập viết và tập làm những bài tính cộng trừ. Tôi lên ba, chỉ biết chơi chớ chưa biết học. Chị Bốn cũng mới chỉ mười hai tuổi, còn ham chơi hơn là làm việc trong bếp. Cả ba người ở nhà cộng lại vừa hơn hai mươi tuổi nên ba tôi căn dặn hễ ba tôi và chị tôi đi khỏi là phải đóng cổng gài chốt lại cẩn thận. Đề phòng chúng tôi chạy ra đường và đề phòng kẻ cắp vào nhà.

Anh tôi hì hục ở bàn học chừng độ mười phút là tay chân đã bắt đầu ngứa ngáy. Anh cất tiếng gọi:

- Thủy ơi!

Tôi dạ.

- Mày ở đâu?

- Em ở sau giếng.

- Mày làm cái gì ngoài đó?

- Em coi con gà nó ấp.

Im lặng một lát. Chắc lúc đó trí óc anh xáo trộn dữ lắm. Nửa muốn ngồi tập viết, nửa muốn chạy ra coi “con gà nó ấp”. Cuối cùng con gà thắng bài tập viết. Anh lê dép đi ra sân sau.

Tôi nói:

- Coi chừng! Không tập viết đủ một trang, chị Bé về đánh đòn đó.

Anh ngần ngừ:

- Ừ, để tao coi một lát rồi tao lên viết.

Một lát có nghĩa là một giờ. Đôi khi hai giờ. Có bữa là luôn cả buổi. Anh bị chị Bé đánh hoài vì tội không kiểm soát được mỗi cái “lát” của mình.

Thỉnh thoảng anh cũng có làm bổn phận một cách đầy đủ. Chẳng hạn làm xong bốn bài tính cộng. Chẳng hạn tập viết xong một trang. Những lúc đó anh đắc thắng bỏ mạnh cây viết xuống bàn rồi cất tiếng gọi tôi:

- Thủy ơi!

Tôi dạ.

- Mày ở đâu?

- Em ở trước sân.

- Chỗ nào?

- Ở gốc cây trứng cá.

- Làm gì ngoài đó?

- Coi hai con chim nó tha rác.

- Đợi tao ra coi với.

- Lo làm tính xong đã.

- Tao làm xong rồi.

Và anh nhảy ra ngồi ở chạng cây trứng cá với tôi. Hết coi chim tha rác, chúng tôi lại nhìn ra dãy xe cộ nối đuôi nhau chạy ngoài đường. Chán nhìn xe cộ, chúng tôi nhìn sang những sân nhà láng giềng. Giữa những cành lá bao vây um tùm, chúng tôi mê mải nhìn sự sinh hoạt của các ngôi nhà trước mặt. Thật là một đài quan sát lý tưởng. Số 48 là nhà của má chị Liên. Má chị sinh một bầy con gái và ba chị làm an lòng bà bằng cách đặt cho các con những cái tên bắt đầu bằng chữ L: Liên, Loan, Lệ, Luận, Lương, Lợi. Có một chút hài hước để đùa lại số mệnh hoặc một chút an vui cam phận.

Số nhà 52 có thằng Hùng, thằng Hạ, con Nhơn. Mỗi lần mẹ chúng nó đi chợ về vừa bước tới cổng là chúng nó chạy ùa ra lục giỏ. Rồi mỗi đứa lãnh một củ khoai hay một trái bắp đi nghêu ngao, vừa cạp vừa múa hát. Tôi nói nhỏ với anh tôi:

- Ăn bắp mà tụi nó không gỡ mấy sợi râu ở đầu.

Anh tôi không trả lời. Tôi lén đưa mắt thì thấy nét mặt anh có vẻ thẫn thờ. Tôi hỏi:

- Anh muốn ăn bắp phải không?

Anh tôi giật mình quay lại:

- Mới ăn xôi hồi sáng còn no. Mà… bắp ở đâu mà ăn?

- Ờ… mình không có má để được ăn bắp như lũ con Nhơn.

- Ba đã dặn mình muốn ăn món chi thì nói chị Bốn mua.

- Chị Bốn chớ đâu phải là má.

Có một sự khác nhau giữa chị Bốn với một người gọi là má, tôi cảm thấy rõ ràng mà không nói được.

Anh tôi gật đầu:

- Ừ, có má sướng hơn có chị Bốn.

Nói chuyện dông dài quên hết thời gian. Có bữa chị Bé đi học về đậu xe trước cổng rồi mà từ cái đài quan sát chúng tôi không hề biết. Chị bấm chuông làm chúng tôi giật mình. Anh tôi lúng túng không biết nên chạy ra mở cổng hay chạy vô nhà ngồi trước bàn học. Hoặc chạy vô nhà rồi sau đó mới chạy ra mở cổng, làm như mình vừa chăm chỉ ngồi làm bài. Tôi thì bấn loạn không kém chỉ vì thấy dáng điệu âu lo của anh tôi.

Những năm trôi qua. Từ cái đài quan sát chúng tôi đã chứng kiến sự ra đi của gia đình chị Liên và thay vào bằng gia đình chị Cẩm. Chứng kiến ngôi nhà của ông Nam An đang từ tầng trệt mà xây vượt lên ba tầng, có cửa kính kéo ri-đô đỏ. Chứng kiến sự biến cải của ngôi trường sơ học Đại Trung thành tiệm sửa xe đạp.

Hôm nay thì sự biến đổi xảy đến cho chính cái đài quan sát. Chị tôi và anh tôi đang ở xa, chỉ có mình tôi làm chứng nhân đau khổ.

Ba tôi đã tháo xong mấy đường dây dừa. Ông đang cẩn thận nối chúng lại với nhau thành một đường dây thật dài và thật chắc. Sự cẩn thận tỉ mỉ làm đau xót lòng tôi. Sợi dây này sẽ góp phần để kéo ngã cây trứng cá xuống. Nó đóng vai trò dụng cụ giảo hình.

Hỡi cây trứng cá thân yêu ơi, cây có biết số phận nào đang chờ đợi cây không? Và nếu đã biết rồi thì cây có buồn không? Trong một chuyện xưa tôi nghe kể có anh em họ Điền kia, sau khi cha mẹ chết đi, vẫn chung sống hòa thuận với nhau trong một ngôi nhà. Nhưng khi người em út cưới vợ thì lại cưới nhằm một ả tham lam lắm điều. Ả giục chồng đòi các anh phải chia gia tài. Người anh cả thuyết phục không được đành phải đem của cải của cha mẹ tổ tiên để lại chia ra thành những phần đều nhau. Chia xong ruộng nương, nhà cửa, chia hết tiền bạc, xanh, chảo, chén bát. Đến cây hòe trước sân, người em dâu út cũng bắt buộc phải chặt ra mà chia. Anh cả năn nỉ giữ lại, nhưng người em út nhất định không chịu. Anh đành hẹn sáng hôm sau sẽ chặt cây mà chia.

Sáng hôm sau anh em tề tựu đông đủ, rìu búa trên tay, nhưng khi đến gốc cây nhìn lên thì cây đã héo chết rồi. Cây không chịu đựng nổi sự chia cắt từng phần, cây thà chịu chết trọn vẹn rồi sau đó mặc kệ cho người muốn làm gì thì làm trên thân xác đó. Cây có linh hồn. Cây có tình có nghĩa. Cây dạy cho người bài học thương yêu. Người anh cả trong truyện lại ngồi ôm gốc cây mà khóc.

Ba tôi leo lên thân cây và buộc một đầu dây vào cành cao nhất. Sau đó chú tôi cầm rựa bổ vào gốc. Lưỡi rựa không được bén tạo nhiều tiếng dội. Và cành lá rung rinh điên đảo.

… Bao nhiêu năm trước đây lá chỉ khẽ rung rinh mỗi khi có gió nhẹ. Ba tôi hay bắc ghế ra nằm dưới bóng cây để đọc sách. Tràng hoa trắng bay rụng trên áo, trên mái tóc, trên trang sách, rụng rải rác trên mặt đất. Ba tôi hứng những cánh hoa mỏng bay rơi lả tả nhẹ nhàng, nâng niu trên bàn tay mà bảo tôi:

- Ở giữa phố thị, không dễ mà có được một cảnh đẹp như thế này, và nghệ thuật sống ở đời là phải biết tận hưởng những lạc thú nhỏ mà mình có. Thường người ta trồng cây trứng cá để tìm bóng mát vì cây mau lớn và cành đâm ngang. Trẻ con thì thích những trái ngọt. Hầu như không ai biết tới những hoa trắng mỏng của nó, mỏng như cánh chuồn. Và với cảnh cánh hoa rơi nhẹ từ cành cao xuống đất như một trận mưa sương.

Những cô bạn đến thăm tôi thường cũng không chú ý đến những cánh hoa trắng mỏng đó. Họ chỉ thấy trái chín. Họ ào ào leo lên hái, có khi năm sáu người thượng lên cây một lượt và tôi phải trao cho mỗi người một túi ni-lông nhỏ để họ đựng trái.

Những tiếng rựa bổ chan chát vào gốc cây. Ba tôi nhắm hướng để sợi dây sẽ kéo thân cây ngã vào giữa sân, tránh đập vào hàng rào và đập vào mái nhà. Tránh cả những luống hoa lài, những bụi trúc, những cành hoa sứ. Khoảng sân thì hẹp mà cây cối thì nhiều, không vì một cây này mà làm bị thương một cây khác.

Khi những nhát rựa của chú tôi bắt đầu rời rạc thì chợt nghe có tiếng răng rắc. Ba tôi nói to:

- Đi giãn ra xa! Coi chừng!

Sợi dây căng đến tột độ. Thân cây trịnh trọng khẽ nghiêng rồi bỗng ngã đánh rầm trong một loáng mắt, nằm sóng sượt giữa sân.

Một khoảng trời xanh chợt hiện ra trên đầu. Một khoảng trống bỡ ngỡ, xa lạ, bất ổn. Chú tôi dùng rựa rong những cành nhỏ, chị Bốn lần lượt lôi bỏ ra vườn sau. Chú tôi hỏi:

- Bây giờ phải chặt ngang ra làm mấy khúc?

Ba tôi đứng nhìn, im lặng suy nghĩ. Rồi ông hỏi lại:

- Để nguyên, khiêng có nổi không?

- Hơi nặng.

- Cố gắng thử coi.

Tôi lại phụ tay với ba tôi, chú tôi và chị Bốn. Sức nặng làm đỏ rần mọi khuôn mặt. Phải nghỉ đến ba chặng mới khiêng được thân cây ra tới sân sau. Tôi đoán vì sao Ba tôi không nỡ để cho cây bị chặt làm nhiều đoạn.

Sau khi dọn dẹp xong, ba tôi lại ngồi một mình trầm ngâm ở ghế sa-lông. Tôi biết ba tôi đang buồn. Một cái cây hiện diện cạnh mình trong nhiều năm trời, sớm chiều quen thuộc, thì tự nhiên mình đã coi như một người bạn trầm lặng. Ngoài ra một cái cây muốn lớn lên phải đòi hỏi nhiều năm cần cù nhẫn nại. Phải dinh dưỡng thường xuyên, cành cây muốn dài thêm một phân phải cần tháng này sang tháng khác. Những công trình nhân tạo như tòa lâu đài đồ sộ, nhà cao ốc chất ngất, như đập nước vĩ đại, con người có thể huy động sức người ra làm mau theo ý muốn, phá vỡ rồi làm lại theo ý muốn. Chớ một cái cây có đời sống độc lập của nó, loài người có thể hạ sát nó mà không thể ép buộc nó phải lớn mau theo ý muốn của loài người. Ba tôi quí trọng cuộc đời của những cây cối một phần chắc là bởi lẽ đó.

Trước đây bảy tám năm, một cây chùm ruột ở vại nước nhà tôi bị héo lá rồi chết khô. Ba tôi buồn nói:

- Cây chùm ruột này, ba lên tận Xuân Lạc xin cây con đem về trồng khi mới làm nhà. Hồi đó má các con còn mạnh. Từ khi má các con mất, đây là lần đầu tiên một cái cây chết ở vườn nhà chúng ta.

Sau cây chùm ruột đến cây ổi xá lị, vì bị hơi nóng đốt rác mà lá rụng dần rồi chết. Sau cây ổi đến một vườn mãng cầu, sa-pô-chê phải chặt đi để làm căn nhà mới. Chắc chắn là tâm hồn của ba tôi không còn bị xúc động nặng như lần đầu tiên nhìn cây chùm ruột chết khô. Khi một tâm hồn đã chằng chịt vết thương thì một vài vết cắt đến sau tự nhiên bớt đi phần cay xót.

Cây trứng cá giữ nhiều kỷ niệm với chúng tôi biết bao! Tôi nhớ những năm chúng tôi còn nhỏ, đến rằm Trung thu ba tôi mua đèn lồng treo trên những cành trứng cá thấp để chúng tôi chơi. Ba tôi lại tự tay ngồi phất những cái lồng đèn thật lớn, hình tròn, đem treo mãi trên đọt cây trứng cá cao, treo rải rác xuống từng cành, biến cây trứng cá thành một cây Nô-en vĩ đại và chúng tôi ngồi dưới gốc cây chong mắt nhìn lên.

Ba tôi chỉ cái đèn tròn lớn nhất:

- Đó là tượng trưng cho mặt trời, trung tâm của Thái dương hệ. Cái đèn tròn nằm ở gần dưới nó, - ba tôi giơ tay chỉ, - là thủy tinh. Cái đèn nằm xa một chút nữa là kim tinh.

Anh tôi ngắt lời:

- Người ta lấy thủy tinh đó để làm cái ly uống nước hở ba?

Ba lắc đầu:

- Không phải. Thủy tinh làm cái ly uống nước là một chất dẻo do hột cát nấu chảy mà thành. Còn thủy tinh của Thái dương hệ là một hành tinh, nghĩa là một khối lớn kiểu như trái đất xoay xung quanh mặt trời.

Tôi không hiểu gì hết về những cái “tinh” đó, về nhiều cái “tinh” nữa mà cha tôi kể tiếp như là hỏa tinh, mộc tinh, thổ tinh, vân vân. Tôi chỉ một cái đèn xếp dài ngoằng hỏi ba tôi:

- Còn cái “tinh” gì kia?

Ba tôi bật cười:

- Cái này không phải là hành tinh. Nó là một cái lồng đèn thường, dễ làm vì chỉ cần xếp giấy lại, bẻ từng lần, dán dính hai mép giấy vào nhau là nó thành một cái đèn tròn. Hồi nhỏ ba hay tự tay xếp cái lồng đèn kiểu đó mà chơi lấy, chớ không phải tốn tiền mua như trẻ con bây giờ.

Tôi lặng lẽ từ phòng khách bước thẫn thờ ra sân, nơi cây trứng cá đứng rậm rạp ngày trước và giờ đây chỉ còn là một khoảng trống cây ô ma thấp, bụi bông lài, mấy nhánh đồi mồi đứng im lìm. Vắng cây trứng cá cố hữu, vắng người bạn láng giềng cao cả uy nghi, những cây nhỏ đó trông có vẻ ngơ ngác lạc loài. Tôi không muốn nhìn cái cảnh đìu hiu trống vắng đó nó làm nhức nhối võng mạc và tâm não tôi. Tôi nhắm mắt lại một phút nhìn lui về ký ức của tôi, nơi đó một cây trứng cá cành lá um tùm đứng vững chãi hiên ngang, mang trên mình những cái lồng đèn sáng rực nhiều kiểu nhiều màu. Và ở dưới gốc cây rõ ràng là có ba chị em chúng tôi, ba đứa nhỏ ngây thơ đang đứng chong mắt nhìn lên.

 

(Trích từ tập truyện ngắn Vẫy Tay Ngậm Ngùi)


Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2025

CHO TAY NÀY LẤY TAY KIA - Bình Nguyên Lộc


Bịnh viện Bình Dân [1], một buổi sáng. Giáo Sư H. đi đến giường số 17, thì dừng lại. Sau lưng ông, người ta dồn đống như tại một ngả tư phố Sài gòn, xe dồn cục lúc đèn đỏ cháy lên.
 
Họ đứng sau lưng ông, đông, trên hai mươi mạng: bốn anh nội trú, tám anh ngoại trú, mười sinh viên thường và hai nữ y tá.
 
Bác Sĩ H. là một Giáo Sư Y Khoa lỗi lạc, mà thủ thuật đã được nhiều tạp chí Pháp và Mỹ nói đến, nên, hễ ông đi thăm bịnh, là bao nhiêu người thích tìm tòi, học hỏi đi theo đông đủ sau lưng.

Khi họ dồn lại một nơi, thì con bịnh không còn biết ai là “bác sĩ thầy” nữa cả. Giáo Sư, người thấp bé, ăn mặc rất khiêm tốn, cái đầu trọc lóc, thật kém đẹp, kém oai hơn sinh viên nhiều. Ông lại pha trò suốt ngày, khiến người ta tưởng, đó là một thanh niên vui tánh, mới vào học.

Giáo Sư quay lại hỏi nội trú Thành, người gác nhà thương đêm rồi:
 
– 17 mới vào à? Đâu, quan sát đâu?
 
Nội trú Thành lướt tới, tay cầm xấp tài liệu, rồi nói như giảng bài, cho tất cả sinh viên đều nghe:
 
– Người nầy bị chứng ung thư phổi. Dấu hiệu chánh: đầu móng tay bầm tím và co quắp lại. Những dấu hiệu phụ: nghẹt thở gầy ốm nhanh chóng trong mười lăm hôm…
 
Giáo Sư vừa lắng tai nghe phúc trình của anh nội trú giỏi nhứt nhà thương, vừa bước tới kiểm soát lời anh ta.
 
Khi Thành phúc trình xong, Giáo Sư hỏi:

– Phụ Giáo đâu?

Lúc ấy, người Phụ Giáo ở ngoài, vừa bước vào. Giáo Sư nói:

– Bác Sĩ à, cho chuẩn bị để mổ ngay.

– Chuẩn bị rồi, thưa Thầy.

Đường, sinh viên thường, năm thứ nhì, chen tới hỏi:

– Thưa Thầy, liệu cứu hắn được hay không?

Họ trao đổi ý nghĩ với nhau bằng ngoại ngữ, nhờ thế con bịnh không hiểu được, nên khỏi sợ sệt.
 
– Rất có thể thành công. - Giáo Sư khiêm tốn đáp.

Đường lại hỏi thêm:

 – Thưa Thầy, bịnh sẽ tái lại hay không ?

Giáo Sư mỉm cười: 

– Nếu nó không tái lại, hóa ra loài người đã chữa ung thư được rồi à? Không, vài năm sau hắn sẽ chết. Cố gắng của khoa học là lùi phút chót của con bịnh lại, lâu chừng nào hay chừng nấy.

*

Giáo Sư đã thành công. Không ai ngạc nhiên hết, vì ông ấy mổ vững như thợ thiến gà.
 
Nhưng mấy hôm sau, con bịnh bị nhiễu chứng. Đầu tiên là chứng nghẹt phát quản phổi. Có những giọt máu khô sau cuộc mổ mà con người không làm sao tìm thấy được. Một giọt máu khô ấy, theo vết thương mổ, chạy vào phát quản, rồi bị dòng máu đẩy đi. Nhưng một khi kia, gặp nơi phát quản hẹp quá thế là nó chận ngõ đón truông, không cho tuần hoàn làm việc.
 
Lại phải mổ. Mà trước khi mổ phải khó nhọc tìm xem tên phiến loạn phá hoại sự lưu thông ấy trốn chắc chắn nơi đâu.
 
Hệ thống lưu thông của máu huyết vừa được giải tỏa, thì con bịnh lại bị nhiễm trùng độc.
 
Vì mổ mãi, nên vi trùng có dịp xâm lăng cơ thể anh ấy, như mở cửa thành cho quân địch vào ấy mà! Một thành phố kiểm soát chặt chẽ bao nhiêu cũng khó ngăn sự len lỏi của ẩn binh. Miệng mổ và dụng cụ được khử độc kỹ lưỡng bậc nào, cũng không chận toàn thể vi trùng đột nhập.
 
Tất cả nhà thương đều được huy động để săn sóc con bịnh, tất cả dụng cụ, thuốc men đều được xử dụng để đối phó đến hàng chục nhiễu chứng mà hắn vướng phải.

Ở bịnh viện Bình Dân, trại nào cũng là trại do Y Khoa Đại Học phụ trách để nghiên cứu cả. Ngoài, người ta không biết, nghe nói học trò đến học thì sợ lắm, ngại họ dùng các con bịnh làm đám đất thí nghiệm. Sự thật, thì Y Khoa Đại Học cẩn thận hơn cả nhà thương thường, không hề thí nghiệm càn như người ta ngỡ. Trái lại, sự săn sóc thì châu đáo đến mức kiểu mẫu cho sinh viên noi theo. Còn sinh viên, thì phần đông, tận tâm, cố gắng để được hành nghề.

Thành thử, con bịnh, nhứt là những con bịnh mấy chứng nguy, được họ chiến đấu quyết liệt với thần chết, để cướp hắn lại. Bao nhiêu tự ái đều nhảy ra mặt trận: tự ái của ông thầy quyết cho học trò tín nhiệm, tự ái của sinh viên quyết chứng tỏ mình hiểu biết và làm được. Ngoài ra, lương tâm nhà nghề và tinh thần đồng đội cũng tiếp chiến với bao nhiêu thứ kia.

Sáng sáng, xem biểu nhiệt độ, họ lặng thinh mà thở dài, hoặc nhảy nhót tưng bừng, ôm nhau mà cười, nói:

– Ta đã thắng!

Sự thắng bại thật là bất phân. Vài hôm, bên tử thần muốn làm chủ tình hình, hôm khác, bên đoàn Y Khoa lấn nước.

Hai đối thủ tranh nhau từng tấc đất, rình rập nhau để chụp lấy sơ hở của bên kia. Bên tử thần cứ lù lù tiến tới, trong những bước chậm rãi, một cách hiểm ác, chậm rãi mà chắc chắn, vì hắn tin, không con mồi nào thoát khỏi hắn cả.

Bên đoàn Y Khoa, hôm thì tấn công ồ ạt, hôm lại dùng chiến thuật du kích, để khai trừ từng thằng một, những binh tướng lẻ tẻ của thần chết như là động kinh, vọp bẻ vân vân…

Không giờ phút nào mà cuộc chiến đấu không diễn ra và kẻ chịu đựng nhứt trong bọn là các nội trú. Đời Y Khoa không có gì khổ hạnh bằng mấy năm nội trú. Trăm dâu đều đổ lên đầu nội trú, đến nỗi mấy anh ấy ăn, ngủ đều mặc áo choàng trắng sẵn trong mình, thảo nào mà nhiều vị lương y không khoe bằng Bác Sĩ, mà lại biên lên bảng hiệu: Cựu Nội Trú, cho người ngoài khiếp phục chơi. Nội cái việc thi đỗ vào nội trú cũng bằng là vượt Vũ Môn cấp nhì vậy.

Ngày thứ năm mươi sáu, sốt lui một cách đột ngột.

Tử thần, dường như thấy khó thắng, nên nửa đêm rút đi êm thắm và trật tự.

Mười một giờ đêm hôm đó, anh nội trú Ân đi soát lại cái giường lần cuối cùng, để vào buồng ngả lưng một lúc. Anh rờ lên trán anh 17, thì nghe mát lạnh. Hoảng hốt và mừng rỡ, anh chạy vào buồng đánh thức bạn đồng khoa dậy:

– Giặc! giặc! tụi bây ơi!

Bọn kia dụi mắt hỏi:

– Bịnh vào à?

– Không, giặc lui rồi!

– Giặc nào?

– Giặc 17.

– Hắn chết rồi à?

– Không, thủy hạ.

Cả bọn đều nhảy xuống giường. Anh Tuân hét:

– Đi lấy Potion de Todd mau lên!

Khi nhiệt độ xuống thình lình như thế, con bịnh cũng nguy, vì hắn có thể bị nhiễu chứng khác, nên phải cho hắn uống Potion de Todd cho hắn ấm lại.

Bọn sinh viên chạy rần rần ngoài trại bịnh, vây lấy con bịnh, mà tên đã bị quên mất, và được họ gọi là 17. 17, cái tên ám ảnh, cái tên khủng khiếp, làm cho họ mất ăn, mất ngủ gần hai tháng trời nay.

Con bịnh vừa tỉnh, ngơ ngác nhìn đám người lạ mặt đang cúi xuống người hắn. Một anh lạ mặt, nắm lấy tay hắn, để bắt mạch tay.

Từ đó đến sáng, họ lui tới phòng 17 không ngớt, hỏi hắn đủ điều, thật khổ sở cho hắn.

*

Giáo Sư H. vỗ bụng 17, nhe răng ra cười, mà rằng:

– Vài hôm, anh về, ráng mà ăn phở, anh gầy lắm rồi !

Cả bọn sinh viên đều cười rộ lên. Giáo Sư H. là người miền Bắc. Họ ngỡ Giáo Sư quảng cáo cho món ăn quê hương của ông, nên cười chế nhạo tự ái địa phương của ông.

Giáo Sư như đoán hiểu, day lại giải thích bằng ngoại ngữ :

– Các anh đừng lầm. Người bình dân này không mong ăn được gan sống, trứng sống hoặc các thức ăn bồi bổ khác. Món ăn bổ nhất và rẻ tiền nhất, mà hắn có thể hưởng được là món phở. Tôi khuyên thiết thực chứ không phải vì tự ái địa phương, mà cũng không đùa.

Con bịnh được cho nằm thêm mười hôm để quan sát lại.

Tất cả đoàn Y Khoa, ai cũng xem hắn là tác phẩm của họ. Họ đã để bao nhiêu là mồ hôi, là tâm trí vào con người của hắn, nên họ cứ ngỡ là chính họ đã tạo ra hắn.

Vì thế, họ đã thương mến hắn như thương mến một đứa con đẻ. Còn sót lại bao nhiêu ngày ở chung với hắn, họ cố thương mến vội vàng để vớt vát được bao nhiêu hay bấy nhiêu những mảnh tình vụn giữa con bịnh và họ.

Vài hôm nữa đây, hắn sẽ trở về làng xa hẻo lánh của hắn và không bao giờ còn nghe ai nói đến tên hắn nữa. Còn đâu con người hay ho, mà mỗi giây phút, mỗi nhắc nhở cho họ tài giỏi tận tâm và thành công của họ nữa.

Anh nông dân đi đất ấy được mấy cô sinh viên thêu tặng nhiều chiếc khăn tay rất đẹp, sực nước hoa.

Mấy anh sinh viên thì tiếp tế thuốc thơm, ngon ngoại quốc, anh ta không biết cất đâu cho hết, vì Giáo Sư căn dặn anh đừng hút thuốc điếu.

Những bữa ăn của anh là những bữa ăn của ông hoàng; phần ăn nhà thương của anh, bọn sinh viên lấy cho công nhơn nhà thương hết, rồi thay vào đó là gà nấu đậu, cà-ri dê, sô-cô-la đủ thứ món ngon, vật lạ, mà họ xuất tiền ra để mua sắm.

Bàn đầu giường của 17 ngày nào cũng được trang trí bằng hoa thơm, một đĩa trái cây, và giường anh dược trang trí bằng những cô khách sinh viên xinh xắn hay ngồi xề lại để nói một câu chuyện ngắn ngắn với anh.

Lần lần, giường 17 biến thành câu lạc bộ của hai mươi sinh viên trai và gái, nội, ngoại trú và thường. Họ trực họp ở đó trong những phút ngớt việc, họ hỏi thăm công việc đồng áng của anh ta, họ trao đổi tin tức với nhau, kẻ nắm chơn anh, người vuốt tóc anh, mà đàm đạo như trong sa-lông tân khách vuốt ve một lọ cổ quý.

Còn ba hôm nữa là hắn ra nhà thương.

Còn hai hôm nữa…

Còn một hôm nữa…

Hôm kế chót ấy, họ bu lại đó mà làm thinh, bùi ngùi nghĩ đến sự vĩnh biệt hôm sau: “bá niên vạn kiếp nan tao ngộ !” Cả đến Giáo Sư H. và ông Phụ Giáo làm việc bù đầu, mà cũng tìm cách ghé qua, để nói đùa với hắn một vài câu, nói bông lơn ngoài miệng, mà lòng ngậm ngùi thương ai.

Hôm sau đó, Giáo Sư H. đi thăm bịnh, chừa giường 17 lại, đặng thăm sau hết để giã từ. Khi ông và đoàn sinh viên tới nơi, con bịnh đã sẵn sàng khăn gói.

Bác Sĩ chưng hửng, hỏi:

– Về ngay bây giờ à? Thường thường, cho về hôm nay, thì chiều lại, hay ngày sau, người ta mới về chứ.

– Thưa Bác Sĩ, tôi nhớ nhà quá.

– Ừ, thì về. Nhớ ráng mà ăn phở nhé!

Giáo Sư bị sinh viên gán cho tục danh là ông “Thầy phở” vì ai ra về, ông ấy cũng căn dặn ăn phở cả.

17 từ biệt từng người đã săn sóc mình, từ biệt từng người những con bịnh khác, rồi mang gói ra đi.

Giáo Sư H. thấy sinh viên trìu mến con bịnh quá, đoán biết tâm trạng họ, nên thấy cần đề cao khoa học, để cho tự ái của họ lùi về đúng chỗ của nó. Ông nói:

– Nếu biên sổ tính tỉ mỉ, thì con bịnh nầy đã tiêu phí của công quỹ gần tám mươi nghìn đồng, trong non hai tháng trời về tiền cơm, tiền thuốc, tiền công mổ xẻ vân vân…

Tuy thế, công quỹ không cho hắn bao nhiêu đâu, mà các anh, các chị, tuy khó nhọc cũng chẳng cho hắn bao nhiêu. Chính khoa học đã cho hắn tất cả. Từ phương pháp tối tân, dụng cụ mổ xẻ tối tân, đến các thứ thuốc trụ sinh đều là công của khoa học, của phương pháp tìm tòi rất khoa học và của khoa học.

Vừa nói, ông thầy lỗi lạc và đám sinh viên vừa theo dõi bằng mắt con người tốt số đã thoát khỏi nanh vuốt của thần chết.

Hắn ra tới vỉa hè, bước xuống phố, để băng qua đường Hai Mươi. Hắn vui mừng, nên đi xăn xái, cúi xuống nhìn lớp nhựa đen, như đang nghĩ đến ruộng nương xa xôi, mà hắn rời bỏ mấy tháng nay. Hình ảnh một túp lều tranh bên bờ rạch, chắc đang hiện lên, thân thiết hơn bao giờ cả.

Bỗng một chiếc cam-nhông, một sản phẩm của khoa học, từ phía Ngả Bảy lù lù tới đâm vào hắn. Chiếc bọc gói văng ra xa, còn hắn thì ngã xuống, rồi bánh xe nặng đè lên ngực hắn.

Cả đoàn Y Khoa đều kêu trời lên, rồi đứng lặng người, chết sững trước sự bạc bẽo của số mạng. Chị ngoại trú Hương rú lên một tiếng, rồi ngất đi trên cánh tay anh Thập, một sinh viên mới vào học, ngơ ngác không hiểu gì cả.

Anh ngoại trú Danh đấm ngực mà kêu:

– Trời ơi, bao nhiêu công của hai tháng trời ! Thật là vô lý!

Giáo Sư H. chỉ thở dài mà nói nho nhỏ:

– Khoa học đã lấy lại tất cả những gì khoa học đã cho…
 

Bình Nguyên Lộc

(Trích từ  Tập Truyện ‘Ký Thác’)

 _______________
Chú thích:
 
(1) Truyện này do một mẩu chuyện nhỏ ở tạp chí Sé lection gợi hứng và viết theo tài liệu chuyên môn của sinh viên H. ở Sài gòn.
 

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

QUA RẶNG CÂY XANH LẶNG LẼ - Lụa Ngày Xưa


Mùa mưa về, cùng lúc với hai cánh cổng trường khép kín. Buổi sáng bây giờ, không còn những bước chân em vội vã đến trường, cũng chẳng còn được trông những khuôn mặt dễ thương quá là dễ thương của người bạn nhỏ. Thời gian như con chim chuyền mãi trên từng ngón tay em vụng dại, và nước mưa thì cứ thích cuốn theo những giờ học vừa dễ ghét vừa dễ yêu. Không dưng mà đâm tiếc ngẩn ngơ giờ Quốc văn buồn hiu buồn hắt, dù em biết rằng khi tất cả đã qua thì không thể níu kéo được gì. Nhanh quá phải không. Như thể khi em thả quả bóng bay lên trời, chỉ còn lại một chút bâng khuâng lúc con bé đứng trông vời. Xa khuất. Và những xôn xao trong mắt bạn thân hôm xưa, bây giờ có khác nào giọt nước mưa trong veo, rơi mãi rơi hoài trên đám lá trong vườn xanh, (như nỗi buồn đã xanh trong hồn em, lạ lẫm).
 
Còn nhớ không bạn thân. Những tổ chim sẻ nhỏ xíu xìu xiu trên cây me tây trong sân trường mà ngày xưa, giờ chơi nào bọn mình cũng ngắm. Không biết bây giờ đã có chú chim nhỏ nào bỏ tổ ấm, bỏ ngôi trường mà bay đi chưa nhỉ. Hình ảnh của bọn mình mai sau đó, phải không. Ơi chao! Cứ nghĩ đến lúc mỗi bước chân một hướng đời mà buồn ghê đi lận. Bây giờ thì còn Tí cô nương, Tí điệu, Tí tò mò, Tí lãng mạn và nhiều nữa những đứa bạn "xì trum". Chứ một mai, chắc chỉ còn lại mình em với kỷ niệm chất thành sông, ngọt lịm hồn mỗi lần nhớ đến. Nhưng thôi, đó là thì tương lai xa xôi, vội chi mà chia phải không, Tí cô nương yêu dấu. Ừ, bây giờ ta mới nhớ ra rằng, cái "tủ mặt" của mi ít ra cũng dễ cảm. Chứ nếu không thì sức mấy tên mi hiện ra trong đầu óc quá chật hẹp của ta. Ta chẳng rõ bây giờ mi ra sao. Có phì nhiêu thêm được chút nào, hay vẫn nặng đúng ba mươi kí lô gờ ram như ngày xưa ta với mi còn ngồi chung lớp, ăn vụng chung một hộc bàn, và cóp bài chung một tài liệu. Chao, ngày xưa sao mà vui tệ. Có đầy đủ hỉ nộ ái ố tăng dục lạc bi. Cũng không hiểu những lúc... mộng mơ vẩn vơ của dăm ba con nhà thi sĩ. Tội nghiệp nhất là nhỏ Tí điệu, bao giờ cũng điêu nặng (chứ không phải điên nặng như ông Thế bảo đâu nghe), làm xốn xáo xôn xao hàng trăm ngàn muôn ức hạt bụi phấn. Ở gần thì ghét nhưng lúc xa ta cũng nhớ mi quá đó chứ bộ. Nhớ nhất là đôi mắt chơm chớp mỗi lần ông Lập gọi bài. Trời ơi em mắc cỡ muốn cắn móng chân quá. Tí điệu ơi, sao mi dễ thương mà điệu hết cỡ như vậy, hở mi. Còn nhỏ Tí tò mò nữa, bây chừ mi đã hết tò mò chưa? Chắc còn lâu, hở nhỏ. Người ta thương mi vì cái bản mặt nhưng ta, ta yêu mi vì cái tính tò mò. (Ê, viết như vầy hổng biết có ai kiện không há?) Dù đôi khi ta muốn tặng mi một quả đấm để mi vỡ cái mặt ra cho rồi. Tiếc rằng ta chưa thọ giáo Lý Tiểu Long thì hắn đã chết mất. Chẳng hạn như cái hôm mi tò mò táy máy lôi thơ em bé ta ra mà đọc, chao! Ta hầm trong bụng dễ sợ. Nhưng thấy mi xương cùng mình, cho nên, thú thật ta cũng hơi rét. Ừ, mà cũng nhờ mi ta mới còn sống cho đến ngày nay, nếu không có lẽ ta đã về thiên đàng theo gót ông Dũng Phú Nhuận rồi mi hở. Ôi! Cái ơn này không biết đến chừng nào ta mới trả thù cho được. Thôi, bây giờ ta chỉ biết cám ơn mi, muôn ngàn lần. Đủ không, nhỏ? Còn ta vẫn nguyên vẹn là Tí lãng mạn như ngày nào với những chiều mưa lang thang trong khu nhà nguyện nhỏ. Ta thương bọn mi biết là dường nào. Và ta cũng ghét ta biết là bao nhiêu. Cái đầu ta thì nhỏ, vậy mà hắn cứ thích chở những sỏi những đá. Báo hại con bé cứ phải nuốt lia lịa những viên kẹo xanh đỏ, đỏ xanh. (Đừng ham, không có ngọt như kẹo dừa đâu). Ta muốn chia cho bọn mi quá chừng. Nhưng không có ai, bây giờ. Chỉ có con miu miu suốt ngày kêu ư ử. Chán quá. Ta muốn khện cho nó mấy cái để phủi rồi nợ thế. Nhưng chỉ tội nghiệp cho mái đầu xanh, ngây thơ vô số tội. Nó nào đã biết gì đâu, nhỉ. Cũng như ta nào đã biết gì đâu ngoài những cơn mưa lê thê suốt sáng suốt chiều. Chẳng biết làm gì, ta cứ soạn mấy cái ảnh của bọn mi ra mà ngắm. Để má cứ la cái con này làm gì lục đục suốt ngày không biết. Mãi rồi cũng chán, ta quay sang giỡn với mấy con chó mấy con mèo. Nhưng chúng chỉ làm ta nhớ bọn mi thêm. Bởi thế nên ta muốn xì trum ghê nơi, mấy con quái ạ...
 
 Và bạn nhỏ ơi, hôm qua tình cờ ngang qua Hùng Vương, em đã trông thấy những chiếc lá mới nhuộm xanh con đường. Từ lúc nào chẳng rõ. Lá xanh rồi lá rụng. Nhưng giữa chúng ta, phải chăng mãi mãi đã là một cuộc chia xa. Như một viên kẹo ngọt tan trên đầu lưỡi. Chỉ còn lại chút xíu dư vị, dù ngọt ngào rồi cũng sẽ mất theo thời gian. Thời gian có quyền lực vạn năng, nhưng biết thời gian có cất giữ dùm ta những nỗi buồn vui đậm đà, hay tất cả rồi cũng chỉ là tháng ngày hắt hiu, với chiếc bóng buồn tênh ở những lối đi về, lặng lẽ. Mùa mưa này, nơi bạn nhỏ tới có gì vui? Hay cũng chỉ là "buổi chiều quanh năm mùa đông" như thành phố xa lắc xa lơ này. Mãi đến bây giờ em vẫn chưa quên đôi mắt màu hổ phách, nhuốm thuần một nỗi xót xa của bạn nhỏ. Bạn nhỏ buồn, em cũng xót mắt xót môi. Nhưng phải chăng sứ giả hòa bình sẽ chẳng bao giờ làm xong nhiệm vụ. Cho mùa mưa mãi dài và tháng ngày mờ mịt bóng mây.
 
 
Bây giờ, chỉ còn lại những cây me tây. Những cây me tây cao có nhiều tổ chim nhỏ xíu xiu của một thời xa xưa, trong trí nhớ. Cùng những giọt nước mưa trong vắt rơi hoài trong lòng bàn tay, ủ mềm cả linh hồn. Ơi, bỗng dưng mà nghe buồn hắt hiu như ngày xưa có mắt bạn thân nhìn qua rặng cây xanh, lặng lẽ.
 
 
LỤA NGÀY XƯA     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 130, tuần lễ từ 3-5 đến 10-5-1974)
 

 
 

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

CHIÊU LỲ, CHIÊU LÝ, CHIỀU LY - Bình Nguyên Lộc

 

Mạnh tới trước, nhưng nhường bước cho một toán nữ sinh.

Một cô học trò hỏi bà cụ đang ngồi phía trước, trên một chiếc ghế đẩu, để dán lại một chiếc quạt rách.

– Có quyển Chiêu Lỳ không cụ?

Bà cụ day vào trong, gọi chồng đang ngồi xếp bằng trên một chiếc đi văng hẹp đặt ở trong cùng để hút thuốc lào, kính già xệ xuống sóng mũi lão.

– Có quyển Chiêu Lỳ không ông?

Ông cụ thổi khói ra, tưởng chừng như không bao giờ hết, và trông cứ như ông làm trò ảo thuật nuốt khói, chứa sẵn trong người rất nhiều bằng mánh lới nào đó không rõ.

Đoạn ông vừa thông điếu vừa cười nói, giọng nhừa nhựa:

– Chiêu Lý chớ cái gì mà Chiêu Lỳ! Hỏi Hồng.

Cô Hồng mải miết đọc tiểu thuyết sau quầy, mẹ hỏi mà không hay biết và không trả lời. Các cô nữ sinh biết tánh cô con gái của chủ hiệu nên không buồn hỏi cô ta cái gì lần nào hết.

Bọn học trò con gái rúc rích cười với nhau. Họ vẫn biết kính lão, nhưng trẻ tính và tinh nghịch. Họ không nín được trước lối đặt tên sách ứng khẩu một cách kỳ dị của hai vợ chồng ông lão.

Một cô nói đùa khe khẽ với bạn:

– Hay là Chiểu Lỵ đó cậu?

– Bậy, chính đúng là Chiều Ly, Chiều ly biệt mà.

Rồi cả bọn cười xòa.

Ông cụ biết các cô chê mình, nhưng không mích lòng, ông cụ cười hùn và nói:

– Ô Chiêu gì chả được, quý hồ có hàng mà bán thì thôi, nhưng tiếc đã hết rồi, các chị chịu khó đi nơi khác.

Ông cụ nói thế, nhưng Mạnh biết chắc rằng hiệu sách nầy không bao giờ có quyển Chiêu Lỳ cả.

Đây là một hàng sách nhỏ, ở một khu bình dân. Ông cụ, bà cụ nầy có lẽ tuổi già không biết làm gì, nhơn có một căn nhà ở ngoài không lẽ không khai thác, bèn buôn một thứ hàng không cần ra vốn là sách vở: nhà xuất bản sách ế nào chịu bỏ sách mà không vội đòi tiền thì ông nhận bán, nhà nào đòi hỏi lắm thì thôi.

Còn ông cụ cãi bướng, không phải vì đã biết cái nhan của quyển sách một cách mơ hồ, thoáng thấy đâu từ hồi nào, nhưng vì ông xét rằng chữ “Lỳ” xấu quá, không lẽ người làm sách lại đặt tên sách xấu xí như thế, nên đồ là Chiêu Lý.

Ông cũng tin chắc rằng không phải Chiêu Lỳ bởi vì bà luôn luôn nói sai tên sách làm như là trời sinh vợ ông ra để mà đọc nhầm những chữ to tướng in trên bìa sách, thì không có lý do nào mà riêng hôm nay bà lại nói đúng được.

Mạnh tránh qua một bên cho các nữ sinh ra cửa, rồi tiến tới cái quầy xịch xạc đã tróc cả véc-ni mà sau đó Hồng với gương mặt âu sầu thường xuyên, đang nhận chìm mối sầu riêng của nàng trong tiểu thuyết.

Cậu là người miền Nam, nhưng rất mê con gái miền Bắc mà cậu cho là đẹp nhứt nước và thanh lịch nhứt nước, gái Huế, gái Saigon gì cũng kém họ tuốt hết.

Cậu mê nhứt là cái cô Hồng nầy, không phải vì cô là hoa hậu mà vì cậu chỉ quen có mỗi một cô gái miền Bắc ấy thôi, nên chi, mua sách học đệ nhứt thường thì cậu mua ở các hàng sách cũ vỉa hè, nhưng từ ngày biết hiệu sách của cô Hồng, chàng chỉ vào đây mà thôi.

Cậu không hề giấu sở thích của mình, nên chị cậu biết được, thường nhát đùa:

– Con gái Bắc dữ tợn lắm đa nghen, cậu không thấy gương vợ anh bán phở đầu ngõ, và vợ anh phu xích lô máy ở cuối ngõ đó sao?

Rồi chị nhái bộ tịch hai người đàn bà ấy, trợn trừng mắt lên mà hét: “Bà xé xác ra, biết chưa?” hoặc: “Bà bứt cái…thứ tám bà chẻ tạm ra làm tư!”.

Rồi hai chị em cười ngất với nhau.

Không, Mạnh không sợ. Cậu yêu nhiều lắm, và thề quyết sẽ ngoan ngoãn vâng lời người yêu, thì nàng có dữ như sư tử Hà-đông không lẽ nàng lại mần thịt một anh hiền khô bảo đâu nghe đó, và không hề dám hó hé một lời, trừ cái lời không thể làm mích lòng nàng: “Em đẹp lắm, ngoan lắm, anh thương em muốn chết đi lận. Em cứ đánh anh đi, đánh cho sướng tay em, mà cũng cho sướng anh, vì chịu khổ hạnh vì em, anh sung sướng lắm!”.

Tánh dữ tợn của con gái miền Bắc, nếu quả có, thì đối với chàng chẳng qua là như chiếc chày vồ đập phá một cánh cửa đã mở, chẳng qua là như quả đấm thôi sơn đấm lên mặt nước, nghĩa là không ăn thua gì hết.

Ông cụ bà cụ đang không buồn không vui, hay nói cho đúng ra, đang vui lây vì tánh vui của đám tuổi trẻ vừa rời khỏi nơi đây, thấy mặt Mạnh bỗng sa sầm mặt xuống. Nhưng chàng bất kể, cứ tiến đến trước quầy. Chàng sẽ không làm gì bậy bạ, nói gì trái đạo, hai cụ có khó tánh đến đâu, cũng không thể bắt bẻ chàng được.

– Cô Hồng.

Mạnh gọi hơi to và có lẽ tiểu thuyết đang đến hồi kém ly kỳ nên Hồng giật mình ngẩng lên.

Hồng mỉm một nụ cười mà nếu đã thấy, Mạnh sẽ bảo rằng đó là một đóa hoa đang nở nhưng chàng bận ngắm hai bàn tay đang xếp quyển sách lại, và hai cổ tay đeo bộ nữ trang mà người Pháp gọi là “Một tuần lễ”. Hôm ấy là ngày thứ tư nên cổ tay mặt của Hồng đeo bốn chiếc vòng, còn cổ tay trái chỉ có ba chiếc thôi.

Con gái mà đeo loại nữ trang nầy thì khôn tột độ, khôn vì những chiếc vòng quá rộng ấy làm cho cổ tay họ như nhỏ hơn. Cổ tay Hồng vốn đã nhỏ rồi, nàng đeo “Một tuần lễ” vào, trông cứ như tay một em bé.

Và… trời… hai bàn tay ấy! Mạnh cứ muốn chặt lấy đem về ướp đá để mà ngắm mãi ngày đêm.

– Anh!

Hồng vừa mới chào người bạn mới được có một lời vắn tắt đó thì bà mẹ đã gọi:

– Cô Hồng có đi xem coi nó làm mớ ốc ấy thế nào, hay còn mê sách? Hay chữ lắm!

Hôm qua gặp nhau trước rạp hát Thanh Vân, Hồng đã khoe với Mạnh rằng tối hôm nay nhà Hồng ăn ốc với trái… hồng tươi. Mạnh nhớ là hình như nàng đã giải thích dài dòng về cái món ốc ấy, ốc bu, thứ ốc nấu ăn với bún nhưng riêng đêm Trung Thu nầy thì bằm rồi nướng, lúc ăn dọn luôn ra cả vỏ ốc nữa.

Hồng giải thích rằng không phải đó là bữa tiệc sang mà Hồng khoe, nhưng ăn ốc với trái hồng vào đêm Trung Thu hình như là một tục thân yêu của người miền Bắc, ăn để nhớ quê hương. Hình như Hồng đã nói thế, chàng không thạo phong tục các địa-phương nên không nhớ rõ lắm, giờ nghe nói đến món ốc thì mới nhớ lại những lời của nàng hôm qua.

Hồng đã tiếc rằng Mạnh không được ông cụ bà cụ nàng cảm tình nên nàng không dám mời chàng dự buổi ăn ốc nhớ quê hương đó.

Không hiểu Hồng nói thế vì lịch sự, vì đẩy đưa, hay chơn thật. Nhưng đó là những êm dịu đầu tiên mà chàng được nghe từ khi hai người quen nhau.

Mạnh châu mày, biết ngay rằng mình bị tấn công. Trừ lần đầu, ông cụ bà cụ không đoán biết, không kịp phản ứng, lần nào hễ chàng bước chơn vào đây thì y như là một cô con gái đảm của nhà nầy phải đi ra sau để làm công việc gì quan trọng và cấp bách lắm.

Mạnh nghĩ không lẽ bà cụ lại tìm cớ được mãi và chắc chắn không dám vô cớ mà vu vơ đuổi Hồng đi vì Hồng xem ra cũng không vừa gì đâu, nhưng hôm nay lại có cái món ốc báo hại mà chị bếp có lẽ không làm được cũng nên.

Đây là rủi ro của cậu, nhưng cậu tức lắm chớ, không bình thản như mấy lần trước được nữa. Chàng tức vì câu nói của ông cụ lúc nãy: “Ô, Chiêu gì lại chả được, miễn có hàng mà bán thì thôi”.

A, ông cụ nói dễ nghe chưa! Phải biết rõ cái món hàng mà mình bán chớ, để đừng làm cao quá mà mất khách.

Là khách, Mạnh biết rõ món hàng sống của nhà nầy.

Năm ngoái Hồng đã bị tình phụ, một thanh niên bảnh trai, trong vòng quen biết của chàng. Nàng đã tự tử bằng thuốc bả chuột và đã được cứu thoát.

Bí mật của nàng mà một người bạn gái chung của hai người đã tình cờ tiết lộ cho Mạnh biết, không hề làm mất cái giá của Hồng nơi lòng Mạnh, hơn thế, có lẽ bí mật ấy dự phần rất lớn lao vào sự nẩy nở mối tình của chàng, mối tình yêu có lẫn lộn thương xót trong đó.

Hồng không hề bị giảm giá, nhưng chàng nghĩ rằng ít ra ông cụ bà cụ của nàng phải biết điều đó đễ dễ dãi cho người con trai đến sau là chàng đôi phần: một quyển sách mà cái bìa bị hoen ố, mà vài trang trong đó đã rách, người mua sách rất chánh đáng mà đòi hỏi được bớt tiền.

Thật ra Mạnh không có ý so sánh một cách hạ cấp cô gái đẹp nầy với một quyển sách, và công và lòng của chàng với tiền mà khách hàng bỏ ra để mua sách. Nhưng chàng quan niệm đại để như thế: bà cụ phải dễ dãi với kẻ đến sau vì hắn chịu thiệt.

Cậu có biết đâu rằng vì đã dại dột dễ dãi một lần, lại là lần mà quyển sách còn nguyên vẹn, nên con các cụ mới ra thế nầy, nên bà cụ đã tởn, quyết làm lại… không phải cuộc đời, mà cuộc bảo vệ cần thiết.

Mạnh không đến đây để tán gái, cậu yêu Hồng thật tình và dự tính chuyện hôn nhơn nhưng cậu muốn ít ra cũng phải có đôi chút mầm thương yêu giữa hai người, mà muốn thế, chỉ có một đường là đến cho thường để Hồng biết chàng thêm.

Nhưng bà cụ rõ sao được lòng tốt của cậu, cứ thấy con trai quen với con bà, thằng nào sỗ sàng, bà tống cổ nó ra, thằng nào khôn hoặc đứng đắn, không hành động, không nói năng phạm phép, thì bà tống cổ con bà ra sau nhà.

Mạnh đã định giả vờ hỏi Hồng mua một quyển Đò Dọc, Hồng sẽ hỏi bà cụ, vì nàng chỉ thu tiền chớ không mua bán gì. Có thể bà cụ sẽ hỏi ông có quyển Đô Đốc hay chăng và ông sẽ cãi rằng Đổ Dốc chớ Đô Đốc gì mà Đô Đốc.

Cậu sẽ cười và ông lại sẽ nói: “Ồ, Đô hay Đò gì chả được, miễn có hàng bán thôi chứ”.

Nhưng cậu không dám đùa như đã định. Hồng đã châu mày, đã vâng lời mẹ một cách vùng vằng, nên chàng hy vọng nàng trở ra ngay. Khi người ta còn hy vọng nào, người ta ít có gan làm liều lắm.

Vâng, đây là một cuộc liều mạng, vì nếu ông cụ nói thế, chàng sẽ cãi lại:

– Thưa cụ, phải biết món hàng mà ta bán ra chớ, bởi vì…

Thấy anh chàng cố lì cứ cà rà mãi không có vẻ gì sắp đi cả, bà cụ hỏi:

– Ông mua chi ạ?

– Thưa cụ, cháu tìm sách cũ.

– Chúng tôi không có bán sách cũ.

Ông cụ lại thổi khói ra và thổi xong hằng thước khói trắng, ông cụ đáp thay cho bà cụ như vậy.

– Cụ có chắc không ạ?

Mạnh nhại giọng miền Bắc, không tin là nhại đúng lắm mặc dầu hơn một tháng nay, chàng đã cố học, như người ta đã cố học Ăng-Lê để tìm chỗ làm.

Người Bắc lấy vợ Nam thì có khối người, nhưng người Nam lấy vợ Bắc thì Mạnh chưa thấy bao giờ, nên dám tin chắc phụ nữ Bắc không khứng lấy chồng Nam mới nỗ lực mà tự Bắc hóa như thế.

Ông cụ chỉ lên vách mà rằng:

– Ông xem coi môn bài của tôi là môn bài hàng sách hay môn bài sách cũ.

– Nhưng biết đâu, thưa cụ, đôi khi hàng sách vẫn bán sách cũ như thường. Cháu cứ lo cụ không rõ hàng nhà cho lắm.

Ông cụ đã nổi khí xung thiên nhưng dằn kịp. Không phải ông biết rằng Mạnh ám chỉ điều gì, nhưng mà chưa mua đồng xu giấy nào mà cãi lôi thôi với ông, còn cả gan chê ông không rõ hàng nhà thì ông khó lòng mà dung thứ.

Nhưng bà cụ đã chợt hiểu. Ấy, đàn bà luôn luôn sống bằng trực giác và rất tế nhị về những vấn đề ấy.

Cậu con trai nầy cứ la cà mãi nơi đây và bà rình con thì cũng tế nhận được cảm tình nơi nó đối với gã thanh niên nầy.

Bà đoán không sai rằng chúng nó tuy ngoài mặt còn e chớ tình trong như đã, và cái cậu con trai nầy rất có lý do để mà căm tức bà đã đuổi khéo con bà. Căm tức nó định móc lò để trả thù, biết tâm trạng ấy của nó rồi, bà hiểu ngay ám chỉ của nó.

Bà cười hề hề, giọng rất khoan hồng:

– Rất có thể là chúng tôi có sách cũ, nhưng ông có định mua thật không cái đã?

– Thưa cụ, cháu dám đâu…

– Nếu ông thật lòng mua thì chúng tôi sẽ dễ dãi cho về giá cả.

– Thưa cụ, quý hóa lắm. Cụ biết rõ hàng nhà như thế là đủ lắm rồi. Hàng cũ, cháu vẫn quí như thường, có thể còn quí hơn nữa, chớ không dám xin xỏ dễ-dãi nào cả.

Ông cụ không còn dằn được, chọt mạnh cây đóm vào bình nước để cho nó tắt và xẵng giọng nói:

– Chiêu Lỳ, Chiêu Lý hay Chiều Ly gì thì tôi quả dốt thật, chớ nhứt định là hiệu tôi không bán sách cũ.

 

Văn Nghệ Tiền Phong 1960