Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

SAO KHÔNG NÓI - Trần Dzạ Lữ

Sao không nói những khi mình gặp gỡ
Những khi ngày còn chở mộng qua sông 
Để bây giờ lòng chỉ mới hỏi lòng
Mà đêm đã chia tình sầu vanh vách
 
Sao không nói những khi màu lá cỏ
Còn thương tình ngai ngái tuổi thoa son
Để bây giờ thương mến đã thôi dòn
Em một nơi mà anh buồn một chốn
 
Sao không nói những khi đời au đỏ
Mộng còn đầy trong mắt của nhau xưa
Để bây giờ người ra đi tám hướng
Cho kẻ về ngậm tủi bến sông mưa
 
Sao không nói những khi lời đã chín
Trên môi người và trên cả môi tôi
Để bây giờ xa trông mà bịn rịn
Dưới thu tàn ai hát khúc chia phôi
 
Sao không nói những khi trăng còn hẹn
Với lầu khuya say ngợp cả đất trời
Để bây giờ trăng bỏ về phương khác
Cho chim buồn kêu lẻ dưới sương rơi
 
Sao không nói những khi còn nhạy cảm
Tim làm đàn rung những nốt si mê
Để bây giờ gió mưa về âm ỉ
Đàn ai run theo mắt lệ đầm đìa
 
Sao không nói những khi tình còn mới
Trên tay yêu một thuở đẹp vô cùng
Để bây giờ rêu phong từng tiếng nói
Lúc xa người áo cũng rách tang thương
 
Sao không nói những khi ta mời rượu
Uống trong nhau những cảm khái rất nồng
Để bây giờ mất người nên rượu đắng
Uống bao nhiêu cũng thấy nhớ trong lòng... 
 
Sao không nói những khi mình vương vấn
Những chiều thu vàng thầm bước theo nhau
Để bây giờ thu bên trời lận đận
Lạ nhau rồi ài còn ngóng ai đâu?
 
Sao không nói những khi còn hơi ấm
Của phượng phà vào chiếc cổ loan xưa
Để bây giờ tiêu điều kia đã ngấm
Như nỗi buồn lớn mãi trong thơ...
 
                                     TRẦN DZẠ LỮ
                                            (29-10-1972) 
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 84, tuần lễ từ 4-1 đến 11-1-1973)
 

Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2025

NHƯ CON CHIM SƠN CA - Võ Hồng

 
Từ khi chị Trúc rời bỏ gia đình chúng tôi để đi ở cho nhà khác, tôi biết là chúng tôi sắp phải trải qua nhiều nỗi khó khăn. Nhưng không có cách nào giữ chị lại được. Tôi chỉ có thể trả lương cho chị hai nghìn đồng mỗi tháng trong khi cô vợ Mỹ trả đến bốn nghìn. Chị ở giúp tôi thấm thoát đã được sáu năm. Ngày ra đi, chị khóc ấm ức như cảnh con gái phải bỏ nhà cha mẹ đi lấy chồng. Nhưng tình cha mẹ không nặng bằng tình chồng, cũng như túi bạc Việt Nam không nặng bằng đô-la vợ Mỹ.

Tôi vốn dở trong việc trả giá mua bán bởi có ấn tượng rằng trả giá là một cách tỏ lòng nghi ngờ thành tâm của người bán, một cách miệt thị họ nên ngày chị Trúc đến với tôi, tôi nhờ người giới thiệu đứng trung gian định giá công cho chị. Sau đó, tôi bảo chị:

- Thời giá lên xuống không ngừng, ngày nào tiền công người làm có cao lên thì chị nói cho tôi tăng lên. Tôi không muốn trả hẹp cho chị vì nếu tôi làm vậy, chị sẽ tìm nơi khác trả giá cao hơn. Ngược lại, nếu chị lấy công quá đắt thì khi có ai mách người làm công rẻ tôi sẽ muốn tìm tới họ. Gắng giữ công bằng thì tình nghĩa mới bền lâu được.

Chị cảm thông chân tình của tôi nên trong suốt sáu năm, chị xin tôi tăng lương bốn lần. Những bước tăng có khi dịu dàng, có khi cũng khá dốc. Lỗi không do ở chị mà do ở vật giá không biết nhờ sáng kiến của ai mà cứ tha hồ lên cao vùn vụt. Nhưng đến lần chót này thì chị biết là tôi đã đuối hơi rồi nên chị không nỡ xin tăng lương mà chỉ lấy cớ là xin về quê. Tôi nài nĩ chị nói sự thật, rằng chị cần tôi tăng lương thêm bao nhiêu, rằng tôi cố gắng trả cho bằng người nào muốn mượn chị…, chị bật khóc không giữ được rồi bệu bạo nói:

- Thưa thầy, người ta mượn con tới bốn ngàn đồng một tháng.

Đáng lẽ tôi xấu hổ vì lời nói khoa trương của mình “tôi trả cho bằng người nào muốn mượn chị”. Nhưng thời thế nầy đã gặm mòn gần hết tự ái của mọi người lương thiện. Vợ người công chức nhường cam tươi và trứng gà cho những cô mặc jeans mới năm ngoái năm kia còn ở bế con cho mình, lau nhà và sai vặt. Thò tay xuống trả mua món gì cũng bị gạt ra hết. Bấm bụng trả một trăm thì ở đằng sau lưng đã có người trả vọt lên trăm rưỡi. Chẳng lẽ cãi nhau, chửi nhau?

Chị Trúc đi được nửa tháng thì nhờ bà con lối xóm mách bảo, tôi thuê được cô Thu Hồng. Lương tháng có một nghìn rưỡi. Thu Hồng chừng mười chín tuổi nhưng cao lớn đẫy đà, mặt mập và mắt nhỏ. Tướng này chắc không siêng năng. Tôi chả biết công việc gì để cắt đặt cho Thu Hồng hết. Ngày còn chị Trúc, tôi cứ giao tiền cho chị rồi tùy ý chị mua sắm nấu nướng. Không có lệ kê khai giá mua từng món, tính toán tiền chợ vì tôi biết đó là một chuyện thừa. Tôi và mấy đứa con chẳng bao giờ biết đến giá cả ngoài chợ nên có bắt tính cũng vô ích. Khúc cá hôm qua tính tám chục bữa nay nói lên chín mươi lăm đồng thì cũng được: cứ lấy cớ là biển động. Thôi thì mình trông cậy hoàn toàn vào tình nghĩa của người đàn bà giúp đỡ mình đó. Tôi rập theo phương pháp đã áp dụng đối với chị Trúc mà bảo Thu Hồng:

- Em cầm tiền đi chợ. Mua thịt, cá, trứng, rau gì đó…, xào, nấu canh, kho… Khi dọn cơm, em ước lượng chia làm năm phần, tôi và ba đứa nhỏ là bốn người, và em nữa là năm. Em chia làm năm phần, em giữ lấy một phần cho em, còn bao nhiêu kia em đem dọn lên. Phần ai nấy ăn, tôi không có thì giờ mời mọc xã giao.

Mấy cô bạn đến chơi hay tỏ ý thắc mắc là Thu Hồng trùng tên với tôi, như vậy mỗi lần có tiếng gọi “Hồng ơi” thì ai biết kêu ai mà “Dạ”?

- Chắc sẽ có trường hợp “Dạ” lầm.

Tôi trả lời:

- Nhưng những sự bất tiện ở trên đời nầy thì nhiều quá, mình tránh sao cho hết?

- Có thể đổi tên nó đi. Gọi nó là con Hường chẳng hạn. “Thu Hường” cũng đẹp chán.

- Nhưng như vậy là phạm đến nhân vị của người ta. Vả lại tôi đi dạy học nên rất quen với sự trùng tên. Tôi phải kêu những tên “Hồng” lên bảng và phạt thẳng tay những tên “Hồng” lười biếng. Có những lớp nữ sinh chứa đến bảy, tám cô Hồng: Tuyết Hồng, Lệ Hồng, Hoa Hồng, Thúy Hồng, Huỳnh Thị Hồng, Phạm Thị Hồng và cả Võ Thị Hồng nữa.

Thu Hồng không biết nấu nướng. Nhiều bữa chúng tôi bỏ ăn. Áo quần không muốn giặt và giặt không sạch. Điều này cũng là một nỗi phiền vì hồi còn chị Trúc, chị cứ tự ý qui định chu kỳ giặt giũ: mấy tuần thì giặt màn, mấy ngày thì giặt khăn giường, áo sơ-mi mùa hè đổ đồng mấy ngày thì giặt, mùa đông mấy ngày, áo gối, áo ngủ, rèm cửa… chị đều tự ý lo lắng, sắp đặt. Đến triều đại Thu Hồng thì lù bù. Thân ai nấy lo. Không kể rèm cửa, chăn màn là những món hàng coi như xa xỉ - theo quan niệm của Thu Hồng, - cả đến quần áo mặc thường ngày mà mỗi lần gọi Thu Hồng lên lấy giặt, tôi cũng cảm thấy như tôi có lỗi. Tôi có cảm tưởng mình chuyên môn quấy rầy người ta nên có nhiều lúc tôi tự tay ngâm bột giặt rồi hôm sau xả nước luôn. Thu Hồng không bao giờ biết giành lấy làm giúp, cứ ngồi bình yên nơi giường để cắt móng tay hoặc ngồi đàng hoàng nơi bờ giếng cạnh tôi và lấy xà bông kỳ cọ đôi bàn chân. Tôi đành phải tự tìm một thú vui cho công việc giặt giũ: mỗi lần giặt xong, đôi bàn tay mình sạch bong dễ chịu vô cùng và tha hồ vốc nước xả vào mặt.

Thu Hồng rửa chân một ngày năm bảy lần. Cứ ngồi kỳ cọ chân ngoài giếng hằng giờ, kỳ cọ dép cao su, chân và dép lúc nào cũng sạch bong. Áo quần thay đổi mỗi ngày một bộ. Có buổi sáng đi chợ hai lần và mỗi lần một sắc áo. Tôi tự nói: chắc là mê anh bán quảng cáo dầu khuynh diệp bác sĩ Tín hay thuốc điều kinh bạch đái hiệu Ông Tiên rồi. Nếu không thì cũng bị mê hoặc bởi anh thầy bói “Đợt sống mới” thắt ca-vát đen, kính trắng ngồi la lết trên chiếc chiếu nơi hông chợ và sau một bộ bài để lật ngửa. Thỉnh thoảng tôi còn thấy những thanh niên chừng mười tám tuổi, mặt gầy quần xanh bó chặt mông và đùi, sơ-mi dài tay cũng màu xanh, tóc để dài xuống cổ, đi đi lại lại không có mục đích. Bao nhiêu là đối tượng để Thu Hồng đi chợ một buổi hai lần và cứ mươi lăm phút là quay lại ngắm nghía gót chân của mình sạch như lau trên một lần dép cũng sạch như lau.

Thu Hồng nuôi chúng tôi được ba tháng thì người nào người nấy gầy rạc đi. Tôi không dám có ý kiến gì để quở trách. Người giúp việc bây giờ khó tìm. Vả lại con tôi nó mét:

- Chị Thu Hồng nói chị ở chơi vài tháng rồi chị đi lấy chồng. Có một ông giáo viên thương chị lắm. Chắc chị chỉ giúp Ba được vài tháng.

Tôi nghĩ thầm: sắp lấy ông giáo viên rồi mà! Chắc là người cùng quê chạy tản cư ra tỉnh với cô ta. Phải là người cùng quê thì tình nghĩa mới mặn mà như vậy, chớ khách quan mà xét thì tướng mạo của Thu Hồng không xứng đáng với bất cứ một ông giáo viên nào, dù là giáo viên hạng kém. Thôi, thế là vài bữa nữa học trò gặp cô sẽ cất nón cúi gập người xuống mà chào “Thưa cô”. Cô sẽ mua vải ni-lông hoa để may rèm treo cửa như mọi cô gái vừa mới lấy chồng. Cô sẽ mua sắm tíu tít, tính toán việc sắp đặt trong nhà sao cho gọn ghẽ mỹ quan. Không có người nào vô dụng hết, bất tài hết, tôi thành thật nghĩ vậy và tôi mừng thầm cho Thu Hồng có hoàn cảnh để vươn lên như vậy. Thỉnh thoảng tôi hỏi:

- Chừng nào ông giáo viên đi cưới Thu Hồng?

Thu Hồng cười:

- Dạ, cũng sắp sửa.

Tôi lại phải lo liệu trước nhờ bà con tìm một người khác để thay thế. Lần nầy là một cô gái mảnh khảnh. Khuôn mặt gầy, khá thông minh. Đứa con nhỏ của tôi chạy lên mừng rỡ nói:

- Tên chị là chị Lan, ba à.

Tôi không hiểu tên Lan thì có gì để làm cho con tôi mừng rỡ. Lan và Thu Hồng nói chuyện gì đó lí nhí sau bếp. Khi tôi ăn trưa xong, ngồi một mình uống nước ở xa-lông thì Thu Hồng dẫn Lan lên giới thiệu:

- Dạ, thưa thầy.

Tôi quay lại:

- À, em mới tới để thay Thu Hồng đó phải không? Em ở đâu đến?

- Dạ ở Tuy Hòa vô.

- Quê em ở Tuy Hòa?

- Dạ không. Con ở tuốt ngoài Phú Vang. Ngoài xã Xuân Sơn đó. Con chạy tản cư vô Tuy Hòa.

- Em vô đây có một mình?

- Dạ. Có một mình. Cha mẹ con còn ở ngoài Tuy Hòa.

Tôi không biết nói gì hơn, đành hỏi một câu nhảm:

- Nghe nói em tên là Lan phải không?

Thu Hồng trả lời:

- Dạ phải. Nó tên là Lan. Nguyễn Thị Lan.

Nhưng Lan cướp lời ngay:

- Dạ không phải Nguyễn Thị Lan. Con tên là Ái Lan.

Tôi không giữ nổi một cái mỉm cười. Không biết Thu Hồng có ác ý gì không khi chỉ giới thiệu một tên Lan trơ trọi kèm với Nguyễn Thị. Và khi cải chính gấp gáp như vậy không biết Ái Lan có giận người bạn đồng nghiệp xấu bụng muốn hạ uy tín của mình không? Tôi cho hai người lui ra và ngồi nghĩ vẩn vơ về những cái tên đẹp. Quả tình là dân tộc ta đang làm một cuộc Cách mạng văn hóa sâu rộng. Cách mạng văn hóa ở học đường chẳng thấm vào đâu. Người học trò năm 1966 vẫn học bài và làm bài như năm 1946, vẫn học khoa học mà không có thí nghiệm, vẫn giải được những bài toán về Điện mà khi công-tơ nổ cầu chì thì phải đạp xe đi tìm ông thợ điện ở cuối phố. Chương trình học có đổi thay chút ít nhưng chỉ là nhích lên nhích xuống mà thôi. Chính phủ trước sắp chương đó học ở đệ Tam thì Chính phủ sau đẩy lên đệ Nhị. Các tác giả Việt Nam chỉ có bấy nhiêu ông ngoài những ông Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương có chỗ đứng chắc chắn, còn những ông khác như Chu Mạnh Trinh, Hồ Huyền Qui, bà Đoàn Thị Điểm thì bị di chuyển liên miên, năm nay ở đệ Ngũ năm sau ở đệ Tứ, năm sau nữa lên đệ Tam, rồi có năm chợt biến mất. Y như người đi thuê nhà giá rẻ cứ bị lãnh giấy tống đạt bắt dọn đồ đi tìm chỗ khác hoài. Cách mạng văn hóa trong các ngành nghệ thuật cũng rất yếu ớt. Cải lương vẫn sáu câu vọng cổ, thỉnh thoảng có pha thêm ít câu tân nhạc cho đúng tiêu chuẩn “kim cổ giao duyên” hay “cổ kim hòa điệu”. Kịch thì in ra để nằm trong giường đắp mền mà đọc. Vân vân. Cuộc cách mạng văn hóa sâu rộng mà tôi nhận thấy rành rành ra đây là sự vươn lên của các tầng lớp quần chúng giành lại cái quyền đặt những tên đẹp cho mình. Ái Lan, Thu Hồng không phải chỉ dành cho các cô nữ sinh Tú tài, cho tiểu thư các vị đường quan, cho ái nữ các ông Tham ông Đốc. Không, bây giờ thì mọi người bình dân đều có quyền sử dụng. Chiều chiều mấy cô sen đi dong chơi trên các nẻo phố vẫn gọi nhau bằng những tên rất đổi thơm tho: Thu Nga… Lệ Thủy… Những ông liên gia trưởng thường ký sổ gia đình, những ông ủy viên nhân thế bộ ở xã khỏi cần mượn Tự điển Hán Việt để tra tìm chữ mà đặt tên cho con. Đầy dẫy những cái tên quý phái mỹ miều người ta dùng hàng ngày, phung phí không biết ngợp. Trong khi đó thì những người ở từng lớp khá giả lại chọn ngược lại. Bỏ hết những chữ lót, họ để trơ trụi cái họ và cái tên: Nguyễn Thị Tuyết… Lê Thị Đoan… Hồ Thị Chi…

Thu Hồng ra đi nhường ngôi cho Ái Lan. Thấy cô ta chào từ giã một cách tự nhiên không vui không buồn, mớ quần áo gói trong một tờ giấy báo cặp ở nách, tôi cho rằng người con gái này sung sướng có tình yêu là món quà đặt sẵn trước mặt. Nhưng sau đó một tháng, một hôm Thu Hồng đến thăm tôi nhằm giờ Ái Lan đi chợ. Tôi hỏi:

- Chớ chưa làm đám cưới sao?

- Dạ, để thong thả.

- Thời đại bây giờ giặc giã ầm ầm, thương đâu cưới đó, còn đợi nỗi gì? Đợi lâu, lỡ ông giáo mê gái thì làm sao?

Thu Hồng cười hì hì, hai con mắt nhắm kín lại:

- Dạ, đâu có vậy? Dạ, để thong thả.

Nói lí nhí vẩn vơ gì một lát rồi cuối cùng Thu Hồng hỏi về cách làm ăn của Ái Lan. Tôi nghĩ có than thở cũng vô ích bởi Thu Hồng không thể vì tôi mà dạy dỗ huấn luyện cho Ái Lan thành người giúp việc đắc lực, tôi đành trả lời mơ hồ rằng cũng tạm được, cũng khá.

- Em chắc nó làm việc không hay. Nó còn nhà quê. Hay để bữa nào em trở lại giúp thầy.

Thấy tôi không mừng rỡ vồ lấy dịp may, Thu Hồng tiếp:

- Em bớt tiền lương một chút cũng được. Nhà thầy ít việc, thầy cho một ngàn hai cũng được.

- Xin cám ơn, nhưng thôi, để em đi lấy chồng, đừng để cho ông thầy giáo đợi lâu quá.

Sau bốn năm tháng gì đó, một hôm vì phải tìm một con đường đúng chiều để thoát ra khỏi một khu phố không quen, tôi chợt thấy Thu Hồng đi lang thang trên hè phố. Áo quần xốc xếch hơn ngày còn ở với tôi. Dường như Thu Hồng có thoáng thấy tôi và cô ta lúng túng đi sát vào lề đường, tay kéo nón che một bên má. Tôi tưởng Thu Hồng đã về quê rồi, đã lấy chồng rồi. Thế ông thầy giáo đâu? Tôi chợt nghĩ: mình u mê, ai nói cái gì cũng tin. Có lẽ Thu Hồng để ý thương thầm một ông giáo viên nào đó rồi ngồi mơ mộng tưởng tượng. Chớ cứ lề lối này thì chắc chắn là Thu Hồng vẫn còn đi ở cho người ta và chắc chắn là với một chủ nhà thạo việc hơn tôi, Thu Hồng phải làm việc nhiều quá đến nỗi đi ra phố mà áo quần xốc xếch như vậy.

Ái Lan nấu ăn không hơn Thu Hồng. Món gì cũng mặn. Hỏi: “Sao nêm canh mặn thế này?” thì trả lời tỉnh táo:

- Dạ, đâu có mặn?

Vừa nói Ái Lan thò muỗng vào bát canh múc vụt một thìa đầy, đặt vào miệng hút đánh chụt một cái vừa chắp chắp. Rồi nói:

- Dạ, đâu có mặn?

Không có cái máy đo “mặn lạt” để chỉ chính xác mấy độ nên tôi đưa đề nghị:

- Từ rày khỏi cần nêm ở dưới bếp. Để lên bàn ăn chúng tôi tự ý nêm lấy.

Ái Lan loay hoay bực bội với cái lò nấu bằng dầu lửa. Tim cao, tim thấp, tim hụt, vặn lên, vặn xuống… Ái Lan ưa chẻ củi để nhay vào bếp, đốt cho lửa đỏ bừng bừng, ngọn liếm quanh nồi, tiếng nổ lách tách.

- Hồi ở “ngoãi”, con chuyên môn đi củi. Cột theo một mo cơm lên núi chặt một buổi, trưa gánh về một gánh.

- Bán được bao nhiêu?

- Để dành chụm chớ.

- Còn nếu bán thì được bao nhiêu?

- Năm chục.

Ái Lan lanh lẹ và không biết làm dáng như Thu Hồng. Còn chịu mặc áo vải đen may theo kiểu sơ-mi măng-sết thời kháng chiến. Không ham kỳ cọ chân bằng xà-bông và mỗi lần bước lên thềm giếng là tháo bỏ dép ra. Thu Hồng thì không, đôi dép và bàn chân như dính chặt vào nhau.

Trên bàn chân Ái Lan có một mụt bầm tím to bằng đồng bạc Ngô Đình Diệm và hơi sưng lên. Tôi lưu ý đến nó bởi vì có nhiều hôm thấy Ái Lan xuýt xoa ngồi nắm chân. Có hôm thì bước đi hơi khập khễnh. Tôi hỏi:

- Cái mụt này ngó bộ chưa thật lành. Ngoài mặt kéo da đã kín nhưng chắc ở trong e còn rỗng. Coi chừng sinh mạch lươn đó.

- Dạ, con ấn xuống thấy hơi đau.

- Cái mụt sâu lắm sao?

Ái Lan lật ngửa gan bàn chân chỉ vào một vết bầm.

- Lủng từ dưới lên trên, lủng suốt cả bàn chân.

- Sao dữ vậy?

- Con đạp trúng bàn chông.

- Chắc đi chặt củi trên núi, đạp trúng bàn chông của “ở trển” gài hả?

Ái Lan nhoẻn miệng cười:

- Dạ không. Bàn chông của con gài.

Tôi mở to mắt ngạc nhiên:

- Hả?

- Con theo thanh niên đi gài chông. Làng con thuộc về ở bển rồi mà. Vô phước trúng bữa đang gài thì được tin lính Đại Hàn dưới Quận càn lên. Lật đật bỏ chạy. Con đạp nhằm bàn chông của con.

Câu nói gọn, giọng nói vui, làm như việc gài chông là một trò chơi và dậm chân vào chông cũng là một trò chơi. Cuộc chiến tranh thảm khốc giết chết nhiều sinh mạng, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, thiêu rụi cả làng mạc thôn xóm là kết quả cộng lại của những trò chơi nhỏ của những người tham dự kiểu Ái Lan? Có thể như vậy? Một cái lẩy cò vu vơ, một tràng liên thanh bắn thêm chơi, một cái ấn nút, chết chóc được ban phát ra, ngẫu nhiên và dễ dàng.

- Đi gài chông vui lắm thầy ơi. Đi cả đoàn. Thằng con ông hương mục Kiệm làm trưởng đoàn. Nhưng gặp bữa nào tụi nó càn là nhảy, nhảy trối chết.

Bây giờ Ái Lan thành người của bên này. Bên này hay bên kia thì Ái Lan hình như coi cũng như nhau. Đứa con gái mười lăm tuổi đó lớn lên như một con chim sơn ca má núm đồng tiền và đôi mắt long lanh sáng. Quơ cỏ trên đồng lúa Phú Hòa đó, chặt củi trên triền núi Hóc Bèn đó, mò ốc ngoài bãi cát Hà Bằng đó. Sau khi chạy tản cư về Tuy Hòa thì lại quơ cỏ trên đồng lúa Hòa Kiến, chặt củi trên triền núi Chóp Chài và mò ốc ngoài bãi cát sông Đà Rằng. Như con chim sơn ca mổ hột lúa và con sâu ở đồng này rồi bay vụt qua đồng kia, lại mổ con sâu hột lúa.

Những buổi tối có gió mát, nằm ngoài sân nhìn lên khung trời cao, Ái Lan cất tiếng hát:

Nông dân ta hát ca reo vang lừng.

Ban đầu hát khe khẽ, một lát thú vị sao đó bỗng nổi hứng hát to lên. Tôi phải ngăn lại:

- A! Coi chừng. Muốn xuống Nha An ninh nằm hay sao đó?

Ái Lan xuýt xoa:

- À quên! À quên!

Im lặng một giây rồi tiếp:

- Nhà con trung nông đó thầy, chớ không phải bần cố nông đâu. Ông nội con đi thiến heo nữa.

- Thiến heo thời này mau giàu lắm đó nghe.

- Dạ, thiến heo có tiền lắm. Ông An ngoài con cứ hai tháng thì vô trong này thiến một kỳ. Mỗi ngày được lối tám, chín trăm. Đi một chuyến ăn tiêu rồi còn dư mười lăm ngàn.

- Sao ông nội em không vào thiến cho có tiền?

- Dạ, muốn vô lắm mà nghiệt không có giấy tờ. Thẻ kiểm tra “ở trên núi” về thu đốt hết, bây giờ phải nằm lỳ ở quận Tuy Hòa không được đi đâu một bước. Không có nhà ở, nhà nước cho phép dân di cư được ở trong mấy cái toa xe lửa chở hàng bỏ không ở khu nhà ga.

- Nóng quá chịu gì nổi?

- Thì cũng phải ráng chịu chớ biết làm sao? Năm sáu gia đình ở chung một toa. Trưa nắng như thiêu. Nghiệt một nỗi nữa là toa xe nằm ở giữa một bãi cát nóng, càng có gió càng nóng thêm.

Ái Lan có tật ghiền trà Tàu. Bình trà bữa nào cũng bỏ đậm đen, lũ nhỏ la đắng uống không nổi. Dặn bao nhiêu lần cũng như không. Bình trà đó mặc dù lũ nhỏ không đứa nào dám mó đến, cũng cứ vơi đi trong nháy mắt. Buổi trưa lại một bình trà mới nữa. Tôi đi vắng gần như cả ngày nên đâu có biết gì đến trà với nước, chỉ khi lon trà hết cạn mới kịp phát giác ra rằng Ái Lan không thể uống nước trà lợt. Thôi rồi, nguyên do cũng vì Ái Lan có lệ phải hầu trà ông nội thiến heo. Tôi biết bản tính của các ông cụ ở nhà quê. Lội bộ giữa nắng suốt giờ này sang giờ khác thì khi về đến nhà phải tu một hơi đến hai, ba bát nước trà thật đậm mới giải nổi cơn khát. Thôi thì mình phải chiều Ái Lan vậy. Một bình trà chỉ vài ba đồng bạc, chẳng bao lăm. Ngoài những bình trà thường lệ, khi nào có khách đến chơi tôi pha trà đãi khách thì khi khách đi tôi đều tặng bình trà đậm đó cho Ái Lan. Ái Lan cười thông cảm, đón nhận không chút ngượng.

Ái Lan đến nhằm lúc cái giếng nước nhà tôi bị thuốc giặt của những nhà Mỹ xung quanh làm hôi mùi xà-phồng. Nước ăn phải sang lấy nhờ ở nhà Mỹ bên cạnh. Từ ngày đó, mỗi lần Ái Lan đi qua, tôi nghe có mùi nước hoa. Có hôm Ái Lan lấy kéo ngồi cắt những hình màu lòe loẹt trong một tạp chí Play boy, những hình phụ nữ khỏa thân vú và mông thỗn thện. Tôi lo xa nói dè chừng:

- Có qua lấy nước thì xách về ngay, đừng la cà nói chuyện dài dòng. Đừng có ham tiền mà nghe lời dụ dỗ. Nếu muốn có nhiều tiền thì học tiếng Mỹ để đi làm thông ngôn. Em ở nhà quê có được đi học không?

- Dạ, con học đến lớp Nhất. Rồi ông thầy giáo bị ở trển xuống bắt đi học tập, trường đóng cửa. Ông thầy giáo Phê, con bà Cửu Thành ở Gò Cà đó. Ông thầy đánh quạu một cây. Bắt nằm dài xuống rồi rút roi mây phết một hồi hai, ba chục.

- Đã học lớp Nhất thì bây giờ học tiếp đi. Tối tối lên nhà trên học chung với mấy đứa. Cuối năm thi Tiểu học.

- Dạ.

Tiếng “dạ” có vẻ yếu ớt.

- Sau đó có thể học thêm tiếng Anh để đi làm sở Mỹ hoặc học chữ về làm cô giáo làng, cô mụ hương thôn.

- Dạ.

Tôi rất thành thật trong việc đề nghị, tôi muốn giúp ích cho Ái Lan để nó có thể giúp đỡ chúng tôi càng dài ngày càng tốt. Bởi lẽ nếu chỉ đi ở lấy công thì chắc chắn là ba, bốn tháng sau nó sẽ bỏ chúng tôi để đi theo một chỗ làm khác bổng lộc cao hơn, hoặc nghe lời dụ dỗ của mấy bà trùm, của mấy anh mách mối. Không thể bắt nó ở nhà đóng kín cổng lại. Mà đã để nó đi chợ thì chẳng sớm thì muộn nó sẽ bị người ta vồ lấy. Mặt mũi nó xinh xắn sáng sủa không thua một cô nữ sinh trung bình, nhất là khi tôi may cho nó mấy bộ áo vải hoa.

Tôi gọi nó lên và ra cho một bài toán cộng phân số để thử sức. Nó cầm bút loay hoay, xoay tờ giấy đủ vòng. Tôi hạ thấp trình độ, ra một bài toán nhân có vài con số không. Nó viết lộn bậy những con số méo mó, nguệch ngoạc. Thôi, đích thực là ông thầy Phê chỉ dạy học trò leo lên bàn để nhận lãnh roi mây, còn làm toán nhân và toán phân số là công việc của học trò trường khác.

Ái Lan thích đi sang nhà Mỹ lấy nước. Nơi gầm giường của nó tôi thấy chất lổn ngổn những vỏ chai, những lọ, những lon.

- Lon nầy thì tập trung làm gì cho dơ nhà? Ở ngoài mấy đống rác kia thiếu gì? Xe hốt rác lượm không hết, bỏ lăn lông lốc giữa đường.

- Dạ, con thấy đẹp lượm chơi. Ở ngoài con hồi đó quý lắm. Bây giờ thì thường rồi. Ở Tuy Hòa, Mỹ nó uống nó cũng ném đầy đường. Hồi trước ở ngoài con cứ nhắn mấy người đi buôn bán ở Tuy Hòa lượm lon về cho.

- Mấy cái vỏ chai này thì dùng được.

- Dạ. Chai lít đó. Đong dầu đong nước mắm thì ngon hết lớn. Ở ngoài nhà quê mỗi lần mua dầu chạy đi mượn chai lít không ai cho mượn. Nghiệt lắm.

Ái Lan có tật ngủ trưa, ngày nào cũng đánh một giấc từ một giờ trưa không sai suyển. Có hôm tôi xách xe đi làm, - hai giờ rưỡi chiều, - mà còn thấy Ái Lan nằm há miệng ngủ ngon lành. Chẳng biết định ngủ đến mấy giờ với một dáng điệu tin tưởng như vậy. Tóm lại, một người như Ái Lan không phải là một người giúp việc tốt. Tôi buồn rầu chấp nhận số phận của mình, tôi đâu có quyền đòi hỏi nhiều ở Ái Lan? Nó trẻ dại và quê mùa, chỉ biết giúp đỡ tay cho một người đàn bà. Sai nó lặt rau, giã đậu, băm thịt, thổi lửa, vo gạo…, những công tác rời rạc như vậy thì tốt. Đằng này tôi giao cho nó tiền và nó phải tự chỉ huy lấy. Nhiều bữa đã một giờ trưa mà trên bàn ăn vẫn vắng ngắt. Nó mê mải chí thú nhổ cho sạch lông một con vịt và khi thú vị nhìn công trình của mình hoàn tất viên mãn thì còi mười hai giờ đã hụ lên. Ái Lan là tân binh quân dịch chưa kịp trải qua một khóa huấn luyện để lên cấp bực binh nhì, thế mà bước vào gia đình chúng tôi nó đóng đến lon Trung Tướng Tổng Tham mưu trưởng. Tôi và mấy đứa con phải chấp nhận sự điều khiển tài tử đó mà không có cách gì phản kháng. Chúng tôi đều không dư thì giờ để luôn luôn góp phần hoạch định chương trình với vị chỉ huy đó. Đôi lần chúng tôi có đem nhiều thiện chí ra để bàn bạc, nhưng khi thi hành vị chỉ huy đó làm rối bét ra hết. Món ăn nào cũng vừa sống vừa cháy.

Chỉ huy chúng tôi được hai tháng rưỡi thì Ái Lan xin về Tuy Hòa thăm nhà. Tiền lương đã nhận đủ ba tháng, áo quần thì tôi may dành cho cả năm, thế mà bây giờ bỏ đi ngang. Nói:

- Thầy cho về thăm một tuần. Rồi con vô. Bây giờ trời còn tốt đi ghe yên ổn, sợ ít ngày nữa mưa gió đi về không bảo đảm.

Biết đặt điều kiện gì để buộc Ái Lan phải trở vô? Tất cả những điều kiện đều vô ích. Thời đại này giao kèo còn không đủ bảo đảm thay.

- Mực khô ở Tuy Hòa rẻ hơn ở trong này nhiều lắm thầy. Có chín mươi đồng một kí. Thầy có mua thì con mua vài kí.

Tôi đưa ba trăm bạc cho Ái Lan như để mua thêm hy vọng rằng Ái Lan sẽ trở lại chớ tôi không tin rằng giá mực khô ở Tuy Hòa chỉ bằng một phần tư giá ở đây.

Ái Lan đi biệt tăm không trở lại. Những thời hạn “một tuần” trôi qua liên tiếp. Tôi không ngạc nhiên lắm vì tôi đã chuẩn bị trước là Ái Lan sẽ đi luôn. Ái Lan trở lại đúng hẹn mới là điều làm tôi ngạc nhiên. Chúng tôi lại nhắn nhe nhờ bà con láng giềng tìm cho một người. Trong khi chờ đợi, chúng tôi gọi hàng cơm tháng mang cơm đến. Áo quần thì ngâm bột Tide. Bàn ủi thì dùng thứ INUI nhẹ, mỏng, thứ “for school, traveling” 1. Thỉnh thoảng chúng tôi nhắc đến tên Ái Lan và dù không muốn, chúng tôi cũng phải nghĩ đến mấy chữ đi kèm theo cái tên mỹ miều đó: “Ái Lan sắc nước khuynh thành” 2. Nhân vật nào đó nhỉ, - Ái Lan, - mà quen thuộc đến thế, mà có văn thơ ca tụng hết mình như thế? Tôi không buồn vì bị Ái Lan lừa, không tiếc số tiền đã mất. Có người trách tôi dại sao không giữ lại những quần áo mình mới may. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ hối hận biết mấy nếu tôi đã giữ số quần áo ấy và Ái Lan đi luôn. Tôi muốn có nhiều phương tiện để làm những cử chỉ đẹp, đẹp hoàn toàn, không vụ lợi. Cuộc tranh sống cam go khiến con người mỗi ngày mỗi bần tiện thêm lên nên mỗi khi có dịp làm một cử chỉ đẹp, ta thấy sung sướng khôn cùng.

Một buổi tối buồn, tôi lững thững bước vào một tiệm giải khát ở đầu phố. Đèn màu âm u. Âm nhạc rập rình như sóng, trên đó tiếng hát chơi vơi, khắc khoải, tuyệt vọng. Buổi tối cuối tháng, có nhiều ghế trống. Năm sáu người Mỹ không bao nổi hết số chiêu đãi viên. Vài người thanh niên mặc sơ-mi ca-rô ngắn. Ở bàn cạnh tôi, một quân nhân ngồi với một chiêu đãi viên mặc đầm màu đỏ. Họ kề sát đầu vào nhau nói chuyện. Giọng người đàn ông trầm xuống. Giọng người đàn bà lanh lảnh bay qua bàn tôi.

-… Mốc xì. Anh nói mới hành quân qua làng của em hả? Dóc tổ. Mới nghe em nói bây giờ nói dựa theo… Thiệt hả? Ừ, đúng… Qua bến đò La Hai. Phải, ở bên kia là Gò Chai… Anh nói cái nhà mái lá ở chỗ bến đò hả? Cháy rụi hết? Chắc là nhà ông Xã Hà Bằng đó… Ờ, hồi xưa nhà đó giàu lắm. Muổng đường, anh biết muổng đường không? Chắc ở ngoài Bắc không có muổng đường đâu. Đường mía người ta đổ vô những cái muổng bằng đất sét để lọc cho thành đường cát đó…, muổng đường xếp chạy dài suốt cả hai chái nhà trên, ở hiên sau, ở nhà ngang. Lúa nữa. Bắp nữa. Đậu phộng đậu xanh nữa… Ờ, phải, miền đó ruộng khô trồng đậu phụng đậu xanh. Hồi đó em hay lùa bò đi qua đám đậu phụng của “ổng” để ra bến đò Gò Chai cho bò uống nước. Có một bữa bò nó băng vô đám đậu, ủi lên ăn rào rạo. Em sợ trối chết, quất bên này nó chạy bên kia. May quá nhờ có thằng Điều nó ra đuổi dùm. Tội nghiệp, em mới nghe tin thằng Điều đã bị máy bay gắp rồi. Nó cứ láng quáng ở “ngoãi” không nỡ bỏ làng, bỏ ruộng, bỏ bến, bỏ bò… Phải, phải rồi, chỗ đó có cái miễu. Chòm cây đó xưa lắm, tên là cây gì em cũng không biết. Hồi nhỏ em hay thả bò cho ăn ở gò đó… Tội nghiệp chưa. Sao anh ác vậy? Đồng bào của mình đó chớ ai. Ờ ờ, em hiểu rồi…

Ý chừng người quân nhân kể chuyện mãi không còn thích thú nữa nên thừa lúc nàng vô ý anh lùa hai tay vào nách khiến nàng cười rú lên vừa đập bình bịch vào lưng anh ta:

- Anh quỷ này. Nhột nhột. Chơi nghiệt quá.

“Nghiệt quá”, chữ dùng quen thuộc của Ái Lan!

Câu chuyện hành quân trên kia là câu chuyện của làng Ái Lan đó. Bao nhiêu là biến cố đã dồn dập xảy ra trên mảnh đất đó. Nhà cháy. Trâu bò chết. Đồng ruộng bỏ hoang. Người ta lớp chết lớp chạy bỏ làng. Đường cái trong làng không có dấu chân đi, lần lần cỏ mọc chụp lên, bụi cây trồi lên, đan dày vào nhau, biến thành rừng rậm, biến thành rừng hoang. Cỏ mọc đầy những sân nhà, mọc lấn vào hiên, mọc trùm lên cửa, mọc ngay giữa nền bởi tranh kia rạ kia mỗi ngày một mủn, mưa khoét mỗi ngày một to, mưa phá gãy rui mè, mưa xối giữa nền, ánh nắng và giọt mưa dọi đến đâu là cỏ mọc lan theo đến đó.

Cô chiêu đãi viên này cùng một lứa tuổi với Ái Lan. Vóc người nhỏ thó. Cặp đùi đen, da cháy như đã từng bị phơi ra nắng nhiều. Những ngón chân xoạc ra giữa quai guốc cao gót trông như ngón chân của một con ếch. Chắc cô ta là bạn chăn bò của Ái Lan, bạn đi củi, bạn đi chợ. Nếu tôi lại hỏi cô ta về tin tức Ái Lan thì chắc chắn là cô ta sẽ nói rõ. Có thể Ái Lan hiện giờ cũng mặc đầm như vậy, cũng đêm đêm đánh phấn tô son, vẽ khóe mắt xếch ngược lên và bới mái tóc cao bốn tấc. Có thể Ái Lan đã trở về làng mặc sơ-mi măng-sết và đi cắm bàn chông với bạn mỗi buổi chiều. Có thể Ái Lan vẫn đi quơ cỏ lúa ở đồng Hòa Kiến, chặt củi ở núi Chóp Chài và mò ốc trên bãi sông Đà Rằng. Cái gì Ái Lan cũng có thể vui vẻ làm, không bận tâm suy nghĩ băn khoăn, như con chim sơn ca kia không phân biệt hột lúa này và con sâu nọ là của riêng của cánh đồng nào.

(Trích từ tập truyện Những Giọt Đắng)   
--------------------------------
1Dùng khi trọ học, khi đi du lịch.
2

Tên một cuốn phim thời danh, kể mối tình nàng Hélene thành Troie.


 

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2025

ĐÊM GIÁNG SINH CƯ XÁ - Ngy Sơn


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hát cho quên cả một đời hệ lụy
Kiếp xa nhà rất hiếm những niềm vui 
Đêm lạnh lắm. Giọt sương mềm nặng trĩu
Hát lên cho tim ấm lại tình người
 
Vỗ hai tay thật đều theo giọng hát
Những bạn bè một tối ở quanh ta
Ngày mai những nụ cười rồi sẽ tắt
Chỉ còn là thoáng nhớ những âm ba
 
Trao nhau những nụ cười trong đêm tối
Cuối năm về trong cư xá buồn tênh
Đêm sẽ tắt và ngày xa sẽ tới
Bạn bè rồi như tiếng hát lênh đênh
 
Cũng đi dạo một lần quanh sân viện
Đêm tối mù - Sương lạnh ướt bờ vai
Lời ca nhỏ buồn như lời giã biệt
Trên đường đi in dấu bóng ngậm ngùi
 
Mừng Giáng sinh cùng những ngày xa lạ
Với bạn bè ta hát tối hôm nay
Đêm đã tắt cùng nỗi buồn cư xá
Những ngày dài năm mới ở trong tay
 
                                                 NGY SƠN
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 82,  tuần lễ từ 22-12 đến 29-12-1972)
 

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

ĐÊM GIÁNG SINH NHỚ ĐỜI - Vương Kinh Kha

 
Chiều hăm bốn, tính đi tính lại tôi đã có gần chục thiệp mừng Giáng Sinh và bốn thiệp mời ăn "rề vây dong". Chỗ khó nghĩ không phải là những thiệp mừng Giáng Sinh mà chính là bốn thiệp mời đi ăn. Bởi nếu cần, bạn có thể ra Bưu điện mua đại vài chục thiệp Giáng Sinh rồi đem phân phát trả nợ, thế là xong. Đằng này bốn chỗ mời đi ăn. Bạn thử nghĩ phải làm sao? Hai chỗ kia của hai thằng bạn, có thể tạm dẹp tiệm đi. Còn hai chỗ của hai cô bé, chỗ nào cũng là thâm tình cả. Thật khó nghĩ vô cùng. Chỉ không đầy bốn giờ để quyết định dứt khoát. Bốn giờ để thu xếp cho êm ấm đôi đàng, mà sao đầu óc tôi rối tơ rối vò. Vả lại, năm giờ chiều hôm nay tôi lại có cái hẹn với cô nhỏ đường NAN. Cô nhỏ nhờ đưa đi mua sắm chút ít đồ dùng để tổ chức ăn "rề vây dong". Tôi định vừa đưa cô nhỏ đi mua sắm, vừa tính sao cho khỏi mang tiếng "bắt cá hai tay". Bốn giờ rưỡi, tôi đã "ma ki ê" xong. Sắp sửa đi đến nhà cô nhỏ đường NAN thì có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ cửa dồn dập như lúc cảnh sát xét nhà. Tôi bực mình hết sức nhưng cũng phải ra mở cửa. Người đứng ngoài không ai khác hơn là cô nhỏ trường TQC, một trong những chủ nhân thiệp mời ăn "rề vây dong".
 
- Ủa! Điệp đi đâu đây?
 
Chưa trả lời tôi cô bé đã khóc hu hu.
 
- Anh ơi... xe đạp em mất rồi... hu... hu...
 
- Mất ở đâu?
 
- Em vào tiệm mua đồ xong trở ra tìm hoài không thấy. Những người chung quanh cũng không ai biết... hu...
 
- Đã cớ cảnh sát chưa?
 
- Chưa! Mới hay mất là em tới anh liền!
 
- Rồi bây giờ làm sao?
 
- Em đâu biết làm sao?
 
Cô nhỏ thút thít khóc, khóc mùi như con nít. Tôi trấn an cô nhỏ:
 
- Đằng nào cũng đã mất, thôi nín đi. Để anh tính coi.
 
- Anh tính lẹ dùm đi. Về nhà chắc bị đòn quá... hu hu...
 
Thiệt là rắc rối. Chỉ còn mười lăm phút nữa là tới giờ hẹn, tự nhiên lại vướng vào chuyện gì đâu không. Tôi nói với cô nhỏ:
 
- Thôi, giờ ra xe anh chở đi cớ bót.
 
Cũng may mà việc lập thủ tục ở bót cũng lẹ. Lúc trở ra nhìn đồng hồ mới năm giờ mười lăm. Chỉ trễ mất mười lăm phút. Tôi đề nghị đưa trả cô nhỏ về nhà, cô nhỏ lại dẫy nẩy:
 
- Không, về nhà anh đi rồi tính. Em chưa dám về nhà giờ đâu!
 
Chúa ơi! Giờ là năm giờ hai mươi!
 
Tôi không biết phải nói với cô nhỏ làm sao. Đành phóng thẳng về nhà. Cô nhỏ lại làm một màn khóc mùi. Tôi đi tới đi lui trong phòng. Đốt thuốc lia lịa. Ơi là oan gia! Khổ thân tôi chưa? Giờ này rủi mà cô nhỏ đường NAN đợi hoài không thấy tôi đến, lại lù lù đến nữa chắc chỉ có chết! Nhìn cô nhỏ khóc hoài thấy cũng tội, tôi đề nghị:
 
- Thôi giờ anh đưa Điệp về. Bảo với ba má là cho ai mượn xe, xong rồi mai sẽ tính.
 
- Đâu được! Mai không có xe cũng lại bị đòn. Anh tính cách khác đi.
 
Họa may chỉ có trời mới tính nổi chuyện này. Còn tôi thời đã hết đường "binh". Quen với các cô nhỏ khổ thế đấy các bạn. Lúc nào các bạn cũng như là người máy. Phải giải quyết dùm những chuyện  hết sức là phiền. Đôi khi các bạn sẽ là tài xế, là ông thầy, là thợ chữa "bu di", là thợ sửa giày...
 
Cô nhỏ lại dục:
 
- Tính lẹ đi anh! Em xin phép đi chỉ có một giờ. Về nhà còn sửa soạn nhà cửa nữa. Hay là như vầy...
 
- Sao?
 
- Anh đưa em về nhà. Bảo với ba má em là xe bị hư nên bỏ lại nhà anh.
 
Nghe cô nhỏ đề nghị, tôi muốn toát mồ hôi. Không dưng lại dính líu vào chuyện nói dóc người lớn. Nhưng muốn cứu cô nhỏ và cứu cả tôi với cái hẹn năm giờ, tôi đành gật đầu. Bây giờ tôi chỉ còn tí hy vọng gặp cô nhỏ đường NAN khi đã đưa cô nhỏ này về nhà.
 
Vừa đến cổng nhà cô nhỏ, tôi đã nghe tiếng đàn bà. Chắc là má cô nhỏ:
 
- Điệp ơi! Con lấy xe chạy đi tìm thằng Tùng xem nó đi đâu, từ sáng tới giờ vẫn chưa thấy về.
 
Cô nhỏ bối rối ra mặt:
 
- Dạ... dạ...
 
Tôi xuống xe chào má cô nhỏ. Chưa dứt tiếng chào bác thời cũng đã nghe lời đề nghị:
 
- Hay là con nhờ cậu này đưa con đi tìm thằng Tùng vậy!
 
Tôi ú ớ trong miệng. Chỉ có cô nhỏ là mau miệng:
 
- Dạ được rồi, má ở nhà để con đi tìm cho.
 
Cô nhỏ dục tôi:
 
- Đi anh!
 
Tôi đứng như chôn chân dưới đất, chẳng biết nói sao với cô nhỏ. Mọi khi được đèo cô nhỏ đằng sau là tôi khoái ghê gớm. Nhưng hôm nay vì cái hẹn năm giờ thành ra tôi cứ như là ở nhà thương điên mới ra. Để rồi cuối cùng cũng phải đạp xe và đèo cô nhỏ đi.
 
Bây giờ là bảy giờ hơn. Coi như cái hẹn với cô nhỏ đường NAN thành ra cái hẹn lèo. Vừa đói vừa run, tôi lái xe suýt té mấy lần. Sau gần một giờ xục xạo không biết bao nhiêu là địa chỉ, cậu bé em cô nhỏ vẫn không thấy tăm dạng. Cô nhỏ bảo tôi chở về nhà. Đường phố lúc này đầy người. Thiên hạ đua nhau đi vui như tết.
 
Chở xong cô bé về nhà, tôi hối hả chạy đến cô nhỏ đường NAN. Nhưng vừa qua khỏi hai con đường, chiếc xe tôi chết ngủm vì hết xăng! Giời ạ! Con có làm gì nên tội? Tôi lại xuống xe và dẫn bộ tìm xăng lẻ. Nhưng với khúc đường này, họa may đến tết Công gô mới có người bán xăng vào giờ này. Tôi lại làm một màn dắt xe về nhà.
 
Khoảng hai tiếng đồng hồ sau tôi mới về đến nhà. Mồ hôi ướt như tắm. Nhưng ý định gặp lại cô nhỏ đường NAN vẫn còn. Tôi lại "ma ki ê" một lần nữa, rồi định tìm Honda ôm để đến cô nhỏ đường NAN. Chưa xong đâu cả, tôi mới mang được mỗi chiếc giày thì lại có tiếng gõ cửa. Tôi cầm luôn chiếc giày còn lại hậm hực ra cửa.
 
Chúa ơi! Cô nhỏ đường NAN!
 
Cô nhỏ mặt hầm hầm như sắp lên võ đài. Tôi chưa nói được câu nào, cô nhỏ đã ào ào:
 
- Ngon ghê! Hẹn người ta năm giờ mà không thèm tới. Tưởng đâu bận gì dè đâu bận chở đào. Không gặp anh ở đường TBT chắc anh còn chối dài. thôi hết! Coi như không còn quen biết gì nữa. Chào anh!
 
Nói xong cô nhỏ lên xe đạp thẳng. Tôi còn đang ngơ ngác như trên trời rớt xuống, thời cô nhỏ đường TQC ở đâu lại lù lù xuất hiện.
 
- Định tới mời anh lại nhà, nhưng giờ đã bỏ ý định rồi. Anh bận đi với ai thì đi đi. Sao không chở người ta đi mà lại để người ta đạp xe về một mình? Cám ơn anh, xe tôi không mất mát đâu cả. Thằng em nó lấy đi mà không cho hay. Giờ tôi về. Chào anh!
 
Cô nhỏ lại đạp xe cái ào. Còn lại chiếc giày trên tay tôi, tôi liệng luôn ra đường và trở vào nhà khép cửa cái rầm.
 
Chúa ơi! Con có tội gì?
 
 
VƯƠNG KINH KHA      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 150, phát hành ngày 18-12-1974)
 

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2025

NOEL ÊM ẤM QUÁ - Nguyễn Đình Hiếu


- Em là giám đốc hãng tăm tre phải không"
 
- Bộ anh không là quản lý tiệm bán chân nhang sao"
 
- Coi anh gồng tay này... Gồ chưa?
 
- Xí. Con chuột của anh bị dịch, trơ cả lông, lòi cả xương.
 
- Em chê anh?
 
- Nếu là sức khỏe, em chê chẳng ngại ngần.
 
- Còn...
 
- Còn chi?
 
- Còn chuyện tụi mình?
 
- Tụi mình?
 
- Ừ.
 
- Không thèm nói.
 
- Giận à?
 
- Thèm. 
 
- Thương à?
 
- Ghét.
 
- Vậy anh về.
 
- Đừng làm tàng.
 
- Ai biểu mặt em cứng như nước đá lạnh.
 
- Ba sạo nữa đi.
 
- Em buồn thiu.
 
- Kệ người ta.
 
- Coi kìa, chưa chi đã ù lì.
 
- Có sao không?
 
- Có chứ.
 
- Sao?
 
- Em như thế làm anh càng yêu em thêm.
 
- Nịnh.
 
- Phải nịnh chứ.
 
- Nịnh thêm tí nữa.
 
Người con gái nhắm đôi mắt đẹp. Nàng vẫn thấy bầu trời xanh mịn và hình ảnh đứa con trai hiện ra rõ rệt quá. Đứa con trai dìu nàng về nhà. Trời lạnh lắm. Mùa đông mà. Nhất là thành phố cao nguyên này lúc nào cũng nhiều gió và màu đen xẫm trời đất.
 
Hãy nghe họ đối thoại.
 
- Giáng Sinh em ở nhà nha? 
 
- Chúa phạt chết.
 
- Chúa cao vời. Anh sát rạt nè.
 
- Chúa an ủi em. Anh dụ khị em.
 
- Còn khuya.
 
- Đừng nói càn.
 
- Thưa cô, vâng ạ.
 
- Đó. Hãy dễ thương như thế.
 
- Ừ.
 
- Không được. Hãy trả lời ngoan ngoãn.
 
- Vâng ạ.
 
- Được lắm.
 
- Còn điều gì bắt anh ngoan ngoãn nữa không?
 
- Giáng Sinh hãy để em đón Chúa.
 
- ...
 
- Chịu không?
 
- Buồn chết.
 
- Hãy đến nghe tụi em hát thánh ca.
 
- Anh ghét người điều khiển tụi em quá.
 
- Ê. Đừng nói bậy. Ông ấy là linh mục đó.
 
- Kệ.
 
- Sao vậy?
 
- Mỗi lần anh đến nhòm em hát, ông ta cứ trừng mắt anh.
 
- Ai biểu anh đến giữa lúc nhiều người đang hát, nhất là đang hát những bài của Chúa, gửi Chúa.
 
- Ai biểu em cứ đi tập hát. Anh nhớ quá thể.
 
- Mỗi ngày gặp nhau mấy lần?
 
- Hai ba lần chứ mấy.
 
- Bộ ít lắm sao?
 
- Ít xỉn.
 
- Anh ham ăn.
 
- Không phải. Anh ham gặp em.
 
- Sao vậy?
 
- Em là điều kiện ắt có và đủ để anh sống.
 
- Hãnh diện quá ta.
 
- Thiệt mà.
 
- Em có bảo anh nói dóc đâu.
 
- Ừ há.
 
- Anh ngớ ngẩn thấy mồ.
 
- Mặc kệ.
 
- Hèn gì tụi bạn em cứ gọi anh là "ông ngu ngơ ngác".
 
- Càng tốt.
 
- Anh lì quá.
 
- Không lì thì em trốn anh từ khuya.
 
- Đừng vu oan.
 
- Không lì thì đâu có tối hôm nay.
 
- Đừng vênh mặt.
 
- Không lì thì anh đâu có yêu em.
 
- Đừng ba đía. 
 
Người con gái phủ nhận ngoài miệng những điều đứa con trai xác nhận. Nhưng lòng nàng ấm cúng quá. Chàng đâu có đẹp trai. Đẹp trai để làm cái gì?
 
Nàng có biết ganh tị không? Hay rõ ràng hơn là nàng có biết ghen không? Có chứ. Nàng ghen in ít thôi.
 
- Giáng Sinh anh hãy đi chơi với cô gì đó.
 
- Con nhỏ nào đâu?
 
- Khoan hạ giá người ta. Mới hôm qua em bắt gặp anh với cô ấy dung dăng dung dẻ ngoài phố mà.
 
- À à. Con nhỏ chung sở anh làm.
 
- Sao tình tứ quá vậy?
 
- Anh nhờ nó mua dùm anh cái này.
 
- Cái gì?
 
- Cái này nè...
 
- Trời ơi. Cái kẹp tóc à?
 
- Em chê sao?
 
- Không.
 
- Sao lại hốt hoảng?
 
- Anh mua kẹp tóc để làm chi trong khi tóc em cụt ngủn.
 
- Anh sẽ đợi đến lúc nào tóc em dài.
 
- Rồi sao nữa?
 
- Em sẽ kẹp tóc bằng cái kẹp này.
 
- Nghĩa là...
 
- Chiếc nhẫn là cái kẹp đó. Em cài nó vào tóc, tức là anh đã đeo vào tay em chiếc nhẫn.
 
- Nhẫn gì?
 
- Em thông minh lắm mà, hãy tự hiểu.
 
- Em hiểu rồi.
 
- Dám nói không?
 
- Anh dám nghe không?
 
- Dám chứ.
 
- Em cũng dám nói. Ghé sát tai lại đây, em nói cho mà nghe.
 
Họ thì thầm trông âu yếm quá. Họ chưa hứa hẹn chắc chắn điều gì về Giáng Sinh sắp đến. Còn dăm ba ngày nữa thôi.
 
"Đêm Noel, hát xong, hãy đến hẻm Hướng Dương. Anh đợi. Rất đợi." 
 
"Hẻm Hướng Dương tối mò. Nhưng hy vọng anh là mặt trời. Bừng sáng luôn nhé".
 
Hẻm Hướng Dương là con đường ngắn gần nhà đứa con trai. Mỗi sáng, chàng vẫn bắt gặp nàng ôm cặp đến trường trên con đường đó. Nàng yểu điệu quá làm mặt trời rạng rỡ. Đó là lý do chàng đặt một tên mới (để xài chung) cho con đường ngắn ấy.
 
Buổi trưa, người con gái xuất hiện ở dốc Lao Xao. Sở chàng làm việc ở gần đấy. Và hai đứa vẫn sánh vai gầy đạp lá khô lấp kín mặt đường.
 
Dốc Lao Xao hôm nay buồn bã. Bởi chàng được nghỉ. Nàng cũng được nghỉ. Giáng Sinh mà.
 
Họ đã gặp nhau ở hẻm Hướng Dương lúc tan lễ. Nàng bỏ bữa tiệc đêm ở nhà. Vì nàng cũng nhớ chàng quá sức.
 
- Em nhớ anh quá.
 
- Sao bây giờ mới nói?
 
- Lúc trước em mắc cỡ.
 
- Lúc trước anh cũng mắc cỡ. Nhưng phải can đảm nói để khỏi xa nhau.
 
- Đừng nói chuyện xa nhau lúc này.
 
- Ừ nhỉ. Chúng ta sẽ nói những chuyện gần gũi nhất.
 
- Có anh.
 
- Có cả em.
 
Buổi tối lạnh hết sức mà họ vẫn thấy êm ấm. Họ đang hạnh phúc.
 
Cảm ơn Chúa đã tạo ngày Giáng Sinh để hai đứa biết chắc họ là nhu cầu quan trọng của nhau.
 
Hãy lắng tai vài giây để nghe tim họ đập. Đập một cách rộn ràng, sung sướng.
 
 
NGUYỄN ĐÌNH HIẾU      
 
(Trích tạp chí Tuổi Ngọc số 123, từ 15-12-1973 đến 1-1-1974)
 

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2025

BÔNG HỒNG CHO NGƯỜI YÊU - Rosemary Howland (T. TH. dịch)


Lois nhìn tám tá nhánh hoa hồng còn đẫm sương nằm la liệt dưới nền nhà và nhíu mày chán nản. Còn những chín mươi sáu nhánh hoa hồng đầy gai nữa mà nàng phải róc và chặt gốc để ngâm vào nước. Nàng thở dài nhặt con dao lên róc nhánh thứ nhất. Nàng chợt rụt tay lại, gai đâm phải ngón tay cái của nàng.
 
Ông Cardoni ngồi ở quầy hàng nói vọng xuống:
 
- "Cô nhớ róc cẩn thận cho. Mỗi tấc cành là tiền cả đấy." Ông cau mày nói. "Này, cô nên cầm con dao cho mềm mại một tí", Ông vớ một nhánh hồng và róc bằng một động tác khéo léo. "Cô thấy không? Có khó khăn gì đâu. Không nên làm khổ mình". Nói đoạn ông ta bước vội ra khỏi cửa tiệm.
 
Lois sờ soạng bắt chước lối róc gai của ông Cardoni, nhưng con dao tuột khỏi tay và nhánh hoa rơi vào thau nước đỏ sẫm. Lois buồn rầu nhìn nhánh hoa ; bà Cardoni đang ngồi ở bàn kết những bó hoa, mỉm cười nói. "Thôi, cô đừng lo. Một cái hoa thì có nghĩa lý gì".
 
Lois nói: "Tôi rất tiếc. Tôi đoán có lẽ tôi quá vụng về".
 
Bà Cardoni vội bênh nàng:
 
"Đâu nào, cô làm khéo tay đấy chứ. Dù sao thì cô cũng mới làm có một tuần, chưa quen tay lắm đấy thôi".
 
Một tuần. Tuần lễ trước ngày giáng sinh. Cũng tuần lễ đó năm rồi, một tuần lễ vui đẹp biết bao. Hầu như đêm nào cũng có tiệc tùng và khiêu vũ. Và nhất là có David Chandler.
 
Năm nay thì có nhiều cây thông mình phải trang hoàng, có khách hàng mình phải chiều chuộng. Và có những nhánh hồng đầy gai mình phải róc. Nàng nghĩ "Khi mình làm việc gì vì mục đích tốt thì mình cảm thấy hãnh diện. Nhưng sao tôi không cảm thấy được. Tôi đã 17 tuổi đầu, và đang học năm cuối bậc trung học. Và tôi bị trói buộc phải ngồi đây làm việc trong khi mọi người khác vui chơi thỏa thích. Tôi ghét cay ghét đắng cái công việc này, nhưng phải làm kiếm tiền trả công sửa lò sưởi". Nàng mỉm cười một cách khổ sở. Năm rồi nàng không tin nổi là gia đình mình sẽ có một cái lò sưởi.
 
Bây giờ là buổi chiều áp lễ giáng sinh. Cũng ngày này năm ngoái, cả gia đình quây quần với nhau vui vẻ. Mùi thơm từ những cành thông và hoa hồng quyện khắp nhà. Bầu không khí nô nức đón mừng giáng sinh đó. Những người quen thân ghé lại cả buổi tối để giúp bố trang hoàng cây thông. Và hàng năm, kể từ Robby lớn không còn tin có ông già Noel nữa thì cả nhà ai nấy đều mở quà của mình vào nửa đêm. Những quà tặng xa xỉ và ê hề, mọi thứ đều được gói kỹ bằng giấy màu, dây màu, thắt nơ và kèm theo những các chúc mừng nữa. Mọi thứ đều tỏ vẻ ấm úng. Hạnh phúc vô ngần.
 
Nhanh thật. Chỉ một năm ngắn ngủi mà mọi thứ đều thay đổi. Năm nay bố phải ngồi trong xe đẩy. Hạnh phúc cũ biến mất, tiền bạc đổ dồn vào việc chữa trị bố. Năm nay quà tặng sẽ là niềm thông cảm mà thôi. Cả nhà sẽ giả vờ vui vẻ, nhưng không dễ gì thế. Chắc tất cả sẽ buồn chết đi được. Mẹ làm ở nhà may, Jack làm ở một siêu thị, còn Robby thì...
 
Mùi hương hoa hồng nồng tỏa, ngạt cả hai lỗ mũi. Tiền bạc làm đổi khác mọi thứ. Gia đình không đủ tiền trả cho y tá săn sóc bố khi ở bệnh viện về. Lois phải xếp đặt lại các giờ học để có thể về nhà sớm thay mẹ đi làm chiều. Điều đó có nghĩa là nàng chả còn thì giờ rỗi rảnh đi đấu láo với bạn bè, đi ăn kem ; không còn thì giờ theo bạn bè hoạch định chương trình vui chơi nữa. Cuối cùng nàng như bị bạn bè bỏ rơi. Ngay cả David Chandler cũng không buồn đoái hoái tới nàng.
 
Lois đã róc xong những nhánh hồng. Nàng bắt đầu mang hết những bình hoa bỏ vào tủ lạnh giữ cho tươi hoa.
 
Ông Cardoni gọi vọng vào:
 
- "Trời ơi, cô vội lên chút coi. Tôi cần cô ra ngoài bán cho người ta." Lại vội. Nàng đã vội cả tuần nay. Cũng bởi nàng đã chui đầu vào việc làm nầy. 
 
Ông Cardoni đã cho nàng biết trước: "Công việc hơi cực cả buổi chiều lẫn buổi tối trong tuần lễ kề Giáng Sinh. Chúng ta phải bán hết, có thể kéo dài tới tối khuya". Không biết sao nàng lại nhận việc này, có lẽ nàng hơi gàn. Nếu không làm việc thì nàng đã nhận lời dự Pạt-ty tụi bạn mời rồi. Và nếu nàng đi thì David đã mời nàng đi "Boum" Giáng Sinh, thay vì mời con nhỏ Cynthia Wilson láu cá đó rồi. Có lẽ vậy.
 
Ai đó đã đặt ở bàn làm việc của nàng một thùng gỗ lớn. Bà Cardoni nói: "Thêm một số hoa hồng nữa cô ạ." Bà trông thấy vẻ mặt chán nản của Lois, vội cười: "Cô không phải róc chúng đâu. Thứ này chỉ bán lẻ gắn lên áo, cành không dùng đến. Cô chỉ việc ngâm chúng vào nước." Lois nhẹ nhỏm người, với tay mở thùng ra. Một lố hồng vàng, một bó hồng trắng và một bó hồng gì lạ lạ. Lois cầm lên tấm tắc khen đẹp và hỏi: "Đây là hoa hồng gì vậy, thưa bà?"
 
Bà Cardoni nhổm người về phía trước nhìn. "À, đó là hoa hồng "tình quân" cô ạ. Loại này kết trên áo dạ hội rất đẹp". 
 
Lois nói:
 
"Dễ thương quá. Hoa hồng tình quân. Tên đẹp nhỉ!" Nàng đặt bó hoa vào tủ lạnh. "Tình quân", nàng nghĩ. Một chữ rất cổ lỗ! Người ta chỉ còn dùng để gọi loài hoa hồng. Với người thì không. Không người trẻ nào nói Dave Chandler là tình quân của nàng mà họ đều gọi là "bồ" hay kép của nàng thôi.
 
Ông Cardoni mang một đóa hoa đến trước mặt nàng giận dỗi quát lên: "Này cô xem đây, cột làm sao mà để hoa rơi ra thế này. Tôi đã bảo với cô nhiều lần là phải thắt chặt cái nơ lại. Cô không chịu nghe gì cả."
 
Lois ấp úng:
 
"Tôi xin lỗi; Tôi tưởng đã cột kỹ rồi." Và nàng nghĩ:
 
"Giáng Sinh ôi Giáng Sinh!"
 
Gần đến ngày giáng sinh, thời gian như trôi nhanh hơn và khách hàng đến mua đông hơn. Nàng phải gói hàng liền tay để kịp gửi tới từng nhà. Công việc trở nên bề bộn và hối hả hơn. Có 1 cô gái mua một bó hồng trắng tặng mẹ cô ta và trả tiền bằng một số đồng cắc và xu. Lois tin chắc là cô ta đã để dành trong nhiều tháng qua. Một người đàn ông ăn vận rách rưới cũng không ngần ngại mua 1 tá hồng với giá tám đô la. Và một người đàn bà ăn mặc sang trọng xem xét đủ thứ rồi cuối cùng chỉ mua vài nhánh khẳng khiu đáng giá 15 xu!
 
Lois vẫn lúng túng chưa quen với công việc cửa hàng. Có lần nàng dẫm phải một bình hoa, làm bẹp dúm vài đóa hoa cúc. Nàng làm bể một chậu kiểng bằng sành nhưng dường như nàng không quan tâm đến mấy. Dù sao thì cả mùa Giáng Sinh đối với nàng là một sự lầm lỡ nên có gì nữa đâu mà phải quan tâm đến?
 
Lois mệt mỏi xoay qua một khách hàng kế tiếp. Khách là một thanh niên khá "bô" trai. Chàng ta đang nhìn chăm chú vào tủ chưng bày các loại hoa.
 
Xoay về phía Lois, chàng reo lên ngạc nhiên:
 
"A, Lois, tôi không ngờ Lois làm ở đây chứ?"
 
Lois hoảng hồn, hai bên thái dương nóng rần lên. Nàng nói, giọng có vẻ ngờ nghệch:
 
"Ô, anh Dave, Dave Chandler"
 
Chàng nói:
 
- "Chào Lois, Lois làm đây lâu chưa?"
 
Lois cảm thấy như lưỡi nàng bị tê cứng. Nàng thấy ngượng và muốn độn thổ ngay lúc đó. Nhưng nàng trấn tĩnh và nói: "Chỉ làm vào những ngày lễ thôi anh ạ" Cả hai đứng lặng nhìn nhau một lúc. Chợt Dave nói:
 
- "Mấy hôm rày không thấy Lois, Lois biến đâu vậy?"
 
Lois nói:
 
- "Bố em bệnh. Bố gặp tai nạn nên em phải ở nhà săn sóc bố, anh ạ".
 
- "Tôi mong bác sớm lành bệnh".
 
- "Cám ơn anh. Bố em cũng đỡ nhiều rồi".
 
- "Có lẽ Lois sẽ trở lại vui chơi với chúng tôi sớm" Dave nói.
 
- "Có lẽ"
 
- "Tôi hy vọng như vậy".
 
Và Lois có cảm tưởng là Lois nói thật. Nàng nói: "Cảm ơn anh".
 
Dave nhìn nàng. Cả hai im lặng. Chợt nàng nghe Dave nói:
 
- "Cái lối từ bỏ bạn bè của Lois thật buồn cười. Tôi muốn nói... mà tôi đoán là Lois hiểu tôi muốn nói gì rồi".
 
- "Vâng, em hiểu anh muốn nói gì" Nhưng cái lối nói chuyện này chỉ làm cho cả hai ái ngại thêm mà thôi. Cố gắng lắm, Lois mới nở nổi nụ cười "Anh muốn mua gì nào?"
 
- "À, tôi nuốn mua một bó hoa cho Pạt-ty tối nay . Mà Lois không đi sao?".
 
Nàng cắn răng nói nhanh: "Không anh ạ, em phải làm việc. Anh biết chị ấy mặc áo màu gì không?"
 
- "Tôi nghĩ là màu đen".
 
- "Những thứ hoa này đều hợp với màu đen. Anh đã định mua loại nào chưa?"
 
- "Chưa. Thế bao nhiêu một bó hoa?"
 
- "Bảy đô la 60 xu"
 
- "Úi chao, nhiều quá, tôi thấy không kham rồi. Nội cái vé vào cửa khiêu vũ cũng khá bộn bạc rồi. Điệu này chắc "lưng tài" đến nơi" Chàng nhìn bó lan, nói:
 
- "Ối, tôi không thích lan lắm. Trông chúng như một loại cây rừng biết ăn loài khác vậy." 
 
Lois cười: "Bảo đảm nó không cắn đâu mà sợ".
 
Chàng nói: "Thật đấy, cạn túi rồi. Chỉ còn ba đôn. Thôi, cho tôi thứ nào với giá đó đi, Lois ạ"
 
- "Cúc trắng nhé? Cài trên áo màu đen thì nổi lắm"
 
Chàng lắc đầu nói:
 
- "Cynthia đâu có chịu cúc trắng. Tôi chả biết tại sao nữa." Lois nghĩ: "Mình biết tại sao nhỏ Cynthia không thích cúc. Nhỏ nói cúc trắng thường quá, ai chả có. Quê quá."
 
Dave nói:
 
- "Lois chơi thân với Cynthia lắm mà. Lois có biết nàng thích thứ hoa gì không?"
 
Lois suy nghĩ, nói: "Em sẽ mách cho anh biết, Dave ạ. Em nghĩ nàng thích thứ hoa nào khác lạ, nàng là mẫu người thích chưng diện những thứ mới lạ". Lois với tay mở tủ lạnh và bê ra một bình hoa. Một loại hoa trông giống như hoa huệ nhưng có màu hồng đậm và búp màu đỏ sẫm.
 
Dave nhìn, do dự: "Trông giả tạo làm sao ấy."
 
Lois thừa nhận: "Đúng vậy, nhưng Cynthia lại thích cái gì khác người, nghĩa là không giống ai hết".
 
Dave hướng về phía tủ kính: "Thật sao? Kia thứ hoa gì kia nhỉ?"
 
Lois chồm người tới trước nhìn theo ngón tay Dave chỉ:
 
- "À, đó là hoa hồng tình quân
 
- "Chà, trông đẹp quá nhỉ. Không biết người ta có dùng thứ hoa đó cài lên áo không, Lois nhỉ?"
 
- "Có chứ."
 
- "Bao nhiêu ; ba đôn?"
 
- "Em đoán thế."
 
- "Thế nào, Lois có nghĩ là nàng thích thứ đó không?"
 
Lois ngập ngừng:
 
- "Em không biết Dave ạ. Em nói thật đó. Thứ hoa đó rất dễ thương, em thích lắm. Nhưng chắc Cynthia không ưa đâu".
 
- "Ừ, mà tôi chả biết tại sao có cô lại không thích thứ hoa đó. Trông chúng xinh ghê và đầy nữ tính".
 
Chàng đã quyết định, và Lois mang bó hoa ra cho bà Cardoni kết lại. Nàng nói: "Bà làm ơn kết cái này đặc biệt một tí nhé. Một người bạn của tôi mua đấy." Khi kết xong trông nó rất đặc biệt. Những nụ hồng xòe ra một cách ngoạn mục nổi bật trên nền trắng. Lois cho vào hộp giấy. Nàng cảm thấy ganh tị vì Cynthia sẽ mang những cánh hoa này. Đây là một thứ hoa mà nàng muốn chọn lấy cho nàng, những loại hoa này chỉ hợp với màu áo nổi hơn, với màu áo Cynthia chắc không nổi mấy.
 
Dave sung sướng lắm. Chàng đã chọn được thứ hoa đắc ý. Chàng nói "Trông xinh đấy chứ, Lois. Tuyệt. Cám ơn Lois nhé" Chàng ngập ngừng một lúc rồi nói: "Thật tiếc, Lois không tham dự được Pạt-ty tối nay." 
 
Nàng buồn bã nói: "Em cũng tiếc lắm, nhưng anh hiểu cho việc làm quan trọng hơn là vui chơi."
 
Chàng còn nán lại nói:
 
- "Đúng thế. Sẽ gặp Lois sau. Ấy, tôi muốn nói hy vọng sẽ gặp Lois sớm".
 
- "Vâng, Dave ạ."
 
Nàng muốn Dave phải đi lập tức khi nàng còn giữ được nụ cười héo hắt trên môi. Chàng là một chàng trai tử tế, tao nhã, cố làm cho nàng cảm thấy đỡ buồn tẻ, nhưng không ích gì, không ích gì Dave ạ.
 
Chàng bước ra tới cửa, còn xoay lại nói:
 
"Chúc mừng Giáng Sinh."
 
- "Chúc anh một đêm Giáng Sinh vui vẻ." 
 
Lois có thể khóc được vì cảm thấy cô đơn và bị ruồng bỏ. Nhưng nàng không có thì giờ rỗi rảnh để khóc. Thì giờ dành hết cả để tiếp khách hàng, để cột hoa, để viết thiếp Giáng Sinh cho kẻ khác. Bữa ăn tối chỉ là một miếng xăng uých mua ở tiệm về. Khoảng 10 giờ sự vội vã mới dần lắng dịu, nhưng khách vẫn còn mua lai rai. Những phút cuối cùng người ta tất tả đến mua cho được một cành hoa để tặng người bà con ở đâu miệt Keokuk, hay mua một cây thông về đặt trong góc nhà còn trống chỗ.
 
Lois thừ người ở bàn việc, mệt mỏi, xanh xao, cột những đóa hoa lại để kết nơ giao khách hàng. Mãi 12 giờ khuya bà Cardoni mới làm xong. Bà nói:
 
- "Cái cuối cùng đây. Sắp được nghỉ ngơi rồi."
 
Ông Cardoni đi xuống chỗ bàn Lois vẻ mặt hớn hở, nói:
 
- "Rất khá. Chúng ta đã bán sạch cả. Cám ơn bà và cô Lois nhiều"
 
Bà Cardoni đặt một tay lên vai Lois:
 
- "Cô làm việc siêng năng lắm. Âu cũng nhờ cô rất nhiều."
 
- "Đúng vậy". Ông Cardoni đồng ý. Lois nhìn họ cảm động:
 
- "Nhưng tôi cũng đã vấp phải nhiều lỗi lầm. Tôi không nghĩ là tôi làm được việc gì cả."
 
Ông Cardoni kêu lên:
 
- "Sao? Cô muốn nói vì tôi tiếng nặng tiếng nhẹ với cô chứ gì? Ôi, xin cô bỏ qua cho. Vì quá hối hả nên tôi hơi quá lời nhưng tôi nói thật là cô làm việc rất giỏi".
 
Lois nói:
 
- "Vâng, cám ơn ông bà."
 
Ông Cardoni bảo:
 
- "Thôi cô đi lấy áo choàng mặc vào, chúng tôi đưa cô về".
 
Trong xe, Lois ngả lưng ra nệm nghỉ mệt. Nàng thấy khoan khoái như vừa được ra khỏi tù. Bên ngoài, tuyết đang rơi, những bông tuyết trắng xóa bám vào kính xe. Đường phố yên tĩnh, và nàng có thể nghe rõ tiếng chuông đổ hồi từ một nhà thờ Công giáo đang làm lễ Misa nửa đêm. Nếu nàng không phải trở về lại với ngôi nhà buồn phiền để hồi tưởng lại những đêm Giáng Sinh hạnh phúc cũ thì quả là một đêm giáng sinh hoàn toàn vui vẻ.
 
Lúc đến nhà nàng, ông Cardoni mở thùng xe lấy ra một hộp lớn đưa cho nàng, nói: "Chúng tôi xin biếu gia đình cô một bó hoa, xin cầu chúc gia đình cô một mùa giáng sinh an lành." 
 
Lois đứng ở bậc thềm nở một nụ cười chào vợ chồng ông Cardoni trước khi vào nhà. Bên trong đèn bật sáng trưng và những tiếng cười vui vẻ ùa vào tai nàng. Lois nghe mẹ nói: "Lois, cả nhà đang chờ con". Lois nhìn ánh đèn cho quen mắt, nàng chớp mắt như ngờ vực cảnh tượng của những giáng sinh cũ hiện có bây giờ. Cây Noel thật lớn đang đứng uy nghi trong góc nhà, đèn đóm và giấy kim tuyến đủ màu mắc đầy trên cây. Khuôn mặt bố nàng trông sáng và vui tươi như những ngày cũ. Ngọn lửa trong lò sưởi cũng cháy bừng rộn rã như thể gia đình nàng vừa thoát khỏi cảnh nghèo khó. Cũng có những bát bắp rang trên bàn, những quả táo mọng ngọt trên cái đĩa bạc cổ và một số quà gói kín nằm rải rác dưới cây Noel.
 
Jack, em trai nàng, nói: "Chị về đúng giờ. Robby chờ chị muốn hụt hơi" Cậu bé 11 tuổi Robby dõng dạc nói: "Đâu có", nhưng cặp mắt cậu sáng rực lên vì vui mừng.
 
Bố nàng tươi cười nói: "Bậy quá, con không có ở nhà để cùng cắt tỉa cây Noel cho vui."
 
Mẹ nàng giải thích: 
 
- "Jack xin được cây thông đẹp, phải không con? Người ta chất thông một lô ở gần chợ. Jack chờ đến chiều tối. Cây này to quá không ai mua, người ta cho Jack mang về thay vì chở đi đổ cũng vậy."
 
Jack cười:
 
- "Tức là chị không có nhà xem, hai đứa em phải cưa mất gần nửa cây mới mang được vào nhà. Ông Baker có tới phụ chúng em đấy."
 
Lois ngạc nhiên hỏi:
 
- "Vợ chồng ông Baker có tới thăm sao?"
 
Bố nàng nói:
 
- "Vâng. Có cả gia đình ông Tremayne, gia đình ông Jackson nữa. Con biết là mỗi chiều kề lễ giáng sinh thì họ thường ghé lại thăm mà."
 
- "Vâng, con biết". Nàng nói, nhưng không ngờ rằng họ có đến. Vì cả năm nay cha mẹ nàng có tiếp ai đâu. Thế mà người ta vẫn còn đoái tưởng tới gia đình nàng. Chợt nhớ tới bó hoa nàng nói:
 
- "Ông Cardoni có biếu gia đình mình một bó hoa, con để ngoài thềm chưa mang vào."
 
Jack đi với nàng ra mang bó hoa vào, Lois nói với Jack:
 
- "Vẫn như xưa, phải không em. Trông vẫn như những mùa giáng sinh cũ, em nhỉ?"
 
Jack nhìn nàng ngạc nhiên: "Chị muốn gì hơn chứ?"
 
- "Ô, chị đâu có biết, nhưng cả năm nay nhà mình như đổi khác đi".
 
Jack nhặt bó hoa lên, nói: "Có khác gì đâu, chị? Không có gì khác hết. Giáng sinh vẫn như xưa chị ạ."
 
Và khi họ vào nhà, thì quang cảnh không có gì khác thật. Cả nhà quây quần bên nhau: Bố thì đã lành bệnh và không có gì đáng ngại nữa. Căn phòng toát ra cái không khí đoàn tụ ấm cúng. Lois không thấy mệt mỏi nữa. Nàng lấy làm lạ không hiểu sao những gói quà kia không có vẻ gì là rẻ tiền và đáng thương cả, trái lại là khác. Robby đã tự tay làm một cuốn "Album" để tặng nàng. Nó lấy hết mấy tấm hình nàng dán lộn xộn vào cuốn Album bên ngoài có khắc tên nàng. Những tượng gỗ bố nàng đã gọt được ; tấm áo dạ mẹ nàng mua được ở một tiệm bán đồ cổ bán tháo nào đó đã được giặt giũ như mới. Và cái hộp gỗ Jack đã làm lấy trong một lớp thủ công nghệ.
 
Ngồi trong cái ghế bành rộng, Lois nhìn mẹ mặc chiếc áo dạ vào mà ngỡ như đó là chiếc áo lông đắt tiền. Mẹ nàng cũng mang chiếc khăn mà Lois đã cắt từ một mẩu vải còn thừa. Nàng cảm thấy hạnh phúc tràn ngập trong hồn. Lois nghĩ: "Những tặng vật này là một phần thân thể của chúng ta."
 
Trước đây, Lois nghĩ rằng Giáng Sinh là phải đi đến mấy cái "Pạt ty", phải có tiền mua sắm các thứ đắt tiền - Nhưng kỳ thật nó không phải là Giáng Sinh. Giáng Sinh là tình thương, và quà tặng chỉ là một phần nhỏ của tình thương bao la. Một hài nhi đã ra đời trong máng cỏ, hang lừa để mang món quà tình thương đó đến cho nhân loại. Và giờ đây tình thương đó thể hiện trong tâm tưởng của mỗi người, trong sự thương yêu đùm bọc giữa mọi người trong gia đình.
 
Và những tâm tưởng đó không thay đổi, mà lại thăng hoa hơn. Giáng sinh không đổi khác, mà hạnh phúc hơn. Đêm nay phải là đêm hạnh phúc nhất, vì những quà tặng không phải gói kỹ trong những giấy màu lòe loẹt. Quà tặng thực sự là việc làm của mẹ ở tiệm may, việc làm của Jack, của Robby và của chính nàng.
 
Bố bắt giọng cho cả nhà hát: "Đêm Thánh Vô Cùng... Đêm Thánh vô cùng..."
 
Bỗng chuông cửa reo lên. Lois bỗng đứng bật dậy nói: "Để con mở cửa cho." 
 
Dave đứng trước thềm nhà, bông tuyết rơi đầy trên mái tóc, Dave nói:
 
- "Thấy đèn còn sáng, tôi ghé vào chúc mừng giáng sinh." Rồi chàng cười. "Nói chơi chứ tôi phải cuốc bộ tới 5 cây số để đến đây. Dave muốn cho Lois biết là Lois đã nói đúng. Cynthia không ưa thứ hoa đó".
 
- "Thật sao? Ôi, em thật có lỗi." 
 
Chàng nở một nụ cười, nói:
 
- "Nàng không nói là nàng không thích, nhưng tôi đoán biết vậy. Nàng đã muốn cho bằng được bó hoa lan. Nhưng Dave muốn nói với Lois rằng Dave không muốn tặng thứ hoa đặc biệt đó cho Cynthia."
 
Lois khó hiểu: "Không ư?"
 
Dave nói: "Không phải Dave đến đây để trả bó hoa lại, Dave đến đây để cho Lois biết lý do tại sao Dave đã mua thứ hoa này."
 
Tim Lois bỗng đập rộn ràng. Nàng thấy nghèn nghẹn ở cổ: "Lý do gì?"
 
- "Dave đã mua thứ hoa này cho người con gái không hợp với Dave, Lois ạ, Dave đoán vì xa Lois lâu quá, rồi thình lình gặp lại Lois, Dave đâm ra lẩn thẩn. Dave nghĩ là trí óc mình đã thực sự muốn dành bó hoa hồng tình quân tặng riêng Lois thôi. Lois có hiểu David muốn nói gì không?"
 
- "Vâng, em hiểu, em hiểu David ạ." Nàng mở toang cánh cửa, nói: "Mời anh vào nhà chơi, Giáng Sinh rồi anh ạ."
 
 
ROSEMARY HOWLAND (T. TH. dịch)   
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 31,  tuần lễ từ 23-12 đến 30-12-1971)
 

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2025

TRONG MÙA ĐÔNG BUỐT GIÁ - Vũ thị Hải Dương


Khi tôi khoác chiếc áo manteau và đóng cánh cửa lại thì ở ngoài trời, tuyết vẫn rơi đều, nhẹ và trắng như bông. Tôi nhảy như chim xuống những bậc thềm. Đôi giầy lông cừu của tôi vẫn bao bọc những làn hơi ấm áp. Một cái gì vui vui len vào lòng tôi rất nhẹ. Tôi thấy mình hôm nay có vẻ yêu đời và nhí nhảnh quá. Chả bù với mọi hôm, trái tim tôi cứ thở đều bình lặng. Tôi mỉm cười thật nhỏ với chính tôi. Hai bàn tay vẫn nằm co ro trong túi áo, tôi thong thả như đi dạo chơi nhàn nhã. Sáng hôm nay, không dưng tôi vui quá. Con bé Majrorie "tốc" thiệt. Mặc dù trời vào đông, tôi vẫn thấy nắng vàng và những đọt lá xanh non trong ký ức. Tôi thấy ngày hôm nay, những miếng tuyết trắng lạnh băng có vẻ ngọt ngào chi lạ. Cả những hàng cây trụi lá đứng ngẩn ở bên lề cũng ra chiều vui vẻ, đối với tôi. Chả bù cho ngày hôm qua, tôi tức đến nỗi khóc khi con nhỏ Dorothy nắm từng miếng tuyết ném nghịch tôi trên con đường Linsay sương mù trắng xóa. Tôi đã bảo với mẹ tôi là tôi đến nhà con Dorothy chơi đàn. Mẹ tôi có dặn tôi chơi về sớm một tí, và mẹ tôi còn kéo cái cổ áo polo màu trắng sữa của tôi lên cao thêm chút nữa.
 
Ở đàng xa, tôi trông thấy dãy núi của tỉnh lỵ Fairfield, sương mù vây trên đỉnh núi trắng xóa. Những cụm thông ở trên đồi xanh rì và ấm áp. Hình như chúng lóng lánh trong hơi sương, trong từng miếng tuyết rơi như bụi. Những lạnh lùng kéo dài trong hơi gió. Gió rít nhẹ cắt da. Hàng cây mimosa tê cứng đi vì lạnh. Và tôi cứ ngỡ là xác chết của loài mộc thảo khẳng khiu.
 
Mấy ngày hôm nay tôi chả nhận được thư của anh chàng Sarino gì cả. Tôi buồn tưởng chừng vỡ người ra được. Những đợi chờ đằng đẳng của tôi được ông Facteur trả lời bằng đôi mắt nhìn thẳng xa xăm với chiếc lưng cong xuống khi đạp xe ngang nhà tôi. Thật là chán nản. Tôi nghĩ, chắc anh chàng Sarino lại quên tôi, con bé Majrorie hay nhè và hay buồn này rồi. Hoặc có thể, anh chàng lười viết thư cho tôi cũng nên. Thằng nhỏ Zebedee, em của Sarino nói với tôi, anh ta lười viết thư một cây. Dăm ba hàng của anh ta là quý. tôi nghe mà thấy buồn ghê. Đối với tôi, như thế cũng là cái tội. Không biết từ đây đến ngày Giáng Sinh, Sarino có về chơi với tôi và gia đình không nữa. Nhưng nếu anh chàng về, tôi sẽ tảng lờ anh chàng đi vì giận. Tôi sẽ đi lễ nửa đêm với bố tôi và mấy đứa em. Tôi sẽ đi chơi với mấy đứa bạn, với Dorothy, để mặc anh chàng vui với tuyết, với cái lười đáng ghét. Và tôi sẽ chơi với những cành thông treo đầy những quả thủy tinh muôn sắc. Tôi sẽ như mấy năm trước, để chiếc giày bốt của tôi gần lò sưởi. Đêm nằm ngủ đợi quà Giáng Sinh của ông già Noel ; đợi những con búp bê biết nhè biết dỗi, tóc hoe vàng từng sợi, mắt chớp như soi ; đợi những con sóc nhỏ nhồi bông, những người hề bằng vải. Tôi chả thèm đợi quà Sarino nữa đâu cơ. Tôi chả cần con búp bê Michael tóc dài óng ả, mắt long lanh, mi cong từng sợi. Tôi chả cần. Tôi chả cần. Anh chàng Sarino làm tôi muốn khóc. Lúc tôi đi qua con đường Main thì hàng cây mimosées vương đầy tuyết trắng. Những chiếc lá xanh thay bằng muôn ngàn mảnh tuyết, rải rác khắp cành cây. Những chú sóc nhỏ và những con chim khuyên bây giờ đâu mất. Tôi cũng chả biết chúng đi đâu. Nhưng khi mùa đông đi qua, mùa xuân và mùa thu lần lượt trở về thay từng lớp lá, thì những chú sóc nhỏ màu nâu và những con chim khuyên màu xanh nhạt lại tới lui trên những cây xanh mát, thật dễ thương. Khi tới gần nhà Dorothy, tôi thấy con bé ngồi gọn trên chiếc ghế mây, sau cửa kính. Có lẽ Dorothy đang mơ mộng. Lại mơ mộng! Vậy chứ mà tôi và con nhỏ Dorothy nổi tiếng mộng mơ trong lớp học đó. Hai đứa được bạn bè đặt ngồi lên ngai vàng của "nữ hoàng mộng mơ" đó. Có thể là oai lắm nếu tụi bạn tôi có ghế nữ hoàng. Thỉnh thoảng có đứa vẫn còn gọi tôi, danh xưng "nữ hoàng mơ mộng", tôi chỉ mỉm cười không nói. Còn con bé Dorothy thì đấm vào vai tôi mấy cái. Mà cái nào cái nấy, tôi tưởng đã rụng cả xương ra. Con bé Dorothy chong mắt nhìn ra cổng, nhác thấy tôi, nó rời chiếc ghế và chạy băng trên lối nhỏ dẫn vào nhà. Dorothy nhìn tôi cười toe toét. Con bé mi tôi một cái.
 
- Dễ thương vậy đó hả?
 
Tôi cười và nhìn xuống dưới chân. Những viên sỏi nhỏ, xám màu trông buồn tệ, Tôi nắm lấy bàn tay của Dorothy. Hai đứa siết chặt tay nhau rồi cùng nhìn nhau cười ròn rã. Tôi chả hiểu tại sao tôi và Dorothy cười sau cái bắt tay lạ lùng đó. Nhưng tôi biết, trong tiếng cười của tôi và Dorothy có tràn qua một chút hồn nhiên, hạnh phúc và hơi ấm nồng nàn. Hai đứa đi thong dong trên lối sỏi. Tuyết rơi ít hơn lúc tôi ở nhà. Và tôi nghe rõ, dưới chân tôi và Dorothy, những bước chân rơi lại phía sau, cùng với tiếng lao xao của những viên sỏi xám. Nghe thật buồn bã. Nghe thật lẻ loi. Tôi cúi xuống, nhặt vài viên sỏi rồi ném về phía cây ngọc lan, thật bâng quơ và thản nhiên. Con bé Dorothy hát nhỏ một bài ca của Paul Ryan. Tôi thấy rõ hơi thở thoát ra từ lỗ mũi và cái mồm nhỏ nhỏ của nó, còn đông đặc trong màn sương buốt giá.
 
My eloise
Is like the stars
That please the night
The sun that makes the day
That lights the way
And when that stars goes by
I' hold it in my hands and cry...
 
Hơi nóng từ lò sưởi bốc lên và ủ cả căn phòng làm tôi ấm hẳn. Tôi nói với Dorothy:
 
- Mình chơi bài của John Lennon nghe.
 
Con bé gật đầu, và chúng tôi kéo nhau ra chiếc đàn dương cầm để sát góc tường quét vôi màu hồng nhạt. Con bé Dorothy đứng dựa vào chiếc đàn. Chân con bé bắt xiên thật là nghịch ngợm. Hai tay nó chống lên cằm. Mái tóc màu vàng tơ còn buông thõng xuống hai vai trông hay tệ. Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây màu nâu nhỏ. Tóc tôi dài hơn Dorothy và tôi hất những làn tóc ra sau lưng. Vai tôi khép lại một cách yếu đuối. Hai mỏm xương vai nhô lên buồn bã. Tôi nhìn xuống những nhịp đàn. Một màu trắng im lìm và lặng lẽ. Khi ngẩng lên, tôi bắt gặp đôi mắt của Dorothy nhìn tôi không nói. Mà không, đôi mắt của Dorothy bạn tôi, khác đôi mắt của anh chàng Sarino đó chứ. Tôi nhớ ra rồi, ánh mắt của Sarino lạ hơn của Dorothy cơ. Ánh mắt lạ lùng và huyền bí lắm, tôi cũng chả phân tích được điều gì muốn nói ở đôi mắt của Sarino, trong những lần dạo chơi trên khu rừng Northen mùa thu lá rụng. Tôi cười với Dorothy:
 
- Martha my dear nghe.
 
Con bé gật đầu và tôi bắt đầu dạo nhạc. Những nốt nhạc trầm trầm và cô đơn, rơi thánh thót vào lòng tôi. Căn phòng ấm hẳn. Tôi mơ hồ thấy những rộn ràng nhảy nhót quanh đây. Con bé Dorothy vẫn lắng nghe, im lặng. Những ngón tay của tôi nhảy tung tăng trên phím nhạc. Như những con sóc màu nâu nhỏ bé ở hàng cây mimosées trên con đường Main thinh vắng. Những phím nhạc lướt lướt trong không gian. Rồi tản mác. Rồi rơi vào nơi nào đó của căn phòng. Có thể những phím nhạc đều rơi xuống chân tôi và nằm im dưới chân Dorothy lắm ạ. Có thể những phím nhạc sẽ rơi vào lò sưởi, lửa sẽ đốt tan từng nốt, biến nhạc thành những điệu khúc vui tai reo dòn tan tí tách.
 
You have always been my inspiration
Please be good to me
Martha my love
Don't forget me
Martha my dear...
 
Tôi nhớ lan man tới anh chàng Sarino. Tôi nhớ bâng khuâng tới anh chàng Sarino. Chả biết bây giờ anh chàng đang làm gì. Ngồi bên chiếc điện thoại màu đen hay lang thang dưới phố. Đi tìm con búp bê Michael mà tôi ưa thích hay viết thư cho con nhỏ Majrorie ưa khóc. Tôi buồn quá thể đi thôi. Những nốt nhạc êm ái, tôi chán chường tất cả, tôi bỏ dở cả một đoạn sau không đàn. Hai tay tôi mệt mỏi buông thõng xuống. Con bé Dorothy nhìn thấy điệu bộ chán nản của tôi với cái lưng còng xuống buồn thảm, con bé phá lên cười làm tôi cũng cười lây...
 
- Tưởng vỡ phòng rồi chứ?
 
Con bé Dorothy trợn mắt:
 
- Bộ dễ lắm sao bồ.
 
- Cười như trái phá.
 
Con bé Dorothy nhún vai, sức mấy. Tôi rời chiếc ghế mây và chiếc dương cầm. Con bé Dorothy đi sau lưng tôi. Điệu bộ con bé hồn nhiên hết sức. Có thể bây giờ tôi kém Dorothy một bậc về điểm này. Tôi ít nói quá. Và tâm hồn luôn có những khép kín âm thầm.
 
- Sắp Noel rồi hả?
 
Tôi trả lời bâng quơ:
 
- Sắp Noel. Sắp Noel...
 
Chúng tôi ngồi ở ghế salon. Con bé Dorothy cuộn tròn người như con mèo Dorothy nhỏ bé.
 
- Marietta mở party đó, đi chăng?
 
Lại con bé Marietta. Con bé sao hay mở part thế chứ. Nó thích ồn ào và vui nhộn còn tôi, tôi ghét quá đi thôi. Ngày lễ nào, con bé cũng hội họp cười đùa, vui như pháo tết. Nó hay gửi thiệp mời tôi đi lắm, mà tôi không đi. Chắc Noel năm nay, nó chơi lớn lắm.
 
- Dorothy có đi không?
 
- Hai đứa mình cùng đi nghe.
 
Tôi thấy chán chường tệ. Tôi nhớ tới những tờ giấy mỏng màu hồng nhạt chi chít những chữ của tôi. Tôi nhớ tới những tờ giấy mỏng màu xanh da trời chứa đựng những nét chữ quen thuộc của Sarino. Tôi nhớ tới tập sách mà Sarino gửi cho tôi ép đầy hoa forget và tulipe. Tôi nhớ tới chiếc ghế mây, khung cửa sổ màu hồng ở phòng tôi. Tôi nhớ tới con mèo nhỏ Timothy. Tôi nhớ tới Sar...
 
Con bé Dorothy nhéo vào tay tôi một cái đau quá, làm tôi chả biết lúc nãy tôi đang nghĩ gì, nhớ ai.
 
- Không trả lời hở?
 
- Cái vụ đi party hở?
 
- Ừ. Trả lời đi.
 
Tôi lắc đầu:
 
- Dorothy đi chơi một mình đi.
 
- Không đi hở?
 
- Ừ!
 
- Sao vậy?
 
- Không thích.
 
- Tại sao không thích? 
 
- Không biết.
 
- Tại sao không biết?
 
- Cũng không hiểu tại sao.
 
Con bé nhéo tôi một cái nữa. Lần này, tôi thấy quá đau. Con bé vẫn còn kể lể bên tai tôi. Nào là vì lười, vì có thằng nhỏ Sarino về chơi. Nào là quên tụi bạn, quên cả Dorothy, con bé năn nỉ tôi đi chơi với nó. Tôi bảo để nghĩ lại xem sao chứ tôi ghét ồn ào lắm.
 
- Tôi chiều  cô đó nhé!
 
- Đa tạ.
 
Nói vậy cho con bé im lặng. Chứ tôi có chắc đã đi đâu. Nếu Sarino về kịp mùa Giáng Sinh, tôi sẽ ở nhà chơi với Sarino, với con búp bê Michael mà Sarino mua cho tôi làm quà Noel. Tôi sẽ vui với Sarino mà quên mình có giận anh chàng ghê gớm.
 
Con bé Dorothy huyên thuyên nói cho tôi nghe về những dự định liên hoan của nó trong mùa Giáng Sinh năm nay. Tôi cứ ậm ừ. và lúc con bé bảo tôi giúp nó một tay để nó mở party trước ngày chơi với Marietta thì tôi dẫy nẩy. Tôi lắc đầu lia lịa và bảo, chắc tôi chết mất. Con bé cười hăng hắc và nhất định giao cho tôi một phần trách nhiệm trong cái party của nó. Tôi nhìn đồng hồ thấy gần mười giờ. Tôi đứng dậy.
 
Con bé Dorothy ngước nhìn tôi:
 
- Về hả?
 
- Ừ.
 
- Mai tới không?
 
- Có lẽ.
 
- Mình dợt bài Silen Night nghe.
 
- Ừ.
 
Ở ngoài, sương mù vẫn dày đặc. Tuyết rơi từng bông nhỏ và buồn. Cây mimosées ở bên đường chết cóng. Chiếc cổng của nhà Dorothy chơ vơ. Tôi chợt nhớ tới Sarino. Tôi nghĩ tới ngày Giáng Sinh sắp tới. Tôi tin chắc thế nào Sarino cũng về chơi Noel với tôi và gia đình. Khi con bé Dorothy đưa tôi ra cổng, tôi bảo rằng, party ở nhà Marietta, tôi không tới dự.
 
Con đường về nhà tôi, tuyết rơi trắng xóa.
 
 
VŨ THỊ HẢI DƯƠNG     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 82,  tuần lễ từ 22-12 đến 29-12-1972)