Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

VỊ VƯƠNG THẦN VÀ HOÀNG TỬ BA ĐÌNH MẠNH (I)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Tâu bệ hạ,

Ngày xưa, tại xứ Bách Đại Gia, có một vị quốc vương rất giàu có. Không những giàu tiền, ông còn giàu lòng nhân đạo, rất thương dân chúng.

Nhưng triều thần ai nấy đều lo lắng vì nhà vua đã già mà vẫn chưa có một hoàng nam để kế vị.

Trước lòng mong mỏi của dân chúng, nhà vua đem lễ vật đến các đền thờ trong nước để dâng lễ cầu con.

Quả nhiên, vài tháng sau, hoàng hậu thọ thai rồi sanh một hoàng nam rất khôi ngô tuấn tú.

Nhà vua vui mừng loan báo khắp kinh thành khiến cho dân chúng rất hân hoan. Rồi ngài đặt tên con là Ba Đình Mạnh, lại truyền cho các chiêm tinh gia trong nước họp mặt trước sân rồng để tiên đoán số mạng và tương lai hoàng tử xem thế nào.

Sau khi nói đủ mọi phương diện về tài đức hoàng tử, các chiêm tinh gia đều đoán rằng : “Mai đây hoàng tử sẽ là người can đảm, và cũng nhờ đức tính can đảm đó, hoàng tử sẽ chiến thắng tất cả những nguy hiểm, để dựng lên một sự nghiệp huy hoàng”.

Những lời tiên đoán ấy chỉ làm cho đức vua lo lắng, cảm thấy con mình sẽ gặp nhiều điều không may sau này.

Tuy vậy, càng lo cho con, nhà vua càng chăm sóc và dạy dỗ con cho tới khi trưởng thành để hoàng tử có đủ tài năng mà đương đầu với mọi gian khó.

Khi hoàng tử mười chín tuổi thì đức vua lâm trọng bệnh.

Trước khi mất, ngài gọi con đến giường bệnh, dặn dò:

- Vương nhi con ôi! Trên đời không ai có thể sống mãi được, nhưng tiếng khen, chê thì muôn đời vẫn sống. Sự nghiệp của cha bấy lâu nay gầy dựng, bây giờ sẽ về tay con. Con phải cố gắng làm sao cho đầy đủ bổn phận. Đối với dân chúng, con nên thu phục lòng dân, làm cho họ thương mình, đừng làm cho họ sợ mình. Đối với những kẻ dâm tà nịnh bợ, con hãy nên trừng phạt bằng cách ra ân cho họ dù họ mắc phải lỗi nặng đến đâu. Đó là hai bí quyết cuối cùng căn bản mà cha cần phải lưu ý để cho con ra đời sau này.

Hoàng tử cúi đầu phụng mạng . Rồi đức vua băng hà. Sau một tuần lo cho đám táng của vua cha, hoàng tử Ba Đình Mạnh lên ngôi trị nước.

Vì còn trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, vị thiếu vương này chỉ biết hưởng những lạc thú và quyền hành. Ngài không hề nhìn thấy nhiệm vụ nặng nề của mình đối với triều thần, dân chúng.

Qua một thời gian trị nước, nhà vua phung phí của kho đến nỗi hoàng thái hậu phải can gián, khuyên ngài đừng ham mê tửu sắc. Rồi một hôm, kiểm điểm lại ngân khố, thấy hết sạch mà chẳng làm được việc gì ích lợi cho nước cho dân, ngài hối hận vô cùng.

Thiếu vương nghĩ thầm:

- Phụ vương ta lúc sanh thời hết lòng vì nước, xây dựng cơ đồ, để lại một sự nghiệp đồ sộ, lúc lâm chung lại trăn trối hết lời. Thế mà ta không nghe, lại phung phí hết tiền bạc thật đáng giận biết bao.

Rồi cũng kể từ ngày hôm đó, thiếu vương buồn rầu khôn nguôi. Nhưng than ôi! Hối hận thì đã muộn.

Hoàng thái hậu hiểu ý, tìm đủ mọi cách để an ủi vỗ về ngài. Nhưng nhà vua vẫn buồn.

Một đêm kia, vị vương đang ngả mình trên long sàng, thiêm thiếp giấc nồng, thì bỗng một ông lão từ ngoài bước vào mỉm cười nói:

- Vua Ba Đình Mạnh ôi! Sự buồn rầu thường đến sau những nguồn vui khôn tả. Và những kẻ như ngài vẫn có cơ may tìm thấy hạnh phúc. Vậy nếu ngài muốn trút bỏ sầu tư, hãy mau qua xứ Ai Cập. Một kho tàng lớn đang chờ đợi ngài.

Vua tỉnh giấc, biết mình vừa nằm chiêm bao. Ngài vội vã đem câu chuyện ấy thuật cho hoàng thái hậu nghe.

Hoàng thái hậu mỉm cười nói:

- Mộng mị đâu hẳn là sự thật! Chẳng lẽ vương nhi lại tin nhảm như vậy sao?

Thiếu vương đáp:

- Tâu mẫu hậu, theo sách vở con đã học, hầu hết các giấc mộng đều linh ứng. Hơn nữa, ông già mà con vừa gặp không phải là ông già tầm thường mà là một bậc tiên nhơn đạo cốt. Nếu mẫu hậu muốn cho con giải cơn phiền muộn, hãy cho con sang đó coi sao.

Hoàng thái hậu cho là lời dị đoan, tìm lời ngăn cản, nhưng thiếu vương nhất quyết không nghe. Rồi một đêm, ngài lẻn ra khỏi hoàng thành, thẳng đường sang Ai Cập không một ai hay biết.

Trải qua biết bao nhiêu gian lao, khổ cực, thiếu vương đến một kinh thành.

Khác với kinh thành Bách Đại Gia, ở đây người nào cũng cao lớn, vạm vỡ, ăm mặc sang trọng, làm cho nhà vua trông thấy cũng phải hài lòng.

Ngài đi lần theo các phố, đâu đâu cũng thấy buôn bán tấp nập. Nhà vua không tìm thấy chỗ nghỉ chân, bèn lần vào một cái miếu hoang nằm nghỉ, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Bỗng nhiên, ông già hôm nọ hiện đến nói:

- Thiếu vương ôi, tôi rất hài lòng thấy ngài đã tin lời tôi. Ngài đã đi đến đây với bao nhiêu cực nhọc. Nhưng tôi muốn thử xem ngài có đủ can đảm không mà thôi. Bây giờ ngài đáng được hưởng sự giàu sang kia. Vậy ngài hãy trở về xứ Bách Đại Gia. Ở đấy, kho vàng đang chờ ngài.

Nhà vua thức tỉnh, mặt mày buồn xo, bụng nghĩ:

- Chao ôi! Ta quả tin vớ vẩn rồi. Tưởng ông già kia là một vị thần linh báo mộng, nào ngờ đâu ta mơ tưởng hão huyền. Mẫu hậu nói quả đúng. May mà câu chuyện này chỉ có một mình mẫu hậu biết, nếu cả triều biết được sẽ chê cười ta dường nào!

Rồi nhà vua lại trở về Bách Đại Gia.

Hoàng thái hậu vội vã đến hỏi thăm con. Thiếu vương Ba Đình Mạnh buồn rầu thuật lại câu chuyện vừa qua với bao nhiêu niềm hối hận.

Hoàng thái hậu không phiền trách còn tìm lời an ủi:

- Vương nhi à, con chớ nên vì vậy mà phiền muộn. Nếu thượng đế cho con giàu sang thì sớm muộn gì con cũng đạt được, không cần phải mệt nhọc suy tính. Bây giờ con nên để tâm lo đến việc triều chính và bàn tính với các quan đại thần chăm lo việc nước. Miễn sao con trở nên một vị vua đức độ thì chăng bao lâu, tài sản và sự nghiệp sẽ trở về với con. Con đừng buồn phiền nữa, mẹ không bao giờ giận con đâu.

Vua Ba Đình Mạnh cúi đầu nghe lời mẹ. Ngài lại sửa soạn mũ áo lâm triều chăm lo việc nước và hứa sẽ cố gắng làm tròn phận sự.

Nhưng tối hôm sau, nhà vua lại nằm mộng thấy ông già đến nữa.

- Ồ! Thiếu Vương Ba Đình Mạnh, cái kho tàng khổng lồ kia đã đến lúc về tay ngài rồi đấy. Sáng mai, khi ngủ dậy, ngài cầm cuốc vào nhà Thái Miếu đào đất lên, lập tức ngài sẽ thấy.

Nhà vua thức giấc nửa mừng nữa lo, hốt hoảng chạy vào hậu cung thuật cho mẫu hậu nghe. Hoàng thái hậu nhìn con lắc đầu:

- Con ơi, con đã bị ông già đó gạt hai lần mà vẫn còn tin sao?

Thiếu vương lắc đầu:

- Thưa mẫu hậu, dù con không muốn tin lời ông già đó, nhưng con cũng muốn quan sát nhà Thái Miếu một lần cho biết.

Hoàng thái hậu nhìn con thương hại:

- Nếu con muốn, con cứ đến đó. Dù sao cũng không đến nỗi khó nhọc như con sang Ai Cập.

Nói xong, hoàng thái hậu nhìn con mỉm cười. Nhà vua ngượng ngùng tâu:

- Tâu mẫu hậu, giấc mộng vừa rồi làm cho con rất tin tưởng, vì nó có liên quan đến giấc mộng trước. Ban đầu ông già bảo con sang Ai Cập để thử thách con, rồi lại bảo con trở về Bách Đại Gia sẽ tìm thấy kho vàng. Và lần này ông ấy lại chỉ chỗ. Thế mà mẫu hậu bảo con không tin sao được?

Nói xong, thiếu vương bước ra hậu cung đi tìm một cây cuốc, rồi một mình đi thẳng đến Thái Miếu.

Đến nơi, thiếu vương đào xới khắp nơi. Những vuông đất bị đào bật tung lên, nhưng sức người đã mệt mà kho tàng vẫn không thấy đâu cả.

Nhà vua buông cuốc, ngồi xuống trước bệ thờ nghỉ mệt rồi thầm nghĩ bụng:

- “Chuyện này có lẽ mẫu hậu lại chê cười ta không ít”.

Nghĩ vậy, nhưng rồi nhà vua lại tiếp tục đào xới một lúc nữa, thầm nhủ có thất bại cũng cam lòng.

Bỗng ngài bổ phải một tảng đá trắng. Tảng đá vừa tróc ra thì bên dưới, một đường hầm tối om, đóng kín bằng một cánh cửa trầm hương thơm ngát.

Nhà vua thử mở ra xem thì thấy cửa hầm ăn thông xuống, với các nấc thang  bằng cẩm thạch.

Không chần chờ, nhà vua liền thắp một cây nến và bước lần xuống tận đáy hầm.

Đó là một căn phòng vuông vắn, cẩn bằng đá hoa. Giữa khoảng trống có kê ba bốn cái kệ. Trên những cái kệ có những cái lọ độc bình lớn.

Nhà vua nghĩ ngợi:

- “Có lẽ đây là những hũ rượu cổ chăng?”

Nếu là rượu, thì những thứ rượu này phải là những thứ rượu quý từ vì được ủ từ rất lâu rồi.

Nghĩ rồi, nhà vua bước tới xem.

Vừa mở nắp, nhà vua kinh ngạc la lên một tiếng: trong đó đầy nhóc những tiền vàng.

Lần này đến các lọ khác, nhà vua trông thấy cái lọ nào cũng đầy vàng như vậy. Vua vui mừng vội bốc một nắm mang về cho hoàng thái hậu xem rồi thuật lại đầu đuôi.

Hoàng thái hậu cũng ngạc nhiên không kém, nhìn con rồi nói:

- Con ơi, thượng đế đã cho con một gia tài khá lớn, chưa có vị vương nào sánh kịp. Vậy con hãy giữ gìn cẩn thận, đừng phung phí như trước.

Thiếu vương Ba Đình Mạnh tâu:

- Tâu mẫu hậu, từ nay con sẽ cố gắng làm vừa lòng mẫu hậu.

Hoàng thái hậu nói:

- Bây giờ vương nhi hãy dẫn ta đến nhà Thái Miếu xem. Tài sản ấy có lẽ của tiên vương chôn giấu. Nhưng ta chưa hề được nghe nói đến bao giờ.

Nhà vua dẫn hoàng thái hậu đến Thái Miếu. Cả hai mẹ con cùng chui xuống căn hầm bí mật. Hoàng thái hậu đưa mắt nhìn khắp nơi. Bỗng bà trông thấy trong góc có một cái lọ nhỏ, mà nhà vua chưa nhìn thấy. Bà bèn kêu nhà vua hỏi:

- Vương nhi hãy thử xem trong chiếc lọ ấy đựng gì.

Nhà vua mở ra chỉ thấy một cái chìa khóa bằng vàng. Hoàng thái hậu nói:

- Vậy chắc hẳn còn một kho tàng quí giá hơn. Con hãy cố gắng tìm chắc sẽ thấy.

Hai mẹ con lại kiểm soát khắp phòng. Cuối cùng họ thấy một lỗ khóa ẩn dưới lớp thạch  cao dưới chân tường.

Nhà vua tra chìa khóa vào. Vừa xoay hai vòng, vách tường sụt xuống để lộ một ô vuông mỗi bề rộng hơn một thước. Bên kia vách tường là một căn phòng cũng rộng như căn phòng đã tìm thấy.

Nhà vua dắt tay hoàng thái hậu bước sang phòng đó.

Ánh sáng ngọn nến chập chờn soi rõ trong gian nhà có chín chiếc tượng đúc toàn bằng vàng. Trên tám bức tượng ấy có tám bức tượng nhỏ bằng kim cương, tỏa muôn ngàn ánh sáng rực rỡ.

Vua Ba Đình Mạnh chóa mắt, la to:

- Chao ôi! Có phải phụ vương tôi đã bí mật chôn những của cải này cho tôi chăng?

Rồi nhà vua lại gần xem xét những pho tượng tuyệt đẹp, vuốt ve chúng thật trìu mến.

Tuy ngạc nhiên trước những đồ vật lạ, nhưng chiếc kệ thứ chín làm nhà vua để ý hơn cả. Kệ này không đặt pho tượng mà lại trùm một tấm lụa dài, phía trên có những hàng chữ như sau.

- “Hỡi con yêu dấu! Tám pho tượng mà con được xem tuy quí giá nhưng không có giá trị bằng pho tượng thứ chín. Con hãy tìm đến kinh đô Ai Cập, con sẽ được pho tượng thứ chín đó. Con sẽ tìm lão Bách Đạt là  người nô lệ của cha khi trước, con trình bày rõ mọi chuyện, hắn sẽ dẫn con đi lấy pho tượng đó.

Đọc xong những hàng chữ đó, nhà vua liền nói với hoàng thái hậu:

- Tâu mẫu hậu, xin mẫu hậu cho phép con được sang Ai Cập tìm pho tượng thứ chín. Vì đó là một pho tượng quí giá nhất trên đời này, con không thể nào bỏ qua được.

Hoàng thái hậu phán:

- Con đã nhất quyết như vậy thì mẹ nỡ nào cản trở. Mẹ cầu mong cho con được các vị thần thánh che chở. Việc triều chính để mẹ và các vị lão thần trông coi. Con hãy sửa soạn mà đi cho sớm.

Thiếu vương được mẹ cho phép thì vội vã sửa soạn hành trang, rồi dẫn vài tên tùy tùng lên đường.

Suốt cuộc hành trình họ không gặp gì trở ngại.

Khi đến Ai cập, nhà vua tìm gặp lão Bách Đạt, người nô lệ cũ của tiên vương. Dân chúng địa phương cho biết lão Bách Đạt hiện nay là một nhân vật tiếng tăm giầu có nhất trong thành phố. Ông ta ở một biệt thự lộng lẫy và lúc nào cũng sẵn sàng tiếp đón khách thập phương.

Nhà vua tìm đến nơi, gõ cửa.

Một tên nô lệ bước ra hỏi:

- Thưa ngài, ngài là ai, muốn hỏi chi?

Thiếu vương đáp:

- Ta là khách viễn phương, được nghe lòng cao quý của chủ nhân nên đến đây để thăm viếng.

Tên nô lệ chạy vào trong, một lát sau trở ra:

- Chủ nhân tôi mời ngài vào chơi.

Quả nhiên, lão Bách Đạt đang ngồi chờ nhà vua ở trong nhà. Khi nhìn thấy thiếu vương Ba Đình Mạnh với phong độ đế vương, ông ta đứng dậy chào và nói:

- Tôi rất vinh dự được tiếp đón quý khách. Chẳng hay quý khách có điều chi dạy bảo?

Thiếu vương Ba Đình Mạnh đáp lễ rồi nói ngay:

- Ta là con của đức vua xứ Bách Đại Gia.

Lão Bách Đạt nghe nói, kinh ngạc nhìn nhà vua một lúc rồi nói:

- Tôi là nô lệ của hoàng thượng ngày trước nhưng tôi không hề được biết hoàng thượng đã có con. Thưa ngài, bây giờ ngài được bao nhiêu tuổi?

Vua đáp:

- Ta năm nay hai mươi hai. Còn khanh, từ ngày khanh rời bỏ triều đình đã bao nhiêu năm rồi?

Bách Đạt thưa:

- Đã hai mươi năm rồi. Nhưng vì vậy, thưa ngài, làm sao tôi có thể tin được ngài là con của đức hoàng thượng?

Đức vua Ba Đình Mạnh chậm rãi:

- Trong nhà Thái Miếu của phụ vương ta có một cái hầm. Trong hầm có bốn mươi cái hũ đựng tiền vàng.

Lão Bách Đạt hồi hộp vội ngắt lời:

- Và… còn có những gì nữa?

- Có chín cái bệ bằng vàng, trên chín cái bệ có tám pho tượng vàng, còn cái bệ thứ chín thì không có tượng mà chỉ có một khung lụa ghi lại những lời dặn của phụ vương ta cách thức đi tìm pho tượng thứ chín.

Thiếu vương nói xong, lão Bách Đạt quỳ xuống đất hôn chân thiếu vương rồi rối rít nói:

- Thôi đúng rồi, thượng đế đã ban ơn cho hạ thần được tiếp đón bệ hạ nơi đây, thật là một vinh dự cho hạ thần. Bây giờ nếu bệ hạ muốn tìm pho tượng ấy, hạ thần sẽ đưa bệ hạ đến nơi. Ước mong bệ hạ lưu lại vài ngày để thần mở tiệc khoản đãi trước khi chúng ta làm công việc gian nguy đó.

Nhà vua bằng lòng. Lão Bách Đạt vội vàng hối thúc gia nhân bày yến tiệc và sai mời các vị vương giả ở kinh đô đến dự.

Bách Đạt ngồi dưới thêm hầu hạ nhà vua từ đầu đến cuối bữa tiệc làm ai nấy đều ngạc nhiên nghĩ bụng:

- “Lạ làm sao! Người khách lạ ấy là ai mà lão Bách Đạt lại có thể kính cẩn như vậy?”

Rồi họ đưa mắt nhìn nhau.

Xong bữa ăn, Bách Đạt nói với mọi người:

- Thưa các bạn, xin các bạn đừng ngạc nhiên khi thấy một kẻ giàu có và sang trọng nhất ở Ai cập như tôi mà phải đi hầu hạ người khách lạ này. Thưa các bạn, đây là một vị thiếu vương, hoàng tử của vua Bách Đại Gia, vị vua đã ủy thác cho tôi coi giữ gia sản này. Tôi là kẻ nô lệ của nhà vua, nên phải giữ tròn bổn phận.

Bách Đạt nói đến đây, nhà vua Ba Đình Mạnh ngắt lời:

- Và bây giờ ta thay phụ vương ta, tuyên bố từ nay khanh không phải là nô lệ của ta nữa. Vậy tất cả những tài sản này là của khanh, khanh được toàn quyền chi dụng.

Tất cả quan khách đều vỗ tay hoan hô nhiệt liệt lòng đại độ của thiếu vương Ba Đình Mạnh. Trong khi ấy, lão Bách Đạt rập đầu xuống đất lạy vị quân vương trẻ tuổi ấy.

Rồi bọn gia nhân mang rượu lên. Quan khách lại ngồi chung vui đối ẩm cho tới khuya mới từ giã ra về.

Sáng hôm sau, nhà vua thức dậy sớm. Khi đã tắm rửa và ăn uống xong, ngài gọi Bách Đạt đến nói:

- Hôm nay trong người ta đã thấy khỏe, vậy hãy đưa ta đến nơi tìm pho tượng thứ chín.

Bách Đạt nói:

- Tâu bệ hạ, tôi xin nói trước để bệ hạ rõ, công việc này không phải là dễ. Có thể xảy ra nhiều nguy hại, mình không ngờ trước được.

Đức vua Ba Đình Mạnh nói:

- Dù nguy hiểm đến đâu, ta cũng không nản. Khanh chớ ngại ngần làm gì, miễn là khanh cũng can đảm như ta.

Bách Đạt thấy nhà vua cương quyết, bèn gọi bọn nô lệ đến sửa soạn hành trang để lên đường.

Qua mấy ngày cực nhọc, đoàn lữ hành đến một nơi vắng vẻ, nhưng phong cảnh rất đẹp mắt. Bách Đạt xuống ngựa nói với bọn tùy tùng:

- Chúng bây hãy ở lại đây, giữ gìn đoàn ngựa và trông coi hành trang cho cẩn thận.

Đoạn, quay sang nói với thiếu  vương:

- Tâu bệ hạ, đây cũng gần đến chỗ để bức tượng quý ấy, xin bệ hạ hãy chịu khó đi bộ cùng tôi. Điều cần nhất là bệ hạ phải bạo dạn mới được.

Thiếu vương mỉm cười nối gót theo Bách Đạt. Hai người đi một lát đến một con sông rộng, dòng sông sâu thẳm, bốn bề hiu quạnh, không có một bóng con thuyền.

Bách Đạt nói:

- Chúng ta phải qua con sông này.

Thiếu vương hỏi:

- Chúng ta làm sao qua được? Ở đây không có một con thuyền.

Bách Đạt nói:

- Tâu bệ hạ, lát nữa đây, con thuyền của vị vương thần sẽ đến đây đón rước. Nhưng có một điều tôi cần phải dặn kỹ bệ hạ, bệ hạ phải nhớ lời tôi, dù có thấy cái gì lạ cũng đừng mở miệng. Vì một tiếng nói của bệ hạ, con thuyền sẽ chìm ngay xuống nước.

Thiếu vương nói:

- Khanh cứ an tâm, ta sẽ làm đúng như lời khanh đã dặn.

_______________________________________________________________________ 
Còn tiếp

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

BĂNG GHẾ SAU CƠN MƯA BUỔI SÁNG













Cơn mưa đã đi rồi
Ghế vẫn ngồi im đó
Ướt đẫm là lệ trời
Trải buồn trên lối gió

Mùa còn xanh lắm, nhỏ !
Thông reo tiếng yên bình.
Hè chỉ vừa nửa độ,
Hoa tím trổ màu xinh.

Tình anh, thẫm như bụi
Sử Quân Tử trong vườn
Tình nhỏ, vàng như phấn
Hoàng đào mới dậy hương.

Anh theo nhỏ, đường chiều
Mặc tình mưa rớt hột.
Tóc nhỏ ướt màu kiêu
Đầm đầm sầu mơi mốt.

Vườn Suối Lan, đón nhỏ
Cây cao, bóng cả, êm.
Nắng trưa lành, giọt đỏ
Thả trên vai, nhỏ hiền.

Anh cứ chờ hoài, nhỏ
Mưa nắng, vừa nắng mưa
Đường Tần, hoa gió trổ
Trăm trận lá phai mùa

Cuối hè hoa thiết đỏ
Nhắc em nhớ Hoa Mua.
Lấm tấm vàng hoa Mật
Băng ghế đón mùa thu.

Mùi ướt mưa vùng tối
Lá mùa thu...  Buồn như...
Nhớ ngõ nhà lầy lội
Đầy thu...  Đầy sương mù...

Mùa và Anh đứng đợi
Mưa cùng Nhỏ ra đi
Băng ghế hình như hỏi
Trồng làm chi ?!  Cây Si.

Xế chiều đời, tình mỏi,
Anh ngồi yên nhớ gì
Quên đã nhiều lắm, nhỏ.
Quên không được hàng mi,

Nhỏ, cơn mưa, phố cũ.
Anh.  Băng ghế buồn gì ?

Chiều vẫn tím theo mùa,
Mưa vẫn là lệ úa.
Anh vẫn nhớ hoa Mua,
Khi nhận chùm Hồng lửa.

Vườn Suối Lan ẩm cỏ,
Lòng khe in hoa mây.
Cây Hoàng Đào năm đó
Sao rụng hoa nơi nầy.

Cơn mưa đã bỏ đi
Băng ghế còn ở lại
Ướt đầy lệ trên tay
Tình xưa,
Quên...  Nhớ...  Đợi...

Mưa đi, đến.  Đêm, ngày...
Ghế ngồi im mòn mỏi.
Làm buồn Anh ...  Khuya...  Tối...
Nhỏ ơi.
Buồn.
Nhỏ ơi.



Nguyễn Việt Thường
              2003


Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

CHUYỆN ANH CHÀNG SI TÌNH GIA THUẬN (II)_NGÀN LẺ MỘT ĐÊM


Chao ôi! Làm sao nhà vua có thể dằn được cơn tức giận trong trường hợp kinh ngạc này.

Mặt vua tái đi vì cơn giận, không nghĩ đến tại sao hoàng hậu Mai Lan Anh lại tống táng một người còn sống, mà nhà vua chỉ nghĩ đến Phi Loan, người yêu duy nhất mình đang chiều chuộng như trứng mỏng lại đi ở với một tên phú thương trẻ tuổi hèn hạ nào đó.

Vua hét lên:

- Tên Gia Thuận, mi là một tên ti tiện, dám giữ một vị vương phi ở trong nhà. Mi phải chết!

Nói dứt, nhà vua chệnh choạng bước ra khỏi phòng, truyền cho quan cận thần đến phán:

- Khanh hãy y lệnh ta, đem bốn trăm dũng sĩ đến vây nhà tên lái buôn Gia Thuận và bắt nàng Phi Loan hiện đang chung sống với hắn về đây cho ta trị tội.

Quan cận thần cúi đầu tuân lệnh ra khỏi cung điện, điểm bốn trăm binh sĩ, gươm giáo sáng loáng, kéo đến đầu phố tìm nhà Gia Thuận.

Trong lúc ấy, tại nhà Gia Thuận, Phi Loan đang ngồi ăn cơm, có Gia Thuận đứng hầu. Chợt nàng đưa mắt nhìn xuống đường thấy quan cận thần đang dẫn một toán cận vệ đến.

Nàng hốt hoảng nói với Gia Thuận:

- Trời ôi, nhà vua đang lùng bắt chúng ta kìa.

Gia Thuận nhìn xuống đường, quả nhiên thấy quân lính đã vây tứ phía. Chàng đứng ngây người nhìn nàng, không biết tính toán ra sao.

Phi Loan nức nở nói:

- Gia Thuận chàng ơi, thiếp biết chàng yêu mến thiếp. Nhưng xin chàng chớ nên nán lại, hãy mau tìm cách thoát thân. Giờ phút nầy thiếp đã hiểu rõ được lòng chàng, thiếp không bao giờ để chàng thất vọng.

Gia Thuận quỳ xuống cầm tay Phi Loan nói:

- Chao ôi, đến phút này tôi mới hiểu được lòng nàng thì đã muộn. Giờ chúng ta phải tuyệt mạng sao?

Phi Loan giục giã:

- Xin chàng hãy đi ngay kẻo muộn.

Gia Thuận vừa khóc vừa ngậm ngùi:

- Phi Loan ơi, nàng chỉ nghĩ đến tôi sao? Tôi đi còn nàng sẽ ra sao?

Phi Loan nóng ruột lôi Gia Thuận đứng dậy nói:

- Nếu chàng yêu thiếp, chàng phải làm theo lời thiếp. Chàng mau mau lấy áo quần của tên nô lệ mặc vào, bôi đen mặt mày rồi lẻn ra cổng mà trốn đi.

Gia Thuận làm theo. Trước khi giã biệt, chàng trai si tình kia đã ôm Phi Loan vào lòng. Hai người lần đầu tiên cùng rung cảm trước cuộc chia ly não lòng.

Rồi chàng cố ngăn nước mắt, đỡ chiếc mâm cơm đội lên đầu, lững thững xuống thang gác.

Quả nhên, quan cận thần không ngờ được âm mưu nên chàng chạy tuốt được ra ngoài cổng.

Quan cận thần lên gác đụng ngay nàng Phi Loan. Ông ta kính cẩn thưa:

- Thưa lệnh bà, hạ thần vâng lệnh hoàng thượng đến rước lệnh bà về cung.

Phi Loan mỉm cười:

- Ta chờ lệnh vua đã lâu rồi quan đại thần ạ!

Nói đoạn, nàng ung dung bước xuống thang theo quân lính về cung.

Còn quan cận thần tìm kiếm khắp mọi nơi không thấy bóng dáng Gia Thuận đâu, nên bực tức đốt nhà rồi trở về tâu với vua.

Nhà vua nổi giận, sai nhốt nàng Phi Loan vào lãnh cung, rồi một mặt nhà vua thảo chiếu gởi cho quốc vương xứ Hăng-Ri, vua một nước chư hầu, đang trị vì tại xứ sở của Gia Thuận.

Bức thư đại khái như sau:

Đại vương Đại Nguyên Hãn gởi quốc vương xứ Hăng Ri.

Vương đệ hãy tuân lệnh, lùng bắt tên Gia Thuận, con trai mụ Lâm Thao, vì kẻ đó đã dám tư thông với hoàng phi Phi Loan, một người yêu quý nhất đời của ta.

Bắt được tội phạm, vương đệ hãy áp tải lập tức đến ngay thành Bá Đa để ta xử tội.

Đúng trong ba ngày, không thấy tội phạm trong nước, vương đệ hãy ra lệnh bắt hết cả bà con họ hàng, bất kể già trẻ đánh cho một trận, lột hết quần áo, cho đi diễn hành qua các phố rồi đuổi ra khỏi xứ.

Khẩn cấp,    

Đại vương : ĐẠI NGUYÊN HÃN

Viết xong, nhà vua truyền cho một sứ giả mang sang cho quốc vương Hăng Ri gấp.

Sứ giả tuân lệnh thẳng đến kinh thành Trúc Mai, vào triều yết kiến.

Quốc vương Hăng Ri nhận được thư, không dám chậm trễ, truyền cho quân lính đến nhà Gia Thuận vây bắt.

Kiếm mãi không thấy bóng dáng Gia Thuận đâu, nhà vua truyền gọi bà Lâm Thao ra hỏi:

- Con bà đã về chưa?

Bà lão nhận ra là đức vua, sợ hãi quỳ xuống đất tâu:

- Tâu bệ hạ, con tôi đi Bá Đa đã mấy tháng rồi chẳng nhận được tin tức gì cả, không biết còn hay mất. Cũng vì con mà già này phải long đong khổ sở.

Nói rồi, bà lão ôm mặt khóc.

Nhà vua là kẻ nhân đức, nghe nói cũng động lòng. Nhưng không thể trái lệnh vua Đại Nguyên Hãn được. Ngài bèn đem câu chuyện thuật lại cho bà lão nghe, rồi đành phải cho quân đi tàn phá nhà cửa của Gia Thuận.

Khổ thay, ách giữa đàng mang vào cổ, Lâm Thao và nàng Kiều My xinh như mộng đành ôm nhau khóc như mưa.

Dẫu cho quốc vương Hăng Ri có thương xót cũng không biết làm thế nào!

Vừa đúng ba ngày, lệnh truy nã gắt gao truyền khắp nước, nhưng vẫn không tìm thấy bóng dáng anh chàng si tình Gia Thuận đâu…

Quốc vương Hăng Ri đành thi hành mệnh lệnh cuối cùng là lột quần áo mẹ con nàng Kiều My đi riễu khắp thành phố rồi đuổi ra khỏi xứ.

Dân chúng ai ai cũng ngậm ngùi thương xót vì từ trước đến nay mẹ con bà Lâm Thao nổi tiếng là hiền lành phúc hậu.

Bà lão Lâm Thao dắt nàng Kiều My ra đi. Hai mẹ con ngậm đắng nuốt cay trong thảm cảnh không thốt được nên lời.

Nàng Kiều My buồn rầu nói với mẹ:

- Mẹ ơi, mẹ con ta dẫu nhà vua không đuổi, cũng nên tìm xứ khác làm ăn chứ ở đây tủi hổ con chịu không nổi, còn mặt mũi nào nhìn thấy xóm làng nữa.

Từ đêm đó, hai mẹ con thơ thẩn khắp ngoại ô. Khốn khổ! Trời mùa đông, đêm khuya lạnh như đồng, hai mẹ con lần mò ra đi, bơ vơ như một con thuyền giạt sóng, không biết đâu là bến bờ.

Tờ mờ sáng hôm sau, hai mẹ con đến một làng nhỏ, dân cư thưa thớt, nghèo nàn. Tuy nhiên, họ rất có tình nhân loại. Sau khi nghe kể rõ hoàn cảnh, kẻ cho món này, người biếu món kia, giúp đỡ đủ thứ. Nhờ đó, hai mẹ con có đủ tiền bạc để lần đến địa hạt Hồng Liên.

Chao ôi! Vì một lời phán của nhà vua, mà bao nhiêu mảnh đời bị tan nát.

Trong lúc đó thì nàng Phi Loan bị giam trong lãnh thất cũng không kém buồn khổ.

Ngày đêm nằm trong gian nhà tối đen mù mịt, nàng hồi tưởng đến mối tình cao thượng của Gia Thuận. Nàng buồn thân trách phận hồng nhan sao lắm truân chuyên. Rồi nàng lại lo lắng cho Gia Thuận, không biết chàng có thoát khỏi sự trừng phạt của đức vua hay không? Hỡi ôi! Mối tình của nàng và Gia Thuận trong sáng tựa trăng rằm. Biết bao giờ người ta mới hiểu rõ được tư cách và phẩm giá của một chàng trai như Gia Thuận.

Một đêm kia, vua Đại Nguyên Hãn buồn rầu dạo gót nơi hành lang, chợt nghe từ xa có tiếng văng vẳng khóc não nề và bi ai nơi phía cung cấm.

Nhà vua đi lần đến nơi, nghe rõ giọng nói nức nở của nàng Phi Loan:

- Gia Thuận chàng ơi, có bao giờ chàng nghĩ đến ân nghĩa của chàng đã cứu thiếp không? Nuôi thiếp trong nhà một cách rất cao tượng để rồi phải tan cửa nát nhà, thân trôi giạt bơ vơ bốn phương trời! Vua Đại Nguyên Hãn từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là một vị minh quân, giầu lòng nhân đạo, thế mà không hiểu thấu chuyện này, nỡ đang tâm đầy đọa kẻ vô tội vào vòng lao lý. Thiếp nằm đây mà bên tai còn nghe như văng vẳng đâu đây có giọng nói thanh tao và trang nghiêm của chàng. Chao ôi! Những lời lẽ quí giá đó có bao giờ mà thiếp quên được. Hỡi vua Đại Nguyên Hãn! Người nỡ nào lại xử tội một vị ân nhân đã cứu người tình của mình được chăng?

Phi Loan than thở một hồi lâu đến nỗi nghẹn ngào không thốt ra tiếng. Nhà vua chỉ còn nghe thấy tiếng khóc sụt sùi đầy bi thiết của người đẹp vọng ra.

Rồi vua Đại Nguyên Hãn bỗng nhíu mày. Có lẽ ngài đã tỉnh giấc mộng.

Ngài nghĩ thầm:

- “Việc này thế nào cũng có nhiều bí mật. Thế nào ta cũng phải điều tra cho rõ”.

Thế rồi sáng hôm sau, nhà vua sai viên quan thái giám giữ ngục mang Phi Loan đến.

Nhà vua nhìn Phi Loan rồi hỏi:

- Đêm qua trẫm đã nghe những lời oán than của nàng. Tại sao nàng trách trẫm là người vô nhân đạo? Trẫm xử tội thằng Gia Thuận là một thằng phạm thượng khi quân chứ đâu có làm điều gì vô đạo?

Nghe nhà vua hỏi, Phi Loan chỉ gục mặt khóc mà không nói.

Nhà vua lại hỏi:

- Việc ấy rành rẽ ra sao, nàng hãy bình tĩnh thuật lại cho trẫm nghe.

Phi Loan lau nước mắt rồi tâu:

- Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ đã phán quyết thần thiếp là kẻ có tội, thì dù thần thiếp có tỏ nỗi oan, bệ hạ cũng không còn tin được.

Nhà vua truyền:

- Nàng đừng ngại điều đó. Sự thật thế nào trình bầy cho trẫm rõ. Nếu có điều gì trái lẽ trẫm sẽ bỏ qua cho.

Phi Loan được nhà vua rộng lượng cho như vậy thì cảm phục, vội quì xuống ôm chân vua mà kể lể sự tình. Từ câu chuyện bị hoàng hậu ám hại tới lúc được Gia Thuận cứu thoát và nuôi ở nhà.

Nhà vua nghe xong thì tái mặt. Ngài ngồi chết trân mà không nói được lời nào.

Phi Loan kể tiếp:

- Gia Thuận chính là vị ân nhân mà thánh thượng lại đối xử như vậy thì thật là oan uổng cho chàng quá. Chàng thật là một kẻ đáng thương hơn là đáng ghét.

Một lát sau, nhà vua buồn rầu cất tiếng hỏi:

- Vậy thì ai đã gởi lá thư cho tỳ nữ Tuyết Lê?

- Tâu bệ hạ, đó là bức thư nặc danh chính Gia Thuận viết để trình bày cùng bệ hạ về hoàn cảnh của thần thiếp. Đâu có ngờ được vì vậy mà chàng bị hàm oan, ân thành oán, cửa nhà tan hoang…

Nhà vua nghe xong biết là mình có lỗi lớn. Ngài liền ra lệnh bắt giam hoàng hậu vào lãnh thất.

Rồi ngài hỏi Phi Loan:

- Bây giờ xảy ra như vậy, ái khanh có điều gì cần tâu nữa không? Để trẫm có thể làm phai nỗi hàm oan và đau đớn ấy?

Phi Loan tâu:

- Tâu thánh thượng, Gia Thuận vì thần thiếp mà chịu bao khổ sở điêu đứng. Thiếp đã hứa với lòng, dù sống chết sẽ mãi làm kẻ nô lệ của chàng. Nếu thánh thượng là một vị vua nhân từ, đại độ thì cho phép thiếp được đền ơn ấy.

Nhà vua thở một hơi dài tỏ vẻ hối hận, đôi mắt rướm lệ. Lòng ghen ghét không còn nữa mà chỉ thấy lỗi lầm mình đã làm cho kẻ hiền lương phải khổ sở. Ngài bèn phán:

- Trẫm hứa sẽ làm vui lòng khanh, cho phép ái khanh được kết hôn với Gia Thuận.

Đoạn, nhà vua truyền cho một hoạn quan đi khắp mọi nơi, tìm bằng được Gia Thuận về triều.

Nhưng viên hoạn quan đi suốt mấy ngày vẫn chưa tìm thấy tin tức Gia Thuận, bèn về cung phục chỉ.

Phi Loan nóng ruột, xin nhà vua cho phép nàng được đích thân đi kiếm.

Nhà vua nhận lời. Ngài lại ban cho nàng một trăm đồng tiền vàng để làm lộ phí.

Phi Loan cúi đầu cảm tạ tấm lòng cao quý của nhà vua rồi vào cung sắm sửa lên đường.

Trời vừa sáng, sương buồn phủ kín không gian, Phi Loan từ biệt nhà vua, lầm lũi ra đi.

Qua những vùng thâm sơn vắng vẻ, đi tới đâu nàng cũng đem tiền bạc dành dụm được bấy lâu phân phát cho dân nghèo.

Một hôm, nàng bước chân vào thành phố Hồng Liên. Trời vừa sẩm tối, trên vỉa hè còn vài ba người nghèo khổ. Trong số đó có một bà lão và một cô gái, tuy nghèo nhưng vóc dáng đoan thục, xinh đẹp.

Phi Loan đoán không phải là người bản xứ liền bước lại gần hỏi:

- Thưa bà, xin lỗi bà có thể cho tôi hỏi thăm bà được không?

Bà lão quay lại nhìn Phi Loan, thấy nàng là một cô gái trẻ đẹp, giầu sang nên vội cúi đầu đáp:

- Thưa công nương, có điều chi muốn hỏi xin công nương cứ dạy bảo.

Phi Loan hỏi:

- Bà là người ở vùng nào, tại sao lại lạc đến đây?

Bà lão buồn rầu nói:

- Thưa công nương, tôi là vợ một thương gia ở thành phố Trúc Mai. Người ta vẫn thường gọi tôi là bà Lâm Thao. Tôi có một đứa con tên Gia Thuận. Mấy tháng trước đây nó có chở hàng sang Bá Đa bán, rồi nghe đâu lại có tư tình gì với hoàng phi Phi Loan, khiến đức vua Đại Nguyên Hãn nổi giận ra lệnh cho quốc vương Hăng Ri đập phá nhà cửa, đày mẹ con ra khỏi xứ.

Chao ôi! Chúng tôi nào có tội tình gì. Từ trước đến nay Gia Thuận là đứa con nghiêm trang mẫu mực, sao lại có thể làm được những chuyện đó? Chẳng biết bây giờ nó lưu lạc phương nào, còn sống hay đã thác?

Phi Loan nghe xong biết chắc bà lão là thân mẫu của người yêu mình, vội vàng quỳ xuống hôn chân bà lão rồi thưa:

- Cụ ôi, chính con là kẻ đã gây ra thảm trạng trong gia đình cụ. Chính con đã làm cho Gia Thuận phải long đong phiêu dạt phương trời. Nhưng con xin cụ đừng phiền muộn, vì thượng đế đã ban ơn cho quốc vương cho phép con đi tìm chàng. Ngài đã bồi thường tiền bạc để chúng con gầy dựng lại cơ nghiệp đã đổ vỡ. Bây giờ xin cụ cứ coi con như con cụ…

Nàng Kiều My từ nãy giờ nghe rõ đầu đuôi, quá xúc động, bước đến đỡ Phi Loan dậy. Hai đóa hoa tươi sau bao ngày bị bão táp cùng nhìn nhau rồi khóc nức nở.

Kiều My nói:

- Thưa công nương, nếu công nương không chê chúng tôi là nghèo khổ, xin mời công nương lui gót ngọc vào tệ xá để mẹ tôi được hầu chuyện.

Phi Loan chưa kịp đáp, thì bỗng có một chàng trai từ đâu hớt hải chạy đến vấp phải bà Lâm Thao ngã chúi xuống đất.

Nàng Kiều My vội chạy đến đỡ mẹ dậy và nhìn chàng nọ với vẻ bực tức.

Chàng trai kia vừa thở vừa nói:

- Tôi xin lỗi đã vấp phải bà cụ. Nhưng nếu cô hiểu là tôi đang có chuyện gấp chắc cô không nỡ giận tôi.

Phi Loan hỏi:

- Anh có chuyện gì mà gấp thế?

Chàng trai đáp:

- Vừa rồi có một chàng trai cỡi lạc đà đi tới trước nhà thương, hình như anh đến để chữa bệnh thì phải. Không may vừa đến cửa thì anh ta ngất xỉu.

Tôi là người gác cổng, có nhiệm vụ đi báo cho thầy thuốc biết.

Phi Loan thấy hơi nghi ngờ, liền dắt bà Lâm Thao và nàng Kiều My đến đó xem.

Vừa đến nơi, cả ba đều nhận ra đó là anh chàng Gia Thuận.

Bà Lâm Thao chạy lại ôm chầm lấy con:

- Gia Thuận ôi, mẹ và em con đây này. Lạy thượng đế đã ban phước cho chúng tôi.

Kiều My và nàng Phi Loan cũng vội chạy đến, nhưng chàng mê man không còn biết gì nữa. Sau một hồi cứu chữa, chàng dần dần tỉnh dậy, cơn buồn nản còn đọng trên  môi, mắt nhắm nghiền chịu đựng.

Vừa mở mắt, trông thấy Phi Loan, chàng hét lên:

- Phi Loan! Trời ơi! Có phải nàng là Phi Loan không? Hãy nói cho ta biết đây là mộng hay thực? Có lý đâu Phi Loan lại ngồi bên một kẻ cùng túng như thế này?

Viên thầy thuốc đặt Gia Thuận nằm xuống:

- Ông cần phải tịnh dưỡng, không nên nói nhiều.

Gia Thuận vùng lên:

- Không, tôi không đau ốm gì cả. Xin ngài đừng bắt tôi phải làm những công việc vô ích đó làm gì.

Rồi Gia Thuận ngước mắt nhìn lên. Chàng thấy nào mẹ, nào em đang xúm chung quanh mình, vẻ mặt buồn vui lẫn lộn. Chàng mừng rỡ cúi xuống hôn chân mẹ mà không thốt được nên lời.

Sau đó, ba người ngồi quanh Gia Thuận nghe chàng kể lại những ngày cay đắng.

Phi Loan kể cho chàng nghe câu chuyện nhà vua đã ân xá cho mình rồi cho đi tìm chàng. Gia Thuận nghe xong lòng mừng vô hạn, những niềm sầu tủi lập tức trôi đi.

Ngày hôm sau, Phi Loan về triều tâu với nhà vua nàng đã tìm được Gia Thuận và mẹ con bà Lâm Thao.

Vua Đại Nguyên Hãn rộng lượng phán:

- Trẫm giữ đúng lời hứa cho nàng được chung sống với Gia Thuận. Kể từ nay nàng không còn thuộc quyền của trẫm nữa. Trẫm sẽ đứng làm chủ hôn cho hai người. Ngày mai, nàng hãy dẫn Gia Thuận và mẹ, em hắn đến để trẫm an ủi đôi lời.

Phi Loan cảm tạ lui gót, lòng tràn ngập hân hoan.

Thế là sáng hôm sau, mẹ con Gia Thuận theo Phi Loan vào cung bệ kiến đức vua.

Khi vua Đại Nguyên hãn thấy Gia Thuận có vẻ mặt khôi ngô, lại mạnh khỏe thì rất vui lòng. Ngài liền phân trần về những lầm lỗi của mình.

Gia Thuận thấy nhà vua nói như vậy thì cũng thành thật tỏ bày là mình không dám oán nhà vua.

Đang lúc đó, nhà vua bỗng nhìn thấy sau lưng bà lão Lâm Thao có một người con gái tuyệt đẹp đang đứng khép nép.

Nhà vua liền quay sang hỏi Phi Loan. Nàng nói đó là Kiều My, em gái của Gia Thuận.

Nhà vua liền đòi Kiều My ra mắt.

Sau một hồi nhìn ngắm sắc đẹp của Kiều My, nhà vua như bị thu hồn, say đắm như sống trong mộng, bèn phán:

- Vì thấy chánh hậu Mai Lan Anh tâm tính hiểm độc, theo phép nước, trẫm ra lệnh hành hình. Và trẫm muốn tạ lỗi với người đã bị hàm oan, vậy phán cho nàng Kiều My thay thế ngôi chánh hậu đang bỏ trống.

Gia Thuận và bà lão Lâm Thao đều tỏ vẻ sung sướng, cúi đầu phục mạng. Riêng Phi Loan thì lại cảm thấy sung sướng hơn, vì từ nay nàng được chung sống với người yêu trọn đời.

Còn Kiều My ra sao?

Không ai hiểu nổi lòng nàng thế nào, chỉ thấy đôi má nàng ửng đỏ, và trên đôi mắt huyền không còn long lanh ngấn lệ.

Câu chuyện chàng si tình Gia Thuận đã chấm dứt.

Nàng Mỹ Thanh Loan tâu xin vua cho phép được kể câu chuyện kế tiếp.

Rồi đêm sau, Mỹ Thanh Liên đánh thức Mỹ Thanh Loan dậy để kể câu chuyện kế tiếp cho vua nghe trước khi trời hừng sáng.

Mỹ Thanh Loan kể tiếp:


Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

CHUYỆN ANH CHÀNG SI TÌNH GIA THUẬN


Tâu bệ hạ,

Khi trước ở thành Trúc Mai có một vị thương gia tên là Lâm Thao.

Ông ta rất giàu có, sanh được hai đứa con. Gã con trai tên Gia Thuận mặt mũi sạch sẽ, thông minh đĩnh ngộ, học giỏi, nhưng oái oăm thay, gã lại có bệnh si tình. Còn cô con gái tên là Kiều Mi, có một sắc đẹp tuyệt vời, ai trông thấy cũng phải say đắm.

Khi hai người con đó trưởng thành thì vị thương gia đó chết, để lại một gia tài kếch sù. Không kể những vàng bạc châu báu chất đầy rương, phần gia tài còn có một kiện hàng gồm cả triệu tấm gấm vóc, thật là tuyệt đẹp.

Một bữa kia, Gia Thuận kiểm điểm lại gia tài. Khi trông kiện hàng đó thì thấy đề : “Gởi đi Bá Đa” , Gia Thuận liền nẩy ra ý định mang số hàng đó đến bán tại Bá Đa.

Chàng liền trở về bàn chuyện đó với mẹ.

Mẹ chàng bảo:

- Con ơi! Cha con vừa mới mất, gia đình ta chỉ còn có con là trai. Vả lại, con còn trẻ tuổi và chưa đi xa lần nào. Nếu con mang hàng từ đây đến Bá Đa thì mệt nhọc lắm. Vậy con hãy mang ra chợ Trúc Mai bán có hơn không.

Gia Thuận không bằng lòng, nhất định làm theo ý riêng của mình. Chàng ra chợ mua mấy chục tên nô lệ mạnh mẽ, thuê một trăm con lạc đà để chở hàng hóa, sắp các món hành trang cần thiết, rồi dẫn bọn nô lệ lên đường.

Qua một thời gian, gian lao khổ sở, anh chàng Gia Thuận si tình kia gặp may, tới được kinh thành tráng lệ Bá Đa theo như ước nguyện.

Đến nơi, Gia Thuận thuê một ngôi nhà sang trọng, đắt tiền, có vườn hoa, sân rộng rãi và những vựa thóc chứa đầy ắp.

Chàng sai mấy tên nô lệ đem hàng hóa xuống chất vào các vựa đâu đấy rồi mới ở đó nghỉ ngơi mấy ngày cho lại sức.

Ba hôm sau, Gia Thuận ăn mặc chỉnh tề, sai một tên nô lệ vác kiện hàng, trong có những món hàng tốt nhất, đem ra phố.

Các khách thương ở kinh đô đón chàng rất niềm nở. Sau khi xem hàng xong, các khách thương đều công nhận là hàng tốt nhất nên mua rất cao giá. Gia Thuận mừng rỡ bán hết kiện hàng đó rồi cứ mỗi ngày lại mang ra phố bán. Bỗng một hôm chàng ngạc nhiên vì hàng phố hai bên đường đều đóng cửa. Chàng hỏi thăm mới biết trong giới buôn bán vừa có người tạ thế.

Tuy Gia Thuận không quen biết gì với họ nhưng muốn lấy tình thân thiện, chàng bèn sai tên nô lệ vác kiện hàng về và chàng theo các khách thương đến chia buồn cùng gia quyến kẻ bạc mệnh.

Gia Thuận đến nơi đúng lúc tang chế cử hành rất trọng thể. Chàng bước vào theo các bạn bè đọc kinh cầu nguyện cùng ngỏ lời phân ưu.

Cuộc lễ cử hành đến nửa đêm, chàng được mời một bữa cơm đáp nghĩa, theo tục lệ xứ Bá Đa.

Thấy trời đã khuya, mà tang lễ có lẽ sẽ cử hành đến sáng, chàng sốt ruột vô cùng. Chàng nghĩ bụng:

- “Ta là một khách phương xa, lại là một thương gia giầu có, biết đâu những tên trộm bất lương, thừa lúc ta vắng nhà chẳng đến cạy cửa? Trời ơi! Còn những tên nô lệ kia nữa, chúng biết ta vắng nhà, tha hồ mà khuân vác vàng bạc của ta trong đêm nay.

Những ý nghĩ hắc ám đó cứ ám ảnh trong óc chàng trẻ tuổi hoài, khiến chàng ăn không ngon, lòng lo lắng bồn chồn vô cùng.

Cuối cùng, không kiên nhẫn nổi, Gia Thuận đứng dậy lẻn ra về.

Chàng tìm một con đường tắt, len lỏi về đến cổng thành thì hỡi ơi! Cổng thành đã đóng chặt, không sao qua được. Chàng đành phải tìm cách trú ngụ qua đêm.

Chàng ngơ ngác đi mãi dưới trời khuya dầy đặc, hết đường này qua đường khác, nhà nào cũng cửa đóng then cài, im phăng phắc, không tìm đâu ra một mái nhà lá để trú ẩn. Bước lần vào một con đường hẹp, Gia Thuận tìm được một nghĩa trang, cửa để trống. Chàng bước vào định ngủ một đêm trong đó, vì trong nghĩa trang có những ngôi nhà mồ cao ráo, xung quanh lại có cây cối um tùm.

Chàng ngả lưng trên một phiến đá, nhưng vì quá nóng ruột nên chàng không sao ngủ được. Chàng đứng dậy đi ra đi vào cho chóng tới sáng.

Bỗng nhiên chàng thấy từ đằng xa có một đốm lửa lập lòe, tiến về phía nghĩa trang mỗi lúc một gần.

Vì quá sợ hãi, Gia Thuận bèn nhẩy tót lên một lùm cây dừa gần đấy để trốn đồng thời được xem rõ hơn.

Ánh lửa mỗi lúc một đến gần. Chàng nhận ra đó là ba tên nô lệ, những nô lệ giầu sang.

Tên đi trước cầm đuốc, hai tên đi sau khiêng một cái hòm nặng trĩu. Tới nghĩa trang, cả ba dừng lại. Tên cầm đuốc nói:

- Các bạn ơi, trời khuya lạnh lẽo, chi bằng ta liệng quách cái hòm xuống đây cho xong.

Tên đi sau phản đối:

- Không được, chủ nhân đã dặn phải chôn cất cho tử tế, chúng ta phải làm cho đúng.

Tên thứ ba xen vào:

- Phải đấy! Như vậy mới đầy đủ nhiệm vụ chứ!

Cả ba xúm nhau lại đào đất. Chỉ trong phút chốc, họ đã chôn xong chiếc hòm, lấp đất lại rồi bỏ ra về.

Gia Thuận ngồi núp trên cây dừa, không bỏ sót một cử chỉ nào của chúng.

Chàng nghĩ bụng:

- Chẳng biết chúng chôn cái gì. Nếu là người chết mà mang vào nghĩa trang này phải là bậc vương giả, tang lễ long trọng chứ đâu bê bối như vậy. Chúng chôn giấu vàng bạc, châu báu hay sao? Xem cử chỉ bọn này coi bộ bất lương lắm, chắc là do một người có quyền lực sai khiến.

Gia Thuận đợi cho chúng đi khá xa, và biết chắc chúng không còn quay lại nữa, mới dám lần mò xuống.

Vừa lúc đó trời sáng, vừng kim ô vừa ló dạng. Chàng thu hết can đảm tiến đến chỗ chúng vừa chôn chiếc hòm.

Chàng nhặt lấy cây đòn mà chúng vừa mới liệng xuống đó, ra sức đào. Nhờ đất xốp nên chẳng mấy chốc, chàng đã đào tới nơi. Chàng rán sức cậy nắp. Thật không ngờ, một sự thật làm chàng bàng hoàng đến độ ngơ ngẩn cả người.

Không phải vàng bạc châu báu ngọc ngà mà là một giai nhân sắc nước hương trời, trang phục toàn bằng những vật quý giá như một vị hoàng hậu của một quốc vương.

Gia Thuận đỡ nàng dậy, đưa ra khỏi chiếc hòm, đặt nằm trên bệ đá cạnh nhà mồ gần đấy.

Nhưng nàng bị ngất đi nên hơi thở rất yếu ớt. Chàng vội chạy ra cổng nghĩa trang đóng chặt cửa lại rồi trở vào lay nàng dậy…

Sau một lúc lâu, nàng tỉnh dậy, môi mấp máy và hơi thở mạnh dần. Trong hơi thở, chàng có cảm tương như có mùi vị vương giả.

Bỗng nàng mở choàng mắt hỏi:

- Mai Linh, Sao Băng, Tuyết Lê! Chúng bây ở đâu cả rồi?

Gia Thuận biết đó là những con tỳ nữ hầu nàng. Có lẽ nàng tưởng mình đang ngủ ở trong phòng mình.

Không thấy tiếng trả lời, giai nhân mở to đôi mắt, dáo dác nhìn chung quanh. Khi biết mình đang nằm trong nghĩa trang, nàng run lên lẩy bẩy vì sợ hãi, hỏi:

- Trời đất ơi! Sao thế này, ta đang sống hay chết? Tại sao lại có sự thay đổi kỳ dị này?

Không muốn nàng lo sợ thêm, Gia Thuận nói:

- Thưa bà, bà yên tâm, tôi vừa cứu bà ra khỏi cơn ác mộng.

Giai nhân ngơ ngác hỏi:

- Người có phải là ân nhân của tôi chăng?

Gia Thuận kể lại cho nàng nghe câu chuyện từ đầu, lúc chàng leo lên cây cho tới lúc thấy ba tên nô lệ mang chôn nàng ngoài nghĩa địa.

Giai nhân chợt nhíu mày như nghĩ đến một chuyện gì xa xôi. Nàng ngồi nghĩ ngợi một hồi, sau cùng, nàng mới nói với Gia Thuận:

- Thiếp thành thật cảm ơn trời đã cho ngài đến đây cứu thiếp qua khỏi tai nạn. Ơn này thiếp không bao giờ dám quên.

Vốn dĩ si tình nên khi đứng trước mặt người đẹp, Gia Thuận bao giờ cũng mơ mộng như đang ở trên mây xanh. Nay lại đang được chiêm ngưỡng sắc đẹp tuyệt trần này thì hỏi rằng làm sao mà chàng không rung động cho được.

Tuy vậy, Gia Thuận chưa biết rõ giai nhân ra sao nên còn thắc mắc. Chàng hỏi:

- Thưa bà, xin bà hãy cho tôi biết bà là ai và vì duyên cớ nào mà bà bị hoạn nạn như vậy?

Nàng trả lời:

- Câu chuyện này rất dài dòng. Hiên nay thiếp chưa tiện kể. Nếu ngài có lòng tốt giúp đỡ thiếp thì xin giúp cho tới cùng.

Gia Thuận hỏi:

- Thế bây giờ tôi phải giúp bà việc gì nữa?

- Nay trời đã sáng rồi, thiếp không thể lộ diện được. Nếu có ai mà trông thấy mặt thiếp thì rất nguy hiểm…

Gia Thuận ngạc nhiên vô cùng vì lời nói của giai nhân. Chàng hỏi:

- Thưa bà, bà định ở trong nghĩa địa này hay sao?

- Thưa ngài, xin ngài hãy cho thiếp rõ là nhà ngài có gần đây không?

- Nhà tôi thuê ở ngoài phố.

Giai nhân sau một hồi ngẫm nghĩ, nói với Gia Thuận:

- Xin ngài hãy bỏ thiếp vào chiếc hòm này rồi thuê mã phu chở thiếp về nhà ngài. Như vậy có được chăng?

Gia Thuận bằng lòng ngay. Chàng vội đặt giai nhân vào chiếc xe hòm rồi đi ra phố.

Một lát sau, Gia Thuận thuê được hai người mã phu và chiếc xe ngựa. Họ phụ với chàng khiêng chiếc hòm để lên xe.

Ngồi trên xe trở về nhà, Gia Thuận suy nghĩ miên man. Chàng tưởng như mình đang sống trong giấc mơ êm dịu.

Khi xe về tới nhà, Gia Thuận sai bọn nô lệ ra khiêng chiếc hòm vào nhà, mang lên gác rồi đóng chặt cửa lại.

Gia Thuận vốn tính cẩn thận, chàng còn kiểm soát lại các cửa xem đã đóng kín chưa rồi mới mở hòm để người đẹp chui ra.

Rồi chàng cẩn thận đặt giai nhân nằm trên một chiếc đệm nhung cho nàng nghỉ và chàng dễ bề ngắm nghía.

Quả thật, sắc đẹp của nàng làm cho Gia Thuận say mê. Chàng ngắm nàng đắm đuối hồi lâu mà không biết chán.

Chàng nhủ thầm:

- “Chắc thượng đế đã thương ta mà cho kết duyên cùng người đẹp chăng?”

Chàng cảm thấy sung sướng trong lòng. Lúc đó, giai nhân đang thiêm thiếp trên  giường nên không biết gì.

Một lát sau, có lẽ nàng đã thấy khỏe nên ngồi dậy.

Gia Thuận nhẹ nhàng đến bên nàng và hỏi:

- Thưa quí nương, xin quí nương cho tôi được cái hân hạnh mời quí nương một bữa cơm?

Người đẹp mỉm cười. Nhìn vẻ mặt và cử chỉ của Gia Thuận, nàng thấy chàng thành thật và đáng yêu. Nàng dịu dàng nói:

- Ngài săn sóc thiếp như vậy, thật thiếp vô vàn cảm tạ ơn ngài.

Gia Thuận giục bọn nô lệ dọn cơm lên. Hai người cùng ngồi vào bàn ăn uống. Vì nóng ruột muốn biết nguồn gốc giai nhân nên Gia Thuận hỏi:

- Thưa quý nương, bây giờ quý nương có thể nói cho tôi được biết quý nương là ai?

Người đẹp không đáp, thò tay vào túi rút ra một tấm mạng che mặt, trên tấm mạng có thêu mấy dòng chữ.

“Ái khanh của trẫm.”.

Bên dưới có đóng dấu của nhà vua. Đọc xong, Gia Thuận thất sắc, trao trả tấm mạng cho giai nhân, miệng run lẩy bẩy:

- Trời ơi! Vậy ra kẻ hèn này đã cứu được lệnh bà? Tâu lệnh bà, xin lệnh bà tha thứ cho tội phạm thượng đến ngọc thể. Xin lệnh bà hãy an tâm, kẻ tiểu dân này xin hết dạ cung kính lệnh bà như một tên nô lệ hầu hạ chủ nhân. Nhưng mà hỡi ôi, sao số mệnh lại tàn ác đến thế? Trái tim của kẻ tiểu dân này những tưởng được mắt xanh ngó đến, nào ngờ kẻ đó là một bậc cung phi cành vàng lá ngọc, và những dòng chữ quái ác kia đã giết chết cõi lòng kẻ hèn mọn này rồi… Xin lệnh bà hãy cho kẻ tiểu dân được biết rõ sự tình.

Thấy cử chỉ của Gia Thuận vừa đau đớn vừa trang trọng, nàng cũng xúc động nói:

- Thưa ngài, dẫu sao ngài cũng là vị ân nhân của thiếp, đã cứu thiếp khỏi về thế giới bên kia. Thiếp tên là Phi Loan, thứ phi của hoàng thượng Đại Nguyên Hãn. Hoàng thượng yêu thương thiếp say đắm khiến cho hoàng hậu Mai Lan Anh phải ghen hờn. Thiếp đoán thế nào cũng có ngày bị hoàng hậu tìm cách hãm hại. Đúng như vậy. Cho đến một hôm, hoàng thượng phải thân chinh dẹp giặc phương xa, không còn gần gũi để mà che chở cho thần thiếp. Bà ta dùng độc kế làm cho thiếp mê man rồi nhốt thiếp vào trong một chiếc hòm. Rồi bà sai ba tên nô lệ thân tín nhất đem chôn thiếp. May nhờ có ngài đã cứu được… Vậy việc này xin ngài khá giữ bí mật, để lộ khó tránh khỏi tai biến cho ngài.

Gia Thuận buồn rầu đáp:

- Xin lệnh bà cứ yên chí. Từ bây giờ trở đi, kẻ tiểu dân chỉ làm tôi tớ cho lệnh bà.

Thứ hậu Phi Loan nghe nói cảm động đáp:

- Thưa ngài, thiếp đâu dám nghĩ như vậy. Hiện giờ thiếp là kẻ mang ơn ngài. Xin ngài đừng nói vậy, thiếp không bao giờ muốn để cho ân nhân phải mang một mối sầu tuyệt vọng!

Gia Thuận nghe nói cảm động vô cùng. Chàng không ngờ và cũng không dám nghĩ đến chuyện khi quân phạm thượng như vậy. Chàng chỉ thở dài thầm thương tiếc định mệnh đã quá khắt khe, bắt chàng phải ôm mối tuyệt vọng cho đến khi chết.

Buổi tối, Gia Thuận gọi bọn nô lệ đến, dọn dẹp buồng ngủ, rồi xếp đặt cho chúng hầu hạ nàng Phi Loan. Nghĩa cử ấy làm cho Phi Loan phải khen thầm.

Rồi cuộc sống cứ kéo dài, trôi trên tâm hồn buồn lặng u hoài của kẻ ôm mối tuyệt tình.

Ngày nào Gia Thuận cũng dọn riêng cho Phi Loan một mâm cơm. Khi nàng ăn, chàng đứng bên cạnh hầu đến mãn bữa.

Đêm nào chàng cũng vào săn sóc buồng ngủ cho Phi Loan rồi mới trở về phòng mình yên giấc.

Đôi bạn cứ sống chung trong cảnh đầm ấm đó, nhưng bị cách biệt trong mối tình vương giả.

Vì vậy, không sao tránh khỏi những đêm sầu mộng.

Đang lúc đó thì tại hoàng cung, hoàng hậu Mai Lan Anh rất sung sướng, sau khi ra lệnh cho ba tên nô lệ giấu kín chuyện đó.

Nhưng lòng ác tâm bao giờ cũng đem lại cho mình những ám ảnh lo lắng sợ hãi.

Và chẳng bao lâu, nhà vua Đại Nguyên Hãn thắng trận, sắp sửa hồi trào.

Hoàng hậu Mai Lan Anh nghĩ bụng:

- “Trong lúc ghen tương ta không hề nghĩ đến hậu quả. Một mai hoàng thượng trở về, ta biết trả lời ra sao?”

Nghĩ mãi không ra kế, hoàng hậu Mai Lan Anh bèn kêu viên hoạn quan thân tín vào hỏi ý kiến.

Được rõ sự tình, viên hoạn quan tâu:

- Tâu lệnh bà, thần có kế này khả dĩ dùng được, nhưng phải thi hành nhanh mới được.

Hoàng hậu hỏi:

- Kế gì?

Hoạn quan đáp:

- Xin lệnh bà cho đóng một cỗ quan tài đem vào cung rồi giả các nghi lễ tang điếu một vị cung tần của hoàng thượng. Trong cỗ quan tài, lệnh bà cho đẽo một thân cây thật nặng, nhét vào đấy, giả làm xác nàng Phi Loan. Rồi sai bày bàn thờ, để ảnh Phi Loan ở chính giữa. Coi như Phi Loan bị bệnh mà chết đi vậy. Khi hoàng thượng trở về, lệnh bà phải làm bộ than khóc, thương xót. Làm như thế hoàng thượng sẽ không nghi ngờ mà còn cho lệnh bà là một kẻ nhân đức nhất đời nữa…

Hoàng hậu nghe lời làm theo kế.

Quả nhiên, trong ngoài bưng bít kín miệng, không một ai nghi ngờ. Mọi người đều tỏ vẻ thương xót một đóa hoa sớm lìa cành.

Rồi một chiều, muôn chim đua hót, thành phố Bá Đa tưng bùng dựng khải hoàn môn để chào đón vị minh quân chiến thắng trở về.

Nhưng khi về tới hậu điện, nhà vua vô cùng khinh ngạc khi thấy vắng bóng giai nhân. Không một tiếng chim hót nơi cung vàng điện ngọc mà chỉ thấy trong cung phảng phất màu tang chế thảm sầu.

Nhà vua quay hỏi hoàng hậu Mai Lan Anh:

- Hoàng phi Phi Loan đâu, tại sao không thấy ra đón trẫm?

Hoàng hậu khóc lóc và kể rõ sự tình.

Nghe tin người yêu quí nhứt của mình từ trần, nhà vua choáng váng cả người, ngất đi.

Khi tỉnh dậy, nhà vua ôm linh cữu khóc một hồi lâu rồi truyền lập đàn tế lễ hết một tháng. Ngày nào cũng vậy, nhà vua ngồi buồn rầu tưởng nhớ đến bóng dáng người yêu.

Cho mãi đến một hôm, sau những đêm thức trắng vì mệt mỏi, tưởng nhớ, vua Đại Nguyên Hãn mơ màng ngả người trên long sàng, thả hồn về bến mộng. Chợt có hai con tỳ nữ của Phi Loan trước, đang hầu vua là Sao Băng và Tuyết Lê, tưởng nhà vua ngủ say nên thì thầm.

Tuyết Lê vừa nói với Sao Băng:

- Này, Sao Băng, tao được tin chắc chắn là hoàng phi còn sống.

Sao Băng tròn mắt ngạc nhiên:

- Hoàng phi nào?

- Phi Loan chứ còn ai…

- Trời đất ơi, mày không giỡn chứ? Phi Loan mà còn sống? Thật không? Sao mày biết?

Tuyết Lê xuỵt:

- Nói khẽ chứ, hoàng thượng nghe thấy thì chết. Mày không tin tao ư?

Vua Đại Nguyên Hãn nghe được có bấy nhiêu, đã nhảy chồm lên, túm hai con tỳ nữ, hét:

- Chúng mày vừa nói gì?

Tuyết Lê vội vàng quỳ xuống:

- Tâu hoàng thượng, con vừa được tin hoàng phi Phi Loan còn sống.

Vua sững sờ hỏi:

- Mấy lấy bằng chứng đâu mà dám nói vậy?

Tuyết Lê run cầm cập:

- Tâu hoàng thượng, lúc sáng có một người lạ mặt, lén vào ngọ môn đưa cho con một bức thư.

Quá nóng ruột, nhà vua hét lên:

- Thư gì? Hãy đưa đây nhanh lên.

Tuyết Lê mò vào túi lấy thư, nhưng vì quá run, không lấy được.

Nhà vua liền giật lấy túi áo Tuyết Lê, lấy ra một mảnh giấy, có ghi mấy hàng như sau:

“Nàng Phi Loan hiện nay còn sống, đang ở tại nhà một người lái buôn trẻ tuổi tên Gia Thuận, tại đầu phố".

_______________________________________________________________
 Còn tiếp