Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

RỒI CÓ MỘT NGÀY - Trần thị B.T.


Khi tôi đến thì chị Quỳ đã đi dạy. Cô giúp việc mở cửa, rót nước đặt lên bàn nhỏ xong lẩn xuống bếp ở luôn dưới đó. Tôi kiếm một chỗ thuận tiện vứt chiếc xắc vào rồi dạo quanh căn phòng khách. Khung cảnh không có gì thay đổi. Vẫn ngần ấy thứ đồ vật được sắp xếp treo móc theo đúng nguyên vị trí xưa kia. Bình hoa trên mặt tủ. Sách báo dưới gầm bàn salon. Con búp bê mở to mắt xanh biếc trong tủ kính cạnh những ly cốc thủy tinh đều đặn thứ tự lớn nhỏ. Bức ảnh thiếu nữ của chị Quỳ tươi cười bên ảnh chụp tôi đứng trước bãi biền mặt nhăn nhó vì nắng chói. Tôi nhớ tôi đã có tấm ảnh này trong kỳ hè ba năm về trước, và chính chị Quỳ đã chụp cho tôi. Bức ảnh được phóng lớn nên nét mặt nhăn nhó càng rõ rệt hơn, trông đến buồn cười. Thế mà chị Quỳ lại bảo thích "nó" nhất. Có lẽ đó là vì bức ảnh do chính tay chị chụp. Chị Quỳ rất yêu quý kỷ niệm. Tôi được biết trong một ngăn kéo bàn trong buồng có khóa cẩn thận, chị lưu trữ rất nhiều giấy tờ hình ảnh hoặc đồ vật liên quan đến những người thân quen của chị. Có những bức thư cũ kỹ nhàu nát (vì xem đi xem lại nhiều lần). Có những tặng vật cổ quái chẳng đáng giá bao nhiêu nhưng được chị nâng niu gìn giữ hết sức. Tôi là người thân duy nhất được chị cho xem và kể lại từng chi tiết về những kỷ vật ấy. Chị Quỳ là người đàn bà rất nhiều tình cảm nhưng chung thủy. Từ khi mối tình thứ nhất bị tan vỡ, cho tới nay chị chưa hề có thêm mối tình nào trong đời. Căn phòng không dấu hiệu chứng tỏ có sự hiện diện của người thứ hai khác phái xen vào đời chị. Sự xếp đặt nguyên như cũ, như ngày tôi rời bỏ. Tôi không biết phải chua xót hay vui mừng khi nhận ra điều này. Tuổi chị Quỳ không còn là tuổi xuân con gái nữa. Ngày tháng cứ lạnh lùng ra đi mà không có một bù đắp xứng đáng nào cho chị. Hình như chị Quỳ vẫn dửng dưng với từng mùa xuân trôi. Có lẽ anh Dương đã mang theo nửa phần hồn chị bên bước chân bội bạc ngày ra đi nên phần hồn còn lại "bỗng dại khờ" chăng? Tôi chỉ thấy chị thản nhiên sống, ít nói hơn và mỗi lần ôn nhớ dĩ vãng thì giọng chị lại sũng nước, đôi mắt ánh nỗi u uất nuối tiếc. Tôi thương chị Quỳ hết sức và tiếc dùm tuổi trẻ của chị để từ đó đâm oán hận anh Dương.
 
Tách nước đã nguội lạnh. Chị Quỳ vẫn chưa về. Để giết thì giờ tôi chấm giúp chị xấp bài dở dang trên bàn. Chị Quỳ cho học trò làm luận "chọn nghề". Đa số đều thích nghề dạy học. Một số nuôi mộng làm Y tá, Bác sĩ... Nhưng chung qui những tinh hoa son trẻ đều thích những nghề bác ái từ tâm. Một câu văn của cô học trò nào đó đề tên Minh Thục làm tôi cảm động và thương chị Quỳ hơn bao giờ hết. "Em muốn sau này được giống như cô giáo Quỳ của em. Hiền lành dễ thương và yêu chúng em hết mực." Học trò thương chị như vậy thảo nào chị chẳng hề muốn rời bỏ nghề dạy cực nhọc và chật vật này. Tôi nhớ có một lần chị tâm sự rằng "chết thì thôi chứ không khi nào chị bỏ dạy, dù công việc khác có nhàn hạ và kiếm được nhiều tiền hơn. Đời chị đã mất mát quá nhiều tình thương, giờ chị chỉ còn trông cậy quấn quýt vào đám học trò non nớt mà thôi. Chúng yêu thương chị lắm, Đó là niềm an ủi lớn nhất của chị để từ đó chị có hy vọng mà sống tươi vui nốt quảng đời còn lại..." Tôi đã cười, giả vờ hỏi, liệu chị có yêu học trò mãi được chăng? Chị nhìn tôi mỉm cười, em nghi ngờ chị? Em hiểu chị mà Thức. Anh Dương là người thứ nhất và cũng là người cuối cùng chị yêu riêng. Lúc đó sao tôi muốn anh Dương có ở đó để thấm thía lời chị Quỳ nói, để tỉnh ngộ việc anh làm. Tôi biết chị Quỳ đã nói những lời chân thành nhất của trái tim chị. Và thời gian đang chứng minh lời chị, phải không chị Quỳ?
 
Chị Quỳ không về một mình mà dẫn theo một cô gái. Chị giới thiệu với tôi, cô bạn nhỏ cùng dạy một trường với chị, cô mới đổi về, còn bỡ ngỡ với trường ốc và tỉnh lỵ này, cô không quen ai nên chị mời về ở chung cho có bạn. Vĩnh Khuê - tên cô gái - mỉm cười chào tôi. Nụ cười có hai khóe lúm sâu duyên dáng. Tôi bỗng nảy ra ý định giấu chị Quỳ lý do tôi về đây. Chỉ nói với chị tôi về chơi ít ra là một tuần. Chị Quỳ tươi tỉnh bội phần khi nghe tôi cho biết như thế. Tôi chợt bắt gặp đôi mắt đen láy của Vĩnh Khuê ánh lên nét vui mừng rồi tắt ngấm trong giây phút. Tôi thấy lòng xao xuyến rung động một cách kỳ lạ. Một cảm giác mới lạ dấy nhẹ trong lòng, luân lưu trong huyết quản. Chị Quỳ liến thoắng xếp dọn chỗ ở cho tôi và Vĩnh Khuê. Căn buồng vẫn thường dành cho tôi bị cô gái chiếm ngụ. Tôi phải dời ra chiếc sập nhỏ ngoài phòng khách. Tôi đùa với chị Quỳ, trong khi mắt liếc Vĩnh Khuê: Chị Quỳ hết thương em. Vĩnh Khuê đỏ mặt. Hai má như tô lượt phấn hồng, đôi mắt long lanh. Nàng xấu hổ cúi mặt sau mớ tóc xõa dài. Chị Quỳ vui vẻ, ừ chị thương em gái chị hơn chứ. Ai bảo Thức cứ bỏ đi hoài, ham rong chơi lắm thì rán chịu, Khuê nhỉ.
 
Tôi dẫn Vĩnh Khuê đi quanh bờ đất tiến sâu vào ruộng muối. Tia nắng buổi chiều soi rõ những tinh thể trắng phau lóng lánh. Từng ụ muối cao nghệu sừng sững bên bờ trông như một núi tuyết khô. Cánh đồng vắng teo không một bóng người. Những con chim cút nhỏ màu nâu sậm nhảy nhót trên đám cỏ mọc ven ruộng bỏ hoang phía xa. Vạt áo trắng của Khuê bay lượn trong gió. Mái tóc xõa vai gió thổi tạt che nửa phần khuôn mặt. Trông Vĩnh Khuê và trời đất chung quanh như một bức tranh được vẽ bằng đường nét chân thật nhất. Nàng líu ríu đi cạnh tôi như con chim nhỏ. Đi hết quãng đường dài, tôi bắt gặp trong thôn thượng một cây cầu nhỏ bắc ngang con suối nước đục ngầu bởi đất đỏ. Những tàn cổ thụ rậm vây quanh. Tôi ra dấu cho Vĩnh Khuê dừng lại. Nàng ngạc nhiên dò hỏi. Tôi mỉm cười, mình đứng đây nói chuyện một lát rồi về. Vĩnh Khuê ngoan ngoãn nghe lời tôi không phản đối mảy may. Nàng đứng dựa vào thành cầu ngắm đàn cá nhỏ nhiều mầu dưới lòng suối im lặng chờ đợi. Tôi ngửi được mùi hương tóc nàng phả vào mũi ngây ngất. Tôi muốn thời gian ngừng lại đây để tôi được mãi mãi đứng bên cạnh nàng, như thế này. Tôi muốn gần kề nàng suốt đời, đừng có ngày mai để tôi khỏi phải ra đi. Khỏi phải rời nơi đã đem lại cho tôi nhiều yên ổn tâm hồn. Nơi đã nhen nhúm trong lòng tôi ngọn lửa yêu thương sau bao nhiêu năm miệt mài tìm kiếm. Từ ngày quen biết Vĩnh Khuê, tôi nhận định được nơi chốn sẽ dừng lại nếu một mai thuyền đời hết lênh đênh. Nhưng thời gian gần gũi quá ngắn ngủi. Dù gì ngày mai tôi cũng phải ra đi rồi. Ngày lên thăm chị Quỳ tôi chỉ dự định ở vài ngày rồi sẽ thu xếp ít công việc lặt vặt trước khi thay đổi đời sống bởi một tờ giấy gọi trình diện của một cơ quan công quyền. Thế nhưng bất ngờ gặp Vĩnh Khuê, tôi đã lưu luyến không dứt rời như dự định được. Cả chị Quỳ lẫn Vĩnh Khuê đều không hay biết gì về chuyến đi ngày mai của tôi. Tôi muốn giấu tới phút cuối cùng. Chiều nay Vĩnh Khuê có giờ trống, tôi đã mời nàng đi với tôi sau khi chị Quỳ rời nhà đi đến trường. Chúng tôi đã nói với nhau những mẩu chuyện thời tiết trăng sao mà chưa ai dám đề cập tới vấn đề chính mà cả hai cùng cảm nhận được bằng trực giác. Vĩnh Khuê thì hẳn nhiên là sẽ im lặng nếu tôi im lặng hoài. Nhưng còn tôi? Sao tôi mãi ngập ngừng ngần ngừ tránh né...? Hay tận cùng thâm tâm tôi sợ sự thực phũ phàng?
 
Vĩnh Khuê ngắt cọng cỏ nứa ngậm ngang miệng. Màu xanh của lá nổi bật trên màu trắng của da. Chừng như không chịu đựng nổi sự lặng thinh nữa, nàng nhỏ nhẹ lên tiếng:
 
- Buổi đi chơi hôm nay anh có vẻ là lạ thế nào ấy. Anh dẫn Khuê ra đây hẳn có chuyện gì cần nói mà anh không tiện nói ở nhà?
 
Vĩnh Khuê đã mở đường cho tôi rồi đó. Cám ơn em, Vĩnh Khuê. Thật anh không biết phải giáo đầu câu chuyện như thế nào cho ổn. Tôi nhìn thẳng mắt nàng gật nhẹ:
 
- Khuê thông minh lắm. Khuê đoán đúng, anh có câu chuyện muốn nói với Khuê. Nhưng lần lựa mãi, đợi đến hôm nay là buổi cuối cùng anh mới nói ra.
 
Vĩnh Khuê ngạc nhiên:
 
- Có quan trọng lắm không anh? Chị Quỳ đã biết chưa?
 
Tôi lắc đầu:
 
- Chưa, chị Quỳ sẽ biết vào tối nay. Anh sợ chị Quỳ buồn, cũng như anh đã sợ em buồn.
 
- Vậy chuyện đó gần kề?
 
- Vâng. Khuê này, sau những ngày quen biết nhau Khuê hẳn biết tình cảm anh đối với Khuê như thế nào? 
 
Vĩnh Khuê cắn môi:
 
- Vâng.
 
Tôi tiếp:
 
- Ngày mới đến hẳn em biết anh chỉ đến thăm chị Quỳ rồi sẽ ra đi nhưng chưa biết ngày giờ nào?
 
- Vâng.
 
Tôi ngả lưng ra thành cầu:
 
- Vậy hôm nay anh cho em biết điều đó. Ngày mai anh phải từ giã em rồi, và ngày trở về thì chưa định được.
 
Khuê đứng bật thẳng người. Cọng cỏ rời tay trôi theo dòng nước. Mắt nàng mở to, môi mím chặt. Tôi buồn bã nhìn nàng. Giây lâu Khuê như lấy lại được bình tĩnh, nàng nhìn tôi, đôi khóe mắt long lanh ngấn nước.
 
- Sao giờ anh mới nói?
 
- Anh sợ Khuê buồn.
 
- Bây giờ anh không sợ Khuê buồn sao?
 
- Nhưng thời gian đã kề cận lắm rồi, anh bắt buộc phải cho Khuê biết.
 
Khuê im lặng. Nắng chiều đã tắt sau dãy núi xám xa mờ. Gió thổi nhiều hơn. Tôi thấy lòng tê tái, giá lạnh.
 
- Anh biết chuyện anh Dương với chị Quỳ?
 
Tôi ngạc nhiên ngó Khuê:
 
- Em hỏi anh điều đó để làm gì? 
 
- Rồi Khuê cũng sẽ như chị Quỳ, mãi mãi tuyệt vọng trông chờ hình bóng ai biết bao giờ trở lại.
 
Tôi chợt hiểu. Vĩnh Khuê sợ tôi sẽ như anh Dương, sẽ bội bạc rời bỏ nàng vĩnh viễn.
 
- Em đừng có ý nghĩ đen tối ấy. Anh là anh chứ anh không là anh Dương. Anh hiểu lòng anh. Ngày xưa anh Dương phụ rẫy chị Quỳ, một phần vì gia đình ngăn cản mối tình giữa chị Quỳ và anh ấy, một phần vì anh Dương chưa chịu xét kỹ lòng mình đã vội gieo rắc niềm tin vào chị Quỳ, khiến cho chị phải buồn một đời. Anh khác anh Dương ở chỗ là anh đã nghĩ kỹ, và anh không bị ràng buộc bởi mối dây tình cảm nào khác ngoài em và chị Quỳ. Vả lại em biết rằng anh thương chị Quỳ lắm chứ. Anh Dương ra đi không hẹn ngày về. Nhưng anh ra đi có hẹn ngày về, dù chưa định chắc bao lâu.
 
- ... ...
 
- Em không tin anh sao?
 
Khuê vội lắc đầu:
 
- Không, không phải thế...
 
- Sao em im lặng?
 
- Khuê không biết phải nói gì bây giờ. Dầu sao thì mai anh cũng sẽ ra đi.
 
- Nhưng anh sẽ trở về, và anh luôn nhớ Khuê kia mà.
 
- Vâng, Khuê nghĩ là anh sẽ trở về, Khuê tin là anh sẽ khác anh Dương, và Khuê không phải chịu thứ hình phạt ngấm ngầm như chị Quỳ hiện tại, nhưng...
 
Tôi ngắt lời:
 
- Khuê nghĩ vậy là anh mừng. Anh muốn buổi chiều cuối này là buổi chiều đẹp, buổi chiều đáng nhớ trong đời anh.
 
- ... ...
 
- Khuê hãy tạm quên rằng mai anh sẽ phải rời xa Khuê để nhoẻn một nụ cười xem nào.
 
Khuê giấu mặt:
 
- Anh kỳ quá, đang không bắt Khuê cười.
 
- Chứ sao, Khuê đừng buồn nữa. Tại vì vậy mà anh không dám cho Khuê biết sớm, sợ những ngày còn lại sẽ bớt vui. Thôi chứ, cô giáo rồi mà còn dài nước mắt à. 
 
Khuê nhìn tôi, môi nở nụ cười cố làm ra vẻ tươi tắn nhưng dấu vết hiu hắt còn đọng lại, chưa mất hẳn. Tôi thấy xót xa tận đáy lòng. Nắm bàn tay nhỏ bé của Khuê, tôi nói:
 
- Khuê, trước khi chúng mình ra về, anh muốn Khuê hứa với anh một điều.
 
- Anh nói đi, Khuê sẽ làm tất cả những gì anh muốn dù khó khăn tới đâu.
 
Nhìn sâu vào mắt nàng, tôi chậm rãi:
 
- Anh mong Khuê đừng buồn khi vắng anh nhất là cấm khóc. Đã là cô giáo rồi, Khuê còn khóc lóc học trò cười cho thì rán chịu.  Anh sẽ biên thư về cho em luôn luôn.
 
Khuê mỉm cười:
 
- Vâng, em hứa.
 
Tôi mỉm cười, hài lòng. Vũ trụ như tan biến, quanh tôi chỉ còn lại khoảng trời xanh trong đôi mắt long lanh ngấn nước chưa kịp khô. Cả vùng hạnh phúc hiện ra trong đó.
 
Bầu trời xám dần khi chúng tôi rời con suối đưa nhau về. Ngày mai tôi ra đi sẽ đem theo trong trí nhớ nhỏ nhoi khoảng trời xanh ngắt trong cửa mắt Khuê hôm nay.
 
 
TRẦN THỊ B.T.     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 101, tuần lễ từ 10-5 đến 17-5-1973)
 

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2026

NGÀY XƯA HOÀNG THỊ... - Phạm Thiên Thư

 Tưởng nhớ nhà thơ Phạm Thiên Thư!
 

 
 
  
 
 
 
 
 
  
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài

Anh đi theo hoài
Gót giầy thầm lặng
Đường chiều úa nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng

Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn

Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng

Lòng sao rưng rưng
Như trời mây ngợp
Hôm sau vào lớp
Nhìn em ngại ngần

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở

Thương ơi vạn thuở
Biết nói chi nguôi
Em mỉm môi cười
Anh mang nỗi nhớ

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát

Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhoà mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ

Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ

Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?
Chân tìm theo nhau
Còn là vang vọng

Đời như biển động
Xoá dấu ngày qua
Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ

Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ

Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời

Tình ơi tình ơi!
 
          PHẠM THIÊN THƯ
  

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

CÁI BẸ SƯỜN BÍ XỊ - Nghy


Để khỏa lấp nỗi buồn cô độc của Adong, thượng đế đã lấy một cái bẹ sườn của Adong để tạo ra Eva. Từ đó Adong có bạn và không còn buồn nữa. Như vậy người nữ chính là cái bẹ sườn của người nam. Sau này các cô cậu nếu tìm được đúng cái bẹ sườn của mình thì cuộc sống sẽ hạnh phúc...
 
Câu chuyện chỉ có thế, vậy mà mọi người có vẻ say mê lắm. Trên bục gỗ, thầy mỉm cười nhìn lũ học trò kháo nhau:
 
- Ê mi, đã tìm ra chủ cái bẹ sườn của mi chưa?
 
- !!...
 
- Nhỏ ơi, phe bên kia đang hỏi thăm có ai thấy cái bẹ sườn thất lạc của họ không kìa!
 
- !!...
 
- Còn cái bẹ sườn này sao bí xị vậy, bộ bị lạc hở?
 
Và chuông reo, kết thúc giờ tâm lý. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường. Nữ sinh trường tư được tiếng chăm ăn ngủ kỹ, nhao nhao gọi đi điểm tâm cho đến quá giờ mới trở lại. Bọn nam sinh thì kề cà xuống các hàng thuốc lá ở cổng trường, cũng đợi muộn giờ mới lên. Còn nàng, nàng vẫn ngồi đấy, nàng là cái bẹ sườn bí xị của hai giờ đầu hôm nay. Nàng đăm đăm nhìn vào khoảng không trước mặt. Từ ngày đổi về đây cuộc sống như bị tù túng. Trường không có sân, không có hàng cây rũ lá như trường cũ. Nàng không còn được thơ thẩn quanh sân để bất chợt bắt gặp ánh mắt của chàng trên lan can nhìn xuống. Đã chín tháng xa nhau, đúng hơn là giận nhau. Không ai làm lành trước, vì nỗi giận dường như mỗi người chỉ mơ hồ trong lòng vậy thôi. Một tác giả có viết: Ví dụ bạn yêu một cô gái tính ngang như cua, nàng bảo tôi không yêu ai cả thì bạn sẽ đối xử ra sao? Trong truyện tác giả đã yêu say đắm nhân vật nữ ấy. Nhưng chàng thì khác, chàng giận lắm, bởi lẽ không những nàng nói không yêu ai cả mà nàng còn trả lời thẳng cho chàng biết là:
 
- Không yêu anh!
 
Đầu năm học đệ nhất, hai người đã quyết định học xa nhau, không chung trường để khỏi phải chung lớp. Nhưng trường chàng cũng chẳng xa trường nàng mấy, cách nhau có hai ngã quẹo của một con đường ngắn. Vậy mà xa lắm, tưởng như hằng bao cây số. Một thi sĩ Nhật đã viết: Chúng ta đối diện nhau. Hằng ngày suốt ngày lâu. Suốt ngày nhưng không gặp. Không bao giờ gặp nhau. Vẫn gặp nhau mà không nở nổi nụ cười. Nàng thờ ơ hay thái độ đắng cay của chàng làm nàng phải cúi mặt? Chàng không hiểu được nàng, không bao giờ hiểu được quả tim khác thường đầy ứ những rắc rối. Trông nàng có vẻ tội nghiệp trong vóc dáng mảnh khảnh và hơi ốm, rất hay cười dù mang cái tên rất buồn: Lệ. Đoàn Nhật Lệ. Và chàng yêu người con gái ấy, rất tự nhiên, rất bình thường. Nhưng với nàng thì không tự nhiên chút nào hết. Cái gì mà đang là bạn học rồi bỗng thành người yêu quá chóng. Và dường như trước đó chàng đã để ý đến Quỳnh, bạn nàng. Không, nàng không chịu thế, nàng không yêu ai cả, nàng không yêu chàng! Chàng ngạc nhiên đến thảng thốt. Những lần đi bên nhau nàng có vẻ thương chàng lắm kia mà. Hãy nghe nàng giải thích: Có thương mà không có yêu là ái tình bố thí. Có yêu mà không có thương là ái tình thiếu thành thật. Cùng lắm thì chàng có yêu nàng cũng chỉ là thứ ái tình thiếu thành thật. Hết nói nổi. Thôi thì thôi, chàng về tìm quên bằng những cuộc đi chơi bỏ học. Chàng hủy hoại chiếc áo học trò thật ngoan thật hiền của ngày tháng cũ. Chàng chơi nức tiếng để hơn nàng. Bởi chàng nghĩ nàng biết nhiều lắm: giỏi khiêu vũ, giỏi đi bơi... Chàng còn quá trẻ con mà nàng thì cũng chẳng khá gì hơn. Thật ra nàng chẳng biết gì ngoài lớp vỏ đùa nghịch ồn ào, chỉ có lớp vỏ ấy mới che chở được nàng khỏi bị bạn bè chế nhạo: Ngây thơ cụ!
 
Đời sống trôi hoài không nghỉ ngơi. Đời sống kéo dài cõi trần ai. Con tim con tim gieo ngàn nơi. Anh yêu anh yêu cũng nhiều rồi. Chẳng biết chàng có vẫn còn yêu người con gái thuở ấy không? Riêng nàng vẫn hay đùa nghịch nhưng mắt nàng tố cáo nỗi buồn đằm thắm. Quả tôi yêu chàng! Nàng đã gục đầu và khóc...
 
Hối tiếc làm người ta chán nản, vì thế mà nàng thấy sách vở khô khan quá. Những công thức đành đóng khung kỹ lưỡng để xếp vào hộc tủ. Những sinh ngữ dồn hết vào quyển tự điển rất to, không thèm nhớ. Những lịch sử xin trả về thời Quang Trung, Trưng, Triệu. Những triết học xin gửi cả cho Sartre, cho Kant. Nàng mỉm cười quay quắt khi nhớ đến hai câu thơ dễ thương của một tác giả: Năm nay em sẽ rớt. Vì mải chuyện yêu đương.
 
Tháng ba, 19 tuổi. Cái tuổi vừa đủ để ra đi, anh Bảo nàng nói vậy. Chẳng là anh nàng muốn đánh tiếng hộ ông bạn. Mãi rồi nàng đến phải quyết định: ra đi! Nhưng không phải ra đi theo ý ông anh mà nàng ra đi để làm một cuộc giang hồ hơi lớn, xa Saigon một khoảng cách 300 cây số với lý do: anh Bảo muốn thế! Nàng ở Đàlạt một tuần lễ. Ngày về không báo trước mà cũng có người biết, anh nàng cùng ông bạn đến đón. Một ngày đường trên xe làm đầu óc nàng mệt mỏi. Nàng chỉ nghe thoang thoảng tiếng hai người bên tai, một của anh Bảo và một của Trương, bạn anh nàng:
 
- Anh biết giỏi lắm là em đi được bẩy ngày thôi nên tụi anh lựa đúng hôm nay là trúng! (sau này nàng mới biết Bảo ngày nào cũng cùng Trương đi đón nàng.)
 
- Anh hy vọng đã không làm gì phiền lòng Lệ để Lệ phải đi như thế.
 
- !!...
 
Hai người còn nói nữa nhưng nàng không nghe rõ. Nàng mệt. Nàng thèm một giấc ngủ say, ngủ để quên hết những gì đã ám ảnh nàng trong suốt cuộc đi và nàng muốn khi tỉnh dậy sẽ thấy: Trần gian là một hội hoa đăng. Buổi chiều đặt chân xuống đất Đàlạt, nàng tự nhủ phải bỏ qua cái quá khứ vội vã đó. Và nàng ríu rít như con chim non buổi sớm bên Nguyên, người anh họ. Nàng đã sống như thế trong hai ngày. Nguyên dẫn nàng đi thăm Cam Ly vào ngày thứ ba. Cam Ly mùa nước cạn cũng thú vị đó... chứ! Tiếng chứ chưa được buông gọn nàng đã chau mày đứng lặng. Trên phiến đá cạnh nhà tọa đình, mẫu tự thật to, đỏ chói, đập vào mắt nàng như một nhắc nhở khiến xui. Bất giác nàng đưa tay bụm mặt, khẽ kêu: Ta không giấu nổi ta nữa! Nguyên hốt hoảng lay nàng:
 
- Sao vậy Lệ, chuyện gì xảy đến cho Lệ?
 
Trong một thoáng so vai như khiêu khích, nàng trả lời nguyên bằng giọng bình thường:
 
- Chẳng có gì hết anh ạ. Em thử đóng kịch một chút vậy mà. Ngày trước em chẳng kể anh nghe em xin vào N.G.Â.N là gì.
 
Nguyên thở ra:
 
- Có thế chứ. Nhưng nhớ lần sau đừng thử bất tử như vậy nữa nha. làm anh muốn đứng tim!
 
Để trấn an anh, nàng cười, cái cười tươi nhất trong những ngày ở Đà Lạt. Và ba ngày tiếp nối trôi qua, nàng sống bình thản bằng tất cả nghị lực của mình. Trong nhật ký nàng đã ghi rất mâu thuẫn: Ừ thì mình đã yêu nhưng mà mình vẫn cứ không yêu! Bây giờ nàng đã trở lại Saigon, cái thành phố quen thuộc, vẫn ồn ào, vẫn phiền toái. Đôi khi nàng nghĩ không nên chung thủy điên khùng như thế. Thà làm một cái bẹ sườn lêu bêu hơn là làm một cái bẹ sườn bí xị. Vì bí xị tức là đã biết yêu, mà biết yêu là biết chờ đợi mà sự chờ đợi nào cũng đem lại lo âu, nhất là sự chờ đợi quá đặc biệt này. Nếu chàng đã có người mới thì sao nhỉ, sự chờ đợi chẳng hóa ra khôi hài lắm sao? Chủ nhật trước ngày Trương đổi đi Nha Trang, nàng đã nói chuyện thật nhiều, nhiều nhất từ ngày quen Trương. Nàng nhớ câu nói cuối được thốt ra rất tình cờ:
 
- Trước mặt bạn bè, Lệ hiện là một cái bẹ sườn bí xị. Tùy mỗi người hiểu. Bí xị có thể vì còn lạc lõng, hoặc còn đi tìm hay cũng có thể là đang... yêu!
 
Nàng chợt nhớ đến lời nhận xét của nhà văn Stendhal: Tôi biết một người bắt đầu yêu khi người ấy buồn. Nàng đã chẳng đang buồn đó ư? Và Trương đi, không một bức thư liên lạc với nàng, với một phần đời dĩ vãng ảm đạm đối với Trương. Thứ hai, vừa ló đầu vào lớp bọn con Trâm đã reo:
 
- Cái bẹ sườn bí xị kia rồi. Trông cô nàng chẳng thêm được tí da nào cả!
 
Giờ siêu hình thật khô khan, cơ hồ nàng chẳng nghe thấy gì. Đến cuối giờ con Trâm mới đẩy khẽ cho nàng bức thư tay:
 
"Ê nhỏ, nhỏ đi được hai ngày, chàng ta có đến báo với tớ là phải đi xa (không nói đi đâu), chàng gửi lời thăm nhỏ. Tớ có hỏi chuyện kia, chàng cười ngập ngừng một chút rồi mới trả lời rằng chàng vẫn còn là của riêng chàng.
 
Ký tên: TRÂM"      
 
Đọc xong thư kịp lúc chuông reo. Nàng như bừng tỉnh sau giấc ngủ mệt mỏi. Một niềm vui thật nhẹ ngự trị trên môi nàng. Nàng cảm thấy vui thật sự khi chọn cho mình làm một cái bẹ sườn bí xị!
 
 
NGHY      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 130, tuần lễ từ 3-5 đến 10-5-1974)
 
 

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

ĐƯA XÁC CON VE SẦU - Phạm Ngọc Lư


Mùa nắng đến rất vội lúc tiết xuân còn nấn ná ở lại với đất trời. Đêm ngủ đắp một làn chăn mỏng phòng hờ cái rét bất chợt về khuya, lúc sương xuống nhiều ngoài vườn, trên mái ngói. Sương lớp lớp giữa buổi bình minh, mơ hồ như giấc mộng trì trệ kéo dài của ngày chưa tỉnh ngủ, mặt trời chưa hé mắt. Sáng sớm, tôi đi đến trường trong biển sương mù lạnh ướt. Những giọt sương rửa sạch mặt mày tôi lần nữa. Áo quần thấm ướt từng khoảng lớn bốc mùi ẩm thiu mồ hôi hôm trước, đã đóng khô vào vải. Khi vô lớp vuốt mặt phủi áo xong, tôi ngạc nhiên ngó chóp tóc tụi bạn: mỗi đứa mang trên đầu mình ít sợi sương mỏng mảnh, óng chuốt như màu mạng nhện ngũ sắc. Tôi dùng mấy ngón tay chải tóc, ở vùng này đã khéo dạy tụi con gái biết chải tóc vén tóc nhiều lần trong một buổi sáng. Mới mười một mười hai tuổi, cặp đứa nào cũng có chiếc gương tròn nhỏ xíu và cây lược tròn xinh xinh. Còn con trai tụi tôi, khá nhiều đứa nuôi cái tổ chí trên đầu. Sương mù sanh ra chí, mẹ tôi thường nói vậy mỗi lần bà cầm cái lược sừng răng dày khít cào quét tóc tai tôi đau điếng.
 
Kinh nghiệm cho tôi biết: sáng sớm sương càng dày thì nắng trưa càng lớn. Khoảng sau giờ đức dục, nắng mới đậu chấp chới trên ngọn cây bông vải, liếm láp chút đỉnh chóp trụ cờ ngoài sân. Nhưng lúc cặm cụi làm bài tính đố, chúng tôi không ngờ nắng đã đầy một nửa bãi cỏ, mon men tràn đến hàng hiên. Nghe tiếng trống điểm giờ chơi, chúng tôi xếp sách vở xuống hộc bàn, chạy ra cửa đã đụng phải bóng nắng. Nắng tốt màu, tươi mát như vừa tắm gội xong. Cảnh vật thường ngày hiện ra mồn một rõ ràng từng đường nét chung quanh: nhà cửa, cây cối, người vật, cả những ngọn đồi ngoài xa hình như cũng xích gần lại. Gần thật, tôi tưởng chỉ cần đi bộ một chặp là tới chân đồi. Trên sân cỏ, những người bạn gái đang ngồi xõa tóc sưởi nắng. Những mái tóc mà khi ở nhà hằn được chăm nom nâng niu lắm. Trong lớp, có hồi tôi chịu không nổi mùi dầu dừa tỏa ra hăng hăng trên đầu bạn. Ở nhà, ăn phải những thức ăn chiên xào với dầu dừa, tôi phát ớn luôn.
 
Trong số những bạn gái cùng học lớp nhất, tôi mến Hoa hơn cả. Hoa có nước da ngăm, mắt sáng nhưng trông lâu mới thấy đôi mắt đó buồn buồn như sắp hờn lẫy giận dỗi ai. Thường thì tôi chỉ dám nhìn lén, lỡ Hoa quay lại bắt gặp, tội nghiệp tôi luống cuống đưa hai bàn tay không biết che giấu sự hổ thẹn ngượng ngùng sao cho phi tang chứng. Hoa có mái tóc phi-dê đỏ lòm như nhuộm quạch, thật lạ. Nhiều ngày liền, tôi ngắm nghía mải mê trong vụng trộm mái tóc khác chúng bạn của nàng, ánh mắt tôi nửa diễu cợt nửa thích thú. Trong vùng này chỉ mới có một số ít thanh nữ tân tiến dám lên tỉnh phi-dê tóc mà thôi, những người đó, tôi nghĩ, hẳn văn minh ghê gớm, đợt sóng mới cùng mình. Họ sắp làm vợ các thầy các quan lớn, sắp bỏ làng đi theo chồng sống cuộc đời sung sướng có kẻ hầu người hạ. Nhưng còn cái con Hoa bé chút đỉnh này, nhà cửa ở chợ, cha mẹ nó buôn bán hàng xén quèn quèn thôi, sức nghỉn bao lăm lại dám đem con đi uốn tóc quăn queo thế kia? Tụi bạn chọc ghẹo Hoa tàn nhẫn, thỉnh thoảng tôi cũng buông vài lời đùa cợt hỗn hào, phụ họa đôi câu xấc xược. Những đứa bạn độc ác ấy đã đội lên đầu Hoa một thứ mặc cảm nặng nề tủi hổ còn hơn cả mái tóc khác thiên hạ mà nàng lầm lỡ mang chịu. Cái thiên hạ nhỏ bé của mười mấy đứa con gái hau háu đòi lớn, mười mấy trái tim khối óc hẹp hòi luôn luôn ghen tị, bêu xấu nhau từng ly từng tí. Hoa, với mái tóc lạc lõng, đành chịu cô thế. Nàng không được trời phú cho cái tính hàm hồ đanh đá, để chống chế đàn áp bạn bè ngược lại. Thui thủi một mình, một góc, một thế giới, bị hà hiếp khinh rẻ, Hoa khổ sở tránh né những kẻ thiếu thân thiện chung quanh. Và tôi đau đớn nghĩ có ngày Hoa không chịu thấu sự tủi nhục dày vò, đành phải bỏ học thì lũ bạn xấu bụng kia sẽ mang tội ác tày trời. Tôi mến Hoa, thương hại thì đúng hơn, từ đó.
 
Cũng từ đó, tôi tìm mọi cách để bày tỏ sự thương mến thông cảm dành cho Hoa. Điều đầu tiên, tôi ghét ra mặt những đứa bạn gái kia. Chừng như về sau chúng khám phá biết mối tình cảm sâu kín của tôi, rỉ tai cho nhau hay, với nụ cười chế riễu, rồi không bỏ lỡ dịp, chúng cặp đôi Hoa với tôi như một trò đùa để phục thù, nhạo báng. Mặc, tôi im lặng khứng chịu, không nói không rằng, không thèm phân bua cãi cọ. Tôi nghĩ, ít ra Hoa đã hiểu lòng tôi phần nào. Cũng từ đó, tôi nhìn Hoa bằng ánh mắt khác, ngại ngùng, ngượng ngập và bẽn lẽn hơn. Còn đôi mắt Hoa, trong một thoáng bắt gặp, qua một cái liếc nhanh, tôi bàng hoàng nhận ra ở đó (nhưng chắc có sự đóng góp của óc tưởng tượng non nớt) lời biết ơn pha lẫn sự trách móc nhẹ nhàng, gần như chút hờn mát, chút giận dỗi thấm thía, chút thương cảm bâng quơ.
 
 
Trưa nay con ve sầu đầu mùa nào đó đã cất tiếng kêu non nớt ngoài hàng cây bông vải. Tiếng kêu lạc lõng, từng nhịp ngắn, không giấu được vẻ e dè rón rén. Hình như nó biết mình thoát thân khỏi chu trình biến sinh quá sớm, trước hẳn bạn bè đồng loại và tiếng kêu buồn thảm gióng lên kia, cũng vội vã dường nào!
 
Tiếng ve bất chợt báo động mùa hè thật sự đã chín tới cùng cây trái trong vườn, nắng càng ngày càng gắt, gió Lào chớm thổi qua những ngọn đồi thấp mang về đây hơi nóng nực nội, ở lại đây lớp bụi đỏ của Trường Sơn ngàn dặm phủ lên bàn ghế gạch ngói nứt nẻ khô queo. Nắng ghê lắm, gạch đá cũng mềm huống gì người. Súc vật cũng muốn chảy mồ hôi. Bầu trời tịnh không chẳng mây đùn ráng mọc.
 
Hình như thầy giáo chúng tôi cũng đã nghe thấu tai tiếng kêu đột ngột của con ve kia. Đang giảng bài, thầy khẽ dừng lại, e lệ liếc nhanh ra hàng cây gòn trước cổng. Chúng tôi tinh ý nhìn theo: chừng như ngày bãi trường đang chực chờ ngoài đó. Nhưng thầy vội quay lại tiếp tục giảng, nét mặt cố giữ vẻ điềm nhiên coi như việc vừa xảy ra chẳng mảy may xúc động đến mình. Thầy cố giảng lớn hơn nhưng tai tôi chỉ nghe tiếng ve kêu rõ ràng từng hơi từng nhịp, nghe cả bằng tâm trí say mê. Vài đứa học trò con trai không giấu được vẻ nao nức bồn chồn trên mặt. Những tia mắt săm soi đổ dồn qua cửa sổ, nhắm hướng phát ra tiếng kêu, cố xác định chỗ nó đang ẩn núp. Sau giờ tan học, năm ba đứa nán lại quanh gốc cây gòn, ngửa cổ dõi mắt nhìn tìm kiếm. Chúng không dám lớn tiếng, chỉ tay lên cành ngọn chờ động tĩnh. Và cuối cùng, chừng như vừa phát giác được chỗ ẩn mình của con ve đầu mùa rồi, một đứa trong bọn rón rén ôm gốc cây trèo lên.
 
Ngày sau đến trường, thằng Huy mang theo chiếc hộp quẹt đựng con ve sầu màu vàng non lốm đốm khoang nâu rất đẹp. Cả bọn con trai xúm lại xem. Huy dùng móng tay gãi nhẹ vào chân nó, bắt nó nhột nhạt kêu lên vài tiếng ngắn. Tụi chúng thích thú cười trầm trồ. Huy bán con ve lại cho tôi với giá một đồng. Tôi đùa nghịch với con vật tội nghiệp ấy được một buổi. Tới chiều, nó nằm im trong hộp, hết động đậy. Dù với trí óc non nớt tôi cũng chợt hiểu mình vừa vô tâm giết chết con ve sầu nhỏ bé. Nó chết non khi tiếng kêu chưa thanh thoát, khi mùa hạ chưa mang bạn bè nó về đây đông đủ để cùng khải tấu bản hòa ca rộn rã ca ngợi nắng hè.
 
*
 
Nghỉ hè năm đó, không hiểu sao Hoa cắt bỏ mớ tóc phi-dê quăn queo mất. Đầu nàng gần như trọc nếu lột chiếc mũ rơm đội suốt ngày ra. Thật tình tôi giận Hoa ghê lắm. Việc Hoa dại dột làm tôi phật lòng chán nản. Hoa đâu hay. Tại sao lại cắt mái tóc ấy đi? Tôi tức tối muốn xỉ vả Hoa đã phụ lòng. Tôi xấu hổ vì đã bất chấp lời nhạo của bạn bè, âm thầm bênh vực Hoa. Có lẽ Hoa không biết được nỗi khổ tâm của tôi chua xót dường này!
 
Nhưng cái đau khổ của trẻ con không lâu dài, một hai bữa là quên phứt. Một hôm, tôi rình cả buổi mới bắt được một con ve kêu nỉ non trên cây thị trước nhà. Mừng quá, tôi nhốt nó vào trong cái lọ, trên nắp dán giấy có chui lỗ để nó đủ không khí mà thở, khỏi chết ngộp như con ve thằng Huy bán cho tôi trước đây. Suốt buổi, tôi ngồi ngắm nghía nó không biết chán, hồi hộp đợi nghe nó cất tiếng kêu. Tiếng kêu bị vách thủy tinh chặn lại dồn lên nắp dội vào lớp giấy bịt lùng bùng nghe thật lạ tai. Tôi hí hửng đem con ve đến tặng Hoa. Từ lâu tôi vẫn tưởng Hoa thích chơi ve mà không trèo cây bắt được. Trong lớp, nhiều hôm tôi chú ý thấy Hoa ngồi thẫn thờ nghe tiếng ve kêu ngoài cây bông vải, mặt mày ngây dại, bâng khuâng. Nhưng tôi đã lầm. Con ve trước mắt Hoa biến thành con bọ đáng kinh hãi. Nàng đâu ngờ con vật chẳng mấy đẹp đẽ này lại có giọng hát trong trẻo thế kia, Hoa ngúng nguẩy từ chối: "Ấy đem về mà chơi. Mình sợ lắm". Dù tôi nài nỉ mấy, Hoa cũng không chịu nhận. Một lần nữa Hoa đã vô tâm phụ lòng tôi đành đoạn. Lần này còn tàn nhẫn gấp bội, thật tủi thân tôi và cũng tội nghiệp cho con ve vô duyên!
 
Tôi buồn bã ôm con ve về nhà, bụng không khỏi rủa thầm cái con bé ngu muội. Buồn tình, tôi bắt con ve ra đặt trên ngón tay trỏ và chờ nó xòe cánh bay đi. Chờ mãi, nó vẫn dại dột đậu yên một chỗ, tôi bực mình hết sức. Bất giác, nó kêu thốt lên một tiếng ngắn. Tiếng kêu khác thường, nhuốm vẻ tuyệt vọng đau xót đâm thấu tim người. Hình như nó diễu cợt nỗi buồn của tôi thì phải? Cơn giận bốc lên, tôi kẹp chặt hai ngón tay lại: một tiếng kêu nhỏ khô khan và con ve chết tan xác.
 
Xác con ve được bỏ vào chiếc hộp diêm đem chôn sau vườn, chỗ có trồng mấy cụm hoa hồng trắng. Tôi đắp cho nó nấm mộ nhỏ bằng một chén đất cát, rắc thêm ít hoa tươi...
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 44, tuần lẽ từ 30-3 đến 6-4-1972)