Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Ngọc Lư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Ngọc Lư. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

ĐƯA XÁC CON VE SẦU - Phạm Ngọc Lư


Mùa nắng đến rất vội lúc tiết xuân còn nấn ná ở lại với đất trời. Đêm ngủ đắp một làn chăn mỏng phòng hờ cái rét bất chợt về khuya, lúc sương xuống nhiều ngoài vườn, trên mái ngói. Sương lớp lớp giữa buổi bình minh, mơ hồ như giấc mộng trì trệ kéo dài của ngày chưa tỉnh ngủ, mặt trời chưa hé mắt. Sáng sớm, tôi đi đến trường trong biển sương mù lạnh ướt. Những giọt sương rửa sạch mặt mày tôi lần nữa. Áo quần thấm ướt từng khoảng lớn bốc mùi ẩm thiu mồ hôi hôm trước, đã đóng khô vào vải. Khi vô lớp vuốt mặt phủi áo xong, tôi ngạc nhiên ngó chóp tóc tụi bạn: mỗi đứa mang trên đầu mình ít sợi sương mỏng mảnh, óng chuốt như màu mạng nhện ngũ sắc. Tôi dùng mấy ngón tay chải tóc, ở vùng này đã khéo dạy tụi con gái biết chải tóc vén tóc nhiều lần trong một buổi sáng. Mới mười một mười hai tuổi, cặp đứa nào cũng có chiếc gương tròn nhỏ xíu và cây lược tròn xinh xinh. Còn con trai tụi tôi, khá nhiều đứa nuôi cái tổ chí trên đầu. Sương mù sanh ra chí, mẹ tôi thường nói vậy mỗi lần bà cầm cái lược sừng răng dày khít cào quét tóc tai tôi đau điếng.
 
Kinh nghiệm cho tôi biết: sáng sớm sương càng dày thì nắng trưa càng lớn. Khoảng sau giờ đức dục, nắng mới đậu chấp chới trên ngọn cây bông vải, liếm láp chút đỉnh chóp trụ cờ ngoài sân. Nhưng lúc cặm cụi làm bài tính đố, chúng tôi không ngờ nắng đã đầy một nửa bãi cỏ, mon men tràn đến hàng hiên. Nghe tiếng trống điểm giờ chơi, chúng tôi xếp sách vở xuống hộc bàn, chạy ra cửa đã đụng phải bóng nắng. Nắng tốt màu, tươi mát như vừa tắm gội xong. Cảnh vật thường ngày hiện ra mồn một rõ ràng từng đường nét chung quanh: nhà cửa, cây cối, người vật, cả những ngọn đồi ngoài xa hình như cũng xích gần lại. Gần thật, tôi tưởng chỉ cần đi bộ một chặp là tới chân đồi. Trên sân cỏ, những người bạn gái đang ngồi xõa tóc sưởi nắng. Những mái tóc mà khi ở nhà hằn được chăm nom nâng niu lắm. Trong lớp, có hồi tôi chịu không nổi mùi dầu dừa tỏa ra hăng hăng trên đầu bạn. Ở nhà, ăn phải những thức ăn chiên xào với dầu dừa, tôi phát ớn luôn.
 
Trong số những bạn gái cùng học lớp nhất, tôi mến Hoa hơn cả. Hoa có nước da ngăm, mắt sáng nhưng trông lâu mới thấy đôi mắt đó buồn buồn như sắp hờn lẫy giận dỗi ai. Thường thì tôi chỉ dám nhìn lén, lỡ Hoa quay lại bắt gặp, tội nghiệp tôi luống cuống đưa hai bàn tay không biết che giấu sự hổ thẹn ngượng ngùng sao cho phi tang chứng. Hoa có mái tóc phi-dê đỏ lòm như nhuộm quạch, thật lạ. Nhiều ngày liền, tôi ngắm nghía mải mê trong vụng trộm mái tóc khác chúng bạn của nàng, ánh mắt tôi nửa diễu cợt nửa thích thú. Trong vùng này chỉ mới có một số ít thanh nữ tân tiến dám lên tỉnh phi-dê tóc mà thôi, những người đó, tôi nghĩ, hẳn văn minh ghê gớm, đợt sóng mới cùng mình. Họ sắp làm vợ các thầy các quan lớn, sắp bỏ làng đi theo chồng sống cuộc đời sung sướng có kẻ hầu người hạ. Nhưng còn cái con Hoa bé chút đỉnh này, nhà cửa ở chợ, cha mẹ nó buôn bán hàng xén quèn quèn thôi, sức nghỉn bao lăm lại dám đem con đi uốn tóc quăn queo thế kia? Tụi bạn chọc ghẹo Hoa tàn nhẫn, thỉnh thoảng tôi cũng buông vài lời đùa cợt hỗn hào, phụ họa đôi câu xấc xược. Những đứa bạn độc ác ấy đã đội lên đầu Hoa một thứ mặc cảm nặng nề tủi hổ còn hơn cả mái tóc khác thiên hạ mà nàng lầm lỡ mang chịu. Cái thiên hạ nhỏ bé của mười mấy đứa con gái hau háu đòi lớn, mười mấy trái tim khối óc hẹp hòi luôn luôn ghen tị, bêu xấu nhau từng ly từng tí. Hoa, với mái tóc lạc lõng, đành chịu cô thế. Nàng không được trời phú cho cái tính hàm hồ đanh đá, để chống chế đàn áp bạn bè ngược lại. Thui thủi một mình, một góc, một thế giới, bị hà hiếp khinh rẻ, Hoa khổ sở tránh né những kẻ thiếu thân thiện chung quanh. Và tôi đau đớn nghĩ có ngày Hoa không chịu thấu sự tủi nhục dày vò, đành phải bỏ học thì lũ bạn xấu bụng kia sẽ mang tội ác tày trời. Tôi mến Hoa, thương hại thì đúng hơn, từ đó.
 
Cũng từ đó, tôi tìm mọi cách để bày tỏ sự thương mến thông cảm dành cho Hoa. Điều đầu tiên, tôi ghét ra mặt những đứa bạn gái kia. Chừng như về sau chúng khám phá biết mối tình cảm sâu kín của tôi, rỉ tai cho nhau hay, với nụ cười chế riễu, rồi không bỏ lỡ dịp, chúng cặp đôi Hoa với tôi như một trò đùa để phục thù, nhạo báng. Mặc, tôi im lặng khứng chịu, không nói không rằng, không thèm phân bua cãi cọ. Tôi nghĩ, ít ra Hoa đã hiểu lòng tôi phần nào. Cũng từ đó, tôi nhìn Hoa bằng ánh mắt khác, ngại ngùng, ngượng ngập và bẽn lẽn hơn. Còn đôi mắt Hoa, trong một thoáng bắt gặp, qua một cái liếc nhanh, tôi bàng hoàng nhận ra ở đó (nhưng chắc có sự đóng góp của óc tưởng tượng non nớt) lời biết ơn pha lẫn sự trách móc nhẹ nhàng, gần như chút hờn mát, chút giận dỗi thấm thía, chút thương cảm bâng quơ.
 
 
Trưa nay con ve sầu đầu mùa nào đó đã cất tiếng kêu non nớt ngoài hàng cây bông vải. Tiếng kêu lạc lõng, từng nhịp ngắn, không giấu được vẻ e dè rón rén. Hình như nó biết mình thoát thân khỏi chu trình biến sinh quá sớm, trước hẳn bạn bè đồng loại và tiếng kêu buồn thảm gióng lên kia, cũng vội vã dường nào!
 
Tiếng ve bất chợt báo động mùa hè thật sự đã chín tới cùng cây trái trong vườn, nắng càng ngày càng gắt, gió Lào chớm thổi qua những ngọn đồi thấp mang về đây hơi nóng nực nội, ở lại đây lớp bụi đỏ của Trường Sơn ngàn dặm phủ lên bàn ghế gạch ngói nứt nẻ khô queo. Nắng ghê lắm, gạch đá cũng mềm huống gì người. Súc vật cũng muốn chảy mồ hôi. Bầu trời tịnh không chẳng mây đùn ráng mọc.
 
Hình như thầy giáo chúng tôi cũng đã nghe thấu tai tiếng kêu đột ngột của con ve kia. Đang giảng bài, thầy khẽ dừng lại, e lệ liếc nhanh ra hàng cây gòn trước cổng. Chúng tôi tinh ý nhìn theo: chừng như ngày bãi trường đang chực chờ ngoài đó. Nhưng thầy vội quay lại tiếp tục giảng, nét mặt cố giữ vẻ điềm nhiên coi như việc vừa xảy ra chẳng mảy may xúc động đến mình. Thầy cố giảng lớn hơn nhưng tai tôi chỉ nghe tiếng ve kêu rõ ràng từng hơi từng nhịp, nghe cả bằng tâm trí say mê. Vài đứa học trò con trai không giấu được vẻ nao nức bồn chồn trên mặt. Những tia mắt săm soi đổ dồn qua cửa sổ, nhắm hướng phát ra tiếng kêu, cố xác định chỗ nó đang ẩn núp. Sau giờ tan học, năm ba đứa nán lại quanh gốc cây gòn, ngửa cổ dõi mắt nhìn tìm kiếm. Chúng không dám lớn tiếng, chỉ tay lên cành ngọn chờ động tĩnh. Và cuối cùng, chừng như vừa phát giác được chỗ ẩn mình của con ve đầu mùa rồi, một đứa trong bọn rón rén ôm gốc cây trèo lên.
 
Ngày sau đến trường, thằng Huy mang theo chiếc hộp quẹt đựng con ve sầu màu vàng non lốm đốm khoang nâu rất đẹp. Cả bọn con trai xúm lại xem. Huy dùng móng tay gãi nhẹ vào chân nó, bắt nó nhột nhạt kêu lên vài tiếng ngắn. Tụi chúng thích thú cười trầm trồ. Huy bán con ve lại cho tôi với giá một đồng. Tôi đùa nghịch với con vật tội nghiệp ấy được một buổi. Tới chiều, nó nằm im trong hộp, hết động đậy. Dù với trí óc non nớt tôi cũng chợt hiểu mình vừa vô tâm giết chết con ve sầu nhỏ bé. Nó chết non khi tiếng kêu chưa thanh thoát, khi mùa hạ chưa mang bạn bè nó về đây đông đủ để cùng khải tấu bản hòa ca rộn rã ca ngợi nắng hè.
 
*
 
Nghỉ hè năm đó, không hiểu sao Hoa cắt bỏ mớ tóc phi-dê quăn queo mất. Đầu nàng gần như trọc nếu lột chiếc mũ rơm đội suốt ngày ra. Thật tình tôi giận Hoa ghê lắm. Việc Hoa dại dột làm tôi phật lòng chán nản. Hoa đâu hay. Tại sao lại cắt mái tóc ấy đi? Tôi tức tối muốn xỉ vả Hoa đã phụ lòng. Tôi xấu hổ vì đã bất chấp lời nhạo của bạn bè, âm thầm bênh vực Hoa. Có lẽ Hoa không biết được nỗi khổ tâm của tôi chua xót dường này!
 
Nhưng cái đau khổ của trẻ con không lâu dài, một hai bữa là quên phứt. Một hôm, tôi rình cả buổi mới bắt được một con ve kêu nỉ non trên cây thị trước nhà. Mừng quá, tôi nhốt nó vào trong cái lọ, trên nắp dán giấy có chui lỗ để nó đủ không khí mà thở, khỏi chết ngộp như con ve thằng Huy bán cho tôi trước đây. Suốt buổi, tôi ngồi ngắm nghía nó không biết chán, hồi hộp đợi nghe nó cất tiếng kêu. Tiếng kêu bị vách thủy tinh chặn lại dồn lên nắp dội vào lớp giấy bịt lùng bùng nghe thật lạ tai. Tôi hí hửng đem con ve đến tặng Hoa. Từ lâu tôi vẫn tưởng Hoa thích chơi ve mà không trèo cây bắt được. Trong lớp, nhiều hôm tôi chú ý thấy Hoa ngồi thẫn thờ nghe tiếng ve kêu ngoài cây bông vải, mặt mày ngây dại, bâng khuâng. Nhưng tôi đã lầm. Con ve trước mắt Hoa biến thành con bọ đáng kinh hãi. Nàng đâu ngờ con vật chẳng mấy đẹp đẽ này lại có giọng hát trong trẻo thế kia, Hoa ngúng nguẩy từ chối: "Ấy đem về mà chơi. Mình sợ lắm". Dù tôi nài nỉ mấy, Hoa cũng không chịu nhận. Một lần nữa Hoa đã vô tâm phụ lòng tôi đành đoạn. Lần này còn tàn nhẫn gấp bội, thật tủi thân tôi và cũng tội nghiệp cho con ve vô duyên!
 
Tôi buồn bã ôm con ve về nhà, bụng không khỏi rủa thầm cái con bé ngu muội. Buồn tình, tôi bắt con ve ra đặt trên ngón tay trỏ và chờ nó xòe cánh bay đi. Chờ mãi, nó vẫn dại dột đậu yên một chỗ, tôi bực mình hết sức. Bất giác, nó kêu thốt lên một tiếng ngắn. Tiếng kêu khác thường, nhuốm vẻ tuyệt vọng đau xót đâm thấu tim người. Hình như nó diễu cợt nỗi buồn của tôi thì phải? Cơn giận bốc lên, tôi kẹp chặt hai ngón tay lại: một tiếng kêu nhỏ khô khan và con ve chết tan xác.
 
Xác con ve được bỏ vào chiếc hộp diêm đem chôn sau vườn, chỗ có trồng mấy cụm hoa hồng trắng. Tôi đắp cho nó nấm mộ nhỏ bằng một chén đất cát, rắc thêm ít hoa tươi...
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 44, tuần lẽ từ 30-3 đến 6-4-1972)
 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

KẺ ĐỒNG HÀNH NĂM MỚI - Phạm Ngọc Lư


Nếu tôi tới bến sớm hơn mười phút thì đã kịp đi chuyến xe cùng với Trang và Ái. Hay đúng hơn, nếu mẹ tôi rút gọn lại những lời dặn dò dông dài, những cử chỉ dùng dằng bịn rịn, chuyến đi đã suôn sẻ rồi. Nên, thay vì là kẻ đồng hành, tôi đành gượng cười đưa tay vẫy vẫy chào Trang và Ái chúc "thượng lộ bình an". Trang quay đầu ra cửa xe cười khì:
 
- Hên quá, không ngờ phút chót lại có mầy chạy đến sắm vai đưa tiễn.
 
Ái ném cho tôi một gói hạt dưa:
 
- Gặm lai rai để giết thì giờ nghe bạn.
 
Xe rồ máy từ từ lăn bánh. Hai ba người lính phóng nhanh tới bu theo đuôi xe như sợ tôi nhanh chân giành mất chỗ đứng bám víu lắc lư như đánh đu ấy. Tôi quay lưng lại bước đi lơ ngơ, cảm giác lẻ bạn khác chi một niềm phụ rẫy, lỡ làng. Bến xe càng lúc càng ồn ào hơn cả chợ cá. Tiếng máy giục giã, tiếng mời níu khách lắc lia, mấy cái xe quảng cáo đang rêu rao bán thuốc cao đơn hoàn tán hòa âm với cửa hàng lô tô hô số thật dòn miệng, hiệp vần... Chốc chốc, vài tiếng pháo nổ đùng lên nghịch ngợm kèm theo tiếng ré tiếng chửi. Những tấm áo Tết kiểu mới dù lem bẩn vẫn còn được nâng niu chưng diện, lất phất trong đám khách đi và đến, lượn qua lại dưới cái nắng đầu năm đã có phần hanh nóng. Trời nắng tốt màu, như hớn hở, như lăng xăng với hoạt cảnh náo động phồn tạp của bến xe. Tôi chóng mặt.
 
Ba trăm bạc. Một cái vé. Một chỗ ngồi. Một chuyến xuất hành đầu năm. Một nơi sẽ đến, những ngày tháng êm ả hắt hiu dần dà sống. Một cái Tết khác. Một tuổi nào đó... Tôi ngồi nhìn con niêm nhỏ nhoi xinh xắn trên góc tấm vé màu xanh ố, nghĩ vẩn vơ. Dăm ba hành khách lên phía sau, đem theo câu chuyện riêng về ngày Tết vừa qua. Một kẻ đang trầm trồ ngưỡng mộ cây mai cao năm thước chưng trước phòng khách của khách sạn Thái Bình Dương, hơn cả cây mai của ông tỉnh trưởng. Kẻ khác cười châm biếm: cao thì cao thật, gốc cành cũng thật, chỉ có hoa là giả, rặt hoa nhựa, khó mà phân biệt. Một tiếng kêu ngạc nhiên: Ối, hèn gì có tẩm bảng gài trên cành: "nhìn bằng mắt chớ bắt bằng tay", xạo tổ mẹ. Cứ thế câu chuyện lan man, vòng vo, thu hút thêm nhiều giọng nói khác chen vô tán thưởng hay chống chế. Hành khách đùm đề khăn gói kéo lên chiếm dần hết các hàng ghế, chỉ còn một chỗ trống bên cạnh tôi. Đồng thời ban nhạc hành khất kéo đến, đi quanh xe đàn hát nỉ non, lải nhải muốn nhột bụng. Một gã đeo cái hình đen giả mù (?), chìa mũ ra trước mặt tôi lập lại điệp khúc quen thuộc:
 
"Em xin chúc cô Ba đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên
Bạc tiền như nước
Xin cô làm phước..."
 
Trong khi tôi còn ngượng ngập trước lời chúc "quý hóa" của gã, một bàn tay nhanh nhẩu thay tôi bỏ vào cái mũ một tờ giấy bạc. Đó là người thanh niên mới bước lên xe, chưa tìm ra chỗ ngồi. Cái ghế bên cạnh tôi đã có một đứa nhỏ chiếm giữ. Anh ta móc cái vé ra liếc nhìn rồi nhét vào túi lại, nét mặt điềm nhiên không chút bận tâm. Hình như con người đó đang diễn xuất vẻ thư thái bình thản, toa rập với cái cung cách ung dung nhàn tản đáng ghét của anh tài xế đang ngồi tiêu khiển với chai bia mặc cho hành khách kêu ca than phiền xe chưa chịu chạy. Thỉnh thoảng, người thanh niên khẽ mỉm cười thầm, làm như thích thú với cảnh chậm trễ nầy lắm. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ anh ta chính là nguyên cớ gây ra sự trễ nải.
 
Xe chật ứ hơi người, căng tức muốn nổ. Lũ con nít bị ngộp khóc ré từng cơn. Tài xế lững thững mở cửa leo lên ghế, chậm rãi lau sạch cái gương chiếu hậu rồi ngắm nghía bóng mình trong gương rất điệu. Hồi lâu ông ta mới chịu nổ máy, dậm thử ga rồi tiếp tục soi gương. Thằng lơ chạy vào chạy ra cãi vã chuyện dư vé thiếu chỗ, dùng dằng mãi chưa xong. Đứa nhỏ bên cạnh tôi bị mời đứng dậy trả về chỗ ngồi trên đùi má nó nhường chỗ cho người thanh niên. Anh ta nhìn xuống cái mặt ghế không lớn hơn tấm khăn tay mỉm cười lắc đầu. Nụ cười tỏ ra an phận cam chịu hoàn toàn do đó cái lắc đầu ngượng ngập như một lối làm bộ giả đò. Bây giờ tôi mới để ý thấy anh ta cao to một cách quá đáng, gần như phí phạm, thừa thãi.
 
Xe chạy. Một chặp sau, người thanh niên mới tần ngần ngồi xuống chỗ của mình sau khi đã mỉm cười cầu thân với tôi và nói e dè:
 
- Xin phép cô.
 
- Tự nhiên.
 
Tôi ép sát người vào thành cửa để giúp anh ta có thể đặt lọt tấm thân dềnh dàng xuống mặt ghế. Vẫn chưa ổn thỏa, đôi chân dài luộm thuộm của anh đang loay hoay tìm cách xếp lại sao cho gọn gàng. Nét mặt người thanh niên vụt cau lại, có vẻ bực bội chuyện chân cẳng lòng thòng hơn là vì xe chật. Nhưng rồi anh ta vẫn cười dễ dãi:
 
- Có phiền cô lắm không?
 
- Không sao.
 
- Cô về Tuy Hòa?
 
- Vâng.
 
- Cô đi một mình?
 
Tôi suýt phì cười vì câu hỏi ngớ ngẩn nầy nhưng vẫn làm nghiêm đáp:
 
- Có anh tôi nữa, ngồi sau lưng.
 
- Hai anh em chắc có chuyện bất hòa?
 
- ?
 
- Nãy giờ không thấy nói gì với nhau cả.
 
- Nói chi! 
 
Tôi quay mặt ra ngoài che giấu nụ cười. Nắng lớn, nắng xanh rờn đồng lúa đang độ dậy thì trải dài hai bên quốc lộ. Lúa đang bén hơi xuân. Những xóm nhà lác đác ven đường còn ấm áp mùi Tết. Xe đi sâu vào thung lũng xanh mướt, chạy đua với hai cánh núi hình vòng cung đang lùi lũi tiến ra chặn đường. Người thanh niên chồm qua phía tôi ném cái tàn thuốc ra ngoài, đôi mắt còn ngó theo chăm chăm xem nó rớt xuống đâu, hình như anh ta lo sợ nó sẽ gây ra một đám cháy tai hại không chừng. Xe bắt đầu trèo đèo chậm chạp, chốc chốc cứ rú lên thở dốc. Người thanh niên lại gợi chuyện loanh quanh. Tôi chỉ thưa gởi lấy lệ. Anh ta cười chữa thẹn:
 
- Có người chuyện vãn cũng dễ quên đường dài chứ cô.
 
- Tôi nói chuyện vô duyên lắm.
 
- Tôi cũng vậy.
 
Tôi lấy gói hạt dưa con Ái cho hồi nãy mời anh ta:
 
- Lai rai giết thì giờ.
 
- Tôi cắn hạt dưa vụng lắm, đừng cười nghe. 
 
Vụng thật, anh ta phải dùng cả tay để bóc. Tôi chợt nhớ tới mấy đứa em nhỏ ở nhà, tụi chúng không khéo hơn người nầy là mấy. Không hiểu sao, tôi vồn vã chỉ dẫn cho anh ta cách dùng răng và chót lưỡi để tách vỏ và khều cái hạt dưa ra một cách dễ dàng. Người thanh niên chăm chú theo dõi, nhanh nhẩu thực tập, nét mặt hớn hở như thằng bé vừa học được bí quyết tài tình. Chặp sau, anh ta quen thuộc sành sỏi một cách lạ lùng. Tôi khen:
 
- Thông minh lắm.
 
- Nhưng chưa "điệu" bằng cô.
 
Bây giờ người thanh niên cắn hạt dưa lia lịa như muốn thi thố tài năng với "thầy". Rõ ràng anh ta giả bộ vụng về để xạo tôi chơi. Tự ái, tôi lườm mắt giựt cái gói hạt dưa lại:
 
- Ông tham quá, cứ nhá lia mồm. No chưa?
 
- Về tới Tuy Hòa tôi sẽ đền cô gấp trăm chừng nầy.
 
- Thấm gì, ông biết mỗi ngày tôi gặm cả ký lô!
 
- Hèn gì đôi môi đỏ thắm rất duyên dáng.
 
- Ông ngạo tôi hở?
 
- Thành thật.
 
Người thanh niên còn diễn tả sự "thành thật" của mình bằng ánh mắt mê man nhìn sững tôi, trông chết người!
 
- Cô có nghĩ rằng mình gặp nhau thế nầy là do sự sắp đặt của Định Mệnh?
 
- Tôi không hiểu Định Mệnh là gì?
 
- Là số mạng.
 
- Số mạng là gì?
 
- Là... là... cô hiểu rồi còn giả vờ.
 
Tôi cười lớn, vui lây với anh ta:
 
- Tựa như ông cắn hạt dưa rào rào còn giả vờ?
 
Xe lượn vòng theo chân núi bên những ô ruộng muối sát mé đầm nước mặn. Đầm xanh màu rêu non. Đầm lồng bóng núi, bóng mây trầm ngâm, bóng dừa mơ màng phủ dài bán đảo bên kia. Không hơi gió, không gợn sóng. Cảnh tĩnh của tranh sơn thủy, bát ngát lời thơ, mênh mang điệu nhạc... Người thanh niên vẫn chăm chú ngắm cảnh nước non, như muốn cùng tôi chia xẻ niềm ngưỡng vọng: quê hương mình quá đẹp!
 
- Tôi đã đi từ Huế vào Saigon bằng quốc lộ 1, chỉ có đoạn đường nầy phong cảnh ngoạn mục nhất. 
 
Tôi hỏi:
 
- Gần tới Sông Cầu chưa?
 
- Sắp. Đây là đầm Lệ Uyên.
 
- Trời, cái tên khá đẹp.
 
- Chưa đẹp bằng tên cô.
 
Tôi ngạc nhiên:
 
- Ủa, ông biết?
 
Người thanh niên cười kiêu hãnh:
 
- Hồi nãy ở phòng bán vé, tôi đọc trong danh sách hành khách có cái tên quá đẹp, tôi nghĩ rằng phải là tên cô. Tục ngữ có câu "Nhìn mặt đặt tên" vốn không ngoa.
 
- Ông ranh quá tôi sợ.
 
Xe chạy chầm chậm giữa hai hàng dừa im bóng mát vào thị trấn Sông Cầu.
 
Tới bến, người thanh niên mua một chùm bánh gói bằng lá dừa.
 
- Thổ sản miền nầy, cô ăn lấy thảo.
 
Tự tay anh ta bóc vỏ năn nỉ mời tôi ăn cho bằng được. Chưa kịp nuốt miếng bánh nhỏ bằng lóng tay miệng tôi nghẹn lại:
 
- Phải bánh Phu thê?
 
- Đúng.
 
- Ông phỉnh tôi mà.
 
- Cô cũng dị đoan?
 
Tôi im lặng "ngậm mà nghe" miếng bánh trong miệng như ngậm trái cấm. Người thanh niên cứ cười thầm đắc ý, khoan khoái một cách trẻ con. Xe qua khỏi một bờ vịnh, vòng lên ngọn đèo thấp trông xuống vùng biển nằm khuất giữa bức thành núi đá màu hỏa hoàng. Người thanh niên lại mải mê ngắm cảnh, mắt không chớp, quên cả điếu thuốc đang ngún mau trên tay.
 
- Cô đi chơi Gành Đỏ lần nào chưa?
 
- Gành Đỏ ở đâu?
 
Theo ngón tay chỉ của anh ta, tôi chỉ kịp nhìn thoáng qua dãy kè đá nhấp nhô in hình ráng chiều phơn phớt, bao quanh bởi một lớp khói sóng mờ mờ và một duềnh cát vàng óng ; xe đã rẽ sang hướng khác, đi vào vùng đồi thấp trùng điệp màu lá dại xanh ối, nhìn ngợp mắt.
 
Người thanh niên lại ném tàn thuốc và như mấy lần trước, anh ta vẫn cẩn thận ngó xem nó rơi xuống chỗ nào. Tôi cười nhỏ:
 
- Xem bộ ông còn tiếc mẩu thuốc thừa.
 
- Dạo mới lên Đà Lạt tôi đã vô ý gây ra một đám cháy lớn chỉ vì cái tàn thuốc ném bậy. Lá thông khô hai bên đường bắt lửa ngon lành. Khiếp tới bây giờ.
 
- Ông đi đây đó nhiều nhỉ.
 
- Cô không thấy tôi có một đôi chân dài thòng. Chân ngựa!
 
- Trông ông có vẻ lãng tử.
 
- Tôi yêu hai tiếng đó.
 
- Có bao giờ ông thấy mỏi mệt?
 
Người thanh niên nhìn tôi đăm đăm như dò xét, như hoan hỉ:
 
- Sáng nay!
 
Tôi hơi bối rối giả vờ hiểu theo nghĩa đen:
 
- Vì chuyến xe nầy chật chội, không thoải mái chút nào.
 
- Không đâu, mơ hồ tôi thấy chân mình bị một sợi dây vô hình trói buộc.
 
- Lạ nhỉ.
 
Ngừng một lát, đắn đo, trấn tĩnh, người thanh niên bỗng bạo dạn đưa một bàn tay ra, (dường như định nắm lấy tay tôi) vịn chặt thành ghế, giọng nói hơi run:
 
- Cô có nghĩ rằng chuyến xe nầy sẽ đi mãi, mãi mãi, đi suốt...
 
Tôi cười tự nhiên:
 
- Ông muốn xe rớt xuống hố để níu nhau về cõi thiên thu?
 
- Vậy cũng thích, tôi vẫn được ở bên cô.
 
- Không, xe phải về bến, tôi còn về nhà.
 
- Và mình chia tay?
 
- Đương nhiên!
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
Tôi mím môi lưỡng lự một lát rồi nói nhanh:
 
- Không!
 
- Cô không tin Số mệnh tình cờ...
 
- Không!
 
Người thanh niên nhíu mày khổ sở, khuôn mặt dài ra tội nghiệp. Hồi lâu anh ta mỉm cười gượng gạo rồi bắt chước giọng người hành khất ở bến xe ca vãn:
 
"Chúc cô đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên..."
 
Tôi bật cười:
 
- Cảm ơn ông. Biết tôi phải "làm phước" gì cho ông đây?
 
- Chỉ xin cô tin rằng có Định Mệnh sắp đặt chuyến đi nầy.
 
- Ông đòi hỏi quá sức tôi.
 
Tôi ngạc nhiên nghe giọng mình bực dọc và lạnh lùng quá sức. Người thanh niên uể oải lắc đầu:
 
- Bây giờ tôi xuống đây, trở ra Sông Cầu.
 
- ?
 
- Đáng lẽ tôi xuống bến Sông Cầu hồi nãy nhưng nấn ná đi chung với cô thêm một quãng đường gọi là đưa tiễn. Thế nầy thì không phải lẽ nhưng tôi ngại cảnh chia tay cô ở bến xe Tuy Hòa. Lúc đó, tôi sợ mình không đủ can đảm quay về.
 
Tôi hốt hoảng tưởng như người thanh niên sẽ nông nổi lao đầu ra ngoài cửa xe ngay bây giờ. nét mặt anh ta căng thẳng đầy vẻ liều lĩnh.
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
- Ông cứ hỏi mãi cái câu hỏi không chút tế nhị, làm sao tôi trả lời được.
 
- Phải, tôi ngây thơ quá. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
Xe dừng lại, người thanh niên tần ngần chào tôi rồi bước xuống. Anh gởi lại cho tôi một ánh mắt nồng nàn tin tưởng, ấm áp hẹn hò. Tôi cúi đầu nhắm kín mắt, lòng nao nao. Dường như xe đang tiếp tục lăn bánh bon bon trên mặt đường êm ái? Gió rít trên tóc tôi, gọi mời níu kéo. Khuôn mặt người thanh niên chập chờn trong trí, xa hút với dặm trường rồi loáng hiện về trước mặt. Bất giác tôi đưa tay sờ mặt ghế bên cạnh: chùm bánh Phu thê còn thoảng hơi ấm. Những chiếc bánh cũng biết thẫn thờ trong bàn tay mân mê.
 
Trang và Ái đón tôi ở bến xe, hai đứa mừng rơn như thể lâu ngày mới gặp nhau lại. Trang đưa tay vuốt lông mày tôi, hỏi nựng:
 
- Có khóc trên xe không "cô bé". Sao âu sầu dường nầy?
 
Tôi đưa chùm bánh Phu thê cho Ái:
 
- Quà đây nè. Bù vào cái bọc hạt dưa mầy biếu.
 
Ái la lớn:
 
- Trời, năm mới đã đớp thứ bánh nầy là điềm sắp có chồng. Biết đâu vài tháng nữa sẽ ăn đám cưới mầy.
 
- Biết đâu. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
- Đầu năm mầy đã mơ mộng, nói y như văn chương. 
 
Tôi muốn tỏ thật với hai đứa bạn đó là câu nói của người thanh niên đồng hành tình cờ gặp gỡ, của một nhà lãng tử vô danh. Bây giờ tôi mới hối tiếc đã quên hỏi tên anh ta. Vâng, phải có cái tên để xác định tác giả câu nói đó, để tôi đặt tên cho chuyến đi nầy, cho một kỷ niệm vui vui trong năm mới.
 
Cô có tin rằng mình sẽ gặp lại? Tôi trả lời với chính mình:
 
- Tôi sẽ đi tìm Ông Định Mệnh để hỏi thử xem. Hy vọng ông ta rất dễ thương, ngoan ngoãn gật đầu. Nhà lãng tử vô danh hãy bình tĩnh chờ nhé.
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
  

Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

NGÀY XƯA ẤY - Phạm Ngọc Lư

 


 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
Cô bé nhỏ ơi, mười lăm chưa?
Cho tôi xin bím tóc cài nơ
Che mái đời quanh năm gió tạt
Lớp hiên tình dột nắng xuyên mưa
 
Mười bốn mười lăm lớn rồi đây
Có bao đường chỉ trên bàn tay
Xin cô trói muôn đời tôi lại
Đừng thả tôi về kiếp chim bay 

Bé nhỏ sao má thẹn má hồng
Mắt nheo mắt nguýt, khổ tôi không
Van cô đừng ra chơi bến nước
Thấy thuyền mà mơ chuyện sang sông

Mười chín hai mươi này tiểu thư
Lạc đâu rồi cái bé năm xưa
Lối nào quên nón rơm guốc mộc
Phương nào bay áo mộng khăn mơ

Ngày cô ra bến nước rửa chân
Nước vô duyên nhắc chuyện qua sông
Trời xui tôi làm con thuyền giấy
Bím tóc cài nơ chở rối lòng

                                 PHẠM NGỌC LƯ

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 42)

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2016

BÊN VƯỜN HƯƠNG NGỌC LAN

Tranh : Đinh Trường Chinh















Tặng Trần Huiền Ân

Em về bóng nhỏ đường che
Cây nghiêng mấy lá chừng nghe rất chiều*

Tôi về chân ngã hồn xiêu
Về đâu hỡi bóng trăng treo cuối ngày
Hoa lan vừa nở đâu đây
Hương trinh không rượu mà say quá chừng

Ra về lòng có bâng khuâng
Sao tay vin dậu sao chân dùng dằng
Nhỡ rồi quên áo quên khăn
E tình lãng đãng cầm bằng khói sương

Mai người đi dạo trong vườn
Hái hoa lan thả khói hương lên trời
Hương bay giạt đến phòng tôi
Nghiêng nghiêng mấy cánh, chao ơi bẽ bàng

Mai người tựa gốc hoàng lan
Vô tình hoa rụng xuống vàng áo hoa
Tình tôi mấy cánh xót xa
Rụng theo cánh bướm lạc qua vườn người.

                                                 PHẠM NGỌC LƯ

------------
(*) thơ Lương Trinh

(Trích từ tuần báo Tuổi Ngọc số 69, tuần lễ từ 21-9 đến 28-9-1972)