Thứ Năm, 29 tháng 1, 2026

MÙA SƯƠNG TRÊN VAI - Mường Mán


Quì đứng nép vào cây cột dưới hàng hiên, chiếc áo mưa vừa cởi ra hai phút trước cuốn gọn trong tay. Quì mặc áo dài tím, ngoài choàng thêm cái áo len đen. Khuôn mặt Quì trắng, đôi mắt Quì to ngước trông vời bến xe đằng trước, không nói năng chi cả. Quỳnh đứng bên Quì, quần jean nâu áo pull màu cà rốt, áo mưa vắt trên vai. Quỳnh hút thuốc, cũng nhìn ra bến xe, cũng không nói năng chi. Hai người ở lứa tuổi thanh niên và, dường như vừa trải qua một trận hờn giận gì đó nên lúc này chẳng ai buồn mở môi hé miệng.
 
Bến xe nhộn nhịp xe ra vào lui tới, huyên náo tiếng rao quà vặt của những cô bé tay nách rổ trái cây hoặc mẹt bánh, mỗi lần có xe vào bến nhào tới tranh nhau mời mọc khách hàng. Hành khách ôm xách, kẻ vội vàng kẻ lững thững. Vẻ vội vàng lững thững toa rập với mớ âm thanh hỗn loạn tạo thành hoạt cảnh vui mắt vui tai và tràn đầy sinh lực ; trái hẳn với khung cảnh ủ trệ trầm buồn lặng nín của dãy phố cũ kỹ bụi bặm bên sau.
 
Mưa tầm tã. Những rãnh nước quanh bến xe trôi lềnh bềnh rác rến lon hộp. Chỗ Quì và Quỳnh đứng trú mưa là thềm của một quán tạp hóa. Dường như cảm thấy im lặng lâu quá cả hai sẽ buồn ngủ, Quỳnh lên tiếng xé rách im lặng:
 
- Quì ơi, sao em dối trá vậy? Thấy anh về vui muốn chết lại cứ bô bô anh ra đây làm chi? anh về Quảng Trị làm chi?
 
Quì im lặng. Quỳnh ném mẩu tàn thuốc xuống rãnh nước dưới chân.
 
- Mưa rầm rầm điệu này, mưa thêm vài ngày nữa chắc lụt mất. Nếu Trời lụt, Quì cứ để cho nước cuốn về Huế nghe! Lúc ấy ông chú thân yêu có níu cũng không được. Anh sẽ đợi ở Huế, đợi Quì trôi vào là ẵm liền. Đồng ý?
 
Quì vẫn nhìn ra xa, lắc đầu nhè nhẹ:
 
- Nếu trôi được Quì trôi ra tới biển đông luôn, không còn ghé Huế.
 
- Quì không ghé anh cũng cứ đợi.
 
- Đợi bao lâu?
 
- Đợi đến tết Công gô.
 
Quì bĩu môi:
 
- Dóc tổ, anh láo như con chồn tinh quái trong truyện cổ tích.
 
Quỳnh cười ha ha:
 
- Kiếp trước anh là thằng Cuội ngồi gốc cây đa.
 
Quì hỉnh mũi:
 
- Bóp ẩu chị Hằng nên bị đuổi khỏi mặt trăng.
 
- Hình như thế.
 
- Thế là cái chắc chớ hình như hình nhử chi nữa.
 
Quỳnh thở phì khói thuốc tợ ống khói tàu lửa:
 
- Quì hạ anh xuống thấp hơn mực nước biển rồi đó.
 
- Rán mà trồi lên.
 
- Trồi lên chắc không nổi.
 
- Huy động cả họ hàng nội ngoại ra mà kéo anh lên.
 
Quỳnh tát nhẹ vai Quì:
 
- Em hỗn như con Bú dù.
 
- Con Bú dù chỉ biết kêu khẹt khẹt, không biết nói ; Quì nói được tức Quì không phải là con Bú dù.
 
- Quì lý luận trôi chảy như một dòng sông.
 
- Sông nào?
 
- Sông Thạch Hãn.
 
Quì bật cười:
 
- Sông Thạch Hãn, Quì nghe bọn học trò nói mùa hè xắn cao quần lội qua được, qua bên kia sông đi vớ vẩn coi người ta chụp ếch nhái.
 
- Vui không?
 
- Vui chứ!
 
- Mùa hè sang năm chắc mình nên bới cơm bới nước đi coi người ta bắt ếch nhái suốt một ngày ròng, vui cho đã đời.
 
Quì quắc mắt một tia nhìn ướt. Tia nhìn âu yếm ôm gọn khuôn mặt tươi trẻ của người bạn trai. Quỳnh vẫn đưa mắt nhìn vời xa, điếu thuốc mới đốt bốc khói giữa hai ngón tay thầm lặng - những sợi khói hân hoan và, Quỳnh nom trẻ thơ trong dáng trầm ngâm thanh thản.
 
Quì buồn bã nhìn Quỳnh. Người thanh niên suốt cả buổi chiều nay không hề biết đến sự bối rối đang kết thành sợi dây thun thắt bóp tim nàng. Quì đang cố gượng vui ; Quì đang cố cười nói để tự cho phép mình sống một buổi cuối cùng thật sự êm đềm bên cạnh người mình thương mến. Lát nữa Quỳnh lên một chiếc xe taxi nào đó trở về với thành phố của anh ta, là hết. Thế giới riêng biệt của anh sẽ khép kín sau màn mưa trùng điệp. Quỳnh ở đầu mút con đường xa 60 cây số. Con đường nhựa nối hai thành phố, mỗi tuần Quỳnh nôn nao vượt qua tìm về với nhau, sống tròn một ngày đầy nghĩa rộng tình sâu: đi lang thang qua những con đường heo hút tỉnh lỵ này, ngồi trong những quán chật ních lính tráng ở đây, đưa nhau vào rạp xi nê hôn nhau, đưa nhau ra bờ sông cười dưới nắng, cãi nhau dưới gốc cây và giận dỗi trước khu bưu điện... Mỗi tuần Quì tới bưu điện 3 lần, hôn lên con tem 6 đồng, khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau". Những tờ thư kể lể nhớ nhung quá nhiều nên thỉnh thoảng Quì gửi một tờ giấy trắng - cho nó lạ một tí, như người ta ăn mặn suốt tháng, ăn chay hai ngày rằm và mồng một cho đỡ nhàm. Thời êm đềm đó qua rồi. Ngày mai tất cả đổi thay hết rồi.
 
Ngày mai. Thành trì đã thiết lập, Quì hết tự do bay nhảy. Con chim non sẽ bị nhốt vào lồng, con cá nhỏ bị nhốt trong chậu. Quỳnh không hề biết  điều đó. Quì có nên nói cho chàng nghe hay không?
 
Có nên tả lại sự giận dữ của mẹ khi hay tin từ lâu giữa Quì và chàng vẫn còn liên lạc, mối liên lạc lâu nay bà ngỡ cắt đứt rồi không? Có nên nói đến quyết định của mẹ, của anh em chú bác nàng không? Cái quyết định bất ngờ như từ trên trời rớt xuống, như tự mặt đất không dưng nẩy lên. Dẫu sao, cái quyết định ấy vẫn có thực, nó lù lù đó, không dễ gì tẩy xóa, chối bỏ.
 
Hôm qua mẹ từ Đà Nẵng về mang theo cái quyết định nóng bỏng ấy nói cho ông chú, các cô em họ của Quì nghe. Nghe xong Quì khó chịu lạ. Khó chịu vì không hề ngờ nhân vật chính đóng vai quan trọng trong quyết định của mẹ lại là ông Mai. Ông Mai bạn của anh Điềm anh Dĩnh. Ông Mai vẫn thường đến nhà chơi. Ông Mai thỉnh thoảng khám bệnh tim cho Quì. Ông Mai thường lái xe đưa cả bọn đi biển Mỹ Khê, Lăng Cô những hôm chủ nhật trong mấy tháng hè vừa qua, từ ngày Quì rời trường sư phạm Qui Nhơn trở lại Đà Nẵng sửa soạn bước vào đời tập tễnh làm cô giáo làng.
 
Quì không thể ngờ ông Mai lại mết Quì. Ông ta khéo che đậy tình cảm?
 
Có thể lắm - ở lứa tuổi ông ta, ổng thừa sức che giấu xúc động bồng bột thường phát tiết thành cử chỉ lời nói mà bọn thanh niên mới lớn thường mắc phải. Hoặc giả những lúc gặp Quì ông có để lộ ra một vài phần nhưng Quì không để ý, Quì coi ông ta như anh Điềm anh Dĩnh, những người lớn, thế thôi. Vả tâm trí Quì mải bận rộn với hình bóng Quỳnh thì để ý đến ông Mai - người - lớn ấy làm gì cơ chứ! Trong những lần về biển, cùng đi với anh Điềm anh Dĩnh và Quyên (cô em gái út của Quì) Quì chằng thấy ông ta tỏ ra cử chỉ nào săn sóc đặc biệt hoặc khác thường cả. Quì nô giỡn, cười đùa và hát hỏng hồn nhiên dưới đôi mắt bình thường của ông ta. Có một lần độc nhất, Quì tắm xong lên nằm úp bụng phơi nắng, ông Mai ngồi xuống bên cạnh lấy cát rải lên lưng Quì, Quì kêu nhột và dơ ; ông ta đỏ mặt cười rồi ngưng ngay trò chơi, đứng lên nhập bọn với anh Điềm anh Dĩnh (lúc ấy đang đấu láo với một cô bạn). Bây giờ nhớ lại lần đó, Quì nghĩ: "Có thể hôm ấy ông Mai thử phản ứng của Quì cũng nên. Nếu Quì để yên không kêu nhột, dơ ông ta sẽ tiến tới đâu nữa nhỉ? Quì lắc đầu không thể hiểu nổi.
 
Thoạt tiên nghe mẹ nhắc đến ông Mai và cái quyết định của cả gia đình, Quì thấy khó chịu: nỗi khó chịu nhẹ nhàng không thể làm trào nước mắt nhưng Quì chợt nhận ra thật chóng vánh vị thế lẻ loi cô độc của mình. Cái quyết định kia được một lực lượng hỗ trợ quá hùng hậu. Quì nghĩ đền Quỳnh với những nhịp tim đập mạnh, nếu ngồi nán lại chút nữa nghe mẹ nói chắc Quì đã ngất xỉu. Căn bệnh đã tốn không biết bao nhiêu thuốc uống và chích dường như chưa chịu rời Quì. Quyết định của mẹ có liên quan phần nào đến căn bệnh dai dẳng ấy
 
Nhớ lại những lần tới khám bệnh, Quì phải cởi áo để trần ngực cho ông Mai đặt ống nghe đo nhịp tim, Quì ngượng chín người. Ông Mai là người duy nhất nhìn thấy ngực Quì, người đầu tiên nghe nhịp tim Quì đập. Chẳng biết có phải ông Mai đã bị nhịp tim bệnh hoạn của Quì cám dỗ không? Chẳng biết có phải hai miếng ngực trắng non nhỏ nhắn khiêm tốn của Quì đã mê hoặc ông không? Không, ông ta là bác sĩ chuyên khoa về tim thì mỗi ngày nhìn ngắm ngực con bệnh và nghe tim con bệnh đập là chuyện quá thường tình. Vậy thì tại sao ông ta có ý định cưới Quì? Cưới một con bệnh mà hơn ai hết, ông biết rằng rất có thể ngày nào đó vợ mình sẽ chết bất đắc kỳ tử? Quì lắc đầu, lắc đầu qua trái lắc đầu qua phải, không hiểu.
 
Lý do mẹ đưa ra thật vững vàng trơn tru:
 
"Lấy thằng Mai, nó sẽ vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, nó đã trì chí theo dõi bệnh tim con lâu nay, nó hiểu cách chữa trị. Vả lại nó cũng sắp rời bệnh viện Duy Tân về Quảng Trị, ra Giêng tụi bây cưới nhau xong mỗi ngày nó đưa con đi dạy, đỡ nhọc".
 
A! Sao mẹ không nói trắng ra, Mai vừa là chồng con, vừa là ông thầy thuốc của con, vừa là thằng tài xế suốt đời trung thành của con? Quì khóc, Quì lắc đầu. Lắc đầu đã trở thành cử chỉ quen thuộc mỗi khi Quì muốn trốn tránh ý tưởng hắc ám nào, những ý tưởng tới từ nỗi buồn, từ một cơn giận nghẹt tim chẳng hạn...
 
Quì nhìn Quỳnh, nhìn gã thanh niên hồn nhiên trước sự bối rối tê đau của nàng. Gã vẫn không hề biết. Có nên nói cho Quỳnh biết không? Quì lắc đầu, Quì lắc đầu phân vân, Quì lắc đầu trước nỗi buồn của Quì, không dám lắc đầu trước quyết định của mẹ. Quì thương mẹ, Quì thương nỗi lo lắng của mẹ. Ngày mãn khóa mẹ bỏ hết công việc vào Qui Nhơn với Quì. Hôm chọn nhiệm sở mẹ ngồi bên Quì:
 
"Con phải về Quảng Trị, con phải chọn ty tiểu học Quảng Trị, ở đó có chú Tâm lo cho con về chỗ tốt, về Đà Nẵng không ai lo chỗ tốt cho con được cả."
 
Quì vâng dạ, Quì chọn Quảng Trị.
 
Quảng Trị: địa danh của một nơi chốn nghèo khó, buồn nản. Địa danh được nhắc nhở khá nhiều trong những bản tin chiến sự hàng ngày trên mặt báo, trên đài phát thanh. Miền đất hiền thục nhưng lỡ nằm ở vị thế cam go trên bản đồ chiến lược nên được biếu thêm một tước hiệu nữa: địa đầu giới tuyến. Quảng Trị, khu phố vuông vắn vây bọc những mái nhà thâm u cúi xuống những lòng đường bức bối, lính tráng đông hơn dân cư. Quảng Trị chỉ sống dậy từ 7 giờ sáng ; 8 giờ tối coi như Quảng Trị chết đi, những lòng đường dành cho lá bay, dành cho ma quỷ. Quảng Trị không như Huế, Đà Lạt, Nha Trang: những địa danh vừa đọc lên đã nghe quyến rũ lạ thường. Quảng Trị: cái tên mới đọc đã nghe xao xác, cực lòng.
 
Những trận gió Nam thổi từ Lào về, những heo may từ thâm sơn Thanh Nghệ Tĩnh vô làm Quảng Trị lên những cơn sốt bất thường, nóng cháy và lạnh run. Những cơn sốt đôi khi làm lệch lạc cả bước đi của tiết mùa.
 
Quì về Quảng Trị, Quì ở nhà chú Tâm. Mỗi ngày Quì vượt qua một con đường lầy lội bùn đỏ, vượt qua hai cánh đồng tới ngôi trường ở vùng ngoại ô buồn tẻ. Hôm đến trường lần đầu Quì đi với chú Tâm. Quì khóc ròng lúc đứng trên bục gỗ nhìn xuống đám học trò lem luốc, những thân thể còi cọc trước tuổi vì thiếu ăn thiếu mặc, những khuôn mặt cúi xuống trang vở buồn bã như mái tôn ủ dột che mưa nắng trên đầu chúng. Quì nhìn lũ học trò và, lắc đầu lắc đầu.
 
Mưa nhẹ hạt hơn. Có nên nói cho chàng biết không? Quì ôm sát chiếc áo mưa vào ngực tìm chút hơi ấm và chút can đảm nào đó có thể từ thinh không rơi xuống giúp Quì. Không, Quì vẫn câm lặng như con hến, như con ốc trong chiếc vỏ kỳ dị. Quì chợt thấy mình thật kỳ dị. Quì có cảm tưởng mọi con mắt của đám đông trên bến xe chiều nay đang đổ dồn về nàng, đổ dồn về đứa con gái khốn khổ với những khóe nhìn cay xót. Quì ho nhỏ, giọng Quì trầm:
 
- Anh ra xe đi, cái xe đằng kia sắp đầy rồi đó. Quì còn phải đi làm lại tóc.
 
Quỳnh nắm lấy bàn tay trắng muốt nổi gân xanh của Quì bóp nhè nhẹ:
 
- Gắng tìm đủ mọi cách bò về Huế ăn tết với anh.
 
Quì cúi mặt giấu đôi mắt bắt đầu tươm lệ nóng. Quì cắn mạnh môi dưới, Quì cắn nhẹ môi trên nhủ thầm: Quì ơi mày phải bình tĩnh uống cạn chén mật ngọt cho đến giọt cuối cùng ; chén mật ngọt sắp cạn rồi. Ngày mai mày uống mật đắng mật cay mật chua. Quì thả khóe nhìn ướt xuống bàn tay nắm của Quỳnh:
 
- Vâng, Quì cố gắng hết mình, anh ra xe, họ nổ máy rồi kìa.
 
Quỳnh bóp mạnh tay Quì rồi buông ra, khoác áo mưa vào, nhìn lâu vào mắt Quì âu yếm:
 
- Lại khóc, cô giáo rồi mà cứ ngỡ mình còn là học trò thò lò mũi xanh. 
 
Quỳnh bước ra khỏi hàng hiên, bước nhanh tới chiếc xe đậu cuối bến. Quỳnh ra khỏi hàng hiên, Quỳnh vừa vượt qua biên giới. Chén mật ngọt cạn rồi, cạn thật rồi. Quì rũ áo mưa mặc vào, trùm mũ che ngang mặt.
 
Quỳnh lên xe. Quỳnh đưa tay ra cửa xe vẫy. Quì đứng trông vời theo cho đến lúc xe khuất sau dãy nhà mái tôn, khuất sau hàng cây trụi lá trơ vơ dưới trời mù mưa tháng Chạp.
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp. Quì ôm mưa tháng Chạp trong lòng mà đi. Tháng Chạp mênh mông lồng giá rét vào tóc Quì, tháng Chạp tô son nhạt vào môi Quì, tháng Chạp đánh phấn lạnh vào má Quì. Mùa đông đang già theo cơn mưa muộn màng chiều nay, mùa xuân sẽ tới ; mùa xuân gần kề. Hôm qua lễ tất niên cử hành tại trường. Cô giáo vỗ tay hát giữa bầy trẻ ngơ ngác. Cô giáo cắn hạt dưa. Cô giáo ăn mứt gừng cùng lũ trẻ. Cô giáo bâng khuâng, nhớ những mùa xuân tuổi nhỏ mặc áo vàng quàng khăn lụa nhảy tung tăng chân sáo trên đường ngập xác pháo hường. Cô giáo nhìn qua cửa lớp, nhìn ra cánh đồng xa ngút mắt ngẫm nghĩ nơi đây tiêu sơ hoang dại quá chắc mùa xuân chẳng bao giờ về!
 
Quì bước đi giữa lòng tháng Chạp, lạnh một mình, buồn một mình, hồn nghèo trí mỏi, môi mím mắt ngây. Chàng đi rồi, Quỳnh đi rồi. Quỳnh mang mùa xuân của Quì về Huế rồi. Ngày mai, là hết. Ngày mai ông Mai sẽ đem xe rước Quì và mẹ về Đà Nẵng. Về Đà Nẵng để Quì đeo nhẫn đính hôn. Về Đà Nẵng để Quì tha hồ nhận lời chúc tụng của bà con bằng hữu. Những lời châm chọc của mấy cô em con ông chú giờ nghe còn nóng vành tai:
 
"Chị lấy cái ông Quỳnh ấy à? Trước mặt ông ta một chồng bản thảo, sau lưng ông ta một chồng bản thảo, bên phải bên trái ông ta hai chồng bản thảo nữa. Eo ôi truyện ngắn truyện dài. Chị còn chỗ nào để ngồi gần ông ta nữa?"
 
Quì ngậm nét cười cay đắng rồi Quì phun cay đắng ra thành ngôn ngữ ngậm ngùi:
 
"Vậy tao lấy ông Mai, bên phải ông ta một núi bông băng, bên trái ông ta nghìn chai thuốc đỏ, sau lựng trước mặt ông ta thuốc uống thuốc chích, tao còn chỗ nào nữa mà ngồi?"
 
Những tiếng cười vang rân, vang xa như tiếng ruồi xanh ngân nga trong lòng thạch động. Thạch động là cái óc của Quì, tâm hồn Quì sâu và lạnh lẽo tựa thạch động, trống rỗng một trăm phần trăm.
 
"Bà chị ơi, biết bao nhiêu người đang thèm địa vị của chị. Nếu không ưng xin chị dang ra cho tụi em nhào vô."
 
Những lời khôi hài thiếu muối thiếu vị tinh thiếu xì dầu, nhạt nhòa vô duyên Thanh nói, Liên nói, Phương nói. Tụi nó sao giàu ngôn ngữ đến thế? Quì nghèo nàn rồi. Tâm hồn em nghèo nàn từ khi anh bỏ đi. Câu thơ của ai vậy?
 
Quì bước đi tựa con tàu say gió. Những đường phố luốc lem bùn đỏ cũng là những đường sắt say rượu. Con tàu say, đường sắt say sẽ đưa nhau tới ga trạm nào? Quảng Trị đó, con phố âu sầu cưu mang những con đường âu sầu. Này vết chân đi qua lồng vào bùn đỏ ; bùn đỏ ôm níu lấy những dấu chân để một mai chờ nắng đốt thành bụi phiêu du cùng gió, bụi lãng quên. Quảng Trị đó, những quán hàng đìu hiu cửa mở, những thềm hiên tối nặng màu chàm. Có nên đi làm lại tóc theo lời mẹ dạy không? Quì đi, chân lang thang trí lang thang theo mưa lang thang. Quì tìm lối ra bờ sông, ngó sang bên kia thảm cỏ lướt thướt mưa mù, màu xanh lục ngon nhưng lạnh lùng quá. Quì chợt ao ước mình được hóa thành con nai vàng ngơ ngác, con nai vàng tỉnh táo gục mặt xuống thảm cỏ giá băng kia. Sông Thạch Hãn, trăm mui thuyền bồng vẻ nghèo khó, dòng sông trôi buồn như một khúc hành Tỳ bà.. Quì khẽ lắc đầu lắc đầu.
 
Quì băng qua đường tới nhà bưu điện.
 
Có nên đánh cái điện tín cho Quỳnh? Nên lắm. Phải báo cho chàng biết. Trước sau gì anh cũng phải biết. Anh biết để anh còn đủ thì giờ mà khổ mà đau mà nguyền rủa em, phải không anh?
 
Bưu điện đóng cửa im lìm. Ô hay, hôm nay chủ nhật. Quì kêu thầm trong trí, Quì bối rối đứng sững trước tòa nhà tẻ ngắt. Cái thùng thư cũ kỹ thân yêu nằm nép dưới khuôn cửa sổ. Cái thùng thư mỗi tuần Quì tới với nó 3 lần, hôn lên con rem 6 đồng khấn vái: "thư ơi thư đi cho mau" Những cánh thư chắp cánh bay đi mang về những lời nồng lời ngọt. Hết rồi, kể từ ngày mai hết rồi. Xa nhau, gửi thư cho nhau Quỳnh kêu: "Quì ơi, mình ở xa nhau nên tình yêu phải đi và đến bằng lối hàm thụ". Thư mới nhất Quỳnh viết:
 
"Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm. Thương anh mỗi ngày nhớ uống thuốc cho chóng lành bệnh tim, chứa đủ hình ảnh anh trong tâm thất trái và tâm thất phải. Thương anh mỗi đêm nhớ gọi tên anh 100 lần cho anh nhảy mũi ngất ngư con tàu đi. Thương anh thì chớ nên khóc, mặc dù những lúc khóc đôi mắt em trông ngon như hai trái nhãn lồng lột vỏ. Thương anh thì ngủ cho thật đầy, 7 giờ tối đắp mền, 7 giờ sáng tung mền dậy. Thương anh thì đừng nói hành nói tỏi anh. Thương anh đừng dọa dẫm hăm he anh: chọc Quì giận Quì đi lấy chồng. Thương anh thì tết này gắng tìm đủ mọi cách tìm về trong vòng tay lớn của anh. Thương anh thì nhớ đá lông nheo thật kỹ những lúc anh chợt buồn bã giữa chừng cơn vui. Thương anh bao nhiêu thương cái tính xấu cái nết tốt của anh bấy nhiêu. Quì phải học thuộc đoạn trên làm kinh nhật tụng. Mỗi đêm quay mặt về Huế mà đọc mà cầu nguyện, gặp anh Quì phải đọc thuộc làu làu."
 
Thương anh thì thương cái tính xấu, nết tốt của anh. Tính xấu? Nết tốt? Quì không biết Quỳnh có tính xấu, nết tốt nào nữa. Anh phải cái tội đùa cợt nhiều quá, tham lam hôn hít quá, thế thôi. Quỳnh ơi Quỳnh ơi! Quì đứng như cây chuối trồng trước nhà bưu điện. Đi đâu? Về nhà có mẹ đang đợi? Vào tiệm làm lại mái tóc? Không. Mưa điên hớp hồn Quì, gió điên nhiếp dẫn hồn Quì. Quì bước đi theo tiếng hú nào đó thật âm vang thật bí mật của tháng Chạp, của đông già heo hút trên những đầu cây. Quì đi như là bay.
 
*
 
- Còn chuyến cuối, mau lên cô hai.
 
Người tài xế taxi đứng cạnh chiếc xe lùn màu đen đưa tay vẫy Quì. Quì kéo cao hai ống quần hấp tấp bước tới, cùng lúc một thanh niên từ sau lưng Quì cầm xắc chạy nhanh vào bến. Quì vướng chân vấp ngã trên vũng nước đọng. Người thanh niên vượt lên trước tới bên xe. Người tài xế phân bua:
 
- Còn có một chỗ thôi ông ơi. 
 
Người thanh niên đong đưa chiếc xắc nóng nảy:
 
- Tôi tới trước để tôi lên.
 
Quì áo quần lấm bết bùn đất nhổm dậy tới đứng ngẩn ngơ bên gã thanh niên. Người tài xế vung tay về phía Quì:
 
- Cô này tới trước, ông xem cô ta vấp ngã dơ cả quần áo kìa.
 
Đám hành khách ngồi trên xe nhao nhao:
 
- Kìa lên đi chứ, tối rồi, cãi nhau mãi sao? Cô nhỏ đó tới trước để cổ lên.
 
Người tài xế mở cửa, Quì ríu ríu nói cám ơn rồi vào chỗ ngồi. Người tài xế đóng mạnh cửa, vào cabin, ngoảnh lại nhìn gã thanh niên cười, nụ cười hàm ý xin lỗi. Gã thanh niên lỡ chuyến quay lui khoảng bến lõng bõng nước sau lưng, đong đưa chiếc xắc trên tay, lẩm bẩm chửi thề. Xe rồ máy.
 
Còn chuyến cuối, Quì đưa tay vuốt mặt, thở ra nhẹ nhõm. Quì cũng không nhớ nàng đã trở lại bến xe bằng lối nào nữa. Đôi môi lạnh cóng của Quì thoáng nụ cười nhẹ. Lòng xe chật kín om hơi ấm giúp Quì tỉnh táo phần nào. Mưa sắp dứt hạt, chỉ có từng đợt mỏng như tơ giăng ngang bầu trời. Quì khẽ nhắm mắt ngả đầu ước mong được ngủ một giấc dài và thật thoải mái. Quì nhắm mắt, càng nhắm kỹ càng tốt. Quì không muốn nhìn lui khu phố buồn bã này chút nào. Mẹ đang làm gì ở nhà? Chắc mọi người nghĩ Quì đang ngồi trong tiệm uốn tóc nào đó. Mẹ ơi con trở thành đứa con hư từ đây, từ chuyến xe cuối chiều hôm nay. Chuyến xe con đã ngỡ chẳng bao giờ con bước lên thế mà giờ con đang ngồi trong lòng nó để bắt đầu một chuyến đi. Chuyến đi có thể đưa đến hậu quả lầm than nhất cho đời con. Nhưng dẫu sao con cũng đã có quyền quyết định. Khổ con chịu, sướng con vui. Xin tạ lỗi mẹ. Xin lỗi ông Mai nhé. Thanh ơi Liên ơi Phương ơi tao nhường lại đó, đứa nào nhào vô thì cứ nhào, tao dang ra xa rồi. Tao không thể cứ uống mật đắng mà cứ bảo là mật ngọt được. Tao không thể chui vào cái vỏ hạnh phúc tiền chế được. Quỳnh ơi, em đang đuổi theo anh, đuổi theo mùa xuân ; trả mùa đông lê thê lại cho thành phố mưa bùn nắng bụi này. Anh đang ở chặng đường nào? Anh sắp tới Huế chưa? Anh có nghĩ rằng em đang đuổi theo anh gấp rút không? Đuổi theo, đuổi theo bắt cho kịp hạnh phúc. Đuổi theo, đuổi theo ngất ngư mệt lả rồi ngả vào lòng anh khóc một trận cho đã nư ; khóc hai trận cho trôi hết buồn lo điên dại ; khóc ba trận mừng hội ngộ hân hoan. Em sẽ khóc hoan hỷ, khóc ngọt bùi, trong thiên hạ có bao nhiêu kiểu khóc em sẽ khóc hết. Khóc xong em sẽ cười, trong thiên hạ có bao nhiêu nụ cười em gom lại thành rừng thành biển. Cười quên mình là đứa con bỏ đi hoang. Cười xóa mặc cảm đứa con hư. Cười vỗ ngực vinh danh người tình chung thủy. Em thèm khóc, em thèm cười. Em đang về với anh. Về vòng tay cúi đầu đọc bài kinh nhật tụng của anh: "Thương anh thì đừng buồn. Thương anh thì mỗi ngày cười ngàn nụ, nụ nhỏ nụ to nụ choai choai. Thương anh thì mỗi bữa ăn mười chén cơm..." Vâng, thương anh thương anh, thương anh. Thương anh em sẽ tuân theo kỷ luật anh đặt, mệnh lệnh anh ra. Em đánh rơi chữ "hiếu" rồi, từ nay em xin đội chữ "tòng" lên đầu làm vương miện. Em về với anh là em quăng bỏ sau lưng hết tiếng xấu tiếng tốt, tiếng vo ve, tiếng thì thầm của đám đông thiên hạ. Em đang về. Em đang trở về. Căn nhà thuê trong hẻm lờ mờ ánh điện câu đêm nay sẽ rực rỡ ánh sáng. Đêm nay em bỏ cuộc đời nhỏ bé em vào đôi tay anh, anh muốn nhào muốn nặn, bóp méo uốn cong nặn tròn gì cũng được hết. Em sẽ mềm dẻo như cục đất sét, em sẽ ngon ngọt như cây mía mừng, em nồng nàn như vôi. Em không chua như chanh, em không chua như dấm đâu Quỳnh ơi!!!
 
Quì vụt mở mắt. Xe phanh rít lại bất ngờ nhồi lên cái mạnh. Tới Huế rồi sao? Tới Huế rồi à? Quì cuống quít hỏi và, không nghe ai trả lời cả. Đám hành khách nhốn nháo chúi về phía trước nom ra cửa kiếng. Cửa mở, mọi người ào xuống đường. Cái gì vừa xảy ra? Sao xe dừng lại ở đây?
 
Một chiếc xe Honda ngã sóng soài đầu mũi taxi. Người lái Honda là một người lính, anh ta nằm cách đó mấy thước. Mọi người chạy ùa tới nâng kẻ ngộ nạn dậy. Người lính chỉ xây xát nhẹ, cánh tay phải anh ta tóe máu bởi một đường rách ngắn. Người tài xế taxi tái xanh mày mặt, gã đưa tay chỉ con đường mòn bên phải (lối chiếc xe Hoda đã đi ra) than thở:
 
- Thật là tai bay vạ gió, khi không đâm ngang ra như vậy cha ai mà tránh kịp.
 
Một xe Quân cảnh chạy trờ tới. Người tài xế taxi phân bua với đám hành khách:
 
- Lỗi hay phải gì xe tôi cũng không thể về Huế tối nay được. Xin bà con cô bác thông cảm, tai nạn bất ngờ. Tôi xin hoàn tiền lại bà con đón xe khác về, hoặc trở lại Quảng Trị, may ra giờ này còn có xe nhà binh.
 
Đám hành khách tiu nghỉu, không ai nói năng gì cả ; cũng chẳng thấy ai đưa tay ra nhận lại tiền.
 
Quì đứng buồn bã thàng thốt như người vừa ra khỏi cơn mê ngắn. Quì ngơ ngẩn hỏi một bà già đứng bên cạnh:
 
- Đây là đâu bác?
 
Bà già ngưng nhai trầu:
 
- Mỹ Chánh, còn 40 cây số nữa mới tới Huế.
 
Đám hành khách một số xúm lại coi toán Quân cảnh làm biên bản, số khác đứng lơ ngơ trông lui tới đón xe.
 
Còn 40 cây số nữa. Quì ứa nước mắt trông hút con đường phía trước. Mưa dứt hạt từ lâu. Bầu trời mang mang sương xanh lạnh. Trước mặt, con đường vắng tanh không bóng người. Quì ngó về bên phải, những cánh đồng rộng mênh mông tiếp chân núi thẳm mù mây khói tím. Quì ngó sang trái, những quán hàng lụp xụp tranh tôn chen lẫn nhau. Quì trông lui, hoang vu hoang vu và hoang vu. Hiu quạnh trải bốn bề vây lấy đám người lỡ đường ; hiu quạnh vây lấy Quì.
 
Bà già ngạc nhiên thấy Quì khóc. Bà nhìn Quì bằng tia nhìn vừa ái ngại vừa trìu mến:
 
- Vô cái quán trong này ngồi nghỉ tí đã con. Giờ này không mong chi có xe về Huế, chuyến mình đi là chuyến cuối mà. Trở lại Quảng Trị họa may có xe nhà binh từ Phong Điền về. Bác đi hàng ngày bác biết quá. Thôi về Quảng Trị ngủ một đêm sớm mai đi cho chắc ăn.
 
Quì như không nghe thấy lời rủ rê thân mật của người đồng hành khả kính ấy. Quì đứng yên như không nhúc nhích. Còn 40 cây số trước mặt để đi tới và 20 cây số sau lưng dể trở về. Quì là người tình chung thủy nhưng là một đứa con hư. Trở về: Quì là kẻ phụ tình nhưng là một đứa con có hiếu. Đi tới hay trở lại? Mẹ ơi! Anh Quỳnh ơi! Tôi về đâu? Con về đâu? Em về đâu? Thiên đường, địa ngục trước mặt tôi hay sau lưng tôi? Mẹ ơi! Anh ơi!
 
Tay Quì xuôi, mắt Quì mở lớn. Quì đứng trông vời con đường phía trước. Quì khẽ quay đầu trông phía sau. Sương đổ xuống vai Quì và gió xoáy buốt hồn Quì. Quì lắc đầu lắc đầu. 
 
 
MƯỜNG MÁN      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1972)
 

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

VỀ MỘT MÙA - Ngụy Ngữ


"Nơi tôi ở bây giờ đang rực rỡ màu vàng của hoa muồng và hoa hướng dương. Hoa muồng từng cây lớn đơm thành tàn rậm rạp quanh vùng sân rộng, hoa hướng dương từng thân bé thưa rời trồng đứng trước hiên thềm. Hoa vàng, lá xanh. Những buổi sáng đi làm, qua khỏi cổng, nhẩn nha tản bộ vào dưới bóng cây im rợp, một người bạn thân thường chỉ xuống số hoa rụng suốt đêm chồng lên nhau cả lớp dày nổi rõ trên nền hắc ín trải sân, bảo tôi: nhìn để mai mốt có xa mà nhớ kia, thành phố này đó.
 
Người bạn đã già, hai mắt kiếng cận thị nặng gần 10 độ...".
 
Đó là những dòng chữ mở đầu một bài ngắn - có lẽ vậy, rất ngắn - tôi viết và đã biếng nhác bỏ rời, quên bẵng luôn, đâu từ khoảng đầu tháng chín - lúc hoa muồng mới nở - cho mãi tới giờ, chiều nay, khi tình cở giở lại đọc thấy, nhìn ra: cây muồng lớn và thấp nhất trước cửa không còn cánh hoa nào cả. Đã sang tháng chạp rồi. Rõ thời gian, chẳng ngờ gì được hết. Và tháng chạp, không còn hoa muồng, bây giờ đang ngay đoạn giữa mùa một loại hoa vàng khác: hoa quỳnh dại ; cùng lúc lại cũng là chớm mùa của một loại hoa đỏ: hoa vông vang.
 
Như hoa muồng, hoa quỳnh dại vàng thật vàng, và, cũng thế, hoa vông vang đỏ thật đỏ. Hình dung nếu tôi phải dạy một đám học trò nhỏ, có dịp nào giảng về hai màu vàng và đỏ ở đúng sắc độ của nó chắc không cách nào hay hơn là tôi đem ví ngay cho hai thứ hoa này. Lẽ dĩ nhiên đám học trò nhỏ đều phải con dân của phố tôi đang ở, nơi suốt mùa thu đông rợp hoa tươi chói để sửa soạn cho mùa xuân tới với những hoa có màu dịu hơn: trắng của cà phê, tím nhạt của keo, nâu non của hoa pháo...
 
Miền núi cao. Với sương mù đến sớm tan muộn, và luôn quánh bạc bít đất ngợp trời, xứ này là một xứ trong mây, đất đai của chuyện kể. Với hoa, đủ màu đủ sắc lan man tiếp nhau nở suốt bốn mùa mỗi năm, đây là một xứ phố hoa, phố vui mừng.
 
Trong phố hoa, giữa xứ mây sương, cổ áo thường xuyên kéo cao lên một chút với hơi lạnh thân quen vào nắng hanh sáng, đêm trăng sao. Vâng, kéo cổ áo lên một chút thôi là đủ, hoặc có thể cài nút tay áo sơ mi lại, nhét hai bàn tay vào túi quần, mặc thêm cái áo len ngắn mỏng, không cần phải khăn quàng và các thứ áo ấm dày. Cũng không cần nhìn vào trang nhất các nhật báo bày bán đầu ngã tư. Chỉ chừng đó là đủ. Và đi lang thang khe khẽ huýt sáo miệng theo những khúc hát từ bao nhiêu quán cà phê dọc đường thì thầm vẳng ra, cười chào vài người bạn.
 
Nhân giả ái sơn. Không trí không dũng không tín không nghĩa gì hết.
 
Ở đây, một trong số khúc hát thì thầm tôi quen miệng hát qua bao nhiêu ngày : Rằng xưa có gã từ quan, lên non tìm động hoa vàng...
 
Muồng có hai loại: lá nhỏ và lá lớn. Rất giản dị. Hoa vàng thật vàng và tên nó nôm thật nôm. Lá lớn, gọi muồng lá lớn ; lá nhỏ, gọi muồng lá nhỏ. Một anh bạn dạy học xuất thân từ trường nông lâm mục bảo tôi vậy, nhưng có một anh bạn khác, không dạy học, không học chương trình nông lâm mục mà lại là dân địa phương trăm phần trăm lại bảo: ngoài tên muồng hơi không đẹp nó còn một tên càng hơi không đẹp hơn nữa tức là bia. Cây bia, rõ quái đản. Và cả hai tên, với những vị ưa mơ mộng, vẫn chưa vừa. Cần rắc rối một chút mới được, bèn thêm hai tên nữa: Hoàng điệp, Hoàng hoa.
 
Hoa, cũng như con gái, càng đẹp càng tốt - dù cho hương màu có chứa đầy độc dược hoặc cành đầy gai nhọn chẳng sao - và tất cả đều giấu sẵn một điều chung ở ngay trong bản chất khi xuất hiện dưới ánh mặt trời, đó là cái đồng lõa hay đúng hơn là khuyến khích, thúc hối kẻ khác gọi lầm tên mình. Và gọi lầm hay thích sao gọi vậy, gọi tùy hứng cũng giống nhau.
 
Hoa vàng, nôm na quá bèn Hán hóa một chút tức khắc có Hoàng hoa ngay. Rồi tiếp theo: đường có nhiều hoa vàng là hoàng hoa lộ, suối chảy dọc thung lũng hoa vàng quanh bờ là hoàng hoa khê, vườn cây có nhiều hoa vàng là hoàng hoa viên. Còn Hoàng điệp, cái tên này tôi đã nghe được lần đầu tiên ở miệng một nữ tu trẻ tuổi thuộc giòng thánh Vinh Sơn với nụ cười đẹp và mấy ngón tay trắng nõn vấy đất đưa trỏ vời: hàng hoàng điệp đó tôi trồng ngày mới tới đây... Nghe lần đầu nên lấy làm ngạc nhiên ngơ ngác: nó là muồng chứ đâu phải là hoàng điệp. Rất nhanh, tôi được nghe một bài giảng ngắn đầy chất mơ màng: hoàng là vàng, ông không thấy nó vàng rực đó sao ; còn điệp, ai cũng gọi thế, bởi nó giống hoa điệp quá, trông nó tôi nhớ quê tôi ngoài Bắc, ngày tôi còn nhỏ...
 
Hoa muồng được trồng quanh các sân nhà, sân công sở, rải rác ven đường, dọc suối, mênh mang thưa rời trên những thảm trà thảm cỏ ở các lưng đồi, dồn lại thành rừng rậm kín ở các thung lũng chưa khai phá. Hoa quỳnh dại cũng thế. Ven đường, dọc suối, cuối góc phố, giữa những thung lũng, quanh các vườn cây. Chỉ thua cái không được người ta mang trồng trong sân. Tuy cả hai cùng thuộc giống hoang dại nhưng quỳnh dại có vẻ hoang dại hơn có lẽ nhờ điểm đó, điểm thứ nhất ; song song với mấy điểm khác biệt khác: thân thảo, sớm nở tối tàn, không cho bóng mát, chiếm nhiều đất, sinh sản nhanh. Còn tên lầm, chẳng thua gì muồng, khá nhiều. Ngay cả quỳnh dại cũng đã là một tên lầm rồi. Quỳnh dại, quỳnh vàng, hoàng quỳnh, quỳnh hoang, hướng dương dại - bởi rất giống thứ hướng dương thật, cùng màu, cùng kiến trúc, chỉ khác chút đỉnh ở lá, hoa hơi nhỏ hơn và cây mọc đông đảo chứ không riêng rời từng gốc - Lầm hết. Anh bạn xuất thân trường nông lâm mục bảo vậy. Tên nó là Quì kia.
 
Quì, biết tên thật nhưng thích và trót đã quen miệng nên vẫn gọi tên lầm là Quỳnh dại, chẳng sao. Và Quỳnh dại, hôm nào mới đây, với một cô bạn dân Huế tha phương, con gái giòng Tôn nữ, trong một mẩu chuyện bâng quơ gì đó tôi tình cờ nhắc đến tên hoa này, tức khắc đôi mắt bất-loạn-mi của cô ta nhướng lớn: ơ, tên mô lạ rứa. Theo tinh thần cắt nghĩa của tu nữ, tôi cắt nghĩa, biện bạch ; cô ta lắc đầu: mô, răng giống được, hoa ni màu vàng còn hoa quỳnh màu trắng thê. Thế là câu chuyện bâng quơ hướng luôn vào chủ đề hoa. Cô ta nói, tôi cãi. Tôi nói, cô ta cãi. Cãi, lắc đầu, gật đầu và đến một lúc nào đó cô ta bật ngặt nghẽo cười bởi khám phá ra được rằng không những tôi chỉ lầm mấy tên hoa điệp hoa quì mà còn hằng hà sa số tên hoa khác nữa, như hoàng lan tôi gọi là ướp đọi, ngọc lan, mộc lan - những thứ gì gì lan đó... - trong lúc cô bạn gọi ngoài tên hoàng lan còn tên oanh, trảo, bại hoại ; như hoa nguyệt quế tôi gọi là ngâu đực, hoa bông trắng, trong lúc cô bạn gọi ngoài tên nguyệt quế còn tên hoa-ở-chùa-nửa-chừng... Hằng hà sa số thứ và mỗi thứ là một chuỗi tên lạ hoắc, đối với tôi.
 
Lẽ dĩ nhiên trong bao nhiêu cái tên lạ hoắc cho bao nhiêu thứ hoa đó chắc chắn phải có rất nhiều cái tên gọi lầm, phải không?
 
Muồng vàng, quỳnh dại, keo tím..., các thứ hoa hoang dã. Phố hoa và cả miền hoa, đâu phải chỉ ngần đó. Còn trùng trùng điệp điệp những thứ khác nữa. Nào là hoa sân vườn, hoa trồng trước thềm, hoa lủng lẳng bên hiên, hoa tràn lan trên mái, hoa đỏ ngõ trước, hoa rợp cổng vào. Trong sương mù và nắng hanh lạnh, với bạn bè gái trai, qua mấy năm dài tôi đã sống giữa hoa. Có hoa tôi đứng lại thích thú nhìn, có hoa tôi đưa tay hái trộm mang về cắm lên bàn viết, có hoa tôi nhìn tới là phát cáu, có hoa tôi trông được là mừng, có hoa tôi buồn bã: nở cho hết rồi về, vân vân, và, cũng có hoa như lời đứa con gái con của anh bạn già cận thị bập bẹ hát: thì hái bỏ đi... để làm chi, thêm phiền.
 
Ngay khi bắt đầu cầm viết viết mấy giòng đầu bài bị bỏ dở từ khoảng tháng chín tôi đã có ý định viết một bài ngắn về hoa, hoặc điểm danh sơ qua, hoặc tường trình tổng quát thời sự của hoa một mùa nơi mình đang ở. Hình như thế thì phải. Nhưng đã biếng nhác buông tay. Rồi mãi ba tháng sau, khi cầm viết viết tiếp, ý định cũ lại hiện trở lại. Và lại thêm lần nữa, đã đành không buông tay bỏ dở như lần trước nhưng có đốt cho hết thuốc lá rồi ý định vẫn không tài nào được thực hiện hoàn hảo cả. Bởi, rất giản dị, chẳng lẽ điểm danh lại điểm danh bằng những tên lầm, và không lý gì tường trình thời sự một mùa lại chỉ nói tới màu vàng hoa quỳnh dại đang độ, màu đỏ tươi hoa vông vang mới chớm hé mà thôi. Dù cho có sơ qua và tổng quát tới mức nào đi nữa vậy cũng không được, không ổn.
 
Thế đấy, tôi một kẻ đã bao năm dài quanh quẩn giữa hoa.
 
Biết về hoa, vâng, tôi có biết. Như biết rằng không phải hoa nào cũng có chung một giai đoạn sau rốt là kết trái đơm hạt cho đời sau mà có hoa chỉ nở để nở. Nở hoa một đời mình là thôi, vừa đủ tròn phận sự. Nụ xanh thoát lên đầu cành lá, màu dần hiện ra, và ngày hàm tiếu, ngày tỏa rộng cánh, phơi nhụy, qua dăm ngày sau cánh rụng, rục tàn, chấm dứt. Nhiệm vụ truyền sinh không phải được đặt ở nó mà đặt ở các bộ phận khác của cây. Có cây mỗi năm hoa chỉ nở một mùa và mỗi mùa chỉ một đóa. Có cây hoa ra đúng giờ giấc từng ngày. Có cây đến những vài năm mới có hoa một bận và hoa có thể dai dẳng hàng tháng cũng có thể chỉ tươi vui được một sớm một chiều là xong. Có cây không phải sống bằng dưỡng chất do đất cung cấp mà phải sống bằng hơi sương hướng gió, rễ bám cứng trên đá tảng, hạt bay vương vãi giữa thinh không. Có cây rụng lá chết đi với mùa này và lặng lẽ chỗi dậy ra lá đâm hoa cho mùa khác. Vâng, tôi biết. Như biết rằng thăm thẳm đâu trong khuất vời của sự sống vô tận, hoa theo nhịp thời tiết triền miên tràn dâng ra, tựa một giòng sông với những triều nước, bến cảng với những chuyến xe nườm nượp đến đi, những con đường đô thị đông vui với những đời trai gái. Như biết hoa là nhan sắc của mặt đất, là áo đẹp của mỗi mùa, niềm vui của trần thế, biểu trưng phong thổ và tâm tình của từng miền dân cư..., nhưng, cùng lúc, ngày trên mặt đất, ở nơi nào đó lại có những hoa mang tin ngày buồn, hoa lạc ngõ, hoa độc dược, hoa gian trá, hoa đau thương...
 
Biết thế và chỉ nói thế là không đủ. Phải nói thêm. Lại tất nhiên không phải nói sâu thêm, rộng thêm về những điều vừa nói, với những cái tên gọi lầm, những tên mơ màng gọi theo tu nữ và tôn nữ, mà phải đích xác hơn, sách vở hơn: tên khoa học, tên địa phương, đặc tính của mỗi thứ một, cách lai giống, phương pháp chăm bón, việc tưới nước bỏ phân, hay hơn nữa, là công dụng, giá thị trường, tương lai hoa trong sinh hoạt kinh tế hậu chiến. Buồn thay đó lại là điều tôi hoàn toàn không biết.
 
Thì ra, giữa phố hoa này, qua bao nhiêu năm quanh quẩn tôi vẫn chỉ là một kẻ lang thang chi đạo, lơ đãng chi vi đức. Như cánh chuồn chuồn.
 
Chấm dứt bài viết, những giòng cuối này tôi dành cho em. Em, đứa con gái tóc dài có cái tên là tên một thứ hoa hoang dại được gọi lầm tên ở thành phố này nơi em đã đến, đã ra đi, nơi tôi còn lần khân nán lại mãi tới bây giờ. Điểm danh, không được. Và tường trình, cũng thế. Nhưng cũng thế với bao nhiêu người khác, còn riêng em, nơi xa xôi đó, khi đọc những giòng này hãy cho rằng được đi. Đây là một bài tường trình thời sự hoa của một mùa đất cũ. Những dáng người đang với tôi lẩn khuất giữa hoa em không thể nhận mặt được bởi thuở đó em chưa hề quen: không sao. Còn những tên hoa, vẫn nhớ chứ? Hãy nhớ lấy. Nhớ lấy những hoa của thời yên vui đó, hoa của đất cũ, của tuổi thơ xưa và quên đi những chùm hoa đau buồn mà ngày nào tôi đã trao em từ phiên chợ đông người về bên thềm loang lổ đầu cái động hoa vàng mù mịt tiếng kêu vang đó. Nhé.
 
 
NGỤY NGỮ      
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1973)
 

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

HOA HỒNG NHỎ - Áo Trắng


Cô bé tay cầm cành hồng vừa hé nụ ngồi xuống gốc cây me có tàn lá to che mát cả một khoảng trống. Gió thổi làm cho lá me bay bay, vài chiếc lá be bé vướng trên tóc cô như những phiến confettis. Buổi chiều ở đây thật êm ả, cảnh vật yên tĩnh tạo cho cô bé những mơ mộng, cô có thể ngồi im hàng giờ để nhìn nắng vàng trải trên thảm cỏ hay chống cằm lắng nghe tiếng thì thầm của lá cây hoặc đưa mắt nhìn mây trắng bay lờ lững trên nền trời xanh thẳm. Tất cả mọi cảnh ở đây được cô bé xem như thiên đường bé nhỏ mà chủ là một cô bé xinh xắn. Chiều nay, cảnh vật yên lặng làm cho cô bé nghe nỗi buồn len nhẹ vào hồn và bỗng dưng cô bé cất tiếng hát ngọt ngào, êm đềm. Chiều buồn len lén tâm tư, mơ hồ nghe lá thu mưa. Dạt dào tựa những âm xưa. Thiết tha ngân lên lời xưa... Tiếng hát theo gió bay đi và tan dần trong không gian u tịch. Cô bé vừa hát vừa đưa cành hồng lên ngửi. Trong khoảnh khắc, cô bé dâng lên một sự sợ hãi, tiếng hát im bặt vì một tiếng huýt sáo cất lên phụ họa theo giọng hát. Cô bé cảm thấy buồn và thất vọng vô cùng vì cõi thiên đường của cô đã có thêm bước chân của người thứ hai dẫm lên, tự dưng cô đâm ra căm hờn người đã quấy phá cõi thiên đường bé nhỏ kinh khủng, nước mắt dâng lên, vì những giây phút êm đềm đã không còn nữa.
 
- Cô bé ơi! Tôi...
 
Cô bé ngẩng đầu lên, nước mắt còn đọng trên má. Người thanh niên nhìn cô bối rối, lưng dựa vào thân cây.
 
- Thưa cô, tôi xin lỗi, tôi...
 
Cô bé đứng lên, nói với giọng ướt sũng:
 
- Ông đừng nói gì nữa hết, ông hãy ở lại đây, chỗ này thuộc về ông đó.
 
- Cô bé, cô cứ ở đây.
 
- Ở đây làm gì? Tôi sẽ không bao giờ trở lại đây nữa vì bây giờ nó không còn là của riêng tôi nữa.
 
- Ở đây nói chuyện chơi - Người thanh niên mỉm cười nói.
 
- Nói chuyện gì? Ông ở đây nói với cỏ cây đi.
 
Cô bé bước đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên đứng với vẻ mặt ngơ ngẩn. Bỗng cô bé dừng chân lại vì có tiếng gọi, tiếng gọi to dần và người thanh niên đã đến.
 
- Có phải cái hoa này của cô bé không?
 
Cô bé quay lại, người thanh niên giơ cành hoa ra trước mặt cô bé.
 
- Ông cho xin lại cành hoa này.
 
- Đâu có dễ vậy cô bé. 
 
- Ông cho xin lại, ngày mai tôi cho ông cành hoa khác đẹp hơn.
 
- Rồi hẳn hay. Cô bé ngồi xuống đây nói chuyện chơi một chút rồi tôi cho lại cành hoa này.
 
- Thôi hổng được đâu.
 
- Sao hổng được? - Người thanh niên bắt chước giọng cô bé, làm cô bé xấu hổ, đỏ hồng đôi má. Cô bé cúi xuống bứt vài cánh hoa mọc lẫn trong cỏ, đưa lên mủi ngửi rồi hỏi che lấp cái ngượng:
 
- Hoa này là hoa gì vậy ông?
 
- Hoa này tên là hoa làm quen đó ạ - Người thanh niên mỉm cười nói.
 
Một lần nữa, đôi má người con gái đỏ hồng lên, cô bé cười khoe chiếc răng khểnh.
 
- Hoa gì tên lạ thế! Chưa bao giờ tôi nghe tên đó và...
 
- Và cũng nhờ thế tôi mới biết cô bé có chiếc răng khểnh xinh ghê ghê là.
 
Cô bé nguýt người thanh niên một cái thật dài rồi đưa mắt nhìn đàn chim đang ríu rít hót trên cành cây gần đó.
 
- Đố cô bé biết nó đang nói gì với nhau đấy?
 
- Nó nói ông trả lại tôi cành hoa.
 
- Sai rồi cô bé ơi!
 
- Vậy chứ nó nói gì? - Cô bé đanh đá.
 
- Nó nói cô bé cho nó biết tên.
 
- Tôi không có tên.
 
Người thanh niên nhìn cô bé ngạc nhiên:
 
- Lạ quá nhỉ? Ai cũng có tên không xấu cũng đẹp chẳng lẽ cô bé tên "vô danh".
 
- Đúng vậy.
 
- Nếu thế thì tôi sẽ đặt cho cô bé một cái tên nhé! Cái tên rất dễ thương, bằng lòng không?
 
Cô bé tròn mắt nhìn người thanh niên, khuôn mặt ngơ ngác như một con búp-bê Nhật.
 
- Ông đặt tên cho tôi? - Cô bé hỏi lại.
 
- Đúng đấy, tên này chỉ có tôi và cô bé biết thôi. Chắc cô bé thích hoa hồng lắm phải không?
 
- Phải, tôi rất thích hoa hồng, nhất là hoa hồng hé nụ như vậy và những hoa hồng nho nhỏ xinh xinh
 
- Vậy thì tôi đặt cho cô bé cái tên là Hoa Hồng Nhỏ, được không?
 
- Ô! - Cô bé reo lên - Cái tên hay thật. Vậy là kể từ bây giờ tôi có tên là Hoa Hồng Nhỏ rồi ông nhỉ?
 
- Chưa chắc đâu cô bé!
 
- Tại sao vậy ông? - Cô bé ngạc nhiên hỏi.
 
- Cô bé sẽ có tên đó với một điều kiện.
 
- Có điều kiện nữa sao?
 
- Có chứ, điều kiện là cô bé phải hát lại từ đầu đến cuối bản Hoài Cảm cho tôi nghe, rồi tôi trả lại cho cô bé cành hoa này và cả tên nữa.
 
- Ông nói thật chứ? Ông trả cho tôi cành hồng?
 
- Thật, mà sao cô bé thích cành hồng này quá vậy? Mất cành này còn cành khác ở nhà cô thiếu gì!
 
- Thiếu chứ đâu có dư, ở nhà tôi không có cành này tôi mới xin được của người ta nên tôi quí lắm, ông biết hông năn nỉ lắm mới được.
 
- Vậy thì cô bé hát đi rồi tôi trả.
 
- Hát hả? Cái đó... cái đó... - Cô bé ngập ngừng.
 
- Sao?
 
- Hổng được đâu.
 
- Sao không được, cô bé hát hay ghê.
 
- Thôi ông cho nợ.
 
- Tôi không thích làm chủ nợ, nếu không hát được cô bé có thể về.
 
- Ông à, ông cho tôi xin lại đi.
 
- Không được - Người thanh niên lắc đầu nói.
 
Cô bé đứng lên phụng phịu:
 
- Thôi, tôi cho ông cành hoa và trả ông cái tên lại đó, tôi... tôi đi về vì sắp tối rồi.
 
Nói xong cô bé đi thật nhanh.
 
- Hoa Hồng Nhỏ.
 
Người thanh niên bật kêu lên. Cô bé không quay lại, tóc cô bay bay trong gió. Người thanh niên cúi nhìn cành hoa hồng đang cầm trong tay, cành hoa thật đẹp và thật dễ thương, dễ thương như cô bé "Hoa Hồng Nhỏ". Nắng đã yếu dần, người thanh niên quay nhìn chỗ cô bé đã ngồi rồi bước đi, miệng huýt sáo nho nhỏ. 
 
 
ÁO TRẮNG NCT     
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc, 1973)
 

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

MAI XUÂN VỀ - Ngy Xuân Sơn


 
 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
mai đông mai đơm nụ nhỏ
trời đông trời lạnh gió ru
ta đông, ta chờ ngày đến
trở về phố cũ tình xưa
 
mai chưa xanh từng cánh lá
nên ta cũng nặng ưu phiền
xa quê tháng ngày vất vả
trở về, vui như thần tiên
 
ngày qua ngôi vườn xanh cỏ
có con chim lạ bay về
hót rộn trong từng hơi gió
đông tàn, đông tàn nhớ quê
 
năm xưa quê nhà gió lạnh
tháng năm bên bếp đợi chờ
mẹ yêu và đàn em dại
chờ xuân, biết bao là thơ
 
hôm nay qua ngôi vườn cỏ
sắc hương cũng dậy thanh bình
xuân về trong căn nhà nhỏ
mai tình cờ nở thật xinh
 
mai xuân, mai vàng trước ngõ
trời xuân, chim nhỏ dậy mừng
ta xuân, ta về quê cũ
vô cùng mắt lệ rưng rưng
 
mai xuân, thăm em tình cũ
lòng đầy như hoa sớm mai.
 
                         NGY XUÂN SƠN
 
(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc, 1975)
 

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

SẦU THƠ DẠI - Nguyễn Thiếu Nhẫn


Thấm thoát mà chị Trang hành nghề... gõ đầu trẻ đã được hơn một tháng. Hôm đưa chị lên đường về V.B. - nơi mà chị sẽ sống đời sống của một cô giáo, thực là buồn. Cả nhà đưa chị ra tới bến xe. Mẹ và dì Sáu luôn miệng căn dặn "xuống tới dưới là viết thư về cho nhà biết liền nghe con" nhưng vì trường của chị dạy ở tuốt trong quận Càn Long, cái quận cùng tên một vị vua Trung Hoa, nên mãi một tuần sau ở nhà mới nhận được thư của chị - thư tay do một đồng nghiệp cùng dạy một trường với chị trao lại.
 
Trong thư chị cho biết là chị đã xuống tới nơi được bình an và chị đang bắt đầu những ngày đầu tiên... bước xuống cuộc đời.
 
Trong thư chị viết: "... có ra đời mới biết là đời sống thật là khó khăn. Và đời sống thật đã dạy cho mình nhiều điều mà sách vở không hề đề cập tới..." Theo những câu trong thư chị Trang tôi có cảm tưởng như chị Trang đã thuộc hẳn về một... thế giới khác.
 
Đọc những câu: "... quận lỵ buồn hiu, xung quanh chằng chịt những kẽm gai và những vị trí phòng thủ. Ở đây chỉ co một thứ bông hoa nhìn hoài phát mệt con mắt là bông giấy. Lính tráng súng ống kè kè, mặt mày ông nào ông nấy cũng đỏ gay, nặc nồng mùi rượu trông mà phát sợ. Trường học thì nhỏ xíu, học trò toàn là người Miên, thật là đúng cái cảnh "một thầy, một cô, một chó cái" trong câu đối của ông Cao Bá Quát." Đọc thư của chị Trang viết tôi tưởng tượng ra ngôi trường tiểu học cộng đồng mà chị đang dạy chắc là buồn ghê lắm. Tôi nghĩ tới ngôi nhà trọ mà ở đó chị sống, mỗi sáng thức dậy đến trường dạy học và thui thủi trở về một mình, tôi cảm thấy thương chị ghê đi.
 
Chị Trang, đó là đất trích và chị là tiên nữ phải đọa đầy vì đã vô ý đánh vỡ chén ngọc hay đó là điều khó khăn mà chúng ta mỗi người sẽ gặp phải khi lớn lên và chạm mặt với đời sống?
 
Tôi nhớ có lần trong câu chuyện anh Nguyễn đã đưa ra nhận xét: "Bây giờ làm con gái thật sướng. Làm con gái chỉ có đi học, đi chơi, ăn diện, sắm sửa, may mặc, đi phố... và không phải làm gì, không phải lo lắng gì. Trong khi đó, con trai đi học, đi lính rồi... có thể hy sinh vì tổ quốc, Thanh có thấy như vậy không?" Hồi đó nghe anh Nguyễn đưa ra nhận xét này tôi đã không biết trả lời như thế nào và nghĩ là anh Nguyễn có lý nhưng bây giờ thì tôi đã có câu trả lời cho anh Nguyễn rồi: "Con gái cũng có những điều khó khăn, lo lắng của con gái chớ đâu phải chỉ có đàn ông con trai mới có những điều phải lo lắng". Nhất định hôm nào gặp anh Nguyễn tôi phải nói điều này mới được.
  
Cái cảm nghĩ chị em vốn đã xa cách nay chị Trang đi dạy học ở xa sẽ làm chúng tôi xa cách hơn thật ra là một điều sai lầm bởi vì tôi cảm thấy chị và tôi ngày càng có vẻ gần gũi hơn. Tôi nói đến điều này với sự thành thực nhất của lòng mình. Qua những lá thư của chị Trang tôi cảm thấy chúng tôi có vẻ gần gũi nhau hơn, tôi có vẻ "hiểu" chị Trang hơn và thấy thương chị nhiều hơn. Và chắc chắn những điều này xảy ra không phải là vì hôm sửa soạn lên đường chị đã cho tôi cái quần patte màu ma-rông mà chị không vừa ý vì cái quần may không được "đứng" lắm, cũng không phải vì hôm đó chị đã cho tôi chiếc áo thun màu xanh da trời rất hợp với màu da của tôi, hoặc vì chị đã cho tôi những cái băng-đô mà chị đã dùng hồi mùa hè năm ngoái. Tôi nghĩ chúng có vẻ... gần gũi là vì những bức thư: những điều không nói được đã được nói giữa những hàng chữ viết và điều này giúp chúng tôi hiểu nhau hơn. Tôi không hiểu là chị Trang có những cảm nghĩ này hay không hay là chị cũng coi tôi... con nít như anh Nguyễn.
 
Ngôi nhà đã vốn buồn từ ngày anh Vũ và anh Nguyễn ra đi, giờ tới phiên chị Trang vắng mặt ngôi nhà càng buồn hơn. Đã không còn những buổi sáng ngủ nướng, nằm nghe tiếng chổi của chị Trang quét trên sân gạch trước nhà, đã không còn nhìn chị Trang bước những bước chân trần băng qua sân gạch vừa đi vừa cằn nhằn ông trời kỳ cục mưa gì mới sáng mà mưa. Và tôi phải thay thế chị Trang trong những công việc hàng ngày. Mấy ngày đầu phải thức sớm quét sân gạch trước nhà tôi bực mình ghê đi nhưng sau đó rồi cũng quen dần và còn cảm thấy thích thú nữa là khác. Tôi không còn ngạc nhiên như lúc trước có hôm thức sớm nghe ngoài sân chị Trang vừa quét sân vừa hát nho nhỏ. Và tôi cũng bắt đầu cảm thấy những buổi sớm mai hồng thật là dễ thương vô cùng.
 
Nói đến những buổi sớm mai hồng tôi bỗng nhớ tới câu thơ:
 
Em đi một sớm mai hồng
Phất phơ áo lụa bềnh bồng tóc mây
 
mà anh Nguyễn đã để ở trang đầu trong một quyển tiểu thuyết anh gửi về cho chị Trang "mượn đọc để đỡ buồn trong những ngày làm cô giáo" theo lời yêu cầu của chị Trang. Câu thơ dễ thương ghê đi, dễ thương cũng như... những sớm mai hồng. (Đừng có nghe tôi khen mà nở lỗ mũi bằng... trái cà chua, nghe anh Nguyễn.)
 
Còn có điều tuyệt diệu nào hơn là mỗi buổi sáng thức dậy thật sớm thở hít căng phồng lồng ngực cái không khí trong lành của buổi ban mai, nghe tiếng chim sẻ kêu ríu rít trên mái ngói, nhìn những giọt sương mai đậu trên cây kiểng, nhìn những cánh hoa công chúa nhè nhẹ rung trong gió sớm, nghe thoang thoảng mùi bông sứ. Và trong khi đó, từ phương đông một mặt trời hồng đang từ từ lên, báo hiệu cho mọi người biết rằng một ngày mới đang bắt đầu.
 
Nếu những ngày xưa tôi vẫn thích mỗi buổi chiều ra ngồi ở bờ sông sau nhà, đưa chân nghịch nước, nhìn những giề lục bình hoa tím trôi phăng phăng giữa giòng nước đục ngầu phù sa mang tự Nam Vang về. Và cả giòng nước, cả những giề lục bình đều hối hả như sợ rằng mặt trời sẽ xuống và đêm về. Tôi vẫn thích ngồi ở đó mặc cho mặt trời chiều, giòng nước và những giề lục bình hối hả. Ngồi ở đó ngâm đôi chân xuống nước, nhìn bầy chim bay ngang đầu nhớ tới câu hát ru em "chim bay về núi tối rồi, chị em lo liệu lấy nồi nấu cơm" và tưởng tượng tới cảnh hai chị em mồ côi đưa nhau vào trong núi sống và chiều chiều nhìn bầy chim, từng bầy chim bay về núi, nghĩ tới cảnh gia đình chim đang ăn bữa cơm chiều mà nghe nao nao ở trong lòng. Ngồi ở đó nghe đôi chân mát lạnh, nghe gió bờ sông thổi tung những sợi tóc mai sợi ngắn sợi dài cắt ngang mặt. Tôi vẫn ghét những sợi tóc mai không ra ngắn ra dài này và vẫn thường lấy kéo cắt phăng chúng đi nhưng ít lâu sau chúng lại mọc ra như cũ. Và tôi phải mua mấy chiếc kẹp mất năm đồng để kẹp chúng lại. Tôi vẫn thích ngồi ở đó cho đến khi bóng tối đã nhọ mặt, đôi chân đã tê cóng vì ngâm nước quá lâu và nghe trên nhà tiếng dì Sáu nói lớn: Thanh, con gái con gú tối rồi mà còn ngồi ở ngoải chi con, lúc bấy giờ tôi mới chịu đứng dậy  đi chân trần trên lối đi nền đất nện cứng dẫn vào nhà, vừa đi vừa nghe lành lạnh buồn buồn ở chân.
 
Nếu lúc trước tôi vẫn thích mẹ giao cho mỗi tháng mua dừa khô về nạo ra để thắng dầu dừa dùng cho cả tháng. Dừa được thắng thành dầu còn lại cứt dừa màu vàng thẫm, tôi vẫn thích ăn cứt dừa nghe nhẫn nhẫn, béo béo. Đó là những cái thích kỳ cục như chị Trang vẫn thường nói. Và bây giờ thừa kế... sự nghiệp của chị Trang để lại tôi lại có thêm cái ý thích thức dậy thật sớm, đưa những nhát chổi trên nền gạch, gom lại những cánh bông sứ, bông công chúa rơi rụng trong đêm hoặc từ chiều hôm trước.
 
Thừa kế sự nghiệp của chị Trang tôi còn có "căn phòng ẩm mốc", căn phòng mà hồi anh Vũ và anh Nguyễn về nhà lần đầu dì Sáu và chị Trang đã phải quét rửa đến mấy thùng nước mà vẫn còn mùi ẩm mốc. Và bây giờ lại là nơi học bài lý tưởng nhất.
 
Không hiểu tại sao nằm ở trên chiếc trường kỷ trong căn phòng ẩm mốc đó lại học bài thật là mau thuộc. Tôi cũng có nghe lời anh Nguyễn bẻ mấy cành trắc bách diệp mà anh Nguyễn vẫn gọi là "cây thuộc bài" đem ép vào mấy quyển vở. Không hiểu có phải vì sự... linh nghiệm của cây thuộc bài mà mấy lúc gần đây tôi lại học bài mau thuộc ghê đi. Nhiều hôm buổi tối mê xem thoại kịch của vô tuyến truyền hình quên cả học bài, vô lớp mới mang bài ra học vậy mà lúc bị gọi lên đọc bài tôi vẫn thuộc bài một cách trôi chảy.
 
Tôi đem việc này tuyên truyền với tụi con Quỳnh, con Nhã, tụi nó tin quá chừng chừng và đã xúm nhau "tàn phá dung nhan" mấy cây trắc bách diệp trước nhà làm dì Sáu buổi chiều ra tưới cây đã cằn nhằn mấy đứa trẻ không ít về chuyện này vì dì lầm tưởng mấy đứa trẻ nghịch phá.
 
Kể từ ngày ông ngoại nằm xuống, sau đó đến phiên bà ngoại, dì Sáu mỗi ngày lại xách nước tưới những chậu cây kiểng mà ngày xưa ông ngoại đã ra công chăm sóc. Khu vườn nho nhỏ ngày một tiêu điều hơn vì không được chăm sóc, cắt xén. Những bông hồng bây giờ đang ở thời kỳ tàn rũ mặc dù tôi đã ra công vun quén. Ngôi nhà ngày một hoang phế cũng như  sự héo hắt của mẹ sau ngày ba bỏ đi.
 
Và bây giờ lại thêm chị Trang ra đi.
 
Và dì Sáu vẫn là chiếc bóng lẻ loi đi ra, đi vào ngôi nhà mái ngói rêu phong này.
 
 
NGUYỄN THIẾU NHẪN      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 35, tuần lễ từ 20-1 đến 27-1-1972) 
 

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

CHUYỆN CÁI RĂNG - Võ Hồng

 
Văn có những kỷ niệm không mấy êm đềm về những cái răng của mình. Kỷ niệm xưa nhất lảng vảng vào chặng chàng lên chín, mười tuổi. Lúc bấy giờ, dù nhỏ, chàng đã phải đóng vai một cậu học sinh đi trọ học ở trường Huyện. Mỗi tuần về thăm nhà một lần vào chiều thứ Bảy, chàng đã vừa đi vừa chạy để nuốt cho hết quãng đường dài hơn ba cây số cốt sao cho đến bến đò Cây Dừa mặt trời vừa lặn. Đoạn đường từ xóm Bình Hòa ra đến bến đò là một bãi cát rộng đầy bụi gai xương rồng và mồ mả. Từng chặng nổi lên một cây mù-u hay một bụi tre. Sự có mặt của những chòm cây lớn không giảm bớt cái không khí hoang lạnh ma quái của bãi cát vắng. Thỉnh thoảng một bông vú dẻ đưa hương ngọt ngào nhưng Văn không dám dừng lại hái. Chàng lầm lũi bước, tầm mắt cố khép lại ở ngang hai rìa đường và lưng chàng như tê cứng. Tiếng “rẹt” của con rắn mối chạy vội vã vào bụi rậm đủ làm cho một luồng máu lạnh dâng lên chạy tràn ra khắp lưng. Chàng giữ để khỏi nhìn ra đằng sau lưng. Chàng nghĩ, nếu lỡ nhìn ra sau, chàng sẽ hoặc ù té chạy hoặc ngất đi nên chàng nắm chặt sự can đảm trong hai bàn tay nhỏ, cúi nhìn xuống từng hòn đá dưới chân và chú ý chỉ nghe tiếng chân mình sào sạo trên sỏi. Bé bỏng và nhút nhát chừng ấy mà Văn đã phải một mình chống chọi với một cái răng sâu khi xa nhà. Mỗi lần răng nhức, chàng vào nằm ở bộ ván sát vách cong lưng và co quắp chân lại áp phía có răng sâu xuống gối. Chàng cố gắng ngủ, bỏ những bữa cơm trưa cơm tối. Chủ nhà trọ thấy vắng chàng ở bữa cơm, lơ đãng hỏi:

- Thằng Văn sao không đi ăn cơm?

Tiếng một đứa bạn ở trọ trả lời cũng một cách lơ đãng:

- Thưa thím nó nhức răng.

- Tội chưa.

Và tiếp theo là tiếng bát đũa va vào nhau, tiếng húp canh xì xoạt, tiếng cười nói ồn ào. Những buổi tối, Văn nằm im ôm cái má có răng nhức đưa mắt lén nhìn gia đình sum họp của người chủ trọ. Lũ con của nhà chủ quây quần xung quanh cha mẹ. Thằng Tư lên 5 tuổi kéo em nó để đòi má bế. Con Ngọc lên 9 tuổi mà được cha nó vuốt tóc và kiểm soát tai, mũi:

- Ơ này mình ơi, sao tai con Ngọc có cái mụt gì thế này?

- Đâu? Đâu nào?

Bà chủ trọ lật đật bỏ con nhỏ xuống, kéo đứa chị lại gần mình để xem xét cái tai. Đôi mắt nheo nheo đầy tình trìu mến. Xem xét sờ mó một lát, bà mỉm cười:

- Cái mụt cóc nó có từ hồi 5 tuổi.

Nói đoạn bà cúi xuống hôn tóc con rồi vội đẩy con ra:

- Mồ tổ cha mày, cái đầu chua lét. Trưa mai nhắc má gội cho.

Sự đầm ấm trong gia đình người làm cho Văn tủi thân. Nó mường tượng đến quê hương nó, đến con đường của xóm Lò Gốm đầy đá và mẻ sành, đến cái cổng nhà nó, đến cái bàn cái ghế, con chó, cái giếng, đến cha mẹ và lũ em nó. Ôi! Bao nhiêu là đầm ấm, thế mà nó phải nằm một mình ở đây, ôm một cái răng nhức và chỉ biết đợi cho cái răng tự ý êm đi. Giá ở nhà, nó sẽ đi lại cái bàn kê ở đầu giường lấy lọ dầu Nhị Thiên chấm một giọt nhỏ vào lỗ răng. Thơm, cay và đỡ nhức biết bao! Trong cái khay đặt trên bàn đó sao mà lắm dầu, lắm thuốc dầu chanh, dầu chổi, dầu cù là, dầu bạc hà, an-côn đờ măng 1 Nó thèm thuồng mà nghĩ rằng một thứ dầu nào trong số những lọ dầu kia cũng đủ sức để làm mất cơn đau. Ở đây thì không có gì cả, không có món gì dự trữ trong nhà. Nước mắm, dầu hỏa mà cũng sai con xách chai đi mua ở hàng quán. Ở nhà nó, nó không hề nghe đến tiếng “hết”. Không hiểu vì sao mà chai luôn luôn có dầu có nước mắm, tỉn luôn luôn có bột có đường, khạp luôn luôn có gạo. Sự sung túc ấy Văn phải giã từ để sống cuộc đời trọ học thiếu thốn khắc khổ, nhất là những khi ốm đau. Sự suy nghĩ miên man làm nó quên bớt đau và nó ngủ hồi nào không hay.

Cái răng sâu ấy sau đó không biết do ai nhổ. Có những kỷ niệm rõ ràng nằm ôm răng nhức mà lại không nhớ cái kềm nào đã thò vào để nhổ cái răng ấy đi, thật cũng lạ.

Bẵng đi một thời gian dài, cuộc sống không bị đánh dấu bởi những cuộc nhức răng nữa. Năm mười chín hai mươi tuổi, rút kinh nghiệm những cái răng sâu thuở nhỏ, Văn nhìn cái răng hàm có chấm đen một cách nghi ngờ. Làm hư răng là những cái chấm có bề ngoài hiền lành vô hại này. Có phương tiện để lo xa, - lúc bấy giờ chàng đang ở Hà Nội, - chàng ghé lại mấy hiệu chữa răng trồng răng, Minh Sinh hay Kim Sinh gì đó. Hiệu nào bề ngoài trông cũng qui mô rực rỡ. Những hình vẽ hàm răng bổ ngang bổ dọc với gân đỏ, gân xanh có vẻ như dọa nạt chủ nhân của những chiếc răng hư. Vừa bước vào hiệu, chàng bị chủ nhân xoắn lấy. Rồi thì miệng ba hoa, tay múa may, chủ nhân giảng cho chàng nghe tất cả những sự hiểm nguy của một vết đen trên răng, những hiểm nguy có thật do khoa học tuyên bố và những hiểm nguy tưởng tượng do chủ nhân tự bày đặt lấy. Tiếp theo, chủ nhân bưng ra một khay đựng đầy những dụng cụ mạ kền trắng tinh trong đó có mọi thứ kềm đủ cỡ. Chủ nhân lấy đưa chàng coi một cái kim mảnh mà dài vừa nói một cách long trọng:

- Tôi sẽ lấy “ne”2 cho ông.

Sự biểu diễn quá chu đáo khiến Văn đâm ra nghi ngại. Chàng lén nhìn sang cái môi dày của nhà khoa học, - tức chủ nhân, - đôi hàm răng khập khễnh và cặp mắt ti hí. Nhìn rộng ra khuôn mặt, chàng thấy khó lòng có một điểm thông minh nhỏ lạc loài ở một vị trí nào trên khuôn mặt đó. Đưa mắt nhìn rộng hơn, chàng kết luận rằng chỉ có cái áo blouse trắng mà chủ nhân khoác, cái ghế ngồi dành cho nạn nhân và cái khay đựng kềm đủ cỡ là có tính chất khoa học mà thôi. Chàng phải lật đật vừa đứng dậy vừa nói:

- Hôm nay tôi đến hỏi thăm cách chữa của ông. Sáng mai tôi sẽ lại.

Chủ nhân cũng lật đật vui vẻ:

- Vâng. Sáng mai xin mời ông trở lại. Chúng tôi làm việc rất cẩn thận nên rất được tín nhiệm. Vâng. Kính chào ông… Vâng…

Văn không biết tiếng “vâng” cuối cùng là tiếng nhận lời chào của chàng hay tiếng “vâng” chuyển mạch quen miệng của anh nha sĩ. Nhưng chàng biết chắc chắn là mình vừa thoát nạn.

Sau đó, một người bạn quen mách chàng:

- Răng “toa” mới có chấm đen, đừng đến nha sĩ tốn tiền. “Toa” ghé lại phân khoa nha y của trường Thuốc ở ngang góc đường Tràng Tiền Hội Vũ. Ở đấy có giáo sư chuyên môn dạy cho các sinh viên nha khoa. Sinh viên họ chữa cho dưới sự chỉ dẫn của giáo sư.

Lời đề nghị nghe rất hợp lý, Văn nghe theo. Chàng đến đúng giờ làm việc của phân khoa và sốt ruột ngồi ở phòng đợi, chờ đến phiên mình. Để giải trí, chàng để ý đến mọi chi tiết nhỏ xung quanh. Thú vị nhất có lẽ là khi nhìn cái anh sinh viên mang kính, mỗi lần gọi tên người bệnh thì gọi rất nhỏ và gọi giọng Tây. Gọi giọng Tây nghĩa là đánh vần các tên Việt Nam một cách khó nhọc vì gặp những vần ngớ ngẩn và những dấu giọng kỳ quái. Chẳng hạn vần uyên, oach… dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng. Anh sinh viên chừng đã nhẫn nại hết sức mới giữ cho khỏi phẫn nộ vì những cái tên oái oăm. Ngược lại anh, ông giáo sư người Pháp của anh thì hình như bất cần những băn khoăn hình thức đó. Ông bận sơ mi ngắn, quần tây cụt, mang xăng-đan đi đi lại lại không nhìn ai. Lũ lông lá đen ngòm trên cánh tay, trên ống chân cũng thản nhiên phô bày không ngượng nghịu, không giấu giếm, không kiểu cách. Chị sinh viên áo hoa cà dáng chừng con nhà quí phái nên nhìn cái răng nào của ai cũng tỏ vẻ khó chịu. Tiếc thay người ta lại chỉ đem răng - mà toàn những răng hư hỏng - đến cho chị săn sóc nên chị không biết làm cách nào khác. Cái nhún vai và cái bĩu môi lặp đi lặp lại một cách đều đặn, cuối cùng, Văn coi như là một cử chỉ chào đặc biệt của chị, chào những cái răng mới tới.

Văn được một chị sinh viên thân hình cục mịch mặt mũi hơi xấu xí mời vào ghế da. Chàng băn khoăn không biết như thế là may hay rủi. Người xấu xí thường làm việc rất tận tâm nhưng cũng có thể rất dễ cáu. Chị bắt chàng há miệng, liếc nhìn cái răng một cách lạnh lùng rồi cho máy khoan vào nạo. Văn sợ sự tàn nhẫn của hai bàn tay trả thù, vì một người không đẹp thì có rất nhiều mối thù, thù những người đẹp, thù ông trời, thù cha mẹ, thù cả những vật, những người không can dự gì đến sắc đẹp của họ hết.

Sau mười phút hồi hộp, lo lắng, chàng được giải phóng. Về đến nhà trọ chàng lật đật đem gương ra soi xem thì thấy một đường trám trắng tinh nằm giữa răng. Màu trắng tinh sạch có đủ tính chất khoa học làm chàng yên tâm và tin tưởng. Đi giữa phố đông đảo chàng có cái thú hiên ngang của một người lành mạnh.

Nhưng cái thú ấy hưởng không được lâu. Chừng hai tháng, thứ xi măng trám tuy vẫn giữ y màu trắng nhưng bị mòn đi, trũng xuống. Chàng chưa kịp đưa ra đi trám lại thì chiến tranh bùng nổ phải chạy tản cư về quê. Cuộc chiến kéo dài, cái răng lủng dần, sâu rộng ra, hóa thành cái răng sâu thật sự. Thế là như mười mấy năm trước, sự vui buồn của chàng vốn chịu lệ thuộc ở nhiều điều kiện, nay lại lệ thuộc thêm ở cái răng hoặc êm hoặc nhức. Thật vô lý hết sức là những cái răng sâu.

Nó nhức bất ngờ cũng như nó êm không hẹn trước. Sáng ngủ dậy cảm thấy rêm rêm mà tìm mãi nhất định không thấy lý do vì đâu. Nhức nhối tưởng có thể vỡ đầu ra được, thế mà nằm ngủ một giấc, - giấc ngủ đầy những mộng mị, cố nhiên, - sáng ra thấy êm ả y như chẳng có việc gì vừa xảy ra hết. Sự bình thản êm đềm ấy có một vẻ gì dối trá giống như một buổi sáng tươi nắng sau một đêm giông tố.

Văn chịu đựng sự hành hạ độc đoán của cái răng mà không đòi hỏi gì ở nó hết. Nó không còn đủ khả năng để nhai nữa. Nó cũng không đóng vai “có mặt” như những cái răng cửa mà nhiều khi người ta giữ lại với một mục đích là để kín hàm răng. Mặc dù vậy, nó vẫn cứ bể lần, bể lần. Cho đến một ngày nào đó trong cái năm kháng chiến không biết thứ mấy, Văn phải giao nó cho cái kềm của ông bác sĩ. Sự phân khoa học của ngành y học hiện đại chỉ cho phép ông bác sĩ toàn khoa nhổ được răng chớ không chữa được răng. Chàng yên tâm vứt bỏ nó mà không phản kháng gì hết vì sống bấp bênh giữa chiến tranh người ta không có quyền lựa chọn. Vả lại một cái răng thì có nghĩa gì khi cả cuộc đời một người cũng có thể dễ dàng bị xóa bỏ trong một vụ thả bom, trong một cuộc càn quét. Huống chi đời sống kham khổ trong khói lửa đâu để cho người ta có thì giờ và có phương tiện nghĩ đến những bộ phận phụ thuộc của con người như “cái răng cái tóc”.

Tuy vậy, sau đó khi một cái răng cửa mẻ đi một cạnh, Văn không giữ nổi bình tĩnh nữa. Chàng phải đi Bồng Sơn cậy một người thợ trồng răng người Trung Hoa. Đó là người thợ giỏi nhất, theo như lời nhiều người giới thiệu. Anh ta nạo bỏ cái phần sâu của răng và bịt vàng viền xung quanh. Lần này Văn tin cậy một cách rất tương đối ở lối chữa đó của anh thợ. Nạo lớp sâu mà không có thuốc gì khử được sâu đi thì tai họa chỉ bớt đi, làm cho chậm xảy đến chớ không phải là hoàn toàn rạch bỏ tai họa. Nhưng vì lối chữa đó là độc nhất nên chàng phải tạm bằng lòng. Những lúc này, chàng thấy ước muốn được chữa bởi mấy anh chị sinh viên cẩu thả ngày trước. Vì dẫu sao họ cũng còn phân biệt được thế nào là cẩu thả phản khoa học thế nào là khoa học thật. Nếu họ không làm chu đáo là vì họ không muốn làm chớ không phải là vì họ không biết làm. Còn người thợ này thì chắc chắn là anh ta chỉ nhờ cậy ở trực giác, và nếu may mà có thì giờ ở kinh nghiệm.

Hai năm… Ba năm trôi qua. Thỉnh thoảng nhìn vào gương chàng dò xét cái răng và ngạc nhiên thấy nó không bị sâu thêm. Mặt răng vẫn một màu ngà trắng. Chàng lạc quan kết luận: Anh thợ Trung Hoa coi vậy mà làm nên việc. Sự luộm thuộm phản khoa học không ngờ lại đem lại kết quả tốt. Nếu không nạo sâu và viền vàng, cái răng dễ đã hư mất từ lâu rồi. Và chàng thầm hẹn: Đừng bao giờ vội kết luận khi vấn đề chưa kinh qua thời gian.

Sau đó, chiến tranh chấm dứt. Cuộc sống có đủ tiện nghi trở lại. Cái viền vàng của kỹ thuật thời tiền chiến bị xem là lạc hậu so với kỹ thuật răng xương vặn pi-vô, cũng như những mái tóc chải vồng, những mái tóc bỏ vào lưới rất hợp thời thuở tiền chiến đã bị thay đi bằng những mái tóc uốn quăn nhuộm màu. Văn không muốn chạy theo thời trang nhưng mối băn khoăn vì cái răng chưa được chữa kỹ thỉnh thoảng vẫn ám ảnh chàng.

Một buổi chiều thứ bảy rảnh việc chàng đi rong chơi thành phố. Qua một ngã tư, vì phải đợi một đoàn xe dài chạy nối đuôi nhau, chàng lưu ý đến một tấm bảng Nha sĩ quen quen. Nơi này trước kia lại là một hàng giải khát có khá đông nữ chiêu đãi viên. Chàng tò mò nhìn con đường rải sỏi dẫn vào nhà, cái giàn hoa ti-gôn màu vàng nhạt. Nhớ tới cái răng hôm qua hơi ê và bực mình vì đoàn xe rầm rộ chạy không dứt, chàng bước vào phòng nha sĩ.

Khi ngồi vào ghế da, chàng chỉ cái răng và kể tiểu sử của nó. Nha sĩ lắng tai nghe. Đó là một người dong dỏng cao, mắt nhỏ và tròn. Nét mặt có một vẻ nghẹn ngào bằng lòng, dễ dãi và cam chịu. Người này lúc nhỏ đi học chắc thường bị chúng bạn ăn hiếp. Đôi má nhếch lên theo thói quen và nếp nhăn ở đôi mắt như chuẩn bị để nhăn theo một cái cười giải hòa. Hàm rộng khá rậm râu, chân râu vào buổi chiều đâm tua tủa. Nghe chàng trình bày xong nha sĩ thò kềm tháo cái viền vàng, lấy cái châm nhọn do thám kẽ răng rồi đột nhiên nói:

- Ở dưới nuớu răng của ông có mọc một cái mụt.

- Vâng, tôi biết.

- Cái mụt mọc đã bao lâu? Ý tôi muốn nói lần đầu tiên một cái mụt như thế mọc ra, ông nhớ lại xem cách đây bao lâu?

Văn ngần ngừ tính toán một lát nhưng quả tình chàng không nhớ rõ bao lâu. Chắc đã có từ lâu lắm nhưng nghĩ ngượng ngượng, chàng nói:

- Chắc chừng 5, 6 tháng.

Nha sĩ đứng xích ra và nghiêm trọng nói:

- Ông cần rọi điện và chụp hình hàm răng.

Văn ngạc nhiên như mình vừa nghe lầm. Nha sĩ chừng quen với những phản ứng im lặng như vậy của bệnh nhân nên điềm tĩnh giảng giải:

- Cái mụt mọc ở mãi trong này khiến tôi nghi ngại là xương hàm bị có mủ. Sâu răng nó không ăn ra ngoài răng được nên nó ăn vào xương hàm. Phải rọi điện và chụp hình thì mới biết chắc mà chữa.

Thế là chàng từ phòng nha sĩ đi ra, tay cầm tờ giấy giới thiệu đi rọi điện. Lại vô lý hết sức là cái răng, - chàng bực tức nghĩ. Tưởng nhờ nha sĩ băng thuốc, lấy gân máu rồi cưa tra răng xương vào, công việc dễ dàng và đơn giản như vậy, ai ngờ lại đi tìm thêm sự rắc rối. Mà cái răng có vẻ đòi hỏi gì cho cam!

Nó vẫn tử tế như thường ngày. Con mắt xoi mói đa nghi của nhà khoa học để vào đâu là y như họ thấy tai nạn có thể xảy ra từng chuỗi. Nhưng đã trót nghe trót biết, chàng phải làm y theo lời nha sĩ vậy.

Chiều hôm đó chàng đến phòng mạch của bác sĩ rọi điện. Khi xe lái vào dưỡng đường, chàng lưu ý xem trên đường có những người quen nào thấy mình chăng. Chàng ngại bị bắt gặp bước vào một phòng khám bệnh. Chàng lấy dáng mạnh bạo, vẻ mặt vui tươi bình tĩnh bước vào. Y như một người đi thăm người bệnh hoặc mình là bạn đến thăm ông bác sĩ.

Ở phòng đợi nhiều người đàn bà ngồi. Có người bình tĩnh như ngồi đợi một chuyến tàu. Có lẽ bệnh hoạn đối với họ đã quen thuộc. Một người đàn bà có mang bế một đứa bé gái chừng 2 tuổi. Đứa bé khóc, quấy, đứng dậy ngồi xuống bà người đàn bà nhẫn nại chiều theo mọi cử động của con, miệng không ngớt dỗ dành. Đôi mắt người đàn bà chỉ nhìn xuống con và nhìn xuống đất. Thỉnh thoảng khi con thét lên thì đôi mắt ấy liếc nhanh qua hàng ghế trước mặt như ngầm xin lỗi. Văn thấy quả đáng tội nghiệp là những người đàn bà. Họ nhận hết những phiền phức, những tội lỗi về họ.

Trước mặt chàng, một người đàn ông cũng đang ngồi đợi. Vẻ mặt buồn và dáng ngồi khép nép nhu mì. Sự cô đơn, dù vậy, vẫn chứa một vẻ gì ích kỷ. Khi đau ốm, người đàn ông thường chỉ lo cho thân mình, còn người đàn bà đa mang hơn. Đó là một vấn đề phân công, chàng biết vậy, nhưng chàng vẫn cảm thấy mình thiếu thốn bổn phận hết sức khi nhìn những người đàn bà bận rộn kia.

Một tiếng phanh xe xích lô lách cách vang lên. Lại một người đàn bà bế con bước xuống. Bộ quần áo nhầu nát và cái chăn quấn con bẩn thỉu phù hợp với vẻ mặt cằn cỗi tối tăm vì nghèo.

Đứng một lát thấy mỏi chân, chàng ghé ngồi xuống một đầu chiếc băng gỗ. Vừa ngồi chàng vừa thầm trách mình: trong sự lo lắng vì bệnh tật, mình còn phân biệt sự sang hèn của chỗ ngồi. Ừ, mà thật vậy, những cái băng gỗ sơn xanh như thẹn thùng vì không nhận được những người khách sang trọng. Người đàn ông độc nhất ăn mặc đứng đắn là chàng thì chắp tay sau lưng đi đi lại lại, hết nhìn những tấm phim rọi phổi, rọi xương sống, vỏ não, tử cung…, đến lẩm nhẩm đọc hết mọi chi tiết quảng cáo thuật “đẻ không đau”. Những người đàn bà đẹp và sang trọng không thấy ngồi ở cái băng bình dân ấy. Họ bước xuống xe, đi thẳng lại cửa kính gõ nhẹ vài cái, tức thì cửa kính hé ra, đớp mất họ rồi khép kín, im ỉm. Những người ngồi ngoài càng thấy mình nhẫn nại và cam chịu. Một người đàn bà dáng chừng đanh đá, không chịu thua, bước tới đứng chực sẵn ở cửa. Khi cửa hé nhả ra một bệnh nhân tươi tỉnh thì người đàn bà xông vào không để cô y tá kịp giữ lại. Và cánh cửa lại khép. Vừa đến sau, vừa không phải là người đẹp, Văn đành ngồi tẩn mẩn thương hại vẩn vơ cho con người phải tranh giành nhau cả trong những trường hợp không thích thú gì cho lắm.

Khi cô y tá lách mình ra mời chàng vào, sự hồi hộp làm chàng hơi choáng váng. Một cái răng, một mảnh xương hàm giá trị thật không bao nhiêu so với những hồi khám phổi khám tim nhưng vì nó có giữ những bí mật nên nó cứ gây ra hy vọng và thất vọng liên tiếp. Sự hồi hộp quá dễ dãi khiến chàng hơi bực mình.

Khi nằm lên cái bàn dài ở phòng tối, chàng khó chịu nhìn cái máy đồ sộ mà ông bác sĩ cho chạy nhè nhẹ từ trên cao áp gần xuống mặt chàng. Đây là cái máy nói sự thật, những sự thật thường là khiếp đảm, những sự thật phũ phàng phá vỡ hạnh phúc của những đời người. Nhưng niềm lo lắng của Văn vụt nhiên thấy nhẹ đi, như loãng ra khi chàng liên tưởng đến những bệnh nhân mang những bệnh trầm trọng đã từng nằm dưới cái máy này, đã đứng trước cái máy này. Tiếng ông bác sĩ vang nhè nhẹ trong cái khí lạnh âm u:

- Ông nằm có thấy khó chịu không? Cái gối để như thế có vừa không?

Tiếng trả lời của chàng như tắt nghẽn:

- Vâng… Tốt… Được.

- Ông há miệng to ra. Đúng là cái răng này đấy nhé? Ông để hai ngón tay giữ dùm miếng phim này. Vâng. Vâng. Giữ chặt như thế… Vâng. Ông yên lặng… Xong rồi.

Mọi việc xong trong nháy mắt. Cái phút quan trọng đã qua rồi. Khi ra bàn giấy để trả tiền, chàng lưu ý nhìn ông bác sĩ và các cô y tá. Những người này tràn đầy sức khỏe giữa bầy bệnh nhân đang vây quanh họ. Chắc họ dễ cảm thấy họ sung sướng và yêu đời khi hàng ngày va chạm với toàn những người đau khổ. Hạnh phúc là một ý niệm tương đối. Vậy làm y tá chắc là dễ bằng lòng hơn làm nhân viên ngân hàng, nhân viên ngân khố chẳng hạn. Lương mỗi tháng vài ngàn bạc mà cứ phải mãi nghe những con số triệu, tiếp xúc hàng ngày với những người mà con số ngàn không được ghi thành chương mục trong óc, mà tâm trí chỉ chịu bận bịu với những con số từ mười vạn trở lên thì thật tủi thân vô cùng. Thật y như một người kém nhan sắc mà cứ phải nhìn mãi bóng mình trong tấm gương soi ở hiệu uốn tóc.

Cô y tá nhí nhảnh thưa:

- Thưa ông chiều mai đến lấy phim.

- Giờ này?

- Vâng.

Chàng mở cửa bước ra hiên. Không khí ở ngoài mát mẻ ôm chụp lấy chàng. Những bệnh nhân đang ngồi đợi đều ngẩng mặt lên một loạt nhìn vào chàng để tìm đọc một nét đau khổ. Chàng phải mỉm cười nhè nhẹ vừa cúi nhìn xuống đất.

Bụi bông giấy mọc ở mé hiên lá xanh dày, sáng rực một màu xanh dịu dàng. Rời bỏ những máy móc vừa nhắc đến nỗi khổ triền miên của loài người, chàng thấy lòng mình êm dịu lại khi tựa vào thiên nhiên vui tươi và lành mạnh.

Xế hôm sau Văn đến lấy phim. Sự hồi hộp, hy vọng và lo sợ đã quen đi, hôm nay chàng thấy mình rất nhẫn nại, chuẩn bị để nghe những tin xấu về cái răng. Chàng định ăn mặc thật cẩn thận, giày mới và ca-vát tươi màu để tránh cái vẻ dáng thương hại của một người có khuyết điểm, nhưng nghĩ thì hăng hái như vậy mà khi thực hành chàng thấy không đủ hào hứng. Rốt cuộc ca-vát có tươi màu mà đôi giày thì vẫn đôi thường ngày. Cô y tá nhí nhảnh chào chàng:

- Thưa ông đến lấy phim?

Lẽ tất nhiên. Sao cô không tìm được một lời chào nào khác hơn? Thấy mặt mũi cô đẹp đẽ dễ yêu, chàng mỉm cười không trả lời, nụ cười giễu cợt nhẹ nhàng. Thông minh, cô đáp lại cũng bằng một nụ cười nhỏ rồi khẽ cúi đầu quay vào.

Sự tiếp xúc với phòng bệnh hôm nay bắt đầu bằng nụ cười làm chàng hơi vui vui. Ông bác sĩ tiếp chàng và đưa cái phim, chỉ một vết trắng nhỏ ở chỗ xương hàm. Thế là cái răng bị tuyên án. Bao nhiêu nỗi băn khoăn hồi hộp cuối cùng được kết thúc một cách trơ trẽn bằng cái vết trắng ấy trong mảnh phim. Sự có mặt của ông bác sĩ chợt trở nên vô ích và lời nói của ông cũng hóa ra lạt lẽo. Cái gánh nặng của sự âu lo không biết đã rơi đâu mất hay bỗng thành nặng quá, quá sức cảm giác của chàng. Chàng cầm lấy phim giơ lên một cách thất vọng. Cái vết trắng sờ sờ ra đó, chàng không thể mong là một sự huyền hoặc. Chàng cúi chào ông bác sĩ rồi quay gót.

Cô y tá cầm tay nắm cửa, hé mở vừa mỉm cười chào chàng. Chàng lách mình đi qua. Chợt thấy mình thiếu xã giao một cách vô lý, chàng khẽ mỉm cười trả lại nhưng cô y tá đã ở quá sau lưng, cái mỉm cười nở quá chậm. Giận dỗi, chàng nện mạnh gót giày xuống nền nhà và gọi xe đến phòng nha sĩ.

Vừa gặp chàng, ông nha sĩ nói ngay:

- Tôi đã được xem cái phim của ông. Hồi 11 giờ trưa nhân qua đó lấy cái phim của một người quen, tôi có hỏi xem cái phim của ông. Thật đúng như lời tôi đã đoán.

Hy vọng rằng ông có thể lầm với rằng ai chăng, chàng móc đưa tấm phim. Ông cầm lấy, giơ lên ánh sáng và chỉ cho chàng xem.

- Cái chân răng này tốt, ông thấy chưa? Còn chỗ chân này bị làm mủ vào xương hàm.

Chàng hỏi:

- Thế ông có cách gì chữa?

- Phải nhổ thôi.

- Không thể có cách khác?

- Chỉ có nhổ. Nhổ đi rồi mới làm curetage 3 được.

Im lặng một phút. Cuối cùng chàng nói một cách chán nản:

- Nếu không có cách nào khác thì đành phải vậy chớ biết làm sao?

Chàng tránh không dùng chữ “nhổ”, coi như nói lên chữ ấy là mình đã mạnh bạo đồng ý với nha sĩ. Có thể người nha sĩ sẽ vin vào chữ ấy để xem như chính chàng ra lệnh. Nhưng ông nha sĩ dáng chừng bình tĩnh đến mức độ không cảm xúc. Lập tức ông ra lệnh cho anh phụ lấy ống tiêm, thuốc tê. Ông châm mũi tiêm vào nướu, châm chỗ này rồi chỗ nọ, cùng khắp vội vàng. Rồi xoi, rồi kềm, ông ta túi bụi nạy, kéo, mắt chăm chăm nhìn vào cái răng như thù hiềm, như sợ nó trốn đi mất. Cuối cùng, một tiếng “xoảng” trên nắp khay cái kềm bỏ xuống, miếng bông thuốc ấp vào và Văn hoàn toàn là một bệnh nhân thiểu não.

Trên đường về nhà, chàng thầm thương cho mình và cho anh thợ trồng răng hiệu Hồng Phát mà chàng vừa ghé cách đây năm bữa. Bữa ấy chàng còn đinh ninh là răng mình còn tốt và người thợ trồng răng rất đồng ý với chàng về điểm đó. Anh ta đề nghị một cách êm đẹp:

- Tôi lấy gân máu cái răng này rồi tôi sẽ cưa đi. Xong đâu đó, tôi tra pi-vô răng xương vào. Răng xương “mác” bên Tây cẩn thận có bảo đảm và vàng 18 ca-ra chớ không phải răng Nhật đâu.

- Bao nhiêu tiền?

- Tôi lấy ba trăm mỗi cái.

Chưa có kinh nghiệm về giá, nhưng chàng cũng kêu lên theo thói quen của người mua:

- Đắt vậy?

- Giá biểu tôi vẫn đề sáu trăm đồng một cái.

Chàng liếc nhìn lên tấm ghi giá biểu và đồng ý là anh thợ nói thật.

- Các nha sĩ họ đều tính sáu trăm đồng một cái.

- Thế cưa đi thì mấy ngày mới tra được răng mới vào?

- Cũng phải hai ngày.

Chàng cười to lên, như chế nhạo người thợ nói lẩm cẩm:

- Anh bắt tôi phải trống hàm răng trong hai ngày! Một ngày thôi. Một ngày chủ nhật.

Anh thợ lắc đầu:

- Một ngày thì không kịp vừa lấy dấu răng, vừa đúc thạch cao, vừa đổ vàng, vừa làm cho sắc sảo cạnh góc. Một ngày không được đâu. Hai ngày là nhanh nhất rồi đó.

Không chịu để cho hàm răng bị trống hai ngày để hôm nay chàng cam nhận một lỗ trống trong một tháng rưỡi. Vì lời ông nha sĩ còn như văng vẳng bên tai:

- Cái răng nhổ xong, ông phải súc miệng với Septyl trong 10 ngày. Uống Trisulfazine, Tetracycline 10 ngày. Một tháng rưỡi sau nghĩa là (ông dò lên cuốn lịch treo tường để gián tiếp nhắc chàng nhớ rằng việc này quan trọng lắm) 15 tháng Giêng ông mới có thể trồng được răng mới.

Chàng lặng nghe, không phản kháng không mặc cả ngày tháng như lúc ngồi ở hiệu. Nghĩ đến đây, chàng thầm thương cho mình và cho anh thợ Hồng Phát. Đồng thời, mối lo len lỏi đến. Chàng làm nghề dạy học nên trống một cái răng không phải là việc dễ có thể bỏ qua. Trước nhất là sự xấu xí buồn cười của một hàm răng “trống cửa sổ”. Thầy giáo thường ngày vẫn nghiêm trang xứng đáng với sự tín phục của học sinh, mà tâm lý của người học sinh là không muốn chấp nhận một khuyết điểm nào ở nơi thầy giáo của họ hết. Thế thì bạn làm sao? Chắc chắn là không thể nói tự nhiên như ngày thường để cái lỗ trống làm trò cười cho học sinh khiến trí óc họ xao lãng mà lời giảng của mình cũng kém hứng thú. Nhưng che giấu cũng không được vì sớm chậm gì học sinh họ cũng tìm ra sự thật mà một khi họ đã tự khám phá ra sự thật thì họ sẽ yếu tố hiếp mình dữ lắm. Suy tính đắn đo đủ chiều, cuối cùng chàng quyết định: sẽ vừa nói sự thật vừa giữ cho mình không hóa thành trò cười.

Sáng thứ Hai chàng vào lớp. Sau khi đâu đó im lặng, chàng liếc nhìn cả lớp một cách chững chạc rồi tay trái che miệng, chàng chậm rãi nói:

- Tôi vừa bị một tai nạn nhỏ làm hỏng một cái răng. Phải trong một tháng rưỡi mới chữa xong. Trong thời gian đó, có những âm lưỡi, âm răng như PH, V tôi không phát âm rõ được. Xin anh chị em chịu phiền và nhất là giữ im lặng hơn ngày thường.

Vẻ mặt nghiêm trang và giọng nói hơi buồn khiến học sinh kính cẩn nghe. Họ không biết là chàng bị tai nạn gì. Có lẽ ngã xe chăng? Chắc không phải vì mặt mũi chàng lành lặn thế kia. “Còn chữa” nghĩa là thế nào? Nhưng chàng không để cho họ suy nghĩ lâu. Chàng mở sổ gọi đọc bài và như thế là mọi người giũ hết thắc mắc.

Đối với một vài lớp đầu tiên thì dễ như thế đó. Nhưng có những lớp đến thứ Tư hay thứ Năm thứ Sáu, chàng mới có giờ dạy thì tình hình biến chuyển bi quan hơn. Số là cái tin chàng bị gãy răng đã loan truyền đi và học sinh các lớp sau này cứ lén khúc khích với nhau khi gặp chàng khiến cho câu mở đầu mất vẻ tự nhiên và nghiêm trọng đi. Riêng ở một lớp nọ thì ngẫu nhiên mà có một học sinh cũng bị bẻ răng nên hôm ấy anh ta đi học cứ lấy tay bịt miệng. Oái oăm là chàng kêu nhằm anh ta lên đọc bài. Thế là ở dưới lớp chỗ này chỗ kia có tiếng rúc rích cười. Một chị học sinh chừng thú vị quá phải nói bật thành câu:

- Hai cha con…

Chàng nghe, cũng muốn cười theo vì lời có duyên và hợp cảnh. Nhưng chàng phải cố kiềm hãm tiếng cười. Lời pha trò có duyên thật khó làm cho ta giận được. Cũng như ta khó ghét một người đẹp dẫu người ấy có những khuyết điểm. Qua đi giai đoạn nhập đề, đến phần gay go là phần tiếp xúc hàng ngày. Phải tập sao cho bàn tay trái lúc nào cũng kịp thời đưa lên che miệng khi miệng phát ra một tiếng nói. Khi nói cả câu dài, khi giảng bài thì việc này không khó. Nguy nhất là những khi bật ra cười. Cười là cái biểu lộ tức thời có tính chất phản xạ tự nhiên. Đợi có một bàn tay đưa lên che miệng rồi mới cười thì cái cười đâm ra ngượng nghịu tính toán. Khi chưa quen khi chưa tập kiềm chế được, chàng đã vài lần lỡ cười rồi mới chợt nhớ ra mà ngượng nghịu mím miệng lại. Sau vài lần khuyết điểm như thế, chàng giữ thái độ khắc khổ của một người có tâm sự để đối phó với sự quyến rũ của những tiếng cười xung quanh. Đến việc phát âm. Những chữ phụ âm môi răng (consones labio-dentales) lúc nhỏ học văn phạm đọc thuộc lòng một cách khó khăn, bây giờ không cần coi lại sách mà vẫn nhớ. Cứ việc phát âm lên rồi chữ nào xì hơi ở ngay cái chỗ lỗ răng trống là biết ngay nó thuộc phụ âm môi răng. Ví dụ phụ âm V. Thật là phiền phức khi tiếng Việt có người chữ bắt đầu bằng V: vì, và, vâng, vả lại… Nhiều chữ khi gặp phải chàng tránh đi, như thay chữ “vì” bằng “bởi”, “vả lại” bằng “hơn nữa”. Nhưng đó là khi giảng bài, có thể hoặc nói hoặc không, có thể thay chữ này bằng chữ khác, còn khi đọc bài cho ghi chép thì không thể nào trốn tránh được. Có những đoạn oái oăm như:

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái.

Hoa để vàng bởi tại bóng dương

Hoa vàng hoa rụng quanh tường…

Mỗi lần đọc chữ Vàng, chàng phải làm ra vẻ lơ đãng lấy một ngón tay ấn khít môi vào chỗ lỗ răng trắng rồi mới phát âm. Chữ “vàng” phát ra nghe nhọc mệt và lờ mờ. Chàng nhớ liền đến lời ông nha sĩ khi chàng tỏ ra băn khoăn:

- Mất một cái răng trong hơn một tháng thật phiền cho việc phát âm.

Người nha sĩ trả lời không cần suy nghĩ:

- Mình sẽ vận dụng môi lưỡi để thay thế.

Ông ta không nói xem vận dụng như thế nào và chàng cũng không muốn quấy rầy hỏi kỹ, coi như đó là việc nhỏ. Mà quả thật, khi gặp vào việc thì tự nhiên mình tự biết cách xử sự lấy. Và phải gặp lúc mất đi một cái răng chàng mới thấy rằng nói tiếng miền Nam, như mình thật có những sự tiện lợi. Đó là khi, dùng chữ “Và”, một chữ hay trở lại trong câu nói. Nói giọng miền Nam, chàng dùng chữ “Với” và phát âm như “Viới”. Nhưng san phẳng đi được mấy trở ngại đó trong giờ nói tiếng mẹ đẻ thì khi dạy tiếng Pháp chàng không thể tránh những chữ Vous, Voir, Va, Viens… Ở đây thì không phân biệt giọng Nam giọng Bắc nào nữa chỉ còn phương pháp độc nhất là lấy ngón tay ép môi vào lỗ răng thôi. May thay, không người học sinh nào để ý đến cái ngón tay chiến lược của thầy. “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” chàng thầm nghĩ. Và chàng tự an ủi: “Mất đi một cái răng, mình có được biết bao những kinh nghiệm độc đáo về cái răng”.

Ngày đầu bàn tay trái phải luôn luôn giơ lên che miệng khiến cánh tay mỏi rừ. Những giờ cuối cùng trong ngày, cánh tay mỏi muốn run lên. Ngày hôm sau chàng phải ngồi lại bàn, chống một tay để xa trước miệng vừa nói, y như một diễn giả lấy điệu bộ hoặc như một nhà trí thức đang suy nghĩ. Vừa che giấu được cái xấu lại vừa tô điểm cho dáng dấp thêm đẹp, thật là một cử chỉ đơn giản mà quí giá. Sự phát minh này khiến chàng giảng bài một cách thích thú. Như một nhà nghệ sĩ mê say đi tìm những hình thức phô diễn mới, qua những ngày sau, chàng chỉ dùng một ngón tay trỏ cung lại để ngay trước miệng ngay chỗ cái răng trống. Và không biết vào ngày thứ mấy, chàng lại phát minh ra lối để dựng một quyển sách lên bàn cách xa mình 2 tấc, vừa đủ che miệng. Tuy vậy, những lúc thong thả thoải mái hơn hết vẫn là những lúc đứng ở cuối lớp quay mặt lên để đọc bài cho học sinh chép. Những lúc đó chàng khỏi phải che tay giấu miệng gì hết vì học sinh đều ngồi ngó lên thuận chiều với chàng. Sau chừng ba ngày những cử động quen đi. Biểu diễn thứ tự nhịp nhàng không còn lẫn lộn nữa. Dù vội vã trả lời lại, dù bất chợt bật ra cười, nhưng tay chàng đều kịp thời đưa lên che miệng.

Cái răng đã thường xuyên ám ảnh khiến lúc nào chàng cũng để ý đến cái răng. Gặp một người, ngồi nói chuyện là y như mắt chàng nhìn thẳng vào đôi hàm răng của họ. Và đến đây chàng mới thấy rằng mình đã sống rất hời hợt, tiếp xúc lâu với một người mà mình không hề nhìn kỹ họ. Lần này có nhìn kỹ mới thấy rằng người bạn mình mất hết một cái răng nanh hàm dưới khiến phía môi ấy móp lại. Một anh bạn khác nghe chàng than phiền về cái răng gây ra tai họa liền tươi cười đáp:

- Anh tưởng răng của tôi tốt lắm sao? Này…

Anh bạn há miệng rồi chỉ vào dãy răng hàm hàm trên không còn cái nào.

- Răng hàm hàm trên nhổ hết. Răng hàm hàm dưới còn vỏn vẹn hai cái. Đó là hàm bên trái. Răng hàm bên tay mặt cũng như vậy. Tôi ăn chỉ nhai lỏn chỏn bằng mấy cái răng cửa nên ăn rất chậm.

Chàng nói một cách thất vọng:

- Ai có thể tin được thấy anh béo tốt thế kia.

- Đâu đã hết? Ruột của tôi lại cũng là thứ ruột bệnh hoạn. Đem rọi kiếng chụp hình thì thấy cái kết tràng lên bị a-míp ăn bám dày đi.

Chàng nhìn bạn và thấy yêu bạn hơn trước. Bệnh tật là một mối liên hệ bạn hữu. Chàng được an ủi khi biết rằng chung quanh mình, những người khác không phải đều hoàn toàn khỏe mạnh, hoàn toàn sung sướng hết. Trong khi đó thì có những người làm chủ những hàm răng tuyệt đẹp. Một cậu học sinh nhà ăn chay trường lên đọc bài để lộ một hàm răng quá đẹp so với dáng dấp lam lũ của anh. Hàm răng trắng tinh, nhỏ và đều. Chàng nhìn hàm răng một cách say mê như khi nhìn một tác phẩm mỹ thuật.

Chàng thầm nghĩ và tiếc vẩn vơ, có một hàm răng tốt như thế này mà chỉ để ăn rau đậu không thì cũng uổng. Cứ say mê chú ý vào những hàm răng khiến có lúc chàng suýt cười to lên khi tự ví mình với anh lái buôn ngựa. Muốn biết tuổi ngựa, chỉ cứ nhìn hàm răng nên bị méo mó nghề nghiệp, chắc anh ta chỉ thấy những răng là răng. Dễ thường trong giấc mơ anh cũng chỉ thấy toàn răng ngựa!

Nhân nhìn răng người, chàng chợt nhớ đến răng của con mình. Chàng soát lại răng của con và thấy mình đã thiếu sót phận sự. Thằng Tịnh có 2 cái răng nanh mọc lỗi. Đáng lẽ khi răng sữa lung lay, mình phải đưa đi nhổ ngay để nhường chỗ cho răng vĩnh viễn mọc ngay thẳng. Hết phương cứu chữa cho đứa lớn, chàng kiểm soát đứa nhỏ. Vài cái răng sún nhổ rồi, - do ai nhổ và nhổ bao giờ, chàng không hề nhớ, than ôi - chàng không hiểu có còn kẹt lại chân răng không. “Thôi, để vài bữa mình đến chữa răng, đưa nó đến hỏi thăm luôn nha sĩ”, chàng tự dặn như vậy.

Đúng hôm hẹn phải đến nha sĩ, chàng bảo người ở:

- Hôm nay chị Hai khỏi phải đi ra trường đón em. Tôi đi đón lấy.

Chàng đi ra xe thẳng trường để đón con. Bé Phượng thấy chàng đến đón mừng quá.

- Hôm nay chị Hai đi đâu không ra đón con, hở Ba? - Bé Phượng lật đật hỏi:

- Chị Hai bận.

- Ba chở con ra biển ngồi chơi mát đã rồi hãy về. Ừ, mà thôi, đi ra phố chơi đi Ba.

Chàng mỉm cười ranh mãnh nhìn con:

- Chắc ý con muốn nói: rồi chúng ta ghé lại hiệu kem Tuyết Viên ăn chơi như bữa trước. Có phải vậy không?

Phượng cười rũ lên như khi chơi cút bắt với bạn, ngồi nấp một xó kín bị bạn tìm bắt được.

- Kem ở hiệu đó ngon nhất đó Ba à. Thằng Trọng Tâm bảo con vậy.

- Điều ấy có thể đúng lắm. Nhưng hôm nay chúng ta không có thì giờ. Nào, con leo lên xe đi, Ba chở con ra phố.

Phượng vui vẻ leo lên ngồi sau chàng, miệng hát vang bài hát vừa tập ở lớp. Xe rẽ qua mấy phố rồi dừng lại trước phòng nha sĩ. Phượng ngạc nhiên:

- Đây là chỗ nào? Hiệu Tuyết Viên ở mãi đằng kia mà.

- Vừa mới bảo xong: hôm nay không có thì giờ ăn kem. Ba ghé lại nha sĩ để chữa cái răng. Con vào ngồi đợi một tí.

Quả tình cái phòng đợi lạnh lẽo này không làm cho bé Phượng phấn khởi chút nào cả. Không có một chú bé bệnh nhân nào ngồi đó cả để cho Phượng nhìn vào và bặm môi nhíu mày với nó. Hai người đàn bà đau răng ngồi hằn học liếc mắt vào người mới đến. Mặc dù ba bảo ngồi, Phượng vẫn ôm cặp sách đứng ngó ra mảnh sân nhỏ trước phòng. Ở đó, một dây nho nhẫn nại bò lẫn vào trụ cột đến mãi sát giàn mới dám đâm lá xanh. Đợi đến lượt mình, Văn bước vào phòng sau khi dặn bé Phượng ngồi chờ. Nha sĩ soát lại vết nhổ bữa trước. Nơi đó một cục máu đọng. Từ màu đỏ bầm, đầu cục máu chuyển sang màu trắng nhợt trông bẩn thỉu. Buổi trưa ở nhà chàng đã lấy lưỡi lay cục máu để đẩy nó đi. Nó không rơi ra. Chàng lấy ngón tay đẩy. Nó chỉ nhích hở một chút. Hơi ngượng vì cái cục máu trông bẩn thỉu, chàng bảo nha sĩ:

- Tôi đã lay cho ra mà không được. Lấy bông nắm rứt đi mà vẫn…

- Ấy chết, - nha sĩ la lên, - Ông muốn chết hả? Cứ để y nguyên thế. Bông hút nước bẩn lắm, ông để vào bị sài uốn ván chết.

Văn thấy đầu mình khẽ choáng váng như vừa nhìn phải một cái chớp giật. Sài uốn ván. Chết. Lúc nào cũng có thể chết được. Nhưng chàng đã tự trấn tĩnh: cũng may mà bông chỉ chạm vào mặt ngoài của cục máu, phần máu chết. Chỗ vết thương phải ở mãi tận trong.

Nha sĩ bôi thuốc lên. Khi đã xong, chàng ra cửa gọi con vào. Bé Phượng nghiêm trang nhìn những khuôn mặt lạ và những dụng cụ lạ mắt. Chàng nói:

-Nhờ nha sĩ xem dùm hàm răng cho cháu. Cái nào cần nhổ, cái nào cần chữa…

Chỉ đảo mắt qua một lượt, nha sĩ đã bảo:

- Cái chân răng này phải nhổ đi để có chỗ cho răng sau mọc lên.

Văn nhìn xuống đồng hồ: 6 giờ chiều. Chàng nói:

- Để hôm nào trở lại.

- Có thể nhổ ngay liền bây giờ.

Và thế là cái mũ và cái cặp sách phải rời bé Phượng lại nằm lên bàn giấy ông nha sĩ để bé Phượng được bế lên ngồi trên ghế da, mặt ngơ ngác không biết người ta sắp làm gì mình. Rồi những hiệu lệnh “mang khay… lấy thuốc tiêm…” được truyền đi nhẹ nhàng, mũi tiêm liên tiếp đâm phập vào nướu răng, cái kềm bẻ vẹo theo cánh tay, cái chân răng vất “xoảng” lên khay. Bé Phượng chưa kịp phản kháng, chưa kịp ưng thuận. Một miếng bông đắp thuốc đỏ được nhét vào lỗ răng, hai hàm ngậm chặt. Và chàng chở người nạn nhân bất ngờ này về nhà.

Từ lần ngộ nạn này, Phượng mừng rỡ một cách rất dè dặt khi thấy Ba đem xe đến đón tại trường, thấy những cuộc chở xe đi dạo phố không chỉ hứa hẹn vui chơi sung sướng như ngày xưa. Hiệu kem Tuyết Viên không được Phượng hăng hái nhắc đến nữa.

Sự săn sóc răng cỏ cho con đã tạm xếp xong, chàng nghĩ đến răng cỏ của những người quen. Dạy học đến bài “giải phẫu bộ máy tiêu hóa” chàng dừng lại khá lâu để giảng về răng. Thôi thì: vệ sinh khi răng lành, khi răng sâu, có nên nhổ ngay khi nhức không, các phương pháp chữa răng trồng răng… Đôi khi giữa những lời giảng say sưa chàng lẩn thẩn nghĩ: Phải chi mỗi trường có nhiều thầy giáo để khi dạy những bệnh tật ghi trong chương trình người ta xếp cho thầy nào đã mắc bệnh gì thì dạy ngay bệnh ấy. Đối với bạn thì chàng hóa ra người cố vấn nhiệt thành.

- Anh nên làm cua-ron bằng bạch kim cho cái răng đó… Ồ! Ghé lại nha sĩ họ lấy gân máu cho. Đừng tin người thợ cẩu thả đó.

Bày vẽ cho người ta nhưng rốt cuộc lại bị người bày vẽ lại. Việc ấy xảy ra thế này. Số là từ ngày bị mất cái răng, chàng chỉ che miệng khi nói với học trò và người lạ, còn đối với người quen thì chàng cứ để tự nhiên. Che giấu là một cách tự hạ mình và có thể bị xem là một lối làm dáng quê mùa. Tuy vậy đối với những người đàn bà quen thì chàng không thể cười nói tự nhiên với một cái răng thiếu, thiếu một cách trắng trợn thô lỗ như vậy. Mà thật thế, cái hàm răng trống một lỗ đen trông vừa buồn cười vừa ngu si. Để cho một người đàn bà thấy nó, chàng coi như là một sự khiếm nhã, y như chàng tiếp họ với một cái sơ mi quên cài hột nút. Một hôm nói chuyện với một chị bạn quen, chị bạn nhận xét: Anh coi chừng kẻo mà thành tật đó nghe. Cái tay che miệng đó. Trước đây tôi cũng có một cô bạn quen cũng nhổ răng như anh và cũng phải che miệng như anh suốt thời kỳ chưa trồng răng giả. Sau đó, răng mới đã trồng nhưng tật cũ không bỏ được. Những lúc ngồi nói chuyện, khi chợt cười cô ta vẫn đưa tay lên che miệng.

- Tật giữ trong bao lâu, chị?

- Hai năm sau tôi vẫn thấy cô ấy che miệng.

Quả là một điều khá đáng lo thật vì mới 5, 6 ngày nay mà việc đưa tay che miệng đã hầu thành một cử chỉ tự nhiên. Cả đến khi nói chuyện với những người lớn, những người quen mà chắc chắn mình không cần và không nên giấu giếm gì cả, thế mà chàng cũng quen tay đưa lên che miệng. Khiến một bà cụ quen thân ái bảo:

- Ông giữ chừng kẻo đưa tay che miệng hóa thành một thói quen đó. Tôi đã biết có mấy người như vậy. Cứ nói như thường, che làm gì?

Chàng thầm nghĩ: Lẽ tất nhiên là nói chuyện với cụ thì không nên che làm gì thật.

Nhưng tuy nghĩ vậy mà lúc để tay xuống chàng vẫn mường tượng nghĩ đến cái xấu xí của hàm răng nên chàng cứ thấy ngường ngượng. Bà cụ tiếp:

- Che miệng là một cử chỉ không đẹp.

Qua hai lần bị phê bình, chàng thấy người đàn bà chú ý đến cái đẹp hơn đàn ông. Và sự phù hợp của hai điều nhận xét khiến chàng thành thật lo trước cho cái thói quen xấu mà mình sợ sẽ không tước bỏ được.

Thứ Bảy tuần đó, y hẹn, chàng đến phòng nha sĩ, để nhận sự săn sóc cuối cùng. Chàng hỏi thể thức trồng lại cái răng.

- Chỗ răng nhổ đi sẽ trồng thay bằng một cái răng xương, nhưng nó phải bám vào 2 cái răng hai bên. Có hai cách trám. Một là bao vàng răng bên cạnh, hai là làm pi-vô. Làm pi-vô, thì phải lấy gân máu và cưa cái răng đi rồi thay răng xương vào.

- Như thế thì tiếc cho hai cái răng vô tội. Vả lại còn bị đau nữa khi lấy gân máu, khi cưa.

- Nhưng mà đẹp hơn là bao vàng. Các bà các cô thì đều chịu đau để đẹp. Có người cái răng mọc không đều, các cô đem đến nhờ nhổ đi và thay răng xương vào.

- Nếu tôi làm răng ở đây thì ông tính bao nhiêu mỗi cái?

- Sáu trăm đồng. Phải trồng cái giữa và bám hai cái hai bên. Thế là 1800 đồng.

- Nếu ông lấy gân máu và làm pivô thì mỗi răng thêm hai trăm. Cộng lại là hai nghìn hai.

Văn suýt bật cười lên vì mình đã đoán đúng. Người nha sĩ tính đúng như lời anh thợ Hồng Phát đã nói còn nhớ thêm hai trăm đồng lấy gân máu cho mỗi cái răng. Chàng nói:

- Người ta bảo khi chữa răng thì đến nha sĩ nhưng khi trồng răng bịt răng thì có thể nhờ thợ trồng răng. Họ tính rẻ hơn.

Nha sĩ mỉm cười một cách gượng gạo. Có lẽ ông cũng nhận rằng lối lý luận vừa rồi là đúng. Tuy vậy, ông vẫn nhẹ nhàng nói:

- Nghĩa là… người thợ răng họ cũng làm cho ông có cái răng.

Nha sĩ tính tiền chàng phải trả. Khi trả tiền xong, chàng cám ơn người nha sĩ và bắt tay giã từ. Bước qua vuông sân rộng, chàng cảm tưởng mình cũng đồng thời giã từ cái hình ảnh nghèo nàn của người nha sĩ mà mình có khi đầu tiên tiếp xúc với ông. Quả tình lần đầu tiên đến ngồi ở phòng nha sĩ, chàng thấy thương cho thân phận người nha sĩ.

Trong phòng mạch của bác sĩ, lăng xăng rộn rã bao nhiêu nữ y tá, thế mà ở đây chỉ vỏn vẹn có một anh phụ việc. Anh này lại thật thà, hơi quê mùa nữa, nên cảm tưởng vắng vẻ càng tăng thêm. Có lẽ chỉ cần một cô y tá hoặc đẹp hoặc làm dáng là đủ làm rộn ràng cái không khí của căn phòng, sắc đẹp hùng biện như lời nói có khi hơn lời nói. Không có đôi ba cô y tá nhí nhảnh với nhau để khách hàng vui lây thì sắc đẹp của một cô cũng có thể làm cho họ nghĩ ngợi vẩn vơ mà trong khi đợi chờ đỡ tẻ. Dáng người nha sĩ lại thiếu bệ vệ. Trắng hơn một chút, béo hơn nhiều nữa và đôi mắt nặng nề mỏi mệt hơn thì ông sẽ có vẻ giàu có sung sướng hơn. Thêm vào đó mấy cái ghế ở phòng đợi chàng không thấy có lần nào có khách ngồi đầy. Chàng tự nhiên có cảm tình với ông ta như với một người bạn xấu hổ. Cảm tình đó hôm nay chàng đánh mất. Điều này làm cho chàng không vui vì quả tình chàng như vừa mất một người bạn. Nhưng nếu cảm tình đối với người nha sĩ bị nhạt đi thì trái lại chàng thấy thêm tình yêu mến đối với anh thợ răng Hồng Phát. Khi biết rằng trồng một cái răng với giá 300đ là không hớ một tý nào cả, chàng thấy yên tâm lạ. Chàng không còn nhìn anh thợ Hồng Phát với một ý nghi kỵ nữa. Chàng không còn phải loay hoay để định trả một giá, trả sao cho khỏi bị đắt vừa khỏi quá rẻ. Chàng chỉ cần định điều kiện thôi. Hôm sau chàng đến hiệu Hồng Phát.

- Anh phải cưa một cái răng?

- Phải cưa một cái.

- Còn răng kia thì nhất thiết phải bọc vàng?

- Phải bọc vàng, không có cách gì khác.

Tâm hồn chàng rơi thõm vào cái mệt mỏi của những ngày trước đây khi không tìm một giải pháp nào khác hơn, tốt đẹp hơn là phương pháp bọc vàng. Chàng nói thẫn thờ như một lời nuối tiếc:

- Không thể tránh được…

Anh vội vàng trấn tĩnh:

- Nhưng tôi sẽ làm thật cẩn thận và mỹ thuật. Đường chỉ bọc sẽ rất nhỏ. Ông cứ yên tâm.

Chàng nói:

- Thôi được. Một tháng rưỡi sau tôi sẽ trở lại. Nha sĩ bảo phải đợi cho hết hạn đó.

Một tháng rưỡi ngượng nghịu âm thầm qua, tối tăm như giữa mùa mưa gió. Khi kỳ hạn đến, chàng ngoan ngoãn ghé lại hiệu Hồng Phát. Người thợ trình bày rõ ràng hơn về những công việc phải làm trong hai ngày để hoàn thành cái răng. Chàng vẫn cố mặc cả một ngày thôi, ngày chủ nhật, nhưng quả tình người thợ không thể làm được. Chàng đành phải nhẫn nại chịu nhận hai lỗ răng trống trong hai ngày. Thật là quá sức chịu đựng, khi một lỗ răng trống thôi đã đủ làm chàng khó chịu. Khi ngồi lên ghế, chàng đợi nghe tiếng vù vù của bàn cà quay. Và khi bàn cà chạm vào răng, một cảm giác tê buốt chạy rần ở cột xương sống, tỏa một luồng lạnh ra khắp lưng. Hình như bao nhiêu bắp thịt ở lưng co rúm lại. Một mùi bột xương nhàn nhạt hăng hắc bốc lên mũi. Hết bàn cà tiếp đến bàn nạo, bánh xe cưa… thần kinh của chàng như bị những tấn cống dồn dập.

Khi thân răng gãy nhẹ giữa hai ngón tay của người thợ, chàng quay sang cầm ly nước súc miệng và vội vàng đưa chiếc gương lên soi. Thật bất ngờ, chàng đang đợi một lỗ trống toang ghê tởm thế mà sự thực thì lỗ trống mới không khác với lỗ răng trống bữa trước mấy. Sự bất ngờ có lợi này mang lại cho chàng một thú vị nhỏ khiến chàng vui vui. Căn phòng chữa răng màu trắng, màu của tường và của dụng cụ, chàng thấy bớt vẻ lạnh lẽo. Khi bắt tay từ giã anh Hồng Phát, chàng bắt tay chặt và giữ tay anh ta hơi lâu.

Tuy vậy suốt hai ngày sau, không lúc nào thôi băn khoăn về cái răng xương mà chàng sắp nhận. Người thợ hết lời cam đoan về nghệ thuật và kinh nghiệm của anh, nhưng nếu chàng có thể sẵn sàng tin ở sự thành thật của anh thì trái lại chàng có nhiều nghi ngờ về trình độ thẩm mỹ của anh lắm. Do đó mà chiều hôm sau, khi đến hiệu, chàng thấy mình hơi hồi hộp. Anh thợ tiếp niềm nở nhưng không khiến chàng yên tâm. Dù cố giữ để không hỏi - chàng biết câu hỏi và câu trả lời đều vô ích, - nhưng rốt cuộc chàng vẫn hỏi:

- Có đẹp không?

Người thợ tròn đôi mắt và cái miệng.

- Thưa…

- Cái răng làm có đẹp không?

- A! Đẹp lắm. Để rồi ông xem.

Ở phòng khách, ngồi đối diện với chàng là một người đàn bà tuổi chừng hơn 40. Người ấy ngồi im, miệng ngậm một cách lúng túng. Chàng nghĩ: có lẽ người đàn bà này bị nhổ răng. Chợt người ấy hỏi người thợ:

- Sao tôi thấy nó cồm cộm đau đau.

Người thợ ngắt lời:

- Không sao đâu. Tôi đã coi kỹ rồi.

Người đàn bà im lặng nhưng dáng vẫn đăm chiêu. Đôi mày nhíu lại, tia mắt nhìn về người thợ có một vẻ gì bực tức. Cuối cùng người ấy lại rụt rè:

- Sao tôi thấy nó cứ đau đau.

Người thợ xẵng giọng:

- Tôi đã nói rồi mà. Tôi đã xem kỹ rồi.

Văn hỏi người thợ:

- Chắc bà kia nhổ răng.

- Không. Bà ấy trồng răng.

Như mừng có dịp để phân trần, người thợ vội vã:

- Bà này trồng cả một hàm răng giả. Phải lựa thứ răng đen hiệu Nhật Bản cho bà ta. Tôi lấy cả hàm có 1.800đ. Vậy mà bà còn kỳ kèo là đau và cộm. Hiệu tôi làm có bảo đảm, ai cũng…

Khi câu nói chuyển sang mục quảng cáo, Văn không để ý nghe nữa mà chăm chú nhìn hàm răng đen đều đặn mà đôi môi của người đàn bà hé mở cho thấy. Chàng nghĩ đến sự chu đáo của kỹ nghệ, tạo ra loại răng đen đặc biệt của một thiểu số người còn sót lại trên các lãnh thổ vòng quanh Thái bình dương, ít ỏi và đặc biệt như những động vật thời khuyết sử còn lại. Người thợ đứng dậy mời chàng:

- Xin mời ông vào phòng răng.

Chàng đi theo người thợ, bỏ lại người đàn bà băn khoăn một mình ở phòng khách với một hàm răng bị hắt hủi.

Khi chàng ngồi chững chạc lên ghế rồi thì người thợ mở tủ lấy cái răng đã làm xong đưa chàng xem, kèm theo một câu đề bạt:

- Ông coi xem, đẹp hết sức rồi đó.

Chàng cầm nhìn. Đường vàng viền nhỏ, có thể gọi là tinh vi so với tác phẩm của anh thợ cũ ở Bồng Sơn. Tuy vậy chàng vẫn tham lam:

- Anh không thể làm cho nhỏ hơn nữa được sao?

Người thợ nhún vai la to lên, ngạc nhiên như vừa nghe ai phủ nhận tên mình.

- Như thế này mà ông còn chê sao? Tôi gò suốt cả một buổi sáng nay mới được đó.

- Tôi không chê. Phải nói khen thì mới đúng. Nhưng ý tôi muốn hỏi là ông có thể làm tinh hơn nữa không.

Mặt người thợ dịu xuống, nụ cười hài lòng nở rộng và giọng nói cũng dịu lại.

- Chịu thôi, như thế là đẹp nhất rồi đó.

Vừa nói, người thợ vừa lẳng lặng tháo hồ trám, tra pi-vô và tra răng mới vào. Khi ngón tay người thợ đẩy ép chiếc răng mới đi sát vào nướu, chàng thấy đau đau. Nhưng liền sau đó là một cảm giác ấm áp đầy đủ, cảm giác của hàm răng trống trải nay đã chấp nhận một bộ phận mới. Chàng lấy gương soi. Hàm răng đều đặn như tự thuở nào nó vẫn thế. Dù vậy, vẫn có một chút ngượng ngập gì trong cảm giác. Cái răng mới dường như cứng nhắc, nặng nề, thiếu sự thong thả dễ dãi của những cái răng tự nhiên. Chàng nhìn lâu vào bóng hàm răng phản chiếu trong gương, gạt bỏ cái phần cảm xúc chủ quan để nghe lòng vui vui vì hàm răng đều đặn và bóng sáng.

Trả tiền và lấy giấy bảo kê xong, chàng cám ơn người thợ. Lời cám ơn thành thật, khác với nhiều lúc chàng nói vì xã giao. Đi qua phòng khách chàng chợt nhớ đưa mắt tìm người đàn bà ban nãy, nhưng các ghế trống không. Chắc chán nản người đàn bà đã bỏ ra về. Chàng tưởng chừng cảm thấy được sức cộm của cả một hàm răng mới trồng của người đàn bà. Những dây thần kinh ở nướu, ở má, ở môi… đều như nhất loạt không chấp nhận kẻ ngoại lai là cái hàm răng giả.

Khi bước ra đến đường phố, sự suy nghĩ của chàng đã vẩn vơ chuyển sang giá trị của những vật giả. Ai biết được hàm răng đen “rưng rức hạt na” của người đàn bà kia là giả? Ai biết được hàm răng trắng bóng, đều đặn của một người thiếu phụ sang trọng nào đó là không thiệt? Đi xa hơn hàm răng, chúng ta gặp những hàng lông mi cong, những nốt ruồi đẹp, những bộ ngực nở nang, nhưng càng thấy đẹp người ta càng đặt vấn đề nghi ngờ. Thực hay giả? Sự giả dối tinh vi làm tổn hại không ít cho sự thật thà. Một người có cái ngực đẹp tự nhiên, có hàm răng đẹp tự nhiên, có chuỗi ngọc trai thật, vòng kim cương thật, dễ bực mình biết bao khi kẻ bàng quan không phân biệt được họ với chủ nhân những món hàng giả. Giá trị con người thật khó định đoạt khi chân giả lẫn lộn xung quanh mình.

Ý nghĩ của Văn bị ngắt quãng khi đi qua một hiệu tạp hóa quen người chủ hiệu mỉm cười chào chàng.

- Chào ông. Lâu ngày không thấy ông đi phố.

- Chào bà. Hơn một tháng nay tôi… bận.

Chàng ghé vào hiệu mua vài món hàng lặt vặt. Chàng trả lời vui vẻ những câu hỏi của người chủ hiệu. Đến khi bước ra, chàng chợt nhớ rằng lúc nói chuyện mình vẫn còn quen đưa tay che miệng.

Buổi chiều hôm đó, cứ lúc nào nhớ ra là chàng lại nhìn vào gương để tìm xem cái cảm tưởng tốt đẹp về cái răng mới trồng có phải là một cảm tưởng sai lầm chăng. Lần nào cũng vậy, chàng đều thấy là mình quả không lầm. Thật hiếm hoi hết sức là sự hài lòng về một món hàng mà mình vừa mua hay vừa sắm. Lâu lâu bất chợt nhìn vào gương, chàng sung sướng gặp mặt cái răng mới trồng, đồng thời gặp gỡ luôn niềm vui của những ngày đầu sơ ngộ với nó.

Bốn tháng sau, một bạn đồng nghiệp của Văn bị tai nạn ô tô được chở về nằm ở bệnh viện. Văn đến thăm. Những đường băng bó chằng chịt ở mặt, ở đầu, ở cánh tay. Sau khi kể những vết thương tích anh mang trên người, anh bạn rên rỉ nói tiếp:

- Bị gãy hai cái răng cửa nữa.

Chi tiết chót này suýt làm cho Văn cười lên. Chắc chắn là thương tích không nặng lắm mặc dù băng bó khá bộn bàng nên anh bạn mới đủ tỉnh trí mà nhớ đến hai cái răng.

Sau khi lành mạnh, người bạn đến văn phòng, miệng toe toét cười hở lỗ trống của hai cái răng gẫy. Văn nhìn bạn giây lâu tìm xem có nét thay đổi nào trên khuôn mặt ấy không, do lỗ trống gây ra. Trái với sự tưởng tượng của chàng, nét mặt không có gì thay đổi lớn. Lỗ răng trống anh không che đậy, mới nhìn thấy một lần mà như là vật cố hữu của anh, không tăng mà cũng không giảm vẻ quen thuộc của khuôn mặt. Chàng lưu ý đến phản ứng của cô thư ký ngồi gần đó. Người đàn bà đẹp bao giờ cũng có những phản ứng tự nhiên không kềm chế kịp khi họ gặp một chi tiết nào phản lại mỹ thuật. Nhưng không, cô thư ký vẫn tươi cười hỏi thăm sức khỏe của người bạn và tỏ ra vui mừng vì người bạn thoát nạn một cách êm đẹp.

Chàng nghĩ đến một tháng sau người bạn phải đi trồng răng giả, phải chấp nhận hai cái viền vàng bao hai chiếc răng kế cận. Số phận của chiếc răng sẽ trồng chưa được định đoạt. Nó còn tùy thuộc ở người thợ mà anh bạn sẽ nhờ đến. Nó có thể đem lại cho anh ta sự khó chịu hàng ngày. Chàng tự nhủ thầm: May cho mình. Nhưng đồng thời chàng nghĩ: Tiếc thay, mình đã quên đi cái thú của sự hài lòng.

Thật vậy, chừng một tháng sau khi trồng lại chiếc răng, chàng thấy cái cảm giác sung sướng lúc đầu nhường chỗ dần dần cho cái cảm giác êm ả bình thường cho đến một lúc nào đó chàng nhìn vào gương mà không còn để ý đến chiếc răng trồng đẹp nữa. Trong khi đó, những mối lo thường dồn dập đến, đóng đô ở tâm hồn chàng, vững chãi, thường xuyên. Thật là khờ dại. Con người thích mơn trớn những nỗi băn khoăn, những nỗi khổ của mình, còn các điều toại ý thì họ hưởng một cách vừa dè dặt vừa bủn xỉn. Đáng lẽ nên làm ngược lại. Chàng chợt mong mình có thể bước ra đường, đi từng bước nhỏ, sống hồi hộp trở lại những băn khoăn khi cái răng bị tuyên án, khi cái răng phải nhổ, khi cái lỗ trống gây trở ngại âu lo và cuối cùng là niềm thoải mái khi cái răng mới trồng vừa ý chàng mong. Sự êm ả thoải mái ấy, chàng muốn nuôi dưỡng cho nó kéo dài, thật dài. Thấy lòng háo hức, chàng đứng dậy bắt tay người bạn và chào cô thư ký. Chàng siết chặt tay bạn vừa vui vẻ nói:

- Một tháng sau anh tìm gặp tôi. Tôi sẽ mách cho anh một người thợ trồng răng hữu hạng.

 
(Trích từ tập truyện Khoảng Mát) 
--------------------------------
1Alcool de menthe: dầu bạc hà
2Nerf
3Nạo sạch