Từ thềm tam cấp của hành lang tòa nhà, Thư chậm rãi bước ra cái võng móc giữa thân hai cây ổi, ngồi xuống. Từ buổi sáng, Thư đã ra ngồi ở cái võng này nhìn xuống vịnh. Chờ đợi. Trông ngóng. Bây giờ, dù niềm hy vọng mong manh vẫn còn như ánh nắng cuối ngày lóng lánh trên mặt biển yên lặng, cô nhỏ đã thấy niềm tủi thân nghèn nghẹn đâu đây.
Buổi sáng, biết gần đến giờ có chuyến tàu đầu tiên trong ngày từ đất liền ra, Thư đã nằm chờ ở võng, đầu quay xuống phía vịnh, tay cầm một cuốn sách đem ra để đọc. Gió từ vịnh lướt qua chân đồi đầy nắng ấm lên đây cùng bóng cây um tùm làm mát đỉnh đồi nhỏ bằng phẳng. Mọi sáng như vậy, Thư hoặc đọc sách, hoặc dẫn hai chị em Chi và Lạc, con bác Thắng trông coi máy điện của ngọn hải đăng, vẩn vơ trên những lối đi nhỏ dẫn xuống đồi, hái sim chín hoặc nho rừng. Nhiều lần, Thư quên cả giờ về giúp mẹ sửa soạn bữa ăn trưa. Thật ra, mẹ cũng chẳng có gì gọi là bận rộn. Mẹ vẫn có thể sửa soạn bữa ăn một mình được. Thế nhưng mẹ muốn Thư nên quen dần với chuyện bếp núc, vả lại cô nhỏ nhìn mẹ lui hui một mình trong bếp, cô nhỏ thấy thương mẹ quá đi.
Sáng nay cũng vậy, nghĩa là cũng có gió mát nắng ấm và mọi thứ vẫn quyến rũ thoải mái như mọi ngày. Nhưng sáng nay, Thư đã cảm thấy khác. Sáng nay sẽ như cái sáng của hai năm qua. Cái sáng đặc biệt rực rỡ, không giống những cái sáng đều đều y hệt trên đảo này mọi ngày. Sáng nay, anh Đông sẽ ngồi trên chiếc tàu chở hành khách đầu tiên trong ngày từ đất liền ra. Bước qua bờ cát trắng viền quanh vịnh, Đông sẽ ghé vào cái quán cà phê, một tách cà phê trong không khí tanh mùi cá và mùi mặn nồng của cát và biển. Sau đó, anh khoan thai chậm rãi leo lên lối đi nhỏ dẫn lên đồi. Một cách đầy nhàn hạ trẻ con, anh đếm những tảng đá lớn bên đường mà những ngày ra đây chơi, Đông đã cùng Thư vẽ vớ va vớ vẩn lên đó. Khi lên tới khúc quanh hình chữ V gần đỉnh đồi, Đông dừng lại, ngồi lên tảng đá bằng phẳng nhẵn thín dưới bóng mát một cây dương liễu lẻ loi. Thư từ trên này đã thấy Đông. Cô nhỏ sẽ chạy xuống. Đông nhìn xuống cái vịnh nhỏ bình yên, bờ cát trắng, hàng dừa xanh. Những mái nhà lụp xụp của dân chài, ngôi nhà thờ đá nhỏ mà anh và Thư vẫn gọi là cái-hang-đá-nhỏ. Dưới chân đồi là khu nghĩa địa của đảo. Khu nghĩa địa buồn nản nằm trong một xó cuối đảo. Đông nhướng mắt, qua đỉnh đồi mọc lưa thưa dương liễu là hướng nơi chàng ở và vừa rời bỏ sáng nay. Rồi thì, Đông nghe tiếng chân Thư chạy xuống, Đông biết nhưng chàng chưa vội quay lại. Thư đứng đàng sau cũng không gọi Đông gì hết. Giây phút im lặng này đều làm Đông và Thư bồi hồi sung sướng. Đông thấy khung cảnh xung quanh như bị đóng khung và chàng, thật sự, đã không dám thở mạnh. Một lát, Đông mới xoay người lại, và cũng một giây, Đông gọi nhỏ. Cô nhỏ. Thư sẽ cúi đầu, vén tóc lên khỏi vành tai và chơm chớp mắt. Như vậy hai đứa sẽ cùng ngồi lên tảng đá bằng phẳng quen thuộc. Và tảng đá này, khúc quanh này là chỗ hai đứa gặp nhau đầu tiên. Như mọi lần, Đông sẽ châm một điếu thuốc và câu nói vẫn như mọi lần là, như thường chứ Thư. Kế tiếp chàng sẽ hỏi. Giáng sinh năm nay nhà có làm gì không cô nhỏ? Những câu nói của Đông lần nào cũng vậy, nhưng đều làm Thư xúc động đến muốn chảy nước mắt. Khi nắng hắt đến bóng mát cây dương liễu lẻ loi, hai đứa thong thả về nhà. Tòa nhà quét vôi trắng và ngọn hải đăng sừng sững đã rực rỡ trên nền trời xanh lơ. Ở ngay cái cổng dẫn vào sân, Đông sẽ dừng lại một chút để khen giàn hoa tóc tiên Thư chăm sóc và yêu thích. Mọi vật vẫn không có gì thay đổi. Điều này làm Đông xúc động. Chàng biết đồi với Thư cũng vậy. Ba mẹ Thư đứng trên bậc thềm tam cấp đón Đông như một người con thân yêu đi xa trở về. Ba sẽ hỏi thăm về gia đình Đông và mẹ, mẹ sẽ luôn luôn trách Đông lâu quá không ra đây chơi. Lần ra chơi của Đông buổi sáng đầu tiên mọi lần vẫn như mọi lần, và mọi lần cũng như mọi lần khi nhắc lại đều làm Thư chảy nước mắt. Cô nhỏ thấy thương Đông, thương ba mẹ và thương mình lạ lùng.
*
Thư đưa mắt nhìn ngôi nhà thờ đá nhỏ nằm bên chân đồi của ngọn đồi bên kia đối diện với ngọn đồi của Thư. Hai ngọn đồi và bờ cát trắng chạy cong cong làm thành một cái vịnh nhỏ, dễ thương. Sáng sớm hoặc trưa nắng, đứng trên này, Thư có thể nhìn thấy mặt nước trong vịnh có hai màu. Màu xanh lơ trong suốt giữa vịnh. Một màu thâm thẫm gần hai bên đầu của hai ngọn đồi mà bên dưới là những đám san hô cứng. Ngôi nhà thờ đá bên kia Đông và Thư gọi là cái hang đá nhỏ. Mà quả vậy, ngôi nhà thờ với cái tháp chuông thấp lè tè xây toàn bằng đá. Mái ngói cũ kỹ phủ đầy rêu xám nên cũng cùng màu với tường và nền. Chung quanh nhà thờ có những tảng đá lớn nhỏ nằm rải rác hoặc chồng chất lên nhau, và những rặng dương liễu mọc đây đó. Buổi chiều như chiều nay, Thư thấy ý nghĩ của mình không sai. Mỗi sáng chúa nhật đi lễ tại nhà thờ đá, ba mẹ Thư hay vào thăm ông cha sở tóc bạc trắng, mập mạp vui tính. Cha gọi Thư là cô nhỏ như Đông thường gọi Thư. Thư thích tiếng gọi cô nhỏ ngay khi Đông gọi lần đầu tiên vào năm Thư được mười bốn tuổi. Thấm thoát đã ba năm rồi anh Đông ạ. Em thì vẫn là cô nhỏ yêu cái đảo nhỏ này. Anh thì vẫn là anh chàng yêu những ra đi. Thành ra hai đứa dù chỉ có cách nhau mười cây số đường biển mà sao em cứ tưởng hai đứa ở hai chân trời góc bể ngàn trùng xa ngút vậy. Đông ơi. Đông ạ. Cứ nghĩ tối nay đi lễ nửa đêm nơi ngôi nhà thờ đá nghèo nàn không có Đông yêu dấu, Thư càng tủi thân. Cô nhỏ như thấy dấu chân lẻ loi tội nghiệp của mình trên lối đi dẫn xuống đồi và trên bờ cát trắng quanh vịnh đến nhà thờ.
Nắng không còn lóng lánh trên mặt biển. Đàng xa, chỗ mặt nước và chân trời gặp nhau đã bắt đầu mờ mịt. Bìa vịnh bên đồi của Thư, chim yến và hải âu bay về đậu đầy. Ngoài khơi chỉ còn thấp thoáng một cánh buồm trắng. Mặt biển hiền hòa yên lặng để đêm xuống biến thành một khoảng đen mênh mông ghê rợn. Thư ngắt một chiếc lá vò nát trong tay. Chiều đã qua thật chăng? Đêm cũng sắp đến thật chăng? Thư biết mình bàng hoàng với những câu hỏi và đã rõ câu trả lời. Dầu sao, lòng Thư vẫn nghĩ Đông của Thư sẽ ra trong chiều nay. Đông ơi. Hãy ra với em dù trễ. Hãy ra với em dù muộn. Đừng bao giờ quên em Đông ạ.
Mặt cát chỗ võng Thư ngồi đã chằng chịt những chữ Đông, những chữ Đông run rẩy không yên.
*
Chỉ cần thấy vậy, Thư đã rời cái võng. Chạy, chạy thật nhanh trên lối đi nhỏ dẫn xuống đồi. Trên lối đi vòng vèo quanh co giữa đám cây lá xanh, tóc Thư xõa bay cùng màu trắng chiếc áo mất dần dưới chân đồi. Cô nhỏ không còn đủ kiên nhẫn chờ cho Đông lên tới khúc quanh chữ V có tảng đá bằng phẳng và cây dương liễu quen thuộc nữa. Nắng tắt hẳn và sương bắt đầu nhiều từ phía khu nghĩa địa cuối đảo. Ngoài vịnh, chiếc tàu chở hành khách trong ngày màu trắng đang lặng lẽ tiến vào vịnh mặt nước trong xanh, ngổn ngang những cột buồm của các thuyền đánh cá nằm la liệt trong vịnh. Có tiếng súng từ hải thuyền bắn qua các ngọn đồi, vang vang rồi mất hút. Chiều ở đảo vẫn lặng lẽ như biển khơi trong những ngày nắng ấm trời xanh. Trên đồi, ngọn hải đăng đã bật sáng và quét tròn. Bên kia, ngôi nhà thờ đá đã đổ chuông liên hồi. Mọi vật đều thanh thản chờ đợi đêm về.
Chỉ có dưới vịnh, một nỗi thất vọng đầy tủi thân đầy cay đắng và một ý nghĩ mơ hồ rằng, lối đi nhỏ lên đồi cỏ hoang đã mọc kín nên có người đã quên những dấu chân mình và những kỷ niệm yêu dấu ở đây.
ĐÀO TẤN CHƯƠNG
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 84, tuần lễ từ 4-1 đến 11-1-1973)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét