Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

NHỮNG MÀU XANH QUANH TA - Trịnh Nguyễn


Sáng chủ nhật hôm ấy Thuyên đến nhà thăm tôi. Tôi mở cổng chào đón Thuyên. Vừa vào sân cát Thuyên đã trầm trồ:
 
- Nhà chị nhiều bóng mát quá.
 
- Có cần cho mỗi chúng ta không? - Tôi hỏi.
 
- Chị thấy không sao?
 
- Thuyên cần?
 
Tôi nhìn Thuyên cười cười. Thuyên  không trả lời nhìn quanh bước đi. Chúng tôi đi dưới những hàng cây ăn trái vào nhà. Phòng khách chỉ gồm mấy cái ghế bành thấp đan bằng sợi cao su, trên tường vỏn vẹn một bức tranh màu, một bình hoa nhỏ độc nhất cánh hoa hồng nhung làm bằng vải (khí hậu ở đây không thích hợp cho các loài hoa, tôi không thể tìm dễ dàng những loài hoa mình thích để cắm bình. Tuy nhiên tôi vẫn luôn tìm cách giữ hoa bên mình dù bằng vải hay giấy cũng như luôn luôn nuôi một mối tình dù thành hình hay chưa).
 
- Chị có nghĩ là Thuyên sẽ đến thăm chị không, chị Trâm?
 
- Có chứ. Nhưng không ngờ sớm đến thế.
 
- Tại chị mà.
 
- Sao cơ?
 
- Chị làm Thuyên có cảm tưởng chúng ta đã quen nhau khi chưa gặp nhau. 
 
Tôi cười, ngầm nhận điều Thuyên nói.
 
Vì bị kẹt xe nên tôi đến trễ trong bữa tiệc tổ chức tại nhà một người bạn vào thứ bảy tuần trước. Tất cả đã ngồi vào dãy bàn dài và bữa tiệc sắp sửa. Vĩnh dành một ghế trống cho tôi cạnh Thuyên. Vĩnh đẩy chiếc ghế và vỗ vai người bạn nói:
 
- Ê Thuyên, nhớ chăm sóc Trâm hộ moa nghe.
 
Rồi Vĩnh bỏ đi. Tôi chới với giữa đám đông, giữa Thuyên còn lạ hoắc.
 
- Nhà chị ở gần đây? - Giọng Thuyên trầm, nhò.
 
- Nhà xa mà tôi lại quên câu "ăn cỗ đi trước". Thuyên khá hơn tôi "khoảng" ấy rồi.
 
Tôi chợt giật mình. Tại sao mình có thể gọi tên một người lạ mặt một cách thân tình như vậy. Nhưng mắt Thuyên cười không một nếp nhăn, hàng ria mép còn xanh trải dài theo nụ cười. Tôi không thể gọi Thuyên là ông, là anh dù đó chỉ là lần nói chuyện sơ giao. Nhưng chính lời gọi đột ngột đã mang Thuyên đến gần tôi (Sau này tôi biết Thuyên là bạn của em gái Vĩnh).
 
Ngôi nhà tôi ở giữa một vườn cây trái. Tôi ở giữa những mít, xoài, mãng cầu, táo, ổi. Bây giờ là giữa mùa táo. Những trái táo xnah mướt, chua chua, ngọt ngọt, dòn dòn đã hấp dẫn những đứa bạn hảo chua thường xuyên đến "thăm tôi". Tôi đề nghị Thuyên ra dạo vườn cho mát mẻ. Tôi cố tránh xa những cành táo đầy gai nhọn trong khi Thuyên sấn lại gần bứt bứt, nhai nhai.
 
- Táo ngon ác, chị Trâm.
 
- Coi chừng gai, Thuyên. Gai táo đâm nhức nhối lắm.
 
- Táo vườn nào cũng vậy hay chỉ ở vườn nhà chị?
 
- Ở đâu cũng thế.
 
- Thuyên không ngán. Chị sẽ thoa dầu cho Thuyên.
 
- Tôi cho chết luôn thì có.
 
- Ác thế?
 
- Ừ.
 
Một con lạch chạy ngang trên khoảng đường chúng tôi đi qua. Nước trong in hình một khoảng da trời xanh. Tôi nhìn xuống nước thấy bóng mình lung linh.
 
- Thuyên, Thuyên, lại chỉ cho xem cái này.
 
- Gì đâu?
 
- Dưới nước. 
 
Khi Thuyên đến gần, tôi vụt chạy nhanh lên chiếc cầu khỉ bắc ngang. Thuyên chạy theo, hét:
 
- Coi chừng ngã, chị Trâm.
 
- Không ngã một mình đâu. Tôi sẽ lôi theo Thuyên. 
 
- Chúng ta sẽ xuống địa ngục mất.
 
- Sao không nghĩ là được lên thiên đàng?
 
- Lên sao nổi. Tội lỗi đầy mình mà.
 
Qua khỏi chiếc cầu tôi quay lại, dáng Thuyên nghiêng nghiêng trên cầu vì đôi giầy có gót hơi cao. Tôi liên tưởng đến dáng đi của người say. Đợi Thuyên đến gần, tôi hỏi:
 
- Thuyên say bao giờ chưa?
 
- Say?
 
- Ừ say.
 
- Mà say sao cơ?
 
- Uống rượu quá "độ" say ấy mà.
 
- Đã. Nhưng đâu phải chỉ có rượu mới làm người ta say. Còn nhiều thứ nữa kia.
 
- Chẳng hạn?
 
- Như... - Thuyên lắc đầu - khó nói quá. Chị đã say chưa? - Thuyên nhìn chăm vào mắt tôi, hỏi.
 
Tôi không hiểu Thuyên hỏi tôi đã say vì rượu hay vì "nhiều thứ nữa kia" như Thuyên nói. Có lần trong bữa tiệc thân mật giữa vài người thân, bị ép uống quá "độ" nên tôi có cảm tưởng mình say. Đầu tôi nhẹ hẫng. Hồn tôi lâng lâng. Tôi cười cười, nói nói. Hai con mắt nặng trĩu hình ảnh người đối diện. Tuy nhiên, bây giờ không phải lúc để tôi nói với Thuyên điều ấy. Tôi lắc lắc đầu.
 
- Thuyên sắp say nữa, chị Trâm ơi. 
 
- Đừng uống rượu nhiều, Thuyên. Không tốt đâu.
 
- Thuyên nói ngoài rượu còn nhiều thứ khác làm người ta say nữa mà. 
 
Thứ khác, thứ khác. Đau đầu. Tôi chẳng buồn suy nghĩ. Đầu óc tôi đã làm việc nhiều, đã suy nghĩ nhiều toàn những việc lẩm cẩm. Bây giờ "hắn" tê liệt. Tôi cũng chẳng muốn tìm biết câu trả lời của Thuyên.
 
- Nên thử say một lần để biết tại sao con trai uống rượu, chị Trâm. 
 
Tôi gật đầu, nghĩ Thuyên có lý. Ít ra mình cũng nên tìm biết điều đó để "cảm thông" họ.
 
- Chị Trâm thích màu xanh không?
 
- Màu xanh nào cũng dễ bắt mắt người khác.
 
- Chúng ta - Thuyên nhìn tôi - đang ở giữa những màu xanh.
 
Tôi tiếp:
 
- Màu xanh của da trời, của lá cỏ, của ổi non, của táo sống, của...
 
- Của mắt chị - Thuyên cướp lời tôi.
 
Tôi nhắm mắt một khắc, nghĩ hai con mắt mình sắp nổi những sợi gân máu li ti, những bợn đục vàng làm mất đi vẻ trong sáng. Triệu chứng của một căn bệnh bắt đầu bộc phát. Tôi lắc đầu xua đuổi ý nghĩ thoáng chút buồn chợt hiện.
 
Thuyên bước chậm bên tôi, thật gần.
 
- Chị Trâm, chị thấy có gì trong mắt Thuyên?
 
Tôi nhìn sâu vào mắt Thuyên, hai con ngươi màu đen sáng quắc dưới hàng chân mày rậm.
 
- Tôi thấy bóng tôi trong mắt Thuyên.
 
- Thuyên thấy bóng Thuyên trong mắt chị.
 
Tôi cúi xuống lầm thầm trong đầu và chúng ta chỉ bắt gặp nhau bằng những cái bóng. Những hạt cát to màu vàng lọt vào kẽ hở những ngón chân đau đau. Giọng Thuyên lúc nào cũng trầm ấm:
 
- Chị Trâm. Nói gì đi. Sao im thế, chị Trâm?
 
Tôi ngẩng mặt mở lớn mắt nhìn Thuyên ngạc nhiên, hỏi chỉ đủ mình nghe sao Thuyên gọi tôi mãi vậy. Và nghe buồn buồn.
 
.    .    .    .    .    .
 
Dù thế nào thì chúng tôi cũng phải vượt qua chiếc cầu khỉ để vào nhà. Ở khoảng giữa cầu Thuyên giữ chặt bàn tay tôi. Sợ chị ngã, Thuyên nói. Tôi để yên tay trong tay Thuyên. Nhìn thấy hai cái bóng chập choạng lung linh trên mặt nước tôi muốn chóng mặt. Sợ chị ngã. Tôi sẽ không lôi theo Thuyên, nếu ngã. Tôi đủ sức ngã một mình. Và tôi cảm thấy chóng mặt. Tôi thấy chóng mặt.
 
 
TRỊNH NGUYỄN      
 
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Ngọc số 154, phát hành ngày 20-2-1975) 
 

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

KẺ ĐỒNG HÀNH NĂM MỚI - Phạm Ngọc Lư


Nếu tôi tới bến sớm hơn mười phút thì đã kịp đi chuyến xe cùng với Trang và Ái. Hay đúng hơn, nếu mẹ tôi rút gọn lại những lời dặn dò dông dài, những cử chỉ dùng dằng bịn rịn, chuyến đi đã suôn sẻ rồi. Nên, thay vì là kẻ đồng hành, tôi đành gượng cười đưa tay vẫy vẫy chào Trang và Ái chúc "thượng lộ bình an". Trang quay đầu ra cửa xe cười khì:
 
- Hên quá, không ngờ phút chót lại có mầy chạy đến sắm vai đưa tiễn.
 
Ái ném cho tôi một gói hạt dưa:
 
- Gặm lai rai để giết thì giờ nghe bạn.
 
Xe rồ máy từ từ lăn bánh. Hai ba người lính phóng nhanh tới bu theo đuôi xe như sợ tôi nhanh chân giành mất chỗ đứng bám víu lắc lư như đánh đu ấy. Tôi quay lưng lại bước đi lơ ngơ, cảm giác lẻ bạn khác chi một niềm phụ rẫy, lỡ làng. Bến xe càng lúc càng ồn ào hơn cả chợ cá. Tiếng máy giục giã, tiếng mời níu khách lắc lia, mấy cái xe quảng cáo đang rêu rao bán thuốc cao đơn hoàn tán hòa âm với cửa hàng lô tô hô số thật dòn miệng, hiệp vần... Chốc chốc, vài tiếng pháo nổ đùng lên nghịch ngợm kèm theo tiếng ré tiếng chửi. Những tấm áo Tết kiểu mới dù lem bẩn vẫn còn được nâng niu chưng diện, lất phất trong đám khách đi và đến, lượn qua lại dưới cái nắng đầu năm đã có phần hanh nóng. Trời nắng tốt màu, như hớn hở, như lăng xăng với hoạt cảnh náo động phồn tạp của bến xe. Tôi chóng mặt.
 
Ba trăm bạc. Một cái vé. Một chỗ ngồi. Một chuyến xuất hành đầu năm. Một nơi sẽ đến, những ngày tháng êm ả hắt hiu dần dà sống. Một cái Tết khác. Một tuổi nào đó... Tôi ngồi nhìn con niêm nhỏ nhoi xinh xắn trên góc tấm vé màu xanh ố, nghĩ vẩn vơ. Dăm ba hành khách lên phía sau, đem theo câu chuyện riêng về ngày Tết vừa qua. Một kẻ đang trầm trồ ngưỡng mộ cây mai cao năm thước chưng trước phòng khách của khách sạn Thái Bình Dương, hơn cả cây mai của ông tỉnh trưởng. Kẻ khác cười châm biếm: cao thì cao thật, gốc cành cũng thật, chỉ có hoa là giả, rặt hoa nhựa, khó mà phân biệt. Một tiếng kêu ngạc nhiên: Ối, hèn gì có tẩm bảng gài trên cành: "nhìn bằng mắt chớ bắt bằng tay", xạo tổ mẹ. Cứ thế câu chuyện lan man, vòng vo, thu hút thêm nhiều giọng nói khác chen vô tán thưởng hay chống chế. Hành khách đùm đề khăn gói kéo lên chiếm dần hết các hàng ghế, chỉ còn một chỗ trống bên cạnh tôi. Đồng thời ban nhạc hành khất kéo đến, đi quanh xe đàn hát nỉ non, lải nhải muốn nhột bụng. Một gã đeo cái hình đen giả mù (?), chìa mũ ra trước mặt tôi lập lại điệp khúc quen thuộc:
 
"Em xin chúc cô Ba đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên
Bạc tiền như nước
Xin cô làm phước..."
 
Trong khi tôi còn ngượng ngập trước lời chúc "quý hóa" của gã, một bàn tay nhanh nhẩu thay tôi bỏ vào cái mũ một tờ giấy bạc. Đó là người thanh niên mới bước lên xe, chưa tìm ra chỗ ngồi. Cái ghế bên cạnh tôi đã có một đứa nhỏ chiếm giữ. Anh ta móc cái vé ra liếc nhìn rồi nhét vào túi lại, nét mặt điềm nhiên không chút bận tâm. Hình như con người đó đang diễn xuất vẻ thư thái bình thản, toa rập với cái cung cách ung dung nhàn tản đáng ghét của anh tài xế đang ngồi tiêu khiển với chai bia mặc cho hành khách kêu ca than phiền xe chưa chịu chạy. Thỉnh thoảng, người thanh niên khẽ mỉm cười thầm, làm như thích thú với cảnh chậm trễ nầy lắm. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ anh ta chính là nguyên cớ gây ra sự trễ nải.
 
Xe chật ứ hơi người, căng tức muốn nổ. Lũ con nít bị ngộp khóc ré từng cơn. Tài xế lững thững mở cửa leo lên ghế, chậm rãi lau sạch cái gương chiếu hậu rồi ngắm nghía bóng mình trong gương rất điệu. Hồi lâu ông ta mới chịu nổ máy, dậm thử ga rồi tiếp tục soi gương. Thằng lơ chạy vào chạy ra cãi vã chuyện dư vé thiếu chỗ, dùng dằng mãi chưa xong. Đứa nhỏ bên cạnh tôi bị mời đứng dậy trả về chỗ ngồi trên đùi má nó nhường chỗ cho người thanh niên. Anh ta nhìn xuống cái mặt ghế không lớn hơn tấm khăn tay mỉm cười lắc đầu. Nụ cười tỏ ra an phận cam chịu hoàn toàn do đó cái lắc đầu ngượng ngập như một lối làm bộ giả đò. Bây giờ tôi mới để ý thấy anh ta cao to một cách quá đáng, gần như phí phạm, thừa thãi.
 
Xe chạy. Một chặp sau, người thanh niên mới tần ngần ngồi xuống chỗ của mình sau khi đã mỉm cười cầu thân với tôi và nói e dè:
 
- Xin phép cô.
 
- Tự nhiên.
 
Tôi ép sát người vào thành cửa để giúp anh ta có thể đặt lọt tấm thân dềnh dàng xuống mặt ghế. Vẫn chưa ổn thỏa, đôi chân dài luộm thuộm của anh đang loay hoay tìm cách xếp lại sao cho gọn gàng. Nét mặt người thanh niên vụt cau lại, có vẻ bực bội chuyện chân cẳng lòng thòng hơn là vì xe chật. Nhưng rồi anh ta vẫn cười dễ dãi:
 
- Có phiền cô lắm không?
 
- Không sao.
 
- Cô về Tuy Hòa?
 
- Vâng.
 
- Cô đi một mình?
 
Tôi suýt phì cười vì câu hỏi ngớ ngẩn nầy nhưng vẫn làm nghiêm đáp:
 
- Có anh tôi nữa, ngồi sau lưng.
 
- Hai anh em chắc có chuyện bất hòa?
 
- ?
 
- Nãy giờ không thấy nói gì với nhau cả.
 
- Nói chi! 
 
Tôi quay mặt ra ngoài che giấu nụ cười. Nắng lớn, nắng xanh rờn đồng lúa đang độ dậy thì trải dài hai bên quốc lộ. Lúa đang bén hơi xuân. Những xóm nhà lác đác ven đường còn ấm áp mùi Tết. Xe đi sâu vào thung lũng xanh mướt, chạy đua với hai cánh núi hình vòng cung đang lùi lũi tiến ra chặn đường. Người thanh niên chồm qua phía tôi ném cái tàn thuốc ra ngoài, đôi mắt còn ngó theo chăm chăm xem nó rớt xuống đâu, hình như anh ta lo sợ nó sẽ gây ra một đám cháy tai hại không chừng. Xe bắt đầu trèo đèo chậm chạp, chốc chốc cứ rú lên thở dốc. Người thanh niên lại gợi chuyện loanh quanh. Tôi chỉ thưa gởi lấy lệ. Anh ta cười chữa thẹn:
 
- Có người chuyện vãn cũng dễ quên đường dài chứ cô.
 
- Tôi nói chuyện vô duyên lắm.
 
- Tôi cũng vậy.
 
Tôi lấy gói hạt dưa con Ái cho hồi nãy mời anh ta:
 
- Lai rai giết thì giờ.
 
- Tôi cắn hạt dưa vụng lắm, đừng cười nghe. 
 
Vụng thật, anh ta phải dùng cả tay để bóc. Tôi chợt nhớ tới mấy đứa em nhỏ ở nhà, tụi chúng không khéo hơn người nầy là mấy. Không hiểu sao, tôi vồn vã chỉ dẫn cho anh ta cách dùng răng và chót lưỡi để tách vỏ và khều cái hạt dưa ra một cách dễ dàng. Người thanh niên chăm chú theo dõi, nhanh nhẩu thực tập, nét mặt hớn hở như thằng bé vừa học được bí quyết tài tình. Chặp sau, anh ta quen thuộc sành sỏi một cách lạ lùng. Tôi khen:
 
- Thông minh lắm.
 
- Nhưng chưa "điệu" bằng cô.
 
Bây giờ người thanh niên cắn hạt dưa lia lịa như muốn thi thố tài năng với "thầy". Rõ ràng anh ta giả bộ vụng về để xạo tôi chơi. Tự ái, tôi lườm mắt giựt cái gói hạt dưa lại:
 
- Ông tham quá, cứ nhá lia mồm. No chưa?
 
- Về tới Tuy Hòa tôi sẽ đền cô gấp trăm chừng nầy.
 
- Thấm gì, ông biết mỗi ngày tôi gặm cả ký lô!
 
- Hèn gì đôi môi đỏ thắm rất duyên dáng.
 
- Ông ngạo tôi hở?
 
- Thành thật.
 
Người thanh niên còn diễn tả sự "thành thật" của mình bằng ánh mắt mê man nhìn sững tôi, trông chết người!
 
- Cô có nghĩ rằng mình gặp nhau thế nầy là do sự sắp đặt của Định Mệnh?
 
- Tôi không hiểu Định Mệnh là gì?
 
- Là số mạng.
 
- Số mạng là gì?
 
- Là... là... cô hiểu rồi còn giả vờ.
 
Tôi cười lớn, vui lây với anh ta:
 
- Tựa như ông cắn hạt dưa rào rào còn giả vờ?
 
Xe lượn vòng theo chân núi bên những ô ruộng muối sát mé đầm nước mặn. Đầm xanh màu rêu non. Đầm lồng bóng núi, bóng mây trầm ngâm, bóng dừa mơ màng phủ dài bán đảo bên kia. Không hơi gió, không gợn sóng. Cảnh tĩnh của tranh sơn thủy, bát ngát lời thơ, mênh mang điệu nhạc... Người thanh niên vẫn chăm chú ngắm cảnh nước non, như muốn cùng tôi chia xẻ niềm ngưỡng vọng: quê hương mình quá đẹp!
 
- Tôi đã đi từ Huế vào Saigon bằng quốc lộ 1, chỉ có đoạn đường nầy phong cảnh ngoạn mục nhất. 
 
Tôi hỏi:
 
- Gần tới Sông Cầu chưa?
 
- Sắp. Đây là đầm Lệ Uyên.
 
- Trời, cái tên khá đẹp.
 
- Chưa đẹp bằng tên cô.
 
Tôi ngạc nhiên:
 
- Ủa, ông biết?
 
Người thanh niên cười kiêu hãnh:
 
- Hồi nãy ở phòng bán vé, tôi đọc trong danh sách hành khách có cái tên quá đẹp, tôi nghĩ rằng phải là tên cô. Tục ngữ có câu "Nhìn mặt đặt tên" vốn không ngoa.
 
- Ông ranh quá tôi sợ.
 
Xe chạy chầm chậm giữa hai hàng dừa im bóng mát vào thị trấn Sông Cầu.
 
Tới bến, người thanh niên mua một chùm bánh gói bằng lá dừa.
 
- Thổ sản miền nầy, cô ăn lấy thảo.
 
Tự tay anh ta bóc vỏ năn nỉ mời tôi ăn cho bằng được. Chưa kịp nuốt miếng bánh nhỏ bằng lóng tay miệng tôi nghẹn lại:
 
- Phải bánh Phu thê?
 
- Đúng.
 
- Ông phỉnh tôi mà.
 
- Cô cũng dị đoan?
 
Tôi im lặng "ngậm mà nghe" miếng bánh trong miệng như ngậm trái cấm. Người thanh niên cứ cười thầm đắc ý, khoan khoái một cách trẻ con. Xe qua khỏi một bờ vịnh, vòng lên ngọn đèo thấp trông xuống vùng biển nằm khuất giữa bức thành núi đá màu hỏa hoàng. Người thanh niên lại mải mê ngắm cảnh, mắt không chớp, quên cả điếu thuốc đang ngún mau trên tay.
 
- Cô đi chơi Gành Đỏ lần nào chưa?
 
- Gành Đỏ ở đâu?
 
Theo ngón tay chỉ của anh ta, tôi chỉ kịp nhìn thoáng qua dãy kè đá nhấp nhô in hình ráng chiều phơn phớt, bao quanh bởi một lớp khói sóng mờ mờ và một duềnh cát vàng óng ; xe đã rẽ sang hướng khác, đi vào vùng đồi thấp trùng điệp màu lá dại xanh ối, nhìn ngợp mắt.
 
Người thanh niên lại ném tàn thuốc và như mấy lần trước, anh ta vẫn cẩn thận ngó xem nó rơi xuống chỗ nào. Tôi cười nhỏ:
 
- Xem bộ ông còn tiếc mẩu thuốc thừa.
 
- Dạo mới lên Đà Lạt tôi đã vô ý gây ra một đám cháy lớn chỉ vì cái tàn thuốc ném bậy. Lá thông khô hai bên đường bắt lửa ngon lành. Khiếp tới bây giờ.
 
- Ông đi đây đó nhiều nhỉ.
 
- Cô không thấy tôi có một đôi chân dài thòng. Chân ngựa!
 
- Trông ông có vẻ lãng tử.
 
- Tôi yêu hai tiếng đó.
 
- Có bao giờ ông thấy mỏi mệt?
 
Người thanh niên nhìn tôi đăm đăm như dò xét, như hoan hỉ:
 
- Sáng nay!
 
Tôi hơi bối rối giả vờ hiểu theo nghĩa đen:
 
- Vì chuyến xe nầy chật chội, không thoải mái chút nào.
 
- Không đâu, mơ hồ tôi thấy chân mình bị một sợi dây vô hình trói buộc.
 
- Lạ nhỉ.
 
Ngừng một lát, đắn đo, trấn tĩnh, người thanh niên bỗng bạo dạn đưa một bàn tay ra, (dường như định nắm lấy tay tôi) vịn chặt thành ghế, giọng nói hơi run:
 
- Cô có nghĩ rằng chuyến xe nầy sẽ đi mãi, mãi mãi, đi suốt...
 
Tôi cười tự nhiên:
 
- Ông muốn xe rớt xuống hố để níu nhau về cõi thiên thu?
 
- Vậy cũng thích, tôi vẫn được ở bên cô.
 
- Không, xe phải về bến, tôi còn về nhà.
 
- Và mình chia tay?
 
- Đương nhiên!
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
Tôi mím môi lưỡng lự một lát rồi nói nhanh:
 
- Không!
 
- Cô không tin Số mệnh tình cờ...
 
- Không!
 
Người thanh niên nhíu mày khổ sở, khuôn mặt dài ra tội nghiệp. Hồi lâu anh ta mỉm cười gượng gạo rồi bắt chước giọng người hành khất ở bến xe ca vãn:
 
"Chúc cô đường xa mau tới
Đắc tài đắc lợi
Năm mới thêm duyên..."
 
Tôi bật cười:
 
- Cảm ơn ông. Biết tôi phải "làm phước" gì cho ông đây?
 
- Chỉ xin cô tin rằng có Định Mệnh sắp đặt chuyến đi nầy.
 
- Ông đòi hỏi quá sức tôi.
 
Tôi ngạc nhiên nghe giọng mình bực dọc và lạnh lùng quá sức. Người thanh niên uể oải lắc đầu:
 
- Bây giờ tôi xuống đây, trở ra Sông Cầu.
 
- ?
 
- Đáng lẽ tôi xuống bến Sông Cầu hồi nãy nhưng nấn ná đi chung với cô thêm một quãng đường gọi là đưa tiễn. Thế nầy thì không phải lẽ nhưng tôi ngại cảnh chia tay cô ở bến xe Tuy Hòa. Lúc đó, tôi sợ mình không đủ can đảm quay về.
 
Tôi hốt hoảng tưởng như người thanh niên sẽ nông nổi lao đầu ra ngoài cửa xe ngay bây giờ. nét mặt anh ta căng thẳng đầy vẻ liều lĩnh.
 
- Cô có tin rằng mình sẽ gặp nhau lại?
 
- Ông cứ hỏi mãi cái câu hỏi không chút tế nhị, làm sao tôi trả lời được.
 
- Phải, tôi ngây thơ quá. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
Xe dừng lại, người thanh niên tần ngần chào tôi rồi bước xuống. Anh gởi lại cho tôi một ánh mắt nồng nàn tin tưởng, ấm áp hẹn hò. Tôi cúi đầu nhắm kín mắt, lòng nao nao. Dường như xe đang tiếp tục lăn bánh bon bon trên mặt đường êm ái? Gió rít trên tóc tôi, gọi mời níu kéo. Khuôn mặt người thanh niên chập chờn trong trí, xa hút với dặm trường rồi loáng hiện về trước mặt. Bất giác tôi đưa tay sờ mặt ghế bên cạnh: chùm bánh Phu thê còn thoảng hơi ấm. Những chiếc bánh cũng biết thẫn thờ trong bàn tay mân mê.
 
Trang và Ái đón tôi ở bến xe, hai đứa mừng rơn như thể lâu ngày mới gặp nhau lại. Trang đưa tay vuốt lông mày tôi, hỏi nựng:
 
- Có khóc trên xe không "cô bé". Sao âu sầu dường nầy?
 
Tôi đưa chùm bánh Phu thê cho Ái:
 
- Quà đây nè. Bù vào cái bọc hạt dưa mầy biếu.
 
Ái la lớn:
 
- Trời, năm mới đã đớp thứ bánh nầy là điềm sắp có chồng. Biết đâu vài tháng nữa sẽ ăn đám cưới mầy.
 
- Biết đâu. Đang mùa xuân, mọi chuyện đều có quyền hy vọng.
 
- Đầu năm mầy đã mơ mộng, nói y như văn chương. 
 
Tôi muốn tỏ thật với hai đứa bạn đó là câu nói của người thanh niên đồng hành tình cờ gặp gỡ, của một nhà lãng tử vô danh. Bây giờ tôi mới hối tiếc đã quên hỏi tên anh ta. Vâng, phải có cái tên để xác định tác giả câu nói đó, để tôi đặt tên cho chuyến đi nầy, cho một kỷ niệm vui vui trong năm mới.
 
Cô có tin rằng mình sẽ gặp lại? Tôi trả lời với chính mình:
 
- Tôi sẽ đi tìm Ông Định Mệnh để hỏi thử xem. Hy vọng ông ta rất dễ thương, ngoan ngoãn gật đầu. Nhà lãng tử vô danh hãy bình tĩnh chờ nhé.
 
 
PHẠM NGỌC LƯ      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
  

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

ĐỂ RỒI QUÊN NHAU - Trọng Thi


Bé đã đến đây mỗi sáng, mỗi chiều. Đã vui cùng nắng sớm. Đã buồn với mưa chiều. Đều đặn như một công thức đáng yêu.
 
Anh và bé đã quen nhau từ bao giờ nhỉ? Anh không còn nhớ rõ nữa. Chỉ biết mỗi lần bé đến lòng anh vẫn rộn rã, vẫn xao xuyến. Và tâm hồn anh mát dịu hẳn lại, êm ái cơ hồ một ly cam tươi được uống giữa trưa hè nắng gắt. Nếu bé có âu yếm trách anh tại sao không nhớ đến ngày mình quen nhau, anh chỉ biết cười cầu tài một vài nụ để bé hất mặt nguýt anh một cách yêu dấu thôi. Anh vốn không có trí nhớ dai dẳng trong chuyện tình cảm. Nhưng anh lại thích thú cái mớ trí nhớ của anh lạ lùng. Bởi anh còn có nó là tư hữu, là vốn liếng trung thành nhất thôi. Ngoài ra anh còn gì nữa đâu. Vả lại nhớ những điều nhùng nhằng vụn vặt trong quá vãng để những kỷ niệm đó đôi khi làm anh khó chịu, buồn bực và mất mát thì giờ yêu bé. Chuyện gì đã qua cho qua luôn níu kéo làm gì hở bé. Phỏng níu kéo chỉ là việc làm vô vị lợi của dã tràng xe cát thôi.
 
Anh và bé nên vui cùng hiện tại mình quen nhau, thân nhau thắm thiết là đủ. Quá đủ mất rồi. Hạnh phúc là cái gì có thật và đơn giản lắm cơ mà.
 
Bắt anh nhớ lại thì anh chỉ nhớ rất mù mờ, rất mang máng. Một mai sớm nào đó đã xa mù tít tắp trong trí tưởng hình như là thế này. Bé và vài cô bạn đến đây ríu rít lanh chanh như một bầy chim sẻ đùa vui trên cành đón nắng mai hồng. Những mắt môi vừa se thắm, dù lỡ ra có nhợt một tý cũng chả sao. Mai mốt thế nào môi cũng thắm hơn, mắt sẽ tươi hơn, để trang điểm cho đời, để đời nhìn vào đó mà si đắm, mà ước mơ. Đời sở dĩ tươi vui, sở dĩ ồn ào nhộn nhịp cũng vì môi thắm, mắt tươi của đàn bà như bé cả đó.
 
Hôm đó, có lẽ, bọn bé muốn chọc phá anh hơn là muốn mua mấy món đồ lỉnh kỉnh đã, bao giờ cũng, đầy ắp trong cặp vở. Nhìn lướt qua mắt của bọn bé anh đã đọc thấy rõ điều đó: ngộ ghê ta, anh chàng này cũng đẹp trai, cũng đeo mục kỉnh ra dáng gì lắm mà ăn mặc lôi thôi lếch thếch như thế này để bán hàng. Anh chàng nom có vẻ hơi hề một tý giữa khung cảnh này (có phải điều anh đọc được trong mắt bọn bé là thế không?). Những cái nhìn soi mói đó làm anh tự ái, làm anh nhột cùng khắp ngoài da và làm máu bật dậy trong tim bấy lâu yên ổn, nên anh đã đứng thẳng hất mặt thật cao để nhìn bọn bé mặc dù mặt anh đã đỏ lắm rồi.
 
Rõ ràng nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò. Mấy bé tinh nghịch đáo để, diễu cợt vô cùng. Thấy anh đứng nghinh bé vội mở cuộc tấn công đầu châm chọc:
 
- Này anh bán hàng ơi, nhiệm vụ của anh là bán hàng chứ đâu phải đứng ngắm khách hàng. Coi chừng bọn này bắt trả tiền ngắm đó.
 
Cả bọn bấm nhau cười khúc khích. Ban đầu cười nhỏ. Rồi thấy anh bấn loạn xúc xích, tan rối hàng ngũ, các bé cười vừa vừa. Cười to. Cười vỡ chợ. Cười như pháo kích loạn đả. Anh như ông phỗng đá nhưng cũng còn trí khôn để bào chữa:
 
- Tại khách hàng của anh xinh quá và vui quá cỡ thợ mộc nên anh phải ngây ngất chứ bộ.
 
Vẫn tiếng của bé ngọt ngào như đường và chua như múi chanh mọng ướt. Sau này anh ví giọng nói đó như một ly chanh đường giữa trời nằng. Và bé bĩu môi bảo anh khéo nịnh đầm.
 
- Bọn này không thích tán nhảm đâu anh bán hàng ơi. Lo bán hàng cho bọn này đi.
 
Anh được thể, giọng hơi có vẻ Sơn đông mãi võ:
 
- Anh xin vâng lời mấy bé ạ. Các bé mua gì nào. Này sách, này vở, này cam, xoài, ổi xá lỵ và mua luôn cả anh không?
 
Cả ba bốn đôi môi đồng bĩu dài ra cả thước nom thật buồn cười:
 
- Mua anh làm gì?
 
Có lẽ anh làm hề cũng khá duyên dáng nên mấy bé không đến nỗi ghét anh thậm tệ. Bằng chứng là còn có vài cái nhìn, vài nụ cười rơi rớt lại khi bé ra đi. Anh muốn lượm mấy nụ cười, mấy cái nhìn đó quá nhưng anh vụng về khiến nó tan vỡ mất cả.
 
Bé có đồng ý lấy ngày hôm đó là cái mốc để đánh dấu ngày mình quen nhau hay phải lấy ngày khác đậm đà hơn, ít bỡn cợt hơn?
 
Nào để anh lục lọi trong trí nhớ một tí nữa thử xem. Đúng rồi. Chắc phải thế này. 
 
Đã bảo anh để ý đến vẻ chanh chua, nhí nhảnh của bé nên ánh mắt anh thường theo dõi bóng dáng mảnh mai của bé bất cứ lúc nào có bé xuất hiện. Anh mến bé là mến thầm thế thôi chứ đã có dịp nào để được trò chuyện cùng bé đâu. Bé thì vô tình như một viên sỏi quý chẳng cần níu lấy bàn chân của khách bộ hành băng qua đường gì cả dù bàn chân đó rất muốn rủ rê mời mọc bé đi trọn quãng đường. Cũng có vài lần bé trở lại quán hàng của anh nhưng bé vẫn dẫn theo một lũ bạn thì anh kể như vô phương làm ăn. Anh đành thúc thủ. Đành sống cầm hơi. Để cho đôi mắt âm thầm diễn tả vài cái liếc nhìn kín đáo, vài cú đá lông nheo trữ tình. Ôi đôi mắt anh tội nghiệp quá, khốn nạn quá làm cách gì bé cũng chẳng để ý cả. Nhiều khi anh muốn vứt cha cặp kiếng cận vào một xó rồi tự tay móc mù đôi mắt đi vì đôi mắt anh chả quyến rũ, chả làm bé chú ý nổi.
 
Hết đôi mắt anh phải nhờ đến đôi môi. Nhưng môi anh quá lâu ngày ngậm thuốc lá nên cũng chẳng được việc. Mái tóc anh cũng thế. Bàn tay anh cố làm một vài kiểu cách lịch sự anh học lóm được trong xi nê cũng trở nên vô tích sự luôn. Đến phiên cái miệng thì cái miệng lại gặp hên. Chắc là thế (nên sau này anh quý lỗ miệng anh lắm. Anh săn sóc tỉ mỉ. Ngày hai bữa anh đánh kem Hynos như lời mấy quảng cáo viên vậy).
 
Hôm đó thi Lục cá nguyệt (Anh biết thế vì hầu như tất cả học sinh trước bé đã mua giấy viết, dụng cụ trước hai ba ngày) bé trúng tủ thì phải. Anh thấy bé vui cười ra khỏi lớp sớm lắm. Anh đã đợi sẵn rồi, quý hồ thấp thoáng dáng dấp của bé anh theo dõi liền. Anh y như cục nam châm trước một thỏi sắt vậy. Bé vừa đến cổng trường đã có mấy thằng đầu tóc rất cổ quái chận bé lại nói gì đó. Ở xa, anh cứ đinh ninh mấy thằng đó quen bé. Tự nhiên anh ghét bọn đó lạ. Anh muốn quỷ Satan, quỷ Lucifer hiện lên giết quách cả bọn cho xong. Và anh ôm đồm ghét luôn cả một phong trào Hyppies đang bành trướng một cách mạnh mẽ. Không phải anh có ý hướng làm lành mạnh, làm bóng loáng cái xã hội này đâu bé. Anh ghét bởi anh thấy bọn nó đang tán bé, và tưởng bé đang thỏ thẻ những lời vui, đẹp nhất từ đôi môi bé mọng và mắt liếc sáng ngời kia.
 
Nhưng anh đã rất mãn nguyện khi thấy bé vùng vằng tránh lối phong tỏa của mấy thằng nhóc tóc dài đó. Và tuy ở xa anh cũng thấy được vẻ giận dữ và bối rối của bé. Bé còn nói gì với bọn nó nữa. Anh chỉ mong bé nhiếc những lời thật đau đớn cho bọn nó thôi. Cho thật chua ngoa, thật mỉa mai cho đau như xát vôi nhé bé.
 
Bọn nhóc đó rõ là một lũ vô tích sự và không biết điều nữa. Chúng xoắn xít lấy bé. Bao vây bé lại. Bé phải di tản chiến thuật. Bọn chúng biết dùng chiến thuật cài răng lược để ngăn cản bé. Bọn nó còn bạo dạn hơn giơ tay níu lấy cặp sách, lấy cánh tay bé. Ôi những bàn tay thô kệch, những bàn tay trần tục lại dám giơ lên để vuốt tóc bé. Đám mây trời tinh khiết đã bị luồng mây chó giỡn mặt. Tóc bé chắc phải gội mất cả gánh bồ kết mới tinh khiết lại được.
 
Bây giờ anh đã nghe rõ được lời tán tỉnh bất lịch sự, quê kệch nhất của bọn nó và tiếng giận dữ của bé. Mất dạy. Con trai gì mà. Quê. Và bé như muốn khóc.
 
Thú thật là anh khoái lắm khi bé rủa chúng như vậy. Anh còn muốn chỉ cho bé cách rủa chúng thậm tệ và hàng tôm hàng cá hơn nữa kia. Đồng thời máu nóng anh cũng dồn lên mặt và lên hai nắm đấm khiến anh muốn đấm vỡ một cái gì cho dẹp nát cho tan cơn giận. Anh ngẫm nghĩ một lúc, mặc dù thấy mình nhỏ con và đôi mắt kiếng là một bận rộn lớn khiến không thể ăn thua đủ với bọn kia, những ba bốn tên du đãng (anh kết án chúng như vậy) thế mà anh vẫn xê dịch từ từ về phía bé.
 
Bé thấy anh như kẻ chết đuối vớ được phao trao luôn cả đôi mắt cầu cứu. Ánh mắt của bé làm anh anh dũng tiến lên, tiến lên về phía bọn nhóc tóc dài. Thay vì xông xáo như một hiệp sĩ xông pha giữa ba quân để cứu nguy nàng công chúa tuyệt vời thì anh nhỏ nhẹ:
 
- Này các bạn, mong các bạn bỏ qua. Em gái tôi đấy.
 
Phải một pha dàn xếp khéo léo nhờ miệng lưỡi mấy thằng tóc dài mới thôi. Có lẽ thấy anh ăn mặc lếch thếch bẩn thỉu, không muốn dây với hủi nên chúng phú lỉnh ném lại những cái nhìn tiếc rẻ.
 
Bé nhìn anh tỏ ý muốn cám ơn mà hình như còn ngại nên anh ra vẻ kẻ cả:
 
- Về thôi cô bé. Nhớ lần sau đừng lân la trò chuyện với bọn đó nữa.
 
- Dạ đâu có quen bọn nó đâu. Khi không chúng chọc ghẹo chứ bộ.
 
- Thì anh dặn chừng vậy mà. Lần sau anh không thèm can thiệp cho đâu.
 
Vẻ hốt hoảng của bé dần dần đã tan bay đâu mất và bé nói:
 
- Anh xạo lắm.
 
Anh ngạc nhiên vô cùng. Anh mà xạo. Thương bé thấy mồ chứ bộ. Mắt anh mở lớn một dấu hỏi thì bé cười cười:
 
- Ai đâu là em gái của anh. Anh nhận ẩu không à.
 
Anh bật cười:
 
- Bộ cô bé làm em của anh không được sao?
 
Bé bĩu môi dài ngoằng:
 
- Xí, ham lắm.
 
- Được nhé. Lần sau ai chọc, ai ghẹo chả thèm can nữa đâu.
 
Bé cười huề xí xóa. Anh hài lòng lắm nhưng cũng mơ hồ thấy một vẻ gì (?) thích thú trong mắt bé bắt đầu chợt hiện.
 
Lần này thì bắt buộc bé phải đồng ý cùng anh là mình đã bắt đầu quen nhau phải không nào?
 
Và từ đó anh thấy cuộc đời hết tẻ nhạt, đã không còn hắt hủi anh nữa (thủa chưa quen bé, đang mơ tình bé anh vẫn nghĩ thế). Ánh rạng hồng đã đâu đây lóe sáng như bình minh của ngày làm chìm hẳn đêm tối.
 
Anh đã có lúc vừa giúp chị bán hàng trông quán vừa nói chuyện mê man với bé. Hoặc đã có những chiều thứ bảy, những sáng chủ nhật vui vầy cùng bé. Những lúc đó anh muốn quên tất cả những phiền toái đang làm khổ anh tháng ngày. Anh muốn cám ơn bé đã cho anh mối tình êm đẹp lúc này. Cám ơn thượng đế đã, ít ra, ngài rất công bằng bù đắp cho anh những ngày tháng thảm buồn này bằng sự trong sáng bé mang đến.
 
Bé luôn giận hờn vu vơ khiến anh phải dỗ dành xin lỗi đến tím mật. Môi bé đã thắm càng thắm xinh vì sự chọc ghẹo của bạn bè và anh riễu cợt chọc tức. Mắt bé cũng ngời sáng thêm trong đoạn đời con gái vừa lớn trong những thương mến tràn bờ.
 
Những ngày thân ái đó bé thường thắc mắc về lý lịch của anh. Về trường hợp một gã con trai nom có vẻ sạch nước cản hay ít ra cũng có một sự học không kém mấy (nguyên văn lời bé) khả dĩ thi thố được với đời mà tại sao lại lôi thôi lếch thếch bán hàng như thế này.
 
- Anh làm gì? Hay còn đi học? Anh học đến đâu? Sao ít thấy anh dẫn bé đi chơi xa? Hình như anh rất sợ mấy bác cảnh sát...
 
Anh tái mặt bảo bé đừng tò mò. Có những việc bé đừng nên tìm hiểu thêm chi cho mệt trí, cho rộn ràng. Cuộc đời là những khúc mắc điệp trùng đừng nên tìm kiếm cho nó dây vào mình. Hãy ấp ủ những gì xôn xao trong tim và ngang tầm hiểu thơ ngây của bé thôi. Và hãy xem anh như một trường hợp đặc biệt hơi hiếm để thương mến anh là đủ. Vậy mà bé vẫn bướng bỉnh nhất định yêu sách cho bằng được. Anh vốn mềm yếu trước đôi mắt tha thiết, trước vẻ mặt xụi lơ của bé nên nhún vai cười:
 
- Thì anh là một chú bán hàng. Ngày hai buổi nói cười tở mở để mua lòng mấy cô bé khách hàng như bé mong bán được nhiều.
 
- Không, việc bán hàng là phụ. Bé muốn hỏi bây giờ anh làm gì chẳng hạn còn đi học, đi lính, đi làm hay gì nữa...
 
Anh khôi hài:
 
- À, ngoài việc thường ngày đó anh còn kiếm thêm nghề ngỗng nữa.
 
Bé ngạc nhiên, mắt bé mở căng đến độ muốn toét lòi hai con ngươi ra ngoài:
 
- Nghề ngỗng? Nghề ngỗng là gì?
 
- Có nghĩa là ngổng cổ ra đợi: đợi tiền gia đình cấp hàng tháng, đợi thời gian mau qua, đợi hòa bình chóng đến. Hoặc đợi một mai sớm đẹp trời nào đó (...) ra đi.
 
- Anh nói gì bé không hiểu?
 
Cuối cùng anh cũng phải giải thích cho bé nghe một cách đại khái rằng là trường hợp của anh không đàng hoàng cho lắm, nên về ẩn cư đây bán hàng qua ngày giúp bà chị dâu. Rằng là anh không có nhiều tiền nên trong bóp anh cũng rất ít giấy tờ phòng thân. Anh chỉ nói mơ hồ thế. Và bé nhìn anh rất lạ.
 
Hồi đó anh sa lầy trong cơn mê tình tứ, anh chả phân tích thái độ của bé. Chỉ biết là trong tất cả các mối tình của anh có được bao giờ anh cũng thành thật đôi khi hóa dại và lụy vào thân. Mặc kệ, tại bản tính trời phú cho anh như thế cơ mà. Làm sao xóa bỏ cá tính khi biết nó chẳng có hại cho ai cả.
 
Cũng vì lý do đó mà anh ít đưa bé đi chơi xa trong thành phố này. Mối tình của anh và bé bởi thế có nhiều thiếu sót như món ăn thiếu đi vài ba đồ gia vị. Và cái điều phụ như thế đó biết đâu làm cho ta ghiền nhau, nhớ nhau mãi.
 
Thời gian anh và bé quen nhau kéo dài đến cuối niên học. Cuộc tình đã không có những xúc động lớn, không kết đầy máu và nước mắt như trong tiểu-thuyết-tình-cảm-ái-tình-lẩm-cẩm. Cuộc tình vẫn thường tình. Vẫn lửng lơ con cá vàng nhưng đó là những bông hoa dại đan kết cho tâm hồn anh vòng hoa rất đáng giá. 
 
Dĩ nhiên anh và bé cũng có khi giận hờn nhau, lục đục với nhau. Và bao giờ anh cũng là kẻ đầu tiên nhượng bộ. Tội nghiệp cho cuộc tình mà anh không đồng cân lượng với bé.
 
Anh còn nhớ một lần lý sự cùng nhau chuyện thi cử, bé bảo:
 
- Bé gần thi rồi đó. Anh có cầu nguyện cho bé thi đậu không?
 
- Anh chả cầu nguyện thế đâu. Anh còn mong ước trái lại nữa.
 
- Anh muốn bé rớt? Anh không thương bé, muốn bé chuốc lấy khổ đau sau một năm thức khuya dậy sớm?
 
- Ừ đó, anh không muốn bé đậu chút nào hết.
 
Bé vùng gắt:
 
- Tại sao?
 
Anh lý luận:
 
- Con gái học không nên đậu. Đi học chữ nên để làm cảnh, làm nhức tim thiên hạ thôi. Có hai trường hợp khiến anh không muốn bé đậu: bé đậu rồi mai mốt đây bé lớn mất. Và con gái học cao rất khó lấy chồng. Bé biết bao nhiêu cô học cao đang dở khóc dở cười không?
 
Bé đánh anh thùm thụp:
 
- Anh ích kỷ và gàn lắm.
 
Anh cười và bé đã giận anh hơn một tuần.
 
Đã bảo bé khó tính và bướng bỉnh lắm nên nhiều lần anh muốn biết nhà bé, bé đều từ chối. Bé viện đủ lý do:
 
- Chó nhà bé rất dữ. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé quê lắm. Nhà bé xa lắm. Ba má bé rất khó.
 
Các lý do bé đưa ra anh đều cười bảo không sao. (Thực ra anh muốn biết nhà bé cũng không khó lắm, chỉ lò dò theo bé một bữa là biết ngay.) Nhưng lý do đã khiến anh sợ hơn chó dữ, sợ hơn nhà khó kiếm, hơn sự quê mùa đó là bé bảo ba má bé khó. Từ rất xưa anh vẫn rất sợ phải đụng mặt mấy ông bà già của các cô gái mà anh quen (điều này đã khiến anh vài lần bị kết án oan: sở khanh) anh chỉ lắm chuyện khi hai đứa tâm tình lảm nhảm chứ nếu phải ké né dạ dạ thưa thưa với ông bà già của các cô gái mà anh quen anh lại bết bát kinh khủng. Anh thấy mình ngố ra, và tay chân thừa thãi tất cả. Tay không biết để đâu cho yên. Mắt môi rung rung hấp ha hấp háy. Tóm lại anh chỉ muốn độn thổ cho xong. Vả lại cái bề ngoài lôi thôi của anh: tóc tai rậm rì, quần áo dơ bẩn, râu ria không cạo và nhất là trên môi bao giờ cũng có điếu thuốc đính kèm thì không bao giờ chiếm được cảm tình của các bậc làm cha làm mẹ.
 
Rõ ràng ghét của nào trời trao của nấy. Cuộc tình của anh và bé vẫn êm như một tờ giấy pelure, vẫn yêu kiều như chiếc lá vàng lả lơi của mùa thu kề cận thì một buổi sáng cơ sự xảy đến. Sóng gió đã xô đẩy thuyền tình anh lật úp giữa ba đào sóng gió.
 
Má của bé đã đến. Má của bé thật lịch sự. Cái lịch sự đó lại rất đáng sợ. Bà nhẹ nhàng hỏi tên anh. Hỏi về mối tình của anh. Và nghề nghiệp nữa. Anh thật thà như đếm nên khai hết. Rõ ràng rành mạch.
 
Bà cũng nhìn anh cái nhìn rất lạ, rồi nói:
 
- Tôi mong cậu từ nay đừng rủ rê con tôi nữa. Nó còn nhỏ. Để cho nó học hành. Đời nó phải khá.
 
- Chúng cháu chỉ quen nhau trong veo như tình bạn.
 
- Tôi bảo là cậu nên chấm dứt đi. Cậu hứa với tôi nhé.
 
Anh đã đau khổ gật đầu bằng lòng.
 
Mãi sau này anh vẫn không minh định đó là sự dại dột hay khôn ngoan nữa. Tính anh vẫn thế. Phân chia rõ ràng. Dĩ vãng. Hiện tại. Tương lai. Ít khi anh nối kết. Cho chúng xa lạ rời rạc để thứ này không chịu trách nhiệm, hay quyến rũ thứ kia.
 
Ba bé đến tìm anh một vài lần xin lỗi, bảo có đứa bạn chơi xấu về mách nhưng hình như sau này đã có cái cách ngăn nên anh và bé không còn hào hứng trong cuộc tình nữa.
 
Và đúng ngày bé đi thi. Anh cũng ra đi.
 
Cho đến bây giờ anh cũng chẳng biết năm đó bé có đậu không. Hay mọi công lao cố gắng của bé đã rớt mất theo ý của anh.
 
Bởi vì anh và bé đã chẳng còn liên lạc, chẳng còn dính dáng gì với nhau từ lâu nay.
 
 
TRỌNG THI      
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 90, tuần lễ từ 22-2 đến 1-3-1973)
 
 
 

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

XUẤT HÀNH NĂM MỚI - Võ Hồng

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia. Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Đông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Đến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những sự viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

- Ba phải chở thằng Hào đó, - tiếng con Hằng, con lớn của chàng bảo.

- Ừ, để ba chở.

Thủy, con bé nhất phụng phịu:

- Không, ba chở con. Để chị Hằng chở anh Hào.

- Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

- Nhưng anh Hào gầy...

Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vừa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

- Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

- Kệ nó.

Tiếng Hằng cãi:

- Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

- Ừ, thôi cũng được.

Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày chàng vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

- Ba chải giùm tóc cho con đi.

Chàng chỉ xuống chân:

- Sao lại mang xăng đan thế kia? Mang giày vào.

Hào cau mặt:

- Nhưng đâu mất một chiếc tất.

- Hỏi con Bốn xem. Bốn ơi, tất của em để đâu?

Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va li. Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

- Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

- Đâu có. Đêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

"Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con bé này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vào mua. Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

- Đồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Đó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

- Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm hưỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

- Con đi sát vào bờ lề một chút.

- Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

- Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Đừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

- Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

- Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

Hào đề nghị:

- Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

- Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con.

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải gọi nhau, chạy tìm nhau, va cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự do. Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự do. Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra -nhất là những bộ mặt đàn bà - làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mê. Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Để họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩn vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

- Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Đầm là vì vậy.

- Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia ba? - Thủy hỏi.

- Đó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

Hào vội vàng hỏi tranh:

- Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

- Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

- Lễ là cái gì?

- Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Đường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Đi quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chứ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

Lúc xe đi gần tới nghĩa địa, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

Tiếng Hằng hỏi:

- Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

- Ừ.

Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Đặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

- Ba ơi! Đây mộ của má đây rồi.

Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như thế mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như thế. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh thường mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

Đó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm hương vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân hương mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn hương vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

- Bây giờ má ở đâu ba,

- Má ở trên trời.

Đó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

- Má có ăn Tết không ba?

Hào "xí" ngay:

- Mày cứ nói bậy. Đã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bĩu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

- Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

Chàng cầm lấy tay Hào nói:

- Thủy nó bảo vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

- Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

- Con lớn con biết thế chứ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

- Ý ba muốn con thưa cái gì?

- Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thua. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

- Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

- Có thể như thế. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lúc má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

- Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

- Phải đó.

Hào nói;

- Để con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

- Ừ.

Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

- Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to.

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương to. Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó hương trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó hương, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó hương đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xắc nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì theo một thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không giấu được sự âu yếm nhau.

Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngả. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của người bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

- Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trời thì làm sao má nghe được?

- Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

- Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, - người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng - Ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Đó là một bức thư gởi thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

"Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

- Nguyễn Thới là ai vậy ba?

- Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

- Thế anh ta viết để làm chi vậy?

- Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thư. Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

- Anh Ca viết hở ba?

- Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

- Thế ba có xem không?

- Không có, vì anh Ca không viết trả lời mà cũng không dán.

Hằng nói:

- Cái ý kiến đó cũng hay, hở ba? Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

Chàng mỉm cười:

- Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như thế, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

- Còn thằng Hào? - Chàng cất tiếng hỏi.

- Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào. - Tiếng con Bốn trả lời.

- Còn Thủy?

Bốn cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

- Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

- Hay nó sang bên con Sa?

- Không có đâu - chàng gạt liền - Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

- Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

Hằng ra đứng ở cửa kêu:

- Thủy ơi.

Không có tiếng trả lời.

Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

- Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ngả nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

Má ơi,

Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

Võ thị Tri Thủy

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ - Hồ Đắc Duy


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
Núi Ba Tầng thiết đàn làm lễ
Cáo đất trời xin để lên ngôi
Quang Trung hiệu triệu mấy lời
Lập tức hạ lệnh đi ngay lên đường

Đến Nghệ An lấy quân tinh nhuệ
Mười ngàn người chưa kể dân binh
Vài trăm voi chiến theo mình
Chia quân tả, hữu năm doanh rõ ràng

Vua Quang Trung đường đường trước trận
Áo hoàng bào lẫm liệt oai phong
Gươm thiêng nạm ngọc đeo cùng
Trên đầu voi chiến hào hùng ruổi rong

Sau năm ngày bụi hồng lấm áo
Tới ngang đèo dựng giáo nghỉ chân
Vua cho mở tiệc khao quân
Định ngày mùng bảy đầu xuân sẽ vào

Thăng Long thành ngày đầu năm mới
Từng nụ đào chớm thẹn gió đông
Búp non lấm tâm cành hồng
Mai vàng núp bóng thẹn thùng nắng mai

Vua Quang Trung đến ngay Giáng Khẩu
Hành quân qua đánh đạo Sơn Nam
Hà Hồi ở cách trung tâm
Thăng Long nhắm hướng phía Nam nửa ngày

Quân Tây sơn bao vây kín mít
Mà giặc Thanh chẳng biết chút gì
Đầu hôm cho đến nửa khuya
Ẩn vào đồn giặc đợi thì tấn công

Sáng mùng năm Quang Trung vừa đến
Đồn Ngọc Hồi giặc chẳng dám ra
Cửa thành đóng kín chằn qua
Trên thành lố nhố hằng hà chông tre

Vua sai lấy ván che rơm ướt
Cho trăm voi lên trước tấn công
Vượt qua hoả pháo gai chông
Dập dồn súng trận xung phong đánh vào

Xáp lá cà vượt hào chiến luỹ
Quân Mãn Thanh khiếp vía chạy dài
Cúp đầu chúng chẳng vểnh tai
Xác quân giặc chết chất đầy thảm thay

Hứa Thế Hanh chết ngay tại trận
Trương Sĩ Long cũng chẳng hơn gì
Quân Thanh đại bại ê chề
Theo đê Yên Phụ chạy về Đông Quan

Giặc Mãn Thanh đầu hàng tan tác
Một cánh quân chạy lạc vào đầm
Chết vì ngựa đá voi dầm
Chết vì đói khát cạn dần binh lương

Đô đốc Long chặn đường lũ giặc
Dùng kỵ binh đánh gắt Đống Đa
Thâu đồn Khương Thượng về ta
Giặc Thanh khốn đốn phải ra đầu hàng

Sầm Nghi Đống cùng đường nhỏ lệ
Thắt cổ mình ở luỹ Nam Đông
Lính thì tên trúng trận vong
Chết hơn quá nửa, nửa làm tù binh

Nghe được tin ở thành Khương Thượng
Đã đầu hàng, binh tướng bị giam
Khiến Tôn Sĩ Nghị kinh hoàng
Kéo quân chạy trốn qua đường cầu phao

Cánh Vân Nam vừa vào cửa ải
Nhận được tin thất bại bàng hoàng
Tổng đốc Lưỡng Quảng vội vàng
Thu quân tháo chạy theo đường Nam Quan

Lê Chiêu Thống theo chân tổng đốc
Cùng tàn quân xâm lược Mãn Thanh
Chạy về đến được Yên Kinh
Lưu vong đến thác giận mình ngu si

Từ Trang Tông đến Lê Chiêu Thống
Mười tám đời tổng cộng hai trăm (1533-1789)
Sáu lăm năm (265) cũng đủ làm
Triều Lê hưng thịnh nước Nam một thời

Ngày mùng bảy tháng giêng Kỷ Dậu (1789)
Giữa kinh thành còn dấu chiến tranh
Gò đồi đầy xác quân Thanh
Đường in vó ngựa, trên thành cờ bay

Tiết Khai Hạ, vua bày trước trận
Lễ ăn mừng chiến thắng quân Thanh
Áo bào khói súng bám quanh
Trên mình bạch mã long lanh giáp vàng...
 
                                                 HỒ ĐẮC DUY
                                 (Trích thơ Quang Trung Hoàng Đế)
 
Nguồn : thivien.net 

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

VỀ MỘT MÙA XUÂN DỰ TƯỞNG - Hoài Diễm Từ


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
tạm thời đưa em về bên đó
thắp ngày vui rũ sạch áo hoàng hôn
ta sẽ lấy nhau như những tin đồn
tiệc thời gian mượn mùa xuân làm chứng
 
gió bớt lạnh bởi có tình hâm nóng
trời có buồn mây trắng sẽ làm quen
ta sẩy chân vào chốn ưu phiền
hãy bình tĩnh ướp đời nhau bát ngát
 
hãy thong thả mở phơi tình tươi mát
đợi bướm về ăn cưới những cành hoa
anh sẽ đưa em đi hỏi từng nhà
tìm tuổi thơ lầm than trong trí nhớ
 
ta dắt dìu nhau trở về quê cũ
thả thuyền con cùng khai hội dòng sông
em đừng quên hát mừng tuổi ruộng đồng
vì mái tóc chở đầy hương lúa mới
 
tạm thời gửi mùa xuân về bên đó
nắng chia vui lộc biếc nở đầy cành
trong trái tim giáp mặt những đường ranh
những ngã rẽ đưa người chung một lối
 
không còn ai trong tình buồn đứng đợi
em thẹn thùng tô một chút son tươi
tựa vai anh trang điểm lại môi cười
lòng ấm cúng như mặt trời mới mọc
 
em xõa tóc đắp hồn nhau thơm ngát
anh bỏ phố rêu bỏ núi bỏ rừng
cầm tay em soi bóng xuống dòng sông
nghe vũ trụ nói tình yêu thành thật.
 
                                          HOÀI DIỄM TỪ 
 
(Trích từ giai phẩm Xuân Hồng 1973)