Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm văn Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm văn Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2025

TIỂU NƯƠNG - Phạm văn Bình


Đồng Khánh, tên ngôi trường nữ trung học nổi tiếng ở Huế, vùng trời mơ ước, thần tiên của những trái tim mới lớn, đập loạn xạ một luân khúc mang tên tình yêu. Đồng Khánh, nơi tụ họp của đàn thiên nga cánh trắng bay xuống từ trời cao làm đẹp thành phố, những thiên nga mỹ miều, lông mượt tưởng như chỉ xuất hiện trong những chuyện cổ tích kể bên bếp lửa hồng trong những ngày đông tháng giá. Ngôi trường hai tầng quét vôi màu hồng trông xa như một lâu đài diễm lệ, mỗi sáng mỗi chiều choáng ngợp hàng ngàn cô gái áo trắng tóc thề, nón bài thơ nghiêng nghiêng bờ vai. Họ thoăn thoắt bước lên từ bến đò Thừa Phủ... nơi dòng sông Hương còn ngây ngất phản chiếu những gương mặt hoa, xuống từ cầu Tràng tiền, Vĩ dạ ngược lên, Bến ngự, Kim long đổ về.
 
Bao nhiêu ánh mắt si mê, rực lửa, mơ mộng đã hướng vào thảm cỏ xanh bao quanh ngôi trường có cái tên gợi cảm ấy. Bao nhiêu nốt nhạc hồng, những bài thơ nồng thơm mùi mực tím đã được "sáng tác" để ca ngợi đàn thiên nga xinh đẹp, những loài hoa hiếm trong vườn địa đàng. Đồng Khánh chính là vườn hoa của Huế. Ngôi trường một thời đã làm trái tim tôi rướm máu và chứng kiến những cánh hoa tương tư đầu đời rụng xuống dòng sông thời gian. Ngôi trường luôn khoác lên mình chiếc áo đẹp đẽ, quyến rũ trong mọi thời tiết, mùa màng. Mùa xuân dĩ nhiên đẹp nhất, cỏ xanh, áo trắng và đôi môi cũng hồng hơn. Mùa hè, nắng hổ phách reo vui bên ngoài khung cửa lớp, phượng vĩ nở đầy những chùm hoa đỏ rực rũ la đà xuống bờ sông. Mùa thu, trời mây bàng bạc, mưa ngâu rả rích và những chiếc lá vàng thờ thẫn rụng xuống sân trường hoặc nghịch ngợm bay tạt vào lớp học. Thời tiết thuận lợi cho những vần thơ tình thả xuống như tơ trời lãng đãng đâu đây. Và mùa đông, trời sỉnh, sương mù, mây màu chì ảm đạm, gió lạnh hun hút lồng lộng khắp không gian, ngụm khói thuốc ấm cúng bay lên mong xuyên qua cửa kính, lời tỏ tình thầm lặng với người yêu đang ngồi chăm chú nghe giảng bài trong lớp về sự hiện diện của một chàng trai si tình vừa rời căn phòng ấm cúng, trốn học, đứng thu mình dưới gốc phượng, phì phèo thuốc lá, nhìn lên ngôi trường thân yêu như một tín đồ chiêm ngưỡng hình ảnh Đức mẹ.
 
Nhập đề hơi dài dòng về ngoại cảnh trên đây tôi chỉ muốn giới thiệu đến quý vị một nhân vật trong đàn thiên nga xinh đẹp ấy : Tiểu Nương. Nàng rực rỡ, kiêu sa trên sân khấu vĩ đại được kết bằng những sợi tơ trời lóng lánh huyền diệu giữa vườn hoa muôn sắc rộng lớn, đóa hoa hiếm quý chỉ tìm thấy trong vườn thượng uyển hoặc địa đàng. Cho đến bây giờ, khi đã xa nhau mỗi đứa mỗi đường, không còn dịp nào gặp lại, sự chia cách của những nhánh sông đời, vâng, cho đến bây giờ, tôi vẫn cứ tưởng rằng nàng không hề có thật trong cõi đời này. Thật ra chúng tôi chỉ gặp nhau trong một giấc mơ nào đó, giấc mơ đẹp đẽ được vây bọc bởi những đám mây hồng, không gian thơm ngát hương hoa và vang lừng tiếng nhã nhạc.
 
Tiểu Nương. Tên chi mà lạ lùng! Ai đặt cho nàng cái tên hay đến thế? Ai sinh ra nàng trong cõi đời đáng yêu này (dĩ nhiên là mẹ nàng). Nàng đến, thắp sáng những vì sao trong cuộc đời tối tăm của tôi. Hoa đã nở, mặt trời đã mọc, dọi xuống nhân gian những tia nắng ấm áp, những cánh bướm bay về trong ngày hội lớn và trăng rải những giải lụa vàng ngọt ngào như sữa. Nàng đến, dịu dàng và kiêu sa như một tiên nga, mặc khải cho tôi sự huyền nhiệm của đời sống, ngân lên trong hồn tôi những cung bậc thánh thót, kỳ diệu của tình yêu đầu đời, tình yêu không bao giờ đi đến một kết thúc trọn vẹn, nhưng làm ta nhớ, khiến ta thổn thức khi nhớ về, bâng khuâng lúc nghĩ tới. Đó là kỷ niệm...
 
Dạo đó tôi là học sinh trường Quốc học, ngôi trường cũng được kiến trúc hai tầng chỉ cách Đồng Khánh một con đường nhỏ. Sự gần gũi, sắp xếp của định mệnh. Trường nào cũng được bao bọc bởi những bức tường cao. Bên này sợ bên kia rủ rê và bên kia sợ bị bên này quyến rũ. Đó là quan niệm khắc nghiệt của những người lớn, các thầy, cô hiệu trưởng, giám học kể cả phụ huynh học sinh. Chúng tôi, những nam nữ học sinh của hai trường trung học nổi tiếng nhất cố đô này chắc phải cởi mở hơn, sự cởi mở chỉ nằm bên dưới ranh giới của sự khắc nghiệt, nhất là các nữ sinh Đồng Khánh, các nàng khôn thấy mồ, khép kín như những con ốc sên thu mình trong lớp vỏ cứng. Nên tình thường là những mối tình không tên, một chiều, những con đường một chiều : Cho thì nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu. Thỉnh thoảng, vài con ốc sên mới chịu thò đầu ra khỏi lớp vỏ đón nhận hơi mưa, những phong thư tình màu xanh, hồng lâm ly bi đát, những bài thơ tình mực tím lọt vào vùng đất cấm, những sứ điệp của tình yêu rơi xuống thảm cỏ xanh, giấu kín trong sách vở, cặp sách.
 
Tôi gặp Tiểu Nương lúc nào, tôi cũng không còn nhớ rõ ngày địa chấn của hồn mình. Hôm đó có thể là một ngày đầu thu, mùa tựu trường đã đến. Rong chơi suốt ba tháng hè với trời xanh, nắng cháy, trái cây trĩu nặng những ngôi vườn miền quê đã chán, chúng tôi thường nôn nao đến trường thật sớm trong ngày đầu niên học này. Đến sớm để nhìn lại trường, lớp và những bạn bè cách xa, xem ai còn ai mất.
 
Buổi sáng đầu thu trời gây gây lạnh nhưng chưa mưa. Tôi đã dằn bụng một tô bún bò giò heo bốc khói với ớt cay chảy cả nước mắt. Mẹ tôi, như thường lệ dúi vào túi tôi năm đồng để chốc nữa lúc ra chơi tôi có thể mua một gói đậu phụng rang dòn nóng. Bà quên mất năm nay tôi đã mười bảy tuổi, lên lớp đệ nhị và chuẩn bị thi tú tài một. Không gì thì tôi cũng là ông tú tương lai nên đâu có ăn quà vặt như trẻ con nữa. Năm đồng đó tôi dành mua sáu điếu thuốc "ruby" lẻ. Dạo này sao tôi hay buồn vẩn vơ và lại tập tễnh làm thơ nữa. Những bài thơ sai niêm luật xứng đáng cho vào Bảo Tàng Viện con cóc nhưng dầu sao tôi cũng nhìn thấy sự tiến bộ của mình. Trong thơ đã biến mất những danh từ quen thuộc như lớp tôi, trường tôi, ba mẹ hoặc làng tôi. Nhân vật nữ đã đến thay thế cho những chữ khô khan trên đây. Những câu thơ vụng dại đã thấp thoáng chữ nàng. Nhưng. Nàng là ai?
 
Tại sao tôi nhìn thấy nàng, khám phá ra nàng giữa đàn thiên nga cánh trắng xinh đẹp trong buổi sáng mùa thu dịu dàng sương khói đó? Tại sao tóc nàng mượt hơn, da nàng trắng hơn, đôi mắt thăm thẳm, môi nàng hồng hơn những thiếu nữ khác đang đứng trước cổng trường chờ giờ vào lớp? Cây gậy thần nào của thánh Moise đã rẽ lối cho những bước chân vụng dại, si mê của tôi tìm đến nàng. Khung cảnh thơ mộng, đẹp như một bài thơ của Huế là môi trường thuận lợi cho trái tim si dại, nhiều mê đắm của tôi. Tôi như một thân mầm mới lớn lao vào đời sống, chỗi dậy mạnh mẽ và trong hồn tôi lúc nào cũng đầy ắp những nốt nhạc ngân lên thánh thót, bắt đầu bằng âm thanh êm dịu của hai tiếng Tiểu Nương. Tiểu Nương đánh thức tôi dậy củng buổi nắng mai hồng, tôi đạp xe từ nhà tới trường hăng say như một lực sĩ, thỉnh thoảng cao hứng bóp chuông kính coong để chia sớt niềm vui với cây cỏ còn đẫm sương bên đường. Tiểu Nương theo bước chân tôi lang thang những buổi chiều khi ánh nắng thếp vàng tháp nước Kim long, nắng mơ màng trên dòng sông Hương xuôi chảy lặng lờ. Có hình ảnh nàng lung linh trên sóng nước, có khuôn mặt kiều mị, thanh tú của nàng thấp thoáng trong bóng mây, tiếng cười ròn rã, thơ ngây làm chao vỡ anh trăng và đôi mắt xa vắng, thăm thẳm của nàng long lanh trên những vì sao mới mọc.
 
Tôi yêu lặng lẽ nhưng say đắm. Tôi tương tư. Làm sao nàng biết ánh mắt lạc thần của tôi bên này con đường nhìn sang mỗi lần nàng ríu rít trò chuyện với bạn bè trong giờ ra chơi. Tôi trốn học nhiều lần, ăn cắp tiền mẹ tôi mua thuốc lá lẻ, ra ngồi quán Lạc sơn nhấm nháp cà phê, uống tất cả cay đắng vào lòng. Tôi muốn cắn nàng thành từng miếng nhỏ, muốn nắm lấy bàn tay búp măng trắng muốt của nàng, cùng nàng sánh vai dạo bước trong đêm trăng thu. Tôi thèm nhìn mái tóc thề óng ả như những sợi tơ trời quyện bay trong gió. Nếu được diễm phúc hôn lên mái tóc hay úp mặt vào suối tóc thơm ngát hương ngọc lan, tôi sẽ thì thầm cho nàng nghe câu thơ: "Em ơi, vệt sáng phù kiều bắc cầu Ô Thước. Ta suốt đời ngư phủ chở con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh".
 
Những điều tôi muốn trên đây chỉ xảy ra trong giấc mơ và mối tình câm, tình một chiều của tôi đối với Tiểu Nương kéo dài gần một năm. Mùa hè sắp đến. Chúng tôi sửa soạn thi cử đồng thời tham dự những trận tranh giải thể thao thường được tổ chức vào cuối niên học. Tôi vốn là cầu thủ trong đội bóng nhà trường và vai trò này đã giúp tôi có dịp làm quen với anh nàng vừa mới được bổ sung vào đội bóng. Tôi trổ hết tài ngoại giao và chỉ trong vòng một tháng chúng tôi trở thành đôi bạn thân. Một buổi chiều, Tuấn, anh Tiểu Nương rủ tôi:
 
- Biên ơi, về nhà tao chơi đi. Hôm nay mạ (mẹ) tao nấu chè đậu xanh đánh.
 
Chè đậu xanh đánh là món sở trường của tôi nhưng chắc lúc đó tôi nghĩ đến dịp hội ngộ với thần tượng của tôi hơn. Tôi từ chối chiếu lệ:
 
- Để bữa khác đi. Chiều rồi, mình phải về.
 
Tuấn cầm tay tôi lôi đi:
 
- Không bữa khác bữa khiếc gì hết. Con trai gì mà nhát như thỏ. Đi với tao cho biết nhà.
 
Nhà của Tiểu Nương thì tôi biết quá rõ. Giàn hoa giấy phía trước, con đường rải cuội trắng, những bụi hoa hồng, khóm tường vi, những cửa kính sáng loáng, khung cửa sổ nơi phòng học của nàng với ánh đèn thân yêu quyến rũ. Tôi đã đứng lặng từng đêm nhìn vào khung cảnh quen thuộc đó, tôi còn nghe cả tiếng học bài đều đặn của nàng, những đêm mùa hè nóng nực, mùa thu nhiều sao và mùa đông lạnh giá. Tôi đứng bên này con đường, cạnh một trụ đèn, chôn chân như trời trồng.
 
Tôi để mặc Tuấn kéo đi như một kẻ mộng du, tim tôi đập mạnh tưởng có thể nhảy ra khỏi lồng ngực đến nỗi tôi không còn nghe những viên sỏi lạo xạo dưới những bước chân cuống quít. Tuấn ấn tôi ngồi xuống chiếc sa-lông trong phòng khách và gọi với vào trong:
 
- Có đứa nào trong đó không? Pha nước uống coi. 

Một tiếng "dạ" êm ái từ trong phát ra. Tôi muốn độn thổ vì đó là tiếng Tiểu Nương. Mồ hôi tôi ứa ra trên trán, bắt đầu lăn dài xuống má. Tôi không đủ can đảm lấy khăn ra lau mặt, hai tay tôi bắt đầu run như một kẻ động kinh. Tôi ấn mạnh ngón tay cái vào ngón tay áp út như vẫn làm những lúc đi đêm sợ ma, nhủ thầm: "Đừng con. Đừng sợ. Nàng cũng là người chứ không phải ma quỉ gì đâu. Nàng không ăn thịt con đâu mà sợ". Câu thần chú vừa dứt nàng đã bước ra phòng khách. Tôi choáng váng, sững sờ với vầng hào quang trước mặt. Tiểu Nương đó ư? Tiểu Nương thần tượng. Tiểu nương của những sớm mai hồng, những chiều mùa đông lang thang trên đường phồ, những đêm trăng thu hiu quạnh, giấc mơ rực rỡ về sáng. Tuấn đi vào trong cho chạy một băng nhạc mới, những nốt dương cầm ngọt ngào bay lên như những bọt xà phòng muôn màu, la đà trong không gian.
 
Tiểu Nương đặt tách trà ướp sen bốc khói trước mặt tôi:
 
- Mời anh dùng nước.
 
Tôi ấp úng:
 
- Không dám... cám ơn cô... Tiểu Nương...
 
Tuấn trở ra, cười bảo em gái:
 
- Em lấy chè ra mời anh Biên ăn rồi uống nước luôn thể?
 
Tôi không còn nhớ chè hôm đó ngọt hay đắng, ngon hay dở nhưng chắc tôi nhớ mãi nụ cười với chiếc răng khểnh duyên dáng của Tiểu Nương, đôi mắt có đuôi của nàng kéo dài mỗi lúc cười và nhất là những sợi lông măng trên đôi gò má mịn màng, trắng muốt của nàng.
 
Trong câu chuyện hình như Tuấn có giới thiệu: "Anh Biên, vua phá lưới của đội bóng Quốc học. Và công chúa Tiểu Nương hay cười, nhưng cũng dễ khóc nhất nhà".
 
Đẹp, tươi và nghịch ngợm là nét nổi bật của nàng. Tiểu Nương nói với Tuấn nhưng cốt ý trêu tôi:
 
- Nương nghe tụi bạn nói kỳ này đội bóng Quốc học đá dở ẹc, tháng rồi mới thua Bồ Đề 2 - 0.
 
Tự ái bị chạm mạnh, tôi định cãi nhưng đành ngồi im. Thần tượng vốn bất khả xâm phạm, phán xét của thần tượng là phán xét của Thượng đế. Trước khi giã từ, tôi cố gỡ gạc một câu:
 
- Chiều thứ bảy này chúng tôi sẽ vào chung kết giải mùa hè. Mời Nương đến xem để biết rõ thực hư.
 
Công chúa nhìn ánh nắng chiều đã nhạt bên dưới khu vườn, trả lời hờ hững:
 
- Cám ơn anh. Con gái đến sân vận động trông kỳ kỳ làm sao ấy. Vả lại Nương cũng không thích mấy.
 
Tôi biết nàng thích gì. Tôi đã nhìn thấy tập thơ chép tay nắn nót của nàng, trong đó nổi bật trên những trang pelure màu tên tuổi những nhà thơ nổi tiếng: T.T.Kh, Thâm Tâm, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư... A! Nàng đã không ưa thể thao, thích thơ thì tôi sẽ... làm thơ. Người đẹp muốn là trời muốn. Tôi bắt đầu nghiên cứu thi ca. Ăn cắp tiền mẹ tôi nhiều hơn để nhâm nhi cà phê và phì phèo thuốc lá. Tôi tưởng hai thứ này là điều kiện cần thiết để tạo nên thơ phú. Tôi chọn cho mình một bút hiệu thật kêu và hãnh diện thấy tên tuổi của mình thỉnh thoảng xuất hiện trong mục hộp thư của các tạp chí văn chương lúc bấy giờ. Sau nhiều ngày mang nặng đẻ đau tôi "sáng tác" được một bài thơ tình với tên Tiểu Nương ở hàng đầu bài thơ. Tôi cố ý để quên bài thơ đó trong tập thơ chép tay của nàng và ngỡ rằng mình là một thiên tài vì tên tuổi của mình nằm chung với các nhà thơ nổi tiếng. Hai hôm sau tôi đến nhà nàng để xem phản ứng. Chúa ơi! Đứa con tinh thần của tôi đã được em trai nàng xếp chiếc máy bay và đang phóng mạnh trên sân khi tôi bước vào. Buồn hơn nữa là tấm bảng "NHÀ BÁN" treo trước cổng nhà nàng. Tiểu Nương xác nhận điều đó:
 
- Cả nhà sẽ vào Sàigòn hè này. Ba Nương sẽ mở hãng xuất nhập cảng trong đó.
 
Tôi hỏi nàng sẽ học ở đâu và Nương trả lời giọng buồn buồn:
 
- Nương sẽ xin vào đệ nhất Trưng Vương.
 
Tôi ra tận phi trường tiễn Tuấn và Tiểu Nương. Sáng hôm ấy mưa rả rích và bầu trời ảm đạm như lòng tôi. Nương tặng tôi tập thơ chép tay của nàng và thật không ngờ khi tôi mở ra. Bài thơ của tôi đã được nàng nắn nót viết vào hồi nào không hay. Phải chăng đó là một cái vẫy tay tiễn biệt dịu dàng cho tâm hồn rướm máu của tôi.
 
Những cánh quạt phi cơ bắt đầu quay. Nương theo gia đình bước lên cầu thang, nàng quay lại mỉm cười buồn bã. làm sao tôi quên được nụ cười với chiếc răng khểnh đẹp não nùng của nàng.
 
Phi cơ lên cao, lẫn trong đám mây mù. Giã biệt Tiểu Nương thần tượng. Giã biệt những ngày tháng ngọc ngà trong thiên đường tuổi dại.
 
 
PHẠM VĂN BÌNH     
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 128, tuần lễ từ 19-4 đến 26-4-1974)
 

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2025

MÙA XUÂN TRONG RỪNG - Phạm văn Bình


Tiếng chim hót líu lo dưới rừng vọng lại đánh thức Ylang. Sương núi cuồn cuộn và gió lạnh của từng cơn qua liếp tre khiến nàng lười biếng nằm nán lại trên chiếc chõng mây, lưu luyến chút hơi ấm của đêm còn ủ lại trong chiếc chăn dầy. Ylang nằm lơ mơ trong ánh sáng chập choạng của một ngày vừa mới bắt đầu và bóng đêm chưa tan hết. Nàng chợt mỉm cười một mình, thương sự đúng hẹn của những chú chim rừng. Thật tội nghiệp, không biết ai bắt buộc mà cứ vào giờ này, bao nhiêu cái mỏ dễ thương đều hót lên, ca ngợi tia nắng ấm đầu tiên của mặt trời xuyên thủng màn sương, rọi xuống hoa cỏ.

Sinh ra và lớn lên trong núi rừng Ylang biết được giờ nào, theo mùa giống chim nào xuất hiện, nàng còn phân biệt được giọng hót vui tươi, dồn dập của anh em họa mi, vành khuyên, lối chuyện trò ríu rít của bác cháu nhà sáo, tiếng kêu buồn bã của gia đình tu hú và một loài chim nàng không biết tên nên vẫn gọi đùa là chim tương tư. Mỗi buổi sáng theo mẹ vào rừng bẻ măng hay buổi chiều mang gùi xuống suối lấy nước, Ylang thường ngẩn ngơ khi tiếng chim tương tư ảo não từ rừng xa vọng về, bao giờ cũng hai tiếng trước ngắn, đi liền nhau và tiếng sau kéo dài thê thiết "Chi buồn, rứa..."

Cha nàng, một người miền xuôi, còn kể rằng hồi kháng chiến chống Pháp trong những khu rừng dọc theo dãy Trường Sơn có hai đàn chim lạ từ đâu bay về. Đàn thứ nhất mỗi lần hót, điệu mạnh mẽ, thúc dục, âm thanh tương tự câu "Tây về cho biết". Nỗi ước mơ của đồng bào ta dạo đó. Điệu thứ hai buông xuôi, chán nản hơn: "Thôi rồi cơ cuộc". Vẫn theo lời cha nàng, giống chim này là hiện thân một lãnh tụ quốc gia, sau một vụ công đồn Tây thất bại, đơn vị bị tiêu diệt gần hết, ông buồn rầu trở về rừng tự sát, hồn hóa thành con chim khóc thương thời cuộc.

Mẹ Ylang ho khẽ dưới bếp, gọi nàng:

- Ylang, dậy đi. Sáng nay con phải đi ra cái suối.

Nàng vẫn nằm yên, chăn kéo lên tận cằm, nũng nịu:

- Con không đi ra cái suối đâu. Sương rừng còn lạnh lắm.

Mẹ nàng ném thêm một cành khô vào bếp. Than hồng nổ lách tách.

- Không được lười biếng! Sống trong rừng, kẻ nào lười biếng để cho cái cọp, cái beo ăn thịt.

Ylang ngồi bật dậy. Nàng nhớ ra hôm nay là ngày ba mươi tết, và công việc bận bịu của một ngày cuối năm đang chờ đợi: Xuống suối vo nếp cho vào các ống tre rừng giúp mẹ nàng nấu xôi, rửa mấy miếng thịt nai khô. Chiều nay nàng còn phải đến chia thịt heo, quà tặng của các mẹ sóc cho những nhà trong buôn mỗi lần tết đến. Xem thử nàng phải làm gì nữa? Còn phải ra chợ mua rượu và múc đầy mấy gùi nước. Tại bộ lạc này vẫn có tục lệ cử lấy nước trong ba ngày xuân. Nước, ơn sủng của thiên nhiên được dân miền cao xem như tiền bạc, phải đổ đầy vại, đầy chum và tưới ướt bất cứ người nào du xuân ngang qua nhà suốt trong ngày mồng một.

Ylang đi xuống nhà bếp. Mẹ nàng đang ngồi nướng thịt, ánh lửa hồng hắt lên khuôn mặt với những nếp nhăn trông giống vỏ thân cây thông sù sì. Nàng ngồi xuống cạnh mẹ, bốc một miếng thịt còn nóng cho vào miệng. Bà mẹ gắt yêu:

- Con gái lớn rồi phải nghiêm trang chững chạc, mai mốt còn bắt cái chồng.

Ylang tiếp tục ăn, khuôn mặt nàng hồng hào ánh lửa. Nàng ngon lành như một trái cây vừa chín tới.

- Con không lấy cái chồng đâu. Ylang thích khu rừng thân yêu này. Con ở đây hoài với cái... mẹ.

Đáng lẽ nàng nói "ở đây hoài với cái cha cái mẹ" nhưng nhớ ra cha nàng đã mất từ lâu nên kịp ngừng lại. Ylang hơi buồn khi nghĩ đến điều này. Nàng lấy gùi mang vào lưng rồi trèo xuống thang, rời nhà sàn, tiến về dòng suối.

Mặt trời lên cao nhưng sương chưa tan hết, long lanh trên hoa cỏ. Cô gái đi mau, chiếc gùi rung động trên lưng, bước chân nai tung tăng, thỉnh thoảng nàng dừng lại, hái một cánh hoa cài lên mái tóc tung bay tinh nghịch thả bay theo gió. Ylang hát khẽ một khúc nhạc của núi rừng: "Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây. Sơn nữ ơi"...

Sơn nữ, nàng là sơn nữ ư? Nàng sinh ra và lớn lên giữa khung cảnh núi rừng hùng vĩ và huyền bí này. Tâm hồn nàng mộc mạc, bình dị, như đóa hoa rừng mọc bên bờ suối, đôi chân nàng vô tư như gió cuốn qua thung lũng cỏ xanh và mắt nàng là bóng trăng tỏa dịu dàng xuống đồi cỏ lau mỗi đêm nàng ngồi đó mơ mộng. Mùa xuân nào một cánh chim trắng đã bay vút qua khung trời tuổi mộng. Ylang bước mau không dám nghĩ tiếp nữa. Cánh chim kéo dài, tỏa rộng. Con thần điểu che khuất mặt trời và chẳng mấy chốc bóng tối ập xuống, tràn vỡ lênh láng, che lấp cảnh vật. Chim thần kêu lên những tiếng quái dị và chỉ vài cái dập cánh của nó, cả rừng cây gãy đổ, những cành hoa tan tác trong gió.

Nỗi sợ hãi bao trùm khiến Ylang mọc ốc khắp người.

Ra đến dòng suối Ylang ngồi, thở một hồi cho hoàn hồn rồi mới lấy nước đổ đầy gùi. Ánh mặt trời lấp lánh trong suốt đến đáy, nàng có thể nhìn thấy những viên cuội trắng bên dưới. Lấy nước xong Ylang rửa mặt rồi leo lên bờ suối ngồi chải tóc. Bóng nàng lung linh in xuống mặt nước xanh. Khu rừng mai bên cạnh nở đầy hoa, vàng rợp một vùng. Nếu có xe, nàng sẽ chặt vài gốc mang xuống phố bán, tha hồ dư tiền may áo và một cái xịnh mới (loại váy dài của thiếu nữ cao nguyên).

Ylang bứt mấy lá cỏ thả trôi theo dòng nước và mỉm cười với ý nghĩ hơi thương mại của mình. Nàng cảm thấy mình có lỗi, dám xúc phạm đến thiên nhiên. Thuở còn sống, cha nàng thường dạy: Đời hoa cũng giống như thiếu nữ, cũng có hồn và biết đau đớn. Yêu hoa chỉ có quyền ngắm hoa chứ không được hái về nhà, dầu với mục đích làm đẹp mùa xuân.

Ylang bỗng im lặng. Hình như có người đang lội qua dòng suối, tiến về phía nàng, bước chân bì bõm trong nước. Không, không phải, nàng lầm, một cành khô gãy vừa rơi xuống nước. Một cơn gió ào ạt lướt tới, cả rừng mai chuyển mình, hoa vàng phất phới bay đầy không gian. Lần này không thể lầm được. Rõ ràng nàng nghe tiếng người nói, cười đùa, chạy đuổi nhau. Một đôi tình nhân. Tiếng cười khúc khích, trong veo của một cô gái. Tiếng ai sao nghe giông giống tiếng nàng. Không, không phải nàng, nàng đang ngồi đây. Giọng hát trầm ấm của một chàng trai. Không thể được. Trời ơi! Giọng hát: "Một đêm trong rừng vắng. Ánh trăng chênh chếch đầu ghềnh thấp thoáng bóng cô sơn nữ miệng cười xinh xinh"

Chiều tất niên năm ngoái Ylang sửa soạn rời trường trở về nhà. Tiệc liên hoan thật vui và lòng nàng rộn rã khúc nhạc xuân, môi còn thắm ngọt dư vị những lát mứt gừng, mứt bí nhấm nháp cùng lũ bạn vừa thưởng thức chương trình văn nghệ cuối năm. Ylang thích nhất vũ khúc "Hái chè" do các chị lớp 12 trình diễn. Dưới ánh đèn  mờ, cả một bình minh rực rỡ, đầy ắp điệu chim ca, bàn tay các sơn nữ thoăn thoắt ngắt những lá chè xanh. Tiếng hát trên môi và trời xanh trong mắt.

Ylang tiến ra sân trường, lòng nàng lâng lâng theo những cơn gió mát từ thung lũng xa kéo về, lay động những cánh hoa trồng trước cửa lớp. Chùm giấy màu phất phơ bay lượn trông giống chiếc đuôi con diều khổng lồ. Trên đường trở về nhà Ylang giật mình khi nghe tiếng gọi phía sau:

- Ylang!

Nàng quay lại, một chàng trai miền xuôi đang bước nhanh, cố theo kịp nàng.

Ylang ngạc nhiên vì không hề quen biết chàng. Nàng hỏi:

- Ông vừa gọi tôi?

Chàng trai đã theo kịp, thở mạnh:

- Vâng.

- Nhưng tôi không quen ông.

Chàng trai cười. Nụ cười ranh mãnh của một người không sinh trưởng nơi rừng núi.

- Ở thành phố này ai cũng biết cô là hoa khôi lớp 11.

Nàng cúi xuống tránh mặt mấy người bạn đi ngược chiều. Ylang cảm thấy hơi khó chịu khi chàng trai cứ lẽo đẽo theo mình.

- Điều đó hơi thừa đối với tôi.

- Nhưng không thừa với tôi. Tôi cần hỏi cô một chuyện.

Nắng đã tắt bên kia dãy núi, mây phớt hồng rồi chuyển sang màu tím. Ylang nóng nảy:

- Chuyện gì xin ông hỏi ngay đi. Tôi cần phải về nhà gấp, mẹ tôi đang đợi.

- Ở đây không tiện, tôi mời cô vào một quán nước.

Con sóc nhỏ giật bắn người như vừa chạm phải lửa.

- Ấy chết. Ông quên mất tục lệ miền này: Trai gái dẫn nhau vào quán nước là đã phải lòng nhau.

Chàng trai đốt một điếu thuốc.

- Tôi xin lỗi cô, tôi quên mất. Thôi để vài hôm nữa tôi kiếm cô tại nhà vậy.

Ylang tròn xoe mắt, ấp úng:

- Đó là tối kỵ. Thế nào tôi cũng bị mẹ đánh đòn.

Chàng trai cười. Khói thuốc bay bay, hoàng hôn đang xuống.

- Cô khó quá. Thôi được, tôi kiếm cô ở con suối đầu rừng vậy.

Hai hôm sau chàng trai đến kiếm Ylang ở dòng suối thật.

Tắm rửa xong nàng mải mê chạy đuổi theo mấy con bướm xinh xinh đang lởn vởn hút nhị hoa bên bờ suối. Buổi sáng trời thật trong, mây cao vút, xanh thắm màu mắt thiếu nữ. Thiên nhiên êm ả, bình lặng và lòng cô gái núi rừng cũng dung dị như hoa cỏ. Nàng thường ví mình như một con sóc nhỏ, sống quanh quẩn nơi núi rừng. Nàng yêu cái khe, cái suối, cái rẫy, cái nương. Tuy học đến lớp 11 nhưng Ylang không hề mơ ước cao xa. Nàng chỉ muốn sau khi học hết chương trình trung học sẽ về giúp mẹ lo việc rẫy nương, trồng cái lúa, cái khoai, vào rừng đào cái măng, xuống suối bắt cái cá.

Tiếng hát bên kia dòng suối vọng sang cắt đứt ý nghĩ Ylang. Lời hát thật hay. Bài "Sơn nữ ca". Hình như thầy Khoa, giáo sư Việt văn có hát cho cả lớp nghe một lần nhưng lâu quá nàng quên bẵng mất.

Chàng trai lội suối sang, ngồi xuống bên cạnh Ylang.

- Chào nàng công chúa của núi rừng.

Ylang cười lớn, giọng cười trong suốt như pha lê.

- Không dám, chào lữ khách của miền đất văn minh, ánh sáng.

- Cô khách sáo quá.

Cô gái ném một hòn sỏi xuống dòng suối, nước bắn tung tóe.

- Chính ông mới khách sáo. Mà bây giờ muốn hỏi gì xin ông cứ hỏi. Ở đây không có ai nghe đâu mà sợ.

Chàng nhìn vào đôi mắt Ylang.

- Cô đẹp lắm!

Con sóc nhỏ che miệng cười khúc khích.

- Ông mất thì giờ theo tôi đến đây để chỉ nói câu đó thôi sao?

Chàng trai bứt một cọng cỏ vân vê trong tay:

- Tôi có một điều thắc mắc đã ba tháng nay, kể từ khi được nhìn thấy cô.

Ylang giật mình.

- Ông theo đuổi tôi từ ba tháng nay rồi?

- Nói theo đuổi không đúng. Thật ra thì cái quán cà phê tôi thường uống mỗi sáng nằm trên đường cô đi đến trường.

- Rồi sao?

- Thú thật, nhìn thấy vẻ đẹp của cô tôi thường băn khoăn vì cô khác xa những bạn bè sinh trưởng tại dây. Nước da cô trắng và đôi mắt đen láy như một thiếu nữ người kinh.

Ylang quắc mắt, nhắc chàng trai:

- Người miền xuôi.

Chàng trai cười cầu hòa:

- Vâng, người miền xuôi.

Vẻ mặt Ylang xa vắng:

- Tôi tiếc nước da không được đen sậm, đôi mắt không nâu đục như chị em ở đây. Họ bình dị và mộc mạc, không giảo quyệt, phản trắc.

- Cô có vẻ không ưa người miền xuôi. Ai truyền thụ cho cô những ý tưởng cay đắng đó?

Ylang im lặng một lát rồi thở dài:

- Mẹ tôi.

Chàng trai đứng lên:

- Thôi chào cô, tôi có việc phải về. Tạm biệt con sóc nhỏ. Mồng một Tết tôi sẽ lại thăm cô và bác gái.

- Tôi sẽ đóng kín cửa, không cho ông vào nhà.

Trước khi bước đi, chàng trai cười đắc ý:

- Cô quên mất tục lệ nơi đây: Mở cửa hân hoan đón tiếp mọi người trong ba ngày tết, không phân biệt bạn hay thù.

Tội nghiệp con sóc nhỏ. Nó đã bỏ quên những bước nhảy nhót vô tư, chân cuống quít trên lối đi hẹn hò, chân thẫn thờ dẫm nát lá khô những lần vắng mặt. Tội nghiệp nàng công chúa rừng xanh. Chàng hoàng tử hào hoa đến từ miền ánh sáng buổi mai nào đã đánh thức nàng dậy với chiếc hôn tình tứ chứa đầy nọc rắn. Họ trải qua một mùa xuân mật ngọt bên nhau, vai kề vai bên suối, tay trong tay dạo chơi dưới thung lũng bát ngát cỏ hoa. Nhưng sau những tháng ngày trăng mật của tình ái đầu đời chàng trai đã cất bước phiêu lãng, lìa bỏ núi rừng, quên hết những lời hẹn hò, nuốt mất những câu thề thốt.

Tội nghiệp nàng. Tội nghiệp con sóc nhỏ bơ vơ trên nhánh cây đời cằn khô, chờ mong lộc nõn của một mùa xuân ảo tưởng không bao giờ trở lại. Tội nghiệp chú chim tương tư với tiếng hót não nùng "Chi buồn, rứa..." những lúc trăng mờ bên suối.

Hai giọt lệ nóng ấm rơi xuống cánh tay Ylang, nàng khóc hồi nào không hay. Nắng lên cao, nhảy múa trên rừng mai vàng rực nhưng nàng không hề thấy đó như một biểu tượng của mùa xuân. Màu vàng héo hắt, tàn úa như hồn nàng. Màu vàng phản trắc như tình chàng. Và dòng suối, chứng nhân vô tình của thiên nhiên những lần hai người hẹn hò với nhau, trao gửi những nụ hôn đắm đuối giờ đây biến thành một dòng suối chết, khô cạn như trái tim nàng.

Gió thổi từng cơn, cả rừng mai xào xạc, hoa vàng bay đầy không gian. Trong tiếng gió văng vẳng câu hát năm xưa: "Sơn nữ ơi! Đời ta như cánh chim chiều phiêu bạt thời gian vun vút trời mây"...


PHẠM VĂN BÌNH      

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc Xuân Giáp Dần, 1974)

Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2024

TÌNH HOA PHƯỢNG - Phạm văn Bình



 Mùa hè năm đó tôi từ Đông Hà vào Huế để dự kỳ thi tú tài. Từ ba bốn ngày trước mẹ tôi đã chạy đôn chạy đáo vay tiền cho kịp ngày tôi lên đường vào kinh đô ứng thí. Bao nhiêu thứ tiền cần phải chi phí: tiền xe, tiền tàu và ăn ở trong suốt một tuần lễ. Đối với gia đình tôi thì đó là cả một gánh nặng. Trước hôm khởi hành ba tôi đã gọi tôi lên, căn dặn những lời khuyên cần thiết, thứ hành trang tinh thần ba tôi nghĩ không thể thiếu đối với chuyến đi định đoạt cả tương lai tôi. Hớp từng ngụm trà nhỏ, giọng ba tôi trầm trầm, khàn đục và thỉnh thoảng len lén nhìn lên, tôi bắt gặp đôi mắt đã mất hết vẻ tinh anh vì tuổi già của ông rưng rưng ánh nến từ bàn thờ đổ xuống.

Vậy là tôi hăm hở lên đường, lòng náo nức như chú bé lần đầu tiên được theo thuyền ra biển. Tôi chui vào lòng chiếc xe đò chật ních những hành khách. Chiếc túi rết nhà binh màu cứt ngựa cũ kỹ lễ mễ bên vai, trong đó đựng mấy cuốn sách giáo khoa, khăn mặt, thỏi kem đánh răng và chiếc bàn chải đã mòn tận đế.

Đến Huế trời đã khá trưa. Ánh nắng chói lòa ngợp đường phố, phượng vỹ trồng khắp các ngả đường nhở rộ những chùm hoa đỏ sẫm và trong các tàng cây, tiếng ve inh ỏi hơn bao giờ hết. Hoa phượng nổi bật trên bầu trời xanh thẳm, những đàn nữ sinh áo trắng tấp nập đi về, tiếng nói cười ríu rít như chim. Tà áo trắng lồng lộng, vấn vít khi qua cầu Trường Tiền. Áo phất phơ trên bến đò Thừa Phủ, áo dung dăng dung dẻ tha thướt dọc theo hai bờ sông Hương. Đó là tất cả khung cảnh linh hoạt nhất của Huế mùa thi, phân biệt Huế với bất cứ thành phố nào khác của quê hương.

Sau khi xuống xe ở bến Nguyễn Hoàng, quên cả bụng đói, tôi nhập ngay vào dòng sông áo trắng đang cuồn cuộn di động. Trên chiếc xe đạp cà tàng được gia đình thưởng cho hồi thi đậu trung học, tôi mải miết dạo chơi qua các đường phố quên đói, quên nắng vì lòng tôi đang say sưa mở hội.

Tôi tưởng mình đang thơ thẩn bước đi trên cánh đồng cỏ bát ngát, đầy hoa, lồng lộng gió và chung quanh tôi rợp những cánh bướm. Tôi không dám ngắt một đóa hoa, đuổi theo một cánh bướm vì đóa hoa nào cũng diễm kiều, cánh bướm nào cũng mở ra trước mắt tôi một khung trời thơ lóng lánh những vì sao đêm hè.

Nhưng hoa và bướm không nuôi nổi chiếc dạ dày lép kẹp của tôi. Cho đến khi mồ hôi tuôn ra ướt dầm áo và chân đạp trên bi-đan trở nên khó nhọc tôi mới sực tỉnh giấc mơ. Quá một giờ trưa rồi tôi vẫn chưa có hột cơm nào cho vào bụng. Tôi vội rẽ xe vào chợ Đông Ba, kêu một dĩa cơm sườn ngồi ăn ngấu nghiến, uống một tô nước chè xanh rồi đứng dậy, từ từ đạp xe qua cầu Trường Tiền, ngược lên trường Quốc Học để dò tên trong danh sách thí sinh đã niêm yết.

Không khó khăn cho lắm trong sự tìm kiếm, vì tên tôi thuộc vần thứ hai nên thường nằm trong tờ đầu tiên của danh sách. Sau khi ghi số ký danh, tôi đọc lại tên mình được đánh máy và in trên giấy "Ronéo" một cách trang trọng như khi viết được những vần thơ vụng dại đầu tiên trong đời, nắn nót chép tay, gửi đến các tạp chí mình ngưỡng mộ và sau đó đọc thấy tên mình xuất hiện sau mục hộp thư với dòng chử "thành thật cảm tạ, xin gửi cho sáng tác khác" hoặc "Đã đọc sáng tác của bạn, rất tiếc..." Ôi các ông phụ trách văn chương ác ôn nào đó đâu có biết rằng đối với tôi, một mầm non văn nghệ lúc bấy giờ, nặn óc viết được một bài thơ là cả công trình ghê gớm, có lẽ còn vĩ đại hơn Kha Luân Bố khám phá ra châu Mỹ.

Thời gian trôi qua còn chậm hơn lúc một người yêu chờ đợi một người yêu, những tờ lịch nặng nề rơi xuống, làm như chúng được dán bởi thứ keo hảo hạng và những ông chủ biên, thư ký tòa soạn đâu biết rằng dạo đó tôi đã phải nhịn quà sáng mất mấy hôm (mỗi gói xôi giá hai đồng) để gom đủ tiền mua báo với hy vọng bài mình xuất hiện. Tôi giận đời ghê gớm, đâm ra khinh mạn, cho rằng cuộc đời chưa đạt tới sự nhận thức để nhận rõ vóc dáng một thiên tài gà chết là tôi.
 
*

Buổi chiều sau khi đánh một giấc ngon lành tôi trở dậy trong cơn nắng mùa hạ oi bức chiếu hắt qua cửa sổ, xoi mói đến tận tấm phản tôi nắm. Phải tắm một cái cho mát. Sau đó lượn phố một vòng và trở về xem lại bài vở. Sáng mai vào phòng thi. Nghĩ là làm liền, tôi cởi phăng chiếc áo, chỉ mặc quần đùi và đi ra cái giếng đằng sau nhà. Sông và giếng là những phòng tắm lộ thiên, miễn phí tại Huế. Tôi dội nước ào ào, xát xà phòng, say sưa kỳ cọ, miệng ư ử ngâm câu "Học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành". Tôi đổi "trong Quảng ra thi" thành "ngoài Quảng vô thi" cho hợp địa lý, vì tôi vốn sinh trưởng ngoài Quảng Trị chứ không phải trong Quảng Nam.

Bỗng có tiếng hát từ đâu vẳng đến, lời ca buồn buồn nhưng tiếng hát trong trẻo như thoát ra từ cổ họng một con chim vành khuyên nào đó. Người ơi buồn ra đi, trên con tàu chia ly. Tôi ngẩn ngơ theo tiếng hát, chiếc gàu vừa quẳng xuống lòng giếng, chưa chạm mặt nước vội đứng khựng lại. Tôi rảo mắt chung quanh và nhìn sang ngôi vườn bên cạnh nhưng hoàn toàn thất vọng. Không một bóng người. Tiếng hát vẫn tiếp tục đều đặn, buồn bã. Ngày mai còn vui chi, kẻ ở người đi. Quái! Hay là ma. Người tôi rờn rợn vì tôi biết trong nhà trọ không hề có một bóng dáng thiếu nữ nào. Vả lại giữa chốn cố đô cổ kính này, những ngôi vườn thâm u, cây cao bóng rợp, những nẻo đường trăng lạnh lẽo thoang thoảng hương ngọc lan, thiếu gì những chuyện ma quái, liêu trai do người lớn kể lại bằng giọng thì thầm, kỳ quặc vào những đêm mưa gió.

Tôi vội kéo chiếc gàu lên quẳng xuống đất định chạy vào nhà, tiếng hát bỗng ngừng bặt, một tràng cười khúc khích và lời nói cũng trong trẻo tiếng chim:

- Ê, cái anh nhà đồ ngoài Quảng vô thi.

Tiếng Quảng nàng cố ý đọc không có chữ "g" đàng sau để trêu chọc tôi theo cách phát âm của người Quảng Trị. Tôi thẹn chín người và càng thẹn hơn nữa vì đang tắm nên chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Trước khi rút lui vào nhà tôi đã nhìn thấy nàng ngồi vắt vẻo trên một cành khế đầy trái xanh, lấm tấm những chùm hoa tím nhạt. Nàng mặc áo quần trắng, nước da trắng mịn, tóc thề chấm ngang vai. Nàng đong đưa đôi chân, miệng mỉm cười nhìn tôi tinh nghịch. Tôi làm sao quên được đôi mắt ngời sáng, đen tròn như hai hạt nhãn lồng. Chỉ một thoáng nhìn nhưng đôi mắt như mười ngón tay búp măng kiều diễm, nhấn lên tâm hồn tôi những phiến âm thanh kỳ diệu, bát ngát trước đôi mắt cậu con trai mới lớn con đường nồng nàn hương sắc, ngọt ngào thứ tình cảm đầu đời.

Sau khi mặc quần áo đàng hoàng, chải lại mái tóc cho có vẻ lòa xòa, bềnh bồng theo đúng kiểu thời đại tôi trở ra vườn sau. Tôi bỏ luôn ý định lượn phố và ôn lại bài thi. Một nhà văn nào đó đã nhận xét thật chí lý: Phải có hai người để bảo rằng thế giới đẹp. Tôi đã có nàng và đôi mắt đen to của nàng.

Nàng vẫn còn ngồi đó, vắt vẻo trên cành khế, thỉnh thoảng lại đưa trái khế xanh ăn dở lên môi nhấm nháp. Nước bọt ứa ra đầy lưỡi nhưng tôi vẫn cố huýt sáo báo cho cái thế giới cố làm ra vẻ vô tình kia biết rằng có tôi hiện diện bên này góc vườn.

Gớm cô bé làm cao quá, đúng là dân Đồng Khánh rồi. Thứ dữ đây chứ không phải chơi đâu. Tôi chụm hai tay vào nhau đưa lên miệng, bắt chước dân da đỏ gọi nhau trong rừng. Tôi hét lớn "Ê..." Tiếng ê kéo dài vang dội khắp khu vườn, vượt lên đỉnh cây tưởng chừng có thể làm những cụm mây trắng lơ lửng trên trời sợ hãi bay đi.

Nàng tiên rời trang sách, cau mày nhìn tôi. Lại đôi mày cong lá liễu.

- Này cái anh nhà đồ. Làm chi mà la dữ rứa. Bà già nghe được thì mệt đó nghe.

Ít ra tiếng la của tôi đã không vang lên trong sa mạc. Nhưng lại có áp lực mới rồi đây. Ai mệt, anh nhà đồ hay nàng tiên áo trắng?

Tôi tựa lưng vào thành giếng, hai tay khoanh trước ngực, vẻ mơ màng của thi nhân chiêm ngưỡng nàng thơ.

- Tên cô là gì?

Lẽ ra tôi định hỏi "tên em là gì" nhưng, thấy chữ em đường đột quá, sợ nàng tiên giận dỗi, bỏ trần thế bay trở lại thiên đường thì thật khổ cho thi sĩ có tên xuất hiện đều đều trong mục hộp thư của các báo chí.

Khiêm nhượng đến thế mà nàng vẫn không trả lời. Tôi lập lại câu hỏi và nàng đưa ngón tay trỏ lên môi:

- Suỵt! Yên cho ta học bài. Mai thi.

- Mai tôi cũng thi nhưng tôi cóc cần, tôi muốn biết tên cô.

- Nhà ngươi không cần nhưng ta cần. vậy ai không cần hãy đi chỗ khác chơi, ai cần ngồi lại đây học bài.

Chừng như thấy những lời vừa thốt ra cao ngạo quá, có thể làm tôi giận (nhưng làm sao tôi giận được nàng tiên diễm kiều đến thế. Bởi vì với những chàng trai mới lớn, chủ thể hoàn toàn biến dạng đến độ triệt tiêu và chỉ có đối tượng mới đáng kể). Nàng làm lành với tôi.

- Ăn khế không, ngọt lắm.

Chưa đợi tôi kịp trả lời một quả khế đã được ném xuống, rơi cạnh chân tôi. Tôi nhặt quả khế cắn một miếng. Tôi nhăn mặt nhìn nàng. Khế chua quá vậy mà nàng bảo ngọt. Tôi thầm nghĩ chắc môi nàng ngọt hơn. Dầu sao tôi cũng cắn ngập răng vào trái cây đau khổ. Giá quả khế của một thằng bạn trai hay chị tôi cho, tôi đã quẳng nó xuống giếng rồi. Đối với nàng tiên làm thế tôi sợ phạm thượng.

Nàng nhìn tôi ăn, mỉm cười ra chiều thích thú lắm, vì nàng dư biết quả khế chua lè. Tiếng hát trầm buồn nhẹ như hơi gió của nàng lại cất lên, thì thầm trên đỉnh cây, bóng chiều đã nhạt.

Những ngày sau đó chúng tôi không còn dịp gặp nhau nữa vì người nào cũng bận thi cử. Nàng hoàn toàn biệt dạng dần, nhiều lần tôi cố ý ra đứng bên thành giếng, đăm chiêu chờ đợi. Không còn tiếng hát lơ lửng trên cành cây và đôi mắt mỹ miều thấp thoáng sau những chùm hoa khế. Tiếng ve râm ran khắp khu vườn như trêu chọc sự cô đơn của tôi. Chỗ tôi trọ và nhà nàng chỉ cách nhau một hàng rào bằng cây. Đêm đến đứng bên này góc vườn nhìn sang tôi có thể trông thấy ánh sáng mờ ảo nơi bàn học của nàng thoát ra khung cửa sổ và một bóng trắng lảng vảng, mơ hồ. Chỉ cần đi vài bước, tôi đã lạc vào thế giới huyền diệu của nàng nhưng tôi không dám, không bao giờ, vì tôi biết nơi đó được xem là vùng cấm địa và mẹ nàng sẽ canh giữ với đôi mắt nghiêm khắc, những thành kiến phủ rêu trong tâm hồn. Nơi đó, sự xuất hiện của bất cứ chàng trai lạ nào cũng được đồng hóa với tai họa trời giáng và chuyện trai gái, yêu thương là điều không sao người lớn chấp nhận được.

Sau ba ngày thi viết chúng tôi được nghỉ xả hơi, chờ kết quả để vào vấn đáp. Một đêm, trời đầy sao tháng hạ và trăng giải khắp vườn, tôi ngồi trên thành giếng phì phèo thuốc lá, mơ màng nhìn trăng sao. Trăng cũng lạnh lùng cô độc và sao lung linh xa vắng, như nàng, không bao giờ bắt gặp, không khi nào với tới. Một tràng cười khanh khách vang lên và một bóng trắng hiện ra bên kia hàng rào dâm bụt, mái tóc dài nhẹ bay theo gió, dáng đi yểu điệu, đài các của một con mèo. Trăng  bàng bạc và khuôn mặt nàng còn trắng hơn trăng. Toàn thân nàng tỏa ra màu trắng rờn rợn. Cơn gió nhẹ lướt qua chuyên chở hương hoa sứ và trong không khí đầy huyễn tượng đó, tôi đã hỏi nàng một câu ngớ ngẩn.

- Nàng là ai, người hay ma?

Một chuỗi cười khanh khách thứ hai.

- Người hay ma, cả hai, ngươi sợ không?

Tôi lấy lại bình tĩnh và trở nên bạo dạn hơn.

- Nàng là ma, càng tốt. Tôi đã đọc hết bộ Liêu trai chí dị. Vậy nếu nàng là kết tinh của hồn hoa sứ, hoa khế, hoa lý, hoa mộc tôi cũng chả sợ. Mời nàng ghé qua thư phòng của tôi cạnh đây, chúng ta cùng uống trà thưởng trăng.

- Này cái anh đồ gàn, học hành thi cử không lo, lại cứ mơ với mộng.

- Ơ hay, sao nàng biết.

Nàng gật gù, chùm hoa trắng cài bên mái tóc rung rinh, chập chờn ánh trăng.

- Việc gì ta không biết, dù một lời gió, tiếng chim hay những gợn sóng nhỏ rung động trong trái tim si mê của người. Ta còn biết cả chu kỳ vận hành của vũ trụ, sự nối tiếp hòa hợp của âm dương. Ta biết trong tử có sinh, trong sinh có tử, ngày đi đêm đến, sao tỏ sao mờ, trăng khuyết trăng tan.

Tôi tiến sát đến hàng rào, nhìn vào đôi mắt thăm thẳm của nàng.

- Nàng quán triệt nhiều điều, tốt lắm nhưng những thứ đó không cần thiết với tôi, tôi chỉ cần biết một điều: tên nàng.

Im lặng!

- Kìa trả lời tôi đi chứ. Tên nàng là gì?

Một cánh hoa phượng đỏ thẫm rơi xuống vai áo, tôi không biết cánh hoa vô tình rơi theo cơn gió, hay đó là câu trả lời gián tiếp của nàng.

- Nàng tên Phượng?

Nàng gật đầu như xác nhận điều tôi vừa nói. Đôi mắt nàng sóng sánh ánh trăng, rưng rưng sắp khóc.

- Mùa hè chấm dứt. Ta sẽ úa tàn và rũ chết khi mùa thu trở lại. Ta sẽ chết tan tác trong mưa thu. Người đời sẽ vô tình dẫm lên xác ta nằm cạnh những chiếc lá úa.

- Nhưng năm tới tôi sẽ trở lại ngôi vườn này và hoa phượng sẽ rực thắm bầu trời.

Nàng lắc đầu buồn bã:

- Năm tới hoa phượng sẽ nở, nhưng đó là những cô em của ta. Riêng ta, ngươi chẳng khi nào gặp lại lần thứ hai. Không bao giờ. Vĩnh biệt anh nhà đồ si tình. Ta phải lên đường, trăng đã xế.

Thoáng chốc, chiếc bóng trắng của nàng bỗng nhạt nhòa, lẫn vào ánh trăng ướp hương hoa sứ tràn ngập khu vườn.

Sau kỳ thi tôi đáp chuyến tàu suốt trở về Đông Hà. Mùa thi năm sau tôi trở lại Huế, tìm đến ngôi vườn xưa. Phượng vỹ rợp đầy lối đi và ánh trăng vẫn huyền ảo nhưng bóng nàng đã biệt tăm. "Người biết không ta sẽ chết, tan tác trong mùa thu". Câu nói không biết đùa hay thật của nàng âm vang trong hồn tôi cùng với đôi mắt thấp thoáng sau chùm hoa khế tím nhạt, đẹp đến não nùng. Dầu sao nàng đã nói đúng, chúng ta chỉ là những kẻ gặp nhau một lần nhưng tiếng hát của nàng vẫn theo đuổi tôi, đóng đô trong tiềm thức và dìu dặt vang lên mỗi lần con tàu từ từ rời ga Huế, lăn bánh trên đường sắt. Người ơi buồn ra đi, trên con tàu chia ly. Ngày mai còn vui chi, kẻ ở người đi.


PHẠM VĂN BÌNH     

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 55, tuần lễ từ 15-6- đến 22-6-1972)



Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

XUÂN TRÊN CỎ NON - Phạm văn Bình

 

Bữa tối khi đang dùng cơm, mẹ nói "Mùa xuân sắp trở về, chóng quá, thêm một năm" Mẹ bỏ lửng câu nói. Tôi ngừng ăn nhìn sang và bắt gặp đôi mắt mẹ thoáng buồn, đám mây u tối nào đang lang thang chợt đậu lại trên đôi mắt mẹ, màu xám u buồn hoàn toàn tương phản với màu sắc rực rỡ, tươi mát của bình hoa hồng đặt trên bàn ăn.

Tại sao mẹ vẫn thường băn khoăn mỗi lần mùa xuân trở lại? Những năm trước tôi không hề để ý vì tôi chỉ là con bé vô tư, ưa đùa nghịch, phá phách cùng lũ bạn học trò, chỉ biết vòi quà và làm nũng với mẹ. Tết năm nay tôi vừa đúng mười bảy tuổi, cái tuổi chưa hẳn đã vội rời xa khung trời xanh mướt ngây thơ, tóc buông rèm, cột nơ thắt bím, đi ngủ cùng những cánh bướm sặc sỡ bay vào giấc mộng và trở dậy trong tiếng chim hót líu lo đánh thức màn sương cùng những đóa hoa dậy muộn. Tôi biết con số mười bảy chính là cái gạch nối giữa một cô bé thích ô mai và một thiếu nữ bắt đầu biết mơ mộng vẩn vơ cùng nắng sớm mưa chiều, mặt hồ yên tĩnh của tâm hồn gợn lên những làn sóng tình cảm đầu tiên. Lòng tôi chợt trùng xuống khi khám phá ra nỗi cô đơn và những ngày tháng hiu quạnh của mẹ trong ngôi nhà này. Sự vắng bóng của cha tôi khiến ngôi nhà và sự cô đơn của mẹ càng trở nên rộng lớn.

Nhà tôi nằm trên một ngọn đồi cỏ xanh. Đó là ngôi biệt thự quét vôi trắng, kiến trúc theo lối Tây phương, những mặt kính sáng loáng lấp lánh ánh nắng và mờ đục hơi nước mỗi lần sương mù từ dưới thung lũng cuồn cuộn dâng lên. Tôi yêu mến chiếc sân rải cuội trắng, lạo xạo những bước chân sáo của tôi, những cụm mimosa, hoa hồng vàng vừa hé nở lấm tấm những hạt sương mai, rung rinh theo gió, vẫy tay giã từ tôi rời cổng đến trường học. Buổi trưa khi tôi trở về chúng nở lớn, những cánh nõn xòe ra trong nắng sáng. Sườn đồi thoai thoải trước sân nhà dẫn xuống thung lũng mọc toàn cỏ xanh và những cây thông. Những ngày nghỉ học, không xuống phố tôi vẫn thường thơ thẩn dạo chơi dưới đó, nhẩn nha xếp những chiếc thuyền giấy thả trôi theo các khe suối róc rách chảy qua thung lũng, hái những cánh hoa dại ép vào tập vở hoặc nhặt những trái thông rụng xuống trên mặt cỏ về cho vào lò sưởi hừng hực lửa hồng những đêm trời lạnh giá. Những trái thông sù sì, màu cũ mốc nhưng đốt lên sẽ tỏa ra mùi thơm nồng ấm của nhựa thông. Tôi thích những trái thông nhưng chắc không ưa nổi tiếng reo vi vu của những cành thông vào những buổi hoàng hôn, khi ánh nắng cuối cùng của một ngày vừa tắt bên kia chân đồi, tiếng reo như muốn dẫn dắt hồn tôi lạc đến một khung trời hoang vu, lạnh lẽo, nhất là vào những đêm mùa đông, tiếng gió lao xao than vãn lướt qua rừng thông trong bầu không khí lạnh băng khiến tôi rùng mình nghĩ đến những người chết, một nghĩa địa thênh thang với những hàng thánh giá trắng rờn rợn. Những lúc đó tôi thường chạy sang phòng bên ngủ với mẹ hoặc nếu làm gan nằm nán lại tôi sẽ trùm khăn kín mít từ đầu đến chân, bịt chặt hai tai để không còn nghe âm thanh quái đản của các cành thông đang rì rào, mắt tôi nhắm chặt nhưng vẫn thấy trước mắt hiện rõ những cây thông biến thành những bộ xương người, chân tay dài ngoẵng đang bước chậm chạp từ thung lũng lên ngọn đồi, tiến đến phòng ngủ của tôi. Người tôi nổi gai ốc và tôi thiếp đi trong sợ hãi.

Buổi sáng thức dậy, mở cửa sổ nhìn xuống rừng thông tôi mới thấy sự lo sợ hão huyền của mình đêm qua, không có gì thay đổi trong cuộc sống, thiên nhiên vẫn mang bộ mặt vô tư, bình lặng. Mùi bánh mì nướng phết bơ của mẹ tôi từ trong bếp tỏa ra và tiếng mẹ ấm áp vọng lại: "Hồng ơi! Dậy đi con, còn ăn sáng, đi học nữa chứ". Những sáng chúa nhật mẹ tôi vẫn giữ nguyên điệp khúc Hồng ơi trên đây - tôi vẫn thường gọi đùa là ca khúc bình minh của mẹ - bà chỉ thay đổi hai tiếng đi học bằng hai chữ đi lễ. Không khí mát lạnh ban mai khiến tôi lười biếng cuộn mình trong chăn và chỉ trở dậy khi ánh nắng ấm áp lau khô những hạt sương bám trên các ô cửa kính và hồi chuông từ giáo đường bên kia con dốc rộn rã báo hiệu sắp hết lễ nhất. Tôi đánh răng rửa mặt, mặc vội quần áo, chải tóc và trở ra điểm tâm bằng một mẩu bánh mì nướng dòn nóng, một ly sữa mẹ pha sẵn. Thỉnh thoảng, tôi cảm thấy thiếu thiếu một thứ gì và chợt nhớ ra mùi cà phê thơm ngát những ngày ba tôi còn ở nhà. Thời kỳ đó, sau bữa điểm tâm mỗi sáng chúa nhật tôi vẫn hưởng cái thú được ba tôi nắm tay một bên, mẹ một bên, dẫn tôi đi lễ ở nhà thờ. Rồi mẹ tôi đi chợ, ba trở về ngồi vào bàn đánh máy hoặc xuống vườn cắt những cành hồng chưng vào lọ hoa lớn đặt ở phòng khách. Ban đêm trước khi đi ngủ mẹ thường ngồi đàn dương cầm, những ngón tay của bà lướt nhẹ trên hàng phím ngà, ba xem sách hoặc ngồi mơ màng cạnh lò sưởi, tẩu thuốc tỏa trên môi. Cũng có khi ba đàn cho mẹ và tôi hát các bài "mon petit ami", "Silent night"...

Tôi không hiểu vì sao đang sống hạnh phúc như thế ba tôi lại bỏ đi, dạo đó tôi còn bé quá và chỉ biết mang máng rằng ba gặp khó khăn trong công việc làm ăn đi đến sự lỗ lã, nợ nần. Ba đánh mất cái thú cắt những cánh hồng tươi chưng ở phòng khách hoặc ngồi hút thuốc trước lò sưởi nghe mẹ tôi đánh đàn. Những đồ đạc đắt giá trong nhà lần lượt bị bán đi kể cả chiếc dương cầm. Tôi còn nhớ buổi chiều trước khi chủ mới đến chở đàn đi mẹ tôi đã thẫn thờ ngồi trước đàn đánh hết bài này đến bài kia. Những âm thanh vút cao rồi trầm lặng nghẹn ngào, khi nhẹ nhàng, lúc mạnh bạo, giáng xuống tan vỡ như chiếc ly thủy tinh ném mạnh xuống sàn gạch. Mắt mẹ tôi đầm đìa những giọt lệ, những giọt nước mắt rơi lã chã xuống phím đàn. Chiếc dương cầm đó ba tôi đã mua tặng mẹ tôi trong ngày kỷ niệm lễ cưới của hai người. Từ một người đàn ông hiền hòa, yêu vợ, ba tôi đâm ra gắt gỏng, đôi mắt đỏ gay những khi uống rượu. Tiếng đàn êm đềm hạnh phúc được thay thế bằng tiếng đổ vở của ly tách và vở kịch của gia đình tôi bắt đầu. Những lần ba mẹ vãi vã nhau tôi thường sợ trốn dưới gầm giường hoặc ngoài xó vườn. Tôi cũng khóc, như mẹ tôi. Rồi một ngày ba tôi bỏ đi biền biệt.

Tết năm nay ba có về không, ông bỏ đi cũng sáu bảy năm nay rồi. Tôi thương mẹ, rán chăm chỉ học hành và làm theo những lời bà dạy bảo. Tôi vẫn biết những điều đó chỉ làm bà hài lòng và cảm động, không thể khỏa lấp nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày cuối đông, lúc thời tiết trải rộng chiếc áo choàng lạnh lẽo trong không gian và cả trong tâm hồn mẹ. Tôi thường bắt gặp ánh mắt bâng khuâng của bà mỗi đêm khi tiếng thông reo từ dưới thung lũng lao xao vọng lại, bà ngồi trước mặt chiếc dương cầm, gõ vài nốt bâng quơ (cây đàn này mẹ mua lại của người chủ cũ sau khi đi làm và dành dụm được một số tiền).

Mùa xuân sắp về. Tôi nghe trong lòng dấy lên những náo nức như sự chờ mong quay quắt ngày trở lại ngôi nhà thân yêu của ba tôi, mẹ vẫn thường an ủi tôi và an ủi chính bà "lá rụng thế nào chẳng về cội". Khí hậu ám áp của những ngày sắp sang xuân khiến má tôi trở nên hồng hào và mạch máu lưu thông mạnh trong cơ thể như nhựa non dạt dào trong mỗi mạch cây cuống lá. Cỏ ngát xanh dưới thung lũng, nổi bật những chiếc hoa vàng dại trong mỗi ngôi vườn, hai bên lối đi các cây anh đào khoe hững chiếc lá mượt, lấm tấm những nụ hoa nõn, chỉ vài hôm nữa cây cành sẽ đơm đầy những bông hoa hồng thắm, thấp thoáng trong ánh nắng quyện lẫn với màn sương.

Mấy ngày nay xuống phố tụi chúng tôi đã thấy các hiệu sách, sạp báo hai bên vỉa hè bày bán đầy đặc những cái thiệp tết, đủ cỡ đủ màu. Cả một mùa xuân hồng lung linh nhảy múa trong những hình ảnh xinh đẹp, rạng rỡ, nào là chậu mai, cành đào, cây nêu trước ngõ, phong pháo nổ ròn trước sân trước vẻ sốt ruột của đám trẻ thơ xúng xính quần áo mới đang chờ đợi để tranh nhau những cái pháo tịt ngòi, nào là ông đồ già khòm lưng "bày mực Tàu giấy đỏ, bên phố đông người qua". Tôi, Chi, Diệu tha hồ lựa chọn, so sánh, hỏi ý kiến nhau nhặng xị cả lên những cuối cùng chẳng mua được tấm nào, sợ lỡ mua tấm này sang hàng khác lưa được những tấm khác đẹp hơn lại mất công xuýt xoa tiếc rẻ, cảm thấy đau tiền. Một bà hàng thấy tụi tôi nhẩn nha lựa mãi, trả giá rồi bỏ đi đã gọi giật tụi tôi trở lại, cong cớn:

- Này, sáng mồng một đừng có lại mở hàng mà con bà nhịn đói cả năm.

Tụi tôi đứa mắt nhìn nhau mỉm cười rồi con Diệu, từng nổi tiếng vua cứng đầu kiêm hoa khôi văn chương của P.C.T. Đà Nẵng, cây hùng biện của lớp 12C, trả lời:

- Dạ, sáng mồng một Tết mà gặp bà sợ e tụi cháu dông cả năm.

Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại, bà hàng đứng dậy, chỉ tay về phía chúng tôi, to tiếng:

- Này, bà bảo cho mà biết, còn con gái học trò đừng có lẻo mồm lẻo mép mà... ế chồng.

Tôi định trợ chiến nhưng Diệu đã bám tay tôi, hạ độc thủ:

- Thưa bà, ế chồng thì ế, chớ tụi cháu không dám về làm dâu nhà bà.

Tụi tôi ù té chạy và bụm miệng cười khúc khích trước đôi mắt ngạc nhiên của nhuj47ng người đang đi trên đường phố. Đến lớp tụi tôi vẫn còn cười và may quá hôm đó là buổi chiều tất niên nên học sinh tha hồ vui đùa, trò chuyện. Trong mỗi lớp, bàn ghế được xếp theo hình chữ U, con trai ngồi thành hai hàng dài hai bên, con gái ngồi giữa, đối mặt với bàn giấy dành cho bà hiệu trưởng và các giáo sư. Họ sẽ lần lượt đến từng lớp học, thường bắt đầu từ lớp nhỏ đến lớp lớn, ngồi vào chiếc bàn danh dự có trải khăn ni lông và một bình hoa đặt cạnh các đĩa bánh mứt, nhấm nháp vài lát mứt, cắn vài hạt dưa sau khi học sinh trưởng lớp trịnh trọng đứng dậy, run run lôi tờ diễn văn viết sẵn trong túi ra, ca ngợi công đức bà hiệu trưởng, quí vị giáo sư đã dạy dỗ các em nên người, dẫn chúng em đi trên con đường sáng, nay Tết đến xuân về, chúng em không biết gì hơn là kính chúc quí vị một năm mới hạnh phúc, dồi dào sức khỏe để tiếp tục sứ mạng giáo dục vân vân...
 
Sau phần diễn văn chúc Tét, giấy bóng bọc các bánh mứt bắt đầu sột soạt, rào rào như một đàn châu chấu đang gặm nhấm cả một cánh đồng lúa, tiếng hạt dưa lách tách và dĩ nhiên bánh mứt, hạt dưa trên các bàn con trai khi nào cũng vơi nhanh hơn các bàn con gái .

Tâm hồn tụi tôi phơi phới theo những làn gió nhẹ từ sân trường lọt vào các cánh cửa, thổi bay những đuôi hoa giấy lòng thòng trên trần lớp, mặt trời lười biếng ngủ vùi suốt mùa đông trong lớp chân mây xám xịt, ẩm đục hơi nước nay đã vươn vai trở dậy, chiếu những tia nắng mới xuống cây cành xanh mướt, những đóa hoa thược dược màu sắc diễm kiều.

Đêm văn nghệ tất niên diễn ra trên sân trường trong bầu không khí tưng bừng, náo nức. Sân khấu vĩ đại là những chiếc bàn học được kê sát vào nhau, phía trước những băng ghế xếp thành những hàng ngay ngắc dành cho các khán giả. Chiếc màn nhung đỏ thẫm buông kín rũ những nếp uốn khúc đều đặn, dợn sóng lăn tăn mỗi lần cơn gió lướt qua, những bóng đèn nhấp nháy, các sợi hoa giấy thướt tha nhảy múa trên các cành thông, cây sầu đông nở đầy những chùm hoa tím nhạt. Trời sụp tối học sinh đã tề tựu đông đủ, đứa nào cũng áo cũng quần mới, chải tóc cẩn thận, khuôn mặt sáng láng, xinh xắn như một đàn tiên nhỏ bé vừa lạc xuống từ trời cao. Tiếng đếm đều đặn từ một đến mười vang lên trên các máy phóng thanh để điều chỉnh kỹ thuật. Đèn sân khấu, đèn pha cũng chớp tắt, đổi từ màu hồng sang vàng, tím, đỏ, xanh lá cây. Một vùng không gian tràn ngập âm thanh và màu sắc.

Khán giả, đa số là phụ huynh học sinh, lục tục kéo tời, chả mấy chốc đã chiếm đầy các dãy ghế. Chương trình văn nghệ tất niên sắp khai mạc. Tôi hé vội chéo màn nhung và lòng bỗng dưng hồi hộp khi nhìn thấy lố nhố những cái đầu lóng lánh màu sắc, hàng ngàn đôi mắt đổ dồn về phía sân khấu chờ đợi. Mẹ tôi ngồi trên hàng ghế dành cho khán giả danh dự của nhà trường, mẹ đang nghiêng người nói chuyện với bà hiệu trưởng, chốc chốc lại mỉm cười. Trông mẹ hôm nay xinh ghê, tôi vẫn thường hãnh diện thầm với nhan sắc kiều diễm của bà. Khuôn mặt trái soan bầu bĩnh nổi bật trên chiếc robe nhung đen, hai cánh tay để trần, làn da trắng mịn màng. Miệng bà tươi cười như đang ngậm một cánh hồng nhưng đôi mắt vẫn thấp thoáng nét buồn xa vắng.

Đến hồi khai mạc, bà hiệu trưởng lên sân khấu nói mấy lời cảm tạ dự hiện diện của quan khác và phụ huynh học sinh. Tiếng dương cầm ngọt ngào của mẹ tôi dìu dặt vang lên, những nốt trầm ngân dài, nốt thanh cao vút, chuỗi âm thanh óng ánh như những chùm tơ trời buổi sáng quấn quít lấy nhau múa lượn la đà trên các cành lá, đỉnh cây rồi kéo nhau bay bổng, mất hút giữa bầu trời thưa thớt những vì sao cuối đông. Mẹ hơi cúi xuống trên phím đàn, bà đánh với tất cả say mê và lôi cuốn mọi người vào sự say mê đó. Mẹ vẫn nổi tiếng là tay chơi dương cầm có ngón đàn ngọt ngào, bay bướm nhất thành phố sương mù thơ mộng này. Trước khi lấy ba tôi bà là một học viên trường quốc gia âm nhạc, nghe đâu bà đã đoạt giải thưởng trong một kỳ thi âm nhạc toàn quốc. Tiếng đàn cùng nét duyên dáng, thanh tú của bà đã khiến ba tôi mê đắm một thời. Thuở hai người chưa lấy nhau những đêm về ba thường lang thang qua ngôi biệt thự mờ ảo những cành anh đào trong sương và tiếng đàn réo rắt của mẹ từ trên căn phòng, ánh sáng lung linh thoát ra khung cửa sổ, phủ ngập và tan loãng cùng bóng sương đêm.

Như một cánh buồm bọc gió, tiếng đàn của mẹ xuôi chảy phăng phăng trên giòng sông kỷ niệm, hai bên là những bến bờ ghi dấu những hò hẹn đầu tiên, nơi đây phơ phất những cánh hoa mimosa e ấp của người con gái bắt gặp những tình cảm thứ nhất của đời mình, thuyền lướt qua một vườn hồng ngào ngạt đưa hương, bước chân cuống quít của thiếu nữ lạc vào thế giới tình yêu kỳ diệu. Hoa hồng thương yêu, hoa vàng nhớ nhung, hoa tím tương tư. Thuyền xuôi nhẹ cạnh cánh đồng hoa trắng, màu trắng trinh nguyên của chiếc áo dài, khăn voan ngày cưới khi mẹ ngượng ngùng đi cạnh ba tôi bước lên những bậc thềm đá dẫn vào giáo đường, hồi chuông đổ mừng khiến đàn bồ câu đang mơ màng ngủ trên mái ngói giật mình vỗ cánh, bay dạt vào trời xanh. Chiếc bóng trắng mỏng manh của mẹ quì cạnh ba trước tòa Chúa như muốn được che chở, thương yêu suốt đời, điện nến sáng trưng, linh mục chủ lễ trang nghiêm, tiếng đàn harmonium nhẹ như lời gió và ban hợp xướng ngợi ca sự kết hợp thiêng liêng, kỳ diệu của thượng đế. Kể từ giây phút này cuộc đời người nữ sẽ được gắn liền vào cuộc đời người nam. Hãy sống với nhau, thương yêu nhau suốt đời, đổ mồ hôi để lấy bát cơm và tìm kiếm hạnh phúc.

Bóng mẹ tưởng như đổ gập lên mặt đàn, bà không còn đàn bằng mười đầu ngón tay nữa mà bằng cả tâm hồn, hơi thở. Mọi người yên lặng, say sưa lắng nghe và bị cuốn hút vào thế giới huyền ảo, say mê của âm nhạc. Từ trên sân khấu tôi nhìn thấy đôi mắt mẹ long lanh ngấn lệ. Tôi cũng khóc hồi nào không hay, những giọt nước mắt nóng hổi ứa ra, lăn dài xuống má. Tôi chùi vội vào chéo màn nhung kẻo sợ con Diệu đứng cạnh trông thấy nó sẽ trêu tôi. Nó vốn cứng đầu và mang một ít nam tính trong hồn nên không ưa tụi bạn gái khóc nhè. Những giọt lệ ứa ra khỏi rèm mi đẹp lắm, Diệu vẫn thường nói đùa để lâu lâu đứa nào chẳng may khóc trước mặt nó, nhưng nên dành độc quyền cho lũ nhóc tì, tóc còn thắt bím, nhảy lò cò và chơi ô quan. Tụi mình đều mười bảy tuổi, sắp lên đại học cả rồi, không lý mai mốt để chàng (a, con này ghê lắm, chắc nó có bồ rồi) lên đường nhập ngũ phải rền rĩ đổi lại câu hát: Trả lại em yêu, khung trời đại học, con đường Duy Tân, trôi đầy nước mắt hay sao?

Dạ khúc do mẹ tôi độc tấu dương cầm kết thúc, khán giả sững sờ, rơi hẫng vào im lặng mất mấy giây rồi tiếng vỗ tay mới rào rào nổi lên, từng đợt, từng đợt đuổi nhau ào ào như sóng. Mẹ tôi đứng dậy trong ánh sáng dịu dàng từ những bóng đèn màu trên các cành thông chiếu xuống, rắc nhẹ lên mặt một lớp phấn hồng, bà cúi chào cảm tạ khán giả mấy lần, những tràng pháo tay vẫn chưa dứt. Mẹ nhận bó hoa hồng từ tay bà hiệu trưởng trao tặng, đặt lên mặt đàn rồi lại ngồi xuống, vẻ u buồn phảng phất trên đôi mắt tan biến nhường chỗ cho nét hân hoan. Giàn đèn pha ter6n sân khấu đổi từ màu t1m u buồn sang màu hồng tươi vui. Sau dạ khúc, mẹ tấu bản ca khúc bình minh, nhạc đệm cho vũ khúc của chúc tôi. Mặt trời mọc lên từ phương đông, chim hót líu lo, đàn gà đập cánh sau lũy tre và chúng tôi lần lượt xuất hiện trong vũng sáng hồng rực rỡ. Nông phu vác cuốc ra đồng, lũ trâu rời chuồng bước gập ghềnh trên dường làng mấp mô, các cô gái quê gánh hàng ra chợ, học trò vui vẻ cắp sách đến trường. Khác với âm thanh trầm buồn của dạ khúc, bây giờ điệu nhạc của mẹ vui tươi như làn gió lượn trên mặt hồ có những con thiên nga lông trắng, cánh diều giấy lên cao trên đồng làng. Một ngày mới bắt đầu, ngày của sự làm việc, cần lao và học tập. Chúng tôi nhịp nhàng nhảy múa theo điệu nhạc, mang máng nhớ đến một bài học thuộc lòng: Chính vì con mà người thợ làm bánh mì trắng xóa những bột, bác nông phu dầm mưa dãi nắng, người hàng thịt bê bết máu... Cả một xã hội hoạt động đều đặn để phục vụ đời sống của con, bồi bổ kiến thức và nuôi dưỡng tinh thần con. Bây giờ đến phiên con, con sẽ làm gì để đền ơn xã hội.

Đêm  văn nghệ chấm dứt, bà hiệu trưởng xoa đầu tôi khen ngợi, cám ơn mẹ và đưa tiễn chúng tôi đến tận cổng trường. Sương xuống mù mịt trên các con đường và gió đêm lành lạnh ngấm vào da thịt. Tôi nép sát vào người mẹ tìm hơi ấm. Những bóng đèn trên ngọn núi cao nhạt nhòa như con tàu đang trôi dạt trên một đại dương mù mịt. Rừng thông dưới thung lũng hiện mờ mờ trước mặt, sự im lặng kéo dài đã khá lâu, tôi níu tay hỏi mẹ:

- Tết năm nay ba có về không mẹ?

Mẹ trả lời, cố nén tiếng thở dài:

- Mẹ cũng không biết nữa, chừng nào ba chán đường xa sẽ trở về với mẹ con mình.

Một chiếc xe bật đèn pha chạy vụt qua, máy nổ ầm ầm trong tiếng gió. Tôi đưa mắt nhìn lên vòm trời âm u, các vì sao đều đã trốn mất.

- Mẹ biết nơi ba ở không?

Đèn đường chiếu hắt xuống gương mặt mẹ, chia thành hai vùng tối sáng như nét mặt một pho tượng đá trắng.

- Mẹ làm sao biết được, mấy năm nay ba không gửi thư về.

- Sao mẹ không đi tìm ba?

- Mấy năm trước ý tưởng đó cũng có đến với mẹ nhưng bây giờ mẹ nghĩ có tìm cũng vô ích khi ba con chưa muốn quay về với gia đình. Mẹ kiên nhẫn chờ đợi dầu biết rằng mỗi mua xuân qua mẹ già thêm một tuổi, những vết nhăn của thời gian từ từ hiện ra trên gương mặt.
 
Tôi nói như cố đẩy những ẩn ức ra khỏi lòng:

- Không, mẹ chưa già, mẹ còn trẻ đẹp, nước da mẹ mịn màng như da con gái.

Mẹ tôi cười khẽ, cánh tay khoác lên vai tôi siết chặt.

- Cám ơn con gái cưng của mẹ. Mà thôi, đừng bận tâm đến chuyện buồn. Hãy hưởng những ngày tháng thơ ngây của tuổi trẻ, vui đùa cùng những cánh bướm và đi ngủ với những đóa hoa.

Tôi ngúng nguẩy:

- Mẹ quên rằng năm nay con đã mười bảy tuổi.

Mẹ tát yêu vào má tôi:

- Bộ con tưởng đã lớn lắm rồi sao. Đừng có hư mẹ đánh đòn bây giờ.

Tôi định hỏi thêm mẹ mấy câu liên quan đến sự bỏ đi của ba tôi nhưng bước chân chúng tôi đã dẫm lên lối sỏi bước vào nhà.

*

Mấy ngày cuối năm tôi được nghỉ học tha hồ quấn quít bên mẹ xem bà tỉ mỉ ngồi bào những lát gừng, lát bí để làm mứt, những củ gừng vàng bết đất và lá xanh bên trên, mẹ rửa sạch, cắt lá và thái thành những lát mỏng. Tôi phụ với mẹ một tay nhưng thấy mình vụng về, mấy lần luống cuống suýt để dao cắt vào ngón tay, chẳng bì với mẹ, tay thoăn thoắt như khi bà đánh bài vậy. Tôi nhắc mẹ:

- Năm nay mẹ không làm mứt hạt đậu (đậu phụng rang ngào với đường) hở mẹ?

Mẹ ngừng tay, củng nhẹ vào đầu tội:

- Mẹ mua sẵn đường đậu cả rồi nhưng chưa làm vội. Con mèo của mẹ ưa ăn vụng lắm, sợ đến ngày Tết chẳng còn bao nhiêu để mời khách, lại còn con mèo tam thể và con mèo đen (lũ bạn trong lớp thường gọi đùa tôi, Chi và Diệu là ban tam ca Ba con mèo xí xoọng), toàn những cái mồm ưa ăn vặt, chắc chẳng có ma nào dám tước về nhà.

Tôi mỉm cười nũng nịu:

- Ơ, ơ mẹ quên con mèo con đã được mười bảy tuổi.

Mẹ vui vẻ:

- Chừng nào thì con Chi, Diệu đến chơi. Có tụi nó hơi ồn ào nhưng cũng vui cửa vui nhà.

Tôi ném mấy lát gừng vừa cắt vào thau nước.

- Tụi nó bảo sáng mùng một sẽ đến xông đất nhà mình, mừng tuổi để mẹ lì xì. Con Chi nhắc mẹ nhớ để dành sẵn bánh chưng và dưa món cho nhiều nhiều.

Gì chứ dưa món do mẹ tôi làm phải kể là tuyệt hảo, đáng được liệt vào những kỳ quan thế giới. Những lát đu đủ, cà rốt ngâm với nước mắm đường cho rúm, những hạt đậu phụng béo bùi ăn với bánh chưng trong ba ngày Tết thì nhất.

Đúng lời hẹn, sáng mộng một mới bảnh mắt ra, tôi đã nghe tiếng Chi, Diệu léo xéo ngoài cổng, hồi chuông điện reo vang inh ỏi trong nhà. Tôi vội chạy ra, mở cửa đón lũ bạn vào. Mấy cái miệng tíu tít:

- Năm mới!

- Năm mới!

Chỉ hai tiếng đó cũng quá đủ nghĩa, không cần nói gì hơn. Năm mới, cái gì cũng mới, từ cái quần, giày dép, tâm hồn đến đồng tiền mừng tuổi mới tinh đựng trong bao giấy hồng điều. Mẹ tôi mặc chiếc áo dài nhung màu rượu chát, tươi cười đứng đón chúng tôi trên bực thềm đá hoa. Diệu, Chi vòng tay rối rít:

- Lạy bác năm mới.

- Năm mới chào bác.

- Chào hai cháu, mời tất cả vào nhà.

Chúng tôi ngồi quây quần trên bộ sa lông, cành mai nở rộ những cánh hoa vàng thắm. Sau lời chúc đầu năm mẹ trao cho mỗi đứa một bao giấy hồng điều. Diệu chưa mở vội, xem thừ mình được mừng tuổi bao nhiêu, nó nói với mẹ tôi:

- Thưa bác, năm nay tụi cháu đều lớn cả, xin bác tặng cho mỗi đứa hai bao tiền mừng tuổi.

Mẹ cười cười:

- Tục lệ ông bà để lại chỉ mừng tuổi một phong bì, nếu cháu muốn bác sẽ tặng thêm một... tấm chồng!

Con Diệu rú lên như rờ phải lửa:

- Eo ơi, cháu còn nhỏ, xin bác cho cháu hai chữ bình an để học hành.

Mẹ tôi nhặt một bông mai rụng xuống mặt bàn.

- Cháu nói phải đó, ở tuổi các cháu chỉ nên vui đừa trong thế giới đèn sách, những điều khác thời gian sẽ tuần tự mang đến như sự chuyển dịch của thiên nhiên : Lộc nõn, lá xanh, hoa nụ, trái kết.

Sau bữa ăn bánh chưng và dưa món đặc biệt, mẹ dẫn chúng tôi rời nhà, dạo chơi thung lũng cỏ xanh. Chúng tôi chạy đuổi nhau, tung tăng như những cánh bướm, chi61c chốc ngừng lại để thở và chờ mẹ theo kịp. Bây giờ tôi mới để ý, tụi con Chi, con Diệu hôm nay diện ghê. Chi mặc jupe hồng, thắt nơ cùng màu, Diệu thường ngày mặc đồ Tây hôm nay khoác áo dài thướt tha. Chúng hẹn nhau chiều nay sẽ xuống phố nhìn thiên hạ du xuân, sau đó sẽ về nhà tôi đánh tam cúc rồi nhờ mẹ bói Kiều.

Nắng xuân ấm áp và tâm hồn tôi phơi phới như thảm cỏ non trải rộng đến chân trời, nắng ấm mơn nõn trên những đóa hoa dại còn lóng lánh những hạt sương. Mải mê chạy đuổi nhau, tụi tôi bỏ mẹ lại một quãng đường khá xa, đến khi nhìn lui chỉ thấy tà áo dài của bà phất phơ trong gió, nổi bật trên nền cỏ xanh như một cánh hồng nhung đỏ thẫm. Tôi ngồi xuống một gốc thông, chờ mẹ đi tới, thầm nghĩ giá bên hình ảnh diễm kiều của mẹ có ba tôi sánh bước thì tôi sẽ hoàn toàn hưởng được một mùa xuân hạnh phúc trên thảm cỏ non.


PHẠM VĂN BÌNH      

(Trích giai phẩm Xuân Hồng Tuổi Ngọc 1973)