Xa Saigon tôi nhớ nhất là những cơn mưa. Tôi chưa thấy mưa ở đâu buồn bã, mịt mù, hung tợn như thế. Mưa đổ ập xuống bất chợt, mưa tuôn ào ào, mưa mù trời đất. Gió lộng và sấm sét. Tưởng mưa không bao giờ dứt. Nhưng mưa mau tạnh. Rồi trời mau sáng. Giữa cái tạnh không và mưa thác lũ không sao đoán nổi. Không ngờ trước được. Phải chăng vì thế mà tôi nhớ mưa Saigon? Tôi thương mưa miền Trung! Mưa Tuy Hòa cũng mù mịt, cũng ào ạt, nhưng không hung tợn bằng mưa Saigon, anh Hậu đã nói như thế. Anh nói cái mưa ở Trung bắt đầu từ mưa, từ gió, từ những cơn mưa phùn dịu dàng, chuyển tiếp. Rồi nó chìm dần vào Đông, vào lạnh, vào mưa. Triền miên cả một hai tháng. Không đột ngột dữ dằn như Saigon. Có thể em không có nhiều thì giờ để nghĩ về mưa, nhìn mưa, nhưng em thường bị mưa làm ướt áo.
Từ balcon, tôi và anh Hậu đứng nhìn thành phố đang bị bao trùm bởi một màn mưa dày ; những mái nhà trắng xóa, hàng cây cong rũ, và đường xá lướt thướt xe cộ. Mưa làm Saigon khép kín và chật chội. Tôi hỏi anh về mưa và cảm thấy mưa ướt lạnh hồn mình.
Anh nói:
- Anh đã bị mưa quyến rũ từ thuở nhỏ. Những hạt mưa cách nay mười mấy năm, vào một buổi trưa mùa Đông, đã như còn rơi mãi trong hồn anh. Đó là buổi trưa anh theo chân người chị, đưa mẹ anh tới huyệt, đưa người thân yêu sau cùng ra đi. Chiếc quan tài ướt át xuống lòng huyệt đầy nước mưa.
Anh nhìn tôi, đôi mắt anh đầy mưa, và u ám:
- Còn Hoài, có lẽ chưa bao giờ được thấy mưa?
Tôi cười (để đôi mắt anh bớt buồn, trong sáng):
- Có thấy chứ sao không? Em nhìn thấy mưa từ hồi mới sinh ra, nhưng bây giờ mới có dịp nhìn rõ mưa...
Anh nhìn xuống khu nghĩa trang chợ Đũi, tôi đoán anh đang nhớ mưa cách nay mười mấy năm:
- Thấy thế nào?
Tôi đáp, mơ hồ:
- Buồn. Mưa làm em thấy cô độc.
Giọng anh bỗng vui:
- Hoài mà cô đơn? Con nhà giàu, đẹp gái, học giỏi, vân vân.
Tôi ngẩng lên nhìn anh. Tôi cố tình chờ anh quay lại nhìn tôi. Tôi nghĩ anh sẽ hiểu tôi hơn khi nhìn lên mắt tôi. Hình như anh cố tránh hay không biết. Tôi nói "Anh không hiểu Hoài gì hết". Và cảm thấy bức rức, bởi vì qua câu nói đó, tôi chưa nói được gì hết. Anh vẫn nhìn, thản nhiên, lên những cây điệp âm u, trong khu nghĩa trang.
Tôi lập lại, bàn tay tôi véo mạnh lên má anh:
- Anh không hiểu em gì hết.
Anh quay lại:
- Sao lại không hiểu, cô bé.
Tôi cự nự:
- Anh hiểu được gì?
Anh thân ái nắm bàn tay tôi. Như nhắn nhủ với một người em:
- Có lẽ anh hiểu em nhiều hơn em nghĩ. Khi chưa gặp em, còn ở ngoài đơn vị, anh đã nghe anh Tuấn nói về em khá nhiều. Được đọc cả thư em, có phải em cũng biết làm thơ?
Tôi cười, thật hân hoan:
- Có lẽ em cũng hiểu anh nhiều hơn là anh tưởng nữa. Thư nào anh Tuấn viết về cũng có kể chuyện về anh...
Anh như hốt hoảng:
- Chết, anh Tuấn kể chuyện gì vậy?
Tôi bí mật:
- Nhiều lắm.
Anh cười, thật dịu dàng:
- Gì mà nhiều?
Tôi chỉ ngón tay lên mặt anh:
- Này nhé, mấy cành hoa ép, mấy bài thơ và...
- Và gì nữa?
- Và gì thì anh biết chứ.
- Anh không biết.
- Em nhắc cho nhá?
- Ừ, nhắc đi coi.
- Ngày nào cũng tập bài "Bao giờ biết tương tư", và chờ ngày về Saigon ăn chả giò phơi sương, bánh canh Gia Quỳnh...
- Nhưng ngày về Saigon lâu quá, chả giò và bánh canh đã hết rồi, nếu anh Tuấn không nhớ về đây, thì có lẽ anh nhận giấy phép rồi không biết đi đâu.
- Saigon có bao giờ hết chả giò phơi sương, và Gia Quỳnh cũng vẫn mãi mãi còn bánh canh kia mà.
- Nhưng anh hết tiền rồi. Có ai dẫn anh đi ăn đâu?
- Nghe tội nghiệp quá, ông chuẩn úy. Nhưng anh có đồng ý đi theo em không?
- Trời, sao lại không. Nói vậy là em không hiểu anh gì hết.
- À, mà còn điều kiện nữa chứ. Đâu có dễ vậy.
- Cho điều kiện thử coi.
- Mỗi tuần anh phải gởi về cho em một cành hoa ép nhé? chịu chưa?
- Ồ, được quá. Hoa ở trong rừng nhiều lắm, anh sẽ gởi về em mỗi tuần vài ba cành hoa như vậy. Đó là cách giúp anh có việc làm. Có lẽ, anh sẽ phải hái hết những cành hoa lạ ở trên rừng, và ham tìm hoa hơn tìm địch.
- Chắc nhé?
- Chắc chớ.
- Thề đi.
- Cái vụ này cũng bắt người ta thề nữa à? Được, rắc rối quá, cô bé, anh xin thề...
- Đâu được. Anh phải thề: " Anh hứa hái hoa, trọn đời, cho em...".
- ...
Bây giờ, tôi đã xa Saigon. Chiều hôm qua, ngồi trong thư viện, cơn mưa bất chợt mù mịt bên ngoài làm tôi nhớ Saigon da diết. Tôi không đọc được một trang sách nào, vì đầu óc tôi mưa đã vần vũ. Mưa đã kéo tôi trở lại với mớ kỷ niệm héo úa như những cánh hoa của Hậu. Từ ngày rời xa Saigon, không khí Đà Lạt càng khiến tôi nhớ Hậu. Mùa lạnh, những cánh hoa đang ép dang dở trong ba lô của anh, anh Tuấn mang về, luôn nhắc tôi nhớ buổi chiều anh hứa sẽ hái hoa gởi cho tôi, trọn đời. Anh cũng đã gởi hoa cho tôi. Trọn đời. Nhưng là một cuộc đời hai mươi lăm tuổi. Đời như những cơn mưa trong tuổi thơ anh. "Có lẽ, anh sẽ phải hái hết những cánh hoa lạ trên rừng, và ham tìm hoa hơn tìm địch", hoa trên rừng có bao giờ lại hết, dầu chúng ta có sống chờ nhau tới bạc đầu, phải không anh?
Buổi sáng sớm Đà Lạt có mưa sương thật đẹp. Nhưng quá buồn. Có lẽ tôi đã biết yêu quý mưa như Hậu đã bị ám ảnh bởi những cơn mưa mùa Đông? Ngồi phía trong khung cửa kính, tôi ngây ngất vì những hạt mưa nhẹ tênh ngoài vườn. Sương mù mờ. Tôi lại lấy giấy bút ra, tiếp tục chép những câu thơ, cho bài thơ làm dở dang ở thư viện:
Người bước đi gót chân đời nhẹ hẫng
Đường trăm năm qua bao kiếp mịt mùng
. . . . . . . . .
Người bước đi đất trời lồng lộng
Thấy lòng mình một hạt mưa sương (1)
Người đã ra đi, trời đất mịt mù xa lạ, tôi còn biết gởi những bài thơ ngậm ngùi này cho ai?
MANG VIÊN LONG
(KBC 4311, tháng 5-73)
____________
(1) Thơ Ngọc Cẩm
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 104, tuần lễ từ 31-5 đến 7-6-1973)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét