Lúc mới đặt chân đến Phan Rí lần đầu thú thật tôi đã muốn khóc. Tôi cứ tưởng thành phố này phải to lớn lắm vì nó có tên trên bản đồ Việt Nam đàng hoàng không ngờ nó còn nhỏ hơn lòng bàn tay.
Chiếc xe đò tôi đi có từ hồi Pháp thuộc loang lổ vết sơn xanh đỏ chạy một mình không nổi lại còn được chất đầy những rổ cá lớn, cá bé trên mui và trong lòng xe, những rổ cá này nghe đâu bị kẹt đường nên phải chở về nguyên quán. Phải mất 3 giờ đồng hồ chiếc xe mới lết được từ Phan Thiết đến Phan Rí trên đoạn đường chỉ dài hơn 60 cây số. Vừa vào đến bến xe nằm ngay ở trung tâm con phố tôi vội xách va ly bước xuống vì không chịu nổi mùi cá tanh nồng bốc lên khi xe đậu.
Đã 6 giờ chiều mà trời còn nắng gắt thêm những ngọn gió thổi cát bụi bay mù khiến tôi nóng muốn điên người. Lấy khăn tay ra lau mồ hôi xong tôi lững thững đi bộ dọc theo con đường trước mặt, nhìn lên tấm bảng một hiệu buôn thấy đề Đại lộ Trần Hưng Đạo mà buồn cười. Con đường chỉ rộng hơn một con hẻm ở Sàigòn vậy mà cũng xưng là Đại lộ. Địa chỉ tôi muốn đến: Công ty nước mắm Hoa Hồng số 3 Đại lộ Bạch Đằng. Cũng đại lộ, không biết con đường đó lớn hơn con đường này được mấy phân. Đang lóng ngóng tìm người hỏi thăm đường tôi gặp một nữ sinh mặc quần áo trắng bước tới. Kinh nghiệm cho tôi biết vào nhà hỏi bà già ra đường hỏi học trò nên tôi móc túi đưa mảnh giấy ghi địa chỉ cho cô bé.
- Em cho tôi hỏi thăm địa chỉ này ở đâu?
Cô bé mở to đôi mắt đen láy quan sát tôi từ đầu đến chân xem tôi có phải là người lạ không rồi mới cúi đọc tờ giấy. Trước khi đến đây tôi nghe người ta đồn rằng con gái xứ này hai mắt đều "bét" vì bị cát bụi thổi vào nhưng nhìn kỹ cô bé này tôi chẳng thấy mắt em "bét" tí nào mà trái lại còn trong sáng hơn mắt mèo nhiều, tôi không hiểu thiên hạ đồn sai hay cô bé cũng là người xứ lạ đến đây như tôi?
- Ông mới đến đây lần đầu?
- Phải, nếu đến đây lần thứ hai thì tôi khỏi làm phiền em.
- Em cũng ở cùng đường đó vậy ông cứ đi theo em là đến nơi.
Em trả lại tôi tờ giấy rồi ôm cặp đi trước, tôi vội xách va ly đi nhanh cho ngang hàng với em. Cô bé dừng lại lắc đầu:
- Đừng. Ông hãy đi sau em vài bước, ông đi bên em thiên hạ sẽ đồn thế này thế nọ ngay.
- Ở đây thiên hạ thích bàn chuyện của người khác lắm sao?
- Vâng, chỗ nhỏ bé mà. Ông cảm phiền.
Tôi đành đứng lại đợi cô bé đi trước vài bước rồi lẽo đẽo xách va ly theo sau. Tức mình tôi rủa thầm, xỉ vả thiên hạ, chắc quí vị no cơm ấm cật dư thì giờ nên thích bàn chuyện người khác còn đói như tôi thì bàn mãi chuyện bao tử của chính mình mà vẫn chưa xong. Đến một con hẻm lầy cát hai bên là bờ tường cao thấy không có bóng dáng "thiên hạ" tôi vội bước lên đi bên cạnh cô bé nói chuyện.
- Đi một mình lủi thủi ở sau tôi thấy tủi thân quá.
- Tại sao vậy?
- Tôi có cảm tưởng người ở đây đã bạc đãi mình.
Cô bé cười:
- Vậy ông đến đây làm gì?
Tôi kể cho em nghe tôi là một quân nhân giải ngũ loại hai, có một người bạn ở Sàigòn giới thiệu tôi ra đây làm thư ký cho công ty nước mắm Hoa Hồng để sống qua ngày và tôi hy vọng người ta sẽ không từ chối.
- Em sợ ông không chịu nổi đâu.
- Làm thư ký có gì nặng nhọc mà không chịu nổi.
- Không, em muốn nói mùi nước mắm kia.
- Đó là mùi quốc hồn quốc túy người Việt nào sống ở ngoại quốc cũng nhớ nó, sao em lại nói chịu không nổi?
- Rồi ông sẽ biết.
Đi thêm một lúc cô bé dẫn tôi đến bờ sông. Con sông rộng ở gần cửa biển đậu đầy những ghe chài sơn mầu sắc rực rỡ. Trên bờ người qua lại tấp nập và những nong mực được phơi đầy hai bên đường choán cả lối đi. Cô bé chỉ tôi một ngôi nhà lớn quét vôi vàng cách chỗ chúng tôi đứng một cột đèn.
- Đó là công ty Hoa Hồng. Em chúc ông may mắn.
Thật cảm động nghe câu nói đó, từ ngày thất nghiệp đến nay chưa ai chúc cho tôi một lời may mắn nào. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô bé.
- Cám ơn em, tôi tin người ta không nỡ từ chối một thương phế binh đói rách như tôi. Nhà em ở đâu có dịp tôi sẽ đến thăm.
Cô bé chỉ tay về một khu nhà lố nhố ở phía xa.
- Nhà em ở gần chợ cá kia kìa, chắc ông không tìm thấy đâu. Nếu ông được làm việc ở công ty em sẽ còn gặp ông vì thỉnh thoảng em vẫn đến đó nhận giấy giao hàng. Thôi em xin chào ông.
Nhìn cô bé đi khuất vào đám người trên bờ tôi mới lững thững xách va ly đến công ty. Phía trước nhà có một tấm bảng lớn hai bên vẽ hai bông hồng to tướng, tôi đi thẳng vào cửa và xin gặp ông giám đốc. Người lao công dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ, tôi gặp một người tóc bạc đang ngồi đọc nhật báo. Tôi cúi đầu chào ông và đưa lá thư giới thiệu việc làm do người cháu ruột của ông ta viết. Đọc thư xong ông hỏi tôi những giấy tờ cần thiết, tôi mở va ly lấy ra đưa ông xem. Ông nói được rồi cậu sẽ ở luôn đây và bắt đầu làm việc từ ngày mai. Được làm tôi mừng rỡ nói cảm ơn ông. Ông nói không có gì tôi sẽ xem cậu như cháu tôi rồi ông gọi người lao công vào căn dặn thu xếp nơi ăn chốn ở cho tôi.
Công ty chiếm một khu đất khá rộng, người lao công dẫn tôi đi quanh một vòng cho biết và chỉ cho tôi chỗ ngủ là một cái chái nhỏ lợp tôn ở gần nhà ông. Về cơm nước ông nói nếu cậu muốn ăn ở ngoài ngày mai tôi sẽ dẫn đến một nơi nấu cơm tháng. Tôi nói nếu tiện nhờ bác nấu cho tôi ăn luôn khỏi phải đi xa. Ông nói nhà tôi ăn uống bết lắm sợ cậu nuốt không nổi. Tôi cười nói có rau có cháo để ăn là may rồi, tôi đang thất nghiệp mà bác. Ông cười nói vậy thì được.
Công việc tôi làm ở công ty tương đối nhàn hạ. Hàng ngày tôi đánh máy những hóa đơn giao hàng, nhận hàng, những giấy tờ chứng nhận phân chất nước mắm và các loại giấy xin chuyên chở nước mắm đến các tỉnh khác. Phía sau công ty là nhà lều nước mắm của riêng ông giám đốc. Trong những thùng gỗ lớn người ta đổ cá vào đấy ướp muối rồi đợi ngày cho cá rã ra nhỏ giọt thành nước mắm. Mỗi lần vào lều kiểm soát các phu vợi nước mắm vào những thùng nhỏ để chở đi bán tôi phải bôi dầu cù là vào mũi và châm thuốc hút liên miên. Hôm đầu nhìn người ta lấy xác mắm ra chất trong những giỏ lớn để bán cho các chủ đồn điền làm phân bón tôi đã phải chạy ra ngoài nôn oẹ vì không chịu nổi mùi hôi kinh khủng từ xác mắm bốc ra. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao cô bé nói sợ tôi không chịu nổi mùi nước mắm. Nếu không vì cái bao tử mỗi ngày đều đói chắc tôi đã xách va ly đi ngay sau lần nôn oẹ đó.
Tôi lẩm cẩm nghĩ tại sao các ông "hàm hộ" ở đây chẳng ông nào chịu lấy dấu hiệu nước mắm của mình là cá nục, cá thu, cá cơm, cá óc nóc... mà lại đi chọn những hình con thỏ, con gà, con én, hoa sen, hoa hồng...? Nếu những đôi tình nhân ở xa đều biết hoa hồng là dấu hiệu của một công ty nước mắm lớn ở đây chắc họ sẽ không ham tặng người yêu một đóa hồng vì chẳng lẽ họ còn muốn tình yêu của họ sẽ mặn mòi và sực nức hương thơm như nước mắm?
Dù không thích mùi hương của nó nhưng tôi cũng phải cảm ơn nước mắm đã giúp tôi có công ăn việc làm sống qua những ngày đói khát. Mỗi sáng để khỏi đi ăn điểm tâm tốn tiền tôi thường xuống lều múc một ly nhỏ nước mắm uống ực một hơi rồi chạy lên nhà uống luôn hai ly cối nước trà cho đã khát như vậy là no suốt buổi. Cũng may nước mắm có nhiều chất bổ nên càng ngày tôi càng lên cân.
Một buổi sáng khi tôi vừa uống xong ly nước mắm điểm tâm miệng đang mặn đắng thì cô bé tôi gặp hôm đầu tiên đến xứ này đi vào. Em chào tôi, tôi chẳng kịp chào lại mà vội rót hai ly cối nước và uống luôn một hơi. Em hỏi:
- Ông làm gì mà khát dữ vậy?
- Tôi mới ăn điểm tâm bằng nước mắm.
Cô bé trợn tròn mắt không hiểu, tôi phải giải thích cặn kẽ cho em rõ. Nghe xong cô bé cười.
- Ông thật có duyên với nước mắm. Em chỉ uống một muỗng nhỏ thôi cũng đủ sặc chết người.
Tôi hỏi em sao cả tuần nay không đến chơi, tôi có ý đợi em mãi. Cô bé nói em cũng muốn đến thăm nhưng không có dịp, sáng nay em nghỉ học và ba em sai em đi phân chất nước mắm nên em mới có cơ hội đến đây. Em trao tôi một chai nước mắm nhỏ, tôi cầm lấy đem vào phòng giảo nghiệm. Ở đây các nhà lếu trước khi đem bán nước mắm đều phải đem đi giảo nghiệm để xem nước mắm của mình có bao nhiêu chất cá, chất cá càng nhiều nước mắm bán giá càng cao. Phòng giảo nghiệm chưa có người làm việc, tôi trở ra kéo ghế mời em ngồi đợi. Em hỏi:
- Ông đã đi đâu chơi chưa?
- Ở đây có chỗ nào mà đi chơi. Mỗi tối tôi chỉ biết ra bờ sông ngắm thiên hạ qua lại hay đến quán Lều Gỗ ngồi uống nước rồi về ngủ.
- Vậy thì còn thiếu sót nhiều. Ở đây có nhiều chỗ đáng đi chơi lắm như đi rẫy ăn táo, đi xóm Rùng ăn mận, đi tắm biển ở bãi Trùng Dương hay Ghềnh Son, đi thăm chùa ông Hai Đại, đi xem thắng cảnh đập Đồng Mới v.v...
- Vậy hôm nào rảnh tôi mượn xe Honda chở em đi chơi nghe.
- Đâu được, thiên hạ nói chết.
Lại thiên hạ. Tôi bèn nguyền rủa thiên hạ, xin quí vị để cho tôi sống với chứ. Tôi phân giải với cô bé:
- Thây kệ họ. Chúng ta hãy sống cho chính chúng ta, họ đâu có sống giùm chúng ta mà chúng ta lo.
Có lẽ cô bé cũng đồng ý với tôi nên vào những chủ nhật kế tiếp em đã đến dẫn tôi đi thăm những nơi chốn em nói. Từ khi chúng tôi thân với nhau những tối rảnh rỗi em thường đến nơi tôi ở nấu chè chuối bột báng nước dừa hay em đem cá hấp ở nhà đến quấn bánh tráng rau sống chấm với nước mắm "nhĩ" loại thượng hảo hạng tôi lấy ở lều. Cô bé ăn như mèo nên tôi được dịp ăn no cành hông bù những ngày đói khát.
Một tối em đến chơi, tôi vui miệng nói lại với em những điều mà cậu học sinh con trai bác lao công cho tôi biết là có rất nhiều nam sinh ở trường em đã si em bỏ cả học hành. Cô bé cười nói:
- Ai mà si em, em cho chết luôn.
Tôi khoái chí cười:
- Đúng, đúng. Nhưng còn tôi?
- Ông hả, em cũng cho chết luôn.
Tôi chưng hửng nói:
- Bộ nhất định em không khóc thương?
- Khóc hả, có cười bể bụng thì có.
- Chúa ơi, chắc tim em bằng sắt?
- Sắt hả, ai mà ưa thứ mau rỉ sét đó.
- Bằng đá chăng?
- Nước chảy đá mòn, đá yếu xìu.
- Bằng gỗ làm thùng nước mắm?
- Vâng bằng gỗ nhưng không phải gỗ làm thùng nước mắm đâu mà là gỗ thông sản xuất từ rừng thông Đà Lạt.
- Vậy chắc em sinh ở Đà Lạt?
Cô bé gật đầu kể cho tôi biết gia đình em trước kia ở Đà Lạt sau đó dời xuống đây lập nghiêp đã được mười năm và bây giờ ở chốn này em là một cây thông nhớ rừng. Cô bé cười nói tiếp:
- Em mới nhận được một lá thư tình.
Tôi ngạc nhiên nói:
- Tôi có viết thư cho em hồi nào đâu mà em nhận được?
- Ai nói ông viết bao giờ đâu, thư này của một người khác.
- Em đã có một người tình khác?
- Không phải đâu, thư này của thầy em gửi cho em, để em đưa cho ông đọc.
Cô bé móc túi đưa tôi một phong bì mầu xanh để ngỏ, bên trong có một tờ giấy mầu hồng viết đầy chữ Anh. Tôi hỏi:
- Thầy của em người Mỹ à?
- Không, ông ấy dậy Anh văn.
Anh văn tôi mới học đến lesson 10 trong quyển English For Today Book one nên chẳng hiểu ông giáo sư viết gì, tôi trao lại lá thư cho cô bé.
- Em dịch giùm tôi đi. Lần sau em nhớ nói ông ấy viết bằng chữ Việt tôi mới có thể đọc được.
- Đại ý ông ấy viết, ông ấy yêu thương em và muốn gặp em chiều chủ nhật này tại nhà trọ của ông ấy.
Tôi nổi sùng nói:
- Sao em không đưa lá thư mắc dịch này cho ông hiệu trưởng đọc.
- Thôi em sợ làm rùm beng cả trường đều biết em dị chết.
- Em có viết thư trả lời ông ấy không? Em có định đến thăm ông ấy không?
- Còn lâu. Nhưng em sợ ông ấy cứ viết thư hay gọi em lên đọc bài hoài tụi bạn biết được chúng chọc em chết. Vậy em nhờ ông đóng vai anh em đến nói ông ấy đừng có viết thư cho em nữa.
- Xong rồi, chiều chủ nhật này tôi sẽ thay em đóng vai người tình đến thăm ông ấy.
- Khỏi đợi đến chiều chủ nhật, chiều mai khoảng 6 giờ ông đợi em ở quán Lều Gỗ rồi em sẽ chỉ cho ông thấy thầy em vì ông ấy ăn cơm tháng ở gần đó.
Buổi chiều mới 5 giờ tôi đã có mặt ở Lều Gỗ, một quán nước vĩ đại nhất xứ Phan Rí này. Quán gồm hai phần: một sân rộng đặt bàn ghế bán nước uống và một căn nhà có những tủ kính (trước bày bán đồ điện sau ế dẹp luôn) bày những sách truyện cho thuê. Tôi vẫn thường đến đây để uống một ly đá chanh cho đỡ khát vì đã lỡ uống nước mắm quá nhiều sau đó thuê vài quyển truyện chưởng về nhà tối đọc đỡ buồn. Tôi thuộc loại khách hàng đặc biệt được chủ quán (đeo kính cận trông rất trí thức) thông cảm cho ký sổ vàng cuối tháng trả tiền nên chiều nay dù trong túi không có đồng nào tôi vẫn mạnh dạn bước vào quán gọi một chai 33, nửa gói Capstan. Tôi uống bia dở ẹc, chỉ một chai mặt cũng đỏ bừng như gà đá nhưng vì sắp đụng độ với ông giáo nên tôi muốn mặt mình phải sừng sừng một tí cho ông ấy ớn.
Buổi tối quán thường đông nghẹt khách nhưng giờ này thì vắng như chùa bà đanh. Học sinh còn đi học và những ông "ba-đờ-ghe" còn bận bán cá chưa có thì giờ rảnh đến ngồi thưởng thức nhạc "tiền chiến hậu chiến" do chính tay chủ quán chọn lọc. Tôi chúa ghét nghe nhạc ở các quán nước, ồn ào điếc tai nên rất thích ngồi ở đây vào buổi xế chiều. Trên chiếc sân xi măng rộng (Trước là sân trượt Patin sau ế dẹp luôn) đọng đầy những vũng nước do ông chủ tưới những chậu kiểng. Chưa đến tuổi tam thập nhi lập mà ông ta đã thích cái thú "vạch lá tìm sâu" kể cũng lo hưởng nhàn hơi sớm. Nắng càng lúc càng bạc đầu ở cuối sân, tôi ngồi im chờ đợi buổi chiều len lén vào hồn xem nó ra làm sao nhưng chẳng thấy buổi chiều đâu cả mà chỉ có cô bé len lén đi vào.
- Ông ngồi đợi lâu chưa?
- Chưa, chỉ mới dài cổ thôi.
- Em hẹn ông 6 giờ mà.
- Quân đội dậy tôi muốn phục kích địch phải đến sớm quan sát cho chắc ăn.
- Nhưng chỗ ngồi này làm sao ông quan sát được?
Cô bé kéo tôi qua ngồi ở một chiếc bàn khác gần hàng rào được kết bằng những ống tre chẻ đôi. Ngồi đây nhìn qua kẽ hở hai thân tre có thể thấy rõ bên ngoài. Nhìn mãi mỏi cả mắt chẳng thấy ông giáo đâu tôi nói cô bé quan sát thay tôi khi nào thấy ông ta đến thì báo động. Tôi vừa hút điếu thuốc xong thì cô bé nói:
- Ông ấy kìa.
Tôi ghé mắt nhìn qua khe hở thấy có hai người đang từ xa đi đến, tôi hỏi cô bé:
- Thầy của em là người đeo kính cận, mặt mũi sáng sủa đi bên kia đường phải không?
- Không phải đâu, đó là học sinh. Thầy của em đang đi gần gốc me kia kìa.
Tôi chăm chú quan sát gã đàn ông theo lời cô bé chỉ. Y mặc áo thun màu xanh thẫm có in hình đầu một con dê to tổ bố (dấu hiệu của tuổi Dương Cưu), y dê mà dám nhận mình dê kể cũng khá chì. Quần y may bằng vải bố trắng ống rộng và chân đi giày mọi mầu vàng. Tóc y để dài thòng, phía trước cắt ngang chân mày và miệng phì phà điếu thuốc ngậm ở khóe môi trái. Người y cao, ốm như con mắm, mặt y chang dân "ba đờ ghe" mới đánh cá ngoài khơi về vậy mà y lại là giáo sư thì đúng là nền giáo dục Việt Nam đang trên đà xuống dốc. Tướng y thật thích hợp để đóng vai "Xì-ke đại huynh" và chắc không tài tử nào đóng hay hơn y trong vai đó.
Tôi nói với cô bé:
- Em ngồi đây để tôi ra nói chuyện phải trái với ông ấy.
Uống hết ly bia cho hào khí bừng bừng và cầm theo một điếu thuốc tôi bước ra ngoài quán vừa lúc ông giáo đi đến, chắc y cũng định vào quán thuê truyện chưởng về đọc. Tôi nói:
- Xin lỗi ông bạn cho châm nhờ điếu thuốc.
Y trao điếu thuốc cho tôi mồi rồi tôi trả lại y.
- Ông bạn là giáo sư trường công lập ở đây?
Y gật gật cái đầu bù xù như tổ quạ.
- Phải, tôi là giáo sư tốt nghiệp Đại học sư phạm Sàigòn.
- Ông tốt nghiệp ở đâu thây kệ ông, tôi chỉ yêu cầu ông đừng viết thư cho em Phạm thị Đồng Ý nữa.
- Ông là gì mà cấm tôi viết thư cho em ấy?
- Tôi là anh hai nó.
- Sao trông ông không giống em ấy tí nào hết vậy.
- Giống hay không thây kệ tôi. Bộ ông giống tía ông lắm sao?
- Ông đừng giận, tôi có lời khen ngợi em ông học rất giỏi và tôi rất mến em ấy.
- Nó học giỏi hay dốt cũng thây kệ nó, tôi không cần ông mến nó. Trường ông thiếu gì cô giáo xinh đẹp sao ông không mến một cô mà đi mến nữ sinh làm gì cho tai tiếng.
- Tôi không ưa cô giáo, tôi chỉ ưa nữ sinh thì đã sao.
- Ông không ưa cô giáo thây kệ ông, ông chỉ ưa nữ sinh thây kệ ông nhưng tôi cấm ông không được ưa em gái tôi.
- Tại sao ông có vẻ không ưa tôi nhiều quá vậy?
Thật ra tôi cũng không ghét gì ông giáo này, y rất xứng đáng là bạn tri kỷ của tôi vì cả hai đã cùng chung một sở thích là cô bé nhưng tại y có lợi thế là địa vị cao hơn tôi nên tôi nổi sùng nói:
- Tôi không ưa ông vì ông tốt nghiệp Đại học sư phạm chỉ giản dị thế thôi.
- "Lương sư hưng quốc", nghề giáo là một nghề cao quí mà.
- Nghề đó không cao quí tí nào nếu ông tiếp tục tán em gái tôi, còn ông tán bất cứ ai nghề đó vẫn cao quí như thường.
- Được rồi để tôi về suy nghĩ lại.
- Không suy nghĩ tới suy nghĩ lui gì nữa cả, nếu ông còn viết thư hay thường xuyên gọi em gái tôi lên đọc bài là có ngày ông ăn đòn.
- Ông hăm dọa giáo chức phải không? Ông tên gì? Tôi sẽ nạp đơn kiện ông ở hội đồng xã.
Nghe kiện cáo tôi cũng hơi "rét" nhưng kinh nghiệm cho biết một người có "rét" hơn mình mới hăm dọa kiện cáo lôi thôi nên tôi thừa thắng xông lên.
- Ông có nộp đơn kiện ở tối cao pháp viện tôi cũng không sợ. Tôi là lính giải ngũ tên Phạm Bất Bình, số quân 68/156890 ông nhớ kỹ chưa?
- Tôi không cần nhớ tên ông nữa. Tôi đã nhớ mặt ông rồi nên nếu ông đánh tôi là tôi nhận ra ngay ông đánh tôi.
Ông giáo hầm hầm bỏ đi chẳng thèm chào tôi một lời cho đúng với nguyên tắc sư phạm. Tự nhiên tôi thương y chi lạ. Trong lúc nói chuyện nhìn kỹ đôi mắt y tôi mới biết y đã cố ý làm cho mọi người hiểu lầm y qua cách ăn mặc, cách nói chuyện để che giấu nỗi cô đơn mà y đang chịu đựng. Nếu không kẹt cô bé chắc tôi đã mời y vào quán uống vài chai 33 để kết bạn tâm giao. Ở xứ này có một người bạn như y cũng thú lắm chứ nhưng chắc là không thú bằng được quen với cô bé đây. Tôi trở vào quán kể lại cho cô bé nghe trận đụng độ vừa qua. Em cười nói ông đóng kịch tài ghê, sao ông không đi theo các ban kịch ở Sàigòn?
Vì có cuộc hội họp bất ngờ với các hãng nước mắm ở Phan Thiết tôi phải đi theo ông giám đốc làm biên bản mất 3 ngày. Buổi tối về đến nhà bác lao công trao cho tôi hai lá thư. Một lá thư của Tổng hội thương phế binh cho biết tôi đã được nhận làm thư ký cho một hãng buôn ở Sàigòn, nếu muốn làm tôi phải về Sàigòn nhận việc gấp. Tôi phân vân không biết quyết định thế nào. Ở Phan Rí được 4 tháng, tôi đã mến người dân ở đây. Họ tuy lắm chuyện nhưng rất tốt và chân thật. Nắng ở đây có làm da tôi đen sậm nhưng không khí vùng biển trong lành đã giúp tôi khỏe mạnh hơn xưa. Tôi cũng đã bắt đầu ghiền mùi nước mắm, một mùi hương khó quên như hương tóc người tình đã chia xa nhưng tôi vẫn nhớ rõ ràng vào những đêm mưa. Ở Sàigòn dĩ nhiên vui vẻ hơn, bạn bè đông hơn và có nhiều cơ hội tiến thân hơn nhưng tôi chưa muốn xa cô bé. Tình yêu tôi đã bắt hụt nhiều lần vì với quá cao, lần này nó đang nằm trong tầm tay tôi không lẽ tôi lại bỏ mất dịp may.
Lá thư thứ hai của cô bé mới gởi đến sang nay. Em cho biết trường em đã nghỉ hè, gia đình em mới mở một đại lý bán nước mắm ở Đà Lạt, em sẽ theo má lên trên đó buôn bán và xin chuyển trường lên học ở Bùi thị Xuân. Em đã đến tìm tôi hai lần nhưng không gặp và sáng mai em phải đi sớm một mình vì má em đã đi trước. Em viết: Thôi ông khỏi đưa tiễn làm gì cho mất công. Thiên hạ biết cười chết. Em muốn chúng ta chia tay âm thầm. Nếu gặp ông ở bến xe em sẽ không viết thư cho ông nữa và khi nào có dịp về thăm ba, em cũng không thèm ghé thăm ông...
Tờ mờ sáng hôm sau tôi có mặt ở bến xe. Trời hơi lạnh vì đêm qua mưa suốt đêm. Tôi co ro đứng núp trong bóng tối một hiên nhà mong nhìn thấy cô bé một lần nữa trước khi chia tay. Khoảng 5g30 tôi thấy em vai mang xách tay đi ra từ một con hẻm nhỏ. Em đến ghi tên ở quấy lấy vé rồi bước lên xe ngổi ở một ghế gần cửa. Thây kệ thiên hạ cười, thây kệ những điều em dặn trong thư tôi chạy vội đến gặp em. Cô bé ngạc nhiên nhìn tôi.
- Ông không nghe lời em há. Được rồi em sẽ làm đúng theo những gì em đã viết trong thư.
Tôi nhìn thẳng mắt em chẳng biết nói gì, tôi luôn luôn chẳng biết nói gì vào những dịp chia tay. Đến khi xe rồ máy chạy tôi không ngăn được đưa tay nắm chặt bàn tay nhỏ bé của em bỏ ra ngoài cửa xe. Cô bé nói như sắp khóc:
- Ông là một con mọt.
Chúa ơi, một người bảnh bao như tôi lại có hình dáng như con mọt sao. Cô bé có cận thị chăng?
- Ông là một con mọt kinh khủng đã ăn rỗng trái tim bằng gỗ thông của em.
NGUYỄN THANH TRỊNH
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 140, phát hành ngày 20-7-1974)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét