Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần thị Gia Lai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần thị Gia Lai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2025

VƯỢT TẦM TAY - Trần thị Gia Lai


Giờ ra chơi, Dung kéo tay tôi ra sân trường, trời lúc bấy giờ gió to và lạnh. Hai đứa vượt qua khoảng sân đất trống và tiến lần về phía hàng cây khuynh diệp. Đến một gốc cây khá lớn, Dung lấy trong vở ra một phong thư và trao cho tôi. Dung bảo:
 
- Hoài đọc đi.
 
Tôi nhìn Dung, nhìn tên người nhận thư rồi lắc đầu:
 
- Thư của mi ta đọc làm gì.
 
- Thì cứ đọc đi.
 
- Mà ai gửi?
 
Dung cười, không trả lời và quay mặt đi nơi khác. Tôi ngần ngại, nét chữ lạ, một chút tò mò nổi lên và tôi im lặng kéo vạt áo, nhìn quanh tìm chỗ ngồi rồi mở thư ra đọc. Nét chữ nghiêng nghiêng, hơi to, không đẹp lắm. Thư của người con trai xa lạ, tên Khương, gởi đến làm quen Dung. Tôi cầm chặt lá thư bằng hai tay, sợ gió thổi đi mất và đọc lướt qua những hàng chữ. Bởi lá thư đầu tiên nên không dài, cho đến khi mắt tôi dừng lại ở hàng cuối cùng, tôi cũng không thâu được ý nghĩ gì ngoài một người tên Khương muốn quen Dung. Đợi tôi xếp thư vào phong bì xong, Dung hỏi:
 
- Hoài thấy thế nào?
 
Tôi hất những sợi tóc ra sau lưng, đăm đăm nhìn chiếc lá khô vừa rơi xuống và tôi mơ hồ thấy một nỗi buồn kéo đến, vây quanh. Tôi lắc đầu:
 
- Chẳng nghĩ gì cả.
 
- Phải cho ta biết ý kiến chứ! Ta không hiểu nên trả lời hay không.
 
Tôi thản nhiên đáp:
 
- Chuyện của mày làm sao tao có ý kiến được.
 
Dung nhìn tôi, ánh mắt mang một vẻ trách móc nhẹ làm tôi chợt hối hận, nhưng tôi không biết phải nói với Dung thế nào về bức thư, về người con trai tên Khương. Tôi gượng cười:
 
- Chắc là ta chưa có ý nghĩ gì đấy thôi.
 
Rồi tôi hỏi:
 
- Dung nhận thư khi nào?
 
- Chiều hôm qua, đi học về thì được thư.
 
- Dung trả lời chưa?
 
- Chưa, còn đợi hỏi Hoài.
 
Tôi nhăn mặt:
 
- Ta biết gì đâu mà nói. Sao mi không hỏi chị Nga? 

- Mấy hôm nay chị Nga giận ta.
 
Tôi cắn môi, chẳng biết phải trả lời thế nào. Tôi muốn nói với Dung là lẽ ra Dung đừng nên đưa tôi đọc bức thư này. Chỉ làm tôi buồn thôi. Tôi mân mê lá thư trong tay. Khương, Khương, tôi ghét cái tên này rồi. Dung ơi, ta không thích Dung quen Khương đâu, nhưng ta sẽ không nói gì với Dung lúc này. Tôi không thể xui Dung đừng trả lời cho Khương, người ta sẽ oán cả tôi lẫn Dung. Nhưng giục Dung viết thư nhanh nhanh cho họ, trời ơi, tôi sẽ khổ sở biết dường nào. Tao không muốn thế. Tôi không muốn Dung quen người ta.
 
Tôi nhìn mái tóc Dung bay bay theo chiều gió, thấy lành lạnh và buồn vô cùng. Nét mặt Dung đăm chiêu, tôi không hiểu Dung đang nghĩ gì. Hai đứa cứ ngồi yên lặng như thế, không nói với nhau một câu nào nữa, mặc cho gió thổi càng lúc càng mạnh và lá khô lảo đảo rơi chung quanh. Tôi nhặt một chiếc lá khô, giá có cây bút tôi sẽ viết vào đó vô số chữ "buồn", à không, mỗi lá tôi nắn nót một chữ thôi. Gió to, lá rụng nhiều, nỗi buồn của tôi dâng cao. Nhưng tôi không có bút, thế nên tôi bẻ vụn chiếc lá trong tay mình, tạo ra những âm thanh khô và lạnh, nghe buồn lạ kỳ. Trời lạnh quá, tay tôi đã nổi "da gà". Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai ngoài Dung và tôi. Nếu có người nào nhìn thấy tôi và Dung lúc này, tôi không hiểu họ sẽ nghĩ gì về hai đứa. Có lẽ họ sẽ cho hai đứa là khùng và cười thầm trong bụng. Tôi nắm tay Dung và để xóa tan sự yên lặng giữa hai đứa, tôi hỏi:
 
- Mi thuộc bài Sử chưa?
 
- Rồi.
 
- Ta thuộc sơ sơ, thôi vào lớp ôn bài với ta đi.
 
Hai đứa cùng đứng lên, tôi đưa trả Dung lá thư, Dung cầm lấy và yên lặng kẹp trong vở. Tự nhiên tôi thấy lúng túng, tôi có cảm tưởng mình vừa phạm tội, mà tôi không hiểu tội gì. Tôi hỏi nhỏ:
 
- Mi giận ta không?
 
Dung cười gượng gạo:
 
- Sao lại giận? 

Khuôn mặt Dung buồn buồn làm tôi bứt rứt. Rồi không biết nói gì thêm, cả hai đứa cùng lặng thinh đi vào lớp.
 
Buổi tối, tôi vào giường sớm, trùm mền và nằm khóc. Câu chuyện buổi sáng làm tôi buồn suốt cả ngày. Tôi biết mình là đứa ích kỷ nhưng biết làm sao hơn. Tôi không muốn Dung quen ai cả ngoài tôi, dù là bạn trai hay bạn gái. Tôi muốn Dung mãi mãi là nguồn an ủi của riêng tôi. Đã nhiều lần tôi nghĩ, tôi và Dung sẽ thương nhau và sống với nhau cho đến già, đến chết. Mỗi buổi sáng, thật đều đặn tôi đến rủ Dung và hai đứa cùng lên đường. Trưa về, hai đứa vẫn đi chung với nhau. Không ai có quyền xen giữa tình bạn chúng tôi cả. Từ khi anh Chuân chết, tôi chẳng còn ai thân thiết hơn Dung. Tôi không ngần ngại kể cho Dung nghe tất cả những gì liên quan đến đời sống tôi như ngày nào tôi đã kể cho anh Chuân nghe vậy. Anh Chuân và Dung, là hai hình bóng ghi đậm trong đầu óc tôi ở tuổi mới lớn lên. Ngày anh Chuân vào lính, tôi mất đi những buổi chiều buổi tối cùng anh chạy xe qua khắp đường phố, kể cho nhau nghe những mẩu chuyện vui rồi hai anh em bật cười thích thú, tôi mất đi những giây phút lặng yên ngồi bên anh, nghe anh an ủi, vỗ về mỗi khi cơn buồn phiền xâm chiếm tâm hồn. Nhưng bù lại, tôi có được nỗi vui mừng trong những lần nhận thư anh, thư anh bao giờ cũng viết cẩu thả và không dài lắm, tôi có được sự sung sướng bất ngờ mỗi lúc anh về phép mà không báo. Giờ thì tôi đã mất anh và chỉ còn lại mỗi mình Dung. Tôi muốn gọi tên anh Chuân, tên Dung trăm nghìn lần lúc này. Tôi thấy khổ sở. Có thể nào tôi mất luôn Dung không? Chẳng phải Dung bỏ tôi mà đi như anh Chuân, nhưng Dung không còn là của riêng tôi như ngày nào nữa. Mà tôi thực lẩn thẩn, tôi có quyền hạn gì để bắt Dung không được quen ai ngoài tôi, chỉ là một nhỏ bạn của Dung. Tôi hình dung Dung đang loay hoay với tên Khương xa lạ và nước mắt tôi tràn ra gối trắng. Tôi bậm môi, rồi tôi cắn mạnh vào chiếc mền bông dày, cố ngăn không cho tiếng khóc bật ra ngoài. Tôi biết mình vô lý và nông cạn. Đời có bao giờ giản dị như tôi đã nghĩ đâu. Trước kia tôi cứ ngỡ anh Chuân sẽ ở mãi bên tôi, che chở và an ủi tôi suốt cả một đời. Đến khi anh Chuân chết tôi cũng chưa ra khỏi cơn mê. Tôi bám víu vào Dung, người bạn nhỏ của mình, và đặt vào đấy hiện tại, tương lai tôi. Tôi luôn luôn nghĩ rằng đời sống mình lúc nào cũng có Dung bên cạnh. Tôi thấy tôi hạnh phúc, sung sướng bởi khoảng đời học sinh của tôi không cô độc, thiếu bóng bạn thân. Tôi không phải tủi thân, mang mặc cảm bị bạn bè xa lánh. Nhưng câu chuyện ban sáng khiến tôi hiểu thêm một chút, và tôi buồn khi thấy khó lòng giữ được vật gì trong tầm tay ngắn ngủi của mình. Tôi bàng hoàng nhận ra tình bạn tôi và Dung sẽ dần dà lỏng lẻo, không sớm thì muộn. Và tôi nào muốn thế. Giá đời sống tôi chỉ có Dung và đời sống Dung chỉ có tôi, hẳn là tôi sẽ sung sướng như bao lâu nay tôi đã sung sướng trong lầm lẫn của mình. Tôi nhắm mắt, cố hình dung ra một người con trai xa lạ tên Khương, nhưng tôi không hình dung nổi. Khương là người thế nào? Cao? Thấp? Hay cười? Ít nói? Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, tôi tin chắc tình cảm của anh ta dành cho Dung không bao giờ so nổi tình tôi thương yêu Dung. Có lẽ Dung không hiểu được điều đó đâu, bởi vì có bao giờ tôi bảo: "Ta thương mi ghê gớm Dung ơi!" Tôi không thích diễn tả tâm tư mình bằng lời nói, trông nó buồn cười và ngớ ngẩn làm sao...
 
Tôi xoay trở mình nhiều lần trên chiếc giường sắt, cuối cùng, khi đèn trong nhà đã tắt hết, tôi vụt ngồi dậy chùi nước mắt. Trong bóng tối tôi lần mò tiến lên từng bậc cấp để đến bàn thờ anh Chuân. Tôi hình dung chiếc ghế nhỏ đặt cạnh bàn, ngọn đèn dầu leo lét và khuôn mặt anh Chuân nhạt nhòa, với đôi mắt hiền từ trong khung kính. Tôi chợt thấy lòng mình ấm lại và tưởng như được an ủi thật nhiều...
 
Những ngày sau đó, tôi cố gắng thản nhiên, không nhắc đến tờ thư của Khương. Cả Dung cũng im lặng. Tôi không hiểu Dung nghĩ gì và cũng không muốn  hỏi. Tôi làm như chẳng có chuyện gì xảy đến giữa hai đứa. Tôi muốn quên là mình đã khóc, muốn xem đó như là một hành động nông nổi, hấp tấp, bởi vì tôi chưa mất Dung. Dung vẫn còn dễ thương hồn nhiên, vẫn cười đùa cùng tôi mỗi lúc hai đứa ở cạnh nhau. Một đôi khi, bắt gặp ánh mắt Dung xa vắng, thẫn thờ, tôi cũng không lấy điều đó làm băn khoăn nghĩ ngợi. Bởi tôi đã bỏ phí biết bao nhiêu thì giờ để ngồi tưởng tượng, nghĩ ngợi đâu đâu, tôi thả lỏng đầu óc mình lượn chơi cùng trăng sao, cỏ cây và mây gió, thì cũng không ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy Dung với những thái độ, cử chỉ tương tự. Và tôi yên tâm sống với những gì có bên mình.
 
Bẵng đi một thời gian, câu chuyện trong giờ ra chơi dưới hàng cây khuynh diệp tưởng chừng như đã bị vùi lấp, lãng quên. Nhưng một buổi chiều, khi tan học, tôi và Dung lần bước về phía cổng trường. Chợt Dung đi chậm hẳn, được vài bước tôi lại phải quay ra sau để giục Dung một lần, hai lần, qua lần thứ ba Dung nhìn tôi bối rối, nói:
 
- Hoài về trước nghe.
 
Tôi ngạc nhiên:
 
- Sao vậy?
 
Tiếng Dung trả lời thật nhỏ:
 
- Khương chờ tao.
 
Tôi tưởng mình nghe lầm, hỏi lại:
 
- Khương?
 
Dung gật đầu. Tôi vội vàng nói:
 
- Thôi tao về trước.
 
Rồi tôi ôm chặt lấy chiếc cặp, lẩn người trong đám nữ sinh về cùng đường. Tôi đi thật nhanh như người chạy trốn, mắt tôi cay cay. Tôi muốn khóc và muốn gọi tên anh Chuân hơn lúc nào hết, giá có anh Chuân bên cạnh tôi sẽ nắm chặt lấy tay anh, để mặc nước mắt ứa ra. và tôi chợt hiểu rằng tôi luôn luôn sống trong sự lầm lẫn của mình.
 
 
TRẦN THỊ GIA LAI       
 
(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 91, tuần lễ từ 1-3 đến 8-3-1973)
 
 

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2024

CHO ĐÀ LẠT YÊU DẤU - Trần thị Gia Lai

 

Chiếc xe lam chạy từ từ rồi dừng hẳn lại trước cây xăng. Ba tôi nhảy xuống trả tiền còn tôi ôm gói quần áo theo sau. Trời hãy còn tối và hình như có mưa, mưa bụi. Dưới ánh đèn néon trắng ở vườn hoa từ phía bờ hồ, tôi nhìn thấy những sợi mưa dài, mong manh, bay lất phất. Chiếc đồng hồ trên tay tôi chỉ 6 giờ 30 sáng. Hãy còn sớm. Những khu phố tôi vừa đi ngang chưa thức dậy, nhưng ở bến xe này thì thật đông và ồn ào. Cái náo nhiệt, những âm thanh, những dáng người chạy lui, chạy tới, hấp tấp, vội vã làm tôi khó chịu. Tôi chợt thấy một nỗi chán ngán vây quanh lấy mình và hơn lúc nào hết tôi muốn trở lên xe, bảo tài xế trở về con đường cũ, qua những dãy nhà im lìm, vắng vẻ, để rồi cuối cùng trả tôi lại cho ngôi nhà nhỏ, mang một vẻ hiu quạnh, buồn bã, nằm khuất sau hàng rào ngũ sắc và những cây ổi cao, đầy trái, ngôi nhà mà trước đây vài mươi phút, xe đã rồ ga, chuyển bánh...

Có tiếng ba bên tai tôi. Đoan, đi con. Tôi như kẻ mất hồn, bỏ mặc ý muốn mình chơi vơi, hụt hẫng, thẫn thờ đi cạnh ba. Ba dẫn tôi đến bến xe MT và bảo tôi ở đấy đợi ba vào mua vé. Dựa người vào tấm kính, tôi cảm thấy rã rời. Đoạn đường từ nhà tôi đến đây không xa, gói áo quần trên tay tôi không nặng. Nhưng đầu óc tôi tràn ngập ý nghĩ và tâm hồn tôi nặng trĩu buồn phiền. Tôi đưa tay vuốt tóc, vuốt mặt, làm những cử chỉ đem đến cho mình một sự tỉnh táo thật gượng gạo. Tóc tôi ướt vì mưa, mặt tôi cũng lành lạnh và ướt, không hiểu do mưa hay nước mắt. Tôi nhìn về phía bờ hồ, cố làm ra vẻ thản nhiên để tránh những đôi mắt soi mói chung quanh. Ánh sáng từ đường vào chợ và ở vườn hoa không được sáng để chọc thủng bóng tối, cho tôi nhìn thấy mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn. Tôi cắn môi, thôi rồi, môi tôi lại mặn. Từ lúc ngồi trên xe lam đến giờ, tôi không nhớ rõ mình đã khóc bao nhiêu lần rồi, chỉ biết tôi cứ phải cúi đầu, nhìn xuống sàn xe để giấu đôi mắt mình đo đỏ, mỗi lúc xe vượt qua những cột đèn mà ánh sáng hắt xuống chiếu rõ cả một khoảng đường, để ba không trông thấy và nhìn tôi bằng đôi mắt ái ngại lẫn buồn rầu.

Một tháng trước đây, khi ba đề nghị cho tôi lên nghỉ hè ở cái xứ Đà Lạt mưa ngày, mưa đêm này, tôi đã vui mừng đến khóc được. Nghĩ đến mẹ, hai đứa em và cả cuộc sống mới ở ngôi nhà xa lạ mà thân thiết của mẹ nữa, tôi đâm nao nao, chỉ muốn rời Nha Trang sớm phút nào hay phút ấy. Cho đến khi chiếc xe MT cũ kỹ mang tôi đi sâu vào thành phố miền cao nguyên rét mướt này, nhìn thấy những ngọn đồi xanh xanh, mặt nước hồ êm ả, và những con đường quanh co, khi lên cao, lúc xuống thấp, tựa những làn sóng lớn, rồi những cơn mưa chợt đến, chợt đi, mưa theo từng đám mây, từng cơn gió, tôi mơ hồ thấy được phần nào chuyến đi của mình. Nó sẽ không vui như tôi tưởng. Mà thật thế, suốt những ngày sống ở đây, bên cạnh mẹ và hai em, không hôm nào là tôi không khóc, cũng như hôm nào trời cũng mưa. Hôm đầu tiên bước chân vào ngôi nhà của mẹ, tôi xúc động vô cùng, tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực và tôi đã không cầm được nước mắt khi khuôn mặt mẹ xanh xanh hiện ra ở cửa. Lâu quá rồi tôi không gặp lại mẹ. Nhiều khi tôi băn khoăn tự hỏi, không hiểu mẹ có còn nhớ đến tôi hay đã quên rồi đứa con gái lớn hay buồn, khóc cũng chẳng ít của mẹ. Qua hôm sau ba tôi trở về Nha Trang, khi đã đưa tôi đến với mẹ và hẹn ngày lên đón, tôi lại khóc. Cũng như sáng nay, ngồi trên chiếc xe lam nhìn lại bóng dáng mẹ lẻ loi in lờ mờ trong bóng tối bên chiếc cổng, tôi đã nhìn mẹ, nhìn ba tôi rồi để mặc nước mắt tuôn dài trên má. Tôi không muốn bỏ mẹ. Tôi thèm những cử chỉ âu yếm của mẹ. Tôi cũng không muốn để ba sống trơ trọi một mình. Nhưng tôi không thể nào hàn gắn được vết rạn nứt giữa Ba và Mẹ tôi, mỗi ngày một lớn. Nhiều khi tôi tưởng như mình là trẻ mồ côi. Sống với ba, tôi có ý nghĩ mình mất mẹ. Ở với mẹ, tôi thấy mình như kẻ không cha.

Nếu ba tôi lơ là một chút, hoặc mơ tưởng xây dựng đời sống mới, chừng ấy dư để cho tôi lợi dụng chuyến nghỉ hè này mà ở mãi với mẹ, từ giã Nha Trang không chút lưu luyến. Nhưng tình thương ba dành cho tôi sâu đậm quá khiến tôi không thể làm gì hơn là cố gắng để ba hài lòng mãi về tôi. Có những buổi chiều, mẹ tôi bận bịu với bếp núc, tôi một mình đi lang thang trên những con đường vắng vẻ, có lẽ là vắng nhất thành phố, và tôi buồn rầu nghĩ đến nỗi cô độc, trống vắng của ba tôi. Không có tôi gian nhà nhỏ xấu xí ba thuê ấy sẽ thiếu hẳn tiếng đối thoại dù lạc lõng, rời rạc của hai cha con. Và những bữa ăn sáng, ăn trưa, ăn tối hẳn là phải vô cùng giản dị, ngắn ngủi. Tự dưng tôi ao ước mình có cánh, bay về tức khắc với ba, tôi muốn xua tan nỗi yên lặng đang vây quanh ba bằng cái ồn ào, vui tươi giả tạo của mình... Tôi cứ nghĩ vẩn vơ như thế và đi mãi, chẳng biết mình đi đâu và đã qua những con đường nào. Đến khi trời sẫm tối, hơi lạnh của nước mưa thấm vào da thịt, tôi rùng mình và chợt tỉnh người, nhìn quanh để hỏi lối về nhà. Rồi những đêm khuya không ngủ được, tôi ngồi dậy mở cửa sổ nhỏ của căn gác mẹ dành cho tôi và tôi ngồi đấy mãi, mắt rưng rưng, thấy nhớ ba hơn bao giờ hết. Cho đến khuya thật khuya, khi con đường đã hoàn toàn yên lặng và tối đen, tôi không còn nhận ra đâu là nhà cửa, là cây cối, là đất trời... tôi cũng chưa buồn trở vào giường. Để sáng hôm sau thức dậy, tôi bàng hoàng nhìn thấy đôi mắt mình thâm quầng trong gương. Tôi ôm mặt. Có thể nào cuộc sống của tôi u buồn đến thế chăng? Có thể nào con bé Đoan, 17 tuổi có cha mẹ và hai em lại tội nghiệp đến thế chăng?

Hai em tôi còn nhỏ chưa hiểu được nỗi buồn có cha mẹ mà không được sống gần, nhưng lớn lên, hạnh phúc của gia đình bè bạn sẽ đập vào mắt chúng và chúng sẽ thấy thấm thía vô cùng. Tôi ái ngại nghĩ đến Trang, em gái tôi, nó có vẻ yếu đuối hơn tôi nhiều đó, dù tôi không cứng rắn tí nào. Cái ngôi nhà yên lặng ở con đường vắng nhất thành phố này sẽ không phải là môi trường thích hợp cho sự lớn lên của em tôi. Tôi không muốn ngày tháng lớn lên của Trang buồn rầu như cuộc sống tôi. Tôi không muốn nhìn thấy nét suy tư hiện trên khuôn mặt em tôi sớm. Tôi muốn khi đang tuổi lớn lên, giấc ngủ của em tôi phải thoải mái, vô tư để sáng hôm sau thức giấc, khuôn mặt không phờ phạc, mắt không thâm, gối nằm không ẩm ướt.

Nhớ lại hôm đầu tiên lên đây, gặp lại Trang và Bảo - em trai tôi - sau mấy năm xa cách, tôi buồn buồn. Khi tôi mở gói áo quần xếp trong tủ, hai em tôi đứng bên cạnh, chờ đợi một món quà. Nhưng tôi chẳng có gì cả, tôi gieo vào đầu chúng một nỗi thất vọng rồi. Tôi ra đi với hai bộ áo quần gói chặt trong giấy và trở về cũng với gói quần áo vỏn vẹn hai bộ trên tay, lạc lõng vô duyên. Không còn gì nữa cả. Chuyến đi xa hơi lâu này, tôi cũng không mang về cho Nguyện, nhỏ bạn thân, một món quà nào cả. Hôm trước tôi đã băn khoăn nhiều về món quà đó. Tôi sợ làm Nguyện buồn như em tôi đã buồn. Tôi có nghĩ đến một mẩu gỗ thông, khắc tên Nguyện, một bó hoa, một vài ký bơ, và đặc biệt hơn là một ít mưa Đàlạt bỏ vào bọc ny lông. Cuối cùng loay hoay mãi với những buồn rầu, tôi quên bẵng...

Một chiếc xe sắp chạy, bóp còi kêu inh ỏi làm tôi giật mình. Sửa lại gói quần áo trên tay cho ngay ngắn, tôi nhìn quanh để kiếm ba tôi. Vừa lúc ông đang bắt tay người bạn rồi đi nhanh lại phía tôi đứng. Ba tôi hỏi. Con chờ ba lâu không? Dạ không. Ba gặp người quen nên phải nói chuyện. Tôi hỏi nhỏ. Mấy giờ xe chạy ba? Bảy giờ, bây giờ là bảy giờ kém mười. Mười phút nữa xe chạy. Mười phút nữa tôi rời thành phố này. Tôi nhìn người tài xế sắp đồ trên mui xe. Trời đã sáng, ba dễ dàng nhận ra khuôn mặt tôi với đôi mắt, cái mũi đều đỏ. Ba dẫn tôi đến bên chiếc xe MT màu xám đậm bảo tôi lên ngồi trước. Tôi nghe như có tiếng ba tôi thở dài rất nhẹ nhưng đủ làm tôi xót xa. Đoan ơi, đừng khóc nữa. Tôi bảo thầm với tôi như thế. Buổi tối hôm qua, hôm kia và nhiều lần nữa, tôi đã chẳng gật đầu, hứa với mẹ làm vui lòng ba là gì. Nhưng sáng hôm nay tôi lại làm ba buồn mất rồi. Ba ơi, con xin lỗi ba. Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ...

Xe chuyển bánh. Giã từ Đàlạt. Giã từ những con đường, những đồi thông, hồ Xuân Hương. Giã từ mẹ và hai em... Chợt dưng tôi mong xe chạy mãi, chạy mãi chẳng bao giờ ngừng...


TRẦN THỊ GIA LAI        

(Trích tuần báo Tuổi Ngọc số 70, tuần lễ từ 28-9 đến 5-10-1972)